Hiển thị các bài đăng có nhãn HHD. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn HHD. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2026

Từ Điệu Vọng Giang Nam - Ôn Đình Quân & Tô Thức


Theo sách “Nhạc phủ tạp lục 樂府雜錄” của Đoàn An Tiết 段安節 đời Đường 唐, thì từ điệu Vọng Giang Nam 望江南 do Lý Đức Dụ李德裕, khi làm quan tại Chiết Tây 浙西, là người đầu tiên đã làm thành từ điệu này. Lý Đức Du đặt tên bài này là ra từ điệu “Tạ Thu Nương 謝秋孃” để tưởng niệm người thiếp quá cố, vốn là một ca kỹ tài hoa mỹ lệ có tên là Tạ Thu Nương. Lý Đức Dụ là một nhà chính trị, quân sự, văn hoc gia đời Đường. Ông đã từng giữ chức vụ tể tướng dưới triều vua Đường Văn Tông 唐文宗.
Thực ra vào thời vua Đương Huyền Tông 唐玄宗, sách Giáo Phườ ng Ký 教坊记 đã chép một khúc điệu có tên là Vọng Giang Nam 望江南 như từ điệu của Lý Đức Dụ. Vậy là Đoàn An Tiết đã sai.

Bài từ của Lý Đức Dụ đã thất truyền nhưng sau đó nhiều người đã điền bài từ này với những tên khác nhau như Ức Giang Nam 憶江南 (Bạch Cư Dị 白居易), Xuân Khứ Dã 春去也 (Lưu Vũ Tích 劉禹錫), Vọng Giang Nam (Ôn Đình Quân 溫庭筠), Mộng Giang Nam 夢江南 (Hoàng Phủ Tùng 皇甫松), Vọng Giang Mai 望江梅 (Lý Dục 李煜) v.v.

Cũng từ sự tích này, hợp với sự tích Đỗ Thu Nương 杜秋娘 của nhà thơ Đỗ Mục 杜牧 mà danh từ “Thu Nương” được giới văn thi sĩ dùng để chỉ phụ nữ mỹ lệ có đàn ca mà ngoài đời gọi là ca kỹ, ca nữ. Họ là những người đàn hát trong các giáo phường hay được những người quyền quý nuôi trong nhà để phục vụ vui chơi giải trí. Bạch Cư Dị đề cập đến “Thu Nương” trong bài thơ Tỳ Bà Hành như một mỹ nhân xinh đẹp:

曲罷曾教善才服,Khúc bãi tằng giao Thiện Tài phục,
妝成每被秋娘妒。Trang thành mỗi bị Thu Nương đố.

Xong khúc đàn từng được ông Thiện Tài khâm phục,
Mỗi khi trang điểm xong thì bị bà Thu Nương ganh tỵ (vì xinh đẹp).

Cũng do bài thơ “Đỗ Thu Nương Thi” của Đỗ Mục mà chữ Thu Nương đôi khi được dùng để chỉ phụ nữ già nua suy nhược.

Ngoài ra thì trong xã hội xưa, giới ca kỹ thường bị đọa đầy trong kiếp phong trần như “Thu Nương” của Chu Bang Ngạn 周邦彥trong bài từ “Bái Tinh Nguyệt拜星月”:

識秋娘庭院。Thức thu nương đình viện.
Biết là đến sân vườn của nàng thu nương.

Từ điệu Vọng Giang Nam thoạt tiên chỉ là đơn điệu với 5 câu, 27 chữ. Mãi đến đời Tống mới có song điệu gồm 2 phần đơn điệu ghép lại.

Dưới đây là 2 bài đơn điệu của Ôn Đình Quân và 1 bài song điệu của Tô Thức.

望江南 - 溫庭筠 Vọng Giang Nam – Ôn Đình Quân

Kỳ 1

千萬恨, Thiên vạn hận,
恨極在天涯。 Hận cực tại thiên nhai.
山月不知心裏事, Sơn nguyệt bất tri tâm lý sự,
水風空落眼前花。 Thủy phong không lạc nhãn tiền hoa.
搖曳碧雲斜。 Dao duệ bích vân tà.

Kỳ 2

梳洗罷, Sơ tẩy bãi,
獨倚望江樓。 Độc ỷ vọng giang lâu.
過盡千帆皆不是, Quá tận thiên phàm giai bất thị,
斜暉脈脈水悠悠。 Tà huy mạch mạch thủy du du.
腸斷白蘋洲。 Trường đoạn bạch tần châu.

Chú Thích

1 Cách luật của bài từ Vọng Gian Nam 望江南 đơn điệu. Bài này có 27 chữ, 3 bình vận:

B X T cú

X T T B B vận
X T X B B T T cú
X B B T T B B vận
B T T B B vận

2 Hận 恨: hận biệt ly.
3 Thiên nhai天涯: chân trời, ở nơi xa.
4 Tâm lý sự 心裏事: tâm sự, chuyện lòng, việc lòng.
5 Thủy phong 水風: nước và gió.
6 Không 空: chỉ có, toàn là.
7 Nhãn tiền 眼前: trước mắt.
8 Dao duệ 摇曳: dao đãng摇荡, nhè nhẹ phiêu đãng.

9 Bích vân 碧雲: ý nghĩa cơ bản của chữ này là mây xanh hoặc những đám mây trên nền trời xanh. Trong văn chương cổ chữ này thường dùng chỉ phương trời xa, nơi chân trời, trong hoàn cảnh biệt ly đoạn tình. Chữ bích vân xuất hiện đầu tiên trong bài thơ Hưu Thượng Nhân oán biệt 休上人怨别 (bài thơ oán biệt theo phong cách của Hưu Thượng Nhân tức Thang Huệ Hưu湯惠休) của Giang Yêm 江淹thời Nam Bắc Triều 南北朝:

日暮碧云合,Nhật mộ bích vân hợp, Trời chiều mây mầu tụ tập,
佳人殊未来。Giai nhân thù vị lai. Người đẹp còn chưa đến.

Trong bài Tô Mạc Già 蘇幕遮 của Phạm Trọng Yêm 范仲淹thì chữ “Bích vân thiên 碧雲天” là bầu trời xanh biếc.
Trong bài này chữ Bích Vân chỉ những đám mây mầu phiêu đãng lúc hoàng hôn.

10- Tà 斜= tà huy 斜暉: ánh sáng của mặt trời khi ngả về tây.
11- Sơ tẩy 梳洗: chải đầu, rửa mặt, trang điểm.
12- Độc ỷ 獨倚: một mình tựa cửa hay tựa lan can.
13- Vọng giang lâu 望江楼: căn lầu hướng mặt trước dòng sông.
14- Thiên phàm千帆: hàng ngàn chiếc thuyền buồm.
15- Giai 皆: đều.
16- Tà huy 斜晖: ánh sáng lúc mặt trời sắp lặn.
17- Mạch mạch 脉脉: ý nói ánh dương quang yếu ớt như chan chứa tình cảm muốn thố lộ.
18- Thủy du du 水悠悠: dáng vẻ ưu sầu tư lự hoặc là dáng vẻ tự nhiên hoặc là vẻ xa xăm, mãi mãi.
19- Trường đoạn 肠断: đau lòng.
20- Bạch tần 白蘋: một thứ cỏ mọc trong nước nhô lên khỏi mặt nước. Ngày xưa nam nữ thường hái hoa bạch tần để tặng nhau khi đi xa.
Châu 洲: đất bồi giữa ao hồ hay sông.

Dịch Nghĩa

Kỳ 1

Nghìn vạn mối hận lòng.
Mối hận vô cùng ra đến tận xa xôi (nơi chàng ở)
Vầng trăng trên ngọn núi đâu có biết tâm sự của thiếp,
Giữa cảnh nước và gió chỉ có những bông hoa rơi rụng trước mắt thiếp.
(Xa xa) Vầng mây mầu phiêu đãng trong cảnh hoàng hôn.

Kỳ 2

Chải đầu rửa mặt đã xong,
Một mình tựa cửa căn lầu nhìn dòng sông.
Điểm qua hết nghìn cánh buồm mà đều không phải (thuyền của anh về),
Ánh sáng tà huy yếu ớt đượm tình, nước vẫn chẩy lững lờ muôn thuở.
Nhìn những ngọn cỏ bạch tần mọc trên cồn giữa sông mà thấy đau lòng.

Phỏng Dịch

1.Vọng Giang Nam - Ước Tương Phùng

Ngàn vạn hận,
Hận mãi chốn xa xôi.
Trăng núi biết đâu tâm sự ấy,
Ngước nhìn trong gió nước hoa rơi.
Mây tím tận chân trời.

Xong trang điểm,
Tựa cửa ngắm dòng sông.
Nghìn cánh buồm về chàng chẳng thấy,
Tà huy u ám nước mênh mông,
Ly biệt cảnh đau lòng.

2. Ước Tương Phùng

Vạn ngàn hận, chốn xa xôi,
Núi trăng đâu biết tình tôi vơi đầy.
Cảnh gió nước, cánh hoa rơi,
Hoàng hôn phiêu đãng vừng mây sắc mầu.

Trang điểm xong, tựa cửa lầu,
Vọng xa sông nước thấy đâu buồm chàng.
Tà huy u ám mênh mang,
Đau lòng ly biệt cỏ tràn bến sông.

HHD 
11-2019

望江南 - 蘇軾 Vọng Giang Nam – Tô Thức
·超然臺作 Siêu Nhiên Đài tác


春未老, Xuân Vị Lão,
風細柳斜斜。 Phong tế liễu tà tà.
試上超然臺上看, Thí thướng Siêu Nhiên Đài thượng khán,
半壕春水一城花。 Bán hào xuân thủy nhất thành hoa.
煙雨暗千家。 Yên vũ ám thiên gia.

寒食後, Hàn thực hậu,
酒醒卻咨嗟。 Tửu tỉnh khước tư ta.
休對故人思故國, Hưu đối cố nhân tư cố quốc,
且將新火試新茶。 Thả tương tân hỏa thí tân trà.
詩酒趁年華。 Thi tửu sấn niên hoa.

Chú Thích

1- Cách luật bài từ Vọng Giang Nam song điệu, gồm 2 bài Mộng Giang Nam ghép lại:

B X T cú

X T T B B vận
X T X B B T T cú
X B X T T B B vận
X T T B B vận

B X T cú
X T T B B vận
X T X B B T T cú
X B X T T B B vận
X T T B B vận

2- Siêu Nhiên Đài 超然台: xây trên cổng bắc của thành Mật Châu 密州, lên đài có thể nhìn quanh toàn thành.
3- Phong tế 風細: gió nhẹ.
4- Hào 壕: ngòi nước đào vòng quanh chân thành.
5- Yên vũ 煙雨: hình dung trận mưa trông từ xa.

6- Hàn Thực 寒食: lễ tiết ngày xưa, trước tiết Thanh Minh清明 một hoặc hai ngày. Tương truyền ở nước Tấn 晉 trong thời chiến quốc, người Giới Tử Thôi 介子推 đã giúp Tấn Văn Công Trùng Nhĩ 晉文公重耳 đoạt được ngôi vị. Sau đó ông vào ẩn cư ở núi Miên Sơn 绵山. Tấn Văn Công triệu tập nhiều lần không được bèn phóng hỏa đốt rừng, Giới Tử Thôi không chịu ra và bị thiêu chết. Tấn Văn Công hối hận nên ra lệnh rằng: từ đây về sau, ngày Giới Tử Thôi chết là ngày cấm lửa, mọi nguồn lửa phải dập tắt, mọi nhà chỉ được ăn cơm nguội đã nấu từ trước nên gọi là tiết Hàn Thực.

7- Tư ta 咨嗟: than vãn, than thở.
8- Cố nhân 故人: chỉ quan thông phán 通判 ở Mật Châu là Triệu Thành Bá趙成伯, bạn với Tô Thức.
9- Cố quốc 故国: chỉ cố hương.
10- Tân hỏa 新火: Trong tiết Hàn Thực thì cấm lửa. Sau đó sẽ dùng gỗ du liễu 榆柳 mà đánh lửa mới, vì vậy gọi là “Tân Hỏa”.
11- Tân trà 新茶: chỉ lá trà hái trước tiết Thanh Minh nên còn gọi là Minh Tiền Trà 明前茶.
12- Niên hoa 年華: tuổi trẻ.

Dịch Nghĩa

Ghi chú của tác giả: làm khi ở trên Siêu Nhiên Đài.

Xuân chưa già (chưa hết mùa xuân),
Gió nhè nhẹ, cành liễu nghiêng nghiêng.
Thử lên trên Siêu Nhiên Đài xem,
Nửa hào nước xuân, đầy thành hoa.
Mưa khói bao phủ ngàn nhà.

Sau tiết Hàn Thực,
Tỉnh rượu rồi thì lại than thở không thôi (vì nhớ quê hương).
Đang đứng trước người bạn cũ chớ nên tưởng nhớ cố hương,
Hãy đem lửa mới nhóm mà nấu bình “Tân trà”.
Còn trong tuổi niên hoa nên nhân đó mà uống rượu, làm thơ. (tận hưởng tuổi trẻ).

Phỏng Dịch

1- Vọng Giang Nam - Tuổi Niên Hoa


Xuân chưa lão,
Gió nhẹ liễu la đà.
Thử bước lên Siêu Đài vọng ngóng,
Nửa hào thu thủy một thành hoa.
Mưa khói ám ngàn nhà.

Sau Hàn thực,
Tỉnh rượu lại lo ra.
Đừng trước cố nhân mơ cố quốc.
Hãy đem lửa mới nấu bình trà.
Thơ rượu tuổi niên hoa
.

2- Tuổi Niên Hoa

Mùa xuân còn đấy chưa tàn,
Phất phơ làn gió mơn man liễu cành.
Siêu Nhiên Đài vọng nhìn quanh,
Nửa hào thu thủy một thành sắc hoa.
Khói mưa bao phủ ngàn nhà,
Vừa xong hàn thực say ngà tửu bôi,
Tỉnh ra than thở không thôi,
Đừng mơ cố quốc trước người bạn xưa.
Hãy đem tân hỏa đầu mùa,
Nấu bình trà mới, niên hoa tuổi đời,
Hồn thơ chén rượu không vơi.


HHD 
5 - 2026
***
1-Vọng Giang Nam, Ôn Đình Quân

Muôn vàn hận
Hận nhất tại cuối trời
Trăng núi chẳng hay tâm sự thiếp
Ngước nhìn gió nước chỉ có hoa rơi
Biếc mây chiều xa xôi.

Xong trang điểm
Mình tựa lầu ngóng sông
Điểm nghìn buồm qua đều không phải
Nắng chiều đăm đăm, nước mênh mông
Cồn tần trắng đau lòng

2- Ngóng trông chàng

Hận muôn vàn, cuối trời hận biệt.
Núi trăng cao lòng thiếp nào hay
Gió nước chỉ thấy hoa bay
Hoàng hôn phiêu đãng vầng mây cuối trời

Điểm trang xong, lầu sông đứng tựa
Chẳng phải anh, về giữa muôn thuyền
Lững lờ nước, nắng chiều xiên
Cồn sông tần trắng đảo điên thắt lòng!

Lộc Bắc
Jui26

1- Vọng Giang Nam, Tô Thức

Xuân chưa hết
Gió nhẹ liễu tà tà
Thử lên Siêu Nhiên Đài mà ngắm
Nửa hào xuân nước khắp thành hoa
Mưa bụi phủ ngàn nhà

Sau Hàn Thực
Rượu tỉnh thở than ra
Trước cố nhân không buồn cố quốc
Thử nhen lửa mới nấu tân trà
Thơ rượu hưởng tuổi hoa

2- Tuổi hoa

Xuân chưa già, liễu nghiêng nhẹ gió
Bước lên đài thử ngó gần xa
Nửa hào xuân nước thành hoa
Mưa bay khói phủ muôn nhà bình an

Sau Hàn Thực thở than rượu tỉnh
Gặp cố nhân. không tính chuyện nhà
Nhen lửa mới, nấu tân trà
Ngâm thơ cùng rượu tuổi hoa hưởng tràn!

Lộc Bắc
Jui26

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2026

Bồ Tát Man 菩薩蠻 - Ôn Đình Quân (Kỳ 5)

  

Bồ Tát Man 菩薩蠻là tên một khúc nhạc của Đường Giáo Phường 唐教坊, về sau dùng làm tên từ bài. Sự kiện này có liên quan tới phái đoàn tiến cống của nước “Nữ Man Quốc女蠻國” vào thời vua Đường Tuyên Tông 唐宣宗. Sử liệu rất lờ mờ về vị trí của tiểu quốc này, chỉ biết họ thuộc về Thái tộc 傣族 hay Miến Điện tộc 緬甸族 chi đó. Nữ Man Quốc không phải là “Đông Nữ Quốc 東女國” (tên khác là Tây Khương 西羌) theo chế độ mẫu hệ, lại càng không phải là Tây Lương Nữ Quốc 西梁女國, một nước hư cấu trong truyện Tây Du Ký 西遊記.

Sách “Đỗ Dương Tạp Biên 杜陽雜編 quyển hạ” của Tô Ngạc 蘇鄂 đời Đường chép rằng “Vào năm đầu niên hiệu Đại Trung 大中 (Đường Tuyên Tông) Nữ Man Quốc đem tiến cống nhiều phẩm vật quý giá. Người nước này búi tóc cao, đội mũ kim quan, đeo xâu chuỗi ngọc (trông giống như hình Bồ Tát Trong sách Phật Giáo) vì vậy gọi là Bồ Tát Man. Lúc đó các nhạc công giỏi (Của Đường Giáo Phường) bèn chế ra khúc nhạc gọi là Bồ Tát Man”. Các văn thi sĩ cũng hát và điền từ thành từ bài Bồ Tát Man.

Lại có thuyết nói rằng vào đời Đường tục xưng mỹ nữ là “Bồ Tát”. Do đó khi người Nữ Man Quốc đến thì được gọi là “Bồ Tát Man” và Đường Giáo Phường cũng đồng thời sáng tác ra điệu nhạc Bồ Tát Man

Sách Tống Sử phẩm Nhạc Chí (宋史·樂志) chép rằng Bồ Tát Man là tên của đội múa nữ (女弟子舞队). Không rõ đội nữ múa này có phải là cống phẩm của Nữ Man Quốc?

Sách Linh Mặc Tân Tiên 零墨新箋 của Dương Hiến Ích 楊憲益, xuất bàn khoảng 1940, nhận định Bồ Tát Man là khúc nhạc cổ của Miến Điện, do ngả Vân Nam 雲南 du nhập vào Trung Nguyên.

Vào thời Ngũ Đại五代, có vị Triệu Sùng Tộ 趙崇祚sưu tập Đường Thi Đường Từ, chép thành 10 quyển đặt tên là “Hoa Gian Tập花間集”, trong đó quyển 1 chép 14 bài Bồ Tát Man của Ôn Đìng Quân. Từ của Ôn Đình Quân được liệt vào “Hoa Gian Phái花間派”, thường viết về khuê trung thiếu nữ, khuê oán, tình cảm nam nữ, phong cảnh ưu mỹ, lời lẽ hoa lệ, nùng diễm, kỹ lưỡng.

Ôn Đình Quân 溫庭筠 vốn tên là Kỳ 岐, tên chữ là Phi Khanh 飛卿. Ông quê ở Thái Nguyên Kỳ太原祁 (nay là Kỳ huyện祁縣, tỉnh Sơn Tây 山西, TH) là thi Nhân, từ nhân đời Đường. Ông thi tiến sĩ nhiều lần không đậu, chung thân bất đắc chí nhưng lại có thiên tài về Thi, Từ. Về Thi, ông được ngang danh với Lý Thương Ẩn 李商隱, về Từ, ông ngang danh với Vi Trang 韋莊. Người đời sau sưu tập hơn 70 bài từ chép thành “Ôn Phi Khanh Tập 溫飛卿集” và “Kim Liêm Tập 金奩集”.

Trong bài này, xin cống hiến quý bạn bài Bồ Tát Man kỳ 5 của Ôn Đình Quân.

菩薩蠻 - 溫庭筠 Bồ Tát Man - Ôn Đình Quân Kỳ 5

杏花含露團香雪,Hạnh hoa hàm lộ đoàn hương tuyết,
綠楊陌上多離別。Lục dương mạch thuợng đa ly biệt.
燈在月朧明, Đăng tại nguyệt lung minh,
覺來聞曉鶯。 Giác lai văn hiểu oanh.

玉鉤褰翠幕, Ngọc câu khiên thúy mạc,
妝淺舊眉薄。 Trang thiển cựu my bạc.
春夢正關情, Xuân mộng chính quan tình,
鏡中蟬鬢輕。 Kính trung thiền mấn khinh.

Chú Thích

1 Bồ tát man 菩薩蠻: tên từ điệu, gồm 44 chữ, 2 đoạn, mỗi đoạn 4 câu, 2 trắc vận và 2 bình vận. Có 3 cách luật đươc ghi nhận. Cách luật thông dụng nhất chiếu theo bài “Bình lâm mạc mạc yên như chức 平林漠漠煙如織” của Lý Bạch 李白 (hoặc Vô Danh thị):

Câu 1 và 2 có vận trắc, mỗi câu có 7 chữ.
X B X T B B T (trắc vận),
X B X T B B T (vận).

Câu 3 và 4 có vận bằng, mỗi câu có 5 chữ.
X T T B B (bằng vận),
X B X T B (vận).

Câu 5 và 6 có vận trắc, mỗi câu có 5 chữ.
X B B T T (đổi trắc vận),
X T X B T (vận).

Câu 7 và 8 có vận bằng, mỗi câu có 5 chữ,
X T T B B (đổi bằng vận),
X B X T B (vận).

X = bất luận; B = bình thanh; T = trắc thanh.

2 Hạnh hoa 杏花: hoa của cây hạnh nhân hoặc một loại hoa đào, có đào hồng, đào bạch.
3 Hàm lộ含露: đọng sương, có giọt sương trong hoa đóa.
4 Hương tuyết 香雪:hoa hạnh mầu trắng nên gọi là hương tuyết.
5 Đoàn 團: viên, tròn. Đoàn hương tuyết 團香雪: chỉ những khóm hạnh hoa.
6 Lục dương 綠楊: lá xanh của cây dương liễu.
7 Mạch thượng 陌上: trên đường.
8 Ly biệt 離別: chia tay, người đi kẻ ở.
9 Lung minh 朧明:ánh trăng mông lung mờ ảo.
10 Giác lai 覺來: tỉnh lại, tỉnh giấc.
11 Ngọc câu 玉鉤: cái móc bằng ngọc để treo màn.
12 Khiên 搴: kéo lên.
13 Thúy mạc 翠幕: màn cửa, rèm xanh, rèm hoa lệ.
14 Trang thiển 妝淺: trang điểm xơ xài.
15 Cựu my bạc 舊眉薄: my mắt trang điểm ngày hôm qua, hôm nay đã bạc mầu.
16 Xuân mộng 春夢: giấc mộng mùa xuân thường ám chỉ những cuộc vui ngắn ngủi.
17 Quan tình 關情 = quan tâm 關心.
18 Kính trung 鏡中: nhìn trong gương, soi gương.
19 Thiền mấn 蟬鬢: 1 kiểu tóc của phụ nữ ngày xưa như hình cánh ve sầu do 1 vị cung nhân của Ngụy Văn Đế Tào Phi 魏文帝曹丕 là Mạc Quỳnh Thụ 莫瓊樹 sáng chế ra.
20 Khinh 輕 = bạc薄: mỏng.

Dịch Nghĩa

Từng cụm hoa hạnh còn đọng những hạt sương,
Trên con đường trồng cây dương liễu xanh thường là nơi ly biệt nhau.
Ánh đèn ở dưới ánh sáng trăng mông lung,
Tỉnh lại nghe tiếng chim oanh hót buổi sáng.

Cái móc bằng ngọc treo cái màn xanh thúy,
Trang điểm xơ xài hôm qua, hôm nay đã bạc mầu.
Tình cảnh trong giấc mộng xuân gây nên tình tự đầy vơi.
Soi gương thấy mái tóc chải kiểu cánh ve sầu đã thưa thớt.

Phỏng Dịch:

1. Bồ Tát Man - Giấc Mộng Xuân

Chùm hoa sương đọng trắng như tuyết,
Đầu đường dương liễu xanh ly biệt.
Đèn sáng dưới trăng thanh,
Tỉnh ra nghe tiếng oanh.

Màn xanh treo móc ngọc,
Son phấn cũ phai bạc.
Xuân mộng giấc tình mơ,
Mầu guơng mái tóc thưa.

2. Giấc Mộng Xuân

Hạnh hoa tuyết trắng đọng sương,
Biệt ly buồn mấy con đường liễu xanh.
Ánh đèn mờ tỏ trăng thanh,
Tỉnh ra nghe tiếng chim oanh gọi đời.

Móc ngọc màn thúy buông lơi,
Phấn son ngày cũ nhạt phai tháng ngày.
Mộng xuân một giấc tình say,
Mầu gương soi bóng tóc mây thưa dần.

HHD
4- 2019
***
Bồ Tát Man, Kỳ 5- Ôn Đình Quân

Hoa hạnh ngâm sương, khối hương tuyết
Liễu xanh trên đường nhiều ly biệt
Đèn dưới trăng lung linh
Tỉnh sớm nghe tiếng oanh

Móc ngọc treo màn biếc
Điểm sơ, mi giờ nhạt
Mộng xuân chút tình xưa
Trong gương búi tóc thưa

Song thất lục bát:

Hạnh ngậm sương, trắng tinh bông tuyết
Đường liễu xanh ly biệt tiêu sơ
Đèn le lói, chiếu trăng mờ
Sớm mai oanh hót tỉnh mơ mộng sầu

Rèm lụa thêu ngọc câu xanh biếc
Điểm trang sơ, giờ nét nhạt phai
Mộng xuân tình cũ đầy vơi
Kiểu ve tóc bới gương soi thưa dần!

Lộc Bắc
Mai26
***
Xuân Mộng

Hạnh hoa sương đọng trắng phau
Liễu xanh ly biệt gợi bao lối buồn
Đèn mờ dưới ánh trăng suông
Tỉnh ra nghe tiếng chim muông gọi ngày

Màn xanh móc ngọc lơi cài
Điểm trang xưa nhạt giờ phai sắc màu
Mộng xuân tỉnh giấc canh thâu
Soi gương kiểu tóc ve sầu dần thưa


Kim Oanh

5.2026

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2026

Dạ Hợp Hoa - Sử Đạt Tổ - ( 夜合花 - 史達祖 )


夜合花 - 史達祖 Dạ Hợp Hoa - Sử Đạt Tổ

柳鎖鶯魂, Liễu tỏa oanh hồn,
花翻蝶夢, Hoa phiên điệp mộng,
自知愁染潘郎。 Tự tri sầu nhiễm Phan lang.
輕衫未攬, Khinh sam vị lãm,
猶將淚點偷藏。 Do tương lệ điểm thâu tàng.
念前事, Niệm tiền sự,
怯流光, Khiếp lưu quang,
早春窺、酥雨池塘。Tảo xuân khuy, tô vũ trì đường.
向消凝裏, Hướng tiêu ngưng lý,
梅開半面, Mai khai bán diện,
情滿徐妝。 Tình mãn từ trang.

風絲一寸柔腸, Phong ty nhất thốn nhu trường,
曾在歌邊惹恨, Tằng tại ca biên nhạ hận,
燭底縈香。 Chúc để oanh hương.
芳機瑞錦, Phương cơ thụy cẩm,
如何未織鴛鴦。 Như hà vị chức uyên ương.
人扶醉, Nhân phù túy,
月依墻, Nguyệt y tường,
是當初、誰敢疏狂!Thị đương sơ, thùy cảm sơ cuồng!
把閑言語, Bả nhàn ngôn ngữ,
花房夜久, Hoa phòng dạ cửu,
各自思量。 Các tự tư lương.

Chú Thích


1- Dạ hợp hoa夜合花: tên từ bài. Bài này có 100 chữ, bình vận. Cách luật:

X T B B cú
X B X T cú
T B B T B B vận
X B T T cú
B X T T B B vận
X X T cú
T B B vận
T X X, X T B B vận
X B B T cú
X B X T cú
X T B B vận

B X X T B B vận
X T B B T T cú
X T B B vận
X X T T cú
X B X T B B vận
X X T cú
T B B vận
T X X, X T B B vận
T B B T cú
X B T T cú
B T B B vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần

2- Tỏa 鎖: che lấp
3- Oanh hồn 鶯魂: hồn chim oanh, phiếm chỉ chim oanh.
4- Điệp mộng 蝶夢: cảnh trong mộng.
5- Phan lang 潘郎: tức là Phan Nhạc 潘岳 hay Phan Nhạc 潘嶽, người đời Tấn 晉, rất đẹp trai. Người đời sau dùng chữ Phan Lang để chỉ người tình đẹp trai.
6- Lãm 攬: cầm, nắm. Tác giả muốn nói lãm khấp 攬泣 gạt nước mắt hay lãm thế 攬涕 gạt lệ, huy lệ.
7- Lưu quang 流光: thời gian đi vùn vụt như nước chẩy.
8- Khuy 窺: phiếm chỉ “kiến見”: thấy, quan sát.

9- Tô vũ 酥雨: mưa bụi mờ mịt. Lấy chữ từ bài thơ “Tảo xuân trình thủy bộ Trương thập bát viên ngoại早春呈水部張十八員外: Xuân sớm trình lên quan Thủy bộ viên ngọai lang họ Trương thứ mười tám (tức Trương Tịch張籍)” của Hàn Dũ韓愈:
天街小雨潤如酥,Thiên nhai tiểu vũ nhuận như tô,
草色遙看近卻無。Thảo sắc dao khan cận khước vô.

Mưa nhỏ làm những con đường kinh đô trơn nhuận như váng sữa.
Mầu cỏ nhìn xa như thành 1 phiến, lại gần thì thưa thớt như không.

10- Trì đường池塘 = trì đường池溏: ao hồ.
11- Tiêu ngưng 消凝 = tiêu hồn ngưng thần 銷魂凝神, ý nói vì cảm thương nên xuất thần. Lấy chữ từ bài từ “Dạ bán nhạc 夜半樂” của Liễu Vĩnh 柳永:
對此佳景,Đối thử giai cảnh, Trước cảnh đẹp này,
頓覺銷凝,Đốn giác tiêu ngưng, Chợt cảm thấy tiêu hồn ngưng thần,
惹成愁緒。Nhạ thành sầu tự. Gây ra nỗi sầu.

12- Từ trang 徐妝 = Từ phi bán diện trang 徐妃半面妝: bà Từ phi trang điểm một nửa mặt. Vì vậy chữ “Từ trang” hàm ý trang điểm một nửa mặt, lấy chữ từ câu thơ của Lý Thương Ẩn 李商隱 trong bài thơ tuyệt cú “Nam Triều 南朝”:

“休誇此地分天下,Hưu khoa thử địa phân thiên hạ,
只得徐妃半面妝” 。Chỉ đắc Từ phi bán diện trang.

Chớ khoe đất này chia đôi được thiên hạ,
Chỉ có được bà Từ phi trang điểm nửa mặt.

Hậu thế dùng chữ từ trang để chỉ thiếu nữ mỹ mạo.

Sách “Nam sử Lương Nguyên Đế Từ Phi truyện 南史梁元帝徐妃傳” chép rằng bà Từ Phi 徐妃 chỉ trang điểm có một nửa mặt mỗi khi phải gặp nhà vua để khi thị chồng bị chột một mắt. Bà Từ Chiêu Bội 徐昭佩, quê ở huyện Đông Hải Đàm東海郯 nay thuộc thị trấn Viêm Thành Bắc剡城北, tỉnh Sơn Đông山東, TH, con gái của quan Thị Trung Tín Võ Tướng Quân Từ Côn 侍中信武將軍徐琨 tại Lương Triều, năm 16 tuổi bị gả cho cho Tương Đông Vương Tiêu Dịch 湘東王蕭繹 làm Vương Phi 王妃 (Sau này Tiêu Dịch lên ngôi tức Lương Nguyên Đế, vương tử Tiêu Phương 蕭方 và Ích Xương công chúa Tiêu Hàm Trinh 益昌公主蕭含貞 là con của bà). Khi động phòng bà mới biết chồng bà bị chột một mắt. Từ đó bà sinh bất mãn chê chồng tàn tật. Về sau bà sa vào nghiện rượu và ngoại tình dâm loạn. Khi biết được hoàng đế sắp bắt tội, bà nhẩy xuống giếng tự tận.

13- Phong ty 風絲: gió nhẹ, do bài thơ “Thiên Tân kiều vọng xuân 天津橋望春” của Ung Đào雍陶:

津橋 春水浸紅霞,Tân kiều xuân thủy xâm hồng hà,
煙柳風絲拂岸斜。Yên liễu phong ty phất ngạn tà.

Dưới cầu Thiên Tân, nước xuân tràn ngập ráng mây hồng,
Cành liễu nhiều như khói phất phơ trên bờ nghiêng trước làn gió nhẹ.

14- Nhu trường 柔腸: ruột mềm, chỉ tình cảm triền miên.
15- Nhạ hận 惹恨: đụng chạm đến mối hận lòng.
16- Chúc để oanh hương 燭底縈香: mùi hương vấn vít quanh cái giá cắm nến.
17- Phương cơ 芳機: chỉ cái khung cửi.
18- Thụy cẩm 瑞錦: gấm mầu sắc được dệt ra với hoa văn rồng phượng đẹp đẽ.
19- Uyên ương 鴛鴦: chỉ đôi tình nhân hay vợ chồng yêu nhau.
20- Nhân phù túy人扶醉: người đứng dựa vì say.
21- Đương sơ 當初: lúc mới bắt đầu hoặc chỉ lúc xưa hoặc chỉ chuyện gì đó trong quá khứ.
22- Sơ cuồng 疏狂: chỉ nhiệm ý, không bị câu thúc.
23- Nhàn ngôn ngữ 閑言語: những lời nói bình thường trong sinh hoạt hoặc là những lời vô nghĩa. Thị đương sơ, thùy cảm sơ cuồng, bả nhàn ngôn ngữ 是當初、誰敢疏狂, 把閑言語: ý nói lúc xưa, ai dám nhiệm ý ngỏ lời thề non hẹn biển với nhau. Cũng có người nói chữ “Nhàn ngôn ngữ” ám chỉ những lới thề nguyền ngày xưa nay thành vô nghĩa.

24- Hoa phòng 花房: tức khuê phòng 閨房: nơi phụ nữ ở.
25- Tư lương 思量: suy tư, suy nghĩ.

Dịch Nghĩa

Bụi liễu che lấp chim oanh.
Bướm lượn trên hoa như cảnh trong mộng,
Tự biết sầu đã nhiễm trên mái tóc chàng trai anh tuấn như Phan lang.
Chưa nâng vạt áo mỏng lên lau mắt,
Để âm thầm che giấu giọt lệ.
Nghĩ đến chuyện xưa,
Kinh khiếp vì thời gian đi nhanh,
Đã thấy tảo xuân, mưa bụi giăng giăng trên ao hồ (hoăc là trong lúc tảo xuân tôi quan sát mưa bụi giăng trên ao hồ).
Tâm hồn tan nát tinh thần ngưng đọng,
Hoa mai chớm nở,
Hàm tình như thiếu nữ mỹ mạo.

Gió nhè nhẹ gợi lên mối nhu tình,
Đã từng tại ca xướng mới gây ra mối hận (của tôi),
Mùi hương thơm quấn quanh dưới cây nến.
Khung cửi tốt đẹp dệt ra gấm mầu sắc long phụng,
Tại sao chưa dệt ra đôi uyên ương.
Tôi một mình uống rượu say sưa,
Ánh trăng chiếu trên tường,
Đó là lúc trước, ai dám nhiệm ý không câu thúc.
Thề non hẹn biển thì nay cũng thành những lời vô nghĩa.
Trải đêm dài trong phòng hoa,
Mỗi người tự mình suy tư.

Phỏng Dịch

1 Dạ Hợp Hoa – Dang Dở

Liễu khóa hồn oanh,
Hoa vờn bướm mộng,
Biết rằng chàng vướng sầu thương.
Chưa che áo mỏng,
Thầm giấu giọt lệ buồn vương.
Nhớ chuyện cũ,
Sợ thời gian.
Thấy xuân sớm, mưa bụi hồ đường.
Phách hồn ngưng kết,
Chớm hoa mai nở,
Mỹ mạo cô nương.

Gió mơn man nỗi tình trường.
Mối hận này ca xướng ấy,
Nến giá vờn hương.
Khung dệt gấm vóc,
Sao chưa dệt cánh uyên ương.
Say đứng dựa,
Trăng trên tường.
Chính lúc xưa, ai dám ngông cuồng.
Ngỏ lời vô nghĩa,
Phòng hoa đêm vắng,
Mình tự suy lường.


2 Dang Dở

Liễu dương ẩn hiện hồn oanh,
Hoa vờn cánh bướm mộng thành xôn xao.
Tình nhân sầu bạc mái đầu,
Áo thưa chưa kéo giọt châu ngỡ ngàng.

Nghĩ chuyện xưa, sợ thời gian,
Xuân về chớm thấy mưa giăng ao hồ.
Ngưng thần lạc phách hồn mơ,
Hoa mai mới nở tình thơ mỹ miều.

Gió khơi một tấc lòng yêu,
Vì chưng ca hát mới chiêu hận lòng.
Khói hương quấn quít nến hồng,
Gấm hoa khung cửi dệt xong tình trường.

Tại sao không dệt uyên ương?
Say sưa đứng dựa bức tường dưới trăng.
Khi xưa ai dám vội vàng,
Thề nguyền vô nghĩa, lỡ làng lứa đôi.

Phòng hoa đêm trải canh dài,
Suy tư hai nẻo đường đời hai nơi.


HHD 
6-2023
***
Dạ Hợp Hoa

1-

Liễu giữ hồn oanh
Hoa lay mộng bướm
Tự biết nhiễm sầu chàng Phan
Áo mỏng chưa gạt
Âm thầm dấu lệ tuôn tràn
Nhớ chuyện cũ
Sợ thời gian
Mưa bụi trên hồ, thấy xuân sang
Phách ngưng hồn nát
Hoa mai chớm nở
Tình đầy điểm trang

Một mối tình mềm gió vương
Từng bên hát ca mang hận
Dưới nến hương loang
Cửi xinh gấm đẹp
Tại sao chưa dệt uyên ương?
Say người đỡ
Trăng chiếu tường
Đó khi xưa, ai dám luông tuồng?
Vu vơ lời nói
Phòng hoa đêm trải
Mỗi người vấn vương.



2- Lỡ Làng

Liễu che oanh, hoa lay mộng bướm
Tự biết rằng sầu vướng chàng Phan
Áo thưa dấu lệ tuôn tràn
Chuyện xưa nhớ lại thời gian hãi hùng

Thấy xuân sang, hồ cùng mưa mát
Phách đọng ngưng, hồn nát tả tơi
Hoa mai chớm nở nơi nơi
Hàm tình thiếu nữ rạng ngời điểm trang

Cơn gió thoảng, tình vương một mối
Đã từng bên ca rỗi hận mang
Hương thơm dưới nến nhẹ loang
Cửi xinh gấm đẹp bẽ bàng uyên ương

Rượu say sưa, trên tường trăng rõi
Ai khi xưa dám nói luông tuồng
Thề non hẹn biển giờ buông
Phòng hoa đêm trải, vấn vương riêng mình!


Lộc Bắc
Mar26


Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2026

Dao Hoa Mạn 瑶花慢 – Chu Mật - 周密



Tựa

Hoa quỳnh quý Dương Châu, Hậu thổ
Khắp thế gian không có loài này
Lúc mới nở, bình vàng bày
Quan cho ngựa tiến như bay cung vàng
Một cành biếu các nhà sang
Một cành biếu khách quá giang xe rồng…!!


瑶花慢 - 周密 Dao Hoa Mạn – Chu Mật

後土之花⑵,
天下無二本。
方其初開,
帥臣以金甁飛騎,
進之天上⑶,
間亦分致貴邸。
餘客輦下,
有以一枝······

Hậu thổ chi hoa, thiên hạ vô nhị bản. Phương kỳ sơ khai, soái thần dĩ kim bình phi kỵ, tiến chi thiên thượng, gian diệc phân trí quý để. Dư khách liễn hạ, hữu dĩ nhất chi…

朱鈿寶玦, Chu điền bảo quyết, 
天上飛瓊, Thiên thượng phi quỳnh,
比人間春別。 Tỷ nhân gian xuân biệt.
江南江北, Giang nam giang bắc,
曾未見、漫擬梨雲梅雪。 Tằng vị kiến, mạn nghĩ lê vân mai tuyết.
淮山春晚, Hoài sơn xuân vãn, 
問誰識、芳心高潔。 Vấn thùy thức, phương tâm cao khiết.
消幾番、花落花開, Tiêu kỷ phiên, Hoa lạc hoa khai,
老了玉關豪傑。 Lão liễu Ngọc quan hào kiệt.

金壺翦送瓊枝, Kim hồ tiễn tống quỳnh chi,看一騎紅塵, Khán nhất kỵ hồng trần,
香度瑤闕。 Hương độ Dao khuyết.
韶華正好, Thiều hoa chính hảo,
應自喜、初識長安蜂蝶。 Ưng tự hỉ, sơ thức Trường An phong điệp.
杜郎老矣, Đỗ lang lão hỉ,
想舊事、花須能說。 Tưởng cựu sự, hoa tu năng thuyết.
記少年、一夢揚州, Ký thiếu niên, nhất mộng Dương Châu,
二十四橋明月。 Nhị thập tứ kiều minh nguyệt.

Chú Thích

1- Dao hoa mạn 瑶花慢: tên từ bài, tên khác là “Dao hoa 瑶華”, “Dao hoa mạn 瑶華慢”. Bài này có 102 chữ, vần trắc. Cách luật:

B B X T vận
X T B B cú
T X B B T vận
B B X T cú
X T T, X T B B B T vận
B B X T cú
T X T, B B B T vận
X X B, B T B B cú
T T X B B T vận

X B X T B B cú
T X T B B cú
X T B T vận
B B T T cú
B T T, X T X B B T vận
T B X T cú
T T T, B B B T vận
T T X, X T B B cú
T T X B B T vận

2- Hậu Thổ 後土: ngôi đền Hậu Thổ ở Dương Châu.
3- Phương kỳ 方其: chính lúc, chính khi.
4- Soái thần 帥臣: quan to, chủ tướng, thống soái.
5- Thiên thượng 天上: hoàng cung.
6- Gian 間: giữa lúc đó.
7- Quý để 貴邸: nhà của bậc vương hầu quyền quý.
8- Liễn 輦: chỉ kinh đô. Liễn hạ 輦下: chốn kinh sư. Chữ "liễn 輦" cũng chỉ cái càng xe (ám chỉ cái xe), hoặc xe của vua.
9- Chu điền 朱鈿: trang sức vật quý đẹp.
10- Bảo quyết 寶玦: ngọc quý.
11- Phi quỳnh 飛瓊: tên một thị nữ của Tây Vương Mẫu 西王母 là Hứa Phi Quỳnh 許飛瓊, chỉ tiên nữ.
12- Mạn 漫: chớ, đừng.
13- Lê vân mai tuyết 梨雲梅雪: hoa lê đẹp như mây và hoa mai nở trong tuyết.
14- Hoài sơn 淮山: chỉ núi Đô Lương sơn 都梁 山bên bờ sông Hoài Thủy 淮水, nay thuộc huyện Hu Di 盱眙t ỉnh Giang Tô 江蘇, TH, biên giới phía bắc của nước Nam Tống 南宋.
15- Phương tâm 芳心: tấc lòng.
16- Tiêu kỷ phiên 消幾番: chịu đựng mấy phen.
17- Lão liễu 老了: già rồi.
18- Ngọc quan 玉關: ngọc môn quan 玉門關 ở phía bắc nước TH.
19- Kim hồ 金壺: bình đựng rượu bằng vàng.
20- Tiễn tống quỳnh chi 翦送瓊枝: cắt cành quỳnh đưa tặng.

21- Nhất kỵ hồng trần 一騎紅塵: mượn chữ trong bài thơ “Quá Hoa Thanh cung tam tuyệt kỳ 1 過華清宮三絕其一” của Đỗ Mục 杜牧:

長安回望繡成堆,Trường An hồi vọng tú thành đôi,
山頂千門次第開。Sơn đỉnh thiên môn thứ đệ khai.
一騎紅塵妃子笑,Nhất kỵ hồng trần phi tử tiếu,
無人知是荔枝來。Vô nhân tri thị lệ chi lai.

Từ Trường An nhìn về (cảnh sắc Lệ sơn như) cảnh thêu chồng chất,
Trên đỉnh núi, ngàn cánh cửa (Hoa Thanh cung) theo thứ tự mở ra.
Một người cưỡi ngựa tung bụi đến, quý phi nhoẻn miệng cười,
Không ai biết rằng (đó là) quả vải (của quý phi) đã đến.

22- Hương độ 香度: mùi thơm lan tỏa đến.
23- Dao khuyết 瑶闕: tiên cung, nơi tiên ở.
24- Thiều hoa 韶華: thời gian tốt đẹp trong đời.
25- Ưng 應: nên, phải.
26- Sơ thức 初識: mới biết lần đầu. Bản khác chép “Sơ loạn 初亂= mới loạn lên”.
27- Phong điệp 蜂蝶: ong và bướm, chỉ những người trân quý hoa quỳnh.
28- Đỗ lang 杜郎: tức Đỗ Mục 杜牧, tác giả tự ví mình.
29- Nhất mộng Dương Châu 一夢揚州: mượn câu thơ trong bài Khiển hoài 遣怀 của Đỗ Mục杜牧:

十年一覺揚州夢,Thập niên nhất giác Dương Châu mộng,
赢得青樓薄幸名。Doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh.

Mười năm chợt tỉnh giấc mộng ở Dương Châu,
Nhận được cái tên là kẻ bạc tình trong chốn thanh lâu.

30- Nhị thập tứ kiều 二十四橋: có thuyết nói là 24 cây cầu ở Dương Châu 揚州. Lại có thuyết nói là tên một cây cầu ở Dương Châu do gia đình họ Ngô 吳 thiết lập còn có tên là Hồng Dược Kiều 紅葯橋. Xưa kia nơi đây đã từng có 24 vị cô nương đến thổi tiêu. Đỗ Mục 杜牧 đã viết bài thơ “Ký Dương Châu Hàn Xước Phán Quan 寄揚州韓綽判官: gửi vị Phán quan Hàn Xước ở Dương Châu” trong đó có câu:

二十四橋明月夜,Nhị thập tứ kiều minh nguyệt dạ,
玉人何處教吹箫?Ngọc nhân hà xứ giáo xuy tiêu?

Đêm trăng sáng ở cầu Nhị Thập tứ,
Người Ngọc từ đâu đến thổi tiêu?

Dịch Nghĩa

Ghi chú của tác giả: Hoa (quỳnh) của ngôi đền Hậu Thổ ở Dương Châu, thiên hạ không có giống thứ hai. Lúc mới nở, các quan to cắm vào bình vàng phi ngựa đi dâng hoàng đế, trong khi đó cũng chia cho các nhà quý phái. Khách đi theo xe cũng được một cành (hoặc những người ở chốn kinh sư cũng được chia 1 cành...).

Kim thoa trang sức đỏ, ngọc quyết quý,
Tiên nữ ở trên trời,
Nét xuân sắc khác biệt so với người trần gian.
Tại Giang nam và Giang bắc,
Chưa từng thấy, đừng nghĩ (hoa quỳnh chỉ) là (như) hoa lê đẹp như mây hay hoa mai nở trong trời tuyết.
Ở Đô Lương sơn bên cạnh sông Hoài Thủy đã đến cuối xuân,
Hỏi ai biết, tấc lòng (hoa quỳnh) cao khiết.
Qua mấy phen, hoa rụng hoa nở,
Các vị hào kiệt ở ải Ngọc Quan đã già rồi.

Cắt cành quỳnh cắm vào bình vàng đưa đi tặng,
Hãy nhìn một vị cưỡi ngựa lấm bụi trần,
Mùi thơm tỏa đến cung Dao Đài (nơi tiên cảnh).
Xuân quang chính lúc tốt đẹp,
(Hoa quỳnh) nên tự vui, mới biết đến những kẻ yêu hoa ở Trường An.
Chàng Đỗ lang (tức là tác giả) đã già rồi vậy,
Nghĩ chuyện xưa, hoa có thể nói ra (vì đã trông thấy chuyện xưa của tôi).
Nhớ lúc tuổi trẻ, thời sinh hoạt ở Dương Châu như một giấc mộng,
(Lúc đó) cầu Nhị Thập Tứ chìm trong ánh trăng sáng.

Phỏng Dịch


1 Dao Hoa Mạn - Quỳnh Hoa

Thoa vàng ngọc quyết.
Tiên nữ trên trời,
Sánh hoa trần phân biệt.
Miền nam miền bắc,
Chưa được thấy, chớ nghĩ lê mây mai tuyết.
Hoài sơn xuân cuối,
Hỏi ai biết, tâm hồn cao khiết.
Qua mấy phen, hoa nở hoa rơi,
Già cỗi Ngọc quan hào kiệt.

Bình vàng cắt cắm cành quỳnh,
Thấy một ngựa bụi mờ,
Đem đến Cung khuyết.
Thời quang chính tốt,
Nên tự vui, ong bướm Trường An vừa biết.
Đỗ lang lão cỗi,
Nghĩ chuyện cũ, hoa từng nghe hết.
Nhớ tuổi trẻ, giấc mộng Dương Châu,
Nhị thập tứ cầu phơi nguyệt.

2 Quỳnh Hoa


Thoa vàng ngọc quyết trên trời,
Nàng tiên so với người đời khác xa.
Miền nam miền bắc mọi nhà,
Chưa từng thấy đóa quỳnh hoa trong đời.

Kể chi mai tuyết lê mây,
Hoài sơn xuân muộn hỏi ai cao vời.
Mấy phen hoa nở hoa rơi,
Già nua hào kiệt bên trời Ngọc quan.

Cắt cành quỳnh cắm bình vàng,
Hồng trần kỵ mã lên đàng dâng hoa.
Hương thơm Tiên cảnh chan hòa,
Thời gian tươi đẹp nhân gia yên bình.

Nên tự vui đóa hoa quỳnh,
Lần đầu biết kẻ yêu mình Trường An.
Bây giờ già lão Đỗ lang,
Chuyện xưa tưởng nhớ thời gian xóa mờ.

Hoa quỳnh làm chứng ngày thơ,
Thiếu niên khi ấy mộng mơ đời mình.
Dương Châu sinh hoạt lầu xanh,
Cầu nhị thập tứ nguyệt minh ngày nào!


HHD 
12-2023
***
1- Dao Hoa Mạn, Chu Mật

Thoa hồng ngọc quyết
Quỳnh tiên trên trời
Với cõi đời khác biệt
Giang nam, giang bắc
Chưa từng thấy, chỉ ví lê mây mai tuyết
Hoài sơn xuân hết
Hỏi ai biết, tấc lòng cao khiết
Qua mấy phen, hoa nở hoa rơi
Già rồi Ngọc quan hào kiệt

Cắt quỳnh tặng cắm bình vàng
Nhìn kỵ mã bụi trần
Hương lan Dao khuyết
Tuổi xuân đúng độ
Nên tự vui, Trường An bướm ong mới biết
Già rồi lão Đỗ
Nghĩ chuyện xưa, hoa thể nói hết
Nhớ tuổi trẻ, giấc mộng Dương châu
Nhị Thập Tứ cầu dưới nguyệt


2- Quỳnh Hoa

Quỳnh trên trời, thoa hồng ngọc quyết
So nét xuân khác biệt cõi trần
Giang nam, giang bắc toàn phần
Chưa từng, cứ ngỡ mây vờn tuyết mai

Đô Lương sơn- sông Hoài xuân hết
Hỏi ai hay cao khiết tấc lòng
Hoa rơi hoa nở bao vòng
Ngọc quan hào kiệt phần đông đã già!

Cắm nhánh quỳnh bình ngà tặng dữ
Hãy nhìn xem kỵ mã bụi hồng
Dao đài lan tỏa hương nồng
Tuổi xuân đúng độ hình dong tuyệt trần

Vui mới biết Trường An ong bướm
Chàng Đỗ già, hoa muốn kể mau
Thiếu niên giấc mộng Dương Châu
Nhị thập tứ cầu dưới nguyệt sáng soi!


Lộc Bắc

Feb26


Thứ Ba, 17 tháng 2, 2026

Khúc Du Xuân 曲游春 – 周密 Chu Mật


Chúc Mừng Năm Mới Bính Ngọ
Kính chúc quý vị cao niên và các bạn một mùa xuân và năm mới tuyệt vời.
Nhân dịp xuân về xin mời quý hân hữu thưởng thức bài từ Khúc Du Xuân của Từ Gia Chu Mật.
Thân Kính,
Hồ Hoàng Điệp

曲游春-周密 Khúc Du Xuân – Chu Mật

禁煙湖上薄遊,
施中山賦詞甚佳,
余因次其韻。
蓋平時遊舫,
至午後則盡入裏湖,
抵暮始出斷橋,
小駐而歸,
非習於遊者不知也。
故中山亟擊節余
「閒卻半湖春色」之句,
謂能道人之所未云。

Cấm yên hồ thượng bạc du, 
Thi Trung Sơn phú từ thậm giai, dư nhân thứ kỳ vận. 
Cái bình thời du phảng, chí ngọ hậu tắc tận nhập Lý hồ, để mộ thủy xuất Đoạn kiều, tiểu trú nhi quy, phi tập ư du giả bất tri dã. Cố Trung Sơn cức kích tiết dư “nhàn khước bán hồ xuân sắc” chi cú, vị năng đạo nhân chi sở vị vân.

禁苑東風外, Cấm uyển đông phong ngoại,
颺暖絲晴絮, Dương noãn ty tình nhứ,
春思如織。 Xuân tứ như chức.
燕約鶯期, Yến ước oanh kỳ,
惱芳情偏在, Não phương tình thiên tại,
翠深紅隙。 Thúy thâm hồng khích.
漠漠香塵隔, Mạc mạc hương trần cách,
沸十里、亂絲叢笛。Phí thập lý, loạn ty tùng địch.
看畫船、盡入西泠,Khán họa thuyền, tận nhập Tây Linh,
閒卻半湖春色。 Nhàn khước bán hồ xuân sắc.

柳陌, Liễu mạch,

新煙凝碧。 Tân yên ngưng bích.
映簾底宮眉, Ánh liêm để cung mi,
隄上游勒。 Đê thượng du lặc.
輕暝籠寒, Khinh mính lung hàn,
怕梨雲夢冷, Phạ lê vân mộng lãnh,
杏香愁冪。 Hạnh hương sầu mịch.
歌管酬寒食。 Ca quản thù hàn thực.
奈蝶怨、良宵岑寂。Nại điệp oán, lương tiêu sầm tịch.
正滿湖、碎月搖花,Chính mãn hồ, toái nguyệt dao hoa,
怎生去得? Chẩm sinh khứ đắc?

Chú Thích

1- Khúc Du Xuân曲遊春: tên từ bài, sáng tác từ đời Tống, có 102 chữ, trắc vận. Cách luật:

X T B B T cú
T X B B T cú
B T B T vận
T T B B cú
T X B X T cú
X B B T vận
T T B B T vận
X T T, T B B T vận
T T B, T T B B cú
B X T X B T vận

T T vận
B B X T vận
T X T B B cú
B T B T vận
X T B B cú
X B B T T cú
X B B T vận
X T B B T vận
T T T, X B X T vận
T T B, T T B B cú
[[X T X T B B cú]]
X B T T vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần

2- Cấm yên 禁煙 = cấm yên hỏa 禁煙火: không nấu nướng. Vào tiết hàn thưc 寒食 (ăn lạnh) thì mọi người ăn thức ăn nguội đã nấu sẵn từ trước, vì vậy nói cấm đun nấu.
3- Bạc du 薄遊 = du 遊: du ngoạn, chữ bạc 薄 dùng làm chuyển ngữ, vô ý nghĩa.
4- Thi Trung Sơn 施中山: Thi Nhạc 施嶽,tự là Trung Sơn 中山, giỏi âm luật, bạn của tác giả.
5- Phú từ 賦詞: làm bài từ.
6- Thứ vận 次韻: họa vận
7- Cái 蓋: Siêu việt, trội hơn, át hẳn.
8- Du phảng 遊舫 = du thuyền遊船。
9- Lý Hồ 裏湖: xung quanh Tây Hồ ở Hàng Châu 杭州 có 5 bộ phận nhỏ là Lý Tây hồ裏西湖, Tây Lý hồ 西裏湖, Tiểu Nam hồ 小南湖, Nhạc hồ 岳湖 và Bắc Lý hồ 北裏湖. Chữ Lý hồ ám chỉ “Lý Tây hồ” hoặc là “Tây Lý hồ”.
10 - Để mộ 抵暮: đến chiều.
11- Đoạn kiều 斷橋: tên cây cầu ở Hàng Châu.
12- Kích tiết 擊節: tán thưởng.
13- Cấm uyển 禁苑: vườn thượng uyển, ám chỉ cung đình.
14- Dương 颺: gió thổi bay cao.
15- Noãn ty tình nhứ 暖絲晴絮 = ôn noãn hựu tình lãng đích ty nhứ温暖又晴朗的絲絮: nhánh liễu ấm áp và khô ráo, hoặc là cành tơ liễu trong ngày ấm áp và tạnh ráo.
16- Xuân tứ 春思: tình cảm đối với ngày xuân.
17- Yến ước oanh kỳ 燕約鶯期: nam nữ yêu đương hẹn hò với nhau.
18- Phương tình 芳情: có thể hiểu là “Mỹ hảo đích tình hoài 美好的情懷: tình cảm mỹ hảo”, hoặc là “Nùng tình mật ý 濃情蜜意: tình ý nồng thắm”.
19- Thiên 偏 = đặc biệt 特别, rất.
20- Thúy thâm hồng khích翠深紅隙: sâu trong cành lá và qua khe hở những bông hoa, chỉ nơi hẹn hò của các tình nhân.
21- Não phương tình thiên tại, thúy thâm hồng khích 惱芳情偏在,翠深紅隙 = não phương tình, thiên tại thúy thâm hồng kích 惱芳情, 偏在翠深紅隙: nồng tình mật ý đều tại sâu trong bụi cây hoa lá.
22- Mạc mạc 漠漠: phân bố dầy đặc. Cách隔: che lấp.
23- Phí 沸: sôi sục. Ý nói tiếng người huyên náo sôi sục.
24- Loạn ty tùng địch 亂絲叢笛: loạn dây đàn và rừng sáo, tiêu. Đàn sáo vang lừng.
25- Họa thuyền畫船: thuyền sang trọng.
26- Tây Linh 西泠 = Tây Linh kiều 西泠橋: tên một cây cầu ở Tây Hồ 西湖, Hàng Châu, TH.
27- Nhàn khước 閒卻 = không nhàn 空閒, nhàn hạ 閒暇, nhàn. Nhàn khước bán hồ xuân sắc 閒卻半湖春色 = bán hồ xuân sắc chi nhàn khước 半湖春色之閒卻: cái nhàn hạ của nửa hồ xuân sắc.
28- Liễu mạch 柳陌: con đường trồng cây liễu.
29- Liêm để cung mi 簾底宮眉: người cung nữ trong rèm. Tác giả chỉ những người đẹp ở trong lầu khi ấy.
30- Du lặc 遊勒: người cưỡi ngựa đi du ngoạn.
31- Khinh mính 輕暝: hơi tối, chạng vạng.
32- Lê vân mộng 梨雲夢: trong mộng thấy hoa lê nhiều như mây. Người Trương Bang Cơ 張邦基 tự là Tử Hiền子賢, đời Tống宋, soạn ra bộ sách “Hắc Trang Mạn Lục 墨莊漫錄” gồm 10 quyển, quyển thứ sáu chép bài ca “Mộng Khán Lê Hoa Vân Ca 夢看梨花雲歌” của Vương Kiến 王建 đời Đường 唐, trong đó có câu:

薄薄落落霧不分,bạc bạc lạc lạc vụ bất phân,
夢中喚作梨花雲。mộng trung hoán tác lê hoa vân.
Mỏng mỏng tích lũy như sương trông không rõ,
Trong mộng gọi là đám mây hoa lê.

33- Mịch 冪: che trùm, bao trùm, che đậy.
34- Ca quản 歌管: ca hát và hòa nhạc.
35- Thù 酬: báo đáp, thực hiện ý nguyện.
36- Hàn thực 寒食: tiết ăn cơm nguội, không nấu nướng.
37- Nại 奈 = vô nại無奈: không cách nào.
38- Sầm tịch岑寂: cô đơn tịch mịch.
39- Chính 正: chính lúc này.
40- Toái nguyệt 碎月: ảnh của mặt trăng như tan vỡ trên sóng nước.
41- Chính mãn hồ, toái nguyệt dao hoa: chính lúc này toàn hồ, (sóng làm cho) bóng trăng tan vỡ và bóng hoa lay động. Bản khác chép “Chính nhiệm toái nguyệt dao hoa 正恁醉月搖花: chính lúc mặc cho trăng vỡ hoa lay”.
42- Chẩm sinh 怎生 = chẩm dạng 怎樣: sao? thế nào?

Dịch Nghĩa

Ghi chú của tác giả: Đi du ngoạn trên hồ trong tiết hàn thực. Thi Trung Sơn làm một bài từ thật hay. Vậy tôi họa một bài. Du thuyền lúc bình thời, đến xế trưa thì tiến vào Lý Hồ. Lúc hoàng hôn mới thong thả đi ra Đoạn Kiều, dừng lại một tí rồi mọi người tự đi về. Những người không quen đi chơi hồ thì không hiểu tình hình này. Vì vậy Thi Trung Sơn nhiều lần nhiệt liệt tán thưởng câu từ của tôi “Nhàn khước bán hồ xuân sắc”, rằng câu này có thể nói lên được những cảnh sắc mà ông ta chưa nói đến.

Gió xuân ngoài cung đình,
Gió thổi nhánh tơ liễu trong ngày ấm tạnh,
Ý xuân như dệt.
Thời kỳ hẹn ước (của tình nhân),
Ý thắm tình nồng,
Đều tại nơi khóm cây hoa lá.
Dầy đặc bụi thơm che bầu trời,
Mười dặm sôi sục, tiếng đàn sáo loạn xạ.
Nhìn đám thuyền hoa đều vào hết vùng Tây Lãnh kiều,

Nửa hồ xuân sắc nhàn hạ.
Con đường trồng liễu.
Khói mới bay lên ngưng đọng thành mầu xanh biếc.
Ánh chiếu những người đẹp ở trong rèm,
Và những người khách cưỡi ngựa ở trên đê.
Ánh sáng mờ nhạt (như) bao trùm vẻ lạnh,
Chỉ sợ như mộng cảnh hoa lê dầy đặc như mây lạnh lẽo,
Mùi hoa hạnh (thoảng qua tăng thêm) vẻ buồn tịch mịch.
Tiếng đàn hát trong ngày lễ hàn thực.
Cánh bướm cũng phải mai oán đêm lành tịch mịch (ngày lễ đã hết).
Toàn khu hồ chính lúc này, sóng lăn tăn làm ánh trăng tan vỡ và bóng hoa lay động.
(Cảnh đẹp như thế này) làm sao tôi bỏ đi được?

Phỏng Dịch

1 Khúc Du Xuân - Cảnh Hồ Tây

Thượng uyển xuân đưa gió,
Ấm tạnh cành tơ liễu,
Xuân tứ như dệt.
Ước hẹn thời kỳ,
Thắm nồng bao tình ý,
Khóm cây hoa vết.
Ngột ngạt hương thơm cách.
Mười dặm sủi, sáo hò đàn hét.
Thấy họa thuyền, tiến đến Tây Linh,
Nhàn hạ nửa hồ xuân sắc.


Liễu mạch.

Khói lên mầu bích
Ánh cung nữ sau rèm,
Trên đê ngựa bạch.
Mờ tối hàn vây,
Sợ hoa lê lạnh lẽo,
Hạnh hương sầu kết.
Ca hát tiết hàn thực.
Ngại bướm oán, đêm thanh cô tịch.
Chính khắp hồ, nguyệt vỡ hoa lay,
Làm sao bỏ được?


2 Cảnh Hồ Tây

Gió xuân vi vút ngoài cung,
Nhánh khô cành ấm sánh cùng bay cao.
Ý xuân như dệt thanh tao,
Yến oanh hẹn ước xôn xao ý tình.

Cành hoa khóm lá đẹp xinh,
Bụi thơm bay khắp trời xanh mịt mù.
Sục sôi mười dặm lu bù,
Vang lừng ca hát, vi vu quản huyền.

Tây Linh vào hết họa thuyền
Nửa hồ xuân sắc triền miên thanh nhàn.
Hàng cây liễu rủ bên đàng,
Khói lên xanh biếc, ánh màn mỹ nhân.

Trên đê cưỡi ngựa du xuân,
Lạnh lùng chạng vạng xa gần bủa vây.
Sợ hoa lê nhiễm lạnh đầy,
Trong mơ lại tưởng như mây trắng ngần.

Hạnh hương sầu kết mấy phần,
Nhân mùa hàn thực gẩy đàn thổi tiêu.
Đêm về bướm oán cô liêu,
Giữa hồ nguyệt vỡ sóng đều hoa lay.
Đi không đành, cảnh đẹp thay!


HHD

11- 2024
***
Khúc Du Xuân, Chu Mật

1/

Gió xuân ngoài vườn cấm
Nắng ấm bay bông liễu
Ý xuân như dệt
Hẹn ước yến oanh
Nao lòng tình ý thắm
Biếc sâu, hồng khép
Mờ mịt bụi thơm cách
Mười dặm sôi, loạn âm đàn địch
Nhìn thuyền hoa vào hết Tây Linh
Bỏ trống nửa hồ xuân sắc

Liễu mạch

Khói lên tụ biếc
Cung nữ bóng hắt rèm
Trên đê du khách
Mờ tối lạnh bầy
Sợ hoa lê mây lạnh
Hương hạnh sầu mịch
Đàn hát lễ hàn thực
Bướm cũng oán đêm lành đã hết
Lúc khắp hồ trăng vỡ hoa lay
Làm sao cất bước?

2/
Tây Hồ

Gió xuân vườn cấm cõi ngoài
Trời quang bông liễu tung bay khắp trời
Ý xuân như dệt con thoi
Yến oanh hẹn ước rong chơi thỏa lòng

Nao nao tình ý thắm nồng
Cành sâu bụi khép thong dong thỏa tình
Phấn thơm mờ mịt hương trinh
Rộn ràng đàn sáo hoa đình dặm xa

Tây Linh vào hết thuyền hoa
Nửa hồ xuân sắc bỏ qua, vắng người
Khói lên đường liễu xanh tươi
Hắt rèm cung nữ, ngựa ngời trên đê

Chiều buông hơi lạnh tràn về
Sợ hoa lê lạnh, sầu kề hạnh hương
Lễ Hàn thực, đàn hát vương
Đêm lành dần hết bướm thương lạc loài

Khắp hồ trăng vỡ hoa lay
Làm sao cất bước lúc này cho đang?

Lộc Bắc
Fev26

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2026

Tề Thiên Nhạc 齊天樂 - 王沂孫 Vương Nghi Tôn



Xin Chân Thành Cảm Tạ Quý Vị Độc Giả của “Tống Từ” trong 6 Năm Qua.300 Bài Tống Từ Chú Giải

Bài 300

Vương Nghi Tôn 王沂孫 tự là Thánh Dữ 聖與, hiệu là Bích Sơn 碧山 và Trung Tiên 中仙, quê quán ở Cối Kê 會稽 (nay là thị trấn Thiệu Hưng紹興市, tỉnh Chiết Giang浙江, TH). Vào đầu thời kỳ nhà Nguyên 元朝ông đã từng giữ chức vụ “Học Chính學正” ở Khánh Nguyên Lộ 慶元路 (Nay là thị trấn Ninh Ba寧波市, tỉnh Chiết Giang浙江, TH). Ông thường vãng lai vùng Hàng Châu杭州, Thiệu Hưng, giao du xướng họa với bọn Chu Mật 周密, Trương Viêm 張炎, Tưởng Tiệp 蔣捷. Từ của ông thường là vịnh vật, cảm khái với thời cuộc, lời văn chải chuốt, ôm mối hờn vong quốc. Ông còn để lại bộ “Bích Sơn Nhạc Phủ 碧山樂府” hay còn gọi là “Hoa Ngoại Tập 花外集”.


齊天樂 - 王沂孫 Tề Thiên Nhạc – Vương Nghi Tôn

蟬                              Thiền

一襟餘恨宮魂斷, Nhất khâm dư hận cung hồn đoạn,
年年翠陰庭樹。 Niên niên thúy âm đình thụ.
乍咽涼柯, Sạ yết lương kha,
還移暗葉, Hoàn di ám diệp,
重把離愁深訴。 Trùng bả ly sầu thâm tố,
西窗過雨。 Tây song quá vũ.
怪瑤佩流空, Quái dao bội lưu không,
玉箏調柱。 Ngọc tranh điều trụ.
鏡暗妝殘, Kính ám trang tàn,
為誰嬌鬢尚如許。 Vi thùy kiều mấn thượng như hứa.

銅仙鉛淚似洗, Đồng tiên diên lệ tự tẩy,
嘆攜盤去遠, Thán huề bàn khứ viễn,
難貯零露。 Nan trữ linh lộ.
病翼驚秋, Bệnh dực kinh thu,
枯形閲世, Khô hình duyệt thế,
消得斜陽幾度? Tiêu đắc tà dương kỷ độ?
餘音更苦。 Dư âm cánh khổ.
甚獨抱清商, Thậm độc bão thanh thương,
頓成悽楚? Đốn thành thê sở?
謾想薰風, Mạn tưởng huân phong,
柳絲千萬縷。 Liễu ty thiên vạn lũ.

Chú Thích

1- Tề thiên nhạc 齊天樂: tên từ bài, tên khác là “Thánh thọ tề thiên nhạc mạn 聖壽齊天樂慢”, “Đài thành lộ 臺城路”, “Ngũ phúc giáng trung thiên 五福降中天”, “Như thử giang sơn如此江山”. Bài này có 102 chữ, đoạn trước 10 câu, đoạn sau 11 câu. Cách luật:
X B X T B B T cú

B X T B X T vận
X T B B cú
X B X T cú
X T X B X T vận
X B X T vận
T X T B B cú
X B B T vận
X T B B cú
X B X T T B T vận

X B X T X T cú
T B B T T cú
X X B T vận
X T B B cú
X B X T cú
X T B B X T vận
X B X T vận
T X X B B cú
T B B T vận
X T B B cú
T B B T T vận

2- Thiền 蟬: ve sầu
3- Nhất khâm 一襟: tràn ngập tấc lòng.
4- Cung hồn 宮魂: tức là hồn của Tề vương hậu. Sách “Cổ kim Chú 古今注” quyển hạ của Thôi Báo 崔豹 đời Tấn 晉 chép rằng:
“Ngưu Hanh vấn viết: ‘Thiền danh Tề nữ giả, hà dã?’ Đáp viết: ‘Tề vương hậu phẫn nhi tử, thi biến vi thiền, đăng đình thụ, huệ lệ nhi minh, Vương hối hận. Cố thế danh thiền viết Tề nữ dã’牛亨問曰: ‘蟬名齊女者,何也?’答曰: ‘齊王后忿而死,尸變爲蟬,登庭樹,嘒唳而鳴,王悔恨。故世名蟬曰齊女也。” (Ông Ngưu Hanh hỏi rằng: “Ve sầu được gọi là Tề nữ, là sao vậy?” Đáp rằng: “Tề vương hậu phẫn uất mà chết, thây biến thành ve sầu, bay lên cây trong sân, rơi lệ mà kêu, vua hối hận, Vì thế gọi ve sầu là Tề Nữ vậy”).

Đoạn trên không nói vì sao mà Tề vương hậu phẫn uất nhưng điển tích này thường trên thi từ đàn xuất hiện. Ví dụ như Lý Thương Ẩn 李商隱 trong bài Hàn Hoành Xá Nhân tức sự 韓翃舍人即事 (Truyện kể về quan Trung Thư Xá Nhân 中書舍人 Hàn Hoành) có thơ rằng:

鳥應悲蜀帝,Điểu ưng bi Thục đế, Chim (cuốc) là buồn Thục đế,
蟬是怨齊王。Thiền thị oán Tề vương. Ve sầu thì oán Tề vương.

5- Thúy âm 翠陰 = lục âm 綠蔭: lùm lá cây xanh.
6- Yết 咽: nức nở.
7- Lương kha 涼柯:cành cây trong mùa thu.
8- Ám diệp 暗葉: lá cây um tùm, u ám.
9- Ly sầu 離愁: nỗi sầu vì ly biệt.
10- Tây song 西窗: cửa sổ phía tây. Lấy chữ từ bài thơ “Dạ vũ ký bắ c夜雨寄北” của Lý Thương Ẩn 李商隐:

何當共剪西窗燭,Hà đương cộng tiễn tây song chúc,
卻話巴山夜雨時。Khước thoại Ba sơn dạ vũ thì.

Khi nào chúng lại cùng cắt (bấc) nến ở tây song,
Rồi lại nói chuyện lúc đêm mưa ở Ba sơn.

Vốn là để nói lúc lữ hành nhớ vợ con ở quê nhà. Về sau cũng dùng để chỉ bạn bè hội tụ nói chuyện lúc đêm khuya. Trong bài này chữ “Tây song” phiếm chỉ cửa sổ.

11- Quái 怪= quái lạ. Dao bội 瑤佩 = dao bội thanh 瑤佩聲: (Tiếng ve sầu nghe như) tiếng ngọc chạm vào nhau.
12- Ngọc tranh 玉箏: cây đàn tranh quý báu.
13- Điều 調: điều chỉnh cái trụ để căng dây đàn tranh. Ngọc tranh điều trụ 玉箏調柱: điều chỉnh các trụ căng dây trên cây đàn tranh. Câu này ám chỉ tiếng ve kêu réo rắc như tiếng đàn tranh.
14- Kính ám trang tàn 鏡暗妝殘:gương mờ, trang sức tàn nhạt. Câu này và câu dưới có ý nói không trang điểm mà vì sao bộ tóc đẹp như thế. Cung nhân Mạc Quỳnh Thụ 莫瓊樹 của Ngụy Văn Đế Tào Phi 魏文帝曹丕 sáng chế kiểu búi tóc hình cánh ve sầu gọi là “Thiền mấn 蟬鬢”, lan truyền trong giới cung nhân và dân gian thời bấy giờ.
15- Vi thùy 為誰: vì đâu. Kiều mấn 嬌鬢: mái tóc đẹp, chỉ cánh ve đẹp mỹ lệ.
16- Thượng như hứa 尚如許: còn như thế!
17- Đồng tiên 銅仙 = Kim đồng tiên nhân 金銅仙人 hay Kim đồng tiên nhân thừa lộ bàn 金銅仙人承露盤. Sách Hán Thư 漢書 chép rằng: vua Hán Võ Đế 漢武帝 cho đúc 2 pho tượng hình người tiên bằng đồng ở trước Bách Lương Đài 柏梁台 và Kiến Chương Cung建章宫, trên tay pho tượng bưng một cái mâm cũng bằng đồng để hứng sương trời. Sương hứng được sẽ trộn với ngọc tán nhỏ, làm thành nước uống để tăng tuổi thọ. Pho tượng dựng trước Bách Lương Đài bị phá hủy do hỏa hoạn vào năm 104 trước Tây Lịch.
18- Diên lệ 鉛淚: giọt nước mắt (của pho trượng đồng long lanh) như giọt chì hóa lỏng, lấy chữ từ bài “Kim đồng tiên nhân từ Hán ca 金銅仙人辭漢歌” của Lý Hạ 李賀 đời Đường:

空將漢月出宮門,Không tương Hán nguyệt xuất cung môn,
憶君清淚如鉛水。Ức quân thanh lệ như diên thủy.

Chỉ cùng vầng trăng thời triều Hán đi ra khỏi cửa cung,
(Tượng đồng) nhớ quân vương, rơi lệ trong như giọt chì hóa lỏng.

Trong thời Tam Quốc 三國, vua Ngụy Minh Đế Tào Duệ 魏明帝曹叡 cũng muốn luyện thuốc trường sinh bèn sai người di dời pho tượng đồng ở Kiến Chương Cung từ Trường An 長安 (kinh đô nhà Hán) về Lạc Dương 洛陽 (kinh đô nước Ngụy). Với phương tiện thời bấy giờ thì pho tượng này nặng quá, không đem nổi, đành phải bỏ lại ở Bá Thành霸城 (tức Bá Lăng huyện 霸陵) gần thị trấn Tây An 西安市, Trung Quốc.

19- Huề bàn khứ viễn 攜盤去遠: đem mâm đi xa. Bàn 盤 = thừa lộ bàn 承露盤 tức là mâm hứng sương trên tay tượng đồng của Hán Võ Đế. Theo truyền thuyết dân gian thì loài ve sầu chỉ ăn những giọt sương mà sống. Tác giả đem ghép việc pho tượng hứng sương của Hán Cung bị di dời đi, không còn hứng sương nữa, với lúc tàn lụi của mùa ve sầu để giúp cho bài từ thêm thú vị hoặc giả ông muốn ám chỉ việc Triều Đình Nam Tống bị sụp đổ?
20- Linh lộ 零露: Giọt sương rơi xuống tự nhiên. Lấy chữ từ Kinh Thi, Phẩm Trịnh Phong, bài Dã Hữu Mạn Thảo “詩經·鄭風·野有蔓草”:

野有蔓草,零露漙兮。 dã hữu mạn thảo, linh lộ đoàn hề.  
Bãi hoang dã có cỏ mọc tràn, giọt sương rơi xuống nhiều chừ.

21- Bệnh Dực kinh thu 病翼驚秋: cánh ve sầu bệnh suy tàn, sợ mùa thu.
22- Khô hình 枯形: thân hình khô héo. Có thuyết cho rằng câu “Khô hình duyệt thế枯形閲世” ám chỉ nạn dân di tản khốn khổ trong chiến tranh.
23- Tiêu đắc 消得: chịu đựng được (bao lâu).
24- Tà dương 斜陽: ánh nắng buổi chiều.
25- Thanh thương 清商 = thanh thương khúc清商曲: loại nhạc phủ cổ xưa, âm điệu buồn bã, chỉ tiếng kêu của ve sầu.
26- Thậm 甚= sao, vì sao.
27- Đốn 頓 = đốn thời 頓時: tức thời, bỗng nhiên.
28- Mạn tưởng 謾想 = mạn tưởng漫想: không tưởng空想, tưởng đến cũng vô ích; Mạn謾 = mạn漫 = đồ nhiên徒然: uổng phí, in vain.
29- Huân phong薰風: gió nồm, gió nam ấm áp, chỉ mùa hè.

Dịch Nghĩa

Ve sầu.

Hận lòng tràn ngập, cung phi hồn đoạn (hoá thành ve sầu),
Hằng năm đều tại lùm cây xanh trong sân kêu lên buồn bã.
Vừa tại cành cây mát nức nở,
Đã dời đến chùm lá u ám,
Lại đem chuyện ly biệt sầu khổ thố lộ.
Ngoài tây song mưa vừa tạnh.
Quái lạ, (tiếng ve sầu nghe như) tiếng ngọc đụng chạm nhau lưu truyền trên không trung.
(Tiếng ve sầu kêu nghe như) tiếng đàn tranh (réo rắc).
Kính đã mờ, dung mạo đã tiều tụy,
(Nhưng) vì đâu cánh ve sầu còn đẹp như vậy?

Tượng người tiên bằng đồng (khi đi khỏi Hán cung) rơi lệ long lanh như tắm,
(Đáng) than là (tượng) đem cái mâm đi xa,
Không còn chứa sương rơi nữa.
Đôi cánh bệnh hoạn sợ mùa thu.
Thân hình khô héo đã trải cuộc đời,
(Ve) còn chịu đựng được mấy độ hoàng hôn?
Tiếng kêu càng tỏ ra bi khổ.
Vì sao tự mình kêu lên những tiếng ai oán,
(Để) bỗng nhiên thành thê lương khổ sở?
Mơ tưởng vô bổ đến mùa gió ấm (khi xưa),
(Có) tơ liễu (bay) ngàn vạn cành.

Phỏng Dịch

1 Tề Thiên Nhạc – Ve Sầu

Ngập lòng thừa hận cung phi táng,
Năm năm góc vườn cổ thụ.
Chợt khóc cành thu,
Lại kêu lá ám,
Cùng với ly sầu minh tỏ.
Mưa tàn cửa sổ.
Lạ tiếng ngọc trên không,
Ngọc tranh căng trụ.
Tàn áo mờ gương,
Vì đâu đôi cánh đẹp như cũ?

Tiên đồng rơi lệ như tắm,
Thán đem mâm viễn xứ,
Khó chứa sương lộ.
Cánh bệnh sợ thu,
Thân khô trải thế,
Còn ngắm tà dương mấy độ?
Dư âm càng khổ.
Thảm thiết một mình sao?
Chợt thành thê sở.
Gió ấm mơ chi,
Vạn ngàn tơ liễu rủ.

2 Ve Sầu

Khi xưa oán hận trên đời,
Cung nhân oan thác chưa nguôi tâm tình.
Ve sầu ngưng tụ tinh anh,
Năm năm tìm đến bóng xanh sân vườn.

Cành thu nức nở thê lương,
Chợt về khóm lá khóc thương ly sầu.
Tây song mưa tạnh chưa lâu,
Lạ thay tiếng ngọc chuyển bầu không gian.

Tiếng nghe rền rĩ cung đàn,
Gương loan mờ ám điểm trang nhạt nhòa.
Vì đâu mãi vẫn mượt mà,
Cánh ve búi tóc cung nga tạo hình.

Tiên đồng tắm lệ long lanh,
Than vì mâm hứng sương linh xa vời.
Cánh tàn thu đến chơi vơi,
Thân khô trải thế, cuộc đời còn bao?

Dư âm càng khổ, vì đâu,
Tự mình mang nỗi oán sầu xướng ca.
Gió nồm mơ đến hè qua,
Vạn ngàn tơ liễu lòa xòa trời không.

HHD 
12-2025
Đính Chính: Trong bài 215 Hoán Khê Sa của Chu Bang Ngạn, câu “出簾踏襪趁蜂兒 Xuất liêm đạp miệt sấm phong nhi”, xin đọc là “Xuất liêm đạp miệt sấn phong nhi”. Xin thành thực cáo lỗi cùng quý vị độc giả.

Tề Thiên Nhạc

1-

Một khăn tràn hận, hồn Phi đứt
Hằng năm bóng râm cổ thụ
Nưc nở cành tươi
Dời qua lá ám
Lại đem ly sầu thố lộ
Song tây mưa tạnh
Lạ, tiếng ngọc không lưu
Đàn tranh chỉnh trụ
Kính mờ, phấn phai
Vì đâu tóc mây đẹp thế đó?

Tượng tiên, lệ tuôn như tắm
Than, đem mâm đi khỏi
Sương rơi không chỗ
Cánh bệnh e thu
Thân khô từng trải
Chịu thêm hoàng hôn mấy độ?
Dư âm lại khổ
Sao tự kêu tiếng sầu
Bỗng thành buồn khổ?
Gió ấm mơ hoang
Liễu tơ muôn vàn đổ

2- Ve Sầu

Cung Phi thác, khăn tràn hận đọng
Cây sân đình, rợp bóng hàng năm
Cành tươi khóc, tới lá râm
Lại đem sầu biệt âm thầm thở than

Ngoài song tây mưa ngàn thôi khóc
Trôi hư không tiếng ngọc lạ thay
Đàn chỉnh trục, ảnh mờ phai
Vì đâu mà mái tóc mây đẹp ngời?

Tượng đồng tiên, lệ rơi lả chả
Than thêm rằng mâm đã tít mù
Sương không chỗ, cánh e thu
Thân khô từng trải, chiều ru mấy thì?

Dư âm khổ, sầu bi sao giữ?
Bỗng dưng thành buồn khổ thê lương
Mơ hoang gió ấm ngát hương
Muôn ngàn tơ liễu rải buông khắp trời!

Lộc Bắc
Dec25



Thứ Ba, 13 tháng 1, 2026

Mai Hoa Dẫn 梅花引 - (Tưởng Tiệp 蔣捷)


Bài Tống Từ Chú Giải

梅花引 - 蔣捷 Mai Hoa Dẫn - Tưởng Tiệp

荆溪阻雪         Kinh khê trở tuyết


白鷗問我泊孤舟, Bạch âu vấn ngã bạc cô châu,
是身留, Thị thân lưu,
是心留? Thị tâm lưu?
心若留時, Tâm nhược lưu thời,
何事鎖眉頭? Hà sự tỏa mi đầu?
風拍小簾燈暈舞, Phong phách tiểu liêm đăng vựng vũ,
對閒影, Đối nhàn ảnh,
冷清清、憶舊遊。 Lãnh thanh thanh, Ức cựu du.

憶舊遊。 Ức cựu du.
舊遊今在不? Cựu du kim tại phầu?
花外樓, Hoa ngoại lâu,
柳下舟。 Liễu hạ châu.
夢也夢也, Mộng dã mộng dã,
夢不到、寒水空流。Mộng bất đáo, hàn thủy không lưu.
漠漠黃雲, Mạc mạc hoàng vân,
溼透木棉裘。 Thấp thấu mộc miên cừu.
都道無人愁似我, Đô đạo vô nhân sầu tự ngã,
今夜雪, Kim dạ tuyết,
有梅花、似我愁。 Hữu mai hoa, tự ngã sầu.

Chú Thích

1- Mai hoa dẫn 梅花引: tên từ bài. Bài này của Tưởng Tiệp còn được gọi là “Giang thành mai hoa dẫn 江城梅花引” vì tương cận với điệu “Giang thành tử 江城子”. Bài này có 88 chữ, dùng bình vận. Đoạn trước và đoạn sau đều có một điệp vận 疊韻. Cách luật:

T B T T T B B vận
T B B vận
T B B điệp vận
B T B B cú
B T T B B vận
B T T B B T T cú
T B T cú
T B B, T T B vận

T T B điệp vận
T B B T B vận
B T B vận
T T B vận
T T T T cú
T T T, B T B B vận
T T B B cú
T T T B B vận
B T B B B T T cú
B T T cú
T B B, T T B vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; cú: hết câu; vận: vần; điệp vận: nhắc lại vận

2- Bạch âu 白鷗 = bạch lộ 白鹭: cò trắng
3- Cô chu 孤舟: con thuyền đơn độc.
4- Thân lưu 身留: bị trở ngại gì đó nên phải lưu lại.
5- Tâm lưu 心留: tự mình muốn lưu lại.
6- Tỏa 鎖: nhăn, nhíu.
7- Đăng vựng vũ 燈暈舞: ánh đèn mờ ảo dao động.
8- Nhàn ảnh 閒影 = ảnh 影: hình bóng.
9- Lãnh thanh thanh 冷清清: thê lương tịch mịch.
10- Cựu du 舊遊: chỉ những cuộc đi chơi với bạn bè khi xưa.
11- Phầu 不 hoặc 否: dùng ở cuối câu biểu thị ý tưởng chưa quyết hẳn. Kim tại phầu 今在不: bây giờ có còn chăng?
12- Mạc mạc 漠漠: dầy đặc.
13- Hoàng vân 黄雲: mây vàng lúc hoàng hôn.
14- Mộc miên cừu 木棉裘: áo bông.

Dịch Nghĩa

Bị tuyết trở ngại ở Kinh Khê.


Chim âu trắng (dường như) hỏi tôi đậu thuyền đơn chiếc ở đây?
Là do (bị sương tuyết trở ngại) phải đậu lại?
(Hay) là do tự ý muốn đậu lại?
Nếu như tự nguyện đậu lại,
Vì sao lại cau mày?
Gió đập vào cái màn nhỏ, ánh đèn lắc lư như múa,
(Chỉ một mình) đối với cái bóng (của mình),
(Trong) cái lạnh thê lương tịch mịch, lại nhớ tới những cuộc du ngoạn xưa.

Nhớ những cuộc du ngoạn xưa.
(Những người bạn trong) cuộc đi chơi xưa nay tại dâu?
(Khi đó) hoa nở ngoài lầu,
liễu rủ xuống (mui) thuyền (đậu trên bến).
Mộng ơi! (Hãy mộng đến nơi du ngoạn xưa),
Mộng không đến (nơi xưa), (trước mắt) nước lạnh vẫn trôi.
Mây vàng giăng mắc,
(Tuyết rơi) làm ướt xuyên áo bông.
Mọi người đều nói không ai sầu như tôi,
Đêm nay (trời đổ) tuyết,
Có hoa mai sầu như tôi.

Phỏng Dịch

1 Mai Hoa Dẫn - Nhớ Cựu Du


Chim âu hỏi tớ đậu thuyền câu,
Bởi thân lưu,
Bởi tâm lưu?
Do ý lưu thì,
Sao phải nhíu mi đầu?
Gió đập trướng màn đèn nhẩy múa,
Đối hình bóng,
Lạnh thê lương, nhớ cựu du.

Nhớ cựu du,
Cựu du nay tại đâu?
Hoa trước lầu,
Liễu rủ châu.
Mộng ới mộng ới,
Mộng chẳng đến, Nước lạnh trôi mau.
Giăng mắc mây vàng,
Ướt thấu áo bông sâu.
Người nói không ai sầu giống tớ,
Đêm phủ tuyết,
Có hoa mai, tựa mình sầu.


2 Nhớ Cựu Du

Bạch âu hỏi tớ đậu thuyền,
Bởi thân bởi ý, ước nguyền thì sao.
Cớ chi nhíu chặt mi đầu?
Gió lay màn nhỏ đèn dầu múa may.

Đối không hình bóng đêm nay,
Thê lương lạnh lẽo nhớ ngày cựu du.
Nhớ cựu du, nay mịt mù,
Trước lầu hoa nhánh thuyền du liễu cành.

Mộng hồn ơi mộng không thành,
Mộng bay không đến trôi nhanh thủy hàn.
Bầu trời giăng mắc mây vàng,
Áo bông ướt đẫm, người bàn vào ra.

Không ai sầu muộn như ta,
Đêm nay tuyết phủ, mai hoa lúc này.
Tựa mình ôm mối sầu vây.


HHD 
***
Mai Hoa Dẫn
Kinh khê tuyết cản

1-

Chim âu hỏi mỗ đậu thuyền câu
Do thân lưu
Do lòng lưu?
Nếu tâm lưu thì
Sao lại mày cau?
Gió đập mành con, đèn nhảy múa
Đối hình bóng
Lạnh thê lương. Nhớ cựu du

Nhớ cựu du
Cựu du nay nơi đâu?
Hoa ngoài lầu
Dưới liễu câu
Mộng ơi, mộng hỡi
Mộng chẳng đến, nước lạnh trôi mau
Giăng mắc mây vàng
Ẩm thấu áo bông sâu
Thảy nói: không ai sầu như mỗ
Đêm nay tuyết
Có hoa mai tựa mỗ sầu


2- Nhớ bạn xưa

Chim âu hỏi: vì sao thuyền đậu
Do tuyết ngăn, muốn náu thả câu?
Ý tự nguyện. Sao mày cau?
Mành con gió thổi đèn màu lung linh
Cô đơn mình đối bóng hình
Thê lương tịch mịch nhớ tình bạn xưa

Nhớ bạn xưa, đò đưa tìm bến?
Hoa ngoài lầu, liễu bén thuyền câu
Mộng ơi, mộng hỡi nơi nao?
Mộng không đến được, trôi mau lạnh dòng

Mây vàng giăng, áo bông thấm lạnh
Chẳng có ai cô quạnh như ta
Đêm nay tuyết đổ sương sa
Có Mai tri kỷ cũng qua muộn sầu!


Lộc Bắc
Dec25

Thứ Tư, 5 tháng 11, 2025

Hạ Tân Lang – Lưu Khắc Trang 賀新郎 - 劉克莊




Bài Tống Từ Chú Giải

賀新郎 - 劉克莊 Hạ Tân Lang – Lưu Khắc Trang

九日 Cửu nhật


湛湛長空黑, Trạm trạm trường không hắc.
更那堪、斜風細雨, Cánh na kham, tà phong tế vũ,
亂愁如織。 Loạn sầu như chức.
老眼平生空四海, Lão nhãn bình sinh không tứ hải,
賴有高樓百尺。 Lại hữu cao lâu bách xích.
看浩蕩、千崖秋色。 Khán hạo đãng, thiên nhai thu sắc.
白髮書生神州淚, Bạch phát thư sinh thần châu lệ,
盡凄涼不向牛山滴。 Tận thê lương bất hướng ngưu sơn trích.
追往事, Truy vãng sự,
去無迹。 Khứ vô tích.

少年自負凌雲筆, Thiếu niên tự phụ lăng vân bút,
到而今、春華落盡, Đáo nhi kim, xuân hoa lạc tận,
滿懷蕭瑟。 Mãn hoài tiêu sắt.
常恨世人新意少, Thường hận thế nhân tân ý thiểu,
愛説南朝狂客。 Ái thuyết nam triều cuồng khách.
把破帽、年年拈出。 Bả phá mạo, niên niên niêm xuất.
若對黃花孤負酒, Nhược đối hoàng hoa cô phụ tửu,
怕黃花也笑人岑寂。 Phạ hoàng hoa dã tiếu nhân sầm tịch
鴻去北, Hồng khứ bắc,
日西匿。 Nhật tây nặc.

Chú Thích

1- Hạ tân lang 賀新郎: tên bài từ. Tên cũ là “Hạ tân lương 賀新凉”. Bài này có 116 chữ, đoạn trước và đoạn sau đều có 6 trắc vận. Cách luật của bài này tương đồng với cách luật của Tân Khí Tật 辛棄疾:

X T B B T vận
T B B, X B X T cú
T B B T vận
X T X B B X T cú
X T B B X T vận
X T T, B B X T vận
X T X B B X T cú
T X B X T B B T vận
X T T cú
T B T vận

X B X T B B T vận
T B B, X B X T cú
T B B T vận
X T X B B X T cú
X T B B X T vận
X T T, B B X T vận
X T X B B X T cú
T X B X T B B T vận
X T T cú
T B T vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần

2- Cửu nhật 九日: tiết trùng dương ngày 9 tháng 9 âm lịch.
3- Trạm trạm 湛湛: sâu xa.
4- Tà phong tế vũ 斜風細雨: gió nhẹ mưa nhỏ.
5- Bình sinh 平生: suốt đời, từ trước đến nay trong đời.
6- Không tứ hải 空四海: (nhìn) khắp bốn biển.
7- Cao lâu bách xích 高樓百尺: có thể tác giả đã mượn câu nói của Lý Bạch “Nguy lâu cao bách xích 危樓高百尺: lầu cao 100 thước” để chỉ rằng mình đã lên tới nơi thật cao.
8- Hạo đãng 浩蕩 = quảng đại khoáng viễn 廣大曠遠: rộng lớn xa khắp.
9- Bạch phát thư sinh 白髮書生: thư sinh tóc bạc, tác giả chỉ chính mình.
10- Thần Châu 神州: vùng đất bị quân Kim chiếm đóng.
11- Ngưu sơn 牛山: ở huyện Lâm Chuy 臨淄, tỉnh Sơn Đông, TH. Tác giả dùng điển tích Tề Cảnh Công 齊景公 lên núi Ngưu Sơn ngắm cảnh rồi rơi lệ than rằng mình không được trường sinh để hưởng thụ phú quý trên giang sơn gấm vóc. Tể tướng Án Anh 晏嬰 tâu rằng nếu cổ nhân mà trường sinh bất lão thì làm gì có ngài ngày nay.

12- Trích 滴: giọt nước rơi, ám chỉ rơi nước mắt.
13- Vô tích 無迹: không có tung tích.
14- Lăng vân 凌雲: lên tận tầng mây. Lăng vân bút 凌雲筆: ngọn bút tung hoành, ám chỉ văn chương khí thế can vân.
15- Xuân hoa 春華 = thanh xuân niên hoa 青春年華: tuổi trẻ.
16- Tiêu sắt 蕭瑟: thê lương buồn tẻ.
17- Tân ý thiểu 新意少: ít có tư tưởng mới.
18- Nam triều cuồng khách 南朝狂客: câu chuyện người Mạnh Gia 孟嘉 đời Đông Tấn 東晋 cùng các quan lên núi chơi trong ngày Trùng cửu, bất ngờ bị gió thổi rơi mũ mà vẫn không biết sự thất lễ của mình. Có người nhặt mũ đưa lại đồng thời viết vài câu văn châm biếm. Ông cũng viết vài câu văn rất ý nhị đáp lại khiến mọi người thán phục.

19- Phá mạo 破帽: mất mũ.
20- Niêm xuất 拈出: dọn ra, đem ra.
21- Hoàng hoa 黃花: hoa cúc vàng.
22- Sầm tịch 岑寂: cô tịch, tịch mịch, cô đơn tẻ nhạt.
23- Nặc 匿: ẩn giấu.

Dịch Nghĩa

Ngày Trùng cửu.


Trời không u ám đen tối,
Lại khó chịu đựng mưa bụi gió mơn man,
Những nỗi sầu (trong tôi) loạn (đan vào nhau) như dệt.
Con mắt (tôi) đã già đời nhìn khắp bốn biển,
Nhờ có lầu cao trăm thước.
Trông ngàn núi rộng lớn trong sắc mầu mùa thu.
Chàng thư sinh tóc bạc đã rơi lệ vì phần đất bị luân hãm bởi quân Kim.
Buồn hết đỗi nhưng không phải như (Tề Cảnh Công) khóc ở Ngưu sơn.
Tìm vãng sự (những vinh nhục thịnh suy từ xưa),
Đi không tung tích (đã không còn).

Người thiếu niên tự phụ có tài văn chương (có ngọn bút khuấy mây),
Đến nay, tuổi niên hoa đã hết,
Tràn ngập tâm hồn buồn bã cô đơn.
Thường hận người đời ít có ý mới,
(Mà chỉ) thích nói về người cuồng khách thời Nam triều.
Đem chuyện mất mũ ra hằng năm (mỗi khi nói về ngày trùng cửu).
Như nếu mình ngắm hoa cúc vàng (mùa thu) mà không uống rượu,
Sợ hoa vàng sẽ cười mình cô đơn tịch mịch.
Chim hồng nhạn bay về phương bắc,
Mặt trời chìm xuống ở phương tây.

Phỏng Dịch

1 Hạ Tân Lang – Ngày Thu Than Vãn


Thăm thẳm trời đen hắc.
Lại kham sao, bụi mưa gió bấc,
Loạn sầu đan mắc.
Già lão trong đời nhìn tứ hải,
Nhờ có lầu cao trăm thước.
Trông rộng lớn, ngàn trùng thu sắc.
Tóc trắng thư sinh sơn hà lệ,
Tận thê lương chẳng phải tham sinh khóc.
Tìm dĩ vãng,
Không tung tích.

Thiếu niên tự phụ văn chương bút.
Đến hôm nay, niên hoa đã tắt,
Tâm hồn se sắt.
Vẫn hận người đời nghèo ý mới,
Thích nói xưa kia cuồng khách.
Chuyện mất mũ, năm nào cũng nhắc.
Như đối cúc vàng không uống rượu,
Sợ hoàng hoa cười diễu mình cô tịch.
Nhạn hướng bắc.
Ngày tàn bặt.


2 Ngày Thu Than Vãn

Khung trời thăm thẳm tối đen,
Kham sao mưa bụi gió thêm đan sầu.
Mắt già bốn biển nhìn sâu,
Bình sinh nhờ có cao lâu mịt mù.

Trông xa ngàn núi sắc thu,
Thư sinh tóc bạc quốc thù lệ rơi.
Thê lương tấc dạ đầy vơi,
Chẳng vì tham sống như người ngày xưa.

Tìm dĩ vãng đã xa mờ,
Thiếu niên tự phụ văn thơ khuấy trời.
Niên hoa nay đã tả tơi,
Tâm hồn se sắt hận người thế gian.

Nghèo ý mới chỉ mơ màng,
Cuồng khách rơi mũ nói quàng bấy nay.
Đối hoàng hoa không chén đầy,
Sợ hoàng hoa lại diễu cười chê bai.

Người cô lẻ nỗi buồn dài,
Nhạn bay hướng bắc non đoài hoàng hôn.


HHD 
11-1023
***
Ngày Trùng Cửu

1-

Trời đậm sâu đen kịt
Lại khó kham gió nghiêng mưa bụi
Sầu đan như dệt
Mắt già cả đời nhìn bốn biển
Nhờ có lầu cao trăm thước
Nhìn bao la cuối trời thu sắc
Lệ Thần Châu thư sinh tóc bạc
Buồn thảm thiết chẳng như Ngưu sơn khóc
Tìm chuyện cũ
Biệt tung tích

Thiếu niên tự phụ vung ngọn bút
Kể đến nay, tuổi xuân đã hết
Ngập tràn hiu hắt
Thường hận người đời ít ý mới
Thích nói Nam triều cuồng khách
Chuyện mất mũ hằng năm kể suốt
Nếu trước cúc vàng không uống rượu
Sợ hoa cười người cô đơn tịch mịch
Nhạn về bắc
Trời lặn mất


2- Nỗi niềm ngày thu

Trời u ám một màu đen kịt
Lại khó kham mờ mịt gió mưa
Sầu như dệt, mắt già nua
Lầu cao trăm thước sắc thu cuối trời

Lệ Thần Châu trẻ người tóc bạc
Khóc thê lương, nhưng khác người xưa
Tìm chuyện cũ, nhục vinh qua
Biệt vô tung tích xóa nhòa tiếc thương

Thường tự phụ bút vung lúc trẻ
Tính đến nay đã trễ tuổi xuân
Ngập tràn buồn bã cô phần
Hận người ý tưởng canh tân không nhiều


Thích nói chuyện Nam triều cuồng khách
Nhắc hàng năm mũ rách gió bay
Trước vàng cúc; rượu chẳng say
Sợ hoa cười nhạo ta đây vô tình

Chim hồng nhạn xếp hình về bắc
Trời xế chiều lặn mất tây phương!
Làm sao tránh khỏi đoạn trường!

Lộc Bắc
Nov25
 

Thứ Tư, 8 tháng 10, 2025

Tam Xu Mị 三姝媚 - 吴文英 - Ngô Văn Anh


 Bài Tống Từ Chú Giải

Ngô Văn Anh吳文英 tự là Quân Đặc君特, hiệu là Mộng Song夢窗,sau đổi thành Giác Ông覺翁. Ông quê quán ở Chiết Giang浙江, nguyên là họ Ông翁, sau làm con nuôi họ Ngô吳 nên đổi họ. Ông cả đời không thi đậu, thường ngao du các tỉnh Tô Châu蘇州, Hàng Châu杭州 và Việt Châu越州, đề thơ vịnh cảnh. Từ của ông có phong điệu hoa mỹ và mật thiết. Ông còn để lại tập Mộng Song từ 夢窗詞gồm hơn 340 bài được người đời sau yêu thích.

三姝媚 - 吴文英 Tam Xu Mị - Ngô Văn Anh
過都城舊居有感 Quá đô thành cựu cư hữu cảm.
湖山經醉慣。 Hồ sơn kinh tuý quán.
漬春衫、啼痕酒痕無限。Tý xuân sam, Đề ngân tửu ngân vô hạn.
又客長安, Hựu khách Truờng An,
嘆斷襟零袂, Thán đoạn khâm linh mệ,
涴塵誰浣。 Ố trần thùy hoán.
紫曲門荒, Tử khúc môn hoang,
沿敗井、風搖靑蔓。Duyên bại tỉnh, phong dao thanh mạn.
對語東鄰, Đối ngữ đông lân,
猶是曾巢, Do thị tằng sào,
謝堂雙燕。 Tạ đường song yến.

春夢人間須斷。 Xuân mộng nhân gian tu đoạn.
但怪得、當年夢緣能短。Đãn quái đắc, Đương niên mộng duyên năng đoản.
繡屋秦箏, Tú ốc Tần tranh,
傍海棠偏愛, Bàng hải đường thiên ái,
夜深開宴。 Dạ thâm khai yến.
舞歇歌沉, Vũ hiết ca trầm,
花未減、紅顔先變。Hoa vị giảm, Hồng nhan tiên biến.
佇久河橋欲去, Trữ cửu hà kiều dục khứ,
斜陽淚滿。 Tà dương lệ mãn.

Chú Thích

1- Tam xu mị三姝媚: tên từ bài, xuất xứ từ bài hát của nhạc phủ xưa tên là “Tam phụ diễm 三婦艷”. Bài này có 99 chữ, vần trắc. Cách luật của bài này tương đồng với cách luật của Sử Đạt Tổ duy câu 2 nối với câu 3 và câu 13 nối với câu 14 trong cách luật của ngô Văn Anh:

X B B T T vận
T X X, B B X B B T vận
T T B B cú
T X B B T cú
T B B T vận
X T X B cú
X X T, X B B T vận
X T B B cú
X T B B cú
T B B T vận

X T B B X T vận
T T T, B B T B B T vận
X T B B cú
T X B B T cú
T B B T vận
T T B B cú
X T T, X B B T vận
X T B B X T cú
B B X T vận

2- Hồ sơn 湖山: chỉ cảnh Tây hồ 西湖 ở Hàng Châu và núi non trong vùng phụ cận.
3- Tý 漬: ngâm trong nước, thấm ướt. Đề ngân tửu ngân 啼痕酒痕: Có thể tác giả đã mượn ý của Án Kỷ Đạo 晏幾道 trong bài từ Điểm giáng thần 點絳唇:
“分飛後。Phân phi hậu. Sau khi chia tay.
“淚痕和酒。Lệ ngân hòa tửu. Vệt nước mắt và rượu.
“佔了雙羅袖。Chiếm liễu song la tụ. Thấm ướt 2 tay áo lụa”.

4- Trường An 長安: ám chỉ Lâm An 臨安 tức Hàng Châu 杭州 lúc bấy giờ là kinh đô của nước Nam Tống, nơi tác giả đã từng sống qua với người thiếp ca nữ đã quá vãng, chỉ được biết với tên Hàng Cơ 杭姬.
5- Đoạn khâm linh mệ 斷襟零袂: cổ áo rách và tay áo rời rạc, ý nói y phục rách rưới.
6- Ố trần 涴塵: vấy bụi bẩn.
7- Hoán 浣: giặt giũ.
8- Tử khúc 紫曲: tức là “Tử mạch 紫陌” = đường phố trong kinh thành, nơi tác giả ở lúc xưa. Cũng có thuyết nói “Tử khúc môn 紫曲門” chỉ nơi kỹ nữ ở. Tiểu sử của tác giả cho thấy khi ở Hàng Châu tác giá có nạp một người thiếp được biết với cái tên “Hàng cơ”, nguyên là ca nữ mà tác giả rất yêu quý.
9- Bại tỉnh 敗井: giếng đã đổ nát.
10- Thanh mạn 靑蔓: (cây cỏ) tràn lan.
11- Đông lân 東鄰: hàng xóm ở phía đông, phiếm chỉ hàng xóm.
12- Tạ đường 謝堂: Gia đình Tạ An 謝安 vào đời Tấn晉 là thế gia đại tộc, đến đời Đường 唐 thì suy vi tan tác tứ xứ. Tác giả ám chỉ nhà hưng vượng khi xưa.
13- Đương niên 當年: năm ấy, năm xưa.
14- Tú ốc 繡屋: nhà đẹp, sang trọng.
15- Tần tranh秦箏: cây đàn tranh cổ xưa, nguyên do một người nước Tần 秦tên là Mông Điềm 蒙恬 cải biến nên gọi là Tần tranh. Ở đây chữ Tần tranh đại chỉ hòa nhạc.
16- Hải đường 海棠: ở Trung Hoa, cây hải đường có tên khoa học là Malus spectabillis, họ Rosaceae.
17- Thiên ái 偏愛: yêu mến riêng một ai đó.
18- Vũ hiết ca trầm 舞歇歌沉: không còn múa hát gì nữa.
19- Trữ cửu 佇久: đứng lâu.

Dịch Nghĩa

Ghi chú của tác giả: Cảm xúc khi đi qua chỗ ở cũ trong đô thành.
(Tác giả làm bài này để tưởng niệm người ái thiếp quá cố)

Tôi đã quen với cảnh núi non hồ nước trong những lúc uống rượu say sưa.
Cái áo mặc trong mùa xuân bị thấm đầy những vệt nước mắt và những vết rượu.
Tôi lại lần nữa đến viếng kinh đô Lâm An.
Than vãn y phục lam lũ,
Và vấy bụi bẩn, còn có ai giặt cho?
Xóm phường quen thuộc nay đã hoang vu,
Men theo cái giếng đổ nát, chỉ thấy gió lay động cây cỏ hoang dã mọc tràn.
Từ hàng xóm mé đông truyền lại tiếng đối đáp,
Đó là (đôi chim yến) từng làm tổ,
tại nhà họ Tạ xưa.

Giấc mộng xuân của người thế gian (cũng) phải (có lúc) ngừng.
Chỉ trách rằng, năm đó giấc mộng tình duyên lại ngắn ngủi như vậy.
Trong căn nhà hoa lệ tấu đàn tranh,
Bên cạnh cây hải đường quấn quít nhau,
Trong đêm khuya tiệc tùng.
(Đến nay những ngày hoan lạc) ca múa đã hết,
Hoa chưa giảm sắc, hồng nhan đã cải biến trước.
Tôi đứng hồi lâu trên cầu (tần ngần) muốn đi,
Nước mắt ràn rụa trong ánh tà dương.

Phỏng Dịch

1 Tam Xu Mị - Về Thăm Chốn Xưa


Hồ sơn quen túy lúy.
Thấm rượu lệ, đầm đìa áo xuân vô số.
Lữ khách Trường An,
Than áo quần lam lũ.
Lấm lem ai giũ.
Đường phố vắng không,
Men giếng nát, gió lay hoang cỏ.
Lối xóm lao xao,
Làm tổ khi xưa,
Yến về nhà cũ.

Xuân mộng nhân gian ngừng đó.
Chỉ đáng trách, năm xưa ngắn duyên tình vỡ.
Nhà thắm đàn tranh,
Cạnh hải đường mê luyến,
Tiệc tùng thâm dạ.
Múa dứt ca ngưng,
Hoa chưa héo, hồng nhan tàn rũ.
Đứng lặng trên cầu ngơ ngẩn,
Tà dương lệ nhỏ.

2-Về Thăm Chốn Xưa

Núi hồ say khướt đã quen,
Xuân xưa giọt lệ rượu hoen áo choàng.
Hôm nay lại đến Trường An,
Áo quần lam lũ thở than tâm tình.

Lấm bùn ai giặt cho mình?
Cửa nhà hoang dã, cũng đành men theo.
Giếng đổ nát cỏ tràn leo,
Đông lân thủ thỉ yến vào nhà xưa.

Phải phai tàn giấc xuân mơ,
Có chăng ngắn ngủi ngày thơ duyên lành.
Nhà hoa lệ, tiếng đàn tranh,
Hải đường quấn quít đêm thanh cỗ bàn.

Múa đã nghỉ, ca đã tàn,
Hoa chưa giảm sắc, hồng nhan uá mầu.
Tần ngần giây phút trên cầu,
Tà dương ảm đạm dòng châu lệ tràn.

HHD 
'1-2023
***

Qua Chốn Cũ Đô Thành Cảm Xúc

1-


Núi hồ quen túy lúy
Áo xuân thấm, rượu lệ loang vệt hoen ố.
Lại khách Trường An
Than y phục lam lũ
Bụi trần ai giũ
Xóm phường hoang vu
Men giếng nát, gió lay hoang cỏ
Đối đáp mé đông
Còn tổ lúc xưa
Yến đôi nhà Tạ

Xuân mộng đời có lúc vỡ
Chỉ tiếc rằng, ngắn ngủi mộng tình năm đó
Nhà đẹp Tần tranh
Bên hải đường quấn quýt
Yến tiệc thâm dạ
Múa nghỉ, ca ngưng
Hoa chưa úa, má hồng đã rủ
Đứng lâu trên cầu muốn bước
Chiều buông ràn lệ!

2- Quay Lại Chốn Xưa

Núi hồ quen, say thường dạo phố
Rượu, lệ loang hoen ố áo xuân
Trở về làm khách Trường An
Áo quần lam lũ, bụi trần ai lo

Xóm làng quê, hoang vu cửa ngõ
Men giếng hư, hoang cỏ gió lay
Mé đông đối đáp tỏ bày
Tạ xưa, đôi yến tổ xây hiên ngoài

Cũng có lúc xuân thời mộng vỡ
Chỉ tiếc rằng năm đó tình tan
Tần tranh nhà đẹp rộn ràng
Hải đường quấn quýt tiệc sang đêm dài

Ngưng ca múa, bi ai cúi mặt
Hoa chưa tàn, nhan sắc biến mau
Chân muốn bước, đứng trên cầu.
Chiều buông dòng lệ tuôn mau nhớ về!

Lộc Bắc
Aug25