Tôi rất đau thương báo cho các anh chị một tin rất buồn là Bác Sĩ Đinh Đại Kha, một đàn anh của tôi vừa qua đời, hưởng thọ 93 tuổi. ,
Bác Sĩ Đinh Đại Kha được các đồng nghiệp, các bạn hữu, các đàn em, các bệnh nhân của anh trong ngót 70 năm qua yêu mến và kính trọng vô cùng.
Anh Bác Sĩ Kha vào Trường Thuốc tại Hanoi cùng năm với các anh Hoàng Cơ Lân, Nguyễn Thế Minh, Phạm Văn Biểu, Trịnh Cao Hải, Bạch Đình Minh và anh BS Từ Uyên.
Các người này cũng qua đời nhiều năm nay, ngoại trừ hai anh Hoàng Cơ Lân và Từ Uyên.
Có lẽ anh Kha cũng có thể học cùng với anh Bác Sĩ Nguyễn Thế Huy hay là sau anh Huy một lớp.
Tôi ngưỡng mộ anh Bác Sĩ Kha từ lâu vì anh bao giờ cũng tính tình hôn nhiên, vui vẻ, tử tế với tất cả mọi người.
Anh Kha là người biết nhiều, hiểu nhiều và là tác giả nhiều tài liệu Y Khoa vô cùng giá trị, viết với 1 cách hành văn giản dị cho các người không phải bác sĩ cũng hiểu được.
Anh Bác Sĩ Kha dời khỏi quân đội, giải ngũ cũng sớm trong thập niên 60. Anh lên Dalat mua lại phòng mạch và bệnh viện của 1 bác sĩ người Pháp lớn tuổi , muốn về hưu bên Pháp với gia đình.
Anh Bác Sĩ Kha xuất ngoại sang Pháp để tu nghiệp và cũng làm việc bên Pháp một thời gian, rồi chuyển sang Canada, mở phòng mạch tại Tỉnh Vancouver, một tỉnh đẹp nhất, khí hậu tốt nhất của Canada.
Tôi thật tình không phải là bạn thân của anh Bác Sĩ Đinh Đại Kha, vì anh trên lớp, trên tuổi và sống xa cách nhau, chỉ liên lạc bằng thư từ với nhau mà thôi,
Nhưng tôi rất thân với anh Bác Sĩ Hoàng Cầm và chi GS Nha Khoa Đinh Tố Nhàn, em rể và em gái anh Bác Sĩ Kha, mà tôi quý mến vô cùng.
Ít lâu nay không nhân được thư từ gì của anh Kha, nên tôi thắc mắc vô cùng, tính soạn lại điện thoai để kêu anh thăm hỏi.
Không ngờ hôm nay nhận được hung tin từ anh chị Hoàng Cầm & Tố Nhàn.
Anh Bác Sĩ Cầm cho tôi biết là anh Bác Sĩ Kha có dăn cháu Tuyết Minh, con gái cả của anh, báo cho tôi biết tin buốn khi anh ra đi, và cháu Tuyết Minh nhờ anh chị Hoàng Cầm báo cho tôi biết.
Với cái tuổi 94, anh Bác Sĩ Kha đã có một đời sống phong phú, thành đạt, có người vợ - chị Dương Tuyết Nương - hiển thục, một cháu gái và một cháu trai thành công, tôi nghĩ biết bao nhiêu người chỉ ước mong có mội cuộc đời hậu vận tốt đẹp như anh Bác Sĩ Kha.
Cầu mong đấng Tối Cao sẽ đón nhận Bác Sĩ Đinh Đại Kha về yên nghỉ miền Vĩnh Cửu.
Người Việt lãng mạn của chúng ta thường bị giằng xé với hai giấc mơ tương phản.
Sống tại vùng chật hẹp với giang hồ sông nước là sự cách trở, chúng ta mơ chân trời xa lạ "như lũ chim quyết tung trời mây"... Và dù có gặp "biển hồ mênh mông không nơi ngừng cánh tránh gió táp", chúng ta vẫn "thề quyết ra đi từ đây". Nhạc sĩ Lâm Tuyền ghi lại cho tiềm thức chung cái giấc mơ đó.
Thế rồi, khi đã toại lòng với "bao năm qua ta sống giang hồ xa quê nhà, nơi xa xôi muôn ý phiêu lưu dâng cho đời", thì cũng chính tâm hồn lãng mạn ấy hát khúc ngày về. Giấc mơ hồi hương là phần tương phản của cái chí tung hoành đi tìm đất lạ.
Nếu đọc lại nhiều bài viết của Vũ Hoàng Chương thì có thể mường tượng ra giấc mơ giang hồ đó. Nó trải rộng trong hồn thơ chứ vẫn thu hẹp vào khoảnh đất nhỏ xíu. Từ Nam Định đến Hà Nội đã là một phiêu lưu. Lên tới núi rừng Việt Bắc thì đấy là cõi bạt ngàn!...
Quỳnh Giao nhắc lại Lâm Tuyền hay Vũ Hoàng Chương vì nhớ tuổi ấu thơ thao thức của mình khi sắp được đi Vũng Tầu! Lên tới Đà Lạt thì đã tựa như vào Thiên Thai trong cổ tích....
Thế rồi một biến cố đã giập giấc mơ vào thực tại. Với nhiều người thì đấy là cơn ác mộng.
***
Hiệp định Genève năm 1954 chia đất nước ra hai vùng giới tuyến làm nhiều người phải giang hồ thật! Phong trào di cư từ Bắc vào Nam là biến cố lớn lao nhất thế kỷ, cho đến ngày có cuộc di tản năm 1975 và sau đó.
Nền tân nhạc cải cách Việt Nam xuất phát đầu tiên từ trong Nam vào quãng 1938-1940. Rồi bùng phát và trưởng thành là ở ngoài Bắc trong thời kỳ 1945-1954. Đấy là giai đoạn hào hùng mà lãng mạn với rất nhiều ca khúc trữ tình. Rồi cuộc di cư 54 là một giao động lớn trong thế giới tân nhạc ấy.....
Chúng ta có những nhà soạn nhạc đã thành danh ở miền Bắc. Phần lớn trong số này cũng là nhạc công, là nhạc sĩ trình diễn chuyên nghiệp với một hay nhiều nhạc cụ. Những người vào Nam từ trước chỉ là một thiểu số hiếm hoi. Sớm nhất thì có Lê Thương từ năm 1941, trễ hơn chục năm thì có Phạm Duy và Phạm Đình Chương trong "gia đình Thăng Long".
Phong trào di cư từ 1954 mới xô đẩy đa số còn lại vào Nam và làm thay đổi không khí tân nhạc.
Các nhạc sĩ tên tuổi từ miền Bắc có Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Ngọc Bích, Hoàng Trọng và Vũ Thành. Những nhạc sĩ kế tiếp nổi danh như cồn ở trong Nam thì có Đan Thọ, Nguyễn Hiền hay Nhật Bằng, Cung Tiến, v.v..... Phải gõ chữ vân vân vì nhiều lắm. Những người còn ở lại miền Bắc, như Văn Cao, Hoàng Giác, Hoàng Phú, Tô Vũ hay Đoàn Chuẩn, Nguyễn Văn Tý thì hết viết... như cũ.
Nhớ lại chuyện 60 năm trước, chúng ta tự hỏi là lớp nhạc sĩ di cư đã sáng tác những gì sau đó?
Trong mọi cơn chấn động bàng hoàng, con người chúng ta chỉ là lũ trẻ thơ. Hãy nhìn bầy trẻ khi chúng hãi sợ hoặc gặp điều phật ý mà khó hiểu. Có những đứa thì hờn lẫy dẫy dụa, nhưng cũng có đứa lặng người không thể gào khóc. Còn gào thét là còn tin rằng ai đó sẽ phải lo cho mình, chứ nếu lặng người nín thinh thì đấy là lúc đứa trẻ bần thần tuyệt vọng nhất.
Sau cơn chấn động như 1954 hay 1975, chúng ta đều lặng người trong tê tái.
Nhưng các nhạc sĩ của chúng ta lại khác bầy trẻ. Họ không nín lặng mà khóc bằng nhạc.
Cảm hứng viết nhạc hoài hương có sẵn trong tâm khảm đã từ biến cố 54 đưa tới nhiều ca khúc về cố hương. Không kể những bài đã có từ trước như "Ôi Quê Xưa" của Dương Thiệu Tước, "Tình Hoài Hương" của Phạm Duy hay "Hướng Về Hà Nội" của Hoàng Dương, chúng ta nhớ lại "Khóc Biệt Kinh Kỳ" và "Bên Bờ Đại Dương" của Hoàng Trọng, "Xa Quê Hương" của Đan Thọ, "Bóng Quê Xưa" của Nhật Bằng và "Tìm Về Bến Xưa" hay "Thanh Bình Ca" của Nguyễn Hiền, v.v....
Đan Thọ và Nguyễn Hiền
Đan Thọ và Nguyễn Hiền là hai nhạc sĩ có nhiều tác phẩm về nỗi hoài niệm quê hương đã mất kể từ thời 54. Ngày nay, Đan Thọ vẫn còn và có lẽ không quên sự thổn thức của 60 năm trước.
Ngồi nhớ và nghe lại thì sau biến cố Genève 54, các nhạc sĩ của chúng ta còn bị giằng xé theo một cách khác. Nhiều người vẫn tin vào một ngày trở về.
"Giấc mơ hồi hương" của Vũ Thành là tác phẩm đẹp nhất của đề tài này. Ngoài lời một được gợi lên từ một bài thơ, lời hai của chính tác giả trong điệp khúc có âm điệu khải hoàn ca: "ngoài chân mây xa bừng lên muôn ánh hào quang" vì đấy là lúc giấc mơ đã thành, là "cùng dìu nhau sát vai sống trong tình thương"....
Người khác thì khám phá và hát mừng sự bao la choáng ngợp của miền đất mới.
Vào Nam từ trước, Phạm Đình Chương sớm ngợi ca miền Nam đôn hậu từ hình ảnh Cửu Long của trường ca Hội Trùng Dương. Rồi qua năm 1955, ông chấm nơi này là "Đất Lành" và hát về mối tình Nam-Bắc một nhà: "Em gái Bắc Ninh, anh trai Biên Hòa. Em đất Thanh Nghệ, anh nhà Cà Mâu. Đồi nương thương sức cần lao, Se duyên Nam Bắc ngọt ngào tình yêu"....
Cũng trong dòng nhạc đó, trường ca "Con Đường Cái Quan" do Phạm Duy thai nghén từ năm 54 tại Paris và hoàn thành về sau ở trong Nam đã có những giai điệu tốt tươi nhất - chữ "tốt tươi" là của ông – là từ đoạn 16 trở về sau, khi chàng lữ khách mơ giấc hải hồ vào tới trong Nam!
Trong số nhạc sĩ di cư, Hoàng Trọng nổi danh từ đất Nam Định với nhiều ca khúc luyến nhớ. Sau khi vào Nam, từ "Mộng Ngày Hồi Hương" năm 1956, ông hòa vào niềm vui mới qua bài "Đẹp Mùa Yên Vui" sáng tác năm 1958 với lời từ của Hồ Đình Phương: "Miền Nam mưa nắng giao hòa, Câu hát câu hò say trời quê đẹp như gấm hoa..."
Sự giằng xé dễ hiểu mà đáng thương của người viết nhạc diễn tả tâm tình day dứt của chúng ta giữa cái cũ đã mất và cái mới đã thành đời sống thật.
Ngồi hát lại trong tâm tưởng, "Con Đường Cái Quan" đã từ đoạn Cửu Long Giang mà hò "Về Miền Nam" và dẫn tới đoạn kết là "Đường Đi Đã Tới". "Về Miền Nam" cũng là tên ca khúc của Trọng Khương. Chúng ta không đi nữa mà về. Thâm tâm hát mừng như vậy thật, chứ không vì sự tuyên truyền của loại nhạc cổ động, mà dẫu gì thì hai miền vẫn chung một đất nước.
Rồi thời gian và sự tự do của miền Nam hàn gắn tất cả và dẫn tân nhạc qua một thế giới khác lạ.
***
Sau khi đất nước chia đôi, trong số đông đảo các nhạc sĩ và ca sĩ di cư vào Nam có nhiều nhạc công cự phách. Nhạc khúc mới và cách trình diễn tân kỳ thổi gió mới vào nhạc qua đài phát thanh, qua phần phụ diễn văn nghệ của phim chiếu bóng rồi các đại nhạc hội, phòng trà hay khiêu vũ trường....
Khác bộ môn văn chương là nơi mà lối viết của dân miền Nam làm phong thái chân phương của nhà văn miền Bắc trở thành sống động hơn, với những đối thoại rất gần với thực tế ngoài đời, bộ môn tân nhạc ở miền Nam lại tiếp nhận tính chất trang nhã nhiều khi cầu kỳ của ca nhạc sĩ di cư từ miền Bắc.
Nghệ sĩ di cư như Dương Thiệu Tước, Vũ Thành, Hoàng Trọng, Anh Ngọc cùng các ban nhạc và lối hòa âm đã thật sự làm tân nhạc miền Nam đổi khác. Từ đó, các nhạc sĩ trong Nam không còn viết như trước nữa, nhiều ca sĩ cũng trình bày theo giọng Bắc.
Sau đấy còn có sự đóng góp của đông đảo thi sĩ di cư từ miền Bắc, và cả các nhà thơ tòng quân nhập ngũ, khiến nghệ thuật phổ thơ vào nhạc còn đem lại một phong thái khác hẳn cái thời mà chúng ta gọi là "tiền chiến".
Cũng từ đấy, người nghe khó phân biệt được sáng tác Y Vân, Nguyễn Văn Đông, Lê Dinh, Minh Kỳ hay Lam Phương với ca khúc của nhạc sĩ di cư đất Bắc. Nếu có khác thì đấy là giữa thể loại ca khúc của thành phố thanh bình, có men rượu, khói thuốc và cả một chút Paris, với nhạc chân quê hay nhạc của người lính thời chiến.
Cho đến khi Nam Bắc thật sự là một nhà, và khi nền tân nhạc hết phân biệt hậu phương hay tiền tuyến thì chúng ta gặp cuộc đổi đời thứ hai, biến cố 1975. Lần này cũng vẫn phong ba giông tố, nhưng không là một nơi chốn mới của quê hương mà là một sự giã biệt bi thảm hơn. Sang năm, chúng ta sẽ viết lại chuyện này....
***
Từ nhiều tháng nay, người viết ngồi dưỡng bệnh bằng nhạc, cho đến khi Chủ bút Thiện Giao yêu cầu một bài đặc biệt về tân nhạc trong và sau biến cố 54.
Không vì "yêu sách" của tờ báo mà vì yêu nhạc, Quỳnh Giao cố gõ lại trí nhớ mà gửi độc giả bài này, với một kết luận là sự tri ân của một người đã nghe và hát: "Nền tân nhạc Việt Nam có nhiều tác phẩm nghệ thuật nhất, và đáng nhớ nhất vì còn được hát ngày nay, là ở miền Nam, trong giai đoạn 1954-1975. Trước đấy thì chưa có và sau đó thì không còn...."
Quỳnh Giao
(Bài này là "tạp ghi" cuối cùng của Quỳnh Giao, viết trong nhiều ngày và hoàn tất ngày 14 Tháng Bảy. Xin ghi vào đây như một kỷ niệm....)
***
Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao
Thưa các anh chị Khánh Vân thân mến
Xin chuyển lại các anh chị email của BS Khánh Vân, chủ tịch Hội Y Giới Việt Nam tại Pháp.
Anh cám ơn Khánh Vân đã gửi cho anh bài viết rất có giá trị về nền Tân Nhạc Việt Nam của Quỳnh Giao, với các suy nghĩ rất giá trị của người nghệ sĩ tài hoa này.
Anh nhớ có đọc trong Hồi Ký của Hồ Trường An thì 3 người nữ ca sĩ có giá trị nhất của Miền Nam và hải ngoại là Mai Hương, Kim Tước và Quỳnh Giao.
Hồ Trường An không nhắc tới Thái Thanh, Lệ Thu hay Khánh Ly hay Thanh Lan , cô bạn học cùng lớp với Khánh Vân tại Marie Curie thời Trung Học.
Anh nghĩ Hồ Trường An viết như vậy vì Mai Hương, Kim Tước và Quynh Giao có 1 giáo dục chính thống Viện Quốc Gia Âm Nhạc hay các giáo sư Pháp về Âm Nhạc.
Anh nghĩ các người như tới Thái Thanh, Lệ Thu hay Khánh Ly hay Thanh Lan đều có các giá trị riêng của họ về cách trinh diễn Tân Nhạc.
Các nghệ sĩ Pháp như Edith Piath, như Charles Aznavour, Yves Montand, hay các nghệ sĩ trong ban nhạc The Beatles, The BG, hay Nat King Cole, Frank Sinatra, hay Louis Amstrong không hề qua 1 academic training bao giờ ( nhất là Louis Amstrong, con của 1 người gái giang hồ tại New Orleans, không hề biết cha mình là ai). Mà là những ca sĩ, nghệ sĩ danh tiếng buc nhất trên thế giới.
Sự kiện này chỉ đúng với Tan Nhạc mà thôi, còn nhạc Cổ Điển , nhạc Opera, thuôc vào 1 lãnh vực khác
Rất ít người không có 1 cuộc đào luyện chính thống mà hát được opera như Maria Callas trong Carmen, Pavarotti trong Rigoletto … Opera là 1 lãnh vực âm nhạc kén chọn người nghe và vô cùng kén chọn người trinh diễn.
Khánh Vân nhắc tới nhạc sĩ Đan Thọ và bài Tình Quê Hương mà Đan Thọ phổ nhạc của Phan Lạc Tuyên “như một lời tưởng nhớ” tới người nhạc sĩ mới qua đời tuần qua.
Anh cũng thích bài Tình Quê Hương , thơ của Phan Lạc Tuyên mà Đan Thọ phổ nhạc, nhưng anh thích bài Chiều Tím của Đan Thọ với lời nhạc của Đinh Hùng hơn.
Theo lời Nguyễn Đình Toàn kể lại thì mấy người trong đó có Nguyễn Đình Toàn, Đinh Hùng, Thanh Tâm Tuyền …đang ngồi uống Cà Phê tại tiệm La Pagode tại đường Catinat, thì Đan Thọ tới, khoe là mới làm ra 1 bản nhạc mà Đan Thọ rất thích, nhưng chưa có tên bài hát hay lời bài hát.
Đinh Hùng nghe Đan Thọ hát nhè nhẹ, nho nhỏ cho anh em nghe và 5 phút sau, Dinh Hùng lấy giấy ra viết xong lời nhạc cho bài hát.
Vì chưa có tên nên Thanh Tâm Tuyền đề nghị đăt là Chiều Tím, và tất cả mọi người bằng lòng.
Đây là 1 trường hợp hiếm có mà có nhạc trước, rồi mới có lời sau, nó trái ngược ( vice versa) với tình trạng thông thường là lấy 1 bài thơ, rồi phổ nhạc sau
Đây là thí dụ diển hình hai ngành Thơ và ngành Nhạc hỗ trợ với nhau, tuy là 2 ngành khác nhau, nhưng không khác gì liên hệ mật thiết như anh em ruột hay anh em chú bác.
Tiền nhân có danh từ THI CA để nhấn mạnh vào cái liên hệ mật thiết này.
Vì vây, khi bàn về Thơ, mà phủ nhận các yếu tố quan trọng bực nhất của THƠ là Âm điệu /vần/ và Nhịp thì có phần nào thiếu xót.
Hết tất cả các luật Bằng & Chắc của tiền nhân khi làm THƠ có mục tiêu quan trọng nhất , là nhấn mạnh về vần của Thơ, lúc lên cao, lúc trầm xuống , để khi đọc thì người đọc thấy lai láng trong tâm hồn , sống trong các chữ của bài thơ.
Đinh Hùng khi nghe các nốt nhạc mà Đan Thọ hát lên nho nhỏ, đã có viễn ảnh , phác họa hình dung trong trí óc và viết ra Thơ để phụ nhạc.
Theo ý anh, nếu cứ khăng khăng coi Thơ không dính dáng gì tới âm nhạc thì là một suy nghĩ hấp tấp, nếu không sai lầm hoàn toàn.
Bài Tinh Quê Hương, phổ nhạc 1 bài thơ của Phan Lạc Tuyên , là 1 bài hát rất hay, rất thành công của Đan Thọ. Đại Úy Phan Lạc Tuyên là một nhân vật ít người biết, nhất là các thế hệ của Khánh Vân và bạn hữu của em.
Phan Lạc Tuyên là một người học thức, sinh viên Luật, có đậu 2 phần cử nhân Luật tại Đại Học Hanoi, trước khi bị động viên năm 1951 vào khoa 1 Nam Định Thủ Đức cùng với Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Bảo Trị, Nguyễn Xuân Vinh,… có lẽ về phương diện hiểu biết Trí Thức thì ông không hề thua kiến thức anh của ông là Trung Tá Phan Lạc Phúc ( kỳ giả Lô Răng) và em của ông là Trung Tá Hải Quân Phan Lạc Tiếp.
Anh thú thật với Khánh Vân là anh chỉ nghe danh của ông Phan Lạc Tuyên, chứ anh chưa hề gặp ông ta.
Anh có biết anh Phan Lạc Phúc qua anh Hà Thượng Nhân , một người bạn vong niên của anh, ngày xưa là Chủ Nhiệm tờ báo Tiền Tuyến với anh Phan Lạc Phúc là phụ tá.
Anh Phan Lạc Tiếp thì anh biết nhiều khi anh hoạt động trong hội Médecins Du Monde/bác sĩ Thế Giới/ về Biển Đông vớt các Thuyền Nhân Việt Nam trốn Cộng Sản. Hồi đó anh Tiếp là Tổng Thư Ký Hội SOS Boat People , làm phụ tá cho anh GS Nguyễn Hữu Xương.
Cho tới giờ phút này thì không ai biết chắc tại sao Phan Lạc Tuyên lại bỏ theo Cộng Sản, và được đưa về Hanoi.
Sau đó, Phan Lạc Tuyên đuọc chính quyền Cõng San đưa sang Varsaw, Poland, học và đậu Tiến sĩ về Sử Học và Phật Học.
Anh có 1 người bạn thân học cùng lớp tại Albert Sarraut Hanoi tên là Trần Hiệp Hải.
Gia đình Hải ở lại Hanoi sau năm 1954.
Sau đó Hải được cử đi học Tiến Sĩ Hóa Học tại Varsaw , và Phan Lạc Tuyên cùng với Hải ở chung cùng phòng với nhau trong nhiều năm trời tại Varsaw, Poland.
Hải cho anh biết Phan Lạc Tuyên l là người đứng đắn, trí thức, hiểu rộng, biết nhiều.
Sau này Phan Lạc Tuyênl xuống tóc đi tu, thành 1 Đại Đức (?) hay cư sĩ Phật giáo, lấy tên là Nguyên Tuệ,
Bây giờ ông ta đã quá cố.
Bài Tình Quê Hương đưa tên tuổi của Đan Thọ, phổ nhạc thơ Phan Lạc Tuyên, lên đỉnh Vinh Quang, nhưng trong lòng anh vẫn thich1 bài Chiều Tím hơn.
Khánh Vân trong email về bài Les Feuilles Mortes/Autumn Leaves/ mà anh ”liều mình ” hát như sau:
Như anh đã hát thật hay, và nhất là thật đúng, bài Les feuilles mortes:..."toi qui m'aimais, moi JE t'aimais". Câu sau mới là..."toi qui m'aimais, moi qui t'aimais..".
Chỉ một chữ thôi, mà cái nuance thật tuyệt vời. (Cái chữ JE nó mạnh hơn chữ Qui cả chục lần.
Ví theo đúng văn phạm, Je là proposition principale, Qui thuộc subordonnée).
Ca sĩ thực thụ, hát sai nhiều lắm.Uổng cả thơ!! (KV)
Khánh Vân viết câu này rất đúng, hoàn toàn đúng, tuy nhiên anh xin được đưa ra vài ý kiến.
Bài Les Feuilles Mortes ra đời năm 1945, đươc thành nhạc phim Les Portes De La Nuit năm 1946, sau đó chuyển âm sang tiếng Anh và xâm chiếm cử tọa Hoa Kỳ và Anh, với bản chuyển âm của John Mercer dưới tên Autumn Leaves.
Khi Les Feuilles Mortes trở về Pháp cuối thập niên 40 , thì được 2 minh tinh âm nhạc là Juliette Greco và Edith Piaf hát, sau đó còn có rất nhiều người như Charles Aznavour, Tino Rossi, Jacqueline Francois, Line Renaud, …và rất nhiều người khác nữa.
Bài hát trở thành có 1 đời sống riêng biệt của nó, không dính dáng gì nhiều với bản nguyên thủy của Jacques Prevet và Joseph Kosma nữa
Mỗi người hát say sưa bài này với tâm hồn riêng của mình, và thay đổi vài chữ trong lời để hạp với tâm hồn mình, với cách hát của mình hơn.
Có chỗ mà mọi người thay đổi nhiều nhất là câu Khánh Vân đề cập tới.
C'est une chanson,…. qui nous ressemble
Toi tu m'aimais.et je t'aimais
Nous vivions tous…. les deux ensemble.
Toi qui m'aimais, moi qui t 'aimais
Nous vivions tous…. les deux ensemble.
Câu này có người đổi thành: Et nous vivions. les deux ensemble ( thêm chữ Et và bỏ chữ Tous)
Câu Cuối: Toi qui m'aimais, moi qui t 'aimais
Có người đổi thành: Toi qui m'aimais, et moi Je t 'aime ( Je t’aime đổi thành temps Présent để nhấn mạnh cho biết là bây giờ tôi vẫn yêu người)
Hay là Toi qui m'aimais, moi qui t 'aime
Email viết đã dài, anh xin Khánh Vân ngưng tại đây.
Cách đây vài tuần, anh chị Lê Xuân Cảnh & Bích Nhung có lại chơi thăm chúng tôi.
Chúng tôi rất mừng được tiếp khách quý. Chúng tôi bao giờ cũng rất mừng rỡ mỗi khi có bạn hiền tới thăm.
Bà Xã tôi và Bích Nhung vào bếp sửa soạn món Gà Hải Nam ăn cùng với tôm rim me.
Chúng tôi ăn uống, hàn huyên,nói truyện tâm tình với nhau, uống rượu với nhau.
Thật tình ra thì tôi uống nhiều hơn còn anh Cảnh thì chỉ nhấp nháp chút ít với tôi cho vui mà thôi.
Anh Cảnh thấy cái đàn Piano để trong phòng khách của chúng tôi thì cái máu đam mê âm nhạc của anh Cảnh lại nổi lên, anh chạy ra, ngồi xuống bên cây đàn và đánh lên nhiều bài nhạc cổ điển và bán cổ điển tuyệt vời.
Bích Nhung và vợ chồng tôi ngồi nghe một cách say mê, rồi cái máu mê nhạc của tôi lại nổi lên , và tôi ra xin hát cùng với tiếng đàn của anh Cảnh, vì anh Cảnh chơi hay quá, say mê quá, có hồn quá .
Bản nhạc lúc đó anh Cảnh chơi là bản Aranjuez Mon Amour trong Concierto De Aranjuez Con Tu Amor của Joaquin Rodrigo soạn ra vào cuối thập niên 30.
Bản Concierto De Aranjuez Con Tu Amor có 1 kỷ niêm rất hay đối với anh Cảnh.
Trong 1 cuộc chấm thi Classical Guitar thì anh Cảnh là Giám Khảo cuộc thi và giáo sư/nhạc sĩ/ Dương Thiệu Tước là Chánh Chủ Khảo.
Hôm đó GS Dương Thiệu Tước và anh Cảnh đã chấm 1 người học trò cưng của hai người, chơi bản nhạc này với Classical Guitar.
Tôi cũng là người đam mê bản nhạc này, mà có người nói là Joaquin Rodrigo soan để tặng Andre’ Segovia, là người bạn thân của Joaquin,
Việc này không biết có đúng hay không vì trong giai đoạn đó, Andre’ Segovia và Joaquin Rodrigo đang giân nhau.
Thật tình khi thấy anh Cảnh chơi Dương Câm bản Concierto này hay quá, nên tôi năn nỉ anh Cảnh cho hát ké theo, và tôi chỉ hát 2nd movement của Concierto nay mà thôi, vì đây là đoạn dễ hát nhất.
Hai anh em say mê, người đàn, người hát thì bà xã tôi lấy cái Iphone ra thu video để làm kỷ niêm và gửi cho Hoai Trang và Julia coi và nghe.
Việc bất ngờ là cháu ngoại Julia thấy ông Ngoại hát thì upload vào Youtube, và cháu mới báo tin cho chúng tôi biết.
Cháu viết sai cả tênbản nhạc Aranjuez thành 2 chữ, và lỗi rất nặng là cháu viết sai cả tên nhạc sĩ Lê Xuân Cảnh nữa
Tôi phải chắp tay xin lổi anh chị Cảnh.
Tôi thì ham hát, nhưng hat không hay, nhưng anh Lê Xuân Cảnh đánh đàn thì tuyệt vời.
Xin các anh chị tha thứ cho 1 ông già không “nên nết” ra làm trò cười ( dù rất ngượng) cho tất cả mọi người
Hạnh phúc ai kia biết chữ nhàn Chẳng màng vương tướng, lụy hồng nhan Mặc người ôm mộng, ta ôm gối Ôm cả cái không trên thế gian
Nguyễn Trí Thành ***
Các Bài Dịch:
Tiếng Tây Ban Nha: Abrazo La Almohada Del Cuerpo
Feliz quien conoce la palabra ocio No me importa el poder del rey, No me importa la belleza de la reina Abrazas el sueño como quieres, Yo abrazo la almohada del cuerpo Abrazo la nada en este mundo.
Mùi Quý Bồng (Poema original de Nguyễn Trí Thành)
***
Tiếng Pháp: Le Traversin
Heureux sont ceux qui savent garder leur ame sereine, Dedaigner gloire des rois et beaute des reines ! Ami, tu es libre de vivre ton reve d' or, Mais laisse-moi pour dormir serrer mon traversin Et le néant des choses dont cette terre est pleine.
Nguyễn Trí Thành Fair Oaks, 4-12-2022
***
Tiếng Anh: The Body pillow
Happy are those who can keep their soul serene, Disdaining the glory of kings , scorning the beauty of queens! Friends, you are free to live your golden dream, But allow me to sleep, squeezing my body pillow And the nothingness of all earthly things .
Nguyễn Thượng Vũ
***
Kính chào cô chú bác.
Kính cảm ơn bác DS Thành đã làm thơ và bác BS Vũ đã chuyển và dịch. Thật hay và đầy ý nghĩa.
Bản tiếng Pháp và tiếng Anh - “rêve d’or” và “golden dream” cũng có thể hiểu “lệch” ra thành “giấc mộng kê vàng”!
Chuyện “Giấc mộng kê vàng và cái gối toại nguyện”:
Giấc mộng kê vàng ẩn dụ phú quí như ảo mộng bong bóng, xuất phát từ “Ghi chép trong mộng” của Trầm Ký Tế thời nhà Đường.
"1. Lư Sinh gối đầu vào mộng
Năm khai nguyên thứ 7 Đường Huyền Tông có một vị đạo sỹ họ Lã trên đường đi tới Hàm Đan. Lúc nghỉ ở khách sạn thì có gặp một vị thiếu niên tên Lư Sinh. Sau khi hai người cười nói một hồi. Lư Sinh vì quần áo cũ bẩn nên cảm thán việc bản thân không thuận lợi, vận mệnh khốn khổ. Lã đạo sỹ nhìn anh ta thấy da thịt tươi nhuận, không bệnh tật gì hơn nữa lời nói thú vị khôi hài thì lấy làm khó hiểu. Sau đó mới gặng hỏi thêm thì Lư Sinh tâm sự rằng: “Tôi mong có thể làm nên nghiệp lớn, khiến danh vọng truyền xa, hưởng thụ phú quí, khiến gia tộc họ hàng phồn thịnh, có như vậy trong lòng mới thoải mái. Đáng tiếc là tôi tuy khổ công đọc sách mà không cách nào thi cử thuận lợi, đạt công danh. Quá 30 tuổi thì đành vất vả nơi ruộng đồng.”
Nói xong anh ta liền cảm thấy tinh thần mịt mờ và muốn ngủ. Lúc này chủ khách sạn đang nấu nồi kê, đang chuẩn bị làm cơm.
Lã đạo sỹ lấy từ trong túi một cái gối và đưa cho Lư Sinh: ” Anh gối đầu bằng cái này, mong mỏi của anh sẽ toại nguyện.” Lư Sinh đang tiến vào mộng thì nhìn thấy hai bên gối có chỗ rất sáng, anh ta liền tiến vào….
… Lư Sinh sau đó về nhà, lấy người con gái tên Thanh Hà. Không những xinh đẹp mà gia sản còn giàu có sung túc. Nhà anh ta ngày càng giàu có. Năm sau Lư Sinh thi Tiến Sỹ, bắt đầu con đường quan trường thuận lợi. Lư Sinh làm việc rất tận tâm, vì dân mà bỏ đi lo lắng khổ sở của họ, chủ động tòng quân dẹp loạn vì vua mà chia sẻ ưu tư. Vì thế trăm họ lập bia đá khắc công đức, vua cũng dùng lễ mà đối đãi, nhớ công đức mà thưởng. Nhưng không ngờ, anh ta tuy là quan lại cốt lõi của triều đình nhưng gặp phải sự đố kỵ của tể tướng mà bị cách chức. Rồi làm thứ sử ở Đoan Châu. Ba năm sau, anh lại quay lại triều đình, không những đảm nhiệm chức thượng thư bộ hộ mà còn lên tới tể tướng, thành trọng thần để vua hỏi han việc chính sự và cùng Tiêu Lênh Tung lo việc triều chính trong 10 năm, được nhìn nhận như hiền tướng. Nhưng mà tai họa lại đến.
Lư Sinh quyền cao chức trọng thì gặp phải chuyện các quan thần lật đổ. Thậm chí bị vu vào tội cấu kết với bộ phận phòng thủ biên giới. Quan binh phụng chỉ tróc nã đi đến dinh phủ Lư Sinh. Lúc đó anh ta khóc rồi nói với vợ anh ta: “nhà ta gốc ở Sơn Đông, có ít ruộng tốt, cũng đủ qua ngày giá lạnh, vì cớ gì khổ sở cầu công danh lợi lộc. Bây giờ chìm nổi như này, nhớ trước kia mặc áo lông cừu ngắn, cưỡi ngựa đi Hàm Đan, trên đường xem phong cảnh. Bây giờ chẳng thể được nữa rồi.” Lư Sinh rút kiếm ra tự sát ,hưng bị vợ ngăn lại. Trong vụ án này các quan lại có dính dấp đều bị giết, chỉ có Lư Sinh được người che chở, chỉ bị giáng chức tới Hoan Châu. Sau vài năm, vua biết bị oan, lại đem về thăng lên Lệnh Trung Thư, phong làm Triệu Quốc Công, ban thưởng cho rất hậu, Lư Sinh vinh quang tột cùng.
Phúc đức của Lư Sinh còn truyền đến con cháu. Anh ta có 5 người con đều làm quan chức, và lấy vợ là con cái nhà danh gia vọng tộc. Và Lư Sinh có thêm 10 đứa cháu.
2. Trong mộng nhìn thấu cuộc đời thật vô thường
Sau 30 năm, Lư Sinh hai lần trải qua giáng chức rồi thăng chức. Anh ta đã hưởng chức quan cao lộc lớn, rồi sau đó có cuộc sống xa hoa, an dật hưởng lạc. Vua ban thưởng cho anh ta ngựa hay người đẹp không kể hết. Lúc về già Lư Sinh thỉnh cầu cáo lão về quê, nhưng không được chấp nhận. Trong lúc anh ta bị bệnh, người đến thăm rất rất đông, qua lại không nghỉ, danh y đến cửa hiến tặng thuốc quí rất nhiều. Vào lúc Lư Sinh lâm chung còn dâng sớ cảm tạ ân sủng của vua, rằng giờ đã về già, không dám ở nơi vị trí cao thì sẽ phụ ơn của vua. Vì thế muốn từ quan về quê, giờ chỉ xin vua chấp thuận.
Vua biết chuyện hạ chỉ, không những cảm tạ Lư Sinh nhiều năm phò tá vua trị quốc khổ nhọc mà còn tự thân mong mỏi tin tức Lư Sinh khỏe lại. Bây giờ nghe bệnh càng lúc càng nặng, còn phái Cao Lực Sỹ tới an ủi thăm hỏi. Vua còn dặn dò Lư Sinh châm cứu thêm cho nhanh khỏi lại để sớm nghe tin tốt. Nhưng rồi tối đó Lư Sinh qua đời.
Lư Sinh duỗi chân dãn lưng mà tỉnh lại, anh ta phát hiện mình đang ngủ ở khách sạn.
Lã đạo sỹ đang ở bên cạnh còn ông chủ khách sạn đang nấu nồi kê nghi ngút còn chưa chín. Tất cả vẫn như vậy không có gì khác lạ. Lư Sinh kinh hoảng nói: ” Thế nào mà tất cả chỉ là một giấc mộng đã qua vậy?” Lã đạo sỹ cười nói: “nhân gian thế sự, đều chỉ như thế.” Lư Sinh nghe rồi buồn bã như đã đánh mất. Anh ta cảm tạ Lã đạo sỹ nói: ” Người trong đời, phú quí, vinh nhục, sống chết rồi đến vận mệnh đều như vậy cả. Tiên sinh đã ngăn những dục niệm của tôi, tôi lẽ nào dám không tiếp nhận bài học.” Lư Sinh bái lạy 3 lần cảm tạ rồi sau đó rời đi."
“Thế thượng hoàng lương nhất mộng dư,
Giác lai vạn sự tổng thành hư.
Như kim chỉ ái sơn trung trú,
Kết ốc hoa biên độc cựu thư.”
(Đời chỉ là một giấc kê vàng
Tỉnh ra vạn sự thành hư không.
Nay chỉ thích ở giữa núi non,
Nhà cỏ bên hoa cùng sách xưa)
“Ngẫu Thành” của Nguyễn Trãi
Nếu Nguyễn Trãi đã lên non giũ sạch muộn phiền chỉ đọc sách để giải khuây, và hưởng chữ “NHÀN” thì cụ đâu đã phải chịu kết cuộc thảm thương tru di tam tộc.
“Nhưng người trần thế muốn nhàn sao được?…
Chữ nhàn là chữ làm sao?”
Thị tại môn tiền náo
Nguyệt lai môn hạ nhàn
So lao tâm lao lực cũng một đàn
Người trần thế muốn nhàn sao được?
Nên phải giữ lấy nhàn làm trước
Dẫu trời cho có tiếc, cũng xin nài
Cuộc nhân sinh chừng bảy tám chín mười mươi
Mười lăm trẻ, năm mươi già, không kể
Thoắt sinh ra thì đà khóc choé
Trần có vui sao chẳng cười khì?
Khi hỷ lạc, khi ái dục, lúc sầu bi
Chứa chi lắm một bầu nhân dục
Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc
Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn
Cầm kỳ thi tửu với giang san
Dễ mấy kẻ xuất trần xuất thế
Ngã kim nhật tại toạ chi địa
Cổ chi nhân tằng tiên ngã toạ chi
Ngàn muôn năm âu cũng thế ni
Ai hay hát mà ai hay nghe hát?
Sông Xích Bích buông thuyền năm Nhâm Tuất
Để ông Tô riêng một thú thanh tao
Chữ nhàn là chữ làm sao?
“Chữ Nhàn” của Nguyễn Công Trứ
Kính chúc cô chú bác và mọi người sẽ luôn được hưởng chữ “NHÀN”.
Bác Sĩ Nguyễn Nhứt Thống Y64 ( 07-02-1938 / 02-08-2022)
Thưa quý Anh Chị,
Hôm nay là ngày bà con và bạn bè của anh Nguyễn Nhứt Thông đến tiễn biệt Anh về cõi vĩnh hằng. Anh Thống là một người thầy thuốc vui vẻ, lương tâm, tử tế, hòa đồng và luôn luôn vì mọi người. Để thương nhớ Anh, tôi xin mạn phép được ghi lại tình cảm của một số bằng hữu tỏ bầy về anh Thống. Tôi không có tài để trình bày đẹp như các bloggers Kim Oanh, Tố Kim, hoăc viết lại cho có lớp lang, gọn gàng như các " phóng viên "Thanh Vân, Quản Mỹ Lan, hoăc quý anh NT Vũ, Vĩnh Chánh, N Hãn........, nên xin chỉ gom những emails vào attachment đính kèm để chuyển tơi quý Anh Chị. Kính chúc quý Anh Chị sức khỏe để chung mình có thể tiếp tục chia sẻ kiến thức trên diễn đàn, nơi mà bản thân tôi đã học hỏi được rất nhiều điều từ quý Anh Chị. Một lần nữa xin cám ơn quý Anh Chị.
Nguyễn Tích Lai
******
From: Nam Tran <>
Sent: Tuesday, February 8, 2022, 06:19:53 PM EST
Subject: Fwd: Bác Sĩ Nguyễn Nhứt Thống ( 07-02-1938 / 02-08-2022 )
Chúng tôi xin trân trọng báo tin buồn cùng tất cả quý Đồng môn, Đồng khoá và Thân hữu : đàn anh quí mến của chúng ta : Anh Nguyễn Nhứt Thống đã từ biệt Gia đình, Bạn bè và tất cả trưa hôm nay 02-08-2022 tại Huntington Beach, California, USA, hưởng thọ 83 tuổi.
Kính báo,
Y Khoa 68
******
Lai T Nguyen To Y64
Tue, Feb 8 at 7:36 PM
Xin chuyển tin về Bác sĩ Nguyễn Nhứt Thống, người trưởng lớp của YKSG 64 vừa mất tại California ngày hôm nay. Bs Thống là một người bạn rất vui tính,tử tế dễ thương, hòa đồng và luôn giúp đỡ mọi người. Trước đây Anh Thống đã tổ chức rất thành công nhiều kỳ hội ngộ YK64 tại Cali ( có lần mời cả quý Anh Chị Y64 ở VN qua Mỹ tham dự, và cũng có lần mời cả quý Anh Chị Y65 và Y63 tham dự ). Đặc biệt anh Thông rất quan tâm và lo lắng đến những việc chia buồn, đang báo phân ưu với gia đình của các Anh Chị có thân nhân quá cố.
Anh Chị Em Y64 xin thành thật chia buồn với chị Thông và gia đình và xin cầu nguyện cho hương linh anh Nguyễn Nhứt Thồng sớm về cõi Phật.
NTL
******
Bác Sĩ Nguyễn Nhứt Thống đã vĩnh viễn ra đi ( 07-02-1938 / 02-08-2022 )
Tue, Feb 8 at 8:26 PM
Thưa các anh chị
Chúng tôi vừa mất một người bạn chân tình, một bác sĩ từ bi bác ái, một giáo sư đầy lòng thương với học trò, các sinh viên Y Khoa: anh bác sĩ/ Giáo Sư Y Khoa Thần Kinh/ Nguyễn Nhứt Thống
Xin chân thành chia buồn với chị Hương và các cháu.
Xin cầu nguyện linh hồn anh GS Thống sớm về miền Tây Phương Cực Lạc với Đức Phật Tổ Như Lai.
Hôm nay là một ngày rất buồn cho các bạn cũ của anh BS Thống từ hồi còn ở Trung Học Chasseloup Laubat, và bao nhiều năm Trường Thuốc
Anh BS Thống là người đàng hoàng mẫu mực, một bác sĩ tận tâm, suốt đời chăm lo cho học trò và bệnh nhân
Tôi ít thấy có 1 giáo sư Y Khoa nào mà được học trò quý hóa và thân tình như anh giáo sư Y Khoa Thần Kinh Nguyễn Nhứt Thống.
Anh ra đi, chúng tôi mất đi một người bạn hiền.
Giờ đây biết tìm ai có đủ uy tín để tụ hợp hai lớp chúng tôi gặp nhau hàn huyên hàng năm
Thành kính phân ưu với chị Hương và các cháu
Nguyen Thuong Vu
******
On Feb 9, 2022, at 10:10 PM,
Chanh Vinh wrote: Kính thưa quý vị,
GS. Bác Sĩ Nguyễn Nhất Thống có dạy chúng em trong năm thứ 3 tại trường YK Huế. Trước khi học môn Neurologie, chúng em nghĩ đó là một môn học thần bí, khó. Nhưng đến khi nghe GS. Nguyễn Hữu Thống giảng thì nhận thấy những điều mình học hỏi vô cùng đơn giản – nếu mình có đấu óc 1 chút và hiểu về cơ thể học và sinh lý học của Não bộ và hệ thống thần kinh. Với sự hiểu biết đơn giản ấy, chính đàn em có thể áp dụng khá vững vàng khi gặp những trường hợp liên hệ đến thương tổn của hệ thống thần kinh trung ương, khi em làm việc tại ER (BV chính nơi em làm có 75 giường với một phòng cấp cứu 10 giường, nằm trong 1 parish có dân số khoảng dưới 20 ngàn) trong thời gian chưa có CT Scan, và mọi thuyên chuyển (transfer) bệnh nhân đến cơ sở chuyên môn khá là phức tạp nếu mình không chẩn đoán đúng bệnh. Những khi chẩn đoán được các chứng bệnh về thần kinh não bộ mà không đầy đủ phương tiện cận lâm sàng (paraclinic, CT) thì em thường nghĩ đến GS. Nguyễn Nhất Thống. Và em vô cùng cám ơn đã hội nhận được những lời giảng dạy của GS. Thống.
Nay biết GS. Bác Sĩ Nguyễn Nhất Thống ra đi, em xin thắp nén nhang lòng, tưởng nhớ đến người Thầy đã để lại nhiều ấn tượng tốt trong trí nhớ của em. Một người Thầy xuất sắc, đơn sơ, gần gũi với sinh viên… dù sự hiểu biết rất rộng. Nếu em nhớ không lầm, thì vợ chồng em có được gặp GS. BS. Thống trong lần họp mặt 50 năm của khóa YK Saigon tốt nghiệp năm 1965 hay 1966 khi chúng em được anh chị BS. Nguyễn Thương Vũ mời tham dự (lúc đó cũng có BS. Bùi Thiều và nhiều niên trưởng đàn em biết mặt nhưng không nhớ hết tên).
Tấm hình dưới đây của GS. Bác Sĩ Nguyễn Nhất Thống thật tuyệt vời. Có vẻ chân thật và toát ra một vẽ trầm lặng, xuyên vào nội tâm. Hay hơn bức tượng điêu khắc nổi tiếng Le Penseur của Rodin – một bên để 2 ngón tay ấn nhẹ vào đôi mắt, một bên chống tay vào dưới cằm. Cám ơn người chụp hình đã ghi nhận được một khoảnh khắc yên tịnh của một người.
Thân kính,
Em V. Chánh
******
Hình chụp Bs Thống vui gặp bạn trong một ngày đầu xuân Nhâm Dần 2022
(vài ngày trước khi Anh mất tại tư thất)
On Feb 10, 2022, at 11:04 AM,
Le Xuan Canh wrote:
Kính thưa quý anh chị,
Nhìn các ông Bác-sĩ chơi bài, Thiệt chẳng thấy ai muốn ăn ai, Dân y-khoa cờ bạc có khác, Chắc chỉ tìm cớ nhậu lai-rai, Kính Thầy, trọng bạn, khoan-thai, Đen đỏ, sát phạt vứt ngoài mù khơi, Gặp được nhau là quý rồi, Ai biết cuộc đời mai sẽ ra sao! Nay còn cụng chén với nhau, Biết ly rượu nào là last one đây? Sống nay là để chết mai!
LXC
******
Subject: Ông Moả, BS Nguyễn Nhứt Thống
Cùng theo lời đề nghị của anh TVM xin có bài viết về GS BS NNT,
Chúng tôi được hân hạnh biết vợ chồng anh Bs Thống khoảng gần 30 năm trước sau khi tôi ở New York về và nhận việc ở San Bernardino Med center .lúc đó có các anh chị BS khác như TQ Mỹ A/c NT Anh , NT Nhơn , NNAnh và các bạn cùng lứa PT Hải, D Bông, NN Đức. Anh BS Thống dạy tụi tôi về Neuro Med năm thứ ba YK SG nhưng thú thật lúc đó tôi không “được “ học , đã trốn học vì một lý do nào đó, giờ không nhớ ra, thời gian sau đó anh được trường gởi đi Mỹ tu nghiệp và bị kẹt lại khi mất nước 75 . Tôi vượt biên đến Mỹ và may mắn trở lại được nghề và về làm việc gần anh, Với tôi cảm giác đầu tiên khi gặp anh là anh có bộ dạng trông rất nghiêm, ít nói, vẻ mặt thì rất “ngầu“, nhưng khi biết anh rồi thì anh là một người rất cởi mở, dễ dàng, với tính cách của một người miền Nam hiền hòa, anh rất thân thiện và giúp đỡ bạn bè,các đàn em và cả ngay những thân nhân của họ, nếu cần anh cũng sẵn sàng vác túi khám bệnh đến tận nhà để giúp đỡ , việc này rất nhiều người trong chúng tôi đã chứng kiến , anh cũng có tính khôi hài, Dí dỏm , dù ít nói nhưng mà mỗi câu nói của anh đều làm mọi người phì cười với các nhận xét không ngờ, nhất là khi có chút rượu vào.
Vợ chồng chúng tôi thường gọi anh chị là ông bà “Moả “ vì khi nói chuyện với bạn bè và các đàn em , anh thường xưng hô với mọi người như thế, với tôi tiếng này rất thân thương trong gần 30 năm từ khi biết anh và làm việc gần anh, chúng tôi cùng sống cạnh nhau từ Loma Linda và sau này ở HB, chúng tôi càng thương yêu, gắn bó và kính trọng anh hơn.
Anh Thống vẫn tiếp tục làm việc cho tới lúc bị bệnh nặng và rất ham học hỏi, luôn luôn đọc sách, trí nhớ rất tốt.
Mỗi lần đi CME thì anh là người luôn luôn trong phòng học , thường thường chúng tôi đến đây chỉ gặp nhau để tán gẫu cho qua ngày và học rất ít!!!
Có những điều mà ít người biết , ở chỗ làm việc mọi người đều gọi anh bằng tên gọi là Dr Thong chứ không gọi bằng họ Nguyen dù ở nhà thương, nhà tù Patton và phòng mạch tư, người Mỹ cũng gọi anh như thế.
Anh lái xe rất nhanh khi đi Las Vegas thường là 90 Miles/h, lúc nào cũng về nhà trước chúng tôi, mắt anh rất tốt không phải đeo kiếng mặc dù tuổi quá 80, hồi đó chúng tôi đi LV gần như hàng tháng mục đích là ăn nhậu. Anh uống rượu rất chì và hút thuốc gần như “tàu hỏa”, vào khoảng 20 năm trước anh đã bị xuất huyết bao tử và có một lần suýt cháy xe vì hút thuốc nên bỏ hút thuốc từ đó nhưng rượu thì vẫn uống lai rai mỗi khi gặp bạn bè, đàn em. (Đôi lần tôi nghĩ đùa anh có thể đóng Jame Bond nếu có gái gú)
Khoảng hai năm trước, khi được biết căn bệnh của anh rất ngặt nghèo và chắc không qua khỏi nên các bạn bè anh em làm Video zoom để mọi người trên thế giới có thể thấy mặt và nói chuyện với anh, khung cảnh rất là cảm động và anh đã qua được hai năm với sự điều trị của city of Hope.
Nhưng khoảng một tháng nay thì bệnh của anh trở nặng phải nhập viện lại khoảng 3 tuần tưởng không qua nổi nhưng rồi anh cũng qua được thời kỳ đó, khi tỉnh dậy anh nói đùa rằng “moa sắp đi nhưng mà ‘tụi nó‘ muốn kéo lại để nhậu, moa sẽ về nhà, đi chùa và gầy sòng làm cái để đánh bài ngày Tết”. Anh BS Bùi Ngọc Điệp là người rất gắn bó với gia đình anh Thống đã giúp đỡ rất nhiều khí anh Thống bị bệnh trong hai năm.
Ước nguyện của anh đã được thực hiện . Mồng một Tết anh chị đi 2 chùa, tối đó chúng tôi có đến chúc Tết và đánh bài, lắc bầu cua, binh xập xám, xì phé. uống chút rượu. Anh rất vui và có vẻ không muốn chấm dứt nhưng chúng tôi sợ anh mệt. Sáng hôm sau bà xã tôi phone hỏi chị, chị nói anh ngủ rất ngon.
Thú thực chúng tôi không nghĩ rằng anh đi sớm như thế , cho đến hôm thứ hai 7 tháng 2 anh có bị sốt và ngày sau thứ ba 8 tháng 2 anh có hẹn ở City of Hope, nhưng anh từ chối đi vì anh nghĩ rằng lên đó anh sẽ không còn được gặp gia đình nữa ??? sáng hôm 8 tháng 2 theo lời chị cho biết thì anh rất yếu có cố nói vài điều với chị nhưng chị không hiểu gì hết và cho đến gần trưa thì chị nhận thấy anh xem ra thất thần khi trả lời chị , chị vội gọi bạn bè người thân và khí chúng tôi đến thì anh đã ra đi rất nhẹ nhàng lúc 01.15 PM ngày 2/8/22 là mồng 8 Tết. Xin Vĩnh biệt ông Moả một người thầy , một người anh và một người bạn Rồi ra sau này trước sau chúng ta cũng sẽ gặp lại.
Hãn.
******
11 Feb 22
Thưa quý Anh Chị (anh NT Vũ, N Hãn, Vĩnh Chánh, LX Cảnh. TV Minh, chị Đàm Giang.........),
Cám ơn quý Anh Chị đã viết, chuyển hình ảnh...... để chia sẻ tình cảm chân thành nồng ấm của chúng ta với “ ông mỏa “ NN Thống, một người rất tử tế, vui tính, dễ thương... của lớp YK64. Có một vài bạn của Y64 đã phát biểu là “ Lủy ( Thống ) có thể ví như một ông Phật sống vậy “ (sic ).
Tôi tuy học chung với anh Thống trong bảy năm YK, nhung không có nhiều kỷ niệm với Anh lắm, mà dù có thì cũng không thể diễn tả đầy đủ, hay ho gẫy gọn được như các anh Vũ, Hãn, Cảnh, Vĩnh Chánh....v..v ...Đặc biệt, vì anh Hãn quen biết nhiều và từ lâu với anh THống nên tôi thấy những điều anh Hãn viết lại thật là quá đúng và hay ( anh Hãn thiệt là tài ba đúng như anh TV Minh nói, tôi lại càng thêm bái phục anh Hãn đó ).
Về chuyện anh Thống uống rượu rất chì thí quả là đúng. Tửu lượng của anh Thống rất mạnh, tôi chưa thấy anh “ xỉn “ hoặc “ cho chó ăn chè “ chỉ trừ có một lần khi đi ăn cưới một người bạn, anh vui và “ dzô dzô “ quá đến đỗi sau đám cưới anh bị đưa vô Chợ Rẫy. Thấy Bùi Quốc Hương chữa trị cho Anh Thống và nghe nói là Thầy Hương bảo là nếu anh uống thêm một hai ly nữa thì Thầy cũng chịu thua.
Còn chuyện “sẵn sàng vác túi khám bệnh đến tận nhà để giúp đỡ “ thì lại càng đúng hơn. Và đây là câu chuyện mà một anh bạn tôi ( học trên anh Thống và tôi một lớp ) kể lại. Anh này và anh Thống cũng đều là những người có nhiều óc khôi hài hay tếu táo.
Moa bị ministroke, nằm BV Fountain Valley mấy ngày thì được cho về. Khi biết , lủy ( Thống, day học ở Loma Linda Medical Center , CA ) đến thăm và mang theo đồ nghề để “check“ moa từ đầu tới chân. Khi Thống về moa cám ơn và chọc lủy (Thống). “Moa cảm ơn toa thật nhiều. Toa checked up cho moa thật kỹ từ đầu tới chân, nhưng toa cũng còn quên mất một phản xạ Hi Hi “.
Thấy lủy cười cười và gật gù cài đầu thì moa nói tiếp :” toa quên thử reflex cremasterien Hi ..Hi..Hi.. “
Kính chúc quý Anh Chị sức khỏe.
NTL
******
Ông mỏa, Bs NNT
Thanh Binh Nguyen
Fri, Feb 11 at 9:30 PM
Anh Hãn đã viết một bài rất chân thành và cảm động về anh Thống. Chắc ông Moả cũng phải cười thôi.
Cám ơn anh Lai đã để thì giờ gom những bài viết về anh Thống. Đọc lại thấy hay quá, và cảm phục anh ấy dù thời sinh viên có biết anh khi đi Chợ Rẫy, nhưng không quen và không có những kỷ niệm riêng tư với anh. Ra đi mà để nhiều người thương tiếc như vậy thì chắc anh rất hài lòng.
Bình.
******
On Friday, February 11, 2022, 01:01:48 AM EST,
Minh Tong <> wrote:
Ông mỏa, Bs NNT
Cám ơn ông thầy Hãn đã viết một bài thật đầy đủ về người đàn anh và cũng là một người thầy trong giới Y khoa.
Bây giờ mới biết ông thầy Hãn có lắm tài. Ngoài tài đem nụ cười đến cho mọi người mỗi ngày qua những mẩu chuyện tiếu lâm, tài viết nhạc, tài trồng hoa, ngày cuối tết "Ông Ba Mươi", thầy Hãn lại trình làng thêm tài viết thật đầy đủ và khá tếu về "Ông Mỏa" nửa. Xin cám ơn và bái phục.
Thầy Hãn kể về "Ông Mỏa" sao nghe hao giống một người đàn anh cũng rất giỏi và dễ thương, đệ tử của Lưu Linh, nhưng không may ra đi sớm nhiều năm trước đây. GS. BS. Võ Thành Phụng.
Cầu cho cả hai ông lại được "chén tạc chén thù" bên nhau nơi ngàn thu. R.I.P.
TVM
******
Ông mỏa, Bs NNT
Vinh Ngo <>
To:
Fri, Feb 11 at 9:37 PM
Rất đồng ý với các bài viết của mọi người về BS Thống, nhất là bài của BS Hãn.
Vĩnh QYHD
***
12 Feb 22 Phán Lộc Y64
NHỨT-THỐNG ƠI,VĨNH-BIỆT
loc nguyen <>
Thu, Feb 10 at 2:34 PM
Chuyến tàu thiên cổ đang lăn bánh
Đưa chúng ta,kẻ trước người sau
Về cùng cát buị,
Cho hợp lẽ vô thường.
Bạn hiền NHỨT THỐNG bình th̉ản ra đi
Chia tay vợ hiền,con ngoan,bằng hữu.
Lẽ tử biệt,sinh ly,
Luật bất biến muôn đời,sinh trụ hủy diệt.
Nơi cực lạc huy hoàng,
Bạn sẽ hội ngộ cùng
HỮU HẢO,NGỌC NHÃ,NGỌC TOÀN.
Các bạn đồng môn quý mến,
Chúng ta từng trải qua
Mái trường xưa biét bao kỷ niệm
Vui buồn thành bại cuả tuổi hoa niên.
Ôi đẹp biết bao cuộc sống sinh viên
Kỷ niệm nguyên khôi một thời aó trắng
Giảng đường xôn xao kết bạn tâm giao
Bệnh viện thâm u,hành lang thanh vắng
Nhỏ to tâm sự,giữa bạn cùng tôi.
Bạn THỐNG ôi,biết bao kỷ niệm
BÌNH DÂN,CHỢ RẪY,CƠ THỂ HỌC VIỆN.
NHỨT THỐNG,bạn hiền,
Y khoa 64 sẽ thiếu vắng đàn anh
Như thủy thủ bơ vơ vắng thuyền trưởng đa minh.
Người đáng yêu có traí tim bồ tát.
Hãy an tâm thảnh thơi về cõi PHẬT
NHỨT THỐNG ơi,
Tôi thành tâm khóc Bạn...
VĨNH LỘC
******
Tài khám lâm sàng của anh Thống.
Minh Tong <>
To:
Thu, Feb 24 at 2:21 AM
Tài khám lâm sàng của anh Thống.
Xin chuyển điện thư của đồng môn T Q Mỹ và xin phép được chuyển điện thư của niên trưởng Trần Văn Khánh tưởng niệm về niên trưởng Nguyễn Nhứt Thống.
Cầm, QYHD16
******
Trang Tran
Tài khám lâm sàng của anh Thống.
To: nguyencam
Anh Thống thường đến bệnh viện nơi tôi làm mỗi tuần một lần để khám các bệnh về "neuro". Một hôm có một bệnh nhân than cánh tay mặt bị yếu. Bệnh nhân này được gởi khám một neurologist khác vì trong tuần lễ đó anh Thống bận không đến được. Bệnh nhân được chẩn đoán bị stroke.
Sau đó bệnh nhân được gởi đi khám lại với anh Thống. Sau khi khám, anh Thống cho biết anh nghi bệnh nhân bị "compression of T1 segment" vì "interosseous muscles" của bàn tay mặt của bệnh nhân hơi bị atrophied hơn bên trái. Và đúng như anh Thống định bệnh lâm sàng, chẩn đoán cuối cùng là " compression of T1 segment due to spondylosis". Bệnh nhân được gởi đi làm giải phẫu và cánh tay mặt hồi phục lại khả quan.
Kết quả tốt đẹp là nhờ tài khám lâm sàng của anh Thống. Anh Thống đã thấy một dấu hiệu (physical finding) nhỏ nhưng rất quan trọng. Đó là "mild atrophy of interosseous muscles" để đi đến chẩn đoán chính xác.
Đúng là "Thống knows no wrong" như trong bài viết của anh Trần văn Khánh và anh Thống xứng danh là "Thong Sensei" (sensei = teacher).
Anh Thống! Chúng em rất thương mến Anh.
Xin Anh hãy yên nghỉ.
Chúng em thành kính cầu nguyện hương linh anh được về cõi vĩnh hằng.
T Q My
******
Chuyển:
Điện thư của Niên Trưởng Trần Văn Khánh:
Cám ơn anh Hãn đã kể lại những kỹ niệm đẹp và cảm động của anh với BS MOÃ.
Tôi là Trần văn Khánh và nhà tôi, Lê mỹ Phượng rất đau đớn trước sự ra đi của anh Thống và xin chân thành chia buồn cùng chị Thống, cháu Phượng và Harry. Chúng tôi thành kính cầu nguyện cho hương linh anh sớm tiêu diêu về miền cực lạc.
Tôi biết anh Thống từ khi học trung học tại Chasseloup Laubat. Anh là bạn thân với anh tôi. Anh rất hiếu học, là một học sinh xuất sắc, luôn hết tình với bạn hữu cùng chơi “xã láng”.
Khi vào trường YKĐH Saigon, anh là linh hồn của trại 22 BV Chợ Rẫy, theo sát GS B.Q.Hương với môn thần kinh nội, khó nuốt nhưng anh giảng rất vui và thực tế, giúp cho sinh viên hiểu nhanh chóng, dễ dàng.
Anh thường nói: “Định bệnh thần kinh rất chính xác trên trục đứng cũng như trục ngang”.
Khi chính phủ Nhật bản xây cất khu Thần kinh Giải phẩu, anh và tôi hợp tác với phái đoàn Y Tế Nhật để cùng giải quyết các trường hợp bệnh lý thần kinh đưa đến phương pháp điều trị đúng có liên quan đến giải phẫu.
Tôi còn nhớ anh xông pha làm “carotid artériographie" bằng percutaneous injection mà khi hăng sai anh quên mang tablier để che bớt quang xạ ( radiation). Không biết có phải lý do xa xôi làm anh bị AML ngày nay (?).
Trong thời gian này chúng tôi tổ chức được các buổi hội chẩn phối họp Nội, Ngoại Thần kinh cùng Quang tuyến, mô học và cả chuyên môn Neuro ICU của Third Field Hospital mả tôi có mời đuợc cô Janet Whittaker đến giảng dạy cho các y tá trại 31. Sau này cô JW có làm việc tại Loma Linda, theo lời anh cố BS N D Cung.
Nhờ đó mà khu TKGP /BVCR được giao thiệp với các bệnh viện quân y trong đó có TYVCH.
Những bác sĩ Nhật mến anh và âu yếm gọi anh là Thong Sensei.
Năm 1973 tôi sang Nhật tham quan tại Nihon University thì người đầu tiên được giáo sư Tsubokawa hỏi thăm là“Thong Sensei”.
Rồi anh được du học năm 1973 tại Georgetown U, anh được GS Désmond O’Doherty tiếp tục dìu dắt anh để học hết tinh vi của nghể.
Năm 75 mất nước, anh bị kẹt lại và phải bôn ba về Oklahoma, được
GS John Nelson tiếp đón nồng hậu. Làm sao mà anh không giỏi về môn Thần kinh Nội? Thép đúc hai lần.
Sau 75, tôi vượt biên qua Mỹ, phải đổi chuyên môn qua Thần kinh Nội và trở thành “đệ tử ruột” của anh tại OU Health Science Center.
Trong khi đi residency, tôi gần gủi với sinh viên Y Khoa và nội trú (medical students, 3rd, 4th year và residents), tôi thường nghe: “Thong knows no wrong!"
Mấy năm trước, khi tôi sang Úc thăm GS Donald Simpson, người đã dạy tôi môn Pediatric Neurosurgery, ông hỏi tôi về anh Thống: “How is the fellow from Oxford “.
Còn rất nhiều kỷ niệm về anh Thống, tôi sẽ trân quý giữ riêng.
Anh Thống ơi, anh đã ra đi mà sao tôi vẫn còn thấy anh với cái túi khám bịnh, nhớ những định bệnh chính xác, và những lời khôi hài duyên dáng của anh.
Anh là con cọp khả ái, với tấm lòng vị tha, khiêm nhường, để lại tiếng thơm mãi mãi.
Kính mến. RIP
Khánh&Phượng
******
THẦN KINH CHỢ RẪY
Chợ Rẫy Thần Kinh nội ngoại khoa
Giờ đây vắng bóng những tài ba
Khánh thành phổ chiếu đầy công đức (*)
Thống khoái minh tâm hưởng thái hòa (*)
Bác sĩ tận tình không thấy nữa
Lâm sàng thiện nghệ khó tìm ra
Bao năm trọn đạo người thầy thuốc
Xuất thế tươi vui lúc tuổi già.
Phan Thượng Hải
11/10/12
(*) Chú thích: Khu Thần Kinh Chợ Rẫy gồm có: BS Trần Văn Khánh, GSBS Đặng Văn Chiếu, BS Nguyễn Nhứt Thống, BS Đặng Minh Tâm... Đây là kỹ thuật "chơi chữ" của thơ.
MỘT ĐÀN ANH
Đau buồn tiếc nhớ một đàn anh
Nam tử can trường trải tử sanh
Nhân sĩ dễ thương toàn đức nhuận
Lương y khả kính tận tài lành
Đa tình hoan hỉ tròn thân ái
Đắc đạo từ bi thoát lợi danh
Để lại trần gian bao thán phục
Bụt nhà gương sáng nghiệp công thành.
Phan Thượng Hải
2/10/22
******
Cám ơn anh Lai.
Đúng là "Cọp Chết để da, người chết để tiếng". Anh Thống ra đi để lại bao tiếc thương cho đồng môn và học trò. Nguyện cầu hương linh Anh sớm về cõi Siêu Sinh Tịnh Độ.
Trọng Kính, Tiểu Thu
******
Cám ơn Bác Sĩ Nguyễn Tích Lai.
Thật đáng ngưỡng mộ sự tận tụy, hết lòng vì nghề nghiệp của Giáo Sư, Bác Sĩ Nguyễn Nhứt Thống. Ông lại có tính tình khiêm nhường, hiền hậu để lại trong lòng những đồng nghiệp niềm thương tiếc sâu xa.
Thành kính phân ưu cùng gia quyến và cầu nguyện cho hương linh ông về cõi Vĩnh Hằng
Thanh Vân
******
Anh Lai kính mến,
Cám ơn anh Lai đã gom lại những lời phân ưu thương tiếc BS Nguyễn Nhứt Thống về sự ra đi của ông.
Em chỉ xin hiệp lời cầu nguyện, nguyện cầu cho hương linh BS Nguyễn Nhứt Thống sớm tiêu diêu miền cực lạc yên giấc ngàn thu. Xin hẹn một ngày gặp lại nơi chốn vĩnh hằng.
Thành kính phân ưu cùng tang quyến.
Nguyễn Tố Kim
******
Anh Lai kính mến.
Đọc lại những lời quý anh chị dành cho Bác Sĩ Nguyễn Nhứt Thống thật đáng để lớp nhỏ chúng em kính phục.
Em xin thành Kính chia sẻ, đồng hành cùng Tang Gia và các anh chị YK. trong nỗi đau buồn này.
Xin hiệp lời cầu nguyện cho Hương Linh Bác Sĩ Nguyễn Nhứt Thống được yên nghỉ thảnh thơi và sớm tiêu diêu nơi miền Cực Lạc.
Thành Kính Hiệp Nguyện.
Kim Oanh
******
10 Feb 22
Email chị Giáo Sư Nguyen Nhut Thống Chan thanh cam ta
Xin chuyển lại các anh chị lời chân thành cảm tạ của chị Nguyễn Thị Bích Hường: Bà giáo sư/bác sĩ / Nguyễn Nhứt Thống với tất cả các bạn hữu, học trò, bệnh nhân cũ của giáo sư Y Khoa, bác sĩ Nguyễn Nhứt Thống trong trên 60 năm qua.
Chị Bích Hường trân quý: chúng tôi chia sẻ niềm đau thương bao la của chị Bích Hường và các cháu.
Nay Kính
Nguyen Thuong Vu
******
From: Huong Nguyen <>
Sent: Wednesday, February 9, 2022 9:35 PM
To:
Xin chân thành cảm tạ các anh chị đã có lời chia buồn cùng gia đình chúng tôi,
Chúng tôi rất cảm kích sự thương tiếc cũng như sự quý mến của quý anh chị đối với sự ra đi của chồng, cha, và ông ngoại chúng tôi.
Nguyen Trinh Bich Hường
Phuong&jJim wood và 2 con Alex va Sam WoodTri Nguyễn
ĐIẾU VĂN KHÓC BẠN THỐNG
Kính thưa Chị Thống,
Tôi rất xúc động đại diện tất cả các Bạn Y Sĩ Saigon đồng khóa 1964 với Anh Thống, chúng tôi chân thành ngỏ lời chia buồn với Chị và các cháu cùng tang quyến trước sự đau buồn mất mát lớn lao Anh Thống đã vĩnh viễn ra đi.
Chúng tôi xin góp lời cầu nguyện cho hương linh Anh Thống siêu thăng về thanh nhàn ở cõi vĩnh hằng.
Riêng tôi có nhiều kỷ niệm với Anh Thống, tôi xin có vài lời tâm tình vĩnh biệt với Anh Thống.
Thống ơi.
Hai đứa mình trong nhóm 105 sinh viên ngồi nghe diễn văn khai giảng năm thứ nhất khóa mình. Giáo sư Nguyễn Hữu vừa về sau khi dự Hội Nghị Giáo Dục Y khoa Thế Giới cho biết chương trình giáo dục Y Khoa của VNCH sẽ lý thuyết theo Pháp, thực tập theo Mỹ. GS Hữu còn nói ”Nếu các anh chị theo học y khoa để làm giàu thi sai lầm vì có nhiều nghề khác làm giàu nhanh hơn và nhiều tiền hơn. Thêm nửa y sĩ là sinh viên suốt đời để theo kịp khoa học tiến bộ. Thế rồi chúng mình quay cuồng với thời gian trong sáu năm nên tất cả chúng ta đều quen nhau. Đến khi tốt nghiệp ra trường đa số được trưng tập vào quân đội. Một số ít được miễn dịch. Thống đã được miễn đi lính vì đang được huấn luyện sẽ là giáo chức của trường y Khoa.
Các bạn đồng khóa đã chuyển ra các đơn vị nên ít khi gặp nhau. Trong mười năm theo sau đó tôi có 3 năm rưỡi là chiến binh, kế đến 3 năm rưỡi ở bệnh viện, rồi giải ngủ ra dân sự,, Tháng tư đen mất nước, tôi đi tù cộng sản 9 năm ba lần vào tú, ba lần được thả Thê` rồi tôi vượt biên. Tôi được biết trong 10 năm đó Thống đẵ trở thành Giáo Sư Đại Học Y khoa Saigon (Bộ môn Thần Kinh Học), Đến năm 1972 Thống đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ đến khi mất nước Thống ở lại không về Việt Nam.
Sau 20 năm xa cách tôi và Thống gặp lại nhau và có nhiều chuyện kể cho nhau nghe. Thống là trưởng nhóm Y Sĩ Saigon khóa 1964 nên thường xuyên gặp các bạn đồng khóa mỗi khi có một bạn ở Tiểu Bang khác đến Orange County là có họp bạn, nhờ có danh sách địa chỉ, điện thoại và email của các bạn đổng khóa nên các bạn dễ liên lạc với nhau.Tất cả các anh em đổng khóa đều quý mến Thông . Thống hiền lành, nói năng hòa nhã nên được lòng tất cả mọi người. Các bạn không quên những buổi Họp Mặt Tất Niên ở California và bốn lần Họp Bạn Đồng Khóa Toàn Thế Giới, có các bạn đến từ Canada, Anh, Pháp, Úc Việt Nam. Chỉ có Y Si Saigon Khóa 64 đã tổ chức được nhiều lần họp bạn như đã kể trên, nên hai khóa 1963 và 1965 cũng có vài bạn xin tham dự cho vui. Các buổi họp bạn đều thành công.
Tôi không bao giờ quên tai nạn xảy ra cho tôi vào 6 giờ sáng ngày Thứ Hai 21 Tháng 11 năm 2016, tôi thức dậy mở cửa ra sân sau cho con chó Kiwawa đi đái. Tôi vừa bước ra cửa thấy chân thấm nước mưa tối qua nên tôi bước lui vào nhà, bất ngờ trượt chân ngã ngửa nằm dài, đầu đập mạnh xuống nền gạch, thoáng bất tỉnh rồi cảm thấy đau đầu quá. Tôi gọi lớn mấy tiếng vợ tôi ngủ trên lầu nghe được chạy xuống định đỡ tôi dậy, nhưng tôi khoát tay biểu gọi 911 nhưng lại gọi thằng con trai đang ngủ ở trên lầu xuống. Thây tôi nằm dài trên nền nhà nó nhanh chóng bồng tôi ra xe chở thẳng đến phòng cấp cứu bệnh viện Hoag. Tôi được chụp xray đầu hai ba tấm phim và chuyên viên quang tuyến cho biết là có 2 mạch máu của não bị bể, phải nhập viện không thể về nhà ngay. Phòng cấp cứu không có giường trống nên phải nằm ngay tại khu quang tuyến. Thằng con trai gọi điện thoại về nhà báo tin cho mẹ. Nửa giờ sau vợ tôi và em gái tôi vào thăm. Cả hai đều lo và buồn, sau nầy tôi được biết khi vợ tôi về nhà thì gọi hai con lại bảo đem giấy và viết vào thăm tôi, trong khi tôi còn tỉnh chưa hôn mê thì tôi có trối trăn gì thì ghi xuống giấy, có lẽ nghĩ là tôi sẽ chết trong tai nạn nầy. Mười một giờ sáng hôm đó có giường trống nên tôi được chuyển lên phòng cấp cứu và bác sĩ chuyên khoa chấn thương sọ não đến khám và xem phim chụp quang tuyến rồi hỏi tôi nhiều câu để xác định xem nào tôi có tai biến thương tích nào không? Bác sĩ cho biết bị xuất huyết hai nơi máu tràn ra cỡ 1mm. Tám giờ sáng hôm sau được đưa xuống chụp quang tuyến sọ não và 11 giờ bác sĩ đến thăm và cho biết máu còn chày gắp 2 ngày hôm qua. Buổi chiều bác sĩ quay trở lại hỏi tôi có lái xe về được không? Tôi từ chối và xin ở lại. Bác sĩ lại bảo tôi nên về nằm ở lại thì tốn rất nhiều tiền. Nên về nếu có gì thì gọi 911 chở vào lại Y tá ở trại cho biết bác sĩ đã ký giấy xuất viện hẹn tuần sau tái khám Nhưng chiều rồi không có người nhà đến rước về..
Đêm đó tôi không ngủ được nghĩ rằng ba hôm nữa là ThanksGiving và tình trạng của tôi chắc không xong rồi nên bác sĩ cho về gặp vợ con thân yêu lần cuối cùng. Gia đình tôi đã được bệnh viện thông báo nên sáng hôm sau con gái tôi bảo con dâu tôi đón tôi về nằm nghỉ đỡ ở ghế sofa. Chiều xe chở tới một cái giường đặt vào phòng nhỏ làm phòng ngủ cho tôi ở cạnh phòng gia đình. Chiều con gái đi làm về ghé lại nhà thăm và bảo đứa em trai chuyển cái soffar vào phòng của tôi và tối ngủ ở đó để lo cho tôi, không được đi chơi tối. Tôi nghĩ đến câu “Phụ Mẫu tại đường, hiếu tử bất khả viễn du”.
Cuối tuần Thống đến thăm tôi đem theo đủ dụng cụ để khám 12 đôi dây thần kinh não bộ nhắm mắt mở mắt, soi đèn . hà miệng, le lưỡi,, thử thính giác, thử hửi mùi, gõ tay chân thử phản xạ. Đo áp huyết, nghe tim nghe phổi cà hơn nửa giờ. Thống cho biết 12 ngày sau chấn thương sỏ não là thời gian nguy hiểm , gia đình phải có người theo dõi giúp đỡ, không để té, nhức đầu nhiều,, chóng mặt, hoặc ói mửa thì phải trở lại phòng cấp cứu. Rồi mỗi tuấn hai hay ba lần đến thăm và lại khám tất cả phản ứng các dây thần kinh giống như lần đầu. Những tháng kế tiếp tôi tái khám ở bệnh viện có chụp xray thì Thống chỉ cho tôi những chỗ trên phim để theo dõi. Sáu tháng sau cho tôi lái xe trong thành phố nhưng không được lái lên Xa Lộ, trong hai năm sau tai nạn, bất ngờ có thể bị động kinh, Còn lái các đường trong thành phố thì trước khi bị động kinh thì có triệu chứng báo trước để bật đèn xe cần lái vào lề ngừng lại.
Thống có Pháp Danh là ĐỨC ĐẠO đã sống hiền hòa suốt trọn đường đời: Sinh Lão Bệnh Tử là TỨ QUÝ, đà sống qua tuổi 80 Thượng Thọ và lương tâm tốt đẹp : NHÂN ÁI, NHÂN ĐẠO, NHÂN ĐỨC, NHÂN HẬU, NHÂN HÒA, NHÂN TỪ là LỤC PHÚC. Thống là người có đủ mười điểm cao quí nhất của đời người. Sống là Người Hiền, chết là Thần Linh.
Thống là niềm hãnh diện của các Bạn đồng khóa Y Sĩ Saigon 1964. Thống là Thầy đáng kính của các môn đệ. Thống là lương y của các bệnh nhân, Thống sẽ là Thần Linh phù hộ vợ con và các cháu.
Đây là những lời đau buồn tiếc thương vĩnh biệt với hai tiếng cuối cùng THỐNG ƠI!
Thuở
mới bắt đầu lang thang, lưu lạc ở ngoại quốc, rất khó tìm được băng
nhạc giá trị. Ngày đó những ca sĩ thượng thặng như Thái Thanh, Duy Trác,
Anh Ngọc… hãy còn bặt tiếng ở trong nước.
Mãi đến khoảng 1985, tìm được cuộn băng “Tiếng Hát Mai Hương / Giấc Mơ Hồi Hương”, tôi quý vô cùng. Ngoài Giấc Mơ Hồi Hương, của Vũ Thành, băng nhạc còn những tác phẩm tuyệt diệu khác như Cung Đàn Xưa (Văn Cao), Hương Xưa (Cung Tiến), Tà Áo Văn Quân (Phạm Duy Nhượng), Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng (thơ Phạm Thiên Thư, nhạc Phạm Duy)… Mai Hương hay hát Phạm Đình Chương, Lê Văn Thiện, Văn Phụng và Huỳnh Anh hòa âm. Cuối băng nhạc, Mai Hương có chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong băng nhạc Mai Hương sau.
Đến
tám hay chín năm, không thấy bóng dáng băng nhạc thứ hai của Mai Hương
đâu cả. Tôi biết, nhưng không có dịp nghe, Mai Hương vẫn có hát với Ban
Hợp Xướng Ngàn Khơi của Trần Chúc hay Ban Tứ Ca Thùy Dương. Và thỉnh
thoảng chỉ được nghe Mai Hương hát lẻ tẻ trong những băng nhạc như
“Tiếng Chiều Rơi /Lê Văn Khoa”, “Dấu Vết Tình Ta 1/Diễm Xưa”, “Hoài Bắc 1
/ Đôi Mắt Người Sơn Tây”, “Hoài Bắc 2 / Người Đi Qua Đời Tôi” và …
“Tình Ca Phạm Anh Dũng / Đưa Người Về Phương Đông”.
Chỉ mãi gần đây,
thính giả yêu nhạc mới được thưởng thức băng nhạc đó, mới, với hoàn toàn
giọng hát của Mai Hương. 12 bản nhạc, đa số thuộc nhạc tiền chiến, bất
diệt, sáng tác bởi những tên tuổi lớn của nhạc Việt như Văn Cao, Vũ
Thành, Dương Thiệu Tước, Tô Vũ, Tử Phác, Dzoãn Mẫn, Nguyễn Văn Quỳ, Đan
Trường… rồi Ave Maria của Gounod, hòa âm do những nhạc sĩ lừng danh Văn
Phụng, Nhật Bằng, Lê Huy và Vũ Tuấn Đức đã thừa sức bảo đảm trình độ
nghệ thuật cao của băng nhạc “Tiếng Hát Mai Hương / Nhặt Cánh Sao Rơi”.
Về
Văn Cao. Nếu ông không có những bài hát vớ vẩn, tôi không thích chút
nào và tôi không tưởng tượng là do Văn Cao sáng tác, như Ca Ngợi Hồ Chủ
Tịch, Công Nhân Việt Nam…, tôi sẽ nghĩ Trịnh Công Sơn đúng khi viết: “…Trong
âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng… Âm nhạc của anh Văn là
âm nhạc của thần tiên bay bổng… tôi nghe trong âm nhạc anh gió vẫn
chuyển và cây thay lá…”.
Từ
những bài nhạc hùng như Gò Đống Đa, Chiến Sĩ Việt Nam, Thăng Long Hành
Khúc Ca… đến tình ca như Thu Cô Liêu, Buồn Tàn Thu (Chinh Phụ Khúc),
Cung Đàn Xưa, Suối Mơ (Bài Thơ Bên Suối), Bến Xuân (Đàn Chim Việt)… mà
tuyệt đỉnh là Thiên Thai và Trương Chi, đều là những khúc nhạc có giá
trị và đã tồn tại cả nửa thế kỷ và sẽ mãi mãi lưu truyền về sau.
1947.
Sau chiến thắng sông Lô của quân Việt chống Pháp, nhiều nhạc sĩ cảm
hứng viết thành bài hát, Lương Ngọc Trác viết Lô Giang, Phạm Duy viết
Tiếng Hát Trên Sông Lô…
Riêng Văn Cao, khác hẳn, ông đã hoàn thành
một tác phẩm lớn lao Trường Ca Sông Lô, đó là bản nhạc mở đầu cho băng
nhạc “Nhặt Cánh Sao Rơi”.
Mai Hương cùng Vũ Anh, Kim Tước và Quỳnh
Giao đã đưa thính giả vào thế giới của giai đoạn quân kháng chiến Việt
Nam (không chỉ của Việt Minh) chống Pháp ở vùng Việt Bắc ngày xưa.
Đoạn mở đầu ở âm giai Ré Trưởng, chậm và tình cảm, tả cảnh êm đềm của sông Lô trong mùa Thu:
“Sông Lô, sóng ngàn Việt Bắc, bãi dài ngô lau, núi rừng âm u
Thu ru bến sóng vàng, từng nhà mờ biếc chìm một màu khói Thu…”
Chiến tranh bùng nổ:
“…Sông Lô sóng ngàn kháng chiến, cháy bờ lau thưa, đã tàn thôn trang…”
Và chiến thắng Sông Lô, nhạc nhanh hơn, chuyển thẳng qua Sol Trưởng:
“…Trên dòng sông trở về, đoàn người reo mừng vui
Trên sóng nước biếc, trôi đầy sông bao đám xác thù…
Dòng sông vui mừng cùng dân chúng:
“…Dân hân hoan nghe sóng reo vi vu xa xa…”
Đến âm giai Si Trưởng với nhịp hành quân hùng mạnh của
“…đoàn quân thời chinh chiến…chiến sĩ sông Lô”.
Màn đêm buông xuống, nhạc lắng đọng, giọng Mai Hương chậm, truyền cảm:
“Về trong đêm gió rét. Từng sân vui bóng người quanh lửa hồng”
Bản
nhạc sau đó trở về Sol Trưởng, nhạc vui nhanh khi thanh bình về lại với
dòng sông và dân chúng bắt đầu xây dựng lại đời sống mới:
“…vui hát ca hòa vui hát ca…buông lưới đánh cá…đắp nhà”.
Cuối
cùng, để chấm dứt, nhạc chậm lại, trở lại Ré Trưởng của đoạn mở đầu để
Mai Hương, Vũ Anh, Kim Tước và Quỳnh Giao kết thúc bằng vài câu nhạc
tình cảm nhẹ, tả cảnh mùa Xuân của dòng sông:
“…Mùa Xuân tới, nước băng qua ngàn, nuớc in ven bờ xanh ôm bóng tre
Dòng Sông Lô trôi…”
Trường
Ca Sông Lô của Văn Cao không dài lắm nhưng rất đều đặn, cách chuyển âm
giai từ đoạn này sang đoạn khác khéo léo, xứng đáng là bản Trường Ca đầu
tiên của âm nhạc Việt Nam. Trường Ca Sông Lô của Văn Cao đã mở đường
cho những trường ca Việt Nam khác của Phạm Đình Chương ( Hội Trùng
Dương), Lê Thương (Hòn Vọng Phu) và Phạm Duy (Mẹ Việt Nam, Con Đường Cái
Quan, Bầy Chim Bỏ Xứ và Hàn Mặc Tử).
Về
tình ca, có lẽ không có bài nào của Văn Cao và có lẽ khó có bài nào của
bất cứ nhạc sĩ Việt Nam khác có thể so sánh với hai nhạc phẩm Thiên
Thai và Trương Chi. Thế giới âm nhạc tình yêu của Văn Cao là hình ảnh
của Thiên Thai trong giấc mộng Đào Nguyên và tâm sự của Trương Chi,
truyện truyền kỳ, nhưng hình như cũng là tâm sự của chính ông, người
nghệ sĩ cô đơn. Không biết về đời sống thực của ông, chắc ông cũng có
gia đình êm ấm, nhưng về nghệ thuật nhiều khi tôi thấy ông có vẻ đơn
độc, khác người:
“Chiều nay run rẩy tha đôi cánh
Một bóng sơn ca đến lạc loài” (thơ Văn Cao)
Trong
băng nhạc “Nhặt Cánh Sao Rơi”, ta gặp lại chuyện cổ tích Trương Chi-Mỵ
Nương. Trương Chi là một hình ảnh ám ảnh Văn Cao khá mạnh. Trong Cung
Đàn Xưa đã có bóng hình của chàng Trương Chi xấu số:
“…Chiều năm nay bóng người khơi thương
Tiếng đàn gieo oan giấc mộng chàng Trương…”.
Mai
Hương đã đem hết tâm hồn diễn tả bản nhạc của chàng Trương Chi Văn Cao.
Bài hát cả nhạc lẫn lời viết thật tài tình. Bắt đầu bằng những câu nhạc
chậm của Ré Thứ miêu tả khung cảnh trăng nước hòa vào tiếng hát của họ
Trương. Câu đầu tiên đã hay:
“Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ…”
Không nói đến nhạc vội. Chỉ bàn về lời. Trăng nước thành thơ đã là hay nhưng “trăng nước chưa thành thơ” thì thật tuyệt lạ.
Tiếng hát Trương Chi xuất hiện cùng với mùa Thu:
“…Ôi, tiếng cầm ca Thu tới bao giờ…”
Rồi
giọng Mai Hương có vẻ lãng mạn khi diễn tả trong đêm khuya vắng, Mỵ
Nương lả lơi nghe tiếng đàn hát của người lái đò từ chốn phòng loan, nơi
Tây Hiên.
Mai Hương, buồn thấm thiết đưa hồn người đến lúc:
“…Oán trách cuộc từ ly não nùng…”
Và đến lúc thuyền và người chìm sâu đáy nước. Nhưng vẫn có đâu đó:
“…Từng khúc nhạc xa vời, trong đêm khuya dìu dặt tiếng tơ rơi…”
Hay:
“…Dâng ứa trăng về khuya, bao tiếng ca ru mùa Thu”
Mưa gió đến, nhạc chuyển bất ngờ, dồn dập vào Sol Trưởng:
“Ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn, còn nghe như ai nức nở và than
Trầm vút tiếng gió mưa, cùng với tiếng nước róc rách, ai có buồn chăng
Lòng bâng khuâng theo mưa đưa canh tàn, về phương xa ai nức nở và than
Cùng với tiếng gió vương, nhìn thấy ngấn nước lấp lánh, in bóng đò xưa…”
Mai
Hương hát chỗ này đúng ý viết nhạc. Rất quan trọng phải hát đúng ở đây
vì Văn Cao dùng những dấu lặng sau mỗi nốt nhạc ở chỗ này thật kỳ diệu
và diễn tả rõ được những giọt mưa rơi như những giọt nước mắt trên phím
ngà. Nghe kỹ ta có thể “nghe” được “tiếng nước róc rách” của giọt mưa, hay “nhìn” thấy “ngấn nước lấp lánh” của
dòng sông, cũng nhờ những dấu lặng đặt đúng chỗ. Đã một lần, tôi nghe
có một ca sĩ có giọng rất tốt, rất dài hơi hát Trương Chi và ở đoạn này
đã “nuốt” mất những dấu lặng làm mất ý nghĩa.
Hai chữ “gió” ở
những nốt nhạc cao và được láy. Mỗi chữ là bốn móc đơn được nối vào
nhau, láy, để diễn tả “gió”, chữ thành dài ra nghe rất tượng thanh.
Mai
Hương, buồn não nề, đưa người trở lại âm giai chính Ré Thứ, trở lại với
chính tâm sự của chàng Trương Chi thời đại,Văn Cao, người nghệ sĩ cô
đơn:
“Đò ơi ! Đêm nay giòng sông Thương dâng cao, mà ai hát dưới trăng ngà
Ngồi đây ta gõ ván thuyền, ta ca trái đất còn riêng ta…”
Và để chấm dứt, ngậm ngùi, một câu hỏi của Văn Cao như cho chính mình:
“… Đâu bóng thuyền Trương Chi ?”
Gần
đây tôi có xem một cuộn video về Văn Cao cũng có Trương Chi, Thiên
Thai… xuất bản từ trong nước ra. Chỉ có một ấn tượng mạnh duy nhất là
giọng nói và hình ảnh thanh thoát của Văn Cao với chòm râu dài bạc lướt
thướt. Còn hòa âm không có gì xuất sắc và kỹ thuật thu thanh nghèo nàn.
Lại nữa, các ca sĩ không đủ tài diễn tả được những bài hát. Lúc nhạc đến
lúc thật là buồn thì lại nhoẻn miệng cười tươi đẹp như hoa nở giữa mùa
xuân, thật chướng (điểm này cũng thường thấy ở những video nhạc Việt Nam
xuất bản ở hải ngoại). So với Trương Chi và Trường Ca Sông Lô do Mai
Hương hát thì đúng là một vực một trời.
Bao giờ mới thấy một băng
nhạc có giá trị gồm chỉ những bản của Văn Cao? Nhờ các trung tâm nhạc
như đứng đắn như Thúy Nga, Diễm Xưa…trả lời.
Bản
thứ hai trong băng nhạc sau Trường Ca Sông Lô là Nhớ Trăng Huyền Xưa
của Nguyễn Văn Quỳ. Ông nhạc sĩ họ Nguyễn chỉ có rất ít nhạc truyền lại
cho hậu thế trong đó có Nhớ Trăng Huyền Xưa.
Thường thì ta chỉ nghe
thấy người bàn đến “tóc huyền” hay “mắt huyền” hoặc “áo huyền” và huyền
của tóc, mắt, áo nghĩa là mầu đen. Chắc chắn Nguyễn Văn Quỳ không ám chỉ
“trăng… đen” vì trong bài hát trăng rất là sáng. Có lẽ là “trăng huyền
hoặc” thì đúng hơn. Cũng có thể là “trăng khuyết” hay “trăng treo ngang
trời”.
Bản nguyên thủy viết bằng Blues. Nhật Bằng, vẫn còn đủ phong
độ của con chim đầu đàn của ban nhạc nổi danh Hạc Thành ngày xưa (gồm
Nhật Bằng, Nhật Phượng, Thể Tần và Hồng Hảo). Anh đổi Nhớ Trăng Huyền
Xưa sang Tango và Boléro sống động hơn.
Mai Hương hát thật hay, nhịp nhàng theo Tango mở đầu bản nhạc:
“Bóng trăng dần xuống, hàng cây hắt hiu theo gió buồn
Mây trắng mờ trong bóng đêm, không gian lắng chìm vắng im…”
Nửa bản sau là Bolero, Mai Hương chợt vút lên ngay trong những chữ đầu tiên:
Tìm đến bên hoa, gió trăng nhè nhẹ mơn mơn cánh yêu kiều…”
Bản nhạc chấm dứt, tiếng hát vẫn vương vấn.
Dương
Thiệu Tước là một trong những nhạc sĩ tiền phong của âm nhạc Việt Nam.
Ông sáng tác nhạc theo đủ nhạc điệu. Bản nhạc phổ thông nhất vì dễ trình
bày là Bóng Chiều Xưa (lời Minh Trang). Những tuyệt tác của ông như Đêm
Tàn Bến Ngự, Áng Mây Chiều, Tiếng Xưa… thì quá nhiều, không thể kể hết ở
đây. Bản nhạc riêng tôi thích nhất của Dương Thiệu Tước là Bến Xuân
Xanh, bản nhạc Valse hay nhất của ông và có lẽ cho đến nay, cũng là bản
Valse hay nhất và dài nhất của nhạc Việt Nam.
Lần này Mai Hương đem
Tango của Dương Thiệu Tước đến với Cánh Bằng Lướt Gió. Bài hát có âm
hưởng, tình cảm nhẹ nhàng của thời văn nghệ tiền chiến:
“Bên phương trời đượm bao gió sương, mây bao la man mác âm thầm
Chiều chiều buồn âm u tiếng trầm trầm giòng sông nước cuốn cuốn…”
Giữa
Thập Niên 1950, phong trào “Nhân Văn Giai Phẩm” ở miền Bắc Việt Nam nổi
dậy. Đến bây giờ tôi vẫn còn lạnh người đọc những dòng chữ như:
“Tôi bước đi không thấy phố, không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ” (thơ Trần Dần)
hay vẫn kính phục những ý tưởng như:
“Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu…” (thơ Phùng Quán)
Nhân
Văn Giai Phẩm là phong trào đòi quyền phát biểu tự do của những nhà trí
thức, văn sĩ, họa sĩ, tư tưởng gia, thi sĩ, giáo sư… Những tên tuổi như
Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Phùng Cung,Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phùng Quán…
đã làm rung chuyển tận gốc rễ Xã Hội Chủ Nghĩa Cộng Sản ngày đó và vẫn
còn ảnh hưởng đến mãi sau nàỵ Về nhạc sĩ có ba người tham dự phong trào
là Văn Cao, Đặng Đình Hưng và Tử Phác. Tử Phác có ít tác phẩm lưu truyền
nhưng đều xuất sắc cả.
Tử Phác và Lương Ngọc Châu có một bài hát hay
vô cùng là Tiếng Hát Lênh Đênh, tựa đề của cuốn băng đầu tiên của Anh
Ngọc ở hải ngoại.
Băng
nhạc Nhặt Cánh Sao Rơi có Mai Hương hát Tiếng Hát Quay Tơ là một bản
Valse do Tử Phác sáng tác và là bản Luân Vũ tương đối nhanh, duy nhất
trong băng nhạc rất phù hợp với nhịp của máy quay tơ.
Đây không phải
là chuyện nàng quay tơ, anh đan áo trong thời bình như bài nhạc thơ Thoi
Tơ của nhà thơ Nguyễn Bính và nhạc sĩ Đức Quỳnh. Đây là chuyện quay tơ
của thời chiến.
Mai Hương ở Tiếng Hát Quay Tơ là những lời thầm thì,
hiền dịu, những tâm sự đằm thắm của người đàn bà gửi gấm vào tấm vải may
áo cho người yêu đang ở nơi biên cương,của những hàng nước mắt dưng
dưng nhớ người ở xa…
Hình ảnh của thiếu phụ ngồi quay tơ trong một
buổi chiều nắng nhẹ, bỏ hết mọi chuyện và chú tâm vào việc đan áo rét
cho người người chiến sĩ của nàng đang ở chốn sa trường là một hình ảnh
“cổ điển”, một hình ảnh thật đẹp, thật cảm động của thời đại văn minh
tiền chiến:
“…Quay, quay, thương nhớ quyến vào tơ
Quay, quay, xe áo rét dâng chàng
Rộn ràng tơ lướt tới người chiến sĩ yêu
Quay, quay, thương nhớ quyến vào tơ
Quay, quay, chăn ấm quấn thân chàng
Mỗi một đường tơ là mối dây tình trong lòng em dâng người hiên ngang…”
Bản “Nhạc Chiều” của Dzoãn Mẫn thật tuyệt diệu. Một nửa đầu viết theo Luân Vũ 3/4. Mai Hương chậm, nhẹ, vương vấn:
“Chuông chùa vương tiếng ngân, âm thầm trong chiều vắng
Đường tơ lắng buông trong huy hoàng…”
Qua điệp khúc, nhạc ở 4/4, nhanh hơn. Mai Hương hát thêm giọng hai, quyện lấy giọng chính, vui hơn:
“Vương sầu làm chi cho ngày thắm phai
Hãy vang tiếng tơ vui đi cho ngày mai….”
Mai Hương rồi linh hoạt, hát tự đuổi theo giọng chính của mình:
“Nên ngừng bâng khuâng nghe muôn tiếng ca
Cố quên đau thương cho vui lòng ta…”
Bản nhạc trở về một giọng hát, âm điệu chậm 3/4, như đoạn đầu:
“Nhạc chiều êm đưa trong vườn khuya lưu luyến
Âm thanh ghi lấy vài lời u huyền…”
Biệt Ly (“Biệt ly nhớ nhung từ đây…”),
bản nhạc hay thấy hát nhất của Dzoãn Mẫn, nhưng Nhạc Chiều có lẽ là bản
hay nhất của ông. Và Mai Hương hát Nhạc Chiều thật là điêu luyện.
Một
trong những bản nhạc tương đối giản dị mà thật hay, hay lạ lùng, nhưng
chả mấy khi được nghe là Trách Người Đi của Đan Trường. Ngày xưa ở Việt
Nam tôi chỉ nhớ lại được Pat Lâm, nam ca sĩ người Hoa, hay hát bài này.
Mai Hương hát Trách Người Đi rất não lòng. Văn Phụng hòa nhạc xuất sắc.
Tôi thích nhất lúc có tiếng hát Mai Hương họa theo giọng của chính mình, như tiếng gió hú lướt đi:
“…Gió Thu về mang thương nhớ
Đến cho lòng thêm chan chứa
Lá ngô bay trong sương sầu
Biết bao giờ còn thấy nhau…”
Đan
Trường, chuyện gì gây cảm hứng để ông viết Trách Người Đi? Ông còn hai
bản nữa là Cái Áo The Thâm Tàn và Biệt Quê, tôi biết nhưng chưa được
nghe ai hát bao giờ?
Đan Trường, ông là aỉ Nhạc Việt cần nhạc sử gia
để hậu thế biết đến tất cả nhạc phẩm, nhạc sĩ, ca sĩ… của mọi thời đại.
Bao nhiêu nhạc phẩm có giá trị đã mất đi, bao nhiêu nhạc sĩ có tài không
ai biết đến. Nửa thế kỷ trước đã có một tờ báo chỉ chuyên về nhạc. Tôi
không nhớ tên nhưng nhớ tờ báo sống được ít lâu và cũng chỉ là tờ báo về
âm nhạc Việt Nam duy nhất từ xưa đến giờ!
Âm
nhạc Việt Nam có những nhạc sĩ chỉ cả đời chỉ có một bản duy nhất thật
hay và thôi. Như Con Chim Lạc Bạn của Phạm Văn Chừng, Tan Tác của Tu My…
Có thể tôi không được may biết đến, hay vì họ sáng tác nhiều hơn nhưng
vì lý do nào đó không được phổ biến hết.
Đào Thừa Liệt cũng là một
trong những người này, chỉ có Bến Đò Xưa. Bản hát cũng có lịch sử của
nó. Đào Thừa Liệt thương một cô lái đò. Mối tình không thành. Ông làm ra
Bến Đò Xưa, rồi bỏ đi Pháp sinh sống. Chuyện tình thật lãng mạn của
thời tiền chiến.
Bài hát thật giản dị. Tuy vậy nếu hát đúng như viết
thì hơi dài dòng vì bản nguyên thủy viết theo Slow trong khi có rất
nhiều nốt nhạc dài hơn dấu móc đơn, có nhiều nốt đen liên ba (là nét đặc
thù của tân nhạc Việt Nam), nhiều nốt đen. Lê Huy, người đã từng hoạt
động âm nhạc từ những ngày ban Phượng Hoàng còn ở Việt Nam, phụ trách
hòa âm cho Bến Đò Xưa đã khéo léo đổi cả bài nhạc sang Bolero và do đó
giọng Mai Hương trở nên rất uyển chuyển, nhịp nhàng.
Lời bản nhạc êm như mơ:
“Chiều xưa, có ai qua bến sông Hồng mộng mơ
Dìu dặt, đôi lời hò còn vương vấn nhớ nhung…”
Trong
băng nhạc Bến Đò Xưa đề là sáng tác của Đào Thừa Liệt. Thật ra bản nhạc
có sự góp sức của Nguyễn Kim nữa. Để cho chính xác hơn: Con Đò Xưa là
của Đào Thừa Liệt và Nguyễn Kim.
Hoàng
Phú, tác giả của Ngày Xưa, bản nhạc nhắc đến hai dòng sông lịch sử, Hát
Giang và Bạch Đằng Giang. Hoàng Phú là em ruột Hoàng Quý, người sáng
tác Cô Láng Giềng, Chùa Hương, Đêm Trong Rừng…. Sau khi Hoàng Phú đổi
tên thành Tô Vũ. Ông có được ba tác phẩm tình ca nổi tiếng để đời. Đó là
Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa, Tạ Từ và Tiếng Chuông Chiều Thu.
Em
Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa là một trong những bản đắc ý của Anh Ngọc
ngày xưa. Không ai hát bản này bằng anh và rõ ràng không có gì để nói
thêm. Tạ Từ thì có lẽ phải nói đến Duy Trác. Bản này anh hát làm rung
động bao người.
Cả Anh Ngọc và Duy Trác đều đã hát Tiếng Chuông Chiều
Thu và đều hay cả nhưng tôi bàng hoàng nghe Mai Hương. Giọng hát Mai
Hương đã làm tâm hồn người nghe chìm xuống vào một buổi chiều Thu với lá
rơi nhè nhẹ, với nắng Thu nhạt nhòa, với gió heo may… và có tiếng
chuông chùa vọng lại. Tô Vũ đã đắm trong mộng tưởng, trong ước vọng hòa
bình có “chuông khơi mùa nắng mới”.
Có hai điểm trong bản nhạc tôi muốn bàn qua:
Thứ nhất:
“…Ai xót ly hương mấy Thu vàng úa
Nhạc say mùa xương máu
Tóc xanh bơ phờ bù rối…”
Chữ “mùa xương máu” ở
đây nghe hơi ghê rợn, “nhạc” mà “say mùa xương máu” thì e là loại nhạc
sắt máu, không hợp với bản nhạc trữ tình, lãng mạn. Có thể nếu đặt địa
vị vào của tác giả thời đó đang chiến tranh đẫm máu thì nghe thông cảm
hơn chăng?
Thứ hai. Trong nguyên tác bản Tiếng Chuông Chiều Thu, đoạn kết của Tô Vũ là:
“…Người phương trời xa xôi, gửi em lời yêu thương
Khi lòng mơ màng trầm lắng tiếng chuông chiều Thu
Ngày nào khi chiến chinh xong
Hồi chuông reo vui muôn tiếng đồng
Chuông khơi mùa nắng mới, tình xưa đẹp bao nhiêu
Hồn anh thầm nhắn tiếng chuông ban chiều”
Mai Hương hát theo bản của nhạc sĩ Hoàng Trọng viết lại cho ban Tiếng Tơ Đồng:
“…Người phương trời xa xôi, gửi em lời yêu thương
Khi lòng mơ màng thầm lắng tiếng chuông chiều Thu
Chuông vang lời ước xưa, tình ta đẹp bao nhiêu
Hồn anh thầm nhắn tiếng chuông ban chiều”
Nhạc sĩ Hoàng Trọng đã bỏ hẳn “Ngày nào khi chiến chinh xong. Hồi chuông reo vui muôn tiếng đồng” và
chữa thêm vài chữ. Không hiểu bỏ hai câu đó đi thì có hay hơn bao
nhiêu, nhưng tôi tiếc không được nghe thêm dòng nhạc nguyên thủy của Tô
Vũ.
Cũng
như CD Gió Thoảng Hương Duyên của Kim Tước, không phải tình cờ cả hai
băng nhạc của Mai Hương đều có tên từ những bản nhạc của Vũ Thành: Giấc
Mơ Hồi Hương và Nhặt Cánh Sao Rơi. Tôi nghĩ cố nhạc sĩ Vũ Thành đã để
lại niềm kính phục của bao người khác trong đó có Kim Tước và Mai Hương.
Phải
nói Vũ Thành là nhạc sĩ có công lao nhiều nhất để xây dựng nền âm nhạc
Việt Nam và nhất là đã cố nâng cao tầm thưởng ngoạn của thính giả. Tuy
Áng Mây Chiều của Dương Thiệu Tước là bản nhạc Việt đầu tiên có mang
tính chất nhạc cổ điển Tây Phương nhưng phải đến Vũ Thành thì loại nhạc
này mới đến thính giả thật sự bằng những sáng tác của ông và với Ban
Nhạc Đại Hoà Tấu Vũ Thành.
Những bản như Say Nhạc Canh Tàn, Gửi Áng
Mây Hàng… là tiêu biểu cho tính chất cổ điển Tây Phương trong nhạc Vũ
Thành. Sau này có những nhạc sĩ khác tiếp tục theo Vũ Thành và có những
bản nhạc với mầu sắc của nhạc cổ điển: Cung Tiến với Nguyệt Cầm, Mắt
Biếc… Lê Văn Khoa với Gọi Nhớ… Phạm Duy thì có một bản Đường Chiều Lá
Rụng.
Giấc Mơ Hồi Hương, bản nhạc nổi danh nhất của Vũ Thành. Bản nhạc thương nhớ “em”, thành phố Hà Nội. So với những bài khác của ông, bài này thật dễ nghe vì truyền cảm.
Hai
bản của Vũ Thành trong băng nhạc mới của Mai Hương là Nhặt Cánh Sao Rơi
và Nhớ Bạn. Hai bản này, theo ý tôi, là gạch nối giữa Giấc Mơ Hồi Hương
và những bản gần như hoàn toàn nghiêng về cổ điển Tây Phương đã kể
trên.
Trong cả hai bản nhạc, Vũ Thành không dùng chữ “anh” và “em” mà dùng “bạn” và “tôi”.
Toàn bộ có vẻ như là nói về bạn bè thương nhớ nhau hơn là về tình yêu
lứa đôi. Tôi không rõ ý thật của ông nói về người bạn hay người yêu. Tuy
vậy những chữ như “tay nắm tay” trong Nhặt Cánh Sao Rơi hay “niềm ân ái xưa” của Nhớ Bạn thì lại có nghiêng về tình trai gái. Nếu vậy nhạc sĩ Vũ Thành cũng “lạ”. Thành phố ông lãng mạn gọi là “em” mà người yêu lại “mắc cở” gọi tránh đi là “bạn”!
Nhặt
Cánh Sao Rơi và Nhớ Bạn, tôi nghĩ đều là tuyệt tác của họ Vũ. Cả hai
bản nhạc như gợi niềm hối tiếc những tình cảm, những “bạn” đã xa vắng…
Mai
Hương đã hát Giấc Mơ Hồi Hương thật tình cảm và làm rung động thính giả
đến mức tột cùng. Mai Hương, trong Nhớ Bạn và Nhặt Cánh Sao Rơi, khác
hẳn. Biến chuyển theo dòng nhạc kiêu sa, đài các của Vũ Thành. Bây giờ
tiếng hát Mai Hương là của lụa là, gấm vóc:
“Chiều phai nắng rụng lá khô bên thềm
Chiều vương khói nhạc lắng buông êm đềm
Gió chiều nhẹ ru ngàn cây thoáng vương khúc ly ca
Nhắc bao ngày qua khuất mờ gây bao niềm thương nhớ…” (Nhặt Cánh Sao Rơi)
Và:
“Xuân vương trên ngàn hoa, nhắc bao sầu nhớ mơ màng
Mây buông trong chiều vắng, như luyến tiếc giấc mơ đã tàn…” (Nhớ Bạn)
Tôi
đã nghe Nhớ Bạn do Anh Ngọc hát ngày xưa với hòa âm cổ điển phức tạp và
công phu của Ban Đại Hòa Tấu Vũ Thành. Lần này nghe Tuấn Đức hòa âm,
tuy giản dị nhưng vẫn làm sáng nét nhạc của bài hát.
Bản cuối cùng, bản đáng nói đến nhất trong băng nhạc Nhặt Cánh Sao Rơi là Ave Maria của Gounod.
Nhạc
sĩ người Pháp Gounod chính ra chuyên viết operas, nổi tiếng nhất là
Faust. Ông có viết một số nhạc khúc và trong đó có Ave Maria. Có hai bản
Ave Maria nổi tiếng nhất thế giới, một của Franz Peter Schubert và một
của Charles Francois Gounod (Việt Nam cũng có Ave Maria của Văn Phụng).
Cả Schubert và Gounod đều là nhạc sĩ vào thế kỷ thứ 19.
Ave Maria của
Schubert là một tuyệt phẩm. Bản nhạc hay từ đầu đến cuối, rất đều đặn.
Bản của Gounod, theo ý tôi có lẽ còn hay hơn, vì những nốt cao ngất ngây
của đoạn sau đã được sửa soạn thật kỹ lưỡng bằng những dòng nhạc độ cao
độ thấp hơn của đoạn đầu.
Phạm Duy viết lời Việt cho bản này thật là hay.
Vào đầu, Mai Hương chậm rãi, tôn kính:
“Cầu xin Maria, thấm nhuần một lòng thương chúng con
Đoái hoài một đàn con khát khao…”
Dòng nhạc cứ thư thả, trầm trầm như vậy…
Rồi tiếng cầu nguyện thôi thúc hơn, cao lên dần:
“Xin cầu một kiếp nào, mối tình xanh mãi mầu
Tiếng hát chầu đưa bao duyên lành mới qua cầu”
Mai Hương, cao nhiều hơn nữa:
“Hoa trong muôn vườn hát khoe mầu”
Và cực điểm, tiếng hát vút lên:
“Người cười trong ánh nắng”
Giọng Mai Hương trở thành chứa chan, bao dung:
“Tiếng reo yên lành
Đây đó ta cùng nép dưới bàn thờ xin cầu lời thương nhau”
Bài hát âm giai chính là Do Trưởng nhưng bản nhạc được chấm dứt bằng hai nốt Sol, thật đặc biệt:
“A men”
Ave Maria là điểm cao nhất của băng nhạc “Nhặt Cánh Sao Rơi”.
Ave Maria là điểm cao nhất của tiếng hát Mai Hương từ xưa đến giờ.
Những
ngày ở Việt Nam xưa kia, Mai Hương hát hay, hiền dịu, dễ thương. Đó là
những ngày của Dịu Dàng (Văn Phụng), của Hoa Bướm Ngày Xưa (Nguyễn
Hiền)…
Ở xứ ngoài, mấy năm trước đây, trong băng nhạc “Giấc Mơ Hồi Hương”, Mai Hương hát hay hơn, đậm, chín… hơn nhiềụ
Với băng nhạc “Nhặt Cánh Sao Rơi”, Mai Hương đã đi xa hơn nữa. Giọng ca đã đến một đỉnh cao.
Nghe xong băng nhạc “Nhặt Cánh Sao Rơi”, tôi tự hỏi: “Những bài hát này, bây giờ, có ai hát hay bằng Mai Hương?”
Câu hỏi cũng đã thầm trả lời.
Phạm Anh Dũng
Ngày 10 tháng Mười năm 1994
Santa Maria, California, USA
***
Thưa các anh chị BS Dũng thân mến
Tôi phải cám ơn BS Dũng đã viết bài tưởng nhớ nghệ sĩ Mai Hương, bài viết vô cùng giá trị, và vô cùng hàn lâm này. Cũng như BS Dũng, tôi nghĩ Mai Hương là Prima Donna của nền âm nhạc Miền Nam Việt Nam.
Mai Hương không những là 1 người xử dụng điêu luyện nốt nhạc, lúc đưa giọng hát lên cao, hay lúc xuống thấp như một diva cao quý, mà Mai Hương còn nắm tất cả những gì tuyệt diệu của âm nhạc Việt Nam, đưa tấm lòng chân thành của mình vào trong tiếng hát , để gửi lại tâm tình với khán thính giả. Và khán thính giả luôn luôn mến chuộng đức tính khiêm tốn, hiền hòa, phong cách tự trọng của Mai Hương.
Có những người nữ ca sĩ danh tiếng khác, trong 50 năm vừa qua , đạt được một chổ đứng hàng đầu với thính giả Việt Nam, nhưng nghệ thuật hát của họ thật tình chưa đạt được cái tuyệt diệu/virtuosity /cái lãng mạn, cái tình cảm hết sức ấm áp của Mai Hương.
Cái CD của Mai Hương hát những bài hát cổ điên Âu Châu xen với những bài hát của Văn Cao, của Cung Tiến…đã làm say mê bao nhiều tâm hồn người Việt Nam.
Cái CD này, tôi may mắn được Giáo Sư Y Khoa, Khoa Trưởng, anh BS Vũ Quí Đài tặng tôi vào khoảng 30 năm về trước.
Và tôi trân quý cái CD nhạc cổ điển này vô cùng.
Cũng như BS Dũng , tôi rất thích bài Thiên Thai của Văn Cao , mà tôi coi là tác phẩm hay nhất của Văn Cao, hay hơn bài Mối Tình Trương Chi hay bài Trường Ca Sông Lô , mà Văn Cao cũng là tác giả.
Mai Hương hát bài Thiên Thai này thành công tuyệt vời.
Bài Thiên Thai của thiên tài âm nhạc Phạm Duy là 1 bài hát rất hay, tuy nhiên trong lòng tôi, trong tim tôi, bài hát Thiên Thai của Văn Cao chưa có bài nào sánh kịp.
Cái huyền thoại của hai người học trò nghèo, Lưu và Nguyễn, chèo thuyền trên suối, rồi lạc vào rừng, lạc vào Thiên Thai, nơi mà người bình thường không bao giờ tới đuọc.
Không những vào được Thiên Thai, họ còn được uống rượu với tiên nữ, coi tiên nử múa khúc Nghê Thường,
Rồi ngày Lưu & Nguyễn ra thuyền chèo về quê cũ, thì tất cả hình ãnh của làng xưa đã tan biến trong sương chiều cả thế kỷ nay rồi.
Muốn ở lại thì không còn quen biết ai, muốn trở về gặp lại tiên nữ, xem lại điệu vũ Nghê Thường, thì không còn biết đuòng lên Thiên Thai đi lối nào nữa.
Cái đẹp, cái lãng mạn, cái thanh tao đài các , của huyền thoại dân tộc Việt, chỉ có Văn Cao mới đủ tài, đủ tình cảm chan chứa để gói ghém trong bài hát tuyệt vời này.
Riêng đối với các người thế hệ tôi , tuổi trên 80 rồi, tóc đã bạc phai mầu rồi, thì mỗi khi “chiều tà, trắng lên” chúng tôi tưởng như đâu đây có những tiếng ca của ai đó còn vang rền từ chân trời xa mang lai.
Và mấy ông già, tóc đã bạc, nhưng tâm hồn còn trẻ , ngồi với nhau, nhìn măt trời sắp lặn, còn mường tưởng phía xa xa , lấp ló, sau đám mây hồng tía, có vài nàng tiên nữ đang chờ đợi ra múa khúc Nghê Thường riêng cho họ ,
Tiên nữ múa riêng cho họ, để bù đắp thời xa xưa, họ thiếu may mắn, không theo được chàng Lưu, chàng Nguyễn , quên đi đời dương thế, chèo thuyền tới nơi mà hoa đào chỉ nở trăm năm có một lần mà thôi., nơi mà bướm trần gian chưa bao giờ bay tới…
Cám ơn BS Phạm Anh Dũng vô cùng đã viết 1 bài rất giá tri, rất hàn lâm về Mai Hương.