Tâm từ ái biển xanh... đôi mắt Mẹ Bé vừa sinh, âu yếm ngẩng nhìn, xem... Hằng mong mỏi... con mình cho tròn vẹn Mắt hân hoan... ngắm bé ngủ ngoan hiền..!!
Mẹ dạy nói... à... ơi... lời cổ tích Mắt mẹ cười... dìu bé khẽ tập đi Vào tuổi học sắm đủ điều...vở, sách... Mắt mẹ mừng con đậu mỗi kỳ thi!
Con dần lớn, Mẹ, cội mai dần cỗi Mắt mẹ chờ... con trẻ chóng thành đôi Đời bận rộn... ngược, xuôi đường muôn lối Mắt Mẹ buồn... trông bóng nhạn nổi trôi...!!
Con đi xa rầu lo... tràn mắt mẹ! Khi con về, Mẹ, mắt ánh / ấm niềm vui... Con ốm đau hay có điều hờn tủi... Trải tâm can, Mẹ, mắt trĩu ngậm ngùi...!!
Ôi, cao cả trời cao... Đôi Mắt Mẹ Dõi theo con tấm bé...đến thành nhân Đi chập chững... ngại chim non ngã té Con trưởng thành lòng mẹ vẫn bâng khuâng...!!
Mãi danh lợi tháng ngày quay... lần lữa Con hững hờ lơ đãng... mẫu tình thâm Rồi, một mai... Mẹ yêu không còn nữa Ôi, tìm đâu dịu mát / rượi mát ánh trăng rằm...?!!
Đây là bài số bảy trăm sáu mươi chín (769) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ ORTB.
Trong khi chúng ta đang ngồi xem diễn hành va xem đốt pháo bông chào mừng Ngày Quốc Khánh July 4th,2025 trong an bình, một cơn lũ lụt đã càn quét thị trấn Kerrville (Texas), trong đó có Trại Hè Mystic với 750 trẻ em tham dự.
Người viết vừa nhận được tin tức về trận lũ lụt này do một anh bạn đồng môn QGHC được cập nhật mới nhất tinh đến ngày thứ hai 7-7-2025 như sau:
"Theo các tin tức, mực nước sông Guadalupe có lúc đã dâng cao 37 feet (khoảng 11 mét) khiến nhà cửa, xe cộ bị nước lũ cuốn trôi. Tính đến hôm nay (ngày 7-7-2025) đã có 82 người thiệt mạng (con số này có thể còn gia tăng vì chưa kịp thời kiểm kê) và hàng chục người mất tích.
Trong hoàn cảnh đau thương này (mất nhà cửa, mất tài sản, mất con cái, mất người thân trong gia đình . . . ) chúng ta chỉ biết CẦU NGUYỆN, CẦU NGUYỆN, và CẦU NGUYỆN cho các nạn nhân lũ lụt!
Trong khả năng và hoàn cảnh cho phép, Quý Anh Chị có thể đóng góp qua các quỹ cứu trợ nạn nhân lũ lụt ở Texas qua dòng link sau đây (copy từ video của FOX News)
Join FOX in helping those impacted by the Texas Floods. Your donation enables The Community Foundation to respond to and help people recover from this disaster.
Thật đáng thương cho những học sinh đã mất khi tuổi đời còn non dại. Thật đau lòng cho cha mẹ những đứa trẻ này và cho những những ai đã mất người thân trong trận lũ lụt này.
Cuộc tìm kiếm nạn nhân vẫn còn tiếp tục và số người chết ngay một tăng cao
"Theo USA Today (2 hours ago) có ít nhất 104 người chết..
.........." "Theo USA Today (2 hours ago) có ít nhất 104 người chết..."
( Nguồn: Email bạn gửi. Cảm ơn anh Ngọ Nguyễn và anh Sáu Nguyễn)
Còn bao nhiêu chuyện đau khổ khác nữa trong cuộc đời như bị tình phụ, bạn bè lường gạt, thân phận tù đày, gia đình sinh ly tử biệt v..v..trong đời sống nhân thế này đã làm Bạn phải tan nát cõi lòng, khổ đau tuyệt vọng . Những khi gặp những chuyện không vừa, đau khổ như trên, người ta thường có khuynh hướng tự an ủi mình rằng: “Tất cả là do số mệnh an bài! Âu cũng là duyên nghiệp!”
Cuộc đời là một dòng sông chảy mãi không ngừng và không bao giờ chúng ta tắm trong cùng một giòng sông ngày cũ vì có những sự thay đổi, đổi thay trong từng sát na. Bởi thế chúng ta đã được sung sướng hay chịu đau khổ với những sự thay đổi đó.
Nhưng cuộc vui thì lại qua mau mà nỗi đau buồn lúc nào cũng mãi vấn vương!! Những bài thơ, bài văn buồn thường được người ta nhớ nhiều hơn là những bài thơ, bài văn vui.
Mời Bạn cùng cảm thông với người viết về cuộc sống con người trên cõi nhân gian này qua bài thơ Cuộc Đời Trần Thế của tôi dưới đây:
Cuộc Đời Trần Thế
Nếu cuộc đời chỉ là quán trọ
Khách trần gian lui tới rộn ràng
Bạn hiền ơi! quẳng gánh đa mang
Mà vui sống câu kinh phổ độ
Nếu cuộc đời chỉ là bể khổ
Bến tử sinh một cõi đi về
Bạn hiền ơi! Hãy dứt cơn mê ,
Tìm nghĩa sống thương yêu thân ái
Nếu cuộc đời vầng mây tụ tán
Thoáng hợp tan, sáng nắng chiều mưa
Bạn hiền ơi! thương mấy cho vừa,
Kỹ niệm cũ, ân tình xưa đó
Nếu cuộc đời trăng khuya mờ tỏ
Làm đổi thay, thay đổi đất trời
Bạn hiền ơi! lưu lạc muôn nơi,
Đêm thanh vắng, nhìn trăng nhớ bạn
Nếu cuộc đời tuyết sương chuyển hoán
Lạnh trên cao, đổ tuyết trần gian
Bạn hiền ơi! khắc phục gian nan,
Vững nghị lực, giúp ta giúp bạn
Nếu cuộc đời như hoa buổi sáng
Đóa phù dung sớm nở tối tàn
Bạn hiền ơi! làm đẹp nhân gian
Bằng ánh mắt tình thương diễm tuyệt
Ôi! “mây tản, tuyết tan, hoa tàn, nguyệt khuyết” *
Cuộc đời ta khó tránh chuyện hợp tan
Hãy thương yêu, cho dẫu có muộn màng
Qua bến đổ, ta khó mong gặp lại!
Sương LamNhạc sĩ Võ Tá Hân đã cảm thông tâm tình của tác giả nên đã thực hiện youtube do chính nhạc sĩ chọn lựa hình ảnh, làm video, phổ nhạc và tự trình bày nhạc phẩm này qua youtube
Youtube Cuộc Đời Trần Thế Nhạc: Võ Tá Hân - Thơ: Sương Lam
Sương Lam rất cảm động khi bài thơ Cuộc Đời Trần Thế của Sương Lam đã được nhạc sĩ Võ Tá Hân phổ nhạc và đưa vào danh sách 50 bài Thiền Ca phổ nhạc của ông và lại được chính ông trình bày. Thật là một nét đặc biệt đáng quý.
Tôi rất ngưỡng phục nhạc sĩ Võ Tá Hân qua các ca khúc Phật Giáo của ông vì ông đã đưa Đạo vào Đời qua âm nhạc. Ông là một "Sứ Giả Như Lai" của Phật Giáo theo cách nghĩ của tôi.
Người viết xin chân thành cảm tạ nhạc sĩ Võ Tá Hân. Thật là một phúc duyên tốt đẹp khi Sương Lam được quen biết nhạc sĩ Võ Tá Hân và ông đã giúp tôi truyền đạt tâm nguyện của mình qua bài thơ Cuộc Đời Trần Thế với ca khúc phổ nhạc của ông.
Chúc quý bạn có nhiều sức khỏe, thân tâm an lạc, sống vui từng ngày trong hiện tại với duyên nghiệp của mình nhé.
Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn
Sương Lam
(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi-MCTN-MCTN 769-ORTB 1200-7-8-2025 )
Kính thưa tất cả các Bác, Cô Chú, Anh Chị, và gia đình Phan Thanh Giản.
Ngày 11 tây tháng 7, 2024 - Bố - Phạm Khắc Trí đã ra đi và bắt đầu cho một hành trình mới. Bố ra đi nhưng để lại cho những người thân thương một sự ấm cúng mỗi khi nghĩ đến Bố.
Để nhớ và tưởng niệm Bố, chị Cao Thúy Hương (Magnolia Cao Tran) đã phổ nhạc và hát vài bài thơ trong MÂY TẦN, để gợi lại một chút gì ấm cúng của Mây Tần và để nhớ lại một tình thương của một người Chồng, người Bố, người Thầy và một người Bạn thân thương của tất cả.
On behalf of my oldest brother Pham Nguyen Tri- THANK YOU chi Cao Thuy Huong (Magnolia Cao Tran) for your heartfelt affection and for elevating a profound sweetness to May Tan.
Link cho “Hat len bai tho” Chi Thuy Huong/Magnolia da viet va hat cho tac gia cua May Tan:
Mai Nở Đã Bao Mùa, Đâu Áng Mây Tần@Mây Tần Phạm Khắc Trí
Trải Lòng Xa Vắng@Từ Thọ
Tiếng Đàn Xưa@Mây Tần Phạm Khắc Trí
Tình Thơ Hồn Bướm Mơ Tiên@Nguyễn Anh Tuấn (Paris)
Phím Đàn Dìu Dặt@Thi Hào Nguyễn Du, verses exerpted from Truyện Kiều (The Tale of Kieu)
Theo Đàn Về Với Tuổi Xuân@MagnoliaCaoTran, modern Vietnamese adaptation from Sino-Vietnamese version of Tang dynasty poetry by Li Shangyin
(Đường Thi Lý Thương Ẩn-lời Hán Việt, cảm tác lời Việt Magnolia C.T.)
Magnolia's Note:
These songs were transposed in loving memory of the Late Poet Mây Tần Phạm Khắc Trí (1933-2024) formerly a beloved math teacher (1968-75) at Phan Thanh Gian HS, Can-Tho
Special appreciation to Pham Nguyen Tri, Pham Nguyen Diem for giving us the rare opportunity to transpose into songs from Tang-dynasty-inspired poetry beautifully written by Poet Mây Tần and his former students, Từ Thọ and Nguyễn Anh Tuấn.
Để nhớ lại một chút gì của Thầy Phạm Khắc Trí:
ÔNG GIÁO GIÀ VÀ KHOẢNG CÁCH 60 NĂM.
Một trưa nắng hạ, trời im gió, tôi về thăm lại ngôi trường xưa.Bước vào lớp, giờ dạy toán đầu tiên, 60 năm về trước, tôi thật sự ngỡ ngàng. Lớp trống vắng, nhưng quang cảnh vẫn y như ngày nào.Bảng đen, bục giảng, bàn giáo sư, và những dãy bàn ghế gỗ mộc sơn đen. Tưởng như trước mắt, các em học trò yêu quí đã ngồi ngay ngắn, náo nức chờ đón bài giảng đầu tiên của thày. Sáu chục năm qua rồi thật sao. Tôi chìm vào trong hồi tưởng.
Thuở mới vào đời, nổi trôi đến một tỉnh nhỏ, tôi đã tin là đã tìm được chốn gửi thân cho qua thời khói lửa. Ngày ngày an phận, dạy học, tình nguyện làm ông giáo làng, đưa trẻ qua sông, bỏ mộng khoa bảng, không luyến tiếc cử nhân, tiến sĩ, kỹ sư hay bác sĩ. Thật sự, khoảng thời gian đầu, tôi đã tìm thấy ở nơi đây một không gian còn giữ được ít nhiều " quân sư phụ ", ngày tháng miệt mài lo dạy học, hết dạy cho lớp các anh các chị, rồi lại lo đến lớp các em của mấy đứa học trò, cứ ngỡ là nếu không có mình thì tội nghiệp, chắc chúng nó không thể có được một ông thày dạy toán nào " hay " như vậy. Lại thêm, được sự quí mến của phụ huynh học sinh, ban giám hiệu, và các bạn đồng nghiệp, ông giáo tôi làm sao nghĩ đến chuyện thay đổi, bỏ đi nơi khác được. Ôi chao, tuổi trẻ hồn nhiên, giản dị, ngây thơ thật dễ thương đến tội nghiệp của tôi!
" Bố ạ, thôi ta về, bố bước lên bục giảng cho con chụp tấm hình làm kỹ niệm".Tiếng nói của người con trưởng kéo tôi về với thực tại.
Một trưa nắng hạ, trời im gió,
Tôi về thăm lại ngôi trường xưa.
Thời gian như đọng từng viên gạch,
Trên lối đi mòn dấu nắng mưa.
Chân bước ngỡ ngàng vào lớp học,
Ô hay bụi phấn vẫn còn vương.
Bảng đen, bục giảng như ngày trước,
Sáu chục năm rồi, những khói sương.
Dẫy ghế, dẫy bàn đầy vết mực,
Gái trai cùng lớp học chung nhau.
Ngày xanh lưu bút còn đây đó,
Đám học trò xưa, nay ở đâu?
Ngơ ngẩn nhìn ra ngoài cửa vắng,
Tưởng như lũ trẻ còn ham chơi.
Chuông reo đã báo, chẳng vào lớp
Phải phạt công xin mấy đứa thôi.
Đang đứng mơ màng theo cánh bướm,
Tiếng người con trưởng vẳng bên tai.
"Ta đi, bố ạ, kẻo về tối",
Lòng giáo tôi xưa nặng cảm hoài.
Xa xứ bao năm không đếm nửa,
Nửa vòng trái đất một ngày bay.
Trường xưa chốn cũ, người không thấy,
Sầu chất đong đầy, ai có hay?
Phạm Khắc Trí
Cám ơn gia đình Phan Thanh Giản, và tất cả các Anh Chị vẫn luôn nhớ và yêu thương Bô và đều thường xuyên hỏi thăm Mẹ và gia đình.
Mai Xuân Thanh April 14, 2022 *** Hoàng Hạc Cảm Hoài
Người xưa về với đất trời Lầu kia còn đứng bao đời chơ vơ Hạc còn đâu nữa đợi chờ Bao thu mây trắng vẫn lờ lờ trôi Tương lai vội sớm chôn vùi Thế thời chẳng thuận ngùi ngùi thương thân Quê hương thay đổi thêm lần Luyến lưu chả lẽ chút ngần đó sao?
Quên Đi *** Hoàng Hạc Cám Cảnh
Bể dâu có phải cơ trời Lầu hoang vắng ngắt cả đời vẩn vơ Mong chi hoàng hạc mà chờ Đành thôi mây trắng lững lờ trôi trôi Xót thương phần số dập vùi Lấy ai san sẻ ngùi ngùi tương thân Trái ngang âu chỉ một lần Thân dòn phận mỏng đến ngần ấy sao
Kim Phượng ***
Cảm Hoài Hoàng Hạc …
Chấp đôi cánh hạc lên trời Lầu hoang hiu hắt mảnh đời chơ vơ Còn đâu mà ngóng với chờ Ngàn năm mây trắng lững lờ lướt trôi Ba đào sóng cuộn xô vùi Bóng câu qua cửa bùi ngùi một thân Hoàng hôn nhạt ánh phai lần Đêm cô tịch bóng tần ngần tại sao...
Kim Oanh
***
Nhạt Dấu Lầu Xưa
Người thơ cỡi hạc lên trời Lầu vàng quạnh quẽ bên đời vất vơ Có còn chi để ngóng chờ Bóng người mờ mịt, lặng lờ mây trôi Thời gian sóng dập mưa vùi Lầu xưa lặng lẽ bùi ngùi thương thân Trùng tu vẫn mãi lựa lần Người sau qua lại tần ngần...nghĩ sao?
Phương Hà *** Cảm Tác:
Hoàng Hạc Lâu Cảm
Đã về trời khi Tiên đắc đạo Bỏ lầu thơ diện mạo chơ vơ Hạc vàng đâu nữa mà chờ Ngàn năm mây trắng lững lờ buồn trôi
Sông Trường Giang dập dồn sóng vỗ Bến Tầm Dương châu thổ ngậm ngùi Cuộc đời dâu bể ráng vui Chút tình để lại sáng ngời làm sao!
(Tưởng nhớ Giỗ đầu Thầy Phạm Khắc Trí) Khoảnh khắc xuôi dòng thể bóng câu Mới đây nay đã giỗ lần đầu Huong linh siêu thoát,càng thương nhớ Cõi tạm lìa xa vẫn khắc sâu Hình ảnh nhìn kia trong nuối tiếc Câu thơ đọc đó giữa cam sầu Để rồi niềm nhớ thêm ray rứt Trưởng lão bây chừ đang ở đâu?
Đầu năm Thiên Bảo đời Đường Huyền Tông, Lý Bạch được triệu vào cung để giữ chức Hàn Lâm Học Sĩ, nhưng vì không chịu xu phụ quyền thế, nên bị các quan đương quyền bài xích. Đến năm Thiên Bảo thứ 3 (CN 744) Đường Huyền Tông đành phải "Tứ Kim Phóng Hoàn 赐金放还" (tặng vàng cho về quê). Lý Bạch trong lòng phiền muộn nên cứ nấn ná mãi ở miền sông nước Giang Hoài, kết giao với một bạn rượu mới là Sầm Huân 岑勛(岑夫子 Sầm Phu Tử)cùng rủ nhau du ngoạn Tung Sơn để hội ngộ với một người bạn khác là Nguyên Đan Khâu 元丹丘 ở Dĩnh Dương Sơn. Cả ba cùng đăng cao bày tiệc rượu trên núi để uống cho thỏa thích và để giải toả nỗi lòng ẩn ức vì chính trường thất ý, hoài bão không thực hiện được nên mượn rượu để giải sầu và để bày tỏ ý chí, sự bất bình ở trong lòng của mình. Bài thơ bất hủ TƯƠNG TIẾN TỬU đuợc làm ra trong tiệc rượu nầy.
將進酒 TƯƠNG TIẾN TỬU
君不見黃河之水天上來, Quân bất kiến Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai 奔流到海不復回。 Bôn lưu đáo hải bất phục hồi ! 君不見高堂明鏡悲白髮, Quân bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát 朝如青絲暮成雪。 Triêu như thanh ti mộ thành tuyết ! 人生得意須盡歡, Nhân sinh đắc ý tu tận hoan, 莫使金樽空對月。 Mạc sử kim tôn không đối nguyệt. 天生我材必有用, Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng, 千金散盡還復來。 Thiên kim tán tận hoàn phục lai. 烹羊宰牛且爲樂, Phanh dương tễ ngưu thả vi lạc, 會須一飲三百杯。 Hội tu nhất ẩm tam bách bôi. 岑夫子,丹丘生。 Sầm Phu Tử, Đan Khâu sinh, 將進酒,杯莫停。 Tương tiến tửu, bôi mạc đình. 與君歌一曲, Dữ quân ca nhất khúc, 請君爲我側耳聽。 Thỉnh quân vị ngã trắc nhĩ thinh. 鐘鼓饌玉不足貴, Chung cổ soạn ngọc bất túc qúy, 但願長醉不願醒。 Đản nguyện trường túy bất nguyện tinh. 古來聖賢皆寂寞, Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch, 惟有飲者留其名。 Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh. 陳王昔時宴平樂, Trần vương tích thời yến Bình lạc, 斗酒十千恣讙謔。 Đấu tửu thập thiên tư hoan hước. 主人何為言少錢? Chủ nhân hà vị ngôn thiểu tiền? 徑須沽取對君酌。 Kính tu cô thủ đối quân chước. 五花馬,千金裘。 Ngũ hoa mã, thiên kim cầu. 呼兒將出換美酒, Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu, 與爾同銷萬古愁! Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu! 李白 Lý Bạch
* Chú Thích:
- TƯƠNG TIẾN TỬU 將進酒 : TƯƠNG 將 là Mời; TƯƠNG TIẾN TỬU có nghĩa là "Mời Uống Rượu; Mời Cạn Ly" là "Hãy Nâng Ly" . Đây là tên khúc hát thứ 9 trong "Hán Cổ Xuy Nhiểu Ca thập bát khúc 漢鼓吹鐃歌十八曲". Trong tài liệu đào được ở Đôn Hoàng, ba bản chép tay "Đôn Hoàng Thi Tập Tàn Quyển 敦煌诗集残卷" thì ghi tựa bài nầy là "Tích Tôn không 惜罇空" (Tiếc Chai không).
- Quân Bất Kiến 君不見 :QUÂN ở đây là Danh Xưng Đại từ ngôi thứ hai, có nghĩa như là Ông, Anh, Bà, Chị, Mầy, Bạn...; QUÂN BẤT KIẾN là từ dùng để nhấn mạnh mở đầu bài thơ, có nghĩa như phản vấn :
* Anh không thấy sao....
* Bạn không thấy sao....
- Cao Đường Minh Kính 高堂明鏡 : Tấm kính lớn treo ở giữa phòng khách.
- Kim Tôn 金樽 : Chai đựng rượu bằng vàng.
- Hội Tu Nhất Ẩm Tam Bách Bôi 會須一飲三百杯 : HÔI TU có nghĩa là Nên, là Phải. Còn "Nhất Ẩm Tam Bách Bôi"(Hễ uống là uống hết ba trăm ly một lần). Theo "Trịnh Huyền Biệt Truyện 鄭玄别傳" có ghi : Khi Viên Thiệu đặt tiệc tiễn hành Trịnh Huyền, có hơn 300 người đến tham dự, rượu mời Trịnh Huyền uống từ sáng đến chiều tối hơn 300 ly, nhưng nét mặt Huyền vẫn ôn nhu tĩnh táo không thay đổi.
- Sầm Phu Tử, Đan Khâu Sinh 岑夫子,丹丘生 : Tên của hai ẩn sĩ là bạn rượu của Lý Bạch lúc bấy giờ.
- Chung Cổ Soạn Ngọc 鐘鼓饌玉 : CHUNG CỔ là Chuông Trống, là Gỏ chuông đánh trống làm vui chỉ cuộc sống giàu sang; SOẠN NGỌC chỉ thức ăn thịnh soạn và qúy như ngọc của các gia đình quý tộc. Nói chung CHUNG CỔ SOẠN NGỌC là chỉ Đời sống giàu sang phú quý với cao lương mỹ vị.
- Tịch Mịch 寂寞 : Là Vắng vẻ, lặng lẽ, ở trong câu nghĩa là "Bị bỏ quên trong vắng lặng".
- 陳王昔時宴平樂 Trần Vương tích thời yến Bình Lạc : TRẦN VƯƠNG là tước hiệu của Tào Thực được phong ở đất Trần (thuộc Hà Nam hiện nay) đã mở yến tiệc lớn ở Bình Lạc Quan ở ngoại thành Lạc Dương do Hán Minh Đế xây dựng nên, là nơi ăn chơi trác táng của giới qúy tộc lúc bấy giờ. Trong bài phú "Danh Đô Thiên 名都篇" của Tào Thực có câu :
- Kính Tu Cô Thủ 徑須沽取 : KÍNH TU là Phải nên, là Đáng lẽ. CÔ 沽 : Vừa có nghĩa BÁN vừa có nghĩa MUA, ở đây CÔ THỦ 沽取 có nghĩa là Mua về.
- Ngũ hoa mã 五花馬 chỉ Ngựa qúy hiếm; Thiên kim cầu 千金裘 : Áo lông cừu quý giá. Câu nầy chỉ đồ dùng quý giá đắc tiền.
* nghĩa bài thơ:
HÃY NÂNG LY
Bạn không thấy sao, nước của con sông Hoàng Hà từ trên trời đổ xuống rồi chảy miết về biển đông và không bao giờ trở lại ! Và Bạn cũng không thấy sao, tấm gương sáng treo ở phòng khách cao cao buồn cho làn tóc trắng, vì buổi sáng còn xanh như tơ mà buổi chiều thì đã như là tuyết trắng rồi. Cho nên, người đời lúc đắc ý thì nên vui chơi cho thỏa thích, đừng để cho chai vàng đựng rượu phải hết dưới ánh trăng. Trời sinh ra tấm thân ta ắt hẵn có chỗ hữu dụng, ngàn vàng tiêu hết rồi còn có thể kiếm lại được. Giết dê mổ trâu hãy cùng vui với nhau, và phải nên cùng uống với nhau ba trăm ly. Này, hai ông bạn Sầm Phu Tử và Đan Khâu Sinh của ta ơi, hãy nâng chén đi, đừng ngừng rót rượu, ta sẽ vì bạn mà ca một khúc, xin bạn hãy vì ta mà lắng tai nghe. Đời sống giàu sang phú qúy không đáng trân qúy chút nào, ta chỉ muốn chìm đắm mãi trong men say mà không muốn tỉnh dây nữa. Từ xưa đến nay các bậc thánh hiền đều bị lãng quên trong vắng lặng , chỉ có những người uống rượu mới được lưu danh thiên cổ mà thôi. Ngày xưa trần Vương Tào Thực bày yến tiệc ở Bình Lạc Quan, một đấu rượu giá đến mười ngàn mà cứ phóng túng uống tràn lan thỏa thích. cho nên, chủ nhân sao lại bảo là thiếu tiền mua rượu ? Lẽ ra ta phải mua rượu đến đây để mời bạn uống rồi ! Nào, ngựa ngũ hoa, áo hồ cừu qúy giá, hãy bảo trẻ đều mang cả ra đây để đổi lấy rượu ngon, để ta với bạn cùng uống cho tiêu đi cái mối sầu vạn cổ !
Thi Tiên uống rượu một cách rất hào sảng, vừa mượn rượu để tiêu sầu, vừa cất cao giọng hát để giải tỏa những uẫn khúc ở trong lòng, phát tán những cảm khái bi phẫn của nhân sinh. Toàn bài thơ toát ra cái tính hào phóng ngông cuồng mạnh mẽ của thi nhân chen lẫn với buồn vui hỉ nộ, bỗng trầm lên xuống như dòng nước của sông Hoàng Hà từ trên trời tuôn đổ xuống rồi cuồn cuộn chảy thẳng về đông ! Những khuếch đại về tu từ qua các con số như :"Thiên kim tán tận hoàn phục lai" và "Hội tu nhất ẩm tam bách bôi", hễ mỗi lần uống là 300 ly, rồi mỗi "Đấu tửu" là "thập thiên" (mười ngàn), rồi "ngũ hoa mã", "Thiên kim cầu" tất cả đều đem ra đổi rượu để uống cho tiêu cái "vạn cổ sầu"! đều là phép nói nhấn đao to búa lớn qua các con số để thể hiện sự buông thả phóng túng và đầy hào khí mạnh mẽ qua cá tính khinh thế ngạo vật của Thi Tiên, như Thi Thánh Đỗ Phủ đã viết :
李白斗酒詩百篇, Lý Bạch đấu tửu thi bách thiên,
長安市上酒家眠。 Trường An thị thượng tửu gia miên.
天子呼來不上船, Thiên tử hô lai bất thướng thuyền,
自稱臣是酒中仙! Tự xưng thần thị tửu trung tiên!
Có nghĩa:
Lý Bạch đấu rượu thơ trăm,
Trường An quán rượu say nằm ngủ yên
Vua đòi cũng chẳng lên thuyền,
Tự xưng thần chính rượu tiên trên đời!
Quả là Thi Tiên có khác!
Cái tính khinh thế ngạo vật nầy ta còn thấy được qua tính cách ngông cuồng bất phục của Chu Thần Cao Bá Quát. Cao Chu Thần cũng đã chán nản qua thế thái nhân tình và nhất là sự bát nháo của quan trường lúc bấy giờ, nên đã nhại theo cách sống của Thi Tiên Lý Bạch qua bài "Uống Rượu Tiêu Sầu" :
...Gõ nhịp lấy, đọc câu “Tương tiến tửu”:
“Quân bất kiến:
Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai,
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi.”
Làm chi cho mệt một đời!
* Diễn Nôm:
TƯƠNG TIẾN TỬU
Bạn có thấy Hoàng Hà cuồn cuộn, Từ trời cao đổ xuống về đông. Chảy xuôi ra biển mênh mông, Nước tuôn mất hút một không trở về!
Bạn có thấy cao đường minh kính, Buồn trắng tinh mái tóc bạc phơ. Sáng còn xanh mượt như tơ, Chiều đà như tuyết trắng phơ mái đầu!
Hãy tận vui khi đời đắc ý, Dưới trăng vàng chớ để chai không. Trời sanh ta ắt phải dùng, Ngàn vàng tiêu hết sẽ còn tái lai.
Mổ trâu dê nhậu say cùng bạn, Ba trăm ly uống cạn mới đành. Sầm Phu Tử, Đan Khâu sanh, Nâng ly cạn chén rành rành chẳng ngưng.
Ca một khúc vì chưng đãi bạn, Lắng tai vàng mời bạn nghe chơi. Giàu sang chi nữa trên đời, Chỉ mong say khước không người tỉnh ngay.
Cánh thánh hiền xưa nay vắng vẻ, Làng rượu ta lắm kẻ lưu danh. Trần Vương yến Bình Lạc Quan, Thập thiên đấu tửu mười ngàn như không!
Chủ nhân chớ bảo không tiền rượu, Để ta mua rượu uống cùng nhau, Ngũ Hoa Mã, Thiên Kim Cầu, Đem ra bảo trẻ đổi mau rượu về!
Cùng nhau ta uống hả hê, Mối sầu vạn cổ trả về thiên thu! Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm
Mượn chuyến bay đưa ta vượt nghìn trùng Mượn chuyến xe chở ta về quê hương Gió xô sóng, gợn xanh đồng lúa mạ Mái nhà rơm xen lẫn chuối trổ buồng
Trên dòng kinh lặng lờ hoàng hôn tắt Hàng lớp lục bình bèo dạt nhởn nhơ Tưởng như níu lại một thời đã mất Chơi bán hàng “ai ăn bún” ngây ngô
Xe chợt dừng ta ngồi trơ tượng đá Đến nhà ư? Nhà đâu? Nhà ở đâu? Trong bóng đêm phố phường sao xa lạ Trời! Không nhận ra nơi cắt rốn chôn nhau!
Sáng dậy sớm tìm cội dừa xiêm mát Gốc xoài thanh, giàn hoa giấy nơi nao? Vườn không cây, vườn khô cằn sa mạc Quê ta ơi, em lạc mất phương nào?
Gọi thầm tên sao nghe chừng lạ lẫm Vẫn là em nhưng không phải là em Bởi đâu rồi bờ tường vi tươi thắm Cánh đỏ màu son trang điểm môi mềm
Quê trong ta mãi là tranh là thơ Là giòng sông nước ngọt, có hoa dại đôi bờ Là giữa trưa hè trèo cây hái ổi Là dịu nắng chiều, chơi trốn tìm quanh đụn rạ khô
Như lũ cá hồi theo biển đời tất bật Luôn bơi về ghềnh thác thuở khai sơ Ta cố tìm một thiên đường đánh mất Hởi ôi! Kim thời gian không quay ngược bao giờ! Quê ta ơi, em lạc mất phương nào ?!
Tiết Đào Lý Dã Thi Tập - Đường - Tiết Đào 薛濤李冶詩集-唐-薛濤
Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 萬首唐人絕句-宋-洪邁
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全 唐詩-清-聖祖玄燁 cho dị bản sầu 愁 thay vì tình 情 trong câu 3.
Ghi chú:
Thu: mùa thu tượng trưng cho buồn, nên Tiết Đào mượn mùa thu để viết về nỗi buồn
Trừng: rõ.
Tả: âm thanh có tính lan tỏa.
Huyền: chỉ đàn dây lớn.
Trường lai: dài hạn, đến thường xuyên, bất tận
Bất sử: đừng làm
Dịch nghĩa:
Suối Mùa Thu
Suối lạnh lẽo, dãi sương mù trên núi dần dần tan biến,
Tiếng suối trong đêm thanh vắng tỏa ra như tiếng đàn mười dây.
Âm thanh vô tận, nằm gối đầu cảm xúc trằn trọc đã lâu,
Hơn nửa đêm người buồn vẫn chưa ngủ được.
Dịch thơ:
Tiếng Thu
Suối lạnh đêm dài khói núi tan,
Đêm thanh róc rách như ai đàn.
Âm thanh bất tận nằm cô quạnh,
Gần sáng tình sầu vẫn chứa chan.
Autumn Spring by Xie Tao
Spring water was cold and clear, and the single layer of smoke (fog) on the mountains slowly disappeared
The running water in the quiet night sounded like the ten-string zither.
The sound was endless; head resting on a pillow, I felt lonely and sad,
And could not fall asleep until past midnight.
Phí Minh Tâm
***
Những Bài Dịch Khác:
Chú giải:
初澄 sơ trừng: vừa mới lắng xuống, trong trẻo..
一帶烟 nhất đới yên: một dải mây.
幽聲 u thanh: âm thanh u-ẩn.
遥瀉 dao tả: diễn tả từ xa xa, xa xa nghe như…
十絲弦 thập ti huyền: cây đàn 10 dây.
長來 trường lai: nghĩa đen là: tới lâu dài, Trong câu này có nghĩa lả ở bất tận.
牽 khiên: Dắt đi; tiến thoái không được tự do cũng gọi là khiên.
牽情思 khiên tình tứ: bị tâm tư dẫn dắt đi bất định; dịch thoát là trằn trọc suy nghĩ.
長來枕上牽情思 Trường lai chẩm thượng khiên tình tứ: Nghĩa đen là: đầu kê trên gối quá lâu, trằn trọc suy nghĩ. Dịch thoát là: kê đầu trên gối nằm trằn trọc.
不使愁人半夜眠 bất sử sầu nhân bán dạ miên: nghĩa đen là: chẳng khiến cho người đang buồn rầu ngủ được suốt nửa đêm đài; dịch thoát là: lòng buồn, tới quá nửa đêm vẫn chưa ngủ được; Dịch gọn là: Quá nửa đêm buồn ngủ chẳng an.
Dịch nghĩa:
Suối thu
Nước suối lạnh, sương khói tan dần,
Tiếng suối reo âm-u như tiếng đàn mười dây.
Kê đầu trên gối nằm trằn trọc đã lâu,
Lòng buồn, tới quá nửa đêm vẫn chưa ngủ được.
Dịch thơ:
Suối Thu
Suối lạnh màn sương khói mới tan,
Âm-u như gẩy chục dây đàn.
Kê đầu trên gối nằm trằn trọc,
Quá nửa đêm buồn ngủ chẳng an.
Con Cò
***
***
Suối Thu
Khí lạnh vừa ngưng sợi khói bay
Suối từ thanh vắng tựa đàn dây
Đã lâu bên gối gieo tình tứ
Chẳng khiến người sầu dỗ giấc say!
Lộc Bắc
***
Suối Thu.
Suối lạnh sương mờ khói núi bay,
Tiếng reo vọng lại tưởng đàn dây.
Gối đầu trằn trọc tơ vương mãi,
Quá nửa đêm sầu giấc chẳng say.
Mỹ Ngọc
Apr. 5/2024.
***
Suối Thu
Suối lạnh núi cao sương dần tan biến
Róc rách đêm thanh như tiếng đàn khơi
Gối đầu trằn trọc âm vọng khôn ngơi
Nửa đêm về sáng chẳng vơi nỗi sầu
Kim Oanh
***
Năm 2019, BS có viết bài “ Lá Gió Cành Chim “, nhắc tới 2 câu thơ của Tiết Đào, làm tiếp thơ của cha là Tiết Trịnh:
Chi nghinh nam bắc điểu,
Diệp tống vãng lai phong,
Mà Tố Như đã mượn ý mà viết trong Kiều:
Dập dìu lá gió cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh.
BS kể về cuộc đời thăng trầm của nàng và mối tình với Nguyên Chẩn.. Tiết là người có tài, có sắc mà đa truân, sau chán đời, đi tu.
Bài thơ anh Tâm đưa ra rất hay, nhưng dịch hơi khó.
Chữ Thu, anh Giám giải thích khác với Tạ Quang Phát trong “Hán Văn Giải Tự”: thu giả bách cốc thành thục chi kỳ, thu vi thu thành.
Chữ Sầu, là ghép 2 chữ Thu và Tâm: cảnh mùa thu làm lòng người buồn bã.
Suối Thu
Suối lạnh xuôi dòng, khói đã tan,
Âm thanh văng vẳng tựa ai đàn,
Mơ màng trên gối, lòng xao xuyến,
Khiến kẻ u buồn giấc chẳng an.
Bát Sách.
(ngày 06/04/2024)
***
Thơ Cảm Tác:
Mái tôn tí tách mưa đàn
Nhạc trời ủ rũ tuôn màn nước rơi
Em ở đâu? Anh một nơi
Tình nồng nhớ lại hết ngơi đêm dài!
Đồ Cóc
***
Góp Ý:
Tôi không dùng Hán Văn Giải Tự nên không biết Tạ Quang Phát lấy câu "thu giả bách cốc ... " từ đâu ra nhưng câu văn đó là như thế này trong Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư: 麦秋至秋者百榖成熟之期此于时虽夏于麦则秋故云麦秋也汲蒙书作小暑至=mạch thu chí thu giả bách cốc thành thục chi kỳ thử vu thì tuy hạ vu mạch tắc thu cố vân mạch thu dã cấp mông thư tác tiểu thử chí. [ 蒙书=mông thư hình như loại sách không rõ xuất xứ, hay không chính xác, và toàn câu lược dịch thành: mạch thu chí là lúc ngũ cốc chín, lúc đó tuy còn là mùa hạ nhưng vì lúa mạch chín nên cũng là mùa thu, và vài sách viết thành tiểu thử chí]
Đây là một đoạn văn nói về tứ thời bát tiết. Vì văn trong Tứ Khố Toàn Thư không có chấm câu, TQ Phát - một người theo Tây học rồi tự hoc chữ Hán! - bắt đầu câu thiếu chữ 麦=mạch ở đầu câu rồi hiểu tào lao; câu đó nói về 至=chí mạch thu, không phải là câu định nghĩa mùa thu hay giải thích ngữ nguyên của từ thu.
***
Mùa thu và nỗi buồn trong văn thơ Hoa Lục.
Nhiều người Tàu dùng câu 秋字下加心是愁=thu tự hạ gia tâm thị sầu [chữ thu thêm tâm ở dưới là sầu] khi bàn về bài Thu Tuyền này y như thể muốn giải thích ngữ nguyên của chữ 愁=sầu, nhưng có đúng vậy không?
Từ 秋=thu bây giờ viết với bộ 禾=hòa và từ 火=hỏa. Đây không phải là lối đặt chữ hình thanh mà có thể xem như là hội ý, hoặc hàm nghĩa lúa chín đầu thu, hay sự kiện người Tàu đốt ruộng lúa sau mùa gặt (để giết trứng côn trùng). Giải thích thứ nhì có vẻ hợp lý hơn vì chữ giáp cốt văn nguyên thủy cho thu vẽ hình một con côn trùng nào đó ở trên núi, hay từ núi đến (h. 1). Quách Mạt Nhược nghĩ rằng đây là hình tượng con dế kêu trong mùa thu; nhưng cũng có thể rằng đây là hình vẽ con cào cào – nạn cào cào cắn lúa là thiên tai tạo nhiều nạn đói xưa nay. Lối viết cho thu thay đổi dần với thời gian, một phần có lẽ vì nạn Tần Thủy Hoàng đốt sách, các bộ 禾 và 火 xuất hiện với hàm ý không rõ, nhưng tôi vẫn tìm được các lối viết này (h. 2,3)
và thế có nghĩa rằng, trong một thời điểm nào đó, người Tàu xem mùa thu là mùa đốt rơm rạ ngoài ruộng để ngừa côn trùng trước mùa trồng trọt tới.
Từ 愁=sầu, trái lại, là một từ hình thanh, viết với bộ 心 và âm 秋, và chỉ có mặt trong tiểu triện, nghĩa là ra đời sau 秋 rất xa.
Thời bây giờ hai từ 愁=sầu/chóu và 秋=thu/qiū phát âm khác nhau trong tiếng Tàu lẫn Việt nhưng thời cổ cả hai đều phát âm với nguyên/chánh âm /iw/. Và như thế có nghĩa rằng, cho dù mùa thu có thể là hình tượng của nỗi buồn, thu không phải là ngữ nguyên cho sầu.
Tôi đã viết kỷ niệm với nhạc Lam Phương và Trần Thiện Thanh khi hai nhạc sĩ này qua đời, rồi có hứa với bạn bè trên Facebook sẽ viết về nhạc Phạm Duy, mà chưa viết được, vì nhiều lý do.
Và đến hôm nay mới có thời gian để … “mời người lên xe, về miền quá khứ”.
Tôi may mắn được biết nhạc Pham Duy từ rất sớm. Khi tôi học lớp ba trong một trường Quân Đội thời Việt Nam Cộng Hoà, hiệu trưởng là một Thiếu Tá. Năm đó, nhạc sĩ Lê Văn Khoa đến trường, tuyển chọn một số học sinh để dạy một bài múa quay trên đài Truyền Hình Sài Gòn. Bài múa của chúng tôi tên gì tôi chẳng nhớ rõ, nhưng lại nhớ bài múa của một nhóm học sinh trường khác khi đến Đài Truyền Hình thu hình trước và chúng tôi thích thú đứng xem, vì bài hát thường nghe trên radio tại nhà: “Em ước mơ mơ gì tuổi mười hai tuổi mười ba …” . Bình thường nghe qua radio thì thấy …bình thường, nhưng được nhìn bài múa với những động tác nhí nhảnh đã cho tôi ấn tượng nhiều với bài này, mới 8 tuổi đầu, chẳng cần biết tác giả là ai .
Tuổi thơ đó, tôi thường nghe những nhạc thiếu nhi nào, tôi cũng không nhớ, nhưng lại nhớ một buổi chiều mưa dai dẳng, quán cà phê nhà tôi vắng khách, ba má bận việc trong bếp, tôi và nhỏ bạn trong xóm đứng hứng nước mưa trước mái hiên của quán, rộn ràng vui vẻ, bỗng dừng lại vì nghe được bài hát quen thuộc trên radio. Thế là hai đứa nhảy tưng tưng, hát (và hét) to hơn tiếng mưa, xem đứa nào thuộc bài hát nhiều hơn, thi với cả giọng ca trong radio (sau này tôi đoán là của Thái Hiền, chớ còn ai trồng khoai đất này): “Ông trăng trả vợ đàn ông trả chồng cô gái trả trái cây cà,…”
Rồi Tháng Tư Đen ập đến, cuộc sống sau đó bị thắt chặt mọi bề, các đợt bố ráp đốt sách báo “đồi truỵ Mỹ Nguỵ” liên tiếp, các anh chị lớn trong gia đình tôi vẫn “ngoan cố” giữ lại được một số tờ nhạc rời của Phạm Duy, Trần Thiện Thanh, và cả một tập nhạc “Bình Ca” của Phạm Duy. Mỗi tối khi rảnh rỗi, mấy anh trai của tôi lại ngồi ôm đàn guitar, hát mà tôi nghe đến thuộc và cũng mê luôn hồi nào hổng hay: “Này em con chim lười/ Nhiều năm chịm đau phổi/ Buổi sáng vắng tiếng chim cười vui … Này em con trâu gầy/ Nhiều năm trâu vất vả/ Cùng với bác xã nơi đồng quê …Này em đã tới giờ/Mẹ đưa em đi chợ …”
Ngoài ra còn có một số sách văn học khác, và mấy băng cassette cũ, trong đó có băng nhạc Thái Thanh hát nhạc nhiều tác giả trong đó có Phạm Duy .
Cứ thế, tôi lớn dần theo âm nhạc các anh chị em trong nhà lén lút khi hát và khi nghe vào những đêm khuya khoắt.
Anh Ba của tôi, sinh viên Đại Học Nông Nghiệp, có máu văn nghệ, thường vào cuối tuần tụ tập nhóm bạn đến nhà chơi, ăn uống, đàn địch hát hò. Nhà tôi có hai cây guitar, các anh bạn khéo tay xúm lại tự chế một bộ trống, nghe cũng xập xình lắm, thế là có đủ cho một ban nhạc mini. Lúc này tôi đã lớn, học lớp 10, đã biết thưởng thức âm nhạc, nhất là “nhạc Vàng”. Trong ban nhạc của anh Tư, có đủ giọng ca nam, nữ, hát đủ nhạc “sến” và nhạc “không sến”, đặc biệt có anh Thành Ruộng ( vì nhà ảnh có vườn trồng hoa, trồng rau để bán ngoài chợ, và để phân biệt với anh Thành ở xóm Chùa) . Anh Thành Ruộng còn trẻ như anh tôi, nhưng tóc bạc sớm, đeo cặp mắt kiếng rất nghệ sĩ, chuyên hát nhạc Phạm Duy. Ôi, những đêm vắng lặng, mấy chị em gái chúng tôi nằm trong phòng, hóng nghe ngoài phòng khách, giọng anh Thành Ruộng như mê hoặc: “Ôi giấc mơ qua/Mộng đời phiêu lãng giang hồ...”
Thời gian này, chế độ mới đã bớt hung hăng cấm đoán “văn hoá đồi truỵ”, người Việt ở hải ngoại gửi về Việt Nam hàng hoá, và cả những cuốn băng nhạc theo đường tàu viễn dương do các thuỷ thủ Việt Nam mang về, nên chợ trời Tạ Thu Thâu đã có những tapes nhạc phục vụ “âm thầm” nhu cầu khao khát của những người yêu nhạc VNCH. Các anh chị tôi đem về vài băng nhạc của nhiều giọng ca và nhiều tác giả, nên tôi được thưởng thức Duy Quang với những bài hát đã nhanh chóng làm trái tim tôi rung cảm: Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ, Em Hiền Như Maseur, Chuyện Tình Buồn, Thà Như Giọt Mưa, Ngậm Ngùi…
Năm tôi đang học lớp 12, một buổi trưa đầu hè tôi bước vào lớp, thấy trong hộc bàn một tờ giấy màu xanh lơ, có ép một cánh bướm làm từ hoa phượng và mấy câu thơ: “Em tan trường về- cuối đường mây đó- Anh tìm theo Ngọ-Dáng lau lách buồn-Tay nụ hoa thuôn-Vương bờ tóc suối-Tìm lời mở nói- Lòng sao ngập ngừng …”, chẳng có tên người gửi, cũng chẳng ghi tên người nhận. Được biết, người ngồi cùng chỗ đó của tôi (lớp buổi sáng) là chàng tuổi trẻ, nhỏ hơn tôi một tuổi (học lớp 11). Nếu như gặp các chàng khác, tôi sẽ vứt ngay tờ thư vào sọt rác, nhưng chàng này … may mắn, vì tôi đã yêu bài hát Ngày Xưa Hoàng Thị do Phạm Duy phổ nhạc từ thơ Phạm Thiên Thư, qua tiếng hát Thái Thanh, nên tôi thấy cánh bướm đẹp quá, tờ thư xinh quá, và nhất là mấy câu thơ lần đầu tôi được đọc, tôi cũng đoán cả bài Thơ sẽ còn hay hơn nhiều. Tôi bỏ lá thư trong cặp, mang về nhà, đọc đi đọc lại nhiều lần, và mong “người ta” gửi tiếp cho trọn…bài thơ!
Cũng thời Trung Học, ông Thầy dạy Văn kiêm bí thơ Đoàn Trường, dân Nghệ Tĩnh, là bộ đội vượt Trường Sơn, nhưng có tính tình văn nghệ phóng khoáng. Thầy từng tâm sự với đám nữ sinh chúng tôi, thời ở trong rừng Trường Sơn, thầy thỉnh thoảng có nghe đài VNCH nhất là những bài nhạc tình lãng mạn. Rồi thầy lim dim đôi mắt hí như đang phê thuốc lào:
- Bài thơ Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan đã hay rồi, nhưng phải qua tay phổ nhạc của Phạm Duy và giọng ca Thái Thanh thì trở nên rất tuyệt vời, không có chỗ nào chê được!
Riêng bài Ngày Xưa Hoàng Thị gắn bó với tôi dài lâu, (một phần cũng vì mấy câu thơ “người ta” để trong hộc bàn), theo tôi đến tận con đường vượt biển, qua trại tỵ nạn Thailand. Hôm ấy, tôi đang say giấc nồng trưa hè thiu thiu thì bỗng nghe bên nhà hàng xóm mở cassette (xài bằng bình acquy) bài Ngày Xưa Hoàng Thị qua giọng ca Thái Thanh. Tôi bỗng tỉnh ngủ, như chợt gặp lại “người xưa”, cầm theo giấy bút chạy qua để thưởng thức điệu nhạc quen thuộc và chép lời. Chị chủ nhà, cũng là người chung chuyến tàu với tôi, rất vui vẻ quay đi quay lại bài hát gần chục lần (sắp nhão cả tape) để tôi kịp ghi lại đầy đủ bài hát. Từ đó tôi cứ lẩm nhẩm bài này với bạn bè cùng lô nhà và khi chúng tôi tụ tập nhóm “đờn ca tài tử”.
Trong nhóm “tài tử” này, có một chị, lớn hơn tôi hai tuổi, có giọng ca hay, chung nhóm bốn đứa con gái chúng tôi ăn ở chung trong trại, xem nhau như chị em ruột, và tôi trở thành “bầu sô”, “quản lý” của chị mỗi khi ở trại có chương trình văn nghệ . Hồi gặp nhau tại Cambodia trên con đường ra biển đến Thái, có lần chị ấy cất tiếng hát Thuyền Viễn Xứ giữa đêm khuya khó ngủ, nên khi nhập trại tị nạn, buổi văn nghệ đầu tiên tôi đã ghi danh cho chị hát Thuyền Viễn Xứ, cả trại nghe mà rưng rưng đúng nỗi lòng tha thiết khi chị vào câu kết “Chiều nay trên bến muôn phương, có thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường ...”
Năm nào trại cũng có nhiều dịp văn nghệ, nào sinh nhật Đức Vua Thái, nào Tết, nào Giáng Sinh, chị luôn vui vẻ để tôi chọn bài, (vì lúc đó tôi làm thiện nguyện ở post office của trại, quen biết nhiều, chương trình văn nghệ nào tôi cũng được biết rất sớm, nên sẵn đó ghi danh luôn cho chị).
Lần đó, mùa lễ Phật Đản, bên Chùa có một chương trình ca nhạc đặc biệt, như thường lệ, tôi báo với ban tổ chức bài Em Lễ Chùa Này cho chị . Sau đó chị lên tiếng:
- Loan ơi, chọn bài khác đi, chị không quen bài này.
- Ôi, bài này dễ ca lắm, để em chép lời ra rồi... hát mẫu cho chị vài lần là chị quen liền hà.
- Không phải thế, chị biết bài này, nhưng chị không hợp giọng, sợ sẽ hát không hay, mà lúc nào em cũng Phạm Duy, Phạm Duy là sao!
- Còn bài nào hợp với ...Chùa bằng Em Lễ Chùa Này không hở chị?
- Nhưng ...
Tôi bỏ ra sau nhà, hờn mát:
- Thì tùy chị đó! Nói thiệt nghen, em mà có giọng ca hay, thì bài này không đến lượt chị đâu!
Vậy mà vài hôm sau, tôi nghe anh trong ban nhạc kể, chị đã đến tập dợt và sẽ hát Em Lễ Chùa Này, dễ thương hết sức!
Giờ nghĩ lại thấy chị ấy rất đúng, bài đó cô Thái Thanh hát rất hay và hợp những khúc ngân nga luyến láy, còn chị thì giọng nội lực khá mạnh, không phải lúc nào cũng hợp cho nhạc Phạm Duy, chỉ tại hồi đó tôi cứng đầu ngang như cua, và chị thì thương tôi nể tôi, đã cố hát Nha Trang Ngày Về, Vũ Nữ Thân Gầy, Bà Mẹ Quê, và dĩ nhiên là không thể không hát Ngày Xưa Hoàng Thị (kỷ niệm tuổi học trò của... nàng “bầu sô”).
Nhân đây tôi cũng xin kể môt kỷ niệm vui về giọng hát Thái Thanh hồi còn ở trại. Đến giờ giới nghiêm, cả trại im lìm trong bóng đêm, chúng tôi bốn đứa chui vào mùng mở máy cassette nho nhỏ chạy bằng “pin”, nghe Thái Thanh phải nghe đêm khuya mới thấm, nhứt là khúc chậm rãi nàng rên rỉ:“Chim ơi chết dưới cội hoa/ Tiếng kêu rơi rụng giữa giang hà ...”. Chú Tám kế bên vách vọng sang thì thào:
- Cô Loan ơi, cô làm ơn mở volume lên chút xíu cho tôi nghe rõ giọng Thái Thanh, được không cô?
Tôi sung sướng:
- Ủa, chú cũng mê tiếng hát Thái Thanh sao? Hổm rày con đâu biết!
- Chả giấu gì mấy cô, tui chỉ mê nhạc mùi của Tuấn Vũ, Chế Linh. Nhưng giọng cô Thái Thanh làm tôi …buồn ngủ, tôi vốn mắc chứng mất ngủ!
Dễ giựn không nà! Nhưng mà thôi, mục đích nào cũng tốt hết á. Chúng tôi bên này thả hồn theo từng điệu nhạc lời ca cao vút điệu đà của Thái Thanh, còn bên kia chú Tám…ngủ ngon.
Rời trại tị nạn cuối năm 1993 đến Canada, thuở chưa có internet, youtube, facebook. Mỗi chiều cuối tuần tôi đón xe bus xuống Thư Viện thành phố, tìm vào Vietnamese Section, sung sướng thấy những kệ sách, truyện Tiếng Việt, và mừng rỡ chộp liền Hồi Ký Phạm Duy (4 cuốn) đem về nhà nghiền ngẫm không sót một dấu chấm dấu phẩy. Đọc hồi ký, biết nhiều điều về tác giả và gia đình, biết số lượng tác phẩm đồ sộ của ông hơn cả nghìn bài, thế mà tôi từng ngỡ mình biết nhiều nhạc Phạm Duy.
Mùa Tết đầu tiên ở Ottawa, Canada, có một đêm nhạc dạ vũ, thấy poster có Thái Hiền, tôi liền mua vé ngay lập tức, con gái Phạm Duy chắc chắn sẽ hát nhạc của bố. Quả như mong ước, phần trình diễn của Thái Hiền, ngoài vài bài hát của tác giả khác, là các bài: Cành Hoa Trắng, Nghìn Trùng Xa Cách, Phượng Yêu ...nghe tới đâu mê mẩn tới đó.
Thời gian sau, trung tâm Thúy Nga Paris ra cuốn chủ đề Phạm Duy, thỏa lòng tôi biết bao. Mãn nhãn vì được nhìn thấy Thái Thanh, Duy Quang, hai tiếng hát tôi chỉ được nghe qua tapes, Cds, nay được “vừa nghe vừa ngắm” hỏi sao hổng vui! Mãn lòng khi nghe nhiều bài nhạc của Phạm Duy, trong đó vài bài tôi mới nghe lần đầu.
Lúc con gái tôi 8-9 tuổi, đi học piano, đến cuối khóa, con hỏi tôi chọn một bài nào đó để cô giáo tập cho, chuẩn bị buổi “recital”. Tôi bất chợt nghĩ đến “Blue Danube” vì điệu nhạc hay, ai dè lại là nhạc Phạm Duy chuyển qua lời Việt “Dòng Sông Xanh”. Nhớ đến chuyện ép uổng chị bạn ở trại tị nạn, tôi hỏi con gái:
- Mẹ thấy bài này hay, nhưng tùy con có thể chọn bài khác mà con thích.
Nó trả lời ngay:
- Bài này quá tuyệt mà mẹ, con cũng thích!
May quá, thế là có những buổi chiều, tôi lo cơm nước ngoài bếp, văng vẳng ngoài phòng khách là tiếng đàn piano con gái tập dượt, chỉ là nhạc thôi, nhưng trong đầu tôi là tung tăng điệu lả lướt theo Thái Thanh: “ Một ...giòng ...xanh ...xanh ...”
Dù ở trại tị nạn, hay qua Canada, bạn bè xung quanh đều biết tôi là “fan” của Phạm Duy . Ngày nay mỗi khi tụ tập nhóm họp có karaoke, giọng ca của tôi chỉ “tàm tạm” nhưng Phạm Duy có một số bài tương đối dễ ca cho tôi “thể hiện đam mê”: Trả Lại Em Yêu, Bao Giờ Biết Tương Tư, Còn Chút Gì Để Nhớ, Mùa Thu Chết ...
Nói vậy chớ, có một thời gian dài, tôi đã phải che dấu, hoặc ngại ngùng thú nhận mình là “fan” của Phạm Duy- Thái Thanh, vì nhiều lần bị bạn bè chọc ghẹo:
- Úi chào, loại nhạc đó, giọng ca đó, chỉ dành cho người già, thích loại nhạc …khó nuốt khó nghe!
Nhưng giờ đây, tôi đã “đủ tuổi”, à mà không, tôi đã dư tuổi, có thể công khai tuyên bố là “fan” của Phạm Duy rồi nhỉ.
Dĩ nhiên, tôi vẫn thưởng thức nhạc của nhiều nhạc sĩ khác của VNCH , nhưng không hiểu sao, trong nhiều tình huống, dù bất ngờ hay có dự định, thì nhạc của Phạm Duy luôn được chọn nhiều hơn . Vì đi làm buổi chiều, nên khi sáng ở nhà lo cơm nước, tôi thường nghe youtube bài giảng của vài vị linh mục, hoặc của Thầy hàng xóm Edmonton là thầy Pháp Hòa, hoặc là nghe nhạc. Có khi tôi chọn cả 1 CD, nhưng cũng có lúc tôi nghe riêng từng bài tùy theo tâm trạng.
Khi lãng đãng “không nắng không mưa” thì sẽ là “chiều buông bên dòng sông Cửu Long, như một cơn ước mong ...ơi chiều”, rồi thì “một người ngồi im nghe bên kia sông nước chảy về đâu ...” .
Khi buồn buồn nhớ quê hương thì có “chiều rơi thoi thóp trên vài luống khoai/hiu hắt tiếng bà mẹ cười/ vui vì nồi cơm ngô đầy ...” dù tôi chưa bao giờ sống ở nông thôn nhưng sao lại yêu thương quá đỗi với hình ảnh này.
Tháng Tư Quốc Hận thì phải nghe: “Một ngày 54 Cha bỏ quê xa...”
Khi tự hào dân tộc thôi thúc, tôi muốn nghe “tôi yêu tiếng nước tôi ...” và “quê hương tôi có con sông đào xinh xắn, nước tuôn trên đồng vuông vắn”.
Khi trái tim mềm yếu nhớ tuổi thanh xuân lãng mạn, sẽ là “ vai em gầy dưới mưa, ướt bao nhiêu cũng vừa ...” rồi thì “ dắt em lên đồi cỏ hoang ngập nắng ...” lại bâng khuâng : “ đường dài hạnh phúc cầu chúc cho người ...”
Khi Tết đến Xuân về sẽ ngân nga: “Hoa chẳng yêu lũ bướm lả lơi/Muốn yêu anh vác cày trên đồi ...” để rồi mộng mơ: “Rồi đây anh sẽ đưa em về nhà ...”
Tuy chưa được gặp Phạm Duy ngoài đời thực, nhưng tôi cũng có hai lần “giao tiếp” cùng Ông qua email phamduy@aol.com. Lần đầu khi tôi còn làm trong ban báo chí Hội Người Việt Edmonton, tôi viết một truyện ngắn, có lấy câu ca dao “Tóc mai sợi vắn sợi dài/Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm” để dưới tựa đề truyện, thì một anh trong ban báo chí (là một “fan” của Phạm Duy) cương quyết cho rằng đó là thơ của Phạm Duy trong bài hát cùng tên, có câu: “Thuở ấy em vừa thôi kẹp tóc ...”. Tôi bèn email hỏi tác giả thì Phạm Duy sau đó đã hồi âm, bảo rằng tôi ...không sai!
Lần thứ hai, tôi hỏi Ông về câu hát: “Năm năm rồi không gặp/ Mười năm mất nhau không/ Trăm năm dù lỗi hẹn/ Ngàn năm vẫn không quên/ Vẫn nhớ y nguyên” và nhân tiện chúc mừng sinh nhật Ông. Lần này Ông cũng giải đáp thắc mắc, cám ơn lời chúc sinh nhật và nhắc vui tôi đừng dùng “years- old” mà phải dùng “years-young” vì Ông lúc nào cũng ...trẻ .
Qua hai lần email đó, một lần khi Ông còn ở Thị Trấn Giữa Đàng (Midway City, California) và lần Ông đang ở Việt Nam, lần nào Ông cũng trả lời email trong vài giờ, không để tôi phải chờ đợi lâu . Điều này chứng tỏ Ông là một nhạc sĩ nghiêm túc, chuyên nghiệp, trân trọng khán thính giả, những người hâm mộ nhạc của Ông.
Kỷ niệm về nhạc Phạm Duy của tôi đến đây là hết, hy vọng không còn thiếu sót gì, chớ còn nói về nhạc Phạm Duy thì chẳng bao giờ cạn, vì mênh mông lắm, bao la lắm.
Trong một dịp tụ tập gia đình bên Arlington, Texas, mấy anh chị em có ôn lại thời gian khó khăn sau năm 1975 khi “nhạc Vàng VNCH” bị cấm đoán và nhắc đến những tờ nhạc rời Phạm Duy đã một thời vang lên “khe khẽ” trong căn nhà của chúng tôi . Anh Hai cho rằng, lẽ ra bài“Việt Nam Việt Nam” nên là Quốc Ca của VNCH, anh Ba anh Tư ca tụng Ông là “phù thủy” dịch nhạc ngoại sang lời Việt, bà chị Cả thì say mê gọi Ông là “phù thủy” của phổ thơ, còn riêng tôi thì luôn ...nghi ngờ Ông đã là thi sĩ trước khi là nhạc sĩ rồi cơ: “ Em có hay chăng anh về/Thoạt nhìn người yêu ngỡ trong mộng mê/ Ai dám mong chi Xuân về/ Nào ngờ vườn đêm có bong hoa kề” .
Tóm lại, trong lĩnh vực âm nhạc, dù với chủ đề nào, thể loại nào, Ông cũng là “phù thủy” hết á!
Trước Phạm Duy thì tôi không biết, nhưng kể từ khi có Nhạc sĩ Phạm Duy, thì với tôi, âm nhạc Việt Nam chắc còn lâu lắm, mới có được người thứ hai như thế!
Edmonton, Tháng7/2025
Kim Loan
*** Ghi chú: Tất cả những chữ in nghiêng trong bài viết này, là những Tựa Đề hoặc những câu hát trong nhạc Phạm Duy.