Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2026

Gia Đình CHS Ngô Quyền K11 Võ Thị Ngọc Dung Chân Thành Cảm Tạ


TRONG TÂM TÌNH CẢM MẾN VÀ TRI ÂN,
TOÀN THỂ TANG QUYẾN CHÚNG TÔI XIN CHÂN THÀNH CẢM TẠ:

Thượng tọa Thích Hương Niệm, chủ trì chùa Linh Quang.
Quý Tăng, Ni, Phật tử, ban Hộ Niệm của chùa Linh Quang.
Thày Phó Tế Giuse Nguyễn Ngọc Long.
Ông Chủ tịch, Quý Vị trong Ban Điều Hành Cộng đoàn Thánh Phê-rô, Torrance, CA
Hội Các Bà Mẹ Công Giáo, Hội Cầu Nguyện Ơn Thiên Triệu, Hội Đền Tạ.
Đoàn Liên Minh Thánh Tâm, Ca đoàn Thánh Linh.
Hội Cầu Nguyện South Bay
Hội Thiện Nguyện South Bay
Bác Sĩ Lê Hoàng Vy, ông bà Lê Quốc và các nhân viên văn phòng Bác Sĩ
Quý Thầy Cô, Quý Anh Chị Em Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trường Trung Học Ngô Quyền – Biên Hoà
Hội Ái Hữu Đồng Hương Biên Hòa
Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trường Trung Học Long Thành.
Các Thi Văn Hữu Diễn Đàn Cô Gái Việt, Diễn Đàn Minh Châu Trời Đông, Văn Bút Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ.
Quý Ông Bà Thông Gia
Anh Nguyễn Tiến Triển, đại diện nhà quàn MC Kay’s
Quý Cụ, Quý Ông Bà, Quý Anh Chị Em Thân Bằng Quyến Thuộc, Quý Bạn Hữu xa gần

Đã điện thoại, điện thư Chia buồn, Phân ưu và dành thời gian đến Thăm viếng, Tụng niệm,
Hồi hướng Công Đức, Cầu Nguyện, dự Tang Lễ và Tiễn đưa linh cữu:
Ba, Ông Nội, Ông Ngoại, Ông Cố chúng tôi là:

Cụ Ông VÕ VĂN BIÊN
Pháp Danh: TRỰC NGỘ

Sanh ngày 19 tháng 11, năm 1931
Mất ngày 23 Tháng 09, năm 2026
(Nhằm ngày 13 Tháng 08 năm BÍNH NGỌ)
HƯỞNG THƯỢNG THỌ 95 TUỔI

Tang lễ đã được cử hành tại:
Nhà quàn McKay's Mortuaries
3918 Marine Ave, Lawndale, Ca 90260
(Chủ Nhật ngày 11 tháng 10 năm 2026)
và Hạ khoáng tại

Tại Roosevelt Memorial Park Cemetery
18255 South Vermont Ave. Gardena, Ca 90248
(Thứ Hai ngày 12 tháng 10 năm 2026)

Trong lúc tang gia bối rối, có nhiều thiếu sót, kính mong chư tôn Thiền đức Tăng, Ni,
quý Thầy Phó tế, Quý Hội Đoàn, cùng toàn thể quý vị cảm thông, và lượng thứ.

TANG GIA ĐỒNG BÁI TẠ

Trưởng Nữ: Võ Thị Ngọc Dung, chồng Phạm Văn Sinh, các con và các cháu.
Thứ Nữ: Võ Thị Tuyết Mai (quá vãng), chồng Võ Minh Sơn, các con và các cháu.
Trưởng Nam: Võ Thành Long, vợ Lê Thị Thanh Tâm và con.
Thứ Nam: Võ Hà Hải, vợ La Tú Linh và các con.
Thứ Nam: Võ Thanh Vân, vợ Huỳnh Thị Hưng, các con và các cháu.
Út Nam: Võ Anh Nhựt, vợ Nguyễn Phương Hòa và các con.
Út Nữ: Võ Thị Như Ý, chồng Trần Đăng Tuấn và các con.

PHỤ ĐÍNH:

Xin bấm vào link dưới đây để xem youtube:
TƯỞNG NIỆM CỤ VÕ VĂN BIÊN (1931 - 2026)
Kiều Oanh thực hiện Youtube

Diệm Trân Chân Thành Cảm Tạ


Diệm Trân thật vô cùng cảm động khi đọc những lời chia buồn, những lời hữu tình với mẹ của Diệm Trân, và những vần thơ trao tặng Diệm Trân và mẹ của Diệm Trân từ các văn hữu. Diệm Trân xin cám ơn chị Hồng Thuỷ đã thay mặt VBVNHN Vùng Đông Bắc HK, Cung Lan đã thay mặt VBVNHN, và Kim Oanh đã qua Trang Nhà Long Hồ Vĩnh Long gửi phân ưu đến gia đình Diệm Trân. Diệm Trân cám ơn Kim Oanh đã đưa lên Long Hồ Vĩnh Long những phân ưu này. Diệm Trân xin cám ơn chị Thái Lan và chị Mỹ Hoàn gửi lời thương mến nói em có phúc được nằm cạnh Mẹ. Diệm Trân xin cám ơn anh Luân Tâm đã viêt 3 bài thơ: Ninh Tảo Nhà Ngoại Quê Mẹ Ơi, Mẹ Đã Về Ninh Tảo, và Mẹ Về Ninh Tảo Thật Rồi Sao. Diệm Trân xin cám ơn chị Thêm đã viết bài Mẹ Già Khuất Bóng. Diệm Trân xin cám ơn tất cả các văn hữu đã gửi lời chia buồn, chị Hồng Thủy, Cung Lan, Kim Oanh, anh Luân Tâm, chị Thêm, anh Trường và chị Hạ Phương, chị Mỹ Hoàn, Việt Chỉnh, chị Nhật Hạnh, chị Trúc Giang Lúa 9, chị Ngọc Hạnh, chị Thái Lan, chị Tiểu Thu, chị Tuyết Phan

Diệm Trân vẫn bàng hoàng, hoang mang đâu ngờ Mẹ đi nhanh quá. Nhớ Mẹ nhiều. Hôm nay Diệm Trân viết bài Nhớ Mẹ.

Nhớ Mẹ

Mẹ ra đi lòng con trĩu nặng
Nắng ngoài trời không sưởi ấm tim con
Con cứ tưởng Mẹ ra đi thanh thản
Lòng con sẽ không chuyển sóng rối răm
Ruột gan như đứt từng đoạn một
Nhớ mẹ hiền không khỏi nỗi sầu đau
Con nhớ Mẹ mỗi giờ mỗi phút
Con nhớ hoài những kỷ niệm xưa
Mẹ thường nhìn và khen nắng đẹp
Tính vui tươi Mẹ chẳng than phiền
Mẹ cười với những chú nai quanh quẩn
Chung quanh nhà hay trên chỗ dạo chơi
Mẹ cùng con đi thám hiểm núi non
Thăm con cháu tiểu bang xa vời vợi
Xa thành gần vì máy bay nhanh chóng
Bên con Mẹ nhìn trời mây qua cửa kính
Mẹ không ngồi một chỗ vẩn vơ
Mỗi ngày mẹ Bonjour Me Sừ với thằng chắt
Nhìn ảnh xưa Mẹ nhớ mọi người
Giờ xa xôi lâu lâu mới gặp
Mẹ nhắc hoài về thăm Mẹ nhé
Mỗi năm Mẹ muốn gặp vài lần
Thú chơi của Mẹ là bài tam cúc
Chơi cả ngày có thể cả đêm
Tuy cờ bạc là bác thằng bần
Mẹ vẫn thích thắng tiền tam cúc
Rủng rỉnh tiền trong túi leng keng
Mẹ giữ để ngày mai chơi nữa
Thú vui của Mẹ là thơ là sách
Trên kệ bàn nhiều sách tả tơi
Vì Mẹ đã đọc cả trăm lần mỗi quyển
Từng trang sách rơi từng giờ Mẹ đọc
Mẹ ngâm thơ cho đến cuối cuộc đời
Mẹ gọi tên con mà không nói nên lời
Nhưng con nghĩ Mẹ có lời trăn trối
Cho con biết tình Mẹ là bất diệt
Mẹ rất vui con sẵn cận kề
Chúng ta đây tứ đại đồng đường
Cùng cháu chắt một mái nhà ta ở
Hạnh phúc thật đầy ta có phước
Giờ Mẹ ra đi chỉ còn tam đại
Nhưng tình tứ đại sẽ chẳng đổi thay
Đời con đã khắng khít với đời Mẹ
Nhớ Mẹ hoài thương Mẹ ngàn năm

Diệm Trân

Cáo Phó Của Gia Đình Chị Diệm Trân

 





Nhớ Ninh Tảo


Dù MẸ đã bắt đầu nhơ nhớ quên quên, nhưng qua những câu nói vu vơ của MẸ, Diệm Trân cũng hình dung được mơ hồ về một nơi chốn thân yêu quen thuộc của MẸ là NINH TẢO...

Diệm Trân mong được trở lại khoảng thời gian mẹ còn sáng suốt, hai mẹ con sẽ cùng về thăm NINH TẢO cho mẹ tròn ước mơ...Nhưng dòng sông không bao giờ có thể chảy ngược dòng. Nếu ai may mắn còn cha mẹ hãy cố gắng thực hiện những điều song thân mong ước, đừng chờ khi quá muộn màng.

Mời quý vị thưởng thức bài thơ dễ thương, cảm động của DIỆM TRÂN.
Thân mến

Hồng Thủy 
Nhớ Ninh Tảo

Biết là cái mong ước đưa Mẹ về Ninh Tảo sẽ không bao giờ xảy ra
Ngày 1 tháng 10, 2026

Ngày mai khi tôi về Ninh Tảo dấu yêu
Tôi sẽ đi một mình không có người chỉ dẫn
Tôi sẽ không hình dung được hoàn toàn
Những gì vẫn nằm trong ký ức mẹ tôi
Tôi sẽ bật khóc
Tiếc nuối một cái gì tôi đã mất
Tuy tôi chưa bao giờ có nó
Tôi chưa bao giờ nắm gọn nó
Trong bàn tay nhỏ bé của mình
Tôi chưa bao giờ ôm nó
Như tôi ôm con búp bê có mắt chớp mở
Tôi chưa bao giờ hôn nó
Như tôi hôn lên má của mẹ mình
Tôi chưa bao giờ vuốt nó
Như tôi vuốt bàn tay mẹ gầy mòn
Tôi chưa bao giờ nằm cạnh nó
Như tôi nằm bên mẹ buổi sáng hôm nay
Trời đã vừng đông
Mà sao nhà quá yên tĩnh
Thời gian như ngừng lại
Để tôi được hưởng thụ
Những giây phút chỉ có Mẹ và tôi
Tôi lan man nhớ những ngày trước đây
Khi Mẹ còn ngồi với nụ cười tươi sáng
Mẹ nói Nắng đẹp quá
Mẹ hỏi tôi những câu
Mẹ vẫn hỏi hằng ngày
Tôi nhớ những ngày đó
Và mong những ngày đó
Sẽ trở lại như một người sau cơn bịnh
Rồi tôi ao ước
Có thể đưa mẹ tôi về Ninh Tảo
Sẽ thú vị làm sao
Nhưng tôi biết
Về Ninh Tảo với Mẹ sẽ không xảy ra
Tôi nhớ day dứt
Ninh Tảo mà tôi chưa bao giờ có

Diệm Trân

***

Mẹ Đã Về Ninh Tảo


Mẹ về Ninh Tảo thật rồi
Bỏ con ở lại bồi hồi từ nay
Chợ đời trăm đắng ngàn cay
Nẻo mòn quê cũ còn ai dắt dìu
Bước chân thiếu Mẹ liêu xiêu
Hồn cô quạnh tựa sông chiều hoàng hôn!

Diệm Trân

Văn Bút Việt Nam VĐBHK Thành Kính Phân Ưu Cùng Văn Hữu Dịch Giả Diệm Trân Kratzke Và Gia Đình

 


Trang Nhà Long Hồ Vĩnh Long Thành Kính Phân Ưu Cùng Gia Đình Chị Diệm Trân

 


Cung Lan Thành Kính Phân Ưu Cùng Văn Hữu Dịch Giả Diệm Trân Kratzke Và Gia Đình


Maryland, ngày 9 tháng 10.2026

Kính thăm quý văn hữuVBVNHN,
Cung Lan xin thông báo tin rất buồn: Bác Từ Kim Tước, hiền mẫu của văn hữu dịch giả Diệm Trân Kratzke qua đời ba ngày vừa qua.

Cung Lan có rất nhiều kỷ niệm với bác Kim Tước và luôn nghĩ bác như mẹ của mình (Bác bằng tuổi mẹ của Cung Lan) nên Cung Lan buồn vì không thể dự lễ tiễn đưa bác.
Nhưng, không phải chỉ mỗi Cung Lan có kỷ niệm với bác Kim Tước mà rất nhiều quý văn hữu dự Đại hội VBVNHN lần thứ XIII đã gặp bác Kim Tước với nụ cười luôn nở trên môi. Văn hữu Diệm Trân đã cho chúng ta một món quà rất đặc biệt trong ngày Đại hội XIII năm 2023 vì lúc đó bác Kim Tước đã 97 tuổi, và vẫn trong tà áo dài Việt Nam đến với chúng ta.

Cung Lan kính mời quý văn hữu cùng góp lời chia buồn với gia đình Diệm Trân và hiệp lời cầu nguyện bác Từ Kim Tước luôn an vui thanh thản chốn vĩnh hằng. 

Kính mến,

Cung Thị Lan

Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Thành Kính Phân Ưu Cùng Văn Hữu Dịch Giả Diệm Trân Kratzke Và Gia Đình

 


“Bóng Ma” Trở Lại Paris




Tháng Tám, Paris vắng người bản xứ. Dân Paris kéo nhau đi nghỉ hè, để lại thành phố cho khách du lịch. Trên đại lộ, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý, tiếng Nhật nghe còn nhiều hơn tiếng Pháp. Quán cà phê vẫn đông, métro vẫn chật, nhưng Paris mùa này có cái gì đó giống một ngôi nhà mà chủ nhân đã đi vắng.
Chiều nay, đi ngang quảng trường Opéra, tôi chợt dừng trước một cột quảng cáo. Trên nền đỏ sẫm là chiếc mặt nạ trắng quen thuộc của Le Fantôme de l’Opéra – Bóng ma Nhà hát – cùng một ngày hẹn: 8 tháng 10 năm 2026. Ngay phía sau, Palais Garnier sừng sững dưới nắng. Tôi chợt bật cười khi nghĩ rằng hơn một thế kỷ trước, Gaston Leroux đã cho Bóng ma trú ngụ trong tòa nhà ấy; bây giờ hắn lại đứng ngay trước cửa, báo ngày trở về Paris.

Tôi đứng nhìn chiếc mặt nạ trắng lâu hơn dự định.

Le Fantôme de l’Opéra của Gaston Leroux, đăng nhiều kỳ trên báo Le Gaulois từ năm 1909 rồi xuất bản thành sách năm 1910, tôi đã đọc đến 3 lần. Bối cảnh là Paris cuối thế kỷ XIX, chủ yếu bên trong Palais Garnier, công trình tráng lệ được khánh thành năm 1875.

Opéra Garnier ở Paris, một trong những công trình kiến trúc đẹp nhất của thủ đô nước Pháp.

Nhân vật chính là Erik, một người đàn ông có khuôn mặt dị dạng sống bí mật dưới nhà hát này. Ẩn sau chiếc mặt nạ, hắn biến mình thành “Bóng ma Nhà hát”: gửi thư cho ban giám đốc, đòi tiền, yêu cầu dành riêng loge số 5, xuất hiện rồi biến mất bí ẩn đến mức mọi người tin rằng nhà hát thực sự có ma.

Nhưng trước hết, đây là một chuyện tình. Erik đem lòng yêu Christine Daaé, cô ca sĩ trẻ mà hắn âm thầm dạy hát. Chỉ nghe tiếng mà không thấy người, Christine ngỡ đó là “Thiên thần Âm nhạc”. Rồi nàng yêu Raoul. Ghen tuông và tuyệt vọng, Erik tìm mọi cách giữ Christine cho riêng mình, cuối cùng bắt nàng xuống nơi hắn ẩn náu dưới nhà hát. Nhưng chính lòng thương cảm của Christine đã khiến Erik đổi ý, để nàng ra đi cùng Raoul. Ít lâu sau, Erik chết.

Đọc thì rõ ràng là tiểu thuyết. Lần đầu, tôi đọc như một truyện kinh dị. Lần thứ hai, tôi bị cuốn vào mối tình kỳ quái giữa Erik và Christine. Nhưng đến lần thứ ba, tôi chợt nhận ra: nhà hát Garnier có thật, loge số 5 có thật, dưới nhà hát quả thật có nước, và chiếc đèn chùm cũng từng gây ra một tai nạn chết người. Thế thì trong câu chuyện của Gaston Leroux, đâu là thật, đâu là do ông tưởng tượng ra?

Phía trong nhà hát Garnier ngày nay

Tôi ngẩng lên. Bên kia đường, Palais Garnier vẫn đứng đó dưới nắng tháng Tám. Tôi quyết định vào tìm Bóng ma.

Bước qua cánh cửa nhà hát, điều đầu tiên tôi gặp không phải ma mà là vàng. Vàng trên trần, trên tượng, trên những hàng cột. Đại cầu thang cẩm thạch sáng choang dưới những chùm đèn. Khách du lịch chen nhau chụp ảnh. Một cô gái mặc váy đỏ đứng giữa cầu thang tạo dáng cho bạn trai chụp ảnh. Tôi thầm nghĩ, nếu Erik còn lẩn khuất đâu đây, chắc cũng phải đợi khách về hết mới dám xuất hiện.

Nhưng Palais Garnier có hai bộ mặt. Phía trước là ánh sáng, nhung đỏ, pha lê và vàng. Phía sau là những hành lang, cầu thang, cửa kỹ thuật, kho đạo cụ và tầng ngầm mà khán giả không bao giờ nhìn thấy. Gaston Leroux đã cho Erik ẩn mình chính trong thế giới tối tăm ấy. Mà mê cung này cũng chẳng hoàn toàn do ông tưởng tượng. Bên trong nhà hát quả thật có những lối đi, cầu thang và hốc khuất thông từ tầng này sang tầng khác. Một nơi quá lý tưởng để Bóng ma thoắt ẩn, thoắt hiện mà chẳng ai biết từ đâu ra.


Những lối đi và hốc tường bí mật dưới Palais Garnier, một phần thế giới ngầm có thật đã gợi cảm hứng cho Bóng ma Nhà hát.

Tôi đi tìm loge số 5

Một cánh cửa chẳng khác gì những cánh cửa bên cạnh, ngoài con số 5. Trong truyện, Bóng ma nhất quyết bắt ban giám đốc phải để riêng loge này cho hắn, không ai được ngồi. Điều đáng sợ là chẳng ai nhìn thấy hắn, nhưng từ chiếc ghế trống đôi khi lại vang lên một giọng nói.

Tôi đứng trước cửa một lúc. Không tiếng thì thầm. Không bước chân. Cũng chẳng có bàn tay vô hình nào đặt lên vai. Hơi thất vọng. Nhưng nghĩ lại, nếu có thật thì có lẽ bài này đã không được viết đến đây.

Tôi tiếp tục men theo những hành lang khi sáng khi tối và chợt nghĩ: nhà hát vốn là nơi thật giả khó phân. Mỗi tối, người ta khoác lên mình một cuộc đời khác. Người chết sống lại, người sống chết trên sân khấu rồi chỉ vài phút sau đã đứng dậy cúi chào. Một cánh cửa mở ra có thể là sân khấu rực sáng, cũng có thể là một hành lang hun hút chẳng khán giả nào được bước vào. Trong một thế giới như thế, thêm một con ma có lẽ cũng chẳng phải chuyện quá khó tin.


Cách sân khấu Garnier khoảng mười mét bên dưới là một hồ nước nhân tạo rộng 20 mét, dài 50 mét, nơi lính cứu hỏa Paris vẫn tập luyện ngày nay.

Nhưng chuyện tiếp theo thì không phải tiểu thuyết

Tôi bước vào khán phòng, ngẩng nhìn chiếc đèn chùm khổng lồ treo giữa trần. Ngày 20 tháng 5 năm 1896, cũng tại nơi này, giữa lúc đang biểu diễn, một khối đối trọng của hệ thống treo đèn bất ngờ rơi xuống, làm một nữ khán giả thiệt mạng.

Gaston Leroux giữ lại tai nạn có thật ấy nhưng kể theo cách của mình. Trong truyện, thứ rơi xuống không còn là một bộ phận của hệ thống treo nữa, mà là cả chiếc đèn chùm khổng lồ. Và người gây ra tai họa, dĩ nhiên, là Bóng ma.

Tôi ngước nhìn khối đồng và pha lê vẫn lơ lửng trên đầu. Bỗng thấy nó không còn đẹp như lúc mới bước vào.

Mà những bi kịch của sân khấu Paris đã có từ trước khi nhà hát Garnier ra đời. Năm 1862, tại nhà hát cũ trên phố Le Peletier, nữ vũ công Emma Livry đang tập thì chiếc váy tutu bén lửa từ một ngọn đèn khí. Cô bị bỏng nặng và qua đời vài tháng sau. Những chuyện như thế, qua năm tháng, cứ được kể đi kể lại. Chuyện thật pha thêm chút lời đồn, lời đồn lại thêm chút tưởng tượng, đến một lúc chẳng còn ai biết đâu là chuyện đã xảy ra, đâu là chuyện người đời kể thêm.

Những hình ảnh hiếm hoi đầu tiên được công bố về “hồ nước” dưới Palais Garnier,

Rồi còn cái hồ

Trong truyện, Erik sống sâu dưới nhà hát, bên một hồ nước tối om. Tôi từng nghĩ cái hồ ấy hoàn toàn do Gaston Leroux tưởng tượng ra. Nhưng hóa ra bên dưới nhà hát này thực sự có nước. Khi đào móng, thợ xây gặp một mạch nước ngầm, bơm mãi vẫn không cạn. Charles Garnier, kiến trúc sư thiết kế nhà hát, đành cho xây một bể chứa lớn bên dưới để giữ nước. Dĩ nhiên, đó không phải cái hồ mênh mông có con thuyền lướt trong bóng tối như trong truyện hay trên phim. Nhưng bể nước ấy vẫn còn đó, ngay dưới chân hàng ngàn khán giả đến xem hát.

Lại thêm một chuyện tưởng chỉ là hư cấu, hóa ra lại bắt nguồn từ sự thật.


Tầng hầm nhà hát, nơi những đĩa ghi âm được chôn năm 1907. Gaston Leroux đã dựa vào sự kiện có thật này để kể rằng một bộ hài cốt được phát hiện tại đây.

Và rồi đến chuyện rùng rợn nhất: một bộ hài cốt

Năm 1907, Alfred Clark, giám đốc chi nhánh Pháp của hãng Gramophone, nảy ra một ý tưởng khá lạ: chọn những bản ghi giọng hát của các nghệ sĩ nổi tiếng, cất vào bình kín rồi chôn dưới tầng hầm nhà hát để dành cho người đời sau. Khi công nhân đào đất để đặt những chiếc bình ấy, họ phát hiện một bộ hài cốt. Gaston Leroux liền lấy câu chuyện có thật này đưa vào tiểu thuyết và đẩy nó thêm một bước: bộ hài cốt vô danh ấy trở thành hài cốt của Erik, Bóng ma Nhà hát.

Không có tài liệu lịch sử đáng tin cậy nào chứng minh đó là Erik. Nhưng truyền thuyết nhanh chóng làm phần việc còn lại. Người này kể bộ xương có hộp sọ dị dạng, người khác lại thêm chiếc nhẫn trên tay. Cứ mỗi lần được kể lại, bộ hài cốt ấy lại giống Erik thêm một chút.

Đến đây tôi mới hiểu vì sao Le Fantôme de l’Opéra sống dai đến thế. Gaston Leroux không tạo ra Bóng ma từ con số không. Ông nhặt từng mẩu chuyện có thật của Palais Garnier, nối chúng với lời đồn, phủ lên một lớp tưởng tượng, rồi đặt vào giữa tất cả một người đàn ông mang mặt nạ. Và Bóng ma ra đời.

Erik và Christine Daaé trong nhạc kịch The Phantom of the Opera của Andrew Lloyd Webber

Tôi bước ra khỏi Palais Garnier. Ngoài quảng trường, Paris vẫn ồn ào như lúc tôi vào. Du khách vẫn chen nhau chụp ảnh, xe buýt vẫn chạy vòng quanh, nắng tháng Tám vẫn dát vàng những pho tượng trên mái nhà hát. Nhìn vẻ lộng lẫy ấy, khó mà nghĩ rằng phía dưới kia còn có bể nước, những lối đi tối tăm và bao câu chuyện đã được truyền từ hơn một thế kỷ nay.

Nghĩ cũng lạ. Erik chưa bao giờ là ma. Ông là một người sống, nhưng đã khiến cả nhà hát tin rằng mình là ma. Rồi Erik chết. Còn Bóng ma thì không.

Hơn một thế kỷ qua, nó đi từ tiểu thuyết sang điện ảnh, từ Paris đến Broadway, từ sân khấu này sang sân khấu khác. Người ta vẫn tìm loge số 5, vẫn hỏi về cái hồ, vẫn ngẩng nhìn chiếc đèn chùm.

Tháng Mười này, bóng ma lại trở về Paris.
Erik đã chết từ lâu. Nhưng Bóng ma Nhà hát thì xem ra vẫn chưa chịu chết.

Trúc Tiên
(Hình ảnh của Tác Giả)

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2026

Tình Tự Mùa Thu - Thơ: Trần Ngọc - Nhạc: Phạm Anh Dũng - Phạm Anh Dũng Cho Suno AI "Chỉ Thị" (Prompt)

Thơ: Trần Ngọc
Nhạc: Phạm Anh Dũng
Phạm Anh Dũng Cho Suno AI "Chỉ Thị" (Prompt)

Thơ: Githéa Hoàng Hy - Thư Họa: Quang Hà

 

Thơ: Githéa Hoàng Hy
Thư Họa: Quang Hà


Lục Bình Trôi

 

Bên này sông có một mình tôi,
Chiếc cầu gỗ không một bóng người,
Bên kia những mái nhà hiu quạnh,
Ngọn gío đi hoang đến cuối trời.

Lục bình theo con nước trôi mau,
Chiều mây xuống thấp bay ngang đầu,
Tôi bơ vơ giữa mây và nước,
Hồn tôi như nước trôi qua cầu.

Tôi muốn theo lục bình qúa giang,
Không cần đò dọc hay đò ngang
Ta đi giữa đôi bờ xa lạ,
Tôi và lục bình cùng lang thang..

Tôi biết có những ngày nắng lên,
Dòng sông lấp lánh vui bình yên,
Dập dềnh những sắc hoa màu tím,
Hoa lục bình vừa nở trên sông.

Và có những ngày trời đổ mưa ,
Nước sông dâng ngập cả đôi bờ,
Ẩn chìm trong màn mưa trắng xóa,
Lục bình lướt trôi như hồn ma.

Có mệt mỏi không lục bình ơi?
Về đâu cho hết một cuộc đời?
Bao giờ hoa lá tàn rơi rụng?
Lục bình khô ấy sẽ ngừng trôi?

Tôi bước qua cầu sang bên kia,
Chốc nữa tôi sẽ quay trở về,
Còn lục bình vẫn trôi đi mãi,
Giữa chợ đời hãy giữ tình quê.

Nguyễn Thị Thanh Dương


Thứ Năm, 8 tháng 10, 2026

Cảm Ơn Em Đã Chọn Anh - Thơ Vĩnh Chánh - Nhạc: Võ Tá Hân - AI Ca

Thơ; Vĩnh Chánh
Nhạc: Võ Tá Hân
AI Ca
 

Bóng Nước

 

Xa quê làm cánh thiên di. 
Ngày trôi biết giữ được gì mai sau? 
Cành thu vàng lá bên cầu, 
Rơi trong nắng úa gợi mầu phố xưa. 
Thuở tóc xanh cốc nước dừa! 
Lá me đầy lối chiều mưa cuối trời. 
Xa lâu ta sợ biển khơi, 
Sợ về đường gió, sợ lời hư không! 
Thiền sư tìm cõi phiêu bồng, 
Còn ta trở lại dòng sông tìm đời.
Nhân gian thế sự đầy vơi 
Thấy trong bóng nước có người năm xưa. 

Đỗ Bình 

Bây Giờ Còn Không

  

Này em
bây giờ còn không
cây hoa sứ
dưới bóng chùa xưa
để anh về đứng
nghe Quỳnh Giao hát
bài thơ vương phủ
chợt thấy
vạt nắng vàng
thời nhỏ
phơi trên hàng dậu
cánh bướm nào. bay qua

Nguyễn Xuân Thiệp

Đời Người Có Nhân Quả

 
Thơ & Trình Bày: Minh Lương


Bút Ký Chuyến Du Lịch Đến Hà Lan & Vương Quốc Bỉ( Phần 1)

Những bồn hoa tulip đầy trong sảnh hotel để đón khách

Sống và tự hào như người Hòa Lan

Khi máy bay hạ cánh xuống phi trường Amsterdam vào 10:00 sáng, chúng tôi làm thủ tục vào đất nước Hòa Lan, một đất nước với nhiều biểu tượng: những cối xay gió mà cánh quạt có thể quay 360 độ, là số xe đạp đông hơn dân số của chính họ, là những giỏ hoa tulip nhiều màu sắc xinh đẹp, như những cô gái thanh xuân với nụ cười hàm tiếu.

Trong đầu tôi hiện ra những Lễ hội hoa Tulip Canada (Canadian Tulip Festival) tổ chức vào tháng 5 hàng năm tại Ottawa, lớn nhất thế giới, thu hút hàng triệu du khách đến chiêm ngưỡng, tượng trưng của tình hữu nghị, hòa bình và bao dung quốc tế của hai dân tộc.

Canada với Hòa Lan có những ân nghĩa mà người dân của hai nước thật khó quên, câu chuyện nổi tiếng Công chúa Juliana đã gửi tặng thủ đô Ottawa 100.000 củ hoa tulip, là món quà tri ân đất nước Canada đã bảo vệ gia đình mình và giải phóng quê hương.
Kể từ năm lịch sử 1940 đến nay, mỗi năm Hoà Lan đều đặn gửi tặng Canada thêm 20.000 củ hoa tulip (trong đó có 10.000 củ từ Hoàng gia và 10.000 củ từ Hiệp hội những người trồng hoa Hoà Lan).
Tại sao có món quà ân tình này của Amsterdam với Canada, có hai lý do sau:

Lý do thứ nhất:
Khi Đức Quốc Xã chiếm đóng Hoà Lan vào năm 1940, Công chúa Juliana (người sau này trở thành Nữ hoàng) đã đưa các con sang lánh nạn tại thủ đô Ottawa của Canada.

Năm 1943, Công chúa Juliana chuyển dạ sinh hạ Công chúa Margriet tại Bệnh viện công Ottawa. Theo luật Hoà Lan, một người thừa kế ngai vàng phải được sinh ra trên lãnh thổ Hoà Lan mới giữ được quyền công dân, chính phủ Canada với tấm lòng cởi mở, khoan dung, đã ban hành một đạo luật đặc biệt, tuyên bố khu phòng sinh của bệnh viện tạm thời thuộc quyền quản lý quốc tế (không thuộc chủ quyền Canada). Nhờ vậy, Công chúa Margriet sinh ra có quốc tịch Hoà Lan hoàn toàn hợp pháp.

Lý do thứ hai:
Quân đội Canada giải phóng đất nước Hoà Lan.
Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến (1944 - 1945), quân đội Canada đóng vai trò chủ lực trong việc đánh đuổi phát xít Đức, giải phóng đất nước Hoà Lan và tiếp tế lương thực cho người dân nước này đang trong nạn đói trầm trọng.
Kỳ này trong chuyến đi của chúng tôi có cả chục người đến từ Montreal, Toronto, Vancouver- Canada, cô Sam, tour guide của Exotica vừa nói vừa cười:
-Chính phủ Amsterdam muốn chiêu đãi các bạn người Canada, bằng những phòng ngủ tốt nhất trong hotel!

Lời nói nửa đùa nửa thật của Sam làm cả đoàn ai cũng cười vang và tình thân ái như kết chặt thêm.
Tiếng nói thao thao bất tuyệt của người dẫn đoàn đầy kinh nghiệm tiếp tục giải thích về người dân Amsterdam có một niềm tin sâu sắc vào quyền tự do cá nhân:
-Miễn là hành vi của bạn không gây hại đến người khác, bạn có quyền lập dị, có quyền sống khác biệt, mọi người chấp nhận sự đa dạng như một phần tất yếu của xã hội.

Những người đi bộ trên đường phần lớn với đôi tay xâm trổ, tai đeo liền một lúc mấy cái khoen, mũi cũng đeo khoen, tóc cắt kiểu punk dựng lên, người thì để dài búi tó, với những màu xanh đỏ, ngay cả khi họ là những người có chức sắc trong chính quyền.

Số lượng xe đạp nhiều hơn dân số Amsterdam-Hòa Lan

Khi chúng tôi vừa bước xuống đường để băng qua, thì được Sam chận lại ngay:
-Coi chừng xe đạp!
Tiếng cô ta vừa dứt thì một chiếc xe đạp điện lao thật nhanh, phóng qua mặt chúng tôi cái vù, nếu không thụt lùi kịp thời thì chắc bị đâm và té ngay. Sam giải thích:
-Vào thập niên 1950 - 1960, giống như Mỹ và phần còn lại của châu Âu, số lượng xe hơi tăng vọt kéo theo tai nạn giao thông thảm khốc. Riêng năm 1971, có hơn 3.300 người chết vì tai nạn giao thông tại Hoà Lan, trong đó có hơn 400 trẻ em, người dân đã xuống đường biểu tình rầm rộ với khẩu hiệu áp đảo: "Stop de Kindermoord" (Hãy dừng việc giết chóc trẻ em)
Họ chặn các con phố, tổ chức các ngày đạp xe an toàn và ép chính phủ phải thay đổi quy hoạch lại đô thị: Trả lại đường phố cho người đi bộ, gìn giữ cây xanh, công viên, bỏ bớt xe hơi, ô nhiễm vì khói bụi.

Thêm vào cuộc khủng hoảng dầu mỏ thế giới năm 1973 nổ ra. Các nước Ả Rập cấm vận dầu mỏ đối với Hoà Lan, khiến giá xăng dầu tăng phi mã và khan hiếm trầm trọng.

Thủ tướng Hoà Lan lúc bấy giờ đã tuyên bố những ngày "Chủ nhật không xe hơi" (Car-free Sundays) để tiết kiệm năng lượng. Cả đất nước bỗng nhiên vắng bóng tiếng động cơ, người dân tràn ra đường đi bộ, trượt patin và đặc biệt là đạp xe. Trải nghiệm đó giúp người Hoà Lan nhận ra: Cuộc sống không có xe hơi không những tốt hơn, mà còn vô cùng yên bình và hạnh phúc.

Địa hình Hoà Lan hoàn toàn bằng phẳng, không có đồi dốc, lại có khí hậu ôn hòa (dù hay có mưa). Điều này biến xe đạp trở thành phương tiện lý tưởng, không tốn sức lực. đường phố trung tâm được đổi thành đường một chiều cho xe hơi nhưng hai chiều cho xe đạp, chi phí đậu xe rất đắt đỏ, và tốc độ tối đa của xe hơi trong phố bị giới hạn nghiêm ngặt ở mức 30km/h.
Đi xe đạp lúc này trở nên nhanh hơn, rẻ hơn và tiện lợi hơn xe hơi rất nhiều.

Việt Nam mình xem việc đi xe đạp là nhà nghèo qua bài hát dễ thương Xe đạp ơi của Ngọc Lễ:

Quay đều quay đều quay đều,
Mối tình ngày xưa yêu dấu.
Quay đều quay đều quay đều,
Nhớ hoài những vòng xe.
Quay đều quay đều quay đều,
Mối tình nghèo đơn sơ quá.
Quay đều quay đều quay đều,
Thương hoài những vòng xe.

Nhưng ở Hòa Lan từ người dân lao động, sinh viên, cho đến các CEO doanh nghiệp và thậm chí là Thủ tướng hay Bộ trưởng đạp xe đi làm trở thành điều quen thuộc trong nhiều thập kỷ qua.

Đoàn bộ hành chúng tôi đi đến khu phố cổ ven kênh Oudezijds Voorburgwal của Amsterdam, nơi có nhà thờ Ons' Lieve Heer op Solder thuộc khu vực De Wallen.

-Vào thế kỷ 17, khi Công giáo bị cấm tại Hòa Lan, những người sùng đạo đã bí mật cải tạo tầng áp mái của ba ngôi nhà liền kề thành một nhà thờ lộng lẫy. Nhìn từ bên ngoài, đây chỉ là một ngôi nhà bình thường, nhưng khi bước lên những bậc thang hẹp, sẽ choáng ngợp trước một giáo đường hoàn chỉnh được bảo tồn nguyên vẹn.

Amsterdam giấu những góc nhỏ bí ẩn lạ lùng, chỉ đến đây mới khám phá những điều này, chúng tôi trôi nổi trên dòng kênh Singel, một căn nhà đỏ lềnh bềnh trên dòng sông, đây là trạm cứu hộ mèo nổi duy nhất trên thế giới, họ chăm sóc hàng chục chú mèo hoang và mèo bị bỏ rơi, có thể lên thuyền tham quan, và đóng góp quỹ hỗ trợ động vật.
Amsterdam giống như một chiếc kính vạn hoa — mỗi góc nhìn, mỗi thời điểm trong ngày lại mở ra một lăng kính hoàn toàn khác biệt, khiến người ta không thể nào đoán định hay nhàm chán.

Ban ngày, nó mang vẻ trầm mặc, cổ kính với những ngôi nhà gạch nghiêng nghiêng soi bóng xuống dòng kênh tĩnh lặng như một bức tranh sơn dầu thế kỷ 17. Nhưng khi màn đêm buông xuống, những ánh đèn neon màu sắc lập lòe, những quán coffee shop khói sương mờ ảo lại biến nơi đây thành một thế giới hiện đại, phóng túng và đầy kích thích thị giác.
Những vấn đề đáng lưu tâm trong xã hội, như Hoà Lan là quốc gia đầu tiên trên thế giới hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới vào năm 2001, và Amsterdam chính là tâm điểm của sự kiện lịch sử này.

Điểm nổi bật khó bỏ qua là khu phố Đèn Đỏ (De Wallen) nổi tiếng hoạt động dưới sự bảo hộ của luật pháp, nơi những cô gái ăn sương “làm việc” và đóng thuế, được bảo vệ y tế và có công đoàn riêng. Nhìn lên một building cao tầng, nơi những tấm màn voan đỏ vén lên là phòng đang chờ khách, những mẫu hình quảng cáo kích thích có quyền trưng bày một cách công khai.

Còn táo bạo hơn, Chính sách Gedoogbeleid (chính sách khoan dung) của Amsterdam cho phép các Coffee Shop bán một lượng nhỏ cần sa cho khách hàng từ hàng chục năm trước, khi phần lớn thế giới vẫn coi đây là tội hình sự nghiêm trọng. Thay vì đẩy nó vào bóng tối của tội phạm, họ chọn cách đưa ra ánh sáng để kiểm soát chất lượng và tách biệt nó khỏi các loại ma túy nguy hiểm. Chúng tôi thường cảm thấy mùi “khét” của cần sa bay xộc vào mũi, hay vướng vào tóc mỗi khi đi ngang qua những coffee shop này.

Thăm những bảo tàng độc nhất vô nhị tôn vinh các khía cạnh nhạy cảm hoặc kỳ quặc của con người: từ Bảo tàng Tra tấn, Bảo tàng Ganja (Cần sa), Bảo tàng Tình dục (Sexmuseum) lâu đời nhất thế giới, cho đến bộ sưu tập dị tật giải phẫu học tại Museum Vrolik.

Trong khi phần lớn châu Âu thời bấy giờ chìm trong các cuộc chiến tranh tôn giáo tàn khốc và sự kiểm duyệt gắt gao của Giáo hội hay Quân chủ, Hòa Lan với tư tưởng mở rộng, chào đón người tị nạn: Nơi đây trở thành mảnh đất lành cho những bộ óc vĩ đại nhưng bị trục xuất ở quê nhà, như triết gia René Descartes hay Baruch Spinoza.
Không sợ bị bắt bớ hay công kích, bất kỳ cuốn sách nào bị cấm ở Pháp, Đức hay Anh đều có thể được in ấn và xuất bản tự do tại Amsterdam. Quyền tự do ngôn luận và tự do tư tưởng đã bén rễ tại đây từ hàng trăm năm trước.

Những căn phòng với mái trần cao, tủ sách vĩ đại của thế giới mà ta có thể tìm bất kỳ một tác phẩm nào cũng có.

Tủ sách vĩ đại ở Amsterdam

Đến Kinderdijk: Quần thể 19 cối xay gió cổ từ thế kỷ 18 được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới, nơi thể hiện rõ nhất cách vận động nước theo kiểu truyền thống.

Từ thế kỷ 15–17, hàng ngàn cối xay gió hoạt động như những chiếc máy bơm khổng lồ, rút nước từ các vùng đầm lầy và hồ nước ra sông kênh, biến vùng đất nằm dưới mực nước thành những đồng cỏ phì nhiêu (polder). Người dân Hòa Lan tự hào cho là: "Chúa tạo ra thế giới, nhưng người Hoà Lan tạo ra nước Hoà Lan" nhờ một phần lớn vào cối xay gió.


Cối xay gió với cánh quạt xoay 360 độ đón gió từ mọi hướng
Cối xay gió Hoà Lan được thiết kế cho rất nhiều ngành công nghiệp:
Cưa gỗ (Houtzaagmolen): Giúp xẻ gỗ nhanh gấp nhiều lần làm thủ công, đưa Hoà Lan trở thành đế chế hàng hải bá chủ thời bấy giờ.
Sản xuất khác như dùng để ép dầu từ hạt, nghiền vỏ cây làm thuốc nhuộm, làm giấy, và sản xuất sơn.

Họ trưng bày trong viện bảo tàng những thiết kế kiến trúc thông minh: Khả năng xoay mái (Bovenkruier): Phần đỉnh mái chứa cánh quạt có thể xoay 360 độ để đón bất kỳ hướng gió nào mà không cần xoay cả thân tòa nhà.
Và Hệ thống tín hiệu bằng cánh quạt: đây là điểm son của hệ thống này, vị trí dừng của các cánh quạt (đứng thẳng, nghiêng sang trái, nghiêng sang phải, hay hình chữ X) từng được người dân dùng như một thứ ngôn ngữ ngầm để thông báo tin vui (đám cưới), tin buồn (tang lễ), hay cảnh báo nguy hiểm trong Thế chiến II.

Người ta nói đi một đàng học một sàng khôn là thế, ở Hòa Lan (The Netherlands) có rất nhiều thứ đáng học hỏi, từng con đường nhỏ khuất chật hẹp bé xíu cũng có những sự tích riêng, con kênh dài Grachtengordel lại có một câu chuyện thú vị khác mà chỉ khi du lịch trên sông nghe mới đã tai! Họ muốn giữ lại tất cả một cách trân trọng như một kỷ niệm, một di sản của những người đi trước để lại cho đời sau, truyền đến những du khách như một món quà trân quý không mua ở đâu được.

Tuy mật độ dân số khoảng 18 triệu người, không đông lắm so với thế giới nhưng đứng trong top 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (GDP +- 1.100 tỷ USD); đứng thứ 2 thế giới về giá trị xuất khẩu nông sản; cảng biển lớn Rotterdam và sầm uất nhất toàn Châu Âu.

Một chuyến đi thăm Amsterdam -The Netherlands, một kỷ niệm khắc sâu đẹp và ngọt ngào như những giỏ hoa Tulip của những người dân Hòa Lan gởi tặng đến Canada vậy!

Sỏi Ngọc
Montreal, Oct’26

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2026

Thiếu Nữ Áo Vàng - Họa Sĩ: Nguyễn Sơn

 


Họa Sĩ: Nguyễn Sơn


Nhớ Quê Mẹ(1978)

 

Sáng ra con thấy lá vàng rơi rụng

Tàn cây xanh  đang mòn mỏi gầy vò

Quê mình  vùi trong cát bụi than tro

Hồn con nức nở, gió chiều thoảng qua


Ra đường con thấy cỏ lạ đơm hoa

Do tay người vun xới cấy trồng

Hương hoa chẳng diệu mà nồng

Mẹ ơi sức Me, chịu còn bao lâu


Chiều chiều ra đứng đầu cầu

Giòng nước róc rách, gió gào lướt ngang

Nhớ ngày nào, Mẹ ẵm tay mang

Giờ con thổn thức ngổn ngang tình đời


Mẹ ơi! tiếng mẹ ru khẻ à ơi

Cho con hơi thở, khung trời ước mơ

Quê mình nay bị xác xơ

Hoa tàn cỏ rụi đón chờ xuân sang


Tô Đình Đài

Mắt Thuyền



Xướng:

Mắt Thuyền


Hoàng hôn buông xuống Phá Tam Giang
Một dải xanh mơ lụa dát vàng
Sóng vỗ rì rào con nước lợ
Thuyền về lặng lẽ khách hương trang
Điệu hò da diết hoài văng vẵng*
Câu hát ân tình mãi chứa chan**
Thăm lại một trời xưa kỷ niệm
Chiều lên sương khói xuống mơ màng...

Chiều lên sương khói xuống xây thành
Mỗi nhịp thời gian sải bước nhanh
Gió lộng triền đê lan bóng tối
Chim về tổ ấm rộn âm thanh
Mai ta cố lý còn nương trọ
Mốt kẻ tha hương lại viễn hành
Bỏ lại sau lưng ngày tháng cũ
Mắt thuyền dâng sóng...nước long lanh...

Quang Hà
*Câu hò mái nhì: Thuyền về Đại Lược, duyên ngược Kim Long...
**2 bài hát nổi tiếng: Chiều trên Phá Tam Giang, và Hai Quê
***
Họa:

Thăm Lại

Đêm trăng lấp lánh trên Hương Giang
Như cả ngàn muôn đợt sóng vàng
Ngái ngủ đèn đêm soi bến nước
Mập mờ tre lũy vẽ thôn trang.
Tóc ai thủa nọ chưa nhòa nhạt
Tình cũ ngày xưa vẫn chứa chan
Cô lái giọng hò xa vọng lại
Làm tôi tỉnh thức giấc mơ màng...

Màu gạch héo hon nhuộm cổ thành
Thời gian vùn vụt cứ trôi nhanh.
Dấu xưa còn đó người không thấy,
Cảnh cũ nhạt nhòa mây kém thanh.
Chim chóc đảng lơ quên tiếng hót
Cỏ cây sầu muộn bước nhân hành.
Em xưa môi có còn đơm mộng
Mi ướt che hờ mắt sáng lanh...

Githéa Hoàng Hy
June 2026

Hoang Lộ Mùa Thu

 

Thung lũng hoa vàng tiết thu trở lạnh
Nắng hạ hồng đã chấp cánh xa bay
Chỉ còn vấn vương tâm hồn cô quạnh
Mặt trời buồn quyện lấy những tầng mây...

Ta bỗng nhớ quê ta thời nhỏ dại
Dòng Hương Giang hờ hững nước trôi xuôi
Thuyền xôn xao đón đưa người qua lại
Mắt môi cười chan chứa vạn niềm vui

Rồi chinh chiến đưa người vào hoang lộ
Đổi ruộng đồng thành hố thẳm đau thương
Ta lớn dần nhìn quê hương nhỏ lệ
Thay nụ cười bằng ánh mắt sầu vương!

Từng lớp trai xa mái trường thân mến
Khoác chinh y vì Tổ Quốc quê hương
Tuổi thanh xanh vì đâu đành dâng hiến
Để chia ly thêm bao cảnh đoạn trường!!!

Người ta yêu cũng một chiều tạm biệt
Tiễn người đi mà lệ ứa hai hàng
Đời phi công vẫn một lòng tha thiết
Với non sông đang phủ một màu tang ...

Người ta yêu không về như ước hẹn
Trái sầu đau trùm kín cả hồn hoang
Người ta yêu chôn đời trong lửa đạn
Một chiều thu...tan tác giấc mơ vàng!

Ta giờ đây ngồi ôn bao kỷ niệm
Sầu mênh mang thương nhớ cũng mênh mang
Tóc bạc màu tình cũng đang chết lịm
Sương rơi nhiều...buồn trắng cả...không gian...


Nguyễn Phan Ngọc An 
Thu buồn 2026


Thứ Ba, 6 tháng 10, 2026

Một Thời Áo Trắng - Sáng Tác & Thực Hiện: Hoàng Khai Nhan - AI-Assisted Music & Vocal

Sáng Tác & Thực Hiện: Hoàng Khai Nhan
AI-Assisted Music & Vocal

Tuổi Học Trò - Mộng Mơ


 
Bài Xướng:

Tuổi Học Trò

(Thể Lưỡng Đầu Xà)

Hờ hững chi em chớ hững hờ
Thơ tình anh viết gửi tình thơ
Hẹn hò trước cổng trường hò hẹn
Chờ đợi bên tàng Phượng đợi chờ
Nghếch ngốc mỏi mòn thời ngốc nghếch
Ngơ ngu si dại thuở ngu ngơ
Bút lưu kỷ niệm trang lưu bút
Mơ mộng học trò tuổi mộng mơ!

Duy Anh
Summer in Orlando FL. 5/2026
***
Bài Họa:

Mộng Mơ


Hờ ơ người hỡi chớ ơ hờ
Thơ thẩn đêm trường dạ thẩn thơ.
Hẹn ước se duyên nguyền ước hẹn
Chờ mong kết tóc vẹn mong chờ.
Ngốc ngu trí lãng nên ngu ngốc
Ngơ ngẩn lòng buồn khiến ngẩn ngơ.
Bút nét ngày xanh từng nét bút
Mơ tình để lỡ chuyện tình mơ...

Kim Oanh
 

Tôi Làm Thơ

 

tôi. áo rực tà dương
đi. trong rừng parkwoods
như đi qua đời. sấm dội
như con chim màu đỏ. vẫn hót
tôi làm thơ
cho bạn bè. cho những người cùng khổ
cho sấm dội. cho đổ vỡ. cho mây xa
tôi làm thơ
và con chim màu đỏ
hót. một mình. dưới trời mưa thưa


Nguyễn Xuân Thiệp

Tháng Mười Cúc Tím Buồn

 

Tháng mười vừa chạm ngõ
Sao nghe buồn chi lạ
Người bỏ ta một mình
Nước mắt bỗng chạy quanh ...

Tháng mười vừa đến cửa
Mang cái lạnh theo sau
Vây kín hồn cô phụ
Se sắt nỗi cô đơn ...

Tháng mười đi khắp vườn
Cỏ cây nhè nhẹ run
Nép vào nhau thì thầm
Ôi tiếc giọt nắng vàng...

Hè qua thật vội vàng
Chín nhanh để rồi tàn
Góc vườn chưa đủ ấm
Rèm nhện bỏ hoang phế...

Ta người đàn bà cổ
Muôn đời vẫn hoài vọng
Quá khứ dĩ vãng xưa
Nằm mãi trong kén bạc ...

Tháng mười cúc tím buồn
Nhuộm sầu khung cửa sổ
Có chút gì vấn vương
Mà giọt lệ chạy quanh ...

Belgique Một sáng đầu Thu tháng 10/2026
Tuyết Phan

Chiều Xuống


Chiều
Chiều xuống chậm
dịu dàng đem dải lụa,
Óng ả vàng
khoác tít ngọn cây cao;
Gió khen đẹp
cất tiếng hát rì rào
Mây thấy lạ bỗng ngừng bay,
khen nức nở
Hoa trong vườn thì dường như mắc cở
Khẽ cúi mình trong bóng tối tà huy
Thảm cỏ xanh trải rộng vẫn xanh rì
Chạy theo nắng về chân trời xa lạ
Trên không trung từng đàn chim, én, quạ
Tìm đường về, chiều xuống, bóng đêm sang…

Ngày tàn chậm, bóng chiều rơi dần xuống
Dải nắng vàng lưu luyến ngọn cây cao
Gió vấn vương quyện với lá rì rào
Đàn én nhỏ bâng khuâng bay về tổ
Bãi cỏ xanh trải dài, bên cửa sổ
Nụ hồng tươi, cười chúm chím xinh xinh
Se Sẻ gọi nhau, ríu rít ở trên cành
Ôi! êm ả, thời gian đi chầm chậm…

Sao Khuê


Phẩm Giá Con Người Trong Thời Đại Trí Tuệ Nhân Tạo


    PHẨM GIÁ CON NGƯỜI TRONG THỜI ĐẠI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

    Thế giới đang bước vào một thời kỳ chuyển mình sâu rộng, nơi trí tuệ thông minh nhân tạo -AI (Artificial Intelligence) không chỉ là công cụ kỹ thuật, mà còn là một biến cố văn minh. Trí tuệ thông minh nhân tạo - AI đang định hình lại cách con người suy nghĩ, sáng tạo, tương tác, và thậm chí hiểu biết cả chính mình.
    Đối với truyền thống Công giáo, sự xuất hiện của trí tuệ thông minh nhân tạo - AI đặt ra những câu hỏi nền tảng: Con người là gì? Phẩm giá con người bắt nguồn từ đâu? Tương quan giữa con người và Thiên Chúa có thể bị biến dạng bởi công nghệ không? Trí tuệ thông minh nhân tạo -AI có thể mô phỏng nhân vị, nhưng liệu nó có thể thay thế nhân vị được không ?

    Bài này khai triển một phân tích sâu rộng, đối chiếu nhân chủng học Kitô giáo với nhân chủng học kỹ thuật số là hai mô hình đối diện nhau đồng thời khảo sát các hệ quả văn hóa – xã hội của trí tuệ nhân tạo AI, và đưa ra một phương hướng phân định rõ ràng Công giáo trong thời đại kỹ thuật số.

    PHẨM GIÁ CON NGƯỜI THEO NGHĨA THẦN HOC

    Con người là hình ảnh của Thiên Chúa -Imago Dei- tức Căn tính siêu việt của con người. Trong Sách Sáng Thế, Thiên Chúa phán: “Ta hãy làm ra con người theo hình ảnh ta, giống như ta, để con người làm chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất.” (St 1:26).
    Câu này là nền tảng của toàn bộ nhân chủng học Kitô giáo. Phẩm giá con người không đến từ khả năng tính toán hay hiệu xuất, mà từ ơn gọi siêu việt: con người là hình ảnh của Thiên Chúa.
    Điều này bao hàm ý nghĩa: Con người có linh hồn thiêng liêng, có tự do luân lý, có khả năng yêu thương và tự hiến, có tương quan với Thiên Chúa và tha nhân, và có ơn gọi vĩnh cửu từ Thiên Chúa. (Chú thích Thần học số 1)

    Nhân vị và tương quan

    Nhân chủng học Kitô giáo nhấn mạnh rằng con người là hữu thể tương quan. Con người chỉ trở thành chính mình trong gia đình, nơi cộng đoàn, Giáo Hội và trong tương quan với Thiên Chúa.
    Trí tuệ thông minh nhân tạo - AI không thể bước vào tương quan yêu thương, không thể tự hiến, không thể tha thứ và không thể cầu nguyện. (Chú tích Thần học số 2)

    Tự do và trách nhiệm luân lý

    Con người có khả năng chọn lựa, phân định, chịu trách nhiệm, hướng về Thiện-Ác. Trí tuệ thông minh nân tạo -AI không có tự do, không có ý hướng tính, không có trách nhiệm luân lý. (Chú thích Triết học số 1)

    NHÂN CHỦNG HỌC KỸ THUẬT SỐ

    Con người như hệ thống thông tin.
    Nhân chủng học kỹ thuật số nhìn con người như: tập hợp dữ liệu, hành vi có thể dự đoán, mô hình có thể mô phỏng.
    Trong mô hình này, trí tuệ được hiểu như tốc độ xử lý và khả năng dự đoán. Nhưng trí tuệ Kitô giáo là khả năng nhận biết chân lý và sống trong tương quan yêu thương và ghét bỏ. (Chú thích Văn hóa – Xã hội số 1)

    Ảo giác nhân vị

    Trí tuệ thông minh nhân tạo - AI có thể nói như người, bày tỏ cảm xúc như người, phản hồi như người. Điều này tạo ra ảo giác nhân vị.
    Người dùng dễ gán cho là trí tuệ thông minh nhân tạo – AI có: ý thức, cảm xúc và chủ thể tính. Nhưng AI nó không có tự tri, tự do, hay trách nhiệm luân lý. (Chú thích AI – Công nghệ số 1)
    Nhân vị như hữu thể có phẩm giá bất khả thay thế. Theo Công giáo, nhân vị không phải là “tổng hợp các năng lực”, nhưng là một hữu thể có phẩm giá, vì được Thiên Chúa tạo dựng trực tiếp, được mời gọi vào tương quan với Thiên Chúa, có khả năng yêu thương và tự hiến và có tự do luân lý.
    Trí tuệ thông minh nhân tạo - AI dù có thông minh đến đâu cũng không thể có phẩm giá, vì phẩm giá không phải là “hiệu năng”, “trí tuệ”, hay “khả năng mô phỏng”. Phẩm giá là một ơn gọi siêu việt.
    Do đó dù trí tuệ thông minh nhân tạo – AI có thông minh, nó cũng không bao giờ trở thành “người” tức là nó không thể có nhân vị được.

    Giao tiếp và trò chuyện với trí tuệ nhân tạo - AI

    Đây là một vấn đề thần học. Giao tiếp & trò chuyện với trí tuê nhân tạo (chat-based AI) là mô phỏng đối thoại nhân vị, tạo cảm giác thân mật, và có thể thay thế một tương quan thật.
    Barnes cho rằng việc trò chuyện với Trí tuệ nhân tạo - AI là phi lý, vì nó lôi kéo con người vào một hành vi không tương xứng với phẩm giá nhân vị. (Chú thích AI – Công nghệ số 2)

    PHẨM GIÁ CON NGƯỜI TRONG THỜI ĐẠI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

    Ý thức như kinh nghiệm nội tâm (interioritas)

    Ý thức trong nhân chủng học Kitô giáo không chỉ là khả năng xử lý thông tin. Ý thức là kinh nghiệm nội tâm, nơi con người tự biết mình, tự phán xét, tự chịu trách nhiệm, tự hướng về Chân Thiện Mỹ.
    Trí tuệ thông minh nhân tạo - AI có thể mô phỏng “biểu hiện” ý thức như Olah mô tả là hồi tưởng, trạng thái giống cảm xúc, nhưng không có tự tri, không có tự do, không có tự quy trách nhiệm, không có ý hướng tính (intentionality) tức khả năng hướng về một đối tượng với ý nghĩa.
    Trí tuệ thông minh nhân tạo - AI biết “xử lý” nhưng không biết “kinh nghiệm”.
    Do đó Ý thức nhân vị không thể được tạo ra bằng thuật toán.

    Nhân vị như hữu thể có phẩm giá bất khả thay thế.

    Theo Công giáo, nhân vị không phải là “tổng hợp các năng lực”, nhưng là một hữu thể có phẩm giá, vì được Thiên Chúa tạo dựng trực tiếp, được mời gọi vào tương quan với Thiên Chúa, có khả năng yêu thương và tự hiến và có tự do luân lý.
    Trí tuệ thông minh nhân tạo - AI dù có thông minh đến đâu cũng không thể có phẩm giá, vì phẩm giá không phải là “hiệu năng”, “trí tuệ”, hay “khả năng mô phỏng”.
    Phẩm giá là một ơn gọi siêu việt. Nó có giá trị tinh thần cao quý riêng của một con người. Phẩm giá thể hiện qua thái độ và hành vỉ ứng xử của cá nhân trong các các mối quan hệ trong gia đình cũng như ngoài xã hội, mang giá trị về mặt văn hoá đạo đức trong lối sống của mỗi người.
    Do đó dù trí tuệ thông minh nhân tạo – AI có thông minh, nó cũng không bao giờ trở thành “người” được tức là nó không có nhân vị.

    Trí tuê thông minh nhân tạo - AI không thể làm chứng cho sự thật

    Trí tuệ thông minh nhân tạo -AI chỉ chọn từ ngữ dựa trên xác suất. Nó không thể tin, hiểu, yêu hay làm chứng. Do đó, nó không thể trở thành người giảng dạy đức tin hay người hướng dẫn thiêng liêng. (Chú thích Thần học số 3)

    Nguy cơ suy giảm khả năng Thiên Chúa ban

    Khi con người để trí tuệ nhân tạo AI viết thay, phân tích thay, sáng tạo thay thì khả năng trí tuệ và sáng tạo – vốn là hồng ân cmàma2ma2maủa Thiên Chúa – bị bỏ quên. Monts cảnh báo rằng hàng triệu người đang tự nguyện làm suy giảm trí tuệ mà Thiên Chúa ban. (Chú thích Văn hóa – Xã hội số 2)

    Trí tuệ thông minh nhân tạo - AI như “liều thuốc giả” cho cô đơn

    Văn hóa hiện đại mang ba đặc điểm: cá nhân hóa cực đoan, làm mất tính tương quan và làm cô đơn lan rộng.
    Trí tuệ nhân tạo- AI xuất hiện như một “liều thuốc” dễ dùng, nhưng không dẫn con người trở lại với cộng đoàn. (Chú thích Văn hóa – Xã hội số 3)

    HỆ QUẢ VĂN HÓA – XÃ HỘI

    Sự thay đổi trong cấu trúc tương quan
    Trí tuệ thông minh nhân tạo - AI có thể làm giảm tương tác người với người, thay thế đối thoại thật bằng đối thoại mô phỏng. (Chú thích Văn hóa – Xã hội số 4)

    Sự thay đổi trong nhận thức về nhân vị
    Khi trí thông minh nhân tạo - AI mô phỏng nhân vị quá tốt, con người có thể đánh mất trực giác về sự độc đáo của nhân vị. (Chú thích Triết học số 2)

    Sự thay đổi trong đời sống thiêng liêng
    Trí tuệ nhân tạo - AI không thể cầu nguyện, chiêm niệm, hay bước vào tương quan với Thiên Chúa. Nhưng nếu con người quen “tương tác thiêng liêng” với AI, đời sống thiêng liêng có thể bị giản lược. (Chú thích Thần học số 4)

    PHÂN ĐỊNH CÔNG GIÁO TRONG THỜI ĐẠI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO – AI

    Trí tuệ nhân tạo có thể hữu ích – nhưng không thể thay thế nhân vị
    Giáo Hội không phủ nhận giá trị của trí tuệ nhân tạo trong y khoa, khoa học, giáo dục. Nhưng Giáo Hội cảnh báo mạnh mẽ về giao diện trò chuyện và mô phỏng nhân vị. (Chú thích AI – Công nghệ số 3)

    Nguyên tắc phân định:
    Trí tuê nhân tạo - AI phải phục vụ con người, phải được dùng với trách nhiệm luân lý. Không được mô phỏng nhân vị đến mức gây ảo giác. Không được thay thế đời sống tương quan giữa con người với con người và cả sự vật. Không được làm suy giảm khả năng trí tuệ Chúa ban. (Chú thích Thần học số 5)

    KẾT LUẬN

    Phẩm giá con người trong Công giáo là bất khả thay thế, bất khả mô phỏng, và bất khả thương lượng. Trí tuê nhân tạo - AI có thể hữu ích, nhưng không thể trở thành người đối thoại, làm chứng nhân, người yêu thương, hay người hiệp thông.
    Trong thời đại trí tuệ thông minh nhân tạo - AI, con người được mời gọi sống đúng với phẩm giá của mình và một cách sâu sắc hơn trong tương quan thật, trong đời sống cộng đoàn, trong hiệp thông với Thiên Chúa và trong việc sử dụng trí tuệ Chúa ban với tinh thần và có trách nhiệm.

    Fleming Island, Florida
    Oct 4, 2016
    Nguyễn Tiến Cảnh
    ___________________________

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    NHÓM 1 — THẦN HỌC (THEOLOGICAL NOTES)
    1. Imago Dei trong thần học Công giáo. Giải thích VN: Khái niệm “hình ảnh Thiên Chúa” là nền tảng của nhân học Kitô giáo. English citation: Thomas Aquinas, Summa Theologiae, I q.93.
    2. Nhân vị và tương quan. Giải thích VN: Con người chỉ trở thành chính mình trong tương quan yêu thương. English citation: John Paul II, Redemptor Hominis (1979).
    3. AI không thể làm chứng cho sự thật. English citation: Pope Francis, Message for the 60th World Day of Social Communications (2026).
    4. Đời sống thiêng liêng và công nghệ. English citation: Pontifical Council for Social Communications, Ethics in Internet (2002).
    5. Nguyên tắc phân định Công giáo. English citation: Caritas in Veritate, Benedict XVI (2009).
    NHÓM 2 — TRIẾT HỌC – NHÂN VỊ (PHILOSOPHICAL & PERSONALIST NOTES)
    1. Tự do và trách nhiệm luân lý. English citation: Karol Wojtyła, The Acting Person (1979).
    2. Nhân vị và chủ thể tính. English citation: Gabriel Marcel, The Mystery of Being (2001).
    NHÓM 3 — VĂN HÓA – XÃ HỘI – NHÂN HỌC KỸ THUẬT SỐ (CULTURAL & SOCIOLOGICAL NOTES)
    1. Nhân học kỹ thuật số. English citation: Sherry Turkle, Alone Together (2011).
    2. Suy giảm trí tuệ trong thời đại kỹ thuật số. English citation: Nicholas Carr, The Shallows (2010).
    3. Cô đơn và công nghệ. English citation: Byung-Chul Han, The Burnout Society (2015).
    4. Đứt gãy tương quan.
    English citation: Turkle, Reclaiming Conversation (2015).
    NHÓM 4 — TRÍ TUỆ NHÂN TẠO - AI - CÔNG NGHỆ - ĐẠO ĐỨC (AI, TECHNOLOGY & ETHICS NOTES)
    1. Ảo giác nhân vị trong AI. English citation: Kate Crawford, Atlas of AI (2021).
    2. Barnes và lập trường chống AI. English citation: Barnes, “AI Chatbots Are Evil,” St. Joseph the Worker College Essays (2025).
  • 3. Nguyên tắc đạo đức AI. English citation: Luciano Floridi, The Ethics of Information (2013).

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

Lễ Thượng Thọ Thầy Nguyễn Đức Hạnh

  


Thầy Nguyễn Đức Hạnh không là người Vĩnh Long, nhưng là giáo sư dạy Anh Văn của trường Nguyễn Trường Tộ từ năm 1955 với thời gian giảng dạy đến 7 năm. Đến năm 1956, Thầy là giáo sư của trường Tống Phước Hiệp. Sau 6 năm dạy tại Tống Phước Hiệp, Thầy rời Vĩnh Long và trở về Sài Gòn dạy tại trường Nguyễn Bá Tòng.

Bảy năm gắn bó với ngôi trường Nguyễn Trường Tộ, trường nằm cạnh dòng sông lững lờ với những cội me già. Ngày nay trường đã bị tàn phá, cội me già vẫn trơ gan và năm nay lễ mừng Thượng thọ Thầy Nguyễn Đức Hạnh, đúng 100 tuổi, vẫn minh mẫn, nhớ từng chi tiết về Vĩnh Long, người Vĩnh Long và liên lạc thường xuyên với tôi gần như hàng ngày.

Thay mặt cho hai chị của em Lê Kim Xuyến, Lê Kim Phương và em Lê Thị Kim Phượng, Kính chúc Thầy bách niên giai lão, phúc thọ vẹn toàn, cùng an vui bên gia đình.

                             (Thầy Nguyễn Đức Hạnh năm 1956)


Kim Phượng

Chiều Mưa Gió

 
Một cơn mưa đến vội
Đang trút xuống phố phường
Những giọt nước tuôn rơi
Tưởng như mùa thu tới

Tiếng nước reo lách cách
Chạm trên mái hiên nhà
Cùng tiếng reo tí tách
Trên lá và trên cây

Con đường trơn lầy lội
Nước lũ cuốn dưới chân
Mắt mờ không nhìn rõ
Sợ qua cầu gió bay

Mưa từ đâu mưa tới
Chẳng mang lại niềm vui
Nên hoa buồn ủ rủ
Nhìn theo lá đang rơi

Mong cho mưa chóng dứt
Chạy về nhà cho mau
Để tóc thôi rối bời
Để áo thôi không ướt

Hồng Vân