Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Minh Thanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Minh Thanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2026

Những Con Tàu Mang Sứ Mệnh Thiên Thần - Cap Anamur Ile De Lumière


Vào giờ tuyệt vọng giữa mênh mông
Bỗng có con tàu lướt bão giông
Cứu kẻ thuyền chìm đang chới với
Vớt người ghe bể lúc long đong
Lòng Từ cao cả tày non Thái
Tâm Thiện vời vời sánh biển Đông
Cap Anamur ân thâm khắc cốt
Ile De Lumière nghĩa trọng ghi lòng…

Nguyễn Minh Thanh

Ngoài ra còn có nhiều, nhiều… Con Tàu nữa, đã từ tâm cứu biết bao người Việt Nam Vượt Biển:
Mỹ, Singapore, Malaysia, Philippines, Hồng Kông….
Ôi ! Lịch Sử Việt Nam thời kỳ thậm tối tâm:
- Đồng Bào mà tàn sát Đồng Bào lòng không ngần ngại xót xa…, lắm kẻ khổ đến đổi phải đem thân liều vượt biển…!!
- Dị Chủng lại cứu sinh Dị Chủng dạ chẳng mảy may tính toán…, nhiều người lo vội vàng cho tàu lớn liệu ra khơi…!!
Ôi ! Thời kỳ thiên ám địa hôn:
- Nữ lưu bị hiếp hãm giữa biển khơi hồn tan phách tán, sóng nỉ non u uẩn… xót nòi Trưng Triệu chịu cảnh gớm ghê...!!
- Nam nhân phải lao lý nơi núi thẳm sức mỏi lực mòn, suối róc rách thở than… thương giống Lạc Long đang cơn đày đọa…!!

Nguyễn Minh Thanh bái bút
( GA 15 - 6 - 2026 )


Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2026

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn

 

Oằn nặng đôi vai cuộc chiến tranh
Trận tiền hiển lộ nét tinh anh
Vào sanh lẫm liệt đời trai tráng
Ra tử hào hùng mái tóc xanh
Bảo Quốc núi sông cơn khói lửa
An Dân làng xóm thuở đao binh
Tang thương dồn dập đè sông núi
Trước giặc thản nhiên… tỏ bất bình…!!


Nguyễn Minh Thanh kính bút
----------
* Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn sinh năm 1938 tại xã Vĩnh Thanh Vân, Rạch giá, Kiên Giang. Thân phụ là hạ sĩ quan trong Quân đội Quốc gia Việt Nam.
Năm 1945, HNC bắt đầu đi học Tiểu học.
Năm 1951, Ông nhập học trường Thiếu sinh quân. Năm 1956, Ông chính thức gia nhập Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cấp bậc Binh nhì.
Năm 1959, HNC được thăng cấp Trung sĩ I. Năm 1961 HNC nhập học khóa 2 Nhân Vị ở trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế, Nha Trang.
Năm 1962 mãn khóa tốt nghiệp Chuẩn úy hiện dịch. Trong quân ngũ, Hồ Ngọc Cẩn can trường và thao lược. Ông lần lượt được vinh thăng đến cấp Đại Tá năm 1972. Và làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Chương Thiện Nhiệm kỳ 11/1973 – 30/4/1975.

Ông có:
– Bảo quốc Huân chương đệ tứ đẳng
– Hai mươi lăm Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu
– Ba Chiến thương Bội tinh
– Hai Huy chương Hoa Kỳ.

* Ngày 14.8.1975, tại sân Vận Động Cần Thơ, dân Cần Thơ đã chứng kiến giây phút lìa đời cao cả của anh hùng Hồ Ngọc Cẩn. Đại Tá Cẩn. 

Phần phụ:
Phu nhân Đại Tá  Hồ Ngọc Cẩn:

Nhũ danh: Nguyễn Thị Cảnh sinh năm 1941 (?) tại Thủ Đức, Tôn giáo: Công giáo, sinh sống tại Thủ Đức. Bà kết hôn với ông Hồ Ngọc Cẩn vào mùa xuân năm 1959 trong một lễ cưới bình thường tại họ đạo Thủ Đức. Khi đó Bà 18 tuổi, Ông Cẩn là trung sĩ huấn luyện viên Trường Bộ binh Thủ Đức. Bà được cho là phụ nữ hiền lành, đạo đức, đảm đang, mỗi tuần đi giúp lễ và làm công tác thiện nguyện trong Nhà Thờ.

– Cuộc đời Bà sau 1975
Sau khi Đại tá Hồ Ngọc Cẩn bị xử bắn ngày 14/8/1975, Bà trở thành người góa phụ trung kiên. Bà đã tìm cách đem tro cốt của phu quân Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn sang Hoa Kỳ. Bà được cộng đồng Việt Nam hải ngoại nhắc đến với sự kính trọng .Bà sống tại Hoa Kỳ trong những năm cuối đời.

Bà qua đời ngày 30/8/2024 tại Stevenson Ranch, Nam California. Nhiều bài viết từ cựu quân nhân VNCH tiếc thương và tưởng niệm Bà.
Phần Kết: với lòng kính mến sâu sắc ÔNG – BÀ HỒ NGỌC CẨN, hậu sinh có câu đối trân trọng tưởng niệm:

– Kiên Giang xuất hào kiệt thao lược dốc tâm nghiệp binh nhung tròn ân Tổ Quốc.
– Thủ Đức sinh thuyền quyên hiền thục cật lực phần gia đạo trọn nghĩa phu thê.

Nguyễn Minh Thanh bái bút
(GA tháng 2 ngày 9 năm 2026 – biên soạn và hiệu đính)


Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2026

Cụ Trần Văn Hương

 
 
Xuất thân nhà giáo dạy văn chương
Kháng Pháp chân in những nẻo đường
Hợp tác Việt Minh vai Chủ Tịch
Giã từ Cộng Sản sống thuần lương
Tân triều lận đận làm Đô Trưởng
Thủ Tướng lao đao giữ chính trường
Tổ Quốc bềnh bồng... ngôi Tổng Thống
Quyết theo mệnh nước rũ tàn xương...!!

Xương tàn Tổng Thống chẳng nhà riêng
Khí tiết xưa nay rất khó tìm
Dòng suối gương trong đời giản dị
Đỉnh non tuyết trắng tiếng thanh liêm
Martin tới rước: - không rời xứ
Việt Cộng mời trao: - hứa nhận quyền:
(" Cải Tạo" chừng nào về hết cả
Bấy giờ sẽ nhận cái phần riêng...?!)

Riêng dạ ưu phiền trước nhố nhăng
Kiêu binh mặt sắt sát đằng đằng
Cường quyền cỡi cổ: - nhà vào chiếm
Bạo lực đè đầu: - của giựt ăn
Cả xứ ùn ùn đang vượt biển
Nhiều nơi rục rịch định rừng băng
Thân già đỏ mắt ngồi khô... khóc
Nước Việt mênh mông... sóng nhục nhằn...!!

Nhục nhằn chung chiụ..., sử lưu phương
Tư thái ung dung giữa bạo cường
Thuở trước trung thành Văn Tống Thụy
Thời nay tiết tháo Trần Văn Hương
Chẳng màng đất khách tìm an hưởng
Thà sống quê nhà nhận tổn thương
Vẫn biết chim lồng ngàn khổ nạn
Dân Nam sĩ khí dễ xem thường...??!

Nhằm Tết tinh anh thăng về cõi
Tịnh Độ tiêu dao vợi... nỗi sầu...!!
Kính cẩn cúi đầu Hương tỏa khói...
Bao người thổn thức... nén dòng châu...!!

Tùng xanh hạc trắng non cao
Gương trăng lồng lộng chiếu vào... thiên thu...!!

Nguyễn Minh Thanh kính bút
 

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2026

Tiết Phụ Kiên Trinh Bà Phan Thị Minh Yến Phu NhânTướng Quân Lê Nguyên Vỹ

 

Mất nhà mất Nước mất người thương
Một Mẹ bốn Con vượt dặm trường
Đất khách con côi trau hạnh - học
Quê người mẹ góa dệt tình thương
Giai nhân cẩm chướng đang xuân sắc
Tiết phụ hải đường tỏa diễm hương
Cắt tóc chuyên tay nuôi dạy trẻ
Thành nhân chi mỹ nguyệt soi gương

Nguyễn Minh Thanh kính bút

Lược truyện: Bà Phan Thị Minh Yến:

Bà Phan Thị Minh Yến người Hải Phòng theo cha mẹ di cư vào Nam năm 1954. Năm 1964, cô Phan Thi Minh Yến 19 tuổi lập gia đình. Tiếp theo là 10 năm làm vợ lính thời chinh chiến. Rồi bắt đầu làm mẹ. Những đứa con lần lượt ra đời.: Quang, Minh, Chính, Đại. Ba đứa con trai đầu đúng tên. Riêng cô gái út được gọi là em Đại ở trong gia đình. Khi ở lớp học là Tường Vi .

Tháng 4 năm 1975, bà Phan Thị Minh Yến khoảng 30 tuổi dẫn 4 con từ 6 tuổi đến 10 tuổi di tản sang Hoa Kỳ. Chồng Bà, Tướng Lê Nguyên Vỹ bận việc quân không tiễn chân vợ con được. Và rồi, vĩnh biệt, tử biệt,.TUẪN TIẾT..!!!. Từ đó Bà Phan Thị Minh Yến trở thành góa phụ và ở vậy nuôi con...!!!.

Tới Hoa Kỳ, mẹ trẻ và 4 con nhỏ long đong...!! Bà Minh Yến bắt đầu bằng nghề cắt tóc. Duy nhứt làm nghề cắt tóc. Cố gắng tự lập nuôi con. Bà vừa làm mẹ, vừa làm cha. Bà Minh Yến thiếu thời là nữ sinh trường đầm Sài Gòn, rồi trở thành vợ lính sống cảnh trại gia binh. Sau cùng trở thành góa phụ truân chuyên...!! Qua bao năm trời Bà đương đầu nghịch cảnh, các con đã trưởng thành, tốt nghiệp đại học, Bà đã có cháu nội cháu ngoại.
Và sau khi ổn định, Bà đã liên lạc được với bà Mẹ Chồng ...



Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

Hạo Khí Trường Tồn - ( Trần Cẩm Hương Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa)

 
 (Đại Tá Trần Cẩm Hương)

Trường Nữ Quân Nhân: - Trưởng Chỉ Huy
Gương trăng vằng vặc mấy ai bì
Sa cơ đày đọa không e ngại
Thất thế đương đầu chẳng quản chi
Khí Hạo kiên trung ngời Hạo Khí
Mi thanh bất khuất rạng thanh mi
Cần Thơ thổn thức... trang trung dũng
Hậu Nghĩa ngậm ngùi... bậc nữ nhi....!!!

(Hình ảnh Đại Tá Trần Cẩm Hương do Ông Đỗ Văn Phúc cung cấp)

Lược Sử Bà Trần Cẩm Hương:

Trần Cẩm Hương (1926 – 1987) là nữ sĩ quan duy nhất của Việt Nam Cộng Hòa mang cấp bậc Đại Tá. Bà làm Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân nhân kiêm Chỉ Huy Trưởng Trường Huấn Luyện Nữ Quân Nhân đường Nguyễn Văn Thoại từ năm 1965 đến năm 1975.
Bà Trần Cẩm Hương sinh tại Cần Thơ, trưởng nữ của kỹ sư Trần Văn Mẹo, cựu Bộ trưởng Bộ Công Chánh dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa.

Bà nhập ngũ ngày 21 tháng 8 năm 1952. Tốt nghiệp Cán sự Xã Hội tại Trường Sĩ Quan Nữ Trợ Tá Xã Hội năm 1952. Ngày 5 tháng 1 năm 1965, ngành Nữ Trợ Tá Xã Hội được đổi tên thành Đoàn Nữ Quân nhân , trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Cơ sở của Đoàn Nữ Quân Nhân ở đường Nguyễn Văn Thoại, Sài Gòn, bên cạnh Trường Nữ Quân Nhân.

Bà Trần Cẩm Hương đang là Thiếu Tá được bổ nhiệm làm Đoàn Trưởng đầu tiên kiêm Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn luyện Nữ Quân Nhân. Bà giữ chức Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân Nhân kiêm Chỉ Huy Trưởng cho đến ngày 1 tháng 4 năm 1975 thì giải ngũ vì đáo hạn tuổi với cấp bậc Đại Tá, Người kế vị bà là Trung Tá Lưu Thị Huỳnh Mai, Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân nhân thứ hai và cuối cùng.

Nguyễn Minh Thanh kính bút
(GA, 2 - 23 - 2026)


Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2026

Trạng Nguyên Mạc Đỉnh Chi (1280 - 1346)


Mạc Đỉnh Chi

Đời Trần có Mạc Đỉnh Chi
Vóc người nhỏ bé dị kỳ hơn ai
Xấu tướng mà có biệt tài
Nói năng hoạt bát biện bài càng hay
Mấy phen đi sứ cõi ngoài
Lưỡng Trạng nổi tiếng danh bay nước Tàu
Ngài còn liêm khiết thanh cao
Của tiền phi nghĩa khôn xao lòng vàng
Gương trong ngọc trắng huy hòang
Làu làu kinh sử vẻ vang giống nòi...
(Khuyết Danh)

Trên đây là bài thơ mà người viết học trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư từ hồi còn để chỏm. Do đó không nhớ tên tác giả. Tuy nhiên, qua nội dung bài thơ, tg rất mực ngợi ca ông Mạc Đỉnh Chi.
Và cũng chính bài thơ trên đã gợi cảm hứng cho người viết biên soạn Danh Nhân tiểu truyện này.

Tiểu sử: Mạc Đỉnh Chi ( M Đ C )Tự là Tiết Phu, người tỉnh Hải Dương, giòng dõi Mạc Hiển Tích đời Nhà Lý, mồ côi cha từ nhỏ, nhân dạng tuy xấu, nhưng cực kỳ thông minh. Ông theo học với Hoàng đệ Trần Ích Tắc, và đỗ Tiến sĩ năm 1304 đời vua Trần Anh Tông. Đỗ đầu khoa, nên gọi: Trạng Nguyên.

Nhưng nhà vua không trọng dụng do ngoại hình . Biết bụng vua, Ô. làm bài phú "Ngọc Tỉnh Liên" dâng lên vua. Nội dung ví mình như hoa Sen quí trong Giếng Ngọc. Nhà vua xem xong, cả đẹp, phong chức dần lên tới Tả Bộc Xạ (Thượng Thư), hai lần đi sứ sang Nhà Nguyên, và ứng đối rất tài tình.
Ông đã cùng vua Nguyên xướng hoạ thơ văn rất tương đắc, được vua Nguyên chính tay chấp bút phong tặng"Lưỡng quốc Trạng Nguyên".

Mạc Đỉnh Chi người cương trực, thanh liêm, hết lòng vì dân vì nước. Ông làm quan qua ba đời vua: Anh Tôn, Minh Tôn, Hiến Tôn. Đời vua Trần Minh Tôn được phong Hành Khiển Nhập Nội (Thủ tướng)

Những giai thoại nói về MĐC:

1 - Ứng Đối: Khi vào bệ kiến vua Nguyên, nhà vua có câu đối:

NHẬT HỎA, VÂN YÊN BẠCH ĐÁN THIÊU TÀN NGỌC THỐ ( Mặt trời là lửa, mây là khói ban ngày đốt cháy vầng trăng )

Hiểu ý kiêu ngạo trịch thượng của vua Nguyên, để tỏ rõ khí phách của dân Việt, MĐC đối lại:
NGUYỆT CUNG, TINH ĐẠN HOÀNG HÔN XẠ LẠC KIM Ô ( Trăng là cung, sao là tên chiều tối bắn rơi mặt trời )
Rất là tuyệt, nói theo Kim Dung rất là độc chiêu, ăn miếng trả miếng, vua Nguyên nghe qua hậm hực nhưng cũng rất kiêng dè..!!

Cũng qua câu đối của MĐC, người Tàu " Mao Tôn Cương" rằng: theo ý câu đối, về sau cháu Ô. ắt có người làm việc thoán đoạt. Và đã ứng vào Mạc đăng Dung cháu 7 đời, đã soán ngôi nhà Hậu Lê (Lê Lợi....) đồng thời truy tôn Ô. MĐC là KIẾN THUỶ KHÂM NINH VĂN HOÀNG ĐẾ. Hiện nay nơi quê hương Lũng Động, Chí Linh, Hải Dương có đền thờ Ô. MĐC rất trọng thể..!!

2 - Văn Tế Công Chúa Nguyên

Thời gian đi Sứ ở Yên Kinh ( Bắc Kinh ), có một công chúa nhà Nguyên chết, Mạc Đĩnh Chi được cử đọc văn tế. Để thử tài Sứ Thần nước Nam, quan Lễ Bộ trao cho Ông tờ giấy chỉ có 4 chữ " Nhất ". Bình tĩnh, tài trí MĐC ứng khẩu đọc:

Thanh thiên nhất đóa vân,
Hồng lô nhất điểm tuyết,
Thượng uyển nhất chi hoa,
Dao trì nhất phiến nguyệt.
Y hi! Vân tán, tuyết tan, hoa tàn, nguyệt khuyết !

Dịch nghĩa:

Một đám mây trên trời
Một bông tuyết trong bầu trời
Một nhành hoa trong vườn Thượng
Một mặt trăng trong ao tiên
Ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!

Ý rằng: trên trời có một đám mây, trong bầu trời có một bông tuyết, nơi Thượng uyển có một nhành hoa, trong ao tiên có một mặt trăng!
Nhưng than ôi! mây tan tác, tuyết tiêu tan, hoa tàn tạ, trăng mờ khuyết!
Đại ý là tiếc thương Công Chuá lá ngọc cành vàng đã mệnh chung, thương thay tiếc thay!!

3 - Liêm Chính: 

Vua nghe nói MĐC người rất liêm chính, ngay thẳng. Để thử lòng Ông, vua cho người đem vàng bỏ rơi trước nhà. MĐC lượm được vào chầu tâu với Vua. Vua bảo, nếu không có ai nhận, thì khanh hãy lấy mà chi dụng...

Hậu duệ ở Triều Tiên

Thời gian đi sứ Tàu, sứ thần nước Nam và Cao Ly giao tình rất trọng. Do hoàn cảnh của hai nước trước cường quốc Trung Hoa, với lại tài ba của M Đ C làm sứ thần Cao Ly rất mến mộ. Vị sứ đã mời MĐC sang Cao Ly chơi và gả cháu gái cho ông. Người thiếp này sinh được 1 nữ, và 1 nam, do đó có một dòng họ Mạc ở Cao Ly.

Câu chuyện dân gian: tương truyền, gia đình Mạc Đỉnh Chi ở gần bìa rừng. Nhà nghèo. Mẹ Ông thường vô rừng kíếm củi. Một hôm, Bà bị con vượn hiếp... Về, Bà kể lại với Cha Ông. Cha Ông bèn hoá trang phụ nữ, trong lưng lận theo cái mác thật bén nhọn, vào rừng. Ăn quen, con vượn xáp lại đè Cha Ông. Cha Ông luị cho nó một mác. Xong vất xác bên lùm cây.

Mấy hôm sau có dịp đi ngang, Cha Ông thấy chỗ vất xác con vượn, nay do mối đã đụn thành gò. Cha Ông cho đây là cuộc đất tốt, theo phong thủy. Bèn dặn Bà, khi nào ông ấy mất, hãy chôn ngay nơi gò mộ của con vượn. Bà y lời.
Nhờ cuộc đất kết, sau nầy, lớn lên, Mạc Đinh Chi thông minh xuất chúng, học hành thành đạt. và phát đạt gần tới tột đỉnh vinh quang...

Phần kết: Qua truyện Mạc Đỉnh Chi, người viết liên tưởng đến Án Anh đời Xuân Thu bên Tàu, tác giả chuyện cây quít trồng ở phía Bắc sông Hoài thì ngọt. Và ngược lại thì chua. Án Anh sống trước quan Trạng MĐC cả ngàn năm. Vóc dáng cũng nhỏ nhắn, nhưng cái đầu rất to, đối ứng bén nhạy, chính xác, tài cao đức trọng giúp vua Tề làm nên nghiệp Bá.
Vớ́i lòng ngưỡng vọng tiền nhân tài đức cao vợi như Thiên Cẩm sơn của Quan Trạng Mạc Đỉnh Chi, hậu sinh có bài thơ nhỏ để trân trọng người xưa:

Ông Mạc Đỉnh Chi
(1280 - 1346)

Biện thuyết tài tình Mạc Đỉnh Chi
Dáng người nhỏ bé thật là kỳ 
Tay buông lỏng thỏng trông như vượn
Lưng uốn lom khom ngó tợ qui
Đi sứ bao phen tiền hậu khoáng
Làm quan hai nước cổ lai hi
Văn chương uyên bác thông kinh sử
Liêm khiết trăng cao mấy kẻ bì..!!
                                    
Cảm Thán

Đọc Cổ Sử người xưa ngời lẫm liệt
Ngẫm lại mình chi xiết nỗi than ôi
Sông núi đó đang từng hồi... vong diệt
Mà anh hùng hào kiệt vẫn xa xôi...!!

Nguyễn Minh Thanh biên soạn - hiệu chỉnh
(GA 14 - 4 - 2026)

Tham khảo: trang web Mạc Đỉnh Chi
Danh Nhân Từ Điển cuả Nguyễn Huyền Anh
Thành Ngữ Điển Tích của Trịnh Vân Thanh
* Rất tiếc đã tìm nhiều nơi,nhưng không thấy tên cha, mẹ của quan Trạng Mạc Đỉnh Chi!!

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2026

O Huế, Bây Giờ Em Ở Đâu...?!



(*Tặng: Giang Văn Nhân & O Huế,
mối tình đẹp, đau... thời chinh chiến!!)

" Chiến binh mà để Non Sông mất...!!
Đau buốt tâm can... xót má đào... !!"

....
Mỗi lần vô Huế đều ghé thăm
Ngắm O bán vải đẹp trăng rằm
Mũi cao má phấn màu hoa bưởi
Răng trắng môi hồng mắt lá răm

Vai hạc lưng ong xõa tóc thề
Liêu trai mà mượt suối đam mê
Gịong oanh thanh nhã vui mời mọc
“- Anh cọ cần chi em giúp hề...?”

Mua vải của O để lấy lòng
Mỉm cười hoa nụ đẹp vô song
Hải Đường hàm tiếu long lanh hạt
Sương sớm bình minh... má ửng hồng

Bàn tay sứ trắng ít ai bằng
Năm ngón thon dài nõn búp măng
Khoan thai là lướt trên nền vải
Đo đếm đường hoàng kéo cắt ngang

Từ đó dần dà em với ta
Nhịp quân nhung nhớ... chợ Đông Ba
Có O bán vải buồn lên mắt
Ngóng cánh chim chiều... bay lướt qua

Tưởng rằng cá nước sẽ dài lâu
Ngày nao mai mối chuyện cau trầu
Đất bằng giậy sóng ai ngờ được
Sông Núi hãi hùng... lún biển sâu...!!

Tháng 3 (- 1975) đơn vị buồn triệt thoái
Triệt thoái trời ơi... sao triệt thoái...??
Chiến trường chưa đánh đã lui quân
Nước cờ ngang ngửa... rồi ra bại
Binh pháp xưa nay... thật lạ lùng...!!

Tràng Tiền ngoái nhìn Phu Văn Lâu
Cao vút kỳ đài vương nỗi sầu
Buồn bã Cờ Vàng... đang phất gió
Đông Ba ngã bóng O giờ đâu...?!


Bí mật quân hành biết tính sao

Rồi đây mai mốt... có còn nhau...?!
Nhịp quân dồ̀̀̀n dập... chân dồn dập
Thương quá O ơi sóng dạt dào...!!

Thư hùng một trận cho hừng chí
Sao lại lui binh thật lạ kỳ
Da ngựa sá gì thây tử sĩ
Cổ lai chinh chiến chuyện nam nhi...!!

Căm phẫn ngang trời... ôi nỗi nhục...!!
Pháo, tăng... còn đó lại quay đầu ?
Đưa lưng để giặc làm bia thịt...
Bãi biển máu trào... sóng biển đau...!!

Ớt chẳng ăn mà cay quá cay
Chiến binh ngã ngựa khốn... đêm ngày...!!
Xác xơ tàn tạ chân rời rạc...
Đói lã nhục nhằn tù khổ sai...!!

Lồng chật... Cồn Thiên nhốt hải âu
Ngày qua tháng lại lá rơi... sầu...!!
Vẩn vơ nghĩ ngợi đời đen bạc
Mây trắng chiều nghiêng... bay về đâu...?!

Bỗng một hôm có người tới thăm
Ngạc nhiên... ai đó đúng hay nhầm ?!
Gặp nhau mới biết rằng O đến
Mừng lắm em ơi ngỡ bặt tăm...!!

O đến thăm ta với chút quà
Thịt phay, bánh ướt... chợ Đông Hà
Bồi hồi... thương quá... ôi thương quá...!!
Tình trải theo đường... xa... ngút xa...!!

Rộn rã niềm vui... chan nỗi khổ
Chuyện nhà, chuyện nước... mắt mi hoen
Bùi ngùi bi phẫn nàng chim nhỏ:
“- Răng để... chừ mất Huế cuả em ?!”

Tránh nhìn đôi mắt huyền hờn trách
Xấu hổ nghẹn lời... biết nói sao
Chiến binh mà để Non Sông mất...!!
Đau buốt tâm can... xót má đào... !!

Đến lúc chia tay O thỏ thẻ
Tình em tha thiết... tẩm trong câu:
“- Giữ gìn sức khoẻ anh yêu nhẹ...!!”
Mái tóc nghiêng nghiêng mắt nhuốm sầu...!!

Lây lất... đếm ngày đen địa ngục
Chim lồng thao thức... giữa đêm thâu
Ngẩn ngơ ngùi nhớ... thương người ngọc
Tượng đá xanh rêu... núi bạc đầu...!!

Chuyển trại bao lần tù trại chuyển
Làm sao O biết... nẽo sơn khê
Tủi thân con ếch... ngồi trong giếng
Ngắm mảnh trời xanh... mãi nhớ về...!!

Tám năm lao lý dài dằng dặc...!!
Sông Cửu cao nguyên... liền biển sâu
Cha Mẹ trông con... mòn nước mắt...!!
Trời ơi cổ thụ phủ... sương sầu...!!

Rồi bỗng ngày vui... chim xổ lồng
Núi rừng... ngơ ngác trước mênh mông
Tới lui nghĩ ngợi thăm vườn cũ
Ta cảm nghe lòng mai điểm bông...!!

San sát ven đường... sim tím trổ
Bước chân vội vã hướng về nơi
Những mong lấp lại dòng sông nhớ...!!
Sông nhớ trập trùng... hoá biển khơi...!!

Đông Ba lạc lõng... buồn giăng phố
O Huế, bây giờ em ở đâu...?!
Môi hồng duyên dáng lời niềm nỡ
Ta dõitheo em... sóng bạc đầu...!!

O chừ nhạn trắng bay... biền biệt...!!
Ta đứng bên bờ... ngóng biển xanh...!!
Mấy bận thăm nuôi tình thắm thiết...!!
Thiên thu núi thẩm vọng... mây lành...!!

Chạnh lòng lá úa khóc... Sầu Đông
Lã chã lá rơi... biển cuộn dòng...
Nhớ O trải nhớ... theo triều sóng...
Sương đọng... đầu non em biết không...?!

Mỗi lần vô Huế đều ghé thăm
Ngắm O bán vải đẹp trăng rằm
Tám năm trở lại tìm người cũ
Kiosk còn đây... nhạn bặt tăm...!?

Nguyễn Minh Thanh
(GA, Đào hoa y cựu... 2020)

Nguồn:

“Răng để mất Huế cuả em...?!”
-Truyện của Giang Văn Nhân
- Cồn Thiên: địa danh, chiến trường xưa
- Đông Ba: chợ chính cố đô Huế
- Đông Hà: địa danh, chợ huyện ĐH
- Sầu Đông: tên người đẹp đến thăm nuôi
* Ngày 25 - 3 - 1975 bỏ Quảng Trị, Thừa Thiên...


Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026

Tiếng Bom Sa Diện Anh Hùng Phạm Hồng Thái


I- Lược sử: Phạm Hồng Thái (1896 - 1924), tên thật Phạm Thành Tích, có tên Phạm Đài, hiệu Nho - Tư; con Ông Phạm Thành Mỹ (hoạt động Phong Trào Cần Vương) và Bà Trần Thị; ngưới huyện Hưng Nguyên, Nghệ An. Về tên Hồng -Thái,con trai ông PHT là Phạm Minh Nguyệt cho là cha của ông đã lấy ý từ câu: " Nhân cố hữu tử, tử hoặc trọng ư Thái sơn, hoặc khinh ư Hồng mao " ( Là người ai cũng chết, có người coi cái chết nặng như núi Thái, có người xem nhẹ như lông chim Hồng ) trong Sử Ký Tư Mã Thiên.Ông Phạm Thành Tích,lấy 2 chữ " Hồng " và chữ " Thái " ghép lại, rồi tự đặt tên cho chính mình. Và tên ấy đã trở nên lẫm liệt, đồng thời cũng trường cữu với non sông Lạc Hồng.

Trong bài thơ Kết Miệt Tử của Lý Bạch có câu tương tự:

Yên Nam tráng sĩ Ngô Môn hào
Trúc trung trí duyên ngư ẩn đao
Cảm quân ân trọng hứa khinh mệnh
Thái sơn nhất trịch khinh Hồng mao
LÝ BẠCH

Gã Đan Vớ
Yên Nam tráng sĩ Ngô anh hào
Đàn trúc đầy chì, cá giấu dao
Liều chết báo đền ơn chúa nặng
Thái sơn gieo nhẹ tựa Hồng mao
LÊ NGUYỄN LƯU dịch

Và trong Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn cũng có câu:

Trượng phu thiên lý chí mã cách
Thái sơn nhất trịch khinh Hồng mao
Tiện từ khuê khổn tòng chinh chiến
Tây phong minh tiên xuất Vị kiều
ĐẶNG TRẦN CÔN

Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái sơn nhẹ tựa Hồng mao
Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vị ào ào gió Thu
ĐOÀN THỊ ĐIẺM dịch

Phạm Hồng Thái: nhà cách mạng VN trong Phong Trào Đông Du và có chân trong Tâm Tâm Xã của cụ Phan Bội Châu.Chiều ngày 18 - 6 -1924,sau khi biết tin viên Toàn Quyền Đông Dương Martial Henri Merlin sẽ dự dạ tiệc ở khách sạn Victoria trên đảo Sa Diện ( Sha Mian ),Quảng Châu, PHT bèn giả dạng làm phóng viên vào được khách sạn và ném bom vào giữa bàn tiệc mông giết tên Merlin. Nhưng may cho hắn, hắn chỉ bị thương và chui trốn xuống gầm bàn. Một số thực khách người Pháp chết ngay tại chỗ, trong đó có tên Lãnh Sự Pháp Quảng Đông là Louis Cordeau. Lập tức, Anh hùng Phạm Hồng Thái bị bọn cảnh binh và mật thám bao vây truy bắt rất ngặt nghèo. Ông chạy đến dòng sông Châu Giang (Pearl River), cùng đường, bèn gieo mình xuống dòng nước đang chảy xiết tự vẫn, để khỏi rơi vào tay giặc. Lúc ấy mới 29 tuổi đời !! Ông để lại vợ trẻ tên Cao Thị Chắc và người con trai duy nhất là Phạm Minh Nguyệt (3 tuổi).Bà Cao Thị Chắc vẫn ở vậy thờ chồng,nuôi con cho đến ngày nhắm mắt !!

Bọn giặc rất tiểu tâm căm thù, khi vớt được thi hài Ông,chúng không cho chôn cất liền, mà để ruồi bâu kiến đậu đến mấy ngày!! Bị cư dân phản đối và nguyền rủa thậm tệ về việc vệ sinh, chúng mới cho nhà cằm quyền Trung Hoa mai táng tại chân đồi Bạch Vân. Đến tháng 3 năm 1925,cảm phục sự hy sinh cao cả của nhà cách mạng trẻ tuổi VN, tỉnh trưởng Quảng Châu là Hồ Hán Dân đã cho cải táng hài cốt anh hùng PHT vào khu Lăng Mộ công viên Hoàng Hoa Cương, trước sự tham dự kính cẩn của những nhà cách mạng Việt Nam. Khi ấy, đích thân cụ Phan Bội Châu đã viết bài "Văn Tế truy điệu liệt sĩ Phạm Hồng Thái!". Năm 1958 do việc mở rộng đường sá, phần mộ anh hùng PHT lại di dời một lần nữa cho đến hôm nay.

Tuy không giết được viên Toàn Quyền Đông Dương Merlin, nhưng Tiếng Bom Sa Diện của Phạm Hồng Thái đã làm cho bọn thực dân Pháp ở VN nao núng rúng động. Thứ nữa,Tiếng Bom Sa Diện còn gióng lên tiếng chuông nhằm thức tỉnh lòng yêu nước của mọi người dân VN và có ảnh hưởng sâu rộng cho công cuộc giành lại Độc Lập Tự Do cho Tổ Quốc VN mãi về sau...!!

Với lòng thành kính ngưỡng vọng anh hùng vị quốc vong thân, người biên soạn có 2 bài thơ tưởng niệm:

TIẾNG BOM SA DIỆN

Chấn động nhân tâm khắp cõi Đông
Tiếng Bom Sa Diện giặc run lòng
Merlin khiếp vía ôm thương tích
Louis tan hồn bị tử vong
Lẫm liệt tấm gương soi bất tận
Lung linh ngọn đuốc sáng vô song
Trăm năm ai chẳng ra thiên cổ
Linh khí hạo - nhiên mãi Phạm - Hồng..!!
NGUYỄN MINH THANH

Anh hùng PHẠM HỒNG THÁI

Đơn thân giết giặc giữa trùng trùng
Mong ước quốc thù sớm cáo chung
Sa Diện bom lòe kinh Pháp tặc
Châu Giang sóng cuộn lụy Nam hùng
Hoàng Hoa tàng cốt nằm heo hút
Thanh Sử phương danh tỏa lẫy lừng
Dân Việt tiếc thương hằng khấn nguyện
Non Bồng mây trắng ngự thung dung..!!
NGUYỄN MINH THANH

II - Vài nét về Hoàng Hoa Cương: là khu Lăng Mộ công viên của thành phố Quảng Châu, thành lập từ năm 1912, để làm nơi an giấc ngàn thu của những anh hùng liệt sĩ Trung Hoa đã hy sinh trong cuộc Cách Mạng Tân Hợi năm 1911 . Qua nhiều lần chỉnh trang, năm 1935 thì hoàn tất như đang thấy ngày nay. Trước công viên là Cổng Tam Quan rất hùng tráng do Tôn Trung Sơn đề 4 chữ Nho, đại tự " Hạo Khí Trường Tồn ". Qua khỏi Cổng Tam Quan, hết con đường lát đá dài 230m, đến Đài Tưởng Niệm với câu chữ Nho khắc trên Bia Tưởng Niệm theo chiều đứng " Thất Thập Nhị Liệt Sĩ chi mộ" ( thực tế có tới 85 mộ, chưa kể mộ PH ). Tiếp theo sau là Hậu Điện, trên nóc Hậu Điện có bức tường hình tháp với bậc thang 2 bên, trên vót đỉnh bậc cao nhất có tượng Nữ Thần Tự Do mô phỏng theo tượng N T T D của nước Mỹ.

Mộ anh hùng PHT nằm phía sau Hậu Điện một khoảng, có Mộ Bia cao lớn ghi " Mộ liệt sĩ Phạm Hồng Thái" bằng chữ quốc ngữ xếp làm 3 dòng ngang từ trên xuống: MỘ -- LIỆT SĨ -- PHẠM HỒNG THÁI. Phía dưới 3 dòng chữ quốc ngữ, theo chiều đứng của Mộ Bia có câu chữ Nho " Việt Nam Phạm Hồng Thái liệt sĩ chi mộ ". Dưới cùng,trên bệ có lư hương ( bát nhang ) để thắp hương tưởng niệm. Bên phải trước Mộ Bia, lại có một Bia Đá lớn bằng cánh cửa có khắc Bài Ký bằng chữ Nho: " Việt Nam Phạm Liệt Sĩ Chi Mộ Ký ".

III - Lời lạm bàn: Có người so sánh dũng sĩ Phạm Hồng Thái với tráng sĩ Kinh Kha nước Yên (Trung Hoa). Sự s/s này có đúng không? Thiển ý, là không đúng. Mà rất ư là khập khiễng, nếu không nói nói là xúc phạm vong linh người anh hùng họ Phạm!! Vì sao? Xin thưa: dù rằng cả hai đều can đảm phi thường,cả hai có cùng mục đích là trừ gian diệt bạo. Nhưng, động cơ của hai người có chỗ khác nhau. Kinh Kha từng làm tân khách nước Yên, nhận rất nhiều ân huệ từ thái tử Yên Đan. Cho nên, ngoài chí cả diệt bạo,Kinh Kha còn hy sinh vì món nợ ân tình cơm áo, rơi vào câu thơ của Lý Bạch:" Cảm quân ân trọng hứa khinh mệnh, Thái sơn nhất trịch khinh Hồng mao ".

Trong khi đó,Phạm Hồng Thái duy nhất chỉ vì lý tưởng Dân -Tộc, vì tương lai đại nghĩa Đồng - Bào, mà một đi không trở lại, và không hề vướng vít một chút mảy may nào món nợ áo cơm.Trong Di thư của PHT trước khi lên đường ám sát tên Merlin,Phạm Minh Nguyệt,con Ông, còn giữ có câu: " Hồng - Thái tôi vâng mệnh toàn thể hy sinh vì 40 triệu Đồng - Bào, chết không hề nuối tiếc, những mong kêu cứu trên toàn thế giới để cho Dân -Tộc Việt - Nam được tồn - tại trên trái đất nầy, thì Hồng - Thái tôi cũng yên lòng nơi chín suối ". Do đó,nếu như ta so đũa bằng đầu, vô hình chung xem nhẹ ý nghĩa cao cả của sự Hy sinh của tiền nhân chăng ?! Và,căn cứ vào Di Thư của người đã khuất, dựa theo câu thơ của Lý Bạch, ta có thể mô tả tinh thần PHT với lời thơ:" Cảm thương dân tộc hứa khinh mệnh, Thái sơn nhất trịch khinh Hồng mao ".Trân trọng.

Ngoài ra, Người xưa đã vậy, người nay thì sao?

Đốt nén tâm hương tưởng niệm Phạm Hồng Tháí, cùng bao nhiêu anh hùng liệt nữ... chợt nghĩ đến hiện trạng đất nước...Thì, ô hay, Nguyện Ước của những vị anh hùng dân tộc hầu như đang nghịch biến! Lãnh thổ:ải Nam Quan, thác Bản Giốc, núi Lão Qua..., Lãnh hải:vịnh Bắc Bộ, Hoàng Sa, Trường Sa... đã dần dần lọt vào tay giặc Bắc, do tập đoàn phản động " Rước voi giầy mả Tổ ". Họ đã, đang nhẫn tâm giầy xéo lên Nguyên Ước thiêng liêng của Tiền Nhân, giầy xéo lên Hồn Thiêng Sông Núi, giầy xéo lên chính đồng bào ruột thịt.Họ đã phản bội Lịch sử,đồng thời cũng nhẫn tâm phản bội ngay cả những đồng chí của họ đã hy sinh, bỏ mình trong công cuộc chiến đấu giữ nước với kẻ thù phương Bắc năm 1979 !! Họ đang say sưa trong chuyện bán nước buôn dân. Họ đang say men Mãi Quốc cầu vinh...!!!

Hỡi phường mãi quốc cầu vinh
Những thây ma thúi trương sình... chưa chôn
Một mai biển sóng dập dồn
Cuốn phăng cả xác lẫn xác hồn tiêu vong..!!

NGUYỄN MINH THANH biên soạn,
Viễn xứ, Đêm không ngủ: 3 - 3 - 11.
-----------------
Nguồn:
Thành - Ngữ Điển - Tích, GS TRỊNH - VÂN -THANH
Danh - Nhân Từ - Điển, của NGUYỄN - HUYỀN - ANH
Trang Web: Luongsonbac.com, Opera.com, Wikipedia.org, BBCVietnamese.com...


Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2025

Tìm Xác Chồng

 

(Trân trọng chị H. Đ. Đ.)

Chiến địa rừng hoang... kiếm xác chồng
Thái Bình biển khổ sóng mênh mông
Anh đi thu úa tàn cơn mộng
Em ngậm sầu đông nhạt má hồng
Nheo nhóc con thơ đau xót dạ
Ngẩn ngơ mẹ trẻ nát tan lòng
Hăm ba ngày kiếm... đêm cầu khấn *
Mừng tủi... thê lương gặp xác chồng...!!

Nguyễn Minh Thanh
* May thay lặn lội mãi... ngày thứ 23 mới gặp xác chồng...!!

Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2025

Cụ Phan Thanh Giản




Nặng lòng hiếu đạo mộng khoa danh
Mẹ mất khó khăn vẫn học hành
Văn uyển uyên thâm mưu quốc sách
Quan trường tận lực kế dân sanh
Thương nhà cha yếu lời lâm biệt
Giúp nước Vua mong việc bất thành
Tuẫn tiết ngậm ngùi ... thời phải thế
Lương Khê Tiến Sĩ nguyệt cao thanh

Nguyễn Minh Thanh Kính Bút

Câu đối kính dâng cụ Phan:

- Khoa danh mài miệt cực thân học hành thành công nên tiến sĩ.
- Hoạn lộ tận tâm vị quốc tính toan thất bại phải quyên sinh!!
 

Thứ Năm, 31 tháng 7, 2025

Phụ Nữ Việt Nam:Tứ Đức* Tam Tòng**

 

(Kính Tặng Chị Aí Phương)

Trọn nghĩa vẹn tình đức thủy chung
Chiến chinh phụ nữ khổ vô cùng
Sĩ binh hăm hỡ chân liền bước
Khuê phụ mịt mờ mắt mỏi trông
Trận địa chinh phu thân đất phủ
Cô phòng quả phụ ngọn đèn chong
Hỡi ơi tự cổ thời binh lửa
Biển khổ:-chia ly,-vợ khóc chồng ... !!

Nguyễn Minh Thanh

* Tứ Đức : Công, Dung, Ngôn, Hạnh
**Tam Tòng:
- Tại gia tòng phụ
- Xuất giá tòng phu
- Phu tử tòng tử

Phụ Nữ Việt Nam:
Tứ Đức* Tam Tòng**
Trọn nghĩa vẹn tình đức thủy chung
Chiến chinh phụ nữ khổ vô cùng
Sĩ binh hăm hỡ chân liền bước

Thứ Tư, 16 tháng 7, 2025

Tướng Quân Trương Quang Ân Và Phu Nhân (Bà Dương Thị Kim Thanh)


I - Tướng Quân Trương Quang Ân
(1932 - 1968 )

Thiếu thời theo lớp Thiếu Sinh Quân
Khóa Bẩy Đà Lạt chốn xuất thân
Xuất sắc nhiều môn khi thụ huấn
Thủ khoa mỗi khóa lúc so phần
Thanh liêm minh bạch trong hành chánh
Cần kiệm chăm lo chuyện quốc dân
Chiến sĩ dưới quyền đều ngưỡng mộ
Ngậm ngùi chứng kiến... Tướng về Thần...!!
(Nguyễn Minh Thanh bái bút)

Niên Trưởng Trương Quang Ân sanh năm 1932 tại Gia Định. Thiếu thời theo học Trường Thiếu Sinh Quân. Sau khi tốt nghiệp Thủ khoa tú tài 1, Ông nhập Khóa 7 Ngô Quyền Trường Võ Bị Quốc Gia năm 1951. Năm sau Ông tốt nghiệp Thủ khoa và tình nguyện về phục vụ Binh Chủng Nhảy Dù với cấp bậc Thiếu úy trung đội trưởng thuộc TĐ 5 ND.
Năm 1953, Ông được vinh thăng đặc cách Trung úy, giữ chức ĐĐT/ĐĐ 1/TĐ 5ND. Ông được gởi qua Pháp học Khóa Sĩ Quan Tham Mưu và ông lại đậu Thủ khoa giữa vòng những sĩ quan Châu Âu!
Năm 1955, Ông được tưởng thưởng một lúc 2 Anh Dũng Bội Tinh Với Nhành Dương Liễu
Năm 1957, Đại Úy Trương Quang Ân về làm Trưởng Ban 3 của Liên đoàn. Ông kết hôn với Cán Sự Y Tế Dương Thị Kim Thanh...

Tổ ấm của Ô. Bà là căn nhà nhỏ trong Cư Xá Sĩ Quan Lê Đại Hành cùng với mẹ già và người em gái. Ông Bà được lối xóm thương yêu và kính trọng vì nghĩa cử và đức độ của Ông Bà.
Năm 1959, Ông được chỉ định làm TĐT/TĐ 8 tân lập và năm sau được thăng cấp Thiếu tá.
Năm 1962, Ông làm Chiến Đoàn Trưởng /CĐ 2 gồm các TĐ 5,6, 7 và được thăng Trung tá đầu năm 1963.
Năm 1965, ông được cử đi học Khóa Tham Mưu Cao Cấp Leavenworth Kansas Hoa Kỳ. Ông đỗ thủ khoa giữa 45 sĩ quan cao cấp của Hoa Kỳ và Đồng Minh. Trước đó, trong khi học Anh văn tại Trường Sinh Ngữ Quân Đội, để chuẩn bị cho khóa học này, ông cũng đậu thủ khoa!
Năm 1966, Ông được bổ nhiệm làm Tỉnh Trưởng Tỉnh Gia Định, rồi thăng Đại tá và được bổ nhiệm làm Tư Lệnh SĐ 23BB đồn trú tại Ban Mê Thuột Vùng II Chiến Thuật.
Ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 1968, ông được vinh thăng Chuẩn tướng.
Ngày 8 tháng 9 năm 1968, lúc khoảng 10 giờ 30 sáng, sau khi thăm tiền đồn Đức Lập, chiếc máy bay trực thăng cất cánh được vài phút thì phát nổ và bốc cháy trên bầu trời trước sự chúng kiến bàng hoàng của binh sĩ và gia đình họ... Ông Bà đã ra đi trong sự thương tiếc của toàn quân và gia đình binh sĩ .
Ông Bà là tấm gương hy sinh trọn đời vì nước vì dân... Kiểm kê tài sản, chỉ có 53000 đồng tiền lương tháng cùng với vài bộ đồ lính của Ông và 8 áo dài vải nội của Bà...!!

Ông Bà là đôi uyên ương đẹp nhất trong quân sử QLVNCH, là 2 vì sao sáng giữa bầu trời... Ông Bà Trương Quang Ân đã sống, chiến đấu và hy sinh trọn đời cho quốc dân Việt Nam .
Tướng Trương quang Ân niềm hãnh diện của Quân Lưc̣ VNCH, với tài đức song toàn. Ông là hào kiệt của hào kiệt, dũng tướng của dũng tướng, thần tượng của thần tượng, thanh cao của thanh cao...

II - Phu Nhân Tướng Trương Quang Ân

Bà Dương Thị Kim Thanh
(1931-1968)

Xuất thân Cán Sự ( y tế ) nghiệp tinh chuyên
Thụ huấn Nhảy Dù khoá trước tiên
Thiện ý tận tình tâm độ lượng
Chân dung đẹp đẻ đức nhu hiền
Thăm nom thương bịnh vơi đau khổ
Ủy lạo gia binh giảm muộn phiền
Ai cũng mến yêu và quý trọng
Bàng hoàng... khi thấy Chị thăng thiên...!!
(Nguyễn Minh Thanh bái bút)

Chị là Cán Sự Y-Tế ngoài đời, phục vụ ngành Quân Y. Người miền sông Hương núi Ngự. Chị tốt nghiệp khóa Nhảy Dù nữ đầu tiên. Chị hiền lành nhỏ nhẹ. Phục vụ rất tận tâm trong ngành Quân Y Dù. Nhưng làm việc tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Chị là hoa khôi của Tổng Y Viện Cộng-Hòa.
Trong một Saut đặc biệt, tình yêu nở hoa trên không giữa Chị với Ðại Úy Trương Quang Ân . Hai người đã thực hiện ước mơ là trao nhẫn cưới trên không... !!

Chị Dương Thị Kim Thanh (1931-1968), là Chuẩn úy và là 1 trong 9 nữ quân nhân đầu tiên của Binh Chủng Nhảy Dù. Trong năm 1957, Anh Chị đã trao nhau nhẫn cưới ̣ giữa không trung, trước khi Anh Chị nắm tay nhau nhảy dù ra khỏi phi cơ...

Từ đó Bà đã theo Ông đi khắp mọi nẽo đường đất nước... Bà chăm lo, yểm trợ, khích lệ Ông. Bà còn chăm lo cho cả quân nhân và gia đình binh sĩ như bổn phận người Chị dành cho đàn em... Hình ảnh của Bà là Chị cả hiền thục, đức độ, khiêm tốn, giản dị, bao dung và thương yêu. Bà không những những theo chồng đến thăm các trại gia binh ở hậu cứ mà ngay những tiền đồn xa xôi Bà cũng đến. Bà luôn xin Ông cho theo, Bà dùng tiền dành dụm để mua quà tặng cho binh sĩ và gia đình họ...
Ông Bà đã thảm khốc tử nạn trong tai nạn phi cơ trực thăng...!! Chiếc máy bay cất cánh 
được vài phút thì phát nổ và bốc cháy trên bầu trời trước sự chúng kiến bàng hoàng của binh sĩ và gia đình họ...
Ông Bà có 3 người con. Một trai, hai gái. Ông còn Mẹ Già và cô em đang độ xuân thì...!!

III - Ông Bà Trương Quang Ân


Hai Vì Sao Sáng

Hai vì sao sáng lộng khung trời
Đẹp nhứt uyên ương chuyện lứa đôi
Chiến sĩ Nhảy Dù lo dẹp giặc
Nhân viên Y Tế giúp xây đời
Lời nguyền hôn phối trên không phận
Nhẫn cưới trao duyên giữa cảnh khơi
Chung chuyến phi cơ thăm Đức Lập
Thảm thương đại nạn... cả về trời... !!
(Nguyễn Minh Thanh bái bút)

IV - Kết

Trong " Tuyệt Mệnh Thi " Ông Thủ Khoa Huân có câu:

Anh Hùng mạc bả doanh thu luận
Vũ trụ trường khan tiết nghĩa lưu
" Hãy lắng nghĩa trung lưu vũ trụ
Chớ đem thành bại luận Anh Hùng "

Trong " Quá Linh Đinh Dương " Ông Văn Thiên Tường cũng có câu:

Nhơn sinh tự cổ thùy vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh
" Xưa nay ai sống mà không chết
Để tấm lòng son chiếu sử xanh "

Với bốn câu thơ trên đủ để diễn tả cuộc sống Bi Hùng của Tướng Quân Trương Quang Ân.
Về phần Bà, có câu:

Phu thê nghĩa trọng bất phân ly

Và Ông Bà đã: - sống: đồng tịch đồng sàng chia cam chia cực khổ...!!

- Thác: cùng thời cùng chỗ hết nhọc hết gian nguy...!!

Ngoà ra, Ông Bà đã rơi trọn vẹn vào 2 câu thơ:

" Giai nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian đến bạc đầu "

Hỡi những người tôn kính của thiên thu, với lòng ngưỡng vọng quý tiên sinh qua đời sống hỉ bi hùng tráng, người viết kính cẩn trân trọng và ngậm ngùi...!!

Ngậm Ngùi... !!

Phu thê sinh tử trọn đường tình
Sông Núi điêu tàn cuộc lửa binh
Biển lớn... tiếc thương thân chiến sĩ
Sông dài... ngần ngại chuyện gia đình
Cúc côi ba trẻ ngồi kêu khóc
Đau đớn Mẫu Từ đứng lặng thinh
Chấp cánh uyên ương về lạc cảnh
Mai già lã chã... xót cành xanh...!!
(Nguyễn Minh Thanh bái bút)

Than ôi:

- San Hà mạt vận, ngậm ngùi Tướng Quân thọ tử,
bàng hoàng trông vì sao rụng...!!
- Xã Tắc hết thời, thương tiếc Giai Nữ mệnh chung,
bồi hồi thấy cánh hoa rơi...!!

Nguyễn Minh Thanh
( GA, July - 10 - 2025 - Quốc Hận 50)

Nguồn:
- Cố Thiếu Tướng TQ Ân, Phan Nhật Nam
- Tướng TQ Ân, Lê Quốc Toản
- Danh Nhân Nước Việt, Việt Thái
- Bà Dương Thị Kim Thanh, Võ Thi Vui.

Thứ Bảy, 12 tháng 7, 2025

Đôi Mắt Mẹ Hiền

 

Tâm từ ái biển xanh... đôi mắt Mẹ
Bé vừa sinh, âu yếm ngẩng nhìn, xem...
Hằng mong mỏi... con mình cho tròn vẹn
Mắt hân hoan... ngắm bé ngủ ngoan hiền..!!

Mẹ dạy nói... à... ơi... lời cổ tích
Mắt mẹ cười... dìu bé khẽ tập đi
Vào tuổi học sắm đủ điều...vở, sách...
Mắt mẹ mừng con đậu mỗi kỳ thi!

Con dần lớn, Mẹ, cội mai dần cỗi
Mắt mẹ chờ... con trẻ chóng thành đôi
Đời bận rộn... ngược, xuôi đường muôn lối
Mắt Mẹ buồn... trông bóng nhạn nổi trôi...!!

Con đi xa rầu lo... tràn mắt mẹ!
Khi con về, Mẹ, mắt ánh / ấm niềm vui...
Con ốm đau hay có điều hờn tủi...
Trải tâm can, Mẹ, mắt trĩu ngậm ngùi...!!

Ôi, cao cả trời cao... Đôi Mắt Mẹ
Dõi theo con tấm bé...đến thành nhân
Đi chập chững... ngại chim non ngã té
Con trưởng thành lòng mẹ vẫn bâng khuâng...!!

Mãi danh lợi tháng ngày quay... lần lữa
Con hững hờ lơ đãng... mẫu tình thâm
Rồi, một mai... Mẹ yêu không còn nữa
Ôi, tìm đâu dịu mát / rượi mát ánh trăng rằm...?!!

Nguyễn Minh Thanh


Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2025

Mừng Lễ Độc Lập Hoa Kỳ



Chào mừng Lễ Độc Lập Hoa Kỳ
Dân Quốc rộn ràng xiết kể chi
Pháo đỏ đì đùng tung diễm sắc
Cờ thiêng phấp phới tỏa phương uy
Tự Do hạnh phúc dày an hưởng
Độc Lập hùng cường rộng tiện nghi
Thế giới nghiêng mình tâm khẩu phục
Văn thư chúc tụng nước Hoa Kỳ

Nguyễn Minh Thanh
(July 4th - 2025)
  

Hận Uất Charlie!!l

 

Charlie... Charlie...
Hận uất Charlie...!!
Cổ lai chinh chiến người đi... không về
Trùng trùng núi nhọn sơn khê
Trùng trùng gươm súng gớm ghê
Trùng trùng đại pháo..., người... ghê rợn người...!!

Charlie đại pháo vang trời
Charlie chiến sĩ tả tơi
Charlie cuồn cuộn khói khơi
Charlie lửa đỏ rực trời
Làm cho tàn lụi...
những mảnh đời xuân xanh...!!
Charlie sương lam long lanh
Làm cho chiến y tàn tạ...
thân Quí Anh... rã rời...!!
Dương tà bóng ngã lá rơi...
Nguyện cầu,
Hồn thiêng... cỡi hạc cung trời siêu sanh...!!
Charlie xương trắng nắng hanh
Charlie xương trắng trăng thanh... ngại ngùng...!!
Charlie mưa rừng rưng rưng...!!
Nỉ non... tiếng suối bâng khuâng đầu gành...!!
Charlie mây trắng xây thành
Quấn quanh đỉnh nhọn vấn vành khăn tang
những vành khăn tang
Trăng nghiêng núi thẩm rừng hoang
Gió than... ly biệt, chim ngàn khóc... biệt ly
Ngậm ngùi... Quả Phụ, Cô Nhi...!!
Ngậm ngùi... Quả Phụ, Cô Nhi...!!
Cúc côi... thảm thiết... ai bi chan hòa
Lá vàng lã chã... Thu qua...!!
Lá vàng lã chã... Thu qua...!!
Cổ lai chinh chiến người xa... không về...!!
Vọng Phu dạ ngọc tái tê...!!
Vọng Phu dạ ngọc tái tê...!!

Charlie Hận Uất vang... khe núi
Sương trắng khăn tang áp chiến hào... !!
Charlie máu thắm pha... dòng suối
Nón sắt ba lô cạnh chiến bào...!!
Than ôi...!!
Tử sinh xem nhẹ hồng mao
Dựng thiên Bi S ử  người sau bồi hồi...!!
Thu vàng lả tả... lá rơi...
Chiều vàng Goá Phụ cuối trời... đăm chiêu...!!
Heo may man mác... lá xiêu...
Có những Bà Tiên tóc trắng
quạnh hiu... quanh thềm...

Charlie, Charlie
Hận Uất Charlie...!!! 
Cổ lai chinh chiến mấy người đi mà về...!!??

Nguyễn Minh Thanh 

Charlie, Kontum, điểm cao quân sự 1015 m, không xa căn cứ Tân Cảnh. Nơi đây, năm 1972  " Mù Hè Đỏ Lửa " đã xãy ra trận Huyết chiến gữa SĐ 320 / VC với
Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù / Việt Nam Cộng Hoà do Trung Tá Nguyễn Đình Bảo tử thủ. Ông đã hy sinh do đại pháo xuyên hầm, cùng nhiều chiến sĩ. Tiểu Đoàn thất thủ...và rút lui... !!!

Chủ Nhật, 22 tháng 6, 2025

Ngày Tang Yên Bái


Ông Nguyễn Thái Học
(1902 – 1930)

Người phủ Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên
Nêu cao bạo động với tâm nguyền
Tam Dân chủ nghĩa làm tiêu chí
Độc Lập giang sơn nắm chủ quyền
Kiếm chém không sờn gan nhựt nguyệt
Đầu rơi chẳng sợ dạ cường kiên
“- Việt Nam Vạn Tuế” mây rung chuyển
Tam Đảo núi rừng... đọng khí thiêng

Nguyễn Minh Thanh cẩn bút
***
Cô Giang Tuẫn Tiết
(1909–1930)


Cây Đề quán nước chỗ trùng hoan
Uống bát trà xanh vọng Thổ Tang
Phát súng tuẫn thân tia chớp sáng
Anh linh liệt phụ ánh trăng vàng
Tình nhà tha thiết niềm cao cảm
Nợ nước ngậm ngùi nỗi ngổn ngang
Dân, Quốc lầm than cam vĩnh biệt
Ân cần đồng chí gắng chu toàn

Nguyễn Minh Thanh cẩn bút
***

Ông Nguyễn Khắc Nhu Tuẫn Tiết
(1882 – 1930)

 

Người huyện Song Khê tỉnh Bắc Giang
Chỉ huy trận địa diệt loài gian
Tấn công đồn trú quân ăn cướp
Binh bại cầm tù dạ cả gan
Nhảy đại vào sông mong mệnh một
Đập đầu vô đá quyết thân tàn
Hương linh hòa quyện vào non nước
Yên Tử Xuân đang... rụng lá vàng... !!

Nguyễn Minh Thanh cẩn bút


Ông Phó Đức Chính
(1907 - 1930)


Hăm Ba tuổi dứt nợ tang bồng
Phó Đức Chính kiêu hùng giống Lạc Long
Lẫm liệt chờ gươm thanh thép trắng
Hiêu hiêu xem chết sợi lông hồng
“- Việt Nam Vạn Tuế” rền trời đất
Hùng Khí thiên thu trải núi sông
Bình thản khoa chân vào Huyết sử
Hưng Yên Sông Luộc khóc nghiêng dòng

Nguyễn Minh Thanh cẩn bút

Ông Phó Đức Chính
(1907 - 1930)


Ung dung cung cách đấng anh hào
Ngửa mặt bình tâm trông lưỡi đao
Giương mắt xem chừng đao xuống thấp
Chuyển môi hô lớn hồn lên cao
“- Việt Nam vạn tuế” đùn mây trắng
Hùng Khí thiên thu đọng máu đào
Kim cổ mấy ai năng sánh kịp
Gương trăng vằng vặc chiếu nghìn sau

Nguyễn Minh Thanh cẩn bút


Ngày Tang Yên Bái
* 93 năm sau (17 - 6 - 2023)

Anh hùng đa số lụy tù binh
Liệt sĩ mười ba tận hiến mình
Xã tắc vẫn còn dầy hoạn nạn
Sơn hà đang lúc nặng điêu linh
Lang Sa thuở trước loài xâm lược
Việt Cộng ngày nay lũ tuyệt tình
Bán nước nghêng ngang xây biệt phủ
Buôn dân hống hách dựng tư dinh

Nguyễn Minh Thanh


Tử, Khinh Ư Hồng Mao

Sông Núi điêu tàn dạ chẳng cam
Vung tay trừ diệt lũ xâm loàn
Thập Tam Liệt Sĩ Quốc Dân Đảng
Ngũ Hổ Tuẫn Hùng South Việt Nam
Can đảm thân tâm người dũng cảm
Hiêu nhiên khí phách chí ngang tàng
Anh Linh siêu nhập vào tiên giới
Trăng ngự đầu non cưỡi hạc vàng


Nguyễn Minh Thanh cẩn bút
---------------------
13 Liệt Sĩ QDĐ

- Nguyễn Thái Học, 26 tuổi
- Phó Đức Chính, 23 tuổi
- Đoàn Trần Nghiệp, 23 tuổi
- Nguyễn Khắc Nhu, 47 tuổi
- Nguyễn An, 31 tuổi
- Lê Hữu Cảnh, 36 tuổi
- Hà Văn Lạo, 25 tuổi
- Bùi Tử Toàn, 37 tuổi
- Bùi Xuân Mai, 30 tuổi
- Lê Xuân Huy, 31 tuổi
- Bùi Văn Chuẩn, 35 tuổi
- Nguyễn Như Liên, 20 tuổi
- Nguyễn Văn Toại, 33 tuổi

5 Hổ Tuẫn Hùng South VN

- Nguyễn Khoa Nam
- Phạm Văn Phú
- Lê Văn Hưng
- Trần Văn Hai
- Lê Nguyên Vỹ

Thứ Ba, 17 tháng 6, 2025

Về Bài Thơ Hoàng Hạc Lâu Của Thôi Hiệu


Thi hào Thôi Hiệu (704-754), quê ở Biện Châu, đổ Tiến sĩ vào năm Khai Nguyên thứ 11 (723), đời vua Đường Huyền Tông tức Đường Minh Hoàng (Lý Long Cơ). Thôi Hiệu (Thôi-Hạo) làm thơ rất hay; đến đổi nhà thơ hay cùng thời là Lý Bạch cũng phải nể vì.

Tương truyền, khi Lý Bạch lên lầu Hoàng Hạc chơi, thấy cảnh sơn thủy hữu tình muốn chấp bút đề thơ, chợt thấy trên vách đã có bài Hoàng Hạc Lâu* của Thôi Hiệu liền đọc, rất mực khen ngợi, và than: “Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc; Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu”, tạm dịch: “Trước mắt có cảnh đẹp mà không thể làm thơ được, vì đã có bài thơ của Thôi Hiệu rồi”. Vậy bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu hay như thế nào, xin chép ra đây để qúi độc giả thưởng lãm.

黃鶴樓

昔人已乘黃鶴去,
此地空餘黃鶴樓。
黃鶴一去不復返,
白雲千載空悠悠。
晴川歷歷漢陽樹,
芳草萋萋鸚鵡洲。
日暮鄉關何處是,
煙波江上使人愁。

Hoàng Hạc Lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán-Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh-Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu!

Thôi Hiệu

Đặc biệt, bài Hoàng Hạc Lâu có rất nhiều người dịch ra quốc ngữ. Xin đơn cử một số danh sĩ đã dịch bài Hoàng Hạc Lâu:

Lầu Hoàng Hạc

Người xưa cưỡi hạc đã bay cao
Lầu hạc còn suông với chốn nầy
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn
Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng
Xanh ngát châu Anh, lớp cỏ dày
Trời tối quê hương đâu tá nhỉ?
Đầy sông khói sóng gợi niềm tây
(Ngô Tất Tố dịch)

Tiếp theo cụ Trần Trọng Kim có lời dịch Hoàng Hạc Lâu:

Lầu Hoàng Hạc

Người đi cưỡi hạc từ xưa
Đất nầy Hoàng-Hạc còn lưa một lầu
Hạc vàng đi mất đã lâu
Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông
Hán-Dương cây bóng lòng sông
Bãi kia Anh-Vũ cỏ trông xanh rì
Chiều hôm lai láng lòng quê
Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu
(Trần Trọng Kim dịch)

Bản dịch của Trần Trọng San:

Lầu Hoàng Hạc

Người xưa cưỡi hạc bay đi mất,
Riêng lầu Hoàng Hạc vẫn còn đây.
Hạc đã một đi không trở lại,
Man mác muôn đời mây trắng bay.
Hán-Dương sông tạnh, cây in thắm,
Anh-Vũ bờ thơm, cỏ biếc dày.
Chiều tối, quê nhà đâu chẳng thấy;
Trên sông khói sóng gợi buồn ai.
(Trần Trọng San dịch)

Nhà thơ Tản-Đà đã dịch bài Hoàng Hạc Lâu theo thể thơ Lục Bát:

Lầu Hoàng Hạc

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
(Tản Đà dịch)

Kính thưa qúi độc giả, còn nhiều, rất nhiều người dịch bài thơ trên. Và gần đây, được biết thi bá Vũ Hoàng Chương cũng có bản dịch bài Hoàng Hạc Lâu:

Lầu Hoàng Hạc

Xưa hạc vàng bay vút bóng người
Đây lầu Hoàng-Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc đi đi mất
Trắng môt màu mây vạn vạn đời
Cây bến Hán-Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh-Vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiều xuống đâu quê quán?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!
(Vũ Hoàng Chương dịch)

Riêng, hậu học (Nguyễn Minh Thanh), cũng mạo muội bắt chước người đi trước, xin phỏng dịch bài Hoàng Hạc Lâu y cách điệu Cổ Phong của nguyên tác như sau:

Lầu Hoàng Hạc

Cưỡi hạc người xưa bóng mờ mịt / mịt mờ (đúng vận Thơ Đường)
Để lầu Hoàng-Hạc đứng trơ vơ
Hạc vàng một thoáng mù tăm tích
Mây trắng ngàn năm mãi lửng lơ
Sông biếc Hán-Dương cây lộng bóng
Cỏ thơm Anh-Vũ bãi ươm mơ
Chiều về quê quán phương nào nhỉ ?
Khói sóng ơ hờ… ai ngẩn ngơ…!!
(Nguyễn Minh Thanh dịch)

Lời Phụ Bàn: “Hoàng Hạc Lâu” là bài thơ Đường cấu trúc hơi đặc biệt: “phá thể”, lai cách điệu Cổ Phong, vì chữ cuối của câu thứ nhứt “KHỨ” thanh “trắc”, và chữ áp cuối “HẠC” đúng ra phải là thanh “bằng”. Tuy nhiên bài Hoàng Hạc Lâu rất nổi tiếng. Có người cho rằng chữ “KHỨ”, quê của Thôi Hiệu đọc là “KHÂU”, hoặc “KHƯ”, vẫn là thanh “bằng”, đúng vận. Nói thế chỉ đúng một mà thôi; bởi vì còn chữ “HẠC” thanh “trắc”, lý giải cách nào cho ổn?!

Cũng có người nói rằng tác giả làm thơ không đúng niêm luật. Thì phải rồi, vì theo cách điệu Cổ Phong, nên không cần gò bó. Vả lại, có nhiều bài thơ không đúng niêm luật, song vẫn rất hay. Như bài “Đèo Ba Dội” của bà Hồ Xuân Hương, bài “Độc Tiểu Thanh Ký” của cụ Nguyễn Du.

Tóm, không phủ nhận “qui luật” làm thơ. Song, có khi cần thoát khỏi “khuôn khổ” để bài thơ được thăng hoa vượt thời gian và không gian. Phải chăng, đó chính là mục đích, cũng là cứu cánh của thi nhân? Hỏi, tức là trả lời.

Trong những câu thơ của Hoàng Hạc Lâu hầu như đều rõ nghĩa. Duy, câu thứ 7 “Nhật mộ hương quan hà xứ thị” là câu nghi vấn (?), nhưng hai cụ: Trần Trọng Kim và Tản Đà dịch thành xác định, thấy không ổn.

Thứ nữa, có độc giả suy luận, ngoài nghĩa “Chiều về quê quán phương nào nhỉ?”, còn nghĩa khác hàm ý sâu xa hơn, và khó có thể diễn dịch được. Đó là, tác gỉa muốn ám chỉ: Khi đến tuổi về chiều, sau khi chết đi về đâu? Giống như câu hỏi của loài người có tự ngàn xưa cho dến ngàn sau: Người từ đâu đến? Chết, đi về đâu?

Và qua trí tưởng tượng, chúng ta không thể không biết quê quán mình ở nơi đâu cho dù ngày hay đêm. Vì vậy, “hàm ý sâu xa hơn” là khả chấp, thưa quí độc giả.

Theo đuổi cả hai ý nghĩa “thông thường” và ý nghĩa “sâu xa” , hậu học xin tạm dịch là: “Chiều về quê quán phương nào nhỉ ?”

Trong câu “dịch” trên, có 2 trường hợp xảy ra: nếu người đọc cho dấu “phẩy” ngay sau chữ “về,” câu thơ có nghĩa thông thường. Nếu người đọc cho dấu “phẩy” ngay sau chữ “quán,” câu thơ có nghĩa sâu hơn. Do đó, cái hàm ý sâu xa có thể diễn đạt như vầy: “Chiều về quê quán, phương nào nhỉ?”

Thưa quí độc gỉả, đây chỉ là thiển ý. Mong quí thức giả góp ý. Trân trọng.

Nguyễn Minh Thanh dịch, biên soạn
----------------
* Hoàng-Hạc-Lâu: lầu tên Hoàng-Hạc ở Tây Bắc huyện Vũ-Xương, tỉnh Hồ-Bắc (Trung-Hoa) . Tương truyền ông Phí-Văn-Vi, sau khi tu luyện thành Tiên, thường cỡi hạc vàng ngao du sơn thủy. Khi ngang qua vùng Vũ Xương, trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ, bèn dừng hạc trên ghềnh đá để ngắm cảnh đẹp trường giang và ngũ hồ. Người đời sau đặt tên ghềnh đá là Hoàng Hạc Thạch rồi dựng ngay trên ấy ngôi tháp lầu và đặt tên đặt tên là Hoàng Hạc L.âu. Qua nhiều lần trùng tu Hoàng Hạc Lâu tồn tại đến ngày nay.

Tham khảo:

– Thành Ngữ Điển Tích & Danh Nhân Tự Điển của giáo sư Trịnh Vân Thanh
– Hán Việt Tự Điển của học giả Đào Duy Anh
– Các trang web Hoàng Hạc Lâu…