Thứ Tư, 14 tháng 11, 2018

Đất Phương Nam 1 - Từ Đất Phiên Trấn Đến Tỉnh Gia Định (Phần6)


Gia Định Dưới Thời Vua Gia Long:

Vào đầu thế kỷ thứ XIX, dưới thời Gia Long, vùng đất Gia Định đã trở thành thủ phủ của Gia Định Thành, bao gồm tất cả những đất đai chạy dài từ Bình Thuận đến mũi Cà Mau. Năm 1802, sau khi lên ngôi, ban đầu vua Gia Long vẫn giữ nguyên sự phân bố hành chánh có sẵn từ trước với 3 dinh và 1 trấn là Biên Trấn dinh (Biên Hòa), Phiên Trấn dinh(32), Vĩnh Định, và Hà Tiên trấn. Ít lâu sau đó, ông cho đổi phủ Gia Định ra làm Trấn Gia Định và các dinh đổi ra làm trấn. Nghĩa là lúc đó miền Nam được đổi thành 5 trấn: Phiên An trấn, Biên Hòa trấn, Định Tường trấn, Vĩnh Thanh trấn, và Hà Tiên trấn.

Năm 1808, vua Gia Long (năm thứ 7), nhà vua định lại bờ cõi, phân lại địa giới từ Bắc chí Nam. Nhà vua chia đất nước ra làm 4 dinh, gồm 25 trấn. Từ Thuận Hóa trở ra Bắc là Bắc Thành, từ Bình Thuận trở vào Nam trực thuộc Gia Định Thành. Lúc đó Gia Định Thành gồm có 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh(33), và Hà Tiên. Về mặt hành chánh, Gia Định thành được đặt dưới quyền cai quản của một vị tổng trấn và hiệp tổng trấn(34). Các trấn thì đặt quan trấn thủ, cai bộ và ký lục cai trị. Vị tổng trấn đầu tiên của Gia Định thành là quan Kinh Môn Quận Công Nguyễn văn Nhân

Cùng năm 1808, trấn Gia Định được đổi làm thành Gia Định, gồm 5 trấn là Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh, và Hà Tiên. Riêng trong trấn Phiên An, lấy huyện làm phủ, lấy tổng làm huyện. Theo Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, trấn Phiên An đất rộng, đường thủy bộ thông thương. Phía bắc giáp với trấn Biên Hòa, phía trên từ sông Đức Giang, tục gọi là sông Thủ Đức, đến Bình Giang thuộc huyện Bình Dương, tục gọi là sông Bến Nghé, chuyển rẽ xuống ngã ba Phù Gia, tục gọi là ngã ba sông Nhà Bè, rồi đổ thẳng ra cửa biển Cần Giờ, bờ nam của sông là địa giới của trấn Phiên An; phía nam giáp trấn Định Tường, phía trên từ Quang Hóa, Quang Phong, về phía tây đến Vàm Dừa, Rạch Cỏ, đến sông Bát Chiên, chuyển xuống phía đông đến sông Vũng Gù, qua Tra Giang rồi ra cửa biển Soài Rạp, dùng bờ bắc của sông nầy làm địa giới của trấn Phiên An. Về phía đông trấn Phiên An là biển, về phía tây là đất Cao Miên. Đông tây cách nhau 352 dặm, nam bắc cách nhau 107 dặm. 

Lúc mới thành lập là dinh Phiên Trấn, lãnh 1 huyện, 4 tổng, lỵ sở đặt tại thôn Tân Lân, tổng Bình Trị, huyện Bình Dương (tỉnh Bình Dương ngày nay). Năm 1811, lỵ sở trấn Phiên An được dời về chợ Điều Khiển thuộc xã Tân Mỹ. Đến năm 1812 (Gia Long thứ 11), Tả Quân Quận Công Lê Văn Duyệt được bổ nhậm chức Tổng trấn thành Gia Định. Đến năm 1816, lỵ sở lại được dời qua thôn Hòa Mỹ, phía bắc Thành Gia Định. Hồi nầy trấn Phiên An có 1 phủ Tân Bình, gồm 4 huyện: Bình Dương(35), huyện Tân Long(36), huyện Phước Lộc, và huyện Thuận An(37).

Huyện Bình Dương, trước kia là tổng, được nâng lên làm huyện, lãnh 2 tổng, 150 thôn xã, phường, lân, ấp. Phía đông giáp với biển Cần Giờ; phía tây tiếp giáp với vùng rừng núi Cao Miên; phía nam giáp với ngã ba Thị Phổ, thuộc tổng Tân Phong, huyện Tân Long, ngược dòng rạch Ong Nhỏ đến Cống Môn, chợ Tân Kiểng, tục gọi là Chợ Quán, cho đến ao Gò Vấp (Lão Đống Trì); phía đông giáp với tổng Lộc Thành, thuộc huyện Phước Lộc (Cần Giuộc); phía tây nam giáp với tổng Bình Cách, huyện Thuận An. Tổng Bình Trị gồm 76 thôn xã(38). Phía đông giáp với Bình Giang, đoạn từ sông trước thành Gia Định đến Cầu Kho; phía tây giáp đầu suối Bến Lầy đến Hóc Môn, giáp với phía đông của tổng Dương Hòa; phía nam giáp Cầu Kho qua Miếu Hội Đồng đến cầu Tham Lương; phía bắc giáp trấn Biên Hòa, từ sông Thủ Đức dưới bờ nam sông Sài Gòn (Bình Giang). 

Tổng Dương Hòa gồm 74 thôn xã(39). Phía đông giáp Biển Đông; phía tây giáp miền núi Cao Miên; phía nam giáp tổng Tân Phong, huyện Tân Long, từ ngã ba Thị Phổ, dọc theo sông rạch Ong Nhỏ, qua Cống Môn, chợ Tân Kiểng đến ao Gò Vấp (Lão Đống Trì); phía bắc giáp với sông lớn Bình Phước, từ cảng Cần Giờ ngược dòng đi qua ngã ba Nhà Bè đến sông trước thành; phía đông giáp tổng Lộc Thành, huyện Phước Lộc; tây nam giáp bờ đông hồ Gò Vấp, tổng Tân Phong, huyện Tân Long, rồi chạy vòng theo núi Bà Đen trên miền núi. Huyện Tân Long, xưa kia là tổng được nâng lên làm huyện, lãnh 2 tổng, 150 thôn. Phía đông giáp tổng Dương Hòa, huyện Bình Dương; phía tây giáp ao Gò Vấp; phía nam giáp sông cái Thuận An (Vàm Cỏ Đông); phía bắc giáp ngã ba Thị Phổ, huyện Bình Dương, đến sông rạch Ong Nhỏ, đi qua cửa Cống Môn, chợ Tân Kiểng cho đến Hóc Môn. Tổng Tân Phong, gồm 76 thôn xã(40). 

Phía đông giáp ngã ba Khúc Lăng, rồi dọc theo ngã ba sông Bến Lức đến hạ lưu sông Rạch Cát (Sa Hà); phía đông giáp ao Gò Vấp; phía nam giáp ngòi Khiêu ở cửa trên sông Rạch Cát, tổng Long Hưng, cho đến thượng nguồn sông Rạch Cát; phía bắc giáp Cống Môn, chợ Tân Kiểng cho đến sông Rạch Ong Nhỏ, xuống tận ngã ba Thị Phổ. Tổng Long Hưng(41), gồm 74 thôn xã. Phía đông giáp phía dưới cửa sông Rạch Cát, dọc theo ngã ba sông Cần Giuộc, chuyển qua chợ Thị Đắc ra đến Rạch Chanh; phía tây giáp ao Gò Vấp, dọc theo ngòi Miễn Mộ, thuộc tổng Bình cách, huyện Thuận An; phía nam giáp sông lớn Thuận An (Vàm Cỏ Đông); phía bắc giáp với ngòi Khiêu ở tổng Tân Phong, cho đến cửa sông Rạch Cát. 

Huyện Phước Lộc, nguyên trước đây là tổng, nay được nâng lên làm huyện, lãnh 2 tổng, 95 thôn, xã, phường, lân, ấp. Phía đông giáp cửa biển Soài Rạp; phía tây giáp Rạch Chanh, thuộc tổng Tân Phong, huyện Tân Long; phía nam giáp cửa sông Chanh, xã Xá Hương (Vàm Cỏ Đông); phía bắc giáp cửa Loát Giang, thuộc tổng Dương Hòa, huyện Bình Dương, vòng qua Ô Giang, chạy đến sông Bến Lức. Tổng Phước Điền(42), gồm 48 thôn, xã, phường, lân, ấp. Phía đông giáp bến ngã ba sông Xá Hương, tiếp đến là cửa biển Soài Rạp; phía tây giáp chợ Thị Đắc và Rạch Chanh; phía nam giáp tổng Thuận Đạo, huyện Thuận An; phía bắc giáp tổng Lộc Thành. Tổng Lộc Thành(43) gồm 47 thôn, xã, phường, lân, ấp. Phía đông giáp cửa biển Soài Rạp; tây giáp Gò Đen thuộc tổng Long Hưng, huyện Tân Long; phía nam giáp sông Xá Hương thuộc tổng Thuận Đạo, huyện Thuận An và dọc theo cửa Rạch Chanh; phía bắc giáp cửa sông Cần Giuộc, ngược dòng sông Lam (Nha Ram) qua sông Mồng Gà (Kê Quan) cho đến bờ nam cầu ngang ở chợ Thị Đắc. 

Huyện Thuận An, trước đây là tổng Bình Thuận, sau năm 1808 được nâng lên thành huyện. Phía đông giáp sông Xá Hương (Vàm Cỏ Đông); tây giáp Trảng Bàng, thuộc phủ Tầm Đuông của Cao Miên; phía nam giáp sông cái Hưng Hòa thuộc trấn Định Tường, ngược theo dòng Bát Chiên là đến thủ sở đạo Tuyên Oai; phía bắc giáp cửa sông Xá Hương, đi lên là sông Thuận An, ngòi Miễn Mộ rồi giáp núi Bà Đen. Tổng Bình Cách(44) gồm 33 thôn xã. Phía đông giáp ngã ba Nước Mặn, cửa sông Rạch Chanh của tổng Thuận Đạo; phía tây giáp Quang Hóa (Trảng Bàng) và núi Bà Đen, thuộc phủ Tầm Đuông của Cao Miên; phía nam giáp Thuộc Lãng, sông Tra của Trấn Định Tường; phía bắc giáp sông Đôi Ma, dọc theo sông Thuận An đến ngòi Miễn Mộ. 

Tổng Thuận Đạo(45) gồm 32 thôn, phường, xã...Phía đông giáp sông Xá Hương và biển; phía tây giáp phủ Tầm Đuông của Cao Miên; phía nam giáp Thuộc Lãng sông Tra Giang của trấn Định Tường, đi lên qua Hưng Hòa đến sông Bát Chiên của đạo Tuyên Oai, giáp với Cao Miên; phía bắc giáp tổng Bình Cách, qua ngã ba Nước Mặn sông Rạch Chanh, đến biên giới Cao Miên.


Thứ Ba, 13 tháng 11, 2018

Nam Quốc Sơn Hà(33 Câu Long Ngâm) - Sáng Tác Trần Ngọc Thạch - Trình Bày Trúc Tiên


Sáng Tác:Trần Ngọc Thạch
Trình bày: Trúc Tiên 
Đàn trang: Duy Kim 
Đàn guitare phím lõm: Văn Môn 
Đàn kìm & bầu: Huỳnh Tuấn 
Đàn cò & gáo : Thanh Hoàng
Thực Hiện: Vũ Hạ


Biển Và Hoa



Mùa ly loạn em ra đi năm ấy
Thuyền lênh đênh hoàng hôn nắng chân mây.
Trời gió nhẹ biển loáng màu trăng ngả
Nghiêng xuống em lấp lánh giải ngân hà.


Đêm trở gió chiếc thuyền con thăm thẳm,
Biển hãi hùng trời đất rất xa xăm!
Từng lớp sóng ngọn cuồng như thác đổ,
Bao kiếp người thành bọt sóng hư vô!


Trên sóng nước em bồng bềnh trôi mãi
Trôi theo trăng về lối ngõ thiên thai.
Biển và em bài thơ say dang dở
Dòng sông quê đành gởi lại bến bờ!


Qua giông bão biển đêm trăng vẫn mộng 

Chỉ có em lặng về cõi mênh mông
Miền xa tít sẽ bình an giấc ngủ,
Em thênh thang hồn chẳng vướng hận thù.


Như pho tượng đượm nét buồn thế kỷ!

Ðời chìm sâu những giai điệu tình si.
Tít mù khơi loài chim nhỏ thiên di,
Vút tiếng hát từ xa xăm mộng mị,


Về biển xanh mang theo chút phù sa.

Sóng dìu em vào tận cõi thiên hà.
Em chắc lạnh nơi hành tinh băng gía?
Chiếc tàn y sao đủ thấm làn da!


Trời hoàng hôn sóng nhấp nhô trắng xóa, 

Mắt em buồn màu cỏ úa xót xa!
Ôi giai nhân trong đáy nước nhạt nhòa,
Em trôi mất mảnh thuyền xưa mục rã!


Đỗ Bình

Il Pleure Dans Mon Coeur (Paul Verlaine ) - Trời Mưa Trong Lòng Tôi


Il Pleure Dans Mon Coeur

Il pleure dans mon coeur
Comme il pleut sur la ville;
Quelle est cette langueur
Qui pénètre mon coeur?

Ô bruit doux de la pluie
Par terre et sur les toits!
Pour un coeur qui s'ennuie
Ô le chant de la pluie!

Il pleure sans raison
Dans ce coeur qui s'écoeure.
Quoi! nulle trahison?...
Ce deuil est sans raison.

C'est bien la pire peine
De ne savoir pourquoi
Sans amour et sans haine
Mon coeur a tant de peine!

Paul Verlaine(1844 - 1896)
***

Il Pleure Dans Mon Coeur

Il pleure dans mon coeur
Comme il pleut sur la ville;
Quelle est cette langueur
Qui pénètre mon coeur?

Ô bruit doux de la pluie
Par terre et sur les toits!
Pour un coeur qui s'ennuie
Ô le chant de la pluie!

Il pleure sans raison
Dans ce coeur qui s'écoeure.
Quoi! nulle trahison?...
Ce deuil est sans raison.

C'est bien la pire peine
De ne savoir pourquoi
Sans amour et sans haine
Mon coeur a tant de peine!

Paul Verlaine(1844 - 1896)
***
Các Bài Thơ Dịch:


Lệ Mưa Trong Lòng Tôi

Lệ mưa trong lòng tôi
Như mưa rơi trên phố
Nỗi chán chường nào đây
Đang thẩm thấu lòng tôi?

Ôi tí tách hạt mưa
Trên đường và trên mái!
Cho tấm lòng tả tơi
Ôi thánh thót hạt mưa!

Lệ mưa không căn nguyên
Trong lòng này se sắt
Sao! Chẳng hề phụ tình?
Tang này không căn nguyên.

Thật quá đỗi ưu phiền
Chẳng hiểu sao nên nỗi
Không tình, không hờn ghen
Lòng tôi nặng ưu phiền.

Hoàng Xuân Thảo

***
Trời Mưa Trong Lòng Tôi 

Trời mưa trong lòng tôi
Như mưa trên phố xá
nỗi bực buồn chi lạ
Xâm chiếm trái tim tôi

Tiếng mưa êm êm gõ
Trên đất trên mái nhà
Vào trái tim sầu muộn
Ôi tiếng hát mưa sa

Trời mưa không duyên cớ
Vào trái tim buồn phiền
Có Gì?không phản trắc
Sao tang chế vô duyên

Còn tệ hơn phiền muộn
Mà chẳng biết tại sao
Không yêu không thù hận
Mà phiền muộn biết bao

Lạc Thủy Ðỗ Quý Bái

***
Mưa Rớt Trong Lòng

Mưa rơi trong lòng tôi
Như rơi trên thành phố
Tương tư nào cuối trời
Thấu nhập cõi lòng tôi?

Ôi âm dịu cơn mưa
Trên đất, trên mái ngói!
Lòng buồn suốt bao mùa
Ôi giai điệu cơn mưa

Mưa rơi không nguồn cơn
Trong con tim tan nát
Không phản trắc, dỗi hờn?
Tang chế chẳng nguồn cơn

Tận hố thẳm niềm đau
Không biết tại sao cả
Chẳng tình yêu, hận sầu
Tim chất ngất niềm đau!

Lộc Bắc
14/07/2008
***
Mưa Cõi Lòng Tôi

Mưa rơi cõi lòng tôi
Như ngoài trời lã chã
Nỗi buồn vây khó tả
Sao đẫm ướt tim ta

Tiếng mưa rơi nhè nhẹ
Trên mái nhà mặt đất
Ray rứt trái tim òa
Ô nhạc sầu mưa sa

Không duyên cớ mưa rơi
Trong tim chừng nhức nhối
Không bị tình bội phản
Sầu lòng lại vấn tang

Có tệ hại nào bằng
Khi chẳng rõ nguồn cơn
Không yêu chẳng ghét hờn
Mà tâm can đau đớn.

Kim Oanh
***
Translation:
Crying In My Heart


Crying in my heart
As raining on the town
What is this languor
Piercing my heart?

The soft sound of the rain
On the ground and roofs
To an empty heart
Is a boring eternal song!

Crying without reason
In this broken heart
Yet there no betrayal
The mourning is unreasonable.

It’s the worse pain
Not knowing the reason
Without love nor hatred
My heart has so much pain!

Phí Minh Tâm
***
Phỏng dịch:

Khóc Trong Hồn Tôi


Nước mắt trong hồn tôi
Như mưa trên phố đồi
Với nổi buồn dai dẳng
Xuyên thấu tim đơn côi.

Tiếng mưa rơi êm đềm
Khúc ca dài trong đêm
Tan tát trên mái, đất
Cho lòng buồn buồn thêm

Hồn khóc đâu đắn đo
Tim nát đang dày vò
Nào có ai phụ bạc
Đau lòng không nguyên do.

Còn nỗi buồn nào hơn
Chẳng biết lý do hờn
Không tình không thù hận
Lòng đau trong cô đơn!


Phí Minh Tâm

***
Mưa Trong Tim

Mưa lệ trong tim ta
Như mưa sa hè phố
Nỗi buồn sao nhức nhối
Len lén chiếm hồn ta!

Ôi! nhạc mưa êm ái
Trên mái trên mặt đường
Cho tim nầy tê tái
Ôi! giọt sầu du dương!

Lệ nầy cứ vẩn vơ
Trong con tim bơ thờ
Đâu có gì bội bạc?
Tang tóc sầu vu vơ!

Đau khổ chẳng tìm ra
Vì đâu ta không biết
Chẳng thương cùng chẳng ghét
Quặn thắt cõi lòng ta!

Mailoc
***
Mưa Rơi Trong Lòng Tôi

Mưa ở trong lòng tôi
Như mưa sa phố vắng
Ôi nỗi buồn nằng nặng
Rung động cả tim tôi

Giọt mưa rơi thánh thót
Mặt đất hay mái nhà
Trái tim buồn cảm sốt
Dường nhạc tấu mưa sa

Mưa chi hoài ai biết
Lay động tim ưu phiền
Vì sao mà tha thiết
Màu tang chế vô duyên

Thật tệ tồi lận đận
Mà lại hỏi vì sao
Không yêu ai hờn giận
Rồi xót dạ biết bao

Mai Xuân Thanh
Ngày 13/11/2018

7 Ngày Đêm Lênh Đênh Trên Biển - Kỳ 2


Ngày 1.

Vì đi trễ hết 4 tiếng đồng hồ nên ông chủ tàu quyết định đi xa bờ về hướng Cà Mau, coi như đang đi đánh cá chứ không trực chỉ ra hải phận quốc tế. Lưới cá được chuẩn bị sẵn sàng y như là sắp sửa hành nghề, hể thấy dáng ghe công an biên phòng thì thả lưới xuống cầu may cho chúng không tới xét... 
Hành khách vượt biên được ông ta cho trốn ở dưới hầm. Đàn ông con trai được cho ở khoan trước, còn đàn bà con gái thì cho ở khoan kế cabin, chín giửa tàu thì êm hơn ít bị sóng giật, đỡ bị ói.

Ngày đầu biển êm sóng lặng nên tôi ngủ rất ngon. Gần chiều tối mới được lên khỏi hầm để hít thở không khí biển và ăn cơm chiều...
Nhưng mà buổi cơm chiều hôm ấy chỉ có các ngư phủ cùng tôi mà thôi những người khác vẫn còn mê cái hầm thơm mùi cá nên không lên ăn nổi...
Chắc các bạn đang thắc mắc tại sao tui không bị say sóng. Nhưng nếu các bạn nhớ những chuyện mà tôi viết trước đây thì câu trả lời nằm ở đó. 
Tôi hồi nhỏ sống trên sông chứ không phải trên đất liền, lớn lên chuyện đi ghe xuồng đối với tôi còn rành hơn chạy xe nhiều nên không say sóng là điều tất nhiên rồi...

Đêm 2

Tuy không có la bàn nhưng ông chủ tàu cũng là tài công với kinh nghiệm mấy mươi năm đi biển nên ông chỉ cần nhìn sao rồi nhắm hướng đi trong đêm tối mịch mù. Tôi sau một ngày ngủ nhiều, tối đó không buồn ngủ nữa nên lên ca-bin ngồi tán dóc chơi. Tôi hỏi:
- Sao chú không chờ qua tết biển êm rồi hãy đi? Lúc nầy có khi biển bị động bất tử.
Ông chủ tàu cười:
- Chuyện đó tôi biết chứ. Tụi biên phòng cũng biết cho nên lúc nầy thì nó ít đi tuần tra, sau tết biển êm thì chúng tuần tra hà rầm, dễ bị bắt lắm. Thứ nào cũng nguy hiểm vậy mình chọn cái ít hiểm nguy phải tốt hơn không? Chuyện biển có động hay không là do trời đất, hơn nữa tui đi biển lâu rồi biển động đối với tôi không đáng sợ bằng công an...
Ghe đi hơn nửa đêm thì trời kéo mây đen, gió bắt đầu thổi mạnh dần, những ngọn sống bạc đầu thi nhau lè ra những cái lưỡi trắng xoá, chiếc tàu chồm lên hụp xuống liên tục.

Biển đang động mạnh. Mưa bắt đầu ào ào đổ xuống. Ông chủ tàu ra lịnh:
- Nhỏ ga lại phân nửa, quay theo hướng gió gối đầu 1/3 lượn sóng mà đi, tới đâu thì tới biển êm rồi mình mới lấy hướng lại...
Con tàu ngã nghiêng lảo đảo, trồi lên hụp xuống như người say rượu. Ngư phủ thay phiên nhau giữ vững Vô-lăng, còn đàn bà con gái thì thi nhau ói, rồi chấp tay nguyện cầu van vái cho phật trời phù hộ tai qua nạn khỏi...
Cuộc chiến với thiên nhiên kéo dài cho đến gần sáng thì trời bắt đầu bớt gió và mưa cũng nhẹ hột đi nhiều, chỉ còn lất phất rơi...

Ngày 2

Trời đã sáng hẳn nhưng mặt trời còn trốn ở một nơi nào đó trong đám mây mù dầy đặc, xa xa một con tàu to đùng xuất hiện. Tất cả mọi người đều vui mừng như được tái sinh. Tàu chúng tôi lướt sóng trực chỉ tiến về hướng đó. 
Ngoài biển cả, thấy thì tưởng là gần lắm nhưng thực ra chạy mấy tiếng đồng hồ sau mới tới nơi.

Chỗ đó là một cái giàn khoan dầu của Mỹ, chung quanh có mấy chiếc xà-lang, tàu tôi cặp sát một trong mấy chiếc xà lang đó. Tôi và 2 ngư phủ khác leo lên đó tìm hiểu sự tình. Từng tốp 4, 5 người ngồi tụm lại trùm cao su tránh mưa. 
Gió còn thổi mạnh làm tung những tấm cao su kêu nghe bạch bạch, nước mưa bắn tung tóe mọi người mình mẩy ướt nhẹp. Chúng tôi hỏi thăm thì người ta cho biết họ cũng là những người vượt biên ghé tránh bảo. Tàu của họ vô nước không thể tiếp tục cuộc hải trình. Có người còn tốt bụng khuyên nên làm cho tàu vô nước thì Mỹ mới chịu cho lên tạm trú.
Chúng tôi trở lại tàu trình bày rõ sự việc nhưng ông chủ tàu quyết định tiếp tục lên đường sau khi hỏi thăm hướng đi cho chắc ăn.
Mấy người Mỹ qua tàu chúng tôi xem xét một hồi, khi họ thấy tàu cũng còn khá an toàn cho nên họ chỉ cung cấp một ít đồ supply rồi chỉ hướng đi về phía Malaysia.

Đêm 3

Biển chiều nhuộm một màu vàng tuyệt đẹp vài con hải âu bay lượn trên nền trời trong vắt, chúng tôi vui mừng chờ đón bến bờ tự do...
Con tàu đang rẽ sóng ngon lành bỗng kêu lên khịch khịch mấy tiếng rồi tắt ngủm. Nó chậm chạp trôi theo dòng nước đi về đâu cũng không ai để ý. Mọi người chỉ chăm chú chờ anh thợ máy đang ra sức sửa chữa. Đàn bà lại tiếp tục cầu nguyện... Cho đến hơn nửa khuya thì sửa được một block máy. 
Với một block máy nó chạy cà rịch cà tang như bà già đi âm phủ. Nhìn thấy những chiếc ghe câu, ghe cào đèn đuốc sáng trưng ông chủ tàu quyết định chọn đại một chiếc gần nhất rồi cố cho con tàu lết lại gần, chờ nó cào xong thì nhờ nó kè mình vô bờ...

Ngày 3.

Hôm sau trời trong mây tạnh, chiếc tàu cá Thái Lan vừa kéo xong mẻ lưới thì tàu tôi cặp sát vào. Trong tàu có một cô trước năm 1975 làm sở Mỹ nên biết chút ít tiếng Anh mà thằng thuyền trưởng cũng biết chút đỉnh nên cả hai người nói qua nói lại một hồi, cuối cùng cô ta cho biết chiếc tàu Thái nầy đồng ý chở hết người trên tàu tôi vô đất liền còn chiếc tàu chúng tôi đang đi thì phải bỏ lại vì chánh phủ nó cấm không cho cứu người vượt biên nếu như họ không gặp nguy hiểm.
Ông chủ tàu bàn với anh thợ máy một hồi thì đồng ý theo tàu Thái vô bờ. 
Chiếc ghe cào của Thái lớn gấp mấy lần tàu tôi đi, cái ca-bin của nó có tới 2 tầng. Đàn bà con gái chúng nó cho lên tầng trên còn bọn đàn ông chúng tôi thì chúng cho ở tầng dưới.

Chiếc tàu Thái chạy chầm chậm nhưng chúng tôi không biết nó đi về hướng nào. Một lúc sau thì ngư phủ Thái dọn cơm nóng với mực và tôm tươi luộc cho chúng tôi ăn. Cơm gạo Thái thơm nồng nàn mà từ đêm qua đến giờ lo vụ tàu hư nên chúng tôi đâu có nuốt được cơm, bây giờ sẵn cơm ngon đồ ăn nóng tôi dứt liền mấy chén.
Ăn xong tôi định bước ra ngoài boong tàu xem thử cho biết tàu Thái khác tàu Việt ra sao. Vừa lú đầu ra cửa tôi gặp ngay một thằng ngư phủ mình mẩy đen thui như cục than hầm đang cầm cây dao phay đứng canh. Tôi la thầm trong bụng:
- Chết bà! Gặp cướp biển rồi. 
Tui bò lại nói nhỏ cho ông chủ tàu nghe rồi bò ra phía cửa bên hông kia xem thử, bên phía đó cũng gặp thêm một cây cột nhà cháy, tay cũng đang thủ cây búa tổ chảng. Tôi than thầm, "chuyến nầy bỏ mạng thiệt rồi".

Thằng Mạnh nghe cướp là chồm đầu ra cửa xem thử coi con bồ nó thể nào. Vừa lú đầu ra là bị thằng Thái Lan nắm cổ kéo ra ngoài, nó ra dấu lột hết quần áo để trở thành người tiền sử, xong rồi nó kéo ra mũi tàu, tụi tôi sợ muốn té đái trong quần, tưởng là nó xô xuống biển để kết duyên với người cá rồi, ai ngờ nó chỉ tống vô hầm nước đá làm cá muối mà thôi. Sau đó nó từ từ kéo đầu từng người ra tái diễn lại cái màn cũ, tôi được đi hàng áp chót, sau cùng là ông chủ tàu. Trong hầm nước đá mà không có một mảnh vải che thân nên tôi vừa lạnh vừa run còn thằng Mạnh vô đầu tiên nên sắp biến thành cây nước đá rồi.

Tụi Thái Lan ở ngoài lục lạo đồ đạc quần áo của chúng tôi lấy đi sạch sẽ những gì có giá trị kể cả tiền Việt Nam chúng cũng không chừa. Gần một giờ sau chúng mới cho lên từ từ, tới phiên tôi rời khỏi hầm thì đã thấy thằng Thái Lan đang lội qua tàu mình mà cột dây rồi nó cặp sát hai chiếc lại, sau đó nó đạp từ người qua tàu cũ và quăng bừa bải trả lại cho chúng tôi quần áo cũng như vật dụng cá nhân. Trước khi đi nó thảy cho một bao gạo ân huệ...
Tụi tui mạnh ai nấy lẹ làng tìm lại quần áo của mình mà mặc vào, hổng biết có người nào can đảm mà quan sát thử xem những người đồng cảnh ngộ của mình ra sao hông, chứ tôi thì sợ quá nên quên...
Khi mọi người hoàn hồn lại chút đỉnh thì anh thợ máy bắt đầu cặm cụi xem xét để sửa block máy còn lại...

Đêm 4.

Mọi người mệt lả, rả rời nhưng không có người nào chớp mắt mà ngủ được. Đến nửa khuya thì 2 blocks máy nổ đều chạy ngon lành. Ông chủ tàu không nói một tiếng nào chỉ ngắm sao trời mà đi về hướng Mã Lai...

Ngày 4.

Tàu chạy được, mọi người như được cứu sống lại lần nữa cho nên nằm đâu là ngủ đó, mải đến gần trưa hôm sau thì ông chủ tàu la lớn:
- Thấy bờ rồi, tới nơi rồi.
Tất cả mọi người đều leo lên nhìn. Từ xa tít mù khơi ở tận cuối đường chân trời một dãy mây xanh ẩn hiện, nhưng đó lại là niềm hy vọng của sự tái sinh. Phải mất khoảng 3 giờ đồng hồ sau thì mới thấy rõ hàng cây xanh và nhà cửa ở ven biển.

Con tàu nhẹ nhàng lướt sóng đi cách bờ chừng vài trăm mét, gió mùa đông thổi lạnh thấu xương nhưng mà hình như không có ai quan tâm tới thời tiết, cái mà mọi người đang lo đó là trên bờ kia, nơi cách con tàu chưa đầy 500 mét là phần đất của quốc gia nào. Thái Lan, Malaysia hay là đã quay trở lại Việt Nam sau cơn bão...
Trên bờ biển hình như là vùng quê nên nhà cửa lưa thưa, tàu phải đi hơn một giờ sau thì mới thấy một bãi biển có đông người qua lại, trên đó còn có nhiều xe hơi...
Ông chủ tàu cho tàu sát bờ hơn nhưng cũng phải còn xa hằng 300 mét để tránh đá ngầm. Mọi người đang đoán già đoán non, người thì cho là Mã Lai người thì nói Thái Lan nhưng tuyệt nhiên không ai dám nhắc đến 2 chữ Việt Nam thân yêu cả...
Thằng Mạnh nói:
- Muốn biết là nước nào chỉ cần cặp tàu vô rồi lên bờ hỏi là biết liền, chứ ngồi đây đoán tới đoán lui hoài thì cũng bao nhiêu đó thôi.
Ông chủ tàu trả lời:
- Ai mà hổng biết dzậy nhưng biển chổ nầy là biển lạ, mình đâu có biết dưới đó có đá ngầm hay không, hơn nữa cặp sát bờ còn có sóng lưỡi búa chắc chắn chỗ đó có cồn ngầm nên dội nước thành sóng lưỡi búa, mình cặp tàu vô rủi vướng đá ngầm lủng tàu mà nơi đó lại là Thái Lan hay tệ hơn nó là chỗ nào đó ở Việt Nam thì chỉ có nước khóc ra tiếng Miên.

Tôi còn đang ấm ức trong bụng chuyện thằng Mạnh lợi dụng thời cơ đi ké mà còn cỏng thêm 2 người nên xỏ ngọt:
- Hay là mầy lội vô đó hỏi thử đi. Tao nhớ mầy cũng lội giỏi lắm mà...
Nó cũng đâu phải tay vừa nên móc giò lái lại liền tức khắc:
- Tao lội sông đâu có bằng mầy vậy sao mầy hổng lội mà lại kêu tao?
Tôi nổi sùng:
- Nhưng tao đâu có đề nghi vì tao chỉ lội sông thôi chứ chưa có lội biển lần nào, nhưng sóng lưỡi búa như vậy mà mầy dám đề nghị lội vô hỏi đường thì chắc là mầy biết cách lội.
Thằng Mạnh nín khe nhưng ông chủ tàu thì lên tiếng:
- Chỗ có sóng lưỡi búa đó nước cạn queo khi mình lội vô thì nước chỉ chụp lên đầu không sao, nhưng khi trở ra phải quay mặt vô bờ mà lội ngược nếu không sẽ bị nước ụp vô mặt mà chết ngộp. Tại trong tàu tui mấy đứa nầy hổng biết tiếng nước ngoài chứ không thôi tui kêu tụi nó lội vô rồi.
Thằng Mạnh muốn làm anh hùng rơm và lấy le với bồ nó nên mạnh miệng lên tiếng để đè bẹp tôi:
- Mầy mà dám lội vô thì tao sẽ lội với mầy.
Nói xong nó đắc ý còn nhướng nhướng cặp chưn mày với tôi làm tôi ứa gan nên nhịn không nổi liền cổi áo cái rột:
- Lội thì lội chứ, tao sợ mầy sao?
Mấy ngày qua tôi thường trực vô ca-bin tán dóc với anh em ngư phủ và ông chủ tàu nên mọi người cũng có một chút cảm tình với nhau, thằng Thiện thấy vậy cũng lên tiếng:
- Em cũng lội vô đó với anh.
Ông chủ tàu lựa ra 3 cái "can" mủ tốt nhất rồi cho tàu chạy chậm chậm vô sâu hơn 100 mét nữa 3 đứa tui mới ôm "can" mà lội vào bờ.

Gió bất thổi đẩy từng cơn sóng đưa tôi tới miền đất tự do, con đường còn dài tôi lội từ từ mà dưỡng sức, gần sát bờ sóng cao dữ dội chụp xuống như một quả đồi nước phủ kín chung quanh chừng 1/2 phút thì nó mới rút qua khỏi và kéo lùi tôi trở ra. Tới lúc đó tôi mới ra sức lội ngược vô bờ, rồi lượn sống thứ nhì thứ ba...lại tiếp tục trình tự cũ, còn chưa đầy 50 mét mà sóng cứ đẩy vô rút ra hoài làm tôi mệt muốn đứt hơi, chợt nhớ lời ông chủ tàu nói tôi thò chân mình xuống đất thử thì chạm đất từ lâu rồi.

Tôi cầm cái can bị mốp méo vì xẹp bớt hơi chạy lẹ lên bờ để tránh đợt sóng kế tiếp. Ngồi trên bãi cát tôi cố tìm 2 đứa nó nhưng những cơn sóng bạc đầu chỉ để lại những bọt nước trắng xóa còn 2 thằng kia thì chưa thấy đâu...
Tôi bước những bước chân đầu tiên trên đất liền sau 4 ngày đêm lênh đênh trên biển...
Tôi thấy trước mặt mình là những trũng thật sâu, người tôi nghiêng ngã còn hơn là say rượu. Đang dò từng bước theo bờ thì thằng Thiện vô tới hai đứa tôi mừng quá ngồi bẹp trên cát để chờ thằng Mạnh bỗng đâu có một cô gái mặc sắc phục, tôi đoán có lẽ là cảnh sát đến. Cô ta xổ một loạt hổng biết là tiếng gì Anh, Pháp, Thái Lan hay Mã Lai nhưng nghe được tiếng Việt Nam trong đó tôi liền vận dụng hết những gì đã học ở trường còn sót lại chỉ ̣vừa đủ đưa tay về phía con tàu nhỏ bé đang neo ngoài khơi và chỉ xuống dưới chân mình rồi thốt lên vỏn vẹn 2 chữ:
- Thailand, Malaysia
Vậy mà cô gái cũng hiểu và trả lời ngon lành
- Thailand, Thailand. 
Rồi cô ta chỉ tay về hướng mặt trời sắp lặn:
-Malaysia, Malaysia
Cô ta còn đưa 2 ngón tay lên ra dấu nhưng tôi bí, không hiểu là ý cô ta muốn nói đi xe, đi máy bay 2 giờ thì tới, hay là đi tàu thì phải mất 2 ngày...
Dân Thái Lan nói nào ngay cũng tốt bụng lắm, kẻ mồi cho thuốc hút người thì lấy áo khoát của mình trùm cho chúng tôi bớt lạnh. Cách đó hơn 50 mét thằng Mạnh cũng được dân Thái dắt lại nhập bọn với 2 đứa tôi.
Ngồi nghỉ mệt hút thuốc một hồi thì tụi tôi cám ơn mọi người rồi lội trở ra tàu. Lượt ra tôi nhớ lời dặn của ông chủ tàu ôm cứng cái can mủ rồi quay lưng nhắm mắt lội ngược trở ra tàu, thiệt là dễ dàng...

Đêm 5

Nghe chúng tôi tường thuật lại cả tàu vui mừng không tả. Cơm nước cá chiên cá kho cho ăn thả giàn. Ông chủ tàu quyết định ngày đi đêm nghỉ để tránh đá ngầm. Đêm đó ai muốn ngủ dưới hầm hay ngủ ở trên tùy ý. Tàu neo tới sáng mới khởi hành xuôi nam...

Ngày thứ 5 & 6 tàu đi từ từ sát bờ chúng tôi nhìn rõ người và xe cộ di chuyển trên đất liền nên rất vững lòng không một chút lo âu sợ sệt
Đêm 6 & 7 tất cả mọi người đều ngủ ngon với nhiều mộng đẹp. 
Nằm trên hầm tàu tôi an ủi Lục:
- Con bồ mầy kẹt lại tội nghiệp quá, hổng biết nó phải giải quyết thế nào với cái bụng ngày càng lớn đây?
Nó bỗng nhiên ngồi dậy nhìn tôi rồi cười rủ rượi, tôi giựt mình tưởng nó buồn quá sắp phát điên:
- Bồ bị kẹt lại, buồn quá rồi bị điên hả?
Nó thôi cười trả lời:
- Bồ gì? Bồ lúa hả. Cái mặt láu cá của mầy coi dzị mà cũng dễ gạt quá chừng...
Tôi sượng trân nên nín thinh mà trùm cao su ngủ...

Ngày thứ 7

Tàu chúng tôi tới trước cửa vào cảng Terengganu khoảng 10 giờ sáng ngày 25 tháng 10 âm lịch sau 7 ngày đêm lênh đênh trên biển cả. 
Terengganu, tôi không nhớ rõ lắm thành phố lớn nhỏ cở nào cái cảng chứa được bao nhiêu tàu nhưng tôi nhớ rõ ràng hôm vào cảng vô cùng nguy hiểm xém chút là cả bọn làm mồi cho cá rồi...
Con sông Terengganu không nhớ là lớn hơn hay nhỏ hơn con sông Cái Bé của xứ Rạch Giá chúng ta nhưng chắc một điều nó nhỏ hơn sông Cái Lớn.

Lúc đó gió từ ngoài biển thổi vào đất liền, nước sông cuồn cuộn chảy ra nên dội lại và taọ thành những đợt sóng lưỡi búa còn lớn hơn bên Thái Lan. Ngoài khơi gần cửa sông có một chiếc tàu vượt biên còn thả neo, chúng tôi tấp gần lại rồi cũng hạ neo mà nói chuyện hỏi thăm tình hình. Chiếc tàu nầy đến ngày hôm trước cùng 2 chiếc nữa nhưng khi vào cảng thì vướng phải cồn cát ngầm rồi bị liên tiếp mấy đợt sống lưỡi búa làm lật ngang và bị nhận chìm, nghe đâu chết hết mấy trăm người, mất xác cũng bộn chỉ cứu được có 86 người mà thôi. Chiếc tàu đó chưa kịp chạy vô nên sợ quá neo lại chờ người Mã Lai ra giúp nhưng chưa có ai tới...

Ông chủ tàu còn đang phân vân chưa biết tính sao thì thấy một dọc 3, 4 chiếc tàu đánh cá to lớn từ ngoài khơi hiên ngang chạy thẳng vô cảng. Ông gọi mấy ngư phủ lại nói:
- Chắc chắn là ngay cửa sông có cồn ngầm nên mới tạo thành sóng lớn, tụi Mã Lai rành địa thế hơn mình nên nó biết chỗ nào sâu, chổ nào cạn mà tránh, tụi mình muốn vô thì phải chờ nước lớn mới an toàn.
Ông cố công giải thích với người tài công của tàu kia nhưng anh ta vẫn không dám vào...
Đến giữa trưa nước lớn dâng lên khá cao ông chuẩn bị chu đáo để vào cảng. Tất cả các nắp hầm đều được đậy kín cẩn thận, những can nước uống còn sót lại đều trút bỏ, dầu thì châm vô máy tàu, mỗi người đều cột một cái can không vào người. Đàn bà con nít cho vô ca-bin đàn ông và ngư phủ thì tìm chỗ nào chắc chắn mà ôm cứng...

Ngoài khơi sóng lưa thưa chỉ đưa tàu lên cao rồi hụp xuống mà thôi nhưng càng vô gần bờ sóng càng cao nó chụp từ trên cao xuống như ngọn thác không lồ. Sóng rượt theo chiếc tàu chực chờ nuốt trọn. Tàu vô càng gần bờ thì một lượn sóng bắt kịp tàu, nước dội ào ào nhận lút nửa thân tàu. Ông chủ tàu đầy kinh nghiệm liền hạ bớt ga cho ngọn sóng đi qua trước, cả chiếc tàu chìm trong nước, khi ngọn sóng qua khỏi thì tàu lại nhô lên ông liền tăng hết tốc lực chạy theo nó, còn ngọn sóng phía sau thì lại tiếp tục rượt con tàu của chúng tôi, nhưng nó chưa bắt kịp thì chiếc tàu đã lọt vô bên trong cảng rồi...
Phía trong cảng có một bãi cát lớn chắc có khoảng vài chục xác tàu vẽ cờ CS trên cabin đang nằm nghiêng ngửa ông chủ tàu tìm một khoảng trống rồi ủi đại chiếc tàu thân yêu của mình cho nó nhập bọn với đám tàu đi trước...
Chúng tôi mình mẫy ướt mem thất thiểu leo ra khỏi tàu rồi nằm thẳng cẳng trên bãi cát mà chờ cảnh sát Mã Lai tới...

Lanh Nguyễn

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2018

Thay Màu Áo!

Em biết không…? nơi đây thay áo mới!
Áo mùa thu ảm đạm gió mưa sầu
Lá đang vàng, lá rụng sẽ về đâu?
Buồn viễn xứ vương mang bao nỗi nhớ!!!






Thu về tang tóc lắm thu ơi
Hoa lá xanh tươi bỗng rã rời
Tàn tạ chìm dần về với đất
Còn đâu hương sắc hiến dâng Đời


Thơ & Ảnh:Nguyễn Thành Tài
Mùa Thu Montreal 2018
* Tặng Kim Oanh, người em gái Giồng Ké

Về Thăm Xứ Huế



Xứ Huế ngàn xưa nét diễm kiều
Đổi đời mang giấc ngủ buồn thiu
Đông Ba thao thức hồn ngơ ngác
Thành Nội trở mình bóng quạnh hiu
Thiên Mụ trơ vơ trời phế tích
Sông Hương lờ lững nước tiêu điều
Khuynh thành tuyệt sắc em ca kỹ 
 Bình thủy tương phùng sao vẫn yêu.

Huế 01 tháng 06 năm 2009
Nguyên Trần
***
Các Bài Họa: 
Nhớ Huế

Nhìn cô gái Huế thật yêu kiều
Biến cố đổi đời nguội lạnh thiu
Thượng Tứ hồ sen hồn chết lặng
Hoàng cung thành nội gió hiu hiu
Từ Đàm thắng cảnh năng lui tới
Thiên Mụ chùa thiên nhớ đủ điều
Bến cũ Hương Giang còn tiếng hát
Con đò cô lái trọn niềm yêu...

Mai Xuân Thanh
Ngày 12/11/2018
***
Huế Thương 


Nhìn về xứ Huế nét sầu tiêu
Áo tím buồn vương đẹp mỹ miều
Vỹ Dạ chiều thu mơ lắm cảnh
Sông Hương nắng Hạ mộng bao điều
Trường Tiền gió lộng hoài thương nhớ
Đỉnh Ngự trăng mờ mãi luyến yêu
Sáng tiếng chuông chùa ngân vọng nhẹ
Hoàng Thành lắng đọng vẻ cô liêu 

Minh Thuý
13 _ 11 _2018
***
Giã Biệt Huế

Gởi sóng Hương Giang giọt lệ Kiều
Đêm dài khắc khoải phận đời thiu
Kinh thành thuở ấy chan hồ hởi
Ngự uyển bây giờ trút hắt hiu
Diễm thúy chân trời ươm mấy mộng
Hàn liêu góc biển ngậm bao điều
Nguồn xưa dẫu nước theo dòng chảy
Vẫn nhớ nhung hoài một bến yêu

Lý Đức Quỳnh
***
Nghe Kể Chuyện Huế

Du khách thường khen Huế dáng Kiều
Mênh mang, đôi khắc tựa thiu thiu.
Ngựa xe thân ái thăm nhiều cảnh
Lăng tẩm tâm giao biết lắm điều.
Thiên Mụ trang nghiêm mây lấp lánh
Hương Giang thơ mộng gió hiu hiu.
Ai vui kể chuyện, ai buồn nhớ
Khúc ruột miền Trung mãi đáng yêu .

Trần Như Tùng
***
Tình Thơ Xứ Huế

Xinh xinh mỹ nữ dáng yêu kiều
Huế đẹp muôn đời chẳng vắng thiu
Núi Ngự mây cao niềm ước lệ
Sông Hương gió nhẹ nỗi đìu hiu
Hoàng Thành ướp mộng thời oanh liệt
Vĩ Da sầu vương thuở lắm điều
Huế dệt lời thơ tình bất tận
Ai về xứ Huế sẽ thầm yêu

M.Đ

Mùa Đông Mong Chờ



Xướng:
Mùa Đông Mong Chờ

Nhìn bao lá úa rớt bên song
Mà thấy nao nao cả tấc lòng
Ngày đến nguồn vui sao vắng mất
Đêm về tâm sự lại không cùng
Có còn ghi nhớ dòng lưu niệm
Chưa hết u hoài chuỗi đợi trông
Người đã ra đi trong luyến tiếc
Một mùa Đông rét….mãi chờ mong.

Trịnh Cơ
***
Đông Chờ

Réo rắt mưa buồn thấm ướt song
Trời mây ảm đạm tái tê lòng
Niềm đau chuyện cũ theo chưa hết
Nỗi khổ tình xưa bám tới cùng
Mốt nữa Đông sang còn tiếc nuối?
Mai này tuyết đổ có chờ trông?
Thương người lạnh lẽo mình một bóng
Thổn thức vì ai, mãi nhớ mong...

Thanh Hoà
***
Cảm Hoài

Nắng chiều hiu hắt chiếu qua song

Gợi nỗi buồn thương buốt nhói lòng
Nơi ấy hẳn ai sầu chất ngất
Chốn này có kẻ nhớ khôn cùng
Nhìn mây trôi mãi, hồn ngơ ngẩn
Nghe gió thổi hoài, dạ ngóng trông
Đã hết mùa ngâu mà suối lệ
Chẳng ngừng tuôn chảy ngập trời mong.

Sông Thu
***
Hoài Niệm

Mưa lạnh hoàng hôn ướt cả song,
Đêm nằm thao thức… bỗng nao lòng,
Người đi xa bến không thề hẹn,
Kẻ ở cô phòng mãi đợi trông.
Nỗi nhớ u hoài dài bất tận ,
Niềm thương gậm nhấm đến vô cùng.
Còn chăng lưu luyến bao hoài niệm
Năm tháng qua rồi vẫn ước mong…

Chánh Minh
5/11/2018
***
Tội Thân Già

Lữ khách bơ phờ tựa trước song
Vầng trăng ái ngại xót xa lòng
Do tình trắc trở duyên nào vẹn
Bởi bậu hờn ghen ý chẳng cùng
Xứ lạ đêm nầy gom mảnh nhớ
Tim sầu thủa nọ đếm niềm trông
Mười năm cách biệt hoài vương vấn!
Tẻ nhạt thân già lẩm cẩm mong!

Như Thu
***
Đông Về

Cơn gió xa về lướt chấn song
Đem buồn tê tái thấm vào lòng
Chiều nào ai đến chờ hiên lạnh
Tối đó anh mơ sánh bước cùng
Trải thảm đường xưa thu giã biệt
Thương người ngõ cũ luống hoài mong
Bây giờ đông đến nàng đâu nhỉ ?
Gác vắng chong đèn để đợi trông!

Thiên Hậu
***
Mùa Lá Rụng

Dáng chiều chênh chếch chiếu qua song
Rừng vắng hoang vu lạnh cõi lòng
Soải cánh chim trời về tổ muộn
Ngẩn ngơ ngư phủ nhớ sông cùng
Thân đơn tâm thức mờ hiu quạnh
Ý hội cảnh tình rõ cảm thông
Tri kỷ mới hay sầu lận đận
Hết mùa lá rụng có còn mong.

Uyên Quang
11/6/2018
***
Mong Thầm

Ngây khờ lặng lẽ đứng dòm song

Ước mãi người dưng thấu được lòng
Thu úa lá khô sầu bất tận
Tình côi dạ héo nhớ vô cùng
Trăng tròn trăng khuyết mòn chân đợi
Xuân mãn xuân tàn mỏi mắt trông
Cửa sổ ngày kia lìm khép lại
Vang rền pháo nổ,hết thầm mong !

Lý Đức Quỳnh
***
Chớm Đông

Đông chớm về rồi,bấc lướt song

Lặng nghe tê tái buốt qua lòng
Bao niềm vương vấn càng thương đợi
Mấy nỗi u hoài cứ nhớ mong
Mùa trước kẻ đi không ước hẹn
Tiết nầy người ở vẫn chờ trông
Bên thềm tuyết đổ hồn hoang dại
Chợt thấy cô đơn đến tận cùng

Songquang
11092018
***
Đông Gọi Tình Sầu
Rỉ rả mưa hoài trắng ướt song
Mà nghe giá lạnh thấm trong lòng
Hanh hao nghĩa cũ buồn vô kể
Nuối tiếc tình xưa nhớ trọn cùng
Đất lạ ôm hình trăn trở ngóng
Quê nhà ủ dạ mỏi mòn trông
Bao Đông vẫn thắp đời cô quạnh
Gọi mãi tên người nỗi ước mong 

Minh Thuý
9 tháng 11_2018

L’épouse du Croisé (Maurice Maeterlinck) - Chinh Phụ



L’épouse du Croisé

Et s’il revenait un jour
Que faut-il lui dire ?
– Dites lui qu’on l’attendit
Jusqu’à en mourir !

Et s’il m’interroge encore
Sans me reconnaître ?
- Parlez-lui comme une soeur
Il souffre peut-être

Et s’il demande où vous êtes
Que faut-il lui répondre ?
– Donnez-lui mon anneau d’or
Sans rien lui répondre

Et s’il veut savoir pourquoi
La salle est déserte ?
Montrez-lui la lampe éteinte
Et la porte ouverte…

Et s’il m’interroge alors
Sur la dernière heure ?
- Dites-lui que j’ai souri
De peur qu’il ne pleure…

(Maurice Maeterlinck 1862-1949) 

***
Dịch Thơ:
Chinh Phụ 

Ngày nao chàng trở lại
Biết nói gì chị ơi?
– Chờ mong người hoài mãi
Mòn mỏi suốt cuộc đời

Nhưng nếu chàng bỡ ngỡ
Không nhận diện ra em?
– Vẫn tiếp chàng, em nhỏ
Chàng với nỗi muộn phiền

Nếu chàng hỏi chị đâu
Trả lời sao hở chị?
– Trao chàng chiếc nhẫn vàng
Chỉ thế thôi lặng lẽ

Nếu như chàng thắc mắc
Sao lạnh vắng lầu hoang?
– Kìa ngọn đèn lịm tắt
Và cánh cửa mở toang

Nếu chàng còn muốn biết
Phút từ ly lìa đời?
– Môi cười khi giã biệt
Kẻo chàng lệ đầy vơi…


Yên Nhiên (Anne Nguyễn)

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2018

Ánh Mắt Quê Hương - Hoàng Phương - Hương Lan


Sáng Tác: Hoàng Phương
Ca Sĩ: Hương Lan
Thực Hiện: Nguyễn Thế Bình


Thương Nhớ Thả Trôi



Thả trôi câu lục bát chiều
Qua dòng sông tiếng gió reo nồng nàn
Em về qua chuyến đò ngang
Tóc bay biết có mơ màng về xưa ?

Thả trôi câu lục bát mưa
Vỗ về tóc ướt cho vừa nhớ nhau
Giọt tình ngan ngát hương cau
Câu thơ xanh biếc lá trầu mơ duyên

Thả trôi câu lục bát mềm
Như là sợi tóc buồn em dịu dàng
Quấn quanh ngày tháng đa đoan
Cột tình ta với lỡ làng nhớ nhung

Chiếc dù ngày ấy che chung
Giờ che ai, nỗi trống không miệt mài
Cõi lòng thu lá rụng đầy
Tóc em rẽ lệch chia hai phương chờ

Thả trôi câu lục bát mơ
Đêm chèo trăng nhớ qua bờ chiêm bao
Nụ hôn đắm đuối ngọt ngào
Ngày xưa quấn quít lẽ nào chia xa

Thả trôi câu lục bát nhòa
Cơn mưa rơi lệ thiết tha gọi người
Đêm em giá lạnh buốt trời
Có nghe thương nhớ thơ tôi đắp mền ?

Trầm Vân 

Men Tình - Vĩnh Cữu




Bài Xướng: Men Tình

Sáng ra lượm chiếc lá vàng,
Nét thu đọng chút muộn màng vai ai!
Mùa qua thoáng nhuộm tóc mây,
Tình qua lại để vơi đầy nhớ quên!
Ơi những con đường không tên.
Mang bao lời hẹn câu nguyền bên nhau,
Và gieo cũng lắm niềm đau,
Dệt nên cung bậc ngọt ngào đắm say,
Ngàn xưa cho đến hôm nay,
Men tình nhuộm thắm đong đầy ý thơ!

Hoành Trần
27/10/17
***
Bài Họa: Vĩnh Cữu

Người đem rắc những tơ vàng
Để mùa thương nhớ mơ màng vì ai
Sánh vai vượt cạn lên mây
Đấp xây hạnh phúc mộng đầy khó quên
Dẫu xa thầm nhủ gọi tên
Tạc lòng khắc dạ hương nguyền có nhau
Lúc vui buồn lẫn khổ đau
Như trầu cau bện ngạt ngào men say
Sắt son xưa vẫn như nay
Căn nhà vĩnh cữu ấp đầy tình thơ

Kim Oanh
28/10/2017

Mưa Trên Quê Tôi



Gác trọ quê người, nhìn cảnh chiều mưa
Chợt nghe lòng buồn, nhớ đến quê xưa
Tôi bỏ lại trên bốn mươi năm trước
Mưa nơi nào cũng từ trời trút nước.

Cảnh mưa quê tôi khác với xứ người
Mưa xứ lạ làm ướt đường, ngập phố
Trời đổ mưa, không có người đi bộ
Lái xe ô tô, khắp phố chạy rong.

Mưa trên quê tôi nước ngập ruộng đồng
Người nông phu khoát áo tơi, nón lá
Cày cấy dưới mưa chân tay lạnh giá
Cầu trời mưa cho lúa sớm đơm bông.

Đem sự vui mừng cho những nhà nông
Hứng nước mưa, dân mừng như được bạc
Chứa để giành cho những ngày giỗ chạp.
Dân khỏi phải dùng nước giếng, nước sông.

Trên bốn mươi năm đất khách lưu vong
Tôi mơ mãi một ngày hồi cố quốc
Thăm lại bạn bè, người cũ năm xưa
Để ngắm nhìn quê ngoại những chiều mưa.

Trần Gò Công/Lão Mã Sơn


For The Fallen (Robert Laurence Binyon) - Cho Những Người Nằm Xuống




Bài thơ “Cho những người nằm xuống” là một trong những bài thơ được đọc nhiều nhất trong Thế chiến I tuy tác giả, Robert Laurence Binyon không phải là một chiến binh, chỉ là một quản thủ viện Bảo tàng Anh đã viết ra trong vòng một tháng sau khi cuộc chiến tranh bùng nổ. Khi đó Binyon đã 45 tuổi, quá tuổi nhập ngũ nhưng năm 1915 ông đã tình nguyện làm orderly trong các quân y viện Pháp tại mặt trận Verdun. 

Thời hậu chiến, ông tiếp tục phục vụ tại viện Bảo tàng Anh cho tới khi hồi hưu năm 1933. Ông từng làm giáo sư về Văn chương và Thi ca tại đại học Harvard và Athens. Ông mất năm 1943 sau một cuộc giải phẫu.

For The Fallen

With proud thanksgiving, a mother for her children
England mourns for her dead across the sea
Flesh of her flesh they were, spirit of her spirit,
Fallen in the cause of the free

Solemn the drums thrill; Death august and royal
Sings sorrow up into immortal spheres,
There is music in the midst of desolation
And a glory that shines upon our tears.

They went with songs to the battle, they were young
Straight of limb, true of eye, steady and aglow
They were staunch to the end against odds uncounted
They fell with their faces to the foe.

They shall grow not old, as we that are left grow old:
Age shall not weary them, nor the years condemn.
At the going down of the sun and in the morning
We will remember them.

They mingle not with their laughing comrades again
They sit no more at familiar tables of home
They have no lot in our labor of the day-time;
They sleep beyond England's foam.

But where our desires are and our hopes profound,
Felt as a well-spring that is hidden from sight,
To the innermost heart of their own land they are known
As the stars are known to the Night;

As the stars that shall be bright when we are dust
Moving in marches upon the heavenly plain;
As the stars that are starry in the time of our darkness
To the end, to the end, they remain.

Robert Laurence Binyon



Thơ dịch: 
Cho Những Người Nằm Xuống

Với tấm lòng người Mẹ cao cả
Nước Anh khóc con chết biển xa.
Thần xác chia từ thần xác mẹ
Đã nằm xuống vì chữ Tự Do.

Tiếng trống oai nghiêm, chết oai hùng
Thương ca dâng bổng cõi Cao Xanh
Tiếng đàn văng vẳng trong u tịch
Chói lọi hào quang giữa lệ tràn.

Hát khúc tiến quân, bày tráng sĩ
Long lanh mắt sáng, bước hiên ngang.
Dù trong tuyệt vọng, không sờn dạ
Gục ngã can trường trước địch quân.

 Họ “trưởng bất lão” ta trưởng lão
Họ tồn tại mãi với thời gian
Dù lúc chiều tà hay nắng sớm
Người đời muôn thuở vẫn ghi tâm.

Họ hết cười đùa cùng chiến hữu
Hết ngồi chỗ bàn ghế thân thương
Hết sẻ chia lao lực mỗi buổi
Mà đang an giấc cách trùng dương.

Những ước vọng ta từng ấp ủ
Như tự nguồn thầm kín thâm sâu
Cho tới tận đáy lòng đất tổ
 Như những vì sao trong đêm thâu.

Sao lấp lánh khi ta thành bụi
Sao diễn hành trên đỉnh thiên cung
Sao chiếu sáng giữa thời đen tối
Họ vẫn còn, còn mãi tận cùng.

Hoàng Xuân Thảo
***
Bài thơ của Binyon được in lần đầu tiên trên báo TIMES ngày 21.9.1914. Cái ý chính của bài thơ là “Họ sẽ sống mãi trong lòng chúng ta” qua những vì sao lấp lánh trên thiên cung cả thiên thu đã đem lại niềm an ủi cũng như hi vọng cho những người mà thân bằng, quyến thuộc đã ngã xuống.

Thơ dịch: 
Cho Người Nằm Xuống 

Nhân lễ Tạ ơn người mẹ Anh hãnh diện 
Thương tiếc cho đàn con đắm chìm trên biển. 
Thảy thịt da linh hồn đó tự thân mình, 
Vì tự do anh dũng hy sinh. 

Trống giục trang nghiêm; chết uy, vương giả 
Hát bi thương vào bất diệt tinh cầu, 
Tiếng nhạc vang lên giữa nơi hoang dã 
Vinh quang sáng lòa, ta nước mắt rơi mau! 

Họ, tuổi trẻ hát ca đi vào trận chiến, 
Tràn nhựa sống, mắt nhanh, vững tiến sáng ngời. 
Họ kiên trì trước trở ngại khó chơi; 
Họ ngã xuống ngó thẳng nơi địch thủ. 

Họ lớn lên không già đi, khi chúng ta dần cỗi: 
Tuổi không mệt mỏi, năm chẳng rẻ khinh. 
Lúc trời chiều lặn, lúc mọc bình minh 
Chúng ta sẽ luôn tri ân họ. 

Đồng đội không chung vui đùa giỡn nữa; 
Cũng không ngồi bàn quen thuộc giữa nhà; 
Ban ngày không lao động với chúng ta; 
Họ ngủ ngoài nước Anh cùng bọt biển. 

Nhưng đó là nơi ước vọng sâu thẳm của chúng ta, 
Cảm thấy như suối nguồn khuất mắt xa, 
Họ biết tự thâm tâm quê hương yêu dấu 
Như những ngôi sao hiện rõ giữa đêm tà; 

Họ như sao sáng khi ta là cát bụi, 
Họ diễn hành trên thượng giới bình nguyên; 
Như chùm sao lấp lánh khi chúng ta tăm tối, 
Đến vô cùng, đến vô cùng, họ tồn tại vô biên 

Lộc Bắc 
Oct. 2018

Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2018

Thăm Nhau - La Joie Idyllique - A Sky Full Of Happness



(Thơ Tam Ngữ)

Thăm Nhau

Mai tới thăm anh quyết không báo trước 

Thấy bất ngờ cô bé hẳn reo vui 
Mặt trái soan sẽ rạng rỡ tươi cười 
Như trăng sáng thu xưa ta gập gỡ ...
Em hấp tấp chạy ra mừng hớn hở 
Bàn chân thon quên xỏ vớ mang giầy 
Gót sen hồng làm thảm cỏ ngất ngây
Vì hơi ấm toát ra từ ngọc nữ 
Má nõn hồng khiến mặt trời khó xử 
Muốn hôn lên lại sợ nám da non ...
Môi anh đào vừa hé giọng du hồn 
Đã át tiếng Khánh Ly ca nhạc Trịnh 
Như Bạch Tuyết tự ngàn xưa cổ kính 
Em đón anh bằng khúc nhạc véo von 
Rồi đôi tay trong trắng nuột no tròn 
Từng thu hút Kinh Kha bao thủa trước 
Sẽ hất ngược mái tóc mây tha thướt 
Để dịu dàng choàng cổ quấn vai anh 
Tận thẳm sâu trong đáy mắt long lanh 
Em ấp ủ cả bầu tời hoan lạc 

***
Thơ Pháp Ngữ:
La Joie Idyllique

J'ai voulu te revoir sans proclamation
Exalté de surprise,plein d'animation
ton visage opale serait radiant
comme la lune de nos rendez- vous d' antan .
A` ma rencontre tu franchirait d'un seul bond
Pre'sentant au gazon l'honneur le plus profond
Tes talons de Vénus extasièraient l'herbe ,
leur fraicheur rendrerait la pelose superbe
L'apollon semblerait rougir a` t'embrasser
Car il aurait peur de voir ta peau fanée
Tes lèvres de cerise aux accueils ouvertes
donneraient honte aux sirènes des abimes vertes
Blache Neige reveillée d'harmonie parfaite
Tu jeterais les bras ronds -de couleur bien faite -
Auquels tant de héros se sentent attirés
Autour de mes épaules pour m'offrir un baiser
Au fond de tes yeux si purs et angélques
Je verrais un beau ciel de joie idyllique 

***
Thơ Anh Ngữ:
A Sky Full Of Happness 

I decided to visit you unheralded
My love will be surprised and overjoyed
Your oval face will shine and radiate
Like the full moon under which we met in fate
You will hurry outside in a rush of fresh air
forgetting your socks anh shoes without a care
Your gloden heels will put the lawn in ecstasy
Because of the passion from your pearly body
Your glowing cheeks will send Apollo in a jealous rage
For his caress creates less brilliant tan that pales on stage
The sweet melody pouring from your cherry blossom lips
Will quiet the famed sirens that have sunken so many ships .
Like Snow White awaking in a perfect love story
You will be my princess singing in all your glory
And with your young round arms
Into which heroes have fallen into your charms
You will throw your hair in a sparkling stream
And embrace my neck and shoulders as I enter your dream
Then as I gaze into the depth of your angelic eyes
I WILL CATCH A SKY FULL OF HAPPINESS

Lạc Thủy Ðỗ Quý Bái