Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Đình Hổ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Đình Hổ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2021

Xã Từ Hữu Hoài 社祠有懷 - Phạm Đình Hổ



社祠有懷               Xã Từ Hữu Hoài

崇祠門外草芊芊, Sùng từ môn ngoại thảo thiên thiên,
一度登臨一悵然。 Nhất độ đăng lâm nhất trướng nhiên.
荒樹舊傳歌舞地, Hoang thọ cựu truyền ca vũ địa,
殘碑猶識景興年。 Tàn bi do thức Cảnh Hưng niên.
苔封石現呈新綠, Đài phong thạch hiện trình tân lục,
霜染丹楓噪暮蟬。 Sương nhiễn đan phong táo mộ thiền.
旅次歸來何所見, Lữ thứ quy lai hà sỡ kiến,
行行喬木正凌天。 Hàng hàng kiều mộc chánh lăng thiên.
範廷琥                     Phạm Đình Hổ
***
CHÚ THÍCH :

- Xã Từ Hữu Hoài : Hoài cảm trước đền thờ của xã.
- Thảo Thiên Thiên : là Cỏ xanh um tùm.
- Trướng nhiên : Bồi hồi xúc động.
- Cảnh Hưng Niên : là Năm Cảnh Hưng đời vua Lê Hiển Tông(1740-1768).
- Đài Phong : là Rêu phủ. Rêu mọc che kín
- Sương nhiễm : là Sương nhuốm, mù sương nhuộm (Đan Phong: là Lá phong đỏ lên).
- Mộ Thiền : là Tiếng ve kêu buổi chiều tà.
- Lữ Thứ : là Lữ hành Xa quê.
- Kiều Mộc : là loại Cây cao bóng cả.
- Lăng Thiên : là Vượt lên trên bầu trời.

DỊCH NGHĨA :

Hoài Cảm Trước Đền Thờ Xã


Ngoài cửa của đền thờ cao cao cỏ mọc um tùm, mỗi lần đến đây là mỗi lần ta cảm thấy xúc động bồi hồi. Chỗ cây mọc hoang vu ngày nay được biết đó là nơi ca múa của ngày xưa, và trên tấm bia đổ nát còn đọc được là của niên đại đời Cảnh Hưng. Rêu phủ đầy trên nền đá còn hiện rõ màu xanh mới, và sương rơi nhuốm hồng các lá phong trong tiếng ve chiều. Từ nơi lữ thứ trở về đây, ta thấy được gì đâu, chỉ có hàng hàng cây cao bóng cả đang đứng lặng yên mà vươn thẳng lên trời xanh.

 DIỄN NÔM:

Hoài Cảm Trước Đền Thờ Xã

Cỏ mọc um tùm trước cửa sân,
Mỗi lần đến viếng mỗi bâng khuâng.
Vườn hoang là chốn xưa ca múa,
Bia nát còn nhìn dấu Cảnh Hưng.
Rêu phủ đá xanh tươi sắc mới,
Sương pha lá đỏ rộn ve ngâm.
Người từ lữ thứ về quê cũ,
Chỉ thấy vút trời cây bóng râm!

Lục bát:

Um tùm cỏ kín từ đường,
Về thăm mấy độ sầu thương bồi hồi.
Vườn hoang xưa chốn vui chơi,
Cảnh Hưng bia cũ càng khơi nỗi niềm.
Rêu xanh phủ đá trước thềm,
Sương pha lá đỏ buồn thêm ve sầu.
Người về nào thấy chi đâu,
Hàng hàng chỉ thấy cây cao vút trời!



Đỗ Chiêu Đức

Thứ Sáu, 30 tháng 7, 2021

Quy Cố Viên Hương 歸故園鄉 - Phạm Đình Hổ


Phạm Đình Hổ (chữ Hán: 范廷琥, 1768-1839) tên chữ là Tùng Niên (松年), Bỉnh Trực (秉直), hiệu: Đông Dã Tiều (東野樵), tục gọi là Chiêu Hổ. Ông là nhà nghiên cứu văn hóa, nhà văn và nhà thơ của Việt Nam ở khoảng cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19.

Phạm Đình Hổ sinh năm Mậu Tý (1768), người làng Đan Loan, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).

Sinh trong một gia đình khoa bảng, cha ông là Phạm Đình Dư, đậu cử nhân, làm Hiến sát Nam Định, thăng Tuần phủ Sơn Tây, rồi cáo quan về ở phường Hà Khẩu (Hàng Buồm) năm Giáp Ngọ (1774).

Ngay từ nhỏ, Phạm Đình Hổ đã tỏ chí rằng: Làm người con trai phải lập thân hành đạo...Lấy văn thơ nổi tiếng ở đời...[1]. Tuy học & đọc nhiều sách (năm 9 tuổi, ông đã học sách Hán thư), nhưng ông chỉ đỗ đến sinh đồ (tức tú tài) vào khoảng cuối đời Chiêu Thống.

Gặp buổi loạn lạc, vua Lê Chiêu Thống cho người chạy sang cầu viện nhà Thanh, rồi triều đình Lê Trịnh sụp đổ, nhà Tây Sơn lên cầm quyền... Suốt quãng thời gian này, Phạm Đình Hổ sống đời cơ hàn dạy học ở quê.

Đến khi Gia Long lên ngôi, cho khôi phục lại việc học hành thi cử; ông có đi thi Hương ba lần, nhưng đều không đỗ. Hồi ấy ông đang dạy học ở phường Thái Cực, huyện Thọ Xương trong thành Thăng Long, hằng ngày rèn luyện học trò và biên soạn sách. Tại đây, ông kết bạn thơ với nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Năm Canh Thìn (1820), có chỉ triệu ông và Phan Huy Chú vào Huế đợi mệnh cất dùng, nhưng vì ốm ông không vào được.

Năm Tân Tỵ (1821), vua Minh Mạng ra Bắc. Khi ấy, Phạm Đình Hổ ở tuổi 53, được vời ông đến hỏi về học vấn, thi cử và tình hình nhân tài đất Bắc. Lại khuyên hễ có những sách tiền triều, sách trước thuật... nên đem tiến trình. Ông bèn dâng lên nhà vua những sách do mình biên soạn, bèn được triệu vào Huế làm Hành tẩu Viện Hàn lâm, được ít lâu, ông xin từ chức.

Năm Minh Mạng thứ 7 (1826), vua lại triệu ông, cho làm Thừa chỉ Viện Hàn Lâm, tiếp đến làm Tế tửu Quốc Tử Giám. Năm sau, xin nghỉ bệnh rồi từ chức. Sau, ông lại vào sung chức, được thăng Thị giảng học sĩ.

Năm Nhâm Thìn (1832), ông xin về hưu luôn. Năm Kỷ Hợi (1839), Phạm Đình Hổ mất, thọ 71 tuổi. Ông để lại rất nhiều bài thơ nổi tiếng, tiêu biểu như các bài sau đây:

歸故園鄉                Quy Cố Viên Hương

斷梗飄蓬歲兩周, Đoạn ngạnh phiêu bồng tuế lưỡng chu,
衰瓢重作故鄉遊。 Thôi biều trùng tác cố hương du.
叢荊修竹相高下, Tùng kinh tu trúc tương cao hạ,
幽草荒丘半有無。 U thảo hoang khâu bán hữu vô.
征鶩影和朝靄色, Chinh vụ ảnh hòa triêu ải sắc,
孤蟬聲入夕陽秋。 Cô thiền thanh nhập tịch dương thu.
憑欄回想當年事, Bằng lan hồi tưởng đương niên sự,
擬向蒼蒼問故吾。 Nghĩ hướng thương thương vấn cựu ngô.
範廷琥                     Phạm Đình Hổ

* CHÚ THÍCH:
- Đoạn Ngạnh: Trong bài Qúa Kim Liên Tự của cùng tác giả, ta đã gặp từ BÌNH NGẠNH 萍梗 là Cánh bèo, nên Đoạn Ngạnh 斷梗 là Bèo rả cánh.
- Thôi Biều: còn đọc là Suy Biều, có nghĩa là Trái bầu héo. 
- Tùng Kinh: là Bụi cỏ gai, ý chỉ Cỏ dại. Tu Trúc : là khóm trúc được trồng tỉa cẩn thận.
- U Thảo: là Cỏ mọc thâm u. Hoang Khâu : là Gò hoang.
- Chinh Vụ: là Cánh cò xa xa. Ải Sắc : là Sắc trời buổi sáng sớm, ban mai.
- Cô Thiền: là Tiếng ve cô đơn, lẻ loi.
- Bằng Lan: là Đứng hoặc Ngồi dựa lan can.
- Nghĩ: là Dự định, là Muốn.
- Thương Thương : là Trời xanh.
- Ngô: là Tôi, là Ta, là Tao...

* NGHĨA BÀI THƠ:
Trở Lại Cố Hương
Như bèo rả cánh, ta trôi nổi suốt hai năm tròn, giờ thì như trái bầu đã héo úa tìm về lại cố hương. Đám cỏ gai hoang dại đã cao gần bằng với khóm trúc, và cỏ dại mọc thâm u phủ kín cả gò đất hoang trông như có như không. Cánh cò trắng xa xa chìm vào vầng mây sáng của buổi ban mai, và tiếng ve sầu đơn độc hòa vào trong ánh nắng chiều của buổi tàn thu. Đứng tựa vào lan can mà hồi tưởng lại những việc đã qua của những năm xưa, ta muốn hỏi trời xanh thăm thẳm về những việc của ta ngày ấy (sao lại như thê!).
Xúc cảnh sinh tình, nổi trôi phiêu bạc, vất vả lang thang, tìm về lại cố hương không chút vinh quang mà lại buồn như " trái bầu héo ". Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ ! Cỏ gai mọc cao gần bằng khóm trúc, cỏ dại phủ đầy không còn nhận ra được những gò đất của dạo nào; cánh cò đơn lẻ mất hút ở chân trời xa và tiếng ve sầu cô đơn của buổi chiều tàn thu. Cảnh trí và thiên nhiên đều nhuốm vẻ bi ai sầu muộn như tâm sự của kẻ lạc phách sa cơ chưa có được chút thành tựu nào trong sự nghiệp, chỉ còn biết có ngửa mặt than trời !

* DIỄN NÔM:
Trở Lại Quê Xưa

Như bèo rả cánh đã hai năm,
Thất chí quê nhà lại ghé thăm.
Gai mọc trúc tre nào có thấy,
Cỏ lan gò nổng biết đâu tầm.
Cánh cò lẩnkhuất trong mây sớm,
Ve tiếng đơn côi thu nắng râm.
Tựa giậu nhớ về bao chuyện cũ,
Hỏi trời sao lại nở đang tâm!?

Lục bát:

Bèo trôi rả cánh hai năm,
Thất cơ lê bước về thăm quê nhà.
Bụi gai cao lấn tre già,
Gò cao cỏ dại mọc qua khó tìm.
Cánh cò nắng sớm im lìm,
Cô đơn rả tiếng ve thêm não nùng.
Tựa lan can nhớ mông lung,
Hỏi trời sao nở lạnh lùng đời ta !?

Đỗ Chiêu Đức

Thứ Năm, 23 tháng 1, 2020

Những Bài Thơ Xuân

Nhân dịp xuân về, Kính gởi đến Quý Thầy Cô và Anh Chị Em Vườn Thơ Thẩn một "Những Bài Thơ Xuân" của Việt Thi, bắt đầu bằng bài thơ "Xuân Hiểu" của ông Vua Trần Nhân Tông nhé !

1. XUÂN HIỂU - Trần Nhân Tông.

春曉                 Xuân Hiểu 

睡起啟窗扉, Thụy khởi khải song phi, 
不知春已歸。 Bất tri xuân dĩ quy. 
一雙白蝴蝶, Nhất song bạch hồ điệp, 
拍拍趁花飛。 Phách phách sấn hoa phi.

CHÚ THÍCH :

* Thụy Khởi 睡起 : là Ngủ dậy, chỉ Vừa thức giấc.
* Khải 啟 : là Mở ra, giống như chữ KHAI (thanh BẰNG, còn KHẢI là thanh TRẮC ).
* Song Phi 窗扉 : Cánh cửa của Cửa sổ.
* Phách Phách 拍拍 : là Vổ vổ(cánh), ở đây có nghĩa là Vổ Phần phật.
* Sấn : là Nhân(dịp), ở đây có nghĩa là Hướng về...

NGHĨA BÀI THƠ :

Sáng Sớm Mùa Xuân
Vừa mới ngủ dậy, ta mở toang hai cánh cửa sổ ra... Đâu biết rằng mùa xuân đã về đến rồi !( Trông kìa,) một đôi bướm trắng nỏn nà đang vổ vổ cánh bay về các khóm hoa ( đang nở rộ !). 

DIỄN NÔM:
Sáng Xuân

Thức giấc mở song ngay,
Xuân đến nào có hay.
Một đôi bươn bướm trắng,
Hướng hoa vổ cánh bay!

Lục bát:

Vừa thức giấc, mở cửa song,
Nào hay xuân đã về trong đất trời.
Một đôi bướm trắng xinh tươi,
Khóm hoa bay lượn thành đôi chập chờn.

Đỗ Chiêu Đức
2. XUÂN ĐÁN          Chu Văn An

春旦                         Xuân Đán
寂寞山家鎮日閒, Tịch mịch sơn gia trấn nhựt nhàn,
竹扉斜擁護輕寒。 Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn.
碧迷草色天如醉, Bích mê thảo sắc thiên như túy
紅濕花梢露未乾。 Hồngthấp hoa tiêu lộ vị can.
身與孤雲長戀岫, Thân dữ cô vân trừơng luyến tụ
心同古井不生瀾。 Tâm đồng cổ tỉnh bất sanh lan.
柏薰半冷茶煙歇, Bá huân bán lãnh trà yên yết,
溪鳥一聲春夢殘。 Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn.

朱文安                    Chu Văn An

* CHÚ THÍCH:
- Xuân Đán 春旦: là Ngày Xuân, mà cũng có nghĩa là Ngày Tết nữa.
- Trấn Nhật 鎮日: la Suốt ngày. 
- Trúc Phi 竹扉 " là Cửa tre. 
- Tà Ủng 斜擁: TÀ là Xiên, xéo. ỦNG là Ôm. nên TÀ ỦNG là Ôm xeo xéo.
- Thiên Như Túy 天如醉 : Trời như say.
- Lộ Vị Can 露未乾: Sương chưa khô
- Tụ 岫: là Hang núi trên cao, thường có mây vần vũ trên đó.
- Lan 瀾 : là Gợn sóng lăn tăn.
- Trà Yên Yết 茶煙歇: trà Thuốc đều hết.
- Khê Điểu 溪鳥: Những con chim trong khe núi.

* Dịch Nghĩa:
Ngày Xuân

Suốt ngày nhàn hạ rảnh rổi với ngôi nhà quạnh quẽ vắng lặng ở trên núi nầy. Chiếc cửa tre xiêu vẹo ôm ấp lấy căn nhà che chắn bớt cái cơn lạnh nhè nhẹ đang lan tỏa. Nhìn xuống xa xa bãi cỏ non xanh biếc, bầu trời cũng xanh biếc như ngất ngây say. Những đóa hoa hồng lên trên cành rực rỡ với các giọt sương còn lóng lánh chưa khô. Tấm thân ta như đám mây đơn lẻ kia cứ mãi quyến luyến không nở rời đỉnh núi, và lòng ta thì đã khô cằn như chiếc giếng xưa kia đã không còn dậy sóng nữa. Những nhánh tùng bách cháy tàn nửa vời lạnh lẽo, trà thuốc cũng đã cạn rồi. Những con chim bên khe núi vổ cánh bay tiếng kêu oang oác làm ta chợt tỉnh giấc, nên mộng xuân cũng tàn lụi theo luôn.

* DIỄN NÔM:
Ngày Xuân

Nhà tịch mịch núi cao nghe vắng vẻ,
Cửa phên tre nghiêng ngã lạnh lan tràn.
Trời như say thảm cỏ biếc mênh mang,
Hoa đỏ thắm đầu cành sương chưa ráo.
Thân nầy tựa như mây còn luyến núi,
Lòng thì như giếng cạn sóng đà an.
Lửa tắt trà khô thuốc hết đêm tàn,
Chim oang oác giật mình tan giấc mộng!

Lục bát:

Nhà cao vắng vẻ an nhàn,
Cửa tre xiêu vẹo lạnh tràn gió đông.
Trời xanh đồng cỏ mênh mông,
Ngậm sương mấy đóa hoa hồng nở xinh.
Thân như mây nổi linh đinh,
Lòng như giếng cạn không sinh sóng hời.
Đêm tàn lửa tắt trà vơi,
Chim kêu tỉnh giấc một trời xuân mơ!

Đỗ Chiêu Đức.
3. XUÂN DẠ Nguyễn Du: 

Năm 1789, Tây Sơn chiếm Bắc Hà, cụ vừa 24 tuổi. Để tránh nạn binh lửa, cụ đã về ẩn tại quê vợ, huyện Quỳnh Côi (Thái Bình). Bài thơ trên nằm trong Thanh Hiên Tiền Hậu Tập, có lẽ đã được cụ Nguyễn Du làm trong thời gian này, lúc cụ chưa tới 30 tuổi. Qua đấy ta có thể thấy thể chất của cụ không mấy khỏe mạnh do cuộc sống nghèo túng và bản thân cụ cũng hay đau ốm. Chính nơi đây đã chôn vùi quãng đời thanh xuân của cụ. Sống nơi thôn dã, cụ đã gần gũi và hiểu biết rõ ràng đời sống và tâm tình của tầng lớp dân quê nghèo khó. Mãi hơn 10 năm sau, lúc đã 37 tuổi (1802) cụ mới ra làm quan với triều Nguyễn với chức vụ Tri Huyện Phù Dung (Hưng Yên) rồi sau đó thăng Tri phủ Thường Tín (Hà Tây).

春 夜                             Xuân Dạ

黑 夜 韶 光 何 處 尋? Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm?
小 窗 開 處 柳 陰 陰. Tiểu song khai xứ liễu âm âm
江 湖 病 到 經 時 久, Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu
風 雨 春 隨 一 夜 深. Phong vũ xuân tùy nhất dạ thâm
羈 旅 多 年 燈 下 淚, Ký lữ đa niên đăng hạ lệ
家 鄉 千 里 月 中 心. Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm
南 臺 村 外 龍 江 水, Nam Đài thôn ngoại Long Giang thủy
一 片 寒 聲 送 古 今. Nhất phiến hàn thanh tống cổ câm (kim).

阮攸                           Nguyễn Du

* CHÚ THÍCH:
- Thiều Quang 韶光 :là Ánh sáng tốt đẹp của mùa xuân, của tuổi trẻ. Như cụ Nguyễn Du cũng đã viết trong Truyện Kiều :"Thiều Quang chín chục đã ngoài sáu mươi".
- Liễu Âm Âm 柳陰陰 : Liễu nằm im lìm rũ bóng trong đêm.
- Ký Lữ 羈旅: Gởi thân nơi đất khách.
- Nam Đài 南臺: Tên xóm nhà nơi Nguyễn Du ở trọ.
- Long Giang 龍江: Còn gọi là Thanh Long giang, tức Sông Lam.

* NGHĨA BÀI THƠ:

Đêm Xuân

Biết đến nơi đâu để tìm cho được ánh thiều quang rực rỡ trong đêm tối nầy ? Nơi cánh cửa sổ nhỏ mở ra là cành liễu rũ im lìm trong đêm tối. Thân trải giang hồ sông nước nên bịnh cứ dai dẵng mãi cho đến hiện nay. Mưa gió lại theo ngày xuân mà về trong đêm dài dằng dặc nầy. Dưới đèn ta lại rơi lệ vì thân còn phiêu bạc xứ người đã nhiều năm nay. Ngắm trăng mà trong lòng tưởng nhớ đến quê hương ở xa ngoài ngàn dặm. Nhìn dòng nước Long Giang chảy ngoài thôn Nam Đài với dãi nước cuồn cuồn lạnh lùng như cuốn trôi cả dòng đời kim cổ.

* DIỄN NÔM: 
Đêm Xuân

Ánh xuân đêm tối biết đâu tìm,
Mờ mịt ngoài song liễu lặng im.
Bệnh tật song hồ cùng dai dẵng,
Gió mưa xuân sắc vẫn im lìm.
Dưới đèn giọt lệ sầu xa xứ ,
Bóng nguyệt quê nhà xót nhói tim.
Dòng nước Long Giang cuồn cuồn mãi,
Lạnh lùng cuốn sạch cổ cùng kim.

Lục bát:

Tìm đâu đêm tối thiều quang?
Ngoài song liễu rũ mơ màng trong đêm.
Giang hồ dai dẳng bệnh thêm,
Gió mưa não nuột bên thềm xuân sang.
Dưới đèn lệ nhỏ trăng ngàn,
Tấm thân lữ thứ ly tan ai hoài.
Long Giang dòng nước Nam Đài,
Lạnh lùng cuồn cuộn chảy dài cổ kim.

Đỗ Chiêu Đức.
4. XUÂN NHẬT HỮU CẢM - Trần Quang Khải:

春日有感 一.       Xuân Nhật Hữu Cảm 1

雨白肥梅細若絲,    Vũ bạch phì mai tế nhược ty,
閉門兀兀坐書癡。 Bế môn ngột ngột tọa thư si.
二分春色閒蹉過,    Nhị phân xuân sắc nhàn sai quá,
五十衰翁已自知。 Ngũ thập suy ông dĩ tự tri.
故國心還飛鳥倦, Cố quốc tâm hoàn phi điểu quyện,
恩波海濶縱鱗遲。 Ân ba hải khoát túng lân trì.
生平膽氣輪囷在,    Sinh bình đãm khí luân khuân tại,
醉倒東風賦一詩。 Túy đảo đông phong phú nhất thi.

春日有感 二.         Xuân Nhật Hữu Cảm 2

月色微微夜向闌, Nguyệt sắc vi vi dạ hướng lan,
東風特地起春寒。 Đông phong đặc địa khởi xuân hàn.
翻空柳絮黏高閣, Phiên không liễu nhự niêm cao các,
攪夢湘筠撲畫欄。 Giác mộng tương quân phốc hoạ lan.
被物潤從天外雨, Bị vật nhuận tòng thiên ngoại vũ,
驚心紅褪昔時顏。 Kinh tâm hồng thối tích thời nhan,
袪愁賴有三杯酒, Khử sầu lại hữu tam bôi tửu,
撫劍悠悠憶故山。 Phủ kiếm du du ức cố san.
陳光啓                     Trần Quang Khải. 

* NGHĨA 2 BÀI THƠ:
BÀI 1:
Mưa xuân trắng xóa phơi phới như tơ làm tươi tốt mấy cành mai, một thư sinh mọt sách đóng cửa ngồi trơ mà nhìn ra ngoài. Hai phần ba xuân sắc đã trôi qua một cách vô ích, Lão già năm mươi già yếu tự biết sức mình. Tấm lòng đối với cố quốc thì như cánh chim bay đà mõi, Còn ơn Vua thì rộng như biển nên chưa kịp vươn vẫy để cố bơi. Cái đãm khí của bình sinh vẫn còn sừng sửng đó, nên say khước dưới gió xuân vẫn làm nốt một bài thơ !
BÀI 2 :
Bóng trăng mờ ảo nhạt dần vì trời sắp sáng, gió xuân có Ý mang cái lạnh của sáng mùa xuân đến, những cành liễu bay lộn trên không phất vào gác cao, những cành trúc đập vào lan can làm tỉnh giấc mộng xuân. Muôn vật được tưới gội nhờ mưa từ trời đổ xuống, giật mình vì dung nhan ngày cũ đã phai tàn. Đành chỉ mượn ba chung rượu để tiêu sầu, và chỉ còn biết vuốt ve kiếm báu mà nhớ đến sông núi xưa vằng vặc đã qua rồi !

* DIỄN NÔM:
Cảm Xúc Ngày Xuân

Bài 1:
Mai đẹp mưa xuân gội trắng ngần,
Thư sinh trong cửa dạ lần khân.
Hai phần xuân đã qua hơn nửa,
Năm chục già đà tự biết thân.
Cố quốc chút lòng chim cánh mõi,
Ơn Vua tợ biển cá đuôi sần.
Bình sinh đởm lượt còn hun đúc,
Say khướt gió xuân vẫn họa vần!

Bài 2.
Ánh trăng mờ chiếu báo đêm tàn,
Se lạnh hơi xuân gió sớm sang.
Phe phẩy liễu cành vương gác tía,
Phất phơ trúc nhánh vướng lan can.
Tốt tươi vạn vật nhờ mưa móc,
Già cỗi một lòng nhớ sắc nhan.
Đành mượn tiêu sầu ba chén rượu,
Vuốt thanh kiếm báu nhớ giang san !

Đỗ Chiêu Đức 
5. SƠ XUÂN Nguyễn Tử Thành:

初春                         Sơ Xuân

臘梅開盡雪飄零, Lạp mai khai tận, tuyết phiêu linh,
老大情懷節勿驚。 Lão đại tình hoài tiết vật kinh. 
傍水人家楊柳嫩, Bàng thủy nhân gia dương liễu nộn,
寒天客院半陰晴。 Hàn thiên khách viện bán âm tình . 
遊蜂摘蜜穿花去, Du phong trích mật xuyên hoa khứ, 
野蝶偷香帶粉經。 Dã diệp thâu hương đới phấn khinh. 
檢點名園供勝賞, Kiểm điểm danh viên cung thắng thưởng, 
春花一樣百般生。 Xuân hoa nhất dạng bách ban sinh.

阮子成                     Nguyễn Tử Thành 

* NGHĨA BÀI THƠ: 
Đầu Xuân

Tháng chạp hoa mai đã nở hết trong khi tuyết vẫn còn bay lả tả,
Tâm tình của người già biết tiết chế, nên không lấy làm lạ.
Nhà ai đó bên mé nước với hàng dương liễu xanh non.
Phòng khách trong mùa lạnh nên nửa nắng nửa râm.
Ong đi lấy mật nên bay xuyên qua cả chòm hoa.
Bướm ngoài đồng trộm hương nhẹ nhàng mang theo cả phấn hoa.
Điểm qua hết các vườn hoa nổi tiếng để mà thưởng ngoạn, thì thấy...
Cũng chỉ là trăm vẻ hoa xuân cùng đẹp như nhau mà thôi !

* DIỄN NÔM:
Đầu Xuân

Tuyết rơi mai nở báo xuân sang,
Già cả nhìn quen chẳng ngỡ ngàng.
Bến nước nhà ai xanh liễu mới,
Trời đông phòng khách nắng râm vàng.
Ong vui hái mật đùa bay lượn,
Bướm hút nhuỵ hoa vội tách ngang.
Điểm hết xưa nay bao thắng cảnh,
Hoa xuân trăm vẻ đẹp mơ màng. 

Đỗ Chiêu Đức 
6. HỮU SỞ CẢM Phạm Đình Hổ:

有所感             Hữu Sở Cảm

長安小兒女, Trường An tiểu nhi nữ; 
纖手綰丫鬟。 Tiêm thủ quán a hoàn. 
深閨不知苦, Thâm khuê bất tri khổ; 
猶掃落花看。 Do tảo lạc hoa khan. 

長安小兒女, Trường An tiểu nhi nữ; 
眉黛月雙彎。 Mi đại nguyệt song loan. 
為愛梅花潔, Vị ái mai hoa khiết; 
臨風不覺寒。 Lâm phong bất giác hàn. 

長安小兒女, Trường An tiểu nhi nữ; 
花前獨倚欄。 Hoa tiền độc ỷ lan. 
只怕檀郎聽, Chỉ phạ đàn lang thính; 
橫琴笑不彈。 Hoành cầm tiếu bất đàn.

范廷虎             Phạm Đình Hổ

* CHÚ THÍCH:
- Trường An 長安: Còn đọc là Tràng An. Vốn là từ chỉ kinh đô cuả thời Tây Hán. Sau dùng chung để chỉ kinh thành, nơi vua ở. Trong bài thơ nầy chỉ kinh đô Thăng Long của ta ngày xưa.
- Tiêm Thủ 纖手: Chỉ đôi cánh tay nhỏ nhắn dịu dàng của các cô gái.
- Quán A Hoàn 綰丫鬟 : Búi hai búi tóc hình trái đào ở trên đầu. Đây là kiểu búi tóc của các cô bé mới lớn. Ngày xưa các tiểu thơ hay có các cô bé theo hầu búi tóc như thế, nên từ A HOÀN 丫鬟 (còn đọc là NHA HOÀN) dùng thét rồi trở thành danh từ chung để gọi các cô hầu của nhà quyền qúy.
- Mi Đại 眉黛: Đôi mày đen đẹp.
- Nguyệt Song Loan 月雙彎 : là Cong như hai vành trăng.
- Ỷ Lan 倚欄: Đứng tựa vào lan can.
- Đàn Lang 檀郎 : Từ dùng để gọi bóng dáng người yêu của các bà các cô xưa.

* NGHĨA BÀI THƠ:

Cô con gái nho nhỏ ở Trường An.
Đôi tay nhỏ xinh xinh bện hai bím tóc đen.
Ở trong khuê phòng thầm kín chẳng biết sầu khổ là gì.
Cô còn đang quét hoa rụng xem chơi.

Cô con gái nho nhỏ ở Trường An,
Đôi mày tô điểm cong cong như hai vành trăng cánh cung.
Vì yêu thích sự trong sạch của hoa mai, nên... 
Cô ra gió ngắm hoa mà không cảm thấy lạnh.

Cô con gái nho nhỏ ở Trường An,
Một mình đứng tựa lan can trước khóm hoa.
chỉnh e người yêu nghe thấy, nên...
Cô đặt ngang đàn cầm, cười mà không gảy.

* DIỄN NÔM:

Có Niềm Cảm Xúc

Trường An cô thiếu nữ,
Tay ngọc búi tóc cao.
Phòng khuê nào biết khổ,
Quét hoa dạ chẳng nao !

Trường An cô thiếu nữ,
Mày trăng mới cong sao !
Thương mai hoa tinh khiết,
Gió bấc chẳng lạnh nào !

Trường An cô thiếu nữ,
Ngắm hoa tựa lan can.
Vì sợ chàng nghe thấy,
Cười e ấp không đàn ! 

Lục bát:

Trường An cô bé xinh xinh,
Tay ngà búi tóc cho mình thêm tươi.
Buồng khuê chỉ biết vui cười,
Quét tàn hoa rụng làm vui xuân về !

Trường An cô bé xinh ghê,
Đôi mi cong tựa trăng thề trên cao.
Yêu mai tinh khiết biết bao,
Mặc cho gió lạnh lao xao chẳng màng.

Trường An cô bé mơ màng,
Trước hoa ngồi tựa lan can e dè.
Chỉnh e đâu đó chàng nghe,
Đặt ngang cầm phím, cười e, không đàn !

Xuân Canh Tý 2020
Đỗ Chiêu Đức

Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2018

Giang Lâm Mộ Tuyết 江林暮雪 - Phạm Đình Hổ



江林暮雪                Giang Lâm Mộ Tuyết

漁舟反棹正黃昏     Ngư chu phản trạo chính hoàng hôn,
撒絮堆鹽塑景繁     Tán nhứ đôi diêm tố ảnh phồn.
倒蘸晚霞金世界     Đảo trám vãn hà kim thế giới,
尋梅有客自前村。 Tầm mai hữu khách tự tiền thôn.

範廷琥                     Phạm Đình Hổ

Dịch nghĩa:

Thuyền chài trở mái chèo đúng lúc chiều buông 
Tuyết rơi như bông gieo muối chất ánh trắng lấp loáng
Ráng chiều hắt ngược lại, thế giới như bằng vàng
Có người khách tìm mai, từ thôn trước đến

(Nguồn: Tuyển tập thơ văn Phạm Đình Hổ, 
NXB Khoa học xã hội, 1998)

Dịch Thơ:

Tuyết Chiều Trên Sông

Chiều đã buông, thuyền chèo trở mái,
Trên mặt sông tuyết giải trắng ngần.
Ráng chiều phản chiếu vàng sông,
Trước thôn có khách một lòng tìm Mai

Mailoc  
***
Tuyết Chiều Trên Sông

Thuyền chài trở mái lúc chiều buông
Tuyết xuống mênh mông trắng ngập sông
Vàng óng ráng chiều soi phản chiếu
Khách tìm mai đến tự bên thôn.

Phương Hà
***
Tuyết Chìm Trên Sông


Thuyền chài gác mái chèo buông
Nhìn bông tuyết đỗ trên sông trắng ngần
Ráng vàng phản chiếu mặt sông
Trước thôn khách đến dốc lòng tìm Mai

Song Quang
***
Tuyết Chiều Phủ Cây Rừng Bên Sông


Ngư ông trở mái lúc chiều rơi
Bông tuyết phủ giăng lánh sáng ngời
Sắc ráng tỏa ra vàng khắp nẻo
Yêu mai có khách ghé tìm chơi.

Quên Đi
***
Tuyết Phủ Ngập Đầy Rừng, Sông

Hoàng hôn trở mái chiếc ghe chài
Lấp loáng tuyết rơi phủ trắng dài
Lộng lẫy dát vàng sông sắc ráng
Có người thôn trước tới tìm mai

Mai Xuân Thanh
Ngày 05 tháng 07 năm 2018
***
Rừng Bên Sông Trong Chiều Tuyết Phủ

Chầm chậm chiều buông trở mái chèo
Trắng ngần bông tuyết nhẹ rơi theo
Tỏa vàng khắp lối kia màu ráng
Tìm mai khách viếng chốn cheo leo

Kim Phượng
***
* Dịch Nghĩa:
Chiều Tuyết Xuống Ở Cánh Rừng Ven Sông.
Thuyền câu vừa trở mái chèo thì trời cũng vừa lúc hoàng hôn, Tuyết rơi trắng xóa như muối rắc hoa bay tạo nên một cảnh trí hổn độn. Ráng chiều chiếu xuống nước sông hắt nguợc trở lên làm cho thế giới như nhuốm một màu vàng rực rỡ. Có người khách nào đó tìm mai đang đến ở đầu thôn.

* Diễn Nôm:

Thuyền câu trở mái lúc hoàng hôn,
Muối rắc hoa bay tuyết đổ dồn.
Phản chiếu nắng chiều vàng rực rỡ,
Tìm mai có khách đến đầu thôn.

Lục bát:
Hoàng hôn trở mái thuyền câu,
Tuyết như hoa muối rắc đâu lưng trời.
Ráng chiều vàng rực khắp nơi,
Đầu thôn có khách ngõ lời tìm mai!

Đỗ Chiêu Đức

* CHÚ THÍCH:
- Giang Lâm Mộ Tuyết : là Chiều Tuyết Xuống Cánh Rừng Ở Ven Sông.
- Ngư Chu : là Thuyền cá, có nghĩa là Thuyền câu, Thuyền Chài của dân đánh cá.
- Phản Trạo : là Trở mái chèo ngược lại, có nghĩa là Đi trở về.
- Tát Nhứ Đôi Diêm: Tát Nhứ 撒絮 là Rải những sợi bông nhẹ mà trắng như bông gòn, bông liễu. Đôi Diêm 堆鹽 là Rắc muối cho thành đống. Đây là thành ngữ chỉ cảnh tuyết rơi trắng xóa phất phơ như rắc muối, như hoa liễu bay. Thành ngữ nầy có xuất xứ như sau :
Thái Phó Tạ An đời nhà Tấn, có cháu gái là Tạ Đạo Uẩn, văn tài mẫn tiệp. Một hôm tuyết rơi. An hỏi: Tuyết rơi trông giống gì? Đứa cháu trai là Hồ Nhi đáp : 撒盐空中差可拟 Tát diêm không trung ta khả nghĩ, có nghĩa: Giống như là rắc muối trong không trung vậy. Đạo Uẩn thì đáp là : 未若柳絮因风起 Vị nhựơc liễu nhứ nhân phong khởi, có nghĩa : Chi bằng nói là Hoa liễu gặp gió bay đầy trời. Tạ An rất vui vì văn tài của hai cháu. Nên thành ngữ Tát Nhứ Đôi Diêm 撒絮堆鹽 hay Tát Diêm Phiêu Nhứ 撒盐飄絮 đều dùng để tả cảnh đẹp lúc tuyết rơi.
- Đảo Trám: Chấm ngược trở xuống, chỉ cảnh phản chiếu của trời chiều.
- Vãn Hà: là Ráng chiều, là mây ngũ sắc phía trời Tây khi mặt trời chen lặn.

Thứ Tư, 11 tháng 7, 2018

Hạ Nhật Giao Hành 夏日郊行 - Phạm Đình Hổ



夏日郊行       Hạ Nhật Giao Hành

家鄉何處是    Gia hương hà xứ thị
日在天之東    Nhật tại thiên chi đông
注望不可見    Chú vọng bất khả kiến
我心空沖沖    Ngã tâm không xung xung
長空多白雲    Trường không đa bạch vân
曠野多飄風    Khoáng dã đa phiêu phong
跱立倍惆悵    Trĩ lập bội trù trướng
無繼寄征鴻。Vô kế ký chinh hồng.

範廷琥             Phạm Đình Hổ

Dịch nghĩa:

Quê nhà nơi đâu nhỉ?Vầng dương đang ở bên trời đôngChăm chú nhìn mà không thể thấy đượcLòng ta luống buồn rầu
Trên khoảng không mênh mông thật nhiều mây trắngDưới cánh đồng khoáng đãng đầy gió lang thangĐứng lặng người, lòng thêm thổn thứcKhông có cách nào gửi theo cánh chim hồng

Dịch Thơ:

Ngày Hè Đi Chơi

Quê nhà giờ đâu nhỉ?
Mặt trời đang tại đông
Chăm chú mà không thấy,
Cho ta phút chạnh lòng.
Trên không chùm mây trắng,
Gió vi vu trên đồng.
Lặng người trong sầu lắng
Làm sao nhắn chim hồng?

Mailoc phỏng dịch
***
Ngày Hè Đi Chơi

Quê nhà ở tại phương nào nhỉ ?
Sáng rực mặt trời đang hướng đông
Chói lọi mắt nhìn không thấy ảnh
Bùi ngùi dạ nghĩ chẳng an tâm
Tầng không mây tụ đan trùng điệp
Ruộng rẫy gió qua thổi lộng lồng
Đứng lặng bên đường, tim thổn thức
Làm sao nhắn được cánh chim hồng?

Phương Hà phỏng dịch
***
Ngày Hè Dạo Chơi


Quê hương giờ ở phương nào nhỉ ?
Ánh nắng mặt trời chiếu hướng Đông
Tìm hoài chẳng thấy - như không
Khiến ta giây phút chạnh lòng chẳng an
Nhìn mây trắng bay đang vần vũ
Gió vi vu như phủ ngập đồng
Lặng người thổn thức trong lòng
Làm sao nhắn được chim hồng cho quê ??

Song Quang
***
Dạo Chơi Ngày Hè


Vầng dương vừa ló dạng
Quê cũ ở phương nào
Dõi mắt tìm không thấy
Khiến lòng càng quặn đau
Tầng không mây trắng trắng
Đồng trống gió ào ào
Đứng mãi thêm sầu muộn
Nhờ chim hồng cách nao.

Quên Đi
***
Hè Dã Ngoại

Quê hương giờ có biết nơi nào?
Trời mọc phương đông chóng vánh cao
Chú ý trông nhà không thể thấy
Nhìn chi mỏi mắt luống thương đau
Không gian mây trắng bay nhiều lắm
Đồng trống gió lùa thổi rất mau
Thổn thức con tim người đứng lặng
Cánh hồng bay bổng nhắn làm sao!

Mai Xuân Thanh
Ngày 29 tháng 06 năm 2018
***
Ngày Hè Dạo Chơi

Quê hương ở nơi nao
Vầng dương ló dạng chào
Hoài trông tìm không thấy
Ruột bào quặn thắt đau
Trên cao mây trắng trôi
Đồng mênh mông gió thổi
Đứng lặng trong ngậm ngùi
Chim hồng nhắn hộ tôi?

Kim Oanh
***
Hạ Nhật Giao Hành 
* CHÚ THÍCH:
- Hạ Nhật : là Ngày Hè, tức là Mùa Hè. Hạ Nhật Giao Hành là Mùa Hè đi dạo ở ngoại thành.

- Chú Vọng : Chăm chú mà nhìn ngắm.
- Trường Không : Bầu trời dài, ý chỉ Bầu trời rộng lớn.
- Khoáng Dã : là Ngoài đồng trống.
- Trĩ Lập : Đứng thẳng, đứng yên một chỗ.
- Trù Trướng : là Bàng Hoàng, Ngơ ngẩn.
- Vô Kế : là Không có kế sách gì cả, ý chỉ Không có cách chi, Không biết phải làm sao.
- Chinh Hồng : là Chim hồng nhạn bay về cỏi trời xa. Ngày xưa dùng chim Hồng Nhạn để đưa tin, nên Tin Nhạn còn có nghĩa là tin thơ từ phương xa gởi đến.

* DỊCH NGHĨA:
Ngày Hè Đi Dạo Ở Ngoại Thành
Quê hương ở tận nơi nào ? Mặt trời đang mọc ở hướng trời đông, ta dõi mắt trông về nơi đó mà không thấy được gì cả, làm cho lòng ta cảm thấy trống trải bồn chồn. Trên bầu trời rộng lớn nổi trôi nhiều mây trắng, và ngoài đồng trống mênh mông gió vi vút thổi nhiều. Ta đứng lặng nhìn mà lòng càng bàng hoàng ngơ ngẩn, vì không biết làm sao để gởi cánh chim hồng nhạn mang nỗi lòng của ta về tận quê nhà ! 

* DIỄN NÔM :
Ngày Hè Đi Dạo Ngoại Ô

Quê nhà nơi đâu nhỉ ?
Mặt trời rạng hướng đông.
Mõi mắt nhìn không thấy,
Lòng ta những phập phòng.
Mây trắng bay vội vả,
Gió lộng ngoài đồng không.
Đứng lặng nhìn cánh nhạn,
Làm sao gởi chút lòng !?

Lục bát:
Quê hương ở tận nơi đâu?

Mặt trời chiếu sáng trên đầu hướng đông.
Trông theo nào thấy mà trông,
Lòng ta luống những nhớ mong bồi hồi.
Về đâu mây trắng đầy trời,
Gió ngoài đồng trống tựa lời thiết tha.
Đứng yên ngơ ngẩn nhớ nhà,
Làm sao gởi cánh chim xa bay về !?

Đỗ Chiêu Đức

Thứ Ba, 3 tháng 7, 2018

Đông Ngạc Lữ Trung 東鄂旅中 - Phạm Đình Hổ



東鄂旅中             Đông Ngạc Lữ Trung

二十年來一旅人    Nhị thập niên lai nhất lữ nhân
東風回首淚沾巾    Đông phong hồi thủ lệ triêm cân
家香拋擲難爲孝    Gia hương phao trịch nan vi hiếu
羈旅奔馳只為貧    Cơ lữ bôn trì chỉ vị bần
客裡又逢梅雨夜    Khách lý hựu phùng mai vũ dạ
愁中猶夢固園春    Sầu trung do mộng cố viên xuân
何當歸訪林唐景    Hà đương quy phỏng Lâm Đường cảnh,
坐聽松琴對白雲。Toạ thính tùng cầm đối bạch vân.
範廷琥                    Phạm Đình Hổ

Dịch nghĩa:

Hai mươi năm nay là một lữ nhân
Trong gió đông ngoái đầu nhìn lại nước mắt đẫm khăn
Vứt bỏ quê nhà khôn gọi là hiếu
Ngược xuôi lữ thứ cũng chỉ vì nghèo
Chốn đất khách lại gặp đêm mai vũ
Trong nỗi sầu còn mơ đến mùa xuân ở vườn xưa
Biết lấy gì để khi trở về tìm hỏi cảnh Lâm Đường
Ngồi nghe tiếng thông đàn ngắm mây trắng trôi

Dịch Thơ:


Cảnh Lữ Thứ Ở Đông Ngạc

Hai mươi năm xa quê lòng chạnh,
Ngoảnh đầu nhìn đông lạnh lệ sa.
Hiếu đâu? ruồng bỏ quê nhà!
Bởi nghèo , lữ thứ bôn ba miệt mài.
Đêm đất khách thương mai tan tác,
Mộng vườn xưa man mác tình quê.
Lam Đường cảnh cũ tái tê,
Thông reo sầu lắng, lê thê mây ngàn.

Mailoc phỏng dịch
***
Đời Lữ Khách Ở Đông Ngạc

Sống cảnh tha phương hai chục năm
Gió đông ngoái lại, lệ đằm khăn
Xa lìa quê mẹ, rời câu hiếu
Xuôi ngược xứ người, lo miếng ăn
Đất lạ đêm mưa, mai trút cánh
Vườn xưa ngày mộng, dạ vời xuân
Lấy gì gợi cảnh Lâm Đường cũ
Chỉ tiếng đàn thông, mây trắng lan

Phương Hà phỏng dịch
***
Đời Lữ Khách Ở Đông Ngạc
Hai mươi năm kiếp tha hương
Giờ đây nghĩ lại khiến tuông lệ nhòa
Hiếu gì?? Ruồng rẩy quê cha
Bởi nghèo,bỏ nước bôn ba xứ người
Sống đất khách,lỡ một đời
Mà còn mơ đến xưa :thời còn Xuân
Lam Đường luống dạ bâng khuâng
Còn trông mây trắng, nghe thong dạo đàn.

Song Quang
***
Nơi Lữ Điếm Đông Ngạc


Hai mươi năm đã lìa xa xứ
Nhìn gió xuân về lệ chứa chan
Rời bỏ quê nhà chưa trọn hiếu
Ngược xuôi quán trọ bởi cơ hàn
Gặp đêm chốn lạ mai rơi rụng
Mộng nhớ vườn xưa dạ khó an
Muốn hỏi Lâm Đường nhưng chẳng thể
Não nề thông hát áng mây tan.

Quên Đi
***
Lữ Khách Ở Đông Ngạc

Lữ khách xa quê hai chục năm
Gió đông đẫm lệ chẳng về thăm
Chưa tròn chữ hiếu lòng đau xót
Không vẹn đạo con dạ oái ăm
Quán trọ tha hương mai cánh rã
Vườn xưa viễn xứ mộng xuân nằm
Lâm Đường ngại hỏi bao thương nhớ
Mây trắng thông reo mấy chẳng cầm

Mai Xuân Thanh
Ngày 26 tháng 06 năm 2018
***
Đông Ngạc Lữ Trung 

* CHÚ THÍCH:

- Lữ Nhân : Người lữ thứ, kẻ xa quê.
- Đông Phong : Gió hướng đông là gió xuân.
- Phao Trịch : Phao là Ném; Trịch là Liệng, nên Phao Trịch có nghĩa là Vứt Bỏ.
- Ký Lữ : Chữ 羈 vừa đọc là Cơ, là Ki, là Ký, có nghĩa Cái mặt nạ chụp vào đầu ngựa và sợi dây cương ngựa, thường dùng để chỉ sự Trói Buộc hoặc Đi Xa. Nên KÝ LỮ là Xa nhà trường kỳ, gởi thân nơi đất khách lâu ngày.

- Bôn Trì: Bôn là Chạy nhanh bằng chân; Trì là Chạy nhanh bằng ngựa. Nên BÔN TRÌ là giong ruổi, là Chạy ngược chạy xuôi, giống như từ Bôn Ba vậy.
- Mai Vũ: là Những trận mưa giao mùa giữa xuân và hạ, cũng là thời khắc của trái mai(me) của xứ Giang Nam chín rộ, nên còn gọi là Hoàng Mai Thiên Khí 黃梅天氣.

- Hà Đương: là Bao giờ, là Biết đến bao giờ.
- Tòng Cầm: Đàn của Thông, là Tiếng Thông reo.

* DỊCH NGHĨA :
Thân Lữ Thứ Nơi Đông Ngạc

Là kẻ tha hương lữ thứ suốt hai mươi năm nay, nên khi thấy gió xuân thổi, quay đầu nhìn về hướng quê xưa mà không ngăn được lệ nhỏ đầm khăn. Là kẻ dứt bỏ quê nhà để ra đi nên khó mà làm tròn chữ hiếu, và trường kỳ bôn ba ngược xuôi nơi xứ lạ quê người cũng chỉ vì nghèo mà thôi. Ở nơi đất khách xa xôi nầy mỗi lần gặp những đêm mưa giao mùa lại làm cho ta buồn nhớ và mơ về với những mùa xuân nơi đất mẹ. Biết đến bao giờ mới được về thăm lại cảnh cũ ở Lâm Đường mà nhàn nhã nghe tiếng thông reo và ngắm nhìn mây trắng trôi nổi ở ven trời.

* DIỄN NÔM:

Hai mươi năm lẻ khách phương trời,
Ngảnh lại gió xuân khiến lệ rơi.
Nhà cửa xa xôi đâu hiếu để,
Quê người lận đận chỉ nghèo thôi.
Những sầu đất khách đêm mưa đổ,
Lại nhớ làng quê mộng rối bời.
Biết đến bao giờ về chốn cũ,
Ngồi nghe thông réo ngắm mây trôi !?

Lục bát:
Hai mươi năm kiếp xa nhà,
Gió xuân nhìn lại xót xa lệ trào.
Xa quê hiếu khó trọn nào,
Một thân trôi nổi nghèo sao lại buồn.
Đêm nằm lắng hạt mưa tuôn,
Sầu quê dằng dặc còn vương mộng hồn.
Bao giờ về lại Lâm Đường,
Ngắm mây trắng xóa đàn dường thông reo !?

Đỗ Chiêu Đức







Thứ Năm, 28 tháng 6, 2018

Quá Kim Liên Tự 過金蓮寺 - Phạm Đình Hổ 1768 - 1839



過金蓮寺             Quá Kim Liên Tự 

萍梗漂浮客故京 Bình ngạch phiêu phù khách cố kinh 
金蓮寺裡幾回經 Kim Liên tự lý kỷ hồi kinh 
三秋樹色連村翠 Tam thu thụ sắc liên thôn thuý 
萬頃湖光一鏡平 Vạn khoảnh hồ quang nhất kính bình 
瓦雀巢邊參定相 Ngoã tước sào biên tham định tướng 
石榴叢畔渡經聲 Ngoã tước sào biên tham định tướng 
浮生自是多勞漉 Phù sinh tự thị đa lao lộc 
時向空門得靜名 Hướng không môn đắc tĩnh danh. 

範廷琥                 Phạm Đình Hổ 1768 - 1839
***
Dịch nghĩa
Cánh bèo trôi nổi, làm khách kinh đô cũ
Nơi chùa Kim Liên, đã mấy lần qua
Sắc lá ba thu, liền với xóm làng xanh biếc
Vạn khoảnh hồ sáng, phẳng lặng như một tấm gương
Tổ sẻ ngói ở bên, tham định tướng
Khóm thạch lựu gần cạnh, đón tiếng kinh
Kiếp phù sinh tự gặp nhiều vất vả
Thường hướng cửa thiền để được yên thân

Dịch Thơ:
Qua Chùa Kim Liên

Khách bèo dạt nơi kinh thành cổ
Chùa Kim Liên mấy độ thăm qua.
Ba thu, cây biếc, xóm nhà,
Hồ trong phẳng lặng như là mặt gương.
Tổ sẻ ngói như dương định tướng
Khóm thạch hựu đang tưởng lời kinh,
Phù sinh thương xót phận mình
Cửa thiền thanh tịnh tâm tình lặng yên

Mailoc phỏng dịch
***
Qua chùa Kim Liên

Thân tựa cánh bèo dạt cố kinh
Chùa xưa ghé lại, nặng ân tình
Trời thu sắc nhuộm, cây ngời biếc
Mặt nước gương soi, cảnh lặng thinh
Sẻ ngói gật gù, tâm chánh niệm
Lựu vườn đứng lặng, trí an nhiên
Phù sinh một kiếp đầy lo lắng
Tìm đến cửa thiền dạ ổn yên

Phương Hà phỏng dịch
***
Qua Chùa Kim Liên

Thân bèo trôi nổi cổ thành
Chùa Kim Liên đã bao lần ghé qua
Ba năm cách biệt quê nhà
Hồ trong phẳng lặng như là gương soi
Tổ sư thiền định đang ngồi
Mõ chuông bên cạnh,vang lời kệ kinh
Xét than cũng kiếp phù sinh
Thôi thì hồi hướng để mình được yên.

Song Quang
***
Thăm Chùa Kim Liên

Thân bèo trở lại cố đô
Kim Liên chùa cũ ghé vô nơi này
Ba năm vẫn biếc hàng cây
Kìa muôn điểm sáng ngập đầy hồ yên
Cả nhà sẻ cũng tham thiền
Nghe kinh lựu đá ngoài hiên ngóng chờ
Cuộc đời sướng khổ khó ngờ
Tìm về cửa phật tâm giờ được an.

Quên Đi
***
Qua Chùa Kim Liên

Cố đô mặc khách cánh bèo trôi
Mấy độ Kim Liên Tự ghé rồi
Sắc lá ba thu làng xóm biếc
Hồ gương vạn khoảnh mảnh trăng đôi
Tổ gần sẻ ngói tham thiền định
Thạch lựu kề bên chánh niệm thôi
Một kiếp phù sinh trong bể khổ
Cửa chùa nương bóng tấm thân côi

Mai Xuân Thanh
Ngày 26 tháng 06 năm 2018
***

2. CHÚ THÍCH:
* Kim Liên Tự 金蓮寺 : Là ngôi chùa nổi tiếng ở Thăng Long, nằm sát bên Hồ Tây, nay thuộc phường Quảng Bá, quận Tây Hồ, Hà Nội.

* Bình Ngạnh 萍梗 : Bình là Bèo, Ngạnh là Cành Nhánh; nên Bình Ngạnh là Cánh bèo có rể mà không nơi bám, thường dùng để ví với những người sống rày đây mai đó, không có chỗ ổn định.

* Phiêu Phù 漂浮 : Phiêu là Trôi, Phù là Nổi; nên Phiêu Phù có nghĩa là Trôi Nổi Nôi Trôi.

* Vạn Khoảnh 萬頃 : Một trăm mẫu là một KHOẢNH, nên Vạn Khoảnh là chỉ không gian hoặc mặt bằng rất to lớn.

* Ngõa Tước 瓦雀 : Ngõa là Ngói, Tước là Chim Se Sẻ; Ngoã Tước là tên riêng của Chim Sẻ, vì loại chim này hay làm ổ và sống ở giữa rường nhà và mái ngói mà có tên Ngõa Tước. Nên, Ngõa Tước Sào chỉ có nghĩa là Tổ Chim Sẻ mà thôi.

* Tham Định 參定 : là Tham thiền nhập định.

* Thạch Lựu 石榴 : là Cây Lựu, Trái Lựu; ở đây vì muốn đọc cho đúng Luật Bằng Trắc nên mới đọc là Thạch Lưu. Thạch Lựu Tùng là Cái Khóm hoặc Cái Chòm cây lựu.

* Độ Kinh 渡經 : là Hồi kinh siêu độ.
* Tự Thị 自是 : là " Tự nó đã là ..."; nên có nghĩa là "Vốn Dĩ..."

1. DỊCH NGHĨA:

Ghé Ngang qua chùa Kim Liên

Như cánh bèo trôi nổi, nay ta lại làm khách của đất kinh thành cổ xưa nầy, nơi chùa Kim Liên mà ta đã mấy lần ghé qua. Đã ba mùa thu qua rồi, nhưng màu sắc của cỏ cây nơi đây vẫn xanh biếc đến cuối thôn, và mặt Tây Hồ mênh mông trước mắt vẫn như một tấm gương phẵng lặng loang loáng. Các nhà sư vẫn đang tham thiền nhập định vô sắc tướng bên các tổ chim sẻ ríu rít trên rường, và tiếng tụng kinh siêu độ thế nhân vẫn văng vẳng bên chòm thạch lựu trước hiên chùa. Kiếp phù sinh vốn dĩ đã nhiều lao nhọc rồi, cho nên đôi lúc ta cũng nên hướng về cửa không để tìm chút yên tĩnh nào đó cho tâm hồn. 

Cảnh chuà Kim Liên thật yến ắng thanh tịnh, làm cho tâm hồn của người lãng tử phiêu bạt trôi nổi đó đây của Phạm Đình Hổ khi đi ngang qua đây cũng tìm lại được chút yên tĩnh của kiếp phù sinh vốn đã nhiều vất vả nổi chìm !

4. DIỄN NÔM:
Qua Chùa Kim Liên

Trôi nổi lại làm khách cố kinh,
Kim Liên chùa cũ đến bao lần.
Ba thu cây cỏ liền thôn biếc,
Muôn khoảnh hồ gương phẳng nước xanh.
Kinh độ thế nhân vang khóm lựu,
Sư thiền nhập định ngẫm nhân sinh.
Cuộc đời vốn dĩ nhiều lao nhọc,
Tìm chút an nhàn chốn cửa không!

Đỗ Chiêu Đức

Đây là bài diễn Nôm tệ hại nhất, vì 5 vần, không vần nào ăn vần nào cả!
....................................................

Dưới đây là tài liệu văn học tìm thấy trên thivien.net . Nhận thấy có nhiều từ và câu giải thích chưa đúng nghĩa (chỉ theo ý của riêng tôi). Nên trích ra đây để THAM KHẢO, chớ không dám chê trách việc làm của người đi trước.
ĐCĐ

Quá Kim Liên Tự

Bình ngạch phiêu phù khách cố kinh,
Kim Liên tự lý kỷ hồi kinh.
Tam thu thụ sắc liên thôn thuý,
Vạn khoảnh hồ quang nhất kính bình.
Ngoã tước sào biên tham định tướng,
Thạch lựu tùng bạn độ kinh thanh.
Phù sinh tự thị đa lao lộc,
Thời hướng không môn đắc tĩnh danh.

Dịch nghĩa

Cánh bèo trôi nổi, làm khách kinh đô cũ
Nơi chùa Kim Liên, đã mấy lần qua
Sứac lá ba thu, liền với xóm làng xanh biếc
Vạn khoảnh hồ sáng, phẳng lặng như một tấm gương
Tổ sẻ ngói ở bên, tham định tướng
Khóm thạch lựu gần cạnh, đón tiếng kinh
Kiếp phù sinh tự gặp nhiều vất vảThường hướng cửa thiền để được yên thân

Chỉ trích ra để tham khảo và trao đổi mà thôi!
Nay kính,

Đỗ Chiêu Đức