Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Minh Nữu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Minh Nữu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2026

Thi Tập Miền Đông Bốn Mùa Xuân Hạ Thu Đông

 

Thi Tập Miền Đông
Bốn Mùa Xuân Hạ Thu Đông

(Đề Thơ tặng Ban Biên Tập Miền Đông Văn Bút, Hoa K)

Mùa Xuân rộ nở thắm ngàn hoa
Thi phú điểm tô nét ngọc ngà
Đượm sắc hương yêu Xuân Ất Tỵ
Miền Đông Văn Bút đến gần xa...


Cánh Phượng chao nghiêng đón Hạ về
Ấm tình Thi Tập kết hồn quê
Bao năm ly xứ ôi vời vợi
Được dịp tuôn trào nỗi thỏa thuê...


Giao mùa thư thả mực mài xong
Nét bút ung dung tỏ nỗi lòng
Nhặt lá chép lời thơ phổ nhạc
Mang hồn Thu dạo khúc mênh mông...

Cái lạnh đầu Đông ở xứ người
Nỗi sầu chất ngất nói sao vơi
Viết bao thi tứ làm sao đủ
Thi Tập Miền Đông tải hộ tôi...

Kim Oanh
Melb. 2026

Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2026

Số 19 Kỳ Đồng


Năm 1972, Thắng rủ tôi tới 19 Kỳ Đồng, quận 3, nằm đối diện hơi xéo về phía trái nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế. Lúc bấy giờ nơi này đang được sử dụng làm Văn Phòng Liên Lạc Sinh Viên Quốc Nội và Hải Ngoại. Đây là một tòa biệt thự cổ của Pháp, bước vào là một khoảng sân khá rộng, rồi bước tới phòng khách có thể sinh hoạt chung năm bảy chục người, trong nữa là ba phòng dùng làm văn phòng, phòng họp và phòng văn thư. Chỗ này là nơi gặp gỡ và sinh hoạt cho sinh viên đang đi du học nước ngoài khi về nước có chỗ tìm đến nhau, làm quen, kết bạn và tham dự các sinh hoạt cùng sinh viên trong nước. Điều hành chung là anh Đỗ Ngọc Yến. Anh Yến là Huynh trưởng của phong trào Du Ca nên đây là nơi các Huynh trưởng nhạc sĩ của Du Ca thường ghé chơi như các anh Ngô Mạnh Thu, Nguyễn Đức Quang, Trần Văn Bùi và các trưởng trẻ của Du Ca như Đặng Mục Tử, Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn Hữu Nghĩa, Bùi Công Bằng...

Trong số các sinh viên làm việc thường xuyên tại văn phòng, tôi quen với Lương Văn Tự, Nguyễn Ngọc Linh, Đinh Việt Hùng, Nguyễn Văn Thanh. Ở địa điểm này, mỗi cuối tuần có những buổi sinh hoạt trình diễn âm nhạc truyền thống, và một đơn vị Du Ca hoạt động thường xuyên là Ca Đoàn Trung Ương của Phong trào Du Ca.

Hôm đó, Nguyễn Quyết Thắng đưa tôi tới để xem Thắng trình diễn một số ca khúc trong chương trình cuối tuần. Trước phần trình diễn của Thắng là một màn độc tấu đàn tranh. Người nữ thướt tha trong áo dài gấm vàng, đội khăn hoàng hậu. Cô ta ngồi xuống, cây đàn để trên đùi và ngón tay thoăn thoắt lướt trên 16 sợi dây đàn, tỏa mênh mông suốt khán phòng một làn hương dân ca dìu dặt. Tôi nghe và thấy lòng dào dạt thương yêu. Đôi mắt cô ta tròn xoe, lúc nhìn xuống đàn, lúc ngước lên nhìn bao quát, tôi nhìn được một cái gì đó mơ màng như mắt nai, và dịu dàng như người em gái nhỏ. Hết phần trình diễn này là tới phần Thắng hát. Tôi ngơ ngác nhìn theo cô bước vào hậu trường. Không cần ai giới thiệu tôi bước theo cô và làm quen.

- Lúc nãy tôi vào trễ nên không nghe được người ta giới thiệu cô tên gì. Vậy cô tên gì?
Cô ta quay lại nhìn tôi, vẫn cặp mắt mơ màng đó nhìn từ trên xuống dưới rồi trả lời nghiêm chỉnh:
- Tuần sau, anh tới sớm hơn sẽ nghe được người ta giới thiệu tên người trình diễn mà.
- Ồ… Nguyễn Văn Thanh, người điều khiển chương trình, là bạn tôi, tôi có thể hỏi anh ta.
- Thế sao anh không hỏi anh ta mà hỏi tôi?
- Trời ạ, tôi tưởng hỏi cô thì nhanh hơn chứ.
- Anh lầm rồi đó.
Nói xong cô mỉm cười có vẻ hài lòng và quay mình bước vào phòng.

Tôi đành thở dài quay lại hội trường ngồi nghe Thắng hát và chờ cuối chương trình sẽ hỏi lại. Nguyễn Văn Thanh mà sau này trở thành một đạo diễn kịch nghệ với tên Phương Cửu cho biết cô ta tên Ngọc Trai, sinh viên Khoa Học, thành viên ca đoàn Trung Ương. Khi chương trình chấm dứt, tôi không về ngay mà chờ cô ta ra là bước tới hỏi chuyện:
- Ngọc Trai về một mình mà tay cầm đàn có vướng không? Hay tôi đưa Ngọc Trai về nhe?

Cô ta khựng lại, nhìn tôi, bây giờ thì cô ta đeo cặp kính trắng to. Cặp mắt không còn mơ màng nữa, mà sắc như dao lướt qua tôi. Nhưng cô lại cười tươi tắn:
- Được chứ. Anh đến đây bằng gì?
- Bạn tôi chở.
- Vậy anh định đưa tôi về bằng gì?
- Ơ.., tôi… tôi…
May quá, Thắng chạy tới cứu bồ, Thắng nói tôi chở Nữu cầm đàn cho Ngọc Trai và chạy theo Ngọc Trai về nhà như vậy an toàn hơn.
Ngọc Trai trả lời:
- Tôi nghĩ rằng tôi đi một mình an toàn hơn.
Cô ta ngừng một chút rồi nói:
“Nhưng nếu hai anh chạy theo bảo vệ thì cũng vui mà...”

Từ lúc quen Ngọc Trai, tôi tới chơi với Văn Phòng Liên Lạc nhiều hơn, từ đó kết thân với Nguyễn Ngọc Linh và Đinh Việt Hùng. Cả hai đều là Du Ca, và là nhân viên thường trực tại văn phòng. Đinh Việt Hùng hát hay, vừa đoạt giải Khôi Nguyên Tiếng Hát Sinh Viên, còn Nguyễn Ngọc Linh thì phụ trách về Kỹ Thuật, là toán trưởng một toán Du Ca.

Đầu tiên là hẹn Ngọc Trai ở văn phòng liên lạc. Thuở ấy, phương tiện liên lạc với nhau chỉ là viết thư, không có phone, không có fax, cho nên gặp lần này là hẹn lần sau, hoặc tới sớm nhìn lên bảng nhắn tin coi có mẩu nhắn tin nào gắn lên đó.

Văn phòng 19 Kỳ Đồng là nơi gặp gỡ của sinh viên các trường Đại Học trong và ngoài nước. Tôi là một người đặc biệt, cũng là sinh viên, nhưng là sinh viên Sĩ quan Thủ Đức. Mỗi chiều thứ sáu, đi phép về là đi thẳng tới văn phòng, vẫn mặc trên người quân phục đi phép. Thường thì sau giờ sinh hoạt chung, khoảng hơn 8 giờ tối, Ngọc Trai và tôi đi về trên chiếc xe Yamaha nữ màu xanh nước biển của Ngọc Trai. Một lần, vừa tới nơi, tôi thấy Ngọc Trai vẫn còn ngồi trên xe ở sân trước. Cô ngoắt tôi chỉ ra ngoài. Đi theo ra ngoài, ngồi phía sau cho Ngọc Trai chở, tôi vẫn nghĩ là sẽ chạy lăng quăng đâu đó như mọi lần, rồi ghé quán cà phê Phấn Thông Vàng trên đường Nguyễn Thông nghe nhạc tình hoặc ghé hội quán Cây Tre ở Đinh Tiên Hoàng nghe nhạc thân phận, nhưng khi chạy ra tới Ngã Sáu, Ngọc Trai quay lại hỏi tôi nhà ở đâu.
- Nhà... nhà ai?
- Nhà bạn chứ ai.
- Để làm gì?
- Về thay đồ dân sự đi.


Tôi chỉ đường cho cô chạy về cầu chữ Y, vào nhà thay vội bộ quần áo dân sự rồi lại leo lên xe cho cô chở đi, chẳng hỏi là đi đâu. Ngọc Trai chạy về phía quận 6, rẽ vào khu cư xá Phú Lâm B, và ghé vào một căn nhà lớn như một cái biệt thự. Bên trong có khoảng mười mấy thanh niên nam nữ ngồi quanh nhau, mọi người chào hỏi vui vẻ và bày biện ra bánh kẹo trái cây nói rằng hôm nay là sinh nhật ai đó. Lát sau có một người tới nữa, lớn tuổi hơn chúng tôi, người này mọi người gọi là anh Huỳnh.

Anh Huỳnh thấp người, khuôn mặt vuông vức nhưng xanh lét như người bệnh sốt rét. Ngọc Trai nói với tôi anh Huỳnh trước học ở Khoa Học, ra trường lâu rồi, tới đây chơi như một người anh. Khi vòng tròn ăn uống tạm vơi, anh Huỳnh có nói gì đó về trách nhiệm thanh niên, về dân tộc, sau đó hướng dẫn mọi người cùng vỗ tay hát chung một số bài ca sinh hoạt thanh niên. Trong đó có bài tôi biết, có bài tôi không biết. Anh Huỳnh liếc qua tôi và lục trong túi xách mang theo một xấp giấy đưa cho tôi, giọng thân mật, nhắc tôi nhìn vào giấy này và hát theo mọi người.

Tôi gật đầu, lật phớt phớt vài trang xấp giấy quay ronéo đó, đọc và giật mình khi thấy thoáng qua là những lời ca mang nặng tính đấu tranh và hận thù. Tôi chợt hiểu lý do Ngọc Trai muốn tôi thay quần áo dân sự trước khi đến đây. Tôi ngồi im suốt buổi, cho tới khuya mới về.

Ngọc Trai chở tôi về nhà cô ta. Nhà nằm trong đường hẻm đối diện trường Quốc Gia Hành Chánh ở đường Trần Quốc Toản. Căn nhà rộng bề ngang và khá sâu, bên ngoài là phòng khách, rồi tới một phòng lớn có cầu thang lên lầu, phía sau là xưởng ép đế giày bằng mủ cao su. Tôi gặp mẹ của Ngọc Trai. Cụ bảo khuya quá đi đường không tiện, cháu cứ ngủ lại trong xưởng với mấy anh công nhân cũng được. Tối đó, tôi lấy cái ghế bố ngủ lại ở cái phòng có cầu thang lên lầu. Gia đình Ngọc Trai ở trên lầu, cửa khóa lại.

Tôi học ở Thủ Đức xong, ra trường về đơn vị ở tiểu khu Định Tường. Đôi mắt cận thị nặng không phù hợp cho những đêm di chuyển giữa bùn lầy sình nhão, nên tôi xin đi khám mắt và sau đó được giải ngũ vào cuối năm 1974. Những ngày còn quanh quẩn ở Saigon, Ngọc Trai thường đưa tôi đi gặp nhiều nhóm bạn khác lạ. Dù dị ứng với chính trị, nhưng tôi cũng mường tượng ra một cái gì không bình thường ở những nhóm sinh hoạt này.

Tôi thường từ chối đến với các sinh hoạt thanh niên theo từng nhóm, viện lý do không phù hợp để đưa Ngọc Trai rong chơi trong thành phố. Trên chiếc xe hai bánh màu xanh nước biển, tôi chạy dọc bến sông, từ bến Bạch Đằng, qua bến Hàm Tử, qua bến Lê Quang Liêm vào tuốt gần Bình Chánh, rồi ngược ra, chạy theo xa lộ Đại Hàn, chạy ven phía nam thành phố, qua đến Bình Dương, vòng xuống Gò Vấp để về lại Hàng Xanh… Có khi chúng tôi dừng lại ven đường, ghé vào một quán cóc gọi ly cà phê đen đá, thong thả nhìn đời sống kham khổ nhưng yên bình của người dân, có khi trời còn nắng, chúng tôi chạy vào rừng cao su ven xa lộ, ngồi nghỉ ngơi dưới tàn lá rậm, rì rào con gió mùa hè và nghe Ngọc Trai khao khát một đời sống bình yên khi đất nước hòa bình…

Ngọc Trai nằm thoải mái xoải chân trên nền lá vàng, hát mê say: Nếu là chim tôi sẽ làm loài bồ câu trắng, nếu là hoa tôi sẽ là một đóa hướng dương (Tự Nguyện - nhạc Trương Quốc Khánh).

Còn tôi, tôi hát cho Ngọc Trai nghe Bài Hương Ca Vô Tận của Trầm Tử Thiêng: Hát nữa đi Hương hát điệu nhạc buồn, điệu nhạc quê hương. Hát nữa đi Hương hát lại bài ca tiễn anh lên đường. Ngày đao binh chưa biết còn bao lâu, cuộc phân ly may lắm thì qua mau. Hát nữa đi Hương hát để đợi chờ…

Những lúc không đi đâu, tôi cùng Ngọc Trai thường đứng ở lầu một biệt thự 19 Kỳ Đồng. Khung cửa sổ lớn nhìn ra khoảng sân rộng bên dưới, ngoài đường tiếng xe chạy vọng vào xa xa, chiều về chầm chậm, tiếng chuông nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế thánh thót báo lễ chiều và thả hồn mình vào những khao khát hòa bình dù chưa biết cuộc tương tàn sẽ chấm dứt bằng cách nào. Hiệp định Paris đã ký kết cả ba năm rồi mà có ngày nào trên đất nước không có tiếng súng đâu.

Buổi sáng ngày 30/4/1975, tôi đứng trên đường Nguyễn Biểu, nhìn dòng người táo tác, mặt mày thất sắc, ôm đồ đạc chạy từ quận 8 qua, rồi lát sau, một toán bộ đội súng cầm tay đi tới. Cái cảm giác bàng hoàng, buồn vui lẫn lộn. Vậy là hòa bình rồi hả? Vậy là chấm dứt chiến tranh rồi hả? Cái chết không còn là sự đe dọa nữa nhưng rồi cuộc sống sẽ như thế nào đây…

Bất ngờ nhìn thấy chiếc xe Yamaha chạy vào hẻm, tôi vội về nhà, và sửng sốt nhìn Ngọc Trai.
Là Ngọc Trai đó sao? Vẫn trên chiếc xe gắn máy quen thuộc, nhưng hôm nay Ngọc Trai mặc đồ xanh của bộ đội miền bắc, sau lưng đeo một khẩu súng dài, chiếc mũ tai bèo cột chặt dưới cằm thật xa lạ trong mắt tôi.
Cô ta ngoắt tay, kêu tôi ngồi lên xe. Đi đâu? – Đi, làm việc. – Làm việc gì? Tôi biết gì mà làm? – Lên xe đi, lát nữa rồi biết.


Ngọc Trai chạy về phía Chợ Lớn, chạy qua Nguyễn Tri Phương, bùng binh An Dương Vương, rồi ghé vào Đại Học Xá Minh Mạng. Ngoài cổng Đại Học Xá có người gác cửa, họ quen thuộc với Ngọc Trai nên mở cổng cho cô chạy vào. Bên trong, không có một sinh viên nào mà thấp thoáng từng toán bộ đội ngồi đứng xa xa… Ngọc Trai đưa tôi vào một dãy nhà đang có đông người lố nhố, có thường phục, có áo bộ đội, có nón cối, có dép râu, có mũ tai bèo. Chợt một người quay ra nhìn tôi cười, khuôn mặt xanh xám, hai tay lỏng khỏng trong cái áo bộ đội quá khổ. Người này nói ông rất vui khi gặp lại tôi… Tôi khựng lại và nhớ ra… anh Huỳnh. Ngọc Trai nhanh chóng giới thiệu, Huỳnh là họ thôi, anh Tư đây nguyên là Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn đó. Tôi bật lên, à…

Mấy ngày sau đó, tôi hiểu ra. Cái mặt ngoài là mồ côi cha của Ngọc Trai chỉ là cái vỏ bọc. Cô ta là con gái của một cán bộ nằm vùng. Căn nhà mà tôi đã từng tới, đã từng ngủ lại là một cơ sở bí mật tàng trữ vũ khí. Công việc sản xuất đế giày cao su cũng là mặt nổi để họ vận chuyển vũ khí vào thành phố gói kín trong những bành cao su to đùng chuyển từ Tây Ninh về. Tôi còn biết thêm cái ghế bố mà tôi đã từng nằm được kê trên nắp hầm bí mật chứa vũ khí bên dưới. Sau này, người ta giữ lại căn nhà Ngọc Trai ở như một di tích, vì đó là nơi duy nhất ở Saigon cất giấu vũ khí đạn dược mà không bị phát hiện.

Ngọc Trai tạo điều kiện để tôi tới nhà và gặp người Cha bí mật của mình. Thân phụ của cô người cao lớn, nói tiếng Bắc vùng Nam Định, câu chuyện không dài nhưng cởi mở. Ông nói:
“Tôi nghe bà nhà nói về chuyện cậu với con Ngọc Trai nhà tôi. Tôi biết cậu là Sĩ quan, muốn tính chuyện lâu dài, cần phải ổn định cuộc sống. Muốn ổn định thì cậu cần phải học tập. Tôi có thể giúp cậu bằng cách đưa cậu ra phường trình diện và đi học tập ngay. Học xong sớm rồi về mà xây dựng lại cuộc sống gia đình.

Tôi hoãn binh bằng cách nói rằng sẽ bàn lại với gia đình. Nhưng thực sự trong tinh thần hoang mang bất định lúc đó, tôi có cảm giác mọi chuyện không đơn giản như lời nói, và xã hội đang vận hành bằng những bước đi phức tạp và khá buồn. Tôi về, và bắt đầu tránh né những lần đi chung với Ngọc Trai. Rõ ràng vẫn là cô gái ấy, vẫn là những săn sóc chăm lo cho nhau, nhưng giờ đây một cái gì đó không tả ra được làm con người mình dường như không là mình nữa.

Lúc thân phụ Ngọc Trai (về sau tôi biết bí danh là Ba Mủ) đề nghị tôi đi học tập thì chưa có lệnh tập trung sĩ quan công chức miền Nam đi học tập, nghĩa là lúc đó chẳng ai biết học tập cải tạo là gì, ra sao... Và sau này, khi hồi tưởng lại, tôi cũng tin chắc rằng ngay cả người nằm vùng như bác Ba Mủ cũng không biết thế nào là tập trung cải tạo.
Ngọc Trai ghé nhà nhiều lần không gặp, để lại thư nhắn tôi lên số 4 Duy Tân buổi sáng để gặp bạn bè.

Khi tôi lên, gặp lại Bằng, Hùng, Linh, Linh đầu bạc, Hùng hí và Ngọc Trai. Ngọc Trai đề nghị chúng tôi lập lại một nhóm giống như Du Ca, lấy tên là Thanh Ca Tác Động. Nhóm này khi sinh hoạt tại số 4 Duy Tân đã tập trung lên đến hàng trăm thanh niên sinh viên tới chơi chung. Nhóm được đưa vào hội trường chính để nghe hát và dạy hát bài ca mới, rồi đưa đi các trường Đại Học dạy lại cho sinh viên… Dường như chỉ khoảng vài tháng, một buổi sáng, đang tập họp thành vòng tròn, một cán bộ thành đoàn xuống phổ biến một thông báo, thông báo rằng giải tán tổ chức Thanh Ca Tác Động, và cấm các thành viên của nhóm tự ý tụ tập sinh hoạt bất cứ nơi đâu.
Chúng tôi chia tay nhau, ai về nhà nấy.
Không gặp lại Ngọc Trai.

Tháng 9 năm 1975, đợt đổi tiền đầu tiên ở miền Nam là một cú đấm trực diện vào kinh tế xã hội miền Nam. Thiếu thốn, kham khổ từ trước, nay nặng nề hơn thành đói kém, thê lương. Mọi gia đình đều cố gắng thu vén, bán được cái gì thì bán bớt bổ sung vào miếng ăn. Những gia đình họ hàng mà tôi quen biết, gia đình nào cũng có nỗi đau xót riêng, tựu trung là mất mát, chia ly, thiếu hụt và cái chung nhất là hoang mang không biết sẽ ra sao. Mấy anh chị trong gia đình tôi thì hai người anh đi học tập cải tạo chưa biết bao giờ về, một gia đình người chị đi nước ngoài, một gia đình người chị ở lại đi dạy học và thường xuyên lên lớp với cái bụng trống không. Tôi không tìm được việc làm, kể cả công việc nặng nhọc như lao động.

Giữa lúc đó, Ngọc Trai tìm đến. Cô ta hỏi thăm về người anh kế tôi, đang học tập cải tạo ở Đà Lạt. Mẹ tôi thở dài, không có tin tức gì, về con dâu và bốn đứa cháu nội. Ngọc Trai hỏi Bác có muốn con đưa N. lên Đà Lạt thăm anh Diễm và gia đình không? Tôi lắc đầu liền, không đi đâu, xe cộ khó khăn và tiền bạc không có. Nhưng mẹ tôi thì nghĩ đến con trai, con dâu và các cháu nên bị lung lạc. Để làm mẹ yên lòng, tôi theo Ngọc Trai lên Đà Lạt tìm thăm anh Diễm.

Khi xe chạy ra khỏi thành phố, chúng tôi ngồi bên nhau trong im lặng. Tôi đưa mắt nhìn mông lung những hàng cây xa tít tắp, những mảnh vườn, mái nhà hiu quạnh bên đường. Tôi thoáng có ý nghĩ tìm một miếng đất làm vườn làm rẫy sống qua ngày… Khi xe gần đến Bảo Lộc để chuẩn bị dừng cho khách ghé ăn trưa, Ngọc Trai giúi vào tay tôi tờ giấy 50 đồng, nói cầm lấy để chi phí lặt vặt cho chuyến đi. Ăn trưa xong, tôi rút tiền ra trả nhưng nhân viên tiệm ăn từ chối. Tờ giấy 50 đồng quá lớn khi ăn hai đĩa cơm chưa tới 3 đồng. Tờ 50 đó tôi giữ lại cho tới khi về lại Saigon trả lại cho Ngọc Trai.


Những ngày ở Đà Lạt, Ngọc Trai trở về như cô gái ngày xưa, đằm thắm, dịu dàng, sắc sảo và rất thông minh. Chúng tôi vào tận trại cải tạo ở Trại Mát thăm anh Diễm, rồi sau đó đi thăm chợ Đà Lạt, thác Prenn, Cam Ly, tản bộ trên sân Cù, đi bộ dọc theo hồ Xuân Hương. Cả hai không đề cập hay nhắc tới chuyện tôi đến gặp bác Ba Mủ, hay chuyện tình cảm giữa hai người. Tôi biết chắc đó không phải là tình yêu, chúng tôi chưa bao giờ nói với nhau những lời tình tứ riêng tư. Có lần, Ngọc Trai nói dường như tôi đã thay đổi nhiều lắm, cái sôi nổi, hào hứng ngày xưa có vẻ như đã chìm vào đâu đó.
- Không phải vậy. Ngày xưa khi tôi nói là tôi tin rằng những điều mình nói là đúng, nên đủ tự tin để giãi bày ra và hăng say bảo vệ nó.
- Còn bây giờ?
- Bây giờ? Bây giờ tôi nghi ngờ cả sự có mặt của tôi trên mặt đất này, không chừng cũng là điều không thực.
- Bạn không cảm thấy vui khi mình đi bên nhau sao?
- Ngọc Trai vẫn là một người nữ nhiều cá tính và thú vị. Bên cạnh Ngọc Trai là bên cạnh những đợt cuồng phong, cạnh những làn sóng lớn, những chuyển dịch bất ngờ… và đôi khi từ đó vẫn nảy sinh những ước mơ nóng bỏng nhưng...
- Nhưng sao?
- Nhưng đời sống vẫn phải có sự bình ổn về tinh thần. Sự bình an và thư thái nhẹ nhàng...
- Bạn thấy bất an khi mình ở bên nhau?
- Không nói thế được, sự bất an trong tôi bấy lâu nay là thường trực, dù có Ngọc Trai bên cạnh hay không.

Chúng tôi cùng im lặng và giữ gìn tránh tranh luận cho tới lúc về lại Saigon. Tôi buồn. Và buồn hơn khi tôi biết tôi làm Ngọc Trai buồn. Ngọc Trai dành cho tôi rất nhiều sự quan tâm, và có thể nói là chiều chuộng, ngoại trừ những lúc tranh luận, còn không thì Ngọc Trai chiều chuộng tôi như chiều chuộng một đứa em. Bên cạnh Ngọc Trai tôi thấy mình nhỏ bé và thiếu tự tin. Tôi quý Ngọc Trai nhiều lắm, nhưng cái tình cảm đó có vẻ như tình bạn, một tình bạn không bình đẳng mà tôi thuộc về phía yếu kém.

Khi xe về đến bến ở đường Nguyễn Tri Phương, chúng tôi đi bộ về nhà Ngọc Trai, sau đó cô ta lấy xe chở tôi đi. Chúng tôi chạy loanh quanh và ghé ngang qua 19 Kỳ Đồng. Ngôi biệt thự bây giờ bỏ hoang, không người cư trú. Cây hoa sứ lớn giữa sân trong bóng đêm như tỏa ra một vòm tối ám, âm u, nhìn lên trên lầu, cái cửa sổ rộng mở toang, nhìn vào bên trong một khoảng nhờ nhờ trắng, hoang tịch. Ngọc Trai hỏi tôi có muốn ghé vào thăm một chút không. Tôi lắc đầu. Ngọc Trai đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ gấp tư và bảo lát về nhà hãy đọc, rồi rồ ga chạy.

Khi Ngọc Trai chở tôi về nhà ở cầu chữ Y, trời đã tối, chuyến đi bốn ngày làm cơ thể tôi nhão ra như mất sức, những suy nghĩ dằn vặt làm tôi chóng mặt và có cảm giác như đang sốt. Tôi lăn ra ngủ. Sáng hôm sau, thức dậy, chợt nhớ tới tờ giấy Ngọc Trai đưa hôm qua, tôi ngồi dậy lục tìm và mở ra. Trong đó chỉ một dòng chữ ngắn:

“Philippe ơi, đọc nhật ký của Isabelle nhé.”
Philippe là nhân vật nam, còn Isabelle là nhân vật nữ trong tác phẩm Climats (Mặc Đỗ dịch với tựa là Tâm Cảnh) của André Maurois. Cuốn sách Ngọc Trai tặng tôi hồi hai đứa mới quen nhau, tôi tìm trong nhà, không còn cuốn đó, nhưng vì là sách được dạy trong chương trình giáo khoa lớp Đệ Nhị, nên tôi nhớ đại khái là khi Philippe chết vì bệnh phổi, vợ ông, Isabelle, viết trong nhật ký hồi tưởng, câu kết thúc nhật ký và cũng là kết thúc tác phẩm là: “Em tin rằng nếu em giữ được anh, em sẽ biết cách đem vui sướng đến cho anh, nhưng định mệnh và lý trí chúng ta thường lỗi điệu”.

Virginia, tháng 5/2018
Nguyễn Minh Nữu


Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

Tách Trà Thơm Buổi Sớm Mai - Nguyễn Minh Nữu

 
 
Nâng tách trà thơm buổi sớm mai
Dáng người như một vệt sương phai
Lẫn vào hương thoảng trầm hương cũ
Lẫn cả hương đêm lúc rạng ngày.

Là lúc thời gian đọng giữa chừng
Không gian dường cũng rất mông lung
Mẹ nối bây giờ cùng quá khứ
Và gửi tương lai một tấc lòng

Con quấn trong chăn, đã dậy rồi
Nhưng nằm mở mắt ngắm xa xôi
Quanh con như lớp tơ mềm óng
Chỉ thở mà ngân tiếng nhạc vời

Thấp thoáng hương bay cuốn bệ thờ
Ánh mắt Cha nhìn như ánh thơ
Con thấy Mẹ nâng tay tách nước
Nghe rung động suốt cõi mơ hồ

Thinh lặng giữa đôi bờ hư thực
Hương trà mạn lục thoảng qua môi
Hắt hiu một bóng soi trên vách
Mà khay vẫn có tách song đôi

Những sớm mai kia, có chẳng nhiều
Mẹ già bạc tóc với cô liêu
Con thì phiêu bạc theo năm tháng
Đắng lưỡi tê môi với sớm chiều.

Đời con rồi ghé vào hưng phế
Đã biết bao nhiêu cuộc đổi dời
Tĩnh tâm chỉ có khi ngồi lại
Sớm mai nhớ Mẹ, tách trà thôi.

Sớm mai bên Mẹ tách trà thôi
Tâm nhẹ nhàng theo dáng mẹ ngồi.

Nguyễn Minh Nữu

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

Thư Xa

 

Xin cho tôi gửi một lời
Tới người xa cuối chân trời...ngày xưa.
Đầm đìa vạt tóc dưới mưa
Xuân thì qua, Cánh nhạn thưa, bạc đầu.
Cổ kim nối một nhịp cầu
Hát khan giọng dưới trăng đau. Một mình.

Nguyễn Minh Nữu

Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2026

Lời Chào Năm Mới

 

Sẽ như tia nắng bất ngờ
Sau cơn bão tuyết mịt mờ canh thâu.
Nỗi lòng chôn dấu đã lâu
Hôm nay hiểu đến thâm sâu nỗi lòng.
Môi trầm hương, mắt bao dung
Mỗi người là một phần chung mỗi người
Về ngồi đây cạnh nhau thôi
Mà nghe rộng khắp một đời cho nhau.

Nguyễn Minh Nữu

Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2025

Doãn Quốc Sỹ, Chất Chiến Đấu Từ Những Lời Đôn Hậu


Trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau dày hơn 2000 trang là tác phẩm dài hơi nhất của Doãn Quốc Sỹ. Ký giả Lê Văn của Đài BBC đã ca ngợi tác phẩm này như tác phẩm Chiến Tranh và Hòa Bình của Việt Nam, kín đáo ca ngợi Doãn Quốc Sỹ của Việt Nam như Lev Nikolayevich Tolstoy của Nga là những Văn Hào của Thế giới.Một ngòi bút sắc xảo tinh tế nhưng rất lãng mạn đôn hậuđã truyền đạt một thông điệp sống động về Nhân Bản chống lại Vô Thần. Và đó chính là chất chiến đấu kiên trì đối kháng với bạo ngược, gian trá.

Truyện ngắn đầu tiên tôi được đọc của Doãn Quốc Sỹ là Cánh Tay Nối Dài. Lúc đó năm 1967, tôi mới 17 tuổi, đang học lớp Đệ Nhị trường Nguyễn Bá Tòng , Saigon.
Trong lớp có một người bạn chơi chung là Vũ. Vũ ở đường Vườn Chuối, khi tới nhà Vũ để rủ Vũ đi chơi, cả nhóm bạn đứa nào cũng sợ phải gặp mặt ông cụ thân phụ của Vũ. Không phải tại cụ khó mà bởi vì cụ hay gọi cả nhóm vào trò chuyện, trong đó khuyên nhủ, dạy dỗ...Cả bọn đẩy đưa, cuối cùng, tôi là đứa bị đẩy ra làm đại diện vào nhà xin phép cho Vũ, trong lúc cả bọn đứng chờ ngoài đầu hẻm. Tôi bị đẩy ra làm công việc này, vì trong nhóm bạn, tôi lọt vào mắt xanh của cụ, Cụ rất quý tôi và thường dễ dãi chấp thuận lời xin của tôi để Vũ đi chơi.

Lần đó, khi tới, Vũ không có nhà, tôi vừa định chào ra về, thì cụ gọi lại bảo vào chơi uống nước. Cụ lấy một cuốn sách đưa tôi và nói, Đất nước sau này có tiến bộ hay không là nhờ vào lớp trẻ sau này lớn lên có tiếp nối được khao khát của cha ông hay không. Cuốn này hay mà bác mới đọc được và rất tâm đắc với tác phẩm, cùng với kính trọng tác giả, Bác cho cháu mượn xem, tuần sau đến đây trả lời với bác cháu đọc được gì nhé.

Tôi nhận cuốn sách Cánh Tay Nối Dài của Doãn Quốc Sỹ mà lòng run vì sợ. Đề đã ra và tuần sau phải trả bài. Thật không ngờ, đó lại là một cơ hội tuyệt vời cho tôi bắt đầu một niềm vui mới là tìm thấy trong dòng chữ viết đã mở ra biết bao chân trời, biết bao ước mơ và biết bao giải đáp cho cuộc đời sau này.
Khi đó, tôi không biết tác giả đang là một Giáo Sư dạy Đại Học, không biết tác giả là một Nhà Văn nổi tiếng từ lúc tôi chưa sinh ra, lại càng không biết gì về Tạp Chí Sáng Tạo đã từng một thời lẫy lừng nay đã đình bản.

Cánh Tay Nối Dài là chuyện kể về một thanh niên tên Tiến, nhà ở một vùng quê, khi còn là học sinh trung học nỗi khao khát thèm muốn được trở thành một Sinh Viên, được sống trong một Đại Học Xá. Ước mơ tưởng rất gần những bỗng ngàn dặm vì hoàn cảnh gia đình phải về quê lập gia đình từ rất sớm. Khi chia đôi đất nước, Tiến vào Nam đã có một gia đình ấm êm, đi dạy học nhiều nơi dù chưa đạt được bằng tú tài và chưa đạt được giấc mộng trở thành sinh viên và sống trong môi trường Đại Học Xá, niềm khao khát đóchưa bao giờ nguôi ngoai. Cho đến khi đứa con trai đầu lòng tốt nghiệp trung học, xin được một căn phòng trong khu đại học xá Minh Mạng, Tiến dẫn bạn nay đã là hai ông già, đến thăm con, lặng lẽ đứng bên ngoài nhìn vào phòng người con trai đang chăm chú học bài dưới ngọn đèn neon trong căn phòng cư xá :“ Tiến ngồi bên tôi im lặng không nói gì, tôi đưa mắt ngắm nhìn khuôn mặt anh thỏa mái trong ánh sáng mờ mờ, con anh quả đã là cánh tay nối dài của anh để hái một trái mộng. Mộng Sinh Viên”

Ý nghĩa câu chuyện đó ám ảnh tôi cho tới bây giờ, và tôi nghĩ chắc rằng ám ảnh nhiều người nữa khi đã đọc truyện đó, bằng chứng là chữ Cánh Tay Nối Dài ngày nay đã trở thành một thành ngữ quen thuộc cho rất nhiều mô tả một mong ước của cha anh hướng về thế hệ nối tiếp của mình.

Năm 1968 mở đầu bằng trận chiến tết Mậu Thân. Lằn ranh Quốc Cộng đã chạm vào thành phố, hay nói đúng hơn là chạm vào lứa tuổi mới lớn của chúng tôi. Ngơ ngác với cuộc đời, lúng túng và lạc lõng khi gặp gỡ trò chuyện với những người thiên tả nói về chính trị, không biết gì về một chủ nghĩa lạ lẫm và một đời sống bên kia bức màn sắt. Những kích thích đó đưa tôi vào sách vở và tìm đọc nhiều hơn những tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ.

Với những truyện ngắn như “Chiếc chiếu hoa cạp điều”, hay “Gìn Vàng Giữ Ngọc”, chân dung những con người nhân hậu chí tình đã khiến cho độc giả cảm thấy cuộc đời không phải chỉ toàn người xấu. Trái lại người tốt rất nhiều và trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù khốn cùng đến đâu, cái chất nhân bản vẫn rõ nét. Quả thật, văn chương của ông bình dị không lên mặt dậy đời mà lại có sức thuyết phục.
Khi bước vào quân ngũ, tôi đã đã có dịp may được đọc trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau.

Nguyễn Mạnh Trinh đã có những tóm lược như sau: “Trường thiên “ Khu Rừng Lau” vẽ lại cả một thời kỳ nhiễu nhương của lịch sử Việt Nam. Đời sống của một lớp thanh niên tiểu tư sản được dựng lại trong cái phong cảnh hoành tráng của một đất nước không may trở thành nơi chốn đọ sức của những ý thức hệ quốc tế. Những nhân vật như Miên, Kha, Tân, Hiển, Hãng, Lăng, Khiết… từ lúc trưởng thành, tham gia kháng chiến chống Pháp ,rồi trải qua những ngày cải cách ruộng đất, trở về thành rồi di cư vào Nam , tất cả những quặn mình của cả một thế hệ được nhà văn tạo thành tiêu biểu. Tuổi tác họ chênh lệch nhau nhưng cùng có chung một mẫu số yêu đất nước như yêu tự do và cùng mong ước cho một ngày đất nước hùng cường .Hình như, họ có chung nỗi hoang mang của những người trí thức luôn đi kiếm tìm cho mình một con đường nhưng lại thấy bơ vơ khi chọn lựa. Ở với kháng chiến , thấy lòng yêu nước bị lợi dụng bởi những con người Bolcheviks tàn bạo vô nhân, về thành thì thấy giặc Pháp nghênh ngang, chính phủ quốc gia chỉ là cái bóng. Di cư vào Nam, thì chế độ độc tài và gây ra nhiều kỳ thị bất công.

Dòng đời trôi, qua bao năm tháng, chiến tranh lại tiếp chiến tranh, hết độc tài Cộng sản đến độc tài gia đình trị, thế nước nghiêng ngửa như những cuộc đời ngả nghiêng theo. Bộ trường thiên này có lẽ là một phác họa lịch sử hoành tráng và tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam…”

Không lập lại những nhận định đã có của Nguyễn mạnh Trinh vì quá chính xác, cái mà tôi nhận được từ trường thiên này là một cái tâm đắc khác, đó là cách dựng truyện và hành văn của Doãn Quân.

1/ Cách dựng truyện.

Các nhân vật của Khu Rừng lau là lứa tuổi sinh vào thập niên 1913-1926 của thế kỷ trước. Là lứa tuổi cùng thời với tác giả. Tình hình đất nước đã giao cho thế hệ này sự chọn lựa đúng sai, chính tà thật khắc nghiệt. Khi biến động rộng lớn từ 1945 giữa Pháp, Nhật, các đảng phái quốc gia, Việt Minh (lúc đó chưa ra mặt Cộng Sản, mà dương danh là tập họp các đảng phái chính trị, các tổ chức quần chúng chung tay chống Pháp) lớp thanh niên mới lớn rung động từ lòng yêu nước dễ bị cuốn hút vào kháng chiến. Kháng chiến như ánh mặt trời mà trăm hoa hướng về. Nhân vật lớn tuổi nhất là Khiết và Khóa sinh năm 1913 thì ngoài 30 tuổi, nhỏ nhất là Miên sinh năm 1926 thì mới vừa 19 tuổi.

Những con người có học thức, sống ở thành thị, yêu nước với tất cả nhiệt huyết của trái tim thanh niên đã thoát ly gia đình lên đường chiến đấu chống ngoại xâmvới khao khát độc lập, và tự do như những lời cổ vũ.

Doãn Quốc Sỹ đã tâm sự:

“Khu Rừng Lau tôi cũng viết bằng cả cái kinh nghiệm bản thân của tôi, có nhân vật từ thuở gia nhập chống Pháp. Thời đó chống Pháp là tất cả các thanh niên và chính bản thân tôi ở trong Đoàn Thanh Niên Cứu Quốc để mà chống Pháp. Rồi thì chính tôi, bản thân tôi đã từng họp dân chúng biểu tình để đi phá kho thóc của Nhật để phân phát gạo cho người dân vào cái thời đó.

Với cái việc của bản thân như vậy thì tôi dựng lại thành cái bộ truyện trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau đó. Và cái bối cảnh cùng những tình tiết thì đều là lẽ cố nhiên là viết dưới hình thức tiểu thuyết, nhưng mà kinh nghiệm là do kinh nghiệm bản thân của tôi với những điều mắt thấy tai nghe, và rồi thì là để vào viết thành cuốn tiểu thuyết như vậy” (RFA, 23/6/2008).

Trải qua rất nhiều tình huống khi sống trong chiến khu, lăn lộn qua nhiều chiến trường,những người thanh niên yêu nước, có học và cao vọng đó đã dần dần hiểu được mặt trái của lời tuyên truyền, Họ đấu tranh với chính bản thân bằng những lý lẽ nhân bản để rồi quyết định rời bỏ kháng chiến về thành, không phải vì khó khăn hay sợ hãi mà vì thất vọng với những điều mắt thấy tai nghe. Để tiếp tục đi tìm tiếp một nguồn sống khác, chân lý khác cho cuộc sống. Những lập luận đó đã thuyết phục tôi suốt một thời thanh niên mới lớn, khi tôi bằng tuổi với các nhân vật trong truyện ở thời điểm đó.

2/ Hành Văn.

Trong một bài viết, Nguyễn Mộng Giác đã ghi nhận:
Doãn Quốc Sỹ vẫn viết với giọng điềm tĩnh đôn hậu cố hữu. Ông không "nổ" như Nguyễn Mạnh Côn, không "độc" như Võ Phiến. Người Cộng sản ông từng biết thời thanh niên của ông, qua lời ông viết, là những nạn nhân của một chủ thuyết ngoại lai, không phải là tác nhân. Và đó là chủ đề những truyện ngắn chống Cộng Doãn Quốc Sỹ viết thời kỳ sau hiệp định Genève.

Chính xác là trường thiên Khu Rừng Lau, ở bất tranh luận hay bất cứ sự kiện nào của truyện, chúng ta được thuyết phục bằng những văn phong qua chính những tính cách của các nhân vật. Chất chiến đấu chính là sự kiên trì với chính bản thân đi tìm chân lý bằng những lời đôn hậu. Rất gần gũi và rất thuyết phục.

Mỗi người là một hoàn cảnh khác nhau để người đọc nhìn rất nhiều sự kiện xẩy ra. Đầu tiên là Miên, người trẻ nhất trong các nhân vật, rồi các nhân vật khác đều gặp những sự thật khác đầy gian trá, bất nhân, luia72 phỉnh và khống chế, rồi sau tự vấnvới lương tâm đã lần lượt rời bỏ kháng chiến, .

Mai Kim Ngọc đã tóm lược: Họ gặp nhau lại tại Hà Nội, trong ánh sáng quốc gia, dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ của cựu hoàng.
Qua đôi mắt quan sát của Doãn Quốc Sỹ, qua màng lọc tâm hồn ông, Con Người được viết hoa. Ông dành chỗ rộng trong tiểu thuyết cho những người trung thực đôn hậu. Ông yêu âm nhạc, ghét những tiếng ồn, và những nhân vật ông thân yêu nếu không mê ca dao thì cũng mê thích một loại nhạc khí cổ điển nào đó, hoặc vỹ cầm, hoặc dương cầm.

Văn phong truyền cảm xúc của Doãn Quốc Sỹ thực sự thuyết phục người đọc hiểu được tại sao, và làm như thế nào của những chàng trai thời loạn đó đã chọn con đường dấn thân vào kháng chiến rồi đưa đến dứt khoát rời bỏ để về thành. Giống như trường hợp Phạm Duy viết “Bên Cầu Biên Giới” trước khi rời kháng chiến về thành.

Nguyễn Mộng Giác nhận định: Trong các nhà văn lớp trước, tôi cho rằng Doãn Quốc Sỹ và Võ Hồng là hai cây bút có văn phong lãng mạn và một tâm hồn đôn hậu rất Việt Nam, cái chất Việt Nam nhân ái hiếu hòa, cần cù lương thiện, hớn hở vui mừng khi gặp người đồng điệu, mà cũng dứt khoát phẫn nộ nói ra thành lời khi gặp chuyện bất bằng, cái chất Việt Nam chưa bị những lý thuyết ngoại nhập làm cho thui chột để trở thành tàn nhẫn, độc địa, lai căng, lưu manh, lố bịch.

Toàn bộ trường thiên Khu Rừng Lau và kể cả các tác phẩm khác của Doãn Quốc Sỹ đều được xây dựng trên các nhân vật có phẩm chất lương thiện, cao quý và tư cách được điễn tả trong các lời văn đôn hậu trong sáng mà luôn toát ra được chất kiên định chiến đấu cho Lẽ Phải.

Bài viết này thực hiện nhân dịp mừng Trăm Tuổi của một đại thụ văn học, Người viết thuộc hàng con cháu của Cụ, Và nhất là bài này viêt sau hàng loạt những nhận định giá trị khác đã từng phổ biến, cho nên xử dụng các tư liệu chuẩn mực mà người khác đã viết chính là sự bày tỏ lòng đồng tình với các nhận định đó.

Cuộc đời của Doãn Quốc Sỹ gắn liền với hai thiên chức là viết văn và dạy học, Cụ có một đời sống đạo đức và mẫu mực. Văn của Doãn Quốc Sỹ là văn phong điềm đạm, thong dong và giáo dục đời sau. Bằng những lời đôn hậu đã chuyên chở cả một tính chiến đấu kiên cường bền bỉ cho một chân lý ngàn đời, hướng tới sự thật, sự thiện lành và tốt đẹp. Văn của Doãn Quốc Sỹ đương nhiên là kẻ thù của sự dối trá, ác độc và xấu sa. Và sau chót, cuộc đời trăm năm đã qua của Cụ đã là tấm gương của người thực hiện chức năng Nhà Giáo và Nhà Văn với tất cả ý nghĩa tốt đẹp nhất của hai từ này.Cụ đã phải trải qua nhiều lần tù tổng cộng tới 14 năm với tội danh “Viết văn chống phá cách mạng”, chính Thái độ sống, và Ngôn Ngữ đôn hậu đó là đối nghịch lớn nhất không thể nói ra của chính quyền trong nước.

Xin kết bài này bằng một câu nhận định của Võ Phiến về Văn Doãn Quốc Sỹ “ Đọc sách của ông thơm tho cả tâm hồn.”

12/2022.
Nguyễn Minh Nữu

Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2025

Gặp Lại Bạn Cũ Thời Chinh Chiến

 

Men đắng không làm ta lãng quên.
Tiếng hát chỉ làm cho nhớ thêm
Cứ tưởng qua cơn sầu, sẽ hết
Ai ngờ nối tiếp suốt ngày đêm.

Lạc lõng những lời đầy khí khái
Thổ lộ cho nguôi chút nỗi niềm
Nỗi niềm như khói xây thành vách
Buồn cười-Vui khóc cứ như điên

Bạn nhắc ngày xưa thành quách đổ
Khởi hành vào cuộc với truân chuyên.
Men đắng không làm vơi xót đau
Năm mươi năm có lắng được đâu

Cầu sắt gẫy ngang, Quân thất tán
Áo bào sũng máu núi thâm sâu
Tây Nguyên sừng sững lưng bi tráng
Đồi trọc Chư Pao lính kiếm nhau

Ta khóc có đâu vì vết cắt
Mà khóc vì chung giọt máu đào
Áo trận ngày xưa giờ thất tán
Đầu xanh nay đã bạc từ lâu

Một chân còn đứng trong trời đất

Và tấc lòng son đã bạc màu

Men đắng đưa vào mộng trẻ trai
Dù đời đã mỏi dấu u hoài
Bạn gợi một thời đi chiến trận
Hồn ai về những lớp sướng phai

Thấp thoáng mà sao thương nhớ quá
Những Hồn bất tử giữa ngàn mây
Bạn ạ vui một lần hội ngộ
Chắc gì có được một lần hai

“Ta tiếc đời ta sao hữu hạn”(*)
Câu thơ như một tiếng than dài
Cạn chén đêm này đời viễn xứ.
Lưu luyến thì ai cũng giống ai.

Tiếng cười rộng lượng quên oan trái

Quên cả đời ta đã quá dài.

Nguyễn Minh Nữu.
2025.
(*) Thơ Tô Thùy Yên.


Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2025

Thư Gửi Nguyễn Hồng Kim Hạnh



Thôi nhé bây giờ mây trắng trôi.
Xót xa cách mấy cũng đành thôi.
Đời này chẳng được nhìn nhau nữa.
Thương nhớ bao nhiêu cũng nửa vời.

Tìm trong tin nhắn lời tha thiết
Buốt lòng đọc lại lúc chia phôi.
Thôi nhé bây giờ như lá rơi
Khi nhựa đời không đến nữa rồi.

Nghiệp Duyên đã hết thì chia cắt
Thanh thản bay đi đến cuối trời
Dõi mắt nhìn theo cơn gió cuốn
Để thương cho kiếp một con người.

Thôi nhé bây giờ như sóng xô
Dập dờn từng lớp phủ lên bờ
Đã đến đã đi và đã sống
Hồn nhiên như tiếng khóc ban sơ

Chiêm nghiệm hiểu cho cùng Lẽ Thật
Chỉ ghé qua như một giấc mơ
Buông bỏ hết đi phiền lụy cũ
Thuyền nhẹ xuyên qua mọi bến bờ.

Thôi nhé bây giờ thôi khát khao
Thôi mơ thôi ước hết mong cầu
Ra đi con nhé về nơi ấy
Nơi mọi người rồi cũng sẽ gặp nhau.

Nguyễn Minh Nữu

15/4/25


Thứ Ba, 18 tháng 2, 2025

Dòng Nước Mắt Xanh


Mối tình đầu tiên trong đời? Vâng, nếu anh muốn tôi xin kể với anh mối tình đầu tiên trong đời của tôi, anh đừng cười nhé, tôi nói một cách chân thành rằng cho tới giờ phút này đây tôi vẫn còn là một đứa bé nếu nói về cái tình yêu đầu đời đó.
Năm đó tôi mười bốn, à chỉ độ mười ba tuổi rưỡi, tôi học lớp Đệ Ngũ, còn đứa con gái học Đệ Nhị, cùng trường, cô ta tên Hằng, Minh Hằng, cái tên thật đẹp phải không anh?

Hai đứa chúng tôi có chung với nhau một mái trường đầy những gốc bàng to lớn, hai đứa chúng tôi lại có chung một đường đi đi về về, con đường Lê Thánh Tôn, anh à, nếu anh đã từng sống ở Sài Gòn thì anh phải biết đường Lê Thánh Tôn, là con đường đẹp nhất Sài Gòn, chiều chiều, đi học về, những hàng lá me rơi vàng trên mái tóc, con đường đã đẹp lại còn trang điểm thêm bằng những tà áo trắng thì sao mà không chết người cho được? Ngoài ra, tôi với Hằng lại có chung với nhau một con hẻm lầy lội bốn mùa như cái tình yêu đầu đời của tôi, sướt mướt. Nhà Hằng ở cách nhà tôi bằng cái hàng rào ván mục, Hằng gọi tôi là em, và tôi gọi Hằng là chị. Cái tình chị em đằm thắm chân tình, trong sạch và thánh thiện tới mức Hằng vẫn ru tôi ngủ, xoa đầu tôi và thường xuyên hôn lên trán tôi. Đó là sợi dây liên lạc đầu tiên của những hành động vô thức đưa ta tới cái tình yêu sau này phải thế không anh? Bố Hằng làm việc ở Nha Quan Thuế, mẹ Hằng buôn bán thường xuyên vắng nhà. Hằng có hai đứa em, một trai một gái. Con trai là Cường học lớp Đệ Tứ, và con gái là Ngọc, học Đệ Ngũ với tôi.

Tôi mồ côi cha từ năm bốn tuổi. Tôi thèm khát cái không khí nghiêm khắc nhưng không kém phần chiều chuộng của người cha, mà tôi không có được, nên tôi thích chạy qua nhà Hằng chơi. Hằng cũng vậy, mỗi lần tôi qua là mỗi lần được chiều chuộng, và tha hồ làm nũng, tôi chỉ thành thật yêu mến Hằng, tới độ không thể xa rời. Cái thứ tình cảm dễ dãi ấy mỗi ngày một đậm đà thêm lên. Không một ai ngăn cản chúng tôi. Mà ngược lại, cả mẹ tôi lẫn bố nàng còn gần như khuyến khích thêm. Những sớm đi học, những trưa cùng về, những tối sáng trăng, ngồi bên nhau nghe Hằng kể chuyện cổ tích. Anh ạ, có lẽ thiên đường có thật, ít nhất là đã có thật với tôi lúc bấy giờ. Tôi cũng rất thương yêu anh Cường, Ngọc, nhưng hình như cái tình cảm của tôi đối với anh Cường và Ngọc nó khác cái tình cảm của tôi đối với Hằng.

Tôi bắt đầu phát hiện lòng mình vào dịp Noel năm đó thì phải. Phải rồi, buổi tối, khi vừa ăn cơm xong, tôi chạy qua nhà Hằng, Hằng đang sắp xếp lại đống thiệp người quen gởi tới. Tôi thấy Hằng khen nhiều lần một cái thiệp, và bí mật cất giữ riêng chứ không treo như hàng lô thiệp khác. Tôi thắc mắc thì Hằng lắc đầu, tôi đòi xem thì Hằng giấu. Một cảm giác là lạ trong người tôi, tôi đã tự nhủ thầm, thế nào mình cũng phải xem cho được, xem một cách lén lút và thích thú. Thực ra, hàng chữ trong đó cũng chẳng có gì lạ "Cho Hằng một mùa Noel rực rỡ" ký tên Hóa. Dù mỗi ngày đi học mẹ tôi cho hai đồng, nhưng tôi cũng xin anh xin chị đủ mười đồng. Anh biết rằng thời đó mười đồng khá lớn chứ, ra tiệm, tìm mua cái thiệp giống hệt như vậy, để y hệt dòng chữ tôi nhìn thấy, khác chăng là chỗ ký tên. Khi đưa cái thiệp cho Hằng, tôi nói, em muốn chị giữ cái thiệp của em thật quý, y như cái thiệp của ông Hóa. Hằng cười, xoa đầu tôi, em khỏi lo, chị sẽ cất cái thiệp của em vào chỗ khác, quý hơn nữa kia, đó là chính ngay trong lòng chị.


Lòng tôi nhẹ đi, nhìn hàng trứng cá ngoài hiên mà lòng mình cũng đỏ hồng như những quả chín mọng. Nhưng Hằng đã gọi tôi lại, nghiêm giọng, sao em lại để kỳ thế này, gọi tên chị không là hỗn đó. Tôi lắc đầu, sao ông đó để tên chị không mà chị không nói? Ông đó khác. Tôi bỏ chạy về nhà giữa tiếng gọi thất thanh của Hằng. Hôm đó tôi bỏ cơm, và khóc ướt sũng gối.

Những ngày sau đó tôi không thèm đợi Hằng đi học, không thèm chờ Hằng cùng về, buổi chiều tôi ra ngoài xóm đánh đáo, chơi u mọi, bắn bi chứ không như thường lệ chạy qua nhà Hằng. Tôi hay nổi nóng cùng bạn bè cùng lớp tuổi, thích gây sự và đánh nhau. Nhưng hầu như tất cả mọi trò chơi đều không quyến rũ nổi tôi. Tôi vẫn hay buồn, hay khóc một mình. Thật vô vị những buổi tối sáng trăng. Nhưng rồi thì Hằng cũng bắt được tôi, ngay tại gốc cây trứng cá, buổi tối. Hằng giữ tôi lại trên băng ghế gỗ, sao độ này em không qua nhà chơi? Giận chị à? Tôi nhún vai, thật người lớn, em khác, ông đó khác. Hằng kêu lên ơ kìa?

Hằng trợn mắt nhìn tôi, đôi mắt to sáng và trong vắt như mặt trăng ngày rằm. Anh có biết rằng đôi mắt Hằng đêm đó còn đeo đuổi tôi cho đến bây giờ không?
Hằng kinh ngạc nhìn tôi lúc lâu, hai tay Hằng đặt trên vai tôi run lẩy bẩy. Hằng nói trong hơi thở rộn, ông nào em điên hay sao? Lẩm cẩm quá?

Tối hôm đó tôi nói với Hằng rằng, em yêu chị quá. Nếu phải mất hết để được mình chị hay là mất chị để được tất cả em xin chọn trường hợp một. Hằng cười, nâng mặt tôi lên, em của chị đang làm thơ phải không? Tôi nói được với Hằng câu đó là nhẹ hẳn nửa hồn, Hằng nói rằng em không mất gì mà vẫn được chị thì tại sao em lại không thèm qua nhà chị chơi?
- Tại chị coi ông ấy trọng hơn.

Tình yêu của tôi với Hằng chỉ có vậy, trong sạch và tinh khiết. Chúng tôi gần nhau cho tới khi Hằng lên Đệ Nhất, tôi lên Đệ Tứ thì một sớm mai, một buổi sớm mai đáng ghét, bố Hằng đột ngột trở về báo tin bị thuyên chuyển tới Tây Ninh. Tây Ninh? Cái tên nào đó thật lạ lùng và nghe xa xôi làm sao. Cuộc bàn tính được quyết định gấp gáp cho số phần ba chị em Hằng. Hằng, Cường và Ngọc sẽ được gửi lại một nhà người quen trên ngã tư Bảy Hiền học nốt niên khóa. Buổi tối đó chúng tôi chung băng ghế gốc cây trứng cá, Ngọc thì ao ước được đi Tây Ninh với bố mẹ, Cường thì trầm ngâm, còn Hằng thì buồn thấy rõ.

Còn tôi, làm sao tôi ngăn nổi những cảm xúc trong lòng mình? Một vài ngày nữa Hằng sẽ đi, tuy không xa, nhưng dễ gì gặp lại. Tôi linh cảm rằng có lẽ đây là lần chia tay vĩnh viễn. Tôi thầm cầu khấn ngày hôm nay thật dài, ngày mai vô tận, ngày mốt hoài hoài không có. Nhưng rồi đêm đã thật khuya, chia tay vào nhà ngủ. Đêm đó tôi lên cơn sốt, sốt thương hàn. Cơn sốt kéo dài không biết bao nhiêu ngày, Hằng vẫn còn ở đó, ngày ngày qua đút cháo cho tôi, bóc cam cho tôi.

Hôm nhà Hằng dọn đi, tôi tung chăn chạy ra ngoài, nhìn người phu khiêng ra ngoài cái giường cái tủ mà phát khóc. Hằng không có ở đó mà dỗ dành. Hằng đi học và lát trưa sẽ về trên nhà bà dì, ở ngã tư Bảy Hiền.
Tôi không còn gặp Hằng từ dạo ấy. Thời gian cách biệt thật cũng qua lâu, bảy năm. Bảy năm sau, tôi thi rớt, rồi đi lính phục vụ trên một đơn vị ở Cao Nguyên. Có lần, về phép, bất ngờ mẹ tôi nhắc đến Hằng.
- À, mày còn nhớ ông bà Điều không nhỉ, ông Điều làm Quan Thuế ngày xưa ở cạnh nhà đó?
- Nhớ chứ, ba chị em Hằng, Cường, Ngọc?
- Tao vừa gặp bà Điều.
- Ở đâu?
- Chợ Lăng Cha Cả.
- Bây giờ gia đình đó ra sao?

- Ông Điều bị lật xe chết đã ba năm nay. Con Hằng lấy chồng rồi, thằng chồng đi lính tử trận khoảng tháng nay, thằng Cường gãy chân nằm nhà, còn con Ngọc, thật ghê cho con gái thời nay, bỏ nhà theo trai từ năm mười bảy tới giờ chẳng biết lưu lạc phương nào. Gia đình đó thật đủ mọi điều đau đớn. Con Hằng nó hỏi thăm về mày.

Tôi bất ngờ trở lại cái cảm giác ngày xưa, bàng hoàng, đau xót. Thấy ngay trái tim mình là vực sâu. Thấy ngay hình bóng mình là những đám mây trắng, thấy ngay trí nhớ mình cũng mù mịt như sương. Ôi đám mây trắng che ngang đôi mắt lóng lánh như mặt trăng rằm của buổi tối nào đó. Mới hôm nào vậy mà thấm thoắt đã bảy năm rồi.

Tôi cũng toan trở lại thăm Hằng, không, thăm chị Hằng của ngày xưa, nhưng rồi mải mê bạn bè. Anh cũng biết đó, ngày phép của một thằng lính vốn thật hẹp, hẹp còn hơn số tiền lương lãnh hằng tháng. Rồi tới ngày trở ra đơn vị, rồi quên đi.

Cũng một đôi khi, giữa những cuộc vui bạn bè, giữa những cơn buồn, giữa những hồi tưởng lại với bạn bè, Hằng lại trở lại với tôi. Cũng có khi với vóc dáng ngày xưa áo dài trắng, cũng có khi với những hình bóng tôi tưởng tượng ra như áo tang trắng, khăn tang gầy còm ốm yếu vừa đi vừa khóc.

Nhưng anh ạ, cho dù với hình bóng nào, Hằng cũng có đôi mắt thật trong sáng. Như một dòng sông, mà không, phải coi như một dòng suối mới phải, dòng suối màu xanh.

Anh à, cái thời gian mà tôi còn đi tác chiến ở Tiểu Đoàn 2/45 có lẽ là chuỗi thời gian bi thiết nhất, mà cũng thân ái nhất đời tôi. Tôi được thuyên chuyển về đây, cái đơn vị không tác chiến này, hãy tạm xem như thảnh thơi với chuỗi ngày sớm vác ô đi tối vác về, nhàn nhã hơn. Bất ngờ, bất ngờ anh ạ! Tôi gặp Ngọc ở thành phố này. Hôm đó, tôi cùng vài bạn bè tới khu xóm chị em ta, tôi gặp Ngọc. Mới đầu tôi không nhận ra rõ ràng đây chính là Ngọc, nhưng đôi mắt đã cho tôi cái cảm giác mơ hồ tới một thân tình nào đó, Ngọc cũng không nhận ra tôi. Tôi cố hỏi dò, Ngọc nói tên là Cúc, hỏi nhà thì nói ở Huế, hỏi đã bao giờ về Sài Gòn chưa thì lắc đầu. Thật tình tôi chưa nghĩ ra nổi cô gái bán hương này là ai, và quen ở đâu. Nhưng chắc chắn là quen, quen thân.

Tôi cố hỏi, nhưng càng hỏi càng thấy bực mình. Ngọc chối tất cả những gì tôi nghi ngờ đưa ra. Tôi thì cũng nhất định không tin những điều Ngọc nói. Ngày hôm đó, ngày hôm sau, tôi bị quay cuồng trong trí nhớ của mình, rồi bất ngờ tôi nhớ ra. Tôi nhớ ra rồi. Tôi đã nghĩ tới Ngọc. Có lẽ chính là Ngọc, tôi làm sao quên được đôi mắt của Hằng, tôi trở lại tìm Ngọc, chặn đầu chặn đuôi mãi, cuối cùng cô gái bán hoa tên Cúc kia đành phải xác nhận mình là Ngọc, Minh Ngọc.

Cơn xúc động làm tôi tối tăm mặt mày, dù là tôi đã chờ ôm Ngọc trong vòng tay, và quyết định, với bất cứ giá nào cũng phải đem Ngọc ra khỏi chỗ này. Điều này không khó với Ngọc, nếu Ngọc dám quay lưng lại với tất cả mọi dư luận để làm lại đời mình. Nhưng lại thật khó khăn với tôi, liệu với số lương chết đói nhà binh có thể nuôi được Ngọc không?

Tôi nhủ với lòng mình rằng, dù sao, dù sao, dù phải vượt hàng hàng lớp lớp chông gai, dù phải, dù phải khốn cùng kiệt quệ cũng phải đưa Ngọc đi, cũng phải đưa Ngọc đi.

Gửi Ngọc ở nhà vợ chồng người bạn được sáu ngày, thì tới đầu tháng lương. Ngọc cũng còn một số tiền nhỏ, chúng tôi mướn căn nhà dưới Suối, và tạm thiết trí một đời sống tạm. Tôi nói với Ngọc rằng hãy chờ anh đến kỳ phép thường niên, anh sẽ đưa em về gặp Mẹ, để chính thức chúng ta ăn ở với nhau. Ngọc đã kể cho tôi nghe về mối tình đằm thắm đầy bất ngờ của nàng. Mối tình của đứa học trò con gái Đệ Nhị, yêu một thằng học trò con trai Đệ Nhị. Hùng, đứa con trai đã tàn nhẫn rủ bạn bè về phá hoại đời tình nhân mình. Hùng, đứa con trai đã trốn đi một cách hèn nhát vô trách nhiệm khi hay Ngọc có thai.

Ngọc nói:
- Em trốn lên Đà Lạt và phá thai trên thành phố đó. Lên Đà Lạt vì còn mặt mũi nào sống ở Sài Gòn nhìn trăm con mắt khinh miệt của bạn bè. Nguyên thấy đó, con gái không bằng cấp, không một nghề nghiệp trong tay sẽ sống bằng gì? Ngoại trừ nghề này.
Ngọc khinh bạc tiếp:
- Đây là khoảng thời gian em đã dần hồi tỉnh, ngày trước ở Bồng Sơn em chỉ tiếp khách ngoại kiều.

Ngọc bằng tuổi tôi, nhưng hơn tôi hai tháng, nhưng thói quen nghề nghiệp nàng xưng em, và theo thói quen từ thời còn nhỏ Ngọc gọi tôi bằng tên. Điều này không làm tôi buồn mà chỉ làm tôi hơi mắc cỡ khi nghĩ rằng mình hãy còn là con nít so với Ngọc. Mặc cảm e sợ Ngọc vẫn còn trong tôi dù đã bảy năm.

Bảy năm, bảy năm đã làm tôi chai đá đi nhiều, cái ấu thời ngày thơ mơ mộng đã đánh rớt ít nhiều tại các quân trường Quang Trung Đồng Đế, ít nhiều ở những gặp phải chông gai, còn lại bao nhiêu cũng vung tay khắp các núi đồi cao nguyên (những địa danh như Buprang, Quảng Nhiêu, Dakto, Chupao đời đời vẫn nhớ). Bảy năm làm cô Ngọc, học trò Đệ Tứ ươm mơ đã thành cô gái điếm chai lỳ, thích tiếp khách ngoại kiều. Nhưng bảy năm quả nhiên không đủ làm cho tôi quên đi cặp mắt đêm nào.

Có những buổi tối sáng trăng, hai đứa bắc ghế ra trước sân ngồi nói chuyện, đôi mắt Ngọc cũng thật to thật sáng. Nhưng đôi mắt Hằng là hai vầng trăng sáng, còn đôi mắt Ngọc lại là một dòng suối xanh, lặng lờ đó mà cũng sôi động đó, tôi bất ngờ khen ngợi:
- Đôi mắt em thật đẹp.
Ngọc nhìn tôi cười nửa miệng:
- Cách đây bốn năm, Hùng cũng nói câu đó, nói trước khi rủ bạn bè.
- Em đừng nhắc tới Hùng nữa.
Ngọc nhìn thẳng vào mắt tôi, nói gằn giọng:
- Em nói thật cho anh biết, em vẫn yêu Hùng như ngày nào, yêu hơn nữa là khác.

Tôi lắc đầu, lúc đó tâm hồn tôi thật trống rỗng và thanh tịnh. Cố gắng tìm một chút tức giận để thấy mình yêu Ngọc, cố gắng tìm một chút hờn ghen để thấy mình mất mát, nhưng không. Lòng tôi như một tấm drap ướt, buồn bã và tịnh mạc.
- Anh thật lòng tôn trọng tình yêu đó của em.

Ngọc sững sờ. Điều này tôi nhìn thấy nơi đôi mắt của Ngọc. Thực ra, hết sức khó khăn giải thích với Ngọc rằng tôi không hề, chưa hề yêu Ngọc bao giờ. Cái tình cảm làm tôi quyết định đưa Ngọc về chung sống chỉ là tình thương hay có khác đi chăng cũng chỉ là thứ tình yêu được biến thái, biến thái nhiều.
Ngọc có những cái giống Hằng, thí dụ đôi mắt, thí dụ cái hất mặt kiêu ngạo đàn chị. Ngọc cũng có những cái khác Hằng, thí dụ đường đột hơn, mạnh bạo hơn. Tôi chưa nhận được nơi Ngọc cái đằm thắm của bàn tay Hằng trên tóc tôi.
Ngọc có vẻ hiểu những điều tôi muốn nói nhưng chưa nói đó. Ngọc thường có thái độ chống đối tôi bằng cách giận hờn vô lý, trách móc vẩn vơ, và hay kể về Hùng để so sánh với tôi.
Dĩ nhiên Ngọc làm tôi nổi giận khi nghe Ngọc nói Hùng hơn tôi về đủ mọi mặt. Từ lối sống, cách ăn chơi, cách xử sự, lối ăn nói, nét mặt hình dáng, hỡi ơi, thậm chí, Ngọc còn nói cả về kỹ thuật ăn nằm.

Cơn giận làm tôi quên mất rằng mình đang đóng vai một khách phong trần cứu vớt cánh hoa lạc loài. Tôi nói, anh thua Hùng nhiều điểm lắm, em nhắc không hết đâu, để anh nhắc phụ với, thí dụ như anh không thể rủ bạn bè về bề hội đồng người yêu mình được, thí dụ anh không tàn nhẫn bỏ trốn khi người tình có thai.

Ngọc òa khóc và nhiếc mắng tôi là đồ khốn nạn, sở khanh, sau đó Ngọc bỏ đi. Buổi trưa đi làm về, nhìn tờ giấy trên bàn "Tôi không thể sống với anh được, kẻ mà tấm lòng chỉ như vũng nước đó làm sao chứa đựng được ai."

Tôi thành thật nhận thấy Ngọc nói đúng. Hẹp lòng vẫn không phải là không có lòng. Trong cái hạn hẹp của lòng mình, tình cảm tôi còn cho biết phải tìm Ngọc. Phải tìm Ngọc ngay. Với bất cứ giá nào. Tôi đến tất cả mọi địa chỉ quen biết, không thấy, tôi tìm đến cả những khu νực cấm quân nhân, cũng không thấy.
Ngọc mù mịt tăm hơi giữa khi tôi kiệt lực. Đã mười ngày, nhìn trong gương khuôn mặt mình thất sắc, tôi tự hỏi lòng mình hay là mình yêu Ngọc? Ờ hay là mình yêu Ngọc?
Tôi đã đầu hàng, và sửa soạn trả nhà thì Ngọc về. Ngọc về nhà vào lúc gần nửa đêm, Ngọc khóc và nói với tôi thật nhiều.
- Em cảm ơn sự giúp đỡ của anh. Em nhận biết được lòng anh đối với em chỉ là tình thương chứ không phải tình yêu. Em thấy đã tới lúc em trở về nhà giúp đỡ mẹ, giúp đỡ chị để nuôi sống gia đình.
Có lẽ đời sống em sẽ bình thường hơn...
Đôi mắt Ngọc sáng lên, rực rỡ.
- Làm đĩ mười phương còn một phương lấy chồng chứ.
Và trở lại mềm mỏng, cầm tay tôi và nói như khóc:
– Anh Nguyên, em chỉ xin anh một điều, em đã làm đĩ tại thành phố này, làm đĩ với tất cả đàn ông trong thành phố này, nhưng em tin là em chưa từng làm đĩ với anh, em đã sống với anh như một người vợ hiền.
Vuốt trên mái tóc Ngọc:
- Chưa bao giờ anh nghĩ đến điều đó. Ngọc ơi, anh thật tiếc rằng anh không yêu Ngọc và cũng thật tiếc là anh không có khả năng nói dối là anh yêu Ngọc. Nhưng anh nghĩ cái tình cảm anh dành cho em lớn lắm, lớn hơn cả cái gọi là tình yêu nữa.


Hôm đưa Ngọc lên phi cơ về Sài Gòn, tôi hôn Ngọc, và hình như có khóc. Sự mất Ngọc trong thành phố này tạo cho tôi một lỗ hổng lớn về thời giờ. Dòng suối xanh đã lên đường, không biết ra biển hay về núi, nhưng nào ai biết có bị lạc đường hay không?
Nhiều lúc lang thang trên những con đường tối về đêm. Ngước nhìn vầng trăng tươi mát trên đầu mà bất ngờ nhận ra, hình như Ngọc đẹp hơn Hằng, hình như tôi yêu Ngọc, tôi yêu Ngọc anh ạ, có thể lắm chứ, phải không anh?

Nhớ Ngọc kinh khủng, nhiều khi tôi muốn bỏ lại tất cả để nhào về tìm Ngọc. Nhưng tôi cố dằn lại được. Tôi đã biết rằng mình không thể nào lấy Ngọc được, không lấy được bởi vì Ngọc là em Hằng chứ không phải Ngọc đã một thời làm đĩ. Cũng chắc chắn không phải tôi khinh Ngọc.
Người ta nói có thể lấy đĩ làm vợ chứ ai lại lấy vợ làm đĩ, phải thế không anh?
Tuần trước, tôi nhận được thư Ngọc.
"... Em hiện đứng bán cái quán tạp hóa nhỏ của mẹ, đời sống bình thường mực thước. Một đôi khi cũng nhớ tới anh, nhớ như nhớ một người anh trai không hơn không kém.
... Chị Hằng đã đi làm tại ngân hàng. Thằng Tùng con chị ấy đã đi học. Anh Cường đã giải ngũ và đang xin việc làm. Một đôi khi ngồi chung với nhau lại nhắc về anh, nhưng nhắc tới thằng Nguyên của tám chín năm về trước kia. Thằng Nguyên đầu húi cua học Đệ Ngũ trường Nguyễn Bá Tòng. Những gì trên Ban Mê anh quên đi nhé."

Anh ạ, tôi thì cho tới bây giờ vẫn cô đơn, vẫn chưa lập gia đình, tôi vẫn còn bị quay trong đôi mắt đêm nào. Tôi vẫn thường chắp tay nguyện cầu hàng đêm, cầu nguyện với những thần linh cao cả nhất trên cõi đời mong sao dòng suối xanh sẽ tìm được một cửa bể thật rộng, thật rộng thế thôi.

À quên nãy giờ cứ mải mê kể chuyện mà quên mất chai rượu, nào chúng ta cùng nâng ly chứ, mời anh, mời anh.

Nguyễn Minh Nữu.
(Tạp Chí Văn - thời Nguyễn Xuân Hoàng làm Thư Ký Tòa Soạn - số tháng 4-1973)

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2024

Thu Ơi Là Ơi Thu


Sau mùa thu 1968, chúng tôi vỡ ổ. Đúng nghĩa là vỡ tan tành cái ổ bạn bè thời trung học. Đoàn Văn Khánh đi lính ở Đồng Tháp, Lê Ôn Vũ vào Không Quân, Vũ Công An Khang đi du học, Lâm Văn Sang tốt nghiệp Sư Phạm về dạy ở Vĩnh Long….Năm sáu năm sau mới gặp lại lúc đứa này lúc đứa khác, tất cả đều già dặn đi và trầm lắng hơn nhiều. Có lần, Sang ôm đàn hát một ca khúc, mà Sang nói là của một người bạn học chung Sư Phạm nay đang đi dạy ở Saigon, ca khúc hồn nhiên sót lại của tuổi học trò, chẳng còn nhớ ca khúc tên gì, tác giả thì chỉ còn nhớ họ Vũ, tên cũng quên rồi, bài hát về Mùa Thu , hay bài hát về cô Thu?

Hôm nay trời vào thu
Trời mặc áo sương mù
Em đi tà lụa phô
Bay vờn bay trong gió
Anh nghiêng đầu song thưa
Trường về mắt trông chờ
Yêu em và yêu Thu
Nên tập tành anh nói yêu mùa Thu.
Hai hôm rồi nghỉ học
Thư viết làm sao đưa
Thu không mặc áo lụa
Chỉ có áo thu mưa
Thu không mặc áo lụa
Chỉ có áo len sơ
Áo len cho người bệnh
Mặc đỡ rét tương tư.
Tương tư là tương tư
Trường về anh ngẩn ngơ
Bao nhiêu cô học trò
Cười trong mắt vô tư
Thu ơi là ơi thu
Trường về mắt trông chờ
Yêu em và yêu thu
Nên ngàn đời anh nói yêu Mùa Thu.

Lời nhạc quấn quýt giữa con gái, tà áo lụa và mùa thu , bản nhạc không vui (Tất nhiên rồi) mà lại cũng không buồn, như cánh chim bay chuyền cành, có chút nhí nhảnh và có chút bâng khuâng. Bản nhạc lập tức cuốn hút tôi, nghe lại lần nữa và thuộc lòng. Sau 1975, Lâm Văn Sang kết hôn với cô giáo cùng trường rồi vượt biên, bản nhạc vẫn quanh quẩn với tôi và bỗng thành trò chơi khi bắt đầu đoạn điệp khúc bằng tiếng ơ ơ kéo dài ….

Áo len cho người bệnh
Mặc đỡ rét tương tư.
Ơ…..
Tương tư là tương tư
Trường về anh ngẩn ngơ.

Khi đem ra hát cho nhóm bạn bè Thanh Ca như Bùi Công Băng, Đinh Việt Hùng, Nguyễn Ngọc Linh, tới đoạn giữa cả nhóm hét lên …Ơ….Tương tư là tương tư…kỷ niệm và nhớ quá.

***
Thế rồi cả gần 50 năm sau, có lần một người bạn nhạc sĩ rủ tới nhà chơi uống rượu xem Hoa Cúc vào mùa thu đến trên đất Mỹ.

Cuối tháng 9, qua đầu tháng 10, thời tiết biến chuyển kỳ lạ, mấy ngày trước còn hừng hực nóng, ngồi trong xe như ngồi trong một nồi hầm, bước ra khỏi xe, như chạm vào lò lửa, thế mà tối thì nhiệt độ xuống thấp cả năm bảy độ, ngày hôm sau , xuống nữa, chỉ vài ngày là đã lành lạnh hơi thu. Phú rủ tới nhà chào đón những ngày êm mát của đất trời. Khi đã chập tối, phòng khách còn lại khoảng hơn mười người, Phú dạo đàn và hát vài ca khúc về thu như Thu Quyến Rũ của Đoàn Chuẩn Từ Linh, Thu Vàng của Cung Tiến và mời gọi mọi người ngâm thơ hát nhạc chung vui.

Có người ngâm thơ, có người hát nhạc, Phú quay lại tôi mời góp vui. Tôi ngại ngần tìm bài, bỗng dưng như một thói quen gợi nhớ mỗi độ thu về, tôi nhờ Phú tìm tông và điệu nhạc và ngân nga lại một ca khúc không biết tên gì và của một người …cũng chẳng biết là ai.

Bài hát hát lại hai lần, bỗng nghe có tiếng thổn thức, mới đầu nhè nhẹ sau bật thành tiếng khóc từ góc phòng.
Phú sửng sốt, dừng đàn quay lại nhìn người phụ nữ đang dụi mắt ở góc phòng: Chuyện gì vậy chị Thu?
Người phụ nữ tên Thu lắc đầu, đứng dậy rời chỗ ngồi, đi lên lầu. Tôi hỏi Phú:
-Ai vậy?
– Bà chị ruột của mình, mới từ Canada qua chơi.
-Tại sao khóc? Tôi có làm gì xúc phạm không?
Phú lắc đầu, làm gì có, Bả góa chồng đã lâu và hay bị kích động khi nhớ kỷ niệm nào đó, thôi bỏ qua đi, nào chúng ta uống nữa nhe.

Nhưng buổi tiệc đã như lắng xuống chẳng ai còn muốn nói gì thêm, chia tay mà ai cũng buồn, cái buồn mênh mang chẳng biết vì sao lại buồn.

Hôm sau, Phú gọi điện cho tôi mời tới nhà : Chị Thu muốn hỏi anh cái gì đó mà tôi dò hỏi chị không nói. Chị ấy nói rằng nếu không làm anh phiền thì mời anh đến chơi , gặp mặt trước khi chị ấy về Canada.

Tôi đến ngay, trước mặt tôi là một phụ nữ đứng tuổi, tầm thước và rất đẹp dù tuổi tác có làm thêm vài nét nhăn trên khóe mắt, tia nhìn dịu buồn và thân thiện, khi chị đứng dậy bước vào bếp lấy nước trà và dĩa bánh Trung Thu bày ra trên bàn, bước đi thanh thoát và quý phái dù trang phục đơn sơ. Chị nhẹ nhàng mời, Bánh này là do tôi làm, Vợ chồng Phú vẫn cứ thích lối làm bánh dẻo của tôi, nên ép tôi làm cho dịp Trung Thu này, mời anh ăn thử…

Tôi cám ơn và ngồi xuống chờ đợi, tôi biết những lời nói vừa rồi chỉ để chuẩn bị cho một câu hỏi gì đó, mà câu hỏi chắc chắn liên quan tới tiếng khóc bất ngờ hôm trước và ca khúc tôi hát góp vui bất ngờ. Sau cùng, sau khi đối diện im lặng khoảng năm ba phút. Chị hỏi tôi

-Anh ấy bây giờ ở đâu?
- Anh ấy …anh ấy nào?
- Người viết ca khúc Về Thu đó.
-Đó là bài Về Thu à? Đây là lần đầu tôi nghe tên bài hát này. Tôi không quen với anh ta. Bài hát là do một người bạn của tôi là Lâm Văn Sang hát cho tôi nghe, tôi thích, nhớ và hát lại. Theo Sang nói tác giả tên Vũ, là bạn cùng học với Sang ở Saigon.
- Học Đại Học Sư Phạm Saigon.
- Đúng rồi, sao chị biết?
- Anh ta không phải tên Vũ mà là họ Vũ, Vũ Đình Tuấn, học Đại học Sư Phạm Saigon ra trường năm 1974 và dạy tại Gò Vấp.
Tôi sửng sốt, thì ra chị quen với Vũ Đình Tuấn?
Chị Thu nâng tách trà, nhắp một chút, bỏ xuống, đưa mắt nhìn ra cửa sổ, nói nhè nhẹ…
-Tôi là Thu. Tuấn là người miền Bắc di cư vào nam, nhà chỉ có hai mẹ con, Mẹ Tuấn bán trái cây ở chợ Gò Vấp nuôi Tuấn ăn học, cho tới lúc tốt nghiệp Đại Học được may mắn về dạy gần nhà. Chúng tôi đều tha thiết mong chờ ngày hai đứa được sống mãi mãi mãi bên nhau.

Tôi quen Tuấn khi đang học lớp đệ nhị trường Lê Văn Duyệt. Tuấn học năm thứ hai Sư Phạm, mỗi chiều về, trên chiếc xe đạp của Tuấn chúng tôi đã biết thế nào là gió vờn trên má, lá rơi trên tóc, Tuấn dừng xe bên lề công viên hát những ca khúc hồn nhiên và ước hẹn những ngày thiên đường. Nhưng cuộc chiến tranh kết thúc đã không phải là những ngày của hòa bình. Mỗi gia đình rơi vào một hoàn cảnh khác nhau. Hoàn cảnh nào cũng xót xa và hoàn cảnh nào cũng khắc nghiệt.

Trước nhất kể về gia đình Tuấn, Nhà chỉ có hai mẹ con, mà buôn bán nhỏ, Tuấn lại là Giáo Sư trung học, nhưng chỉ vì nhà là một căn nhà mặt tiền vị trí đẹp, họ đã tìm cách kết cho Tuấn một tội trạng vu vơ rồi đuổi không cho Tuấn dạy, và ép hai mẹ con đi kinh tế mới để tịch thu nhà. Giữa lúc ngặt nghèo, Mẹ Tuân lâm bệnh và đột ngột từ trần. Tuấn bỗng dưng thành vô gia cư, không nghề nghiệp, chao đảo tuyệt vọng, thì gia đình tôi cũng bị đẩy vào tuyệt lộ. Khi không còn tìm được niềm tin vào cuộc sống tương lai cho đám con mới lớn, Cha tôi dắt vợ con tìm đường đi vượt biển.
Tôi chỉ biết khi Ba gọi các con vào căn dặn thu dọn quần áo, 5 giờ sáng sẽ ra xe đi Cà Mau ăn đám cưới. sau đó sẽ đi xa.

Khuya hôm đó, lúc gia đình đã ngủ, tôi lén mở cửa chạy bộ tới nhà thờ Hạnh Thông Tây. Tôi biết Tuấn đi đâu đó ban ngày để tránh né công an, nhưng khuya sẽ về ngủ góc nhà mồ trong khuôn viên nhà thờ….khuya , khuya lắm, trời tháng 11 lạnh buốt, gió rì rào và âm u giữa hai ngôi mộ lớn, tôi có khép mình lại chờ đợi… Cho tới lúc, ngoài đường có tiếng xe xích lô chở hàng hóa bán sớm ở khu chợ bên kia đường, và thấp thoáng đã có người bán hàng lục tục đi qua đi lại. Tuyệt vọng , không chờ được, tôi mới bỏ về nhà.

Tôi đi tìm Tuấn giữa đêm chuẩn bị ra đi đó để làm gì? Tôi không đoán định được. Nếu gặp Tuấn thì sao? Tôi có thể nói với Tuấn lời tạm biệt và hẹn sẽ gặp lại sau này, hay sẽ bỏ tất cả để ở lại với Tuấn rồi không biết sẽ ra sao , hay sao nữa…Nhưng chỉ biết là lòng đầy tiếc nuối, chúng tôi yêu nhau đã bốn năm rồi, chưa bao giờ vượt vòng lễ giáo nhưng đã nguyện trọn đời trao gửi cho nhau. Tuấn mềm mỏng, khiêm cung, nhưng là người tự trọng, quốc biến gia vong đã đẩy anh vào tuyệt lộ nhưng anh cam chịu và tự cố vượt thoát đi lên. Tôi còn quá trẻ và non nớt chưa biết tính cách nào để giữ được nhau trong đời.

Chuyến đi của gia đình tôi quá nhiều bi thảm, ghe hư, biển động, đói khát và bị cướp biển, trên ghe năm sáu chục người, sau chót chỉ còn mười mấy người, Cha mẹ tôi chết mất xác trên biển, tôi thì bị…Tôi chỉ muốn nhẩy xuống biển chết theo cha, nhưng nhìn lại còn thằng em trai , Phú lúc đó mới 12 tuổi, bị đánh nằm ngất trên sàn máu trào đầy ngực không biết sống chết ra sao nên không đành lòng tự vận. Lúc đó, người đàn ông bị cướp đá văng xuống biển lại bám được thành ghe trèo lên còn sống sót, Anh ta giúp những người còn lại phục hồi chút xíu và ôm lấy tôi an ủi và thú thật lúc đó, không có anh ta, có lẽ tôi chẳng có bây giờ. Khi lên được đảo, Nam là chỗ dựa duy nhất cho chị em tôi. Nam nói với tôi rằng: Những gì kết được với nhau từ đáy vực, thì sẽ giữ được nhau khi lên đến bến bờ. Anh yêu em vì nghị lực và tình yêu của em dành cho gia đình, nên anh anh tin rằng nếu anh trở thành người Gia Đình của em, anh cũng sẽ được nhận những tình chung thủy đó. Anh cũng đã mất hết người thân, bây giờ chỉ còn ba chúng ta giữa thế giới mênh mông và xa lạ, em nghĩ thế nào khi chúng ta đến với nhau?

Tôi không thể quên Tuấn, nhưng bây giờ biết Tuấn ở đâu? Chỉ còn Nam với từng cử chỉ chăm sóc, an ủi và sẻ chia. Tôi và Nam lấy nhau khi ở đảo và về định cư ơ ở Mỹ từ năm 1980.

Tôi có với Nam hai người con, người con lớn thú thật tôi không biết chắc có phải con của Nam hay không, nhưng cho đến cuối đời, Nam vẫn dành toàn tâm toàn ý chăm lo gia đình yêu thương vợ con hết lòng, nuôi em Phú ăn học và xây dựng gia đình như người anh ruột, thương yêu hai con đồng đều . Nam mất mấy năm nay rồi. Tôi hiện ở với gia đình con gái ở Canada.

Còn Tuấn, không có tin tức gì đáng tin cậy. Một bạn học của tôi nói rằng có gặp Tuấn ở Mỹ nhưng không trò chuyện được. Một bạn học khác ngày xưa có quen với cả hai đứa thì nói Tuấn ở Việt Nam, đang sống ở miền tây, có gia đình nhưng cũng không bắt được liên lạc. Tôi với Tuấn thật ra cũng chỉ là tình xưa, mỗi người đã có một đời cách biệt. Tôi không có tin tức chính xác nào về Tuấn, và Tuấn có lẽ cũng chẳng có tin tức chính xác nào về tôi.

Hay nếu có mà Tuấn cố tránh tôi, lại càng làm cho tôi tin rằng dấu ấn của nhau vẫn còn trong trái tim mỗi người.
***
Những ngày đầu tháng 10 ở vùng Hoa Thịnh Đốn này hiu hắt gió lạnh, chưa có lá vàng rụng, nhưng đã vàng rực cả chân trời, Ngồi trong phòng khách nhà Phú, nhìn xuống phía chân đồi của vùng Annandale xanh rì cỏ non và lối đi bộ ngoằn ngoèo quanh những thân cây phong già úa, tôi chợt cảm thấy lạnh.

Chị Thu đưa tay mời nước và ăn bánh. Chị nói, anh có thể hát lại cho tôi nghe bài Về Thu đó không? Tôi quay lại nhờ Phú dạo đàn lấy tông và nói:
-Bài này khi tôi biết và hát, thì không biết tên nó là Về Thu, và không biết bài này là ca khúc tình yêu của tác giả nói về người tình tên Thu của mình, bây giờ biết rồi, thì tôi sẽ gọi bài này thành một tên khác đó là “ Thu ơi là ơi Thu” và chỉ hát lần này là lần cuối. Từ nay ca khúc này tôi sẽ quên đi, bởi vì nó thuộc về một Người, một người duy nhất , và tôi xin thay mặt một người Bạn của Bạn tôi, hát tặng chị Thu của “Thu ơi là ơi Thu…”

Dường như hát lần này, giọng tôi không còn hồn nhiên như những lần hát trước, và chị Thu cũng không bật khóc như cách đây mấy hôm, mà chỉ thấy mắt chị đỏ hoe.

Khi kể câu chuyện này với một nhạc sĩ trẻ mới quen trên mạng: nhạc sĩ Cung Minh Huân, qua phone, tôi hát cho Huân nghe, và Huân đã ký âm lại bài hát, xin gửi kèm theo đây với lời nhắn: Vũ Đình Tuấn ơi, nếu cơ duyên nào bạn đọc được những dòng chữ này, thì hãy nhớ rằng tình yêu của bạn, ca khúc của bạn vẫn có người còn nhớ dù đã 50 năm nhé.

Nguyễn Minh Nữu.
Virginia, 6/10/2021.


Thứ Hai, 8 tháng 7, 2024

Nhớ Về Long Kiểng


Long Kiểng dính với ba địa danh là chợ Long Kiểng, bến đò Long Kiểng và cầu Long Kiểng. Ba địa danh này liên quan tới nhau nhưng không cùng một chỗ. Chợ Long Kiểng ở quận 4, trên đường Tôn Thất Thuyết, kế chợ có một bến đò để qua sông về Nhà Bè, nhưng bến đò bên quận 4 thì mang tên khác, bên kia sông về phía Nhà Bè mới gọi là bến đò Long Kiểng, tới bến đò Long Kiểng rồi thì trước mặt là một con lộ lớn, ngày xưa là lộ đất đỏ không có tên, đầu đường là bến xe thổ mộ, leo lên thổ mộ chạy thêm khoảng năm ba cây số thì gặp cầu Long Kiểng.

Kể dông dài như vậy, để biết là địa danh Long Kiểng dùng để gọi một khu vực khá rộng, chiều dọc thì có thể tính từ chợ Long Kiểng bên kia sông qua tới cầu Long Kiểng còn chiều ngang, có thể coi như khu vực nối từ cầu Rạch Ông, tới cầu Tân Thuận bằng đường Trần Xuân Soạn. Trong lịch sử chống Pháp, ghi nhận nơi đây với các khu làng xã Tân Quy, Tân Thuận, Nhà Bè, Thủ Thiêm là cái nôi của một lực lượng quân sự là nghĩa quân Bình Xuyên, mà trong truyện Người Bình Xuyên của Nguyên Hùng viết mở đầu: “Con đường đất đỏ nối liền chợ Long Kiểng với bến đò (cũng mang tên Long Kiểng) phơi mình dưới nắng mai đẹp như một dải lụa dài màu gạch cua. Hai bên đường nhà cửa lưa thưa, các cánh đồng xen lẻ bưng rạch xanh um. Đâu đó một con cu đất đậu trên nhánh bần cất tiếng gáy dõng dạc như khuấy động bầu không khí êm ả của đồng quê. Thỉnh thoảng một chiếc thổ mộ chạy lốc cốc suốt quãng đường dài.”

Đó là lịch sử. Còn từ năm 1960, thì khu Long Kiểng coi như khu dân cư mới để giãn dân cho trung tâm thành phố. Đầu thập niên 1970, khu vực xã Tân Quy Đông được khai thác thành một khu dân cư rộng lớn với hàng ngàn căn nhà được xây đơn giản, mỗi căn nhà ngang 4 mét dài cỡ 10 mét, trong một lô đất rộng gấp ba để cư dân có thể trồng rau, trái. Từ bến đò Long Kiểng, đi trên con lộ đất đỏ vào khoảng gần vài cây số, bên phải là nghĩa trang, nơi này có mộ một người phụ nữ Công giáo mất cả trăm năm mà không phân hủy, nên người dân tôn kính gọi là đất bà thánh Anna Sĩ. Còn về bên trái, có đường dẫn vào khu dân cư, chúng ta gặp ngay chợ Tân Quy Đông, nằm trong một khu vực được quy hoạch chung với bưu điện, ngân hàng và sâu vào trong nữa là các trường tiểu học và một trường trung học đệ nhị cấp của huyện Nhà Bè là trường Lê Thánh Tôn.

Cho tới năm 1978, ở ngã ba Trần Xuân Soạn vẫn còn bến xe Thổ Mộ, hình ảnh người xà ích ngồi bên càng xe hút thuốc rê chờ khách và con ngựa bị che mắt lắc lư cái đuôi xua đuổi ruồi muỗi, lâu lâu đầu lắc lư và dậm các vó xuống nền đất in trong đầu tôi thật nhiều xúc cảm, gắn liền với kỷ niệm, bởi vì sau nhiều năm tháng ở giữa trung tâm thành phố, khi dọn nhà qua Long Kiểng, thấy giống như mình về quê... xa lắm.

Hơn 20 năm ở Mỹ, tôi nhiều lần về thăm lại Việt Nam và lần nào cũng ở Long Kiểng. Bởi vì thứ nhất đây là vùng đất tôi cư trú lâu dài trước khi rời Việt Nam, và lý do thứ hai quan trọng hơn, chính vì người chị ruột đang ở Long Kiểng, người đã luôn dành cho đứa em những tình cảm ruột thịt ấm áp. Tôi luôn tự hào về chị, tự hào về những hành động, cử chỉ, sự quan tâm của một người chị dành cho đứa em mà tôi biết chẳng phải ai cũng có được, tự hào hơn nữa về cuộc đời của chị, là một tấm gương về đạo đức và sự kiên trì trong học vấn.

Tôi mồ côi cha từ thơ ấu, sống với mẹ bằng sự nuôi nấng của các anh các chị. Khi vào Nam, mẹ tôi dắt theo 6 đứa con mồ côi, nhỏ nhất là tôi vừa lên 4 và anh lớn nhất 19 tuổi, lần lượt từng người vừa đến tuổi trưởng thành là bước ra đời, kiếm sống và gửi tiền về nuôi mẹ cùng các em. Những đồng tiền hẹp hòi được mẹ chi tiêu dè sẻn và rất khó khăn. Chị Bội Cẩn bước vào đời từ năm 16 tuổi khi thi xong bằng Trung học. Chị tham dự một cuộc tuyển nhân viên của Viện Pasteur, và được huấn luyện hai năm để trở thành Chuyên viên Phòng thí nghiệm, nhiệm sở đầu tiên là Bệnh viện Long An.

Mỗi ngày trong tuần, bất kể nắng mưa, sau khi tan sở, chị đón xe đò từ Long An về bến xe Chợ Lớn, sau đó đi bộ từ bến xe về trường Chu Văn An (khoảng cách gần 5 cây số) để học lớp đêm, tan lớp, đi bộ cũng khoảng 3 cây số về nhà lúc đó ở cầu chữ Y. Sáng hôm sau, đón xe buýt vào bến xe Chợ Lớn để xuống Long An làm việc tiếp. Hãy nghĩ cái lộ trình đi bộ và tinh thần hiếu học đó suốt hai năm để lấy cho được cái bằng Tú tài toàn phần để hiểu cái ý chí cầu tiến của chị. Giai đoạn đó, chị quen một giáo sư dạy tại Trung học Tân An, anh Chu Hoài Nhân là cháu nội cụ Nghè Chu Mạnh Trinh, hai người gặp nhau, tâm đầu ý hợp, gia đình hai bên nhiều nét tương đồng, cùng là con nhà nho phong và đặc biệt cùng nghèo như nhau. Sau khi lập gia đình, chị lại kiên trì cho việc học, chị ghi danh vào học Đại học Văn Khoa trong lúc vẫn tiếp tục làm việc tại bệnh viện. Câu chuyện chị kể lại với niềm vui là suốt 4 năm đó, năm nào cũng vào thi vấn đáp với cái bụng bầu. Mỗi năm lấy một chứng chỉ và mỗi năm sanh một cháu bé. Sanh xong cháu thứ tư là chị lấy xong Cử nhân Văn chương Việt Hán, và chị xin chuyển qua ngành Sư phạm, là một ước mơ từ thuở bé.

Bước lên bục giảng thành giáo sư Việt Văn đầu tiên ở trường Trung học Thủ Thừa từ năm 1973, sau đó ròng rã suốt 40 năm làm một việc duy nhất là dạy học, môn dạy duy nhất là Việt Văn. Dạy ở nhiều trường, nhưng lâu dài nhất, dài tới hơn 20 năm là tại trường cấp ba Lê Thánh Tôn huyện Nhà Bè cho tới lúc nghỉ hưu. Có thể nói, các lứa học sinh tốt nghiệp Trung học Phổ thông ở Nhà Bè suốt từ 1980 cho tới 2000 ít có cô cậu nào không phải là học trò của chị. Cuộc đời của chị là dạy học, cuộc sống của chị là mẫu mực và tâm tư suy nghĩ của chị là giáo dục. Hành trình để lấy cho được bằng Cử nhân để chuyển qua ngành Giáo dục của chị là một nỗ lực gần như phi thường bắt nguồn từ một khao khát nối chí tiền nhân của cả hai bên, bên cha ruột và bên ông nội của chồng, thêm vào đó là thiên khiếu riêng về văn chương chữ nghĩa.

(Đường Trần Xuân Soạn)

Năm 1985, gia đình tôi cũng rời quận 5, dọn về khu Long Kiểng. Tôi ở ấp Tân Quy Tây nằm cạnh đường Trần Xuân Soạn, còn chị Bội Cẩn ở xã Tân Quy Đông sâu vào bên trong. Những tháng ngày thiếu thốn cơ cực đó, hình ảnh chị chạy chiếc xe đạp mini cũ mèm, vài ba bữa lại ghé qua nhà, hỏi thăm các em các cháu, rồi ấn vào tay tôi tờ giấy tiền nho nhỏ, rút ra từ đồng lương hẩm hiu nhà giáo để em mua thêm thức ăn cho các cháu, mỗi khi nhớ lại không cầm được cảm xúc.

Qua mắt nhìn của chị, tôi chẳng bao giờ lớn lên. Trong những chuyến về Việt Nam đầu tiên, ở tại nhà chị, chị lưu ý từ ly cà phê buổi sáng, tới thay đổi món ăn mỗi bữa, áo quần thay đổi và cả mỗi lần lấy xe ra khỏi nhà là hỏi em đi đâu? Bao giờ về, chị chờ cơm nhé... Có lần, đang giữa trưa tôi đang ngồi uống cà phê với bạn bè ở gần ngã tư Bảy Hiền, điện thoại reng, chị hỏi em đang ở đâu, sáng nay chị mua được con cá diêu hồng ngon lắm làm cá um cần ta mà em thích nè, chị chờ em về ăn cơm nhé... Tôi phải giải thích chị ơi, em đang ở cách nhà cả mấy tiếng đồng hồ, làm sao chị chờ được...

Sáng hôm sau, vừa dắt xe ra, chị đưa chân ra cửa và lại ân cần hỏi... Bao giờ về? Chu Thế Phong là con trai của chị, đưa tay ra cản mẹ và nói với chị rằng: Cậu về là cậu đi chơi chứ có phải về đây để ăn và ngủ đâu. Mẹ đã đưa chìa khóa nhà, chìa khóa phòng và xe cho cậu rồi, thì mẹ phải để cậu thoải mái đi đâu thì đi, chừng nào về thì về, có thế cậu mới về ở đây với mẹ, mẹ hỏi hoài... chắc cậu trốn luôn quá... Tuyệt vời quá Thế Phong, cháu của tôi hiểu cậu đến xương tủy luôn.

Long Kiểng theo chiều ngang là đường Trần Xuân Soạn thì nối từ cầu Rạch Ông tới cầu Tân Thuận, phía bên trái là rạch Bến Nghé, còn bên phải thì ngày xưa là những căn nhà bán thành thị bán thôn quê, nhưng nay đã là những tòa nhà bề thế, các khu chung cư cao tầng. Ngã ba Tân Quy nay thành ngã ba Trần Xuân Soạn và Lê Văn Lương sầm uất sang trọng. Đi tới nữa, tìm con hẻm nhỏ ngày xưa mà tôi từng ghé chơi nhiều lần là nhà của nhạc sĩ Châu Kỳ, người nhạc sĩ tài hoa người Huế, dáng người đậm thấp, nói chuyện vui vẻ khi khoe rằng ông đang ở căn nhà không số và con phố không tên. Nhạc sĩ Châu Kỳ là tác giả nhiều ca khúc nổi tiếng như Thương Về Miền Trung, Sao Chưa Thấy Hồi Âm, Con Đường Xưa Em Đi. Nhớ lắm người nhạc sĩ tài hoa đi trên chiếc xe đạp cũ cầm tay cây đàn ghi-ta lớp vẹc-ni trầy tróc, mái tóc bạc phơ mà đôi mắt lấp lánh tia cười khi ôm đàn và hát Giọt Lệ Đài Trang... rồi kể về một cô gái con nhà quyền quý mà có một kết thúc thật buồn. Còn nhớ có lần, trong bàn tròn uống rượu đế có Huỳnh Dạ Thảo, Đoàn văn Khánh, khi nghe Châu Kỳ hát vài bài, bài nào cũng buồn, tôi bạo dạn đề nghị xin cho nghe một bản nhạc tình vui được không? Nhạc sĩ Châu Kỳ nhìn tôi cười, tình vui làm sao thành ký ức để viết được, nói vậy nhưng ông cũng ôm đàn lên... “Chỉ có đôi ta không bao giờ ly biệt, chỉ có đôi ta tha thiết mộng ban đầu. Đừng khóc cho tương lai mai thuyền ngược về đâu. Với một tiếng tin yêu nhau, mối tình đẹp ngàn sau...” Tuyệt vời cho lời hứa hẹn lứa đôi trong ca khúc Đừng Nói Xa Nhau của Châu Kỳ. Đây có lẽ một ca khúc nhạc tình có hậu, tình vui rất hiếm hoi của ca nhạc Việt Nam.

Châu Kỳ là một tên tuổi lớn của tân nhạc, ông để lại cho đời trên 200 ca khúc, trong số đó, rất nhiều bài nổi tiếng ai cũng thuộc mà ít người biết tên tác giả như Đừng Nói Xa Nhau, Tôi Chưa Có Mùa Xuân, Sao Chưa Thấy Hồi Âm... Trong một bài viết trên trang web Yêu Nhạc Vàng (mà tôi không tìm thấy tên tác giả) cũng đã viết về nhạc sĩ Châu Kỳ như thế này:

- Từ một ngôi nhà khang trang trước 1975 phải bán đi để trả nợ cho sự sống còn để rồi còn một mái nhà dột nát ở xã Tân Quy, huyện Nhà Bè hiện nay, từ một chiếc “vespa” cũ kỹ trước 1975, nay lại còn một chiếc xe đạp và từ năm 1975 cho đến nay tính ra Châu Kỳ đã có đến chiếc xe đạp thứ 16, vì bị mất cắp, vì bị hư hỏng không còn xài được nữa và bạn bè - cũng rách nát như anh - thương tình giúp đỡ cùng với món tiền ít oi mà các trung tâm băng nhạc ở hải ngoại gửi về để cho anh mua chiếc xe đạp khác, mua rồi mất, mất rồi mua, nay đã là chiếc xe đạp thứ 16 của anh.

Người nhạc sĩ tuổi bát tuần, thân thể giờ đây tuy có ốm yếu, gầy mòn nhưng trong nét nhạc vẫn còn những nét tinh anh vì tuổi Quý Hợi tuy bề ngoài hiền hậu, thư sinh, ôn nhu nhưng bên trong chứa đầy nghị lực. Mới ngày nào đây, khi những ca khúc đầu tay như "Trở về", "Tiếng hát dân Chàm" ra đời thế mà nay đã ngót nửa thế kỷ, "bóng dâu đã xế ngang đầu".

Từ xã Tân Quy, huyện Nhà Bè, Châu Kỳ nhìn lại khoảng đời đã đi qua mà lòng không khỏi bùi ngùi xúc động, xót thương cho một số đông bè bạn thân mến đã vĩnh viễn ra đi, một số thì diệu vợi xa cách, chỉ còn chăng một số ít oi còn ở lại nhưng cũng lâm vào hoàn cảnh khốn khó, bần bách, đôi mắt nhòa nhạt vì tuổi đời chồng chất.

Khi tôi rời Việt Nam, thì nhạc sĩ Châu Kỳ cũng dọn về Thủ Đức và từ trần năm 2008, hưởng thọ 85 tuổi. Tác giả Cố Đô Yêu Dấu đã được gia đình đưa về an táng tại đồi Nam Giao, Huế, như lời ước nguyện.

Có lẽ phải nhắc đến một di tích khá lạ. Đó là chùa Ông. Chùa mà lại là chùa Ông, thờ Quan Đế. Hồi xưa, muốn vào chùa Ông thì từ Trần Xuân Soạn rẽ vào một con hẻm nhỏ, đi vào rất sâu quanh co qua khỏi khu dân cư, tới đồng ruộng, nghĩa trang rồi tới một bến đò, từ bến đò này lên đò qua một cù lao giữa bưng biền. Chùa Ông xây dựng trên đó dường như vào khoảng 1945, trong chùa thờ ông Quan Đế có lẽ chỉ là cái cớ tôn giáo hợp thức hóa cho những sinh hoạt ngầm. Chùa xây biệt lập như vậy giữa vùng kháng chiến này thực ra ngày xưa là một cứ điểm, nơi hội họp mật của các thủ lĩnh giang hồ. Ngoài con đường nhỏ nói trên, người ta chỉ còn có thể đến chùa Ông bằng cách khác đó là đi bằng thuyền, mà tôi cho rằng đi bằng thuyền mới là chính. Di chuyển trên chiếc thuyền nhỏ giữa các vòm lá dừa nước um tùm làm tưởng tượng như đi vào vùng các hảo hán Lương Sơn Bạc ngày xưa. Thời gian sống ở Long Kiểng, tôi nhiều lần được thanh niên trong xóm chèo ghe tới sau nhà, đón lên rồi lênh đênh trong lau lách để đến chùa trong những đêm trăng, rất tuyệt vời, lãng mạn và có chất thần bí nữa.

Bởi vị trí chùa gần như biệt lập có giá trị cho những sinh hoạt bí mật, để khi có động, mọi người tan hàng về các ngả khác nhau... Sau này, những người giang hồ và kháng chiến đó tàn lụi đi, nhưng con cháu vẫn thường xuyên vào đó tế lễ tạo thành một lễ hội hàng năm. Lễ hội này có những bài tế đồng nam, đồng nữ rất lạ mắt. Bây giờ, các ao hồ, bưng biền được lấp đi xây nhà cửa, đường sá và một con đường mở ra sau lưng chùa Ông. Người đi chùa Ông bây giờ thoải mái lái xe gắn máy, xe hơi vào thẳng trong chùa. Tôi đã về và đã ghé đến nhưng thực sự cảm giác hụt hẫng thật nhiều.

Đi tới nữa thì gặp Cư xá Ngân Hàng. Đây là một khu cư xá rất đẹp, các đường ngang dọc thẳng tắp với những căn nhà giống nhau, sạch sẽ và thanh tĩnh. Nơi này ngày xưa của Ngân hàng Việt Nam Thương Tín xây cất dành bán cho nhân viên thuộc quyền. Bây giờ vẫn gọi như vậy, và đặc biệt là vẫn giữ được cái thanh tĩnh, sạch đẹp như ngày xưa.

Đi thêm về phía Tân Thuận thì tới một cái cầu nhỏ bằng với mặt đường nên có khi đi qua mà không biết là đi qua cầu, nhưng cây cầu này lại rất nổi tiếng vào khoảng thập niên 1960, đó là cầu Hàng.

Các xã Tân Quy Tây, Tân Quy Đông, Tân Hưng... thuộc huyện Nhà Bè ngày xưa, đã được sáp nhập và thành quận 7 phát triển hết sức nhanh chóng từ đường sá, cầu cống, tới dân cư để trở thành một khu vực quan trọng về kinh tế, thương mại. Con đường Trần Xuân Soạn ngày xưa là đường xương sống của khu Long Kiểng nay cũng phát triển, sầm uất hơn xưa, nhưng không thể so sánh được với những con đường mới mở sau này.

Khi tôi chạy xe buổi tối từ Saigon, băng qua cầu Khánh Hội, rồi cầu Kênh Tẻ. Vừa qua cầu là gặp hàng loạt cao ốc cả ba bốn chục tầng, rồi trường Đại học Tôn Đức Thắng, siêu thị Lotte, tới con đường rẽ trái vào một đại lộ rực rỡ ánh đèn, nhà hàng, tiệm ăn, cửa hàng thời trang... Thật không thể tưởng tượng được khu này ba mươi năm trước vẫn còn là những cánh đồng ngập mặn, những con lạch quanh co với hàng dừa nước mịt mùng.

Dẫu là con lộ đất đỏ ngày xưa hay đại lộ Lê Văn Lương bây giờ, dẫu là khu ruộng ngập mặn hay là các con lộ Nguyễn Thị Thập, Lâm Văn Bền bây giờ, dẫu tên Long Kiểng, Tân Quy hay là Tân Kiểng bây giờ, nhưng từ xa nhớ về, tôi vẫn còn hoài cảm thời lênh đênh trên chiếc ghe nhỏ, chèo trong đêm trăng sáng để đi lễ năm nào, nó thanh bình, thơ mộng, mà còn có vẻ như huyền hoặc nữa.

Nguyễn Minh Nữu