Hiển thị các bài đăng có nhãn Lệnh Hồ Công Tử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lệnh Hồ Công Tử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

Mẹ Và Xứ Nẫu


Gió biển thổi vào mặt khi chúng tôi đặt chân đến phi trường Punta Cana của Cộng hòa Dominique. Mùi gió muối, làm lòng tôi chùng xuống khi nhớ về quê hương biển mặn của một tỉnh miền Trung, một tỉnh đặc thù khi nghe giọng nói mà nếu bạn là người con xứ đó không thể nào không nhận ra.

Chuyến đi tắm biển này là một chuyến đi định mệnh, chuyến đi làm lòng tôi lắng xuống, nhớ đến Mẹ khi nghe một âm hưởng đã in sâu vào tâm trí tôi từ khi còn nhỏ với bao năm rời xứ đến hôm nay tôi vừa tìm lại được.
Trong không khí ồn ào của 10 cô gái đủ mọi miền đất nước Việt nam đến từ Montreal, giọng nói của mẹ lanh lãnh giữa sóng biến lọt vào tai tôi. Mẹ ơi, bao năm rồi, con không còn nghe giọng của mẹ. Giữa muôn màu bản sắc văn hóa Việt, nhiều âm hưởng của Bắc, Trung Nam, con nghe tiếng nói đầy thân thương của mẹ, giọng nói của một địa phương với niềm tự hào, gắn với lịch sử, ngôn ngữ và phong cách sống đặc trưng, đó là giọng xứ "NẪU". Vậy xứ Nẫu ở đâu?, Vì sao lại gọi là “Nẫu”? Và điều gì khiến xứ Nẫu trở nên đặc biệt trong lòng người Việt?

Cụm từ " xứ Nẫu" là một cách gọi mộc mạc, thân thương dùng để chỉ vùng đất Bình Định và Phú Yên, nơi nổi bật với giọng nói đặc trưng và phong cách sống đậm chất miền Trung. Để hiểu rõ từ “Nẫu” bắt nguồn từ đâu, chúng ta cần ngược dòng lịch sử. Vào năm 1558, chúa Nguyễn Hoàng được vua Lê cử vào trấn nhậm Thuận Quảng (gồm Thuận Hóa – Quảng Nam ngày nay) và bắt đầu mở rộng lãnh thổ về phía Nam. Đến năm 1578, Phù Nghĩa hầu Lương Văn Chánh làm Trấn biên quan, đưa lưu dân nghèo vào khai khẩn vùng đất từ đèo Cù Mông đến đèo Cả (tỉnh Phú Yên ngày nay). Năm 1611, phủ Phú Yên được thành lập. Vào thời kỳ đó, do địa bàn còn hoang sơ và dân cư thưa thớt, hệ thống hành chính tại đây được tổ chức khá linh hoạt. Dưới cấp huyện có các đơn vị như thuộc, phường, nậu, man. Trong đó, “nậu” là đơn vị quản lý nhóm người cùng làm một nghề, và người đứng đầu được gọi là đầu nậu. 

Ví dụ:
- Nậu nguồn: người khai thác rừng,
- Nậu nại: người làm muối,
- Nậu rớ: người đánh cá bằng rớ,
- Nậu cấy: người làm ruộng thuê.

Đến năm 1726, các đơn vị như “nậu” và “thuộc” bị xóa bỏ. Lúc này, từ “nậu” dần thoát khỏi nghĩa hành chính và biến chuyển thành đại từ nhân xưng ngôi thứ ba mang ý nghĩa “người ta”, “họ” trong tiếng địa phương.
Từ “nậu” ban đầu đã trải qua một quá trình biến âm tự nhiên do ảnh hưởng của phương ngữ địa phương. Tại Bình Định và Phú Yên – nơi đặc trưng bởi lối phát âm không phân biệt rõ dấu hỏi và dấu ngã, từ “nậu” đã được nói trại thành “nẫu”.
Người dân xứ này thường dùng những cách nói rất đặc trưng như:
- “Ổng” thay vì “ông ấy”
- “Chỉ” thay vì “chị ấy”
- “Nẫu” thay cho “người ta” hoặc “họ”
Chẳng hạn:
- “Cái nhà đó là của nẫu”
- “Hôm nay nẫu đi đâu mà đông dữ rứa?”

Chính những kiểu nói thân quen ấy đã trở thành dấu hiệu nhận diện rõ nét của người xứ Nẫu, khiến giọng nói nơi đây không thể lẫn với bất kỳ vùng miền nào khác. Dần dần, từ “nẫu” không chỉ dừng lại ở một biểu hiện ngôn ngữ mà đã trở thành một phần trong văn hóa bản địa – đi vào ca dao, tục ngữ, thể hiện rõ nét sự mộc mạc, nghĩa tình của con người miền Trung:

Ai về sông núi Phú yên
Cho nẫu nhắn gởi nỗi niềm nhớ quê.

Và chính bởi sự độc đáo, gần gũi ấy mà “nẫu” đã trở thành tên gọi đặc trưng của cả vùng đất, để rồi người ta trìu mến gọi nơi này là xứ Nẫu một miền đất vừa bình dị, vừa đậm đà bản sắc. Không chỉ dừng lại ở giọng nói, xứ Nẫu còn nổi bật bởi tính cách con người và phong cách sống mang màu sắc riêng:
- Văn hóa và con người: Người dân Xứ Nẫu nổi tiếng với tính cách chân chất, thẳng thắn và nghĩa tình. Giọng nói “nằng nặng” đặc trưng, với cách phát âm không phân biệt rõ dấu hỏi và dấu ngã, tạo nên nét riêng biệt không lẫn vào đâu được.
- Nghệ thuật truyền thống: Xứ Nẫu là cái nôi của nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống đặc sắc. Nghệ thuật tuồng (hát bội) và bài chòi là hai loại hình tiêu biểu, phản ánh đời sống văn hóa và tinh thần của người dân nơi đây. Đặc biệt, bài chòi đã được UNESCO công nhận là văn hóa Việt Nam.
- Ẩm thực đậm đà: Ẩm thực Xứ Nẫu phong phú và đậm đà hương vị biển cả. Một số món ăn đặc sản nổi tiếng bao gồm: Mắt cá ngừ đại dương, Bánh ít lá gai, Bún chả cá Quy Nhơn, Khô bò một nắng muối kiến vàng.
- Cảnh đẹp thiên nhiên: Xứ Nẫu sở hữu nhiều danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp, thu hút hàng triệu khách du lịch mỗi năm như: Bảo tàng Quang Trung, Kỳ Co, Eo Gió, Gành Đá Đĩa, Mũi Điện, Đầm Ô Loan, Hàn Mạc Từ…

Từ một cách gọi dân dã, “xứ Nẫu” nay đã trở thành biểu tượng của cả một vùng đất với giọng nói đặc trưng, văn hóa và con người. Xứ Nẫu là để cảm, để thương, và để trải nghiệm.

Kỷ niệm một chuyến đi và riêng tặng người con gái xứ Nẫu lần đầu gặp mặt khi nghe giọng nói làm tôi nhớ đến mẹ.

Lệnh Hồ Công Tử, 
Montreal, tháng 5-2026
(Dựa vào tài liệu trên Internet)

Thứ Năm, 1 tháng 2, 2024

Cúng Ông Công Ông Táo 2024 Vào Ngày Nào Giờ Nào Đẹp Năm 2024


Cúng ông Công ông Táo là phong tục truyền thống lâu đời của người Việt Nam. Cúng ông Công ông Táo thường được thực hiện trước 12 giờ ngày 23 tháng Chạp. Theo nghi lễ truyền thống các gia đình sẽ làm mâm cơm tiễn ông Công ông Táo về chầu trời, để cầu mong một năm mới ấm no, sung túc.Thế nhưng, rất nhiều người chưa biết sắm lễ ra sao? Thời gian cúng ông Táo như nào? Bài cúng ông Công ông Táo và cần lưu ý gì sau khi cúng Ông ông ông Táo. Mời các bạn cùng theo dõi bài viết dưới đây của Cẩm nang az để hiểu rõ hơn, chuẩn bị thật chu đáo cho lễ cúng ông Công ông Táo.
Cúng Ông Công ông Táo 2024 vào ngày nào?

Ngày ông Công Ông Táo 2024 sẽ rơi vào thứ 6 ngày 02/02/2024 dương lịch (Tức ngày 23/12/2021 Âm lịch).

Truyền thuyết về Cúng Ông Công ông Táo

Cúng ông Công, ông Táo là một phong tục có từ rất lâu đời ở Việt Nam. Theo truyền thuyết kể lại, ông Công là vị thần cai quản đất đai trong nhà, còn ông Táo là ba vị đầu rau trông coi việc bếp núp. Ông Công, ông Táo được ông Trời phái xuống trần gian theo dõi và ghi chép những việc làm Thiện-Ác của loài người.

Hàng năm, cứ vào ngày 23 tháng Chạp, các vị thần này lại cưỡi cá chép lên Thiên đình báo cáo tất cả việc làm tốt và chưa tốt của con người trong suốt một năm qua để Thiên đình định đoạt công, tội.

Do đó, trong quan niệm của người Việt, ông Công và ba vị Thần Táo (hay vua Bếp) là những vị thần định đoạt cát hung, phước đức cho gia đình. Tất nhiên, phước đức này đến từ việc làm đúng đạo lý của gia chủ và những người trong nhà.

Với mong muốn cho gia đình mình được nhiều may mắn, nên hằng năm, cứ đến ngày 23 tháng Chạp, người ta lại làm lễ tiễn đưa ông Công, ông Táo lên chầu trời một cách long trọng.

Theo lịch âm dương, lễ cúng ông Công ông Táo năm 2024 rơi vào thứ sáu, ngày 2 tháng 2.

Tuy nhiên, nhiều người dân có quan niệm lễ phải diễn ra trước 12 giờ trưa ngày 23 tháng Chạp, nên nhiều gia đình cúng từ ngày 22 vì quan niệm phải kịp giờ cho ông Táo về Thiên Đình.
Cúng ông công ông táo vào ngày nào thì tốt năm 2024

Theo truyền thống dân gian, ông Công ông Táo là hai vị thần cai quản bếp núc trong nhà. Vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch, ông Công ông Táo sẽ lên trời báo cáo với Ngọc Hoàng về việc làm của gia chủ trong suốt một năm. Vì vậy, người Việt Nam thường chuẩn bị mâm cúng ông Công ông Táo rất chu đáo để tiễn ông Táo lên trời.

Năm 2024, ngày 23 tháng Chạp âm lịch rơi vào thứ Sáu, ngày 2 tháng 2 dương lịch. Tuy nhiên, theo quan niệm dân gian, giờ Ngọ là giờ đẹp nhất để cúng ông Công ông Táo. Giờ Ngọ năm 2024 rơi vào khoảng 11 giờ 00 - 12 giờ 00 trưa.

Trường hợp gia chủ bận việc, có thể cúng ông Công ông Táo trước ngày 23 tháng Chạp. Tùy điều kiện gia đình, bạn có thể cúng ông Công ông Táo trước từ 1 ngày - 1 tuần, nhưng tốt nhất là trong khoảng thời gian từ 20 - 23 tháng Chạp.

Theo quan niệm xưa, việc chọn ngày, giờ cúng ông Công ông Táo năm 2024 có ảnh hưởng rất lớn đến vận may của gia đình trong năm mới.

Dưới đây là một số ngày, giờ hoàng đạo để bạn có thể thực hiện lễ cúng ngày 23 tháng Chạp một cách trọn vẹn, giúp đem lại nhiều bình an, tài lộc và may mắn: Ngày 20 tháng Chạp (tức ngày 30/01/2024 dương lịch): Các khung giờ đẹp thích hợp để làm gồm: 7-9h; 13-15h, 19-21h.
Ngày 21 tháng Chạp (tức ngày 31/01/2024 dương lịch): Các khung giờ đẹp thích hợp để làm gồm: 15-17h; 17-19h.
Ngày 22 tháng Chạp (tức ngày 01/02/2024 dương lịch): Các khung giờ đẹp thích hợp để làm gồm: 9-11h; 15-17h; 19-21h.
Ngày 23 tháng Chạp (tức 02/02/2024 dương lịch): Các khung giờ đẹp thích hợp để làm gồm: 7-9h; 9-11h.

Khi cúng, gia chủ cần ăn mặc lịch sự. Trang phục nam nữ là quần dài, áo đẹp, sáng màu, không hở và thành tâm lễ bái khấn nguyện với ngôn từ chuẩn mực.

Năm hành kim thì dùng màu vàng
Năm hành mộc thì dùng màu trắng
Năm hành thủy thì dùng màu xanh
Năm hành hỏa thì dùng màu đỏ
Năm hành thổ thì dùng màu đen

Cá chép: Tượng trưng cho phương tiện tiễn ông Công, ông Táo lên chầu trời. Ngày nay, cá chép có thể là cá sống hoặc làm bằng giấy.

Lưu ý: Bạn có thể dùng cá chép sống hoặc cá chép giấy để cúng ông Công ông Táo. Thường thì ở miền Bắc, người ta sẽ cúng ông Táo bằng cá chép sống thả trong chậu nước với ngụ ý “cá chép hóa rồng”, còn ở Nam bộ, người ta dùng cá chép giấy nhiều hơn. Ngoài bộ ông Công, ông Táo, người ta còn mua thêm tiền vàng cho lễ cúng 23 tháng Chạp.
Mâm cỗ cúng ông Công ông Táo

Tùy theo từng gia đình có thể chuẩn bị những lễ vật cúng ông Công, ông Táo khác nhau và còn phù thuộc vào văn hóa của từng vùng miền. Ngoài các lễ vật chính kể trên, thì còn có lễ mặn, hay lễ chay (với trầu cau, hoa, quả, giấy vàng, giấy bạc…) để tiễn Táo Quân.

Một mâm cỗ mặn cúng ông Công ông Táo thường gồm các thứ sau:

1 đĩa gạo
1 đĩa muối
1 con gà luộc ngậm hoa hồng
1 bát canh mọc hoặc canh măng
1 đĩa xào thập cẩm
1 đĩa giò
1 đĩa thịt kho đông (miền Bắc)
1 đĩa xôi gấc hoặc bánh chưng
1 đĩa nem rán truyền thống
1 đĩa chè kho
5 lạng thịt vai luộc
3 chén rượu
1 đĩa hoa quả
1 ấm trà sen
1 quả bưởi
1 quả cau, lá trầu
1 lọ hoa đào nhỏ
1 lọ hoa cúc
1 tập giấy tiền, vàng mã

Lưu ý: Mâm cỗ cúng luôn đầy ắp màu sắc với mong muốn một năm sung túc.

+ Ngoài ra, cúng ông Công ông Táo ở miền Bắc các gia đình cũng mua thêm 3 con cá chép, cá vàng sống (hoặc cá giấy - sau lễ đốt cùng vàng mã) thả vào chậu nước đặt cạnh mâm cỗ. Sau khi làm lễ thì đem ra sông thả, chúng được coi như là phương tiện đưa Táo quân lên trời. Ngoài ra, hình tượng cá chép cũng truyền tải khát vọng "cá chép hóa rồng" ngụ ý thăng hoa, tinh thần bền lòng chinh phục tri thức và sự thành công.

+ Ở miền Trung thì thường cúng một con ngựa giấy đầy đủ yên cương.
+ Ở miền Nam chỉ cúng áo, mũ giấy là đủ.
Mâm cúng ông Táo, ông Công đặt ở đâu?

Trên thực tế, không có một tài liệu nào quy định rõ ràng về việc vị trí đặt mâm lễ cúng ở đâu bởi tùy vào phong tục cũng như quan niệm từng vùng miền sẽ có những quy ước khác nhau đối với vị trí đặt mâm cỗ cúng ông Công, ông Táo.

Nhưng, theo truyền thống của người Việt Nam, cúng bái luôn là một trong những việc yêu cầu sự trang nghiêm, chính vì thế lễ cúng ông Công ông Táo cần phải được thực hiện ở nơi trang trọng và gia chủ cũng cần thể hiện sự thành tâm của mình.
Văn khấn, Mẫu sớ cúng ông công ông táo

“ Nam Quốc….. ……………………………………….

*Tỉnh….. …………………………………………….

*Thị….. ………………………………………..

*Địa danh.Phường,Xã,Thôn ………………………..

*Đệ tử……………..Tên…………………

Hôm nay ngày ……Tại ………

Tấu thỉnh Thổ Công táo quân thiên đình, tam giới, thần thánh chư thiên.

Thiên phủ, địa phủ, thủy phủ. Nhạc phủ vạn pháp thần thông. Tấu thỉnh Thổ Địa thần kỳ, Thành Hoàng xá lệnh. Cung duy Thổ Công Táo Quân thiên đình.

Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân. Thổ Gia Thổ Trạch Tứ Phương Ứng Giáng.

Thỉnh Môn Thần, Phúc Sự. Thỉnh Tĩnh Thần Thanh Thủy. Thỉnh Hỏa Thần Thượng thiên

Thỉnh Bếp Thần Linh Hỏa. Thỉnh Vua Bếp Tam Tài. Thỉnh Xí Thần. Thỉnh Khố Cung Thần trông nom trông gia nhân. Thỉnh Ngũ Phương Ngũ Đế.

Hỏa hóa ngân lưỡng tống táo vương. Thượng thiên hảo sự quảng tuyên dương. Phụng đạo tụng kinh

Kì thao thanh bình đệ tử…… Phàm cư đại trung hoa…tỉnh…thị…hiệu. Kim nhật kiền thành. Dĩ hương chúc thanh sái chi nghi kính cáo

Cửu thiên trù phủ tôn thần chi vị tiền viết duy:

Thần linh thông thiên phủ. Trạch phái nhân hoàn. Công sùng viêm đế. Đức bị dưỡng quần sinh.

Đệ tử mỗi niên tứ quý. Ngưỡng lại tôn thần bảo hữu. Nhật thực tam xan. Toàn cảm đại đức khuông phù.

Thánh đức quảng bác. Thốn tâm nan báo. Nhật thường chi gian. Ngôn hoặc phi lễ. Hành hoặc phi nghi. Trù tạo chi tế. Hoặc phần mao cốt. Hoặc đôi uế ô.

Bất tri cấm kị. Mạo phạm táo quân đại vương. Hàng tai trí họa. Dĩ trí gia trạch bất an.

Kinh doanh bất thông. Nhân đinh bất vượng. Sinh súc bất lợi. Thường sinh tật bệnh chi tai.

Đệ tử hạp gia kiền niệm. Bắc kim đại cát lương thần.

Phụng tụng táo vương phủ quân chân kinh nhất quyển

Bổ tạ linh văn nhất hàm.

Thành khẩn lễ bái.

Thượng phụng

Cửu thiên nhạc trù tư mệnh

Thái ất nguyên hoàng định phúc . Phụng thiện thiên tôn vị tiền. Phục nguyện đại thi xá hựu.

Vĩnh tăng phúc lộc. Phùng hung hóa cát. Phổ ước an ổn. Thánh từ động hồi. Chiêu cách văn sơ

Thiên vận…niên….nguyệt….nhật.”

Lệnh Hồ Công Tử sưu tầm

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2023

Tết Sắp Đến Rồi...

Mùi Của Mẹ

Đôi khi sau một ngày tất tả ngược xuôi, ngồi lại bên bàn ăn lùa vội một ly mì gói, tôi nhớ bữa cơm quê của mẹ da diết. Tôi thèm không khí bếp sum vầy, cùng cả nhà ngồi nấu bánh chưng, cúng giao thừa, đi chơi Tết...Tôi thèm một nồi thịt kho trứng, canh khổ qua xanh đăng đắng nhồi thịt, bánh chưng xanh mang hương vị ngày Tết… Hương vị quê nhà thì chả tìm được và chẳng ở đâu thay thế được. Xa quê, một mình thì dẫu ăn gì cũng không cảm thấy vui. Tết là niềm hy vọng. Có được một sức khỏe dồi dào, một gia đình hạnh phúc, làm ăn phát đạt, sự nghiệp thăng tiến…Có sức khoẻ là có tất cả nhưng kể từ dịch Covid-19, không còn những cái ôm nồng nàn, không có cảnh tay bắt mặt mừng, chỉ còn lại những khẩu trang, những nghèo đói đè lên dân tộc tôi, không còn cuộc sống bình yên của người dân… Nếu ai có may mắn được về quê ăn Tết, hãy trân trọng từng khoảnh khắc bên gia đình vì nhiều người sẽ không có một cái Tết sum vầy, bình yên. Niềm hy vọng của người Việt Nam nói riêng sau 48 năm sống đời lưu vong là sự mong muốn có được một trang tươi sáng, nhưng thật quá xa vời.

Những ngày cận Tết, những con người xa quê, xa nhà đều cùng một tâm trạng chung là nỗi nhớ quê, nhớ nhà, nhớ bố mẹ...Đối với người Việt Nam, Tết là dịp rất quan trọng để gia đình đoàn tụ. Thế nên, dịp này, những ai đi làm xa, vì một lý do gì đó không thể về quê, đoàn viên với gia đình là một thiệt thòi lớn.

Bố mẹ ơi, hơn 40 năm làm người viễn xứ chẳng thể nào quên được cảm giác xa nhà và nguôi vơi nỗi nhớ. Thỉnh thoảng nhớ quê nhà con lại khóc như một đứa trẻ, nhất là những ngày giáp Tết thế này! Nếu không có Covid thì hàng năm con đã ở bên bố mẹ, được thắp nén nhang trên mộ Bố mẹ. Con nhớ và yêu nhà mình rất nhiều!

Đêm giao thừa năm nay lại một mình với căn phòng trống, 4 bức tường. Nghĩ tới cha mẹ, gia đình mà nước mắt đọng lại khóe mi. Thèm những bữa cơm tất niên giản dị, mộc mạc bên gia đình! Tết này anh không về, các em hãy thay anh cúng cho bố mẹ một mâm cơn với thịt kho, canh khổ qua và cặp bánh chưng dùm anh. Cận kề Tết, nhìn dòng người đổ xô về quê ăn tết mà thấy chạnh lòng. Xa nhà, xa quê, xa người thân, xa bạn bè... khóe mắt cay cay!

Lệnh Hô Công Tử
Mộng Lệ An, 15.12.2022

Thứ Tư, 14 tháng 12, 2022

Phượng Đã Đi Rồi


Cho người bạn vừa mới ra đi

Phượng là loài hoa gắn liền với ký ức của tuổi học trò, mỗi khi hè tới, nhìn hình ảnh những chùm hoa phượng vĩ đỏ rực cả góc trời khiến mỗi chúng ta phải bồi hồi nhớ lại quãng thời gian còn ngồi trên ghế nhà trường. 

Cây hoa phượng có tên khoa học là Delonix regia và thuộc họ Fabaceae. Trong tiếng Anh, phượng vĩ được gọi với rất nhiều cái tên như Royal poinciana, Flamboyant, Flame of the forest hoặc Flame tree. Cây phượng vĩ có nguồn gốc từ cánh rừng ở miền Tây Malagasy, Madagascar. Cây phượng vỹ sở hữu những tán lá to và rộng cùng thân cây có độ cao khoảng từ 5m đến 20m. Chính vì vậy mà cây phượng thường được trồng để tạo bóng râm mát, giúp mang đến không khí mát mẻ dưới trời nắng nóng ở các vùng nhiệt đới. 

Phượng vỹ thuộc nhóm loài cây thường xanh, tuy nhiên khi trồng tại những nơi khô hạn thì cây phượng sẽ rụng lá vào mùa khô. Hoa phượng thường nở vào khoảng từ tháng 4 đến tháng 6, tùy vào điều kiện khí hậu của từng khu vực. Cánh hoa phượng có 4 cánh tỏa rộng ra dài khoảng 8cm, cánh thứ 5 thì mọc thẳng, thường có kích thước lớn hơn 4 cánh còn lại và sẽ có khoảng màu trắng vàng hoặc màu cam vàng trên cánh hoa. Lá của cây phượng vĩ nhìn giống như một chiếc lông chim dài khoảng 30cm đến 50cm và có khoảng 20 đến 40 cặp lá chét. Quả của cây phượng có màu nâu sẫm và có chiều dài khoảng 60cm, rộng tới 5cm. Hoa phượng có 3 loại là hoa phượng đỏ (phượng vỹ), hoa phượng vàng và hoa phượng tím. Trong đó, hoa phượng đỏ hay phượng vvỹ là giống hoa phượng phổ biến nhất hiện nay. 

Hoa phượng vàng cùng loại với hoa phượng đỏ nhưng chúng không được trồng nhiều tại Việt Nam. Tuy nhiên, hoa phượng tím không cùng loại với loài hoa phượng vĩ mà chúng ta thường biết. 
Hoa phượng tím có tên khoa học là Jacaranda mimosifolia thuộc họ Bignoniaceae (họ Chùm ớt). Trong tiếng Anh, phượng tím có tên là Blue Jacaranda. Hoa phượng tím có hình ống dài từ 4cm đến 5cm, mọc thành từng chùm màu tím, có hình chuông và cánh hoa mềm mại, nhìn khác hoàn toàn so với hoa phượng vỹ. 

Người ta vẫn thường nói khi hoa phượng vỹ nở, ve sầu kêu cũng là lúc báo hiệu mùa hè về. Hoa phượng vỹ đỏ là loài hoa gắn liền với tuổi học trò, vì hoa phượng vĩ nở đúng vào thời điểm kết thúc năm học tại Việt Nam, mùa chia tay của nhiều thế hệ học sinh cuối cấp. Gốc cây hoa phượng đã chứng kiến không biết bao nhiêu kỷ niệm buồn vui của tuổi học trò. Hoa phượng cũng thường được các bạn học sinh dùng để ép thành hình con bướm để đặt trong các trang lưu bút của tuổi học trò. Hoa phượng cũng gợi nhớ đến những câu chuyện tình yêu trong sáng và ngây thơ của tuổi học trò. Chính vì vậy mà chúng ta thường ưu ái đặt cho hoa phượng cái tên rất đáng yêu là “hoa học trò”.

Phượng thường sống ở các vùng nhiệt đới, nóng, phượng cũng thường được tìm thấy ở những vùng biển như Mexico, Punta Cana của Cộng Hòa Dominique vv...vv... nhưng một điều làm các bạn ngạc nhiên là tôi lại gặp Phượng ở vùng đất lạnh, tuyết trắng vào mùa đông, tôi gặp Phượng tại Jardin Botanic, Montreal do tình cờ hẹn người bạn tại vườn hoa thành phố này.

Phượng, chính hiệu Việt Nam, với tên viết hoa, Phượng sống ở Bắc bán cầu, và các bạn cũng đừng lấy làm lạ, Phượng mà tôi nói đến không phải là cây hay hoa phượng mà tôi nói đến một người bạn tên Phượng. Phượng, chị là con người sống rất lạc quan, luôn luôn nở nụ cười và với cái giọng sang sản thể hiện tính cởi mở, thân thiện. Phượng, người con gái tui quen vừa ra đi vào cuối thu, khi trời se lạnh,

Vài dòng ngắn về Win-Phượng, mong rằng chuyến đi không trở lại này, chị sẽ sớm tìm vể cõi Phật, vĩnh viễn bên chân Ngài Địa Tạng, và tin rằng còn có nhiều người sẽ nhớ đến Phượng.

Một chiều cuối năm,

 

Lệnh Hồ Công Tử, 
Mộng lệ An, 13.12.2022

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2022

Những Mỹ Nhân Trong Tiểu Thuyết Kiếm Hiệp Kim Dung

Lời phi lộ: Đọc kiếm hiệp của Kim Dung, ngoài những nhân vật nam thì các nhân vật nữ đóng một vai trò rất quan trọng, nó làm hấp dẫn, say mê người đọc. Tất nhiên, trong lòng mỗi người hâm mộ đều sẽ có một nhân vật yêu thích của riêng mình. Để giúp quý vị hưởng không khí tươi vui, LHCT mạn phép giới thiệu cùng quí độc giả vài bông hoa trong bộ sưu tập lâu năm mà LHCT sống cùng với nhà văn Kim Dung..

1. Hoàng Dung - (Anh hùng xạ điêu & Thần điêu đại hiệp)

Hoàng Dung là con gái duy nhất của đảo chủ đảo Đào Hoa, Đông Tà Hoàng Dược Sư và Phùng Hằng. Nàng mồ côi mẹ từ nhỏ và được cha nuôi nấng, truyền thụ võ nghệ. Hoàng Dung cực kì xinh đẹp và võ công rất cao cường, trên người lại mặc Nhuyễn vị giáp khiến cho những kẻ háo sắc không thể đến gần. Nét đẹp nổi bật ở Hoàng Dung là trí tuệ siêu phàm, thông minh nhanh trí, lắm mưu nhiều kế không thua bất cứ bậc nam tử nào và có chút kiêu ngạo. Hoàng Dung cùng Quách Tĩnh đã trở thành một bộ đôi nổi tiếng, đồng hành cùng nhau phiêu bạt giang hồ. Nàng là nhân vật nữ được Kim Dung ưu ái nhất khi đưa vào trong 2 tác phẩm Anh Hùng Xạ Điêu và Thần Điêu Hiệp Lữ. Hoàng Dung có được sắc đẹp và trí thông minh của mẹ nhưng tính cách nhanh nhẹn, tinh quái giống cha. Vẻ đẹp của nàng đã khiến cho Quách Tĩnh phải thốt lên rằng "Rất giống với tiên nữ trên núi tuyết của ta". Bởi nàng có một dung mạo tuyệt trần, da trắng như tuyết, xinh đẹp tới mức không thể nhìn gần và không ai sánh bằng". Hoàng Dung còn am hiểu rất nhiều về các bộ môn khoa học của cha mình và kiến thức uyên thâm cũng giúp nàng rất nhiều trên con đường hành tẩu giang hồ. Ngoài ra, Hoàng Dung có võ công rất cao, môn võ nàng thường sử dụng là Đả cẩu bổng pháp, Mãn thiên hoa vũ trịch kim châm, Lạc anh thần kiếm chưởng, Tiêu dao du và Lan hoa phất huyệt thủ.

2. Triệu Mẫn (Ỷ Thiên Đồ long Ký hay Cô Gái Đồ Long)

Kim Dung miêu tả về Triệu Mẫn như sau: "Xinh đẹp vô cùng, nhan sắc diễm lệ, mặt sáng như ngọc, mắt trong như nước, nét cười dịu dàng, diễm lệ. Chỉ trong một hai câu nói cũng không thể miêu tả được hết vẻ đáng yêu, thuần khiết và xinh xắn của nàng". Nàng là quận chúa Mông Cổ, có thân phận cao quý. Triệu Mẫn là một cô nàng thông minh, cơ trí, thậm chí là có phần tàn nhẫn. Tuy nhiên sau khi gặp và phải lòng Trương Vô Kỵ, nàng đã từ bỏ thân phận mà đi theo người mình yêu.. Dù có dung mạo hơn người nhưng Triệu Mẫn lại khá ngang bướng, tự kiêu và ích kỷ trong chuyện tình cảm vì sinh ra trong cuộc sống nhung lụa, giàu có. Vì tình cảm sâu nặng với Trương Vô Kỵ, Triệu Mẫn dần thay đổi tính cách từ một nàng Quận chúa độc ác, tai quái thành một Triệu Mẫn hiền lành, biết nhường nhịn, dám yêu và hi sinh hết mình. Nhiều người nhận xét, cứ sau mỗi lần xem lại truyện hay phim Ỷ thiên đồ long ký, người ta lại càng thêm yêu thích nhân vật Triệu Mẫn. Chính nhà văn Kim Dung thừa nhận, Triệu Mẫn là nhân vật "phụ nữ nhất trong số những phụ nữ" mà ông sáng tạo ra.

3. Nhậm Doanh Doanh (Tiếu ngạo giang hồ)

Doanh Doanh là con gái duy nhất của Nhậm Ngã Hành, giáo chủ của Nhật Nguyệt thần giáo và được tôn là Thánh cô. Nàng là nhân vật nữ được Kim Dung miêu tả là hội tụ đầy đủ về nhan sắc, tài năng và đức hạnh. Có thể nói, nàng một người phụ nữ toàn diện, mười phân vẹn mười. Chính nhà văn đã từng nói rằng Nhậm Doanh Doanh chính là hình tượng người vợ lý tưởng của mình. Nhậm Doanh Doanh mang nhiều hình ảnh của một cô gái hiện đại, yêu và sẵn sàng hy sinh cho tình yêu, mong manh nhưng không yếu đuối. Chính những điều ấy đã tôn thêm vẻ đẹp của cô trong Tiếu ngạo giang hồ. Nhậm Doanh Doanh là người đầy quyền uy, dưới một người mà trên cả vạn người. Nam nhân trong thiên hạ không một ai dám tơ tưởng tới nàng. Lần Doanh Doanh xuất hiện trên Gò Ngũ Bá đã khiến cho quần hào phải bỏ ra Nam Hải, nàng giết người cũng không gớm tay. Tuy nhiên, Doanh Doanh thực ra là mẫu người phụ nữ hết sức e thẹn trong chuyện tình cảm, nhưng hết lòng hi sinh vì người mình yêu. Vì người yêu, nàng cũng sẵn sàng làm bạn và rất bao dung với Nhạc Linh San, tình địch của mình, người từng khiến cho Lệnh Hồ Xung thất điên bát đảo. Tình yêu của Nhậm Doanh Doanh dành cho Lệnh Hồ Xung thuần khiết như ngọc, trong sáng như pha lê, ngàn vạn năm không thay đổi.

4. A Châu (Thiên long bát bộ)

A Châu là con gái của Đoàn Chính Thuần, một vị vương gia của nước Đại Lý. Cha của nàng vốn là một người có tướng mạo tiêu sái, uy võ nên dung nhan của A Châu chắc chắn không thể tầm thường. Trong Thiên long bát bộ, nàng được miêu tả như "một người con gái xinh đẹp, có đôi mắt linh động, nụ cười như hoa xuân mới nở, da trắng như tuyết, là một mỹ nhân hiếm thấy của thiên hạ". A Châu là con gái lớn của Đoàn Chính Thuần và Nguyễn Tinh Trúc, là tình yêu và hạnh phúc của Tiêu Phong, rất có tài giả trang. Dù chỉ là một hầu gái trong nhà Mộ Dung Phục, nhưng cùng với tấm lòng đạo hiếu, nét dịu dàng và mối tình trong sáng dành cho Kiều Phong, nhân vật này vẫn được hết lòng yêu mến, được coi như biểu tượng mẫu mực cho tấm lòng cao cả, đức hi sinh của người phụ nữ phương Đông.

5. Vương Ngữ Yên (Thiên Long bát bộ)

So với những nhân vật nữ khác trong tiểu thuyết Kim Dung, Vương Ngữ Yến trong Thiên long bát bộ không để lại nhiều ấn tượng sâu sắc vì hình ảnh của cô quá hoàn hảo - hoàn hảo đến "phẳng lỳ". Xét về nhan sắc, có thể nhiều người cho rằng Vương Ngữ Yến đẹp nhất, song cuộc đời của nàng chỉ "một màu" nên kém hấp dẫn hơn Tiểu Long Nữ. Vương Ngữ Yên là con gái của Vương phu nhân (chủ nhân của Mạn đà sơn trang) và Đoàn Chính Thuần. Vương Ngữ Yên sống cùng mẹ ở Mạn Đà sơn trang từ khi còn nhỏ. Vẻ đẹp của Vương Ngữ Yên được ví như thiên tiên khi nàng xuất hiện trước mắt Đoàn Dự: "Chỉ một tiếng thở dài tựa như có ma lực hớp mất hồn của Đoàn Dự, vừa thoáng thấy bóng dáng, chàng ta cảm thấy như mây mù bao phủ, tựa như đang ở cõi thần tiên. Nàng xuất hiện với thân hình thon thả, mái tóc dài thướt tha, vẻ đẹp thuần khiết của nàng như còn lan toả ra cả xung quanh khiến ai ai cũng choáng ngợp". Vương Ngữ Yên là em họ của Mộ Dung Phục.Vương Ngữ Yên gặp Đoàn Dự lần đầu tiên tại Mạn đà sơn trang, và Đoàn Dự ngay lập tức yêu cô ngay từ cái nhìn đầu tiên do cô có cùng vẻ đẹp với "Thần tiên tỷ tỷ", tượng bà ngoại của Ngữ Yên mà anh tình cờ tìm thấy.Vương Ngữ Yên được trời phú vẻ đẹp sắc nước hương trời và một trí tuệ mẫn tiệp hơn người. Cô thuộc làu hầu như mọi kinh sách võ thuật trong thiên hạ (ngoại trừ Lục mạch thần kiếm của Đoàn thị Đại Lý), đến nỗi ai đánh một chiêu một thức cô đều gọi đúng tên chiêu thức đó, đồng thời biết luôn cả cách phá giải. Vô tình cô trở thành quyển từ điển sống võ học, và do cô không hề biết võ công, nên nhiều thế lực thèm khát muốn bắt cóc cô để làm áp lực với họ Mộ Dung và để cô dạy cho mình những đòn thế võ công thất truyền.

6. Tiểu Long Nữ (Thần điêu đại hiệp)

 

Tiểu Long Nữ là một tuyệt sắc giai, đứng đầu danh sách những mỹ nhân của nhà văn võ hiệp này. Tiểu Long Nữ được người hâm mộ công nhận là nhân vật đẹp nhất trong số các mỹ nhân kiếm hiệp của Kim Dung. Kim Dung mô tả rằng Tiểu Long Nữ có một sắc đẹp tuyệt trần khi nàng gặp Dương Quá lần đầu như sau: "Dương Quá ngẩng đầu nhìn, chỉ thấy một bàn tay trắng như ngọc vén tấm màn che, rồi một thiếu nữ bước vào. Thiếu nữ ấy mặc bộ đồ lụa màu trắng, tưởng như thân hình ấy đang trong một lớp sương mù. Nàng trạc mười bảy, mười tám tuổi. Trừ mái tóc đen, toàn thân nàng trắng như tuyết, khuôn mặt tú mỹ tuyệt vời, có điều da dẻ trắng xanh, thiếu màu hồng", "Dương Quá ngẩng mặt lên, bắt gặp ánh mắt của nàng. Nó cảm thấy thiếu nữ thật thanh lệ tú nhã, càng nhìn càng ưa thích, song thần sắc lại lạnh lùng. Đúng là thanh khiết như băng tuyết, giá lạnh như băng tuyết. Thật chẳng biết nàng mừng hay giận, buồn hay vui". Nhắc đến những mỹ nhân đẹp nhất trong truyện Kim Dung chắc chắn không thể nào thiếu Tiểu Long Nữ. Tiểu Long Nữ từ nhỏ đã sống trong Cổ Mộ, lại được dạy dỗ nghiêm khắc bởi sư phụ nên rất ngây thơ nhưng lạnh lùng, ít nói, suy nghĩ lại chất phác, đơn thuần, thường thể hiện ra ngoài vẻ thờ ơ, có chút vô tình. Bản tính nàng trầm mặc nhưng đối với Dương Quá lại hết mực dịu dàng, nồng ấm, chu đáo. Tình yêu của cô dành cho Dương Quá - đồ đệ kém mình bốn tuổi và trọn đời chỉ có mối tình ấy, không có một mối tình, một hình bóng nào khác.

7. Trình Anh (Thần điêu hiệp lữ)

Trình Anh là cháu họ của Lục Lập Đỉnh, chị họ của Lục Vô Song, cũng có tình cảm với Dương Quá, cùng Dương Quá kết nghĩa huynh muội. Đệ tử cuối cùng của Hoàng Dược Sư. Sắc đẹp của Trình Anh được ví như hoa cúc và thanh trúc, hai trong số “hoa trung tứ quân tử” (4 loại hoa tượng trưng cho người quân tử). Sở hữu vẻ đẹp thanh cao, trong veo như ngọc bích, ở cô luôn toát ra khí chất hơn người khiến người khác dễ dàng bị thu hút.

8. Hương Hương công chúa (Thư kiếm ân cừu lục)


Không phải là nhân vật lớn, trong tác phẩm Thư kiếm ân cừu lục cũng không hẳn là vai chính nhưng nhà văn Kim Dung đã dành khá nhiều câu chữ mỹ miều để miêu tả nhan sắc của cô gái người dân tộc Hồi này. Vẻ đẹp của Hương Hương công chúa khiến vua Càn Long bị mê hoặc. Hương Hương công chúa là em gái của “Thúy vũ hoàng sam” Hoắc Thanh Đồng. “Vẻ đẹp huyền ảo như trăng in đáy nước, hoa nở trong gương” chính là những mỹ từ mà Kim Dung ưu ái dành tặng cho nàng. Rất nhiều khán giả nam đã xem hình ảnh Hương Hương công chúa như “người tình trong mộng”.

9. Chu Chỉ Nhược (Ỷ thiên đồ long ký)

Chu Chỉ Nhược là con gái của người lái đò trên sông Hán Thuỷ, trưởng môn nhân đời thứ tư của phái Nga My. Chu Chỉ Nhược xinh đẹp tuyệt trần, đem lòng yêu Trương Vô Kỵ nhưng oái oăm thay lại bị sư phụ là Diệt Tuyệt sư thái bắt thề độc, đồng thời kết hợp với lòng ghen tuông khi Trương Vô Kỵ yêu Triệu Mẫn nên đã rắp tâm hãm hại. Chu Chỉ Nhược từng bị sư phụ của mình ép buộc dùng Ỷ Thiên Kiếm để đâm vào ngực Trương Vô Kỵ khiến chàng bị thương. Có lẽ nhiều người không thích Chu Chỉ Nhược, nhưng khi đọc những dòng miêu tả của Kim Dung, hoặc xem cô trên màn ảnh, người ta không thể dửng dưng với vẻ đẹp trí tuệ của vị chưởng môn nhân đời thứ tư của phái Nga Mi này.

10.A Kha (Lộc đỉnh Ký)   

A Kha cũng là một đại mỹ nhân khi thừa hưởng vẻ đẹp tuyệt trần của mẹ. Trong tác phẩm Lộc Đỉnh Ký, A Kha là người vợ đẹp nhất trong số 7 người vợ tuyệt trần của Vi Tiểu Bảo. Qua ngòi bút của tác gia võ hiệp sinh năm 1924, A Kha xinh đẹp không thua gì người mẹ tuyệt sắc danh kỹ của mình. Mỹ nhân này cũng là người khiến Vi Tiểu Bảo phải liêu xiêu, tìm mọi cách để chinh phục nàng. Trải qua vô vàn khó khăn, gã trai trăng hoa này mới giành được người thương từ tay Trịnh Khắc Sảng phong độ, tuấn tú. Trái với vẻ đẹp trời ban, A Kha sở hữu võ công làng nhàng, tính tình cố chấp, cứng rắn, kém thông minh. Đây cũng là một người được biết đến với suy nghĩ đơn giản, nông cạn, mù quáng trước hư vinh, không nhận biết được người tốt kẻ xấu. Nhưng cho đến cuối cùng, A Kha vẫn yên lòng làm thê tử của Vi Tiểu Bảo, cùng chồng và các chị em khác san sẻ tình yêu, sống êm đềm, hòa thuận, cùng nhau hành tẩu giang hồ.
Thừa hưởng nhan sắc của mẹ là Trần Viên Viên nên dưới ngòi bút Kim Dung, A Kha cũng là một mỹ nhân "khuynh quốc khuynh thành" trong Lộc đỉnh ký. Tuy vậy, sức hấp dẫn của cô không thể bằng Song Nhi và khi viết về A Kha, Kim Dung cũng không thật ưu ái, vì thế mà nhân vật này không phải ai cũng yêu thích.

11.Mộc Uyển Thanh (Thiên Long Bát Bộ)

Được đánh giá là một trong những nhân vật nữ có cá tính mạnh trong truyện Kim Dung, ngang bướng, cố chấp nhưng chung tình, khi yêu cũng rất mạnh mẽ, Mộc Uyển Thanh xuất hiện khá ấn tượng trong Thiên long bát bộ. Chính tính cách đặc biệt đó đã khiến cho nhân vật trở nên hấp dẫn hơn.Mộc Uyển Thanh là người có võ công không tầm thường và một quá khứ khá đặc biệt. Cô có gương mặt trái xoan xinh đẹp, nước da trắng ngần, hai mắt to tròn và sáng, trái tim chỉ thuộc về duy nhất một người.Khi hành hiệp giang hồ, cô thường mặc y phục màu đen và quấn khăn bịt mặt. Mộc Uyển Thanh có một mối tình khá ngang trái với Đoàn Dự nhưng sau này cũng được Kim Dung cho kết thúc một cách êm đẹp, sở trường dùng ám khí.Là người khá ngang bướng, cố chấp nhưng khi yêu cô cũng rất chân thành, nồng nhiệt và tuyệt đối chung tình, tính cách đặc biệt này khiến Mộc Uyển Thanh rất được yêu thích và chú ý trong phim.

12. Phu nhân Khang Mẫn

Khang Mẫn là vợ của Mã Đại Nguyên, phó bang chủ Cái Bang. Khang Mẫn tuy sở hữu một dung mạo mỹ lệ, thanh tú, hết sức đáng yêu nhưng lại có lòng dạ xảo quyệt và độc ác. Nhờ có nhan sắc của mình, Khang Mẫn đã thu hút được sự chú ý của Đoàn Chính Thuần và khiến cho nhiều vị anh hùng mê mệt. Nhưng vì bị Đoàn Chính Thuần bỏ rơi nên nàng đã tìm đến Mã Đại Nguyên và trở thành phu nhân của ông ta.

13. Trần Viên Viên (Lộc đỉnh Ký)

 

Đây là một nhân vật có thật trong lịch sử Trung Quốc sống vào cuối thời nhà Minh, đầu thời nhà Thanh. Cuộc đời của giai nhân họ Trần gắn liền với hai phản tặc nổi tiếng là Ngô Tam Quế và Lý Tự Thành. Với một bút pháp kể chuyện xen lẫn mô tả khá tinh tế, nhà văn Kim Dung đã vẽ nên một Trần Viên Viên tuyệt thế giai nhân bằng những câu từ mỹ miều nhất. Đây cũng là nhân vật được đánh giá là đệ nhất mỹ nhân trong số hàng ngàn nữ nhân xuất hiện trong những tác phẩm của cây bút kiếm hiệp đình đám. Trong tác phẩm Lộc Đỉnh ký, Kim Dung đã mô tả đoạn nhân vật chính Vi Tiểu Bảo gặp Trần Viên Viên tại một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô thành Côn Minh. Dù quen biết với không ít những người đẹp, trong đó có cả A Kha, con gái của Trần Viên Viên nhưng Vi Tiểu Bảo vẫn xiêu lòng trước vẻ tài sắc của người phụ nữ gấp đôi tuổi mình. Nhà văn Vũ Đức Sao Biển từng dành những lời khen ngợi khi so sánh nhân vật này với các đại mỹ nhân khác trong thế giới truyện Kim Dung: “Những Tiểu Long Nữ, Nhậm Doanh Doanh, Chu Chỉ Nhược, Tiểu Siêu, Hân Tố Tố, Viên Tử Y, Vương Ngữ Yên... cũng là những đại mỹ nhân nhưng là đại mỹ nhân ở tuổi 18-20. Họ không thể sánh bằng Trần Viên Viên ở tuổi 40 tươi đẹp, chân tình, trí tuệ, tài hoa và đau khổ!”.

Montreal 01 october 2022
Lệnh Hồ Công Tử
Sưu Tầm và Biên Soạn


Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2022

Trương Vô Kỵ Và 4 Mỹ Nhân


“Có cô gái Đồ long lắc bầu cua, lắc một cái ra ba con gà mái”

Lời phi lộ: Mùa Thu Canada năm nay có gì đẹp không anh?

Mùa Thu năm nay chưa có gì đẹp, ngoại trừ mưa bảo, Bắc Mỹ thì chịu cơn bảo Fiona, Việt Nam thì đang đắm chìm trong mưa lủ do cơn bảo Noru, một cơn bảo với cấp số 15 đang tiến vào miền Trung Việt Nam. Với gió lạnh và mưa, ngoài ly trà và cà phê cái thú duy nhất là nằm nhà luyện chưởng. Tôi đã mê chưởng, kiếm hiệp của Kim Dung từ năm 1961, từ khi Cô gái đồ long tràn ngập trên các báo của miền Nam VN, mặc dầu trước đó cũng có những bản dịch của các bộ kiếm hiệp nhưng phải nói rằng năm 1961 là năm “dịch” của kiếm hiệp Kim Dung, đến nổi vừa lắc bầu cua vừa ca “ Có Cô gái Đồ Long lắc bầu cua....”

Nói đến Kim Dung là nói đến kiếm hiệp, điều đặc biệt khi KD viết bất cứ một bộ Kiếm hiệp nào luôn luôn phải có những bóng hồng xuất hiện như Hoàng Dung (Anh hùng xạ điêu), Tiểu Long Nữ (Thần điêu đại hiệp), Nhậm Doanh Doanh, Nhạc Linh San (Tiếu ngạo giang hồ),..chàng trai may mắn nhất trong tất cả các truyện của Kim Dung là Vi Tiểu Bảo (Lộc Đỉnh Ký), được sở hữu tất cả 7 người vợ đẹp của thời Khang Hy. Tuy nhiên, khi bạn có nhiều người đẹp bao quanh, làm thế nào để chọn cho mình một ý trung nhân?.

Vào bài: Đẹp trai lại tài hoa, dễ hiểu vì sao trong cuộc đời của Trương Vô Kỵ trong Cô Gái Đồ Long có đến 4 cô gái yêu thương anh hết lòng, sẵn sàng hy sinh tính mạng vì anh. Đặc biệt dàn mỹ nữ đẹp được đánh giá là đẹp nhất từ trước đến nay. Nếu như Vi Tiểu Bảo cưới được 7 cô vợ, thì tại sao Trương Vô Kỵ có Ân Ly, Triệu Mẫn, Chu Chỉ Nhược và Tiểu Chiêu, nhưng Trương vô Kỵ lại lấy một vợ, Nếu là bạn thì bạn sẽ chọn ai hay cả bốn mỹ nữ, Khó thật.

Ân Ly: là con gái của Ân Dã Vương. Về mặt huyết thống, cô là biểu muội của Trương Vô Kỵ. Cả hai gặp nhau từ khi chàng còn có cái tên Tăng A Ngưu chứ chưa phải là Trương giáo chủ đứng đầu võ lâm. Thù Nhi (Ân Ly) có ngoại hình xấu xí nên phải chịu thiệt thòi hơn các cô gái khác. Tính cách của cô cộc cằn, thô lỗ, nghĩ gì nói nấy nhưng bù lại trong lòng Ân Ly luôn dành cho Trương Vô Kỵ một tình cảm đặc biệt, sẵn sàng hy sinh tính mạng vì Trương Vô Kỵ, nhưng đáng tiếc đó chỉ là tình cảm từ một phía. Tuy nhiên, Ân Ly có một thứ mà các cô gái khác không có được chính là cô là người đầu tiên được Vô Kỵ thừa nhận và hứa sẽ lấy làm vợ, bảo vệ suốt đời. Khi Ân Ly chết, trên bia mộ, Trương Vô Kỵ có viết: "Ái thê Ân Ly, Trương Vô Kỵ cẩn lập", khẳng định anh đã xem cô là thê tử. Cuối truyện, Trương Vô Kỵ có suy nghĩ nếu Ân Ly quay trở về, anh cũng sẽ lấy nàng làm vợ. Tiếc rằng, Ân Ly là người rất có cá tính nên sẽ không chấp nhận chuyện chia sẻ người đàn ông của mình.


Tiểu Chiêu: là con gái của Kim Hoa Bà Bà - Tử Sam Long Vương, một trong Tứ Đại Pháp Vương Minh Giáo. Tiểu Chiêu có dung mạo xinh đẹp như hoa, lại sở hữu trí thông minh hơn người. Cô có tính cách dịu dàng, ngoan ngoãn, hết lòng yêu thương chăm sóc Trương Vô Kỵ. Tuy nhiên, dù đôi bên đều có tình cảm yêu quý nhau nhưng lại không thể tiến triển đến mức tình yêu. So với Triệu Mẫn hay Chu Chỉ Nhược có thể dùng đến cả mưu kế để giành người yêu, thì Tiểu Chiêu hài lòng khi được bên cạnh hầu hạ, chăm sóc cho Vô Kỵ mà không đòi hỏi danh phận gì. Có thể nói cô giống như một cô thư ký cần mẫn bên cạnh Trương giáo chủ. Đáng tiếc, sau này cô phải trở về Ba Tư làm "thánh nữ" và mãi mãi không được quay về Trung Nguyên gặp Trương Vô Kỵ nữa. Tiểu Chiêu là cô gái rất yên phận nhưng đáng tiếc, giữa cô và Trương Vô Kỵ không có duyên.


Chu Chỉ Nhược: So với 3 người còn lại, Chu Chỉ Nhược có một thứ mà những người còn lại không có được chính là những kí ức tuổi thơ bên cạnh Vô Kỵ. Cả hai đã quen biết nhau từ nhỏ và dành cho nhau một tình cảm đặc biệt. Cô cũng là người duy nhất được bái đường thành thân cùng Trương Vô Kỵ dù sau đó lễ thành hôn đã bị Triệu Mẫn phá. Trong mắt Vô Kỵ, trước khi hoá ác, Chu Chỉ Nhược là cô gái hiền lành, quan tâm chăm sóc anh như một người vợ thực thụ. Vì vậy, rất tiếc khi Chu Chỉ Nhược và Trương Vô Kỵ không thể thành đôi và đoạn cướp chú rể chính là cảnh đau lòng nhất. Đặc biệt, với phiên bản 2019, Chu Chỉ Nhược là người có dung mạo xinh đẹp nhất, càng khiến tiếc nuối khi Trương Vô Kỵ bỏ lỡ một mỹ nhân như thế này.


Triệu Mẫn: Trong 4 người con gái bên cạnh Trương Vô Kỵ, Triệu Mẫn thành công nhất khi là người cuối cùng có được trái tim Trương Vô Kỵ, được cùng anh đi về Mông Cổ. Trong mắt Trương Vô Kỵ, Triệu Mẫn khác biệt hoàn toàn với những người còn lại. Triệu Mẫn quỷ kế đa đoan khiến anh bị dắt mũi, chứ không phải dạng nhất mực phục tùng đi theo Vô Kỵ như những người còn lại. Thế nhưng chính sự khác biệt này lại khiến cho cô trở nên đặc biệt. Ở bên cạnh Triệu Mẫn, Vô Kỵ được phép "trẻ trâu", được phép làm những hành động ngốc nghếch, không cần phải gồng mình làm giáo chủ Minh Giáo. Tuy nhiên, dù có được trái tim Trương Vô Kỵ, hai người vẫn không được phép bái đường thành thân vì lời hứa với Chu Chỉ Nhược. Cô không có được danh phận thê tử như Ân Ly, cũng không được có lễ thành hôn như là Chu Chỉ Nhược. Trong cả 4 cô gái, Triệu Mẫn có lẽ là người hạnh phúc nhất khi có được trái tim của Trương Vô Kỵ. Còn Ân Ly, Tiểu Chiêu hay Chu Chỉ Nhược ai cũng vì Vô Kỵ mà chịu khổ và cuối cùng mỗi cô đều lìa xa Trương Vô Kỵ.


Bốn người đều tài sắc vẹn toàn, nhất mực yêu thương Trương Vô Kỵ, chọn ai bỏ ai cũng tiếc cả. Nếu được phép cải biên Ỷ Thiên Đồ Long Ký, tôi sẽ để Trương Vô Kỵ cưới cả bốn?

Trương vô Kỵ đã nói về Triệu Mẫn như sau: với Triệu Mẫn thì chỉ có “yêu và hận”, muốn hiểu rỏ tại sao Vô kỵ kẻ lông mày cho Triệu Mẫn thì các bạn hảy đọc lại bộ Ỷ Thiên Đồ Long Ký hay Cô Gái Đồ Long, để nhờ đó nếu sau này “khúc ruột ngàn dặm” muốn về Việt Nam ăn “khế ngọt” thì biết đường mà lựa khế. Có một điều cần khắc sâu vào tâm khảm: đàn bà đẹp là con rắn độc và trên thế gian này không có người đàn bà nào xấu cả, chỉ vì họ không biết làm đẹp mà thôi......

 Lệnh Hồ Công Tử
(Sưu Tầm & Biên Soạn)
---------------------------------
Tài liệu tham khảo

Kim Dung (10 tháng 3 năm 1924 – 30 tháng 10 năm 2018) là một trong những nhà văn có tầm ảnh hưởng nhất đến văn học Trung Quốc hiện đại. Ông còn là người đồng sáng lập của nhật báo Hồng Kông Minh Báo, ra đời năm 1959 và là tổng biên tập đầu tiên của tờ báo này.

Từ năm 1955 đến năm 1972, ông đã viết tổng cộng 14 cuốn tiểu thuyết và 1 truyện ngắn. Sự nổi tiếng của những bộ truyện đó khiến ông được xem là người viết tiểu thuyết võ hiệp thành công nhất lịch sử. 300 triệu bản in (chưa tính một lượng rất lớn những bản lậu) đã đến tay độc giả của Trung Hoa đại lục, Hồng Kông, Đài Loan, châu Á và đã được dịch ra các thứ tiếng Việt, Hàn, Nhật, Thái, Anh, Pháp, Indonesia. Tác phẩm của ông đã được chuyển thể thành phim truyền hình, trò chơi điện tử.

Tên ông được đặt cho tiểu hành tinh 10930 Jinyong (1998 CR2), là tiểu hành tinh được tìm ra trùng với ngày sinh âm lịch của ông (6 tháng 2).[2] Tháng 2 năm 2006, ông được độc giả gọi là nhà văn được yêu thích nhất tại Trung Quốc. Ông là người sùng đạo Phật, rất yêu thiên nhiên và động vật, đặc biệt ông có nuôi một con chó Trùng Khánh.

Kim Dung tên thật là Tra Lương Dung (phồn thể: 查良鏞, giản thể: 查良镛, bính âm: Cha Leung Yung), sinh vào ngày 10 tháng 3 năm 1924 tại trấn Viên Hoa, huyện Hải Ninh, Gia Hưng, Chiết Giang, Trung Quốc, trong một gia tộc khoa bảng danh giá . Ông nội là Tra Văn Thanh làm tri huyện Đan Dương ở tỉnh Giang Tô. Tra Văn Thanh về sau từ chức, đến đời con là Tra Xu Khanh bắt đầu sa sút; Tra Xu Khanh theo nghề buôn, sau sinh 9 đứa con, Kim Dung là con thứ hai.[3] Tra Xu Khanh (查樞卿) bị chính quyền cộng sản bắt và hành quyết với tội phản cách mạng trong phong trào Thanh Trừng Phản Cách Mạng vào những năm đầu thập niên 1950. Sau này vào thập niên 1980 Tra Xu Khanh được tuyên bố vô tội.

Thuở nhỏ Kim Dung thông minh, lanh lợi, nghịch nhưng không đến nỗi quậy phá. Ông yêu thiên nhiên, thích nghe kể chuyện thần thoại, truyền thuyết, nhất là về những ngọn triều trên sông Tiền Đường. Đặc biệt ông rất mê đọc sách. Dòng họ Kim Dung có một nhà để sách gọi là "Tra thị tàng thư" nổi tiếng khắp vùng Chiết Tây, chứa rất nhiều sách cổ, những cuốn sách này làm bạn với ông từ rất bé.

Sáu tuổi, ông vào học tiểu học ở quê Hải Ninh. Ông rất chăm học, lại thêm mê đọc sách nên trở thành một học sinh giỏi của lớp. Thầy dạy văn cho ông lúc bé tên Trần Vị Đông, là người rất thương yêu và tin tưởng Kim Dung, đă cùng ông biên tập tờ báo lớp. Một số bài làm văn của Kim Dung, nhờ sự giới thiệu của thầy Đông đă được đăng lên Đông Nam nhật báo, tờ báo nổi tiếng nhất Trung Quốc bấy giờ

Năm lên tám tuổi, ông lần đầu đọc tiểu thuyết võ hiệp, khi đọc đến bộ truyện Hoang Giang nữ hiệp của Cố Minh Đạo, cảm thấy rất say mê, từ đó thường sưu tầm tiểu thuyết thể loại này.

Năm 13 tuổi, xảy ra sự biến Lư Câu Kiều, Kim Dung được gửi đến học trường trung học Gia Hưng ở phía Đông tỉnh Chiết Giang. Tuy xa nhà nhưng cuộc sống của ông cũng không khác mấy, ngoài đi học vẫn chúi đầu đọc sách, và vẫn đứng đầu lớp. Một hôm nhân dịp về thăm nhà, ông khoe gia đình cuốn sách Dành cho người thi vào sơ trung, một cuốn cẩm nang luyện thi, có thể coi là cuốn sách đầu tiên của ông, viết năm 15 tuổi và được nhà sách chính quy xuất bản. Đến khi lên bậc Cao trung, Kim Dung lại soạn Hướng dẫn thi vào cao trung. Hai cuốn sách in ra bán rất chạy, đem lại cho ông khoảng nhuận bút hậu hĩnh.

Năm 16 tuổi, ông viết truyện trào phúng Cuộc du hành của Alice có ý châm biếm ngài chủ nhiệm ban huấn đạo, người này tức giận, liền ép hiệu trưởng phải đuổi học ông. Cuộc du hành của Alice tuy đem lại tai hại, nhưng đã cho thấy tài tưởng tượng, cũng như tinh thần phản kháng của Kim Dung, mà sau này thể hiện rất rõ trên các tác phẩm. Ông lại chuyển đến học trường Cù Châu. Tại trường này có những quy định rất bất công với học trò, học sinh không được quyền phê bình thầy giáo, nhưng thầy giáo có quyền lăng nhục học sinh. Năm thứ hai tại trường, ông viết bài Một sự ngông cuồng trẻ con đăng lên Đông Nam nhật báo. Bài báo làm chấn động dư luận trong trường, được giới học sinh tranh nhau đọc. Ban giám hiệu trường Cù Châu đành phải bãi bỏ những quy định nọ. Không những vậy, một ký giả của Đông Nam nhật báo là Trần Hướng Bình do hâm mộ tác giả bài báo, đã lặn lội tìm đến trường học để thỉnh giáo, mà không biết tác giả chỉ là một học sinh.

Năm 1941, chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, trường Cù Châu phải di dời, ban giám hiệu quyết định cho học sinh lớp cuối tốt nghiệp sớm để bớt đi gánh nặng. Kim Dung cũng nằm trong số đó. Sau ông thi vào học Luật quốc tế tại học viện chính trị Trung ương ở Trùng Khánh. Thi đậu, nhưng để đến được trường phải trải qua nhiều ngày đi bộ.

Tại học viện chính trị Trung ương, Kim Dung vẫn học rất giỏi, cuối năm nhất ông được tặng phần thưởng cho sinh viên xuất sắc nhất. Thời kỳ này, ông ngoài tham gia viết bình luận chính trị trên các báo, còn bắt tay vào làm cuốn Anh – Hán tự điển và dịch một phần Kinh Thi sang tiếng Anh, hai công trình này về sau dở dang. Ông học lên năm thứ ba thì tại trường bắt đầu nổi lên các cuộc bạo loạn chính trị. Có lần viết thư tố cáo một vụ bê bối trong trường, Kim Dung lần thứ hai trong đời bị đuổi học, năm 19 tuổi.

Sau ông xin làm việc tại Thư viện trung ương. Ở chung với sách, tri thức nâng cao lên rất nhiều. Ngoài đọc sách sử học, khoa học và những tiểu thuyết võ hiệp đương thời, ông còn đọc những cuốn như Ivanhoe của Walter Scott, Ba người lính ngự lâm, Bá tước Monte-Cristo của Alexandre Dumas (cha), những truyện này đã ảnh hưởng đến văn phong của ông. Tại đây ông bắt đầu nảy sinh ý định sáng tác truyện võ hiệp. Ông cũng sáng lập ra một tờ báo lấy tên Thái Bình dương tạp chí, nhưng chỉ ra được một số đầu, số thứ 2 nhà xuất bản không chịu in, tờ báo đầu tiên của ông xem như thất bại.

Năm 1944, ông đến làm việc cho một nông trường ở Tương Tây. Nơi này rất tịch mịch hẻo lánh, đến năm 1946, không chịu nổi ông xin thôi việc, người chủ nông trường không cản được, tiễn ông bằng một bữa thịnh soạn. Mùa hạ năm đó, ông về lại quê cũ ở Hải Ninh, cha mẹ nghe tin ông bị đuổi học, rất buồn. Điều ấy khiến ông quyết tâm ra đi lập nghiệp.

Năm 1946 từ biệt gia đình, ông về Hàng Châu làm phóng viên cho tờ Đông Nam nhật báo theo lời giới thiệu của Trần Hướng Bình, người ngày xưa đã tìm đến trường ông. Ông làm việc rất tốt, tỏ ra có tài thiên phú về viết báo. Năm sau, theo lời mời của tạp chí Thời dữ triều, ông thôi việc ở Đông Nam nhật báo, sang Thượng Hải tiếp tục nghề viết hay dịch thuật từ máy Radio. Chẳng bao lâu ông lại rời tòa soạn Thời dữ triều, xin vào làm phiên dịch của tờ Đại công báo. Lúc này anh trai của Kim Dung là Tra Lương Giám đang làm giáo sư ở học viện Pháp lý thuộc đại học Đông Ngô gần đó, ông liền xin vào học tiếp về luật quốc tế.

Năm 1948, tờ Đại công báo ra phụ bản tại Hồng Kông, ông được cử sang làm việc ở đó, dịch tin quốc tế. Trước khi ra đi vài ngày, ông chạy đến nhà họ Đỗ để ngỏ lời cầu hôn cô con gái 18 tuổi, được chấp nhận. Hôn lễ tổ chức trang trọng tại Thượng Hải, người vợ đầu tiên Đỗ Trị Phân của ông rất xinh đẹp.

Năm 1950, trong cuộc Cải cách ruộng đất ở Trung Quốc, gia đình ông bị quy thành phần địa chủ, cha ông bị đấu tố, từ đó ông mất liên lạc với gia đình. Trong lúc này, vợ ông không chịu nổi cuộc sống ở Hồng Kông, trở về gia đình bên mẹ, không chịu về nhà chồng nữa. Năm 1951 họ quyết định ly hôn.

Năm 1952, ông sang làm việc cho tờ Tân văn báo, phụ trách mục Chuyện trà buổi chiều, chuyên mục này giúp ông phát huy khả năng viết văn của mình hơn, ông rất thích, một phần vì khán giả cũng rất thích. Ông còn viết phê bình điện ảnh. Từ đó dần đi sâu vào lĩnh vực này. Từ 1953, rời Tân Văn báo, bắt tay vào viết một số kịch bản phim như Lan hoa hoa, Tuyệt đại giai nhân, Tam luyến… dưới bút danh Lâm Hoan. Những kịch bản này dựng lên được các diễn viên nổi tiếng thời bấy giờ như Hạ Mộng, Thạch Tuệ, Trần Tứ Tứ… diễn xuất. Được nhiều thành công đáng kể.

Từ khi mới vào làm cho Tân Văn Báo, ông quen thân với La Phù và Lương Vũ Sinh. Đến năm 1955, được hai người ủng hộ và giúp đỡ, ông viết truyện võ hiệp đầu tay là Thư kiếm ân cừu lục, đăng hàng ngày trên Hương Cảng tân báo, bút danh Kim Dung cũng xuất hiện từ đây. Hai chữ "Kim Dung" 金庸 là chiết tự từ chữ "Dung" 鏞, tên thật của ông, nghĩa là "cái chuông lớn". Thư kiếm ân cừu lục ra đời, tên Kim Dung được chú ý đến, dần dần, ông cùng Lương Vũ Sinh được xem như hai người khai tông ra Tân phái của tiểu thuyết võ hiệp. Ông viết tiếp bộ Bích huyết kiếm được hoan nghênh nhiệt liệt, từ đó chuyên tâm vào viết tiểu thuyết võ hiệp và làm báo, không hoạt động điện ảnh nữa.

Năm 1959, cùng với bạn học phổ thông Trầm Bảo Tân, ông lập ra Minh Báo. Ông vừa viết tiểu thuyết, vừa viết các bài xã luận. Qua những bài xã luận của ông, Minh Báo càng ngày được biết đến và là một trong những tờ báo được đánh giá cao nhất. Không như một số tờ báo do ông sáng lập khác, Minh Báo theo ông đến khi kết thúc sự nghiệp.

Năm 1972 sau khi viết cuốn tiểu thuyết cuối cùng, ông đă chính thức nghỉ hưu và dành những năm sau đó biên tập, chỉnh sửa các tác phẩm văn học của mình. Lần hoàn chỉnh đầu tiên là vào năm 1979. Lúc đó, các tiểu thuyết võ hiệp của ông đă được nhiều độc giả biết điến. Các tác phẩm đã được chuyển thể thành phim truyền hình. Năm sau, ông tham gia giới chính trị Hồng Kông. Ông là thành viên của ủy ban phác thảo Đạo luật cơ bản Hồng Kông. Ông cũng là thành viên của Ủy ban chuẩn bị giám sát sự chuyển giao của Hồng Kông về chính phủ Trung Quốc.

Năm 1993, ông thôi làm chức chủ bút, bán tất cả các cổ phần trong Minh Báo.
Năm 2006, ông xuất bản cuốn tản văn đầu tiên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2018, nhà văn Kim Dung qua đời ở tuổi 94 tại Bệnh viện Dưỡng Hòa sau một thời gian dài chiến đấu với bệnh tật.

Tôn giáo

Vào tháng 10 năm 1976, sau cái chết đột ngột của con trai trưởng của mình, Kim Dung đã quyết định tìm hiểu nhiều vào các triết lý của tôn giáo. Kết quả là ông tự mình quy y Phật giáo 2 năm sau đó.

Trong 1 năm sau khi con trai qua đời, ông đã đọc rất nhiều thư tịch, tìm tòi và tra cứu sự huyền bí của “sinh và tử” (sự sống và cái chết). Thời còn học trung học, ông đã đọc hết bộ toàn thư của Cơ đốc giáo, bây giờ nhớ lại nội dung chính, trải qua nhiều lần suy ngẫm, ông thấy nội dung giáo lý của đạo Cơ đốc không phù hợp với suy nghĩ của mình. Về sau ông lĩnh ngộ được (hoặc nói cách khác là chân thành hy vọng) linh hồn của người sẽ không mất đi, thế là ông đi tìm đáp án trong thư tịch của Phật giáo.

Sau quá trình tiếp tục nghiên cứu, ông đã khảo sát, suy nghĩ tìm tòi, nghi ngờ chất vấn trong thời gian dài, cuối cùng đã thành tâm thành ý tiếp nhận Phật pháp, điều này đã giải quyết những thắc mắc lớn trong lòng ông và đem lại cho ông sự bình an trong tâm hồn.

Gia đình riêng

Kim Dung trải qua 3 đời vợ. Người vợ đầu là Đỗ Trị Phân (杜治芬), một thiếu nữ khuê các; người vợ thứ hai là Chu Mân (朱玫), một nữ phóng viên năng động; người vợ thứ ba là Lâm Lạc Di (林樂怡), một nữ phục vụ.

Kim Dung có bốn người con (hai trai hai gái) đều là do người vợ thứ hai Chu Mân sinh ra và không ai theo nối nghiệp văn chương của cha.

. Con đầu (trai) của Kim Dung là Tra Truyền Hiệp. Truyền Hiệp ra đời vào lúc Kim Dung và Chu Mai đang vất vả mưu sinh, chuẩn bị thành lập tòa soạn Minh báo. Tháng 10 năm 1976, Tra Truyền Hiệp đang học năm nhất Đại học Columbia đã bất ngờ treo cổ tự tử sau khi cãi nhau qua điện thoại với người bạn gái ở San Francisco, lúc ấy anh chưa đầy 20 tuổi. Nguyên nhân cái chết của Tra Truyền Hiệp có thuyết nói là do anh buồn chuyện cha mẹ kiên quyết ly hôn, khuyên can vô hiệu, lại gặp chuyện với bạn gái, nhất thời kích động nên đã quyên sinh.

. Con thứ hai (trai) của Kim Dung là Tra Truyền Thích có vóc dáng giống Kim Dung nhất. Tra Truyền Thích rất mê nấu ăn, am hiểu và thạo chế biến các món ăn của Pháp, Ấn Độ, Tứ Xuyên, Quảng Đông. Truyền Thích viết nhiều bài về ẩm thực trên các báo, tạp chí, lấy bút danh là "Bát Đại đệ tử". "Bát Đại" là chỉ 8 thứ cốt yếu trong nấu ăn truyền thống. Năm 2001, Tra Truyền Thích mở nhà hàng Thực Gia Thái ở Hồng Kông. Năm 2004, Tra Truyền Thích đóng cửa nhà hàng, đến Thẩm Quyến làm chỉ đạo ẩm thực cho một nhà hàng cao cấp.

. Con thứ ba (gái) của Kim Dung là Tra Truyền Thi. Lúc Truyền Thi được 5 tuổi thì Cách mạng Văn hóa nổ ra. Kim Dung bị liệt vào vị trí thứ hai trong danh sách 5 người phải tiêu diệt. Vị trí số một là phát thanh viên Lâm Bân, khi đang trên đường đi làm thì bị nhóm người chặn xe đổ xăng thiêu sống. Trước tình hình đó, Kim Dung phải đưa vợ con đi lánh nạn ở Singapore. Tại đây, Truyền Thi bị sốt cao, đưa vào một bệnh viện tiêm thuốc nhưng không may lại quá liều khiến hai tai cô bé bị điếc. Kim Dung thường gọi yêu đùa con là "Tiểu Lung Nữ" ("lung" là điếc). Tháng 3 năm 1982, Tra Truyền Thi được cha gửi sang Canada, học tại trường Đại học York, tốt nghiệp với thành tích xuất sắc, sau đó về Hồng Kông làm ở bộ phận quảng cáo của tòa soạn Minh Báo. Sau đó cô làm phóng viên, phó tổng biên tập tờ Minh báo buổi tối. Năm 1988, cô kết hôn với tổng biên tập là Triệu Quốc An.

Con út (gái) của Kim Dung là Tra Truyền Nột, từ nhỏ đã thể hiện năng khiếhội họa. Tranh của cô được giới chuyên môn đánh giá cao.

Tiểu thuyết Kim Dung ở Việt Nam

Dịch giả đưa Kim Dung lên cơn sốt tại Việt Nam được ghi nhận là Tiền Phong Từ Khánh Phụng với bản Cô gái Đồ Long (dịch Ỷ thiên Đồ long ký), đăng trên báo Đồng Nai năm 1961. Thực ra trước đó, đã có một số bản dịch như Bích huyết kiếm của Từ Khánh Phụng (báo Đồng Nai), Anh hùng xạ điêu của Đồ Mập (báo Dân Việt), Thần điêu đại hiệp (Thần điêu hiệp lữ) của Vũ Tài Lục và Hải Âu Tử (báo Mới).

Tuy nhiên, truyện kiếm hiệp vẫn được xem là thứ giải trí rẻ tiền. Bản dịch Cô gái Đồ Long mới tạo nên cơn sốt truyện Kim Dung trong các tầng lớp độc giả từ bình dân đến trí thức. Một số nhà văn nhà báo lấy bút danh theo tên nhân vật trong truyện Kim Dung như Hư Trúc, Kiều Phong... Nhiều nhà văn nổi tiếng tham gia bình luận Kim Dung như Bùi Giáng, Bửu Ý, công phu nhất là Đỗ Long Vân với loạt bài Vô Kỵ giữa chúng ta hay là hiện tượng Kim Dung. Dịch giả truyện Kim Dung tài hoa nhất là Hàn Giang Nhạn với các bản dịch Tiếu ngạo giang hồ, Lộc Đỉnh ký... câu văn thanh thoát tự nhiên, sinh động.

Sau 1975, giống như tại Trung Quốc và Đài Loan cùng thời, các tác phẩm của Kim Dung bị nhà nước Việt Nam cấm lưu hành. Tuy nhiên, các bản sách cũ vẫn được lén lút lưu giữ và được nhiều người truyền tay đọc. Đầu thập niên 1990, với chủ trương Đổi Mới, chính quyền Việt Nam giảm bớt sự cấm đoán gắt gao với văn hóa văn nghệ. Một số phim và sách võ hiệp cũ được phát hành lại. Để dễ xin phép xuất bản, thoạt tiên sách không ghi đúng tên tác giả mà lấy các bút danh khác như Nhất Giang, về sau mới ghi đúng tên Kim Dung, Cổ Long. Nhà xuất bản Quảng Ngãi đã tích cực phát hành lại sách võ hiệp cũ. Thêm vào đó, sự phát triển của Internet giúp các bản dịch cũ lưu truyền rộng rãi, ban đầu dưới dạng scan từng trang sách, sau đó là dạng văn bản do những người hâm mộ gõ lại. Sau 1975, nhà văn Vũ Đức Sao Biển là người đầu tiên viết khảo luận về Kim Dung, các bài của ông đăng trên tập san Kiến thức ngày nay, sau in thành bộ Kim Dung giữa đời tôi (4 quyển).

Công ty Văn hóa Phương Nam là công ty đầu tiên mua bản quyền dịch tác phẩm võ hiệp của Kim Dung. Từ năm 1999, Phương Nam đã mua được bản quyền dịch tác phẩm của Kim Dung, thông qua thương lượng trực tiếp với nhà văn. Từ năm 2001, toàn bộ tác phẩm võ hiệp của Kim Dung lần lượt được dịch lại và phát hành ở Việt Nam theo các bản hiệu đính mới nhất. Các dịch giả gồm có Cao Tự Thanh, Vũ Đức Sao Biển, Lê Khánh Trường, Đông Hải, Hoàng Ngọc (Huỳnh Ngọc Chiến).

Trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài, dịch giả Nguyễn Duy Chính được xem là người có các bản dịch với chất lượng dịch tốt, điển hình như các bản dịch Thiên long bát bộ và Ỷ thiên Đồ long ký (lưu truyền trên Internet). Nguyễn Duy Chính cũng viết một số khảo luận về các yếu tố văn hóa Trung Hoa trong tác phẩm của Kim Dung.

Vinh dự

Tượng Kim Dung tại đảo Đào Hoa, Phổ Đà, Chu San, Chiết Giang

Ngoài các tiểu thuyết võ hiệp, ông còn viết các truyện lịch sử Trung Quốc. Ông đã được trao tặng nhiều huân chương danh dự.
Kim Dung đã được trao tặng huân chương OBE của Vương Quốc Anh năm 1981, và Bắc đẩu bội tinh năm 1982, Commandeur de l'Ordre des Arts et des Lettres năm 2004 của chính phủ Pháp.
Ông cũng là giáo sư danh dự của nhiều trường đại học như Bắc Kinh, Chiết Giang, Nam Khai, Hồng Kông, British Columbia cũng như là tiến sĩ danh dự của đại học Cambridge.
Tháng 3 năm 2017, Bảo tàng Di sản Hong Kong đã mở cuộc triển lãm các tranh ảnh có liên quan đến các tác phẩm của Kim Dung
Kim Dung viết tổng cộng 15 truyện trong đó 1 truyện ngắn và 14 tiểu thuyết. Hầu hết các tiểu thuyết đều được xuất bản trên các nhật báo.


Tên truyện

Tên
nguyên bản

Tên khác

Năm
sáng tác

Số lượng
từ

Ghi chú 

1

Thư kiếm ân cừu lục

書劍恩仇錄

Thư kiếm ân thù lục

1955

513,000


2

Bích huyết kiếm

碧血劍


1956

488,000


3

Xạ điêu anh hùng truyện

射雕英雄傳

Anh hùng xạ điêu

1957

918,000

Xạ điêu tam bộ khúc I 

4

Thần điêu hiệp lữ

神雕俠侶

Thần điêu đại hiệp

1959

979,000

Xạ điêu tam bộ khúc II 

5

Tuyết sơn phi hồ

雪山飛狐


1959

130,000


6

Phi hồ ngoại truyện

飛狐外傳

Lãnh nguyệt bảo đao

1960

439,000

Tiền Tuyết sơn phi hồ 

7

Bạch mã khiếu tây phong

白馬嘯西風


1961

67,000


8

Uyên Ương đao

鴛鴦刀


1961

34,000


9

Ỷ thiên Đồ long ký

倚天屠龍記

Cô gái Đồ Long

1961

956,000

Xạ điêu tam bộ khúc III 

10

Liên thành quyết

連城訣


1963

229,000


11

Thiên long bát bộ

天龍八部


1963

1,211,000

Tiền Xạ điêu tam bộ khúc 

12

Hiệp khách hành

俠客行


1965

364,000


13

Tiếu ngạo giang hồ

笑傲江湖


1967

979,000


14

Lộc Đỉnh ký

鹿鼎記

Lộc Đỉnh Công

1969–1972

1,230,000


15

Việt nữ kiếm

越女劍


1970 TN

16,000



Một số tác phẩm của Kim Dung có những nhân vật và chi tiết bắc cầu với nhau, tuy nhiên đều có thể đọc độc lập.

Chùm truyện có thể nói là nổi tiếng nhất, và cũng có nhiều chi tiết liên kết chặt nhất, là Xạ điêu tam bộ khúc (射鵰三部曲), gồm ba tác phẩm Xạ điêu anh hùng truyện (cuối đời Tống), Thần điêu hiệp lữ (thời Mông Cổ đánh Tống), Ỷ thiên Đồ long ký (thời nhà Minh nổi lên đánh Mông Cổ).

Thiên Long bát bộ (thời Tống) lấy bối cảnh trước Xạ điêu anh hùng truyện, nhưng nội dung câu chuyện vốn là độc lập. Sau này, Kim Dung sửa chữa lại vài chi tiết trong Xạ điêu anh hùng truyện để bắc cầu với Thiên Long bát bộ.

Vài nhân vật của Bích huyết kiếm (thời Minh mạt, Mãn Châu vào đánh) xuất hiện trong Lộc Đỉnh ký (đời Khang Hy).

Vài nhân vật trong Thư kiếm ân cừu lục xuất hiện trong Phi hồ ngoại truyện, tác phẩm này lại kể lai lịch, hành trạng của Hồ Phỉ và một số nhân vật khác của Tuyết sơn phi hồ (các truyện này lấy bối cảnh đời Càn Long).

Các truyện khác của Kim Dung không liên quan với nhau và cũng không có bối cảnh lịch sử cụ thể, trừ Việt nữ kiếm xảy ra thời Xuân Thu.

Tuần tự 13 bộ tiểu thuyết xếp theo bối cảnh lịch sử của nhà văn Kim Dung:

Việt Nữ Kiếm (thời Xuân Thu)

Thiên Long Bát Bộ (trải từ thời Tống Thần Tông đến Tống Triết Tông nhà Bắc Tống, khoảng 1065 -1095)
Anh hùng xạ điêu (diễn ra khi Thành Cát Tư Hãn đang chinh chiến và kết thúc khi Thành Cát Tư Hãn qua đời, tức khoảng từ năm 1205 kéo dài tới năm 1226, tương ứng với giữa thời Nam Tống, diễn ra sau Thiên Long Bát Bộ khoảng 130 năm)
Thần điêu hiệp lữ (các sự kiện diễn ra từ khoảng năm 1240 tới 1258, diễn ra sau Anh hùng xạ điêu khoảng 30 năm)
Ỷ Thiên Đồ Long Ký (thời cuối nhà Nguyên, kết thúc khi Chu Nguyên Chương chuẩn bị xưng vương dựng nghiệp nhà Minh, tức khoảng từ năm 1340 kéo dài tới năm 1363)
Hiệp khách hành (thời nhà Minh, không rõ thời vua nào)
Tiếu ngạo giang hồ (thời nhà Minh, sau thời Hiệp khách hành khoảng 20-30 năm)
Bích Huyết Kiếm (cuối thời nhà Minh, đoạn kết là khi Lý Tự Thành diệt nhà Minh và quân Mãn Thanh tràn vào, tức năm 1644)
Lộc Đỉnh ký (thời vua Khang Hy nhà Thanh còn niên thiếu đến khi trưởng thành, tức khoảng năm 1661 tới 1675)
Thư Kiếm Ân Cừu Lục (thời vua Càn Long nhà Thanh còn trẻ và kết thúc khi Phúc Khang An có ngoại hình giống y hệt Trần Gia Lạc vừa sinh ra, tức khoảng năm 1740 tới 1753)
Phi Hồ Ngoại Truyện (thời vua Càn Long nhà Thanh gần đất xa trời và Phúc Khang An đã làm quan, tức khoảng năm 1780-1790)
Tuyết Sơn Phi Hồ (thời Càn Long nhà Thanh, diễn ra sau "Phi hồ ngoại truyện" chỉ ít lâu trước khi Hồ Nhất Đao qua đời)
Liên Thành Quyết" (không rõ thời điểm, chỉ có thể suy đoán là xảy ra vào thời nhà Thanh do có nhắc đến tóc đuôi sam. Có thông tin nói rằng trong Liên thành quyết, Kim Dung từng viết về ông nội của mình làm tri huyện Đan Dương (Giang Tô), nếu đúng như vậy thì truyện xảy ra vào khoảng cuối thế kỷ 19)
"Bạch Mã Khiếu Tây Phong" và "Uyên Ương Đao" chỉ được suy đoán là vào thời nhà Thanh, nên không xếp được thứ tự.

Hai câu thơ sắp thành tựa đề

Kim Dung 

Tiểu thuyết 

飛 Phi

笑 Tiếu 

雪 Tuyết

書 Thư 

連 Liên

神 Thần 

天 Thiên

俠 Hiệp 

射 Xạ

倚 Ỷ 

白 Bạch

碧 Bích 

鹿 Lộc

鴛 Uyên 

Truyện ngắn 

越女劍 Việt nữ kiếm 

Sau khi Kim Dung hoàn thành các tác phẩm của mình, một người bạn của ông là Nghê Khuông phát hiện rằng chữ đầu tiên của tựa đề 14 tiểu thuyết tạo thành hai câu thơ thất ngôn:

Phi tuyết liên thiên xạ bạch lộc
Tiếu thư thần hiệp ỷ bích uyên

Dịch nghĩa:

Tuyết bay đầy trời bắn (nhìn) hươu trắng
Truyện cười thần hiệp tựa uyên xanh

Các nhân vật chính

Nhân vật Nam chính trong các truyện:
Trần Gia Lạc: Thư kiếm ân cừu lục
Viên Thừa Chí: Bích huyết kiếm
Quách Tĩnh: Anh hùng xạ điêu
Dương Quá: Thần điêu đại hiệp
Miêu Nhân Phượng: Tuyết sơn phi hồ, Phi hồ ngoại truyện
Hồ Phỉ: Tuyết sơn phi hồ, Phi hồ ngoại truyện
Trương Vô Kỵ: Ỷ Thiên Đồ Long ký
Địch Vân: Liên thành quyết
Tiêu Phong: Thiên long bát bộ
Đoàn Dự: Thiên long bát bộ
Hư Trúc: Thiên long bát bộ
Thạch Phá Thiên: Hiệp khách hành
Lệnh Hồ Xung: Tiếu ngạo giang hồ
Vi Tiểu Bảo: Lộc đỉnh ký.

Các nhân vật nam mà Kim Dung yêu thích: Lệnh Hồ Xung, Kiều Phong, Quách Tĩnh, Dương Quá, Đoàn Dự, Trương Vô Kỵ, Phong Thanh Dương, Hoàng Dược Sư, Chu Bá Thông.[13]

Các nữ nhân vật chính trong tác phẩm của Kim Dung gồm có:

Hương Hương công chúa: Thư kiếm ân cừu lục
Hoắc Thanh Đồng: Thư kiếm ân cừu lục
Lý Nguyên Chỉ: Thư kiếm ân cừu lục
Hạ Thanh Thanh: Bích huyết kiếm
A Cửu (Trường Bình công chúa): Bích huyết kiếm
Hoàng Dung: Anh hùng xạ điêu
Tiểu Long Nữ: Thần điêu đại hiệp
Viên Tử Y: Phi hồ ngoại truyện, Tuyết sơn phi hồ
Trình Linh Tố: Phi hồ ngoại truyện, Tuyết sơn phi hồ
Miêu Nhược Lan: Tuyết sơn phi hồ
Triệu Mẫn: Ỷ Thiên Đồ Long ký
Chu Chỉ Nhược: Ỷ Thiên Đồ Long ký
Thích Phương: Liên thành Quyết
Thủy Sinh: Liên thành Quyết
A Châu: Thiên long bát bộ
A Tử: Thiên long bát bộ
Vương Ngữ Yên: Thiên long bát bộ
Mộc Uyển Thanh: Thiên long bát bộ
Tiêu Trung Tuệ: Uyên ương đao
Lý Văn Tú: Bạch mã khiếu tây phong
Đinh Đang: Hiệp khách hành
A Tú: Hiệp khách hành
A Thanh: Việt Nữ kiếm
Nhậm Doanh Doanh: Tiếu ngạo giang hồ
Nhạc Linh San: Tiếu ngạo giang hồ
Song Nhi: Lộc Đỉnh ký
Tô Thuyên: Lộc Đỉnh ký
Kiến Ninh công chúa: Lộc Đỉnh ký
A Kha: Lộc Đỉnh ký

Các nhân vật nữ mà Kim Dung yêu thích: Hoàng Dung, Tiểu Long Nữ, Trình Linh Tố, Lạc Băng, A Cửu, Hà Thiết Thủ, Lam Phượng Hoàng.[13]

Các nhân vật nữ mà Kim Dung xem là người vợ lý tưởng: Nhậm Doanh Doanh, Triệu Mẫn, A Châu, Tăng Nhu, Chu Chỉ Nhược.[13]

Các nhân vật nữ mà Kim Dung nguyện suốt đời yêu thương và bảo vệ: Quách Tương, Tiểu Chiêu, Nghi Lâm, Song Nhi, A Bích, A Cửu, Trình Anh, Công Tôn Lục Ngạc, Cam Bảo Bảo[13]
Võ công trong tác phẩm
Xem Võ công trong truyện Kim Dung và Thiên hạ ngũ tuyệt

Đề tài

Chủ nghĩa yêu nước và Văn hóa truyền thống Trung Quốc là đề tài chủ yếu trong các tác phẩm của Kim Dung. Ông nhấn mạnh đến sự độc lập tự chủ của người Hán, và nhiều tác phẩm của ông là bối cảnh khi Trung Quốc bị đe dọa bởi những người phương bắc như Khiết Đan, Nữ Chân, Mông Cổ. Nhưng dần dần chủ nghĩa yêu nước của ông cũng bao gồm các dân tộc thiểu số tạo thành nước Trung Quốc bây giờ. Kim Dung đặc biệt khâm phục các đặc điểm của người Mông Cổ, Mãn Châu. Trong Anh hùng xạ điêu, hình tượng của Thành Cát Tư Hãn và các con của ông là những vị tướng tài ba, những dũng sĩ kiêu dũng trên đại mạc đứng lên lập nên đại nghiệp, uy hiếp nhà Tống lụn bại. Hoặc như trong Lộc Đỉnh ký, Kim Dung miêu tả vua Khang Hy nhà Thanh là một người có lòng trắc ẩn và có năng lực. Trong Thiên long bát bộ, Kiều Phong mặc dù là người Khiết Đan nhưng từ nhỏ đã được người Hán nuôi dưỡng. Chính điều đó đã khiến Kiều Phong vì người Hán ngăn cản vua Liêu tiến quân.

Các tác phẩm của Kim Dung có thể coi là cuốn từ điển nhỏ về phong tục, tập quán, văn hóa Trung Hoa, bao gồm các lĩnh vực y thuật dân tộc Trung Quốc, châm cứu, võ thuật, âm nhạc, thư pháp, cờ vây, trà đạo, các triết học của đạo Khổng, đạo Phật và đạo Lão, và lịch sử phong kiến Trung Hoa. Các nhân vật lịch sử hòa trộn vào các nhân vật trong truyện.

Các tác phẩm của ông rõ ràng đã tỏ lòng tôn trọng và ca ngợi các giá trị truyền thống Trung Hoa, đặc biệt là các quan niệm Khổng giáo như là mối quan hệ giữa vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, và nhất là giữa sư phụ và đồ đệ, giữa các huynh đệ. Kim Dung cũng nhấn mạnh vào các giá trị Trung Hoa truyền thống như là danh dự con người, tinh thần tận trung báo quốc của nam nhi, tấm lòng chung thủy giữ gìn trinh tiết của phụ nữ.

Cuối cùng ông biến đổi một phần các phép tắc đó trong tác phẩm cuối cùng Lộc Đỉnh ký. Là một nhân vật chính nhưng Vi Tiểu Bảo không theo mô thức của các nhân vật chính mà Kim Dung đã dàn dựng, không phải là một biểu tượng của một anh hùng hảo hán mà là một nhân vật có cả tà tâm, không theo một tiêu chuẩn đạo đức nhất định, nhưng vẫn là một kẻ sống rất nghĩa khí và rất hết lòng vì bạn bè.

Phê bình

Các tác phẩm của Kim Dung đã nhận được nhiều phê bình từ độc giả và các nhà phê bình văn học. Nghê Khuông, một nhà văn nổi tiếng và là bạn của Kim Dung đã viết rất nhiều bài viết phân tích các nhân vật và thế giới võ thuật trong các tác phẩm của ông.

Tuy nhiên nhiều tác phẩm của Kim Dung đã bị cấm ở nhiều nơi ngoài Hồng Kông vì những lý do chính trị. Nhiều tác phẩm bị cấm ở Trung Hoa đại lục vì bị cho là chế nhạo Mao Trạch Đông, Cách mạng Văn hóa hoặc bị cho là xuyên tạc lịch sử (ví dụ như truyện Ỷ thiên đồ long ký có nhiều chi tiết hư cấu về các nhân vật lịch sử có thật như Thường Ngộ Xuân, Minh Thái Tổ). Chính quyền Đài Loan cũng cấm vì cho rằng các tác phẩm này ủng hộ Đảng Cộng sản Trung Quốc. Hiện giờ các tác phẩm của Kim Dung không bị cấm nữa. Một số chính trị gia như Đặng Tiểu Bình còn là người hâm mộ các tác phẩm của ông.

Cuối năm 2004, nhà xuất bản giáo dục nhân dân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã đưa tác phẩm Thiên long bát bộ vào sách giáo khoa lớp 12. Bộ Giáo dục Singapore cũng làm như vậy đối với các trường cấp 2, 3 sử dụng tiếng Trung Quốc.

Tác phẩm dựa theo Kim Dung

Có thể một phần vì muốn hoàn thiện các khe hở tình tiết trong truyện Kim Dung, phần vì muốn phát triển rộng thêm các chi tiết truyện, phần là ăn theo, rất nhiều người đã viết truyện dựa theo cốt, theo nhân vật trong truyện Kim Dung mà tạo dựng nhiều tác phẩm khác, thậm chí dựng thành phim, gọi chung là các tác phẩm dựa Kim Dung. 

 

Tác phẩm

Người dịch

Người viết 

Bẻ kiếm bên trời

Hàn Giang Nhạn

 

Cự Linh Thần Chưởng

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

 

Độc Cô Quái Khách

Hàn Giang Nhạn

 

Đơn kiếm diệt quần ma

Tiền Phong Từ Khánh Phụng

 

Hắc Thánh Thần Tiêu

Thương Lan

 

Hậu Anh hùng xạ điêu

 

 

Hậu Cô Gái Đồ Long
Ỷ thiên Đồ long Ký hậu truyện

 

 

Huyết Mỹ Nhân

 

 

Loạn Võ Công Ký

 

Phạm Thế Tài 

Ma Nữ Đa Tình

 

 

Song Nữ Hiệp Hồng y

Tiền Phong Từ Khánh Phụng

 

Thái A Kiếm

Tiền Phong Từ Khánh Phụng

 

Thạch Phá Thiên
Hậu Hiệp khách hành

 

 

Tiếng Đàn Ma

 

 

Tiếu ngạo giang hồ Hậu Ký

 

TMP 

Tiểu Tà Thần

Tiền Phong Từ Khánh Phụng

 

Tục Thái A Kiếm

 

 

Tục Tiểu Tà Thần

 

 

Võ Lâm Ngũ Bá
Anh hùng xạ điêu tiền truyện

 

 

Độc Cô Cửu Kiếm

 

 


Phim ảnh

Phim truyền hình

 Anh hùng xạ điêu (phim 1983)
 Anh hùng xạ điêu (phim 1994)
 Anh hùng xạ điêu (phim 2003)
 Anh hùng xạ điêu (phim 2008)
 Anh hùng xạ điêu (phim truyền hình 2017)
 Bích huyết kiếm (phim 1977)
 Bích huyết kiếm (phim 1985)
 Bích huyết kiếm (phim 2000)
 Bích huyết kiếm (phim 2007)
 Hiệp khách hành (phim 2002)
 Lộc Đỉnh ký (phim 1984)
 Tiểu Bảo và Khang Hy (2001)
 Lộc Đỉnh ký (phim 2008)
 Thiên long bát bộ (phim truyền hình 1997)
 Thiên long bát bộ (phim truyền hình 2003)
 Thiên long bát bộ (phim truyền hình 2013)
 Thần điêu đại hiệp (phim 1983)
 Thần điêu đại hiệp (phim 1995)
 Thần điêu đại hiệp (phim 1998)
 Thần điêu đại hiệp (phim 2006)
 Thần điêu đại hiệp (phim 2014)
 Tiếu ngạo giang hồ (phim 1984)
 Tiếu ngạo giang hồ (phim 1996)
 Tiếu ngạo giang hồ (phim truyền hình Đài Loan 2000)
 Tiếu ngạo giang hồ (phim 2001)
 Tiếu ngạo giang hồ (phim 2013)
 Tiếu ngạo giang hồ (phim 2018)
 Ỷ Thiên Đồ Long Ký (phim 1986)
 Ỷ Thiên Đồ Long Ký (phim 2000)
 Ỷ Thiên Đồ Long Ký (phim 2003)
 Ỷ Thiên Đồ Long Ký (phim 2009)
 Ỷ Thiên Đồ Long Ký (phim 2019)
 V
Việt nữ kiếm (phim truyền hình 1986): ATV, Moonly vai A Thanh, Elliot Ngok vai Phạm Lãi

Phim điện ảnh

Tiếu ngạo giang hồ: Đông Phương Bất Bại
Lộc Đỉnh ký
Lộc Đỉnh ký: Thần Long giáo