Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Hữu Uy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Hữu Uy. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 10, 2021

Tản Mạn Về Cây Bắp


Đám bắp, một góc rẫy trồng bắp ghi hình được khi ngang qua huyện Đất Đỏ trên đường đi Long Hải, Vũng Tàu (2019).

Cây bắp rất quen thuộc với người Việt chúng ta, nó là loại cây lương thực trong nhóm ngũ cốc được trồng đứng hàng thứ hai sau cây lúa ở Việt Nam. Tùy theo thế đất và khí hậu để canh tác:

“Đất màu trồng đậu trồng ngô
Đất lầy cấy lúa, đất khô làm vườn”
(Ca dao)

Cây lúa chịu nước để phát triển nên trồng nơi thế đấp thấp (ruộng), thế đất cao khô ráo thì lập vườn trồng cây ăn trái. Đất màu mỡ, khô ráo không bị úng nước nhưng không thể trồng lúa thì người ta làm rẫy như trồng đậu hay bắp, dân miền Nam gọi là bắp, dân miền Bắc gọi là Ngô.

Không biết tiếng “Bắp” xuất xứ từ đâu bà con ai biết xin góp ý? Còn từ “Ngô” là cây bắp thuở xưa ở bên Tàu đem về trồng ở nước ta khi đó người Việt gọi là “lúa Ngô” sau mới gọi là ngô, chỉ cây này xuất xứ từ bên nước Ngô (thế kỷ 16-17 nhà Minh cai trị Tàu, dựng nghiệp trên nước Ngô).

Cây bắp được du nhập vào Việt Nam có hai trường hợp:

• Đầu tiên, đời vua Lê Thế Tông cữ ông Phùng Khắc Khoan làm sứ giã sang Tàu xin tấn phong cho nhà vua (1597), dịp này phái đoàn sứ giã lén đem hạt giống “lúa ngô” về nước vì người Tàu cấm nghiêm nhặt không cho lọt hạt giống quí ra nước ngoài.

• Theo một tài liệu khác thì "Theo Lê Quý Đôn trong “Vân Đài loại ngữ “ hồi đầu đời Khang Hi (1662-1762), ông Lương Thế Vinh người huyện Tiên Phong, Sơn Tây được cữ làm Phó đoàn sứ giã Đại Việt sang nhà Thanh (1685), ông Trần Thế Vinh đem về một ít hạt ngô (bắp) gây giống rồi trồng nhiều ở Sơn Tây, người dân ở đây có thể ăn loại ngô này thay lúa gạo, sau đó thấy giá trị của cây lương thực này nên được trồng lan ra khắp nơi, nhất là các đồng bào dân tộc thường trồng trên nương rẫy vùng núi đồi trung du Việt Bắc. 


Cây bắp có nguồn gốc từ Trung Mỹ, được thuần canh và gieo trồng nhiều ở Mexico (Mễ Tây Cơ) sau đó lan tuyền đến Canada. Vào cuối thế kỷ 15-16, sau khi Bắc Mỹ tiếp xúc với người người Âu Châu cây bắp lan truyền xuống một số nước Nam Mỹ và sang tận Á Châu.

Cây bắp có tên là Zea mays var. rugosa hay Zea mays var. saccharrata, tên thông dụng gọi là Corn (tiếng Anh), Mais (tiếng Pháp), Maiz (Tiếng Tây Ban Nha). Ngày nay các viện nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới lai tạo giống mới để có những cây bắp cho năng xuất cao, thích hợp thổ nhưỡng địa phương và có sức đề kháng sâu bệnh cao. 

Cây bắp trồng dùng trong công nghiệp (Ảnh Internet)

Giống bắp là cây lương thực có sản lượng đứng hàng thứ nhất trên thế giới hơn cả hai cây lúa nước và lúa mì. Sản lượng trên toàn thế giới gần 700 triệu tấn hạt (số liệu năm 2005). Năm nước đứng đầu trồng bắp trên thế giới là Hoa Kỳ (280 triệu tấn), Trung Hoa (131 triệu tấn), Brasil (35 triệu tấn), Mexico (21 triệu tán) và Argentina (20 triệu tấn). Phần lớn là dùng làm thức ăn gia súc. Cây bắp được tận dụng từ trái (lấy hạt), thân, cành, lá đều được làm thức ăn gia súc hay phân bón. Trái bắp non mới ra nhỏ từ bằng ngón tay út trở lại chế biến làm thức ăn (xào, nấu). Trái bắp non làm nguyên liệu trong kỷ nghệ đóng hộp (luộc chin) hoặc muối chua (đựng trong keo).

Một trang trại trồng bắp ở Idaho, Hoa Kỳ (Ảnh Internet)

Tại Hoa Kỳ, phía bắc dãy Rocky Mountain là những nông tại trồng cây nông nghiệp như Wyoming, Idaho, Nam-Bắc Dakota, … chúng ta sẽ thấy những ruộng bắp ngút ngàn đến tận chân trời. Ngày nay ở Hoa Kỳ trong việc canh tác nông nghiệp như cây bông vãi, đậu nành, lúa mì hay cây bắp từ gieo trồng đến thu hoạch đều sữ dụng cơ giới.


 Cơ giới hóa trong canh tác nông nghiệp tại Hoa Kỳ (Ảnh Internet)

Cây bắp các chuyên gia tạo lai giống để có ưu điểm sữ dụng vào mục đích thích hợp: 

Để làm thức ăn thường là loại bắp nếp, hạt dẽo, mềm, ngọt, hạt đều, màu trắng hay trắng ngà. Bắp đường ngọt hạt có màu vàng nhạt, các giống bắp công nghiệp hạt to, cứng, màu vàng cho năng xuất cao nhất mỗi mẫu có thể cho trung bình đến 12-15 tấn/ha, dùng để ép dầu, làm thức ăn gia súc, chế nhiên liệu thực vật, … Ngoài ra người Indian Native (dân Da Đỏ) họ trồng giống bắp hạt có nhiều màu đem phơi khô để làm vật trang trí và lẩy hạt kết thành bông tai và dây đeo cổ bán cho du khách, là một loại trang sức nhất thời hay làm đồ kỷ niệm. 


Giống bắp hạt nhiều màu (Ảnh Internet)

Người Mễ (Mexico) và các nước Trung Mỹ họ dùng bắp để chế biến nhiều thức ăn, đặc biệt là dân Mễ nơi nguồn gốc cây bắp có các món đặc trưng như: Tamales, làm từ bột bắp có nhân thịt thường là bò, gói bằng lá ốp trái bắp, tương tợ như gói bánh tét của ta nhưng mình dẹp. Tortilla, là loại bánh làm bằng bột bắp như bánh tráng dầy để cuốn nhân thịt bò hay gà, carrot, khoai tây và cheese gọi là Burrito hoặc ăn với các loại soup. Soup có Menudo, gồm bắp hạt và một loại lòng bò, để có thêm chất ngọt hầm với xương ống, chân bò. Tacco là món chip làm bằng bột bắp ăn với cheese hoặc một loại thức chấm gồm cheese, hành tây xắt nhỏ, ngò rí (Cilantro). Trong nhà hàng Mexican có các món cao cấp được chế biến trong đó có bắp cũng ngon lắm!

Tại một số nền văn hoá có những thức ăn đặc trưng được chế biết từ bắp, người Ý có món Polenta, người Brasil có món Angu, một số món ăn ở người châu Phi. Còn dân Mỹ không thấy có món đặc trưng chỉ thấy bắp hạt góp mặt trên các dĩa thức ăn thôi, riêng món Crawfish thì có bắp trái cắt từng khoanh nấu chung với con Crawfish. Một loại bánh nướng làm từ bột bắp mà dân da đen thường ăn trong các nông trại trồng bắp, lúa mì, bông vãi, … ở miền Nam Hoa Kỳ khi còn chế độ nô lệ. 

Đề cập đến trái bắp trong văn hóa ẫm thực trên thế giới không thể không nhắc đến món ăn có nguyên liệu từ bắp của quê ta: 

Bắp luộc nguyên trái còn nóng hổi được ưa thích trong những buổi tối, bắp nướng trét mở hành hấp dẫn buổi trưa êm ả ngồi tán gẩu. Xôi bắp, bắp hạt xát mõng hay xôi bắp nấu với nếp chan nước cốt dừa, hoặc có rắc hổn hợp muối, đường, mè thơm phưng phức ấm lòng cho mấy em học trò nghèo và người dân lao động vào buổi sáng. Chè bắp, bắp hạt xát mõng+ nếp+ nước cốt dừa cũng là món ưa thích của bà con ta bất kể trưa hay buổi tối nhàn hạ. 

Nhà nông có câu: “Được mùa chớ phụ ngô khoai”! Đúng đó, khoai, bắp là cây phụ canh tăng thu nhập cho người nông dân, đôi khi còn là cách luân canh để giử chất màu mở cho đất. Cũng là nỗi lo của người dân ở vùng “Đất cày lên sỏi đá, mùa hè nắng cháy khô hạn cây trồng khó khăn, mùa mưa thì lũ lụt trắng đồng, mùa đông giá rét đâu trồng được cây gì?!” lúc bấy giờ ngô, khoai đỡ lòng qua được những ngày khó khăn!

Cũng có nghĩa bóng là lời nhắc nhỡ gần xa sự chung thủy đừng “thấy trăng, quên đèn”. Thường thì câu nói này ám chỉ dành cho người đàn ông khi thành đạt đã quên nghĩa tình thời tắm mẳn, tuy nhiên trái lại thì sao?

“… Nhánh mù u, con bướm vàng không đậu 
Câu ca từ thuở thơ dại ru sang 
Sông quê, trường làng (con đò trên cát lở) 
Cũng vì em xa mà thành điệu nhớ não lòng...!”
(Bài hát Sông Quê)

Trong văn học Việt Nam cây bắp cũng có đề cập đến, như bài ca dao mà cô giáo Phương Lam giúp gợi ý để viết bài này:

Hởi cô bới tóc đuôi gà
Nắm đuôi cô lại hỏi nhà cô đâu?
- Nhà tôi ở dưới đám dâu
Ở bên đám đậu đầu cầu bước qua
Ngó lên đám bắp trổ cờ
Đám dưa trổ nụ, đám cà trổ bông
(Ca dao)

Rõ ràng là bài này có xuất xứ từ miền Bắc, vì mấy cô Nam Bộ đâu có ai bới tóc đuôi gà? Còn thể hiện tính tinh nghịch trêu ghẹo của cô gái Bắc nữa: “Nhà tôi ở dưới đám dâu, ở bên đám đậu đầu cầu bước qua, ngó lên đám bắp trổ cờ, đám dưa trổ nụ, đám cà trổ bông”.

• Xin hỏi anh chàng nào thông minh nhất có biết là nhà cô ấy ở đâu không?! 

Và tui cũng thành thật nhắc nhỡ quí đấng mày râu đừng có dại dột bắt chước theo sự xúi dại của bài ca dao này mà “Hởi cô bới tóc đuôi gà, mắm đuôi cô lại hỏi nhà cô đâu?”. Vị nào không tin thử gặp cô gái Bắc bới tóc đuôi gà rồi nắm đuôi ấy lại hỏi nhà cô đâu? Tôi bảo đãm không bị ăn dép cũng sẽ được nghe lối chửi có “văn nghệ, bài bản” độc đáo để nhớ đời! 

(Cảm ơn cô giáo Phương Lam đã gợi ý bài viết “Cây Bắp”. Bài viết xin gởi tặng cô giáo Phương Lam cùng tất cả bà con mình đọc cho khuây khỏa trong mấy ngày hạ quyết tâm dứt khoát thi hành nghiêm chỉnh chỉ thị 16 giãn cách đề phòng dịch cúm Tàu, cầu chúc mọi người bình yên, an vui qua mùa dịch. Trân trọng). 

Lê Hữu Uy
Arizona - July 25, 2021

Thứ Hai, 27 tháng 9, 2021

Tiền Kiếp

The Farm at South Mountain - Morning Glory Café, Private Courtyard 6106 S. 32nd St. Phoenix, AZ 85042

Uyên Nhi làm lễ tốt nghiệp Master of Sciene ở trường ASU Campus tại Tempe City, hơn 2 tháng rồi mà Lam Sơn mới hẹn được với Uyên Nhi đi ăn trưa để chúc mừng chỉ riêng hai người. Thấy trời vào thu cơn nóng kinh khiếp của Arizona bắt đầu giảm dần nên Lam Sơn chọn quán Morning Glory Café, Private Courtyard ở 6106 S. 32nd St. Phoenix, AZ 85042.

Đây là quán kỷ niệm của hai người khi mới quen nhau. Lâu rồi, khi đó Uyên Nhi đang học năm thứ hai, mặc dù với tên là Morning Glory Café nhưng có bán thức ăn sáng, trưa và buổi ăn tối, nằm trong khu đất rộng The Farm at South Mountain với vườn cây walnut, hạt dẻ râm bóng có vài căn nhà, các lều và dù xếp cùng với bàn ghế sạch sẽ khá lịch sự chung quanh. Độc đáo là cách trình bày của một trang trại với nhiều hoa kiểng và rau quả tạo nên khung cảnh yên bình, thư thái và trử tình rất thích hợp cho những buổi họp mặt, hẹn hò của mọi người nhất là những ai yêu thích thiên nhiên.

Vào cuối tuần Morning Glory Café có chương trình văn nghệ bỏ túi của một ban nhạc mini gồm cây Guitar và Keyboard, một vài “ca sĩ không chuyên” và cùng quan khách yêu thích văn nghệ góp mặt.

Uyên Nhi nhiều năng kiếu và rất đam mê âm nhạc, cô giõi âm nhạc từ nhỏ trước khi sang định cử ở Hoa Kỳ. Một số nhạc cụ cổ truyền như đàn tranh, đàn bầu (độc huyền), đàn T’Rưng, kể cả nhạc cụ tây phương như Piano, Guitar, Mandoline.

Tài hoa trong âm nhạc của Uyên Nhi đã hút hồn Lam Sơn, ban đầu từ sự cảm mến, ngưỡng mộ, thân thiết và rồi từ đó dệt nên câu chuyện tình mà dù mười năm, mười năm sau nữa hình bóng “Cô Bé” năm xưa vẫn còn đó trong tâm tưỡng của Lam Sơn mỗi khi nhớ về!

Có lần Lam Sơn mời cô đi trình diễn đàn T’Rưng trong ngày lễ Thank You America tại Arizona, với bài “Tây Nguyên chào mặt trời” có đệm Keyboard của ban tổ chức giúp, thật tuyệt!

Ngày lễ này do hội Thank You America tại Arizona tổ chức hàng năm vào tháng 11 trước ngày Thanksgiving một tuần để tất cả sắc dân cùng nhau trình diễn nét văn hóa rực rỡ của mình, với ý nghĩa là ngày hội làm nên vườn hoa muôn màu khoe sắc thắm của nền đa văn hóa Hiệp Chũng Quốc Hoa Kỳ, và để mọi người tri ân nơi mà họ cho rằng đây là “Miền Đất Hứa”! Cô cũng thường đi trình diễn ở các buổi văn nghệ của các hội sinh viên bạn tổ chức nên được nhiều người biết đến.

Một nhóm thanh niên gốc Ý học cùng trường biết Uyên Nhi vừa mới tốt nghiệp tụi nó chạy đến bàn nhao nhao lên chúc mừng. “Congratulation! Happy Graduation!” Rồi đề nghị cô biểu diễn một bản nhạc góp vui. Đang trong tâm trạng vui tươi, phấn khởi, yêu đời nên cô nhận lời.

Uyên Nhi mượn cây Guitar và chọn bài nhạc Pháp nổi tiếng J’Espère của nhạc sĩ Marc Lavoine:
“… Comme disait Yoko Ono
Je vais essayer de retrouver ce mot
D'elle la seule chose qu'on partage en frères, en frères,
J'espère, j'espère, j'espère oh oui, j'espère
C'est mon caractère Mmmmm
J'espère …!)

Dịch nghĩa tiếng Việt (Google)

(Như Yoko Ono đã nói
Tôi sẽ cố gắng tìm từ này
Chúng là những thứ duy nhất chúng ta chia sẻ, ở anh em,
Tôi hy vọng, tôi hy vọng, tôi hy vọng oh vâng, tôi hy vọng
Đây là nhân vật của tôi mmmmm …
Tôi hy vọng.)

Thực khách thấy cô gái tóc đen bé nhỏ xinh xắn hát hay, đánh Guitar cũng điêu luyện, phong cách lịch lãm y như “ca sĩ thiệt” nên đồng loạt vỗ tay không ngớt làm không khí buổi sinh hoạt sôi động hẳn lên.

Mấy anh chàng Italian thích chí quá lên xin trình bày tiếp theo bài hát L'Italiano của Ca + nhạc sĩ Salvatore Cutgno, một bản nhạc nổi tiếng từng trình diễn trong buổi trao giãi bóng đá World Cup FIFA năm 2006 tại Rome, Italy.

Bài hát mà người Ý luôn đầy kiêu hãnh về một nền văn hóa và đất nước xinh đẹp của họ:

“… Lasciatemi cantare con la chitarra in mano
lasciatemi cantare una canzone piano piano
lasciatemi cantare perché ne sono fiero
sono un italiano un italiano vero …”

Dịch nghĩa tiếng Việt (Google):

“… Hãy cho tôi hát, tay cầm chiếc ghi-ta.
Hãy cho tôi hát, một bài hát nhẹ nhàng, điềm tĩnh.
Hãy cho tôi hát, bởi vì tôi tự hào là một người đàn ông Italia.
Một người đàn ông Italia đích thực …

Người bạn Italia tuy hát kha khá thôi nhưng nhờ hát với tất cả tấm lòng của anh nên dễ dàng truyền cảm hứng cho thính giả, và cũng nhờ điệu Italia POP sôi động, trong sáng vui tươi nên quan khách nhiệt tình vỗ tay tán thưởng như bài hát mà Uyên Nhi vừa trình bày trước đó.

Thấy trời cũng đã trưa Uyên Nhi đề nghị ra về. Trước khi ra xe, Lam Sơn và Uyên Nhi nắm tay nhau dạo một vòng quanh khu sân vườn trồng rau, có cả mấy luống đậu bắp, cà tím, bí rợ nữa, thật là một góc trời nho nhỏ của “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ”!

Lam Sơn cao hứng bắt chước mấy bạn trẻ Italia hát bản L’Italino với vision Việt:

“… Ta chào nhé bình minh diệu vợi
Chào mọi người, trong đó có em tôi
Những bài ca trong không gian thơ mộng
Rung động tiếng chim bên song cửa bồi hồi.
Những nghệ sĩ xao dương cầm ngân tiếng
Cất lên bài ca từ phía xa xôi
Lời hát yêu thương trong trái tim bỏng cháy
Để em mãi mãi là của tôi …

Lam Sơn siết chặc bàn tay Uyên Nhi tình tứ, cô bé cũng biểu lộ tình cảm theo nhịp tim đang bồi hồi rung động, hỏi:
Lam Sơn thấy màu tím hoa cà đẹp không, Lam Sơn? Rồi cô hồn nhiên nhí nhảnh hết sức duyên dáng nhìn anh hát nho nhỏ:

Trèo lên, lên trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước sang, sang vườn cà hái nụ tầm xuân,
Nụ tầm xuân nở ra xanh biết …

Lam Sơn lấy ngón tay đặt lên môi Uyên Nhi ngăn lại, lắc đầu không cho hát câu kế tiếp “Em lấy chồng anh tiếc lắm thay!” Trong khi Uyên Nhi ngạc nhiên trố mắt nhìn anh, Lam Sơn âu yếm lập lại câu hát anh hát lúc nãy:
“Lời hát yêu thương trong trái tim bỏng cháy - Để em mãi mãi là của tôi …”.

Không đợi xem phản ứng của Uyên Nhi ra sao anh ghì chặt cô vào lòng và đặt nụ hôn lên đôi môi ấm áp nồng nàn xuân tình ấy.

Kể từ hôm đó, cách xưng hô của hai người thay đổi hẳn, họ tự nhiên khoác vai nhau đi dạo thậm chí trong cả mấy buổi tiếp tân trang trọng. Cuộc tình kéo dài gần 10 năm tưỡng chừng như không gì ngăn cách được, nhưng hình như Lam Sơn bị mang lời nguyền ác độc, cuộc tình nào cũng dỡ dang! Gia đình Uyên Nhi quyết liệt phản đối vì Lam Sơn đã qua một đời vợ, còn có 2 con, và lớn tuổi hơn Uyên Nhi nhiều.

Phần Uyên Nhi thì không có duyên gặp được ý trung nhân! Cô thường xem nhẹ những anh chàng ngang mặt là người có cách sống nhàm chán. Những người hợp với Uyên Nhi thì có được mấy ai, mà đâu gặp được ai? Ngày càng bị áp lực lớn trong gia đình, và có nguy cơ khó khăn hơn lan ra ngoài xã hội. Để giử cho những gì tốt đẹp, cuối cùng cả hai chọn cách êm đẹp hơn hết!

Casa Grande National Park

Sự chia tay với Uyên Nhi không làm cho Lam Sơn bị sốc nặng mặc dù anh rất yêu thương cô, bởi vì ngay từ buổi ban đầu gặp gỡ hiển hiện đâu đó đám mây mờ trên cuộc tình hai người, nhưng nó để lại vết thương khó mà phai mờ trong lòng anh! Uyên Nhi thường kín đáo ít khi biểu lộ tình cảm bằng lời, mặc dù có đủ yếu tố của một cuộc tình nhưng chưa bao giờ cô nói lên tiếng “yêu anh”. Trước kia hàng tuần Uyên Nhi và Lam Sơn thường hay đi ăn với nhau, nhớ buổi ăn tối ở nhà hàng Thai Rama và đó là lần sau cùng, Uyên Nhi với ánh mắt đượm buồn mênh mang: “Đã là định mệnh thì không thể thay đổi! Xin cảm ơn Ơn Trên đã cho chúng ta những kỹ niệm đẹp đáng ghi nhớ trong cuộc đời!”

Vài người bạn thân biết chuyện tình của Lam Sơn với Uyên Nhi nên cảm thông và đôi khi tìm cách an ủi, chia sẻ. Họ nói đó là cái duyên nợ từ tiền kiếp, có lần bà Souphavady Vongsavanh cho biết có vị sư bà Viêng Chăn người Lào gốc Việt biết coi tay, tu tập theo phái Mật Tông, pháp thuật đạt đến mức độ cao có thể thông hiểu về tiền kiếp nữa để giới thiệu cho Lam Sơn xem về kiếp trước. Mặc dù có nghe nói về đi thiếp để thấy về kiếp trước nhưng bà Souphavady Vongsavanh và Lam Sơn không mấy tin, thật sự là hơi tò mò muốn biết thôi.

Người bạn Lào, bà Souphavady Vongsavanh mà Lam Sơn quen biết gặp gỡ trong các dịp lễ hội International Culture Women Club (ICWC), International Mother Language Day (IMLD) hay trong lễ hội Thank You America. Bà là một người trong hoàng tộc của triều vua sau cùng ở bên Lào khi Pathet-Lào lên nắm quyền lật đổ nhà vua Savang Vattana hồi gần cuối thập niên 70. Trước đó Bà có sang Việt Nam du học ở Sài Gòn mấy năm trước khi Miền Nam sụp đổ nên Bà nói tiếng Việt cũng kha khá, tuy nhiên trong khi giao tiếp với Lam Sơn đôi khi phải dùng đến tiếng Anh, nay đang định cư ở Phoenix, thỉnh thoảng có qua lại thăm viếng hay giới thiệu ẫm thực dân tộc trao đổi nhau.

Điện thoại reo, tiếng người bạn bên kia đầu máy, bà Souphavady Vongsavanh:
Hi Lam Son, cuối tuần này mầy có rãnh không, tao muốn mầy cùng đi thăm sư bà Viêng Chăn ở Casa Grande, bà là một nhà sư khả kính, người Lào gốc dân tộc của mầy hôm trước tao có nói cho mầy biết đó.

Lam Sơn cảm nhận ngay có điều gì đó hay hay, vì bà Souphavady Vongsavanh đâu có vụ hứng thú đi hóng gió giửa vùng sa mạc.

Thưa vâng, không mấy khi được Bà mời đi thăm viếng đâu đó, quen biết thêm người bạn thật đáng quý!

Không phải bạn của mầy và với tao đâu, Sư Bà năm nay gần 100 tuổi thọ rồi. Nhà Sư Bà không có ở tại thị trấn Casa Grande mà phải theo con đường đá nhỏ dọc nhánh sông Santa Cruz, đi thêm một đoạn nữa gần đến làng người Indian.

Tôi hân hạnh, sẵn sàng làm tài xế cho Bà.
Không, mầy là bạn không phải tài xế. Mà đường không có trong bản đồ, nhưng tao có bản vẽ tay chỉ đường.

Sáng thứ bảy xe đến thị trấn Casa Grande cách Phoenix khoảng 60 dậm về phía nam. Sau một lát tìm đường dọc theo nhánh sông nhỏ mùa khô trở thành gần như con suối, cuối cùng cũng đến được tịnh xá sư bà Viêng Chăn. Ngôi nhà trên khu đất rộng bên bờ sông theo kiểu Indian cổ xưa, góc vuông giống như mấy cái hộp đấp bằng đất đặc trưng của người Hohokam. Có tường rào bao bọc, chung quanh bờ tường và lối đi có trồng nhiều hoa kiểng đầy màu sắc xinh đẹp. Ngoài cây trồng lấy bóng mát như walnut, palm có trồng một số loài cây ăn trái Á Châu như tắc, bưởi, lựu, hồng xen lẫn mấy buội hoa xương rồng.

Có hẹn trước nên Sư Bà chuẩn bị tiếp đón niềm nỡ chấp tay cuối đầu chào:
Welcom Souphavady Vongsavanh Princess to my house! (Vinh dự chào đón Công chúa Souphavady Vongsavanh đến thăm viếng tịnh xá!)
Có báo trước người tháp tùng là Việt Nam nên Sư Bà nói bằng tiếng Việt giọng lơ lớ Huế:

Chào đạo hữu Lam Sơn, vinh hạnh cho tịnh xá được đón tiếp. Princess có thông báo trước có đạo hữu cùng đến viếng. Tệ xá là nơi tu hành nên rất giản dị, đơn sơ ít khi tiếp khách người lạ nhưng có Princess giới thiệu thì coi như người nhà cả. Mời hai vị vào trong.

Lam Sơn chấp tay xá lại đáp lễ, đa tạ Sư Bà rồi bước vào nhà.

Sau khi Sư Bà giới thiệu sơ qua các gian phòng:
Chính giửa nhà có bàn thờ Phật Thích Ca, và vài vị Tổ sư Mật Tông, chưn đèn bằng đồng và mấy cái tráp và vật dụng phụ tế bằng bạc chạm trổ rất tinh vi có phần đẹp hơn ở hai chùa Lào trong thành phố Phoenix. Tại đây cũng làm nơi Sư Bà cùng các đệ tử tu tập thiền hoặc trì chú.

Chung quanh hai bên tường có chưng bày trong mấy tủ kiếng bằng gổ mun đều có nét khắc họa mềm mại, sinh động. Điều làm Lam Sơn chú ý hơn hết là vật chưng bày: Một số nhạc cụ truyền thống dân tộc Lào như Khèn (Khaen), đàn Phin (có cán chạm hình đuôi rắn thần cong vút), đàn Đa Nat (có dáng như chiếc thuyền với 22 mãnh gổ ghép lại) và trống tròn bịt da trăn, đều làm bằng loại thiết mộc quí giá. Nơi góc phòng là cái trống đồng kiểu dáng cũng giống như trống đồng Việt Nam đã có chút ít dấu Oxy hóa (đóng ten xanh lam) trên mặt trống có 4 con cóc ở 4 góc.

Thấy Lam Sơn nhìn đồ vật ra vẽ thích thú Sư Bà đến gần giãi thích trống đồng này dùng trong nghi lễ cầu mưa, các con cóc sẽ lên chầu Ngọc Hoàng cầu xin mưa thuận gió hòa cho nhân gian được mùa, cái trống này tuổi trên 700 năm. Khi di tản Sư chỉ mang theo được vài món coi như đồ gia bảo này thôi.

Lam Sơn đoán biết đây có thể là đồ vật trong hoàng cung chứ không phải tầm thường, anh chấp tay cuối đầu chào:
Thưa các đồ vật này thật vô cùng quí giá và hiếm có!
Đạo hữu cứ tự nhiên tham quan các phòng và cảnh vật chung quanh.
Thưa cảm ơn Sư Bà.

Một nữ đệ tử trung niên đến nói nho nhỏ gì đó với Sư Bà rồi đi nhanh ra sau.
Sư Bà mời hai người khách đi ra sau nơi góc sân vườn lát đá sạch sẽ có đặt sẵn bàn trà bên bờ sông dưới tàng cây walnut cổ thụ, gió nhè nhẹ từ bờ sông vừa đủ làm cho tiệc trà thêm thú vị. Lại một lần nữa làm Lam Sơn ngạc nhiên với bộ trà men lam Chu Đậu! Mọi cữ chỉ của anh đều không qua khỏi ánh mắt quan sát tinh tế của Sư Bà:

Chắc đạo hữu biết về nguồn gốc của bộ đồ trà này?

Thưa vâng, gốm Chu Đậu danh tiếng khắp nơi từ Đông sang Tây, từ hàng mấy trăm năm trước rất được giới Hoàng gia, Quí tộc ưa chuông!

Sư Bà nhìn thẳng vào mắt Lam Sơn, mím môi gật đầu nhè nhẹ mà không nói gì.
Câu chuyện giửa Sư Bà và Princess Souphavady Vongsavanh rất tương đắc, có lúc họ nói tiếng Anh có lúc họ châm tiếng Lào, nên Lam Sơn chỉ loáng thoáng hiểu được hai người nhắc về những ngày cuối cùng của đức vua Savang Vattana, một vì vua nhân hậu, đạo đức được cả dân tộc một mực tôn kính. Cùng với Hoàng Thái Tử Say Vongsavong và Hoàng Hậu Kham Phouni đều chung số phận hết sức thương tâm như đức vua. Nghe Princess kể, trong đôi mắt Sư Bà long lanh rướm lệ!

Bên trong cánh cửa thấp thoáng bóng một nữ đệ tử trẻ có lẽ là đang chờ xem Sư Bà có điều gì sai bảo.
Nãy giờ hai người nói chuyện với nhau khá lâu, chợt nhớ ra có Lam Sơn ngồi đó nên Sư Bà quay sang hỏi:
Đạo hữu biết về biến cố vào những ngày cuối cùng của Hoàng gia Lào năm xưa?

Thưa biết chút ít qua báo chí và sữ liệu, thật là một thảm cảnh tệ hại đối với Hoàng gia và cho cả người dân Lào. Điều nghiệt ngã lại là do Hoàng thân Souphanouvong - Pathet Lào, người lãnh đạo Mặt trân Nhân Dân Cách Mạng Lào cùng là người trong Hoàng tộc đã gây ra bao điều tang thương cho Hoàng gia. Theo một bài báo tôi nhớ đến lời của Đức vua Savang Vattana phút băng hà nằm trên lán trong trại tù ở Sầm Nứa (Sam Neua), Đức vua nói:

''Tôi ngủ đây''.
Cùng với lời trăn trối:
''Tôi hiến dâng linh hồn, giọt máu và thân thể của tôi cho mảnh đất mầu mỡ, tươi đẹp của đất nước Lào và có thể cho tất cả dân tộc Lào''.

Sư Bà và Princess đứng dây đi ra bờ sông nhìn về phía xa xa, Sư Bà chua xót nói:
Cuộc đời dâu bể, mấy trăm năm trước đâu có ai ngờ tại đây là vùng đất màu mỡ, trù phú, dân Hohokam cư ngụ đông đúc chứ đâu là sa mạc hoang vắng thế này!

Sư Bà quay sang Lam Sơn chậm rãi nói tiếp:
À xin lỗi, Sư quên mất, chưa xem chỉ tay đoán vận mạng cho đạo hữu, bây giờ thì gần đến giờ tu tập vậy xin hẹn lại hôm khác phiền đạo hữu trở lại. Nên đến vào ngày thường trong tuần không có đệ tử đến tu tập có thời gian rộng rãi hơn.

Rồi Sư Bà nhìn Lam Sơn một lượt từ diện mạo, thần sắc đến tướng mạo, từ tốn nói:

Cuộc đời đạo hữu chắc đã trãi qua nhiều sóng gió, chông gai về cả sự nghiệp và tình duyên, vậy Sư sẽ coi tiếp phần đời còn lại của đạo hữu xem sao?

Hai vị khách từ giả Sư Bà ra cửa, Princess Souphavady Vongsavanh trầm tư trên suốt đường về. Còn Lam Sơn thì luôn có những thắc mắc trong đầu, đồ đạc trưng bày trong nhà không phải tầm thường, thân phận của Sư Bà thế nào đối với Hoàng gia Lào? Hai vị nữ đệ tử dáng vẽ gọn gàn, khỏe mạnh, nhanh nhẹn không có nét dịu dàng của một ni cô. Chung quanh nhà đều có camera an ninh, có thể nhà ở nơi vắng vẻ nên cần đến. Quen biết bà Souphavady Vongsavanh bao nhiêu năm mà chỉ biết bà thuộc Hoàng tộc thôi đâu ngờ là vị Công chúa Lào may mắn còn sống sót!

Ảnh minh họa, cuộc chiến tranh trong tiền kiếp 
(Phù điêu trong một ngôi đền cổ xưa - Ảnh Internet)

Tuần kế đó, Lam Sơn lấy hẹn xin diện kiến sư bà Viêng Chăn. Sau nghi lễ chào hỏi nhau Sư Bà đưa qua phòng khách nhỏ, một cái bàn dài 8 ghế bằng gổ cẫm lai đỏ chạm trổ sắc xảo theo mỹ thuật Lào. Sư Bà ngồi đầu bàn bên này, Lam Sơn ngồi đầu bàn đối diện. Sư Bà cho biết nếu muốn biết về tiền kiếp Lam Sơn phải làm theo một số nghi thức như tịnh tâm, niệm Phật cùng thời gian khoảng một khắc trong khi Sư Bà cũng vậy. Họ bắt đầu thực hiện.

Sau đó Sư Bà truyền đạt lại những điều thấy về tiền kiếp của Lam Sơn, tóm tắc như sau:

Kiếp trước đạo hữu là một lãnh chúa tên gọi là Cái Kìn, có tình với một cô tên gọi là Trà Nàng, hai người yêu nhau bên bờ suối Kơ Nia. Cô Trà Nàng là con gái của thủ lãnh bộ tộc đối phương theo mẫu hệ nghĩa là cô sẽ là người kế vị vai trò lãnh chúa sau này. Hai bộ tộc thường gây chiến để tranh giành cây Kơ Nia cổ thụ bên dòng suối cùng tên vì cả hai đều cho đó là thánh địa, là thần linh để tôn thờ của mình.

Trong một trận giao chiến mẹ của Trà Nàng tử nạn, cô lên làm thủ lãnh bộ tộc. Bên phía Cái Kìn các dũng sĩ dũng mãnh, còn phía Trà Nàng các dũng sĩ thì kém về thể lực nhưng có mưu lược.

Trong trận chiến quyết liệt tiếp theo, một trong hai thớt voi là lợi thế của Cái Kìn có một thớt bị phục kích sụp hầm chông và bị giết chết. Vị tình riêng, Trà Nàng ngăn không cho truy kích để thớt voi của Cái Kìn cùng một số dũng sĩ thoát thân.

Hôm sau, Cái Kìn họp Gìa làng, các cừ súy (cừ suý là trưởng các đội dũng sĩ) bày trận đánh quyết định sống còn để xem ai đủ quyền làm chủ con suối và gốc cây Kơ Nia cổ thụ kia.

Với tâm trong sáng và thiếu kinh nghiệm trận mạc của Trà Nàng, không nghĩ rằng đối phương sẽ tấn công trả đủa ngay lập tức, thiếu sự bố trí phòng thủ chu đáo nên từ tờ mờ sáng hôm sau bị đánh bất ngờ phía Trà Nàng đại bại. Trà Nàng bị bắt cùng mấy chục cừ suý, theo tục lệ thủ lãnh bên bại trận sẽ bị giết, các cừ suý bị bắt làm nô dịch, các dũng sĩ thì ai tuyên bố trung thành về phe sẽ được giãm tội!

Cái Kìn muốn cứu Trà Nàng thoát chết tìm cách thuyết phục Gìa làng và các vị Chấp chưỡng hủy bỏ luật lệ này với lý do là cùng một tổ phụ mà lại đánh nhau bao nhiêu năm, máu đổ thây phơi thiệt hại cho cả hai bên. Thấy thái độ cố chấp của Già làng và các Chấp chưỡng khó thuyết phục được, Cái Kìn cũng không thể làm trái luật từ hàng trăm năm trước đã lập ra.

Cái Kìn tuyên bố thi hành luật, rút đoản kiếm đâm vào ngực nơi trái tim của Trà Nàng, cô chết ngay. Cái Kìn tuyên bố tiếp: “Nợ máu thì trả bằng máu, nợ mạng thì trả bằng mạng”! Cái Kìn quyết lấy máu và mạng của mình để giãi quyết sự thù hận tranh chấp từ bao nhiêu đời qua, yêu cầu hai bộ tộc sẽ cùng nhau chung sống hoà bình! Chàng rút kiếm đưa lên ngang cổ, nhưng một ánh chớp loáng lên kiếm văng rời khỏi tay Cái Kìn. Tất cả hai phe đều trố mắt ngạc nhiên vì sự việc diễn ra quá nhanh!

Vị Chấp chưỡng cao niên nhất từ từ bước ra giửa sân, tuyên bố:
“Khi Thủ lĩnh bộ tộc quyết lấy mạng ra làm bằng thì có thể giãi được lời nguyền khi xưa”!
Hàng trăm dân chúng cả hai bộ tộc hoan hô vui mừng, có cả những dòng nước mắt ràng rụa chãy!

Trong khi đó Cái Kìn tan nát cõi lòng, âm thầm bồng xác Trà Nàng lên thớt voi đi về phía cây Kơ Nia cổ thụ bên dòng suối nơi mà hai người mơ ước cất ngôi nhà sàn bên đó, chia nhau từng hạt Kơ Nia, thổi kèn lá (Slek), sáo trúc, hoà nhịp cùng tiếng róc rách của dòng suối tạo thành âm thanh huyền diệu, huyễn hoặc vang đi giửa núi rừng vào những đêm bàng bạc ánh trăng thanh! Linh hồn của núi rừng, của dòng suối, của gốc cây Kơ Nia ôm ấp, nâng niu linh hồn Trà Nàng ban hạnh phúc diễm tuyệt ngàn đời linh thiêng!

Sư Bà ngừng một chút rồi nói tiếp:
Cái nghiệp của đạo hữu là như thế, đạo hữu nghĩ thế nào?

Thưa Sư Bà, điều gì có thể chứng minh là câu chuyện tiền kiếp cụ thể liên hệ với thực tại?
Không có gì khó hiểu, như trong tiền kiếp đạo hữu và Trà Nàng đều đam mê âm nhạc, yêu thích núi rừng, thiên nhiên, thì bây giờ vẫn thế! Hoặc dấu vết lưỡi kiếm nơi ngực của Trà Nàng có thể bây giờ lưu lại như cái bớt, hay vết nám nơi ấy?

Lam Sơn chợt rùng mình, Sư Bà đâu biết Uyên Nhi là ai đâu, sao lại có thể nói lên sự kiện này? Lam Sơn cảm nhận được một cảm giác rờn rợn từ sống lưng! Như thông suốt được trong ý nghĩ của Lam Sơn, Sư Bà nói mở lối:
Đạo hữu không cần xác minh ở đây, hãy tự kiểm nghiệm.
Thưa Sư Bà, nếu mình lỡ đã tạo nghiệp thì hãy trả nghiệp thưa có đúng vậy không?
Không thể giãi quyết vụ việc như vậy, không lẽ bây giờ đem cái mạng của đạo hữu ra đền? Như vậy là “oan oan tương báo” đến bao giờ mới hết nghiệp?

Xin Sư Bà chỉ dạy?
Giãi nghiệp chứ không trả nghiệp!
Đa tạ Sư Bà!

Trước hết là Lam Sơn phải biết cách tịnh tâm, niệm Phật, học câu trì chú và biết cách trì tụng:
“Tayata: Om Bekandze Bekandze Mahabekandze Randza Samudgate Soaha”

Câu chú này có công năng sám hối tội chướng đã gây ra và giải nghiệp đã kết từ kiếp trước. Khi trì tụng nếu có thể thì nên nhất tâm quán tưởng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong lúc trì tụng, nếu không thể quán tưởng thì phải nhất tâm trì tụng mỗi ngày 7 biến.

Ba tháng sau đạo hữu trở lại, thực hành bước kế tiếp, nên làm cho đến nơi đến chốn vì nó ảnh hưởng cho cả hai người, nếu không, ai cũng bị nghiệp đeo đẵng, nhẹ thì không may mắn trong tình duyên, nặng thì luôn bị mang nghiệp trắc trở lương duyên suốt đời!

Thời gian này Lam Sơn gặp khó khăn trong cuộc sống dồn dập nên không làm đúng được theo lời Sư Bà chỉ dạy. Mùa thu năm sau, khi trở lại sư cô Viêng Chăn đã viên tịch! Việc trì chú giãi nghiệp bất thành! Không biết có phải chính vì vậy mà Lam Sơn luôn bị ám ảnh, ân hận, cuộc tình ấy vấn vươn mãi, dù nó là cuộc tình đẹp nhẹ nhàng ngang qua cuộc đời mình! Và Uyên Nhi cũng luôn dỡ dang trong tình duyên!

Hoa lan rừng bên suối Kơ Nia

Trên đường từ Casa Grande về Phoenix, những đợt gió lốc mang theo từng cụm bụi gai rào rào lăn tròn qua mặt cát, sa mạc phát ra tiếng gào thét như tiếng giông bảo rít lên từng hồi trong lòng Lam Sơn!

Lam Sơn bấm máy để nghe lại bài hát Suối Mơ của nhạc sĩ Văn Cao mà Uyên Nhi và anh cùng ưa thích qua tiếng hát thật truyền cảm của Sĩ Phú:

… Từng hẹn mùa xưa cùng xây nhà bên suối.
Nghe suối róc rách trôi hoa lừng hương gió ngát.
Đàn nai đùa trong khóm lá vàng tươi.
Tơ đàn chùng theo với tháng năm,
Rừng còn nhớ tới người …

Lam Sơn nghe dòng nước âm ấm chãy dài trên khóe mắt.
“Tơ đàn chùn với tháng năm, rừng còn nhớ tới người, … Suối Mơ!”

Lê Hữu Uy
Arizona, Sept 2021
(Ghi chú của tác giả: Đây là truyện ngắn hoàn toàn hư cấu, viết để bà con có chuyện để đọc cho khuây khỏa giảm Stress trong những ngày giản cách dịch Cúm Tàu!)

Thứ Sáu, 10 tháng 9, 2021

Người Tình


Ly Café phin – Không biết từ phin có phải bắt nguồn từ tiếng filtré của Pháp không?

Từng giọt café đen sậm đặc quánh nhẹ nhàng nhiễu xuống ly tỏa hương thơm lừng hấp dẫn khứu giác của khách là cái thú của mấy vị có thời giờ rãnh rỗi thư thả. Loại cà phê phin này nổi tiếng ở quán Phở Avina trên đường West Thunderbirth Ave ngang trường đại học ASU West (Arizona State University West) thuộc thành phố Glendale, Arizona. Thoạt đầu quán không có bán café phin vì khách Mỹ mấy ai dùng loại này, bà chủ là người dân Cần Thơ nên khi có bạn bè củ cùng quê đến quán Bà đặc biệt chiêu đãi món café phin đen hoặc sữa đá làm thực khách trong quán tò mò nhìn ngạc nhiên, đôi khi cũng có khách thích thú thử qua café phin có nguồn gốc France này!

Quán Phở Avina chủ yếu bán thức ăn sáng và trưa cho nhân viên Trường ASU West và sinh viên ở đây, vào những giờ đó quán luôn rất đông khách. Cô con gái bà chủ học trường này nên cô thường rủ bạn bè buổi tối đến quán dần dà từ chiều đến khoảng 10 giờ tối có đặc biệt bán thêm café, pha máy có, pha phin có với các loại café danh tiếng Arabica, Colombia, Expresso, Mocha Buôn Mê Thuột của Việt Nam nữa để khách tùy chọn. Café ngon là một ưu điểm nhưng khung cảnh lịch sự, trang nhã, không ồn ào của quán và nhất là có nhạc (download từ Internet) những bản nhạc du dương, nhẹ nhàng, tình tứ theo yêu cầu của khách là sinh viên trong khu cư xá gần đó thích tụ tập, hẹn hò hay gặp nhau tán gẫu vào buổi tối.

Lần đầu Nguyên hẹn với Ély ở quán Café Avina hôm ấy ngoài trời mưa rả rít một điều hiếm hoi ở vùng sa mạc Arizona, Ély đề nghị nghe bản “Thà như giọt mưa” của nhạc sĩ Phạm Duy:

“… Người từ trăm năm về qua sông rộng
Người từ trăm năm về qua sông rộng
Ta ngoắc mòn tay, ta ngoắc mòn tay
Chỉ thấy sông lồng lộng, chỉ thấy sông chập chùng

Thà như giọt mưa, vỡ trên tượng đá
Thà như giọt mưa, khô trên tượng đá
Thà như mưa gió, đến ôm tượng đá
Có còn hơn không, có còn hơn không
Có còn hơn không, có còn hơn không …”

Bài hát qua tiếng hát trầm ấm thật truyền cảm của ca sĩ Vũ Khanh như rót vào lòng Ély và Nguyên những lời nhẹ nhàng len lỏi đến nơi sâu lắng trong tâm tư, những người khách không hiểu tiếng Việt nhưng vẫn chăm chú thưỡng thức một cách thích thú. Âm nhạc là một loại ngôn ngữ chia sẻ sự rung cảm của tâm hồn, tình yêu của con người với con người, con người với thiên nhiên mà ai cũng có thể cảm nhận được, dĩ nhiên phải là một bản nhạc hay.

Nguyên bắt đầu thấy Ély người phụ nữ có nhiều điều hấp dẫn để khám phá, thu hút sự quan tâm đặc biệt của anh. Cô không có phong cách yểu điệu thục nữ của văn hóa Á Đông, cô cũng không có cái nhiều tự nhiên như phần đông dân Hiệp Chũng Quốc Hoa Kỳ.

Khi có thời gian Ély và Nguyên thường hẹn nhau ở đây là địa điểm thuận tiện cho cả hai, Ély theo học ban MBA (Master of Business Administration) ở trường ASU West và Café Avina thì gần nhà Nguyên. Họ cũng thường hẹn nhau bàn bạc một vài chương trình văn hóa hoặc xã hội mà hai người có quan hệ trong công việc, Nguyên là thành viên của Hiệp hội người Mỹ gốc Á tại Arizona, còn Ély là Chủ tịch Liên hội Sinh viên gốc Á châu-Thái Bình Dương tại ASU West, mấy năm gần đây vùng này thường có thiên tai núi lửa phun trào hay giông bảo ở khu vực Asia – Pacific Islands cần tổ chức các buổi văn nghệ gây quỹ cứu trợ là Ély và Nguyên luôn làm việc khắn khít bên nhau.

Nhiều bạn bè nghĩ rằng hai người sẽ kết hôn sau khi Ély lấy xong bằng MBA vì thấy hai người luôn xuất hiện như một cặp đôi lý tưỡng. Trước đó lâu rồi cũng hơn 10 năm, sau khi tốt nghiệp ban Cữ nhân Ély cũng có quyết định lập gia đình tuy nhiên không rõ vì sao chính cô chủ động hủy kết hôn trước ngày dự định làm lễ cưới vài tuần rồi cô sống theo niềm đam mê của mình và tiếp tục học thêm. Nguyên lớn tuổi hơn Ély nhiều, đã ly dị cũng lâu rồi có một đứa con bắt đầu vào đại học đang ở với mẹ vừa quá tuổi người cha phải trợ cấp theo luật định.

Quen nhau đã lâu nhưng hai người gặp nhau nói chuyện thiên hạ đâu đâu, hôm ấy Nguyên bày tỏ sự thắc mắc của mình:
- Ély, Nguyên thắc mắc sao Ély có tên là lạ không thông dụng trong tiếng Mỹ?
Ély chúm môi cười nhìn Nguyên, nheo mắt trả lời chế diễu:
- Ở xứ Hiệp Chũng Quốc là nơi qui tụ tạp chũng mà anh hỏi câu này! Nó nguyên gốc là từ Élisabeth, tiếng Pháp, người ta gọi tắc là Ély đó.

Nguyên nói chửa thẹn cho sự kém hiểu biết của mình, cải lại:
- Ély là người Việt, ba mẹ Việt, sao ở Mỹ mà Ély lấy tên tiếng Pháp?
- Em cùng gia đình đến Pháp theo diện tị nạn, sau đó theo ba mẹ di dân sang Mỹ nên em có tên Pháp là vậy.
- Ély có song tịch Pháp và Hoa Kỳ?
- Dạ,
- Trước khi vào ASU West Ély học ngành gì?
- Ngôn ngữ học, em mê môn này muốn nói được nhiều thứ tiếng. Em đã tốt nghiệp Pháp ngữ điều này dễ dàng đối với em, học cao học Mỹ là tiếng Mỹ em không tệ lắm. Mấy năm trước em hơi ngông chút học thêm tiếng Brasil, em có qua Rio De Janneiro, thủ đô Brasil bên đó hết hai năm để lấy bằng tiếng Português nữa, nước Brasil dùng tiêng Bồ Đào Nha. Ở nhà ba mẹ bắt nói tiếng Việt từ nhỏ, ông bà nội còn bắt phải tập nói cho đúng giọng Việt mới được, khổ ghê!
- Trước đây Ély chọn môn ngôn ngữ định đi dạy hay làm việc gì?
- Thì anh thấy đó, chẳng làm được việc gì nên mới ghi danh học thêm định lấy bằng MBA coi có ai mướn không? Mà nãy giờ anh hỏi em nhiều rồi để em hỏi lại chứ nếu không người ta sẽ cười anh là người xử sự không công bằng đó!

Nguyên trìu mến nhìn Ély:
- Ély muốn hỏi gì xin cứ tự nhiên, Je vais obéir! (Tôi xin vâng theo ý!)

Ánh mắt Ély long lanh âu yếm, nguýt Nguyên:
- Còn bày đặt! Em thích đọc thơ văn anh viết mà anh học làm thơ, viết văn từ hồi nào vậy? Ở đâu vậy? Hở chú nhà thơ?

Nguyên nắm lấy bàn tay mềm mại, ấp áp của Ély:
- Học từ sự rung cảm của trái tim, và từ khi Nguyên bắt đầu yêu. Từ người phụ nữ cho Nguyên cả một thế giới ấm áp, hạnh phúc khi bên cạnh nhau hay nghĩ đến nhau!

Ély cũng nắm bàn tay Nguyên đưa lên môi hôn nhẹ, cô nói nho nhỏ:
- Je T’aime! (Em yêu anh!)
***
Fogo De Chão, Brazillian Restaurant ở Scottsdale, Arizona

Nguyên hẹn Ély ăn tối ở Fogo De Chão Brazillian Restaurant, đường North Scottsdale Blvd để mừng cô vừa mới tốt nghiệp đã tìm được việc làm hợp khả năng, đúng sở thích với cô.

Các món thịt nướng đặc trưng của Brasillian qua các tay đầu bếp xuất sắc của Fogo De Chão nổi tiếng trên thế giới và chai Moet Chandon Champagne không làm buổi ăn tối hấp dẫn được hai người khi mà họ sắp sửa chia tay bởi cái hợp đồng 4 năm Ély đã ký làm việc tại cái hải đảo xa xôi Nouvelle Calédonie.
Tuần sau cô sẽ đi nhận việc tại văn phòng đại điện của một công ty khai thác khoáng sản của Mỹ hợp tác với Pháp ở thành phố cảng Nouméa còn gọi là Port-De-France thủ phủ của Nouvelle Calédonie, một lãnh thổ hải ngoại của Pháp ở nơi biển khơi mênh mông giửa phía nam Thái Bình Dương.

Nguyên cứ bồn chồn muốn biết tại sao Ély không tìm việc ở trong nước Mỹ mà chọn công việc ở tận chân trời xa xôi. Cô là người rất thông minh, tinh tế hiểu được tâm trạng của Nguyên, Ély nói đùa vui vẻ:
- Anh, em biết anh thắc mắc tại sao em lại đi làm xa xôi như thế nơi mà chẳng có ai là người thân. Anh quên rằng em có quốc tịch Pháp trở về làm việc trên lãnh thổ đất nước của mình không thích thú sao? Công ty còn có chi nhánh nhỏ ở Rio De Janneiro nữa, đâu uổng công em học tiếng Português phải không?

- À, thì ra thế. Anh cứ đem cái hiểu biết sếu vườn của mình mà suy nghĩ về cánh hải âu!
- Không đâu anh, mỗi người có một hoàn cảnh, cơ hội khác nhau. Em làm sao được như anh, mấy cộng đồng sắc dân như Philippine, Bangladesh, Thái Lan, … họ luôn ca ngợi anh, tôn anh là người đem đến nguồn cảm hứng cho họ trong sinh hoạt phục vụ cộng đồng:

“For your generous commitment of time, support and inspiration to the endeavours of the we community”!
Một thoáng trầm ngâm Ély nói tiếp bằng một giọng ví von nhưng cũng thật sự tha thiết:
- Anh sang Nouvelle Calédonie với em đi, em nấu cơm cho anh ăn. Thiệt đó, em biết nấu cơm mà. Bộ anh tưởng bên đó không có gạo và nước mắm à? Đi đi, em sẽ nấu cơm suốt đời cho anh!

Đây là lần đầu tiên Nguyên thấy bóng dáng người phụ nữ dịu dàng đảm đang trong con người của Ély, một hạnh phúc đơn sơ mà anh mơ ước nhưng Nguyên mơ hồ về điều gì đó mà thực tế còn có sự ngăn cách. Nguyên nói đùa cho qua ý nghĩ không vui ấy:
- Em nấu cơm theo kiểu Bougna ấy à? Chuối táo quạ, khoai môn, dừa khô, đủ thứ loại cá bắt được gói trong tấm lá chuối đem chôn dưới đất rồi nấu chính bằng cách lấy mấy cục đá đun nóng, sau đó đào lên ăn đó hả? Lạy trời đừng có thịt người trong món Bougna!

Ély cười tủm tỉm bởi vì lối hài hước của Nguyên:
- Em nấu theo kiểu Việt những món mà anh thích, bộ anh nghĩ ở thành phố Nouméa không có người Việt à? Những người Việt đến đây từ thuở anh chưa chào đời, hiện nay có khoảng gần 300 cư dân gốc Việt ở đó. Mà sao anh biết người thổ dân Kanak ở Nouvelle Calédonie từng ăn thịt người? Chuyện tục lệ ăn thịt người từ hồi xa xưa. Năm 1849 thuỷ thủ đoàn trên tàu Cutter của Hoa Kỳ bị thị tộc Pouma giết và ăn thịt, khi người Pháp đến họ tiếp cận với nền văn minh rồi bây giờ tất cả dân trên đảo đều là công dân Pháp đó anh ạ.

Yên chí đi, em không nấu thịt người cho ăn hay bắt anh làm thịt đâu.
Anh có biết không, hải đảo Nouvelle Calédonia là một mãnh đất còn lại của thời Gonwada hàng mấy chục triệu năm trước, cách biệt giửa biển khơi nên còn nhiều hệ sinh thái như thảm thực vật hay động vật giử được đặc tính của thời cổ xưa, em nghĩ ở đó có nhiều điều để anh khám phá. Nó nằm giửa phía nam Thái Bình Dương, phi trường quốc tế Tontuta có đường bay trực tiếp đến Hoa Kỳ, có đủ các chuyến bay đến Nam Mỹ, châu Úc, Âu châu, Tokyo, Seoul hay để anh về Việt Nam dễ dàng. Ở Nouvelle Caledonie có các điều kiện tốt cho những ngày retired của anh đó mà.

Rồi Ély làm bộ nghiêm giọng ra vẻ như người của chính quyền:
- À, mà tại sao anh biết nhiều về Nouvelle Calédonia vậy? Anh quen cô Tây nào ở đó? Nói! Thành thật khai báo để được khoan hồng?

Nguyên mãi chăm chú nghe đến khi Ély nói câu này Nguyên phải phì cười:
- Đúng rồi, anh không phải chỉ quen mà yêu cô đầm Tây nữa …
Chưa kịp nói hết câu Ély tròn mắt ngắt lời:

- Cô đầm Tây nào, hử?

Nguyên lấy tay vuốt nhẹ mủi Ély rồi ôn tồn nói:
- Cô đầm Tây Ély này nè! Khi em quyết định đi Nouvelle Calédonia anh bắt đầu tìm hiểu về hải đảo này.

Tuy hai người trao đổi nhau nhiều như thế, Ély loáng thoáng hiểu được rằng Nguyên khó dứt khoát xa đứa con mà anh rất yêu thương, cô nguýt dài ánh mắt sắc như dao:
- Anh chỉ giõi tán tỉnh, nịnh đầm thôi, đùa vui trên sự đau khổ của hàng tá phụ nữ vì yêu anh! Em hỏi thiệt có bao nhiêu cô gái vỡ tim chết dưới tay anh?

Như bị xúc động mạnh Ély đứng lên hơi lớn tiếng gắt:
- You are a devil! (Anh là một tên ác quỷ!)

Nguyên hơi bất ngờ với thái độ của Ély, anh đứng lên theo và ghì chặc Ély vào lòng, lấy góc khăn chặm dòng nước mắt của cô. Hôn lên đôi mắt nếm vị mằn mặn ấy, mùi nước hoa Chanel Coco và mùi da thịt phụ nữ quen thuộc làm cho Nguyên một thoáng ngất ngây và cũng cảm thấy niềm xót xa dâng lên trong lòng anh!

Mấy thực khách bàn kế cận đều đổ dồn nhìn hai người, có cặp thanh niên bàn bên nhìn theo nãy giờ cười tủm tỉm, nheo mắt rồi đưa ngón tay cái lên ra dấu “Number One”!

***
Les Amoureux Qui Passent của nhạc sĩ Christophe - (Nhạc Pháp - Một thời để yêu)

Vắng Ély cả tháng nay Nguyên thấy nỗi buồn mênh man cứ ray rức mãi trong lòng, trong thời gian dài như thế anh chỉ nhận được duy nhất tin nhắn ngắn gọn của Ély:
“Em đến bình yên, mọi việc đều diễn tiến tốt như em nghĩ!”

Nguyên cảm thấy trống vắng, hụt hẫng và nỗi buồn nhè nhẹ loang tõa trong tâm trí, anh thèm nói đúng hơn là nhớ ly café phin chi lạ nên lấy xe ra quán Avina, nơi mà Ély và anh thường hay đến đây họp bàn công việc, tâm sự hay chẳng cần nói câu chuyện gì quan trọng, chỉ cần ngồi bên nhau là thấy hạnh phúc lắm rồi!
Hôm nay tối thứ bảy mà quán hơi vắng có lẽ trời cứ mưa rả rít thế này nên các bạn sinh viên lười ra quán, nhưng Nguyên cần chi có đông khách anh chỉ cần khung trời kỷ niệm, cần giọt café phin …

Sáng nay Nguyên vừa xem qua bản tin tổng hợp quan trọng về tình hình biển Đông và Châu Á-Thái Bình Dương là bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Lloyd Austin rồi bà Tân phó tổng thống Kamala Harris đến Đông Nam Á, một loạt các chiến hạm của nhiều cường quốc tụ tập đến biển Đông và Tây Thái Bình Dương, Mỹ rút quân khỏi Afghanistan nhường phần đất sát biên giới Tàu luôn bất ổn cho Trung Quốc để tập trung sức mạnh quân lực đáp ứng nhu cầu cho chiến lược Châu Á-Thái Bình Dương, sự gay gắt trong chiến tranh thương mại, kỷ thuật, v.v… Nghĩ đến đây Nguyên chợt nhận ra vị trí rất quan trọng của Nouvelle Calédonia trên bàn cờ thế giới hiện nay. Không phải hải đảo này là căn cứ chiến lược của quân đội Mỹ hồi đệ nhị thế chiến? nơi đồn trú hơn 50 ngàn binh lính Mỹ và là nơi xuất phát hạm đội tham dự trận hải chiến ở biển Coral năm 1942 đẩy lui lực lượng hải quân Nhật ở nam Thái Bình Dương.

Mặc khác, Nouvelle Calédonia có nguồn khoáng sản quan trọng như Niken (chiếm 25% trử lượng trên thế giới), Féro-Niken, Coban, … và một số loại đất hiếm là nguyên liệu tối cần thiết cho nền công nghiệp trong tương lai như xe chạy điện, chất bán dẫn, vũ khí, không gian, … Năm 2010, kỷ nghệ khai khoáng ở đây suy giảm bây giờ công ty Mỹ nhảy vào hợp tác với công ty Pháp vực dậy ngành này.

Thì ra thế, họ tuyển dụng Ély là người rất thích hợp, cô có MBA, thông thạo tiếng Anh, Pháp và Brasil nơi có chi nhánh công ty bên Rio De Janneiro nữa. Dĩ nhiên, chắc chắn là Ély đã thương lượng với quyền lợi ưu đãi tối ưu khi nhận làm việc ở hải đảo này. Chúc mừng em, Ély!
Ly café vơi một phần đã nguội, Nguyên xin thêm đá làm café đá. Hơi lạnh từ từ thấm dần theo thực quản làm anh tỉnh táo hơn trở về với thực tại không suy nghĩ mông lung nữa.

Nguyên tự cho mình nghĩ đúng, Ély là người phụ nữ nhiều bí ẩn để khám phá như loài hoa Amborela từ thời cổ đại, loại cây đặc hữu của Nouvelle Calédonia. Cô còn là loài hải âu dang rộng đôi cánh: Hôm nào Paris, rồi New York, sang Rio De Janeiro, đến Phoenix, bây giờ vượt trùng dương đáp xuống Nouméa City! Người đàn ông nào có thể giử chặc Ély ấp yêu trong bụm tay dù bằng tất cả yêu thương, trìu mến?

Nếu biết rằng bản chất nó là con chim biển thì không nên giử nó trong lồng son chật hẹp, hãy đưa nó về nơi đại dương bao la ở đó mới đích thực là môi trường sinh sống của nó. Ngược lại thử hỏi có mấy người đàn ông đến được với người phụ nữ khá đặc biệt này?

Nguyên nhớ đến bài hát Les Amoureux Qui Passent của nhạc sĩ Christophe, anh hát nho nhỏ:

“… Les amoureux qui passent ne se retournent pas
Mais il reste la trace dans mon coeur de leurs pas
Les amoureux qui passent ne se retournent pas
Mais il reste la trace dans mon coeur de leurs pas” …

“… Những người yêu đi qua không ngoãnh lại
Nhưng có một dấu vết trong tim tôi về bước chân của họ
Những người yêu đi qua không ngoãnh lại
Nhưng có một dấu vết trong tim tôi về bước chân của người” …

Lê Hữu Uy
Phoenix, Arizona – August 21, 2021

Thứ Hai, 6 tháng 9, 2021

Trà Châu Á - Asia Tea Show


Asia Tea Show là buổi giới thiệu Trà Á Châu do Hiệp Hội người Mỹ gốc Á tại Arizona (Arizona Asian American Association – 4A) tổ chức, theo lời mời của 4A nhiều lần nên kỳ này chúng tôi Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam Arizona (Arizona Vietnamese Culture Club - CLB) không thể từ chối tham dự được nữa. Buổi Tea Show này có 3 sắc dân tham dự gồm Việt Nam, Trung Hoa và Nhật Bản. 


Hai Cộng đồng sắc dân bạn là đại thụ về Trà nổi tiếng trên thế giới, nếu CLB tham dự thì chúng ta sẽ giới thiệu gì với quan khách? Đó là điều mà chúng tôi phải cân nhắc. Nghi thức thưỡng thức trà của người Trung Hoa trong Phật giáo, Lão Giáo, hoặc của giới vua chúa, quan lại là nét văn hóa đầy ấn tượng. Người Nhật Bản đưa việc thưởng thức loại thức uống tuyệt diệu này lên một tầng cao trở thành một đạo giáo.


Với kiến thức hạn hẹp, anh em chúng tôi nghĩ rằng không thể giới thiệu Trà Việt Nam theo cách của người Trung Hoa hay Nhật Bản, do đó chúng tôi xây dựng ý niệm Trà Việt Nam khác hơn hai nước bạn là cây Trà trong đời sống dân gian, vùng miền sản xuất, những cây Trà tạo nên loại Trà được nhiều nước biết đến. 


Qua buổi giới thiệu Trà Châu Á quan khách có thể hiểu biết thêm về cây Trà ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống, văn hóa của người Á Châu.

 

Ngoài ra trong buổi Tea Show mỗi sắc dân còn có phụ diễn để giới thiệu thêm các màn ca múa, và trong y phục truyền thống. Việt Nam trình diễn màn đơn ca “Em đi chùa Hương” do ca sĩ Anita Nguyệt Nga và màn múa nón lá của các em GĐPT Nhất Tâm; Nhật Bản thổi sáo; Trung Hoa một màn múa quạt của các em thiếu nhi.


Hàng năm Hiệp hội người Mỹ gốc Á tại Arizona đều có dành một khu trong Asian Festival để triển lãm Trà, có nhiều nước tham dự như: Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam, Hàn Quốc, Thái, Đài Loan, Ba Tư mỗi sắc dân tham dự một gian hàng.


  • TỔNG QUÁT VỀ CÂY TRÀ


Cây Trà (tiếng địa phương miền Bắc Việt Nam gọi là chè), tên khoa học là Camellia Sinensis là loại cây mà lá và chồi (đọt non) được pha chế làm thức uống. Tên khoa học khác còn gọi là Thea bohea hay Thea viridis (Tea = Thea), trong tiếng Latin chữ Sinensis có nghĩ là Trung Hoa, bởi vì người Tây Phương khi mới giao tiếp với người Trung Hoa thì họ biết theo thư tịch cổ là cây trà có từ hơn 3000 năm trước tại xứ này.

Trà có nhiều giống, Trà Trung Hoa Camillia Sinensis dùng để sản xuất nhiều hiệu trà nổi tiếng coi như là nơi xuất phát. Năm 1823 người Anh phát hiện cây Trà giống Assam còn gọi là Assamica mà người Ấn Độ đã biết làm thức uống từ hàng ngàn năm trước. Giống Trà này trồng nhiều ở Ấn Độ, Sri Lanka (Tích Lan) và vài nước khác ở Nam Á như Pakistan, vùng vịnh Bangal. Trà Assam (Ấn Độ) có hương vị khác trà Sinensis (Trung Hoa), hơi ngòn ngọt khi pha nước uống và mùi hương dịu dàng cũng khác trà Tàu.

Nhờ người Anh đi tìm thuộc địa thế kỷ 17-18, họ đem Trà thức uống độc đáo này gồm trà Sinensis và Assam phổ biến rộng khắp trên thế giới, gây giống tốt, lập nhiều đồn điền trồng Trà và buôn bán đem lại lợi nhuận không nhỏ.

Một giống Trà trồng nhiều ở Campuchia, Thái được cho là lai giống giửa Trà Sinensis (Trung Hoa) và Assam (Ấn Độ) có tên là Sinensis Paryifolia.

Các nước Đông Á chịu ảnh hưởng Trung Hoa như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, Việt Nam đều có trồng nhiều Trà trên các vùng cao nguyên. Các nước vùng Trung Đông như Iran, Iraq, Pakistan, … cũng có trồng trà.

Cây Trà thích hợp trồng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới có khí hậu ẩm ướt nhưng không được úng nước và nhiều nắng thường ở độ cao từ trên dưới 1500 m nơi tương đối mát mẻ. Tùy theo thổ nhưỡng từng nơi để cây trà phát triển, nếu càng chậm thì nó tích tụ hương vị đậm đà hơn.

Dựa theo cách người ta thu hoạch Trà để phân hạng: Tốt nhất là Trà Búp còn gọi là tà Nõn Tôm, nếu búp trà còn lông tơ mịn nên được gọi là trà bạch mao (lông tơ trắng) hay trà Tuyết. Hạng thứ nhì là “một tôm, một lá” nghĩa là lấy 1 búp và 1 lá kế hoặc 1 búp 2 lá kế. Trà hạng ba là từ lá thứ tư, năm. Những lá dưới nữa là Trà mạn, giá trị thấp nhất, rẻ hơn cả. Thời gian tốt nhất để hái trà là vào tháng 10 và 11 hàng năm. 

Cách pha trà thì các nước gần giống nhau: Dụng cụ, nhiệt độ nước theo từng giai đoạn pha, phải là nước tinh khiết tốt nhất là nước suối trên nguồn, hay nước mưa, ngày nay thì người ta dùng nước lọc tiện dụng hơn. Trước khi pha trà cần dùng nước nóng tráng sơ qua trà để loại các chất cặn bã, tránh mùi hăng khi ướp trà sau đó đổ bỏ không dùng nước này. 

Thưỡng thức trà hai nước Trung Hoa và Nhật Bản rất cầu kỳ trang trọng, còn Việt Nam hoặc các nước khác đơn giản hơn nhưng cũng vẫn giử được nét tinh tuý của nó. 

TIỆC TRÀ CỦA NGƯỜI TRUNG HOA

Ms. …, giới thiệu nghi thức pha trà cung đình Trung Quốc


Nhắc đến Trà thì phải nói đến Trung Hoa vốn có ảnh hưởng quan trọng trong lịch sữ văn hóa lâu đời của họ mà chúng ta cần phải hiểu được lễ nghĩa cơ bản khi thưỡng trà, ở đó có một nền văn hóa thưỡng trà thật đặc sắc.

 

Có vài nghi thức trong tiệc trà chúng ta cần quan tâm khi giao tiếp với người Trung Hoa: Trước tiên là vị trí ngồi, lấy chủ nhân làm điểm chính, từ bên trái gia chủ và theo chiều kim đồng hồ và phải thứ tự theo thứ bậc địa vị của khách hoặc theo tuổi tác đây là nguyên tắc để sắp xếp buổi tiệc trà đều phải tuân theo. 

 

Đạo lễ tiết rất quan trọng của khách là đáp lễ, còn gọi là hồi lễ. Cái gọi là đạo lễ tiết đầu tiên là khi gia chủ pha bình trà đầu tiên, đồng thời mời khách thưởng trà. Nghi thức hồi lễ đầu tiên của khách sẽ như sau: Đứng dậy, cuối đầu, đưa hai tay tiếp nhận ly trà chủ đưa qua rồi mới ngồi xuống. Trước khi uống trà lễ tiết hồi lễ của khách là “khấu chỉ lễ”, còn gọi là “khuất chỉ quỵ” (nắm tay lại để hồi lễ, dùng tay phải, đầu ngón cái hướng về đốt thứ 2 ngón trỏ, quặp thẳng vào ngón trỏ và ngón giữa, dùng mặt ngoài đốt thứ 2 của ngón trỏ và ngón giữa, gõ nhẹ 3 cái xuống mặt bàn trà; Nhìn từ bên hông, sẽ thấy ngón trỏ và ngón giữa khi làm hành động này giống như đôi chân con người đang quỳ). 


Một nguyên tắc khác “Tiên tôn hậu ti, tiên lão hậu thiếu” (Mời bề trên trước mời bề dưới sau, mời người lớn trước, mời kẻ nhỏ sau). Lần châm trà đầu tiên cũng vậy phải theo thứ tự từ lớn đến nhỏ để châm. 


Trong việc rót trà đãi khách cần hiểu điều quan trọng này: “Tửu mãn kính nhân, trà mãn khi nhân” có nghĩa là “Uống rượu rót đầy thì kính khách, uống trà rót đầy thì khinh khách” đây cũng là nguyên tắc lễ nghĩa trong văn hoá thưởng thức trà của người Trung Quốc.


Ngoài các nghi thức lễ tiết ra còn một điểm độc đáo trong tiệc Trà của người Trung Hoa là nghệ thuật rót Trà (châm Trà ra chun đãi khách), không kê vòi bình Trà gần chun mà cầm bình Trà trên cao từ 2-3 tấc, và rót 1 lần duy nhất giọt nước xuống chun cho vừa đủ (khoảng 2/3 chun) và không thể có giọt nước nào bắn ra ngoài. Nghệ thuật thật là điêu luyện! 


Qua những lễ tiết trên, chúng ta có thể thấy rõ sự khác biệt giữa người thưỡng trà và kẻ tửu sắc. 


TRÀ ĐẠO CỦA NGƯỜI NHẬT BẢN



Ms. Fukumi Toyoda Zapp, giới thiệu trà đạo Nhật Bản

Trà đạo, tiếng Nhật: Sadō (茶道), là một nghệ thuật thưởng thức trà trong văn hóa Nhật Bản, Trà đạo được phát triển từ khoảng cuối thế kỷ 12

Theo truyền thuyết của Nhật Bản, có vị cao tăng người Nhật là sư Eisai (1141-1215) sang Trung Hoa để tham vấn học đạo, khi trở về nước ngài mang theo giống trà về trồng trong sân chùa. Sau này chính nhà sư Eisai này đã viết ra cuốn "Khiết Trà Dưỡng Sinh Ký" (Kissa Yojoki), nội dung ghi lại mọi chuyện liên quan tới thú uống trà và ý nghĩa của nó. 

Từ đó đã thu hút rất nhiều người dân Nhật đến với thú uống trà. Họ đã kết hợp thú uống trà với tinh thần Thiền của Phật giáo để nâng cao nghệ thuật thưởng thức trà, phát triển nghệ thuật này trở thành trà đạo (Chado, 茶道).

Trà đạo của người Nhật nhằm hướng dẫn con người làm trong sạch tâm hồn bằng cách hòa mình với thiên nhiên, để tu tâm dưỡng tính đạt giác ngộ. Bốn nguyên tắc cơ bản của Trà đạo gồm: Hòa – Kính – Thanh – Tịch.

(“Hòa” có nghĩa là sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên; sự hòa hợp giữa trà nhân với các dụng cụ pha trà. “Kính” là lòng kính trọng, sự tôn kính đối với người khác, thể hiện sự tri ân cuộc sống. Khi lòng tôn kính với vạn vật đạt tới sự không phân biệt thì tấm lòng trở nên thanh thản, yên tĩnh, thể hiện sự thanh tịnh, đó chính là ý nghĩa của chữ “thanh”. “Tịch” có nghĩa là sự vắng lặng, tĩnh lặng mang đến cho con người giảm giác yên tĩnh, vắng vẻ). 

Trà đạo là một hình thức uống trà trong bầu không gian tĩnh lặng. Mà cả người chủ lẫn khách đều hướng đến sự thư giãn tinh thần và sự hòa hợp với thiên nhiên. Cách pha trà cũng phải theo một nguyên tắc theo từng bước như sau:

  • Bước thứ nhất: 

Nước pha trà – Nước pha trà chỉ khoảng từ 80 độ đến 90 độ không bao giờ lấy nước đang sôi để pha trà. Vì như thế, nước trà sẽ đẹp mắt hơn. 

  • Bước thứ hai: 

Làm ấm dụng cụ pha trà và chén uống trà. Sau đó, sẽ lau khô bằng khăn để sử dụng.

  • Bước thứ ba: 

Pha trà – Thông thường người ta hay sử dụng loại trà xanh trung bình để pha. Với loại trà này, người ta thường pha làm 3 lần:

  1. Chỉ sử dụng nước nóng khoảng 60 độ C để ngâm trà. Với nhiệt độ này, thì phải ngâm trà 2 phút để cho trà ngấm. Để có được nhiệt độ khoảng 60 độ thì người ta phải rót nước sôi từ bình thủy tinh ra một bình trà khác nhằm cho giảm nhiệt độ như yêu cầu để pha trà.


  1. Lúc này khi trà đã ngấm và nở, người pha trà phải dùng nước có nhiệt độ khoảng 80 độ C để pha. Chỉ cần để khoảng 40 giây là có thể rót ra mời khách được.


  1. Cũng pha tương tự như lần 2, chỉ có điều là nước pha ở lần 3 này khoảng 90 độ C.

Lượng nước pha trà của mỗi lẫn sẽ chỉ đủ rót ra cho khách. Không nên pha quá nhiều nước hay ít nước làm chè quá loãng hay quá đặc.

  • Bước thứ 4: 

Rót trà; để tránh tình trạng rót trước rót sau khiến độ đậm nhạt của trà khác nhau. Trước khi mời khách người rót trà lần lượt vào mỗi chén khoảng 1/3 chén. Sau đó sẽ rót lần thứ 2 nhưng không phải rót xuôi mà rót ngược lại. Nhằm mục đích cho vị trà đều ở các chén, sau đó mới đem ra mời khách.

  • Bước thứ năm: 

Uống trà: Để tăng thêm hương vị của trà, nên trong quá trình uống trà, người Nhật thường sử dụng thêm một số loại bánh ngọt. 

Từ đầu đến suốt buổi thiền trà, người pha trà không hề đứng dậy. Tất cả mọi dụng cụ pha trà đều nằm trong tầm tay, phía trước, phía sau và hai bên. Chú ý là phải giử yên lặng, các thao tác pha trà không được phát ra tiếng động hoặc chỉ rất nhỏ.


Tại Nhật Bản, nhiều trường cao đẳng và đại học có “khoa trà đạo”. Đa số sinh viên là nữ giới theo học trà đạo. Ngoài ra, ngày “Văn hóa trà” sẽ được tổ chức vào giữa tháng 10 hàng năm. 

Ý nghĩa đích thực của “Trà đạo” trong văn hoá Nhật Bản được hiểu là “Hoà hợp con người với thiên nhiên qua thao tác pha và uống trà”.

TRÀ VIỆT NAM

Cô Thanh Mai và Mrs Thy Yến giới thiệu trà Việt Nam 

Việt Nam là quốc gia có phong tục uống trà từ rất lâu, trà được sử dụng hàng ngày như một thứ nước giải khát. Dần dần trà đã trở thành phương tiện giao tiếp, mở đầu cho những cuộc gặp gỡ, tiếp đón người thân, bạn bè và đối tác.

Cây trà được du nhập lâu đời từ bên Trung Hoa hàng ngàn năm trước, là thức uống phổ biến mà người Việt Nam ai cũng biết. 

Đến giửa thế kỷ 20 cây Trà được trồng nhiều ở tỉnh Phú Thọ (Miền Bắc) và Quảng Nam (Trung phần), người dân ta lấy lá vò nát nấu nước uống gọi là Trà xanh hay Chè xanh theo tiếng địa phương.

Đến khoảng năm 1924, người Pháp thấy khí hậu trên vùng cao nguyên Trung Phần thích hợp trồng cây công nghiệp này nên họ lập những đồn điền Trà ở Kontum, Pleiku, DarlacĐồng Nai Thượng. Đến đầu thập niên 1930, trà được đem trồng một cách quy mô trên cao nguyên Lao Bảo (B'lao) và Di Linh (Djiring), sau đó  vùng này là nơi sản xuất chính ở Nam Phần. 

Trà là cây công nghiệp có giá trị cao nên cũng bắt đầu trồng ở vùng Thái Nguyên, Hà Giang, Cao Bằng, … Trà xanh, trà Ô longtrà Đen tất cả đều được chế biến từ loài này, nhưng được chế biến (cách ủ trà) ở các mức độ oxy hóa khác nhau. 

Người dân quê thường trồng vài buội cây trà trước sân để lấy lá tươi hoặc sao khô để dành lâu hơn dùng pha thức uống, tùy theo sở thích họ lấy hoa có mùi thơm để ướp có hoa sen (trà sen), trà ngâu (hoa lài, trà lài), có người dùng búp hoa hồng hoặc trái phật thủ ướp trà nữa.

  • Thiền trà trong đạo Phật 


Tìm hiểu về thiền Trà – Cô Ngọc Ruby, Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam 



Uống trà được tổ chức thành tiệc trà trong các buổi họp mặt, gặp gỡ bạn bè, nhưng Thiền Trà là một thứ thiền làm gắn bó tình cảm giữa người với thiên nhiên và giữa người với người.

Trong khi dự thiền trà, chúng ta thấy thoải mái, an lạc và hạnh phúc. Những người đầu tiên biết sử dụng lá chè tàu (Camelia Sinensis) là các vị thiền sư, họ nhận thấy nấu trà này mà uống thì trong người tỉnh táo và ngồi thiền không buồn ngủ. Dần dần, chỉ lá non của cây trà tàu được sử dụng và ướp thành trà. Thiền và Trà đã có duyên với nhau trong lịch sữ cả một ngàn mấy trăm năm. Tại thiền viện nào thiền sinh cũng được uống trà, chú tiểu nào cũng biết pha trà.

CÁC LOẠI TRÀ NỔI TIẾNG CỦA VIỆT NAM

  • Trà cổ thụ Tây Bắc (Trà Shan Tuyết - Camellia sinensis var. Shan) 


Trà cổ thụ Shan Tuyết (Ảnh Internet)

Như chúng ta đã biết vùng Tây Bắc có khí hậu mát mẻ, cây trà nơi đây luôn tươi tốt, nổi tiếng với loại trà Shan Tuyết cổ thụ, nay chỉ còn khoảng 500 cây có tuổi từ 150 năm đến 300 năm, trên đỉnh cao 1.400-1.500m so với mực nước biển là những đồi chè quanh năm sương mù bao phủ. Lượng trà này rất ít, từ công đoạn thu hái và chế biến thủ công bởi những nghệ nhân lão luyện. Trà Shan Tuyết cổ thụ chỉ ở tại Hà Giang chính vì thế nhiều chuyên gia đánh giá đây là loại trà ngon nhất Việt Nam.

Trà Shan Tuyết cũng được gây giống trồng vài nơi khác có điều kiện thổ nhưỡng tương tự như không bảo đãm được chất lượng tốt nhất như ở Hà Giang.

  • Trà xanh Tân Cương (Thái Nguyên)

Trà Tân Cương nổi tiếng trên vùng đất Thái Nguyên. Để tạo ra được những ly trà thơm ngon, đượm vị, đẹp mắt là cả một nghệ thuật trong suốt quá trình chế biến. Từ đó sẽ mang đến những chén trà ngon đủ các yếu tố như “sắc, hương, thần, vị”.

  • Trà sen Tây Hồ 

Nếu bạn sành điệu về trà thì chắc hẳn phải biết đến trà sen Tây Hồ. Trà ướp hương sen thuần khiết thanh nhã cũng là một loại trà đại diện cho văn hóa trà Việt mang đậm linh hồn quốc thể.

  • Trà Ô Long 

Trà Ô Long là loại trà cũng khá phổ biến ở Việt Nam, có nguồn gốc xuất xứ từ loại trà truyền thống của Trung Quốc. Trà có hương thơm ngọt, vị trà thanh chứ không bị chát đượm như một số những loại trà khác. 

  •  Trà Móc Câu 

Do có hình dạng giống như lưỡi câu nên gọi là Trà Móc Câu, cánh trà xoăn, nhỏ, đều được chế biến từ những búp trà non của những cây trà. Búp trà được hái theo nguyên tắc “1 tôm, 1 lá”, luôn được hái nhanh vào khoảng thời gian sáng sớm, thời tiết không nắng gắt hoặc mưa là thời điểm cho chất lượng trà tốt nhất.

  • Trà Thiết Quan Âm - Kỳ chưỡng

Trà Thiết Quan Âm là là loại trà được sản xuất theo quá trình bán lên men, lá trà sau khi được chế biến có đặc điểm như sau: Sợi cong xoắn, kết tròn đầy đặn, nặng chắc đều nhau, màu xanh lục trạch sa, có hương thơm thoang thoãng. Nước trà màu vàng tươi đậm, đẹp tựa hổ phách, có mùi thơm tự nhiên ngào ngạt, vị trà đậm đà dịu ngọt, hậu vị. Giống trà này có nguồn gốc từ Trung Hoa.

  • Trà lài (trà hoa nhài) 

Trà lài hay còn được gọi là trà hoa nhài theo tiếng địa phương miền Bắc, lá trà tươi được ướp cùng với những bông hoa lài, có mùi thơm rất đặc trưng.

Trong trà lài có chứa một lượng cao dầu etheric, có tác dụng tăng cường năng lượng. Lá trà được lấy vào mùa xuân để đảm bảo được độ tươi non, tinh khiết nhất. 

  • Trà trắng 

Trà trắng không phải nước trà khi pha màu trắng mà khi đã chế biến lá chè cuộn và búp chè non vẫn còn trắng mịn. Vị của trà này hết sức thanh tao, đây cũng là loại trà rất được ưa chuộng.

  • Trà Nõn Tôm 

Trà Nõn Tôm là loại trà được chọn hết sức tỉ mỉ theo quy cách 1 tôm 1 lá trên các đồi chè, sạch nhất. Sau đó phải trải qua quá trình chế biến khéo léo bằng phương pháp thủ công bởi các nghệ nhân sao chè chuyên nghiệp.

Điều đặc biệt của loại trà này khi pha nước có màu xanh vàng chỉ cần nhấp một ngụm đầu tiên đã cảm nhận được hương vị thơm ngon lan tỏa, vị chát dìu dịu mà đượm đà.

  • Hồng trà hay trà đen

Hồng trà là loại trà được lên men toàn phần, quá trình oxy hóa khiến lá trà từ màu xanh chuyển sang màu đen nên còn gọi là trà đen. Trà đen được lưu giữ khá lâu và mọi người rất thích uống vì dễ uống và rất tốt cho cơ thể.

Thời công nghiệp hóa, tiện dụng, người ta sản xuất trà trong túi nhỏ để dễ dàng khi pha nước uống, nổi tiếng nhất là thương hiệu Trà Lipton. Tuy nhiện loại trà túi này không thể nào có hương vị và thú vị cho người dùng trà như theo cách cổ điển.

Ngoài ra người ta còn ướp trà kết hợp với hoa và trái cây tạo nên hương vị độc đáo và đẳng cấp thường phổ biến ở các nước Âu Mỹ.  

VÀI MẪU CHUYỆN LINH TINH


  • Trảm mã trà

Tương truyền các bậc quân vương xưa cho bỏ đói con ngựa hai ngày, sau đó buổi sáng cho ngựa ăn thật nhiều búp trà, đến chiều đem con ngựa chặt đầu (trảm mã) mổ lấy bao tử của con ngựa còn chứa nhiều xác trà rồi chế biến theo phương thức đặc biệt để trở thành một thứ trà vang danh thiên hạ: Trảm mã Trà!

  • Chè tam, rượu tứ

Câu "chè tam, rượu tứ" mà người xưa thường hay nói, qua đó cho ta bổ sung thêm kiến thức về văn hoá uống trà của người Việt Nam. 

Câu “Trà Tam Rượu Tứ” bắt nguồn từ một câu tục ngữ Trung Quốc: “Trà Tam, Tửu Tứ, Thích Đà Nhị” (Trà uống nên có ba, Rượu thì nên bốn, còn đi đường xa thì cần có hai. Ba người cùng uống trà, bốn người cùng uống rượu, hai người cùng kết bạn đi trên đường, vậy là đủ.

Cũng có thể hiểu là uống trà không nên uống quá 3 chung, vì lúc đó trà đã nhạt, mất ngon. Còn “rượu tứ” có thể hiểu uống rượu không nên uống quá 4 chun, vì sẽ làm người ta say, gây ra những hậu quả không đẹp. 

Dân Nam Bộ nhà mình thích hài hước nên diễn tả câu “chè tam, rượu tứ” một cách khác, khi uống trà nên có ba người để một người nói hai người kia nghe, bàn luận. Còn uống rượu thì cần bốn người, vì khi “sần sần” rồi ai cũng muốn nói hết nên có một người nói thì phải có một người nghe! 

  • Cây Trà bonsai


Trà Hoa Nữ (Ảnh Internet)

Khi nói đến cây Trà thì nhiều người trong chúng ta nghĩ ngay đến thức uống mà ai cũng biết. Nhưng ít người biết cây trà bonsai, thú vui chơi cây kiểng ngày càng đa dạng và phong phú, cây trà cũng là một trong các cây bonsai có kiểu dáng đẹp làm vật trang trí.

Dòng trà cổ của Việt Nam chủ yếu ở vùng Đông Bắc, có những cây trà lâu năm được rất nhiều người ưa chuộng bởi ngoài vẻ đẹp sang trọng, kiêu sa. Mỗi loại hoa trà lại có một ý nghĩa biểu tượng riêng. Nếu trà bạch tuyết, hồng trà tượng trưng cho sự tinh khiết, thuần khiết cũng như tượng trưng cho sự cao quý. Ngày nay những cây trà cổ bonsai không còn nhiều do người Tàu sang lùng kiếm khắp hang cùn, góc suối!

Người xưa có câu “vua chơi lan, quan chơi trà”, chính vì vậy không phải ngẫu nhiên cây trà được yêu thích từ xưa đến nay. 

  • Cuốn tiểu thuyết Trà hoa nữ (La Dame aux camélias)

La Dame aux camélias là tiểu thuyết của nhà văn Alexandre Dumas con (1824 – 1895, là con của người cha cùng tên Alexandre Dumas lừng danh, tác giả của cuốn tiểu thuyết "Ba chàng lính ngự lâm" được quay thành phim “Ba chàng Ngự lâm Pháo thủ”). Cuốn tiểu thuyết Trà Hoa Nữ được xuất bản lần đầu vào năm 1848, là cuốn tiểu thuyết bán tự truyện dựa trên mối tình ngắn ngủi của tác giả và kỹ nữ Marie Duplessis, có nhắc đến hình ảnh nhân vật nữ gắn hoa trà trên ngực mình để bày tỏ tình cảm. Cuốn tiểu thuyết Trà Hoa Nữ rất nổi tiếng và được dịch ra nhiều ngôn ngữ. 

Trà Châu Á đã lan tỏa khắp năm châu, bốn biển, đi sâu vào đời sống con người từ ẫm thực, văn hóa, phong tục, văn học, nghệ thuật, đến triết lý, đến cả về mặt kinh tế, … Mặc dù có tên là Trà Châu Á (Asia Tea) nhưng ngày nay giá trị của nó đích thực là tài sản của nhân loại! 

Lê Hữu Uy

  • Nguyên Chủ tịch CLB Văn Hóa Việt Nam Arizona (President of Arizona Vietnamese Culture Club)

  • Nguyên Giám đốc Văn hóa Việt Nam trong Hiệp hội người Mỹ gốc Á tại Arizona (Vietnamese Culture Director in Arizona Asian America Association

Arizona, July 09, 2021