Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngộ Không Phí Ngọc Hùng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngộ Không Phí Ngọc Hùng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 29 tháng 3, 2023

Góp Nhặt Một Vài Khuất Sử

Lê Quý Đôn (1726-1784)

Là người sa đà với một vài khuất sử đang ẩn khuất đâu đây. Bởi sử nhà cả ngàn năm trước, nào có thể…nhìn thấy sử rõ mồn một hình thù cổ lỗ ra sao?!

Thảng như chuyện người viết sử dưới đây…

Thời Nga Hoàng Nikolai (1547-1721), công tước Velikiy Knyaz là sử gia nghiêm túc. Ông ngồi trên tầng ba của công thự để viết sử. Vì gò sử từ sáng đến giờ nên oải, ông ra đứng trước hàng hiên để thảnh thơi đôi chút. Bất ngờ trên đường có hai người đuổi nhau, một người cầm khẩu súng trường Mosin, hô hoán: “Tao bắn chết mày, thằng Do Thái”. Ông bảo bà quản gia xuống xem sao. Lát sau bà trở lên thuật lại khác hẳn những gì ông nhìn thấy. Ông nghĩ chuyện ngay trước mắt còn sai lạc huống chi sử kiện cả trăm năm trước. Sau đó theo ngoa truyền ông buông bút, không viết sử nữa.

Đang ngày trời tháng Bụt, khi trưa phơi sách khi chiều tưới cây, chả nhẽ lại…quẳng bút. Nhân đọc Phạm Đình Hổ viết Tang thương ngẫu lục chuyện Lê Quý Đôn bị Nguyễn Trãi quở trách:

Lê Quý Đôn xét lại sổ sách đất đai của dân. Nhân thể, cũng muốn rút bớt ân trạch với những khai quốc công thần thuở trước là.Nguyễn Trãi. Thế là Nguyễn Trãi hiện về “mắng” Lê Quý Đôn là kẻ tiểu sinh mới học, sao dám xúc phạm đến bậc khai quốc công thần. Mụ chữ tôi tâm phục khẩu phục Phạm Đình Hổ sống cách đây 270 năm...hoang tưởng thần kỳ đến như thế.

Thế nên nghĩ vụng hay là hãy mài óc viết hư cấu thật, hiện thực giả như Phạm Đình Hổ nhưng lại sợ cụ Lê Quý Đôn…quở trách thì khốn. Ngoài trời có sấm chớp linh đình. Hốt nhiên điện phụt tắt. Tối thui. Đột nhiên có điện trở lại. Tôi muốn nhẩy dựng lên vi có một đại nhân mặc áo quan cách, quấn khăn, để râu chòm, quan…hiện ra ngay trước mặt và từ tốn:

- Bản chức là Doãn Hậu Lê Quý Đôn đây.
Tôi ớ ra gì mà tôi…hoang tưởng quá sức vậy nên lập cập:
- Quan…Quan Toản tu quốc sử…
- Quan cách gì, các hạ rõ vẽ chuyện.

Cụ gần gũi với “các hạ” tôi thế đấy, bởi bản quán cụ cùng đất đồng chua nước mặn với tiện sinh tôi ở Thái Bình. “Gần chùa gọi Bụt bằng anh”, chả lẽ lại hỏi chuyện cụ bị cụ Nguyễn Trãi quở trách. Lại nữa, sau khi đỗ đại khoa, cụ là Toản tu quốc sử, được bổ làm Tổng tài Quốc sử quán. Sử sách của cụ gồm Đại Việt thông sử, Quốc triều tục biên, v…v….

Mặc dù thân quen qua…địa lý, nhưng với sử ký, mụ sử tôi nắm bắt được từ sử gia Velikiy Knyaz không nhìn thấy sử kiện cả “trăm năm trước”: Trong khi cụ Lê Quý Đôn viết sử biên niên, cụ sinh vào thời hậu Lê, Lê Lợi sống vào thời tiền Lê, sử kiện ắt có nhiều khuất tất. Huống chi Nguyễn Huệ mặc dù nằm tuốt luốt mấy trăm sau nên tôi đồ là sử liệu cũng có những khuất lấp. Nhưng cụ là sử quan, với văn kiến súc tích, sở kiến cao minh để tôi kiến văn sở thị thì hay biết mấy. Bèn thưa với cụ rằng mụ sử tôi đọc ở đâu đó chính cụ ngự sử văn đàn thế này…

Theo Lê Quý Đôn trong Đại Việt thông sử: Quân Minh biết Chí Linh là chỗ Lê Lợi lui tới, đem binh vây đánh. Vương hỏi các tướng rằng: Có ai làm được như người Kỷ A Tín chịu chết thay cho Hán Cao Tổ không? Bấy giờ có Lê Lai xin mặc thay áo ngự bào, ra trận đánh nhau với giặc. Quân Minh tưởng thật, xúm lại bắt sống Lê Lai dẫn về thành Đông Quan giết chết.

Nghe thủng rồi, không trả lời ngay, cụ móc trong bị vải nhang nhác như túi Tây ba lô ra hai hòn đá cọc cạch, một bó bùi nhùi rơm, và cái…không phải cái điếu bát, điếu cày mà là cái điếu ống (xưa các quan ta đi vi hành, vì ngồi võng nên dùng cái điếu ống này). Cụ làm một hơi thuốc lào cho nhân sinh quý thích chí rồi thong thả thông điếu, thông sử…

Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú kể: “Lúc mới khởi binh, bị tướng Minh vây ngặt, vua hỏi các tướng, bàn xem có ai đổi áo đánh lừa giặc, như Kỷ Tín ngày xưa. Ông xin đi, mặc áo bào, đem quân xông vào hàng trận, đánh đến đuối sức, bị bắt “

Theo bỉ phu, điều ngạc nhiên các sử quan về sau đều chép truyện Lê Lai liều mình cứu chúa, trong khi sử quan đời Lê không ghi truyện này. Sự thực ra sao? Quân Minh có giết Lê Lai không? Theo bỉ phu chắc chỉ có Nguyễn Trãi biết. Vì…

Sách Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi được chính Lê Lợi đề tựa, kể rằng:

Bấy giờ thế giặc đang lớn mạnh, vua nói: Ai có thể mặc áo bào thay ta đem quân đi đánh thành Tây Đô? Các tướng đều không dám nhận, chỉ có Lê Lai. Nguyễn Trãi cho biết Lê Lai bị quân Minh bắt sống và bị tra tấn dã man.

(Nguyễn Trãi 1380 – 1442)

Hoàn cảnh của Nguyễn Trãi không cho phép ông viết sự thật lúc Lê Lợi còn sống. Bỉ phu cho là vậy, tôn ý các hạ thấy sao? Vì...Đại Việt sử ký toàn thư chép :Giết Tư mã Lê Lai, tịch thu gia sản, vì Lai cậy có công đánh giặc, nói ra những lời ngạo mạn nên bị giết. Ngô Sĩ Liên, sử thần nhà Lê, chép lại cho hậu thế một sự kiện lịch sử. Không hiểu sao sử quan đời sau lại quên chi tiết này của ông nhận xét về Lê Lợi: Vua dấy nghĩa binh đánh giặc Minh, 10 năm mà thiên hạ đại định. Đến khi lên ngôi, định luật lệ, mở khoa thi, lập phủ huyện. Có thể gọi là có mưu lớn sáng nghiệp. Song đa nghi hay giết quần thần tôi trung, đó là chỗ kém.

Vì cụ cứ “ bỉ phu” với “các hạ” khiến mụ sử tôi càng bí sử thêm vì ẩn sử: Lê Lợi giết Lê Lai nay đã rõ qua sử thần Ngô Sĩ Liên, ông viết sử từ Hùng Vương đến khi Lê Thái Tổ (Lê Lợi) lên ngôi. Nhưng vì không biết Lê Lợi gốc gác ra sao? Mụ sử tôi mạo muội góp nhóp với cụ…

Theo Keith Weller Taylor qua The Birth of Vietnam: “Năm 1925, tạp chí Nam Phong đã in bài viết do một người Mường viết về những thế hệ lãnh đạo được gọi Quan lang là tước hiệu của thủ lĩnh người Mường như Hùng Vương, Lê Lợi“. Và “từ Hùng có nguồn gốc từ một danh hiệu của người thủ lĩnh đến nay vẫn còn tồn tại trong ngôn ngữ của các dân tộc nói tiếng Môn-Khmer, tiếng Mường sống tại các vùng núi ở Đông Nam Á”.

Thêm sử gia thâm căn cố đế Trần Quốc Vượng cho rằng…

”Thời Hùng Vương là một thời kỳ khuyết sử”. Qua sử phẩm Từ Hoa Lư đến Thăng Long ông viết: “Thời đại các vua Hùng không nên xem là một thời đại của vương triều. Tôi đã tìm ra vua Hùng tên tiếng Việt cổ là Pò Khun (Vua = Bua = Pò, Hùng = Khun) tức hệ thủ lĩnh Mường chiếm cứ vùng đỉnh núi châu thổ sông Hồng (Việt Trì)”.

Mụ sử tôi đắng đãi thêm ông cố đạo Tây khác nữa cho óach…

Linh mục Léopold Cadière là sử gia, nhà ngôn ngữ học, trong biên khảo Dialectes du Annam (1902) kết luận hai sắc dân Mường-Việt vốn cùng một chủng tộc nhưng chia làm hai theo cổ thuyết con rồng cháu tiên: Một đằng (Lạc Long) ở đồng bằng, duyên hải. Một đằng (Âu Cơ) ở cao nguyên, miền núi Bắc Việt. Tên Âu Cơ là tên Việt hoá. Tên Mường là Ngu Cơ.

Bởi Tam Quốc diễn nghĩa là tiểu thuyết lịch sử với những nhân vật huyễn hoặc như Quan Công còn được coi là thánh tổ, của mấy chục nghề như nghề làm đầu bếp, nghề cắt tóc, nghề cầm đồ, nghề đồ tể, nghề bán thịt, nghề thầy tướng, nghề đậu hũ v.v....Thành ra, vào các quán ăn ở đâu chúng ta cũng thấy người Tàu có bàn thờ Quan Công.

Được thể mụ sử tôi trình cụ một tác giả...”giả sử” về Mạnh Hoạch...

Gia Cát Lượng thu phục Mạnh Hoạch, lúc rút quân dừng lại sông Lư, làm lễ tế cho các tử sĩ trong cuộc Nam chinh, trong bài văn tế có câu: ‘’Từ khi giặc xâm lăng cõi Thục - Binh khởi đất Mường’’. “Đất Mường” ở đây cho thấy Man vương (Mường-Mán) là người cầm đầu các tộc người miền núi Bắc Việt. Sông Lư là sông Lô. Lư và Lô là 2 cách phát âm khác nhau của cùng một chữ, chỉ dòng sông chảy vào Hà giang ngày nay. Khổng Minh từ Vân Nam vượt sông Lô, tiến vào bình Mạnh Hoạch ở vùng rừng núi tây bắc nước ta. Trong thần tích Hương Ngải nói rõ khi Lưu Bị lên ngôi Hán Trung vương, khi đó nước Việt ta thuộc về triều Thục Hán của Lưu Bị. Chứ không như sử cũ nước ta thuộc nhà Ngô của Tôn Quyền ở Giang Đông.

Với tiểu thuyết lịch sử, tác giả...”giả sử” trên đổ vấy cho Mạnh Hoạch chính là…Lê Lợi .

Nhẽ này không lạ lẫm lắm, tôi gõ trống qua cửa nhà sấm với cụ mà rằng:
Một là Thiền sư Nguyễn Mạnh Thát luận sử như sau thì có sao đâu: 1. Truyện mẹ Âu Cơ đẻ trăm trứng nở trăm con có nguồn gốc từ nước Phật. 2. Truyền thuyết An Dương Vương không có thật, nó là phiên bản của một câu chuyện có thật ở Ấn Độ.

Hai là bám như cua cắp vào cố sử gia Tạ Chí Đại Trường:
Dựa vào Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, Trịnh Khả (không phải Trịnh Khải) vì…“biết tiếng Lào” nên được Lê Lợi sai phái liên lạc với người Lào. Trịnh Khả là công thần triều Lê, ông là người tài ba phò vua dựng nước. Giống Nguyễn Trãi, ông không dám nói ra vua Lê (Lê Lợi) của ông cũng là người thiểu số, có hơn một nửa là gốc Lào như ông (nhóm tộc Mường Thái Lam Sơn ở Lũng Nhai). Trần Cảo của nhóm Lam Sơn thuộc nhóm Thái Lào xa. Lê Ba Lao gốc họ Ðinh (cha của Ðinh Triện bị tử trận) nguyên là đầy tớ thủ lĩnh Lê Lợi.

Nghe thủng rồi làm như tương đắc, tương bần lắm, cụ xắng xả: Hơn 9.000 người Đông Kinh (Thăng Long) hợp tác với người Minh. Nguyễn Trãi cố thuyết phục họ theo Lê Lợi. Nhưng họ nhìn Lê Lợi như một kẻ nhà quê. Lê Lợi là người nhà quê, là người Mường vẫn còn nhiều khuất tất? Bởi bất sĩ hạ vấn, là chả mất sĩ diện gì phải hỏi. Cụ búi bấn như Lưu Bị tam cố thảo lư tìm Khổng Minh, thì Nguyễn Trãi hai lần tìm Lê Lợi:

- Ấy đấy thưa các hạ, theo Tang thương ngũ lục của Phạm Đình Hổ kể rằng Nguyễn Trãi (và Trần Nguyên Hãn) đến tìm Lê Lợi để mưu đồ đại sự. Lần đầu gặp ngày giỗ, Nguyễn Trãi thấy Lê Lợi là hào trưởng miền núi, vừa cắt thịt ăn ngồm ngoàm vừa uống rượu nên thất vọng bỏ về. Lần thứ nhì trở lại, gặp Lê Lợi thức khuya nghiền ngẫm binh thư, ông mới vào ra mắt. Dựa vào Phạm Đình Hổ thì: “Lê Lợi là một tù trưởng người Mường”.

Làm như có gì ngẫm ngợi lung lắm, cụ một ngắn hai dài:

Cứ như An Nam truyện của Vương Thế Trinh, một danh thần nhà Minh chép: “Viên thổ quan Lê Lợi vốn là bề tôi của cố vương Trần Quý Khoát nhà Trần làm phản. Rồi bó thân xin hàng thiên triều năm lần, bảy lượt (như Mạnh Họach với Khổng Minh), mãi sau mới được ban chức Tuần kiếm. Nhưng vẫn ôm lòng phản trắc, nay tiếm xưng là Bình Định Vương…”. Theo bản chức, sử kiện Lê Lợi làm bề tôi nhà Minh trong Minh thực lục cũng có chép, nhưng sử thần Ngô Sĩ Liên muốn giấu việc này nên cố tình lược bỏ đi trong Đại Việt sử ký toàn thư.

Tiếp đến cụ dật dờ:
- Vì vậy tác giả...”giả sử” về Lê Lợi và Mạnh Họach hãy để tồn nghi. Nhưng tuy nhiên học theo sử thần Ngô Sĩ Liên, các hạ hãy ‘’giấu biến việc này’’ đi, đừng mang vào phiếm sử Góp nhặt một vài khuất sử này. Người đọc mắng cho rỗ mặt đấy, thưa các hạ.

Sau đấy cụ gật đầu tắp lự: Thì sử nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ cũng dựa vào tiểu thuyết lịch sử Tam Quốc diễn nghĩa vậy. Ấy là Hoàng Lê nhất thống chí.
***
Trộm vía cụ: Nguyễn Huệ sau Lê Lợi khoảng...360 năm ắt cụ chả thông hanh mấy. Là kẻ hậu bối, tôi nắn no với cụ về chuyện ấy. Cụ cười cái bép...

- Chẳng giấu gì các hạ, bỉ phu là người thiên cổ, là người cõi trên ở chốn thiên đàng. Bỉ phu như tiên ông suốt ngày bay tới bay lui. Lắm khi bỉ phu bay tới cả nghìn năm trước, rỗi hơi bay lui lại trăm năm sau mà chữ nghĩa gọi là “lỗ hổng thời gian” ấy mà, thưa các hạ.

Vồ được cụ bay tới cả…trăm năm mà mụ sử tôi nào nhìn thấy thời Nguyễn Huệ như thế nào?! Quên tiệt cụ là...cụ Lê Quý Đôn, tôi xuôi dòng sử Việt thời cận đại…

Theo một trong 7 tác giả viết Đối thoại với sử học:
“Cuộc hành quân của Quang Trung ra Bắc năm 1789. Ông ấy đi thế nào ra được Hà Nội nhanh như vậy? Từ Huế đi bộ vậy mà ông ấy chỉ đi 20 ngày. Sáu trăm cây số mà đi bộ như thế tức là một ngày đi 30 cây số. Tôi nghĩ rằng các đại quân của Napoléon và những danh tướng lừng lẫy châu Âu đi bộ tối đa, ngày khoảng 15 cây số. Vì vậy tôi cho rằng Quang Trung đi 40 ngày nếu một ngày đi 15 cây số. Tuy nhiên voi đi chậm hơn người, cứ 3 ngày phải cho voi nó nghỉ một ngày vì như người vậy, nó...mệt. Khổ quá, lại thêm chuyện cáng võng nữa...

Tôi đã cáng người nhà lên huyện khám bệnh. Cùng chiều dài con đường lên huyện tôi thấy đi bộ nhanh hơn cáng võng…”

Tôi bày vẽ với cụ chuyện hai người cáng võng một người thế đấy. Cụ ậm ừ dật sử của Ngô văn gia phái viết lịch sử tiểu thuyết theo Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung. Sách miêu tả những nhà nho ẩn dật như Giáo Hiến, Nguyễn Thiếp, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, được đưa vào Hoàng Lê nhất thống chí trở thành “bản sao” của Khổng Minh, Bàng Thống, Từ Thứ. Dần dà người viết, người đọc coi là...thật, rồi càng ngày càng trở thành...sự thật của lịch sử.

Cụ quơ cái điếu ống làm một bi thuốc và trích lục đề văn của ai đấy...

Trong trận Ất Dậu, Sầm Nghi Đống không thắt cổ tự tử mà bị tử thương trong trận Ngọc Hồi. Qua lời người có chức vụ Thủ bị tên Lao Hiển bị bắt làm tù binh, khi được trao trả đã khai với quân cơ nhà Thanh: ”Thượng tổng binh, Vương tham tướng (tức Sầm Nghi Đống) bị quân giặc vây, bị chém đứt một cánh tay, ngã ngựa rồi bị giết”.

Chợt nhớ giai thoại ‘’Bà chúa thơ Nôm ghé miếu đề thơ...’’. Bèn hỏi, cụ mà rằng:

- Để lấy lòng Càn Long, Quang Trung Nguyễn Huệ lập miếu Sầm Nghi Đống trên gò Đống Đa. Nhắc đến Nguyễn Huệ gốc họ Hồ thì chẳng quên theo gia phả họ Hồ ở Nghệ An : Đời thứ 11, Hồ Phi Phúc (đổi ra họ Nguyễn) sinh Nguyễn Huệ. Cũng đời thứ 11 Hồ Phi Diễn sinh Hồ Xuân Hương. Vì vậy Nguyễn Huệ và Hồ Xuân Hương cùng chung ông tổ 5 đời là Hồ Thế Anh. Bà em họ Hồ ghé miếu của ông anh họ lập lên và làm bài Đề đền Sầm Nghi Đống, câu thơ đầu: Ghé mắt trông lên thấy bảng treo. ‘’Ghé mắt ’’ đây bà ra vẻ khinh thị thấy rõ.

( Quang Trung 1788–1792)

Thở ra khói, cụ diễn sử theo ai đó…

Người dẫn đầu phái bộ ta sang dự lễ bát tuần đại khánh của Càn Long là Quang Trung. Tuy nhiên vì tình hình còn nhiều bất trắc, quân sư Ngô Thì Nhậm của ông tung ra “màn khói” người đi qua Tàu là giả vương cốt để cho những kẻ thù nghịch trong nước e dè những hư thực mà không dám vọng động trong khi Quang Trung đang ở bên Tàu. Vì nếu là giả vương, thì như Phan Huy Ích đã tiên liệu: Trước đó phái đoàn nhà Thanh khi sang Thăng Long phong vương cho Nguyễn Huệ, họ cũng đã biết mặt Nguyễn Huệ Quang Trung.

Sau lễ Bát tuần đại khánh, bức tranh do Càn Long sai vẽ truyền thần tặng Quang Trung có ghi rõ: An Nam quốc vương Nguyễn Quang Bình. Khuất sử cho đến khi ấy, sử ta và những nhà biên khảo ít ai biết tên thật của Nguyễn Văn Huệ là Nguyễn Quang Bình.

Va vào đầu bức tranh truyền thần, nói cho ngay hình dáng cụ vua ta, tôi chỉ được biết qua ông Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến; “Tóc quăn, mặt mụn đầy, tiếng nói sang sảng như chuông“. Còn chuyện bức vẽ cũng đã từng nghe rồi, tôi khoe nhắng với cụ chuyện bên lề: Thoạt kỳ thủy theo sử ta Càn Long tặng cho cụ vua ta bức tranh truyền thần của chính Càn Long để làm kỷ niệm. Người thời VNCH ngỡ ấy là tranh vẽ vua ta nên in giấy bạc 200 đồng. Ấy là bức tranh vẽ Càn Long cưỡi ngựa được họa sĩ Ý tên Giuseppe Castiglione vẽ năm 1739.

Mới đây người Hà Nội tên Trần Quang Đức tìm được bức truyền thần vẽ cụ vua ta có ghi rõ: An Nam quốc vương Nguyễn Quang Bình là thế. Như cụ dậy vậy.

Đợi tôi huếch xong, cụ gọ gạy tôi có hay chuyện ta đòi đất Tàu chăng? Tôi chưa kịp trả lời: “Dạ biết“. Cụ nói không phải...Quảng Đông Quảng Tây mà là:

Là trong di văn của Ngô Thì Nhậm có tờ biểu của vua Quang Trung gửi lCàn Long yêu cầu nhà Thanh: Trả lại 7 châu thuộc Hưng Hoá. Khi tờ biểu gửi qua cho Phúc Khang An, ông này được Càn Long sai đi chiến trận ở Tây Tạng nên việc đòi đất không tiếp tục nữa.

Cụ rối tinh thêm: Càn Long năm 1769 nhằm vào thời vua Lê Hiển Tông, thổ mục Hoàng Công Toản cai quản đất Hưng Hóa chạy qua Vân Nam đem dâng cho nhà Thanh 7 châu Hưng Hóa: Tung Lăng, Lễ Tuyền, Hoàng Nham, Tuy Phụ, Hợp Phì, Lai Châu, Khiêm Châu. Châu đây nhỏ như...làng hay ...động (bản làng).

Từ đòi Trả lại 7 châu thuộc Hưng Hoá, cụ bắt qua “Cống người vàng, cống voi”...

Phúc Khang An ra điều kiện đòi triều Tây Sơn phải đúc người vàng đem cống như các triều đại trước. Ngô Thì Nhậm viết cho ông ta bức thư: “Nay đại nhân theo lệ cũ của Trần, Lê, Mạc bắt cống người vàng, như vậy chẳng hóa ra vua nước tôi bị coi như hạng ngụy Mạc hay sao?. Như thế cũng bị coi như việc nhà Trần bắt Ô Mã Nhi, nhà Lê giết Liễu Thăng hay sao?.Mong đại nhân miễn cho nước tôi lệ đúc người vàng để tiến cống“.

Cụ một ngắn hai dài trước khi Ngô Thì Nhậm lên ải Nam Quan, Phúc Khang An thông báo nước ta muốn “đấu hàng“ (đấu ‘’dấu sắc’’ nghĩa cầu hòa) phải cống voi và Nguyễn Huệ phải lên Nam Quan tạ tội. Khi xin cầu phong, Phúc Khang An lại đòi Nguyễn Huệ cũng phải đích thân lên Bắc Kinh. Quang Trung không muốn lập lại hành động mất quốc thể nên biện báo sẽ đưa một nhân vật thân thích “tuy đại do thân” (thay mặt như chính mình) đem tờ biểu cầu phong sang Bắc Kinh. (Nguyễn Quang Hiển thay mặt đem biểu tiến kinh)

Theo cụ, vua ta thời trước đích thân sang chầu vua Tàu chỉ xảy ra một lần vào đời Lý khi lên Nam Quan làm lễ thụ phong. Còn cống “một“ hay “hai“ người vàng tùy theo triều đại : Đời Lê cống một tượng người vàng, đời Trần cũng vậy. Việc triều cống hai tượng người bằng vàng ròng bắt đầu vào đời Minh để thế mạng cho Liễu Thăng và Lương Minh.

(Phan Huy Ích_(1751-1822)

Chợt nhớ cụ dậy Hoàng Lê nhất thống chí vẽ chuyện Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích là ‘’âm bản’’ của Khổng Minh, Phụng Sồ. Cứ theo mụ chữ tôi Phan Huy Ích vì Càn Long nể trọng nên được ban mũ áo hàng tam phẩm. Ngoài ra sau lễ Bát tuần đại khánh, Càn Long cho họa sĩ vẽ chân dung ông cùng lúc với vua Quang Trung. Bức truyền thần này được thờ tại nhà từ đường họ Phan ở làng Thuỵ Khuê, Sơn Tây, nhưng bị thất lạc, chỉ còn lưu lại bức hình ở bìa quyển Chinh phụ ngâm bị khảo của Hoàng Xuân Hãn.

Nghe thủng rồi, cụ kỳ cổ qua thư của giáo sĩ Girard gửi giáo sĩ Boiret, cụ mới hay Quang Trung có…7 vợ. Nghe cụ vua ta có vợ, tôi ngẫm nguội gần nửa đời đánh đông dẹp bắc túi bụi lấy đâu ra thì giờ để lo cho những 7 bà. Ấy cũng là một ẩn khuất của bài phiếm sử này. Chưa kịp rõ mồm hỏi, cụ bỏ hai hòn đá cọc cạch, cái cúi rơm vào túi và hỏi tôi có thêm thắt gì cho có...chiều dầy lịch sử chăng?

Ừ thì mụ sử tôi đành đùm đậu:
Thời Lê Lợi, Nguyễn Huệ có ba ngẫu sự: Một là đều có chuyện “giả vương”…lững thững đi vào chính sử. Lê Lai là giả vương ai cũng biết, nhưng cho đến nay ít ai hay biết người đi Tàu là Quang Trung thật. Hai là Lê Lợi là người Mường, Nguyễn Huệ là người Chàm. Ba là qua tài liệu của các nhà truyền giáo Dòng Tên ở La Mã: Nguyễn Huệ mắt như đèn pha. Với Phạm Đình Hổ: Lê Lợi mắt trắng như con tinh.

Về thân thế cụ vua ta:

Tạ Chí Đại Trường viết: “Trong biểu văn trần tình Nguyễn Huệ khẳng định không liên hệ với nhà Lê mà chỉ có ràng buộc hôn nhân’’ (với công chúa Ngọc Hân). Cũng vậy, khi gặp Càn Long trong lễ bát tuần đại khánh, vua ta nói “hoàng tộc Chiêm Thành” để tách rời với Đàng Ngòai. Vua ta không phủ nhận ông họ Nguyễn, vì vậy Càn Long cho ghi trên bức truyền thần: “An Nam quốc vương Nguyễn Quang Bình“ là thế. Nếu như ông là…người Chàm thì phải có tên Chàm. Nhưng không. Vì người Chàm gọi ông với tên: vua Hồ (Po Hồ). Vua ta không chối bỏ ông là người An Nam rặt vì rõ như đêm giữa ban ngày cụ vua ta nào có…vợ Chàm.
***
Chưa kịp thưa gửi những gì để bài phiếm sử…có trọng lượng. Bỗng thấy cụ bỏ thêm cái điếu ống vào túi Tây ba lô. Biết cụ sắp về với cõi, bèn hỏi vội ở cõi trên có gì vui chăng? Cụ búi bấn lên chơi thì được, ở lâu chán lắm. Vì chỉ có tiên ông, tiên bà bay vù vù suốt ngày, chán hơn nữa, có hai ông Nam Tào, Bắc Đẩu vừa đánh cờ, vừa phiếm luận về…

Thạch trúc thảo lư
Kỷ Hợi 2020
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Nguồn: Nguyên Nguyên, Nguyễn Dư, Bùi Thiết
Phạm Xuân Hy, Thái Văn Kiểm, Nguyễn Duy Chính.

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2023

Kể Từ Ngày Ấy


Nghe hơi nồi chõ tôi hồi cố quận để dòm dỏ tết Quý Mão, bởi tôi là dân bợm bãi sáng say chiều xỉn với “lỳ một lam”, tức…làm một ly. Ông bạn nhậu Nam kỳ gửi gấm bạn ông thuộc tạng “làm ít ly” tức…y một lít, hẻm nào cũng biết, ngõ nào cũng hay. Ngoài ra bạn ông là dân nhậu, là dân làng Nho, làm như là hậu thân của cụ Lãng Nhân Phùng Tất Đắc với Giai thoại làng nho, Chuyện cà kê, Chơi chữ. Bạn ông sẽ cà kê tích này tích nọ để tôi tha hồ vọng văn sính nghĩa mà nói chữ, nhưng ấy là chuyện sau. Chuyện bây giờ, tôi cứ bám như cua cắp với bia đá, bia ôm, bia nào cũng vậy, làm sao em biết bia đá không say. Nhưng bụng dạ tôi cứ búi bấn chả lẽ…đàm hoa lạc khứ tới con hẻm 189 Cống Quỳnh có nhăm quán thịt chó để sơi…thịt mèo chăng.

Về đến phi trường tôi mới chớ phở ra gã hành nghề…”lái xe”. Ngẫm ngợi cũng tốt thôi, vì Sài Gòn đầu đường cuối ngõ gã là…“thổ dân”. Xe chạy túi bụi, buồn tình dòm bên đường chỉ thấy thấy văn hóa Hamburger, Starbucks liêu xiêu ngoài phố. Tôi gọ gạy có chốn nào …“bia tô rượu bát” chăng. Gã cũng là Nam kỳ rặt, nên “dà” một tiếng và lái lụa tiếp.
Lát sau ngừng ở chân cầu Thị Nghè, nhìn bảng tên Quán Lá Mơ.
Thò đầu vào quán, bộp vào mặt một dàn bình bự sự có “thương hiệu” hết nhất xà, tới tam xà nhất điểu, đến ngũ xà nhất điểu… Mắt như rắn ngày va vào cái tam xà, chôm chỉa chữ nghĩa báo chợ, báo chùa bấy lâu. Tôi lêu bêu với gã ắt hẳn là ba con mang bành, cạp nong, hổ trâu chi đây. Chỉ bình ngũ xà, tôi khua môi múa mép chém chết là một mang bành, một cạp nong, một hổ trâu, một rắn ráo, một mai gầm…Gã lặng lờ châm điếu thuốc làm như không nghe vì quán xá đang ầm ào, họ buôn chuyện thịt chó như một di sản văn hóa lâu đời. Thấy gã không mặn với rắn cho lắm. Không nói chuyện rắn thì “khảo luận” về…chó vậy. Số là con cún nhà tôi cũng xơi đậu rán như người nên tôi nhãn kiến vi thật với gã chó có giác ngộ như người ta không. Gã làm một hơi thuốc từ tốn thở ra…mây, và “dà” một tiếng và…cà kê mà rằng chuyện của tôi không hay hớm bằng chuyện của gã:

“…Ông già tôi là dân nhậu khét tiếng từ Hóc Môn đến Bà Điểm với rượu đế Hóc Môn. Chính vì ông già tôi là bợm nhậu nên bà già tôi không thể nào chịu được cái cuộc tình giãy chết này nữa. Bà đành lặng lẽ dắt hai đứa con thơ kéo nhau về cắm dùi ở cái thôn Quảng Phước xa xôi hẻo lánh để làm lại cuộc đời…”.

Vừa lúc người phục vụ ló đầu ra, gã nói cho cái ché da lươn và hai cái chén Tống. Tôi hỏi gã mình vào đây uống rượu rắn chứ…lươn lẹo gì? Gã lươn khươn rao đầu làm cái nhất xà nhẹ hều như rượu Mao Đài thời…Mao Trạch Đông nên nhà hàng rót vào ché cho thanh cảnh. Năm ngày bảy tật của tôi hay hóng hớt chuyện chữ nghĩa nên phang ngang bửa củi chén Tống theo cụ Vương Hồng Sển, trước dùng để uống rượu, đến đời Thanh vì…tửu lạc vong bần nên để uống trà. Nghe rồi, gã cứ lựng bựng chuyện con chó và…cái cối xay:

“…Vậy mà ông cũng tìm ra được tông tích của ba mẹ con tôi rồi cũng rút binh về theo. Tuy nhiên cái tình mặn nồng ngày xưa không còn nữa. Túng quá ông phải tự làm lấy một cái chái nhỏ che đỡ mưa nắng, núp dưới bóng cây xoài to, sát bên bờ giếng làm chỗ trú ẩn, coi như tạm cắm dùi chung trên cùng mảnh đất, ở ngay sau cái chòi má con tôi ở.

Hai người như hai cái tai của cái cối xay, người ở đằng trước thì kẻ ra đằng sau, người ở trong nhà thì kẻ phải ở ngoài hoặc ngược lại. Cũng chính vì cái nỗi buồn đơn độc này mà ông già tôi phải tìm cách nuôi một con chó làm bạn. Thoạt đầu ai nấy đều lắc đầu bởi ông già tôi ngoài cái chuyện nhậu nhẹt, ông còn là một tay mần thịt cầy nổi tiếng nên không ai tin tưởng ông một khi con chó bắt đầu lớn. Ấy vậy mà mối tình thủy chung này lại kéo dài đến cuối cuộc đời của hai "người" còn hơn là mối tình lớn của ông với bà già tôi.
Con Đốm hiện diện trong nhà tôi từ ngày ấy ở Trung Chánh Bà Điểm quê tôi…”

Vừa lúc người phục vụ mang ra đồ nghề với “cái trước để uống rượu, sau cũng để…uống rượu”. Gã làm một cái chóc như Mỹ uống Whisky Jack Danniel. Tôi nghĩ vụng: Một là gã lạng quạng với rượu Mao Đài của Mao Trạch Đông. Hai là cách uống rượu cái một như Nhật uống trà đạo làm cái chóc, uống nạp kiểu này thì tôi từ chết đến bị thương. Bởi gã thuộc diện nho táo, tôi nho nhe theo Tàu là bán tử bất hoại.

Trong khi ấy gã bòn mót chuyện con chó mẹ với…cây xoài:
“…Từ hôm ông già tôi ôm con Đốm về nuôi đã gây ra một bầu không khí chộn rộn trong gia đình không ít. Má tôi hứ cho một câu "Cơm không có mà ăn còn đem chi cái ngữ ấy về nuôi, giỏi lắm được năm ba bữa nửa tháng là vô bụng". Bà thường nói trổng từ trong nhà vọng ra cốt cho ông già tôi nghe cho bõ tức. Riêng anh em tụi tôi thì đặt nhiều dấu hỏi to tổ chảng là không biết con Đốm con sẽ ăn uống thế nào khi con mắt còn nhắm rít.

Cơn lo lắng của ông già kéo dài mấy ngày trời thì đột nhiên bữa nọ, cả nhà bỗng thấy con chó mẹ không biết từ đâu tới đang nằm xoải mình ra bên cạnh gốc xoài cho con Đốm con bú. Thế là vấn nạn trước mắt được giải quyết...”.

Cũng làm một chén nhất xà như gã, làm như mắc chứng từ ám Hán tự với chữ “y” là thuốc, chiết tự trong chữ “y” có chữ “tửu” là rượu. Tôi sơn đông mãi võ rằng con bìm bịp…có võ, nó xà xuống cắp rắn con bay lên cao thả xuống là rắn chết tươi. Tôi hươu vượn rượu tam xà nhất điểu để chữa bệnh…phong thấp và…hoạt tinh. Gã nhìn tôi bằng nửa con mắt rùa và hòm hõm rằng bìm bịp là giống chim nhỏ hơn gà, lông nâu, đầu đen, đuôi dài, kêu “bịp bịp”. Khi bị gẫy chân, nó tự chữa trị lấy bằng cách đi kiếm lá bìm bìm hình chân vịt hay lá bìm bìm xẻ ngón về đắp chân.

Gã lắc đầu, ngỡ lắc đầu về phong thấp và hoạt tinh. Hóa ra không, gã đùm đậu:
“…Được mấy ngày, anh em tôi ra gốc xoài nhưng không còn thấy bóng dáng con chó mẹ đâu nữa. Chúng tôi biết nó đã thật sự gặp chuyện chẳng lành ở quán thịt chó đâu đó…”.

Bỗng không gã như ông đồ nát chữ của dân làng Nho chơi chữ mà rằng chiết tự chữ tửu 酒 viết là dậu. Vì chữ dậu là chữ thuộc loại độc thể tự. Là tự hình, là hình vẽ một cái bình đựng đầy rượu. Xong, gã gọi bình tam xà nho nhỏ cho hai người. Gã vẫn có cung cách uống rượu rất kỳ cổ: bày hai cái chén sành trước mặt. Hai tay gã bưng bình rượu lên. Vô tửu bất thành lễ, gã rót cho tôi trước, cho gã sau. Cái chén sành “ngồi” thù lù trước mặt gã. Gã cúi đầu xuống cái chén hít nhẹ, cung cách trang nghiêm của một tửu đồ đi tìm vô ưu, vô thường của tửu đạo. Cũng hai tay, gã đưa cái chén ngang miệng, mặt mày tĩnh không, tĩnh lặng. Lại nữa, hốt nhiên gã ngửa cổ ực một cái nhẵn thín như nghi lễ trà đạo, của thiền sư. Rồi khà một cái, vẫn khuôn mặt vô ưu, vô minh ngập u u minh minh:
“…Đốm con bây giờ lâm vào cảnh mồ côi. Không được mẹ liếm láp nên lưng bị đốm ghẻ nhỏ biến thành lác. Tháng ngày qua đi, tụi chó con hàng xóm chúng bắt đầu ăn cháo thêm để bù vào khoản cai bú sữa mẹ. Nhưng thảm thương cho Đốm chẳng bao giờ nó được bữa no, vì bị lũ đồng loại lớn con đẩy bắn ra ngoài khi Đốm len vào xin ăn …”

Nói cho cùng, tôi là thằng mềm môi uống rượu mẻ bát thiên hạ, nhưng thú thực chưa được nếm cái thứ rượu quái quỷ này đây bao giờ. Gã hỏi tôi đã không? Cái đầu tôi bồng bềnh trên sóng nước con sông Thị Nghè ngoài kia với tửu nhục bằng hữu, hiểu lơ mơ lỗ mỗ là…là rượu thịt là bạn. Nghe qua tai, chui ra miệng gã:
“…Sau nhiều ngày lang thang trong sân, thấy cu Tí em tôi đang làm việc bài tiết, đói bụng quá, Đốm làm liều, xơi trọn chỗ cu Tí vừa thải ra. Đó là lần đầu tiên Đốm ăn bẩn. Chả lẽ chó lại chê cứt, thế là từ đó, Đốm sục sạo khắp nơi, không hẳn là phân người, đến phân gà, phân heo Đốm cũng không từ. Vì ăn bẩn quá, bụng Đốm càng phưỡn ra với cả núi giun sán. Có nhiều ngày Đốm ói ra mật xanh nanh vàng, kinh khiếp không thể chịu nổi…”.

Gã nâng chén rượu làm cái “chóc” như uống nước rau muống luộc. Rồi gã ”dà”:
“…Mỗi khi ai trong gia tộc Đốm đi ngang qua ả, ả nhe răng trợn mắt ra gầm gừ đe doạ...Ngày tháng trôi qua, mặc cảm cũng đi theo Đốm vào tuổi xuân thì, nó vẫn mơ về một anh chó đực đẹp trai để cùng nhau mơ mộng duyên đầu. Nhưng anh chó đực nào cũng xa lánh vì cái thân thể nhỏ thó gầy gò và hôi hám vô cùng tận của Đốm. Những khát khao xuân tình không được thoả mãn, Đốm càng hận đời đen bạc, hận kẻ bạc tình…”.

Y xì như tôi nói chữ: tửu nhục bằng hữu, với rượu thịt là bạn. Đĩa chả chìa vàng ươm, thơm điếc mũi đưa ra. Chẳng thiếu lá mơ xanh tím, lát riềng thái mỏng trông thật bắt mắt, làm lục phủ ngũ tạng tôi cứ nhiễu nhương cả lên. Vì dòm đĩa thịt đẹp một cách…điêu đứng. Tôi thầm nhủ nào có ăn không thì bảo. Nhưng nghĩ sao lại thôi, bởi dẫu sao gã cũng là khách nhậu của tôi hôm nay. Cứ như ông bạn tôi ở đất tạm dung tiến cử thì gã thuộc tạng “bia tô rượu bát”, trời nắng chó trắng, trời mưa chó vàng làm tuốt luốt. Thế nên gã chả vội gì, nhón lá húng xanh thao thiết bỏ vào miệng nhóp nhép. Và tiếp:

“…Ở đầu thôn có một con chó già, đã bị xà mâu lâu năm, nay nó đã yếu lắm, mắt luôn đổ ghèn và đi cà nhắc. Có lần Đốm ghé qua thấy vậy, bèn nhủ lòng là: "Có lẽ duyên phận mình buộc vào chỗ này đây!" Và quả như vậy thật, khi có những dấu hiệu của giống cái xuất hiện, Đốm đã đến nằm bên lão chó già kia gạ gẫm dâng hiến. Lão chó già lâu ngày bị bỏ rơi, cô đơn tận cùng, nay của "giời cho" nên rất vui mừng đón nhận cảnh giới ấy. Đốm tự dưng mượt mà hẳn ra, còn lão chó già thì dường như trẻ lại, lão thương Đốm vì Đốm đã đến cứu nguy đời sắp tàn phai của lão! Đốm lớn lên và trông "đẹp gái" ra trông thấy…”.

Qua “rao” đầu. Học gã, tôi hai tay bế cái chén sành “Made in Bình Dương” ực một quả ra trò như cụ Phan Thanh Giản uống thuốc độc. Gã lại hỏi tôi đã không. Gãi đúng chỗ ngứa, tôi ực tiếp cữ thứ ba. Cái say lừ đừ từ chân tóc bò xuống gót chân. Chợt nhớ ra gã là hậu thân của cụ Lãng Nhân, tôi tha hồ nói chữ: tửu phùng tri kỷ thiên bôi tửu, thoại bất đầu cơ, bán cú đa ra cái điều gặp bạn như gã rượu uống bao nhiêu cũng thiếu và nếu tôi có nói nửa câu cũng là nhiều. Ngỡ tôi nhắc khéo…hết rượu, gã ới cái tam xà nhất điểu và hai cái ly. Thế nhưng ở cái quán bát nháo này cái ly đây là…ly nhựa. Mắt tôi tròn dấu hỏi. Không trả lời, gã nhẹ nhàng nhấc cái ly nhựa lên với một phong thái Tây uống rượu vang: Khoan thai xoay xoay cái ly. Đợi hơi rượu…thở ra, nhấp từng ngụm nhỏ. Cùng lúc mồi điếu thuốc, lờ đờ nhả khói và “dà” với tôi là “thiên bôi thiểu” chứ chẳng là …thiên bôi tửu”.

Chả là tôi là thằng ăn thịt chó lờn môi với mưa nắng làng nhàng chó nào cũng được. Đĩa sườn nướng nằm như đắp mô ở trên bàn, miếng bằng ngón tay, vừa nạc vừa mỡ béo ngậy, thịt chín vàng nghệ. Ấy vậy mà gã cũng chưa chịu đụng bát đụng đũa cho. Tôi nhấp nhổm định gắp một miếng thịt nướng thơm nhảy trước mặt, kèm theo lá mơ chấm với mắm tôm chanh đường vừa chua vừa ngọt, giời đất ạ, thì ngon đến thiu cả người. Vậy mà gã vẫn nhịn như nhịn cơm sống, vẫn chưa chịu xơi cho, hay là vì lá mơ trong Nam gọi là lá thúi địt nên gã thấy…thối inh. Tôi đang bối rối như sư đẻ với tiếng Bắc, tiếng Nam thì gã nhấc ly lên và quắn quả mà rằng chuyện con chó nhà tôi đớp đậu rán, tức “ăn chay” là có…Phật tính. Nhưng nào có bằng chuyện con chó ở chùa của ông già gã qua Tết Mậu Thân. Úi chà gay đây!
“…Tết Mậu Thân, giặc cộng tràn về làng và đánh nhau với quân đội quốc gia. Chòm xóm cho hay con Đốm bị đạn lạc nằm sau gốc cây xoài, khi cả nhà đi di tản xuống Sài Gòn. Cuối cùng nó lết ra bờ sông, hơi nước bốc lên khiến Đốm hồi tỉnh lại, nó nằm rên oán hận loài người đã đẩy nó vào bước đường làm ma không chồng. Nhưng nó chỉ bị thương và cái thai bị hư bị đẩy ra ngoài. Nó ứa nước mắt nhìn dòng dòng đời lững lờ trôi qua mõm nó.
Chợt có tiếng bước chân rất nhẹ đi đến bên Đốm, nó thấy một người mặc áo nâu ẵm nó lên. Lần đầu tiên trong đời Đốm thấy có cảm giác không phải hận thù, mà là ấm áp trong lòng! Người ẵm Đốm là sư cụ chùa làng, sư cụ mang Đốm về chùa. Sư cụ tự tay mổ vết thương và gắp đạn ra cho Đốm và băng bó khâu lại vết thương cẩn thận…”.

Đảo mắt ra ngoài bờ sông, mưa lâm thâm…Tôi ung dung tự tại với những lát thịt cháy vàng mỏng, ngào ngạt thơm phức. Thấy cả nạc, mỡ, sụn, gắn bó với nhau. Tôi ực thêm ly tam xà nhất điểu nữa cho đã điếu, ngất ngây trong tâm thái mới nhi bất hoặc đã cổ lai hy. Gã thì không, khuôn mặt trầm ngâm được mô tả là…“rất tâm trạng”. Rồi gã làm một hớp hết nhẵn ba vạn thế giới một đáy cốc, vạn kiếp luân hồi một sát na.
Tiếp, tôi căng tai mặc sức mà nghe tích con Đốm nấp bóng thiền môn:
“…Mười ngày sau Đốm khỏi, nhờ tâm từ bi của sư cụ. Nó ở lại chùa, hàng ngày sư cụ ăn gì nó ăn nấy. Về phần ông già tôi không tu nhưng y hệt một nhà tu, thường ngồi xếp bằng trông như…”thiền”. Một lần ông nói "Phải chi tao còn con Đốm, tao sẽ đỡ buồn hơn". Từ đó ông sinh ra cái tật đi câu cá để giải sầu. Mỗi lần ông xách cái cần với cái giỏ đi câu là tự nhiên ông thơ thới hân hoan mặc dù có lúc về với cái giỏ không. Tụi tôi ban đầu lấy làm lạ nhưng sau đó hỏi ra mới biết ông đi gặp con Đốm…”.

Nghe đến câu ngồi xếp bằng như…”thiền”, tôi lủ khủ gã kể chuyện nào khác gì…vẽ rết thêm chân. Gã lơ đãng nhấp một ngụm nhỏ. Tôi định chấm miếng thịt nướng vào bát mắm tôm ngập ớt đỏ, thì…thì gã eo óc chuyện con Đốm ở chùa.
“…Số là con Đốm từ ngày về ở với sư cụ, nó quen với cảnh chùa nên không về lại nhà tôi nữa. Ông già tôi tìm cách đi câu bên dòng sông phía sau chùa để gặp con Đốm. Con Đốm quyến luyến chủ cũ nên quấn quít bên ông già tôi, nó hôn, nó liếm, nó nhảy phóc vào lòng ông già như đứa bé con tìm vú mẹ. Thế là ông già tôi tự nhiên tìm lại được niềm vui. Ban đầu, mỗi lần đi câu ông thường về nhà sớm nhưng về sau ông ở lại câu khuya hơn, nhất là có bầu rượu bên cạnh và con chó cưng. Ngồi thỉnh thoảng móc mồi câu, quăng cái tủm xuống nước, đàn cá đua nhau giựt giựt cái phao, lúc nổi lúc chìm, con Đốm phụ họa sủa cá sủa trăng, trông cả hai chẳng khác nào đôi bạn thân tình nhất.

Lúc đầu con Đốm sợ sư cụ nên chỉ tìm cách trốn ra bờ sông mỗi chiều rồi lại trở về chùa. Sau đó nó bạo gan hơn, mon men theo ông già tôi về đến tận nhà, chơi qua loa với tụi tôi chừng nửa tiếng đồng hồ rồi quay về. Mấy ngày sau đó, nó về nhà tôi ở luôn. Báo hại sư cụ đi tìm. Ông già tôi thấy áy náy nên đành phải mang con Đốm trả lại chùa…”.

Cũng đến lúc gã thò tay vào đĩa mồi…Rồi chép miệng “dà’ là…Tàu nó kêu hoạ xà thiêm túc là vẽ rắn thêm chân, còn Ta bịa là…vẽ rết thêm chân. Rồi gã tung tẩy:
“…Con Đốm không được về thăm nhà nữa. Ông già tôi ngày càng già, không đi câu xa ở bờ sông nên không còn gặp nó. Riêng tôi bây giờ tôi đi học ở Sài Gòn, em tôi đi lính, ít có dịp về lại quê xưa chỉ trừ khi Tết nhất đến, nên chẳng để ý gì chuyện con Đốm nữa. Nào ngờ đúng mồng một Tết, trong lúc tôi đang ở trong nhà đón xuân, bỗng nhiên con Đốm vào nhà ngoe nguẩy đuôi mừng rỡ. Vẫn bộ lông mềm mại nhưng không dấu nổi màu sắc tàn phai vì mưa nắng. Gương mặt con Đốm tuy vẫn còn khuất trong đám lông rậm rịt nhưng vẫn không che kín được lớp da nhăn, nhất là ánh mắt không còn tinh anh như trước nữa. Ông già bà già tôi bảo nó xông cửa đầu năm chắc là may mắn. Cả nhà ngạc nhiên vì không ngờ nó chọn đúng ngày mồng một Tết mà về sau mấy năm xa vắng…”.

Đêm khuya thoi thóp, khách lèo hèo vắng dần. Nhìn vào cái ly nhựa của tôi chỉ còn một nửa, vậy mà rượu óng ánh như sương khói. Tôi cảm khái với gã viễn ly vô lượng kiếp, bất xích nhất sát na, và ngứa mồm giảng cho ông đồ nát chữ là bằng hữu dù xa cách nhưng thật gần. Làm như muốn tránh né cái cảnh tương kiến thời nan biệt diệc nan, là gặp nhau đã khó, giã biệt nhau còn khó hơn…Gã luận về cuộc đời của chó:
“…Tôi ôm con Đốm già vào lòng vuốt ve, và qua nó, biết được cuộc đời đã đổi thay nhiều lắm. Nó ở nhà tôi chơi hết một ngày mùng một Tết rồi lại trở về chùa suốt năm ở đó. Xuân năm sau, tôi bị kẹt không về thăm nhà được. Bà già tôi cho hay mồng một Tết, con Đốm lại về thăm chủ cũ thêm một lần nữa. Tôi bâng quơ, tự nghĩ như con Đốm có mối liên hệ tiền kiếp nào với gia đình tôi, sao không nó cứ đợi đến ngày mồng một Tết? Ông già tôi bệnh tật liên miên vì chứng xơ gan do rượu hoành hành nên lúc nào cũng tưởng nhớ đến con Đốm. Con thú già bí ẩn, mỗi năm chỉ gặp mặt nó có một lần vào ngày Tết.

Nghe nói hàng đêm con Đốm nằm nghe sư cụ tụng kinh Địa Tạng, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa. Lời kinh như thấm vào trong não tuỷ của nó, những mặc cảm của nó từ xưa dường như tiêu tan hết. Đốm say tiếng kinh, mê ngửi mùi hương trầm thoảng nhẹ trong gió. Đốm thường nằm sấp, hai chân trước chấp lại xoải dài trên mặt đất. Khách lễ chùa đồn nhau về con chó nghe kinh, một đồn mười, mười đồn trăm, chẳng mấy chốc cả vùng Trung Chánh, Bà Điểm đều biết chuyện, biết tên Đốm.

Như con heo phải đèo khúc chuối, tôi cứ há hốc mồm ra nghe. Trong khi gã bình thản đưa cọng lá mơ vào miệng nhay nhay. Gã hớp thêm ngụm rượu như cá riếc tớp bong bóng nước. Tôi trộm nghĩ phong cách gã uống rượu đúng là một thiền nhân, với nho ẩm như cái thú tiêu daọ của tửu đạo. Trong khi ấy mặt gã như nước ao tù và quá đọa:
“… Cho đến một đêm, Đốm nằm mơ thấy có tiềng nói với nó rằng: "Nghiệp làm chó của ngươi đã trả hết rồi, mai ngươi xả bỏ thân súc sanh để hoá kiếp làm con người. Khi làm người, ngươi phải tiếp tục tu hành, đừng ăn càn nói bậy gây nên khẩu nghiệp. Vì kiếp trước ngươi gây nghiệp quá nhiều nên kiếp này quá nhiều khổ ải. Nhưng nhờ có được sư cụ trụ trì tụng kinh rồi hồi hướng cho ngươi, nay ngươi hết nghiệp chó rồi".

Sáng hôm sau, sư cụ thấy Đốm hai chân trước chấp lại xoải dài trên mặt đất và nằm chết trước bàn thờ Phật lúc nào sư cụ cũng chẳng hay biết. Mộ của Đốm được người làng đắp ngay tại vườn nhà chùa với hàng chữ trên bia: "Văn kinh Đốm khuyển chi mộ", nghĩa là “Mộ con chó Đốm biết nghe kinh”.
Năm sau, ông già tôi cũng theo nó về đất Phật. Anh em tôi mồ côi cha kể từ dạo đó….”

Chả nhẽ nhong nhóng ngồi ăn một mình, tôi đợi gã cầm đũa. Trong khi chờ đợi, tôi định ngâm nga bằng hữu thôi thà như mưa bay, thì chuốc cho vơi chén rượu đầy…Nhưng nghĩ lại chưa đủ thân nên quẳng hai câu thơ trong đầu ấy đi và định hỏi gã một câu hỏi…
Vừa lúc gã cạn chén và cầm đũa lên gõ nhè nhẹ vào cái bát không và thở ra.
Gã thở ra một tiếng “dà” như tiếng thở dài và buông xả từng tiếng một:
- Kể từ ngày ấy, tôi không…

Thạch trúc gia trang
Kỷ Sửu 2009

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
(sửa lại 2020, 2023)
Nguồn: Nguyễn Sĩ Nam, Nga Mi, Mường Giang,
Vũ Khắc Khoan, Phan Tấn Hải.

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2023

Nhất Bạch, Nhì Vàng, Tam Khoang, Tứ Đốm

 
Rong chơi Hà Nội ba mươi sáu phố phường không hẳn chỉ nom dòm nhà cửa, đường xá và đầu hồi chuôi vồ, lỗ cửa mắt bò xa xưa còn lại. Một thoáng hương xưa của Hà thành với trời đất hương hoa người ta cơm rượu mà thiếu lá mơ, lát riềng….Thiếu vắng cái thi vị một ngày gió bấc mưa phùn, vì ở ngõ Hàng Lược, có một quán thịt chó không bảng hiệu, bốn đời cha truyền con nối. Trên gác khách ăn trải chiếu ngồi mâm. Khách quen là cụ Nguyễn Tuân với món móng chó luộc (xem cụ Nguyễn Tuân, xơi thịt chó, tr 5). Ca dao ta có câu:

Sống được miếng dồi chó
Chết được bó vàng tâm
Sống không ăn miếng dồi chó
Chết xuống âm phủ không có mà ăn

Chết xuống âm phủ, không thể không nhắc tới phố Lò Xũ bán quan tài. Vào thập niên 20, tao nhân mặc khách là những bác đô tỳ, đầu quấn khăn đầu rìu, quần xắn móng lợn, chân đất vỗ bèn bẹt ngự trên chõng tre, tì tì đánh chén. Ai quên bến lú mặc ai, cuối cùng tôi cũng có mặt ở đầu ngõ Hàng Lược, khúc gần ngã tư Hàng Cá và Ngõ Gạch trong một ngày cuối năm để xả xui. Xả xui đâu không thấy, chỉ thấy cửa hàng đóng cửa im ỉm từ chiều 30 đến mùng bốn. Thưa bạn già.

Vì gần đến ngày xuôi Nam, mùng ba Tết, tôi xuất hành cầu âu đến khu Nhật Tân có bao nhiêu cây đào là có bấy nhiêu quán thịt chó. Nhưng quán xá cửa đóng then gài, chó ngáp phải ruồi, có một quán cửa he hé mở. Ấy vậy mà sĩ phu Bắc Hà đã có dăm mống. Ai tới trước thỉnh quan bác lên chõng. Chậm chân ư, thôi đành để quan anh an nhiên tự tại dưới đất, nhưng cũng chiếu cói như ai. Đầu năm đầu tháng, thôi thì thượng điền tích thủy, hạ điền khan, tôi nhắm cái “dựa mận” trước đã. (xem cuối tr 2)

Mặt mày bạn già nhăn nhúm, đúng là chó thánh nhai ra chữ, gì mà có chuyện chiếu trên, chiếu dưới ở đây. Dào! Bác cứ nói thế, thế nhưng như bài tạp bút đây, đâu phải ăn không ngồi rồi mà có, cũng tầm chương trích cú chuyện xưa tích cũ cả đấy. Vẫn chưa xong với chó ỉa dập, tôi dây dưa thêm ngẫu sự của chính tôi. Chuyện là ngày bảy, tám tuổi, ông bác sai thằng cháu đi mua thịt chó về làm một cữ cho quên mưa phùn gió bấc. Trên đường về, một tay cầm đĩa thịt luộc, một tay cầm cút rượu trắng. Nhóc tôi dò dẫm bấu năm đầu ngón chân xuống đất vì chỉ sợ vồ ếch thì rõ…trơ mắt ếch. Lum khum về đến nhà, chẳng hiểu ngẫu sự gì mỗi thứ chỉ còn một nửa. Vặn óc nghĩ không ra, đến gần cả đời người tôi vẫn chịu không hiểu nổi cái ngẫu sự có túc duyên với thịt chó.

Sau khỏen rựa mận, làm thêm dăm lát thịt chó luộc béo ngậy của ngày tháng cũ, bằng tuổi này, tôi vẫn nặng nợ với nó, như duyên nghiệp vậy thôi. Thì như nhà Bụt đã dậy: “Đi tu Phật bắt ăn chay, thịt chó ăn được thịt cầy thì không” mà ngàn đời mấy ai lỡ quên là vậy. Bác nheo mắt ra cái điều hoài nghi, hoài của làm gì có chuyện nhà chùa nuôi chó? Chả lẽ tôi lại mang câu các cụ ta xưa đã dạy chó chùa bắt nạt chó làng. Vậy bác để tôi quấy quá với cụ Nguyễn Tuân qua Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh nha…

“Tôi đưa Nguyễn Tuân về Thanh Hóa để diễn thuyết, phó viện làm tiệc lớn chiêu đãi, đưa ra một chai rượu ngoại để thù tiếp nhưng Nguyễn Tuân làm lơ, lôi gói cơm nắm trong ba lô, xắt mấy lát mỏng, ăn với ruốc, sau đó lấy bi đông rượu rót ra cái nắp uống. Nguyễn Tuân vừa ngó chai rượu nằm chỏng chơ bên đĩa tiết canh và nhởn nha kể chuyện tiết canh buộc lạt treo lủng lẳng ngoài sân mới là tiết canh. Tiếp, ông kể chuyện từng được một ông sư chùa làng đãi một bữa thịt chó độc đáo. Thịt chó nhà chùa nuôi, ướp gia vị, đặt vào giữa lá sen, bó lại, đem đồ cho chín dừ. Món ăn vừa tục vừa thanh, vừa có hương thơm, có vị chát của nhựa sen. Tôi nhủ thầm, thịt chó mà dám cho vào tòa sen, ông sư nào mà hỗn thế, có kể cũng chẳng ai tin”.

Phất phơ chuyện xưa chuyện nay với bác rồi. Tôi nhân sinh quý thích chí (cụ Tú Xương) với lát thịt chó luộc beo béo, chấm mắm tôm chanh ớt. Bèn đưa cay một hơi rượu làng Hòang Mơ, Hà Đông, rượu hơi “mỏng”, “gợn” nhưng mà “lành”, cũng tạm được (theo cụ Văn Cao). Bỗng không thao thiết tới người Phạm Thái “Sống ở dương gian đánh ché nhè – Thác về âm phủ cắp kè kè, Diêm vương phán hỏi mang gì đó – Be”. Trong khoảnh khắc hòai đồng vọng một thời với rượu làng Vân. Đành gọi thêm “be” rượu “bà Béo” ở phố Bà Triệu, rượu “nồng nhưng dễ uống”, nhưng cũng…“dễ gây chuyện”. Được thể tri giao quái ngã sầu đa mộng tới cụ Nguyễn Du (1765) mê mẩn thịt chó đến độ cứ có anh mực, chị vện là “hữu khuyển khả tu sát”, Nôm có chó cứ làm thịt trong bài cổ thi có tên gợi cảm Hành lạc từ: “Tội gì ngàn năm lo - Có chó cứ làm thịt - Có rượu cứ nghiêng bầu - Được thua trên đời chưa dễ biết”.
***

Thưa với bạn già là ngày đầu năm bà nhà hàng đon đả ra chào khách, dông dài kể lể nghề nhà, mấy đời ở chợ Canh, Hà Đông. Bà mượn miếng trầu là đầu câu chuyện…

Chả dấu gì nhà bác, người ta bảo chỉ có chó chợ Canh mới ngon thịt. Những hàng thịt chó ở phố Hàng Than, Hàng Đồng đều người trong Canh. Khách sành ăn vẫn cho là chẳng đâu được với thịt chó mộc. Bởi vậy, xem ra ở Hà Nội, hầu như các quán thịt chó đều người làng Canh mở, chó đen chợ Canh được tiếng ngon thịt. Khốn khổ một nỗi, người ăn thịt chó nhưng dị đoan kiêng chó đen, không đụng đến thịt chó đầu tháng, cuối tháng và ra đường tránh gặp chó đón ngõ, là thế đấy nhà bác ạ.

À mà nhà bác hỏi thịt mộc là gì ấy hở. Khỉ gió cắn răng nhà bác nhá, vậy mà cũng không biết. Này nhá, thịt mộc là thịt chó luộc mà bác đang xơi ấy. Thịt mộc có cái ngon riêng, vì miếng thịt được cái ngon của miếng thịt sơ sài. Trong khi thịt chó nướng chả, lại trông vào tẩm ướp gia vị: củ hành hoa phả nước hàng rồi lấy xiên nhôm thuốn thành gắp. Than hoa bốc mùi chả thơm lựng. Nhưng đấy là lối làm chả chó ngoài phố. Ở vùng quê, chả chỉ nướng trơn cốt khoe cái ngon như thịt mộc, không phá phách.

Thầy cháu vẫn thường nói: chó tháng ba gà tháng bảy, gà lọt dậu, chó sáu bát, những anh chị chó đang tuổi hoa niên, lúc ấy đem ra thui mới ngon. Con chó thui, da nó vàng ươm, lớp bì mỏng tang, thật là ăn miếng nào rõ ra miếng ấy. Khi thui chó, đã đành thầy cháu kén rơm mới, thầy cháu còn nhét vào bụng nó một nắm lá ổi. Nằm trong chăn mới biết chăn có rận, qua nghề nhà mới biết: Miếng nạc cắt ra ở đùi ngon một kiểu, miếng thịt cắt ra ở lưng có nhiều bì, lại ngon một cách khác, miếng nầm, tức phần có nhiều sụn ở ức thì nhất. Cháu cũng chả biết chó có dây mơ rễ má gì với đậu xanh không, ta dùng hạt đậu để đắp vào vết thương bị chó cắn. Nhưng dồi chó thì nhất định phải làm bằng hạt đậu xanh, rang lên, xiết vỡ, thêm ít búp ổi, lá mơ lông, trộn với tiết. Luộc xong, thầy cháu phải hơ qua lửa cho se mịn lại, cắn nó ngậy, ăn nó bùi nghìn nghịt làm sao ấy.

Ấy, cũng như món…À mà nhà bác búi bấn “dựa mận”, “rượu mận” gì đấy? Giời ạ, nói vô phép vô tắc chứ nhà bác ăn thịt chó mòn răng mà chả biết chó gì sất cả. Cứ theo các cụ ta nói lại “rựa mận” là món nấu với riềng, mẻ, mắm tôm, lá mơ, nó sền sệt, màu nâu nâu như nhựa cây mận nên các cụ gọi trại ra thế. Đúng ra rựa mận, đúng cách nhất phải là miếng thịt có mỡ, bì. Cái bì tôn hẳn đặc tính rựa mận. Thiếu bì như thịt bò thui chấm tương gừng không có da. Chả dấu gì, chứ lại món này nhiêu khê lắm bác ấy ạ, nấu hao thịt và nhiều công, nào là phải bóp thịt kỹ với mắm tôm, mẻ và gừng già. Nhớ là gừng chứ không phải là riềng đâu bác ấy nhá, gừng càng già càng cay là thế. Xong phải đun liu riu đều lửa trong nồi gang, người Bắc mình gọi là ninh ấy mà, đến khi các miếng thịt đều sậm màu như màu mận chín, nước quánh lại là đúng cữ. Mấy cụ thường vẫn kháo nhau, món ăn với bún thì sướng âm sướng ỉ cả ngày.

Ngẫm nguội một nhát, bà đủng đỉnh, không nói bác ấy cũng biết, đã nói đến thịt chó là phải nói đến riềng, mẻ và mắm tôm. Ấy dạo này già rồi nên hay lẫn, quên không nói cho bác ấy nghe, ăn thịt chó không bị độc là nhờ cái nhà anh riềng đấy, thuốc Nam người mình dùng để chữa chứng đau bụng, đầy hơi, đi lỏng, kiết. Còn được gọi là cây gừng một lá, “láng giềng”, láng tỏi của gừng được gọi là giềng, rồi cũng lại bị gọi trại đi là…riềng. Dào! Quên khuấy đi mất bát mắm tôm chanh, cháu thả vào lưng chén rượu trắng cho bay mùi. Cháu chỉ quơ nhăm đũa là bát mắm tôm nổi bùng lên ngay, dậy thơm ngào ngạt. Thầy cháu bảo, chả hiểu có đúng không, đã mắm tôm phải gắt, nó là âm thanh chát chúa của tự nhiên. Nó giống như tiếng trống chầu gõ vào tang trống gỗ, tiếng phách cật tre già trong đàn hát cô đầu, tiếng ngâm, tiếng hãm. Khi không bà buông một tiếng dài: “Rõ mấy cụ rỗi chuyện”. Chêm tí vôi vào miếng trầu, bà đong đầy: “Cụ Cử làng Bưởi sau mấy cút còn bốc nhằng, thịt chó vẫn là âm thanh náo nức của cuộc đời, nó biểu hiện sự xô bồ, tung hoành và tháo cởi”. Rồi bà tặc lưỡi: “Giời ạ, rõ chán chữ với nghĩa của các cụ, cháu nghe cứ như dùi đục chấm mắm cáy ấy, chả ra làm sao sất cả”.

Đổi thế ngồi, bà lan man, ăn thịt chó uống rượu trắng Vân Điển, rượu thuốc hăng hắc mùi táo tàu, mùi cam thảo thì vứt đi cho chó nó tha. Còn rượu nếp cẩm, nếp than thì chả ra cái thá gì, nhạt thèo lèo như nước ốc ngâm vôi ấy. Nhưng có một thứ rất hợp với bia, ấy là món chả chó. Món này gậy mùi nhất trong các thứ chả đấy nhà bác ạ, hơn cả chả Nam Định quê cháu. Trước khi nướng được ướp riềng già, mẻ, mắm tôm trộn đều với nhau. Thịt chó cắt từng miếng bằng đốt ngón tay, vừa nạc vừa mỡ, xiên vào từng xiên rồi nướng. Mà than tàu, than đá lắm khói nên thâm thịt. Vớ phải cái giống củi ẩm thì chỉ có mà đi tướt. Mà phải là than quả bàng hay than hoa gì ấy và phải quạt liền tay cho đỏ đều, thịt xèo xèo cháy, mỡ giỏ xuống than bốc khói thơm quyện vào thịt và đợi chín vàng như nghệ mới tươm tất. Bày lên đĩa, thầy cháu còn cầu kỳ rắc lên ít sợi riềng khô. Rồi bà chép miệng, bia và chả chó hợp nhau lạ lùng, thầy cháu vẫn nói vậy, nào cháu có biết mốc khô gì đâu, chắc ở đời này chẳng có thứ nào hợp với bia hơn là thứ chả chó, phải không bác.

Mà bác ấy ạ, lạ một nhẽ ăn thịt chó phải có húng, mà phải là…húng chó trồng ở làng Láng. Một đĩa húng chó, có thêm mấy cọng ngổ, mấy nhát riềng tươi. Chấm miếng thịt nướng vào bát mắm tôm, làm một hớp bia, nhâm nhi với miếng riềng, cọng húng, miếng bánh đa vừng thì…Thì giời đất ạ, ngon…quên chết đi chứ lị. Bác ấy ơi”.

Quán có khách, bà đi vào. Tôi ngẫm nguội gặp bà chủ quán mắn chuyện, chuyến này đi nhẹ về nặng, có thêm một rổ chữ để làm vốn. Mà lâu lắm rồi, tôi không gặp lại cái khăn mỏ quạ, răng hạt huyền, răng hạt na một thời vắng bóng. Bỗng dưng u hòai về bà hàng thịt chó ven chợ: “Ăn rồi xách nón ra về - Thấy hàng chả chó lại lê chân vào - Chả này bà bán làm sao - Ba đồng một gắp lẽ nào chẳng không”.

***
Từ “bà” thầy chủ quán, dây cà ra dây muống, tôi lây dây qua “ông” thầy thịt chó, là ông cậu “trẻ” lớn hơn tôi hai, ba tuổi. Mạn phép bạn già, tôi gọi bằng “nó”. Bởi chưng tôi “mày, tao” với nó nhè ở cái tuổi nhầng nhầng. Ở quê bị thương hàn, trộm thấy nó sắp theo ông bà ông vải. Các cụ mang ra chuồng lợn ủ trấu lấy khí âm, khí dương. Nghe tiếng kêu eng éc, nó ngóc đầu dậy nhìn…và phều phào muốn ăn…thịt chó. Các cụ nghĩ vụng trước sau gì nó cũng về chầu tổ tiên nên chiều thằng ôn vật lần cuối. Nó ăn xong không chết cho mà sống nhăn răng để thành…“ông” thầy thịt chó của tôi, thưa bạn già.

Với chó ba khoanh mới nằm, gà ba lần vỗ cánh mới gáy nó gáy um lên mà rằng:

Rằng thời đồ đồng, đồ đất gì ấy, các cụ cổ ta xưa xách giáo, mác vào rừng săn, bắt gặp một con vật có bốn chân, đuôi cong, mũi nhọn là con cheo vừa ngọt thịt, vừa thơm. Thế là các cụ hè nhau ra mang về ngả thịt đánh chén. Chưa hết, nó chó gio mèo mù thêm: Sau đến màn cây nhà lá vườn ngả qua con chấn bốn cho. Các cụ ta nhập nhằng nói chữ…”con cầy” là thế.

Lạc đường nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu, tôi lêu bêu theo nó: Chú chó là con vật được loài người thuần hóa đầu tiên, cách đây khoảng 40 ngàn năm. Vì chú là con vật chủ chốt trong các cuộc đi săn, giữ hang động. Nhiều nơi thờ chú như vật tổ. Suốt từ Himalaya đến sông Dương Tử, nơi cộng đồng Bách Việt và nhiều sắc tộc khác, ngoài hệ Hán-Tạng sinh sống, người ta thờ chú như linh vật. (theo nhà khuyển học Lý Đợi)

Từ tiếng Hán, nó sa đà với ông Tàu láng giềng chiết tự chữ “nhiên” là nhúm lửa gồm 3 chữ “nhục” là thịt, “khuyển” là chó, “hỏa” là lửa. Bắt qua Hán-Tạng, nó đùn chữ theo Càn Long hành phương Nam được nếm món “truyền kỳ chí quái” của người An Nam bèn tôn là “vương nhục”, tức vua của các loài thịt, cóc nhái vất đi. Tôi đổ xí ngầu ăn thịt bò viên mòn răng trong Chợ Lớn đã quen thói nên mổ chữ theo người Tiều gọi là “xực tam lục”. Với đổ xí ngầu thì tam, lục cộng lại là cửu. Từ…“cửu”., người Nam ta gọi chại chó là…“cẩu” chăng? Dám lắm ạ !

Được thể tôi vắt qua cụ Nguyễn Đăng Cảo là người đầu tiên có tên trong khuyển sử: Sau khi ăn bữa thịt chó cuối cùng ở chợ Cầu Lim, làng Nội Duệ rồi bay lên núi Lan Kha thành tiên (Bắc Ninh). Cụ quy tiên năm 1646 vào đời Khang Hy (1649), theo truyền kỳ chi quái Càn Long (1735) tìm ra vương nhục ở phương Nam. Cứ theo “khuyển sử niên biểu” thì thịt chó ta có cách đây khoảng 600 năm. Đất Nam Định, xứ Bùi Chu, thêm xứ Phát Diệm có thịt chó khoảng 100 năm. Thịt chó Nam Định vãng lai vào miền Nam thập niên 30-40, bến bãi đầu tiên là Đà Nẵng chứ chả phải Sài Gòn. Thế nhưng Đà Nẵng chỉ là đất tạm dung cho “chấn bốn cho”. Vào đến Sài Gòn, thịt chó Bắc kỳ không được…“bản sắc” cho mấy vì người miền Nam chung sống với cộng đồng người Khmer, Phật giáo, Ấn Độ giáo nên không…”cảm khái” cho lắm với thịt chó. Khi Thiên Chúa giáo theo dân di cư tới ngã ba Ông Tạ, cộng đoàn giáo dân đầu tiên là Nam Thái (Nam Định, Thái Bình). Tiếp là Bùi Phát (Bùi Chu, Phát Diệm), gặp cảnh cũ người xưa, quán cầy tơ mọc lên như nấm sau cơn mưa, chẳng qua đây là biểu cảm…“bản sắc ngầm” của người Công giáo ấy thôi.

Bởi vọng văn sính nghĩa với lá mơ, mà Tàu gọi là “ngưu bì đống”. Vì vậy lá mơ tam thể đi với tam khoang tứ đốm là đúng quá rồi. Tôi luận chữ theo sách Bản thảo cương mục đời Thanh tôn vinh “hòang khuyển vi thượng, hắc khuyển, bạch khuyển thứ chi”, cớ sao không là “nhất trắng, nhì vàng, tam khoang, tứ đốm”. Nó lụng bụng nhìn trời ăn thịt chó với trời nắng chó trắng, trời mưa chó vàng, mưa nắng làng nhàng, chó nào cũng được. Theo nó ít ai ăn chó trắng vì chó trắng cắn…ma. Thấy người ta trồng khoai cũng vác mai đi đào, tôi đào xới Tàu kiêng ăn thịt chó vào tháng chín với “cửu nguyệt vật thực khuyển” bởi theo dịch lý tháng chín thuộc chi Tuất vì…kỵ húy. Riêng phần con này ngon hơn con kia là do mấy ông lái chó gọi cho có vần có điệu vậy thôi. Nghe thủng rồi, nó luận chó nào chẳng ăn cứt, ốc nào chẳng ăn bùn. Và tiếp, theo các cụ ta thịt chó ngon nhất là…chó ghẻ. Ngỡ nó sủa bậy cho vui, nó dẫu mồm ấy là vì chó ghẻ có mỡ đằng đuôi. Tôi chưa kịp u ơ, nó ghè thêm chó chết bọ chó cũng chết.

Chó chết hết cắn, nhưng vẫn chưa hết…Vì hốt nhiên nó biệt tăm biệt tích, nghe hơi nồi chõ nó trốn lính ở trại “ri cư” Lạc Dương hẻo lánh. Bèn tới thăm. Hai thằng ngồi ở cái thềm đất cao, ngắm con đường đất đỏ ắng lặng đến ngáo người. Bỗng có bóng cô hàng quẩy gánh tự đằng xa…Nó ới: "Lại đây, chó". Cô hàng cũng chẳng vừa: "Ai chó đấy". Cô hàng quanh năm suốt tháng, "Đi gánh đau vai - Nằm dài nhịn đói - Một vác dao bầu - Một xâu thịt chó", thêm món lòng. Nó làm thầy đời: làm lòng dễ như…chó ăn trứng luộc, và phải chấm với nước mắm chanh mới đúng điệu. Cô hàng con mắt có đuôi, cong cớn “Trai tơ lấy phải nạ dòng - Như nước mắm thối chấm lòng chó thiu”. Chó chết hết chuyện, chuyện có hậu nó gá nghĩa tào khang với cô hàng sáo chó ấy.

***

Vào đến Sài Gòn nhè cái nắng oi ả bèn đánh một giấc. Trong khi bà chị tất bật ra chợ Ông Tạ xách về đĩa thịt luộc. Làm nửa đĩa không thấy…”ngon ăn” như ở Nhật Tân. Chó đen quen ngõ, tôi mầy mò tìm ra quán Lá mơ dưới chân cầu Thị Nghè. Bước vào quán đông nghẹt, đập chát vào mắt là một dàn rượu rắn thật bắt mắt, từ nhất xà đến tam xà, con nào con nấy cuộn mình nằm ngủ chèo queo, an giấc nghìn thu đến mát người. Đảo mắt một vòng, bàn ghế thấp lè tè, bát đĩa cốc chai la liệt, ngổn ngang trên bàn dưới đất. Cái không khí xô bồ tuệch tọac ấy, tôi như lạc vào thế giới của Đồ Phồn, Chí Phèo, vậy mà nên thơ mới chết người. Thêm cái bát nháo của đám sĩ phu Bắc Hà hai nút, nồng nặc trong một cõi ta bà mù mịt qua khói thuốc, nói năng nổ trời. Lững lờ với chó nhà quê đòi ăn mắm mực, tôi tặc lưỡi một cái tách bắt đĩa thịt “mộc”. Lại ngu ngơ đến chuyện ngoài kia luộc, trong này hấp cách thủy, nhưng cũng đằm thắm ra phết. Bỗng buồn môi ngứa miệng vì những thớ thịt lẳng lặng len vào khe răng, tê tê và ngưa ngứa. Nhưng lại…nghe thấy mùi riềng. Bèn ới một cái tam xà cho nó chui tuốt tuồn tuột xuống cổ họng. Như chó đái dắt, lại tiếc nuối riềng giắt răng ba ngày vẫn còn thơm…

Đang ở quán Lá mơ tôi để cái đầu lay lắt tới ông Tô Hòai, quê Hà Đông, gần làng Canh, làng Cầu Khâu bán thịt chó suốt sáng. Qua tạp bút Lại thịt chó, ông viết: “Ở Sài Gòn bây giờ, chỉ một quãng phố đã gặp quán thịt chó. Nhòm bảng hiệu có nơi viết lái tên hiệu: quán Hạ cờ Tây (hạ cầy tơ) và quán Mộc tồn (mộc là cây, tồn là còn, là con cầy). Nghe đâu ở ngã ba Ông Tạ có quán Nai đồng quê hay Nai thềm, tiếng Nam bộ gọi vậy. Nói theo người Hà Nội là thịt hươu thềm, con hươu nuôi trước thềm nhà. Được thể tôi lây dây qua cụ Nguyễn Tuân lau lách với nhiều giai thọai. Nay rị mọ thêm ngoa truyền, cụ Nguyễn chỉ thích thị chả nướng ngồi quạt lò bên vỉa hè, cụ chỉ nhắm rượu với thịt ba chỉ chấm mắm tép. Cụ không thích mắm tôm, cũng không ăn tỏi. Ở ngoài đời, theo ông con của cụ thì cụ Nguyễn Tuân...ngại thịt chó. Hóa ra cụ Nguyễn gặm móng chó ở ngõ Hàng Lược chỉ là giai thoại.

***

Rồi ngày về cũng đến...đưa người ta không đưa sang sông, sao có tiếng sóng ở trong lòng. Từ xế chiều, họ hàng, bạn bè tới thăm hỏi, tiễn đưa. Chỉ tội nghiệp bà chị tôi, chị lẳng lặng dắt chiếc xe đạp, tất tưởi tới chân cầu Thị Nghè, thửa về mấy đĩa cho cậu em tiếp bạn. Chị tôi vẫn chân chất quê mùa của hương đồng cỏ nội, chị lặng lẽ gói ghém cho cậu em làm quà mang về. Chị ngồi bệt xuống sàn nhà, đếm từng miếng riềng, nhặt từng lá mơ, gói ghém nhồi nhét vào hai lon “guigoz”, cúi đầu dấu nước mắt ngắn dài...chị thà coi như là hạt bụi, em thà coi như hơi rượu say.

Về đến phi trường Houston, nhìn thấy cái bảng dọa nạt này kia, kia nọ tôi cũng ngại ngùng. Bỏ thì thương vương thì tội, thôi thì cũng đành quẳng gánh lo đi nhẹ lấy mình. ngần ngừ moi hai "hạt bụi" thả vào thùng rác. Cát bụi lại trở về cát bụi, bồi hồi tiếc nuối...

Trúc gia trang
Mậu Tý 2008
Phí Ngọc Hùng
(sửa chữa 2020, 2022)

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2023

Phí Lão Cắt Cổ Vịt

 

Trên núi Xuân Đài, xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa có động Hồ Công.
Người xưa hình như đã dựa vào thế núi và chuyện về động Hồ Công chẳng khác nào chốn bồng lai tiên cảnh giữa trần gian, mà tạc vào vách đá trên cửa động 4 chữ Hán lớn “Sơn bất tại cao” (tương truyền do Nguyễn Nghiễm, anh Nguyễn Du đề bút). Nghĩa của 4 chữ Hán này dựa vào câu Sơn bất tại cao, hữu tiên tất linh - Giang bất tại thâm, hữu long tất ứng. Nôm là núi không cao mà có tiên tất linh thiêng, sông không sâu mà có rồng tất ứng nghiệm.
  
Với chuyện tiên, rồng Liệt tiên truyện ghi:

Đời Tây Hán, năm 206 trước công nguyên, ông Hồ Công hằng ngày uống rượu ở chợ đeo cái bầu bên hông. Tối đến vào cái bầu ấy mà ngủ. Tửu đồng họ Phí hàng ngày hầu rượu Hồ Công, một hôm xin cho chui vào cái bầu. Hồ Công bằng lòng, tửu đồng họ Phí thấy trong bầu như cảnh thần tiên rất ngạc nhiên. Hồ Công nói: “Ta là tiên bị đầy nên tạm ngụ ở đấy”. Họ Phí xin học đạo tiên và được dẫn lên núi tu luyện. Khi tạm biệt, Hồ Công trao cho Phí Trường Phòng cây gậy tre, có phép thâu ngắn đường đi.
 

Trong Chinh Phụ Ngâm khúc của Đặng Trần Côn có câu: Hận vô Trường Phòng xúc địa thuật, bà Đoàn Thị Điểm diễn Nôm là: Gậy rút đất dễ khôn học chước.

Họ Phí rày đây mai đó bên quán rượu, đồ nhắm ê hề thịt chó, nhưng không có tiết canh vịt. Năm ngày chày tháng, họ Phí nay là Phí Trường Phòng, cưỡi cây gậy tre hóa rồng bay về thổ ngơi bản quán.


***
Đời sau tại đất Hút-tân có Phí lão ông là người quên cả thổ ngơi, tên họ. Phí lão làm quan ba mươi tư năm, lui về Trúc gia trang ở ẩn. Chốn tây viên có ao sen, dăm bụi trúc. Tuổi mới chớm già, chưa đến nỗi lẩm cẩm. Tính thích rượu, văn phú. Bởi theo cao tằng tổ tổ Phí Trường Phòng của Phí lão qua: “Cuộc thế công danh mơ tưởng hão - Bầu rượu phong nguyệt thú vô cùng”. Vợ nhà thấy uống nhiều quá nên ngăn cản. Bèn nói: "Nếu ta hám lợi, lại một phen nhọc nhằn vào kinh, lăn lộn trong chốn đô hội. Thuở hàn vi, đồ thư nửa gánh, chả đâu vào đâu. Bằng một sớm lại vương vào cái hư danh. Nay ta trong cuộc rượu, nhưng không có hại. Nếu bỏ cái nhân sinh quý thích chí còn gì ra cái hồn người, lấy gì mà mua vui lúc tuổi già cám cảnh đây.

Nói xong, chẳng bận lòng, ra chum tắm. Vào nhà khăn đóng áo dài, đứng trước bàn thờ vái bài vị: Lưu Linh (xem tr 6). Rồi Phí lão nhắc vò rót rượu, uống vài chén cho say tít cù lỳ. Say rồi lại tỉnh, tỉnh rồi lại uống, uống rồi lại say, say với tỉnh cứ gối đầu lên nhau. Bởi thế coi cuộc đời như giấc mộng, coi phú quý tựa mây bay, lúc nào cũng li bì mờ mịt. Bấy giờ là ngày mồng 5 tháng 5, Phí lão tuổi Giáp Thân, nay sáu mươi chín, tóc đã bạc, răng khuyết bốn, năm chiếc, mà cái vui trong tửu lượng vẫn chưa suy.

Bèn ngoảnh lại bảo tế quán: Thì như bà biết đấy, ta xưa nay chuyện lo mài giũa ngôn từ, chuyên công làm văn, tuổi xanh làm phú. Thịt chó ta ăn đã mòn răng, mà ăn cái giống ấy ta lại hay…ủng oẳng với bà. Bà làm cho ta đĩa tiết canh vịt được chăng? Thế là bà ra ao nhúm con vịt chéo hai đầu cánh khép vào nhau là vịt đamg kỳ phát dục. Nếu được “vịt cỏ” Vân Đình, Thăng Long, nơi ông ứng thí năm nào thì hay biết mấy.

Phí lão ông đang định hãm tiết hai thìa nước với một thìa mắm. Vừa lúc bà tóm cổ được con vịt chéo cánh bự sự nên ông bơ bải pha bốn thìa nước, hai thìa mắm. Trong khi bà lom khom dốc đầu con vịt, ông hấm húi nhổ lông cổ vịt, miệng thổi phù phù cho sạch lông. Tiếp, ông cầm con dao bổ cau cứa cổ vịt xoẹt môt cái để tiết chảy nhanh, nếu không, tiết chảy nhỏ giọt sẽ bị bầm đen. Gọi cứa cổ xọet thế, nhưng phải lượng tay vì cắt chạm tới cổ họng, chất dơ ở cổ họng sẽ làm bát hãm tiết bị lợn cợn bọt. Xong, ông nhét đầu con vịt vào cánh, đứng lên, ông đảo con vịt 4, 5 năm vòng cho nó chóng mặt để ngủ quên trong cõi tĩnh mịch. Trong khi ấy bà hứng tiết vào bát, để cho tiết khỏi bị đông, bà khuấy đũa thật nhẹ. Vừa khuấy bà vừa lâm râm như khấn vái: “Bà báo đời cho mày biết nhá, vịt nhỡ nhỡ cỡ mày, bà phải cắt cánh mới có tiết. Gặp vịt già cốc đế cỡ ông nhà mày thì bà…cắt cổ”. Bà vào bếp luộc vịt để nhổ lông. Đang đứng đợi nước sôi, hốt nhiên bà nói: “Ông lấy…cái ấy đi”. Ông lên nhà lục lọi một hồi lâu lấy…cái nhíp mang xuống. Bà nhăn nhúm: “Giời ạ! Cái này để nhổ lông vịt già. Còn vịt non thì dùng cái ấy…ấy”. Ông lại thủng thẳng lên phòng thờ tự lấy “cái ấy ấy”. Bà hơ lửa…cái ấy ấy đủ nóng. Bà lăn lăn cái ấy ấy lên thân con vịt làm sạch mớ lông còn sót lại và vừa nói chuyện với…ông thì phải: “Ông trước kia còn răng cỏ, làm nhân cổ vịt nhai được. Bây giờ chọm chẹm rồi nhân tiết canh cứ theo các cụ mình mà làm”.

Nhân chuyện cắt cổ vịt, Phí lão ông hồi nhớ lại cái năm động giời ấy:
“…Chuyện nhằm vào cái năm thi Hương ở Trấn Kinh Bắc, nếu qua được bốn trường được gọi là ông Cống. Phí lão xuống Thăng Long xin xăm. Tới Hồ Gươm, vào Ngọc Sơn Từ có điện Văn Xương, nơi các sĩ tử thường tới xin sâm trước khi ứng thí. Phí lão gặp…một bà thầy bói. Bà dạy rằng: “Văn Xương đế quân linh hiển báo ứng không sai, nay mai Thầy tiến kinh nếu có thỉnh nguyện điều gì, Thầy lạy bà ba lạy”. Phí ông nổi hung đáp: ”Ta không lạy”. Nghe thủng rồi, bà im như thóc ngâm.

Năm ấy trường thi ra đề mục “Tứ tử lai hồi”. Phí ông ngồi trong lều cứ tơ tưởng đến bà thầy bói đẹp như Tây Thi ở hồ Gươm. Nên phóng bút…

“Xuất kỳ Đông môn, Tây Thi bất lai. Xuất kỳ Nam môn, Tây Thi bất lai. Xuất kỳ Tây môn, Tây Thi bất lai. Xuất kỳ Bắc môn, Tây Thi bất lai. Tây Thi lai hồ?. Tây Thi lai hồ?”.

Đang lõm ngõm với quá khứ lai hồi, bà sai Phí ông lấy đĩa đựng nhân tiết canh. Bà hỏi ông: “Hồi nãy ông pha 4 thìa nước, 2 thìa mắm phỏng”, bà hỏi vậy vì tùy theo tiết của con vịt nhiều hay ít, đĩa tiết canh đông đặc hay lỏng le hoặc mặn hay nhạt. Ngỡ xong, bà lại nhờ ông múc cho bà bát nước sôi để lát nữa hòa với bát hãm tiết. Bát lớn bát nhỏ tùy theo đĩa to đĩa bé, bá quan bá tính, có người thích tiết canh mỏng cho thanh cảnh, có người thích tiết canh dầy cho ngập mồm này kia, kia nọ.

Bây giờ Phí lão mới động giời, động thổ về trường thi với văn bài khi xưa:

“…Câu ấy nghĩa là: Đi ra cửa Đông, Tây Thi không đến. Đi ra cửa Nam, Tây Thi không đến. Đi ra cửa Tây, Tây Thi không đến. Đi ra cửa Bắc, Tây Thi không đến. Nàng có đến không? Nàng có đến không?. Khảo quan chấm thi đọc thống khoái quá thể, liền hạ bút phê: “Trí chi nhất đẳng, vô thị lý dã. Trí chi nhị đẳng, vô thị lý dã. Trí chi tam đẳng, vô thị lý dã. Trí chi tứ đẳng, vô thị lý dã. Tú tài khứ hĩ. Tú tài khứ hĩ ”. Nôm na là: Xếp bài hạng nhất, thật là vô lý. Xếp bài hạng nhì, thật là vô lý. Xếp bài hạng ba, thật là vô lý. Xếp bài hạng tư, thật là vô lý. Tú tài trượt rồi. Tú tài trượt rồi.

Năm ấy Phí ông…trượt rồi, trượt rồi, mấy năm sau trở lại. Chợt nhìn dưới hồ vừa rùa, vừa vịt cò, tức vịt lông trắng, vịt cà cuống, tức vịt lông xám xanh đang bơi, ông bèn hỏi bỡn bà biết cắt cổ vịt chăng? Bà ngẫn ngẫn…cắt cổ ông còn được nữa là…con vịt. Thế là ông lạy bà ba lạy, năm ấy ông hóa thân thành ông Cống thật.

Ông ôn cố tri tân một mẻ như “vịt chống gậy” đến đây, vừa lúc bà lâm râm: “Các cụ ta dậy muốn đĩa tiết canh đông có thể đem xỏ lạt treo lên được, nên bà phải băm…mày thật nhỏ, thịt đùi dàn đều vào đĩa cho mịn để…ông Cống nhà mày xơi. Nếu không chỉ tổ ông Cống nhà mày được thể lại nhiếc cho là các mụ vợ già nhà ta giống miếng thịt vịt già luộc dối, đã hôi lại dai như chão ấy. Nếu nhân tiết canh chỉ lòng, mề không thôi dai nhanh nhách, ông Cống nhà mày răng cỏ chỉ còn…lợi sao mà…nhai”.

Nghe chối tai sao ấy, mặt như bát tiết canh sũng nước, Phí lão bỏ lên nhà trên. Không hay biết, bà…lề mề với cái mề vịt: “Mày không biết chứ nhân tâm nan mô áp đồn nan bác là tâm người khó rờ, mề vịt khó lột. Ấy là bà học lóm ông Cống nhà mày đấy”. Bà nói đay với con vịt đã tan tác đâu vào đó: “Bà theo đạo Bụt, bà không sát sinh nhưng bà…phóng sinh mày để ông Cống nhà mày nhắm rượu. Mày không biết ấy chứ…”. Vẫn không biết ông “biến” rồi, bà tiếp: “Không nói ông cũng biết thừa đĩa tiết canh chả thiếu hành nướng chín để tăng độ bùi ấy mà”. Bà nói với bát tiết: “Nếu mày lụng bụng như óc trâu, bà phải đào cây sả cả rễ nhúng vào bát tiết để hút hết bầm đen”.

Đổ tiết bát tiết canh, bà chăm bón cứ 1 tiết, 2 nước, rồi chan đều lên mặt nhân. Bà lấy đũa thọc thọc vào đĩa nhân cho tiết chui tọt xuống đáy đĩa. Bà lập cập: “Tiết canh đông rồi thêm rau húng, mùi tàu, vài lát gan thái mỏng”. Với tay quơ chai nước mắm. Biết ông Cống không còn ở bếp nữa, bà rù rì với...bát nước mắm: “Thịt vịt phải chấm với nước mắm gừng. Pha nước mắm gừng cũng nhiêu khê lắm ấy nhá, vì gừng phải giã nhừ, thêm chanh, đường, ớt. Bà chỉ quơ dăm vòng đũa là bát mắm gừng nổi bùng lên ngay, dậy thơm ngào ngạt...Ấy là ông Cống mày nói thế, chứ bà có nói năng gì đâu”.

Vừa lúc Phí lão lọ mọ vào bếp. Bà tặc lưỡi: “Dào, ăn thịt vịt mà uống rượu Ngang ở làng Ngang thì…ngang phè phè ra ấy. Bà hóng hớt: “Giời ạ, quên bu nó mất khoảng rượu. Hay ông chịu khó đi mua nhá”. Rồi bà phủi tay đi lên nhà trên thắp nhang để tụng kinh sám hối vì lỡ…sát sinh.
***
Thế là Phí lão thọc cây gậy tre rút đất vào giữa hai háng, cây gậy như con rồng bay sang đất…Tàu mua rượu. Mấy khắc sau đáp xuống phủ Giang Tô có lữ quán tên Diêm la vương khai tửu. Dòm yết bảng treo ở cạnh cửa viết loằng ngoằng tên những danh tửu như Thiên hạ đệ nhất Ô Trình tửu, Cam Tuyền giai nhưỡng tửu,…bèn bước vào. Phí lão bắt gặp một đại nhân ngồi bên bàn, trước mặt là thùng rượu gỗ đen Thiệu Hưng hắc tửu, và cái bánh bao to bằng cái bát. Vừa lúc đại nhân ngâm nga đầy hào sảng: “Đang uống rượu, nhìn ra cửa những nấm mộ bị tuyết phủ tới ba bốn tấc, vừa lúc bạn rượu bước vào. Chẳng khoái ru?”. Phí lão ông biết ngay đây là Kim Thánh Thán.

Chợt nhớ đại nhân đây là ngự sử văn đàn qua Lục tài tử thư, phê bình từ Sử ký của Tư Mã Thiên, đến Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. Phí lão bèn thủ lễ:
- Tại hạ họ Phí, người xứ An Nam, đã ngưỡng mộ tiên sinh bấy lâu.
Dòm thùng rượu, Phí lão có ý tìm bạn rượu mang về nhà nhậu nên quắn đầu:
- Nay xin thưa ở bản quốc có món ngon hơn bánh bao nhân thịt trâu trên bàn kia. Từ con trâu, quý quốc tha ma mộ địa chỉ có món “Cát kê yên dụng ngưu đao” là cắt tiết gà há dùng dao mổ trâu, thì bản quốc có món…cắt tiết vịt. Thưa tiên sinh.

Được thể Phí lão học Tàu cấm giả lịnh giả thị, là ai cấm người mang bị nói khoác. Phí lão bèn huếch đất An Nam ở tửu địa Quảng Trị thời vua Thiệu Trị có đế Kim Long. Tửu địa Bình Định thời vua Minh Mạng có đế Bàu Đá. Tuy nhiên Phí lão dấu biến bởi rượu dấu trong lùm mọc toàn cây đế, nên được gọi là…rượu đế.

Tuy nhiên, Thánh Thán nghe hoảng nghe tiều ta có rượu vua nên Thánh Thán hỏi lại cho chắc ăn: “Đế có phải là…vua không?”. Thế là Phí lão một tấc tận giời còn hơn…vua nữa. Bởi dân bét rượu nào có sợ ai Hiu hiu gió thổi đầu non - Mấy cha uống rượu là con Ngọc Hoàng. Nghe thủng rồi, Thánh Thán mà rằng nước Tàu từ thời Tam hòang ngũ đế không có…rượu đế. Thiệu Hưng Tửu có từ thời Chiến quốc. Mai Quế Lộ từ thời Tam Quốc. Mao Đài Tửu từ thời…Mao Trạch Đông. Thánh Thán la toáng lên:
- Hảo tửu! Hảo bằng hữu! Mà di chân đường Phí quân ở phương nao?


Đọan Phí lão bảo Thánh Thán ngồi lên cây gậy nhắm mắt lại. Một khắc sau về đến Bắc Ninh, dọc đường làng chum, vại rượu lớn, nhỏ xếp thành hàng lối. Hai bên cổng làng có hai câu đối: Vân hương mỹ tửu lừng biển Bắc – Vạn Vân như nguyệt rạng trời Nam. Vào đình làng có bốn chữ đại tự “Vân hương mỹ tửu”. Phí lão thiên tải kỳ bút cho Thánh Thán hay vua Lê Hy Tông năm Chính Hòa thứ 24 (1703) phong cho danh tửu ở tửu địa Kinh Bắc này. Ấy là rượu làng Vân tiến vua, là rượu nếp cái hoa vàng chỉ trên cánh đồng làng Vân Xá mới có. Nói rồi Phí lão thửa hai vại Vân hương mỹ tửu.

Với ô túy cương tửu là ghét say sưa nhưng lại thích uống rượu. Thánh Thán nói:
- Hảo tửu! Hảo tửu a! Mà gia hương đường Phí quân nơi nao?
Về đến nhà, Thánh Thán bê cả vại rượu lên hít hà:
- Quả thật tửu quốc đây của quý quốc nào khác gì Bồ Đào tửu của Thổ Lỗ Phồn Tây Vực. Hừm! Mỹ tửu quốc này cũng 10 năm chứ không ít. Hảo a! Hảo a!
Phí lão ông lụm cụm:
- Rượu bản quốc hạ thổ gắn kín như thế, sao tiên sinh ngửi thấy được?
Kim Thánh Thán mỉm cười đáp:
- Rượu trong vại kín nhưng với tri kỳ hương, bản chức dùng mắt…nghe được..
Phí lão ra điều mình là hậu bối của Phí Trường Phòng nằm ngủ trong hồ lô rượu:
- Tại hạ nằm trong cái túi càn khôn tung hê hồ thỉ bốn phương trời uống rượu rách mép mà không hay Vân Hương mỹ tửu đã hạ thổ 10 năm. Nay xin thưa.
Học Phí lão học Tàu với…cái bị nói khoác, Thánh Thán tam toạng:
- Rượu qúy quốc chôn sâu dưới đất 10 năm, không cần moi lên nhưng với tri kỳ ảo, bản chức có thể dùng tai nghe được…vị ngon của rượu..
Thánh Thán lại học Ta với rượu không say, say vì chén:
- Tuy có rượu ngon, nhưng lại không có chén tốt, thật đáng tiếc!

Vì rằng ở cái thế lao dật của Phí lão là biện tửu bất nan, thỉnh khách nan, thỉnh khách bất nan, khoản khách nan, là bày rượu không khó, mời khách khó, mời khách không khó, đãi khách khó…khó thế đấy. Nghe rồi “khách” đã “khoản khách nan” rằng:
- Uống rượu cần tửu cụ. Uống Thiệu Hưng trạng nguyên hồng phải dùng chén phỉ thúy. Uống Bồ đào mỹ tửu phải dùng chén dạ quang, thưa các hạ.

Phí lão bụng bảo dạ Tàu làm quái gì có chén dạ quang. Bởi cứ ăn ốc nói mò câu dục ẩm tì bà mã thượng thôi tích từ người Mông Cổ vừa cưỡi ngựa vừa uống rượu đâu có chén bát nên cưa sừng bò, sừng trâu làm chén. Vì sừng bò, sừng trâu có chất lân tinh nên Tàu gọi…linh tinh là Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi ấy thôi.

Làm như vô tri thời bất mộ với ý người ta không mến mộ cái người ta không biết đến…sừng bò, sừng trâu. Thánh Thán chỉ vại rượu mà rằng:
- Rượu qúy quốc là rượu thâm niên cổ đại phải dùng đấu lớn mà uống, mới lộ ra được cái khí khái, khí phách, cổ nhân đã nói như thế, thưa Phí quân.

Nghe láo quáo…cổ nhân nói thế, chẳng cần biết cổ nhân là ai, nói thế nào. Vì vậy Phí lão vào bếp moi ra được hai cái đấu gỗ thường ngày tiện nội dùng để đong gạo. Nhìn thấy hai cái đấu gạo để…uống rượu rồi, Thánh Thán yên chí ngồi trên chiếu kiểu thiền tọa, tức ngồi để hai bàn chân ngửa gác lên vế. Phí lão thấy hay hay bèn hỏi. Thánh Thán giải luận ấy là kiểu ngồi “phu tọa” của tửu đạo. Vì Kinh tửu có câu phu tọa nhàn song tửu nhãn khai, là ngồi thiền song vẫn mở mắt…nghe hơi rượu là thế…

Sau khi ấn chứng về cách ngồi của đạo rượu, bỗng dưng không đâu Phí lão nhũn não với học châm tửu ý, là học cách hầu rượu. Bởi quá chén thù chén tạc, bên chủ "tạc" là mời rượu. Bên khách "thù", chẳng hẳn…thù hằn gì nhau mà là uống đáp lễ. Chưa kịp bày tỏ cái lễ của đạo rượu, khách nhòm chủ ra ý nhất nhân bất ngật tửu là một người không…uống rượu được. Rồi nói vấy sự pha thuyết xuất. Tửu phạ chậm xuất, ra cái điều việc ngại nói ra, rượu ngại mời rót.

Vừa lúc nội nhân Phí lão mang bát đũa ra, Thánh Thán mà rằng:

- Phí tào khang đã có công, thường kính nhường hậu kẻ sĩ này quá hậu hĩ. Nên bản chức lại nhớ đến chuyện phu nhân của danh tửu Lưu Linh.

Cầm đấu rượu lên, Thánh Thán kể lể:

- Lưu Linh học rộng, tài cao không hề màng danh lợi như…Phí quân đây. Lưu Linh uống rượu triền miên, phu nhân thấy chồng uống nhiều quá nên can ngăn. Lưu Linh xin vợ được uống một lần cho say khướt, rồi chừa. Lưu Linh khấn trước bàn thờ:

Trời sinh Linh này
Lừng danh kẻ say
Mỗi lần một hộc
Năm đấu đưa cay
Lời can của vợ
Ngang trời gió bay...

Khấn xong, uống say mèm, lăn ra ngủ. Ngủ dậy, Lưu Linh viết Tửu đức tụng được coi như một áng danh văn về rượu trong văn học Tửu thi, thưa Phí tào khang.

Đột nhiên Thánh Thán bảo: nhất tâm tưởng ngật áp nhục. Nghe lạ! Bèn hỏi? Thì được biết Thánh Thán đây tơ tưởng đến thịt vịt từ lâu. Trả lời xong, Thánh Thán đổi thế ngồi chồm hổm, hai chân trước lom khom chống đất, lưng gù gù. Phí lão dằn bụng không đặng! Bèn vấn nữa. Thánh Thán đáp: lạn hà mô tưởng ngật áp nhục là…là con cóc đang mơ tưởng thịt vịt đó.

Hiểu ý, tiện nội mang thịt vịt luộc ra…Phí lão nói tế quán xuống bếp bê đĩa tiết canh lên. Có tiết canh là có chuyện…Chuyện là có con ruồi đậu trên đĩa tiết canh. Thánh Thán bảo: “Mở cửa sổ cho ruồi bay ra, chẳng sướng lắm ru?”. Thế là Phí lão đứng dậy đi mở cửa… Vừa về chỗ, Phí lão bắt gặp Thánh Thán mặt nhăn quéo, gầm gừ nhìn đĩa tiết canh đỏ hoét, trông phát khiếp! Trộm nghĩ bà Từ Hy Thái Hậu lấy búa đập bể đầu con khỉ múc óc trắng hếu ăn ngon lành nào khác gì…tiết canh trắng. Thánh Thán thầm cho rằng người An Nam ăn tiết canh vịt cả 4000 năm văn hiến với văn hóa ẩm thực nào có chết ai đâu? Nên nhắm mắt, nhắm mũi múc một thìa tiết canh ăn bừa chẳng thống khoái tí nào. Nhưng mồm miệng vẫn…“Hảo a. Hảo a”.

Kim Thánh Thán…hảo ý, hào sảng tiếp.
- Đang uống rượu với bạn hào sĩ, tôi đã nửa say, do dự không biết nên uống nữa hay ngừng. Một tửu đồng đứng bên, hiểu ý mang rượu ra… Chẳng cũng khoái lắm ru?

Nghe mà cảm khái quá thể, Phí lão bỏ xuống bếp vác vại rượu lên và ớ ra Thánh Thánh…biến mất. Dòm ra cửa. Cửa mở. Ở cái bu cửa: Cây gậy tre rút đất cũng…biến mất tiêu. Bỗng dòm thấy tờ giấy hoa tiên. Bèn mở ra đọc: ngật hoàn liễu tựu tẩu, hiểu Nôm là hốc no rồi cút. Khi không cây gậy xúc địa thuật bị thuổng mất. Phí lão láo ngáo tới câu thứ 11 trong 33 thống khoái của Thánh Thán: “Sáng sớm thức dậy, nghe vợ nói rằng có người mới chết đêm qua. Tôi liền lên tiếng hỏi ai chết, thì chính là tên trộm trong làng. Chẳng khoái ư?”.

Thấy sự thể vậy, tiện nội chỉ bài vị viết “Lưu Linh, người đời Tấn mất năm 270”. Phí lão lõ mắt dòm bức tranh truyền thần, trộm thấy Thánh Thánh i xì Lưu Linh.

***
Cả ngàn năm sau Sử ký tân biên của Tư Mã Thiên hiệu đính rằng nay hao tổn tâm sức bởi lẽ Tửu sử tam sao thất bản vì vậy ít ai hay Lưu Linh lặn lội trong bể hoạn, nên phải gánh chịu nguy cơ nổi chìm như sau:

Vốn dĩ Lưu Linh tiên sinh đại nhân lấy trời đất làm một buổi, muôn năm làm chốc lát, lấy mặt trăng, mặt trời làm cửa ngõ, lấy thiên hạ làm đường: Đi không thấy vết xe, ở không nhà cửa, màn trời, chiếu đất, thích thế nào làm thế. Lúc ở nâng chén, cầm bầu. Lúc đi vác chai, xách nậm, lúc nào cũng chỉ có việc rượu chè, không thèm biết đến sự đời gì nữa.

Cùng thời có Phí lão gia, xưa thật là xưa là hậu duệ của Phí Trường Phòng, quê gốc làng Tìm, phủ Thái Bình. Thuở sinh thời Phí lão lận đận con đường hoạn lộ rút cuộc chỉ là ông đồ bát nháo nên đâm ra bất đắc chí không thiết gì thi cử nữa, tiến vi quan thối vi sư. Phí lão gia an phận thủ thường, chẳng màng đến mài mực ra mà kiếm gạo. Phí lão gia cứ vạn sự giai không, cứ nằm co với mo cơm tấm, ấm ổ rơm là đủ.

Phí lão gia tự cho mình là bậc nho giả sinh bất phùng thời. Kịp đến tuổi tứ thập nhi bất hoặc, ngỡ không còn gì huyễn hoặc nữa. Bỗng dưng Phí lão gia lững thững phong kiếm quy điền, đóng cửa tạ khách, mượn hồ trường, lấy chữ nghĩa làm thú vui ẩn dật với: “Trời đất sinh ra rượu với văn - Không văn không rượu sống như thừa”.

Nghe hơi nồi chõ tiên sinh họ Lưu như thế bèn cho người vời đến. Phủ trên huyện dưới xôn xao mà rằng nếu có hai kỳ tửu gặp nhau: Họ sẽ uống nghiêng đình đổ quán, uống cho nghiêng trời lệch đất. Rượu sẽ ngập sông, tràn ngang núi. Tửu khí ngất trời, mây không có chỗ ẩn thân. Âm khí thối đất, cỏ ba niên chẳng ngóc đầu lên nổi thì trên là trời, dưới là đất thế nào cũng kẻ còn người mất.

Khi rày, tiên sinh họ Lưu xem Phí lão như con tò vò, con sâu róm mà thôi. Bởi lẽ tiên sinh có tài uống hàng trăm hộc mà không say nên có hiệu là Túy thánh Lưu Linh. Ấy vậy mà học Đỗ Phủ, Lý Bạch, vừa ngửa cổ ngắm trăng, vừa uống xong vại rượu Vân hương mỹ tửu thì Túy thánh Lưu Linh gục xuống thổ huyết mà…thác.

Lưu Linh tiên sinh thường ngồi trên xe trâu, chở theo vò rượu lớn, sai người vác cuốc theo bảo nếu ông chết ở đâu chôn ở đấy. Vì vậy Phí lão gia…hạ thổ tiên sinh ngay tại Trúc gia trang. Trên mộ bia, Phí lão gia cho khắc Điếu cổ hoài kim về bạn hồ tửu:

Họ Lưu lãng tử chẳng nên tài
Vác cuốc “chết đâu chôn đó ngay”
Say khướt đã coi ngang vạn vật
Chết khô chi bận chút hình hài


Lưu Linh sống vào đời Tấn, tên Bá Luân, tự Nguyễn Lãng. Vì là Túy thánh, nên được Hồng Nhậm Tự Đức đại vương thứ 21 sắc phong là “Đương cảnh thần hoàng, thượng đẳng thần”. Miếu thần hoàng đất Hút-tân nay còn thờ cái cuốc của tiên sinh.
***
Nay, món tiết canh vịt kỳ cổ của người An Nam bị thất truyền. Chỉ còn lại kỳ tích:
Như trước đó, làm như có điềm không hay, Lưu Linh dối giăng cho con…
- Hỡi con: hãm tiết canh vịt nhớ hai đầu “xi-dầu”, bốn đấu Thiệu Hưng hắc tửu. Nếu phép này được lưu truyền cho hậu thế thì ta còn hận gì…Phí quân nữa!


Hút-tân, Trúc gia trang
Giáp Thân 2004

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
(thêm bớt 2014, 2019, 2023)
Nguồn: Nguyễn Tuân, Thiều Chửu, Nguyễn Dư
Bình Nguyên Lộc, Phạm Lưu Vũ, Nguyễn Văn Hưởng

Thứ Tư, 4 tháng 1, 2023

Quán Chữ


Khươm mươi niên trước, từ Hà Nội về nơi chôn nhau cắt rốn làng Thượng Tầm, tỉnh Thái Bình. Qua bến phà Tân Đệ, dòm dỏ quán xá nghèo nàn hai bên đường, bạ vào mắt nhắm bảng hiệu hẻo chữ: Phở cơm.

Phải đợi đến thiên niên kỷ 21, chữ nghĩa nó bập vào người thời bao cấp: phở không cần…ngon mà ăn lấy…no, bằng vào ăn phở với cơm. Từ phở nhà quê bên đường, khươm mươi niên sau hóng hớt tới…phở cơm nguội ở Sài Gòn:

“…Ngày đó, bà Dậu luôn luôn ân cần với những khách quen, đặc biệt là văn nhân nghệ sĩ. Biết cha đẻ tiểu thuyết Loan Mắt Nhung, Nguyễn Thụy Long mỗi khi ăn phở ưa trộn thêm chén cơm nguội (xem tr 6) khi tô phở đã vơi, bà Dậu tự động mang chén cơm nguội, kèm thêm chén nước lèo cho nhà văn Trâu nước ăn khỏe này…”.

Cũng niên kỷ 21, thêm Phở móng bò, lọ mọ vào Đại Nam quốc âm tự vị, hay Việt Nam tự điển chưa có. Ngày là lá tháng là mây, thả rong chữ nghĩa theo Trần Đăng Khoa bén mảng tới chùa Chùa Đàn của cụ Nguyễn Tuân. Nhà thơ thần đồng có tới chùa hay không nào ai hay?. Nhưng qua lối mòn xưa cũ chùa phải có cây đa nên ông làm thơ lá bay xiên xiên như lá rơi nghiêng…Ông bị cụ Nguyễn mắng chữ lỏng lại hay nói chữ…lá rơi nghiêng. Bởi nhẽ Chùa Đàn, tác phẩm cuối cùng của cụ đâu có…cây đa. Để lưu danh thiên cổ, cụ “bịa” ra chùa không thờ Phật, thờ thánh, chỉ thờ “cây đàn ma”. Cây bạch đàn cụ cũng “bịa” nốt với tên…Chùa Đàn. Cây gạo hoa đỏ…đỏ cay cú, do đạo diễn phim Mê Thảo dựng lên ở ấp Mê Thảo nên…không có thật.

Vào miền Nam, năm ngày bảy tật với tật sính chữ lại sa đà tới bánh không cẳng sao gọi…bánh bò? Vì ngại cụ Nguyễn mắng chữ lỏng, nên dựa dẫm vào Huỳnh Tịnh Của ghi trong từ điển: bánh đổ vào chén, trông giống vú con bò. Rút gọn thành bánh bò. Thảng như bánh ướt của người Nam với bánh cống. Cứ theo ai đấy bịa tạc bánh cống do người…làng Cống làm. Theo ngoa truyền vì đổ bột vào…”cái cống” cắt nửa trái mù u làm bánh nên gọi là…bánh cống. Thêm nữa với…bánh ít,…ít nữa búi bấn sau.

***
Sau khi cuồng chữ rồi nhưng vẫn bát nháo với…chữ lỏng là nghĩa lý gì. Chưa đến đường cao tốc Biên Hòa, xe chuyên chở chữ nghĩa bò lổm ngổm như cua bò. Hết phở cơm nguội, phở móng bò, tới chữ lỏng, chữ đặc, đến cây bạch đàn, cây gạo…

Và còn nơi chốn nào để rối chữ với chữ nghĩa nữa đây.

Vào Sài Gòn, nhè khi con tì con vị đang hậm hực với phở, va vào mắt bảng hiệu Phở xào Bắc Hải. Thế là ngộ chữ tôi són chữ đến cụ Ngộ Không qua Phở thiên biên cổ sự : “Phở xào Nghi Xuân ở phố Mã Vũ nay là phố Hàng Quạt”. Bèn lững thững bước vào. Tu chùa chẳng bằng tu nhà ăn ở thật thà mới là chân tu: Lý sự gì tôi lận đận với những chuyện bịa tạc trên? Vì quán chữ có thật, quán nằm trên đường Nguyễn Du có hàng me, còn lá bay xiên hay không…không biết.

Quán có vẻ vắng như chùa bà Đanh vì bàn ghế lọng cọng, khép nép, ngượng nghịu sao ấy. Vì vậy quán vắng…người, tôi tự hỏi chả biết quán chán người hay người chán quán đây, có lẽ cùng chán nhau chăng. Một chút e dè len lén chui vào não trạng hay là quán không…ngon. Khi không ngộ chữ tôi trơ mắt ếch làm như dòm dỏ thấy người ngồi ăn ngon đang bí rị với chữ nghĩa nên văn ế...

Văn ế bao giờ cho bán hết
Phen này có lẽ gánh lên tiên

Vừa lúc có ông khách dáng người phẳng lặng, hẻo mọn, trang diện hầm hố thò đầu vào, khách mắt đảo tít như lạc rang nhìn quanh, bàn tôi chỉ có một tôi, cậu “phục vụ” nhìn ra ý dò hỏi. Số là mới gọi đĩa phở áp chảo 20 ngàn còn để đó. Tôi dòm ông khách kỹ hơn, trông cũng ngon lành, đeo kính trắng, mắt tinh quái, dáng đi lụ khụ kỳ cổ, lại có tạng “làm ít ly”…y một lít in hịt…tôi, bụng thầm bảo dạ: Một là tôi đang ngồi đồng kiểu “Tôi một bữa ngồi yên như bàn ghế” (thơ Cao Đông Khánh). Hai là “Đồ ăn ngon, người ngồi ăn ngon, chỗ ngồi ăn không ngon. Không ngon”. Bèn gật.

Khách gật gù…lừng khừng ngồi xuống, tạng một ông già lù lù như như cái nấm mọc. Tôi ngộ ra người Bắc hôm nay thiếu vắng hai chữ “cám ơn”, từ lâu hai chữ cám ơn là tử ngữ của người Hà Nội. Qua khuôn mặt phong trần quán có góc cạnh nham cổ, với cung cách ngồi dai quai nát để kiếm chuyện (xem tr 6). Tôi nhẩm chừng khách là kẻ sĩ Bắc Hà hóa kiếp thành Bắc kỳ 54 như tôi đây. Y như rằng, khách liếc thực đơn, buông xả một mảng chữ trời ơi đất hỡi để thành chuyện, để ngộ chữ tôi bã bời với chữ nghĩa để có bài tạp bút Quán chữ này: Vì khách nói:
- Cho tôi một đĩa chữ xào dòn.

Tôi ngớ ra hay nghe chưa thủng. Thế nhưng không, vì cũng như tôi, cậu phục vụ nghe rồi mặt đụt thấy rõ. Khách lập lại câu nói. Lần này thong thả từng chữ một. “Cho-tôi-một-đĩa-chữ-xào-dòn”. Làm như sợ ai nghe thấy, cậu ta hỏi nhỏ: “Đĩa gì ạ” - “Cho tôi một đĩa chữ xào dòn”. “Đĩa chữ”, cậu hỏi tiếp. “Cho. Tôi. Một. Đĩa. Chữ. Xào. Dòn”. Khách dằn từng chữ (với từng dấu chấm). Đến đây, khách nhỏ nhẹ hơn: “Tôi nói tiếng Việt chứ có nói tiếng Ma-rốc đâu”. Tiếp, khách vãi miệng: “Tôi biết quán làm quái gì có món chữ xào dòn”. Và ông Bắc kỳ 54 thở ra như tiếng thở dài.
- Thôi, cho tôi bát phở tái chần với hành chần vậy.
Cậu phục vụ vừa quay đi, khách gọi giật lại:
- Tái chần với hành chần. Không phải…tái trần, hành trần.

Buổi sáng trở nên bí rị bởi khách nói chữ. Vẫn chưa xong, khách nhìn quanh, mắt đậu trên mấy món ăn kèm theo hình ảnh, chữ nghĩa “khuyến mãi” treo trên tường: phở xào dòn, xào mềm, phở áp chảo khô, áp chảo nước. Khách lậu bậu: “Món gì cũng có, chỉ…món chữ không tìm đâu ra”. Thò đũa vào đĩa phở áp chảo. Tôi gắp tim gan phổi phèo như gắp cả Hà Nội và Sài Gòn bỏ vào miệng nhai và gọ gạy: Lạ thật. Chưa bao giờ nghe. món chữ. Sau cùng, với nho táo bất sĩ hạ vấn, là không mất sĩ diện gì mà không hỏi. Bèn hỏi: “Bác nói chữ phải không bác?” - “Chữ gì?” - “Món chữ bác gọi ấy”. Khách à một tiếng rõ to: “Món chữ xào dòn! Ai mà chả biết”.

Đợi tôi nuốt hết chữ nghĩa của khách và ruột già, ruột non trong đĩa phở áp chảo vào bao tử và tống táng những trầm kha xuống dạ dày. Khách cười hậc một cái: “Món chữ. Chữ bác dùng để viết chữ đó”. Thấy tôi căng tai nghe, khách ngay đơ: “Chữ ấy mà. Món chữ ấy xào dòn mà không đâu có”. Tôi mài óc ra nghĩ không ra. Một đĩa chữ xào dòn. Làm cách nào để xào dòn những con chữ đang giẫy nẩy lên vì dầu mỡ xi xèo. “Thiên hạ bây giờ không xào nấu chữ nữa”, khách tiếp. “Con người phải ăn mới sống được. Mà thức ăn có bánh giò nhưng chẳng thấy…giò chả đâu, đến bánh…ít, bánh…nhiều. À mà này, bác ngó chừng xem. Tìm đỏ con mắt chẳng gặp ai xào nấu chữ nghĩa nữa. Vậy mà người ta vẫn sống nhăn răng cạp đất,…cũng hay”.

Trộm thấy khách đây dầy chữ quá thể, ngộ chữ tôi loạn chữ với khách về “tái chần” và “tái trần”. Khách khảo chữ theo Tự điển Khai Trí Tiến Đức “chần” là luộc sơ bằng nước sôi. Nghĩa chần chừ đợi chứ chả phải là trần nghĩa…trần trụi. Khách khảo chữ: vua Lê Thái Tông vì mẹ là Phạm Thị Ngọc Trần nên ra lệnh ai họ Trần phải đổi ra họ Trình. Một số họ Trần không đổi ra Trình mà…họ Bùi. Vì Bùi do chữ “phi” và “y” ghép lại nghĩa: “không áo” là…“ở trần”, lại trở về với…họ Trần, cuồng chữ thế đấy.

Làm như khách là…cụ Ngộ Không nào đấy đì tìm thời gian đánh mất qua chữ nghĩa với chữ còn chữ mất. Cụ Ngộ đây lừ đừ như ông Từ vào đền đong chữ như đong thóc, hoặc “sàng chữ ra câu, sẩy câu ra chữ”. Cụ hay vén mồm sáo cuội câu “lọt vào tai chui ra mồm”, với cụ chữ “mồm” với “miệng” thì nói “miệng” sang hơn nói “mồm” (theo Tô Hòai). Vừa nói xong, bát phở của khách ra tới, khách gật đầu tắp lự thiên hạ sự hồi này…ngộ thật: “Đã gọi phở tái chần lại bê…phở tái trần ra”.

Như cụ Nguyễn Tuân, đi ngược gió ngửi mùi phở bốc lên là phở ngon, tôi lỳ lịt hết nhà văn Trần Doãn Nho: “Chữ đuổi bắt nhau, vật lộn nhau ngay trước mắt nhưng ta không hề thấy. Ngược lại, ta nghe, ta ngửi. Y như những con chữ có thể bốc lên, tỏa ra. Nghe có hơi. Tôi gọi là hơi chữ”. Đến nhà văn Phùng Nguyễn: “Nếu chữ là yếu tố của câu. Câu ngắn câu dài, hay chữ đẹp, chữ đắt. Câu quánh lại tạo ra hơi chữ bốc lên hăng hăng và cay không kém gì mùi ớt hiểm để những câu tạo nên hơi văn”.

Một câu nói ngay bằng ăn chay cả tháng, tôi ngay tình nghe hơi nồi chõ tích ai đó với hơi văn, hơi chữ. Khách khủng khẳng cọ đít nồi ba mớ chữ theo tích xưa…

“…Kê Khang (223-262) hay khoe mẽ chứa sách trong bụng, hôm nào trời nắng thì khoe bụng, bảo rằng phơi chữ, hong sách cho khô. Kê Khang nghe truyền miệng về tài ngửi mùi sách đoán hơi văn của ông thầy bói mù nọ. Bèn tìm tới. Ông lôi trong cái bị cói “năng nhặt bị” quyển sách đưa cho thầỵ
Ông thầy bói dương cặp mắt trắng dã, hít hít mũi, dậy:
- Sách sự nức mùi son phấn, chắc chắn đây là Hồng Lâu Mộng.
Kê Khang đưa tiếp quyển khác, ông thầy bói lại khịt khịt mũi:
- Sách toát toàn mùi sắt thép loảng xoảng của binh khí. Ắt là Tam Quốc Chí.
Kê Khang đưa tập giấy hoa tiên của mình vừa cảo mực đề văn còn nực màu giấy mực, ông thầy bói mù không cần ngửi, nói không do dự:
- Đây đúng là kim cổ kỳ thư vì ta nghe thoang thoảng mùi…cóc chết”

Từ mùi hôi bốc lên của bát phở, tôi…”bốc” khách một tấc tận giời: “Món chữ xào dòn nếu được chiên cháy cạnh như bánh bột chiên ở Sài Gòn chắc…ngon cơm và…nghe thơm điếc mũi”. Nghe rồi, khách ăn chữ mẻ bát rằng ta có vô số chữ liên quan tới "ăn" như "ăn không", tiếng Sài Gòn cùng nghĩa với "ăn vã" của Hà Nội là…không ăn cơm. Đi với "ngồi rồi", thành "ăn không ngồi rồi" là rỗi việc. "Ăn xổi" là ăn tàm tạm như cà pháo muối xổi. Còn ăn bậy ăn bạ như "ăn hôi", "ăn quỵt" chỉ có nước…ăn tát. “Ăn bạc” đi với "ăn gian” là…ăn đòn, chắc như cua đinh là bị…“đinh” cái một.

Xong, khách triết lý củ khoai tận cùng của ăn là…”ăn xôi nghe kèn”. Tiếp, khách ăn không ngồi rồi nên tha ma mộ địa một chữ “chết” có bao nhiều chữ cùng nghĩa: tạ thế, chầu giời, về quê, đi rồi, ngoẻo, tử, héo, tỏi, thẳng cẳng, ngẳng, toi, mất, khuất núi, bán muối rồi và còn biết bao chữ nữa.

Từ…”về quê, đi, bán muối”, khách vong gia thất thổ…

Năm 1954, người ta nói đến cuộc di cư người, thật ra còn có cuộc di cư chữ nghĩa nữa. Người đi, chữ cũng đi theo. Chữ nghĩa miền Bắc cũng lềnh kềnh, lếch thếch nối đuôi nhau lên tầu há mồm như bác và tôi. Chuyến đi gian nan của người di cư của bác và tôi thế nào chữ nghĩa cũng vậy. Chữ ở lại, chữ ra đi, chữ nào còn, chữ nào mất. Chữ di cư vào miền Nam, chở đi rồi, bao nhiêu chữ đã rơi rụng, vung vãi dọc đường. Bao nhiêu chữ đã sống còn sau khi đã hội nhập với chữ bản địa. (Nguyễn Văn Lục)

Phải đợi đến sau ngày 30 tháng tư 1975, người ta mới có thể biết được sự còn mất này một phần nhờ so sánh chữ nghĩa giữa hai miền. Hình như cũng ít ai để ý đến cái mất, cái còn của chữ nghĩa sau năm 54. Chữ mòn theo thời gian, vì cho là dù không có cuộc di cư, chữ nghĩa cũng cách này cách khác bị xói mòn. Sự mất còn này trước hết là do sự sói mòn của thời gian. Chữ nghĩa như một vật dùng nhiều lần thì mòn. Như chiếc liềm cắt cỏ mãi cũng cùn. Dao bầu băm mãi cũng lụt đi. Ngữ nghĩa trên chỉ ra một điều: Thời gian và sự đi lập lại có thể làm mòn chữ nghĩa. Nói như thế thì chữ mòn hay nghĩa mòn. Vậy thì tôi hỏi bác chứ…chứ cái nào mòn trước, cái nào mòn sau.

Tôi cắp nắp khách đây hay chữ vậy đấy mà chỉ đồng bái quê mùa với con dao bầu, cái liềm. Vì chả phải đợi năm 54, từ thời chúa Nguyễn Hoàng di dân vào miền Nam, người Nam vẫn giữ những tiếng từ quê cha đất tổ xa xưa cho đến thập niên 20, 30 còn rơi rớt lại. Như con dao bầu, dao to bản, phần giữa bầu ra, dùng để chọc tiết lợn, mổ trâu mổ bò. Con dao bầu được người Nam gọi là dao yếm, dao to bản, hình dáng gần giống với dao bầu, nhưng dùng cho việc bếp núc. Còn chiếc liềm cán dài cắt cỏ được họ gọi là cù nèo, tiếng của đất Sơn Tây xưa gọi là cù lèo, nay không còn nữa. Hay cái âu (cái liễn), cái thạp (cái vại), cái trách (cái niêu kho cá, thịt), cái chõ (chõ xôi). Người Nam còn giữ “cái chõ” ba chân đã mất dấu tích ở miền Bắc

Từ Bắc vào Nam, với con dao bầu chọc tiết lợn, tôi nói vấy với khách…
- Sao người Nam không “gọi” bánh da heo mà là bánh da lợn.

Chả như mấy anh phóng viên Bắc kỳ 75 vào Nam làm như đi khai phá vùng đất mới. Về lại Hà Nội ngàn năm văn vật, họ viết lên báo khoe um lên những khai phá mới lạ, một trong khám phá má mới mẻ ấy là…“phương ngữ” của người Nam như “Mèng ơi, nghe, hén” nghe…“hết biết”, “biết chết liền”.

Nghe quắn đầu rồi, khách dùng con dao bầu thọc tiết lợn một tôi:
- Mắc mớ chi Bắc kỳ không “kêu“…nói toạc móng lợn mà lại nói toạc móng heo.

Bởi “bí ngô bí khoai” nên tôi nói dính với khách theo Paulus Của giải thích “lợn” là “heo”. Vi người Trung di dân từ Bắc vào, tiếng của họ pha lẫn tiếng Chàm nên giọng không thanh như người…Thanh Hóa (Tây Đô) hay thanh cảnh như người Thăng Long.

Được thể tôi dựa dẫm vào nhà dân tộc học Trần Quốc Vượng bảo: “Thì các cụ vào đây đâu có đem vợ con đi được nên lấy vợ Chàm rồi sinh con đẻ cái là cái chuyện hết sức bình thường. Vấn đề là các bà mẹ Chàm nói tiếng Việt ấy đã truyền lại cho con cái mình cái giọng của người Chàm nói tiếng Việt. Vì vậy khi người Trung nói pha giọng Chàm, họ bẩm trình với quan lớn, họ kêu:…“quan lợn”. Quan cho là vô phép sai lính đánh 10 hèo nên họ gọi mỉa con lợn là…“con hèo”, sau bỏ dấu huyền là…con heo. Con lợn từ Bắc xuống Nam thành con heo là thế.
Nghe mụ chữ tôi mổ chữ như gà mổ mo cau rồi, khách bã bời với chữ nghĩa…

- Con lợn tiếng Việt cổ gọi là “con heo” (hay con cúi) qua câu “nói toạc móng heo”. Di dân vào miền Nam, con lợn được người Nam kêu lại với tiếng Việt xưa là…con heo.
Đột dưng khách…đùn chữ:
- Tôi hỏi bác chứ…Chứ con lợn khác con heo ở khổ nào?
Đợi tôi…chớ phở ra rồi khách mới phăm phở…
- Con heo ăn bắp, con lợn ăn... ngô

Ngó mặt tôi trông cũng ra ngô ra khoai đấy mà không biết bắp, ngô khác nhau ra sao. Khách rị mọ tiếng Việt cổ ở Bắc gọi là bông, là trái vì thành ngữ Bắc kỳ cũ có câu: “Tháng Tám nắng rám trái bưởi”. Bởi ảnh hưởng “hoa quả” từ tiếng Hán nên người Bắc gọi hoa, quả. Vào Nam, người Nam vẫn giữ tiếng bắc cổ bông, trái.

Ngộ chữ tôi…ngộ chữ với khách chữ “vô” đã có ở miền Bắc, theo chúa Nguyễn di dân. Vào miền Trung vẫn được kêu là “vô” như câu ca dao ”Thương em anh cũng muốn vô, sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang”. Vì tiếng “vô” là thổ ngữ của người Mường thượng du Bắc Việt, người Bắc vay mượn chữ vô này một thời gian rồi trả lại người Mường. Nhưng người Việt khi vào miền Nam khai khẩn khẩn đất hoang, chữ “vô” theo chân người đi mở cõi nên họ vẫn giữ lại chữ…vô.

Từ Nam kỳ rặt “Con cá gô, bỏ dô gổ, nó nhảy gột gột”, khách vắt sang con và cái.

Qua Petrus Ký viết sách ngữ pháp vào một thời chưa có ngôn ngữ học hiện đại, thế mà ông có được những nhận định đúng và hay. Chẳng hạn Petrus Ký là người đầu tiên xác định được các “loại từ” như cái, con. Con có vú, bốn chân, có con cái, con đực như chó cái, bò đực. Con có lông, hai chân, có con mái, con trống, như gà mái, gà trống. Vây mà…”con” người cũng có hai chân, cũng có…lông lại không có…thằng trống, con mái. Vì ngôi ở quán khát chữ nên mót chữ thì chả quên tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Khái Hưng là truyện Trống Mái có hòn Trồng, hòn Mái là tên…hai hòn đá để ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau. (TCS)

Đến đây làm như vồ được chữ, nên chữ nghĩa nó bập vào người khách: “Vì vậy tôi bịa ra món chữ xào dòn là thế”. Thế thì như bác biết đấy: cụ Trần Dần vặn vẹo trong bài thơ Thằng thịt: Tôi là một cột thịt lực đực, vũm vĩm, đưa đẩy, thồn thỗn ao thịt, nun nút, nún xút. Những lực đực, vũm vĩm...khó bề gặp được trong tự điển. Xưa nay, trong quá trình tiến hóa của chữ có bao nhiêu chữ xấu số tàn rụi? Tử ngữ la liệt. Trong khi ấy, bao nhiêu chữ dùng đã mấy nghìn năm vẫn còn mới mẻ, vẫn còn sức sống. Mang trên đầu mấy nghìn tuổi thọ mà vẫn sinh động, vẫn mắn con, sinh nở những đứa trẻ kháu khỉnh, vũm vĩm. (theo Võ Phiến)

Thấy người ta trồng khoai cũng vác mai đi đào, tôi đào xới với khách, những bài tạp bút bấy lâu nay, tôi lùi chữ như lùi khoai với chữ của các cụ ta xưa như nhà văn Lê Minh Hà: “Những ngõi, nhão, nhuôm nhuôm, tôi học từ các bà các chị ở quê tôi. To hó, từ này tôi mượn của ông Tô Hoài trước năm 45. Ngẫn ngẫn tôi học được từ mấy anh chị miền Nam. Chỉn chu thì có trong tự điển. Chúng ta phải tự làm giàu vốn từ cho mình bằng cách đọc và học. Mỗi từ có những nét nghĩa riêng trong từng văn cảnh. Nếu người đọc không nắm bắt được những từ đó, có thể tôi không biết cách khi chọn từ”.

Bỗng không đâu, khách bị tôi…đàm hoa lạc khứ về thời gian, không gian ảo. Lại nữa bởi khách chỉ nhai văn nhá chữ với chữ "ăn" từ ăn vạ đến…ăn xôi nghe kèn. Tôi đành đưa khách trở lại với phở qua bài Ăn và đọc của ông nhà văn Bình Định…

“…Từ chỗ biết ăn phở đến am hiểu phở bò, phở gà, phở tái, phở chín, phở nạm, phở gầu, phở sụn... còn nhiều cách biệt. Người Bình Định ăn phở Bắc có hơi hững hờ. Người miền Nam chỉ à ơi ví dầu sau khi trút vào tô phở non nửa dĩa giá sống Người Huế ăn phở phải có ớt, họ không chỉ yêu vì vị cay mà còn vì cái tiếng kêu, đưa lên mồm...cắn kêu đánh bụp. Món ăn còn quan hệ đến lịch sử: Người Việt đời Trần dùng món thịt chó không đối mặt với dĩa rau thơm giống dĩa rau thơm chúng ta có trước mặt ngày nay. Không phải tự lúc đầu lá mơ đã đi với thịt chó. Tôi chắc thế. Tổ tiên ta phải có một thời mò mẫm, đã thử dùng lá chanh, rau răm, rau om, sau cùng là lá mơ...”

Khách gật đầu tắp lự: “Lá mơ là lá…thúi địt đấy, thưa bác”. Với thúi địt, tôi dẫu mồm qua một nhà làm văn học: “…Không có chữ thanh hay chữ tục, chữ hay hoặc chữ dở, chữ cũ hay chữ mới: Chỉ có chữ dùng đắc địa hay không thôi và sẽ không còn là những cái xác nằm bẹp dí trên trang sách, như chúng vốn nằm vậy. Trong các cuốn từ điển, mà chúng trở thành những sinh vật biết ngọ nguậy hay biết nhảy múa, khiến người đọc có hình tượng nào đấy. Mỗi bài chỉ cần vài ba hình tượng chính. Ít. Nhưng thật ấn tượng. Như một cú đấm. Nhanh, gọn, dứt khoát. Và mạnh...” (Nguyễn Hưng Quốc)

Cùng tục, thanh qua nhà văn ti hí mắt lươn Tô Hòai: “Chữ Việt ta có chữ “ăn nằm” rất hay, tránh nói thô. Với “ăn ngủ”, ông nhà văn hóm hỉnh khi tả cảnh mà ông gọi là “ngủ bụi”. Họ là những người từ quê ra Hà Nội làm nghề rửa bát, khiêng bàn, khiêng ghế, bưng bê cho các quán cơm, quán phở. Xong việc xoa “hai đập” là ngồi đập chân mấy cái lăn ra ngủ, sáng dậy đưa tay lên xoa mặt, như con mèo giơ chân rửa mặt khan. Ông nhà văn này còn dí dỏm: Đêm về, ngủ ở mấy quán trọ rẻ tiền ở ngoại ô, “nằm úp thìa”, đầu đàn ông, đàn bà chổng ngược nhau, chân hai bên thò ra mép chiếu (Ngủ bụi).

Lý do rất củ chuối vì đang ngồi ở quán Phở xào Bắc Hải chả nhẽ lại nói chữ với “chữ tục, chữ thanh”. Thêm nữa qua nhà thơ Lê Đạt: Chữ là nghĩa. Ngộ chữ tôi dón chữ “nằm úp thìa” là hai cái thìa úp khít khít khịt lên nhau, đầu với đầu, chân với chân. Ai lại “đầu đàn ông, đàn bà chổng ngược nhau” là khỉ mốc gì. Một công đôi chuyện với nhà văn, tôi vắt qua Vũ Bằng xa Hà Nội ít lâu, thèm phở, ghé quán phở quen hai vợ chồng bạn làm chủ, thấy vợ bạn đeo khăn tang, hỏi mới hay bạn mình đã bốn tấm dài hai tấm ngắn. Trong lúc chờ đợi nồi phở…lửa tắt nồi khô nước, sẵn có máu lãng đãng trong người cùng “gái đọan tang, gà mái ghẹ” ông…thở khẽ câu đối phở rất tình và cũng rất…phở: Nạc mà chi, mỡ mà chi - Sao cứ ỡm ờ không tái giá.

Nhân câu đối, trở lại nhà văn Trâu nước ở quán bà Dậu với phở cơm nguội để có người rỗi hơi chán ăn cơm nguội đành…ăn phở để có nhiễu nhương: Sáng đèo cơm đi ăn phở, trưa hăm hở rước phở đi ăn cơm, chiều cơm về nhà cơm, phở về nhà phở, tối nằm với cơm, nghe thơm mùi phở. Để có nhiễu sự thê bất như thiếp, thiếp bất như tì, tì bất như đạo, đạo như đạo bất đạo. Từ “cơm nguội” và “phở” mới có câu đối thuộc thể loại khó nhai da trắng vỗ bì bạch: vợ cả, vợ hai, cả hai đều là…vợ cả.

Làm như không nghe chuyện ruồi bu với cơm phở, khách đụng đũa đụng bát món chữ của ông. “Tôi tìm khắp nơi, mà chẳng ma nào biết làm món ấy. Món chữ người ta không thèm ăn nữa tôi đành đi tìm món chữ xào lăn, chữ xào dòn, chữ nấu chao, chữ luộc, chữ hấp…may ra người ta ăn thấy lạ, sẽ trở về với chữ nghĩa”. Vì vậy tôi đi tìm khắp nơi một người bị đày đọa chữ như tôi đây.

Khách vãi chữ đến đây, trong cái đầu củ chuối tôi nẩy sinh nhiễu sự khách và tôi: Cả hai nhập thế tục bất khả vô văn tự và…nhập vào nhau làm một như...hai cái thìa úp lên nhau, như bất khả phân: Dường như ấy là bệnh chứng Ferma ở Canada, bởi cái xứ vật chất lạnh lẽo này đã nuốt chửng thằng người thật nên cái đầu hư cấu của thằng người tôi bịa ra thằng người ảo là khách để...’’tọa đàm’’ nãy giờ.

Thêm nhiễu sự khách và cụ Ngộ gì ấy cũng lạ lẫm không kém. Như vừa rồi khách bươn bả đi tìm khắp nơi ‘’một người bị đầy đọa chữ’’ như khách thì dường như gặp cụ ở Quán chữ này. Tôi đoán mò tạng người cụ có cái mặt rất chúng sinh, chữ nghĩa chọn cụ để hành hạ. Bởi tôi chỉ thấy cụ Ngộ như bác nhà quê mổ câu, họan chữ như mổ trâu, hoạn lợn. Những con chữ nhè cụ để đầy đọa, tất cả chỉ có vậy và không hơn.

Rồi ra cả hai tọa đàm đến nỗi bát phở của khách…”nguội ngắt, bánh chương lềnh bềnh, mỡ nguội đóng váng”. Đó là lời cô ả đào về già than thân trách phận trong truyện Anh hàng phở lấy vợ cô đầu. Vồ được anh hàng phở lấy vợ cô đàu mang về đất tạm dung, ngộ chữ tôi nhẩm chừng sẽ mót chữ được bài “Quán chữ”. Thế nhưng không, số là loay hoay vặn vẹo chữ nghĩa rộn cả người, dòm lên trần nhà bắt gặp ông ti hí mắt lươn đang ngồi vắt vẻo trên đà ngang. Theo ông Tô Hòai nếu chỉ biết lác đác vài cột, kèo, rui mè chưa hiểu biết mấy về quán xá. Ông hay ngồi tán chuyện trong quán nhậu, thích lượn lờ ở quán bia hơi. Ông có cái thú riêng: dấu biệt mình là nhà văn, đóng vai một lão già kỳ cổ ngồi ngóng chuyện thiên hạ. Từ đó ông ngóng chừng ăn còn được gọi là “đánh chén”, trong chữ này ẩn dụ có chén hạt mít, để uống rượu trắng chứ đừng gọi là rượu đế. Nói một câu tròn vành rõ chữ có “chén” là có…ăn nhậu.
***
Bỗng khách nói chiều nay ta vào Chợ Lớn tìm chỗ ngồi ngon để…ăn ngon chăng. Vậy thì hãy ghé số 8 đường Tản Đà mà nghe hơi nồi chõ người đồ ăn ngon vào Sài Gòn năm 1927 nấu phở và bán chữ ở đấy. Mới bước vào quán đã thấy người văn ế đang ngồi đục chữ đẽo câu: “Đồ ăn ngon, chỗ ngồi ăn không ngon, người ngồi ăn không ngon. Không ngon! Đồ ăn ngon, chỗ ngồi ăn ngon, người ngồi ăn không ngon. Không ngon! Đồ ăn ngon, người ngồi ăn ngon, chỗ ngồi ăn không ngon. Không ngon”.

Thạch trúc thảo lư
Kỷ Hợi 2019

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
(sửa chữa 2020, 2021)
Nguồn: Khúc An, Nguyễn Đạt, Người Tân Định Phạm Lưu Vũ, Lê Trung Hà, Ngô Nguyên Dũng