Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Cang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Cang. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2025

Nhớ Ngày Xưa Ấy...- Dư Âm Ngày Cũ

  

Bài Xướng:

Nhớ Ngày Xưa Ấy...

Gom thương nắn nót từng lời
Viết lên nỗi nhớ vẽ vời chữ yêu
Tương tư thả xuống bến chiều
Theo dòng mơ mộng ít nhiều đến ai
Bao mùa phượng thắm vần xoay
Binh minh nắng mới men say như vừa...
Hoàng hôn dù nhạt màu mưa
Nhớ Ngày Xưa Ấy hương thừa ấp yêu

Kim Oanh
***
Bài Họa:

Dư Âm Ngày Cũ

Thương ai chẳng dám ngõ lời
Dáng xưa ngày ấy tuyệt vời mến yêu
Hanh hao vạt nắng buổi chiều
Nghe lòng xao xuyến cho nhiều nhớ ai
Dòng đời bất chợt đổi xoay
Lạc nhau mất dấu tỉnh say mới vừa
Mắt buồn ướt đẫm hạt mưa
Nhớ sao là nhớ chẳng thừa chữ yêu!!!

Nguyễn Cang
(Aug. 13, 2025)


Thứ Hai, 21 tháng 7, 2025

Nhớ Mẹ

 

Đêm khuya ngồi cạnh bóng đèn mờ
Một mình đối bóng lạnh trơ vơ
Nhớ về quê cũ hình dáng mẹ
Khắc khoải trong tim những bến bờ

Xa quá thật xa đời viễn xứ

Cuộc sống khó khăn con miệt mài
Vất vả thân gầy yên số phận
Lo đàn con nhỏ tóc bạc phai

Nhớ xưa mẹ dẫn con đi học

Lớp học trường làng vách trống toang
Chiều Rừng Da* giặc Miên xâm lấn
Con bỏ trường lớp cũng tan hoang

Trưa hè nắng đổ giọt hanh hao

Tiếng võng đưa lời ru ngọt ngào
Bóng mẹ hiền in sâu ký ức
Vẫn theo con giấc ngủ chiêm bao

Xin trả lại tôi thời tuổi dại
Chạy theo chân mẹ đi chợ về
Tối nằm lẫm thóc trong tay mẹ
Sưởi ấm tim con lạnh tứ bề

Ngày “Mother.s day” nhớ mẹ không thôi
Chờ trăng lên con ngắm sao trời
Tưởng chừng có mẹ đưa tay vẫy
Nghe lòng ấm lại lệ trào rơi!

Nguyễn Cang 
( Jul. 1, 2025)

Thứ Hai, 7 tháng 7, 2025

Đoạn Khúc Tháng Bảy



( ngũ độ thanh+ mỹ lục thanh)

Một bản cuồng ca hỡi bến sầu
Cả đời quạnh quẽ suốt đêm thâu
Ngõ xưa lá đổ mờ chân mỏi
Lối cũ mưa chiều lệ đổ sâu
Dạ vẫn ghi hoài nơi tảng đá
Cảnh luôn khắc mãi cạnh giang đầu
Lãng du thấm đậm thời dâu bể
Nửa khúc tình ta cõng đoạn sầu.

Nguyễn Cang 
(Jul. 12, 2024)

Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2025

Tâm Sự Tháng Sáu



Mùa hè tháng sáu cỏ khô nắng cháy
Đóm lửa tràn lan sáng cả bãi dâu
Ở nơi đây không có tiếng ve sầu
Bằng lăng tím thay màu hoa phượng đỏ

Kỷ niệm thiết tha tình đầu chưa tỏ
Tuổi hoa niên mười tám vẫn dại khờ
Tự trách mình ngày ấy quá ngây thơ
Để năm tháng trượt dài theo nỗi nhớ

Giờ tan học ta theo sau bước nhỏ
Lòng hân hoan hạnh phúc ngập tràn dâng
Mang trong lòng nỗi khát vọng lâng lâng
Ươm hy vọng một ngày mai tươi sáng

Nhưng vận nước đã tới hồi bi thảm…
Ta mất nhau để sống kiếp lưu đầy
Mặc cho ngày tháng cứ mãi vần xoay
Chiều nắng hạ nhớ về phương trời cũ…

Nguyễn Cang 
(Jun. 7, 2025)


Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2025

Dấu Chân Kỷ Niệm



Cuối tháng Tư ngày dài như bất tận
Chiều mưa rơi lất phất những vấn vương
Cánh phượng đỏ rơi rơi ngoài cửa lớp
Áo trắng ai bay tím cả sân trường

Trưa hai chín Bắc phương tràn thành phố
Từng đoàn người đổ ra biển vượt biên
Năm mươi năm chưa hết nỗi ưu phiền
Chưa gặp lại một lần người yêu dấu

Hương con gái thời sinh viên tranh đấu
Vẫn say nồng trong chiều vắng cô đơn
Xa lắc rồi những trách móc giận hờn
Nghe mặn đắng bờ môi khô buốt giá

Gió rít mạnh từng lá rơi tượng đá
Nắng hanh vàng thoi thóp đợi mùa sang
Mai mốt em có về, thăm Cầu Quan*
Để nghe nhịp thở khẽ khàng tiềm thức

Hồn hoang lạnh tháng Tư hoài đau nhức
Trời quê hương hết nắng lại mưa giông
Dòng sông xưa cuồn cuộn nước xuôi dòng
Người vượt biển bằng con đường chánh thức

Đêm tháng Tư trăng tròn rồi lại khuyết
Trời tháng Tư nghiệt ngã lỡ duyên thề
Năm mươi năm người chợt tỉnh cơn mê
Nghe năm tháng tàn phai trong ký ức

Chiều dần xuống hoàng hôn rơi thổn thức
Chén rượu cay xin cạn hết đêm nay
Gói tâm tư lòng trắc ẩn u hòai
Cám ơn em đã cho ta tình thắm

Nhớ ngày xưa dạo biển dấu chân in
Sóng xô bờ vạt nắng chiếu lung linh
Thương biết mấy bờ vai buông tóc rối
Thuyền đỗ về đâu khi hết chiến chinh?!!

Nguyễn Cang
(Apr. 30, 2025)


Thứ Năm, 8 tháng 7, 2021

Người Em Xứ Huế


Một chiều dạo bước đất Thần Kinh
Nón lá che nghiêng rất hữu tình
Núi Ngự chim bay tìm tổ ấm
Sông Hương nước chảy khuất kinh thành
Thẹn thùng gái Huế dừng chân bước
Ngơ ngẩn tình ta thấy dáng xinh
Nhớ mãi nữ sinh Đồng Khánh Huế
Lòng nghe xao xuyến động tim mình!


Nguyễn Cang


Thứ Hai, 28 tháng 6, 2021

Mong Manh Cuộc Tình

Mây lơ lững giăng đầy trên đỉnh núi
Đêm khuya về nghe quặn thắt lòng đau
Xin đời mau xóa hết nỗi lao đao
Khi gió cuốn bên bờ sông nắng hạ

Ngày chân bước bên phương trời xứ lạ
Chiều mưa rơi phố xá ngập đèn vàng
Man mác buồn lá đổ kéo mùa sang
Nghe thương nhớ những lần ta hò hẹn

Em thơ dại đôi má hồng bẽn lẽn
Tuổi học trò chưa gánh hết thương đau
Đừng tủi thân để tình thấm ngọt ngào
Ngày khép lại cho đời thôi lận đận

Chiều ra biển trời mênh mông bất tận
Dấu chân ai như thấy dáng em về
Nghe bàng hoàng như chợt tỉnh cơn mê
Nhưng chỉ thấy dã tràng xây bờ cát

Con sóng vỗ ngọn phi lao xào xạc
Đợi hương xưa gió cuốn lại quay về
Cho ấm lòng trọn vẹn mối tình quê
Để năm tháng không còn mong với đợi!


Nguyễn Cang 
(Jun 16, 2021

Thứ Năm, 13 tháng 5, 2021

Xa Người


Người đã đi rồi bỏ lại tôi
Buồn dâng chất ngất áng mây trôi
Tâm tư một mảnh đời cô quạnh
Một ánh sao trời rụng tả tơi

Người đã xa rồi cầu Chợ Nổi
Bờ ruộng quanh co bến nước đầy
Bỏ mặc hư vô tình huyễn mộng
Mà nghe cát bụi phủ vai gầy

Người đã đi rồi tôi ở đây
Trường xưa vắng bóng dáng thơ ngây
Điệp già cằn cỗi hoa thôi nở
Phế tích tường vôi rậm bóng cây

Người đã đi rồi con phố vắng
Mưa rơi rớt giọt, gọi nhau thầm
Tay ôm giấc mộng tình chưa trọn
Chợt thấy trong lòng lạnh buốt căm!!!

Nguyễn Cang
May 9, 21

Thứ Hai, 5 tháng 4, 2021

Nối Mùa Say!


Bài xướng:

Nối Mùa Say!

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.

(Tung Hoành trục khoán&Giao cổ đối)

THUYỀN cập bờ đưa khách mỗi ngày
AI người kết cỏ nối mùa say ?
ĐẬU cung lộ vắng,sương mờ mịt
BẾN rạt rào,neo giấc mộng gầy
SÔNG hững hờ trôi cùng góc bể
TRĂNG vàng võ dọi cuối chân mây
ĐÓ còn giữ vẹn câu nguyền ước
CÓ CHỞ TRĂNG VỀ KỊP TỐI NAY?!

Thích Thiện Thông
***
Thuyền Trăng

(Giao cổ đối)

THUYỀN nhỏ đón đưa khách suốt ngày

AI chiều bờ bãi đến mê say
ĐẬU ghềnh̀ đêm vắng, trời sương phủ
BẾN sóng chao, xua ánh nguyệt gầy
SÔNG ngậm gương nga lồng lộng bóng
TRĂNG chìm đáy nước lặng lờ mây
ĐÓ đang mời mọc Hằng Nga tới
CỐ CHỞ TRĂNG VỀ KỊP TỐI NAY

Mỹ Ngọc

***
Nối Mùa Say

(Tung Hoành trục khoán&Giao cổ đối)

THUYỀN cặm sào trông chẳng quản ngày
AI đành hờ hững lỡ đường say
ĐẬU dòng thanh tục ngàn lau phủ
BẾN đợi mùa trôi bóng nguyệt gầy
SÔNG gửi tâm tình về biển cả
TRĂNG hoài thả mộng với ngàn mây
ĐÓ hay nhắc chuyện câu thề ước
CÓ CHỞ TRĂNG VỀ KỊP TỐI NAY ?!

Chu Hà
***
Thuyền Và Trăng


THUYỀN đợi bờ đông nắng cuối ngày
AI người ôm trọn giấc mơ say
ĐẬU chờ nguyệt khuyết, cung hò hẹn
BẾN dạt dào, ươm dệt tóc gầy
SÔNG lững lờ trôi, dòng nước biếc
TRĂNG sao khuya, lấp lánh giăng mây
ĐÓ đây vẳng tiếng câu đò lỡ
CÓ CHỞ TRĂNG VỀ KỊP TỐI NAY?

Nguyễn Cang

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2020

Hồi Ức: Việc Học Hành Thi Cử Của Tôi


Đọc những trang blog bạn bè, thỉnh thoảng tôi bắt gặp những hình ảnh, văn bằng, học bạ, chứng chỉ của bạn in ra, tôi thật ngưỡng mộ, thích thú như thấy hỉnh ảnh của chính mình thuở còn đi học. Ngày nay tuổi đã xế chiều tôi cũng muốn ôn lại những kỷ niệm thời đi học, những tháng ngày miệt mài học hành thi cử, có khi thức trắng đêm để ôn bài cho kỹ, sáng mai vào trường thi. Có bạn còn giữ nguyên học bạ từ tiểu học cho tới trung học, thật là may mắn! Nhìn học bạ ta có thể hiểu được lúc ấy ta học ra sao qua lời phê của thầy cô dạy lớp. Sự phê bình của thầy cô rất quan trọng, nhất là thầy chủ nhiệm, có thể ảnh hưởng quyết định cuộc đời của học sinh. Nói tới đây tôi lại nhớ tới một người bạn tên P. ( hiện ở Mỹ), anh học giỏi nhưng vì xích mích, hiểu lầm với thầy giáo trẻ dạy Đệ Nhị B vừa là Giáo Sư Hướng Dẫn của anh, khi hai thầy trò cùng có cảm tình với một nữ sinh của trường. Anh cứ tưởng mọi việc rồi cũng đi qua không ngờ khi đậu xong tú tài I, anh chuyển về Sài Gòn xin vô Petrus Ký (vì lúc đó Trung Học công lập Tây Ninh chưa mở Đệ Nhất), trường từ chối vì anh bị giáo sư phê là "học trò vô phép, vô kỷ luật, vô đạo đức". Tới chừng đó anh mới ngã ngửa, không ngờ thầy lại phê như thế! Anh ôm mối hận trong lòng đành ra học trường tư, tốn nhiều tiền nhưng biết làm sao? Năm đó anh đậu dễ dàng Tú Tài II ( năm 1961).


Cá nhân tôi không giữ được học bạ trung học, chỉ còn học bạ trường Sư Phạm Sài Gòn.
Nhìn học bạ tôi bùi ngùi xúc động, nó theo tôi 55 năm, bây giờ mới mở ra xem! Tôi đọc kỹ lời phê và nhận xét của thầy. Nói chung việc học của tôi không đến nổi tệ. Có những tờ giấy ố vàng màu xám xịt, rách lưa tưa, chữ in lem luốt mờ nhạt, khó nhìn ra chữ. Tôi đọc tên từng thầy nhớ từng cử chỉ, lời nói của thầy. Kỷ niệm ngày xưa hiện ra trước mắt. Năm thứ hai, việc học của tôi sa sút không thể tưởng: bị đuổi khỏi nhà trọ vì thiếu tiền, chạy tới chạy lui, tôi không còn tinh thần để tiếp tục học, tôi muốn bỏ cuộc. Nghèo đói bịnh tật, tinh thần sa sút hẳn. Còn lại độ nửa năm mà tôi đuối sức, tôi phải tính cách khác: tự nấu cơm ăn với rau muống mỗi ngày. Trong lớp 44 học sinh cuối năm tôi đứng thứ 40! Thi ra trường nhờ tôi làm trúng câu hỏi phân tích cú pháp một câu cho sẵn (lâu rồi không nhớ): Tôi nói đúng được chủ từ, động từ, túc từ và nhiệm vụ theo văn phạm Việt Nam (túc từ: bổ nghĩa cho động từ). Sách nhà trường, cuốn “Sơ Thảo Ngữ Pháp Việt Nam” không nói rõ phần nầy, chỉ bàn nhiều về phát âm học và khả năng kết hợp các “từ” trong câu (giống sách của học giả Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê). Còn tôi đọc thêm sách “Văn Phạm Việt Nam” của Bùi Đúc Tịnh nên trúng tủ câu nầy! Kết quả tôi đậu hạng 180/344. Hú hồn! tưởng đậu hạng chót đi dạy Cà Mau, Bến Hải!


Nói về kỳ thi vào Đệ Thất trường công năm 1955, tôi thật may mắn nên đậu ngay khóa đầu tiên của trường mới vừa mở. Năm ấy đang học lớp Nhất (lớp Năm bây giờ) trong giờ học, người bạn tên Hai ngồi cạnh tôi kéo ra cuốn sách “147 Đề Thi Đệ Thất" của tác giả Bùi Văn Bảo, tôi ngạc nhiên thích thú. Vốn con nhà nhèo, tôi không hề có một quyển sách để đọc, chỉ học bài trong lớp mà thôi, hơn nũa ba tôi là một công nhân thường, hồi nhỏ do hoàn cảnh nên không tới trường như những đứa trẻ khác do đó ba tôi không biết gì về chuyện học hành của con cái, nói chi tới việc mua sách luyện thi. Tôi mừng trong bụng nên năn nỉ bạn cho mượn sách một tuần để chép bài thi. Bạn từ chối, tôi năn nỉ tiếp, sau cùng bạn cho mượn một đêm, sáng mai nhớ trả nghen! Chiều hôm đó sau khi ăn cơm xong tôi chép bài suốt đêm không ngủ, tính ra được 10 bài. Từ đó tôi cứ luyện những đề thi đó, vậy mà hai tháng sau tôi thi đậu vào Đệ Thất! Còn Luận Văn và câu hỏi Thường Thức thì tôi chỉ trung bình, nhưng nhờ trúng bài Toán nên đậu hạng 80/120. Đề Toán tôi nhớ đại khái: Hai xe chạy ngược chiều, vận tốc xe 1 là 30km/giờ, xe 2 là 40km/giờ. Đoạn đường 170km, xe 1 khời hành lúc 8 giờ sáng, xe 2 khởi hành sau xe 1 là 1 giờ. Hỏi khi gặp nhau mất mấy giờ, khoảng cách từ chỗ gặp tới A, B là bao nhiêu?


Lên Đệ Tứ, hoàn cảnh nhà tôi không có gì khá hơn, trái lại nhà đông con, lớn lên ăn nhiều nên càng hao tốn. Lúc nầy việc học trở nên khó khăn tôi cũng không có một quyển sách Toán Lý Hóa để luyện thi, ngoài chợ Tây Ninh cũng không có nơi nào bán sách. Cuối năm tôi thi rớt dễ dàng! Lúc nầy có vài đứa bạn thi rớt bị gọi đi quân dịch, ba má tôi sợ tôi đi lính trơn nguy hiểm nên cắn răng cho tôi xuống Sài Gòn ở đậu nhà người cô đường Nguyễn Thông để luyện thi trung học và Tú Tài I. Viết tới đây tôi càng thương ba má tôi đã vì con mà hy sinh vật chất, chịu đựng cam khổ lo cho tôi ăn học. Công ơn cha mẹ như trời biền, tôi chưa kip đền đáp thì song thân đã ra người thiên cổ! Dạo đó tôi nghe má tôi nói lương tháng của ba tôi chỉ có 750 đồng (năm 1960). Tôi ghi tên học trường tư thục Phan Sào Nam đường Trần Quý Cáp, bữa nọ sau khi đi học về, ngang qua trường Nguyễn Khuyến thấy quảng cáo sách luyện thi Trung Học Đễ Nhất Cấp môn Đại Số, tác giả Bùi Hữu Đột. Tôi ghé vào mua ngay quyển nầy. Mừng hết sức! Tôi cần thêm một quyển toán Hình Học mà không biết ở đâu bán? Một tháng sau, lúc trời vừa tối, tôi đạp xe xuống trường, thằng tới tư thục Trường Sơn, bất ngờ tôi thấy người ta đổ một đồng sách báo bên lề đường bán “xôn” thật rẻ. Tôi ghé vào ngồi xuống lựa, thấy quyển “Toán luyện thi Trung Học Đễ Nhất Cấp môn Hình Học”, tôi mua ngay rồi vội vã quay về để đọc sách. Đã quá! Toàn là những đề thi toàn quốc từ hơn 20 năm qua thật đặc sắc mà tôi chưa từng nghe nói. Tất cả 100 bài! Lạ nữa là sách in tại Hà Nội sao lại bán xôn trong Nam? Có hai ”bửu bối” trong tay, tôi ôn luyện hằng ngày, cuối năm thi đậu dễ dàng. Thi Tú Tài I không có gì đáng nói. Tú Tài II mới gay go.


Chương trình Tú Tài II ban Toán rất nặng, tôi không có tiền mua sách vở, phải đợi khi ra trường, đi dạy tôi mới có tiền mua đủ bộ sách Toán Lý Hóa luyện thi. Tú Tài II tôi nộp đơn thi khóa 2 (1966) với tư cách thí sinh tự do, khi đậu viết thì phải qua kỳ vấn đáp, thật hồi hộp. Năm đó tôi thi vấn đáp tại trường Petrus Ký Sài Gòn. Cuộc thi bắt đầu 8:30 sáng, nhà tôi cách trường 300m (đường Trần Bình Trọng, sau trường Sư Phạm Thực Hành), không hiểu tại sao tôi cứ đinh ninh rằng cuộc thi bắt đầu 9:00 sáng, mà chủ quan không xem lại phiếu báo danh, nên tôi tới trễ nửa giờ! Cửa trường khép kín, quấn bằng dây lòi tói, khóa bằng ống khóa to tổ bố không cách nào lách vào được. Tôi hoảng hồn la inh ỏi, không ai ra mở cửa, bất chợt ông lao công từ phía trong bước ra hỏi tìm ai? Tôi trả lời: "đi thi vấn đáp!". "Sao giờ nầy mới tới? Thầy cô về hết rồi!". Tôi tá hỏa tam tinh. Khóa nầy mà rớt thì coi như xong, phài đợi sang năm thi lại từ đầu! Tuy nói thế nhưng ông vẫn mở cửa cho tôi vào (sau khi tôi trình giấy báo danh). Tôi phải cám ơn ông rất nhiều vì nếu ông không mở cửa thì tôi đành chịu vì lỗi tại tôi, và thêm cái may nữa là thầy giám khảo vẫn còn ngồi tại lớp đợi tôi.


Tôi không biết phòng thi ở đâu? Trường rộng quá lại có lầu, tôi chạy giáp vòng tầng dưới, không thấy phòng, mất 10 phút mệt lả. Tôi tìm đường lên lầu, chạy nửa vòng thì gặp phòng thi, tôi nhìn thấy ông thầy đi tới đi lui một mình, bên dưới không còn một thí sinh nào hết! Thầy nghiêm mặt hỏi tôi sao tới trễ , 5 phút nữa mà tôi không tới thì thầy đi về! Tôi xin lỗi rồi ngồi xuống bàn đợi thầy hỏi bài (môn Pháp Văn). Thầy đưa sách bảo tôi đọc một đoạn, xong hỏi: Ông Pasteur tìm ra được gì? Tôi đáp: "thuốc ngừa bệnh chó dại". Thầy hỏi tiếp: "Còn gì nữa?" Tôi ú ớ…thầy nói: "Thuốc ngừa bệnh đậu mùa!" Thầy hỏi thêm: "Hằng ngày gọi là gì?" Tôi đáp: "Au jour le jour."  "Còn cách nói khác?" Tôi ú ớ…Thầy nói:" journal". 
Xong rồi! Tôi lật đật chạy qua phòng kế bên thi tiếp môn Toán, nhưng phòng trống trơn! Đàng kia có một thầy vừa trong phòng bước ra, tôi chạy theo xin thầy cho thi, thầy quay vào lớp bảo tôi ngồi đó, đưa giấy cho tôi làm bài.
Hình Học: Câu 1/ Conic là gì? Cho ví dụ mỗi thứ, vẽ hình minh minh họa. Câu 2/ Hình vẽ sẵn, hãy trả lời: nghịch đảo tiếp tuyến là gì? Nghịch đảo vòng tròn là gì? Đáp: Nghịch đảo của tiếp tuyến là vòng tròn và ngược lại.
Đại Số câu 1/ Tính đạo hàm của hàm số dạng y=u/v. Câu 2/ tính nguyên hàm của hàm số y=2x( mũ 3)+3x( mũ 2). Tôi làm 10 phút thì xong, đưa bài cho thầy.
Ra về nghe lòng thanh thản, nhẹ tưng nhưng lại lo không biết có pass nổi môn Pháp Văn không? Chuyện nầy kể lại cho bạn bè nghe có người ngờ vực cho rằng tôi nói dóc! Làm gì có chuyện đi thi trễ giờ? Làm gì mới có nửa giờ mà tan học? (ông lao công nói vậy, chứ thực tế thầy vẫn còn ngồi trong lớp, chưa ra về). Xin thưa: hội đồng thí sinh tự do dành cho người lớn công chức, quân nhân, họ đi thi cốt nghỉ phép, ít người thi lấy bằng cấp vì họ không có thì giờ ôn luyện, nhưng Bộ Giáo Dục vẫn phải tổ chức cuộc thi, một hội đồng dành riêng cho họ. Kỳ đó hội đồng thi đậu có 10 người thôi bà con ơi! cho nên giám khảo chỉ mất nữa giờ là xong! May mắn kỳ đó tôi thi đậu (còn giữ văn bằng làm kỷ niệm).


Năm 1967 tôi bị động viên đi Thủ Đức. Năm 1969, biệt phái về dạy học, năm 1970 thi đậu chứng chỉ Khả Năng Sư Phạm Trung Cấp Sài Gòn (đề thi gồm ba bài viết, bài 1: Luận Văn, bài 2: Sư Phạm lý thuyết, bài 3: Sư Phạm thực hành, cho trước một bài thơ, dựa vào đó soạn một bài lên lớp. Không có thi vấn đáp) cải ngạch giáo sư, dạy trung học, tôi ghi danh học Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, đậu Cử Nhân năm 1973. Tôi thích nhất là Văn Chương Việt Hán nên theo học chứng chỉ nầy, đậu năm 1974. Tôi đã học với các thầy: Trần Trọng San, thầy trích một phần trong Tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du để dạy sinh viên, nhiều nhất là trích từ Thanh Hiên Thi Tâp. Thầy vừa giảng vừa đọc cho sinh viên chép. Xin nói thêm về nội dung các phần nầy như sau:

Cùng với kiệt tác Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du còn để lại ba tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục. Các thi tập này không chỉ góp phần làm nên diện mạo thơ ca trung đại mà còn là nguồn tư liệu giúp chúng ta tìm hiểu thế giới nội tâm của chính tác giả.
1. Thanh Hiên Thi Tập (清軒詩集, Tập thơ Thanh Hiên) chứa đựng tình cảm quê hương thân thuộc, có khi ốm đau mà chẳng thuốc thang gì, có lúc đói rét phải nhờ cậy vào lòng thương của người khác. Tâm sự của tác giả trong thời kỳ này là một tâm sự buồn rầu, có khi chán nản, uất ức…
2. Nam Trung Tạp Ngâm (南中雜吟, Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) là tập thơ chữ Hán thứ hai (sau Thanh Hiên thi tập) của Nguyễn Du (阮攸, 1765 – 1820), một nhà thơ rất nổi tiếng của Việt Nam.
3. Bắc Hành Tạp Lục (北行雜錄, Ghi chép tản mạn trên đường đi sứ phương Bắc) là tập thơ bao gồm 131 bài thơ chữ Hán do Nguyễn Du sáng tác trong khoảng thời gian ông dẫn đầu đoàn sứ bộ nhà Nguyễn sang Trung Quốc từ đầu năm Quý Dậu 1813 đến đầu năm Giáp Tuất 1814. Đây là một tập thơ nói lên lòng thương cảm sâu xa những người trung nghĩa bị hãm hại, những người tài hoa bị vùi dập, những người lao động cùng khổ bị đói rét cùng nỗi khinh ghét giới thống trị kiêu căng và tàn bạo, được Nguyễn Du nói lên bằng những vần thơ hết sức sâu sắc.

Thầy Bửu Cầm: Dáng thầy gầy, cao lêu khêu, trưởng ban Văn Chương Việt Hán, thầy đi dạy bằng xe xích lô đạp, chở đến trường, bất kể nắng mưa gì thầy cũng mang theo cây dù thật to. Thầy phụ trách môn Chữ Nôm và Văn chương kháng chiến chống quân Minh. Cụ thể thầy giảng “Bài Ca Côn Sơn” (Côn Sơn Ca) nguyên tác chữ Hán, được Nguyễn Trãi sáng tác trong thời gian ông bị chèn ép, đành phải cáo quan về sống ở Côn Sơn. Thỉnh thoảng thầy trích dẫn những bài thơ cổ bằng chữ Hán từ quyển Hoàng Việt Văn Tuyển.
Thầy Nguyễn Khuê: dạy văn học đời Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, thầy chép bài xong trên bảng rồi bắt đầu giảng. 
Thầy Phạm Văn Diêu: dạy văn học đời Trần, tác phâm tiêu biểu Trần Nguyên Đán. Thầy đang soạn sách Văn học đời Trần gồm 3 quyển chép tay dày cộm. Vào lớp thầy bảo một sinh viên sành chữ Hán chép bài trên bảng, rồi thầy đi đâu đó hoặc uống cà phê dưới câu lạc bộ Sinh Viên, độ một tiếng đồng hồ thầy quay lại lớp giảng bài , trước hết phiên âm chữ Hán sau đó dịch nghĩa, giảng bài . Hai phần đầu thầy nói nhanh lắm không cách nào ghi kịp, Sinh Viên phải phân công mỗi người ghi một câu, sau cùng ghép lại thành bài.Sinh Viên chép bài trên bảng mà sai thì thầy bảo Sinh Viên đó lên bảng sửa lại, tôi không hề thấy thầy cầm phấn viết một chữ Hán trên bảng! 
Thầy Nghiêm Toản: dạy những tác phẩm cổ bằng chữ Hán trong văn học Việt Nam.
Còn vài thầy nữa mà tôi không nhớ tên.
Trong các chứng chỉ theo học tôi thấy chứng chỉ nầy là khó nhất, mình vừa luyện chữ Hán vừa học bài, trong nhà tôi lúc nào cũng đầy giấy nháp chữ Hán!


Sau khi miền Nam thất thủ, tôi trình diện đăng ký diện sĩ quan chế độ cũ ở Nhà Bè. Chị “Út Tịch” mặc đồ đen, tuổi độ 30, khăn rằn quấn quanh cổ, đi tới đi lui đôn đốc cán bộ điều tra lấy lời khai, thu giữ giấy tờ anh em chế độ cũ. Tôi đoán quân hàm của chị chắc cũng khá cao. Chị có một cái túi rút đựng mộc đóng dấu và mực in bỏ vào túi áo, khi nào cần chị lấy ra, đóng dấu rồi cất vào ngay, hình như chị sợ người ta lấy cắp cái mộc đó, nên chị rất cẩn thận. Tôi đang đứng sớ rớ đầu nầy bỗng chị gọi lại, bảo đưa giấy tờ cho chị xem. Chị hỏi: "Thẻ căn cước quân nhân đâu? Quân hàm gì?" ( ngày 30/4/75 khi bộ đội tiến vào thành phố, bà xã tôi gom hết giấy tờ của tôi, căn cước quân nhân đem đốt sạch). Tôi hết hồn ú ớ: "dạ …lúc lộn xộn đánh mất rồi!".  Chị nghiêm giọng: "Giỡn mặt với cách mạng hả? vừa là quân nhân, vừa là giáo sư, vừa là sinh viên, ai tin?" Tôi cãi lại: "Thật mà! tôi dạy học, là thầy giáo!".  Chị bỏ đi một lát rồi quay lại nói: "Tôi cho anh về lấy giấy chứng minh anh là thầy giáo, còn học thêm đại học, rồi trình diện tôi". Tôi vội vã đạp xe thật nhanh về nhà, lục trong tủ kiếm thêm giấy tờ, lấy tờ chứng chỉ Văn Chương Việt Hán đậu năm 1974, quay lại chỗ cũ Nhà Bè, cách nhà độ 8 cây số, may là còn gặp chị, tôi đưa giấy tờ cho chị xem, cố giải thích đây là giấy tờ chứng tỏ tôi đang theo học tại Văn Khoa. Chị ghi trong một tờ giấy, chứng nhận tôi có trình diện tại Nhà Bè rồi lấy mộc ra đóng dấu. Tôi nhận giấy, lòng mừng khôn tả. 

Hôm nay hơn nửa đời người, tôi đâu có màng chứng chỉ nầy chứng chỉ nọ, nay lục lại thấy mất tờ chứng chỉ đó, tôi chợt nhớ ra đã nộp bản chánh cho chị Út Tịch cách nay gần nửa thế kỷ mà dạo đó vì gấp rút tôi không kịp copy bản sao, làm sao đòi chị Út đây hỡi trời!

Nguyễn Cang 
(August 15, 2020)

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2020

Melbourne Vào Đông - Quan San Cách Biệt - Tình Nhớ



(Ảnh: Kim Oanh)

Xướng:

Melbourne Vào Đông 

Melbourne vừa mới bước vào đông
Cái lạnh cắt da buốt cả lòng
Hiu hắt hàng cây trơ trụi lá
Một mình lặng lẽ chỉ hoài trông...!

Yarra con nước lửng lờ trôi
Có thấu tình riêng những ngậm ngùi
Cảnh vật lặng im lòng dậy sóng
Nhớ người biết đến thuở nào nguôi...!


Kim Oanh
ĐôngMelbourne 2020
***
Bài Họa:

Quan San Cách Biệt


Bên ni cuối hạ, nớ sang đông
Xa cách nhau chi buốt cả lòng
Hai kẻ hai đầu Nam với Bắc
Chim trời dõi bóng vợi vời trông

Dưới sông, sóng lượn cứ trôi trôi
Bóng lẻ cô đơn luống luống ngùi

Sóng nước trời mây, đời cách biệt
Buồn ơi! buồn biết mấy! nào nguôi?


Sao Khuê
***
Tình Nhớ

Sương rơi phớt nhẹ nắng tàn đông
Man mác hoàng hôn tím buốt lòng
Sáo đã sang sông đò lỡ chuyến
Thương người ở lại mỏi mòn trông

Tháng năm biền biệt lạnh lùng trôi
Kẻ đợi bên ni luyến tiếc ngùi
Hoa bí úa vàng, gây nỗi nhớ
Bao năm tình lỡ dạ nào nguôi?!


Kim Dung
(15/8/2020)

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2020

Nhớ Gò Công

(Riêng tặng “người Gò Công”, với những địa danh thân thương còn in dấu)



Thương về em gái đất Gò Công
Màu mắt thơ ngây má ửng hồng
Những buổi trưa hè tan lớp học
Đón em cho thỏa nỗi chờ mong

Dòng sông uốn khúc nắng chang chang
Long Chiến* qua cầu vội bước ngang
Từ đó hai dòng đời cách biệt
Thôi rồi tan hết giấc mơ vàng…

Những lần hò hẹn Ao Trường Đua*
Phố vắng đường khuya tiếng guốc khua
Tà áo ai bay vương nắng hạ
Phất phơ trong gió lạnh giao mùa

Nhớ những chiều xuân trên phố vắng
Một mình ngồi uống tách cà phê
Lặng nghe tiếng hát hờn vong quốc
Chinh chiến hành nhân mấy kẻ về?

Trường cũ ơi, môi hồng tuổi ngọc
Tiễn em đi mấy nẻo đường quê
Để Tân Tây* nhớ màu hoa nắng
Gọi mãi tên người giấc ngủ mê

Mưa đổ Cầu Tàu* qua Bến Bắc*
Bãi Bùn Đen* , nước đỏ phù sa
Theo ta gặm nhấm hồn xa xứ
Vẫn đợi sang sông những chuyến phà

Thuyền ai tách bến xuôi Bao Ngược*
Xào xạc ven bờ mấy bụi lau
Bìm bịp giã chài kêu nước lớn
Giục lòng lữ khách thấy nao nao

Đò hỡi đưa ta về chốn cũ
Để ta thăm lại chiến trường xưa
Nhỏ đôi dòng lệ thương người mất
Đốt nén hương lòng thỏa ước mơ

Kỷ niệm cũ giờ đây mờ ký ức
Bể dâu từng mảnh rớt đời tan
Đừơng trần gian khổ thương ai khóc
Vạt nắng chiều tàn, lệ chứa chan!

Thuyền nhỏ chồng chềnh con nước lớn
Đón ta đi Chợ Mới Gò Công*
Thăm trường cũ, viếng lăng Trương Định*
Có còn ai đứng đợi bên sông?!


Kim Dung
(August 18, 2020)


Thứ Tư, 12 tháng 8, 2020

Đọc Thơ Dạ Vũ Của Trần Minh Tông - Thu Vũ Của Hồ Xuân Hương - Thính Vũ Của Nguyễn Trãi


Xin giới thiệu cùng độc giả ba bài thơ nói về MƯA là MƯA ĐÊM, MƯA THU, NGHE MƯA của ba thi nhân Việt Nam thuộc ba thế hệ khác nhau mà trong đó tâm sự của ba người có những điểm giống và khác nhau.

Cả ba bài thơ đều nói về “Mưa” và bày tỏ tâm sự của mình. Người thứ nhất là vua Trần Minh Tông (陳 明 宗) tên húy là Trần Mạnh (陳奣), sinh năm 1300, mất 1357. Người thứ hai là bà Hồ Xuân Hương (chữ Hán:胡春香, 1772 – 1822) là một nữ sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, mà tiểu sử của bà, tới nay, vẫn còn nhiều tranh cãi. Tác phẩm để lại hoàn toàn là thơ, trong đó phần chữ Nôm mà phẩm chất tốt đẹp cần nghiên cứu kỹ.

Bài thơ thứ nhất có tựa là Dạ Vũ (Mưa Đêm) của vua Trần Minh Tông , là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, được sáng tác, 30 năm sau nghi án giết oan cha vợ là Trần Quốc Chẩn. Thời điểm sáng tác vào khoảng năm 1356 nhân dịp ngài về thăm đền thờ Trần Quốc Chẩn, huyện Chí Linh, lúc nầy ngài đã trở thành Thái thượng hoàng. Năm sau ngài mất, từ đó nhà Trần bắt đầu suy vi.
“Dạ Vũ” (Mưa Đêm) là bài thơ trữ tình, mang đậm nét suy tư trầm buồn của một vị vua trong cảnh đêm mưa thu sắp tàn.

Bài thứ hai có tựa là Thu Vũ (秋 雨): Mưa Thu của Hồ Xuân Hương (胡春香, 1772–1822) là một thi sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, Hồ Xuân Hương sáng tác bài nầy khi nghe tin Nguyễn Du bị bệnh nặng hơn 3 tháng (Tam xuân tích bệnh bần vô dược/ Táp tải phù sinh hoạn hữu thân) mà không thang thuốc vì nghèo không tiền! Nàng động lòng trắc ẩn mến thương, viết bài thơ để đáp lại bài “Thu Dạ” của Nguyễn Du. Bài thơ nguyên tác bằng chữ Hán, làm theo thể thơ Đường gồm 7 chữ, 8 câu nhưng được “cách tân” cho phù hợp với phong cách thơ văn Việt Nam. Trong sự nghiệp văn chương đồ sộ của bà, sáng tác hầu hết bằng chữ nôm, còn thơ chữ Hán rất ít chỉ độ 10 bài. Mặc dù thơ chữ Nôm nhưng hình thức thì theo thể thơ Đường như đã trình bày ở trên.
Trời thu ảm đạm, mây trời bao la khói sương mù mịt, mưa thu tí tách trên sân vắng, rơi nhặt thưa trên tàu lá chuối nghe buồn làm sao! Nàng (HXH) ngồi một mình trong phòng vắng nghe tiếng mưa rơi lòng buồn ảo não, nhớ người yêu Nguyễn Du , giờ nầy không biết ra sao, tình xa vạn dậm biết bao giờ gặp lại? Ngâm xong bài thơ “Thu Dạ”nàng bàng hoàng ngẩn ngơ, nhớ ơi là nhớ!

Bài thứ ba Thính Vũ của Nguyễn Trãi 阮廌 (1380-1442) hiệu Ức Trai là một nhà thơ nổi tiếng cũng là một nhà chính trị. Thơ Nguyễn Trãi có phong thái của một bậc anh hùng có chí khí bản chất thoát vòng danh lợi. Những bài thơ chữ Hán của ông điêu luyện về ngôn ngữ và thể hiện tinh thần Nho giáo.
“Thính Vũ” là một bài thơ chữ Hán đầy tình cảm bộc lộ tâm tư của tác giả bắt đầu là cảnh trời mưa, trong gian phòng u tối tịch mịch, thi nhân là khách trọ đã thức thâu đêm một mình trong căn phòng vắng vẻ u tối nghe tiếng mưa rơi tâm trạng bồn chồn, như chưa thực hiện một hoài bão lớn, một trách nhiệm nam nhi nợ nước thù nhà, tiếng trúc khua tiếng chuông chùa hoà âm điệu làm cho nỗi buồn càng chất ngất thức thâu đêm, ngoài trời mưa rỉ rả lúc to lúc nhỏ, ngâm thơ vẫn không sao ngủ được đến sớm mai ( Hương Lệ Oanh)
***
Bài thứ nhứt: Dạ Vũ


Nguyên tác:
夜雨

秋氣和燈失曙明
碧蕉窗外遞殘更
自知三十年前錯
肯把閒愁對雨聲

(陳 明 宗)
***
Phiên âm Hán Việt:
Dạ vũ

Thu khí hòa đăng thất thự minh,
Bích tiêu song ngoại đệ tàn canh.
Tự tri tam thập niên tiền thác,
Khẳng bả nhàn sầu đối vũ thanh.

Trần Minh Tông
***
Dịch nghĩa:
Mưa đêm

Hơi thu hòa cùng ánh đèn làm mờ đi ánh sáng ban mai.
(Giọt mưa rơi) trên tàu chuối xanh ngoài song cửa (tí tách) tiễn canh tàn.
Tự biết ba mươi năm trước ta đã lầm lỗi,
Nay đành ôm hận mối sầu mà nghe tiếng mưa rơi.

Dịch thơ:
Mưa Đêm

Thu nhạt trăng mờ,buổi sớm mai
Bên song tàu chuối tiễn canh dài
Ba mươi năm trước,ta lầm lỡ
Ôm hận nghe mưa, đếm giọt rơi.

Nguyễn Cang
***
Bài thứ hai, Thu Vũ


Nguyên tác:

秋雨

天隔雲陰慘不明
蕭蕭秋雨落閒庭
短長枯樹枝頭淚
舒急黃蕉葉上聲
吟斷低迷千里夢
愁牽寥落五更情
深閨最苦如花面
一片愁容畫不成.
(胡春香)
***
Phiên âm Hán Việt:
Thu Vũ

Thiên cách vân âm thảm bất minh,
Tiêu tiêu thu vũ lạc nhàn đình.
Đoản trường khô thụ chi đầu lệ,
Thư cấp hoàng tiêu diệp thượng thanh.
Ngâm đoạn đê mê thiên lý mộng,
Sầu khiên liêu lạc ngũ canh tình.
Thâm khuê tối khổ như hoa diện,
Nhất phiến sầu dung hoạ bất thành.

Hồ Xuân Hương
***
Dịch thơ:
Bản 1: Ngân Triều diễn thơ, Mưa Thu:
Mưa Thu

Mây mù ảm đạm, mây mông mênh
Tí tách mưa thu, sân vắng tanh.
Cây chết đầu cành, rơi những lệ,
Mưa khua tiếng chuối, tiếng trầm thanh.
Đọc thư thờ thẩn người xa cách,
Quạnh vắng sầu giăng suốt ngũ canh.
Đắng lắm khuê phòng hoa héo hắt,
Nỗi buồn se thắt vẽ không thành.

Ngân Triều
***
Bản 2: Nguyễn Cang dịch thơ, Mưa Thu:
Mưa Thu

Trời mây sầu thảm ngập mông mênh
Tí tách mưa thu, sân vắng tanh
Cây chết, vắn dài cành nhỏ lệ
Mưa rơi tàu chuối tiếng trầm, thanh
Thơ ngâm dứt đoạn, sầu ly biệt
Khắc khoải u hoài thức trắng canh
Vò võ khuê phòng hoa héo úa
Sầu riêng một mảnh mộng không thành!

Nguyễn Cang (15/10/2017)
***
Bản 3: Hương Lệ Oanh dịch thơ:
Mưa Thu

Mây trời buồn thảm ngập chiều hoang,
Sân vắng mưa thu rớt nhẹ nhàng.
Cây chết cành khô rơi giọt lệ,
Mưa trên tàu chuối dội âm vang.
Thơ ngâm đứt đoạn sầu hiu quạnh,
Thức suốt canh trường lệ chứa chan!
Khắc khoải khuê phòng hoa héo hắt,
Sầu tư nặng trĩu vẽ không an!

Kim Oanh - Hương Lệ Oanh
***
Bài thứ ba, "Thính Vũ" của Nguyễn Trãi


Nguyên tác và phiên âm:

聽雨 Thính Vũ

寂寞幽齋裏 Tịch mịch u trai lý
終宵聽雨聲 Chung tiêu thính vũ thanh
蕭騷驚客枕 Tiêu tao kinh khách chẩm
點滴數殘更 Điểm trích sổ tàn canh
隔竹敲窗密 Cách trúc xao song mật
和鐘入夢清 Hòa chung nhập mộng thanh
吟餘渾不寐 Ngâm dư hồn bất mị
斷續到天明. Đoạn tục đáo thiên minh

阮廌              Nguyễn Trãi
***
Dịch nghĩa:
Nghe Mưa

Trong thư phòng, vắng vẻ tối tăm,
Suốt đêm nghe tiếng mưa rơi
Buồn áo não, làm kinh động gối khách,
Giọt mưa tí tách suốt mấy canh tàn.
Cách bụi trúc, tiếng khua nhặt đập vào cửa sổ,
Hòa lẫn với tiếng chuông vẳng vào trong giấc mộng.
Ngâm vịnh mãi rồi vẫn không ngủ được,
Nghe đứt nối cho đến trời bình minh.

Dịch thơ:
Bản 1: Nguyễn Cang

Nghe Mưa

Tối tăm phòng vắng, lặng êm đềm
Mưa suốt năm canh chạnh ngóng thêm
Buồn bã giật mình, lay gối khách
Eo sèo mưa thấm, lạnh trời đêm
Gió khua bụi trúc vang khung cửa
Hòa tiếng chuông chùa khuấy mộng êm
Ngâm vịnh trở trăn thao thức mãi
Mưa đêm khoan nhặt sáng dần im!!!

Nguyễn Cang
***
Bản 2: Hương Lệ Oanh
Nghe Mưa

Thư phòng vắng vẻ càng u-tịch,
Thao thức nghe mưa tí tách ngoài.
Phơn phớt gió lùa lay gối khách,
Mưa rơi rả rích suốt đêm dài.
Mở lòng tiếng trúc khua cùng gió,
Hoà nhịp chuông ngân giấc mộng lay.
Ngâm vịnh vẫn không sao ngủ được,
Tiếng mưa thưa nhặt đến ban mai.

Hương Lệ Oanh
Virginia

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2020

Hoa Tím Bằng Lăng


(Viết để tặng một người)

Xa lộ băng ngang, bằng lăng nở rộ
Hoa tím nhạt nhòa ôn kỷ niệm xưa
Năm tháng lạc loài, đất lạ gió mưa
Nhưng vẫn nhớ bóng bằng lăng hoa tím...

Trước nhà em, hoa trúc đào đỏ lịm
Cạnh bờ rào tỏa bóng mát bằng lăng
Ngày đi học chân sáo nhảy tung tăng
Em đứng đợi dưới gốc bằng lăng tím

Dáng em thơ như con chim sẻ nhỏ
Nhặt bằng lăng đem trái chín tặng tôi
Mùi thơm nồng, thấm vị ngọt trên môi
Vui hớn hở tay trong tay đến lớp

Bỗng một hôm tôi phải đành giã biệt
Xa quê nghèo xa cả bóng em thơ
Hoa tím bằng lăng khuất nẻo sương mờ
Nhưng vẫn mong có một ngày gặp lại

Mười năm lẻ, tôi trở về làng cũ
Cảnh vật tiêu điều mất dấu vết xưa
Chỉ trơ lại cây bằng lăng xơ xác
Lòng ngỡ ngàng nghe man mác giữa trưa

Tôi đứng lặng, ngậm ngùi trong thương nhớ
Bằng lăng hoa tím nay biết về đâu?
Chiều bâng khuâng tím cả cánh Rừng Dầu*
Nghe cay đắng ôm mối sầu chất ngất !

Nơi đây, xứ người, thấy bằng lăng tím
Chợt nhớ về em gái nhỏ ngày xưa...

Kim Dung 
(22/7/2018)
Rừng Dầu*: tên một xã thuộc quận Bến Cầu tỉnh Tây Ninh.

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2020

Nụ Hôn Đầu




Cơn mưa chiều nhớ hoài trong ký ức
Tan trường về hai đứa bước song đôi
Cùng che chung một chiếc dù hoa tím
Mong mưa hoài mưa mãi chẳng chịu thôi

Mưa ngoài trời theo từng cơn gió thổi
Em thẹn thùng khép nép đứng bên tôi
Rồi ngước mặt nhìn lên cười e lệ
Tôi bàng hoàng cúi hôn vội bờ môi

Em ngượng ngùng mắt chớp nhanh không nói
Nét u buồn như hờn dỗi điều chi
Lòng bâng khuâng không biết nói năng gì
Tình vụng dại giờ vẫn còn đeo mãi!

Ôi, nụ hôn sao còn nghe nồng cháy
Nay dở dang ôm nỗi nhớ trong đời
Tình nghiệt ngã khiến chúng mình xa cách
Chốn cũ giờ em có thấy chơi vơi?

Ở nơi đây mỗi lần nhìn mưa đổ
Nghe nhớ thương cay đắng mối tình đầu
Hai hướng đời nay đã rẽ chia phôi
Vẫn nhớ mãi nụ hôn đầu, nuối tiếc!!!

Kim Dung
(Nhớ về em… mối tình đầu của tôi, NC)

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2020

Về Thăm Cai Lậy



(Hồi ức “Về thăm Cai Lậy” ( thuộc tỉnh Định Tường) năm 2016, nhớ chuyện xưa gặp lại người cũ năm 1969 . NC)

Từ Chợ Gạo tôi về thăm chốn cũ
Nắng hanh vàng còn đọng mấy hàng cây
Trên đồng xanh chim sáo hót gọi bầy
Như chào đón người xưa quay trở lại

Về Cai Lậy nghe trong lòng thư thái
Con phố buồn giở trở giấc xôn xao
Nghe đâu đây tiếng ai hát ngọt ngào
Tim rung động một thời thương và nhớ

Năm sáu chín hành quân ngang phố chợ
Bỗng thấy như quen biết một bóng hình
Đang ôm con âu yếm, đứng lặng thinh
Tôi bỡ ngỡ nhận ra người năm cũ

Người yêu đó một thời ta mất ngủ
Nhớ làm sao không viết nổi thành lời
Chôn chặt vào tim hồn lạc chơi vơi
Ôm mối tình đầu làm mờ trang sách...

Giờ, kỷ niệm chợt hiện ra trước mắt
Ta quen em trong một dịp tình cờ
Lúc tuổi em mười tám nét ngây thơ
Mang thương nhớ trao nhau tình vừa chớm

Mới quen đó mà yêu nhau thật sớm
Vội thăm em mỗi thứ bảy trưa hè
Vui mọi bề quên cả lối hàng me
Tình đã chín nhưng chưa lần ngỏ cưới

Hương yêu thắm nồng trắng màu hoa bưởi
Hẹn mai nầy khi tốt nghiệp vẻ vang
Đem trầu cau làm lễ rước rình rang
Nhưng bất chợt ta phải vào quân ngủ

Xếp nghiên bút trong lòng buồn ủ rũ
Mắt rưng rưng em hứa giữ lời nguyền
Nghe quanh đây bao hạnh phúc triền miên
Nhưng sau đó tháng dài thưa thư tín

Đang trận chiến tin nàng sang bến khác
Tôi bàng hoàng nghe cay đắng chứa chan
Đem thân gầy ném vào chốn nguy nan
Cho quên hết những ngày tràn lửa khói

Chiến trường ác liệt không còn lời nói
Khi Cẩm Sơn lúc ngược Mỹ Phước Tây
Ăn cơm gạo sấy uống nước sông đầy
Đêm trăng lạnh súng ghìm bên miệng hố

Bỗng gặp lại người xưa không đúng chỗ
Ta ngỡ ngàng đặt câu hỏi tại sao
Bỏ ra đi cho đau khổ nghẹn ngào
Nàng e ngại trả lời rằng “xin lỗi”

Về Cai Lậy nhớ những ngày đen tối
Hơn nửa đời người dong ruỗi sớm trưa
Bên kia sông nghe giọng hát đò đưa
Tim lắng đọng trong chiều mưa biền biệt!


Kim Dung 
 (30/5/2020)

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2020

Tình Bay Xa



Đếm thời gian, mấy ngón tay gầy
Phút chốc đi qua nào có hay
Chợt nhớ ngày xưa lời ước hẹn
Bao năm rồi gió cuốn mây bay!

Em là cô gái tuổi băng trinh
Áo trắng nữ sinh chưa vướng tình
Ta lính trận đôi lần nghỉ phép
Yêu người theo vận nước lênh đênh

Tình ta vừa mới chớm hương đầu
Lơ lửng thuyền tình biết tới đâu?
U ẩn mắt huyền sầu viễn xứ
Nghe lòng man mác cảnh bèo dâu

Trời chiều nhạt nắng bến cô liêu
Sông Cái Bè lờ lững hắt hiu
Bìm bịp ẩn mình kêu nước lớn
Nhớ thương nhiều bóng dáng em yêu

Lần cuối gặp nhau thề nguyện ước
Mai nầy đất nước hết đao binh
Ta xe duyên thắm không còn đợi
Tay nắm tay nhau đẹp vẹn tình

Nhưng rồi chinh chiến cũng qua đi
Trường cũ tìm em nào thấy chi
Ngơ ngác nhìn mây sầu lẻ bạn
Phương trời nào mỏi cách chim di?

Bây giờ lạnh buốt cõi không gian
Màu mắt thơ ngây tóc xõa ngang
Gom góp hương xưa vào bát cú
Ru hồn xao động thấu tâm can!


Kim Dung
10/2/2020

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2020

Tìm Em Ở Đâu?

(Ôn chuyện cũ: nhớ cô em học trò bé nhỏ T. Xuân, Trung Học Cái Bè thời chinh chiến trước 75... em "sang sông" lúc tuổi đời chưa vướng bụi trần, áo trắng trinh nguyên chưa phai màu mực tím. Con sông Cái Bè đưa em về Cai Lậy để lại bao tiếc thương cho bạn bè, thầy cô giáo và những chàng sĩ quan trẻ tuổi...)


Chiều hành quân, đơn vị qua sông
Dòng nước buồn thiu ngập cánh đồng
Quán nhỏ bên kia cầu sắt cũ
Thẫn thờ tôi đứng mỏi mòn trông

Trường em gần chợ, bến đò đưa
Thấp thoáng lầu cao dưới bóng dừa
Tan học em về vui hớn hở
Tôi chờ em suốt buổi trời mưa!

Rồi chiều thứ bảy thấy bâng khuâng
Muốn đến thăm em nữa một lần
Thương nhớ làm sao hình dáng ấy
Nghìn năm em đẹp nét thiên thần

Biến cố bảy lăm khóc ngậm ngùi
Tôi lui quân, bỏ tuyến về xuôi
Sóng xô thuyền vỡ đành ly biệt
Chẳng biết trần gian em có vui?

Mang mối tình si tôi bỏ đi
Tha hương lưu lạc có hơn gì?
Thương người ở lại sương khuya lạnh
Kỷ niệm bên trời tôi vẫn ghi

Chiều nay thuyền đỗ bến sông xưa
Tôi đứng bên cầu lúc giữa trưa
Quán nhỏ tìm đâu tên để gọi?
Mất em rồi giọt nắng đong đưa!

Em về đâu lối nào tìm thấy?
Phượng tím trường yêu còn ở đây
Sông Cái Bè rì rào sóng vỗ
Em đi rồi sao mắt tôi cay?

Ngập ngừng chân bước qua cầu sắt
Chốn cũ từ đây hết đợi chờ
Trường lớp còn in màu áo trắng
Trọn đời nhớ mãi dáng em thơ.


Kim Dung

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2020

Ngang Qua Trường Văn Khoa


( Đốt lò hương cũ, nhớ thời tuổi trẻ mộng mơ, tuổi biết yêu, biết nhớ , biết buồn. Riêng tặng các bạn đã một thời theo học đại học Văn Khoa Sài Gòn trước 1975)

Chiều phai nắng, bước ngang Văn Khoa (*)
Gió thổi từng cơn lướt thướt qua
Ái ngại dừng chân ngoài cửa lớp
Nghe lòng hoang vắng, giọt mưa sa!

Nầy đây lớp học cũ năm xưa
Quạnh quẽ im lìm buổi xế trưa
Phấn trắng bảng đen mờ cát bụi
Ngậm ngùi cay đắng nói sao vừa!

Bàn đầu cạnh bảng chỗ tôi ngồi
Còn những bàn kia bạn của tôi
Ghế trống còn đây người cách biệt
Giã từ chưa kịp nói nên lời

Thầy Diêu, Lịch, Lãng tìm đâu thấy?
Bạn hữu Linh, Hằng, còn đó không?
Hai mốt năm xa, giờ trở lại
Ai còn ai mất, nghẹn trong lòng.

Về đây, chân bước qua trường cũ
Lòng ngậm ngùi thầy bạn ở đâu?
Quanh quẩn tìm ai hồn lạc lõng
Nghe sao mặn đắng lạnh chìm sâu!

Chiều phai nắng bước ngang Văn Khoa
Mấy bóng hồng như những nụ hoa
Nũng nịu kiêu sa tà áo trắng
Chạnh lòng thương quá nhớ Văn Khoa!!!

Kim Dung
( 25/6/2017)

*Chú thích: Tên gọi trường “Đại Học Văn Khoa Sài Gòn” trước 1975, tọa lạc gần Thảo Cầm Viên.

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2020

Em Gái Văn Khoa


(Ảnh của Tác Giả)

Chiều thu nghiêng nắng đổ
Tôi lật trang sách xưa
Tấm hình cũ tìm thấy
Nhớ thương nói sao vừa!

Kỷ niệm thời đại học
Còn in dấu trong tôi
Nhạt nhòa dòng ký ức
Nay bất chợt quay về

Đây hình em Văn Khoa
Một thời yêu đã xa
Tâm tư buồn héo hắt
Chan chứa mắt lệ nhòa!

Dưới sân trường rộn rã
Dáng điệu em thướt tha
Mơn man tà áo trắng
Em thẹn thùng bước qua

Hè về hoa phượng nở
Ngồi kể chuyện buồn vui
Cố mai sau thi đỗ
Thầm mơ chuyện lứa đôi

Cơn bão đời bảy lăm
Tan giấc mộng trăm năm
Cuốn trôi bao mộng ước
Mất nhau lệ khóc thầm

Bốn mươi năm đổi đời
Dâu bể nói sao vơi
Có bao giờ em nhớ
Một lần nhắc đến tôi?

Em gái Văn Khoa ơi!
Bạn bè nay đâu rồi?
Bóng em còn in đó
Người thất lạc phương trời ?!

Nguyễn Cang
(30/7/2016)
Nhắn tin: Những em gái Văn Khoa từng học chung trường, ai còn nhận ra hình mình chụp năm 1972 xin lên tiếng. Xin đa tạ. Nguyễn Cang