BƯỚM TRẮNG là tác phẩm nổi bật của Nhất Linh, đánh dấu bước chuyển hướng của tác giả, từ tiểu thuyết luận đề, tiêu biểu là Đoạn Tuyệt, sang tiểu thuyết tâm lý.
Nếu trong tiểu thuyết luận đề, tác giả lấy lý luận đanh thép làm chính thì trong tiểu thuyết tâm lý, tác giả lấy diễn biến tâm lý phức tạp của nhân vật làm chính.
Trong Đoạn Tuyệt, Nhất Linh đã hăng say bênh vực luận đề “đổi mới và tự do cá nhân phải thắng thủ cựu và chế độ đại gia đình.” Hăng say đến độ trong phiên toà xử Loan tội ngộ sát/cố sát chồng, người đọc có cảm tưởng Nhất Linh đã tự biến mình thành trạng sư để cãi cho Loan trắng án.
Trong Bướm Trắng, Nhất Linh đã để cho nhân vật Trương miên man trong mớ tâm lý phức tạp của một kẻ khao khát sống, khao khát yêu nhưng luôn luôn bị cái chết ám ảnh.
Cốt truyện Bướm Trắng rất đơn giản, vì cốt truyện không phải là chính. Cái chính là diễn biến tâm lý của nhân vật.
Truyện kể về một sinh viên trường Luật ở Hà Nội vào cuối thập niên 30 đầu thập niên 40 tên là Trương. Đang vui vẻ, yêu đời, Trương chợt khám phá ra mình bị bệnh lao, chứng nan y mà vào thời đó người mắc bệnh thường chỉ chờ chết. Vì tha thiết sống nên Trương rơi vào tình trạng tâm lý hỗn độn, vui, buồn, hy vọng, tuyệt vọng đan lẫn vào nhau.
Giữa lúc ấy, Trương gặp Thu, em gái của Mỹ, một người bạn. Thu đẹp, con nhà giàu và quý phái. Ngay từ phút đầu, Trương đã bị sắc đẹp của Thu cuốn hút. Phần Thu, nàng cũng có cảm tình với Trương. Tuy nhiên, vì hai người đều tự ái nên không ngỏ ý cùng nhau. Nhưng rồi cuối cùng, Trương viết cho Thu một bức thư tỏ tình. Gửi thư rồi, Trương lại ân hận vì có cảm tưởng mình lừa dối Thu để mua lấy hạnh phúc, sung sướng một cách ích kỷ. Khi thấy phản ứng của Thu đối với tình yêu của mình không rõ rệt, Trương quyết định tránh không gặp Thu nữa.
Quãng nửa năm sau, tình cờ nghe anh họ của mình là Hợp và các bạn nói về bệnh tình của Trương, Thu cảm thấy mình có trách nhiệm về cuộc sống của chàng. Thu cho rằng Trương xa tránh mình vì chàng cao thượng, không muốn làm mình khổ. Thế rồi Thu quyết định đến thăm Trương. Lần ấy hai người bày tỏ tình yêu dành cho nhau.
Đang khi Thu nghĩ rằng Trương cao thượng và đáng thương nên quyết tâm cứu vãn chàng thì Trương lại tự thấy mình hèn hạ vì mình đã lừa dối Thu. Trương cho rằng Thu chỉ ngỡ chàng bị bệnh phổi xoàng nhưng thực ra chàng biết mình bị bệnh lao sắp chết mà cứ giấu không cho Thu hay, lý do là chàng muốn níu kéo tình yêu Thu dành cho mình.
Trong những ngày này, Trương không biết hướng cuộc sống mình về đâu. Chàng về quê, nhờ người trong họ hàng bán hết ruộng đất cha mẹ để lại, lấy tiền ăn chơi. Tuy nhiên Trương cắt ra 5 mẫu đất nhường cho bà dì họ xa tên là Thiêm, có cô con gái tên Nhan, vốn đã được Trương cho ở nhờ trên đất ấy.
Phung phí hết tiền bạc trong chốn chơi bời truỵ lạc, Trương bị nhóm bạn bè ăn chơi xa lánh dần. Nhiều lúc Trương có ý định tự tử, không phải vì nghèo khổ nhưng vì thấy cuộc sống vô nghĩa và tình yêu của mình tầm thường. Cuối cùng vì không còn tiền, Trương phải nhận một việc làm ở Hải Phòng do một ông cụ quen biết giới thiệu.
Trước khi đi Hải Phòng làm việc, Trương có dịp cùng nhóm bạn bè trong đó có anh của Thu và Thu rủ đi chơi chùa Thầy. Tại đây, lần đầu tiên, mà cũng là duy nhất hai người hôn nhau.
Tại Hải Phòng, Trương được chủ tín nhiệm cho giữ két tiền của công ty. Công việc quá nhàn hạ khiến Trương càng chán nản cuộc sống. Một ngày nọ, Trương lấy hết 400 bạc trong két. Chàng về Hà Nội, rủ một cô gái làng chơi tên là Phương đi đánh cá ngựa. Trương thua hết sạch số tiền thụt két.
Trương đến nhà Thu, chuyện trò với anh em Thu như không có chuyện gì xảy ra. Mục đích của Trương không hẳn là muốn thăm Thu lần cuối trước khi vào tù, mà để khi chuyện vỡ lở, đăng trên mặt báo, Thu phải nhận Trương là người can đảm.
Sau khi đọc tin trên báo về chuyện Trương biển thủ quỹ của công ty, Thu tìm cách gặp Trương. Nàng đề nghị kiếm đủ số tiền để Trương trả lại công ty nhưng Trương từ chối.
Một buổi tối Trương gặp Mùi, cô con gái hàng xén chàng quen biết khi còn là một cậu học sinh son trẻ. Vì hoàn cảnh, Mùi biến thành gái làng chơi, lại bị bệnh nên thọt một chân. Hôm ấy là lần đầu Mùi kiếm khách thì lại gặp ngay Trương. Trương tự làm cho mình thêm bệ rạc bằng cách đi chơi với một gái điếm thọt chân. Chàng dẫn Mùi vào quán ăn sang trọng, cho Mùi mấy chục bạc còn lại, thú thật với Mùi là mình thụt két, sắp vào tù. Chàng chỉ đòi Mùi hứa là với số tiền chàng cho, Mùi trở về làm cô bán hàng xén như xưa.
Không muốn bị bắt và dẫn từ Hà Nội về Hải Phòng, Trương tự về Hải Phòng đầu thú. Chàng bị bỏ tù.
Ra tù, Trương lại về Hà Nội. Tình cờ trên chuyến xe lửa, Trương gặp gia đình Thu mới đón người anh lớn du học từ Pháp về. Trương thấy rõ mọi người đều sợ ông anh ấy biết họ đã giao du với một kẻ bất hảo như Trương, chàng càng cố tình tìm cách trêu tức mọi người nhưng rồi cuối cùng cũng không để cho ai mất mặt.
Được biết bệnh mình đã khỏi hẳn, đồng thời có cảm tưởng ai cũng xa lánh mình nên Trương rất chán nản. Ngay cả tình yêu đối với Thu cũng khiến Trương mệt mỏi. Ý định tự tử trở lại với Trương nhưng Trương lại cảm thấy tiếc Thu. Chàng quyết định mua một con dao, tìm cách gặp Thu để rủ Thu đi trốn, thoả mãn nhục dục với Thu rồi tự tử. (Cũng có thể Trương dự tính giết Thu rồi sau đó tự tử.)
Trương viết một bức thư, tìm mọi lời khôn khéo để thuyết phục Thu gặp mình, kể cả việc vẩy vào bức thư mấy giọt nước giả làm nước mắt cho chữ nhoè đi. Đọc bức thư giả dối ấy, Trương lại thấy nó rất thực đối với cảm xúc của mình.
Thu nhận lời gặp Trương. Trương vui, tuy nhiên cũng không rõ Thu nhận lời vì còn yêu chàng hay vì muốn chấm dứt những rắc rối, quấy rầy do chàng gây ra; gặp một lần cho xong. Nhưng Trương chợt nhớ ra ngày hẹn Thu cũng là ngày giỗ mẹ chàng. Chàng quyết định không gặp Thu nữa, vả lại việc Thu nhận lời đã khiến chàng thoả mãn lòng tự ái. Thay vì đến chỗ hẹn, Trương viết một mấy dòng chữ giải thích, nhờ một đứa bé đưa cho Thu.
Trương bỏ về quê và quyết định lấy Nhan, cô con gái đẹp giản dị để sống một cuộc sống bình yên, quên đi mối tình đối với Thu. Tuy nhiên hôm gặp lại Nhan, Trương vẫn thấy thất vọng vì Nhan quá đơn giản, không có những lời nói hay cử chỉ lãng mạn như chàng mong ước.
VỀ TÊN “BƯỚM TRẮNG” VÀ GIÁ TRỊ CỦA TÁC PHẨM
Có rất nhiều phỏng đoán lý do Nhất Linh đặt tên tác phẩm này là “Bướm Trắng,” trong khi chính tác giả không đưa ra lời giải thích nào.
Trần Văn Nam, trong bài viết Nghĩ Về Nhan Đề “Bướm Trắng” Của Nhất Linh, có chỗ cho rằng: “Trong tác phẩm Nhất Linh đá động đến cánh bướm trắng, đó là khi nhân vật Trương biết chàng mắc bệnh lao, có thể chỉ sống trong vòng một năm nữa, lúc ấy chàng nhìn hoa cẩm chướng trắng mà mường tượng những con bướm trắng của một thời thơ ấu lành mạnh và xa xôi. Từ hình tượng này, ta nghĩ rằng ý nghĩa của tác phẩm là sự nuối tiếc thời thanh xuân tươi đẹp trong sáng.” Nhưng cũng chính Trần Văn Nam lại cho rằng “ý nghĩa tìm ra ấy hình như quá dễ dàng. Có lẽ đâu nhà văn mở cửa cho độc giả thấy ý nghĩa của nhan đề quá lộ liễu như thế.”
Trần Văn Nam đưa ra thêm vài phỏng đoán nữa:
“Căn cứ vào cốt truyện trên đây, ta có thể kết luận bướm trắng là biểu tượng của tình yêu giản dị, không phức tạp. Con bướm trắng không sặc sỡ nhưng êm ái đậu trên cây cỏ của vườn xưa…”
“Nhưng dựa vào khuynh hướng viết tiểu thuyết của Nhất Linh, khuynh hướng phân tách tâm lý, đào sâu vào những ngõ ngách lòng người, ta lại có một ý nghĩa khác về biểu tượng con bướm trắng. Bướm trắng là con vật chập chờn, phất phơ trên cành lá, cho nên bướm trắng có thể là biểu tượng cho nội tâm bí ẩn và bất trắc của con người.”
“Bướm Trắng, biểu tượng tươi đẹp của thời thanh xuân lành mạnh. Bướm Trắng, biểu tượng chập chờn của nội tâm con người bất trắc. Bướm Trắng, biểu tượng giản dị của tình yêu êm đềm không phức tạp. Ta vẫn không thể quả quyết giải thích nào gần nhất cho nhan đề Bướm Trắng của Nhất Linh.”
Cũng có những người muốn liên kết ý nghĩa tựa đề “Bướm Trắng” với tích “Trang Tử hoá bướm” nhưng người ta không thấy có sự liên hệ chặt chẽ nào giữa cánh bướm trắng của Nhất Linh với cánh bướm trong giấc mơ Trang Tử.
Vì tất cả đều chỉ là phỏng đoán nên người viết bài này cũng đưa ra lời phỏng đoán của mình: Tình yêu dành cho Thu, hay nói rõ hơn, Thu, chính là cánh bướm trắng đối với Trương. Cánh bướm chập chờn, khi bay lên cao, khi hạ xuống thấp được ví như Thu và tình yêu của nàng, nó chập chờn, gần mà như xa, xa mà như gần khiến Trương bị thúc đẩy đưa tay muốn bắt. Cũng có lúc Trương bắt được cánh bướm ấy trong tay, nhưng lại sợ bướm bị gãy càng, bị nát cánh vì bàn tay thô bạo của mình, chàng lại buông ra. Vì thế cánh bướm trắng ấy (Thu và tình yêu của nàng) cứ mãi chập chờn.
Việc đánh giá “Bướm Trắng” có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, nhà phê bình nào cũng phải nhận rằng đây là một tác phẩm rất đặc biệt của Nhất Linh.
Võ Phiến, trong “Đọc/đọc lại Nhất Linh,” nhận định rằng:
“Nhất Linh chẳng những có đổi cũ thay mới mà còn thay đổi rất nhanh.
Và nhanh hơn nữa là sự biến chuyển từ Đoạn tuyệt sang Bướm trắng: chỉ trong vòng thời gian chưa đầy năm năm ông từ bỏ quan niệm viết cho luận đề một thời để nhảy sang quan niệm viết cho cái hay muôn thuở, chuyển từ mục tiêu nhân sinh sang mục tiêu nghệ thuật.
Sau Bướm Trắng quan niệm ấy được nghiên cứu kỹ, đúc kết thành lý thuyết, làm nền tảng cho những sáng tác của Nhất Linh hậu chiến. Nhưng từ một quan niệm sáng tác này nhảy sang một quan niệm sáng tác khác, chuyện ấy còn dễ dàng hơn là thay đổi bút pháp. Bút pháp của một người dính liền với cá tính người ấy (Le style, c’est l’homme). Bản tính không thay thì bút pháp cũng ít khi đổi. Thế nhưng từ Nhất Linh trẻ sang Nhất Linh già bút pháp khó lòng nhận ra là của một người.”
Học giả/giáo sư Bùi Xuân Bào, trong một chuyên luận về tiểu thuyết Việt Nam 1925-1945 bằng tiếng Pháp đã ghi nhận điều này: “Bướm Trắng đánh dấu một giai đoạn mới trong tiến trình Nhất Linh vì tác giả đã hoàn toàn dứt bỏ công thức luận đề mà xưa nay ông vẫn sử dụng. Ở đây hư cấu tiểu thuyết không tìm cách chứng minh điều gì. Mà chỉ nhắm phân tích tâm hồn một thanh niên ở tuổi hưởng thụ cuộc sống, khát khao hạnh phúc, mà chứng bệnh nan y đã cản ngăn những nguyện vọng chính đáng nhất (…)
Tác phẩm vô cùng độc đáo. Trước Nhất Linh và đồng thời với ông, chưa có tác giả nào đẩy xa như vậy cuộc phân tích một bi kịch của tâm thức. Chưa bao giờ nỗi ám ảnh của cái chết được đan kết chặt chẽ như vậy với những hoang mang của tình yêu.” (Trích theo bài viết “Đọc Bướm Trắng của Nhất Linh” của Đặng Tiến.)
Nhà biên khảo Phạm Thế Ngũ, trong “Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên” nhận định rằng: “Qua Bướm Trắng, Nhất Linh cũng đã đưa ngòi bút phân tích tâm lý vào địa hạt nhân bản muôn thuở với trường hợp bi đát con người bị giằng co giữa tình yêu và cái chết, con người muốn phá hoại nhân phẩm, tự thân truỵ lạc, mà vẫn không thể nào không hướng về những nẻo thiện mỹ, con người tủi thân giận phận muốn tìm xuống đáy địa ngục mà nằm cho xong nhưng hồn mộng vẫn chập chờn đôi cánh bướm trắng, hình ảnh một hạnh phúc thiên đường đã trót để lỡ.”
HUYỀN BÍ CỦA ĐỜI NGƯỜI
Đời người bắt đầu bằng một sự huyền bí: cái SỐNG, và kết thúc cũng bằng một sự huyền bí: cái CHẾT. Cái huyền bí “sống” kéo dài từ khi con người chào đời cho đến khi cái huyền bí “chết” xuất hiện.
Giữa hai huyền bí “sống” và “chết” xuất hiện cái huyền bí thứ ba: “YÊU.”
Tại sao tôi sinh ra mà không phải là không được sinh ra? Tôi sống trên đời này để làm gì? Tôi chết. Sao lại chết vào lúc này mà không phải là lúc khác? Sống thì tốt cho tôi hơn hay chết thì tốt hơn? Tôi chết rồi thì còn tôi hay không? Nếu còn tôi thì “tôi” ấy như thế nào, đi về đâu? Tất cả đều là huyền bí.
Và rồi trong cuộc sống, tôi yêu. Sao tôi yêu vào lúc này mà không yêu vào lúc khác? Sao tôi yêu người này mà không yêu người khác? Sao tôi yêu người chưa từng có liên hệ gì với tôi, chỉ là “người dưng khác họ” mà lại yêu hơn cả người thân của tôi, có khi hơn cả cha mẹ tôi là những người nuôi dưỡng tôi, hy sinh tất cả cho tôi? Tôi yêu, có thật là tôi yêu hay chỉ là thích, là mê đắm, hay là yêu chính tôi? Tình yêu giúp tôi triển nở con người tôi hay huỷ hoại chính tôi? Biết bao nhiêu là câu hỏi, ngờ vực về “yêu.”
Ba điều huyền bí ấy lẫn lộn vào nhau, trong tâm lý một nhân vật của Bướm Trắng, đó là Trương.
Và Nhất Linh đã cho ba huyền bí ấy xuất hiện cùng một lúc, hay ít ra là sát nhau, ngay trong phần mở truyện.
Trương khám phá ra mình bị bệnh lao, lúc nào cũng lo là mình sắp chết. Nhưng câu mở đầu truyện lại là câu diễn tả về niềm vui của cuộc sống:
“Trương chậm bước lại vì chàng vừa nhận thấy mình đi nhanh quá tuy không có việc gì và cũng không nhất định đi đến đâu. Từ lúc này, vô cớ chàng thấy lòng vui một cách đột ngột khác thường tự nhiên chàng đi nhanh làm như bước đi cần phải đi nhịp với nỗi vui trong lòng.”
Nhưng chỉ cách một vài câu, Nhất Linh cho Trương hồi tưởng ngay về cái chết và tình yêu:
“Trên đường cơn gió thổi bay lên mấy chiếc lá khô và một ít bụi trắng, khiến Trương cảm thấy nỗi hiu quạnh của cuộc đời cô độc chàng sống đã mấy năm nay. Chàng thốt nhớ đến Liên, người yêu của chàng đã chết vì bệnh lao ba năm trước. Chàng nghĩ đến những cái thú thần tiên của tình yêu lúc ban đầu, và nỗi buồn của chàng khi được tin Liên chết.”
Kể từ lúc đó, Nhất Linh để cho Trương càng lúc càng quan tâm đến cái sống của chàng:
“Trương ngừng lại trước một cửa hàng và nhìn bóng mình trong một chiếc gương nhờ có ánh sáng đều đều của một ngày phủ mây nên mặt chàng không có vẻ hốc hác như mọi lần. Chàng vui mừng, không, chàng không đến nỗi gầy lắm, có lẽ béo hơn một chút thì tốt, nhưng béo quá, béo đến nỗi xấu và già đi như Lương và Mịch thì chàng sẽ khó chịu vô cùng.”
Đang lúc Trương vui mừng như thế thì cái “chết” xuất hiện, một đám tang:
“Ở phía xa có tiếng trống và tiếng kèn thổi một cách vội vàng. Những chấm xanh vàng của đối trướng hiện ra ở đầu phố lẫn với những chấm trắng của các người đi đưa đám.
- Có lẽ đám ma cậu anh Hợp đã trở về.
Chàng bước nhanh về phía đám ma…”
Cũng trong bối cảnh đám tang ấy, huyền bí “yêu” xuất hiện. Trương gặp Thu. Thu là em họ của Hợp, người bạn duy nhất biết Trương mắc bệnh lao. Họ cùng lên xe điện sau đám tang.
Thu đẹp. Người phụ nữ đẹp sẽ càng đẹp hơn khi họ có dáng vẻ đau buồn và mệt mỏi.
“Chàng đăm đăm nhìn lại hai con mắt to và đen, sáng long lanh như còn ướt nước mắt và đôi gò má không phấn sáp, ửng hồng, ẩn trong khuôn vải trắng. Vẻ buồn của tang phục làm lộ hẳn cái rực rỡ của một vẻ đẹp rất trẻ và rất tươi. Nét mặt thiếu nữ, Trương thấy kiêu hãnh một cách ngây thơ và cái vẻ kiêu hãnh lại làm cho sắc đẹp thiếu nữ có một ý vị hơn lên như chất chua của một quả mơ.”
“Thu từ lúc lên xe không nói gì: nàng ngả đầu vào cánh cửa và lim dim mắt lại vì buồn ngủ quá. Thỉnh thoảng Thu lại mở mắt để cố chống lại giấc ngủ vì nàng cho ngủ ở trên xe như vậy là không lịch sự. Trương đứng lên kéo cửa kính cho gió khỏi lọt vào chỗ Thu ngồi. Thu mỉm cười nói:
- Cám ơn ông.
Giọng nói mệt nhọc và ấm áp. Trương nghe có một vẻ quyến rũ mê đắm. Trong lúc Thu nhắm mắt lại, Trương tha hồ ngắm nghía, chàng cố trấn tĩnh sự cảm động bàng hoàng để nhìn thật kỹ nét mặt Thu... Trương nhìn kỹ vẫn thấy Thu đẹp mà may quá người đẹp ấy lại là người mà mới nhìn chàng đã biết rằng có thể yêu mê man...”
Từ đó trở đi, Nhất Linh để cho tình yêu Trương – Thu phát triển dần dần. Càng yêu, Trương càng quan tâm đến cái sống và cái chết của mình. Chàng đến phòng mạch mà bác sĩ vốn là bạn, tìm cách đánh lừa để Chuyên (bác sĩ) phải nói thật về tình trạng sức khoẻ, về thời hạn sống được bao lâu. Và chàng thàng công: Chuyên cho biết Trương có thể sống được thêm một năm. Chuyên còn cho biết thêm là ngoài bệnh phổi, chàng còn mắc bệnh tim. Thế là Trương tin chắc là mình sắp chết, chết sớm.
Và rồi Trương quyết định tận hưởng cuộc SỐNG trước khi CHẾT.
“Chàng sẽ nếm đủ các khoái lạc ở đời, chàng sẽ sống đến cực điểm, sống cho hết để không còn ao ước gì nữa, sống cho chán chường. Trương thấy mình nô nức hồi hộp mà lại sung sướng nữa. Chàng sung sướng chỉ vì chàng thấy mình như một con chim thoát khỏi lồng, nhẹ nhàng trong sự tự do không bờ bến. Những cái ràng buộc, đèn nén của đời sống thường không còn nữa, chàng sẽ hết băn khoăn, hết e dè hoàn toàn sống như ý mình.
- Chết thì còn cần gì nữa?”
Đang khi ấy, YÊU lại xuất hiện trong cuộc sống của Trương. Về YÊU, Bướm Trắng có nhiều cảnh rất gợi cảm.
Cảnh Trương theo Hợp, Mỹ và Thu về ấp mừng thọ ông nội. Trong đêm khuya, khi Trương và Hợp nằm ở buồng ngoài, còn anh em Mỹ, Thu và bà dì nằm ở buồng trong, có lúc Trương đã nhìn qua khe vách và thấy bàn tay của Thu.
“Trương chống khuỷu tay, ngửng đầu lên: có ánh đèn ở buồng bên kia chiếu qua bức vách gỗ. Trương tìm chỗ hở có nhiều ánh sáng nhất ghé mắt nhìn sang. Mới đầu chàng chỉ thấy ánh sáng loe ra thành vòng tròn, chàng chớp mắt và một lúc lâu nhìn quen, chàng thấy một mảnh trắng của tấm chăn hiện ra. Trương nghiêng đầu nhìn chếch sang một bên, nhưng mặt Thu bị khuất sau một chiếc gối. Chàng nhìn qua xuống phía dưới: trên nền vải trắng một bàn tay của Thu hiện ra trước mắt chàng. Mấy ngón tay thon để xoãi ra và khẽ lên xuống theo điệu thở. Trương yên lặng nhìn như vậy lâu lắm. Sao lúc đó chàng thấy chàng khổ sở thế: chàng cũng không hiểu tại sao, chàng mang máng thấy đời người đẹp vô cùng, trong sự sống có bao nhiêu cái đẹp mà riêng mình chàng bị hất hủi. Đối với đời chàng như người được ngắm có cái bàn tay.
Trương nằm xuống, thấy bùi ngùi như sắp khóc. Chàng có thể giữ được, nhưng chàng lại muốn khóc nên cố nuôi nỗi buồn cho nước mắt ràn ra. Một dòng nước chảy qua thái dương xuống bàn tay. Chàng nhìn về chỗ có ánh sáng lọt qua, gọi thầm:
- Em Thu, em Thu…”
Cảnh Thu thay áo. Khi Thu đi rồi, Trương ôm lấy cái áo đó. Thu tình cờ quay lại và chợt hiểu.
“Trương cầm giấy và một quyển sách bìa cứng ra vườn viết. Khi ngang qua cửa sổ buồng trong, chàng chợt bắt gặp Thu đương ngồi ghé ở gường thay áo.”
“… Khi qua khung cửa sổ, chàng chú ý nhìn như không có Thu ngồi ở đấy nữa, chỉ có chiếc áo cánh nàng vừa thay vắt ở đầu giường. Trương đứng lại nhìn chiếc áo cánh một lúc, dáng tư lự rồi đi thẳng…”
“… Trương nhìn theo Thu khi nàng khuất sau cái thành bể xây, Trương gấp vội bức thư bỏ vào túi. Chàng nhìn cửa buồng bên một lúc rồi đi vào buồng. Chàng đến gần bên giường. Nhìn qua cửa sổ ra ngoài không thấy bóng ai, Trương với chiếc áo cánh của Thu rồi úp mặt vào chiếc áo mà chàng âu yếm vò nát trong hai bàn tay. Lụa áo Trương thấy mềm như da người và mùi thơm hơi cay, không giống hẳn mùi thơm của nước hoa xông lên ngây ngất. Trương cảm thấy mình khổ sở vô cùng, chàng thấy làm lạ sao mình lại đau khổ đến thế, đau khổ như một người sắp chết, cảm tưởng ấy giống hệt như cảm tưởng đêm qua khi chàng nhìn trộm bàn tay của Thu trên tấm chăn.
Trong lúc ấy Thu đã đi gần đến nhà khách bỗng quay trở lại. Nàng mang máng thấy có vẻ gì bất thường trong cử chỉ của Trương vừa rồi. Như cái máy, nàng quay trở lại, nàng cũng không biết tại sao và quay lại để làm gì. Đi khỏi cái bể xây, Thu dừng lại vì thoáng thấy Trương trong buồng. Nàng chăm chú nhìn và khi đã hiểu: nàng đứng yên lặng, khắp người rờn rợn như có ai sờ vào da thịt mình. Thấy Trương bỏ chiếc áo vào chỗ cũ, nàng giật mình, đứng lùi khuất sau thành bể.
Thu đi ngoặt ra phía sau nhà thóc, nơi mà nàng biết không ai đến bao giờ, nàng ngồi xuống bực gạch, hai tay ôm má cúi nhìn mũi giầy. Nàng thương hại cho Trương và bàng hoàng lo sợ…”
YÊU đẹp như thế, gợi cảm như thế, nhưng cái CHẾT vẫn quanh quẩn đâu đó, trong cảnh vật và trong tâm tưởng của Trương. Nhân một buổi Thu khâu lại cái áo cho Hợp và làm ra vẻ không quan tâm đến Trương, chàng bỏ ra ngoài, đi dạo một mình và ý nghĩ tự tử lởn vởn trong đầu.
“Chàng trèo qua hai, ba cái dốc đến một chỗ khuất, có bóng cây, rồi nằm xuống cỏ ngửa mặt nhìn lên. Trương tưởng như tìm được một chỗ yên tĩnh rồi thì giải quyết xong ngay cái ý định tự tử vẫn lởn vởn trong óc chàng từ khi đứng nhìn Thu.
- Có nên không? Có lẽ thế là hơn cả.
Trương cố tưởng tượng ra lúc mình uống thuốc phiện, giấm thanh và nằm đợi cái chết đến. Chàng chắc cũng chẳng khác gì bây giờ, chỉ khác là một đàng chết ngay, một đàng cái chết còn lâu mới đến. Nhưng chàng thấy khó nhất là lúc cầm cốc để lên miệng uống. Không, tự nhiên vô cớ chàng không thể nào có can đảm ấy được.”
Rồi Trương lại nảy ra ý tưởng giết Thu vì nếu cùng chết thì cái chết thật êm ái.
“Trương nghĩ nếu làm thế nào rủ được Thu cùng tự tử thì cái chết của hai người sẽ êm ái lắm.
- Hay là ta giết Thu.
Trương lấy làm lạ rằng chưa bao giờ nghĩ đến việc giết Thu, ý tưởng ấy đến đột ngột quá nên Trương sợ hãi, mắt nhìn trừng trừng vào quãng không một lát. Trương lắc đầu rồi cố nằm yên không dám nghĩ nữa…
… Khi về đến nhà cũ, Hợp và Thu vẫn còn đứng ở ngoài hiên. Trương có cảm tưởng như vừa ở một thế giới khác trở về. Chàng nhớ lại cái ý định giết Thu lúc này, và bất giác nhìn vào cổ Thu. Lúc đầu chàng nhìn thấy vẻ đẹp cả cái cổ tròn màu trắng dịu và non như một búp hoa ngọc lan sắp nở.”
Có ý định tự tử, có lẽ vì Trương thấy cuộc sống thật vô nghĩa, vô nghĩa như cái chết của một con bọ.
“… Một con bọ như một hạt đỗ màu đỏ thắm bò trên đầu gối chàng, xòe cánh toan bay rồi lại cụp vào. Trương ngầm nghĩ:
- Không biết con bọ ấy nó có những ý tưởng gì trong óc mà nó sống làm cái gì?
Trương giơ tay bắt con bọ và nghĩ đến lúc này nó nhất quyết bay đi thì nó sẽ không chết. Chàng bóp mạnh cho đến khi con bọ nát nhừ trong hai ngón tay.
- Nó chết hay không cũng không có gì khác.”
Giữa SỐNG và CHẾT, YÊU vẫn khiến Trương bị dằn vặt. Thình lình bỏ ấp về Hà Nội như để dứt khoát quên Thu sau khi đã gửi thư tỏ tình, nhưng Trương không quên Thu được. Thu, đối tượng của YÊU lại hoà nhập với cái CHẾT.
“Chàng thiu thiu sắp ngủ: những ngôi sao chàng thấy xa dần mờ hẳn đi và hiện ra hai con mắt đen của Thu. Hình như nàng mặc áo tang, đội mấn, tóc xõa đi theo một chiếc áo quan và chính chàng lại nằm trong chiếc áo quan ấy, người chàng liệm toàn vải trắng. Phảng phất cả mùi thơm của những vòng hoa. Trương ngủ đi lúc nào không biết.”
Dịp Trương về quê bán đất cũng là lúc cái SỐNG và cái CHẾT hoà quyện lấy nhau trong tâm trí Trương. Chàng bán đất để có tiền SỐNG cho đến tận cùng trong thú ăn chơi truỵ lạc nhưng lại cứ nghĩ đến cái CHẾT.
“Chiều đến, Trương xuống cuối làng thăm mộ hai thân chàng. Trương không muốn chết ở quê nhưng chàng mong khi chết rồi người ta sẽ đem chàng mai táng ở nghĩa địa nhà, chàng thấy nằm ở các nghĩa địa gần Hà Nội có vẻ tạm thời không được vĩnh viễn và ấm ấp như ở đây, cạnh những người thân thuộc. Chàng hơi buồn nghĩ đến chẳng bao lâu nữa lại có những đứa trẻ như chàng hồi còn bé, chạy nhảy trên mộ chàng, hoặc thả diều, hoặc bắt châu chấu những buổi chiều hè lộng gió. Chàng sẽ không biết đau khổ là gì nữa: trên mặt đất, chỗ chàng nằm chỉ còn có mấy ngọn cỏ may hồng rung rung trước gió thờ ơ và ở một nơi nào đó Thu mà chàng không bao giờ quên vẫn đi lại, cười nói, sống tự nhiên trong ánh sáng của thế gian trên kia.”
Cùng lúc Trương nghĩ đến cái SỐNG (truỵ lạc) và cái CHẾT thì một đối tượng khác của YÊU xuất hiện: Nhan. Nhan là con gái bà Thiêm, bà dì họ xa mà hai mẹ con vẫn ở trên mảnh đất Trương sở hữu. Nhan đẹp hiền lành và rất tôn trọng Trương. Trương thường gọi Nhan bằng cái tên chàng dùng để trêu ghẹo: “Hồng NHAN đa truân.” Nhân buổi hẹn để trao giấy nhường 5 mẫu đất cho mẹ con Nhan, Trương đã hôn nàng.
“Trương đặt tờ giấy vào lòng bàn tay Nhan trong tay mình. Nhan để yên. Trương nghẹn ngào chỉ nói được một tiếng:
- Em…
Chàng giơ tay vòng lấy cổ Nhan kéo về phía mình. Chàng lấy làm lạ thấy Nhan cứ việc theo chàng. Môi chàng chạm vào một làn tóc, rồi đặt trên cổ Nhan đã đẫm mồ hôi. Chàng giơ tay gạt mớ tóc rồi tìm đôi môi của Nhan.
Trương nhắm mắt lại, lần đầu tiên chàng trao hôn với một người con gái trong sạch mà chàng yêu nên chàng muốn để hết cả tâm hồn hưởng cái thú ngây ngất nó đương làm chàng mê dại.”
Nhưng hôn Nhan rồi, Trương lại bị dằn vặt nên vội đẩy Nhan ra và giục nàng đi về ngay. Chàng có cảm tưởng mình làm ơn cho mẹ con Nhan để đổi lấy một cái hôn. Nhưng… Nhan đi rồi Trương lại tiếc sao ngừng lại với chỉ một cái hôn suông. Chàng lẩn thẩn nghĩ rằng giá mình ngừng được, đừng cầm tay Nhan, còn đã hôn rồi mà chỉ có thế thôi thì vô lý hết sức.
Trở về với những cảnh gợi cảm của YÊU, cảnh Thu đến thăm Trương, ăn bánh, bộc lộ tình cảm, tặng khăn cũng rất gợi cảm…
“Trong lúc Thu ăn bánh. Trương ngồi nhìn chăm chú vào đôi môi của Thu. Thu ăn dở một chiếc vừa đặt xuống. Trương cầm ngay lấy chiếc bánh dở ăn nốt:
- Cả đời anh chưa bao giờ ăn chiếc bánh nào ngon hơn.
Thu thẹn nóng bừng cả mặt. Nàng hơi lo sợ, bất giác đưa khăn tay lên lau miệng. Trương hiểu ý:
- Em không sợ, anh không dám xúc phạm đến em, anh chỉ xin em cho phép anh cầm lấy bàn tay em trong một lúc, một lúc thôi.
Thu vẫn để yên chiếc khăn tay che miệng, nàng như người bị thôi miên thong thả giơ bàn tay phải ra cho Trương nắm lấy. Trương nắm rất nhẹ lấy bàn tay Thu, bàn tay mà trước kia chàng chỉ được nhìn trộm trên nền khăn trắng. Tự nhiên Thu có một cử chỉ thân mật như vợ với chồng, kéo hai bàn tay của Trương đặt lên đùi mình. Trương nhận thấy hơi ấm của người Thu thấm dần dần vào hai lòng bàn tay và đoán thấy cái êm ái của làn lụa trên da thịt…”
“Khi Thu đi ngang qua, chàng đã toan cầm lấy tay một lần nữa rồi hôn Thu, nhưng chàng cố giữ lại được. Chàng nói:
- Em cho anh xin chiếc khăn tay của em.
Thu không đưa chuyền tay chiếc khăn cho Trương, nàng đặt vội chiếc khăn lên mặt ghế vội đi ra…”
“… Nghĩ đến chiếc khăn của Thu, Trương với cầm lấy vò nát trong hai bàn tay rồi đưa lên miệng. Chàng vừa cắn mạnh chiếc khăn vừa thầm nói với Thu, rưng rưng muốn khóc:
- Em Thu yêu anh làm gì. Khổ anh lắm.”
Nghệ thuật viết truyện được phân tích theo lối Mỹ, thường được xây dựng như sau:
Bối cảnh – truyện xảy ra khi nào, ở đâu
Nhân vật – tác giả để cho các nhân vật chính, phụ xuất hiện trong bối cảnh đó.
Diễn tiến qua các phân cảnh
Đỉnh điểm
Các diễn tiến hạ thấp dần xuống
Giải quyết vấn đề
Có thể nói cảnh Trương – Thu gặp nhau, trao tình là đỉnh điểm, từ đó các diễn tiến dần dà đi xuống, mặc dù có cao lên một lần nữa là cảnh Trương – Thu hôn nhau lần đi chơi ở chùa Thầy.
Cảnh ấy cũng gợi cảm lắm:
“Trương giữ chặt người Thu trong tay mình và thấy Thu điềm tĩnh ngửa mặt đưa đôi môi ra cho chàng hôn như có ý định từ lâu. Trương ôm vòng lấy cổ Thu, dựa đầu nàng vào phiến đá. Hai tiếng rất ngắn thốt ra liền nhau:
- Em…
- Anh!
Rồi hai người yên lặng hôn nhau, mê man trong cái thú thần tiên, bỡ ngỡ của cái hôn trao yêu thứ nhất trên đời. Hai mắt Thu mở to, Trương thấy trong và đẹp long lanh như thu hết cả ánh sáng của vùng trời cao rộng. Thu níu mạnh lấy hai vai Trương và nàng nói mấy tiếng rất nhỏ, nhỏ quá Trương không nghe thấy, nhưng cũng đoán hiểu là nàng định nói:
- Em yêu anh.”
Rõ ràng, đến thế là YÊU đã tiến lên cực điểm rồi chỉ còn đi xuống. Chính Nhất Linh cũng có cảm giác như thế khi diễn tảm tâm lý của Trương sau nụ hôn:
“… Chàng buồn vì vừa mất đi không lấy lại được nữa một thứ gì đẹp nhất ở trong đời, chàng thấy tình yêu của hai người lúc ban sáng đã tới một mực cao cực điểm và từ nay trở đi chỉ là lúc tàn dần: ánh sáng rực rỡ đã tắt và buổi chiều buồn bắt đầu về trong lòng chàng, trong đời chàng từ nay.”
Nhưng Bướm Trắng là tác phẩm tâm lý nên diễn tiến truyện không đơn giản như 6 điểm ta vừa nói. Trương – Thu gặp nhau và trao tình chỉ là đỉnh điểm của mối tình hai người. Đó là đỉnh điểm của cái YÊU. Nếu về cái SỐNG thì đỉnh điểm lại là chuyện Trương thụt két, lấy tiền ăn chơi, “bao gái,” đánh cá ngựa, thua sạch.
Mà đỉnh điểm của cái SỐNG đó lại liên quan đến đỉnh điểm của cái YÊU. Tại sao Trương hành động như thế? Sâu xa trong lòng, Trương mệt mỏi với tình yêu đối với Thu. Chàng vẫn có cảm giác lừa dối nàng mà lại không có can đảm xa rời nàng. Chỉ còn một cách là huỷ hoại danh dự của mình để không xứng với Thu và với tình yêu nàng dành cho mình nữa. Trương đã thành công, đã đi đến cái tận cùng của bệ rạc.
Ngay từ trước ngày đi Hải Phòng nhận việc làm rồi thụt két, bị tù, Trương đã nhận ra cái tầm thường, khốn nạn của mình.
“Ngoài cái mong chết vì chán sống, chàng lại mong chết để thoát được tình yêu của Thu. Chính chàng đã thấy sợ chàng, sợ sẽ có những hành vi rất xấu đối với Thu, đối với đời, nếu chàng còn sống ít lâu nữa. Chắc chắn chàng sẽ quấy rầy đến Thu, không thể khác được. Đó là một sự tất nhiên, một sự định số nếu chàng chưa chết ngay. Chàng còn sợ hãi hơn nữa vì chàng thấy trước rằng nếu còn sống thì không bao giờ nữa chàng là người có lỗi. Phải, từ nay “không bao giờ là người có lỗi”, chàng không có tội với ai nữa, chàng hết cả trách nhiệm của một người và có lẽ hết lương tâm của một người biết hối hận. Trương ngay từ bây giờ đã thấy rõ rằng đó sẽ là sự thực, chàng sẽ trở nên như vậy. Chàng mở to hai con mắt, khắp người rờn rợn sợ hãi vì lần đầu nhận thấy rõ căn bản của tâm hồn mình, một căn bản vô luân khốn nạn, bấy lâu còn ẩn núp che đậy, giờ mới lộ rõ ra. Tuy vậy, Trương chỉ thấy mình sợ mình chứ không thấy sự khinh.”
Trong những lúc ấy, ý tưởng tử tự vẫn ở trong đầu Trương. Trong một buổi ăn chơi sa đoạ với đám bạn truỵ lạc, Trương nói với Trực:
“Chúng mày bảo những đứa tự tử là hèn nhát à? Láo tuốt, chỉ nói a dua thôi. Tớ, tớ cho là không hèn nhát cũng không can đảm. Hèn nhát thì không bao giờ tự tử được. Tự tử được hay không là ở cảnh chứ không ở người.”
Chuyện trớ trêu là sau khi đã xuống đến tận đáy bùn đen, khi được tha tù, Trương khỏi bệnh (hay vì trước đây bác sĩ tồi đã chẩn bệnh Trương sai để phán quyết rằng Trương sắp chết thì cũng thế.) Chính Trương nhận thấy sự bệ rạc của mình. Chàng nhận ra rằng ai cũng xa lánh chàng. Trương bệ rạc đến độ phải xin tiền Phương là cô gái làng chơi trước kia nhiều lúc chàng không muốn cho ở gần. Cô gái ấy cho tiền Trương với ý là Trương khỏi quấy rầy mình.
Nhưng Trương vẫn muốn thử thách tình yêu của Thu, thử xem chàng tồi tàn đến thế này, Thu còn yêu chàng không. Chính vì thế mà Trương đã có những hành động gần như là mất nhân cách: ném gạch vào cửa sổ phòng Thu để buộc nàng phải xuống lấy thư; khi Thu xuống vườn ra hàng rào lấy thư thì nài ép nàng:
“Trương tiến nhanh lên hai bước, chàng vội nắm lấy bàn tay Thu, đưa lên miệng và lật ngửa hôn vào trong lòng bàn tay. Một mùi thơm xông lên ấm như mùi thơm của hoa ngâu đã chín vàng. Trương hôn dần lên cổ tay và kéo Thu về phía mình nhưng chàng thấy Thu cưỡng lại. Tiếng lá xột xạt và cả khóm lài rung động vì sức co kéo của hai người. Trương ngửng nhìn mặt Thu. Sao Thu lại sợ hãi đến thế kia, trong lúc sợ hãi Trương thấy nàng đẹp lên khác thường, ánh trăng, mấy bông hoa lài trắng, hai con mắt đen, hương lài lẫn hương phấn, nước hoa. Trong rạo rực thèm muốn, ngay lúc đó, mà chỉ lúc đó thôi, chàng thấy trước là sẽ sung sướng đến cực điểm nếu được hôn vào đôi môi của Thu.
- Em Thu...
Thu cố kéo tay ra. Nàng vừa thở vừa nói:
- Anh bỏ em ra. Người nhà mà biết thì chết. Ô hay…”
***
Có một thời người ta không thể hiểu được Trương, chính ra là không thể hiểu được Nhất Linh nên giới nghiên cứu phê bình văn học miền Bắc đã có những nhận định rất tiêu cực về văn chương lãng mạn, về Nhất Linh và về Bướm Trắng, trong đó có Bạch Năng Thi, Phan Cự Đệ, Nguyễn Đức Đang, Vũ Đức Phúc, Nam Mộc… Nhận định chung của các nhà nghiên cứu phê bình văn học này là “tinh thần dân tộc không có trong tác phẩm của Nhất Linh, ít nhất cũng không có cơ sở chắc chắn.” Lý do đưa tới nhận định này là “tác giả không nói tới sự áp bức bóc lột của đế quốc,” và rằng “ông ta chỉ sáng tác những tác phẩm giả tạo và đến khi ông ta định làm cách mạng thì hoá ra phản động.” Đương nhiên cái nhìn này do định kiến chính trị chi phối. Vả lại, viết tiểu thuyết tâm lý Bướm Trắng, Nhất Linh có ý định viết một cuốn truyện mang màu sắc chính trị và nêu cao tinh thần ái quốc, tinh thần dân tộc đâu.
Riêng về Bướm Trắng, sách Giáo Khoa Văn Học lớp 12, chương trình phổ thông trung học của nhà trường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nhận định: “Văn học lãng mạn cơ bản là bạc nhược, suy đồi, phản động, không giúp ích gì cho cách mạng và Bướm Trắng là tác phẩm suy đồi, truỵ lạc, vô luân…” Nhận định như thế là đứng ở chiếu bên này để nhận xét, phê phán những người, những việc ở chiếu bên kia chứ không đứng trên cùng một chiếc chiếu là chiếu “nhân bản.”
Nhân bản là lấy con người làm gốc, mà con người thì có SỐNG, có CHẾT, có YÊU. Đó là mẫu số chung, đành rằng nơi mỗi một con người, cái SỐNG, cái CHẾT, cái YÊU khác nhau. Tôi không chấp nhận cái SỐNG, cái CHẾT, cái YÊU theo kiểu của anh, nhưng tôi tôi tôn trọng chúng, cũng là tôi tôn trọng anh, mặc dù tôi khác anh.
Tìm hiểu về cái SỐNG, cái CHẾT (trong tư tưởng) và cái YÊU của nhân vật Trương, một số người không chấp nhận được. Những người này thường có khuynh hướng “nhị nguyên” của Tây phương, hoặc là có khuynh hướng truyện Tàu theo chương hồi của văn chương cổ. Trắng là trắng, đen là đen; tốt là tốt, xấu là xấu; đúng là đúng, sai là sai; phải là phải, trái là trái.
Trương thì không thế. Trong cùng một con người là Trương, có cái tốt. cái xấu; có cái cao thượng, cái hèn hạ; có cái hy sinh cao cả, cái hưởng thụ thấp hèn; có cái buồn, cái vui; có cái hân hoan, cái cay đắng… Và có như thế mới là CON NGƯỜI.
Hiện nay có nhiều người chấp nhận một thứ chất lỏng mà họ gọi là cà-phê. Sự thật, trong cái được gọi là cà-phê đó có những gì thì chỉ có thánh mới biết được, nếu không phải là chính người chế ra nó. Đại để trong đó có một chút cà-phê, hợp với bắp rang, hạt cau, bột màu và (hình như) một giọt gọi là “làm thành cà-phê tuyệt hảo.” Chất lỏng được gọi là cà-phê đó rất đen, rất sánh, rất đắng, rất thơm. Và người ta chấp nhận đó là cà-phê. Từ đó, một ly cà-phê thật không được chấp nhận là cà-phê. Quần chúng thì như thế, nhưng những người sành cà-phê cho chúng ta một nguyên tắc để biết chất lỏng nào không phải là cà-phê: “Thứ gì đen quá, sánh quá, đắng quá, thơm quá… chắc chắn nó không phải là cà-phê.”
Những ai đòi hỏi Trương phải thật tốt hoặc thật xấu, thật cao thượng hoặc thật thấp hèn… sẽ không biết thưởng thức một ly cà-phê đúng là cà-phê.
Làm sao họ hiểu được một hành động rất nhỏ mà phản ảnh rất đúng tâm lý phức tạp của Trương: mua con dao để tự tử một cách cả quyết mà đồng thời biết rằng mình sẽ không dùng nó.
Thật là phức tạp. Nhưng một con người với cái SỐNG, cái CHẾT, cái YÊU luôn luôn chi phối hắn thì đương nhiên hắn phải phức tạp.
Nói cho cùng, ai trong chúng ta cũng là một sinh vật phức tạp. Chỉ có điều nhiều khi, và có nhiều người, không ý thức được rằng mình phức tạp hoặc vô tình hay cố ý quên đi rằng mình là một sinh vật phức tạp.
NHẤT LINH thì ý thức rõ ràng con người là một sinh vật phức tạp. Bởi thế ông mới tạo được nhân vật Trương trong Bướm Trắng với đầy những phức tạp về tâm lý.
Cũng vì thế, Nhất Linh có nghệ thuật uống cà-phê rất “siêu” mà trong Bướm Trắng ông để cho một nhân vật phụ là Quang nói lên nghệ thuật ấy:
“Hai cốc cà phê. Thật đặc… À này, phổ ky, anh cho xuống cốc một ít nước đầu thôi, còn thì nhấc lọc ra cho khỏi chát rồi anh thêm nước sôi vào cốc. Phải thế cà phê mới thơm ngon. Anh nhớ chưa? Những tay sành mới biết cách ấy.”
Nhất Linh là “tay” sành về cà-phê, về tâm lý và về cuộc sống con người.