Hiển thị các bài đăng có nhãn Thái Lan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thái Lan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

Bộ Sưu Tập Vô Hình – Stefan Zweig -ThaiLan Dịch

Tranh Đức Mẹ, tranh vẽ tay -sách in cổ (trước 1500 ở châu Âu)

Đến ga kế sau ga Dresden, một người đàn ông có tuổi vào bên trong toa của tôi. Ông ấy lịch sử chào tôi, ngồi xuống, nhìn tôi và gật đầu chào như thể vừa gặp một người bạn lâu năm không gặp. Ông giới thiệu tên mình vật tôi chợt nhớ rằng đây là một người bán đồ cổ rất nổi tiếng ở Berlin, tôi đã từng đến mua thủ bút và sách ở tiệm của ông.

Ông nói với tôi: Tôi phải kể cho ông nghe tôi vừa mới đến nhà của một người; đây là câu chuyện thật hy hữu hiếm có mà tôi chưa từng gặp trong suốt hơn ba mươi năm trong nghề.

Bạn có thể biết là các tác phẩm nghệ thuật ngày nay được bán như thế nào, vì tiền đã mất giá . Những người giàu đột nhiên rất yêu chuộng các tác phẩm về Madonnas, tưởng Đức Mẹ , sản xuất trước năm 1500 và các bản in cũ. Họ đòi hỏi rất nhiều, hơn cả những gì chúng tôi có thể cung cấp cho họ. Thậm chí chúng tôi phải cảnh giác sợ họ đến nhà và lục soát để tìm.

Khi họ đến nhà và vơ vét tất cả những vật có giá trị của tôi, tôi chỉ còn nước kéo rèm cửa hàng của mình và đóng cửa. Tôi thật xấu hổ khi kiểm lại và thấy trên các kệ hàng, chỉ có một vài hàng cũ hoặc lỗi thời, mà không người bán hàng rong nào dám trưng bày trên xe của họ; cửa hàng đồ cổ này nổi tiếng từ thời ông nội tôi.

Trong lúc bối rối này, tôi bỗng muốn xem qua danh sách các khách hàng cũ của chúng tôi, để cố gắng tìm ra một người mà tôi có thể mua một vài bản sao. Những danh sách này luôn là một nơi để tìm kiếm những vật thật xưa cũ, nhất là vào thời điểm hiện nay. Thật vậy, tôi không tìm thấy điều gì đáng quan tâm: hầu hết những khách hàng của chúng tôi trước đây đã qua thế giới bên kia hoặc đã bán bộ sưu tập của họ từ lâu. Một vài người sống sót có lẽ không thể cung cấp cho tôi điều gì quan trọng. Nhưng đột nhiên, tôi đọc được vài lá thư của vị khách hàng xưa nhất của chúng tôi.

Kể từ khi bắt đầu chiến tranh, năm 1914, ông ấy đã không đặt hàng với tôi; nếu ông còn sống thì chắc đã ngoài tám mươi.

Thư từ của ông đã gởi từ khoảng sáu mươi năm trước. Ông đã liên lạc với cha tôi và ông tôi rồi. Ông là một người kỳ dị, hơi lố bịch; một trong những người kỳ quặc mà các họa sĩ Menzel và Spitzweg thường vẽ và thỉnh thoảng người ta vẫn bắt gặp ở các thị trấn tỉnh lẻ này. Những bức thư của ông được viết tay với nét chữ ngay ngắn, số tiền được gạch dưới bằng thước kẻ và mực đỏ. Để tránh nhầm lẫn, ông đã viết mỗi con số hai lần, và để tiết kiệm, ông đã sử dụng những tờ giấy trắng xé ra từ những bức thư nhận được và làm phong bì cho riêng mình. Những tài liệu kỳ lạ này, ngoài chữ ký của ông, còn có cả một loạt chức danh: cựu cố vấn kiểm lâm, trung úy dự bị, được huân chương hạng nhất. Là một cựu chiến binh của những năm bảy mươi (1870: chiến tranh Pháp Đức – hoặc Pháp Phổ). Nhưng người tiểu tư sản tiết kiệm quá mức này lại có những phẩm chất khác thường của một nhà sưu tập. Ông ấy rất am hiểu về các bản in và đã thể hiện một gu thẩm mỹ tinh tế. Tôi quan sát những đơn đặt hàng của ông. Tôi nhận thấy rằng vào thời điểm mà người ta có thể mua được những bức tranh khắc đẹp nhất chỉ bằng một thaler (đồng tiền bằng bạc của Đức), thì người đàn ông sống ở tỉnh lẻ này đã gom lại từng chút một và không ai có thể tin được, ông đã sở hữu một bộ sưu tập tranh khắc rất có thể cạnh tranh với những bộ sưu tập lừng lẫy nhất của những người mới giàu lên.

Thật vậy, những bức tranh mà ông đã mua từ cửa hàng của chúng tôi với số tiền khiêm tốn bằng marks và pfennigs giờ đây sẽ có giá trị đáng kể. Hơn nữa, mọi thứ đều cho thấy rằng chắc chắn ông đã rất thành công với các tiệm khác và đã thu được rất nhiều từ các cuộc đấu giá của họ. Thật ra chúng tôi đã không có được tin tức gì của ông kể từ năm 1914. Nhưng tôi biết rỡ về các giao dịch bán hàng với số lượng lớn quan trọng như vậy nên không thể nào không quan tâm đến việc này.

Do đó, tôi kết luận rằng nhà sưu tập kỳ lạ này hẳn vẫn còn sống, hoặc kho báu của anh ta dang trong tay những người thừa kế.

Thế là vào ngày hôm sau tôi quyết định đi tìm gặp ông, tức là vào tối hôm qua, đến một trong những thị trấn hẻo lánh nhất ở tỉnh Saxon. Rời nhà ga nhỏ, tôi lững thững dạo bước trên con đường chính của thành phố cổ. Đối với tôi, không thể tin rằng một trong những căn nhà lụp xụp này lại là nơi sinh sống của một người đàn ông sở hữu những bức tranh khắc lộng lẫy nhất của Rembrandt cũng như của Durer và Mantegna, tất cả đều hoàn chỉnh và trong tình trạng được bảo quản hoàn hảo. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi đến bưu điện, tôi được biết rằng người cố vấn kiểm lâm vẫn còn sống. Tôi thú nhận là tôi thật sự xúc động cảm khi đến nhà ông vào buổi trưa . Ông sống trên tầng hai của một khu nhà tồi tàn mà có lẽ một nhà thầu đã xây một cách cẩu thả vào năm 1860.

Tôi rụt rè bấm chuông. Ngay lập tức, một bà lão với mái tóc bạc phơ ra mở cửa. Tôi đưa danh thiếp của tôi và hỏi liệu Cố vấn có thể tiếp tôi không. Bà ấy nhìn tôi, ngạc nhiên và nghi ngờ. Ở thị trấn tỉnh lẻ nhỏ này và trong ngôi nhà khiêm tốn này, một chuyến viếng thăm là một sự kiện phi thường. Bà lịch sự bảo tôi chờ một lát. Bà lấy danh thiếp của tôi và đi vào phòng bên cạnh. Tôi nghe tiếng thì thầm. Đột nhiên, giọng một người đàn ông kêu lên

– A! ông R…, từ Berlin, nhà buôn đồ cổ nổi tiếng… xin mời ông vào. Tôi sẽ rất vui!
Bà cụ mời tôi vào phòng khách. Ở giữa phòng, một người đàn ông to lớn mặc quân phục, đứng dậy và thân mật chìa tay ra cho tôi. Cử chỉ chào đón tự nhiên thật trái ngược với thái độ cứng ngắc và bất động của ông.
Ông đã không bước đến gần tôi. Hơi bất ngờ, tôi tiến đến bắt tay ông.
Khi tôi muốn nắm tay ông, tôi nhận thấy bàn tay đó không đưa ra để bắt tay tôi nhưng lại như chờ đợi. Tôi đã đoán ra được: người đàn ông này bị mù. Từ thời thơ ấu, tôi luôn cảm thấy ngượng ngùng khi đứng trước một người mù. Tôi chưa bao giờ có thể nghĩ rằng một người đàn ông còn sống mà không nhìn thấy mọi việc rõ như tôi. Ông bắt tay tôi một cách nồng nhiệt và chào đón tôi một cách thân tình.
-Thật là một chuyến thăm bất ngờ,ông cười nói. Làm sao người ta có thể tin rằng một trong những quý ông từ Berlin lai đến cái tỉnh lẻ nhỏ bé này! Ôi ! Chắc chắn đây là một chuyến thăm thú vị. Tôi đoán biết được lý do bạn lại đến gặp tôi… Công việc kinh doanh đang rất tệ ở nước Đức nghèo nàn của chúng ta.

Quý ông thương gia nhớ đến khách hàng cũ của mình và tìm họ như những con chiên lạc… Nhưng, ở đây, tôi sợ rằng bạn không tìm được điều bạn muốn đâu, thưa bạn. Những người hưu trí nghèo chúng tôi có được một mẩu bánh mì trên bàn là đã may mắn lắm rồi. Chúng tôi không thể mua bất cứ thứ gì nữa với mức giá điên rồ như hiện tại…

Tôi trả lời rằng ông đã hiểu sai mục đích chuyến thăm của tôi. Tôi đã không đến để bán bất cứ gì. Khi đi ngang qua khu vực này, tôi không muốn bỏ lỡ cơ hội bày tỏ lòng kính trọng của mình với một trong những khách hàng lâu năm nhất của chúng tôi và một trong những nhà sưu tập vĩ đại nhất ở Đức. Nghe những lời này, khuôn mặt của ông thay đổi, thể hiện sự vui mừng và tự hào. Ông quay sang vợ mình, như muốn nói: “em nghe thấy chưa.” Ông nói với tôi bằng một giọng vui vẻ và dịu dàng:
– Thật đấy, bạn thật tốt bụng… Ban sẽ chiêm ngưỡng những thứ mà người ta không thể nhìn thấy hàng ngày, ngay cả ở thành phố Berlin sang trọng của bạn.
…Những bức tranh mà ta sẽ không có bản sao đẹp hơn trong tủ của hoàng gia ở Vienna hoặc Paris. Bạn thấy không, khi bạn sưu tập trong sáu mươi năm, giờ đây bạn đã tích lũy được những vật quý không thể tìm thấy ở bất kỳ nơi đâu nữa. Louise, đưa hộ tôi chìa khóa tủ. Đúng lúc đó, một điều bất ngờ đã xảy ra.

Bà cụ nhỏ bé, đang đứng phía sau ông và đa lắng nghe chúng tôi nói chuyện bỗng giơ hai tay về phía tôi có vẻ cầu xin; và bà đang lắc đầu.Tôi không hiểu gì cả. Bà đến gần chồng, đặt tay lên vai và nói
-Nhưng, Herwarth ạ, bây giờ là giờ ăn trưa rồi. Sau đó lại phải nghỉ ngơi như lời bác sĩ bảo. Vậy thì xin mời khách đến vào buổi chiều được không ạ. Anne-Marie sẽ đến, cháu biết rõ hơn tôi, và sẽ giúp ông khách.
Vừa nói, bà vừa ra dấu năn nỉ tôi. Bây giờ tôi mới hiểu. Tôi đành cáo từ, và hẹn sẽ trở lại. Ông có vẻ không vui, như thể người ta vừa lấy mất món đồ chơi ưa thích của đứa trẻ ; ông nói:
-Vấn đề không phải là xem ba hay bốn bức tranh vẽ tay, mà là hai mươi bảy bức, mỗi bức của một nghệ sĩ khác nhau, và tất cả đều hoàn chỉnh… Vậy bạn hãy đúng hẹn nhé, nếu không thì chúng ta sẽ không đủ thời gian để xem hết đâu. Bạn sẽ rất ganh tị đấy, bạn càng ganh bấy nhiêu thì chúng tôi là những nhà sưu tập lại càng thích thú bấy nhiêu đấy! Chúng tôi chỉ muốn gom lại tất cả báu vật cho mình, và không để lại cho người khác bất cứ thứ gì!
Bà đưa tôi ra cửa, và tôi nhận thấy bà có vẻ rất ngượng ngùng. một nỗi lo âu thật sâu kín- Bằng một giọng nghẹn ngào, bà lại nói
– Con gái Anne Marie của tôi có thể đến đón ông tại khách sạn không? như thế sẽ tốt hơn, thưa ông.
-Dạ thưa tôi rất vui lòng ạ.

Một giờ sau, một người phụ nữ hơi lớn tuổi ăn mặc rất giản dị đến gặp tôi. Tôi nhận thấy cô ấy có vẻ ngập ngừng để nói lên điều trăn trở của cô, cứ mỗi lần thì gương mặt lại đỏ lên, và đôi tay cứ nắm lấy nếp áo- Rốt cuộc cô cũng bối rối thốt lên:
-Mẹ tôi bảo tôi đến gặp ông…chúng tôi muốn xin ông..tin ông biết… một cách thẳng thắn …trước khi ông đến xem..Bộ sưu tập của cha tôi bị mất đi vài tác phẩm..rất tiếc là một số lớn trong bộ sưu tập ấy-

Cô hít thở thật sâu và nói tiếp: – ông sẽ hiểu sự tàn ác của thời gian là như thế nào… Lúc cha tôi 76 t, ông vẫn còn muốn tham gia chinh chiến, nhưng thị lực của ông trở nên rất kém, còn ngoài ra sức khỏe của ông rất tốt – trước đây ông còn đi bộ, nhưng bây giờ chỉ còn niềm vui duy nhất là ngắm nhìn bộ sưu tập của mình – đúng hơn là mỗi chiều ông đến sờ nắn những bức tranh yêu quý ấy, từng bức một, theo thứ tự mà ngày xưa ông đã sắp, và thuộc lòng – và chẳng quan tâm đến điều gì khác nữa. Mỗi ngày tôi đều đọc kết quả bảng đấu giá cho ông, và khi biết rằng giá tranh xưa ngày càng cao, ông càng vui sướng

Và điều kinh khủng hơn hết, thưa ông- là cha tôi không hiểu gì về giá cả thị trường cũng như thời đại hiện nay…ông ấy không hiểu là chúng tôi đã mất hết tất cả, và với số tiền hưu hàng tháng của ông thì không thể sống đến hai ngày…và nỗi khó khăn lại thêm chồng chất khi anh rể của tôi đã hy sinh ở trận chiến, để lại vợ và bốn con thơ – cha tôi không hề biết đến những thiếu thốn vật chất – Ban đầu chúng tôi ăn tiêu rất dè xẻn, nhưng rồi cũng không kham nổi, nên đã bán vài món trang sức để dành bấy lâu – Nhưng hỡi ôi! cũng không thấm vào đâu vì ông tiêu đến dòng pfennig cuối cùng để mua tranh.

Rồi một hôm, trong nhà không còn gì để bán nữa cả. Không biết xoay sở thế nào, mẹ và tôi phải đem bán món đầu tiên trong bộ sưu tập. Cha tôi sẽ không bao giờ cho phép làm điều ấy. Ông ấy không biết gì cả, không biết thời thế khó khăn thế nào, không biết là đất nước đã thua trong cuộc chiến, vì chúng tôi không đọc tin tức cho ông nghe. Bức tranh mà chúng tôi bán rất có giá trị. Đó là tranh khắc axit của Rembrandt

Khắc axit (tiếng Anh: etching) là kỹ thuật dùng axit hay thuốc cẩn màu (mordant) để cắt các chi tiết của một tấm kim loại, từ đó tạo ra những nét khắc chìm (intaglio) Kỹ thuật này được áp dụng trong tranh in từ khoảng đầu thế kỷ 16.

The Soldier and his Wife. Tranh của Daniel Hopfer, ông được cho là họa sĩ đầu tiên áp dụng kỹ thuật khắc axit vào tranh in

Người mua trả cả triệu marks, chúng tôi tưởng rằng sẽ yên thân trong nhiều năm; nhưng rồi đem gởi ngân hàng, đến hai tháng sau thì chẳng còn gì cả, ông biết đó. Thế là chúng tôi buộc phải bán tấm tranh thứ nhí, rồi lại thêm bức nữa. Tiền gởi đến quá trễ, nên lại mất giá. Rồi chúng tôi tham dự những cuộc ban đấu giá; và đã bị khách hàng lừa,.. cứ thế từng bức tranh lại ra đi, chỉ có một hai bức là được giữ lại. Bởi vì lý do đó nên mẹ tôi đã hoảng lên khi ông đến nhà. Nếu cha tôi mang bộ sưu tập ra cho ông ngay lúc đó, thì mọi việc sẽ đổ bể ..Chúng tôi đã thay thế bằng những bản sao hoặc chỉ đơn giản là những tấm bìa trắng, khi sờ vào thì cũng y hệt như bức tranh, để cho ông không nghi ngờ gì khi chạm đến vật quý. Cha chỉ sờ nắn chúng và đếm lần lượt, nét mặt cha tôi hiện lên niềm hân hoan vui thích như lúc xưa còn nhìn thấy chúng . Cha cũng cho rằng ở thành phố này không ai có đủ tư cách để ngắm những vật báu của mình. Ông yêu một cách say mê mỗi bức vẽ và khắc ấy, đến nỗi cha có thể u buồn đến tận cùng nếu biết được tất cả chúng đều không còn nữa. Từ khi người quản đốc bảo tàng Dresden qua đời, giờ đây ông là người đầu tiên mà cha nghĩ sẽ rất hân hạnh khoe kho báu của ông.


Vì lý do đó, cô ta vừa nói vừa nhìn tôi, đôi mắt đẫm lệ-

-Chúng tôi van nài ông..đừng làm cho cha đau khổ, dùng làm cho chúng tôi thêm khổ đau..xin ông đừng phá vỡ niềm ảo tưởng cuối cùng ấy. Xin ông giúp chúng tôi làm cho cha tin rằng tất cả những bức tranh của cha vẫn thật sự hiện hữu, khi cha sẽ mô tả cho ông. Có thể mẹ và tôi đã hành động không đúng, nhưng chúng tôi không còn cách nào khác, thưa ông: sự sống là quan trọng, nhất là của bốn đứa bé đáng kể hơn rất nhiều so với những mảnh giấy đã sẫm màu. Và mỗi ngày ông ấy mân mê những tờ giấy đó trong suốt ba giờ đồng hồ, như nói chuyện với một người bạn thân. Và hôm nay có lẽ là ngày hạnh phúc nhất của cha, ngày mà cha chờ đợi trong bao nhiêu năm để khoe kho tàng với một vị rất am hiểu về hội hoạ .

Cô ấy đã diễn tả bằng một giọng xúc động đến nỗi tôi khó có thể ghi lại một cách chính xác.Than ôi, tôi đã gặp nhiều người nghèo bị bóc lột một cách đáng xấu hổ và bị lừa dối một cách đê tiện, chỉ vì một mẩu bánh mì, mà phải dứt bỏ của cải quý giá nhất, tài sản thừa kế của tổ tiên họ; nhưng tôi chưa bao giờ gặp trường hợp như thế này, khiến tôi vô cùng bối rối. Tôi đã hứa sẽ giữ bí mật và giúp đỡ những người phụ nữ tội nghiệp này. Chúng tôi cùng nhau về nhà. Trên đường đi, tôi thất kinh ngạc và buồn khi biết sự thiếu hiểu biết của họ đã bị lợi dụng một cách đau thương như thế nào.

Vừa đến ngưỡng cửa, tôi đã nghe lời mời rất to và vui của ông cụ : -Mời vào! Mời vào!, Đôi tai của người khiếm thị chắc hẳn đã nghe bước chân của chúng tôi trên cầu thang- Hôm nay không hề chớp mắt , ông ấy vô cùng nôn nóng khoe báu vật của ông, bà cụ vừa nói vừa mỉm cười. Và cô gái thì đã nói bằng mắt rằng tôi đã hiểu chuyện. Trên bàn là một chồng các bức tranh.

Ông bắt tay tôi và mời tôi ngồi-
-Đây này! Thật nhiều quá..và các quy ông từ Berlin thì không bao giờ có thời gian cả.
Đây là hầu như trọn bộ tác phẩm của danh họa Durer – Đây là bức Đại Mã

Một cách thận trọng chi ly, như thể chạm vào một vật dễ vỡ, ông rút ra khỏi tấm bìa các tông một miếng bìa cứng đóng khung một tờ giấy trống không ố vàng. Ông cẩn thận dùng đầu ngón tay nhấc tấm bìa lên ngay đôi mắt đờ đẫn của mình và say mê nhìn mà không hề thấy. Trên khuôn mặt của ông là sự ngây ngất kỳ diệu của sự ngưỡng mộ.

Đột nhiên, không biết do sự phản chiếu của tờ giấy hay ánh sáng bên trong, đôi đồng tử cứng ngắt bất động của ông bật sáng lên .-Xem đây, bạn đã bao giờ nhìn thấy một bản sao nào tuyệt hơn chưa? Thật là tinh túy, đến từng chi tiết nhỏ nhất Tôi đã so sánh tờ này với bản sao của Dresden-
Ông lật tờ giấy lại và chỉ vào mặt sau, để cho tôi phải xem con dấu ở đó. –
Đây là con tem của bộ sưu tập Nadler, kia là của Rémy và Esdaile. Những nhà sưu tập nổi tiếng này không nghĩ rằng có ngày tuyệt phẩm của họ sẽ nằm trong căn phòng bé này.
Tôi rùng mình khi thấy ông thốt lên bao nhiêu là lời ca tụng , đứng trước một tờ giấy trắng.
Rồi với độ chính xác đáng kinh ngạc ông lấy đầu ngón tay chỉ vào những dấu hiệu của nhà sưu tập chỉ còn tồn tại trong trí tưởng tượng của ông, tôi đột nhiên có cảm giác như mình đang chứng kiến một trò ảo thuật. Cổ họng nghẹn lại, tôi không biết phải trả lời thế nào.
Nhìn sang hai người phụ nữ, tôi lại thấy những cử chỉ van xin của họ. Vì vậy, tôi trấn tĩnh lại và bắt đầu diễn vai trò của mình.
– Ah! thật là một bản sao tuyệt vời!
Ngay lập tức mặt ông rạng rỡ lên
– Tấm này chưa là gì đâu ông bạn ơi tôi phải cho anh xem cuốn Nỗi Sầu và Niềm Đam Mê, thật độc nhất vô nhị. Đây, bạn có thấy vẻ tươi mát này, tông màu ấm áp và bạt lót hoàn hảo này không?
Rồi những ngón tay của ông lần theo những đường viền tưởng tượng:
– Tất cả những người buôn bán tranh ảnh và giám đốc các viện bảo tàng ở Berlin sẽ phải ganh tị!
Ông cứ tiếp tục như thế, trong suốt hai tiếng đồng hồ, để thuyết mình dài dòng một cách long trọng

Quý vị ạ, tôi không thể mô tả cho bạn ấn tượng huyền hoặc của cuộc phô trương mớ giấy lộn này, mà trong trí tưởng tượng của con người tội nghiệp này, chúng vẫn đang hiện hữu trong thực tế, đến nỗi ông lần lượt mô tả chúng mà không có chút sai sót nào, với những chi tiết nhỏ nhất. Bộ sưu tập vô hình, từ rất lâu đã được phân tán khắp bốn phương trời, vẫn tồn tại, và không hao mòn mẻ sứt tí nào đối với người khiếm thị, người bị lừa dối vì lòng từ bi này.
Thiên cảm quá nhiệt tình, sự cởi mở của ông khiến chính tôi cũng bắt đầu tin vào điều đó.

Chỉ một lần duy nhất sự tự tin trong cơn miên hành của ông suyt phải thua: ông ấy vừa mới khoe về độ chính xác của đường cắt trong bức tranh Antiope của Rembrandt, một tác phẩm chắc hẳn là vô giá. Những ngón tay rất nhạy cảm của ông lần theo những đường nét của bức vẽ một cách âu yếm bỗng dưng đã không nhận ra dấu vết trên tấm bìa. Vẻ mặt ông sa sầm lại, và ông nói thầm một cách ngập ngừng: Bức này rõ ràng là Antiope mà!

Ngay lập tức, tiếp tục diễn vài trò của mình, tôi cầm lấy tờ bìa đóng khung và bắt đầu mô tả một cách nhiệt tình và đến từng chi tiết nhỏ nhất bản khắc axit mà trí óc tôi đã ghi nhớ rất chính xác.
Bây giờ khuôn mặt của ông mới hết căng thẳng. Tôi càng tán dương kiệt tác này bao nhiêu thì gương mặt héo úa của ông càng lộ rõ sự thân tình vui vẻ tột bực.
"-Thế là ít ra cũng có người thông thạo ,” ông quay sang hai người phụ nữ và nói.

Cuối cùng, một chuyên giả đã xác nhận sự vô giá của những bức tranh này. Bà và con luôn cằn nhằn tôi đã đem hết tiền vào bộ sưu tập này. Tất nhiên là mọi việc không dễ dàng chút nào. Trong sáu mươi năm, không bia, không rượu, không thuốc lá, không du lịch, không đi xem hát – chỉ dành dụm cho bộ sưu tập này! Nhưng các người sẽ thấy: khi tôi không còn đây nữa, bà và con sẽ trở nên giàu, giàu hơn tất cả dân trong thành phố, giàu như những người giàu có nhất ở Dresden. Sau đó, các người sẽ thấy vui mừng vì sự điên rồ của tôi. Nhưng chừng nào tôi còn sống, không một tờ giấy nào ra khỏi nhà. Hãy mang tôi đi trước rồi sau đó mới đến bộ sưu tập của tôi.
Vừa nói, ông vừa vuốt ve những tấm bìa trắng nhách như thể đó là một người thân yêu.
Một cảnh tượng thật kinh ngạc và cảm động! Trong suốt những năm chiến tranh đau buồn vừa qua, tôi chưa bao giờ thấy một khuôn mặt nào bừng lên niềm hạnh phúc trong sáng và hoàn hảo như thế.

Hai người phụ nữ đứng bên cạnh ông sững sờ như hình những vị thánh mà ta vẫn thấy trên các bức tranh xưa trước ngôi mộ của Đấng vừa sống lại. Niềm hạnh phúc bừng sáng trên khuôn mặt nhăn nheo của họ, với đôi mắt vui cười ướt đẫm nước mắt. Còn ông ấy vẫn còn ngụp lặn trong vui sướng với lời khen của tôi. Tôi thở phào nhẹ nhõm khi những bức tranh phỉnh gạt ấy cũng được mang đi và họ đem cà phê đến.

Niềm cảm hứng tuôn trào khiến ông có vẻ trẻ lại rất nhiều. Rồi ông vừa kể cho tôi nghe những lần ông mua được tranh như thế nào vừa mò mẫm sờ vào bức tranh.
Cho đến khi tôi nói đã đến lúc tôi phải cáo từ, thì ông tỏ ra bực tức và dậm chân như đứa trẻ –
Ông nói:
- Ồ, không thể được, anh bạn mới nhìn thấy có một nửa kho tàng của tôi thôi!

Khi thấy ông ngoan cố như vậy, hai người đàn bà giải thích một cách khó khăn rằng phải để cho tôi đi nếu không sẽ bị nhỡ chuyến tàu. Sau khi không thể làm gì được, một cách tuyệt vọng, ông cầm lấy tay tôi, vuốt ve theo cách trìu mến của một người khiếm thị như thế muốn chứng tỏ tình cảm mà lời nói không thể diễn tả được hết-

-Cuộc viếng thăm của bạn đã mang cho tôi một niềm vui vô tận, giọng nói đầy xúc cảm mà tôi không bao giờ quên được, Thật là một sự an ủi lớn lao cho tôi khi được tiếp một người sành về hội họa như bạn. Nhưng bạn đã không hoài công khi đến nhà một người khiếm thị tội nghiệp. Tôi hứa sẽ thêm một điều khoản vào di chúc của tôi rằng gia đình anh sẽ chịu trách nhiệm về việc vinh dự bán đấu giá bộ sưu tập của tôi. Bạn hãy hứa với tôi rằng bạn sẽ thực hiện một danh mục thật đẹp mắt nhe. Đây sẽ là bia mộ của tôi đó
Tôi nhìn vợ và con gái ông. Họ nép vào nhau, bỗng rùng mình và cả hai hợp thành một cơ thể đang run lẩy bẩy.
Phần tôi, một cảm xúc kỳ quặc dâng lên khi tôi nghĩ ông cụ đáng thương này, vẫn không một chút nghi ngờ, đã giao cho tôi việc bán bộ sưu tập của ông, một bộ tranh quý đã bay đi tứ phương từ rất lâu rồi.

Quá cảm động, tôi đã phải hứa những điều mà tôi sẽ không bao giờ có thể giữ lời được. Và rồi, đôi mắt đờ đẫn của ông lại sáng lên. Qua cái nắm tay của ông, tôi cảm nhận được cả tâm huyết của ông phó thác cho tôi. Hai người phụ nữ tiễn tôi đến cửa. Họ không dám nói chuyện với tôi. Đôi tai rất nhạy của ông sẽ nghe được những lời thì thầm nhỏ nhất. Nhưng đôi mắt đẫm lệ của họ biểu lộ lòng biết ơn đối với tôi.

Tôi lảo đảo bước xuống cầu thang như trong mơ. Trong thâm tâm, tôi cảm thấy xấu hổ. Tôi đã đến như một thiên thần của một câu chuyện cổ tích trong ngôi nhà của những người nghèo khó. Tôi đã phục hồi thị lực cho một người mù trong hai giờ, cố ý nói dối và tiếp tay cho một sự lừa dối có lương tâm. Thật ra, tôi muốn đến để có được một vài món quý hiếm bằng mưu mẹo.

Điều mà tôi mang về chính là thứ vô giá này: ký ức về một nhiệt huyết sống động và thuần khiết, về một sự phấn khích tinh thần hoàn toàn tận tâm cho nghệ thuật mà con người dường như đã đánh mất từ lâu.
Lóng tôn kính sâu sắc tràn ngập trong tôi, nhưng tôi cũng cảm thấy có một nỗi nhục nào đó len vào mà không hiểu tại sao. Khi ra tới đường, tôi nghe thấy tiếng cửa sổ mở mạnh ra và có ai gọi tên tôi.
Ông cụ đã kiên quyết nhìn theo tôi với ánh mắt không hồn. Ông nhoài người thật xa ra bên ngoài cửa sổ đến nỗi hai người phụ nữ phải giữ chặt người ông.
Ông vẫy chiếc khăn tay và hét to “Chúc đi đường bằng an!” thật trong trẻo và hân hoan như giọng trẻ thơ.
Tôi sẽ không bao giờ quên niềm vui của người đàn ông ấy.
Trên cao ông đang thanh thản hạnh phúc, còn bên dưới là những người qua đường tất bật và đầy âu lo.

Một ảo ảnh an lành như một đám mây mờ ảo che khuất thế giới thực tại cùng vô vàn hỗn loạn mà ông không bao giờ biết được.
Và tôi nhớ đến câu nói rất thiết thực này – hình như của Goethe:
“Các nhà sưu tập là những kẻ hạnh phúc.»

 Stefan Zweig  – ThaiLan dịch

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2026

Tưởng Nhớ Nạn Nhân Của Ngày 11. 9. 2001 - Sưu tầm & Biên Soạn: Thái Lan - AI Google Dịch

Lá cờ Mỹ là hình ảnh nổi bật ngay tại trung tâm nơi từng là khu phức hợp Trung tâm Thương mại Thế giới ở Thành phố New York, ngày 15 tháng 9 năm 2001. Ảnh của Hải quân Hoa Kỳ do Phóng viên Hạng nhất Preston Keres thực hiện.

Lời Tác Giả:

Chào quý anh chi

Xin gởi một vài mẫu chuyện THẬT đau lòng về ngày KHÔNG BAO GIỜ QUÊN --Tháng 9 - 2001
Còn RẤT nhiều câu chuyện THƯƠNG TÂM về những hành khách trên các chuyến bay, về các nhân viên ở các tòa nhà bị tấn công, về những vị anh hùng LÍNH CỨU HỎA . . .
- Bao nhiêu Thảm Cảnh của hàng ngàn gia đình nạn nhân-
QUÁ ĐỖI THƯƠNG ĐAU!

Bài này đề cập đến một vài vị anh hùng của Thế chiến thứ II, rồi bây giờ đến ngày ĐAU THƯƠNG của nước Mỹ, họ cũng không tránh khỏi...
Định Mệnh sao Quá Oái Oăm???!!!
Quý anh chị đã đọc rất nhiều câu chuyện, xin mời bổ túc cùng L nha
Cảm ơn anh chị
Xin chúc gia đình quý anh chị thật Bình An
(𝓽𝓷𝓵 -phannữlan)
--o0o--
 Lá cờ Mỹ là hình ảnh nổi bật ngay tại trung tâm nơi từng là khu phức hợp Trung tâm Thương mại Thế giới ở Thành phố New York, ngày 15 tháng 9 năm 2001. Ảnh của Hải quân Hoa Kỳ do Phóng viên Hạng nhất Preston Keres thực hiện.

Tưởng nhớ các cựu chiến binh Thế chiến II

trong số những nạn nhân của sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001
Tại Bảo tàng Quốc gia về Thế chiến II, việc tưởng niệm ngày 11 tháng 9 đồng nghĩa với việc tưởng nhớ tất cả những người đã thiệt mạng vào ngày hôm đó, cũng như ghi nhận vô vàn câu chuyện riêng biệt mà họ mang theo bên mình.

September 10, 2026

Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, người dân Mỹ đã chứng kiến đất nước mình bị tấn công. Bốn chiếc máy bay thương mại đã bị không tặc khống chế chỉ trong vòng vài giờ. Hai chiếc đâm vào Trung tâm Thương mại Thế giới, một chiếc lao vào Lầu Năm Góc và chiếc thứ tư rơi xuống một cánh đồng gần Shanksville, Pennsylvania. Đến cuối ngày hôm đó, 2.977 người đã thiệt mạng.

Ngày 7 tháng 12 năm 1941 và ngày 11 tháng 9 năm 2001 là những cột mốc mang tính bước ngoặt trong lịch sử Hoa Kỳ. Cả hai sự kiện đều bắt đầu bằng các cuộc tấn công nhắm vào nước Mỹ và đều làm thay đổi vận mệnh quốc gia trong những năm tháng tiếp theo. Sự kiện Trân Châu Cảng đã đưa Hoa Kỳ bước vào Thế chiến II và huy động cả một thế hệ người Mỹ tham gia phục vụ quân đội cũng như đất nước. Sự kiện ngày 11 tháng 9 lại đưa một thế hệ khác bước vào kỷ nguyên mới của chiến tranh và nghĩa vụ quốc gia.

Bảo tàng Quốc gia về Thế Chiến II (The National WWII Museum) kể lại câu chuyện về thế hệ đã đáp lại lời kêu gọi sau sự kiện Trân Châu Cảng. Trong số những người thiệt mạng vào ngày 11 tháng 9, có những cá nhân thuộc chính thế hệ từng tham gia Thế chiến II ấy. Họ đã phục vụ đất nước, trở về quê hương, xây dựng gia đình, phát triển sự nghiệp và sống qua hơn nửa thế kỷ lịch sử nước Mỹ trước khi một cuộc tấn công khác lại làm thay đổi đất nước một lần nữa. Câu chuyện về họ phần lớn vẫn chưa được nhiều người biết đến.

Robert Grant Norton và Francis Edward Grogan từng phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ thời Thế chiến II.
Norman O. Wahlstrom từng thực hiện các phi vụ chiến đấu bằng máy bay B-24 tại Thái Bình Dương.
John Talignani từng phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ trong giai đoạn chiếm đóng và tái thiết Nhật Bản sau chiến tranh.

Gần sáu thập kỷ sau, cuộc đời họ đã gắn liền với sự kiện ngày 11 tháng 9 theo những cách rất khác nhau.
Ba trong số các cựu chiến binh này đã thiệt mạng trên ba chuyến bay khác nhau vào ngày 11 tháng 9, còn người thứ tư thì đau đớn mất đi vợ và con gái.

1/- Robert Grant Norton
Ảnh trong hồ sơ quân nhân chính thức của Robert Norton. Cục Lưu trữ và Hồ sơ Quốc gia.

Sinh ra tại Lubec, bang Maine, Robert Grant Norton từng làm thợ cơ khí bảo trì cho Công ty American Can trong 5 năm trước khi nhập ngũ vào Hải quân ngày 20 tháng 5 năm 1943. Khi đó ông 27 tuổi và đã lập gia đình; ông gác lại công việc và tạm biệt người thân để lên đường phục vụ đất nước. Ông trở thành một thành viên của lực lượng Seabee (Công binh Hải quân).

Hải quân đã đào tạo Norton trở thành thợ mộc trước khi điều động ông đến Tiểu đoàn Xây dựng Hải quân số 103 để được huấn luyện thêm về kỹ năng vẽ kỹ thuật. Sau đó, ông gia nhập Đơn vị Bảo trì thuộc Tiểu đoàn Xây dựng Hải quân số 539, trở thành một trong những thành viên của lực lượng Seabee – những người đã xây dựng và duy trì cơ sở hạ tầng giúp quân đội Mỹ hoạt động trên khắp Thái Bình Dương. Vào ngày 28 tháng 12 năm 1943, Norton rời Gulfport, Mississippi, để bắt đầu hành trình dài đến Thái Bình Dương. Ông đã vượt qua đường Xích đạo và Đường đổi ngày quốc tế trước khi đặt chân đến Ebon – một đảo san hô nhỏ thuộc quần đảo Marshall – vào ngày 7 tháng 2 năm 1944.

Norton cùng các đồng đội Seabee đã lập tức bắt tay vào công việc xây dựng và bảo trì các sân bay, đường sá, cảng biển cùng những cơ sở vật chất khác nhằm hỗ trợ các hoạt động hậu cần và đổ bộ của quân đội Mỹ. Ông đã ở lại Ebon khoảng 21 tháng trước khi thực hiện hành trình dài trở về quê nhà vào tháng 10 năm 1945. Sau khi được Hải quân giải ngũ trong danh dự, ông trở về Maine cùng với Dải băng Chiến dịch Châu Á - Thái Bình Dương, Dải băng Khu vực Châu Mỹ, Huy chương Chiến thắng Thế chiến II và quyền được mang phù hiệu chính thức của lực lượng Seabee.

Các thành viên đơn vị Seabee hạ thuốc nổ Hercules xuống từ mạn tàu LCVP trong quá trình xây dựng sân bay tại đảo san hô Eniwetok, tháng 2 năm 1944. Bảo tàng Seabee của Hải quân Hoa Kỳ.

Sau chiến tranh, Norton đã tận dụng chính sách hỗ trợ cựu chiến binh (GI Bill) để theo học tại Viện Kỹ thuật Franklin ở Boston và lấy bằng kỹ sư. Ông làm việc tại Massachusetts trong vài năm trước khi trở về Lubec vào đầu thập niên 1980. Tại đây, ông tích cực tham gia các hoạt động của Nhà thờ Congregational Christian địa phương và đảm nhiệm vai trò chấp sự. Bạn bè và hàng xóm nhớ đến ông như một người đàn ông trầm tính, hào phóng, luôn sẵn lòng dành thời gian và tài năng của mình để giúp đỡ người khác.

Robert Grant Norton. Ảnh: Bangor Daily News -- FindAGrave.com

Vào tháng 9 năm 2001, Norton đã 85 tuổi và là nạn nhân lớn tuổi nhất trong các vụ tấn công khủng bố. Ông cùng vợ, bà Jacqueline, đang trên đường đến California để dự một đám cưới của gia đình. Họ đã bay từ Bangor đến Boston vào ngày 10 tháng 9 trước khi lên chuyến bay số hiệu 11 của hãng American Airlines tại Sân bay Quốc tế Logan vào sáng hôm sau. Chiếc Boeing 767 cất cánh lúc 7:59 sáng, hướng tới Los Angeles. Lúc 8:46 sáng, những kẻ không tặc đã điều khiển máy bay đâm vào Tháp Bắc của Trung tâm Thương mại Thế giới.

Gần sáu thập kỷ đã trôi qua kể từ khi Norton rời Maine để đến vùng Thái Bình Dương. Trong khoảng thời gian đó, ông đã trở về nhà sau chiến tranh, xây dựng sự nghiệp, vun đắp gia đình, cống hiến cho cộng đồng và tận hưởng cuộc sống mà chính ông đã chiến đấu để bảo vệ. Vào ngày 11 tháng 9, ông chỉ đơn thuần là một người chồng đang cùng vợ đi xa để sum họp ăn mừng cùng gia đình. Cuộc đời đầy dấu ấn của ông đã khép lại vào sáng hôm ấy trên chuyến bay số hiệu 11.

2/-Francis Edward Grogan

Francis Edward Grogan
Ảnh trong hồ sơ quân nhân chính thức của Francis Edward Grogan. Cục Lưu trữ và Hồ sơ Quốc gia.

Francis Edward Grogan mới chỉ 18 tuổi khi gia nhập Hải quân trong Thế chiến thứ hai. Vào ngày 30 tháng 8 năm 1943, Hải quân tiếp nhận Grogan
với cấp bậc thủy thủ tập sự và cử ông đến Trường Huấn luyện Tác chiến Âm thanh Hạm đội (Fleet Sound School) tại Key West, Florida, nơi ông được đào tạo để trở thành nhân viên vận
hành thiết bị định vị bằng âm thanh (sonar). Sau khi hoàn tất khóa huấn luyện, Hải quân đã điều động ông phục vụ trên tàu khu trục USS Barney (DD-149).

Nhiệm vụ mới đã đưa Grogan trực tiếp tham gia vào Trận chiến Đại Tây Dương. Trong khoảng thời gian từ ngày 14 tháng 1 đến ngày 11 tháng 5 năm 1944, tàu Barney đã hoàn thành hai chuyến hộ tống đoàn tàu vận tải đến Bắc Phi. Một trong những chuyến đi đó đã đưa Grogan và các đồng đội vào tình thế giao tranh thực sự. Barney tham gia hộ tống Đoàn tàu UGS-37 — một nhóm gồm 37 tàu có lực lượng bảo vệ vũ trang — đi từ Vịnh Chesapeake, qua Eo biển Gibraltar để tiến vào Địa Trung Hải. Vào khoảng nửa đêm ngày 11 rạng sáng ngày 12 tháng 4, khi đang ở vị trí cách Algiers khoảng 35 dặm về phía đông, đoàn tàu đã bị máy bay địch tấn công.

Các con tàu đồng loạt khai hỏa khi lực lượng tấn công áp sát. Hỏa lực phòng không dữ dội bao trùm bầu trời đêm trong nỗ lực tự vệ của đoàn tàu. Grogan cùng thủy thủ đoàn trên tàu Barney đã may mắn thoát khỏi các quả ngư lôi và bom của địch, trong khi một số tàu khác phải chịu thiệt hại nhẹ và có thương vong. Sau đó, Hải quân đã trao tặng tàu Barney danh hiệu "ngôi sao chiến trận" (battle star) để ghi nhận vai trò hộ tống Đoàn tàu UGS-37. Các con tàu đồ

Grogan tiếp tục phục vụ trong quân ngũ cho đến khi chiến tranh kết thúc. Ông được Hải quân trao tặng Huy chương Chiến thắng Thế chiến II, Huy chương Chiến dịch Hoa Kỳ và Huy chương Chiến dịch Châu Âu - Châu Phi - Trung Đông (kèm một ngôi sao chiến dịch). Ông xuất ngũ trong danh dự vào ngày 2 tháng 4 năm 1946.

Cuộc đời ông sau khi rời Hải quân đã rẽ sang một hướng hoàn toàn khác. Grogan sau đó trở thành một linh mục Công giáo và dành nhiều thập kỷ để giảng dạy, làm tuyên úy cũng như công tác tại Dòng Thánh Giá (Congregation of Holy Cross) ở North Dartmouth, Massachusetts.

Cha Francis Grogan, C.S.C. Ảnh: Congregation of Holy Cross

Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, Cha Grogan – khi đó 76 tuổi – đã lên chuyến bay số hiệu 175 của hãng United Airlines tại Sân bay Quốc tế Logan ở Boston để đến California thăm em gái. Ông đã không bao giờ đến được nơi này. Máy bay cất cánh lúc 8 giờ 14 phút sáng để bay tới Los Angeles. Lúc 9 giờ 03 phút sáng, những kẻ không tặc đã điều khiển chuyến bay 175 đâm vào Tháp Nam của Trung tâm Thương mại Thế giới.

Cuộc đời đã đưa ông đi một chặng đường dài, từ hình ảnh chàng thủy thủ trẻ đứng gác trên tàu Barney giữa lòng Đại Tây Dương năm nào. Các cựu học sinh và giáo dân luôn nhớ về ông như một người có ảnh hưởng tích cực và trầm lặng, người vẫn luôn tự hào về quãng thời gian phục vụ trong Hải quân Mỹ suốt Thế chiến II.

3/-Norman O. Wahlstrom 

Câu chuyện của Norman O. Wahlstrom kết nối Thế chiến II với sự kiện ngày 11 tháng 9 theo một cách khác. Ông không thiệt mạng trong các cuộc tấn công, nhưng vợ và con gái ông lại nằm trong số những người đã khuất vào ngày hôm đó.

Wahlstrom tốt nghiệp Đại học Bang Utah vào năm 1939 và gia nhập lực lượng hàng không quân đội với tư cách là học viên phi công vào tháng 12 năm 1940. Ông đã hoàn thành khóa huấn luyện bay cơ bản tại Randolph Field và khóa huấn luyện bay nâng cao tại Kelly Field, bang Texas. Quá trình huấn luyện đòi hỏi nhiều giờ bay theo đội hình cũng như thực hành kỹ năng dẫn đường cả ngày lẫn đêm. Vào tháng 2 năm 1942, Wahlstrom chính thức nhận huy hiệu phi công và bắt đầu sự nghiệp của mình trong ngành hàng không quân đội.

  Norman O. Wahlstrom. Bức ảnh được cho là chụp vào tháng 6 năm 1945 tại Borneo. Ảnh qua Fold3, FindAGrave.com.
Wahlstrom tiếp tục thực hiện các phi vụ tác chiến trên máy bay B-24 Liberator tại chiến trường Thái Bình Dương. Sau đó, ông đảm nhận vai trò chỉ huy Phi đội Ném bom số 72 thuộc Nhóm Ném bom số 5, Không quân số 13. Trong thời gian phục vụ quân ngũ, ông đã được trao tặng Huy chương Không quân kèm theo biểu tượng "Oak Leaf Cluster" (nhánh sồi), ghi nhận việc ông được trao tặng huân chương này lần thứ hai. Ông sống sót qua chiến tranh và tiếp tục phục vụ đất nước trong những năm sau đó. Sự nghiệp quân sự của ông trải dài qua Thế chiến II, Chiến dịch Tiếp vận Hàng không Berlin và Chiến tranh Triều Tiên.

Sau Thế chiến II, Wahlstrom xây dựng gia đình và phát triển sự nghiệp, đưa ông rời xa khu vực Thái Bình Dương. Ông kết hôn với bà Mary Alice Sheehan vào năm 1950 và cùng nhau vun đắp tổ ấm gia đình. Ông giải ngũ khỏi Không quân với cấp bậc Đại tá vào năm 1968, sau đó quay lại Đại học Utah State; tại đây, ông lấy bằng cử nhân kinh doanh ở tuổi 50 và đảm nhiệm vị trí Giám đốc phụ trách các vấn đề Cựu chiến binh của trường. Là một thành viên tích cực của cộng đồng, ông đã phục vụ hai nhiệm kỳ tại Hạ viện bang Utah và sáu năm trong Hội đồng Thành phố Logan, Utah.

Mary Alice Sheehan Wahlstrom (left). Photo via FindAGrave.com. Carolyn Anne Beug (right). Photo via FindAGrave.com

Vợ ông, bà Mary Alice, đã 78 tuổi khi cùng con gái Carolyn Beug bước lên chuyến bay số hiệu 11 của hãng American Airlines. Carolyn, 48 tuổi, từng làm việc trong ngành giải trí và là mẹ của ba người con. Hai người phụ nữ đã đến miền Đông để giúp cặp con gái sinh đôi của Carolyn ổn định cuộc sống khi bắt đầu theo học tại Trường Thiết kế Rhode Island (Rhode Island School of Design). Họ đang trên đường trở về California khi lên chuyến bay số 11 tại Sân bay Quốc tế Logan ở Boston.

Lúc 8 giờ 46 phút sáng, chuyến bay số 11 đã đâm vào Tháp Bắc. Người đàn ông từng thực hiện các phi vụ chiến đấu trên khắp Thái Bình Dương trong Thế chiến II giờ đây phải đối mặt với nỗi đau mất vợ và con gái trong một cuộc tấn công nhắm vào nước Mỹ, gần sáu thập kỷ sau khi ông lần đầu ra trận.

Bia mộ tưởng niệm Norman Oliver Wahlstrom, Mary Alice Wahlstrom và Carolyn Beug. Ảnh qua Pershelle Rohrer, FindAGr


Ông Wahlstrom cùng những người con còn lại vẫn luôn tưởng nhớ Mary Alice và Carolyn. Năm 2002, con trai ông đã rước đuốc Olympic tại Utah để tri ân họ. Trong một buổi lễ vinh danh tại Quốc hội cùng năm đó, Mary Alice được nhắc đến như một thành viên tích cực của cộng đồng; bà là người đam mê du lịch, biết chơi đàn piano và từng tham gia hoạt động tình nguyện tại Temple Square ở thành phố Salt Lake, bang Utah. Ông Wahlstrom qua đời năm 2006 ở tuổi 88 và được an táng với đầy đủ nghi thức quân sự, nằm cạnh Mary Alice và Carolyn.



4/- John Talignani 

John Talignani đã sống một cuộc đời gắn bó sâu sắc với gia đình và cộng đồng tại New York – nơi ông dành phần lớn quãng đời trưởng thành của mình. Sinh ra tại Ý, ông lớn lên ở Brooklyn và trở thành một người đàn ông hết lòng vì gia đình, dành trọn tình cảm cho người vợ quá cố cùng ba người con riêng của bà. Ông từng làm chủ một chiếc xe taxi và một tiệm bánh pizza, trước khi dành 20 năm làm nhân viên pha chế và phục vụ tại chuỗi nhà hàng Palm ở Manhattan. Sau khi nghỉ hưu, ông chuyển đến sống tại Staten Island; tại đây, ông tận hưởng khoảng thời gian bên gia đình và dành sự quan tâm đặc biệt cho đội bóng chày yêu thích của mình – New York Mets.

John Talignani. Photo via U.S. National Park Service
Thẻ đăng ký nghĩa vụ quân sự John Talignani.Chiến tranh Thế giới II

Talignani cũng là một cựu quân nhân Lục quân từng phục vụ trong thời kỳ Thế chiến II. Ông thực hiện nghĩa vụ quân sự vào giai đoạn quân đội Mỹ chiếm đóng Nhật Bản sau chiến tranh, thay vì tham gia trực tiếp vào các hoạt động tác chiến trong cuộc chiến. Ông thuộc thế hệ nhập ngũ vào những năm quanh thời điểm diễn ra chiến tranh và đã phục vụ tại nước ngoài khi lực lượng Mỹ thực hiện việc chiếm đóng và tái thiết Nhật Bản sau khi giao tranh kết thúc.

Ở tuổi 74, Talignani vẫn luôn dành trọn tình cảm và sự quan tâm cho gia đình. Ông lên chuyến bay số hiệu 93 của hãng United Airlines tại Sân bay Quốc tế Newark vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 để đến California. Con trai riêng của vợ ông đã thiệt mạng trong một vụ tai nạn ô tô khi đang đi hưởng tuần trăng mật, còn con dâu ông thì bị thương nặng. Talignani thực hiện chuyến đi này để ở bên gia đình trong khoảng thời gian vô cùng khó khăn đó.

Chuyến bay 93 khởi hành từ Newark lúc 8:42 sáng để đến San Francisco. Đến 9:28 sáng, những kẻ không tặc đã chiếm quyền kiểm soát máy bay. Hành khách và phi hành đoàn bắt đầu biết tin về các vụ tấn công thông qua các cuộc gọi điện thoại. Khi nhận ra những kẻ không tặc định biến chiếc máy bay của họ thành một vũ khí khác, các hành khách đã quyết định chống trả. Vào khoảng 9:57 sáng, họ bắt đầu nỗ lực giành lại quyền kiểm soát máy bay; sáu phút sau, chuyến bay 93 rơi xuống một cánh đồng gần Shanksville, Pennsylvania. Talignani là một trong số 40 hành khách và thành viên phi hành đoàn thiệt mạng trên chuyến bay này.

Talignani đã dành những năm tháng nghỉ hưu bên những người thân yêu, tận hưởng thời gian cùng gia đình và theo dõi đội bóng chày New York Mets. Vào ngày 11 tháng 9, ông lên chuyến bay 93 đến California để thực hiện thêm một hành động thể hiện tình cảm dành cho gia đình. Ông đã không bao giờ đến được nơi đó.

TƯỞNG NHỚ HỌ

Những người đàn ông này đã sống những cuộc đời rất khác nhau sau Thế chiến II, nhưng mỗi người đều mang theo những trải nghiệm của thời kỳ đó vào các thập kỷ tiếp theo. Đến tháng 9 năm 2001, họ không còn là những quân nhân trẻ tuổi nữa. Họ là những người chồng, người cha, linh mục, chuyên gia, người đã nghỉ hưu và là thành viên tích cực trong cộng đồng của mình. Cuộc đời họ vẫn tiếp diễn rất lâu sau khi chiến tranh kết thúc.

Hai mươi lăm năm sau, câu chuyện của họ mang đến một góc nhìn khác để tưởng nhớ ngày 11 tháng 9. 2.977 người thiệt mạng vào ngày hôm đó không chỉ đơn thuần là những cái tên hay những con số. Họ là những cá nhân có gia đình, sự nghiệp, ký ức và những câu chuyện cuộc đời bắt đầu từ rất lâu trước khi các vụ tấn công xảy ra. Với một số người, lịch sử đó bao gồm cả việc đáp lại lời kêu gọi phục vụ đất nước trong Thế chiến II.

Nhiều người Mỹ trẻ tuổi khác cũng sẽ đáp lại lời kêu gọi phục vụ trong những năm và thập kỷ sau các vụ tấn công này.
 
World War II draft card for John Talignani. Photo from Fold3, via National Archives

 
World War II draft card for John Tal

 Những lá cờ Mỹ được đặt tại hồ nước thuộc Tháp Nam (South Tower Pool) – gần Khu tưởng niệm và Bảo tàng 9/11 – để tưởng nhớ các nạn nhân của vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9, trong khuôn khổ sự kiện Duyệt binh Hải quân Quốc tế 250 tại Thành phố New York vào ngày 6 tháng 7 năm 2026. Ảnh của Hải quân Hoa Kỳ do Chuyên gia Truyền thông Đại chúng (Cấp bậc Thủy thủ) thực hiện -

Tại Bảo tàng Chiến tranh Thế giới thứ hai Quốc gia, việc tưởng niệm ngày kỷ niệm 11 tháng 9 có nghĩa là tưởng nhớ tất cả những người đã thiệt mạng vào ngày hôm đó và ghi nhận những câu chuyện khác nhau mà họ mang theo.
Bằng cách kể lại câu chuyện của những người đã sống sót qua một khoảnh khắc định mệnh trong lịch sử nước Mỹ và bị mất đi trong một khoảnh khắc khác, chúng ta giúp bảo tồn những trải nghiệm cá nhân đằng sau những sự kiện đã thay đổi quốc gia.


Trách nhiệm của chúng ta không chỉ là ghi nhớ cách họ đã hy sinh, mà còn là ghi nhớ họ là ai.
Mong rằng chúng ta sẽ không bao giờ quên.

Google Dịch
Sưu tầm & Biên Soạn: Thái Lan


Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

Vĩnh biệt Văn Hữu Thi Sĩ Lãm Thúy Mến Yêu Với Muôn Vàn Thương Tiếc - Thái Lan


Phỏng Dịch: 

Được có chị là bạn trong đời là Món Quà Quý Gia nhất
. . .

Hỡi Ngọn Gió Yêu Thương
hãy thì thầm đến chị
“ Tất cả chúng tôi đều Rất Yêu mến
Và Rất nhớ chị
Chị Lãm Thúy ơi
Ước sao
Chị vẫn còn đây
Bên chúng tôi "

Những tháng ngày bên chị luôn thấm sâu trong tim chúng tôi, để yêu thương và trân trọng .
Một ngày mai sẽ không còn nữa để Chia Ngọt Sẻ Bùi
Nhưng Hôm Qua sẽ luôn bên chúng tôi . . .

Một Nỗi nhớ lặng yên, một giọt châu Thầm Lặng
Kỷ niệm về Chị sẽ Luôn Mãi Bên Chúng tôi
Sâu Trong tim chúng tôi,

Chị Lãm Thúy ơi

Thái Lan  

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2026

Một Mùa Xuân Rất Xa

 

(Thương tặng các bạn sinh viên Huế, và các bạn cư xá Jeanne d’Arc & Xavier 
của thời vàng son dấu yêu)

Một ngày mùa hè …

Ba chở tôi đến phi trường Phú Bài, Huế, đón cậu em từ Đà Lạt ra để giúp Ba và tôi trong việc làm ăn của Ba. Me và ba em kia vẫn đi làm đi học ở xứ sở sương mù… Gặp lại em Vũ sau nhiều tháng xa cách, thật mừng rỡ… Lúc xưa cả gia đình Ba Me và sáu người con đều quây quần, rồi chị và anh lớn đi xa để tiếp tục việc học, còn lại bốn chị em rất thân nhau. Ôi bao nhiêu kỷ niệm…

Mới mấy năm nay Ba phải ra Cố đô để làm việc, một mình tôi đổi cấp độ từ nhỏ đến lớn, bi chừ là Học Đại rồi, nên theo Ba được.

Em Vũ mang theo cây đàn tranh cho tôi. Tôi mới học được vài tuần ở Tỳ Bà Viện. Khệ nệ cầm cây đàn, tôi băng qua phòng chờ ở phi trường, rồi lần ra bên ngoài chỗ để xe… Chợt có hai anh lái tàu bay từ bên phi trường quân sự tiến đến, hỏi chuyện…

Có lẽ vì nhìn thấy một con bé với vẻ mặt chẳng có gì là nghệ sĩ mà lại đi chơi loại đàn xưa và rất khó này rồi hai “ông ” ấy tò mò chăng?

Biết chúng tôi ở xứ Ngàn Thông, các anh rất thích, họ là người dân xứ biển Nha Trang hiền hòa, và thường bay lên đó, họ rất thích thành phố buồn của chúng tôi…

Vài tuần sau, đến lúc nhập học, em tôi phải trở về Đà Lạt, còn tôi thì vào cư xá để học cho yên – Ba bảo như rứa…
Vài ngày sau khi đi học, một anh tài xế máy bay ấy, anh Quang, đã đến cư xá và xin sơ (soeur) trông coi phòng khách để gặp tôi.
Tôi chưa gặp anh Quang được, vì tôi chưa thưa chuyện với Ba Me tôi. Anh ấy ra về…
Vài ngày sau, tôi nhận được lá thư của anh gởi từ Nha Trang…
Tôi đã đưa thư cho Ba đọc, (tự tôi cảm thấy cần cho Ba đọc, vì Ba đâu có cấm cản chi mô?)

Ba nói lời thư có vẻ chân thành, nhưng chưa biết con ạ, các anh ấy thường rất bay bướm,… nếu anh ấy muốn gặp con ở cư xá, con có thể nói chuyện (vì Ba biết trong phòng khách, luôn có sơ làm việc giấy tờ), và con có thể trả lời thư…

Nhiều tháng trôi qua…
Anh thường có dịp phải bay ra Huế, có lần anh và bạn đều lái trực thăng vòng vòng quanh sân trường của tôi. Trời ơi! Cứ bay vần vũ quanh quanh như rứa…
Thầy Cô và bạn bè không hiểu chuyện gì đang xảy ra..! Chỉ có Kim Thoa & Ngọc Quỳnh ở cùng phòng cư xá với tôi biết là ai thôi: Răng mà anh nớ gan cùng mình ghê luôn!
Rồi còn đi với bạn để đón tôi lúc tan trường… tôi luôn đi với cô bạn thân Kim Thoa, anh ấy cũng luôn có thêm một người bạn đi cùng…

Muốn độn thổ luôn, trời ạ! Hai ông lính thuộc loại dữ dằn, mặc áo bay, đi kèm với hai con bé chưa lớn, làm chúng vừa đi vừa nép vào nhau, che mặt mình không hết, cả trường ào ra như ong vỡ tổ,… ai đi xe ra cũng ngoảnh mặt lại nhìn xem hai con nào mà ghê gớm rứa hè..?

Thôi thôi bước đi cho nhanh cho rồi… làm hai ông phải la lên:
-Hai cô làm gì mà như bị ma đuổi vậy?
Tôi phải cằn nhằn:
- Sao anh muốn đến trường mà không nói trước, để bây giờ … làm sao mà trốn đây? Ngày mai vô lớp học thì chịu sao cho thấu?
– Thì Thanh Lan cứ bảo là: ông anh ở Nha Trang đi công tác ra thăm em thôi mà, có gì nghiêm trọng đâu?…

Sau này tôi mới biết, anh ấy lúc nào cũng vậy, những việc gì nguy hiểm, kinh khủng…tất cả đối với anh đều … nhẹ như lông hồng… Có lúc thì tốt, nhưng có khi lại không tốt đâu nhe!
Ngày thường thì chúng tôi vừa rảo bước vừa nhìn ngắm cảnh thơ mộng của kinh đô các mệ ngày xưa, nhìn qua con sông với cầu Trường Tiền nên thơ, hàng cây Phượng vỹ đến mùa hè nở đỏ rực cả một góc trời… ở xa kia là núi Ngự Bình,..
Ngắm hoài không chán...
Nhưng hôm nay hai đứa chỉ cúi mặt mà chạy, không dám nhìn ngang ngửa chi hết…

Hai anh chỉ đưa chúng tôi về cư xá, vì chúng tôi không đi ra quán uống nước với các anh, xứ Huế rất cổ kính, và cổ hủ về phong tục, nên chúng tôi rất ngại…
– Thanh Lan, mai tụi anh lại phải bay đi Pleiku rồi, cho anh nói chuyện với Lan một chút nhé?

Bạn tôi lên phòng, anh Hoàng, bạn của anh Quang bảo anh ấy ra quán càphê gần đó đợi … Anh Quang vô phòng khách nói chuyện với tôi một chút, anh hỏi thăm tôi về việc học, về các em,.. rồi dặn tôi nhớ trả lời thư cho anh, khi nào mùa hè tôi về xứ Sương Mù, có dịp anh sẽ bay lên để thăm Me và các em, rồi sang năm học tới anh sẽ ra đây thăm Ba tôi.

Sang hè, khi tôi về Đà Lạt nghỉ vài tuần, anh ấy đến nhà và nói chuyện với Me và các em tôi. Có một hôm, em tôi mới đi lấy hình chụp cả nhà về, và để trên bàn phòng khách, tôi chưa kịp cất, anh ấy đến, và muốn xem. Anh chọn một hình chân dung của tôi, và nói rằng kỳ này các anh sẽ đi Bảo Lộc, sẽ có giờ rảnh, anh muốn vẽ hình tôi. . .

Ít lâu sau tôi nhận được một bức hình vẽ bằng bút chì rất đẹp,.. tôi lại biết thêm một tài năng của anh ấy…

Sau này anh vẽ hình các con, chắc là tuyệt lắm nhỉ? (ôi, lại mơ mộng hão huyền nữa rồi, cô bé ạ)
Anh đưa cho tôi tập thơ - Ta Chờ Em Từ Ba Mươi Năm - của thi sĩ Vũ Hoàng Chương…
Không biết lúc đó anh bao nhiêu tuổi nhỉ?
----
1975…
Vài tháng thư từ, độ này anh không bay ra Huế nữa…

Tháng 3… Người dân Huế vẫn chưa hết đau thương với Mậu Thân 1968, nay lại lảo đảo chồng chất trên những chiếc xe đò lớn nhỏ để vô Đà Nẵng, có xe traction ngày thường chỉ chở được 5 người, nay chất thành 8, 9, 10 người,.. rồi những xe minivans thì nhét như cá hộp…
Vô Đà Nẵng cũng không yên,… lại ùa nhau ra phi trường, ra bến cảng …

Tôi cùng gia đình người bác ruột lênh đênh trên biển cả một tuần, (Ba đã đi nước ngoài vì công việc, sắp về lại). Suốt một tuần lễ, lênh đênh cũng mây nước, tôi không biết giờ này Ba Me tôi ở đâu, các anh chị em có được bình an không… Bảy ngày , mà dài như bảy năm, buổi tối dài lê thê, không thể nào chớp mắt với sóng biển dập dềnh, ban ngày thì khô rát, nóng cháy…..

Rồi anh Quang ơi, gia đình anh có được an toàn không, anh đang ở đâu, cầu mong sao anh làm tròn nhiệm vụ người trai thời loạn, như bậc cha anh, nhe anh,... dù cho có hy sinh cũng không màng, anh ơi,...

Xà lan cặp bến Vũng Tàu… Rồi lên Saigon…
Đến được nhà anh chị tôi, thật mừng rỡ biết bao khi gặp lại gia đình anh chị cùng Ba tôi vừa mới trở về được vài hôm, và Me cùng các em đang đi xe đò từ Đà Lạt xuống đây...
-----
Một buổi trưa, Hòn Ngọc Viễn Đông, trời nóng như thiêu… em Vũ, –lại cũng cậu em xe tơ này, – chở tôi đi Honda trên đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận, đến đường ray xe lửa, đèn đỏ… nhìn qua con đường đối diện,… thấy anh Quang!
Ôi, phải chăng đây là ý trời…? Nhiều tuần nay không được tin tức… nay được gặp lại anh…

Buổi tối, cuối tháng 4, anh Quang đến nhà anh tôi ở Quận 5,… gặp Ba Me tôi (lúc đó cả gia đình đều về nhà anh Chung của tôi), và xin cho tôi được bay đi đảo Guam, xứ Cờ Hoa, với anh cùng đồng đội.
Tôi không chịu, vì đi như vậy, biết có gặp lại Cha Mẹ anh chị em được không, chữ Hiếu thì chưa trả được với lại đã cưới hỏi gì đâu…?
Anh lại đưa cho tôi một tấm thiệp , khu rừng lá rụng mùa thu
Và chỉ một câu trong một bài hát -Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng... (nhạc sĩ Vũ Thành An)

Vài tháng sau…
Gia đình anh, sau khi ở tạm nhà bà con ở Saigon ít lâu, đã trở về miền Thùy Dương..
Tôi theo Ba về Nha Trang để thăm người Cô ruột, chị của Ba.
Tôi được đi ra biển với anh, một buổi chiều… sóng thật lớn…
Suốt bao nhiêu tháng quen nhau, đây là lần đầu tiên tôi đi ra ngoài với anh..
Tôi luôn yêu thương thành phố biển này, ngày xưa cả gia đình thường được Ba chở đi nghỉ hè, cả mấy chị em tôi đều rất mê biển, cát, và sóng…
Cả anh và tôi đùa nghịch với cát, nắm cát vào tay, bỏ vào tay đứa kia, nhưng không giữ được, chúng lại tuôn ra… Đi dạo, rồi chạy đuổi nhau ở mép biển, vừa nước vừa cát,.. ôi Hạnh phúc làm sao…!

Đứng nhìn mặt trời lặn, sao đáng yêu quá, tôi luôn yêu cảnh mặt trời mọc hoặc lặn ở biển,, nhưng sao hôm nay đẹp lạ thường…
--Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ --, nhưng Người vui thì cảnh lại quá thơ mộng…
Hạnh phúc ơi…!
Lúc đưa tôi về nhà Cô tôi, anh đưa tôi một tấm thiệp, hình bầu trời đầy sao, và bên dưới là một cô bé đang nhìn lên …
Bên trong

--Người là vì sao nhỏ bé
Ta mãi ước cho lòng làm bầu trời xanh xanh
Người về lòng ta thương nhớ
Ta khẽ hỏi đưa người hay thầm người đưa ta… (1)

Hôm sau, anh đến nhà thăm Cô và Ba tôi… và xin phép đưa tôi đi dạo một vòng..

Những đường phố xứ biển quá đẹp, với từng hàng cây Phượng vỹ, vẫn còn đỏ rực hoa mùa hè muộn, cây trứng cá với trái nhỏ đỏ li ti thật xinh và những hàng dương liễu dọc theo bờ biển, thơ mộng làm sao…

Anh đưa tôi lên tượng Phật Bà thật uy nghi trên đỉnh đồi Trại Thủy, đứng trên đỉnh đồi nhìn xuống thành phố thật đẹp… – đã in trong trí tôi bao nhiêu năm nay, bây giờ mỗi khi ngủ tôi vẫn thường nhớ lại cảnh tượng nên thơ này – Tôi rất thích tìm những cọng hoa mắc cỡ (Trinh nữ), rồi đụng vào lá cho chúng khép lại, và nói với anh:
– Anh ơi, mai sau anh trồng hoa mắc cỡ phía sau nhà mình để em chơi như thế này nhé anh?” Anh cười, chắc có lẽ chịu thua cái con bé lớn mà chẳng lớn chi hết này!

Sau khi đi một vòng, đến dưới chân bức tượng Phật, anh cầm tay tôi, nhìn vào mắt tôi thật lâu, và nói
– Bé chờ anh nhé, bé ơi?
Tôi thật nghẹn ngào, mãi lúc sau mới nói được:
-Em sẽ là Hòn Vọng Phu, nếu anh không trở về. . .
……………..
Phút giây hạnh phúc như bóng câu qua cửa sổ..

--Anh vuốt tóc em, một lần cuối, một lần cuối cùng, rồi thôi….
Anh hốt trăng thanh, trên áo em xanh, một lần cuối, như những lần đó xa xôi ….(2)

Đến ngày Ba và tôi trở về xứ Ngàn Hoa, còn anh thì đi …biền biệt… đến bao giờ?
…………….
Trại tù…
Anh viết:Mỗi kỳ trăng tròn, anh thường nhìn lên ánh trăng, để tìm ánh mắt em phản chiếu trong đó, Ti ơi… Anh nhớ em quay quắt… nhớ đôi mắt thật buồn của em, bé ơi …
Thăm nuôi…
. . .
Em ngậm ngùi khóc thương
Thương anh đợi mòn mỏi
Hờn căm ngút đoạn trường– (3)
…………………
…Ngày anh Trở về… Mừng mừng tủi tủi…
Kể làm sao cho xiết…
Rồi ngày được định cư ở bến bờ tự do…
Ba ơi, cái ông tài xế máy bay ni không có bay bướm chi hết, Ba à…

Bao nhiêu mùa Xuân đã đi qua… Anh và em đều mong ước một mùa Xuân được trở về, để đến những nơi chốn của thuở vàng son ấy…
------
Đất Mẹ, ngày trở về, để đón mùa Xuân như ước mơ, nhưng chỉ có các con và em … Anh đã ra đi…
Saigon, Đà Lạt, Huế…Và sân bay Phú Bài.
Tất cả đã không còn như xưa… Ngôi trường mến yêu, những con đường thân thương …
Nhưng đối với anh và em, vẫn thật đáng quý, những nơi tràn ngập kỷ niệm dấu yêu, kể cho con nghe… Thương quý nhưng nghẹn ngào làm sao…
Và Nha Trang, sóng biển và cát….

Hôm nay ngày rằm cuối năm, trăng sáng vằng vặc, em lại nhìn lên ánh trăng, tìm đôi mắt của anh, như ngày xưa mắt anh và em nhìn nhau trên đó anh ơi …

Ngày mai em sẽ đưa các con lên đồi Trại Thủy, nơi có tượng Phật Bà, và kể cho con nghe về cái ngày xa xưa yêu dấu ấy, anh ơi… Bây giờ em không thể làm Hòn Vọng Phu để chờ anh được nữa rồi, em còn bổn phận với con cháu..
Anh đang ở đâu hở anh

Anh Quang ơi, từ nơi xa ấy, anh có cùng mẹ con em đi thăm lại những con đường có lá me bay, những đồi thông con suối, không anh…
Một mùa Xuân trọn vẹn của anh và em, sẽ không bao giờ có được…
……………….
Trong phòng của mình, vẫn còn bức chân dung ngày xưa anh đã họa lại hình em đó, Quang ơi… Và chiếc áo bay ngày nào của anh vẫn ở bên em…

Những tưởng yêu thương đến trọn kiếp
Mong sẽ trăm năm cùng bạc đầu
——
Vầng trăng xưa, ngươi có nhớ gì không?-

Vũ Hoàng Chương - Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm

TháiLan/NữLan-Dallas

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

Những Cột Mốc Quan Trọng Nhất Trong Lịch Sử Hoa Kỳ - Sưu Tầm & Dịch: Thái Lan Cùng Với AI


A/- 10 Cột mốc Quan trọng nhất trong Lịch sử Hoa Kỳ (và Lý do Chúng vẫn còn Ý nghĩa)

Lịch sử Hoa Kỳ chứa đựng vô số bước ngoặt — những ngày mà đất nước thay đổi vận mệnh mãi mãi. Một số ngày được kỷ niệm rộng rãi, số khác được nhớ đến với niềm đau thương, và một vài sự kiện vẫn khơi dậy những cuộc tranh luận ngay cả khi nhiều thế hệ đã trôi qua.

Nếu bạn từng thắc mắc đâu là những ngày quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, bài viết này sẽ điểm qua mười khoảnh khắc mang tính bước ngoặt và giải thích lý do tại sao chúng vẫn còn ý nghĩa trong thời đại ngày nay.

Từ nền độc lập và chiến tranh cho đến những thảm kịch và thành tựu công nghệ, đây chính là những cột mốc đã định hình nên câu chuyện về nước Mỹ.

Tại sao 10 Cột mốc này lại Quan trọng đối với Lịch sử Hoa Kỳ?

Những ngày quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ không chỉ đơn thuần là các mốc thời gian. Chúng đại diện cho những khoảnh khắc mà:

• đất nước được thành lập hoặc được định hình lại
• bản sắc dân tộc có sự thay đổi
• những cuộc chiến tranh lớn làm thay đổi vai trò của nước Mỹ trên trường quốc tế
• ký ức cộng đồng và văn hóa có sự chuyển biến sâu sắc
• các thế hệ tương lai tiếp nhận những quyền tự do, nỗi sợ hãi và trách nhiệm mới

Danh sách này tập trung vào những cột mốc có tác động lâu dài đến Hoa Kỳ trên các phương diện chính trị, văn hóa, quân sự và xã hội.

1.) Ngày 4 tháng 7 năm 1776 — Tuyên ngôn Độc lập

Tầm quan trọng: Ngày 4 tháng 7 năm 1776 là cột mốc mang tính biểu tượng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Ngày này đánh dấu việc thông qua Tuyên ngôn Độc lập, khi mười ba thuộc địa chính thức tuyên bố tách khỏi Vương quốc Anh.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 4 tháng 7 năm 1776?

Quốc hội Lục địa đã thông qua nội dung cuối cùng của bản Tuyên ngôn, trong đó nêu rõ lý do các thuộc địa tách khỏi sự cai trị của Anh, đồng thời khẳng định tư tưởng rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng và sở hữu những quyền bất khả xâm phạm.

Tại sao ngày 4 tháng 7 vẫn quan trọng cho đến ngày nay?

• Ngày này đánh dấu sự ra đời của Hoa Kỳ với tư cách là một quốc gia.
• Ngày này xác lập các lý tưởng về tự do, quyền tự trị và các quyền tự nhiên.
• Ngày này trở thành nền tảng cho các phong trào đấu tranh mở rộng quyền tự do trong tương lai.

2.) Ngày 12 tháng 4 năm 1861 — Nội chiến Hoa Kỳ bùng nổ (Pháo đài Sumter)

Tầm quan trọng: Cuộc tấn công vào Pháo đài Sumter ở Nam Carolina đã đánh dấu sự khởi đầu của cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, cuộc xung đột đẫm máu nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 12 tháng 4 năm 1861?

Các lực lượng thuộc Liên minh miền Nam (Confederacy) đã nổ súng vào Pháo đài Sumter, một pháo đài do phe Liên bang miền Bắc (Union) kiểm soát tại cảng Charleston. Cuộc pháo kích này đã châm ngòi cho một cuộc chiến tranh toàn diện giữa phe Liên bang và phe Liên minh miền Nam.

Tại sao ngày này đã thay đổi Hoa Kỳ?

• Ngày này mở màn cho cuộc chiến quyết định sự tồn vong của phe Liên bang miền Bắc
• Ngày này làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng quốc gia xoay quanh vấn đề nô lệ.
• Ngày này tạo tiền đề cho công cuộc giải phóng nô lệ và những thay đổi mang tính hiến pháp.

Cuộc Nội chiến đã định hình lại quyền lực liên bang, quy chế công dân và tương lai của đất nước.

3) Ngày 1 tháng 1 năm 1863 — Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ có hiệu lực

Tầm quan trọng: Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt lớn, không chỉ đối với cuộc Nội chiến mà còn đối với định hướng đạo đức của Hoa Kỳ.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 1 tháng 1 năm 1863?

Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ của Tổng thống Abraham Lincoln chính thức có hiệu lực, tuyênbố trả tự do cho những người bị bắt làm nô lệ tại các vùng lãnh thổ do Liên minh miền Nam (Confederacy) kiểm soát.

Tại sao sự kiện này vẫn còn quan trọng?

• Biến cuộc Nội chiến thành cuộc đấu tranh vì cả sự thống nhất quốc gia lẫn quyền tự do.
• Làm giảm sự ủng hộ của châu Âu dành cho Liên minh miền Nam.
• Mở đường cho Tu chính án thứ 13, văn bản bãi bỏ chế độ nô lệ.

Mặc dù không ngay lập tức giải phóng tất cả những người đang bị bắt làm nô lệ, nhưng sự kiện đã thay đổi ý nghĩa và mục đích của cuộc chiến.

4) Ngày 9 tháng 4 năm 1865 — Quân Liên minh miền Nam đầu hàng tại Appomattox

Tầm quan trọng: Việc Tướng Robert E. Lee đầu hàng Tướng Ulysses S. Grant tại Tòa án Appomattox (Appomattox Court House) đã thực sự chấm dứt cuộc Nội chiến.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 9 tháng 4 năm 1865?

Tướng Lee đã cho đầu hàng Binh đoàn Bắc Virginia, đánh dấu sự sụp đổ trong khả năng kháng cự quân sự của Liên minh miền Nam.

Tại sao đây là một trong những ngày quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ?

• Sự kiện này đã bảo toàn được Liên bang.
• Đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ Tái thiết.
• Mở ra một chương mới trong cuộc đấu tranh về vấn đề chủng tộc, quyền con người và sự hàn gắn dân tộc.

Ngày này vẫn đóng vai trò then chốt để hiểu rõ về cái giá phải trả cũng như di sản của cuộc Nội chiến.

5) Ngày 15 tháng 4 năm 1865 — TT Abraham Lincoln tạ thế

Tầm quan trọng: Tổng thống Abraham Lincoln qua đời vào sáng hôm sau khi bị John Wilkes Booth bắn, chỉ vài ngày sau chiến thắng của phe Liên bang (Union).

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 15 tháng 4 năm 1865?

Lincoln qua đời sau khi bị ám sát tại Nhà hát Ford ở Washington, D.C. Phó Tổng thống Andrew Johnson đã tuyên thệ nhậm chức Tổng thống.

Tại sao cái chết của Lincoln lại thay đổi lịch sử?

• Đất nước mất đi một nhà lãnh đạo vào thời điểm then chốt của quá trình tái thống nhất.
• Công cuộc Tái thiết (Reconstruction) diễn ra mà thiếu vắng sự lãnh đạo của Lincoln.
• Lincoln trở thành biểu tượng trường tồn của sự đoàn kết, tinh thần hy sinh và lòng dũng cảm về mặt đạo đức.

Đối với nhiều nhà sử học, đây là một trong những ngày bi thương và có ảnh hưởng lớn nhất ttrong lịch sử nước Mỹ. Nếu bạn đang tìm kiếm một cuốn sách cực kỳ rất đáng đọc về cái chết của Abraham Lincoln, hãy thử đọc Killing Lincoln. Bạn sẽ khó lòng rời mắt khỏi cuốn sách này.

6) Ngày 7 tháng 12 năm 1941 — Cuộc tấn công Trân Châu Cảng

Tầm quan trọng: Cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng đã đẩy Hoa Kỳ vào cuộc Chiến tranh Thế Giới thứ Hai.

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 7 tháng 12 năm 1941?

Nhật Bản đã thực hiện một cuộc tấn công bất ngờ vào căn cứ hải quân Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng (Hawaii), khiến hơn 2.000 người Mỹ thiệt mạng, đồng thời làm hư hại hoặc phá hủy nhiều tàu chiến và máy bay.

Tại sao Trân Châu Cảng vẫn là một cột mốc quan trọng đối với Hoa Kỳ?

• Sự kiện này chấm dứt giai đoạn Hoa Kỳ đứng ngoài cuộc Đệ Nhị Thế Chiến.
• Dẫn đến việc chính thức tuyên chiến.
• Đánh dấu sự khởi đầu cho quá trình vươn lên của Hoa Kỳ thành một siêu cường toàn cầu.

Ngày 7 tháng 12 được ghi nhớ là "một ngày mang nỗi nhục nhã ê chề" (theo cách gọi của Tổng thống Roosevelt), và đây vẫn là một trong những ngày được biết đến nhiều nhất trong lịch sử quân sự Hoa Kỳ.

7) Ngày 6 tháng 6 năm 1944 — Ngày D-Day (Cuộc đổ bộ lên Normandy)

Tầm quan trọng: D-Day là một trong những chiến dịch quân sự quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ và thế giới.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 6 tháng 6 năm 1944?

Lực lượng Đồng minh, bao gồm hàng nghìn đơn vị quân đội Mỹ, đã đổ bộ lên các bãi biển tại Normandy (thuộc nước Pháp đang bị Đức Quốc xã chiếm đóng) trong cuộc đổ bộ từ biển vào đất liền lớn nhất lịch sử.
Tầm quan trọng của D-Day đối với lịch sử Hoa Kỳ

• Sự kiện này mở ra một mặt trận lớn ở phía Tây để chống lại Đức Quốc xã.
• Đẩy nhanh quá trình giải phóng châu Âu.
• Trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm, sự hy sinh và tinh thần hợp tác của phe Đồng minh.

D-Day là một trong những cột mốc quan trọng nhất trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ.

8) Ngày 20 tháng 7 năm 1969 — Sự kiện tàu Apollo 11 đổ bộ lên Mặt Trăng

Ý nghĩa: Việc đổ bộ lên Mặt Trăng là minh chứng cho thành tựu công nghệ của Hoa Kỳ, cuộc cạnh tranh trong Chiến tranh Lạnh, và là một bước tiến khổng lồ trong lịch sử nhân loại.

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 20 tháng 7 năm 1969?

Các phi hành gia của tàu Apollo 11 là Neil Armstrong và Buzz Aldrin đã đổ bộ xuống Mặt Trăng, và Armstrong trở thành người đầu tiên đặt chân lên bề mặt của nó.

Tại sao ngày này lại quan trọng về mặt lịch sử?

• Sự kiện này thể hiện sự đổi mới khoa học và tham vọng quốc gia của Hoa Kỳ.
• Tượng trưng cho sự cạnh tranh và vị thế có uy tín trong kỷ nguyên Chiến tranh Lạnh.
• Truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và thám hiểm.

Ngày 20 tháng 7 là một trong những ngày đáng nhớ nhất và vinh quang trong lịch sử chinh phục không gian của Hoa Kỳ.

Giờ thì có một câu hỏi dành cho bạn — Liệu việc đổ bộ lên Mặt Trăng là thật hay giả?
Có những lập luận cực kỳ thuyết phục cho rằng sự kiện này có thể đã được dàn dựng suốt bấy lâu nay. Bản thân tôi vẫn tin vào "Giấc mơ Mỹ" và tinh thần chiến thắng của đất nước, nên tôi chọn tin rằng sự kiện đó thực sự đã diễn ra. Đó là lòng yêu nước trong tôi lên tiếng.
Tuy nhiên, cũng có những bằng chứng rất mạnh mẽ cho thấy điều ngược lại.

9) Ngày 22 tháng 11 năm 1963 — Vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy

Tầm quan trọng: Vụ ám sát Tổng thống Kennedy đã gây ra cú sốc lớn cho cả quốc gia và trở thành bước ngoặt trong văn hóa chính trị Mỹ.

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 22 tháng 11 năm 1963?

Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát tại Dallas, Texas, khi đang ngồi trong đoàn xe diễn hành.
Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson đã tuyên thệ nhậm chức ngay trong ngày hôm đó.
Lý do ngày 22 tháng 11 vẫn là một cột mốc quan trọng trong lịch sử nước Mỹ

• Sự kiện này đã gây chấn động cả nước Mỹ và thế giới.
• Làm gia tăng sự ngờ vực trong công chúng cũng như những đồn đoán về các thuyết âm mưu.
• Đã thay đổi diện mạo chính trị và bầu không khí văn hóa của thập niên 1960.

Đối với nhiều người Mỹ, điều nây đã trở thành khoảnh khắc đáng nhớ gắn liền với câu hỏi:
"Bạn đang ở đâu vào lúc đó?"

10) Ngày 11 tháng 9 năm 2001 — Các cuộc tấn công khủng bố 11/9

Tầm quan trọng: Ngày 11 tháng 9 năm 2001 là một trong những cột mốc có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử hiện đại của Hoa Kỳ.

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 11 tháng 9 năm 2001?

Những kẻ khủng bố đã cố gắng cướp bốn chiếc máy bay thương mại và buộc hai chiếc đâm vào tòa tháp Trung tâm Thương mại Thế giới ở Thành phố New York, một chiếc đâm vào Lầu Năm Góc, và chiếc còn lại rơi xuống Pennsylvania sau khi các hành khách chống trả.

Tại sao sự kiện 11/9 đã thay đổi Hoa Kỳ

• Sự kiện này làm thay đổi chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia của Hoa Kỳ.
• Dẫn đến các cuộc chiến tranh tại Afghanistan và Iraq.
• Làm thay đổi hoạt động đi lại bằng đường hàng không, công tác giám sát an ninh và đời sống xã hội.
• Trở thành ký ức mang tính Khoảnh khắc quyết định, định hình đối với cả một thế hệ.

Ngày 11 tháng 9 vẫn là một trong những ngày được tìm kiếm và ghi nhớ nhiều nhất trong lịch sử đương đại của Hoa Kỳ.

B/--- Những mốc thời gian đáng chú ý khác trong lịch sử Hoa Kỳ

Tùy thuộc vào tiêu chỉ đánh giá, những mốc thời gian sau đây cũng hoàn toàn có thể nằm trong danh sách sự kiện quan trọng nhất:

• Ngày 17 tháng 9 năm 1787 — Ký kết Hiến pháp Hoa Kỳ
• Ngày 15 tháng 12 năm 1791 — Phê chuẩn Tuyên ngôn Nhân quyền (Bill of Rights)
• Giai đoạn 1803–1804 — Thời kỳ mở rộng lãnh thổ thông qua Thương vụ Louisiana
• Ngày 01 tháng 1 năm 1863 — Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ (đã được đưa vào danh sách chính)
• Ngày 18 tháng 8 năm 1920 — Phê chuẩn Tu chính án thứ 19 (quyền bầu cử của phụ nữ)
• Ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945 — Các vụ ném bom nguyên tử (bước ngoặt lớn trong thời chiến của Hoa Kỳ)
• Ngày 28 tháng 8 năm 1963 — Cuộc Tuần hành vì Việc làm và Tự do tại Washington
• Ngày 2 tháng 7 năm 1964 — Ký kết Đạo luật Quyền Dân sự

Đây là một lý do khiến lịch sử Hoa Kỳ luôn đầy sức hút: có rất nhiều mốc thời gian mang ý nghĩa quan trọng lâu dài.
Cách nhìn nhận về những mốc thời gian "quan trọng nhất" trong lịch sử Hoa Kỳ
Không có một danh sách hoàn hảo duy nhất nào cả. Một số người ưu tiên các sự kiện như:

• Những văn bản nền tảng quốc gia
• Những cuộc chiến tranh và trận đánh
• Những cột mốc về quyền dân sự
• Những vụ ám sát Tổng thống
• Những thành tựu khoa học
• Những khoảnh khắc bi kịch quốc gia

Một cách tiếp cận thuyết phục hơn là:
"Những mốc thời gian quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ là những ngày mà bản sắc định hướng hoặc vận mệnh của nước Mỹ đã thay đổi theo hướng lâu dài."
Điều này bao gồm cả những thắng lợi, bước đột phá, thất bại và tổn thất.

Lời kết: Tại sao những mốc thời gian này trong lịch sử Hoa Kỳ vẫn quan trọng?

Việc tìm hiểu các mốc thời gian quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ không chỉ đơn thuần là ghi nhớ các mốc sự kiện. Điều này giúp chúng ta hiểu rõ:

• quốc gia này đã được xây dựng như thế nào
• đã trải qua những thử thách gì
• những lý tưởng mà họ đề cao
• những thành tựu đã đạt được
• những điểm còn hạn chế
• và hình mẫu quốc gia mà người dân vẫn đang nỗ lực hướng tới

Nếu bạn đang tìm hiểu lịch sử Hoa Kỳ qua lăng kính "nhìn lại sự kiện trong ngày", thì Những mốc thời gian này đóng vai trò là những điểm tựa quan trọng — và mỗi mốc thời gian đều mở ra cánh cửa dẫn đến những câu chuyện sâu sắc hơn.

nguồn:

Thái Lan sưu tầm và dịch (cùng với AI)