Hiển thị các bài đăng có nhãn Đoàn Xuân Thu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đoàn Xuân Thu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 16 tháng 12, 2025

Mùa Đông Xứ Úc Và Mỹ

 

Mùa Đông ở hai bán cầu khác nhau luôn là điều thú vị để so sánh. Ở xứ Mỹ, Tháng Mười Hai, Tháng Giêng, Tháng Hai, trời thường lạnh thấu xương, tuyết phủ trắng đồng cỏ và mái nhà, ánh nắng hanh hao len qua khung cửa sổ, làm người ta thấy rõ khoảng cách giữa người và người khi phải co ro trong lớp áo ấm. Còn ở xứ Úc, mùa Đông đến vào Tháng Sáu, Tháng Bảy, Tháng Tám, nhưng sự lạnh lẽo không hẳn giống như ở Bắc Mỹ. Mùa Đông Úc đôi khi bắt đầu với những trận mưa dai dẳng, trời xám xịt, mưa rơi lất phất như nhắc nhở con người rằng thiên nhiên luôn biết cách làm trái tim mình se lại.

Tháng Sáu ở quê mình, mùa mưa, trời mưa không dứt. Lúc thì mưa xối xả, lúc lại lất phất. Tuy nhiên nếu trời không mưa anh cũng lạy trời mưa.
Lạy trời mưa chi vậy? Mưa làm Sài Gòn ngập hết ráo, lớn nhỏ phải lội nước dơ, chưn cẳng dính bùn, nồi ghẻ rộ lên, làm sao mấy cô bé khoe chân dài miên man cho được?
Trong cái mưa tầm tã ấy, nhà thơ Nguyên Sa lạy trời mưa; nhạc sĩ Hoàng Phương có dịp xếp thuyền giấy cho người yêu, chiều chiều, để ca sĩ Phương Hồng Quế vọc nước mưa.

Nhớ lại, Tháng Sáu ngày xa xưa ấy, tôi cũng từng xếp thuyền giấy cho một người em gái ngày xưa, thả ra biển Đông, bỏ lại một đống bo bo thời CS, nhưng lòng tôi vẫn rán lò dò tìm em, như thể tìm chim giữa biển cả. Em sang xứ Mỹ, còn tôi trôi dạt đến xứ Kangaroo, đất Melbourne lạnh giá, đầy thử thách. Câu hỏi quen thuộc hằng năm vẫn vang lên: “Năm nay trời sẽ lạnh lắm không?”

Mùa Đông Melbourne, người viết biết ngay là sẽ rất lạnh nếu đi chợ Footscray, nơi mà cái lạnh len lỏi qua từng tấm áo, từng bước chân, và cả những cảnh đời thường như một em Úc đang lộ ra phần mông trắng hếu vừa đi vừa kéo quần jean lên, khiến người ta tiếc hùi hụi hè. Dự báo thời tiết kiểu này còn chính xác hơn mấy tay thuộc Sở Dự báo Thời tiết nhiều! Trong vòng 15 năm trở lại đây, năm nay tuyết rơi trắng trời trên núi và cao nguyên, như ngọn Buller, chỉ một đêm mà tuyết phủ trắng làng sơn cước dày tới 8 cm.
Sở thú Melbourne phải dùng đèn sưởi để giữ ấm cho khỉ vượn, cọp beo, sư tử, kangaroo và koala.

Phi trường Tullamarine, nhiệt độ tụt xuống thấp nhất từ năm 1971, tuyết đóng dày trên cánh phi cơ khiến nhiều chuyến bay bị đình hoãn. Vùng Tây Melbourne, nơi tôi cư ngụ, có đêm cột thủy ngân tụt xuống chỉ còn 1 độ C, lạnh nhất kể từ năm 1944, năm mà thiên hạ bắt đầu so sánh cái lạnh qua số liệu thời tiết.

Dĩ nhiên, cái lạnh không chừa ai, nhưng giàu nghèo khác nhau. Giàu thì bay về phương Bắc, tìm mùa Hè rực rỡ; giàu hơn thì bay đến đảo Bali, hay sang Paris thưởng thức mùa Hè ở Khải Hoàn Môn, tháp Eiffel. Còn nghèo, như đa số chúng tôi, thì chịu rét, mở sưởi nhiều tốn điện tốn tiền.

Nên thay vì tốn tiền điện tui tốn tiền Jack Daniel’s. Một chai 700 ml giá 60 đô Úc. Ngày “lỳ một lam.” Làm một ly người ấm lên chui vô mền khò khò tới sáng.

Mùa Đông Úc không chỉ là lạnh, mà còn là bức tranh ảm đạm về kinh tế: giá khoáng sản đi xuống do Tàu ít nhập khẩu, người dân khó sống hơn. Nhiều người mất nhà thành homeless , phải sống ngoài công viên, chịu lạnh thấu xương. May mắn thay, tôi còn có mái nhà, mền điện ấm áp, nhìn qua khung cửa sổ thấy cơn sương muối phủ trần gian. Thỉnh thoảng, đi chợ với em yêu, thấy một gã râu ria xồm xoàm chơi đàn guitar trước cổng siêu thị, tôi bỏ vào hộp đàn vài đồng, lòng thấy vui, lần đầu tiên làm việc thiện, trải nghiệm cảm giác ấm lòng trong mùa Đông xứ Úc đầy khắc nghiệt.


Ngược lại, mùa Đông xứ Mỹ nghe người xưa của tui nói nó mang một màu sắc khác. Tuyết phủ trắng mái nhà, bầu trời hanh hao nắng vàng, người ta hối hả đi làm, học sinh co ro trong áo khoác dày, các sân trượt băng đông đúc, và những khu rừng trọc lá mùa Đông trở nên thơ mộng như trong truyện cổ tích. Ở Mỹ, mùa Đông là thời gian để tụ tập gia đình, nướng bánh, uống socola nóng, trong khi ở Melbourne, mùa Đông là thời gian để sống chậm, cảm nhận từng giọt mưa, từng cơn gió lạnh, từng cơn rét cắt da.

Những ngày trời lạnh, tui thường nhớ về người em năm cũ, về quê hương xa xôi, nơi mà mùa Đông chỉ là mưa, là sương mù, là kỷ niệm xếp thuyền giấy và những con đường ướt át. Còn ở Mỹ, mùa Đông là tuyết trắng, là nắng vàng, là không gian rộng lớn, nơi con người tìm kiếm sự ấm áp qua gia đình và bạn bè.

Mùa Đông, dù ở đâu, vẫn luôn nhắc nhở ta về sự đối lập giữa giàu và nghèo, giữa có nhà và vô gia cư, giữa ký ức và hiện tại, giữa hy vọng và cô đơn. Ở Úc, mùa Đông là cơ hội để thấy những người kém may mắn, là lúc con người biết đến lòng từ thiện và sự sẻ chia; còn ở Mỹ, mùa Đông là cảnh đẹp, là trò chơi, là lễ hội, nhưng cũng không thiếu những người phải vật lộn với giá lạnh và tuyết trắng.

Từ Melbourne, tui thầm nghĩ: cái lạnh mùa Đông không chỉ là nhiệt độ, mà là thử thách, là cảm giác, là nỗi nhớ. Nhớ quê nhà, nhớ người yêu, nhớ những ngày mưa rơi dầm dề bên hiên nhà, nhớ những thuyền giấy trôi trên sóng biển Đông, và cả những mùa Đông Mỹ xa xôi, nơi mà tuyết trắng như mơ, nhưng cũng là nơi người ta tìm sự ấm áp từ nhau.

Đêm Đông, khi nhìn ra ngoài cửa sổ, thấy sương muối phủ trần gian, tôi vẫn nghĩ về những người không còn quê hương, những người đã vượt biển Đông, những người sống lang thang giữa mùa Đông Melbourne, và cả những người ở Mỹ, đang co ro trong lớp áo dày mà lòng vẫn nhớ về nhà, về gia đình. Đêm Đông là lúc lòng người trở nên nhạy cảm, là lúc trái tim nhớ nhung, là lúc cảm giác lạnh giá trở thành nỗi niềm, nỗi thương, và cả niềm hy vọng.

Mùa Đông xứ Úc và Mỹ, hai thế giới khác nhau, nhưng đều nhắc ta về con người: sự nhỏ bé trước thiên nhiên, sự cần thiết của tình thương, và ý nghĩa của những điều giản dị mà ấm áp. Một chiếc mền điện ở Melbourne, một ly chocolate nóng ở New York, một chiếc thuyền giấy trên sóng biển Đông hay một sân trượt băng phủ tuyết trắng đều là những cách để con người cảm nhận mùa Đông, để thấy mình đang sống, đang nhớ, và đang yêu.

Đoàn Xuân Thu

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2025

Phẩm Giá Của Người Lính


Australia. Thu 4/3/2025.

Sau tiếng súng: Cựu binh Úc, Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa – Ba số phận, ba con đường hậu chiến"
Chiến tranh, khi đang diễn ra, luôn khoác lên mình những mỹ từ: lý tưởng, danh dự, trách nhiệm quốc gia. Nhưng khi tiếng súng đã im, những mỹ từ ấy rơi rụng rất nhanh, để lại người lính trần trụi trước thực tế: thương tật, ký ức, thất nghiệp, cô đơn và câu hỏi cay đắng về ý nghĩa của những năm tháng đã đánh đổi bằng máu. Sau chiến tranh Việt Nam, ba thế giới khác nhau – Úc, Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa – đã đối xử với những người lính của mình theo ba cách rất khác nhau, phản ánh ba nền chính trị, ba hệ giá trị và ba mức độ dằn vặt lương tâm quốc gia.

1. Người lính Úc: Lạnh nhạt rồi được phục hồi chậm rãi.

Người lính Úc rời chiến trường Việt Nam trong bối cảnh đất nước chia rẽ vì phong trào phản chiến. Họ không thua trong từng trận đánh, nhưng lại thua trong không khí chính trị và dư luận. Trước năm 1975, và nhiều năm sau đó, không ít cựu binh Úc bị đối xử như những nhân chứng sống của một “sai lầm chính trị”. Họ khó xin việc làm, ít được chăm sóc tâm lý, PTSD chưa được nhìn nhận đúng mức.
Nhưng khác với nhiều quốc gia khác, Úc về sau đã tự sửa sai một cách lặng lẽ nhưng bền bỉ. Từ thập niên 1980, những cuộc diễn hành vinh danh cựu binh Việt Nam bắt đầu được tổ chức. Năm 1992, Đài tưởng niệm Lực lượng Úc tại Việt Nam được khánh thành tại Canberra. Nhà nước mở rộng điều trị y khoa, trợ cấp thương tật, chính thức công nhận PTSD là thương tật chiến tranh. Dù muộn, Úc đã chọn cách trả lại vị trí đạo lý cho người lính bằng hành động cụ thể, không chỉ bằng diễn văn.
Ở Úc, người lính Việt Nam cuối cùng cũng được nhìn nhận trở lại như một công dân đã làm tròn bổn phận, bất kể cuộc chiến đúng hay sai về mặt chính trị.

2. Người lính Mỹ: Bị ruồng bỏ dữ dội rồi được phục hồi bằng sức mạnh truyền thông quốc gia

Nếu nỗi đau của cựu binh Úc là lặng lẽ thì bi kịch của cựu binh Mỹ mang tính bùng nổ. Hơn 2,7 triệu quân nhân Mỹ từng phục vụ tại Việt Nam. Khi họ trở về, nước Mỹ rơi vào khủng hoảng niềm tin: thất bại quân sự, phong trào phản chiến cực đoan, chia rẽ chính trị, bê bối Watergate. Người lính từ biểu tượng “bảo vệ thế giới tự do” bị đẩy thành kẻ đại diện cho một cuộc chiến bị nguyền rủa.
Trong suốt thập niên 1970, không ít cựu binh Mỹ bị:

- Bị xúc phạm công khai,
- Bị hắt hủi nơi công cộng,
- Bị kỳ thị trong công ăn việc làm,
- Rơi vào nghiện ngập, vô gia cư,
- Tự sát ở mức báo động.

PTSD chỉ được Hoa Kỳ chính thức công nhận là bệnh lý chiến tranh vào năm 1980, khi quá nhiều bi kịch đã xảy ra. Nhưng cũng chính Mỹ, với sức mạnh của truyền thông, điện ảnh và nghệ thuật, đã thực hiện một cuộc phục hồi danh dự quy mô quốc gia cho người lính Việt Nam. Bức Tường Đá Đen tại Washington (1982) không có tượng đài chiến thắng, chỉ khắc tên người chết – một cách tưởng niệm khiêm nhường nhưng đầy sức nặng lương tâm.
Từ đó, hàng loạt phim ảnh, sách vở, chương trình xã hội, cải tổ toàn diện hệ thống Bộ Cựu chiến binh (VA) đã từng bước trả lại tiếng nói cho cựu binh Mỹ. Với họ, nước Mỹ sửa sai bằng một cơn lốc văn hóa – chính trị – xã hội, ồn ào nhưng hiệu quả
.
3. Người lính Việt Nam Cộng Hòa: Từ chiến bại đến một cuộc xóa sổ thân phận.

Nếu người lính Úc bị lãng quên, người lính Mỹ bị ruồng bỏ, thì người lính Việt Nam Cộng Hòa sau 1975 đi vào một bi kịch khác hẳn: bi kịch của kẻ thua trận bị tước bỏ toàn bộ tư cách công dân
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hàng trăm ngàn quân nhân, sĩ quan VNCH bị CS bắt đi “học tập cải tạo” không thời hạn. Người ở vài năm, người mười năm, có người chết trong trại. Gia đình họ tan nát, vợ con bị kỳ thị, mất nhà, mất việc, con cái bị cấm cửa đại học vì lý lịch. Huân chương, cấp bậc – những gì họ từng mang như danh dự – trở thành bằng chứng “phản động”.
Khác với cựu binh Úc hay Mỹ, người lính VNCH:

- Không được vinh danh,
- Không được trợ cấp,
- Không được chữa trị thương tật,
- Không có tượng đài tưởng niệm chính thức,
- Không có nghĩa trang quân đội được bảo vệ đúng nghĩa.

Họ không chỉ thua trận, mà còn bị xóa ký ức tập thể suốt nhiều thập niên. Hàng trăm ngàn người phải vượt biên bằng ghe thuyền, mang theo thân phận quân nhân thất trận trôi dạt khắp năm châu. Ở nơi đất khách, họ tự lập hội ái hữu, tự tổ chức tưởng niệm, tự giữ lại những huân chương cũ như một ký ức riêng tư mà không quốc gia nào đứng ra bảo hộ.
Nếu Úc sửa sai bằng chính sách, Mỹ sửa sai bằng văn hóa và truyền thông, thì với người lính VNCH, chưa hề có một “sửa sai chính thức” nào từ phía nhà nước trong nước, cho đến tận hôm nay.
4. Ba số phận – một mẫu số chung: Người lính không quyết định chiến tranh.
Điểm gặp nhau sâu xa nhất của cả ba nhóm– Úc, Mỹ và VNCH – là một sự thật lạnh lùng:
Người lính không quyết định chiến tranh, họ chỉ thi hành mệnh lệnh. Nhưng khi chiến tranh kết thúc, họ lại là những người gánh trọn hậu quả.
Khác biệt chỉ nằm ở cách mà từng quốc gia đối diện với phần đạo lý của mình:
- Úc chọn con đường thận trọng, âm thầm, nhưng có trách nhiệm.
- Mỹ chọn con đường kịch tính, công khai, bằng sức mạnh dư luận và văn hóa đại chúng.
- Việt Nam, trong nhiều thập niên, chọn con đường im lặng cưỡng bức đối với phía thua trận.
Chính vì thế, trong khi cựu binh Úc và Mỹ ngày nay có bệnh viện, trợ cấp, tượng đài, ngày tưởng niệm, thì phần lớn cựu binh VNCH chỉ còn:
- Những buổi họp mặt trong cộng đồng hải ngoại,
- Những nghĩa trang hoang phế,
- Và những tấm ảnh quân phục cũ úa màu trong album gia đình.
Kết luận: Đạo lý quốc gia được đo sau chiến tranh.

Huân chương đo lòng dũng cảm của người lính trên chiến trường. Nhưng cách đối xử với người lính sau chiến tranh mới là thước đo thật sự của đạo lý quốc gia. Ở điểm này, Úc đã dám sửa sai. Mỹ đã dám đối thoại với chính mình. Còn với người lính Việt Nam Cộng Hòa, lịch sử vẫn đang nợ họ một lời gọi đúng tên: người lính của một quốc gia đã từng tồn tại.
Chiến tranh kết thúc khi súng ngừng nổ. Nhưng hòa bình chỉ thật sự bắt đầu khi người lính – dù thắng hay thua – được trả lại phẩm giá con người.

 Đoàn Xuân Thu 

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2025

The Ghan Xe Lửa Huyền Thoại Xuyên Lục Địa Úc

 
 
Nhắc tới nước Úc, thiên hạ hay nghĩ tới kangaroo nhảy loi choi ngoài đồng cỏ, koala ôm gốc bạch đàn, hay mấy bãi biển nắng vàng cát trắng. Nhưng có một chuyện khác ít ai biết, đó là chuyến xe lửa The Ghan – một biểu tượng vừa lịch sử vừa du lịch. Nó nối liền từ Adelaide ở miền Nam lên tận Darwin miền Bắc, băng qua gần 3,000 cây số đường “ray”, chẻ dọc đất Úc ra làm đôi.

Đi một vòng trên The Ghan, người ta không chỉ coi cảnh, mà còn như sống lại câu chuyện mở đất của xứ sở này – một chuyện dài bằng mồ hôi, nước mắt và khát vọng chinh phục hoang mạc đỏ.
Cái tên The Ghan, chuyện mấy ông phu lạc đà

Nghe cái tên The Ghan, ai không rành tưởng là tên Tây, chớ thiệt ra nó rút gọn từ chữ “Afghan”. Nguyên do là hồi cuối thế kỷ 19, người Anh đem phu lạc đà từ Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ qua Úc. Họ dắt theo mấy con lạc đà, chở đồ tiếp tế, nước uống, gỗ đá… để mở đường vô miền Outback khô khốc.

Nói vậy để thấy, cái xe lửa bây giờ có chạy ngon lành thì cũng nhờ bước chân ròng rã của mấy ông phu ấy ngày xưa. Người Úc đặt tên The Ghan là để nhớ ơn họ. Cái nghĩa cử ấy cũng đẹp – giữa đất khách quê người, những con người lặng lẽ mà để lại dấu ấn dài lâu.

Ước mơ Bắc – Nam nối liền

Ý tưởng vẽ đường sắt chạy từ Nam chí Bắc có từ 150 năm trước. Nhưng nói thì dễ, làm thì khó. Năm 1878, người ta mới khởi công đoạn đầu từ Adelaide đi dần lên hướng Bắc. Công trình thì kéo lê, khi có khi không, khi hết tiền thì ngưng, lúc có thì nối thêm được chút.

Cái khổ nhất là nước. Sa mạc đỏ, khát cháy, máy móc làm việc thì nóng ran. Công nhân cực khổ, phu lạc đà gánh nước từng thùng. Bởi vậy tới tận năm 2004, đường ray mới nối tới Darwin, để chiếc xe lửa The Ghan chính thức chạy một lèo xuyên lục địa.

Bữa nay, The Ghan do công ty Journey Beyond Rail Expeditions lo liệu. Nó trở thành chuyến xe lửa du lịch danh giá nhất nước Úc, được dân quốc tế nhắc tới ngang hàng với Orient Express bên Âu châu hay Trans-Siberian Railway bên Nga.
3 ngày đi xuyên tim nước Úc.

Một chuyến The Ghan trọn gói kéo dài 3 tới 4 ngày. Xe lửa rời Adelaide, chạy ngang mấy cánh đồng nho xanh ngút ngàn, rồi từ từ tiến vô Red Centre – trung tâm sa mạc đỏ khét lẹt.

Chặng dừng quan trọng là Alice Springs, một thị trấn nhỏ nhưng được coi là “trái tim nước Úc”. Ở đây du khách coi hội họa Aboriginal, nghe kể chuyện Dreamtime, hay ghé thăm mấy khu di tích của thổ dân.

Kế đó là Katherine Gorge. Con sông Katherine chẻ núi đá ra làm mấy hẻm sâu, vách dựng đứng, nhìn hùng vĩ thiệt. Du khách có thể đi thuyền trên sông, hoặc chịu khó leo lên chỗ cao ngó xuống – cảnh đẹp tới mức thở cũng muốn chậm lại.

Rồi cuối cùng, xe lửa tới Darwin, thành phố cảng miền Bắc. Darwin khác hẳn Adelaide: nóng ẩm, gần gũi Đông Nam Á, văn hóa thì pha trộn đủ loại – bản địa, Á châu, Âu châu.

Xe lửa mà như khách sạn


Người ta gọi The Ghan là khách sạn 5 sao trên đường ray cũng không sai. Giá vé đã bao gồm ăn, ở, rượu bia, cà phê, và cả mấy tour du ngoạn ngoài ga.

Khoang Gold Service thì nhỏ gọn, giường gấp. Khoang Platinum Service thì sang trọng, có phòng tắm riêng. Nhà hàng trên xe phục vụ kiểu fine dining, nhấn mạnh đặc sản Úc: cá barramundi, thịt kangaroo, kèm rượu vang Nam Úc.

Ban đêm, ai rảnh thì ra Outback Explorer Lounge, làm ly vang đỏ, nhìn cửa kính thấy sa mạc chạy qua vùn vụt, trong khi ngồi trò chuyện với bạn đồng hành. Cái thú đó, giống như thời xe lửa còn là vua của các nẻo đường – đi không chỉ để tới nơi, mà để tận hưởng chuyến đi.

Hơn cả một chuyến xe

Nói cho ngay, The Ghan không chỉ là phương tiện du lịch. Nó là ký ức lịch sử bằng thép. Nó kể rằng nước Úc đâu chỉ toàn nhà cao cửa rộng, bãi biển đẹp; mà còn có những ngày gian khổ, có những phu lạc đà gồng gánh, có những công nhân đào đá, kéo ray trong nắng cháy.

Bởi vậy, đi một chuyến The Ghan cũng như nghe một bản hùng ca. Người Úc bây giờ sống trong tiện nghi, nhưng quá khứ mở đất đầy gian nan thì vẫn còn in dấu trên từng thanh ray.

Kết lời

Nếu Orient Express được gọi là chuyến xe lửa lãng mạn nhất Âu châu, thì The Ghan chính là hồn nước Úc. Ai đã từng ngồi trên The Ghan, để bánh sắt gõ nhịp rầm rầm xuyên qua hoang mạc đỏ, để hoàng hôn đổ xuống hẻm núi Katherine, sẽ hiểu: cái giá trị lớn nhứt của The Ghan không nằm ở chỗ đưa ta tới Darwin hay Adelaide, mà nằm ở chính hành trình đó.

Một hành trình làm con người chậm lại, để nhìn kỹ hơn đất trời, để nhớ ơn người xưa đã mở lối. Và cũng để thấy rằng, giữa thế giới vội vàng ngày nay, vẫn còn những cảm nghiệm khiến người ta giữ mãi trong lòng.

Đoàn Xuân Thu

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2025

Canh Chua Nhớ Má Quê Nhà!


Muốn ăn canh chua thì phải biết nấu. Mà muốn nấu thì phải biết gọi cho đúng tên, chớ không khéo làm cười ra nước mắt. Bởi một món ăn không chỉ có mùi vị, mà còn mang cả tiếng nói, văn hóa của vùng đất đã sinh ra nó. Canh chua là món của Miền Nam vậy mà không ít sách báo lại dùng chữ của miền Bắc mà gọi, khiến người đọc thấy trật lất. Chuyện tưởng nhỏ, hóa ra lại không nhỏ chút nào.

Canh chua – linh hồn của bữa cơm quê nhà năm cũ

Ở đất phương Nam, nhắc tới mâm cơm gia đình mà thiếu món canh chua thì coi như chưa trọn vẹn. Bởi nó vừa giản dị, vừa hào sảng như chính người miền Tây. Cá lóc đồng mới tát đìa lên, bạc hà, đậu bắp, cà tô mát (tiếng Pháp tomate; người Bắc gọi là cà chua vì nó chua he he), vài trái me chín dầm ra lấy nước. Nồi canh sôi lên bốc khói bắc xuống cá vừa chín tới, bạc hà, giá, cà tô mát chưa mềm ăn mới đã! Tô canh chua bên cạnh nồi cơm trắng bốc khói, thêm chén mắm nguyên chất giằm vài trái ớt hiểm hoặc ớt sừng trâu xắt lát. Chan canh và cơm, đời thấy bớt chua cay.

Canh chua không chỉ là món ăn, nó là ký ức tuổi thơ, là hình bóng má trong khói bếp chiều hôm, là buổi cơm chiều nhà đã đỏ đèn!
Xa quê rồi, nhớ món canh chua nhớ má và con khóc!

Nước dùng – nước lèo – nước canh?

Điểm cần nói cho ra lẽ là chuyện cái chữ. Tại sao lại gọi là “nước dùng”, trong khi người Nam ai cũng quen miệng gọi “nước canh”?
– Nước dùng: Đây là chữ phổ biến ở miền Bắc, mượn từ chữ Tây “fond de cuisine” – nghĩa là nước nấu từ xương, thịt, rau củ để làm nền cho món ăn. Người Bắc đi ăn phở thường nghe khen “nước dùng trong, ngọt, thơm mùi hồi quế”. Với họ, “nước dùng” có thể áp dụng cho cả súp, canh, phở, bún.

– Nước lèo: Ở miền Nam, “nước lèo” lại là thứ gắn liền với hủ tiếu, bún mắm, bún bò. Quán hủ tiếu Mỹ Tho thường rao “nước lèo trong vắt, ngọt xương heo”. Chữ “lèo” này không ai cắt nghĩa rõ, nhưng nó thành quen miệng bao đời. Nói “nước lèo hủ tiếu” thì ai cũng hiểu, nhưng nói “nước lèo canh chua” thì nghe gượng gạo, sai trật ý.

– Nước canh: Đúng nhất khi nói đến canh chua – hay bất cứ món canh nào của miền Nam – phải gọi là “nước canh”. Người Nam không ai bảo “nồi nước lèo canh chua”, cũng chẳng ai nói “nồi nước dùng canh chua”. Họ nói giản dị: “nồi canh chua cá lóc có nước canh trong veo, chua thanh, ngọt hậu”. Cái chữ “nước canh” mộc mạc, đúng chỗ, vừa phản ảnh ngôn ngữ, vừa giữ trọn hồn quê.

o O o


Câu chuyện dọc mùng và bạc hà.

Không chỉ nước canh, ngay cả rau củ cũng dễ gây hiểu lầm. Người Bắc gọi dọc mùng, trong khi người Nam gọi bạc hà hay môn bạc hà. Đây là loại cây họ ráy, cọng xanh trắng, giòn, nấu canh chua rồi đem đi đổ là có án mạng.
Vậy mà có kẻ lại giải thích bạc hà là… húng quế, làm rối cả lên. Đúng ra phải phân biệt: húng quế là rau thơm, còn bạc hà trong canh chua miền Nam chính là dọc mùng. Viết sai, gọi sai là đánh mất bản sắc ẩm thực.

Cách nấu dễ mà khó

Nồi canh chua ngon phải qua mấy bước: me dầm lấy nước chua, bỏ cà chua, thả cá vào, rồi thêm đậu bắp, bạc hà. Khi cá vừa chín tới, thả rau ngổ, ngò gai, vài lát ớt. Thế là xong. Dễ vậy, nhưng khéo léo hay không lại tùy tay người nấu. Có bà nội trợ thêm chút đường, người khác phi mỡ tỏi cho thơm. Mỗi nhà mỗi kiểu, nhưng cái cốt lõi vẫn là vị chua thanh, ngọt tự nhiên.

Cá nào hợp với canh chua?

Cá ba sa, cá hú, có tiền kha khá thì cá bông lau sang trọng, nhưng cá lóc đồng mới là linh hồn của canh chua Nam Bộ. Thịt cá chắc, thơm, hòa vào nước canh chua tạo nên vị đậm đà khó quên.

Ở quê nghèo, đôi khi chỉ con cá rô mề nhỏ xíu, nấu với me non và rau muống đồng, cũng đủ làm nên bữa cơm ngon đến mức nhớ cả đời.

Canh chua và nỗi nhớ xa quê

Người xa xứ, ở Melbourne hay Cali, có thể tìm cá ba sa trong siêu thị, me chua trong gói gia vị, bạc hà đông lạnh. Nấu ra, vẫn ngon, nhưng thiếu một cái gì đó. Thiếu tiếng gà gáy trưa, thiếu mùi lúa chín, thiếu hơi thở của nhánh sông quê. Nồi canh chua ngày nay chỉ để vơi nhớ, chớ không thể thay thế nồi canh chua ngày xưa – nơi có bàn tay má, nụ cười, tiếng em gọi má kêu về ăn cơm trời tối rồi

Kết

Ẩm thực không chỉ là chuyện ăn uống, mà còn là văn hóa, là ngôn ngữ. Viết về canh chua mà dùng chữ “nước dùng” thì hóa ra Bắc hóa món Nam. Gọi “nước lèo canh chua” thì cũng trật, vì nước lèo là của hủ tiếu, bún. Đúng nhất, tự nhiên nhất, chính là nước canh chua.

Một chữ thôi, mà sai là mất hồn. Cho nên, viết về món ăn phải “trâu nào chuồng nấy”, gọi đúng tên, giữ đúng chất. Như vậy mới làm sáng lên hương vị của canh chua – món ăn dân dã mà nặng tình, gói cả bầu trời thương nhớ của một kẻ xa quê.

Đoàn Xuân Thu

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2025

Vĩnh Biệt Nhà Văn Tiểu Tử - Đoàn Xuân Thu

 
 
1. Nhà văn Tiểu Tử:

Họ tên : Võ Hoài Nam
Sanh năm : 1930
Nguyên quán : Gò Dầu Hạ (Tây Ninh )
Bút hiệu : Tiểu Tử
Ông là con trai duy nhứt của giáo sư Võ Thành Cứ, cựu giáo sư trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký, Sài Gòn.
– Tốt nghiệp Kỹ sư, Marseille năm 1955.
– Dạy lý hoá trung học Petrus Ký : 1955/1956.
– Làm việc cho hãng dầu SHELL Việt Nam từ năm tháng 10 năm 1956 đến 30/04/1975.
– Vượt biên cuối năm 1978. Ðịnh cư ở Pháp từ đầu năm 1979 đến nay.
– Làm việc cho hãng đường mía của Nhà nước Côte d’ Ivoire ( Phi Châu ) 1979/ 1982.
– Làm việc cho hãng dầu SHELL Côte d’ Ivoire từ năm 1982 đến 1991, về hưu ở Pháp.
– Trước 1975, giữ mục biếm văn ” Trò Ðời ” của nhựt báo Tiến.
– Bắt đầu viết truyện ngắn khi lưu vong qua Côte d’Ivoire.
– Tập truyện ” Những Mảnh Vụn ” ( Làng Văn Toronto xuất bản ) là tập truyện đầu tay.
Bài ca vọng-cổ
Cái Loa
Cái mặt
Cái miệng
Chị Tư Ù
Chiếc khăn mu-soa
Chợ trời
Chuyện Bình Thường
Chuyện chẳng có gì hết
Chuyện di tản 1975
Chuyện Giả Tưởng
Chuyện ở quê tôi
Chuyện thuở giao thời
Cơm nguội
Con Mẹ Hàng Xóm
Con Mén
Con số 3
Con rạch nhỏ quê mình
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Đám cưới ngày xưa
Đạp xích lô
Đèn Trung Thu
Đi Xe Đò, Đi Xe Ôm
Giọt mưa trên tóc
Làm Thinh
Lẫn
Made in Việt Nam
Mài Dao Mài Kéo
Mũ “bảo hiểm”
Mùa Thu Cuộc Tình
Ngày nầy, năm 1975 …
Người Bán Liêm Sỉ
Người Viết Mướn
Ngụy
Những câu chuyện Di Tản của nhà văn Tiểu Tử – Tường An, thông tín viên RFA
Những chuyện nho nhỏ…
Những hình ảnh đẹp
Nói
Nói: Hết rồi!
Nói Láo
Nội!
Ông già ngồi bươi đống rác
Ông Năm Từ
Tấm vạc giường
Thằng Chó Đẻ của Má
Thằng dân
Thằng đi mất biệt
Thằng Khùng
Thầy Năm Chén
Thèm
Tiết Nhơn Quí
Tóc Trắng
Tô cháo huyết
Tôi đi bầu
Tôi nằm gác tay lên trán
Tôi … xém làm kép cải lương
Vẫn Còn Cái Gốc
Viết một chuyện tình
Vọng cổ buồn …
Xíu.

2. Vĩnh biệt nhà văn Tiểu Tử

Người ta hay hỏi tôi: “Quê ông ở đâu?
– Câu hỏi nghe giản dị, mà trả lời thì… khó hơn đi thi vô Petrus Ký. Bởi lẽ, cái quê của tôi, cái chỗ chôn nhau cắt rún, tôi đã bỏ ra đi từ lâu, từ cái thuở biển dâu, thời cuộc cuốn người ta ra khỏi vòng tay của ngõ xóm, của hàng dừa, hàng cau, của mái nhà lợp lá. Ấy thế mà, mỗi đêm khi nằm trên chiếc giường ấm áp, tôi vẫn thấy quê hương trở lại, rõ mồn một, như một bức tranh khắc sâu trong ký ức: nghèo trớt mùng tơi, mà vẫn thương, vẫn nhớ đến xót xa.

Có anh bạn văn thường nhậu nhẹt với tôi, hay hỏi vặn:
– Khi nào ông “dìa” quê?
– Muốn “dìa”, nhưng đâu biết quê đâu mà dìa!
Ảnh cười khề khà:
– Thôi thì ông tấp về quê tui đi, ngay đất Tân Định nè.
Nghe vậy mới ngớ người ra. Té ra, đối với ảnh, quê không phải là xứ khỉ ho cò gáy, chó ăn đá gà ăn muối, mà chính là mảnh đất Sài Gòn nơi mình cất tiếng khóc chào đời. Cái quê ấy có mùi khói thuốc rê, có tiếng guốc mộc của các bà, có những con hẻm nhỏ mà tuổi thơ rong chơi
đánh lộn tới u đầu sứt trán.

Tân Định – cái đất ấy đã nuôi lớn bao thế hệ. Từ đường Trần Quang Khải, quẹo qua Trần Nhật Duật, thẳng tới bờ kinh Nhiêu Lộc, những con đường nhỏ như Đặng Dung, Đặng Tất, Trần Quý Khoách, Trần Khánh Dư, đã in dấu chân của học trò trường Văn Lang, của những giấc mộng tuổi trẻ. Và cũng từ nơi ấy, bao nhiêu phận đời đã bước ra, đi khắp năm châu, mà khi tóc bạc vẫn còn ngoái lại, nhớ da diết từng mái hiên, từng ngọn đèn đường.

Trong số những người đi qua đất Tân Định, có một người đặc biệt: nhà văn Tiểu Tử.
Ông sinh năm 1932, tốt nghiệp kỹ sư tại Marseille, rồi về dạy tại trường Petrus Trương Vĩnh Ký vào những năm 1955–1956.
Sau biến cố 1975, ông vượt biên, định cư ở Pháp, và từ đó, văn chương trở thành cách để ông bắc nhịp cầu nối giữa quá khứ và hiện tại.
Tôi biết đến Tiểu Tử qua truyện ngắn “Tô cháo huyết”. Và khi nghe tin ông qua đời trên đất Pháp, lòng tôi bỗng dưng nghẹn lại.

Câu chuyện ông kể tưởng như vụn vặt, mà hóa ra thấm đẫm tình người, tình quê. Hình ảnh một người ngày xưa, trên đường đi làm về ghé xe cháo huyết của bà xẩm già ở gần rạp Casino Đa Kao. Bà bày cái nồi cháo nghi ngút khói, với vài miếng huyết vuông vức nổi lên trên. Ông múc một muỗng, vừa có cháo vừa có huyết, thổi cho nguội rồi cho vào miệng. Hương vị ấy, dân dã mà ấm áp, như gói cả hồn Tân Định.

Nhưng đời dân Sài Gòn sau cuộc đổi đời từ nghèo sang mạt sau tháng Tư năm 1975 đâu phải lúc nào cũng có tiền. Có khi cả tháng rỗng túi, ông né luôn cái xe cháo của bà xẩm, chỉ vì sợ mình thèm. Cho đến một hôm, bà mời:
– Vô ăn đi thầy Hai, lâu quá mà…
– Tôi không có tiền! – Ông đáp, thật thà đến bật khóc.
– Không có thì cũng vô ăn, chừng nào trả cũng được. Mình quen mà!
Ông viết: “Miếng cháo tôi đang nuốt bỗng nghẹn ngang ở cổ, làm tôi ứa nước mắt.”

Chao ôi! Một tô cháo huyết mà chan chứa nghĩa tình. Nó không còn là món ăn của bụng đói, mà là của tình người nơi xóm cũ. Để rồi hơn nửa thế kỷ sau, ở tận trời Âu, ông vẫn còn nhớ như in, nhớ đến nhói tim, nhớ đến mức viết thành một truyện ngắn để gửi gắm nỗi lòng.

Tôi đọc truyện ấy mà thấy mình rưng rưng buồn trong tấc dạ. Bởi mỗi người tha hương đều có một “tô cháo huyết” riêng trong ký ức. Với nhà văn Tiểu Tử, đó chính là xe cháo huyết của bà xẩm Tân Định. Và khi ông kể lại, không phải chỉ kể một món ăn, mà là kể về một

quê hương đã mất, kể về cái tình người Sài Gòn xưa, kể về một thời mà “ăn chịu” không phải chuyện đáng xấu hổ, mà là biểu hiện của tin cậy, của chia sẻ, của đồng bào.

Tin ông mất khiến tôi buồn như mây chiều trôi. Hình dung nơi nghĩa trang lạnh lẽo ở Pháp, có một nấm mộ mới của một người từng viết: “Tôi đi để lại đường xưa.” Đường xưa ấy chính là Trần Quang Khải, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Văn Giai, Bùi Hữu Nghĩa… những con đường quanh Tân Định, đã nuôi dưỡng tâm hồn và văn chương của ông.

Có lẽ, trong giây phút cuối đời, ông vẫn còn nhớ tô cháo huyết năm nào. Và chúng tôi, những kẻ hậu sinh, đọc văn ông mà thấy trong cổ họng mình cũng nghèn nghẹn, như chính ông đã nghẹn ngày xưa.

Giờ ngồi viết những dòng này, tôi nhớ tới bạn bè, nhớ tới những buổi nhậu lai rai mà kể chuyện quê xưa. Tôi nhớ tới cảnh học trò chen chúc thi vào Petrus Ký nơi dạy của nhà văn Tiểu Tử với cái tên Võ Hoài Nam tiền định sống phải xa quê.

Tôi nhớ tới nhà văn Tiểu Tử, một kiếp người long đong phiêu bạt, nhưng đã kịp để lại cho đời những trang văn chan chứa tình quê, tình người. Cái tên “Tiểu Tử” nghe thì nhỏ nhoi, mà văn ông lại lớn lao, bởi ông đã nói hộ cho cả một thế hệ lưu lạc: quê hương không bao giờ mất, nó sống mãi trong từng mùi vị, từng ký ức, từng khói bốc lên từ nồi cháo huyết chiều nào.

Thưa Thầy, ở phương trời xa ấy, xin Thầy an nghỉ. Trần gian này thiếu vắng Thầy, nhưng những dòng chữ Thầy để lại, những ký ức về một tô cháo huyết bình dị, sẽ còn sống mãi. Để cho những đứa con xa quê, mỗi lần nhớ Sài Gòn xưa, lại tìm thấy bóng dáng mình trong câu văn mộc mạc mà rưng rưng của Thầy.
Hu hu… Tôi viết mà mắt cứ nhòa đi.

Đoàn Xuân Thu


Thứ Ba, 1 tháng 4, 2025

Hạ Tím!



 Em cả quyết: “ không thương mùa hạ!”
mùa hạ buồn ta phải xa nhau,
bãi trường mà … anh, em nghỉ dạy,
đang yêu mà… xa chút cũng đau.

Em cả quyết: “không thương mùa hạ!”,
chỉ thương… Thu… sớm… buổi tựu trường;
gặp lại anh chừng như lâu lắm,
ba tháng là ba năm nhớ thương.

Em cả quyết: “không thương mùa hạ!”
đi dạy hoài.. khỏi phải xa anh;
hội đồng giáo sư… mình đối diện,
chạm chân… cười…hiệu trưởng thao thao.

Em cả quyết: “không thương mùa hạ!”
giữ tình ta … bí mật nghe anh,
học trò biết… đồn rùm… mắc cỡ,
thể như mình chẳng được yêu nhau.

Mùa hạ đó… tụi mình mất nước,
lẳng lặng mình anh… biển bão giông;
mùa hạ đó… mất anh mãi mãi
nát lòng em… mùa hạ biết không?

 Xa anh, qua bao mùa hạ đỏ,
phượng rơi rơi… máu nhỏ tim mình,
quê người đó… có mùa hạ tím
jacaranda bằng lăng… tím chữ tình

Em giữ cho em mùa hạ đỏ,
mắt lệ khóc người… khóc tình ta;
anh giữ cho anh mùa hạ tím,
của người mà.. đâu của em đâu?!

Đoàn Xuân Thu
Melbourne

Thứ Tư, 12 tháng 3, 2025

Chiếc Lá Trường Xuân


Nhớ xưa, những năm 70s, thầy và cô Beidler là giáo sư dạy Anh Văn tại trường Ðại Học Văn Khoa Cần Thơ. Nhà thầy cô, cất theo kiểu California, ở Khu Văn Hóa đầu đường Tự Ðức. Ở đó có một thư viện nhỏ, sách đa phần là tiếng Anh để sinh viên đến đọc hoặc dùng tài liệu tham khảo.

Và người viết lần đầu tiên biết đến O. Henry, Mark Twain… qua những tuyển tập truyện ngắn gọi là ‘Ladder books’ (Ladder nghĩa là thang). Những truyện nầy được viết với số từ vựng giới hạn theo bậc thang từ thấp lên cao! Bậc thang thấp nhứt một ngàn chữ, rồi lên bậc thang thứ hai, hai ngàn và cao nhứt là bậc thang thứ ba, ba ngàn chữ.)
Khi vốn từ đã được ba ngàn, tương đối đầy đủ, thì sinh viên sẽ tìm đọc nguyên tác ở Thư viện Hội Việt Mỹ Cần Thơ nằm trên đường Phan Ðình Phùng để cảm thụ được hết cái hay, cái đẹp của một tác phẩm nổi tiếng thuộc nền văn chương của đất nước Hoa Kỳ.

o O o

Sau nầy biết thêm chút đỉnh về sự tự do của đất nước Hoa Kỳ, tôi mới nghiệm ra rằng tự do không chỉ bó hẹp về chánh trị. Mà tự do có nghĩa rộng hơn rất nhiều.
Tự do sống, tự do yêu, tự do chọn nghề theo sở thích. Chính vì thích nên dành hết công sức của mình vô, làm rất nhiệt tâm, nhiệt tình nên nghề mới tinh diệu. Chọn nghề không hẳn vì Ba Má mình muốn thế cho nở mặt nở mày với lối xóm bà con. Chọn nghề không hẳn phải là Bác sĩ, Kỹ sư cho nó có danh, có lợi. Chọn nghề không hẳn vì: ‘Phi Cao đẳng bất thành phu phụ’. Chọn nghề không hẳn vì ‘Nhứt sĩ nhì nông. Hết gạo chạy rông nhứt nông nhì sĩ’. Chọn nghề không hẳn vì chén cơm manh áo như thường thấy ở đất nước đầy biến loạn của chúng ta.
Ðã thân nầy kể bỏ, quyết tâm theo đuổi nghề viết văn chừng một thế kỷ trước, nhà văn Hoa Kỳ ắt cũng nghèo đói thế thôi! Nhà văn của mình, trong và ngoài nước, ngay từ xưa rồi đến cả bây giờ cũng vậy, ngoại trừ một số rất ít sống được bằng ngòi bút của mình.
Nhưng là nhà văn, là nghệ sĩ, là dân chơi thì sợ gì mưa rơi. Chọn nghề văn là thân nầy kể bỏ. Nên việc nhà văn nghèo, không cưới được vợ như Tản Ðà hoặc như Arthur Miller bị Marilyn Monroe bỏ thì cũng chẳng có nhằm nhò gì hết ráo!

o O o

Mùa Giáng Sinh về, tôi lại nhớ O. Henry, một nhà văn sống một đời bất hạnh, một bi kịch! Vợ chết, mình phải đi tù chỉ vì một số tiền biển thủ không đáng là bao nhiêu, con phải vào Trại Mồ Côi.
Tháng Chạp lại về, đang ở tù thì làm gì có tiền mua cho đứa con gái còn bé bỏng của mình một món quà Giáng Sinh đơn sơ cho con mình khỏi tủi, O. Henry bèn cầm viết!
Tình phụ tử cao quý đó đã sản sinh cho chúng ta, những người đọc trên toàn thế giới, suốt cả trăm năm nay, những truyện ngắn về Mùa Giáng Sinh tuyệt tác của O. Henry!

o O o

O. Henry, tên thật là William Sydney Porter, sanh ngày 11, tháng Chín, năm 1862 tại Greensboro, North Carolina, Hoa Kỳ.
Mẹ mất vì bịnh lao nên ông mồ côi khi mới lên 3 tuổi. Về với Nội, ông chỉ học ở trường trung học Lindsey tới năm 15 tuổi rồi phải bước xuống cuộc đời mà kiếm sống.
Tháng Ba, năm 1882, khi bắt đầu có những cơn ho dai dẳng, sợ bị lao như Mẹ, ông chuyển về Texas, sống trong một trại chăn nuôi với hy vọng khí hậu ấm áp nơi đồng nội miền Nam Hoa Kỳ sẽ giúp ông vượt qua cơn bệnh.
Khi còn bé, rất ham đọc; đọc bất cứ cái gì mà ông có trong tay. Ðến Houston năm 1895, ông bắt đầu viết cho tờ Post (Bưu Ðiện). Tiền nhuận bút được một tháng 25 đô, một ngày kiếm chưa tới một đô la, lương trung bình lúc đó là 300 đô một năm!)
O. Henry yêu Athol Estes, 17 tuổi, con của một gia đình giàu có nhưng gia đình cô không chịu gả. Tháng Bảy, năm 1887, O. Henry và Athol trốn đi; trở thành vợ chồng. (Tháng Chín, năm 1889, họ có con gái đầu lòng, tên là Margaret Worth Porter.)
Năm 1896, làm nhân viên cho First National Bank ở thành phố Austin, Texas. bị tình nghi biển thủ 1,150 USD, ông bỏ trốn đến Honduras. Sáu tháng sau, nghe tin vợ mình đau nặng, hấp hối, ông quày quả trở về. Nhà cầm quyền đợi đến khi vợ ông qua đời mới đem ông ra xử tội biển thủ với bản án 5 năm tù giam.
Trong nhà tù ở thành phố Columbus, tiểu bang Ohio, O. Henry muốn mua quà Giáng Sinh cho con gái 9 tuổi Margaret đang ở trong Trại Mồ Côi, nhưng không có tiền nên gửi một truyện ngắn tới một tạp chí và được ông Chủ bút cho đăng ngay mà tác phẩm không bị sửa chữa bất cứ điều gì.
Mùa Hè năm 1901, ở tù đã hơn ba năm, O. Henry được trả tự do sớm nhờ hạnh kiểm tốt! Năm 1902, hàng tuần, O. Henry, theo hợp đồng, phải gửi cho tờ ‘The New York World Sunday Magazine’ một truyện ngắn. Tiền nhuận bút mỗi truyện là 100 đô la Mỹ, niềm mơ ước của bất cứ nhà văn Mỹ nào lúc bấy giờ.
Cả tòa soạn háo hức chờ đợi; ai cũng muốn được là người đầu tiên đọc tác phẩm mới của O. Henry!
Bảo Huân

o O o

Những tháng năm cùng quẫn O. Henry đã bỏ lại sau song sắt nhà giam. O. Henry danh tiếng giờ đây đã nổi như cồn. Tiền nhuận bút khá khẳm, nhưng vẫn không đủ xài vì tánh ông rất là hào phóng.
Cuộc hôn nhân thứ hai không hạnh phúc, O. Henry chìm trong men rượu! Ðến năm 1908, sức khỏe của ông sút giảm nhanh chóng. O.Henry lìa đời vào ngày mùng 5, tháng Sáu, năm 1910 tại New York trong sự cô độc, ở tuổi 48, vì xơ gan, vì tiểu đường và bị phì tim. O.Henry được chôn cất ở quê nhà North Carolina.
O. Henry mất cách đây hơn một thế kỷ mà ngày nay, mỗi mùa Ðông Bắc Mỹ, mùa Cúm, mùa sưng phổi lại về, chúng ta lại nhớ đến ông. Truyện ngắn của O. Henry thấm đẫm tình người. Mỗi truyện là một tuyên ngôn ‘nghệ thuật vị nhân sinh’.
Trong những truyện ngắn lừng danh đó phải kể đến tác phẩm: ‘The Last leaf’ ( Chiếc lá cuối cùng) xuất bản lần đầu vào năm 1907.
Chuyện rằng: “Sue và Johnsy là hai nữ họa sĩ trẻ sống trong Greenwich Village, Manhattan, thành phố New York, Hoa Kỳ. Behrman là một ông họa sĩ già sống cùng chung cư. Suốt cả cuộc đời, Behrman khao khát tạo nên một kiệt tác nhưng chưa làm được.
Mùa Ðông năm ấy, Johnsy bị bệnh sưng phổi rất nặng. Bệnh tật khiến cô bị trầm cảm. Johnsy tuyệt vọng và nghĩ rằng khi chiếc lá cuối cùng trên cây Trường Xuân dưới sân nhà rụng xuống, cũng là lúc Johnsy lìa đời.
Sue, người bạn thân thiết cùng phòng hết lòng chạy chữa cho Johnsy. Nhưng vô ích, Johnsy vẫn âm thầm đếm từng chiếc lá Trường Xuân rụng xuống, chờ cho đến ngày tận tuyệt.
Biết được ý nghĩ bi quan đó của Johnsy, ông họa sĩ già Behrman cô đơn thức suốt canh thâu để vẽ một chiếc lá Trường Xuân ở trên tường. Chiếc lá giống y như thật. Chiếc lá cuối cùng đó như đang cố bám vào cây Trường Xuân để chống chọi lại mùa Ðông giông bão. Nó đã kiên cường chiến đấu mà không chịu bỏ cuộc, không rụng dù trong đêm qua Trời nổi cơn bão lớn. Ðiều đó làm Johnsy suy nghĩ lại, cô muốn được sống, muốn được sáng tạo.
Johnsy trở về từ cõi chết nhưng Behrman lại chết vì sưng phổi sau một đêm tạo ra kiệt tác chiếc lá để cứu sống Johnsy.
Chiều cuối năm quê người, năm tận tháng cùng ngày sắp hết, tôi lại nhớ O. Henry sống một cuộc đời bi kịch. Bi kịch đó như chiếc lá Trường Xuân, kiệt tác của người Họa sĩ già vẽ trên bức tường trong một tối đêm Ðông trời New York.

Chiếc lá Trường Xuân đó không thể nào rơi vào quên lãng của đời người. Cho dù mải mê mần văn đến nỗi tiền nhuận bút không đủ mua rượu uống. Ðôi khi bánh mì cũng không đủ để mà ăn. (Ðói bao giờ cũng viết văn hay hơn lúc no! Mần văn nghệ nó tréo cẳng ngỗng vậy đó.)
Xin cúi đầu ngưỡng mộ, xin lạy quý nhà văn ba lạy. Mỗi tác phẩm của các ông là một chiếc lá Trường Xuân dâng hiến mãi cho đời!

Đoàn Xuân Thu


Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2025

Vĩnh Biệt Juliet!


William! Shakespeare (1564–1616) là một diễn viên, nhà soạn kịch và nhà thơ vĩ đại nhất trong lịch sử văn học Anh cũng như văn học thế giới.
Shakespeare sinh ra tại Stratford-upon-Avon, một thị trấn nhỏ ở Anh, vào ngày 23 tháng 4 năm 1564. Ông qua đời vào ngày 23 tháng 4 năm 1616, đúng vào ngày sinh nhật của mình, và được chôn cất tại nhà thờ Holy Trinity ở Stratford-upon-Avon.
Shakespeare là một thành viên của nhóm kịch "Lord Chamberlain's Men", sau này đổi tên thành "King's Men" khi được Vua James I bảo trợ. Trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã viết khoảng 39 vở kịch, 154 bài thơ sonnet, và nhiều tác phẩm khác. Các vở kịch của ông được chia thành ba thể loại chính: bi kịch (như *Romeo và Juliet*, *Hamlet*, *Macbeth*), hài kịch (như *Twelfth Night*, *A Midsummer Night’s Dream*), và sử thi lịch sử (như *Henry V*, *Richard III*).
Ngoài tài năng viết kịch, Shakespeare còn có ảnh hưởng sâu rộng đến ngôn ngữ Anh. Nhiều câu nói và cụm từ trong các tác phẩm của ông đã trở thành một phần của tiếng Anh hiện đại, và ông được cho là đã tạo ra hàng trăm từ ngữ mới.
Romeo và Juliet là một vở bi kịch nổi tiếng của William Shakespeare, kể về mối tình oan trái giữa Romeo và Juliet, hai người trẻ tuổi thuộc hai gia đình thù địch nhau ở thành Verona, Ý.
Cốt truyện: Romeo Montague và Juliet Capulet gặp nhau tại một buổi tiệc và yêu nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên. Tuy nhiên, do mối thù giữa hai gia đình, tình yêu của họ gặp nhiều trắc trở. Họ bí mật kết hôn nhưng không thể sống hạnh phúc bên nhau. Cuối cùng, cả hai đều chọn cái chết để được ở bên nhau mãi mãi.
 
Nhân vật chính:

- **Romeo Montague**: Con trai của gia đình Montague, yêu Juliet.
- **Juliet Capulet**: Con gái của gia đình Capulet, yêu Romeo.
- **Friar Laurence**: Thầy tu giúp đỡ Romeo và Juliet.
- **Mercutio**: Bạn thân của Romeo.
- **Tybalt**: Anh họ của Juliet, người gây ra nhiều xung đột.
Vở kịch này đã được chuyển thể thành nhiều bộ phim, vở nhạc kịch và tác phẩm nghệ thuật khác nhau, nổi bật nhất là phiên bản phim năm 1968 của đạo diễn Franco Zeffirelli.
Và phiên bản hiện đại năm 1996 của đạo diễn Baz Luhrmann. Phiên bản 1996, dù được hiện đại hóa, vẫn giữ nguyên ngôn ngữ gốc của Shakespeare.
- **Đạo diễn**: Baz Luhrmann
- **Diễn viên chính**: Leonardo DiCaprio (Romeo), Claire Danes (Juliet)
Claire Danes và Leonardo DiCaprio được đánh giá là rất ăn ý, tạo nên một cặp đôi Romeo và Juliet đầy sức sống và cảm xúc. Claire Danes đã giành giải Blockbuster Entertainment Award cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trong phim lãng mạn.
Leonard Whiting** là một diễn viên và ca sĩ người Anh, nổi tiếng nhất với vai Romeo trong bộ phim *Romeo và Juliet* năm 1968 của đạo diễn Franco Zeffirelli.
- **Ngày sinh**: 30 tháng 6 năm 1950
- **Nơi sinh**: Wood Green, Middlesex, Anh
- **Gia đình**: Là con trai duy nhất của Arthur Leonard Whiting và Peggy Joyce O'Sullivan, có hai em gái.
- **Khởi đầu**: Leonard bắt đầu sự nghiệp diễn xuất từ khi còn nhỏ, tham gia các vở kịch tại trường học và nhà thờ địa phương. Ông từng đóng vai Artful Dodger trong vở nhạc kịch *Oliver!* tại London.
- **Đột phá**: Vai diễn Romeo trong *Romeo và Juliet* đã mang lại cho ông giải Quả cầu vàng cho Ngôi sao mới của năm vào năm 1969.
- **Các vai diễn khác**: Leonard còn tham gia nhiều bộ phim và chương trình truyền hình khác như *Say Hello to Yesterday* (1971), *Frankenstein: The True Story* (1973), và *The Dreamstone* (1990–1995).
**Đời sống cá nhân**: Leonard đã kết hôn hai lần và có hai con.
Olivia Hussey Eisley** là nữ diễn viên nổi tiếng người Anh, đặc biệt được biết đến với vai Juliet trong bộ phim chuyển thể từ tác phẩm *Romeo và Juliet* của William Shakespeare vào năm 1968.
- **Tên đầy đủ**: Olivia Osuna (sau khi kết hôn là Olivia Hussey Eisley).
- **Ngày sinh**: 17 tháng 4, 1951
- **Nơi sinh**: Buenos Aires, Argentina
- **Quốc tịch**: Anh (mặc dù sinh ở Argentina, cô có quốc tịch Anh).


Olivia Hussey bắt đầu sự nghiệp diễn xuất từ khi còn rất trẻ và trở thành một trong những ngôi sao điện ảnh nổi bật nhất vào thập niên 1960. Cô được biết đến rộng rãi nhất qua vai Juliet trong bộ phim *Romeo và Juliet* (1968), bộ phim chuyển thể từ tác phẩm nổi tiếng của Shakespeare do đạo diễn Franco Zeffirelli thực hiện. Ở tuổi 16, Olivia Hussey đã hóa thân xuất sắc vào vai Juliet, người yêu trẻ tuổi, ngây thơ nhưng mạnh mẽ.
“Romeo và Juliet” là bước đột phá lớn của nữ diễn viên người Anh gốc Argentina, giúp Olivia Hussey giành được Quả cầu vàng cho vai diễn Juliet. Sau thành công vang dội của *Romeo và Juliet*, Olivia tiếp tục tham gia vào nhiều bộ phim khác như *The Story of the Trapp Family Singers* (1970), *Airport 1975* (1974), *Black Christmas* (1974) và *Jesus of Nazareth* (1977). Tuy nhiên, không có vai diễn nào nổi bật hơn Juliet trong *Romeo và Juliet*.
Olivia Hussey Eisley vừa qua đời vào ngày 27 tháng 12, 2024. Trong một tuyên bố trên Instagram, gia đình cô cho biết: “Olivia đã ra đi thanh thản tại nhà, được bao bọc bởi những người thân yêu. Olivia đã sống một cuộc đời đầy đam mê, tình yêu và sự cống hiến cho nghệ thuật. Cô để lại một gia đình yêu thương— các con của cô, Alex, Max và India, cùng người chồng 35 năm của cô, David Glen Eisley, và cháu trai, Greyson. Di sản tình yêu của cô sẽ mãi mãi được trân trọng trong trái tim chúng tôi.”
Vĩnh biệt Juliet! Vĩnh biệt Olivia Hussey. Vĩnh biệt một thời tuổi trẻ của chúng ta!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2024

Ôn Ơi!


Nằm ở cửa Nam sông Hậu, vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam, Sóc Trăng giáp với Trà Vinh, Vĩnh Long, Hậu Giang và Bạc Liêu. Sóc Trăng có bờ biển dài khoảng 72 km giáp với Biển Đông. Có Cửa Ba Động nơi tui xuống thuyền vượt biên ngày cũ.

Tên Sóc Trăng, thời VNCH là tỉnh Ba Xuyên, xuất phát từ tiếng Khmer ‘Srok Khleang’, có nghĩa là ‘vùng đất của kho bạc’ hoặc ‘nơi chứa bạc’. Tôi nghĩ Sóc Trăng là cái sóc trù phú nhờ đất giồng ven biển do phù sa sông Hậu tràn bờ bồi đắp cả ngàn năm. Miệt Sóc Trăng dân cuốc khoai nhiều lắm. Trên đất giồng, mình trồng khoai lang.

Dân Sóc Trăng có người Việt, người Miên và người Tiều. Người Miên, còn gọi là người Khmer, là sắc dân thiểu số, ít người khi so với người Việt. Người Miên sống tập trung trong nhiều phum sóc ở Sóc Trăng. “Phum” trong tiếng Khmer có nghĩa là ‘vườn’, tương đương với xóm, thôn, ấp của người Việt, gồm một số gia đình có bà con với nhau. Mỗi phum thường có hàng rào tre xanh bao quanh và có cổng phum. Sóc thì nhiều phum, tương đương với làng hoặc xã của người Việt. Mỗi sóc thường có một hoặc nhiều ngôi chùa Miên. Các ngôi chùa Khmer (wat) đẹp và cổ kính như chùa Dơi, chùa Đất Sét và chùa Phật Nằm, theo hệ phái Phật giáo Nam tông.

Người Miên ở Sóc Trăng nói tiếng Khmer. Tiếng Khmer có nguồn gốc từ chữ Pallava của Ấn Độ, là ngôn ngữ đa âm và tượng thanh, nghĩa là mỗi ký tự đại diện cho một âm thanh cụ thể. Tiếng Khmer có một lượng lớn từ vay mượn từ tiếng Phạn và tiếng Pali, do ảnh hưởng của Ấn Độ giáo và Phật giáo. Ngoài ra, tiếng Khmer cũng có nhiều từ vay mượn từ tiếng Pháp do thời kỳ thuộc địa. Tiếng Khmer có nhiều phương ngữ khác nhau, như phương ngữ Phnom Penh, thủ đô của Campuchia; phương ngữ Battambang, vùng tây bắc Campuchia; và phương ngữ Khmer Krom. Từ “Krom” có nghĩa là ‘dưới’, thường chỉ những người Khmer sống ở phía nam của Campuchia, tức là khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Đua ghe trong Lễ hội Ok Om Bok

Về Kế Sách, Sóc Trăng, tôi biết người Miên có Lễ hội Ok Om Bok (Lễ cúng trăng), Lễ hội Chol Chnam Thmay (Tết Khmer) và Lễ hội Đôn-ta (Lễ cúng ông bà).

Người Miên thích cờ bạc, chơi bầu cua cá cọp; tin dị đoan, xin số đề mà huyện đề là một ông người Tiều lủm hết.

Người Khmer đi ‘tu phước’ là đi chùa đọc kinh, lạy Phật, cúng dường cho các sư sãi, ôm bình bát, không đi khất thực, bố thí cho những người nghèo.

Người Miên không địa táng hoặc thổ táng (thổ là đất), đem chôn dưới đất như người Việt. Người Miên theo phong tục hỏa táng (hỏa là lửa) nên bị chọc quê là “dân chết đốt”. Nghe vậy họ giận mình lắm nhe!

Tui biết tiếng Việt chịu ảnh hưởng tiếng Miên như: Con nít khỉ khọn bị kêu là thằng cốt đột, thằng khỉ. “Bon ơi! Tâu na? Tâu tâm tức, tâu xa, tâu phất xạ, tâu phất cà phê ôn ơi” (Anh ơi! Hôm nay đi đâu? Đi tắm xong thì đi chợ nhậu, đi uống cà phê, em ơi.)

Vàm nơi một con rạch đổ vào một con sông. Bưng vùng đồng lầy ngập nước, mọc nhiều cỏ lác. “Trắng da vì bởi má cưng. Đen da vì bởi lội bưng vớt bèo.” Biền bãi lầy ở ven sông rạch, nước thì ngập.

Xoài đông ken giữa mùa, nhiều trái. Củ co mọc hoang vùng đồng nước, có lá và cọng giống như bông súng nhưng nhỏ hơn. Củ co nhỏ, thường chỉ bằng ngón chân cái người lớn, với vỏ ngoài màu đen và xù xì. Khi nấu chín, củ co có vị bùi và dẻo, vị hơi đắng tương tự như khoai môn, khoai cao. Người dân thường móc củ co để ăn độn với cơm hoặc nấu cháo. Ca dao có câu: “Củ co, bông súng, rau tràng. Chờ đôi năm nữa cho nàng lớn khôn. Em muốn về Mỹ Hội mà bà nội không cho. Bắt vào Đồng Tháp, ăn bông súng với củ co thấu trời. Đói lòng đi móc củ co. Thấy em hết gạo anh cho một nồi. Rồi hỏi anh có nhớ Bảy Ngàn. Củ co ăn với củ bàng thế cơm?”
Múa Rom Vong, của người Khmer ở Kế Sách, Sóc Trăng

Tui ăn dưa điên điển làm bằng bông điên điển, màu vàng, mọc nhiều ở vùng đất bưng, chấm thịt kho, cá kho…

Sau tháng Tư năm 1975 định mệnh, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh từ Sài Gòn phải phiêu dạt về Cần Thơ kiếm sống. Ông có viết bài hát “Chiếc Áo Bà Ba” nổi tiếng: “Chiếc áo bà ba trên dòng sông thăm thẳm, thấp thoáng con xuồng bé nhỏ lướt mong manh. Nón lá đội nghiêng, tóc dài con nước đổ. Hậu Giang ơi em vẫn đẹp ngàn đời. Nhớ chiếc xuồng xưa năm nào trên bến cũ. Thương lắm câu hò kêu gọi khách sang sông. Áo trắng xuồng đưa mắt cười em khẽ gọi. Người thương ơi em vẫn đợi chờ…”

“Đẹp quá quê hương hôm nay đẹp vô ngần. Về Sóc Trăng một ngày, nghe ca điệu lâm thôn. Đàn én chao nghiêng, xôn xao mùa lúa chín. Về bến Ninh Kiều, thấy nàng đợi người yêu…”

(Mấy câu này, ông Nhật Trường hô khẩu hiệu của VC. Hô xong, ông tìm cách vọt qua Mỹ mất tiêu luôn. Tôi bèn bắt chước nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, một đi không trở lại.)

Bài “Chiếc áo bà ba” của ông làm tôi nhớ điệu lâm thôn, còn được gọi là múa Rom Vong, của người Khmer ở Kế Sách, Sóc Trăng. Người con gái Khmer tôi yêu, mặc “sarong,” một mảnh vải dài, thường có hoa văn và màu sắc sặc sỡ, được quấn quanh cơ thể từ eo xuống chân. Em dắt tôi đi theo vòng tròn. Những động tác của em uyển chuyển và nhịp nhàng, trong khi hai tay tôi cứng ngắc như hai khúc củi. Tôi quơ quơ đuổi muỗi, làm em cười khanh khách.

Rồi VC, Cái Văn Quạ, tức Năm Quạ, từ bưng biền lội ra; Hai Tịch từ xã Kế An đi cẳng không, vì nhỏ lớn chưa hề mang giày hay dép lội vào chợ Kế Sách. Sự ngu dốt của chúng biến tình tôi thành tình mộng. Vì thời cuộc, tôi xa em từ độ ấy.

Quê người, tôi vẫn nhớ quê mình. Tôi nhớ Sóc Trăng, nhớ Kế Sách, nhớ em yêu còn kẹt lại bên kia biển, bên kia trời lận đận. Em ơi, anh yêu em lắm: (oun aoy, bong srolanh oun nas). Em ơi, anh nhớ em lắm: (oun aoy, bong neuk oun nas). Quê người nghĩ xót thân lưu lạc! “Mè ơi!” Má ơi! Hu hu!

Đoàn Xuân Thu

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2024

Sumaco!

Bản đồ Ma Rốc

Nằm ở Bắc Phi (North Africa), giáp với Đại Tây Dương (Atlantic Ocean) và Địa Trung Hải (Mediterranean Sea), tiếng Anh: The Kingdom of Morocco. Tiếng Pháp: Maroc. Tiếng Việt là Ma Rốc.
Ma Rốc từng là một thuộc địa của Pháp suốt 44 năm dài, từ năm 1912 đến năm 1956. Nhưng Lục tỉnh Nam Kỳ chìm trong vòng nô lệ tới hơn cả trăm năm.
Cùng thân phận nhược tiểu, thuộc địa của thực dân Pháp, cùng thời gian; nên Lục tỉnh Nam Kỳ cũng không xa lạ gì với Ma Rốc.
Bằng cớ: nói không ai hiểu là nói tiếng Ma Rốc. Ma Rốc nói lái là ‘móc ra’. Cữ nhậu nầy tới phiên mình trả. Nhậu chực hoài ai chơi với mình?

Người Việt, trong đó có tui, nhớ tới Ma Rốc vì Ma Rốc sản xuất hộp cá mòi Sumaco tui ăn hồi còn chút éc.
Cá mòi, tiếng Anh ‘sardine’, loài cá dầu nhỏ thuộc họ cá trích. Tên Sardine được đặt theo một hòn đảo Sardina trong Địa Trung Hải (Mediterranean Sea), vùng biển có rất nhiều cá sardine, cá mòi.
Là nước xuất cảng cá mòi đóng hộp nhiều nhứt thế giới, 600,000 tấn/năm, hơn 62% sản lượng đủ loại cá, Ma Rốc đánh bắt được.
Cá mòi Sumaco được sản xuất tại tỉnh Agadir, ven Địa Trung Hải. Agadir cách thủ đô Rabat của Morocco khoảng 466 km về phía tây nam.
Trong một hộp cá mòi (sardine in tomato sauce) của Ma Rốc, có cá mòi (Sardines) loại cá nhỏ, thịt trắng và sốt cà chua (tomato sauce) làm từ cà chua tươi, bóc vỏ, bỏ hạt, nghiền nhỏ được nấu chung với tỏi, dầu ô liu, húng quế, ngò và gia vị Maroc như tiêu và ớt paprika.

Vào thế kỷ 19, Pháp xua quân chiếm nhiều nước trên thế giới làm thuộc địa để bóc lột tài nguyên, trong đó có Việt Nam và Ma Rốc. Pháp đã xây dựng các công ty sản xuất cá mòi tại Ma Rốc. Rồi cá mòi của Maroc được vận chuyển đi phát cho lính Pháp ở Việt Nam. Tuy nhiên, ăn hoài cũng ngán, lính Lê Dương Legionnaire (Légion étrangère) đem bán cho dân địa phương. Thế là, người Việt mua Sumaco một món xa xỉ mà ai cũng muốn được ăn thử một lần.

(Rồi sau tháng Tư, 1975, thuyền nhân Việt Nam tị nạn CS vượt biển đến được Đảo Galang, trong quần đảo Batam, Indonesia. Hay Pulau Bidong ở Kuala Terengganu, Malaysia.
Trong khẩu phần lương thực được Cao Ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc phát mỗi ngày: có cả cá mòi đóng hộp. Ăn hoài tất ngán, bà con mình đem hộp cá mòi đi đổi lấy cá tươi của ngư phủ địa phương.)

Lâu lâu, bữa nào siêng siêng, tui đẩy ‘trolley’ cho em yêu đi Coles supermarket Footscray. Tui hay thấy mấy bà Úc đen, ú nu như con hà mã, mua Tuna trong dầu Olive hộp 185g giá $2.20. Còn em yêu mua về một hộp cá mòi Sumaco của Morocco nặng 125 gr giá $1.75 với hai ổ bánh mì. Tui nịnh em: “Đi chợ giỏi ghê; biết lựa mua cá mòi của Ma Rốc vừa ngon, vừa rẻ!”

Bấy lâu nay, tui nghe mấy nhà tâm lý dạy tui là đàn bà, con gái, nhứt là người Việt mình, khoái nịnh lắm. Nghe nịnh là mấy em sướng tỉ tê, nhắm mắt để mật rót vào tai đến nỗi không thấy đường đi. Chính vì vậy trong kho ngữ vựng tiếng Việt mới có chữ ‘nịnh đầm’. Tụi Tây có chữ ‘galant’.

Nhưng anh giáo dạy trường Việt ngữ thứ bảy chê tui ngu. Ảnh giảng: nịnh là khen dóc; đầm là phụ nữ. Nịnh đầm, tiếng động từ, khen, ca ngợi, tâng bốc phụ nữ một cách quá mức, không chân thành để lấy lòng em đem về xào khóm nhậu chơi. Nịnh đầm là nói dóc, không chân thật mà là chân giả (dối).

Còn ga lăng (galant), mượn từ tiếng Pháp, có nghĩa là lịch duyệt, là vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa. Anh nào biết ga lăng tất sẽ đào hoa. Lúc đó được mấy em mê tít thò lò thì mặc tình mà đào mỏ, làm Casanova cho ấm cái tấm thân ‘ròm’.

Giacomo Casanova người Ý, sinh ra tại Venice đào hoa, tưng bừng gái gú bu như ruồi nhưng em nào cũng tin như bắp nướng là ảnh yêu chỉ một mình em. Còn mấy con ngựa bà khác ảnh chỉ qua đường ghé lại mà thôi.

Tui hỏi email của Casanova để xin làm đệ tử. Anh giáo bĩu môi nói: Chừa chỗ cho người ta dốt với. Trình độ lèng èng cỡ anh thì sức mấy? Dẻo miệng cỡ tui thì may ra. Nhưng ổng chết mấy mươi đời vương rồi. (1725-1798).

Em yêu của tui dĩ nhiên rất khoái nịnh. Ngày nào không nghe nịnh là em ăn cơm nuốt không trôi. Em nói và biểu tui không được cãi: “Sumaco của mấy thằng hải tặc Thái Lan mắc gấp đôi của người ta. Cho em, em đem đi vụt thùng rác.

Bánh mì cá sumaco

Vậy là em mua một hộp cá mòi Sumaco của Ma Rốc về làm điểm tâm. Lửa vừa, em yêu đổ dầu ăn, tỏi vào chảo. Thêm hành tây, chút muối xào trong vài phút cho thơm. Thêm cá mòi với nước sốt cà chua, đường, nửa muỗng cà phê tiêu và 3 muỗng canh nước. Đun sôi và để nhỏ lửa trong 2 phút rồi tắt bếp. Em phết bơ bánh mì, trút cá mòi vào với ngò rí và một nhúm tiêu đen.

Món cá mòi bánh mì của em yêu ngon hết xẩy. Bữa điểm tâm, sáng, nhưng về hưu rồi, đâu có đi cày, cuốc gì, bịnh gì mà cữ? Tui uống beer, ăn cá mòi, hành tây ngâm giấm. Ngà ngà say, tui chui vô phòng để ngáy pho pho mơ về quê cũ.

Nước Úc với nền văn hoá đồ hộp dành cho dân “low income”, dân thu nhập thấp, dân nghèo như tui. Trái lại, quê mình hồi xưa, dân có tiền mới được ăn đồ hộp nhập cảng từ bên Tây.

Tui thời thơ ấu, ba tui làm Bưu Điện, hôm nào phải trực về trễ ba hay mua đồ ăn về cho vợ, cho con. Bữa ba mua bánh gan, bánh da lợn của em Thuý bán trên lề đường Trưng Trắc Mỹ Tho. Bữa ba mua một hộp cá mòi Sumaco với mấy ổ bánh mì về cho con. Má vẫn chờ ba về để ba má ăn cơm chung.

Hộp cá mòi Sumaco của Ma Rốc đối với người xa xứ, già như tui, gợi lại những hồi ức sâu đậm về thời thơ ấu. Tui nhớ cá mòi Sumaco rắc tiêu ăn với củ hành xắt lát mỏng ngâm giấm và bánh mì mới nướng.

Thương thằng em, chia cho mầy một miếng. Để ba mất, anh em mình đều khóc. CS vào thôi đã hết những ngày vui.

Đoàn Xuân Thu

Thứ Năm, 29 tháng 8, 2024

Cột Đèn! Cột Điện?

 
1807, thành phố London lắp đèn đường phố bằng khí đốt

Cách nay khoảng 2000 năm, chỉ những nhà giàu thành Rome, mới có nô lệ đốt đèn bằng dầu thực vật để chiếu sáng lúc đêm về. Coi phim La Mã cổ đại chúng ta đều biết. Năm 1417, thị trưởng thành phố London lệnh tất cả các nhà phải treo đèn lồng ở trước cửa khi đêm xuống trong những tháng mùa Đông. Mãi tới năm 1807, thành phố London; năm 1816, Baltimore của nước Mỹ lắp đèn đường phố bằng khí đốt. Rồi tới năm 1879, đèn chân không do Thomas Alva Edison (1847–1931) phát minh mới chiếu sáng đường phố.

Còn nước ta, thời Pháp thuộc, ngày 27.9.1865, Giám đốc Nha Nội vụ (Directeur de l’Intérieur) Paulin Vial cho thắp sáng 24 con đường (đặt tên theo số), tại Sài Gòn bằng loại đèn sử dụng dầu dừa. (Paulin Vial từng đóng lon trung úy, Trưởng đồn kiêm Giám đốc bản xứ sự vụ Gò Công. Tờ mờ sáng ngày 22 tháng 6 năm 1861 (Tân Dậu), Huyện Toại, Đỗ Trình Thoại, tấn công đồn Gò Công dùng gươm đâm Paulin Vial tưởng chết)

Phủ Thống đốc Nam kỳ ra nghị định yêu cầu dân địa phương phải tự thắp sáng ngõ ra vào cửa nhà của mình. Về việc thắp sáng công cộng, ngày 12.11.1867, Hội đồng thành phố Sài Gòn giao thầu cho Andrieu. Giờ thắp sáng bắt đầu từ 6 giờ đến 6 giờ 30 chiều, tùy theo mùa, và chỉ tắt đèn vào 5 giờ sáng hôm sau, không được sớm hơn, vì từ 4 đến 5 giờ sáng là giờ làm ăn của bọn đạo chích. Hội đồng quyết định dùng dầu lửa để thắp sáng đèn công cộng kể từ ngày 1.4.1870. Chính quyền Pháp cho lắp 17 cụm đèn chùm tại bến Cầu Ông Lãnh, đường Catinat (VNCH Tự Do; CS là Đồng Khởi), đường Isabelle II (sau là Espagne, nay là Lê Thánh Tôn), bắt đầu từ đường Hôpital (nay là đường Pasteur) và đường Impériale nối dài (sau là Paul Blanchy, nay là Hai Bà Trưng)

Chớ xưa có đèn dầu là em mừng húm rồi: “Đèn treo ngang quán. Tỏ rạng bờ kinh”. Rồi “Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ. Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu”. Tới những năm đầu thế kỷ XX, thành phố Sài Gòn mới bắt đầu có đèn điện sáng choang. Trong phong tục nhơn vật diễn ca –Sài Gòn 1906- ông Nguyễn Liên Phong ghi lại: “Phong lưu cách điệu ai bằng, Đường đi trơn láng, đèn giăng sáng lòa.” “Đèn Sài Gòn ngọn xanh, ngọn đỏ. Chớ đèn Mỹ Tho vẫn còn ngọn tỏ, ngọn lu.”

Tui nhớ thời thơ ấu, năm 1965, trời sập tối, má dắt một đám con, 7 đứa, ra trước cửa Bưu Điện Tân Định chờ ba đi làm về. Ba về có mua bánh mì Tám Cẩu đường Cao Thắng. Đường Hai Bà Trưng mới lắp cột đèn cao áp sáng trưng. Ngồi nhìn xe qua lại, có má, có anh, có em. Giờ tha hương đã bao năm, sầu cố xứ; vì con không thể nào gặp lại những ngày vui đó nữa. Đèn cao áp ngày nầy đã nằm yên trong ký ức, vì ngày nay đã có đèn LED hiện đại hơn nhiều.

Tui nhớ nhà đèn Chợ Quán của cái đất Sài Gòn. Tui nhớ nhà đèn Mỹ Tho đường Học Lạc. Một ngày thứ Bảy năm 1967, sáng nghỉ học, tui chạy Honda SS 67 qua nhà thằng Võ Thành Điệu, bạn cùng lớp, nhà ở đường Đốc Binh Kiều, bên kia Cầu Quay Mỹ Tho chơi; vì nó có đứa em gái dẫu quê phèn Tân Thới, Gò Công nhưng da mặt em như mận Hồng Đào của cái xứ Trung Lương. Tui đâu biết tối qua, VC ném lựu đạn vô nhà đèn. Nên lúc 9 giờ sáng, lính đại đội 11 Trinh Sát, Sư đoàn 7, xét giấy tờ, bắt tui về sân đại đội để giải giao cho Cảnh sát của Đỗ Kiến Mười. Chú cảnh sát gác ở Bưu Điện thấy mặt tui ngồi chong ngóc trong khoảng sân có rào kẽm gai ‘concertina’ báo cho ba tui lúc đó làm Trưởng ty Bưu Điện hay. Đến lãnh tui về, ba không rầy rà gì tui hết ráo. Ba chỉ nói: “Xét tờ khai gia đình thuộc thẩm quyền của Cảnh sát và chỉ được làm trong giờ giới nghiêm. Trung úy Linh, đại đội trưởng nầy lạm quyền!” Nãy giờ đang ấm ức vì bị bắt vô cớ, tui khiếu nại mà nó còn hăm bắn tui nữa chớ; giờ nghe ba tui nói vậy, tui mát lòng mát dạ hết sức. Chuyện 60 năm rồi, con vẫn nhớ ba!

Lễ khánh thành Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn năm 1880, Sài Gòn đã có đèn đường – nguồn antoursvietnam.com

Thưa tui nhớ bến Ninh Kiều, Cần Thơ. Nhà biên khảo Sơn Nam viết: “Khoảng năm 1937, đôi ba ngày một lần, tàu Nam Vang chạy ngang ghé lại Bến Hàng Dương mang tên là Quai de Commerce (Bến Thương Mại) khá lâu, hành khách, hàng hóa lên xuống rộn rịp, thêm người trên bờ xuống tàu rao thức ăn uống…” Trong đó, có hãng tàu Compagnie de Messageries Fluviales, mỗi tuần ghé qua 2 lần.”

Tui nhớ đèn ba ngọn, trước Pharmacie du Mekong giữa ngã ba Ngô Quyền, Hai Bà Trưng, Bến Ninh Kiều, Bến Hàng Dương ngày cũ. Tui nhớ Trần Thị Minh Chi, nhớ Trần Thị Nhãn, học trò trường Đoàn Thị Điểm. Tui nhớ em Nguyễn Văn Mừng, học trò tiếng Anh buổi tối của tui, làm thợ trại đóng ghe Xóm Chài bên kia sông.

Tui nhớ bài báo của một nhà báo quốc doanh CS khoe là dân Ông Tạ Sài Gòn nhưng đặt dóc hổng có căn! Ông nói: bà Lý Sói gần nhà ông là người đã nói câu: “Cây cột điện đi được nó cũng đi…” Nhiều năm sau, Nguyễn Xuân Phúc, cựu thủ tướng CS cải biên: “Nếu cột điện ở Mỹ biết đi thì sẽ về Việt Nam”

Bến Ninh Kiều, Cần Thơ xưa – nguồn chuyện xưa

Nói thiệt hay giỡn chơi vậy cha? Cột đèn về Việt Nam hết ráo, tối ra Footscray nhậu, xa lộ không đèn, làm sao tui thấy đường về nhà? Bỏ em yêu ngủ một mình tối hù; em đâu có chịu em sợ ma lắm đó! Hu hu! Cây cột điện ở Mỹ chưa về thì “Bảy niểng’ đã bị đá đít “về làm người tử tế!”

Cột đèn chớ cột điện cái giống gì? Dùng chữ cột điện là dốt; là không có ý nghĩa gì ráo? Cột điện hồi xưa thời Pháp dùng để đánh đây thép, đánh morse khi Mỹ chưa qua, chưa có đài viba! Chính vì vậy Bưu điện hồi xưa bà con mình còn gọi là Nhà Dây Thép. Cột đèn để chiếu sáng những con đường trong thành phố.

Ý câu nói rất thâm trầm: cột đèn nó đi, nó mang theo ánh sáng. Con đường CS chỉ còn lại bóng tối mà thôi. Không phân biệt cột điện, cột đèn mà làm tới Chủ tịch nước thì lạ quá?!

 Đoàn Xuân Thu
August 16th, 2024

Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2024

Bắc Vàm Cống


Hồi thời tui còn đi học, hết năm đệ tứ là phải chọn ban. Ðứa nào chọn ban A, Vạn Vật; hoặc ban B, Toán, thì môn Sử Ðịa chỉ có hệ số 1 hè!
Còn ban C, Văn chương, quý Thầy Cô cho môn Sử Ðịa tới hệ số 2 đó nhe! Vì quý Thầy Cô thừa biết rằng muốn mần văn cho hay là phải rành Sử Ðịa!

Nhưng học Sử Ðịa trong trường thôi, thì theo tui, chưa đủ để mần văn cho hay, cho hấp dẫn đâu. Muốn mần văn cho ăn khách, để ông Chủ bút để mắt xanh, (chớ không phải mắt bù lạch ăn), tuyển chọn cho đăng; rồi bà Chủ báo, mở hầu bao, lâu lâu gởi cho tác giả chút tiền ‘còm’ nhuận bút, để mình dắt em yêu đi ăn phở và uống trà đá là mình phải đọc thêm về ‘Ðịa phương chí’ nữa.

Ðịa phương là nơi mình ở. Còn chí là phả, là cuốn sách, cuốn sổ ghi chép, biên soạn. Như vậy Ðịa phương chí là sách giới thiệu về địa lý, lịch sử, phong tục, tập quán, nhân vật nổi cộm (cán), sản vật, kinh tế, văn hoá… của một địa phương, cái làng, xã, quận, tỉnh hay thành phố quê mình.

Cái vụ Ðịa phương chí nầy tác giả Huỳnh Minh là bậc thầy ‘chuyên khoa’ với Sài Gòn, Mỹ Tho, Sa Ðéc, Cần Thơ, Sóc Trăng… Xưa và nay.

Viết về đề tài tùm lum tà la thì mình gọi là tác giả ‘đa khoa’ còn viết về một đề tài chuyên biệt thì mình gọi là tác giả ‘chuyên khoa’. Nó giống như nghề làm bác sĩ vậy mà.
Chính vì vậy mà trên ‘facebook groups’, bà con bắt chước ổng lấy tên toàn là Sài Gòn, Mỹ Tho, Sa Ðéc, Cần Thơ, Sóc Trăng… Xưa và nay.
Xưa và Nay như Xưa thì hơi bị nhiều vì Nay là một cái thời chán như cơm nếp nát, thì đâu có cái gì để viết. Có viết ra cũng để chửi đổng mà thôi!

Tích xưa Phùng Hưng ‘Bố Cái Ðại Vương’ (761–802) vì dẫn dắt nhân dân nổi dậy, rượt quân Tàu xâm lược chạy sút luôn cái quần Tiều, gợi nhớ câu ca dao:
“Cái cò lặn lội bờ sông /Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non. / Em về nuôi Cái cùng con / Ðể anh đi trẩy nước non Cao Bằng”.

Như vậy Cái cò ở đây là con cò mẹ đó. Rồi em về nuôi Cái là về làm dâu (ngọt), nuôi Mẹ của mình đó, rồi làm Mẹ hiền để nuôi con mình; cho mình an tâm lên tuốt tận Cao Bằng, tỉnh địa đầu giáp biên giới Việt Trung mà chống quân Tàu xâm lược.

Tóm vô một chỗ thì sông lớn như: sông Hồng ngoài Bắc, sông Gianh ngoài Trung, sông Tiền, sông Hậu ở đồng bằng Sông Cửu Long đều được ông bà mình gọi là sông Cái. Vì sông Cái bao giờ cũng có nhiều nước hơn sông con.

“Cái còn có nghĩa là chính, là giữa, là chủ yếu! Như xúm lại gầy sòng bầu cua, đứa nào làm Cái; ắt hẳn nó có nhiều tiền hơn mấy đứa tay con.

Dòng sông Cái như mạch máu chính chằng chịt tỏa ra, mang phù sa bồi cho đất đồng bằng, nơi hạ lưu bình độ đã xuống ngang mực nước biển Ðông.

Hình ảnh dòng sông Cái, sông con đó có lẽ làm tổ tiên mình hồi xửa hồi xưa cảm tác ra cái huyền sử, cái truyền thuyết về Bà Âu Cơ.
Chớ căn theo sản khoa, một bà Mẹ mà đẻ tới trăm con thì chỉ có nước chết! Vú đâu mà cho nó bú?
Một sông con chảy ra con sông Cái như con về với Mẹ, nơi con và Cái gặp nhau thì mình gọi là vàm.

Vậy là có đủ thứ vàm: Vàm Cỏ, Vàm Nao, Vàm Rầy, Vàm Thuận, Vàm Trư, Vàm Láng, Vàm Xáng…! Kể hết cho láng chắc cỡ chục năm dư!

“Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No. / Anh có thương em thì cho một chiếc đò / Ðể em đi lại mua cò gởi thơ.
(Lỡ thương em rồi mà em xin ‘xỉu xỉu’ có một chiếc đò thôi! Xin kiểu nầy chắc anh mạt!)

Miền Nam mình sụp đổ! Tan hàng! Ngày vui ngắn chẳng đầy gang, ước vọng hòa bình chưa tàn lại bị một lũ điên làm cho nó vỡ tan!
Thế là lò dò bò ra vàm Nhơn Mỹ, nơi rạch Móp đổ ra sông Hậu, phía bên kia là Cù lao Quốc Gia, quận Kế Sách, tỉnh Ba Xuyên, tui lồm cồm rời ‘taxi’, leo lên ‘cá lớn’ rồi dông luôn qua Úc, bỏ em ở lại như dao cắt lòng!

“Ðêm ác mộng nhớ ngày năm cũ / đưa anh buồn, vàm, ngã ba sông / đau xót tình ta, trời vần vũ / Xa anh rồi đời em chỉ bão giông!”

Ôi những vàm sông nước mắt; kẻ ở tiễn người đi về bên kia thế giới… mới!

Quê mình, nhứt là miệt Lục tỉnh Nam kỳ, xưa đường lộ chưa thông! Bà con muốn đi chỗ nầy qua chỗ nọ đa phần là ‘lô ca chân’ hoặc xuống xuồng ba lá, ghe tam bản mà chèo.
Nên địa danh, tên đất cho biết mình chèo tới đâu được ông bà mình đặt tên Vàm có rất nhiều. Nhiều lũ khũ lù khu!
Vàm sông, là nơi hai dòng nước gặp nhau xà quần, luân vũ, nên nước chảy liu riu, cá tôm về quần tụ để sanh con đẻ cái.

Quý anh mình quởn quởn, xách cái cần câu móc mồi trùng ra bờ vàm, gần mấy đống chà mà câu cá. Hổng bao lâu là cá ăn thời giựt để lâu mất mồi, được con cá ba sa mỡ màng đem về cho Má nấu canh chua với bông điên điển mùa nước nổi nhậu để chơi hè! Quá đã!

Năm 1929, thằng Tây làm cái Bắc Vàm Cống. Vàm Cống cách cửa sông Cái Tàu Thượng chưa đầy 2 cây số. Nơi nước sông Hậu từ Biển Hồ bên Miên tràn xuống chảy rề rề , ít sóng to gió lớn, lục bình trôi hàng hàng như duyệt binh ra biển.

Bên nầy là quận Lấp Vò, tỉnh Sa Ðéc. Bờ kia là quận Thốt Nốt, tỉnh An Giang để xe cộ và bộ hành vượt sông tới Lộ Tẻ về Rạch Giá hay quẹo phải vô thị xã Long Xuyên rồi về Châu Ðốc.

Hồi xa xưa đó, cũng trên sông Hậu, chếch về hạ lưu chưa tới 50 cây số thì Bắc Cần Thơ, thủ phủ của miền Tây, ì xèo kẻ lại người qua thì Bắc Vàm Cống vẫn còn đìu hiu, quạnh quẽ lắm.

Tuy vậy cũng có tới hàng trăm gia đình ở dọc theo hai bên bến Bắc, hoặc dân tứ xứ đồng bằng tụ về kiếm tiền đong gạo bằng cách bán cơm, nước, hàng rong, cho hành khách lại qua.

Cuối cùng rồi cũng hết! Cái gì mà không chết? Ngày 30, tháng Sáu, năm 2019, Bắc Vàm Cống vĩnh biệt cõi dương trần; vì Cầu Vàm Cống đã cất xong, trịch về hạ lưu tới 3 cây số nữa.

Dõi theo chuyến Bắc cuối cùng là ánh mắt đượm buồn của bà con sở tại khi người tài công kéo tiếng còi dài chào từ giã bà con ở lại mạnh giỏi, trước lúc phải đi xa, tản lạc về Ðại Ngãi (Sóc Trăng), Láng Sắt (Trà Vinh), Ðình Khao (Vĩnh Long).

Cánh cổng xuống phà khép lại và khóa kín. Nhà cửa, hàng quán bên đường giờ cũng đóng im ỉm. Từ nay không còn nghe tiếng máy chạy ‘ùng ục’ một khúc sông, không còn nghe tiếng xe cộ, tiếng bộ hành cười nói xôn xao, hối hả lại qua.

“Tới rồi! Xuống Bắc qua sông bà con ơi!” Tiếng của người lơ xe giục khách từ độ ấy đã chìm rất sâu vào miên viễn. Một thời trân quý đã mất đi; chỉ còn là kỷ niệm khiến ai nấy cũng phải ngậm ngùi!

Cất cầu nhưng rầu cho chiếc Bắc! Không còn ponton! Không còn mỏ bàn đò! Không còn đèn pha mù mù trong sương đêm trời sụp tối. Không còn ai bước vội. Không còn người nghệ sĩ mù, cây đàn ghi ta phím lõm và cái nhịp song lang. Không còn ‘Xuân nầy con không về’

Bắc Vàm Cống đã chết, chết ngắc, chết thẳng cẳng nhưng có bài thơ ‘Ðêm Qua Bắc Vàm Cống’ của nhà thơ lính Tô Thùy Yên vẫn làm cho Bắc Vàm Cống sống, sống trong lòng hoài niệm của những kẻ lỡ xa quê.

Bài thơ như một lời tiên tri:
“Ðêm qua Bắc Vàm Cống / Mối sầu như nước sông /…Tôi châm điếu thuốc nữa / Ðốt tàn thêm tháng năm.”

Ðúng vậy! Ðời người cuối cùng chỉ là một điếu thuốc cháy dở dang, cháy lụi tàn cho đến hết; chỉ còn lại một nhúm tro than.

Ðêm quê người, ký ức Bắc Vàm Cống cũ, hình ảnh người xưa bỗng lồm cồm sống dậy. Nên trước khi trở thành như một nhúm tro tàn điếu thuốc mà nhà thơ lính Tô Thùy Yên đã hút hết năm qua, tui vẫn còn ước mong không còn bóng giặc để tui về quê cũ.

Về lại bên kia bờ thị xã Long Xuyên, nơi em yêu đã từng tiễn tui xuống Bắc Vàm Cống để lên đường ra mặt trận vào mùa Hè đỏ lửa 72 năm ấy.

Ðể nói theo nhà thơ Tô Thùy Yên trong bài ‘Ta về’
“Chút rượu hồng đây xin rưới xuống / Giải oan cho cuộc bể dâu này!”

Đoàn Xuân Thu