Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

Lễ Thượng Thọ Thầy Nguyễn Đức Hạnh

  


Thầy Nguyễn Đức Hạnh không là người Vĩnh Long, nhưng là giáo sư dạy Anh Văn của trường Nguyễn Trường Tộ từ năm 1955 với thời gian giảng dạy đến 7 năm. Đến năm 1956, Thầy là giáo sư của trường Tống Phước Hiệp. Sau 6 năm dạy tại Tống Phước Hiệp, Thầy rời Vĩnh Long và trở về Sài Gòn dạy tại trường Nguyễn Bá Tòng.

Bảy năm gắn bó với ngôi trường Nguyễn Trường Tộ, trường nằm cạnh dòng sông lững lờ với những cội me già. Ngày nay trường đã bị tàn phá, cội me già vẫn trơ gan và năm nay lễ mừng Thượng thọ Thầy Nguyễn Đức Hạnh, đúng 100 tuổi, vẫn minh mẫn, nhớ từng chi tiết về Vĩnh Long, người Vĩnh Long và liên lạc thường xuyên với tôi gần như hàng ngày.

Thay mặt cho hai chị của em Lê Kim Xuyến, Lê Kim Phương và em Lê Thị Kim Phượng, Kính chúc Thầy bách niên giai lão, phúc thọ vẹn toàn, cùng an vui bên gia đình.

                             (Thầy Nguyễn Đức Hạnh năm 1956)


Kim Phượng

Chiều Mưa Gió

 
Một cơn mưa đến vội
Đang trút xuống phố phường
Những giọt nước tuôn rơi
Tưởng như mùa thu tới

Tiếng nước reo lách cách
Chạm trên mái hiên nhà
Cùng tiếng reo tí tách
Trên lá và trên cây

Con đường trơn lầy lội
Nước lũ cuốn dưới chân
Mắt mờ không nhìn rõ
Sợ qua cầu gió bay

Mưa từ đâu mưa tới
Chẳng mang lại niềm vui
Nên hoa buồn ủ rủ
Nhìn theo lá đang rơi

Mong cho mưa chóng dứt
Chạy về nhà cho mau
Để tóc thôi rối bời
Để áo thôi không ướt

Hồng Vân

Say

 

Mưa gió thôi đừng đến nơi đây
Rượu nào cho đủ nghĩa đắng cay
Ai mê ai tỉnh sầu nhân thế
Mây trắng mây xanh cũng đọa đày

Người đẹp nghìn xưa nhẹ bước về
Kinh thi tình sử vẫn đam mê
Mộng đầu mộng cuối đêm hoang lạnh
Chân thấp chân cao kiếp não nề

Có phải ban ngày hay ban đêm
Biết ai người lạ ai người quen
Áo bay hay lá bay thu muộn
Một chút trăng xưa rụng trước thềm

Tri kỷ tri âm đã mất rồi
Còn đây ly rượu đắng chia phôi
Chim trời cá nước đêm mờ mịt
Giọng nói giọng cười đã xa xôi

Tiếng hát liêu trai thuở học trò
Chỉ còn phố nhỏ nhớ mưa to
Đêm nay ai nhớ nơi hò hẹn
Hồn gửi gió mây bến nhớ đò

Tuồng hát cũ rồi nhưng vẫn hay
Tay buồn tay nhớ thương bàn tay
Mỗi chiều chờ đợi mà không gặp
Áo trắng bay đầy trong mắt cay

Vì nghèo nên vẫn thích mộng mơ
Tỉnh quá nên hay muốn giả vờ
Say rượu để quên đời đen bạc
Nhưng không quên được nỗi bơ vơ

Giông bão tràn ly tay rụng rời
Mây bay gió cuốn lá hoa trôi
Nghìn trùng sóng biển xa mờ mịt
Mấy kiếp rong rêu một cảnh đời

Đã muộn quá rồi nẻo phù sinh
Thuyền sầu tan rã lối vô tình
Ai say ai tỉnh ai thương tiếc
Một cánh chim bay mỏi mắt nhìn

Rượu đã hết rồi ly vỡ tan
Người điên gào thét vỡ cung đàn
Đêm nào đom đóm bay đầy ngõ
Trời đất quay cuồng tiếng khóc than

Người xưa say chết ôm vầng trăng
Hồn có theo tiên đến cung hằng
Hay vẫn bơ vơ sầu vạn cổ
Nghìn sau hương rượu có còn chăng

Người bỏ ta rồi ta cần say
Bao nhiêu rượu quý dành cho ai
Tiễn đưa là chết mà không biết
Lá rụng bơ vơ lạnh dấu giày

Áo hồng áo tím áo thiên thanh
Còn áo trắng sao chẳng để dành
Cố ngược thời gian vào lớp cũ
Trường xưa ngơ ngác dấu rêu xanh

Giông bão nghìn xưa chuyển lạnh về
Đường làng nước ngập bước chân quê
Bờ tre già cháy khô cành lá
Cánh én bơ vơ lỗi hẹn thề

Người đã đi rồi tim nát tan
Mà lòng vẫn lạnh mắt hoang mang
Muốn say mà vẫn không say được
Sao rụng sương sa lệ bỗng tràn

Đốm lửa đêm đông le loi chi
Đau lòng thì cũng phải biệt ly
Trần gian có lối nào còn sáng
Thôi để dành cho kẻ khác đi

Trăng sao hò hẹn chỉ dở dang
Ai đi tìm mãi một cung đàn
Dây đã đứt rồi đàn đã vỡ
Từ ngày lưu lạc kiếp lang thang

Chữ nghĩa cạn rồi thơ hết rồi
Nghìn sau ngơ ngác lá hoa trôi
Ngọn nguồn vô tận lòng vô tận
Thân xác còn đâu để tiếc đời

Bỏ rượu bỏ thơ bỏ cuộc đời
Mặc ai thương tiếc mặc ai cười
Con đường thiên cổ mây theo gió
Chỉ thấy hoang vu chẳng thấy người…

MD 03/06/02
LuânTâm
(Trích trong Tuyển Tập Thơ Quốc Gia Hành Chánh, Cơ Sở Hoài Bão Quê Hương xb ,CA , USA . 2005, trang 135-138)


Những Thất Bại Của Quân Mông Cổ

 
 
Bây giờ bàn đến những thất bại quân sự của đoàn Quân Mông Cổ

Đoàn quân có tiếng là bách chiến bách thắng của quân Mông cổ, thực ra không phải là không có thất bại .. Thất bại ở đây là không là những trận lẻ tẻ, mà là những trận tầm vóc to lớn, hao binh tổn tướng không phải hàng ngàn mà là hàng chục ngàn chiến binh. Là những chiến dịch qui mô thay đổi cả những dự tính tương lai của Đế quốc. Những Thất Bại này có tầm vóc trọng đại vì đã chặn đứng tham vọng bành trướng đế quốc Mông cổ. Khi đề cập chiến trận này, ta cũng nên biết dấu móc thời gian nào cho những lần thất bại.

Ta theo thứ tự triều đại Mông cổ:

Đại Hãn 1: Thiết mộc Chân trở thành Thành Các Tư Hãn ( lúc này Quách Tỉnh còn Bé, đang luyện cung tên với sư phụ Triết Biệt, và Giang Nam Thất Quái. Cũng có thể khi Thành Cát tư Hãn dẫn quân chinh phục các xứ Viễn Tây, lúc đó Quách Tỉnh theo chân 7 sư phụ quay về Trung Thổ và đã gặp Hoàng Dung)

Đại Hãn 2: Oa khát Đài

Đại Hãn 3: Quý Đô - mất sớm
Đại Hãn 4: Mông Kha ( có lẻ lúc này Quách Tỉnh Tử thủ Thành Tương Dương. Nhà Tống chưa diệt vong. Đã có Thần Điêu Đại Hiệp Dương Quá) và vị Đại Hãn này mượn đường phía Nam đanh vào Nam Tống.Đó là lý do Mông cổ đánh vào Đại Việt lần 1
Đại Hãn 5: Hốt Tất Liệt hay Nguyên ThếTổ ( Hoàng Đế Nhà Nguyên)..Thống nhất Trung Hoa, Hốt Tất Liệt bắt đầu tung quân chinh phục các nước lân cận.Sự xăm lăng Đại Việt xẩy ra vào thời kỳ này.

Mặc dù sở hữu sức mạnh quân sự bách chiến bách thắng và từng tạo nên một đế chế rộng lớn nhất lịch sử, quân đội Mông Cổ vẫn trải qua những thảm hại do địa hình không phù hợp, khí hậu khắc nghiệt hoặc chiến thuật xuất sắc chống trả của đối thủ.

1. Trận chiến Ain Jalut (1260) Chạm trán với quân đội Ai Cập

Trận Ain Jalut diễn ra vào ngày 3 tháng 9 năm 1260 tại thung lũng Jezreel (nay thuộc Israel/Syria). Đây là trận chiến lịch sử khi quân đội Ai Cập thuộc triều đại Mamluk, do Sultan Qutuz và tướng Baybars chỉ huy, đã đánh bại hoàn toàn đạo quân Mông Cổ. Thất bại này đã chặn đứng bước tiến của người Mông Cổ tại Trung Đông.


Bối cảnh lịch sử

- Quân Mông Cổ dưới sự lãnh đạo của Hãn Hốt liệt Ngột (Hulagu Khan) đã tàn phá Baghdad năm 1258 và chiếm Damascus.
- Sau khi Hốt liệt Ngột rút phần lớn lực lượng về phía đông, tướng Mông Cổ lúc đó là Khiếp Đích Bất Hoa (Kitbuqa) tiếp tục dẫn khoảng 20.000 quân tiến đánh Ai Cập.
- Triều đại Mamluk tại Ai Cập quyết định đem quân vượt biên giới để đối đầu trực diện với mối đe dọa này.
- Diễn biến chính
- Dụ địch mai phục: Tướng Baybars dùng chiến thuật nhử mồi, đưa một phần quân Mamluk ra khiêu chiến rồi vờ rút lui để lừa quân Mông Cổ vào sâu trong khu vực đồi núi
- Phản công bao vây: Khi quân Mông Cổ tiến lên cao và rơi vào bẫy, toàn bộ chủ lực quân Ai Cập bất ngờ xuất hiện từ các sườn đồi để bao vây và tấn công dữ dội
- Kết cục: Quân Mông Cổ chiến đấu rất gan góc nhưng bị áp đảo hoàn toàn. Chỉ huy Kitbuqa cùng phần lớn quân Mông Cổ tại trận địa đã tử trận.

Tóm tắt: Tướng Mamluk (Baibars) áp dụng chính chiến thuật giả vờ rút lui của Mông Cổ để dụ họ vào bẫy phục kích; đồng thời lực lượng Mông Cổ bị suy giảm do phần lớn quân chủ lực phải rút về phía Đông sau cái chết của Mông Kha Hãn.

- Ý nghĩa lịch sử

Bối cảnh & Kết quả: Quân Mông Cổ chạm trán với lực lượng Mamluk (Ai Cập) tại Palestine. Đây là lần đầu tiên quân Mông Cổ bị đánh bại toàn diện trong một trận chiến mở trên bộ và không thể khôi phục lại thế tiến công

Từ đó Đại Quân Mông Cổ không dám đương đầu với quân Ai cập nữa.
Hệ quả : là Quân Ai Cập đã bảo vệ Trung Tâm Thế giới Hồi giáo khỏi sự tàn phá hoàn toàn và củng cố vững chắc quyền lực của vương triều Mamluk tại Ai Cập và là một điểm son là đã:

Chấm dứt huyền thoại về sự bất bại trên chiến trường của đế quốc Mông Cổ ở phương Tây.

2. Chiến tranh Mông – Nguyên với Việt Nam (Đại Việt & Champa)


Chiến dịch tại Việt Nam gồm 3 lần tấn công Đại Việt:

1. Lần 1 (1257 – 1258):

Đại Hãn chủ trương xâm lăng: Mông Kha (Möngke Khan).
Western Xia: Tây Hạ, Dali: Đại Lý. Song Empire: Nam Tống Jarchen Jia : Nữ chân

Chi tiết: Mông Kha giao nhiệm vụ cho em trai là Hốt Tất Liệt (Kublai Khan) cùng tướng Ngột Lương Hợp Đài (Uriyangkhadai) dẫn quân chinh phục vương quốc Đại Lý (nay thuộc vùng Vân Nam, Trung Quốc) Tiêu diệt nước này trong một thời gian thật ngắn , tiến đánh Đại Việt nhằm tạo thế gọng kìm vây đánh nhà Nam Tống từ phía Nam.

Ngột Lương Hợp Đài làm chủ tướng đem quân đánh Đại Việt nhằm mở đường ép Nam Tống từ phía Nam.
Sau khi quân ta bắn mù mắt sư giả Sài Thung. Đại Hãn Mông Kha nổi giận, xua quân đánh Đại Việt sau khi chiếm đóng và làm cỏ nước Đại Lý (Dali) vùng Vân Nam ( lúc này chắc Đoàn Dự dùng Lăng Ba Di Bộ chạy trốn rồi)
Kết quả: Quân Trần đánh bại quân Mông Cổ tại trận Đông Bộ Đầu (1258)

Vua Việt Nam: Trận kháng Mông lần này được chỉ huy bởi Thái sư Trần Thủ Độ dưới quyền Vua Trần thái Tông.

Chiến tranh Mông-Đại Việt lần đầu 1257-1258
 
Bản đồ mô tả cuộc kháng chiến lần thứ 1 chống quân Nguyên

Khái quát

- Năm 1226, dưới sự sắp đặt của Trần Thủ Độ, nữ hoàng nhà Lý là Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, tức là vua Trần Thái Tông. Nhà Trần chính thức thay nhà Lý.

- Sau khi chính thức nắm quyền cai trị, nhà Trần ra sức củng cố nội chính và chấm dứt một số di sản của nhà Lý.

- Trong khi đó tình hình chiến sự và chính trị ở phương Bắc càng trở nên rối ren, Trung Quốc từ lâu đã bị chia cắt. Nhà Tống phải rút xuống phía nam trước sự xâm lấn của nước Kim thuộc tộc người Nữ Chân. Phía tây bị nước Tây Hạ chia cắt.

- Tới đầu thế kỷ 13, người Mông Cổ ở phía bắc nước Kim thống nhất dưới quyền Thành Cát Tư Hãn, trở nên lớn mạnh. Mông Cổ đánh xuống phía nam, tiêu diệt Tây Hạ (1227) và Kim (1234). Mặc dù đã mở rộng bờ cõi bao la sang phía tây, diệt nhiều nước Tây Á và đánh sang châu Âu, người Mông Cổ tiếp tục tiến xuống phía nam để tiêu diệt nhà Nam Tống.

- Năm 1254, quân Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lý (Vân Nam ngày nay), lâm le tiến đánh chiếm Đại Việt để tạo thế "gọng kìm" bao vây Nam Tống. Các đoàn ngoại giao của Mông Cổ được phái sang Đại Việt đề nghị mở đường cho quân đội Mông Cổ đi qua để lên đất Tống. Nhưng các vua Trần không những từ chối mà lại còn cho bắt giam các nhà ngoại giao Mông Cổ. Sứ giả Sài Thung bị bắn mù mắt. Đại Hãn Mông Kha nổi giận và chiến tranh bùng nổ vào năm 1258 khi Uriyangqatai cùng con trai là Aju đem 3 vạn quân Mông Cổ và 1,5 vạn quân Đại Lý tấn công Việt Nam. Quân Mông Cổ mau chóng giành được thắng lợi, chiếm được kinh đô Thăng Long, nhưng rồi cũng bị quân Đại Việt đánh bật.

Cuộc chiến năm 1258 chỉ diễn ra trong vòng khoảng nửa tháng, cuối tháng 1 năm 1258.

- Công lớn lần này là Thái Sư Trần Thủ Độ, vua Trần Thái Tông quyết chiến để giữ nguyên bờ cỏi . Nếu trận chiến kháng Mông lần 1 này thất bại, Việt Nam bị đô hộ, chưa chắc có lần 2 : Trần nhân Tông , Trần Hưng Đạo và vua tôi nhà Trần kháng Nguyên vẻ vang như trong sử sách ghi chép mà chúng ta ai ai cũng thuộc lòng và hảnh diện. Việc sách sử Việt Nam phớt lờ công trạng của Thái Sư Trần Thủ Độ trong cuộc chống Nguyên giữ Việt Nam khỏi rơi vào tay Mông Cổ và tránh khỏi bị xóa tan không còn đấu vết như nước Đại Lý của họ Đoàn.... quả là một điều bất công. Anh chị nghĩ sao?

Lần 2 (1284 – 1285):


Đại Hãn chủ trương cuộc xâm lăng: Hốt Tất Liệt (Kublai Khan / Nguyên Thế Tổ).

Hai mươi năm sau, không cần đi đường qua Đại Việt, Mông Cổ đánh bại và thôn tính toàn nước Tống. Đế quốc Nguyên được thành lập trên lãnh thổ Mông Cổ và Trung Quốc. Đế quốc này tìm cách mở rộng lãnh thổ của mình ra phía Đông tới Nhật Bản, và xuống phía Nam. Để thực hiện ý đồ tiến xuống phía Nam, nhà Nguyên đã tiến hành chiến tranh với ChiêmThành và Myanma trước. Nhưng quân và dân Chiêm Thành đã kháng chiến thắng lợi, khiến cho quân Nguyên không thực hiện được ý đồ lấy Chiêm Thành làm bàn đạp. Ở Myanma năm 1277, quân Mông Cổ cũng chịu những thiệt hại quân sự và phải rút lui. Đại Việt trở thành nơi phải bị khuất phục Đế quân Mông Cổ có thể tiếp tục chiến lược hướng Nam. Dưới chiêu bài đề nghị nhà Trần mở đường cho đại quân Nguyên đi qua chinh phạt Chiêm Thành, quân Nguyên tìm cách tấn công Đại Việt lần thứ 2.

Chi tiết: Thoát Hoan làm tổng chỉ huy tiến đánh Đại Việt, kết hợp với Toa Đô đánh từ Champa ra. Quân dân nhà Trần dưới sự chỉ huy của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn thực hiện "vườn không nhà trống" và đánh tan quân Nguyên


Triều Vua Việt Nam kháng Nguyên : vua Trần lúc này là Trần Nhân Tông và Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông. Trần Hưng Đạo là thống soái.

Bản đồ mô tả cuộc kháng chiến lần thứ 2 chống quân Nguyên
Khái quát

- 27 năm sau, Hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt ra lệnh xâm lăng nước Đại Việt. Cuộc chiến lần này kéo dài khoảng 4 tháng từ cuối tháng Chạp năm Giáp Thân đến cuối tháng Tư năm Ất Dậu (cuối tháng 1 đến cuối tháng 5 năm 1285 dương lịch).

- Lần này, quân Nguyên chuẩn bị chiến tranh tốt hơn, huy động lực lượng lớn hơn. Ngoài lục quân từ phía Bắc tiến xuống, còn có thủy quân từ mặt trận Chiêm Thành ở phía Nam chuyển sang.

· Cũng tương tự như lần thứ nhất, quân Nguyên mau chóng giành thắng lợi. Quân Đại Việt liên tục bị đánh bại ở các mặt trận Lạng Sơn, Sơn Động, Vạn Kiếp, Thu Vật (Yên Bình), sông Đuống. Từ phía Bắc, chỉ khoảng 20 ngày sau khi vượt qua biên giới, quân Nguyên đã chiếm được thành Thăng Long. Triều đình nhà Trần rút lui theo sông Hồng về Thiên Trường (Nam Định) và Trường Yên (Ninh Bình), chịu sự truy kích ráo riết của quân Nguyên. Mọi nỗ lực phản kích của các vua Trần dọc theo sông Hồng đều bị quân Nguyên đánh bại. Từ phía Nam,Toa Đô( Sogetu) dẫn quân từ Chiêm Thành tiến lên hướng Bắc, dễ dàng đánh tan quân Đại Việt tại vùng Nghệ An-Thanh Hóa. Bị ép cả trước lẫn sau, các vua Trần phải rút ra biển lên vùng Quảng Ninh, đợi đến khi cánh quân Nguyên phía Nam do Toa Đô đi qua Thanh Hóa mới lui về Thanh Hóa.

- Cũng giống như lần trước, quân Nguyên lại gặp khó khăn về lương thực. Nhà Trần thực hiện tiêu thổ kháng chiến khiến quân Nguyên không thể lấy được lương thực từ dân bản địa. Trong khi đó, quân Đại Việt đã nhanh chóng chấn chỉnh đội ngủ và chờ đợi đối phương mệt mỏi, suy giảm nhuệ khí. Khoảng gần 2 tháng sau khi rút về Thanh Hóa, Đại Việt phản công. Dọc theo sông Hồng, quân Đại Việt lần lượt giành thắng lợi tại cửa Hàm Tử (nay ở Khoái Châu, Hưng Yên), bến Chương Dương (nay ở Thượng Phúc, thuộc Thường Tín, Hà Nội), giải phóng Thăng Long.

- Cánh quân phía Bắc của quân Nguyên trên đường rút chạy đã bị tập kích tại sông Cầu, tại Vạn Kiếp, Vĩnh Bình. Cánh quân rút về Vân Nam bị tập kích tại Phù Ninh. Cánh quân phía Nam bị tiêu diệt hoàn toàn tại Tây Kết (Khái Châu)

Lần 3 (1287 – 1288):

Đại Hãn chủ trương: Hốt Tất Liệt (Kublai Khan / Nguyên Thế Tổ).

Chi tiết: Hốt Tất Liệt quyết tâm phục thù nhưng lại thất bại hoàn toàn sau chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng (1288) của quân dân nhà Trần.
Triều vua Việt Nam : và cũng được sự chỉ huy của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn dưới triều Trần Nhân Tông và Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông

Bản đồ mô tả cuộc kháng chiến lần thứ 3 chống quân Nguyên

- Ngay sau khi bại trận về nước năm 1285, quân Nguyên chỉnh đốn quân ngủ, bổ sung lực lượng, đóng tàu chiến, huy động lương thực để trở lại đánh Đại Việt lần thứ ba. Cuộc chiến lần này kéo dài khoảng gần 4 tháng, từ cuối tháng 12 năm 1287 đến cuối tháng 4 năm 1288. Quân Nguyên chia làm 3 cánh vào Đại Việt từ Vân Nam, từ Quảng Tây và từ Quảng Đông (theo đường biển) vào Đại Việt.

- Giống như 2 lần trước, quân Nguyên mau chóng đánh tan quân Đại Việt cả trên bộ lẫn trên biển, nhưng lại chịu một tổn thất quan trọng, đó là lương thực chuyên chở bằng tàu biển bị mất hết vì bị các đơn vị của Trần Khánh Dư tấn công ở Vân Đồn, vì bão biển, vì đi lạc. Quân Nguyên tập trung ở Vạn Kiếp và đánh rộng ra xung quanh, chiếm được Thăng Long, nhưng lại bị đói giống như hai lần trước.

- Khác với 2 lần trước, lần này quân Đại Việt không huy động lực lượng lớn chặn đánh quân Nguyên từ đầu, mà chỉ đánh có tính kìm chân. Bộ chỉ huy và phần lớn lực lượng Đại Việt rút về vùng Đồ Sơn, Hải Phòng, từ đó tổ chức các cuộc tấn công vào căn cứ Vạn Kiếp và đánh thủy quân Nguyên.

- Vì đói và có nguy cơ bị đối phương chia cắt, quân Nguyên bỏ Thăng Long rút về Vạn Kiếp, rồi chủ động rút lui dù quân Đại Việt chưa phản công lớn. Cánh thủy quân của Nguyên đã bị tiêu diệt hoàn toàn tại sông Bạch Đằng khi định rút ra biển. Các cánh lục quân Nguyên khi đi qua Bắc Giang và Lạng Sơn đã bị quân Đại Việt tấn công dữ dội.

Chấm dứt chiến tranhSau thất bại lần thứ ba năm 1288 ở Đại Việt, Nguyên Thế Tổ - Hốt Tất Liệt vẫn chưa muốn đình chiến. Sang các năm sau, vua Nguyên tiếp tục muốn điều binh sang nhưng chưa gặp thời cơ thuận tiện. Có năm sắp tiến quân thì chánh tướng chết nên hoãn binh, năm sau định đánh thì phó tướng lại chết nên lại đình chỉ việc tiến quân. Tới năm 1294 lại mới thôi ý định đánh Đại Việt.

Lý do Mông Cổ Ba lần tiến quân xuống phía Nam đều thất bại hoàn toàn trước nhà Trần.

Nhà Trần quyết tâm kháng Mông triệt để
Khối đại đoàn kết "Quân dân một lòng": Nhà Trần xây dựng được tinh thần đồng lòng từ trên xuống dưới.
Ý chí vương thất và tướng lĩnh thể hiện rõ qua Hội nghị Bình Than.
Ý chí của toàn thể nhân dân thể hiện qua Hội nghị Diên Hồng với tiếng hô đồng thanh "Đánh!".
Chiến thuật "Tiêu Thổ Kháng Mông", dùng địa hình Sông rạch chằng chịt chủ động rút lui tiêu hao lực lượng địch, địa hình đầm lầy sông rạch đánh ngược lại làm địch quân không thể dùng thế mạnh kỵ binh. Nổi tiếng là trận chiến ở Bến Chương Dương, cửa Hàm Tử, Vạn Kiếp và trận thủy chiến chiến lược trên sông Bạch Đằng năm 1288.

Bản lĩnh và quyết tâm của bộ chỉ huy tối cao:

Thái sư Trần Thủ Độ khẳng định ở lần 1: "Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin Bệ hạ đừng lo".
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn khẳng định ở lần 2: "Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu tôi trước đã".
Tuyên ngôn Hịch tướng sĩ thổi bùng khí thế dũng cảm, coi việc giữ nước là nghĩa vụ thiêng liêng.

Còn một nguyên nhân nữa phải kể tới trong thành công của nhà Trần là đội ngũ tướng lãnh rất xuất sắc, nòng cốt lại chính là các tướng trong hoàng tộc nhà Trần. Dù xuất thân quyền quý nhưng các hoàng tử, thân tộc nhà Trần, ngoài lòng yêu nước - và bảo vệ quyền lợi dòng tộc - số lớn là những người có thực tài cả văn lẫn võ. Thật hiếm có dòng họ cai trị nào có nhiều nhân tài nổi bật và nhiều chiến công như nhà Trần, đặc biệt là thế hệ thứ hai: Trần Quốc Tuấn, Trần Thánh Tông, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật đều là những tên tuổi lớn trong lịch sử Việt Nam. Đó là chưa kể tới Trần Thủ Độ, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản

3.Mông Cổ xâm lược Nhật Bản (1274, 1281)

- Bối cảnh & Kết quả: Hốt Tất Liệt hai lần cử hạm đội khổng lồ vượt biển tấn công Nhật Bản nhưng đều bị tiêu diệt.

- Nguyên nhân chính: Kỵ binh Mông Cổ không phát huy được thế mạnh trên biển; các chiến thuyền gặp phải những trận bão biển dữ dội (được người Nhật gọi là Kamikaze - Thần Phong) nhấn chìm phần lớn quân lương và lực lượng.

- Trận chiến này nói lên sự yếu kém thủy chiến của quân đội Mông Cổ mặc dù đã chuẩn bị kỷ lưỡng đối phó với sự chổng đở của các Samurai và 2 Cơn Bảo lớn Kamikaze

Hai lần Mông Cổ đánh Nhật Bản



· Lần thứ nhất (Năm 1274 - Trận Bun'ei):

- Hơn 30.000 đến 40.000 quân Mông Cổ, Trung Quốc và Triều Tiên tấn công các đảo Tsushima, Iki và tiến vào vịnh Hakata (đảo Kyūshū).

- Quân Mông Cổ dùng chiến thuật ném bom (hỏa khí), cung tên độc và đánh theo đội hình đông đảo.

- Các Samurai lúc đầu bỡ ngỡ với lối đánh tập thể của Mông Cổ.

- Một cơn bão lớn bất ngờ nổi lên vào ban đêm. Nó đã tàn phá phần lớn thuyền chiến của Mông Cổ, buộc họ phải rút lui.

· Lần thứ hai (Năm 1281 - Trận Kōan):

- Quân Nguyên - Mông huy động lực lượng lớn hơn nhiều, gồm khoảng 140.000 quân với hàng ngàn chiến thuyền chia làm hai đường tiến công.

- Quân Nhật dưới sự lãnh đạo của Hổ Tố Thì Tông (Hojo Tokimune) đã xây tường đá dọc bờ biển vịnh Hakata để ngăn địch đổ bộ.

- Hai bên giằng co suốt nhiều tuần trên biển và bờ biển.

- Vào tháng 8 năm 1281, một trận cuồng phong cực lớn (bão biển/thần phong) đã quét qua vùng biển Kyūshū, đánh đắm phần lớn hạm đội Mông Cổ.

- Nguyên nhân thất bại của quân Mông Cổ

- Bão biển (Kamikaze): Thiên nhiên bất lợi là đòn chí mạng phá hủy các hạm đội vượt biển của Mông Cổ cả hai lần.

- Sự kháng cự của Samurai: Người Nhật chiến đấu ngoan cường để bảo vệ đất nước.

- Khó khăn hậu phương: Vận chuyển lương thực, vũ khí qua đường biển dài ngày khiến quân Mông Cổ kiệt quệ và mất thế chủ động.

4. Các chiến dịch tại Java / In-đô-nê-xi-a (1293)

- Bối cảnh & Kết quả: Hốt Tất Liệt cử thủy quân phạt Java để trừng phạt vua Kertanegara.

- Nguyên nhân chính: Quân Mông Cổ không quen với khí hậu nhiệt đới oi bức và bệnh tật miền nhiệt đới, đồng thời bị Raden Wijaya (người sáng lập đế chế Majapahit) dùng mưu kế lừa gạt rồi bất ngờ phản công, buộc phải rút quân về nước.

5. Chiến dịch xâm lược Miến Điện (1277–1287) và Chăm Pa (1282–1285)

- Bối cảnh & Kết quả: Các cuộc tiến quân sa lầy và không thể thiết lập quyền kiểm soát lâu dài.

- Nguyên nhân chính: Khí hậu nóng ẩm, rừng rậm rậm rạp và sự kháng cự dẻo dai bằng chiến tranh du kích khiến kỵ binh Mông Cổ tổn thất nặng nề vì bệnh tật và thiếu lương thảo.

SORRY ANH CHỊ …VẪN CHƯA HẾT CÂU CHUYỆN về MÔNG CỔ … NÊN CHƯA CÓ ĐỌAN KẾT ĐƯỢC

XIN RÁNG theo dõi ...vài bài nữa

Lê minh Đức (YK6774) Sưu Tầm và Biên Soạn

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2026

Serenata ( Enrico Toselli) - Lời Việt: Bóng Chiều Tà( Nguyễn Hoàng Đô) - Trình Bày: Thái Hòa

Nhạc Ngoại Quốc: Enrico Toselli
Lời Việt: Nguyễn Hoàng Đô
Trình Bày: Thái Hòa

Mãi Gọi Tên...

  


Chẳng để ngày trôi vào lãng quên,
Hãy giữ tình ta mãi vững bền.
Gói chút hương nồng trong nếp áo,
Giữ lòng nguyên vẹn thuở kề bên.

Dẫu lối đường đời muôn ngả rẽ,
Mưa chiều giá lạnh bến hoàng hôn.
Người ơi nghe tiếng lòng tha thiết,
Nỗi nhớ âm thầm mãi gọi tên
.

Kim Oanh
9. 2026

Hương Trầm Mùa Thu

 

Em đứng bên mùa thu gợi nhớ 

Mảnh trăng thề anh hẹn khi xưa 

Em xót xa giữa lòng thu gọi 

Trăng mùa xưa hương sắc thu về 


Thu mắt biếc giọt sầu trên lá 

Hai hàng cây đợi bước chân ai

Giấc ngủ hoàng oanh còn mộng mị 

Sau hè mải tiếng hót họa mi 


Em đứng bên mùa thu gợi nhớ 

Tàng phong trở gió lá hao gầy 

Trang sách màu vàng ươm cúc nhỏ 

Khoảnh khắc nào anh gọi tên em 


Tiếng gió đi tìm qua khóm lá 

Hồn em thạch thảo vẫn quanh đây 

Có phải mình gặp nhau trên lối 

Để thu hoài cảm một vòng tay 


Mùa thu hoàng hạc bay đi mãi 

Cuối trời đôi cánh vàng chân mây 

Có bướm vàng mơ trên vai áo 

Bên ao ngày hẹn ước trăng sao.


Lê Mỹ Hoàn
8/4/2026


Ai Mang Muà Thu Về?

 

Ai đã mang muà Thu trở về?
Mùa Thu ở gần hay ở xa?
Mùa Thu này là mùa Thu cũ? 
Thu mới hôm nay hay hôm qua?

Có phải gió mang mùa Thu về?
Một chút lạnh trong giấc ngủ khuya,
Khi gió lang thang trên đường phố,
Ai kẻ tri âm để hẹn thề.

Những ngày nắng Hạ đã qua mau,
Người ta thay áo nhớ thương nhau,
Tình yêu theo mùa khoe hương sắc,
Áo của mùa Thu mới đẹp màu.

Có phải nắng mang mùa Thu về?
Áo em buồn trong nắng vàng hoe
Bao nhiêu màu sắc mùa Thu đẹp,
Chẳng đẹp bằng chút tình anh cho.

Chiếc lá rơi trên đường bơ vơ,
Chiếc lá se mình lúc giao mùa,
Khoảnh khắc này lòng em trống trải,
Em viết chưa xong một bài thơ.

Có phải lá mang mùa Thu về?
Lá đổi màu cho người ngẩn ngơ,
Hồn mùa Thu trong từng chiếc lá,
Em tìm hoài chiếc lá bay đi.

Hay anh đã mang muà Thu về?
Em thấy trời xanh mây trắng kia,
Anh xa xôi lắm trời mây ấy,
Qua cửa nhà em mây thiết tha.

Cám ơn nắng gió và lá rơi ,
Đã mang muà Thu về cho đời,
Cám ơn anh mùa Thu ảo mộng,
Bài thơ em đã viết xong rồi.

Nguyễn Thị Thanh Dương.
(Sept.13, 2026)


Uống Rượu Bên Bờ Cổ Chiên



Quán nhậu bên bờ sông Cổ Chiên
người đông rất lạ khách qua đường
năm mươi năm trải nhiều dâu bể
tiếng vọng đong từng thương nhớ thương

Gọi vội vài ly rượu nếp quen
men xưa vị thấm mấy hương kèm
bến cũ còn đây con nước chảy
đâu rồi môi mắt gửi mười phương

Ngày cũng xế tàn như rượu cạn
ráng chi thêm nữa chút ly cùng
uống khan để nhớ thời tao loạn
ta tiễn người mang dạ thủy chung...

Ngồi nhớ nụ hôn ngất ngưởng đời
chừng như còn đó vết son môi
hôm qua mắt nhắm bàn tay vội
chưa kịp trao người thương nhớ thôi

Quán đã thưa rồi cố nhân ơi!
Hẹn nhau ngày ấy chắc xa vời
gió quen hơi nước đêm còn lại
ly cũng thay người xin tiễn tôi...

Durham, North Carolina
Nguyễn Vĩnh Long


Cầm Bằng Theo Gió


Hảo dậy sớm hơn mọi ngày. Nàng thấy nóng ruột, dạ bồn chồn. Hôm nay có kết quả kỳ thi ra trường. Hoặc là nàng tốt nghiệp thành Dược sĩ, hoặc lại phải ở lại tụng bài, chờ khóa thi sau.
Mặc dù biết bài làm của mình cũng khá, phần thi vấn đáp cũng trả lời suôn sẻ, nhưng sao tim nàng vẫn hồi hộp, lo âu...

Sau khi chắc chắn nhìn thấy tên và số báo danh của mình trên bảng vàng, Hảo chuyện trò, chia vui với những người bạn vừa tốt nghiệp cùng khóa. Nàng khoan khoái cho chiếc Honda chạy từ từ trên con đường Cường Để ngập nắng, rồi hướng về Đinh Tiên Hoàng để về nhà báo tin vui.

Mặt ngẩng cao, hít đầy bầu không khí trong lành vào lồng ngực, lòng nàng lâng lâng sung sướng.
Một tiếng nói mơ hồ, nhẹ như gió thoảng bên tai:
— Hảo... Bích Hảo!
Hảo xoay người ngoái nhìn về phía sau. Một chiếc Honda nhẹ lướt lên ngang xe nàng. Một giọng nói trầm ấm cất lên:
— Xin lỗi... Phải Bích Hảo, con cô giáo Khanh không?
Hảo cho xe ghé sát lề đường gần trường Nông Lâm Súc. Nàng nhìn sững người thanh niên trước mặt.
— Huân! Phải Huân, con bác giáo Ngọc không? Trời ơi! Lâu lắm chúng mình không gặp nhau! Huân có thay đổi nhưng Hảo nhận ra ngay. Đi đâu đây?
— Huân vừa ghé thăm một thằng bạn ở Văn Khoa ra, nhìn thấy xe Hảo chạy ngang nên vội phóng theo liền. Đúng là lâu quá rồi, vậy mà mình cũng nhận ra Hảo ngay. Chúng mình ghé vào quán cà phê gần đây nói chuyện đi.
Hai người bước vào một quán cà phê nhỏ trên đường Đinh Tiên Hoàng, cùng nhau nhắc lại chuyện ngày xưa.

Ngày ấy, hai gia đình còn ở Hà Nội. Hai bà giáo còn rất trẻ, cùng dạy chung trường, cùng chia sẻ với nhau những vui buồn của nghề giáo. Dần dần, hai bà trở thành đôi bạn thân, chuyện trường lớp, chuyện gia đình, chuyện chồng con, chuyện vui buồn trong cuộc sống... chuyện gì cũng kể cho nhau nghe.

Hai gia đình cũng trở nên thân thiết theo. Con cái hai nhà lớn lên cùng nhau. Khi ấy, mỗi nhà mới có ba đứa trẻ, hằng ngày ríu rít chạy sang nhà nhau, sinh hoạt vui vẻ như anh chị em trong cùng một nhà. Cứ thế, một mối dây thân tình được tạo nên, tưởng rằng sẽ không bao giờ bị chia cắt.

Trong đám trẻ ấy có Huân, con trưởng của bà giáo Ngọc, và cô con gái lớn của bà giáo Khanh là Bích Hảo. Huân còn có một mối liên hệ đặc biệt nữa: Chàng là học trò cưng của bà giáo Khanh.

Rồi năm 1954 đến.
Đất nước chia đôi. Một dòng người di cư từ Bắc vào Nam. Hai gia đình cũng theo dòng người ấy vào Sài Gòn.
Từ đó, cuộc sống không còn giống trước. Hai bà giáo không còn cùng chung nhiệm sở. Hai gia đình cũng không còn ở gần nhau. Mỗi người có một công việc, một cuộc sống, một mái nhà riêng. Cha của Huân là một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cha của Bích Hảo làm nghề thầu, chuyên cung cấp đồ trang trí nội thất, bàn ghế, giường tủ.
Những mối liên lạc ngày trước dần thưa đi, rồi có lúc tưởng như đã mất hẳn.
Hai đứa trẻ ngày nào nay cũng đã lớn. Huân bước vào đời quân ngũ. Hảo theo học ngành Dược.

Cuộc sống cứ thế cuốn mỗi người đi một hướng. Không ai biết người kia đang ở đâu, và cũng chẳng ai chờ đợi một cuộc gặp lại. Có lẽ nếu cuộc đời cứ bình lặng như thế, Huân và Hảo chỉ còn là hai cái tên trong một miền ký ức xa xôi của tuổi nhỏ.
Vậy mà hôm nay, tự nhiên Hảo cảm thấy bồn chồn, nao nao khác lạ. Cuộc gặp gỡ thật tình cờ. Không có sự sắp đặt, không chuẩn bị, mà bây giờ Hảo đang ngồi đây, trong một quán cà phê nhỏ, đối diện với Huân, người con trai trưởng của bà giáo Ngọc.

Như có một định mệnh nào đó an bài, từ những đứa trẻ xa nhau khi chỉ mới lên chín, lên mười, nay đã trở thành hai người trưởng thành thế mà chỉ vừa thoáng nhìn đã nhận ra nhau ngay.
Cả hai đang ngồi trầm ngâm nhớ về những ngày thơ ấu, Hảo chợt hỏi:
— Bây giờ Huân có thêm mấy người em nữa?
— Năm! Tổng cộng Huân có tám anh chị em, bốn trai, bốn gái. Còn gia đình Hảo?
— Cũng không thua kém. Hảo có tám chị em gái, chỉ có một đứa em trai. Vậy là chín đứa, hơn nhà Huân rồi nhé!
Cả hai cùng cười, nghĩ bụng: Hèn gì các cụ bận rộn, không có thì giờ nghĩ đến bạn xưa.
Huân chợt nói:
— Hảo cho Huân về nhà thăm mẹ Hảo xem cô còn nhận ra mình không nhé!
Về đến nhà, bà Khanh cũng vừa mới đi làm về, còn đang ngồi nghỉ trong phòng khách.
Hảo chạy ngay đến gần, ghé vào tai mẹ nói nhỏ, báo tin vui:
— Mẹ! Con của mẹ đã là Dược sĩ. Con thi đậu rồi!
Rồi nàng cười:
— Con mới gặp lại một người. Xem mẹ có nhớ không nhé!
Đúng lúc đó, Huân bước vào, kính cẩn cúi đầu:
— Con chào cô ạ!
Bà Khanh ngước mắt nhìn lên:
— Chào cậu!
— Thưa cô, mẹ con là cô giáo Ngọc!
Tiếng Hảo vang lên:
— Mẹ có nhớ ai đây không?
— Ôi Trời! Huân, học trò giỏi của cô đây mà! Lớn quá rồi. Nhưng có nói cô mới nhận ra, chứ nếu gặp ngoài đường thì chưa chắc cô đã nhận ra được đâu. Ngồi chơi đi con!

Rồi bà giáo Khanh tíu tít hỏi thăm Huân những chuyện về gia đình xưa nay.
Từ sau lần gặp lại đó, hai bên bắt đầu qua lại. Những thân thiết giữa hai nhà được nhắc đến, và từ cái tình thân cũ, một tình cảm mới dần dần nảy nở. Hai bầy con có dịp quen biết nhau và càng ngày càng thân hơn. Thỉnh thoảng, ông bố của Hảo lại lấy chiếc xe van lớn của hãng, chở cả đám trẻ đi ăn, đi chơi...
Tình cảm của Huân và Hảo ngày càng thắm đượm, lại được cả hai gia đình ủng hộ. Ngày nghỉ là Huân đã có mặt ở nhà Hảo.
Và kết quả là sang năm 1973, một đám cưới tốt đẹp của Huân và Hảo đã diễn ra.

Đám cưới giản dị nhưng ấm cúng, lịch sự và trang trọng.
Hai bà giáo không thể ngờ rằng hai đứa trẻ ngày nào còn chạy qua chạy lại giữa hai nhà, nay đã trở thành một đôi vợ chồng. Một mối duyên tưởng như thời gian đã cất đi, vậy mà sau gần hai chục năm lại tìm đường quay trở lại.

Bích Hảo bước vào cuộc hôn nhân của mình với những ước vọng thật bình thường và hồn nhiên của một thiếu nữ trẻ. Sau đám cưới, nàng có một người chồng yêu thương, có một gia đình hạnh phúc riêng. Một tương lai phơi phới đang đợi chờ...

Nhưng thực tế, Hảo phải về ở chung với gia đình nhà chồng. Mặc dù cả hai vợ chồng đều đã có công việc làm chắc chắn với đồng lương ổn định. Hằng ngày, nàng vẫn phải dậy sớm sửa soạn đi làm tại hãng bào chế Biofarmo gần hồ Con Rùa. Khi về nhà, dù mệt nhoài, nàng vẫn phải chu toàn nhiệm vụ của người con dâu trưởng. Ở chung với gia đình đông người, trong một căn nhà nhỏ càng lúc càng khó khăn, càng có những xung đột tuy nhẹ nhàng nhưng khó hàn gắn.

Người thương nàng nhất có lẽ vẫn là ông bố.
Ông hiểu con gái mình. Ông cũng hiểu những điều khó giải quyết trong một gia đình, nhất là chuyện mẹ chồng nàng dâu. Có những điều càng nói ra càng thấy khó. Hai bà mẹ vốn là bạn thân từ thuở còn trẻ, vậy mà khi con cái thành vợ thành chồng, tình bạn giữa hai người cũng không đủ để ngăn những va chạm xảy ra giữa mẹ chồng với nàng dâu.

Ông không muốn con gái phải chịu cảnh ấy lâu dài.
Thương con là một chuyện, còn giữ thể diện cho con rể và gia đình bên chồng lại là một chuyện khác. Ông vốn làm nghề thầu, chuyên cung cấp đồ gỗ và trang trí nội thất. Thế là ông âm thầm lo cho con một căn nhà ở cư xá Thanh Đa.

Một căn nhà nhỏ nhưng thật đẹp. Một căn nhà được ông sửa sang tươm tất bằng tất cả tấm lòng thương con của người cha. Từng món đồ trang trí được ông nắn nót, chăm chút. Những thứ cần thiết cho một gia đình trẻ được ông sắp xếp đâu vào đó. Ông muốn khi dọn ra ở riêng, con gái ông có một nơi ấm áp để trở về; Huân có một nơi để xây dựng cuộc sống hạnh phúc của một gia đình nhỏ.

Ai có hỏi, ông không nói đó là căn nhà ông mua cho con gái, mà khéo léo nói đó là nhà của chính hai vợ chồng con tự mua. Người trong nhà hiểu. Ông hiểu. Con gái ông hiểu. Và có lẽ Huân cũng hiểu. Nhưng chẳng ai cần nói ra. Đó là cái tế nhị của người cha. Thương con đến đâu cũng giữ cho con một chút tự trọng; thương con rể cũng không muốn làm con rể mất mặt, ngại ngùng.

Căn nhà đã xong.
Có lẽ lúc ấy Hảo đã nghĩ đến cuộc sống mới. Không còn những va chạm trong căn nhà đông người. Buổi sáng đi làm, chiều về nhà mình. Có chồng bên cạnh trong căn nhà xinh xắn. Buổi tối, dưới ánh đèn vàng ấm áp tỏa ra từ cây đèn góc nhà, hai vợ chồng có thể thoải mái, vui vẻ bên nhau ngồi xem TV hoặc thả hồn theo tiếng nhạc.

Hai vợ chồng còn trẻ. Huân đang là sĩ quan Hải quân và được gửi đi học tại trường Phú Thọ. Chàng cũng đã hoàn tất chương trình để lấy bằng kỹ sư điện.
Cuộc đời tưởng như đã đi đúng đường. Cứ thế cuộc sống sẽ êm ả trôi.
Hai vợ chồng đã dọn vào căn nhà mới, rộn ràng sửa soạn ngày mời gia đình hai bên cùng bạn bè thân hữu đến ăn tân gia.
Nhưng bữa ăn tân gia ấy không bao giờ có.
Bởi lịch sử đã không cho họ kịp vui hưởng căn nhà mà ông bố đã lo lắng thu xếp.
Tháng Tư năm 1975 ập đến.

Mất Nước!
Chỉ một biến cố tang thương mà bao nhiêu dự định của biết bao gia đình tan theo.
Căn nhà Thanh Đa vẫn còn đó, đẹp đẽ, đầy đủ, nhưng thiếu một điều quan trọng nhất:
Một cuộc sống hạnh phúc bình thường mà Hảo từng ao ước.
Cha của Huân là sĩ quan, đáng lẽ phải đi học tập nhưng ông không đi trình diện.
Huân thì phải đi. Chàng phải vào nơi tập trung cải tạo, để Hảo ở lại. Tổ ấm hai vợ chồng bây giờ trở thành ngôi nhà chỉ còn có người vợ trẻ cô đơn chờ chồng.

Hằng ngày nàng vẫn đi làm ở viện bào chế cũ, nay đã đổi tên thành Xí nghiệp Dược phẩm 25. Chiều về lạnh lẽo, cô đơn, ngồi một mình lặng lẽ trong căn nhà nhỏ nhớ chồng. Mong ngóng đến ngày được giấy thăm nuôi để sửa soạn mua sắm và nấu nướng. Bao nhiêu lần ngóng tin. Bao nhiêu đêm nằm trằn trọc một mình trong căn nhà vắng, không biết ngày mai sẽ ra sao.
Những lần có giấy phép chính thức, Hảo cùng mẹ chồng lên trại tập trung học tập ở Trảng Táo, Tây Ninh. Hai mẹ con vất vả tàu xe, khuân mấy bao đồ nặng trĩu. Gặp Huân được mấy tiếng, đau xót nhìn nhau rồi nghẹn ngào, lủi thủi ra về.

Ngoài những lần chính thức, Hảo cũng liều lĩnh theo mấy người vợ có giấy phép, coi như người nhà đi theo để đi thăm lén. May có lần được gặp chồng. Khi Huân không tìm cách ra được, nàng đành lặng lẽ quay về.
Rồi một ngày, khi nghe tiếng chuông cửa. Chàng đã trở về.
Vợ chồng mừng tủi ôm nhau, tưởng như trong mơ!
Những ngày sau đó quấn quýt, âu yếm, chăm sóc nhau cho bõ bao năm dài xa cách. Hảo tưởng rằng sau ba năm chờ đợi, cuối cùng hai vợ chồng cũng có thể bắt đầu lại.
Nhưng cuộc sống lứa đôi êm đềm không được bao lâu.
Họ vừa bước ra khỏi một cánh cửa thì trước mặt lại mở ra một cánh cửa khác.
Lần này là một cánh cửa dẫn đến con đường mà thời ấy rất nhiều người Việt Nam phải chọn:
Vượt biên. Ra đi.

Hai vợ chồng chưa kịp sống một cuộc đời bình thường đã phải tính chuyện rời khỏi quê hương. Hảo và Huân cứ như những chiếc lá trong cơn dông, cuốn theo chiều gió lốc.
Cha của Huân phải trốn tránh vì không đi học tập, thỉnh thoảng cũng đến tá túc tại nhà của con. Cuộc sống thật nặng nề, ngột ngạt, nơm nớp lo âu. Tương lai không biết sẽ ra sao.
Mọi người phải tìm đường để ra đi, mà mỗi lần ra đi là một lần đánh cược với sinh mạng.
Rồi một tin buồn như sét đánh ngang tai.
Ông bố của Huân và hai đứa em cùng bước lên một con tàu. Sau đó không ai có tin tức gì về chuyến đi mang mấy chục con người ấy. Con tàu đã vĩnh viễn biến mất giữa biển khơi.
Nhưng biến cố đã không dừng lại ở đó.
Người cha đã từng thương con gái, âm thầm mua cho vợ chồng con căn nhà đẹp ở cư xá Thanh Đa, chưa được vui với cuộc sống mới của con thì con rể phải đi tù. Con rể mới được thả về thì bây giờ chính ông cũng bị cuốn vào vòng lốc xoáy.

Ông làm nghề thầu, cung cấp đồ gỗ và đồ trang trí nội thất. Với chính quyền mới, ông bị xếp vào thành phần tư sản. Một ngày người ta đến nhà bắt ông đi, giam ông ở Xuyên Mộc, Đồng Nai. Họ không chỉ bắt người mà xưởng gỗ và những của cải trong nhà cũng bị tịch thu.

Căn nhà từng đầy đủ, từng là nơi ông bỏ bao công sức để dựng nên một cuộc sống tử tế cho gia đình, dần dần cũng trở nên trống trải. Nhưng mất mát lớn nhất của ông là cảm giác bất lực của một người cha. Ông từng nghĩ mình có thể che chở cho vợ con, có thể lo cho con một mái nhà, có thể nhìn con cái trưởng thành, dựng vợ gả chồng. Vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn, tất cả những gì ông từng gây dựng đã bị lấy đi.
Ông vào trại cải tạo trong nỗi uất ức không bút mực nào tả xiết.

Hai gia đình vốn từng có một mối giao tình đẹp từ thuở còn trẻ, giờ đây lại gặp nhau trong một hoàn cảnh không ai có thể tưởng tượng nổi. Một người mẹ vừa mất chồng và hai đứa con ngoài biển. Một người mẹ thì chồng phải đi tù và mất hết tài sản. Vậy mà cả hai bà mẹ ấy vẫn phải dành dụm, lo lắng cho những đứa con tìm đường vượt biên.

Ba người em của Huân được mẹ lo cho đi ba nơi khác nhau cũng may mắn thoát được, tấp vào mấy đảo nhỏ, nhưng từ từ cũng gặp nhau tại đảo Galang, Nam Dương. Tiền bạc gia đình đã cạn kiệt nên hai cô con gái còn lại đành ở nhà với mẹ, đợi ngày ông ngoại bên Pháp bảo lãnh

Và rồi, sau bao lần tính toán, bao nhiêu lần thất bại, vợ chồng Hảo cũng vẫn tìm cách ra đi. Có chuyến đi rồi lại trở về. Có chuyến bị lừa nên mất tiền nhưng may không bị bắt. Cuối cùng tiền bạc cạn dần. Hảo đành để Huân đi một mình. Và chuyến đi ấy thành công.
Tàu Huân được vớt, đưa vào đảo Pulau Bidong ở Mã Lai.
Huân ở đảo chờ ngày đi định cư.
Hảo ở lại.
Nàng bán căn nhà Thanh Đa, về sống với mẹ và các em. Nàng vẫn tin rằng rồi sẽ có ngày hai vợ chồng được đoàn tụ. Dù chồng ở một nơi rất xa, nhưng nàng vẫn cương quyết đợi chờ.
Hằng ngày nàng vẫn đến sở làm, bận rộn với công việc và có bạn bè gần bên nên cũng khuây khỏa. Nhưng khi trở về, nằm trên chiếc giường cũ của một thời con gái, nàng không khỏi xót xa cho phận mình.

Nhà Hảo có một bầy con gái. Ba người em liền sau Hảo đã đi du học từ trước năm 1975. Cậu con trai được gửi theo một gia đình quen từ ngay Tháng Tư năm mất nước. Mấy cô con gái nhỏ đành ở nhà với mẹ và chị để chờ bố và chờ mấy chị bên Mỹ gửi giấy về bảo lãnh.
Sự chờ đợi kéo dài không biết đến bao lâu. Nhưng Hảo vẫn chờ. Chờ người chồng đầu gối tay ấp, người mà nàng đã thương yêu, đã cùng nàng đi qua những bước thăng trầm, những nỗi khó khăn của cuộc đời.

Thư từ qua lại hàng tuần, rồi hàng tháng.
Nàng vẫn yên chí đợi chờ.
Một năm.
Hai năm.
Rồi ba năm.
Nàng vẫn vững lòng chờ đợi.
Nhưng ngày 1 tháng 3 năm 1983, tin ông bố vì tuổi già sức yếu và vì quá uất ức đã chết trong tù khiến cả nhà sững sờ, đau xót.

Cùng thời gian ấy, nàng nhận được một lá thư từ Mỹ gửi về. Không phải tờ giấy mà nàng chờ đợi. Mà là tờ giấy ly hôn.
Không có đoàn tụ. Không có ngày lên đường. Không có căn nhà mới ở một đất nước khác mà nàng hằng mong đợi.
Tờ giấy trả lại nàng hai chữ: TỰ DO.
Hơn ba năm đợi chờ là một khoảng thời gian rất dài đối với một người vợ trẻ trong một xã hội mới đầy đổi thay. Hảo không hiểu nổi tại sao Huân lại lạnh lùng viết thư nói rằng chàng trả lại nàng hai chữ “Tự Do”.
Mẹ nàng thật giận.
Các em và bạn bè của Hảo thì tức.
Tức đến mức không hiểu nổi tại sao, trong khi một người vợ mỏi mòn chờ đợi chồng mấy năm, đã cùng chồng chống chọi qua những ngày học tập, trải qua những năm tháng lo vượt biên, những ngày đói khổ và sợ hãi... Cuối cùng lại nhận được từ người chồng một tấm giấy ly hôn.
Hai điều đau khổ đã đến với Hảo thật tàn nhẫn. Vừa có tin buồn mất cha chưa lâu, nàng lại nhận được giấy ly hôn từ chồng. Người Hảo như tê đi, không còn cảm giác.

Nhưng điều lạ lùng nhất là Hảo không nổi giận với Huân mà vẫn đem lý lẽ ra để bênh vực. Nàng cho rằng do thời cuộc nên con người dễ đổi thay. Có lẽ sống xa nhà, một mình nơi đất khách, trải qua những năm tháng đầy biến động, con người ta dễ yếu lòng.
Hảo nói một câu nghe vừa buồn vừa thương:
“Ông ấy có phải là Bụt đâu.”
Bạn bè nghe xong chắc muốn... nổi quạu thay cho nàng!
Một người chịu không nổi, bật lại:
“Thế mày là Bụt à?”
Cả đám bạn vừa tức vừa thương. Tức vì Hảo hiền quá. Thương vì Hảo vẫn còn tìm một lý do để bảo vệ người đã làm mình đau.
Có lẽ lúc ấy Hảo cũng biết. Biết rằng Huân đã thay đổi. Biết rằng ở bên kia, chàng đã có một cuộc sống khác. Nhưng lòng người đâu phải cái công tắc, muốn tắt là tắt được.

Gần bốn năm chờ đợi đâu phải chỉ nói một câu “ly hôn” là có thể xóa sạch. Và một cuộc hôn nhân bắt đầu từ một tình yêu có gốc rễ tận những ngày thơ ấu càng không dễ dàng biến thành một mối quan hệ xa lạ chỉ vì một tờ giấy.

Hảo vẫn hy vọng. Không phải hy vọng Huân sẽ quay lại ngay. Mà có lẽ nàng chỉ mong một điều rất nhỏ: Nếu một ngày nào đó Huân nhận ra mình đã sai, nếu chàng quay về xin lỗi, nàng vẫn có thể tha thứ. Bởi Hảo chưa bao giờ nghĩ mình là người hoàn hảo. Và nàng cũng chẳng bắt Huân phải là một vị thánh. Nàng chỉ nghĩ: Con người ta có thể sai. Nếu biết sai thì vẫn còn có thể tha thứ.
Cũng có thể hai điều đau khổ quá lớn cùng lúc đến với Hảo. Thương xót cha nhiều hơn nên nỗi đau về sự phụ bạc của chồng cũng vì thế mà nhẹ bớt.

Các em của Hảo lúc ấy đã ở Mỹ. Một người trong gia đình tìm hiểu và biết rằng Huân đang sống chung với một người phụ nữ khác. Người phụ nữ ấy muốn được chính thức kết hôn với Huân, và điều kiện để chuyện đó có thể xảy ra là Huân phải chấm dứt cuộc hôn nhân với Hảo. Vậy là mọi chuyện trở nên rõ ràng. Không còn là chuyện thời cuộc. Không còn là chuyện xa cách. Cũng không còn là một cuộc hôn nhân bị hoàn cảnh đẩy đưa đến chỗ lạnh nhạt.
Đó là một sự lựa chọn. Huân đã lựa chọn.
Hảo đau. Đau đến tê điếng.
Nhưng điều đáng nói là nàng không làm ầm lên, cũng không chạy đi tìm chồng để níu kéo.

Bạn bè biết Hảo đau. Nhưng Hảo lại cứ tìm cách nói đỡ cho người làm mình đau. Có lẽ vì Hảo hiểu con người vốn yếu đuối. Có lẽ vì nàng không muốn biến một mối tình đã từng đẹp thành một cuộc chiến của oán hận. Và cũng có lẽ, sâu trong lòng, nàng vẫn còn thương. Nhưng thương không có nghĩa là phải níu kéo. Hảo không van xin. Nàng chấp nhận.
Không phải vì nàng không đau, mà vì nàng hiểu một điều rất rõ:
Khi người ta đã muốn đi, giữ lại cũng chẳng còn là tình yêu.
Hảo ký giấy. Cuộc hôn nhân bắt đầu từ cuối năm 1973 chính thức kết thúc sau những năm tháng mà cả hai đã cùng trải qua quá nhiều biến cố.

Năm 1982, bà giáo Ngọc cùng hai cô con gái sang Pháp theo sự bảo lãnh của ông ngoại Huân.
Mãi đến tháng Năm năm 1991, chị em Hảo cùng mẹ mới đặt chân sang Mỹ.
Đến phi trường San Francisco, Hảo nhìn quanh, trong lòng vẫn có một niềm hy vọng mong manh: biết đâu Huân sẽ ra đón. Nhưng không. Chỉ có mấy cô em gái của Hảo và vài người bạn thân của mẹ nàng.
Vân, em của Hảo, cho biết người đàn bà đã sống với Huân, đã bắt Huân phải ly dị vợ, cuối cùng cũng không ở với Huân. Bây giờ Huân đang sống chung với mẹ và mấy người em.
Vậy là Huân đã không trở về. Có thể vì ăn năn. Có thể vì tự ái hay quá mắc cỡ vì hành động bội bạc của mình.
Nhưng có một điều Hảo đã hiểu. Hiểu rằng tình yêu của Huân với nàng không đủ đầy, không đủ mạnh. Hoặc có thể vì Hảo mới sang, tay trắng, nên Huân ngại phải cưu mang.

Dù vì lý do gì đi nữa, Hảo cũng thấy nhẹ lòng.
Nàng phải mạnh mẽ và quên đi những chuyện ưu phiền. Và nếu cuộc đời đã lấy đi của nàng nhiều thứ, thì nàng phải quyết định giữ lấy một thứ: Tương lai của mình. Phải đứng trên đôi chân của mình.
Chỉ bốn tháng sau, Hảo đã xin được việc làm teacher aide tại một trường học gần nhà.
Nàng chấm dứt khoản trợ cấp mà chính phủ thường cấp cho người mới nhập cư, 300 đô-la một tháng trong tám tháng. Nàng quyết tâm học lại.
Ở thời điểm ấy, các giáo sư của Đại học Dược Sài Gòn cũ đang tranh đấu, nên những dược sĩ Việt Nam có cơ hội được thi lấy bằng tương đương.
Hảo liên lạc với các bạn sang trước, rồi ghi tên học lớp hàm thụ để thi bằng tương đương Dược sĩ trên toàn nước Mỹ.
Liên lạc lại với những người bạn cũ, mỗi đứa mỗi hoàn cảnh nhưng vẫn có dịp gặp nhau để an ủi, chia sẻ. Cuộc sống tuy vất vả nhưng Hảo thấy vui vẻ và yêu đời hẳn lên.

Bốn năm.
Bốn năm miệt mài học hành, vừa học vừa đi làm tại các dược phòng. Bốn năm ấy không có chồng bên cạnh. Không có ai hứa hẹn tương lai. Không có một mái gia đình mới để trông chờ.
Hảo tự nhủ:
“Đời mình còn dài. Không thể cứ ngồi đó mà chờ một người đã chọn rời bỏ mình.”
Rồi ngày tốt nghiệp cũng đến. Hảo có bằng Dược sĩ.
Và thật may, đó cũng là lúc ngành Dược ở Mỹ đang phát triển mạnh. Những hệ thống siêu thị lớn bắt đầu mở thêm các dược phòng, nhu cầu dược sĩ tăng cao. Hảo có việc làm. Nàng bắt đầu đứng vững bằng chính đôi chân mình. Có lẽ đó là lần đầu tiên sau rất nhiều năm, Bích Hảo không còn là người vợ của ai, không còn là người đàn bà ngồi chờ giấy bảo lãnh của một người chồng ở phương xa.

Nàng chỉ đơn giản là Bích Hảo. Một Dược sĩ. Một người đàn bà tự mình xây dựng lại cuộc đời.
Nhưng đúng lúc Hảo bắt đầu tìm được nhịp sống mới, một hôm người em của Huân lại liên lạc với nàng;
“Chị Hảo về với anh Huân đi!”
Câu nói ấy, nghe thì đơn giản, Hảo nghe mà chẳng biết nên cười hay nên khóc. Hảo đã bước qua bao khó nhọc, bao đớn đau. Người đã gửi cho nàng giấy ly hôn, giờ đây lại được nhắc đến như thể chuyện cũ có thể quay ngược trở lại. Hảo đã bước qua đoạn đời đau khổ đó rồi!
Sau đó, Huân chính thức cưới một người vợ khác và chẳng bao lâu sau, Huân bị ung thư và qua đời vài năm sau đó.

Lần này, giữa họ không còn là một cuộc hôn nhân. Hảo cũng có một thoáng bâng khuâng nhớ lại một đoạn đời đã từng có thật. Một đoạn đời rất dài.Rất đau. Nhưng cuối cùng, Hảo đã mạnh mẽ sống tiếp.
Chuyện vợ chồng coi như đến đó là hết. Không ai biết trong lòng hai người lúc ấy còn gì với nhau, mà có lẽ cũng chẳng cần biết nữa. Có những chuyện của một đời người, đến cuối cùng chỉ còn lại một chữ: Thôi.
Hảo tiếp tục sống.
Các em đều học hành xong, lập gia đình, ra ở riêng. Còn nàng vẫn ở với mẹ, hai mẹ con nương tựa nhau. Hảo cương quyết không lấy chồng nữa. Mẹ còn sống ngày nào thì nàng ở với mẹ ngày đó.
Bạn bè thấy nàng cứ một mình mãi cũng sốt ruột. Hết người này tới người kia tìm cách mai mối.
Một hôm, Hảo buông một câu:
“Tao chỉ thay tã cho mẹ tao thôi...”
Thế là cả đám bạn im luôn. 
Sau đó mẹ Hảo mất.
Các em ai cũng có gia đình riêng nhưng vẫn gần gũi với chị. Bạn bè cũng vậy.

Hảo sống một mình nhưng chẳng đến nỗi cô độc. Nàng vui vẻ đi đây đi đó với bạn bè, gần gũi các em, các cháu; chăm chút cho căn nhà và khu vườn của mình.
Cho đến một ngày, Hảo ra vườn tưới cây. Nàng vấp phải cái ống nước nằm dưới đất, té xuống mà không ai hay biết. May sao có người hàng xóm đi ngang nhìn thấy, gọi 911 đưa nàng vào phòng cấp cứu. Hảo bị gãy xương vai, dập xương ống tay. Sau một thời gian nằm nhà thương, nàng được về nhà.
Các em chia nhau luân phiên đến thăm. Có therapist đến nhà tập hằng ngày, lại có cô giúp việc đến mỗi ngày bốn tiếng.
Vậy là cũng ổn.

Nghĩ lại, có lẽ Hảo không phải Bụt thật. Nàng chỉ là một người đàn bà có lòng. Mà người có lòng thì đôi khi chịu thiệt. Hảo đã chịu thiệt nhiều rồi. Nhưng may mắn là nàng không để những chuyện ấy làm mất đi niềm vui sống.

Bây giờ Hảo vẫn ở đó, gần các em, gần bạn bè. Có lúc đau ốm, có lúc té ngã, có lúc cần người giúp, nhưng bên cạnh vẫn có người. Sau một đời long đong như vậy, Hảo còn có người thân để nương tựa, còn có bạn bè để gọi nhau một tiếng, còn có một căn nhà để yên ổn trở về.

Hôm nay trời đã vào Thu, những chiếc lá vàng đã lác đác rơi, Hảo thấy người đã khỏe, bước ra sân sau nhìn lên trời cao, nhìn quanh thấy phong cảnh thiên nhiên đẹp quá. Hảo sẽ chịu khó tập tành cho khỏi hẳn để đại hội Trưng Vương năm nay sẽ đi gặp bạn bè. Từng khuôn mặt, từng khuôn mặt hiện ra. Một bầy con gái tung tăng trên lòng đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Một đời người trôi đi quá nhanh. Hảo nhớ quá một thời ngây thơ trẻ dại!

Đỗ Dung