Hiển thị các bài đăng có nhãn Đinh Hùng Cường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đinh Hùng Cường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

Tubíp (Toubib)Và Đời Tôi


Không hiểu sao đời tôi lại được chơi với toàn bác sĩ, trong khi bản thân mình thì chỉ là anh lính chiến. Những lý do đưa đẩy do lòng trời, tôi đã nhiều năm sống chung với những bác sĩ tương lai ở câu lạc bộ An Đông, Chợ Lớn. Thực ra nơi đây chỉ là nhà vãng lai sĩ quan, anh nào đi công tác ở Saigon có sự vụ lệnh thì được ở vài hôm. Nhưng rồi không hiểu sao, những bác sĩ quân y tương lai hay những bác sĩ dân y trưng tập đều dồn về ở đây và tôi may mắn được đổi về Saigon, qua thế lực của đại tá Đinh Xuân Kế, anh rể người bạn chí thân của tôi.

Các anh quân y đi hoc, còn tôi thì chinh chiến, chúng tôi gặp nhau trong những lúc rảnh rỗi, trong những bữa cơm chiều thế là thành bạn, sau này họ thành những bác sĩ nhảy dù, bộ binh TQLC, tôi đều quen cả. Tôi nhớ từ những anh với những biệt hiệu như Tính điên, Anh lo, Nhân già, An con, v…v… sau này tôi biết anh An là anh ruột nhà văn Nguyễn Đức Nam. Tôi không biết y khoa học hành ra sao, ai giỏi ai đốt thế nào, nhưng tôi nghĩ là những anh nào “Intern” trong nhà thương sẽ là những bác sĩ giỏi, do đấy khi tôi bị lên cái lẹo ở mắt, tôi đã không ngần ngại nhờ anh Hiền sau là bác sĩ nhảy dù mổ mắt cho tôi, anh Hiền vác tôi vô nhà thương Bình Dân mổ lấy cái mụn ra, băng bó cẩn thận, bắt tôi nằm một đêm hôm sau mới cho về. Chơi với bác sĩ, được sĩ thì nó có vô cùng lợi, trong bài ký ức này, tôi xin tuần tự kể ra để cống hiến các bạn đọc chơi và cảm ơn những người bạn tốt của tôi.

Tôi có quen một cô gái, phải khó khăn lắm tôi vô được gia đình này, nhờ kiến thức y khoa học lóm của mấy ông chuẩn y sĩ ở câu lạc bộ mà tôi ba hoa, sau nhiều lần bô lô ba la, thân mẫu cô ta đã nhờ tôi tiêm thuốc cho cô thay vì phải thuê cô chích đi chích dạo. Tôi làm sao có được ống chích và các loại kim như cô chích mà đổ cồn đun sôi cho sát trùng. Tôi bèn nghĩ ngay tới anh bạn tôi là dược sĩ Mai Văn Thông trung úy quân được, trường kho thuốc của bệnh xá Đỗ Vinh nhảy dù, thế là Thông cho tôi đủ loại kim tiêm từ số 20 tới số 25 và ống chích, tất cả đều là “disposal” dùng một lần xong vứt. Uy tín quá trời, thân mẫu của cô đã không ngần ngại cho tôi thay thế cô y tá vườn. Cô gái bẽn lẽn vạch mông cho tôi chich, lần đầu tôi lóng ngóng tìm chỗ lụi cái kim, cô sợ hãi làm cho bắp thịt co lại, tôi cũng rủn cả người khi thấy cái mông trắng nõn của cô, nhưng rồi bụng bảo dạ, lớ ngớ là bị cấm cửa đấy con ơi, thế là tôi phải đóng kịch thành một anh y tá chuyên nghiệp nghiêm trang. Bà mẹ có vẻ tin tưởng tôi hơn, tưởng lầm tôi là dân trường thuốc, than thở là cô em bị tê thấp nặng, những dầu nóng mua ở hiệu thuốc dở quá không đủ nóng cho cô bớt đau. Tôi về hỏi Mai Văn Thông, anh liền cho tôi mấy bịch thuốc nhà binh “salicylate de methylen” bôi vào nóng như lửa đốt giúp cho cô em giảm đau rất nhiều.

Một ngày một thân hơn, một hôm bà mẹ bảo tôi, nghe nói con gái muốn có da có thịt thì người ta hoặc là cấy nhau đàn bà vô bụng, hay cho ăn nhau, nhưng phải là nhau con so chứ không phải nhau con dạ thì nó tốt hơn cả ngàn thang thuốc bổ. Lập tâm lấy điểm, tôi về câu lạc bộ nói chuyện với một anh bạn tên Tuấn mà lâu ngày tôi quên mất họ của anh ta. Tuấn đang thực tập tại nhà bảo sanh Từ Dũ, anh ta để tâm tìm kiếm cho tôi. Một buổi sáng nọ, tôi còn đang mơ màng trong giấc điệp, bỗng nghe tiếng Tuấn vang vang ngoài cửa: “Cường ơi có rồi, có rồi, primagest.” Tôi bật dậy chạy ra thì thấy Tuấn cầm một cái bịch máu me còn dây đầy ra cái túi nylon. Tuấn mừng rỡ nói với tôi:
- Đêm qua có một bà vô sinh con so, moa phải đợi suốt đêm đỡ đẻ cho bà, xong lấy cái nhau bọc lại bỏ vô tủ lạnh đợi sáng nay đem về cho toa.
Tôi bấn người lên, vội nói:
- Toa trực suốt đêm mệt rồi, đi ngủ đi. Cho moa mượn xe, chạy lo vụ này.

Tôi không quên cảm ơn bạn xong lấy xe Lambretta của Tuấn chạy như bay xuống nhà người bác, xin bác giúp rửa sạch sẽ, tẩy cho hết hôi, làm cho tôi một dĩa chả trứng. Tôi nghĩ chỉ có cách này làm vừa lòng bà cụ, chứ tôi vác nguyên một bịch máu, láu táu chạy xuống đưa cho cụ, chắc có lẽ cụ sẽ sợ chết khiếp mà đuổi tôi đi. Buổi chiều tôi đem đĩa chả trứng thơm lừng tới biếu. Tôi nhỏ to một hồi, cụ hiểu ý, dọn cơm cho tôi và cô gái ngồi ăn. Cô em không biết, ngồi ăn tỉnh bơ mà còn khen tôi là đầu bếp khéo. Thật khổ cho đời tôi, vì tình mà tôi sơi cả thịt người trời ạ!

Mai Văn Thông là bạn tốt của tôi, chơi với Thông là tôi có cả kho thuốc của nhảy dù. Anh cho tôi đủ thứ cần thiết, kể cả những thuốc trụ sinh mà nhiều bạn trời đánh thánh đâm của tôi xuống xóm mà mang bệnh vô người, cũng được Thông cho thuốc. Người bạn thân nhất của tôi tên Thường, chúng tôi rất tương đắc với nhau, có lần tôi khoe khoang người con gái mà tôi yêu, nhưng không được yêu lại. Nhìn tấm hình, Thường bảo cô này xinh quá, để moa vẽ tấm hình tặng toa.

Thế rồi Thường bỏ thì giờ vẽ lên bức tranh đẹp tuyệt trần cho tôi đem tặng nàng. Tội nghiệp bạn tôi sau anh cũng đi nhảy dù, thế rồi 75 thất trận, anh bị đi tù, VC cho anh coi bệnh xá chăm sóc tù nhân. Thường lập kế hoạch vượt ngục, anh có rủ một người bạn học lớp nhì của tôi là Chu Cự Hải cùng đi tù chung vượt ngục. Hải chưa chuẩn bị xong thì Thường đã lên đường, không may anh bị Việt cộng săn đuổi và sát hại. Sau này tôi gặp lại Chu Cự Hải mới biết người bạn thân của tôi không còn nữa. Một người bạn cũ cũng khá thân với tôi bên nhảy dù là bác sĩ Nguyễn Quốc Hiệp. Hiệp hiện ở Florida, sau này có lúc anh đã làm hội trưởng hội nhảy dù USA ở Hoa Kỳ.

Thấm thoát đã mấy năm qua, các bác sĩ đã ra trường phân đi tứ tán trong 4 vùng chiến thuật, tôi cũng không còn ở câu lạc bộ, sau khi được đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ, tôi đã trở về có một mái ấm gia đình bên một người vợ trẻ và đứa con thơ.
Chiến tranh đã trở nên khốc liệt, tôi trận mạc liên miên, sống chết thì buông cho số phận, nhưng rồi súng đạn đâu có chừa ai, hên mãi cũng có ngày xui, tôi đã bị địch bắn nát người. may mắn thay, vợ tôi lại lên thăm đúng lúc, đệ tử ruột của tôi, không ngần ngại cho vợ tôi lên xe cứu thương chạy băng về nhà thương Cộng Hòa. Đám thương binh có tôi nằm la liệt trên băng ca, chờ vô phòng mổ. Vào lúc khó khăn kinh tế, nước điện khan hiếm, nhất là lại ngày chủ nhật, lệnh của bệnh viện là phải trên 40 thương binh mới cho chạy máy điện để mổ xẻ, cứu cấp, cưa chân, cưa tay gắp đạn.

Nằm trên băng ca cả tiếng đồng hồ, tôi mất nhiều máu quá, nếu không được mổ thì chắc chết, tôi thều thào bảo vợ chạy quanh xem có bác sĩ nào gần đó thì ghi cái tên của họ trên ngực, trở lại cho tôi biết, may ra gặp bác sĩ quen tôi sẽ được cứu giúp, một lát sau bà vợ trở về báo cáo, thấy một ông bác sĩ tên Sơn, tôi mừng quá, bảo vợ chạy ra hỏi có phải Trịnh Hương Sơn? May quá đúng là anh. bạn cũ câu lạc bộ, Sơn chạy ngay lại thăm tôi, thế là Sơn vận động bác sĩ trực, không đủ sĩ số 40 cũng cho chạy máy điện, nhờ có bạn mà tôi thoát chết. Sau một thời gian điều trị, tôi được vô phòng giải phẫu chỉnh hình. Một ông bác sĩ trẻ nói rằng có thể cứu cái ngón tay cụt của tôi bằng cách rạch bụng tôi ra, đút ngón tay vô đó, cho mỡ nuôi, sau đấy lấy ra cắt gọt lại gọn gàng thành ngón tay cái. Cái đùi của tôi có hai vết mổ trông rất xấu, các bác sĩ đề nghị ghép da. Lột da ở đùi trái ghép qua đùi phải, sau này có mặc quần đùi hay quần tắm thì sẽ tránh được hai cái sẹo gớm ghiếc. Rồi họ quyết định không cấy ngón tay cái trong bụng, việc chỉnh hình quá lâu mà nhà thương thì thương binh càng lúc càng nhiều, họ chỉ tiến hành ghép da để che hai cái sẹo ở đùi. Khốn thay cho tôi, ông bác sĩ tài ba làm ghép da cho tôi, sắp sửa bắt tay vào việc, thì ông bảo tôi nằm chờ, khoan đánh thuốc mê, để ông xuống câu lạc bộ chơi một bát phở cho vững bụng, rồi lên sẽ đánh thuốc mê bào da bên này ghép bên kia. Chắc ông bác sĩ này trong lúc vội đã mặc nguyên cái áo choàng xuống ăn phở hay sao, mà sau khi mổ, tôi bị nhiễm trùng, cả hai vết sẹo dài trên đùi tôi đều mưng mủ, những mảng da ghép đã trôi theo những lần y tá cạo rửa vết thương, chung cuộc hai cài sẹo dài bên đùi trở nên đen thui như hai con rết nhiều chân vì những mũi kim khâu đã làm độc. Ô hô. "Skin grafted” tân kỳ!

Cuộc đời đổi thay, khi tôi về ngồi quận Thủ Thừa, thì tôi không những tiếp tục quen bác sĩ mà còn làm việc chung với bác sĩ. Ở tỉnh Long An, bác sĩ Tứ trưởng ty y tế là bào huynh của trung tá Chất tiểu khu phó, vì có dây mơ rễ má với nhà binh, tôi dễ dàng quen thân với bác sĩ Tứ, rồi y sĩ thiếu tá Tôn Thất Lan chỉ huy trưởng bệnh viện dã chiến Long An là người quen cũ với tôi ở câu lạc bộ An Đông, giờ đây cùng làm việc chung trong tỉnh, cũng là anh em. Bác sĩ Điện được đổi xuống quận của tôi. Theo thủ tục hành chánh ở cấp tỉnh thì bác sĩ dân y làm trưởng ty y tế, bác sĩ quân y làm phó trưởng ty, ở cấp quận thì cũng vậy, dân sự làm trưởng chi y tế, quân sự là phó trưởng chi, nhưng khổ nỗi cho tôi, ông dân sự ở đây không phải là bác sĩ mà ông là cán sự y tế, ông làm trưởng chi, bác sĩ Điện lại làm phó trưởng chi. Thật tréo cẳng ngỗng, trong ngành chuyên môn, người dở chỉ huy người giỏi, rồi đố kỵ lẫn nhau. Khi khám bệnh cho dân trong công tác dân sự vụ, bác sĩ Điện khám bệnh cho toa, thì ông trưởng chi y tế, dấu thuốc, không phát cho dân làm giảm uy tín của bác sĩ Điện rất nhiều. Tôi đem chuyện này than thở với bác sĩ Tứ, xin bổ nhiệm bs. Điện làm trưởng chi, ông cán sự xuống làm phó, nhưng bác sĩ Tứ đã không làm được, vì trái với nguyên tắc hành chánh. Để đền bù với cái chuyện trái khoáy này, tôi vô cùng dễ dãi với bs. Điện, tôi ngó lơ cho ông mở phòng mạch trong quận để cho ông kiếm tiền mỗi khi không đi hành quân hay công tác. Sau này nước mất nhà tan, ông Điện có qua được Mỹ, nhớ lại tình cũ, ông có liên lạc và hỏi thăm tôi.

Ở đâu tôi cũng quen, cũng bạn toàn bác sĩ, đến D.C là tôi quen hầu hết bác sĩ trong vùng, những bác sĩ quá vãng như Võ Đạm, Hoàng Thiện Căn, Vũ Văn Giảng, Nguyễn Sơ Đông, Dương Quang Hớn, v...v… cho đến những vị còn đang sống hành nghề hay đã về hưu, tôi đều có hân hạnh quen biết, mà đặc biệt là tôi chẳng bệnh tật gì nhiều, ngoài sổ mũi, nhức đầu cảm cúm thì tôi còn khỏe như trâu, suốt nhiều năm làm việc, từ cổ xanh tới cổ trắng chả có gì gọi là đau ốm nặng nề, tôi thân với anh Hưng.

Ngoài tình bạn anh Hưng còn là bác sĩ gia đình của vợ chồng tôi, tôi thích anh Hưng vì anh rất hóm hỉnh và nói chuyện rất có duyên, pha trò ý nhị. Nhưng rồi vì thân anh Hưng, tôi lan qua quen biết anh Phước, hai anh cùng mở chung một phòng mạch, Một chuyện thật tình cờ mà tôi vô cùng kính phục anh Phước, số là anh Hưng bị đau nặng nằm trong nhà thương, tình hình khá nguy kịch, Anh Phước vô thăm, nói với chị Hoàng vợ anh Hưng mà tôi nghe được là, chị Hoàng cứ lo chăm sóc anh Hưng, nếu chẳng may anh Hưng có mệnh hệ gì, thì cái phòng mạch này sẽ có một mình anh Phước điều khiển, quyền lợi thì vẫn chia đôi như cũ để các con anh Hưng có tiền đi học. Cao cả thay tình bạn. Rồi anh Hưng hết chết, hai người vẫn làm chung phòng mạch như xưa, không nói ra nhưng tôi nghĩ anh Hưng đã hãnh diện nhìn thấy người cộng tác với mình.


Cũng là nhờ quen biết bác sĩ, vợ tôi bị cái bàn chân đau suốt nhiều năm tháng, không khỏi, được một bác sĩ trẻ tên Julius Cường, Dr. Cường giỏi lắm, anh là giảng sư dạy bác sĩ tại trường đại học John Hopkin. Dr. Cường đã giúp vợ tôi làm đủ mọi loại tests về thần kinh mà vẫn không tìm ra bệnh, đau vẫn hoàn đau. Dr. Cường tận tình giúp tôi, cũng có cái nguyên do của nó. Trong chiến tranh, tôi thân với bố Cường, chúng tôi cùng chung đơn vị, vì quý mến tôi, bố anh sinh người con gái chị anh, lấy tên Trâm, vợ tôi, đặt tên cho con, rồi khi đẻ ra anh, ông lại đặt tên anh trùng với tên tôi. Sau này lưu lạc qua Mỹ biết được, cảm ơn mối thịnh tình quý mến của bố anh, chúng tôi đã kết thân và giới thiệu cho con cái hai bên giao thiệp chơi với nhau. Kết luận họ chỉ nói mơ hồ về hai cái đốt xương sống số 5 số 6 gì đó, thần kinh bị chạm làm cho đau đớn, vô phương cứu chữa, Thời may tôi được bác sĩ Nguyễn Dương giới thiệu cho vợ tôi một bác sĩ trị đau nhức ở Houston Texas. Dương nguyên là y sỹ đại tá Mỹ, chỉ huy trưởng bệnh xá của quân khu thủ đô Washington D.C tại Fort Myers. Dương bảo tôi bs. Trần Văn Tính trị đau nổi tiếng, những chủ hãng dầu Texas là bệnh nhân của anh, kể cả võ sĩ hạng nặng Mike Tyson cũng là bệnh nhân thường trực. Nghe như bs. Tính là học trò cưng của bà bác sĩ Janet Travell, bà là bác sĩ nổi danh trị đau nhức cho tổng thống Kennedy ở Bạch Cung. Cũng nghe kể rằng tông tông Kennedy mắc bệnh đau lưng đến nỗi phải đi bằng đôi nạng sắt, thế mà bà bác sĩ đã chữa chạy bằng phương pháp riêng mà có một ngày tông tông đã không những đi đứng bình thường, mà còn cõng người tình là tài tử Marilyn Monroe chạy nhong nhong trong tòa Bạch ốc.


Qua sự giới thiệu của bs. Dương, ông Tính tiếp chúng tôi ân cần và khi biết được năm xưa tôi đã cùng ông sống chung ở câu lạc bộ An Đông thì dĩ vãng ông sống dậy, ông bỏ cả bệnh nhân, ngồi nói chuyện với tôi.. ông kể đủ chuyện, từ các bạn sống ở An Đông đến chuyện ông đi nhảy dù, lập bệnh viện tại chỗ. Mổ xẻ cứu cấp những thương binh bị trúng đạn hiểm nghèo. Tôi ngồi nghe ông nói mà thành thật với ông rằng, sở dĩ tôi ở An Đông lâu đời mà không quen ông, vì chúng nó gọi ông là Tính điên, người ta ban ngày đi học, ban tối đi chơi. còn ông ban ngày đi học, ban tối học luôn, không chơi với ai cả, chỉ chúi mũi vô sách vở. Câu chuyện càng lúc càng như pháo nổ, bs. Tính hầu như quên cả các bệnh nhân đông đúc đợi bên ngoài, Cho đến một lúc bà bác sĩ hết cả kiên nhẫn, phải thúc ông, bs. Tính miễn cưỡng cầm ống nghe và nhắc tôi ngồi đợi, ông sẽ trở lại chữa bệnh cho vợ tôi và mời tôi ăn trưa, thế là buổi trưa hôm ấy, vợ chồng tôi đã được mời ăn trưa với ông bà bác sĩ. Bữa cơm đạm bạc, canh chua củ chuối nấu với cá và rau dưa, ăn uống rất lành không thịt thà chi cả. Qua ngày hôm sau, tôi biết ý, đưa vợ vô phòng đợi xong tôi trốn ra ngồi trong xe. Ông Tính hỏi vợ tôi: "Cường đâu?” vợ tôi nói dối rằng tôi đi công việc. Ông Tính cười, chỉ vô màn ảnh cho vợ tôi thấy tôi đang ngồi ngoài xe, ông Tính có hệ thống an ninh bao quanh phòng mạch, thế là ông lại cho y tá mời tôi vô. Lần này bà bác sĩ tự nhiên hơn, không còn giữ lễ, đợi một lúc là bà hối ông đi làm việc. Ông Tính lại cầm cái ông nghe đi ra, đe tôi, đừng trốn, ông sẽ trở lại chữa bệnh cho vợ tôi, sau đó để xe đây, ông sẽ chở đi thăm trại nuôi bò của ông và mời chúng tôi dùng cơm chiều ở nhà hàng.

Buổi chiều hôm đó, ông đóng cửa phòng mạch sớm hơn thường lệ, ông chở chúng tôi lên trại bò của ông, thật tình Texas đất rộng người thưa, trại nuôi bò của ông mênh mông, đủ loại bò khác nhau, cái hay là đêm đêm, đàn nào vào giống nấy, chúng chùm nhum lại với nhau để tìm hơi ấm và tránh đi đêm tối hãi hung. Điều đáng nói ở đây là trại nuôi bò của ông Tính giống như một cái trại công binh của quân đội hơn là chỉ có những bãi cỏ để nuôi bò, nào là ống cống, ống sắt, xe bulldozer nằm lổn ngổn tứ tung. Tính bảo tôi trại của anh rộng lớn, gần thành phố, anh thường cho cộng đồng, hướng đạo tổ chức lễ lạc, picnic, v...v... Ngoài ra mỗi khi chính phủ bán rẻ những vật liệu dư dùng, anh mua đem về đây, sửa sang cầu cống, kiện toàn trang trại, và nhất là những lúc rảnh rỗi, anh ra đây đánh vật với cái bulldozer (hình trên), vì anh chân đau, không đi bộ được, phải vật lộn với con cua sắt này cho tiêu hao sức lực để chữa bệnh tiểu đường. Rồi anh chất tôi lên xe, chạy đùng đùng, vặn lên vặn xuống cho chiếc xe xích sắt nặng nề, quay chuyển lung tung như xe tăng ra trận. Buổi chiều xâm xẩm tối. Tính đưa vợ chồng tôi vô một tiệm ăn “Steak.” Anh nói: ”Texas này thịt bò ngon nhất nước, xuống đây mà không ăn steak quả là thiếu sót.”


Vừa bước vô cửa, một tấm bảng to tổ bố đập ngay vào mắt “Nếu bạn ăn hết một miếng bí tết 85 ounces, bạn sẽ được thưởng $100.00. Nếu không bạn phải trả cho nhà hàng $500.00. Tôi le lưỡi nói với anh Tính, chịu thua, sức tôi chỉ ăn được 16 onces và Trâm chỉ bốn ounces mà thôi. Thật là lịch sự, vì ăn kiêng, anh Tính chỉ ăn cá và trả tiền cho chúng tôi. Có bệnh nhân nào đi khám bệnh mà bác sĩ mời ăn trưa, mời ăn chiều, chở đi chơi và không lấy tiền khám bệnh. Chưa hết bs. Tính còn bỏ ra $500,00. Mua sách của tôi tặng cho các bệnh nhân Việt Nam. Thật là tấm lòng vàng, Cảm ơn ông bà bác sĩ Tính. Thế rồi, sau mấy lần đi Texas, cảm ơn tấm thịnh tình của bác sĩ, bệnh vợ tôi vẫn còn nguyên vì ông Tính không tìm ra bệnh, chỉ chữa cho bớt đau cấp thời mà thôi.


Đến Cali, cũng lại gặp bác sĩ, bs. Trương Minh Cường, Anh Cường là y sĩ thiếu tá TQLC, anh đi tù VC cả 10 năm mới được sang Mỹ đoàn tụ với vợ là chị Vũ Dung, Anh Cường bảo tôi, chịu khó đợi ít lâu, có một ông thầy thuốc bắc đại tài sẽ từ Canada qua đây, anh sẽ giới thiệu cho tôi. Nhưng anh bác sĩ Hải chồng chị Tuyết Mai lại thực tế hơn, anh bảo tôi cháu của một người bạn anh là bác sĩ rất giỏi, bà vợ anh Hải có một bộ phận trong người rất khó mổ và cũng rất nguy hiểm, thế mà ông bác sĩ trẻ này, vô cùng tài giỏi, đã mổ và chữa bệnh cho vợ anh khỏi hẳn. Hải bảo tôi về D.C. lấy hết “relevant” giấy tờ hồ sơ, nhờ vợ chồng Trung Lan chuyển qua đây, Bác sĩ James Thảo Trần sẽ coi và mổ xương sống cho vợ tôi, may ra giải quyết chuyện đau đớn cái bàn chân. Câu chuyện bên lề là trước đó chúng tôi đã hủy bỏ chuyến đi chơi Dubai với một số bạn học Trần Lục, trong đó có Trần Gia Lương, Dương Phục, bs. Mùi Quý Bồng và bs. Vũ Văn Dũng. Rồi ngày lên đường đi mổ thì nhận được một điềm gở ơi là gở. Tự nhiên ông cháu tôi ở Việt Nam gửi cho tôi một cuốn cẩm nang về số tử vi do ông anh rể của tôi là dược sĩ Đào Sĩ Chu (quá vãng) đã giải từng lá số, cho từng người trong gia đình gửi qua. Điều tôi không ngờ là trong đó có lá số của vợ tôi. Anh Chu lấy lá số và ghi rõ ràng trong đó là đúng ngày đó, tháng đó là bà Đinh Hùng Cường sẽ qua đời. Tôi ở dưới basement đọc cái email của thằng cháu mà nước mắt dàn dụa, làm sao bây giờ, đúng ngày giờ chết của vợ lại đúng là ngày vợ lên bàn mổ. Thủ tục và ngày hẹn đã xong, vé may bay, hotel cũng đã sẵn sàng, chỉ sáng mai là lên đường. Làm sao bây giờ? Không thể cản vợ được, tôi biết tính vợ rất cương cường, thà chết chứ không đổi ý. Đem chuyện này nói ra thì chỉ tổ gây hoang mang cho vợ lo sợ, mà chẳng giải quyết điều gì, thế là tôi cắn răng giữ kín tin gở trong lòng mà héo hắt ruột gan đưa vợ lên máy bay, lòng thầm mong trời Phật phù hộ độ trì cho mọi chuyện suông sẻ.

Bác sĩ Jame Thảo Trần, là một người trẻ tuổi, đàng hoàng và lễ độ, ông bảo tôi ở trong phòng đợi, một tiếng đồng hồ, ông sẽ xuống cho tôi tin tức. Thế rồi giờ này qua giờ khác, cả buổi trưa cũng không thấy ông xuống ăn trưa, tôi thấy cái “chart” phòng mổ, thay đổi liên miên, tên bệnh nhân đến, tên bệnh nhân đi, mà tên Trâm vẫn nằm y nguyên trong phòng. Biết chuyện chẳng lành, nhưng tôi không biết làm sao.
Miệng tôi đắng nghét vì không thiết ăn uống, lòng dạ bồn chồn, tôi đi qua đi lại trong phòng đợi mong gặp bs. Thảo mà không biết tìm ông ở đâu. Đến quá trưa, ông mới xuống, lắc đầu bảo tôi:
- Ca mổ thật khó khăn, cháu chưa đưa con dao vô sâu mà đã thấy tủy sống của cô chảy ra, nguy quá, phải chữa vết thương, không làm gì được cái khác. Vì nếu không thì cô sẽ bị liệt vì vết thương. Điều quan trọng là cô phải nằm trong nhà thương ít nhất 5 ngày để cháu theo dõi.

Thế là tiền mất, tật mang. Trước đó Trâm đã được bác sĩ người Tàu ở D.C. chích thuốc vô tủy sống, vì bất cẩn, ông đã để mũi chích làm độc mà không ai biết, nay bác sĩ James Thảo khám phá ra. Thế là ngày ngày tôi lại phải vô nhà thương ở Fountain Valley, thăm nuôi Trâm. Tôi có thì giờ so sánh hai cái nhà thương của Mỹ. một ở Cali. và một ở Virginia. Tôi thấy rằng, về phòng ốc, tổ chức, y sĩ, y tá và trình bày thì ở Virginia vượt trội Cali. Phòng nằm của bệnh nhân khang trang rộng rãi, quy củ lớp lang nhưng có một điều này thì tôi lại thấy Cali ăn đứt Virginia, đó là lực lượng trừ bị ban đêm, có nghĩa là tất cả nguy biến ban đêm lực lượng này cáng đáng hết. Có một đêm vì sợ bị liệt, bác sĩ bắt nằm lâu quá, vợ tôi đã bĩnh ra giường, khổ ơi là khổ, nó tung toé, vung vãi khắp nơi, từ drap giường, đồ dùng tới tất cả mọi thứ, tôi bất lực không biết làm gì, tôi hòi y tá, nhưng không mấy tin tưởng một bà y tá trực mà làm sao cho sạch được cả cái phòng hôi hám vì phân người, thế nhưng nhà thương ở Fountain Valley đã có một lực lượng hùng hậu, họ gọi là an ninh xuất hiện, toán chuyên nghiệp này ít nhất là sáu bảy người, họ đã nhanh chóng ra tay. Tắm rửa thay đồ cho bệnh nhân, thay nệm, thay drap, lau chùi làm sạch phòng bệnh nhân trong thời gian kỷ lục. Chỉ trong chớp nhoáng, bệnh nhân có một cái giường sạch, quần áo chăn mền mới, đồ đạc đồ dùng trở lại sạch sẽ, thứ tự lớp lang. Tôi thở phào nhẹ nhõm vì mình đã không phải vất vả làm gì mà vợ thì thoái mái lim dim đôi mắt vỗ về giấc ngủ. Thật bái phục sáng kiến của nhà thương Fountain Valley, đã tổ chức một lực lượng ứng trực ban đêm, giúp cho bệnh nhân thoát cảnh khốn quẫn như bà vợ của tôi. Nhưng rồi, tôi cũng ngậm ngùi rơi lệ, khi biết được ít năm sau đó, bác sĩ James Thảo Trần đã qua đời vì bạo bệnh. Ông Trời đã lầm lẫn, lấy đi sinh mạng một người quý giá, có thể cứu sống hàng trăm bệnh nhân. Trở lại câu chuyện Tôi hủy bỏ chuyến đi chơi Dubai với Bồng và Dũng là hai bác sĩ bạn học với tôi. Bồng có phòng mạch ở Houston, tôi thường xuống Houston chữa bệnh với bs. Tính cho vợ và chơi với bạn. Bỗng một hôm, đang ở Houston tự nhiên tôi tắt tiếng, không nói ra hơi, chỉ thều thào cái miệng, mà không ai biết tôi nói cái gì, nguy quá, ba ngày nữa tôi phải về D.C. giới thiệu sách mới của anh Phan Nhật Nam từ Cali qua cho bạn bè, bây giờ tắt tiếng làm sao nói, Tôi bèn hộc tốc chạy tới phòng mạch của Bồng, Tôi không nói được, phải viết trên giấy cho “front desk” là tôi muốn gặp bs. Bồng. Anh thật đại tài, vừa khám bệnh cho tôi, vừa kê toa, thế mà cũng có tờ giấy bên cạnh cho anh làm thơ, chả thế mà bạn Bồng vừa y sĩ, vừa hoạ sĩ rồi vừa cả thi sĩ nữa. Nhờ Bồng, ba ngày sau tôi về lại D.C. và nói như khướu, Tôi thao thao giới thiệu sách mới của Phan Nhật Nam, kết luận, Sách ế meo và tôi bị Phạm Trần lên lớp. Ông ta nói rằng


từ nay vể sau có ai về D.C. mà ra mắt sách chớ có nhờ ông Cường, vì bao nhiêu cái hay, cái đẹp trong sách, ông ta lôi ra hết, thiên hạ biết tỏng trong sách có gì rồi, còn ai muốn bỏ tiền ra mà mua sách nữa.

Bây giờ qua chuyện đốc Dũng, từ Toronto Dũng theo một số bạn bè qua Nhật Bổn đi chơi, chúng tôi cũng có một người bạn học đi tu ở Nhật, anh là người thông kim bác cổ, triệt học Trần Đức Giang tổ chức họp bạn tại Nhật, anh sẽ dắt đi chơi, từ nhiều nơi nhiều hướng tụ về tất cả tụ về Tokyo để gặp anh lên đường. Chúng tôi đến từ Washington D.C. và khi lên tàu vợ tôi đã bị đau bụng vì Tào Tháo đuổi cả đêm hôm trước, anh bác Sĩ Hưng đã khám bệnh cho thuốc, khuyên không nên đi. Thế nhưng vì tiếc chuyến đi gặp bạn bè, tiếc $10,000.00, đồng bạc cho vé tàu bay, và phí tổn, vợ tôi liều chết lên tàu. Suốt một chuyến bay “nonstop” từ Dulles Airport tới Nhật Bổn, Trâm đau bụng không ngừng, gặp thầy Giang hy vọng một điều là Giang sẽ cho đi chơi quanh Tokyo, chiều về lại đạo tràng, nhưng không, Giang đã thuê một chiếc xe du lịch, có tài xế, nhưng không phải bus tour, có nghĩa là sẽ đi qua nhiều thành phố trên nước Nhật, trên xe không có phương tiện nhà vệ sinh. Trâm cảm thấy hãi hùng, làm sao giải quyết, khi cơn đau bụng nổi lên, không lẽ bĩnh ra sàn. Không được, chúng tôi cảm ơn thầy Giang đã chu đáo lo cho anh em, nhưng chúng tôi sẽ trở lại hotel Ginza và đổi vé về Mỹ, vì không kham nổi đường dài trong khi bụng thì quá yếu. Vũ văn Dũng nghe, anh ta nhảy vô, bảo là sẽ chữa chạy cho Trâm khỏi té re. Tôi không tin, vì là bác sĩ Canadien thật, nhưng thuốc men ở đâu mà chữa, trong khi cái gì bên Nhật cũng không đọc được. Dũng bảo chớ có lo, anh đã đem theo đủ loại thuốc cầm, thuốc trụ sinh và nhiều thứ khác có thể chữa bệnh cho Trâm. Dũng cũng giỏi không thua gì Bồng, trong 24 giờ là Trâm khỏi bệnh. Đuổi ông Tào Tháo về Tàu. Ơn bạn quá, tôi bèn lôi Giang, vợ chồng Dũng với vợ chồng tôi ra một tiệm ăn đãi bạn. Cách nấu ăn của nhà hàng Nhật làm tôi phát khiếp luôn, họ đem mấy xâu thịt gà ra rồi thịt gà sống nhăn, họ đưa cái đèn khò lên, cho chạy vài lần, ngọn lửa xanh um chỉ làm tái mặt miếng thịt mà không thể chín được, hãi quá, chúng tôi không dám ăn sống sít, bệnh té re mà tái phát thì chỉ có trời cứu. Đành nhịn đói mà nhường cho Giang và vợ chồng Dũng.

A group of men standing in front of a house

AI-generated content may be incorrect.

Bây giờ nói đến cái ngón tay cái cụt trong chiến tranh. Sau nhiều lần chữa chạy, ông bác sĩ Pournaras chịu thua, ông bèn giới thiệu cho tôi một bác sĩ “Prosthesis” từ bên Tây qua làm cho tôi một ngón tay giả bằng “Silicone”. Thoáng nhìn thì thấy không tàn tật, nhưng không cầm nắm được một thứ gì. Bạn cùng sở với tôi có một đứa con bẩm sinh có tật, không có ngón tay nào ở bàn tay phải, tất cả chỉ là một bàn tay trơ trụi, không cầm nắm được bất cứ thứ gì. Thế mà bà bác sĩ Elizabeth Morgan đã giải phẫu cái tay thằng bé, bà ta đã xẻ năm cái xương tay ở bàn tay ra làm 5 rãnh, xong bà ta lấy xương sườn của thằng bé làm thành năm đốt ngón tay hình cong, nó có thể cầm đồ vật và nắm quả bóng con con trong tay mà không tuột.

Bà Morgan cũng là một hiện tượng, bà là một bác sĩ lừng danh về giải phẫu, giao du rất rộng trong quốc hội cả Thượng viện lẫn Hạ viện, nhưng cũng rất mát và tạo rất nhiều ồn ào xôn xao cho dư luận. Bà phao tin rằng ông chồng bà là bác sĩ nha khoa Erick Foretich đã “sexual abusing” con gái chung tên Hilary mới có 2 tuổi, và bà chống lệnh tòa án, không cho chồng bà thăm con (1985), sau đó bà đã bỏ trốn sang Úc với người con gái. Nhưng trước đó, bà đã khám bệnh cho tôi, bà Morgan cầm cái bàn tay què của tôi nắn nót, sau đem so với ngón chân cái của tôi. Bà bảo tôi là cách hay nhất là bà sẽ chặt ngón chân cái của tôi, ghép vào ngón tay cái, vừa tránh được tàn tật, và làm được rất nhiều việc tiện dụng, còn cái ngón chân cụt, thì mang vớ đi giày đâu có ai thấy. Bà hẹn tôi hai tuần lễ nữa, lên nhà thương Baltimore. Tôi về bàn với vợ thì Trâm dãy nảy lên không chịu, nói rằng:
- Không thể được, tôi không thể sống với anh mà mỗi ngày ăn cơm thấy cái ngón chân cái bẩn thỉu của anh ở trên bàn, gớm quá, làm sao tôi ăn.
Thế là tôi toan tính trở lại xin hủy bỏ cái hẹn giải phẫu chặt ngón chân cái thay lên ngón tay cái, chưa đi thì bà bác sĩ Elizabeth Morgan đã bỏ trốn qua Úc mất rồi.
Tóm lại đời tôi là một cuộc đời, đẻ ra để chơi với bác sĩ, và dựa hơi bác sĩ. Có nhiều lúc cao hứng tôi muốn in một cái card visit với title: Đinh Hùng Cường “có toàn bạn là bác sĩ” cho oai. Nhưng vợ chửi cho là chuế, chỉ bá vơ, nên tôi đành bỏ đi. Năm xưa tôi lên thăm cụ Diễn, thần tướng, bác đã bảo tôi:
- Cường ăn hay, nói giỏi, đáng lẽ đã là luật sư, bác sĩ. Nhưng số Cường là số con rệp, nên đời chẳng đâu vào đâu.

Cảm ơn bác Diễn đã phán quá đúng về đời tôi, nhưng rồi con rệp Cường, nghĩ lại, được quen bác sĩ mà không được học bác sĩ lại là một cái hay. Tôi thấy bác sĩ khổ quá, cả đời sống cho tha nhân, không có thì giờ sống cho mình. Từ những lúc học hành vất vả, cho đến lúc thành đạt cũng đã mòn cả người. Rồi ra trường chữa bệnh, lo lắng cho bệnh nhân, sống lúc nào cũng quan tâm đến đời sống người khác, những bác sĩ sống ngoài mặt trận, như Trần Văn Tính, Trương Minh Cường, Phạm Gia Cổn, Nguyễn Quốc Hiệp v… v... đối đầu với cái chết, mà thâm tâm lúc nào cũng phải quan tâm đến sự an toàn của người binh sĩ, lập phòng giải phẫu tại nơi tiền tuyến, rồi mổ xẻ rồi chuyển bệnh, rồi cầm vận mệnh đời sống của họ, nếu chẳng may mình sơ sót điều gì gây chết chóc cho thương binh, thì mình bị lương tâm cắn rứt, mà phiền muộn trong lòng, không thể vui được. Bác sĩ dân sự cũng vậy, vừa trách nhiệm tới mạng sống bệnh nhân, vừa phải đương đầu với những việc làm căng thẳng và táo bạo để cứu mạng sống đời họ. Tất cả các bác sĩ dù là dân sự hay quân sự đều sống trong những nơi gọi là thảm cảnh của đời người, chăm sóc những người bệnh tật, trong nhà thương, trong phòng mổ, ngay cả khi trong nhà xác cho những cuộc thí nghiệm, thì không khí và đời sống u ám đã ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của họ. Làm sao hưởng hạnh phúc gia đình, khi mà ngày lại ngày sống chung trong những lo sợ, khắc khoải của những người khác, mà chính mình những cứu tinh của đời họ. Nghĩ lại thì tôi vô cùng cảm ơn những bác sĩ, không vì những giúp đỡ nhỏ nhoi cho tôi mà là những hy sinh to lớn, quý vị đã là những người tiền đồn giúp chúng tôi, chống bệnh tật, chống vi trùng và cứu giúp chúng tôi những lúc hiểm nghèo trong đời sống mong manh. Một lời biết ơn chân thành đến những bác sĩ đã dày công học hỏi, giúp chúng tôi khoẻ mạnh để kéo dài đời sống. “Lương y như từ mẫu”. Bài Viết dài quá rồi, tôi không thể kể hết những chuyện mà tôi có dịp quen biết với những bác sĩ như Hồ Chung Tú, Nguyễn Quốc Quân, Nguyễn Đức Tùng, Đặng Phương Thảo, Đặng Vũ Chấn, Đặng Vũ Phương Anh, bác sĩ Hội (Fl), Phạm Hữu Minh, Phạm Hữu Anh..v..v..
“Thanks to all doctors, including my youngest doctor Minh Châu Đinh Aka Michelle Tran.” and young Dr. Giang Ngọc Phương Nam, con gái của chị Sương, chủ báo HTĐ/Việt Báo.

Bài viết này để tri ân bác sĩ Trần Văn Tính và cảm ơn những bác sĩ đã cho tôi quen biết trong đời.

Viết xong tại Reston, Virginia April 13, 2025. Đúng 50 năm sau trận đánh ngày 13 tháng 4, 1975 tại Thủ Thừa Long An. Tôi đã chiến thắng quân thù nhưng bị thương nặng phải tản thương về Tổng Y Viện Cộng Hòa.

Quốc Thái Đinh Hùng Cường

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2026

Chuyện Con Mèo Friday

 
 
Hôm qua đọc bài “Ngủ Đi Lucky”, của anh Phạm Xuân Thái, anh kể câu chuyện con chó nhỏ của hai vợ chồng, sau nhiều năm được chăm nuôi, bỗng dưng nó bị Cancer, phải cho đi ngủ, gây xúc động và cảm xúc buồn phiền khá nhiều cho gia đình Thái Hằng. Tôi bỗng nghĩ đến con mèo vàng của vợ tôi. Nó không có được một cái chết an lành như chó nhỏ Lucky, mà nó đã chết trong bi thảm, gây khổ đau cho gia đình tôi không ít. Mà thật vậy, con vật mà mình nuôi sống trong nhà, nó thông cảm được những buồn vui của mình. Người Mỹ cũng nói, một khi người ta nuôi trong nhà như chó mèo, gà, cá làm “pets” thì những người đó được coi như có lòng nhân. Với tôi, lòng nhân đâu chưa thấy, mà khi con vật lăn ra chết, hay bị tai nạn thì mình lãnh đủ buồn bã, u sầu.

Thông gia với chúng tôi, anh chị Thanh Huệ có con chó nhỏ. Một hôm nó bứt xích chạy bay ra đường, thế là chiếc xe oan nghiệt đã không thắng kịp, cán con chó chết lăn quay. Chị Huệ thương con chó nhỏ đến mất ăn, mất ngủ, rầu rĩ vì nó. Ông Thanh thương vợ, phải đi mua ngay một cặp hai con chó nhỏ điền cho một con đã mất.

Câu chuyện con mèo vàng của gia đình tôi thì hơi khác, vì tôi thiếu lòng nhân, tôi chỉ thích có mèo, nhưng tôi lại không hề thích con mèo nào hết, nên mỗi khi con mèo vàng đến cửa xin ăn là tôi hù dọa đuổi nó, nhưng con mèo hoang này, cứ nằm trước cửa nhà tôi, nó biết khôn, mỗi lần thấy tôi, hay có khi chỉ thấy cái xe pick up của tôi đi về, là nó tự động lững thững đứng dậy, bước đi, con vật cũng cảm biết là tôi không ưa nó. Lý do nó xin ăn bởi chăng là nhà tôi cũng có một con mèo. Con mèo mướp này do cháu Tínị, xin của người bạn từ lúc nhỏ. Vợ tôi đã phải giúp Tínị đưa đi rút móng, chích ngừa, và làm thủ tục để sau này nó không đẻ được. Vì không có móng, nên nuôi nó trong nhà, không cho ra đường.

Con mèo vàng khôn ngoan, biết nhà tôi nuôi mèo, thì sẽ cho mèo ăn, nên nó cứ đều đặn nằm trước cửa nhà để xin ăn như một con mèo hoang. Cứ thế nó trở thành con vật quen thuộc nằm ngoài cửa, trong nhà thì con Mimi nhìn ra ghen ghét kình chống.

Mùa hè qua đi, mùa đông rét cóng đã trở về, ban ngày con mèo vàng vẫn đến cửa xin ăn, ban đêm nó đi đâu không biết, Trâm, vợ tôi thắc mắc là làm sao nó có thể chịu được cái lạnh thấu xương như thế này, nếu không muốn nói là toàn thân người nó có thể đông đá mà chết. Động lòng trắc ẩn, Trâm mở cửa cho nó vô trong nhà, trước sự ganh ghét và ghen tỵ của con MiMi, Con mèo vàng tỏ ra một con vật hiểu biết như người, nó biết phận ăn nhờ ở đậu, không giám lên giường lên ghế, chỉ thu mình trong góc nhà, hiền lành đợi đến bữa ăn. Thấy nó bẩn thỉu vì ở ngoài đường dưới gầm cống, vợ tôi lôi nó ra tắm. Con vật rét run, không dám chống cự, chỉ khi nào nước vào mắt vào tai, nó mới nhẹ nhàng lấy tay gạt ra, không hề cào cấu vợ tôi. Có những lúc nó nằm an nhàn trong góc nhà, lim dim hai con mắt lười biếng, thì đùng một cái con MiMi gào lên và nhảy bổ vào người nó, cào cấu túi bụi xong bỏ chạy. Cái hành động thù nghịch của con mèo mướp không làm nó tức giận mà chống lại. Vả lại con MiMi bị rút móng, tát nó chả thấm tháp gì. Nó còn nguyên bộ móng sắc bén, nhọn hoắt, nó chỉ cần quào cho một cái là con MiMi cũng nát mặt, nhưng không, nó chỉ dơ tay chống đỡ lấy lệ, không gây chiến, không rượt theo, nó nằm im, lim dim hai con mắt, ung dung nhường nhịn. Có một lần, nó đang nằm phơi nắng ngoài cửa nhà, thì một chú chó to ngoài đường, xổng xích, nhảy quẩng lên, chạy băng qua sân cỏ nhảy bổ về phía nó. Con mèo vàng phản ứng cực kỳ nhanh nhẹn. Nó bung mình lên, hai chân đứng thẳng như người, nhe nanh vuốt nghênh chiến chú chó tức thì. Con chó to xác, khựng lại, như đang bị chủ cầm cái xích dật nó. Nó không dám gừ một tiếng, lách mình chạy ra ngoài cho xa con mèo.

Trâm bắt đầu thích phong thái và đởm lược của con mèo vàng, từ hiền hoà chịu đựng, cho đến nhường nhịn con Mimi, nhưng nó can đảm và dũng mãnh sẵn sàng nghinh chiến để bảo vệ chủ quyền của mình. Trâm để tâm tìm hiểu con mèo vàng này. Nó không phải là con mèo hoang, mà là con mèo của nhà hàng xóm Martha. Tên nó là con Friday. Từ khi nhà Martha đem con chó nhỏ về nhà. Nó mất thế đứng, bỏ nhà Martha đi luôn. Bà Martha vẫn để đồ ăn trước cửa, nhưng nó không bao giờ về ăn. Đoạn tuyệt hẳn với nhà Martha, người chủ đã đem con chó về mà xuống cấp nó. Nó đến nhà tôi vì biết nhà tôi có nuôi mèo, nên không nỡ bỏ đói nó. Nó ở ngoài đường cả năm trước khi Trâm cho nó vô nhà, đổi tên nó là con CàRốt, vì người nó có nhiễu đám lông vàng pha màu thẫm như củ cà rốt.

Nhà Martha không đòi nó lại, vì biết có đòi về, nó cũng không ở, vì nó đã tị hiềm với con chó. Bà Martha rất mừng và cảm ơn Trâm đã cho nó một nơi nương tựa, làm bà bớt đi được cái áy náy, vì đã để nó phải sống những mùa đông băng giá ngoài trời.

Khi con cà rốt hội nhập với gia đình tôi, nó nhanh chóng nhận ra tên mới. Bất cứ ai gọi Càrốt thì nó cũng chạy lại, nhưng nó đủng đỉnh đi đến trong thái độ trả nợ quỷ thần, cái tinh thần ăn cơm chúa thì múa vậy thôi, chẳng thân thiện gì, nó đứng ý trước mặt một lúc, không xoa đầu, không vuốt trán nó, thì nó lại lủi thủi đi tìm góc xó nào đó mà nằm. Duy có Trâm thì khác hẳn. Khi nghe tiếng gọi tên nó từ Trâm, thì nó nhanh nhẩu chạy tới, dụi cái đầu vào chân, dí cái mũi ướt vào người làm cho Trâm dãy nảy lên. Nó thân thiện trườn mình tới lui bên chân chủ. Và sau đấy nằm phục ngay xuống cạnh chỗ Trâm ngồi. Nó tận hưởng cái hạnh phúc được thương yêu của người chủ mới. Đây là điều đặc biệt của nó đối với Trâm, những trưa hè oi ả, con Càrốt thích nằm phơi nắng, tai nó nghe những bước chân người, bất kể là ai, nó chỉ mở hai con mắt bằng hai sợi chỉ để nhìn, nếu là con tôi, hay là tôi thì nó thản nhiên khép kín hai con mắt nhắm nghiền ngủ tiếp, nhưng bất chợt hai con mắt nhỏ như sợi chỉ ấy phát giác là Trâm đi làm về, thì cho dù đang ngủ ngon cách mấy, con Càrốt cũng đứng dậy, ngoe nguẩy cái đuôi, chạy theo Trâm vô nhà.

Khi con Càrốt về ở với Trâm nó đã có tuổi đời 10 năm sống. Thời gian đó với con mèo thì cũng bằng đời người sống trên 100 tuổi. Với tuổi tác chồng chất, với những năm tháng sống vật vờ ngoài trời sương gió, với cái lạnh tê người. Con Càrốt đã già đi và xấu xí, mình nó dài ngoằng như cái dải khoai, thân thể còm nhom ốm tử. Cái bụng dù ăn bao nhiêu cũng xẹp lép. Đã thế nó lại mắc bệnh ung thư mũi. Cái mũi ướt cứ chảy máu hoài. Cháu Cún tốn với nó cả bạc ngàn, đem đi bác sĩ thú y, cả giải phẫu nữa, con Càrốt vẫn không khỏi, bác sĩ Thú Y khuyên là cho nó đi ngủ. Trâm, và mấy đứa nhỏ không chịu, vẫn đem về săn sóc cho nó sống. Cháu Minh Châu ngày đó mới học trung học, mà cháu rất bạo tay. Minh Châu bế nó trong lòng, lấy bông băng lau chùi rửa mũi cho nó mỗi sáng, nó đau lắm, nhưng chỉ khẽ kêu meo meo, và nhẹ nhàng lấy móng đẩy nhẹ tay Minh Châu ra. Khi mũi nó bớt chảy máu, cháu Cún (Uyên) quyết định đem đi bác sĩ người chữa cho nó, vì bác sĩ thú y đã chê rồi. Bác sĩ Uy trẻ tuổi, tài cao đã dùng thuốc trụ sinh chữa cho con Càrốt, thế mà nó khỏi.

Cuộc đời thăng hoa, chúng tôi từ Reston sống trong căn nhà 2,400 Sq. Feet, dọn vô Great Falls, căn nhà nằm trên hai mẫu đất, lớn hơn gấp 5 lần cái nhà ở Reston. Điểu nghịch lý là nhà chật thì người đông, mà nhà rộng thì người thưa. Con cái đã đi hết, đứa đã ra trường thì ở riêng, đứa thì đi đại học ở xa nhà, còn trơ thổ địa, chỉ hai vợ chồng sống với con CàRốt. Con Mimi thì đã mất tích từ ngay ngày đầu, Khi thả hai con mèo xuống, tôi sơ ý, không đóng cửa lại, Con Cà Rốt bỏ thì giờ đi từng phòng xem xét cái nhà mới, còn con Mimi thì hoảng hốt tung mình chạy băng vào rừng. Tôi đuổi theo không kịp. Tìm nó suốt đêm mà nó vẫn biệt vô âm tín. Vì là con mèo đã bị rút móng, nó không có gì để tự vệ, có thể nó đã bị con chồn hay con cáo ăn thịt mất rồi.

Bây giờ, không phải hai người một căn nhà nhỏ, mà hai người sống trong căn nhà to tổ bố. Nhà to quá, Trâm cứ dính tôi như sam, vì lúc nào cũng sợ ma, không có tôi thì ôm con Càrốt. Nó là một con mèo có nghĩa, lúc nào cũng quấn quýt vợ tôi. Mỗi khi nghe tiếng xe của vợ tôi đi làm về, là nó chạy ra ngoe nguẩy cái đuôi chào, và lững thững theo chủ vô nhà. Nó hay lắm, nó phân biệt được tiếng động của xe cộ, biết tiếng xe nào là của vợ tôi, vì nhiều hôm tôi đi làm về, nó biết không phải Trâm, thì nó thây kệ, nằm ngủ phơi nắng, không thèm cả mở mắt.

Con Cà Rốt đã được 13 tuổi năm, đời sống con vật 13 năm, có thể dài bằng con người sống thọ 140 tuổi. Nó đã già yếu lắm rồi, bước đi chậm chạp. Tôi bỗng thương nó, muốn cho nó ra vô phơi nắng cho gần. Tôi bèn đóng cho nó một cái “clubhouse” nho nhỏ ngay trong cái garage con. Làm cửa, lót “insulation” ấm áp cho nó nằm. Vì thương nó mà tôi đã giết nó.

Một buổi chiều bắt đầu mùa đông, trời cũng đã se sắt lành lạnh, tôi phải có hẹn với anh Sơn Tùng và một hai người bạn để bàn việc giúp hội nạn nhân Cộng Sản thành lập một tượng đài tưởng niệm. Trâm phải đi Alexandria gập khách hàng và nhờ tôi lấy xe của Trâm đi lên Ashburn chở một số đồ về. Vội quá, vì tôi về hơi trễ, trời lại lất phất mưa, tôi đã tông đại chiếc xe của Trâm vô garage, rồi đổi xe phóng lên tiệm ăn Saigon House ở Falls Church theo hẹn. Chúng tôi đang chờ đồ ăn, và bàn chuyện, thì phone của tôi reng, Tôi vừa móc cái phone ra khỏi túi đã nghe Trâm khóc nấc lên từng cơn, và bảo tôi phải về ngay, con Càrốt chết rồi. Tôi bàng hoàng cả người, lúng túng đứng lên thì Sơn Tùng hỏi tôi chuyện gì?
- Con mèo nhà tôi chết, vợ tôi kêu tôi phải về ngay.
- Tưởng gì, con mèo chết thì có gì quan trọng, ngồi xuống đây họp thêm vài phút.
- Không được anh Sơn Tùng, bà vợ tôi khóc quá trời đất. Tôi phải về ngay. Thức ăn của tôi, anh lấy “to go” đem về nhà ăn, còn tiền bạc thì xin anh thanh toán dùm.
Nói xong, tôi vội vã ra cửa, quên cả chào người bạn và anh Sơn Tùng.
Tôi chạy như bay như biến, về đến nhà, thì thấy cả nhà chộn rộn, vợ chồng Phị từ D.C. chạy xuống, Bà mẹ Trâm và cô em từ Chantilly qua, mọi người cứ nhao nhao cả lên, chỉ trỏ nói con Càrốt chết nằm dưới gầm xe. Trâm vừa khóc vừa nói:
- Ngay khi đi Alexandria về, trời cũng hơi tối, không thấy con Càrốt chạy ra đón như thường lệ, hơi lạ nhưng khi em lên tiếng gọi nó thì không thấy đâu cả, phần vội, phần đói, em cũng quên bẵng nó đi, vội vã vô nhà lo bữa ăn chiều. Thời may con Cún ở đâu chạy về, em nhờ nó chạy tìm con Càrốt. Cháu Cún (Uyên) vừa đi vừa réo con Càrốt, nó đi ngay cả vô bìa rừng mà gọi cũng không thấy con Càrốt đâu. Bất chợt, như linh cảm điều gì, Cún (Uyên) nhìn dưới gầm xe thì thấy ngay con cà rốt nằm chết ở đó.

Một điều báo trước lạ kỳ, là trước đó hai tuần, giũa nửa đêm, tôi bỗng nghe Trâm khóc vang trời, dật mình tỉnh dậy, tôi hỏi:” Nằm mê gì mà khóc dữ vậy?, mở mắt rồi mà vẫn còn khóc”, Trâm càng khóc to hơn và nói:
- Anh ơi em nằm mê con Cà Rốt nó về báo mộng cho em là nó chết”.

Tôi chưa kịp nói gì thêm, thì cánh cửa phòng ngủ mở bật ra, Tínị và Minh Châu ùa vào hỏi cái gì mà mẹ khóc quá vậy. Thì ra đúng lúc đó sau nửa đêm, hai đưá con tôi cũng từ trường William & Mary về thăm nhà. Trâm lại càng khóc to hơn và than với Tínị và Minh Châu là mình mới nằm mê là con Carốt chết. Điều kỳ lạ không giải thích được là câu chuyện nằm mê hai tuần lễ trước đã xảy ra ngày hôm nay. Trong lúc mọi người ở trong nhà kể lể, tôi ra nhà xe, lôi con Càrốt ra, thì thương ôi! thảm quá, chiếc xe đã đụng nó chết lòi cả hai con ngươi. Tôi thương nó ứa nước mắt và ân hận trong lòng là đã quá vội vã để đâm nó chết. Số là khi tôi chạy xe của Trâm về, nghe tiếng xe quen thuộc, con Càrốt nghĩ là chủ về, chạy ra đón, và đã bị xe tông.
Tôi bế nó lên, bỏ vội vô cái bao rác, vì tôi không muốn cả nhà thấy nó trong một hình ảnh vô cùng thảm hại hãi hùng. Và tôi cũng thấy ngay một cái thùng đan bằng mây gần đó, đủ cho nó nằm, tôi bỏ nó nằm vô đó, xong mới kêu cả nhà ra. Trâm nói:
- Đúng là con Càrốt đã báo mộng cho em trước khi nó đi. Tội nó quá, nó thích nắng, anh hãy chôn nó ngay hướng mặt trời, cạnh cái garage, để nó được hưởng nắng ấm mỗi buổi sáng, và em thấy nó mỗi buổi chiều khi đi làm về.

Từ đó vợ tôi thưòng thương và khóc nó, Hàng năm cứ đến ngày nó chết, vợ tôi thắp hương cho nó suốt 10 năm ròng rã ở trong Great Falls. Phần tôi thì bị dày vò vì đã vô tình cán chết con Càrốt. Tôi thương con vật có nghĩa, và nghĩ rằng tôi đã tạo nghiệp, dù vô tình hay cố ý, tôi cũng sẽ phải trả đền cho nó. Đó là luật trời, luật nhà Phật. Tôi cảm khái kể câu chuyện này vì bạn Thái đã thương con chó Lucky của chị Hằng mà viết bài, và trong khi viết lại cho Thái về con mèo, tôi cũng nhớ thêm hai điều : Tôi không sao quên được cái thái độ của nhà văn Sơn Tùng buổi chiều hôm đó. Trong lúc tôi hốt hoảng đứng dậy đi về, thì tôi thấy anh Sơn Tùng mặt mày thản nhiên, không vẻ gì xúc động khi tôi nói con mèo của vợ tôi đã chết. Phải chăng anh đang nghĩ, anh cần tôi bàn chuyện giúp cho linh hồn 100 triệu nạn nhân đã bị cộng Sản sát hại, trong đó có một triệu người Việt Nam, cho những kẻ bất hạnh này, có một tượng đài để kỷ niệm tại D.C. Nó cần thiết, nó quan trọng, xá gì một con mèo chết mà phải cuống quýt ra về. Tôi hiểu, tôi không giận anh Sơn Tùng, vì tôi cũng nghĩ tới một thằng bạn đã chết. Thằng Lê Thiệp bảo tôi khi nó đi học báo chí ở Việt Nam, nó so sánh cái răng đau và quả bom nguyên tử.
- Khi con người có cái đau đớn của cái răng trong miệng, thì cái đó quan trọng hơn quả bom nguyên tử vừa nổ trên Địa Cầu.

Câu chuyện thứ hai là chuyện con chó chết của một anh bạn, anh Bang, anh nguyên là kỹ sư ở mỏ than Nông Sơn, bây giờ thì anh ngon lắm, con trai anh đã lấy con gái Nguyễn Tấn Dũng ở Việt Nam. Khi mới tị nạn đến đất Mỹ, vào những năm 75-76, anh Bang có cái garage ở Falls Church, nằm trên đường Wilson.
Một hôm, anh đang lúi húi sửa xe, thì con chó của anh chạy băng ra đường bị xe cán.

Mải mê công việc, anh đâu có biết, đến khi biết được, chạy ra, thì trong đám đông có một bà ăn mặc sang trọng mắng anh là người ác độc, chó của mình bị cán mà không lo. Nói rồi, bà tội nghiệp con chó đang nằm thoi thóp, bà đã khóc và cởi cái áo choàng đắt tiền đang mặc, đắp cho con chó và tự động gọi xe cứu thương, chở con chó vô nhà thương. Bác sĩ loay hoay, không cứu được, chuyển qua nhà xác, con chó được hỏa thiêu. Anh Bang nhận hai cái bill, một cái từ nhà thương, một ngàn dollars. Một cái từ lò thiêu năm trăm đồng nữa. Và hai kỷ vật. Một cái lọ đựng tro con chó, một cái card chia buồn của bà nhà giàu đầy lòng nhân, đã cởi áo đang mặc đắp cho con chó. Anh Bang vừa đau vừa tức. Đau là vì một con chó chết mà tốn bạc ngàn. Người Mỹ làm chuyện tào lao. Người vượt biển tìm tự do chết hàng loạt trên biển, đói khổ khốn nạn trên đảo. Sống chui rúc khổ cực, bệnh hoạn, đói rét thì không lo cứu. Con chó là con vật mà làm chi dữ vậy.

Phải chăng cái văn hoá khác nhau, hay người ta không thấy quan tài, người ta không đổ lệ.
Viết để xin lỗi vợ hiền Lê Ngọc Trâm vì đã làm tắt đi một niềm vui.
Sau hết là nhớ con Càrốt, một con vật có nghĩa, đã bị chết bởi sự bất cẩn của tôi.

Quốc Thái Đinh Hùng Cường.

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2026

Đi Cho Biết Đó, Biết Đây


Jordan & Egypt. Nov. 2025

Chuyến du hành cuối đời tưởng hên mà xui. Hên là con lớn cho tiền, nhưng bất hạnh triền miên đổ lên đầu, bắt đầu từ ngày thứ hai, FAA đã hủy bỏ không biết bao nhiêu là chuyến bay, trong đó có chuyến bay của chúng tôi đi NY. Cháu lớn đã nhanh chóng tìm giải pháp, trong khi đó hai người bạn tốt là chị Mai Anh và anh Vũ An Thanh cũng tìm cách giúp đỡ, như khuyến khích đi Amtrak lên NY hay nhờ Uber Việt Nam, đắt đỏ tí chút nhưng giải quyết được công việc. Thời may, văn phòng du lịch đã sắp xếp cho chúng tôi đi trước một ngày thay thế cho chuyến máy bay bị hủy bỏ ngày hôm sau.

Thăm Jordan: Ngày N (November 11, 2025)

Đoàn chúng tôi thật ngon lành, cho dù là Mỹ giấy, chúng tôi vẫn được tiếp đón ân cần. Một người từ bộ ngoại giao cổ cồn cà vạt trịnh trọng chào mừng, ông ta thu hết “passports” đi làm thủ tục, chúng tôi chả bị khám xét gì cả, ông ta dẫn đi phăng phăng qua các cửa ngõ quan thuế, đến một cái “Carousel” đang chạy vòng vòng lấy hành lý, Ra khỏi phi trường đích thân ông ta lên chung cái xe “bus” thênh thang, trả
lại thông hành, giới thiệu, người tài xế, người dẫn đường tên Mohamed và một cảnh sát viên sắc phục mang súng tiểu liên bên hông. Đến hotel, người hướng dẫn nói tiếng Anh rổn rảng rõ ràng, anh bắt đầu chỉ dẫn, lo giấy tờ và phòng ốc, hành lý, trong khi người cảnh sát lo an ninh điều hành xe cộ.
Trước khi chúng tôi lấy chìa khóa lên phòng, người đại diện chính quyền chào từ giã chúng tôi và nói đùa:”
- Quý vị được đối đãi tử tế vì anh Thắng đây đã là công dân nước Jordan”. Sự thực ra thì anh Thắng cho biết:”
- Du lịch là một trong những kỹ nghệ lớn của Jordan, hàng triệu du khách tới đây hàng năm, do vậy họ đặc biệt lo an ninh, nhất là người Mỹ và người Nhật Bản là chính quyền phái cảnh sát đi bảo vệ ngày đêm trong suốt những ngày ở Jordan, trên xe bus, các nơi thăm viếng và ngay cả trong hotel.

Tôi trộm nghĩ đoàn chúng tôi toàn mít, làm gì có Mỹ mà cần bảo vệ, nhưng nghĩ lại, bé cái lầm, Mít chúng tôi ở Mỹ lâu năm, nói tiếng Anh, đi đứng trật tự, kỷ luật trong đám đông, không dành giật khi ăn uống, có khi quân khủng bố lại lầm là người Nhật mà chúng xơi tái đi thì cũng chết. Thôi thì chúng có tưởng là Mỹ hay Nhật cũng vô hại, luôn luôn có cảnh sát bảo vệ ngày đêm cho những công dân ở hai quốc gia này.

Ngày (N+2), chúng tôi dời hotel chung với “tour guide” và cảnh sát, anh Thắng chỉ còn là trưởng đoàn lo giờ giấc, điểm danh. Mohammed đã xử dụng âm thanh trên xe, nói về lịch sử, cái hay cái lạ của Jordan cho du khách. Anh ta nhắc lại cuộc chiến 6 ngày với Do Thái đã làm Jordan mất đi thành phố Jerusalem, làm tôi nhớ lại năm 1967, Tổng thống Anwar Sadat của Ai Cập đã đầu nậu liên minh nhiều nước, trong đó có Jordan bất ngờ tấn công Do Thái, vào lúc đó thủ tướng Do Thái đã đặt ông Moshe Dayan, tướng độc nhãn (Một Mắt) làm tổng trưởng quốc phòng, nhưng táo bạo nhất là trung tướng Ariel Sharon, đã đơn phương dẫn nguyên một sư đoàn thiết giáp vượt sông tấn công bất ngờ vào liên minh Ai Cập, chỉ trong sáu ngày trời, sư đoàn thiết giáp của Ariel Sharon đã dẹp tan liên quân, chiếm luôn bán đảo Sinai và Jerusalem của Jordan. Sự thật tướng Moshe Dayan là người quá nổi tiếng, nên báo chí truyền thông đề cao, trên thực tế là sự liều lĩnh của Sharon đã tạo một thế quá bất ngờ, khối Ả Rập trở tay không kịp, bị tổn thất nặng nề và Tổng Thống Anwar Sadat mất đi 1 người con trai yêu dấu và Quốc Vương Jordan mất đi một địa danh nổi tiếng là Jerusalem.

Trở lại thực tại là tôi đang đi trên quốc lộ chạy dài từ thủ đô Amman toàn là xe hơi chen chúc, không có một chiếc xe gắn máy nào chạy trên đường, tuyệt nhiên không có Honda, Suzuki, TWN hay Harley. Rồi tất cả nhà cửa hai bên đường tôi cũng không hề thấy một căn nhà riêng rẽ (single home”) tất cả toàn những chung cư xây rải rác suốt dọc hai bên quốc lộ, bên trong là sa mạc mênh mông, không thấy một cọng cỏ. Tôi đem những thắc mắc này ra hỏi Mohamed thì anh nói rằng:”

- Cái lý do không có có nhà riêng trong thành phố, và nhiều nơi trong quốc gia Jordan vì đất đai ở đây vô cùng mắc mỏ, 1,000 thước vuông đất ở đây giá cả triệu USD ( đô la), do đấy không thể xây nhà riêng mà phải cất lên chung cư cho nhiều gia đình cùng ở.
Khí hậu vùng sa mạc, ngày nóng, đêm lạnh nên luật lệ Jordan là phải xây nhà bằng một loại đá vôi (Limestone) cản nhiệt ban ngày và chống chống lạnh ban đêm
Có một điều chúng tôi thắc mắc, tự hỏi mãi sau mới tự tìm ra là tại sao người ta xây những cao ốc mà rất ít cửa sổ? Toàn những tưởng kín mít, sau rồi mới vỡ lẽ ra là sa mạc hay có bão cát, cửa sổ sẽ làm cho bão thổi vỡ cửa kính phủ cát đầy nhà nguy hiểm tới tính mạng.

Nhà không cửa sổ

Những loại xe gắn máy ở Jordan không phải là phương tiện giao thông mà là xa xỉ, chỉ những người giàu có mới xin được giấy phép mua và chạy chơi.

Trên con đường hun hút chạy sâu vào lãnh thổ Jordan, nhà cửa thì toàn chung cư ảm đạm, không màu không sắc, không đèn đường. Có những đoạn trên xa lộ tôi thấy hàng đàn gia súc đi theo hàng dọc, không có một cọng cỏ mà gặm, không có miếng nước mà uống, nhưng loài vật đói khổ không thấm lòng ta, nhưng khi qua một khúc quanh trong thành phố, tôi đã thấy một đoàn dân du mục (Gypsies), giăng lều, mắc võng sống tạm bợ bên lề đường, đồ đạc, chăn nồi, chiếu


gối la liệt trong những cái lều bằng vải cũ mèm rách nát, họ sống như vậy, ban ngày chịu mưa băm, nắng đốt. Ban đêm thì gió lạnh buốt từng cơn chui vào da thịt trong cái khí hậu sa mạc bất ưng. Chúng tôi cũng là con người, sống ở Mỹ, tuy không đẻ bọc điều, mà còn đã đau khổ trong chiến tranh, nhà tan cửa nát ở VN, có cái may đến Mỹ, vùng đất hứa, làm việc cần cù, cuối đời có tí tiền mà đi du lịch tới nơi này. Bỗng lòng tôi tự hỏi, liệu có bao giờ, những người du mục bất hạnh kia có được phút mở mặt, mở mày như chúng tôi, hay sống âm thầm trong đói khổ, chết trong bệnh tật, tối tăm? Tôi nhủ lòng, thương người, nhưng không thể làm gì để giúp, một khi thấy người khổ đau, vợ chồng tôi đều bảo nhau giúp họ tí chút để gọi là an ủi, và nhắc mình là cũng đã khốn nạn như người ta mà nay mát mặt thì làm ngơ sao đành!

Ngày (N+2), Chúng tôi dời khách sạn, thông thường thì trong chuyến đi này chúng tôi đi quá nhiều chỗ, ở quá nhiều nơi, cho nên một ngày đi là một ngày không trở lại.

Đến thành phố Madaba nổi tiếng về đá khảm (mosaic), chúng tôi vào một xưởng làm tranh, thảm, nghệ thuật vô cùng tinh xảo, Mohammed dắt vô ngay “workshop” công việc làm thật là phức tạp, cầu kỳ. Từng bước một, đầu tiên họ họa trên vải một

bức hình, một di tích lịch sử hay một bông hoa với đầy đủ màu sắc, sau đấy những người thợ chuyên môn, cần cù phải dùng kìm bấm, cắt từng miếng đá nhỏ như hột gạo, hình màu nào thì đá màu đó, xong rồi cho keo dán lên mặt vải, công việc tỉ mỉ, kiên nhẫn vì những cục đá hạt gạo phải được xếp vô cùng khéo léo, nghệ thuật. Cả

một xưởng có đến mấy chục người, từ họa sĩ, chuyên viên và nhân viên, ai ai cũng im lặng chăm chú vào công việc, không ồn ào, không đùa bỡn. Bước sang phòng triển lãm mới thấy, công việc làm đầy công phu và nghệ thuật, giá cả không rẻ, nhưng vừa túi tiền du khách, từ những món đồ ít tiền tới những bức tranh nghệ thuật giá lên tới trên mười ngàn US đô la.

Tảng đá tạc tượng Mose

Khi du khách đã lên xe, điểm danh thì thiếu vợ tôi, người đàn bà thích nghệ thuật nhưng lại muốn mua hàng giá rẻ, nên cứ cò kè bớt một thêm hai làm cả xe phải ngồi chờ. Riêng tôi thì trộm nghĩ, các cụ ngày xưa, đâu cần trèo đèo cao, núi thẳm tìm thầy học đạo Nhẫn, cứ xin vô đây làm nhân viên, sau 10 năm thì đã học được đạo VẠN NĂNG ở đời rồi. Còn gì nhẫn hơn là ngày lại ngày kiên trì cắt những miếng đá, nhỏ bằng hạt gạo, hình dáng vuông vức, đều đặn sắp xếp hàng ngàn hàng vạn miếng nhỏ li ti thành một bức tranh nghệ thuật.

Trên đường đi đến Mount Nebo là nơi Kinh Thánh có ghi là Mose và đoàn người Do Thái đi tìm Đất Hứa đã dừng chân. Một khung cảnh thiên nhiên, hùng vĩ, một khối đá to sừng sững ngay trên đường đi, tạc bức tượng tưởng niệm (Memorial of Mose), ông này là người duy nhất được Thiên Chúa chọn để nói chuyện với ngài, và qua Mose Thiên Chúa đã chỉ vùng đất hứa cho người Do Thái, nơi màu mỡ, có thung lũng sông Jordan, Biển Chết (Dead Sea),, Jericho và đồng ruộng, tiếc thay nhà tiên tri Mose đã thấy, mà không đến được, ông đã chết trên con đường đi tới đó vì ông đã già tới 120 tuổi. Tưởng cũng nên nhắc lại tí chút về ông,

Mose là người mang dòng máu Do Thái, bà mẹ không nỡ giết con vì lệnh vua (Pharaon) Ai Câp, bà đã thả đứa bé trôi sông, được một công chúa Ai Cập cứu sống, trở thành một hoàng gia Ai Cập, khi lớn lên ông lỡ tay giết người nên phải trốn đến bán đảo Sinai, Mose là người có tài tổ chức quân lính, nhưng sau ông nghe được lời gọi của thiên chúa, mặc khải chỉ dẫn cho ông trở về Ai Cập, để dẫn dắt đàn dân Do Thái của ông đi tìm vùng đất hứa, ông đã cùng đoàn người Do Thái đi qua bán đảo Sinai vào vùng hoang vu trong sa mạc và ở đó cả 40 năm trước khi đến được thung lũng Beth Peor. Đặt chân tới đây, khung cảnh mà từ trước tới giờ, du khách chỉ tìm thấy qua sách vở, phim ảnh, nay hiện ra trước mắt những di tích lịch sử của cả ba, bốn ngàn năm, thì niềm hân hoan không sao kể siết. Chưa hết, khi lên tới đỉnh Nebo, một ngôi giáo đường to lớn Byzantine được xây dựng cũng được đặt tên “Moses Memorial Church”. Trước mặt giáo đường là một di tích lịch sử. Một nghệ sĩ người Ý Đại Lợi đã làm một cây thánh giá, có con rắn bằng đồng quấn quanh (Serpentine cross), Cây thánh giá tượng trưng cho chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thập tự giá, con rắn bằng đồng tượng trưng cho câu chuyện huyền thoại về Mose, đã cho làm con rắn để cứu sống những người bị rắn độc cắn trên đường đi tìm đất hứa. Điểm lôi cuốn du khách đến vùng này như bị hút vào khung cảnh của hàng ngàn năm, từ những di tích còn hiện hữu , cho đến khung cảnh hoang sơ như thuở khai thiên lập địa đã dẫn dắt du khách như bước vào vùng quá khứ mà mơ hồ tưởng mình hiện hữu trong thiên niên lịch sử.

Serpentine cross

Thuận buồm xuôi gió, chúng tôi tiếp tục xuôi Nam, theo dòng xe cộ đến Petra, vùng kỳ quan thiên nhiên của Jordan, là một vùng núi đồi nằm về phía nam, nối liền giữa hai biển Hồng Hải (Red Sea ) và biển Địa Trung Hải (Mediterranean), đồng thời Petra cũng gần như là điểm nối liền của hai lục địa Á Châu (Miền Trung Đông) và Phi Châu (Bán đảo Sinai), nhờ vào vị trí thuận tiện như vậy, thời đó Petra trở thành giao điểm liên lạc văn hóa, thương mại hết sức quan trọng vào đầu thế kỷ trước công nguyên (First Century BC). Với vị trí quan trọng, Petra đã là nơi mà các đế quốc tranh chấp, dành quyền chiếm giữ, cho đến hai ngàn năm sau (2001), Thụy Sĩ (Swiss) nêu tên Petra là một trong 7 kỳ quan của thế giới.

Petra nằm trong một hẻm núi, hình dáng cong tròn cho du khách thấy đường đi của gió qua mấy chục ngàn năm, là người bị đau đầu gối tôi không thể lết hai cái chân què, chống gậy mà theo đoàn, một người cảnh sát đi hộ tống đã đẩy tôi lên một chiếc xe, may thay trên xe chỉ có một cặp vợ chồng, lợi dụng xe vắng, tôi đã chi rất ngọt cho người tài xế, anh ta đã không chạy phăng phăng trên đường, mà chậm rãi, ngừng lại những khúc quanh, những hang động, những bức tượng từ ngàn năm do thổ dân khắc lên núi đá để thờ, những ngôi mộ hình thành do những tảng đá đục đẽo vuông vắn.

Điểm tân kỳ mà người lái xe đã chỉ cho tôi là một cái rãnh ở dưới triền núi. người ta từ bao ngàn năm trước đã biết đục đá làm thành một cái rãnh như máng xối, chạy theo núi đá thiên nhiên, dẫn nước mưa từ trên những ngọn núi, chạy theo thung lũng dẫn đến một ngôi đền thờ, từ 5 ngàn năm mà kiến trúc của người Ai Cập đã hiện diện tại đây, du khách đã kinh hoàng khi thấy một cái nhà mồ khổng lồ đại đã được đục đẽo vào núi để làm mồ chôn hoàng đế của dân Nabatacan, nhưng rồi sau đó dân chúng đã biến nó thành một cái đền(Temple), quanh đó một cái rạp hát ngiài trời với khán đài hình vòng cung được đục đá làm thành, vẫn vững vàng trước mưa gió hàng ngàn năm, rải rác chung quanh là những hang đá bên trong là những nhà ở của người dân, một con đường dài hun hút mà người ta tin tưởng rằng từ thế kỷ 1 trước công nguyên, con đường này là huyết mạch buôn bán của những thổ dân thời đó, tới nơi đây du khách có cảm tưởng được hiện diện tại một vùng đất tồn tại qua hàng bao thế kỷ trước . Chúng tôi thật lưu luyến dời một di tích vô cùng cổ kính, để đi thăm vùng

Công trình này khắc đá vô núi từ 5000 năm trước

biển chết (Dead Sea), cũng vẫn nằm trong lãnh thổ Jordan, nó là một biển thiên nhiên rất mặn, ngày nay là biên giới của hai quốc gia Do Thái và Jordan. Biển Chết không rộng lắm, khoảng 600 cây số vuông, và nó bắt đầu cạn dần, trong khoảng trăm năm nữa, nếu không có kế hoạch, thì biển sẽ bị khô đi không còn nước, Điều đặc biệt là nước biển rất mặn, có một tỷ trọng rất cao, cơ thể chúng ta nhẹ hơn nên khi xuống nước nó cứ nổi lình bình mà không chìm. Khi hãng du lịch nói là du khách nên mang "sandal" đi tắm biển, lời nói mơ hồ làm tôi nghĩ mình có thể đi đất, không cần giày dép. Thật là sai lầm khi bước xuống, những nước biển đã hòa lẫn với đá sạn biến thành những cục đá muối trong veo bén nhọn như thủy tinh, cắt đứt chân tôi, máu chảy ròng ròng, đã đến đây thì không thể không tắm, bất chấp chân đau, trời lạnh, Trâm vợ tôi giúp cho đôi dép, tôi cố gắng lê đôi dép nhật mà men theo bờ xuống nước, gặp hôm gió lớn, tuy là biển chết, nhưng nó trông cũng mênh mông, sóng vỗ dạt dào. Một cơn sóng nhẹ làm tôi văng đôi dép, và từ đó tôi ngã lăn xuống nước, đã được dặn dò từ trước, tôi giữ mình nằm ngửa, không cho nước vào mắt vào mồm và cứ thế, thân mình tôi dập dình theo con sóng, nổi lình bình trên mặt nước, không làm sao quay sấp mình lại để bơi vào bờ, tôi cố gắng cách nào cũng vô vọng, may phúc mà người ta đã tiên liệu việc này, họ cho chăng giây, nếu không thì gió đưa sóng đẩy đã trôi tôi ra khơi mà bất lực với nước biển ở đây.


Qua nhiều phút kinh hoàng, tôi bắt đầu bình  tĩnh trở lại, biết mình sống nổi, không chìm, tôi bèn nương theo sóng, rồi tay múa, chân đạp, tôi đã vô được bờ, nhờ đám đá sạn, tôi đã dựa cái lưng vô đó, chịu đau, chịu chảy máu mà ngồi dậy được, đôi dép đã mất rồi, chân đau buốt không thể đi trên muối, trên đá sạn, may sao một người an ninh đã thấy, anh ta nhảy xuống lấy đôi dép đang dập dình sát bờ, đi vào chân giúp tôi đi lên, tiện thể, anh ta trát bùn vào người tôi kín mít, phơi khô tí chút rồi lấy nước ngọt tắm rửa cho tôi, tôi bị thương tích và trầy trụa khắpngười, nhưng cũng đã khám phá ra rằng những gì người “tour guide” nói là trúng, cái giá phải trả là đã không nghĩ là nước biển ở đây đã giữ được con người không cho xoay sở lăn lộn mà phải trôi theo giòng.

Trở lại Amman thủ đô Jordan, ngay trung tâm thành phố có một rạp hát cổ xưa ngoài trời, một rạp hát xây hình vòng cung kỳ lạ, có một điểm người ta đánh dấu trên sân, nếu bạn đứng ngay đó mà phát ngôn, thì âm thanh sẽ vang ra cả hội trường, không cần máy. Tôi bèn thử liền miệng tôi như cái lệnh vỡ, hô vang một tiếng mà âm vang cả khoảng không gian của rạp hát, bên cạnh đó chúng thăm thêm thần thờ thần Hercules, người có sức khỏe siêu phàm gốc Greek,


Ngày N+6. 

Dời phi trường Amman chúngtôi bay qua Cairo thủ đô Ai Cập, một nước có nền văn mình tối cổ với 130 triệu dân số. Riêng thủ đô Ai Cập cũng đã có đến 12 triệu dân. Là một nước sống trong vùng sa mạc, do đấy toàn bộ quốc gia Ai Cập tập trung dọc theo sông Nile, một con sông dài hơn sáu ngàn cây số bắt đầu từ Phi Châu chảy qua 11 quốc gia, qua Ai Cập và đổ vào biển Địa Trung Hải. Chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình đi đến thành phố đầu tiên là Alexandria phía nam. Trên hơn bốn tiếng đồng hồ di chuyển trên đường, khác hẳn với Jordan, cây cối, gia súc, vườn cây đã xuất hiện hai bên đường, dân tình sống rất xô bồ, nghèo nàn, có một điều lạ là xe gắn máy, xe ba bánh như loại xe Lam VN trước 75 chạy nhan nhản rước khách trông thật vui mắt.

Xe cộ thì khỏi chê, xa lộ hay đường phố chỗ nào cũng chật ních, thi nhaubóp còi inh ỏi, bộ hành muốn qua đường tiểu lộ cũng như đại lộ cứ phục ngay lề đường, vãn xe cộ thì đắt nhaut ừ từ len lỏi chặn đầu xe mà qua. Một điều đáng nói ở đây, khi chúng tôi đến hotel Cecile ở Alexandria Egypt, thì quả thật thiên đàng địa ngục hai bên, nơi vườn hoa, những người nghèo khó ngủ bờ ngủ bụi, dân chúng buôn bán như VN trước 75, người nghèo thì nướng bắp, bán nước, bán bánh kẹo.

Dưới vỉa hè thì người qua lại tấp nập. trên bờ tường, nhiều gia đình, nhiều cặp tình nhân ngồi tình tứ cùng nhìn ra biển đen ngòm hưởng cái mát của mùi gió biển. Bên kia đường giữa dòng xe cộ với ánh đèn và tiếng còi bóp liên hồi là những nhà hàng bán đồ bách hóa, sách vở, âm nhạc..v.v. tạo cho tôi niềm nhớ về Saigon Bonard Lê Lợi năm nào..thuở mà tôi cũng nghèo khó như những người dân ở đây, đi bát phố ngắm cảnh, ngắm người, sao tôi giống họ thế!. Nhưng khi bước vô hotel trong phòng tiếp khách khang trang rộng lớn, khung cảnh thật khác, người tôi cũng như tỉnh mộng trở về thực tại, quên đi những khổ đau của dĩ vãng xa xưa, đoàn chúng tôi thong dong với sự hộ tống của hai người cảnh sát, Thủ tục “check in” lại êm đềm diễn ra, người “tour guide” làm việc, phát chìa khóa, và dặn dò nhân viên mang hành lý, Chúng tôi chỉ việc khoan thai như những người thượng lưu, vô thang máy lên phòng nghỉ ngơi cho cuộc hành trình kế tiếp.

Kim Tự Tháp

Ngày N+8 trở lại Cairo, niềm háo hức của chúng tôi là được đi thăm Kim Tự Tháp Ai Cập, một di tích lịch sử của nhân loại, những dãy kim tự tháp này không nằm cách xa thủ đô, từ xa xa, chúng tôi đã thấy ba cái kim tự tháp lừng lững giữa trời. Nền văn minh cổ Ai Cập đã có chữ viết từ 7 ngàn năm trước, nhưng rồi liên tiếp bị cai trị bởi các đế quốc sừng sỏ như Ba Tư, Hy lạp. La Mã và Ả Rập, nên dần dần, chữ viết cổ truyền bị thất lạc cả 2000 năm, cho đến thời kỳ Napoleon đại đế đem quân chiếm Ai Cập vào năm 1798, người ta mới tìm thấy lại những mẫu chữ viết cổ của Ai Cập, do đấy các nhà khảo cứu đã có cơ hội giải đoán mà đọc được những chữ cổ này. Ai Cập luôn luôn là miếng mồi ngon cho cá siêu
 cường mãi cho tới năm 1952 có cuộc đảo chính quân sự đưa Nasser lên cầm quyền, vào năm 1954. Nasser đã quốc hữu hoá kênh đào Suez.

Thủ đô Cairo nay có khoảng 20 triệu dân, đời sống vô cùng sầm uất, khi chiếc xe bus rẻ khỏi thành phố đi vào sa mạc nơi có nhiều Kim Tự Tháp và không thể tưởng tượng nổi, du khách trên toàn thế giới đã tập trung nơi đây, đời sống nhộn nhịp trong ánh nắng chói chang và nóng nực của khí hậu sa mạc. Những kim tự tháp này cũng được nằm trong 7 kỳ quan của thế giới. Có chứng kiến tận mắt mới thấy, tài năng văn minh của những người Ai Cập cổ xưa, Hơn 3,500 năm qua, những kim tự tháp này vẫn bền vững với thời gian, mưa gió, nhất là những trận bão cát tàn bạo liên tiếp thổi đến từ sa mạc.

Không biết bằng cách nào, tính toán ra sao mà họ đặt để những phiến đá khổng lồ sắp xếp lên nhau, gọn gàng thẳng tắp thành hình Pyramids, Ngay cả thời đại “computer” tân tiến ngày nay, người ta cũng phải vất vả lắm để mà hình thành nó. Thế mà Ai Cập đã biết làm từ nhiều ngàn năm qua. Từ bãi đậu xe, đoàn du khách phải đi bộ xuyên qua những bãi cát nóng cháy để di chuyển đến chân kim tự tháp, Một cảnh tượng ngổn ngang màu sắc đã đập vào mắt du khách là hàng đàn lạc đà, cổ dài ngoẵng, lắc qua lắc lại, ngồi la liệt nghêu ngao đợi khách.


Chúng tôi được nhanh chóng chỉ định, mỗi người một con để leo lên lưng nó, con lạc đà ngoan ngoãn nằm yên, xếp bốn cái chân dài ngoẵng gập lại gọn gàng chụm vào nhau. Tuy vậy thân nó cũng cao, lưng nó lắc lư, chòng chành, leo được lên lưng nó cũng khá vất vả, tôi thì một chân đau, một chân què, không làm sao vắt cái chân qua lưng con lạc đà, loay hoay mãi, tôi vã mồ hôi, gần bỏ cuộc thì người cảnh sát đi hộ vệ đã nhanh chóng bẻ ngang cái chân muốn gãy cho tôi leo lên. Con lạc đà chân cao cả hơn hai thước, nó nhón hai cái chân sau dọn mình đứng lên, làm cho toàn thân người ngồi, chúi về phía trước như muốn lộn nhào. Trâm vợ tôi bị ép buộc phải leo lên, đã sợ gần chết, đến khi nó bật người đứng dậy và hai chân trước nó chống lên để lấy thế đứng, làm cả thân mình người ngồi trên lưng nó lại bật ngửa ra sau, bà vợ sợ hãi hét tướng lên như muốn rung chuyển cả kim tự tháp, nhưng may mắn thay khi con lạc đà được người nài dẫn đi, người sợ nhất là Trâm lại được kéo đi hàng đầu. Thế là một đoàn lạc đà được dắt đi theo dọc kim tự tháp, cho du khách một cảm giác như những người lữ hành xa xưa đi buôn bán thồ hàng trên sa mạc cát lửa nóng cháy.

Một chuyện đáng được nhắc nhở là du khách phải mang “mask” khi vô bãi sa mạc vì những trận gió đã có thể đưa những hạt cát li ti chui qua hơi thở mà chạy vô phổi. Qua ngày hôm sau, hơn chục người ho hen sặc sụa vì cát đã phải ở lại hotel, một nửa còn lại đi thăm Citadel đền thờ lớn nhất Hồi Giáo này do Muhammad Ali (Đền Thờ Citadel) thành lập bên cạnh một thành trì kiên cố tới giờ cũng vẫn còn tồn tại. Bên trong không có hình tượng gì cả, chỉ là tộ toà lâu đài trống rỗng. Duy nhất có bảng viết chữ.. người đạo Hồi hướng theo đó mà cầu nguyện. Vị vua này có phần nào dân chủ khi cho người đàn bà được vô chung trong đền, trước kia chỉ có đàn ông được vô đền, còn đàn bà thì cầu ở ngoài đường hay phía sau của dền mà thôi. Có một số biểu tượng cần để ý, là khi vô nhà thờ thiên chúa thì có tượng Đức Chúa bị treo trên cây thánh giá. Khi vô nhà thờ tin lành, thì chỉ có duy nhất hình cây thánh giá, mà không có tượng chúa và vô nhà thờ đạo Hồi, thì chỉ thấy những hàng chữ mà không có hình ảnh gì cả. Nguyên nhân là Muhammad Ali là 1 danh tướng đại tài của triều đại Ottoman, đánh đâu thắng đó, theo “tour guide” kể mà không phối kiểm là trong chiến trận này người Hồi đã chiến thắng Thập Tự Quân của Công Giáo một trận rất lớn ở đây. Hoàng đế Ottoman đã phong cho Muhammad Ali làm vua ở xứ Ai Cập và vua Mohammed Ali đã cai trị dân chúng Ai Cập là cứ hai năm đổi sang luật mới một lần, liên tiếp đời này qua đời khác cho đến năm 1952 đế quốc Ottoman tan vỡ thu hẹp lại là nước Turkey, theo đà nước Ai Cập cũng chậm dứt triều đại Muhammad Ali. Giòng họ Ali đã tri vi từ 1802 tới 1952. Ra khỏi nhà thờ Citadel, số người còn lại cũng ho hen, mệt mỏi vì thở phải không khí có cát ở sa mạc hôm qua. Ai cũng muốn tan hàng về hotel nghỉ ngơi chung với số người năm nhà, nhưng rồi anh Thắng trưởng đoàn nói rằng, vấn đề ở đây không phải là đa số mà nếu chỉ có một người không đồng ý, thì chương trình vẫn đi tiếp. Có một người phản đối, thế là không ai được về nghỉ, phải tiếp tục chương trình đi tiếp. Thời đại, một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ, nay không còn nữa, mà một con ngựa không đau, thì cả tàu ngựa đau phải ăn cỏ!.

Ngày N+8 là một ngày dài nhất trong chuyến đi. Bắt đầu từ 6:30 sáng phái đoàn đã xuống ăn sáng và lên đường đi thăm những nơi vô cùng thú vị như Đền thờ Ramses II, Mãi cho đến năm 1813 hai người khảo cổ người Âu Châu mới tìm thấy ngôi đền thờ Ramses II, nó đã bị chôn vùi hơn ba ngàn năm trong cát, có thể vì bị bão cát vùi dập nên cho dù thử thách với biết bao khí hậu khắc nghiệt và bão cát, ngôi đền thờ đã được khai quật còn nguyên vẹn. Và cũng theo chuyện kể thì gần trên ba ngàn năm trước Triều đại Ai Cập thứ 19 có một vị đại đế tên Ramses II là vị vua lớn mạnh nhất trong các “Pharaon” thời Ai Cập cổ, Hoàng đế Ramses II trị vì lâu nhất và cũng là vị vua có nhiều công trình xây cất nhiều nhất trong tất cả vương triều cổ của Ai Cập.

Tượng vua Ramses

Ông đã xây đền đài cho chính ông và người vợ thân yêu là Nefertari Queen. Tượng hoàng đế Ramses 2, đã có cách đây ba ngàn năm, sau này người Anh đã tìm thấy bực tượng này khi mặt nhà vua úp xuống bùn, nhờ vậy bức tượng quý giá còn nguyên vẹn và cũng vì nó nặng cả trên 80,000 pounds, người Anh không thể chuyên chở về nước, mà nhờ vậy bức tượng này mới còn ở Ai Cập. Khi ta thấy tượng nhà vua uy dũng đừng thẳng hai tay nắm hai cây gậy chứng tỏ uy lực. Có nghĩa là dân chúng đẽo tượng khi vua còn sống, Còn Vị vua nào mà hai tay chéo lên ngực là vua đã chết mới đức tượng. Riêng hoàng đế (Fahron) Ramses 2 là một vị hoàng đế sáng giá của Ai Cập, ông đã xây dựng không biết bao nhiêu là đền đài, cung điện để lại cho hậu thế. Ngày N+9 phái đoàn đi thăm bảo tàng viện Giza là bảo tàng khảo cổ học lớn nhất thế giới, chính phủ Ai Cập đã bỏ ra hơn 1 tỷ US dollars để hoàn tất. Một bảo tàng viện mênh mông, đi rạc cả cẳng ra mà cũng không thể xem hết những di tích lịch sử cả bảy tám ngàn năm người đem ra và trưng bày tại đây.

Bêta Bảo tàng viện

Duy nhất chỉ có ngôi mộ ông vua này là còn nguyên, ngoài ra tất cả những ngôi mộ của những vua khác đều bị đào xới ăn cắp hết vàng bạc châu báu. Người Ai Cập văn minh, không tàn ác, không giết đi những người là mộ, nên chính những người này đã biết đường đi nước bước mà đào lên ăn trộm hết. Người Tàu thì khác, những nhân công lính tráng làm mộ xong là bị giết nghéo đi hết, thế là không còn ai sống sót để biết đường trộm cắp. Một câu chuyện tình cờ sau này có một cái xe lừa sụp hố, trúng ngay một cái giếng cạn, từ đó người ta đã phanh phui ra một cái hầm mồ, chôn toàn những người quý tộc thuở xưa. Cái miệng giếng tròn đã đưa xuống cái hầm như một lâu đài dưới đất. Liên hệ tư tưởng làm tôi nhớ lại chuyện Bí mật rùng rợn về mả Tào Tháo, khi quan tể tướng biết mình sắp chết cũng làm ộ cái nhà mồ cho mình vô cùng bí mật, đường xuống cũng là một cái giếng, người ta gọi cái giếng ấy là vô để tinh, tức là không có đáy, khi ném một vật gì xuống để dò đường, thì không nghe âm thanh dội ngược, như vậy có nghiã cái lỗ giếng này đã đi sâu xuống tận trung tâm quả đất, không ai dám xuống, mà có gan để xuống thì cũng mất hút, không bao giờ trở lại. 
Sau này những nhà mạo hiểm đã khám phá ra chỉ là cái giếng sâu, sở dĩ người ta ném đá mà không thấy dội lại vì đại gian hùng Tào Tháo đã giết chết hết những người xây cất xong, ông cho giăng một loại giây bền vững chống thời gian làm võng. Khi một hòn đá ném xuống, thì cái võng giây nay hứng lấy, và theo chiều dốc, nó lăn tuốt xa tít vào trong sâu nên không có tiếng vang dội lại, kẻ nào liều mạng cùng mình thả giây đi xuống là bị hàng loạt mãng xà vương rắn độc làm thịt cho chết mất xác, nên mộ Tào Tháo trở nên huyền bí với đời. Cho hay người Á Đông thì tàn ác và mưu lược hơn người Trung Đông, khi chúng ta khảo sát những điều trên.

Buổi trưa đáng lẽ được nghỉ ngơi, thì anh trưởng toán cuống cuồng cho người tìm kiếm chúng tôi, tập họp ra phi trường gấp, khẩn cấp như người chạy loạn. Nhiều người bỏ cả ăn, cả uống, lếch thếch chạy ra lộ, tìm cách lên xe bus ra phi trường, kẻo quá trễ, lý do bất ngờ tổng thống Ai Cập vô công rồi nghề đã đến thăm bảo tàng viện, và an ninh, cấm đường tứ tung, thế là cả đoàn lên xe bus không kịp, đành phải dàn hàng ra bên đường đón chào tổng thống Ai Cập. may thay, phái đoàn tổng thống cũng giản dị, đàn xe mau chóng đi qua, và đường xá lại thông thương, thế là chuyến bay đã kịp thời, cho chúng tôi đến tỉnh Aswan, thăm thú thành phố, đến đêm được ngủ ở một hotel vô cùng sang trọng nằm trong một cái đảo nhỏ giữa dòng sông Nile. Sáng hôm sau, phái đoàn lại lục tục lên cruise trên sông Nile đi trong ba ngày trời. Chúng tôi lên tàu trong đêm tối, một bữa tiệc huy hoàng trên sông với màn múa bụng rung rinh, du khách ngồi đó như thấy mình được dự tiệc của thời đại vua chúa năm nào.


Qua buổi chiều hôm sau, trời chưa tắt nắng, một chiếc taxi nước đã ghé chiếc cruise ship, đón chúng tôi đi thăm đền đài cung điện dọc sông Nile, con sông rộng mênh mông nhưng cũng tương đối sạch sẽ, ít rác rưởi, điều lạ lùng với du khách là hai bên bờ, những trẻ con đã đợi sẵn, thấy thuyền du khách, là chúng nhào ra bơi nhanh như rái cá, ôm chặt vào thành thuyền ca hát vang trời, chúng tôi chẳng hiểu gì về bài hát nhưng có cảm tưởng, được nghe tiếng hát của những nhân ngư trên dọc dòng sông. Những đứa trẻ được tiền tip, là cùng nhau dời thuyền vẫy vùng trên sóng nước, đó cũng là lúc thuyền cập bến, hàng ngàn du khách lên bờ, thì có hàng ngàn con lạc đà nằm phục mình trên mặt đất đợi khách, lần này chúng tôi lên lưng lạc đà với lòng khoan khoái, không còn sợ hãi. Đoàn lạc đà dắt du khách đi suốt một giải sông Nile dài cả cây số, qua làng mạc chùa chiền, chợ búa, người buôn kẻ bán tấp nập, vợ chồng tôi ngồi thung dung thoải mái kẻ đi trước người đi sau trên lưng con lạc đà cao ngất ngưởng, thấy mình quả thật có được những phút vui tươi hạnh phúc trong đời người. Đoàn lạc đà đã dừng lại tại một cái quán mộc mạc, bên trong là những hồ cá sấu, to nhỏ bắt ở trên sông cho du khách coi, du khách đến là tiếng nhạc nổi lên, một sân khấu thô sơ với nhạc cụ địa phương rầm rĩ, chúng tôi đã nhảy điên cuồng chung với đủ mọi sắc dân và  tưởng như sống lại trên rừng trong thời chiến tranh ở những buôn mường mán với những bản hát như “Tiếng Chày trên sóc Măm Bô”. Trên dòng sông Nile mênh mông êm đềm, hàng chục chiếc du thuyền nương theo gió chạy trên sông, ban ngày trông như một hạm đội ngoài khơi, ban đêm trên đoàn thuyền, đốt đèn đủ màu, đủ sắc lướt trên dòng sông phẳng lì, mặt nước phía trên như một đoàn tàu khổng lồ diễn hành trong ngày hội lớn, dưới nước phản chiếu như một thành phố ngầm với vạn ánh đèn màu. Điểm vui nhất là tới mỗi bến là đoàn tàu cặp bờ hàng loạt, cái nọ đậu song song với cái kia, kỷ luật,ngay hàng thẳng lối, du khách cứ tự tiện chuyển từ tàu này qua tàu kia mà nối đuôi nhau lên bờ. Ngày trước thì trên bờ hàng ngàn con lạc đà nằm đợi, ngày sau thì hàng ngàn xe ngựa kiểu Hoàng gia, người nài phía trước với một chiếc ghế bành rộng rãi phía sau, hàng hàng lớp lớp xếp hàng dài dằng dặc trên đường chờ khách. “tour guide”của từng đoàn du khách đã xếp đặt, cứ đoàn này chaỵ thì doàn ngựa khác lại tiếp nối, cứ như thế, mới rạng đông mà cả thành phố đã thức giấc ồn ào ầm ỹ với tiếng vó ngựa, tiếng bánh xe lăn cồng cộc trên đường. Trên con đường đến đền thờ Edfu Temple và trở lại sông Nile, nài ngựa nào cũng sải roi trên lưng ngựa, cho xe chạy thật mau đưa khách đến, rồi lại nhanh chóng trỏ về đón người khách đi. Đời sống đầy phấn đấu, cam go, để tranh dành đu khách lấy tiền công và lấy tiền tip. 

Đoàn ngựa chạy ào ào trên lộ, tránh xe hơi, lách bộ hành thật hãi hùng như ra đấu trường vậy. Ngày vui nào cũng tàn, cuộc chơi nào cũng có lúc phải chấm dứt. Tóm lại, chúng tôi đã đi trong 16 ngày, ngày N +16 là ngày 26 tháng 11, 2025. Tổng cộng 7 chuyến bay gồm hai chuyến đi về (21 giờ bay xuyên đại lục) và 5 chuyến bay ngắn trong nội địa, ngủ trong 12 hotels khác nhau. Thăm thú những cảnh vật, dân tình và những kỳ quan của hai quốc gia, Jordan và Egypt. Viếng Kim tự tháp và không biết bao nhiêu là đền thờ, cung điện, đi qua không biết bao nhiêu là địa danh lịch sử, đền đài, có những lúc tưởng mình như sống lại trong sáu bảy ngàn năm của lịch sử với đủ loại vua chúa thần thánh, có nhiều cái, nghe qua thật hoang đường, nhưng những câu chuyện hoang đường ấy đều được chứng minh bằng lầu đài lăng tẩm. Những kim Tự Tháp, những nhà mồ đều là chỗ chôn của những người quý tộc vua chúa thời xa xưa. Tất cả cho tôi thấy hai điều là khi so sánh với Ai Cập và Việt Nam thì cái khác biệt là những huyền thoại người ta kể ra tuy không thể tin được trong thế giới khoa học hôm nay, nhưng nó chứng minh được phân nào sự thật là nó có, những đền thờ lăng tẩm từ cả nhiều ngàn năm, gián tiếp cho rằng những chuyện huyền thoại kia dường như có thật. Còn Việt Nam tuy có bốn ngàn năm văn hiến, nhưng những chuyện từ thời vua Hùng Vương. Cho đến chuyện Tiên Rồng đẻ ra trăm trứng v.v. Tất cả chỉ là chuyện, không có một mấu chốt gì chứng minh những câu chuyện thần thoại đó là lịch sử, hay hoang đường. Những vua chúa và nhà giàu thời xa xưa của Ai Cập lo sống thì ít lo đào hang, khóet núi để làm mồ mình thì nhiều, làm mồ xây mả nhiều hơn là cải tiến đời sống người dân, giống như người VN chúng ta thường có câu. Sống vì mồ vì mả. Không ai sống bằng cả bát cơm. Bài viết trên đây chỉ là phiến diện, cần bỏ nhiều thời gian năm tháng nhiều hơn nếu muốn hiểu nền văn minh tối cổ của nước Ai Cập, đã có đến bảy ngàn năm văn hiến, và đưọc chứng minh bằng những hình ảnh, đền thờ và tượng đá.

Viết xong đêm Giáng Sinh Dec. 2025. 

Đinh Hùng Cường, ngọc Trâm.


Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2024

Tết Trung Thu Mid Autumn Festival 2024


Thân chào quý vị, chúng tôi có mặt rất sớm, trong ngày Tết Trung Thu của các em trường Kenmore Middle School, chương trình trình bắt đầu lúc 12:00 giờ trưa, mà chưa tới 11 giờ hội trường đã khá đông phụ huynh và các em. Trước khi tường trình những diễn vui nhộn của tuổi thơ, của những hậu duệ tương lai người Việt hải ngoại, chúng tôi xin báo cáo sơ khởi những tổ chức trẻ tham gia phục vụ người thật trẻ (trẻ em). Họ có mặt để làm những công việc gì cho các em. Xin nói rõ thêm những tổ chức trẻ này gồm dĩ nhiên là những người trẻ, học thức và có thực lực hẳn hoi, không như những hội đoàn hữu danh vô thực. Lần lượt chúng tôi sẽ xin trình bày rõ hơn, những công việc thiết thực của các em.

Năm nay là năm thứ 36 các em tổ chức Tết do: Hội Việt Kids. Make us More Visible. Trường Việt Ngữ Thăng Long. Vietnamese Uniformed Services Association (VUSA), Vietnamese American Celebrating Freedom (VACF), George Mason University Vietnamese Student Association (GMUVSA), National Organization of Vietnamese American Leadership (NOVAL), và các đoàn hướng đạo gồm những liên đoàn (LĐ): LĐ Gia Định, LĐ Potomac, LĐ Hùng Vương, LĐ Sài Gòn và LĐ Thăng Long.

Chưa tới 12:00 giờ trưa hội trường đã gần đầy, bên hông là những hàng quán của các anh em hướng đạo, đã bày biện đầy món ăn, từ xôi chè, nước uống, bánh trái, thức ăn trưa đầy đủ. Cho dù bên trong hội trường những gian hàng trò chơi, nơi chụp hình lưu niệm cho gia đình các em tham gia chợ tết, đặc biệt những gian hàng của những anh em quân nhân tại ngũ người Mỹ gốc Việt với đầy đủ tài liệu lôi cuốn các em, nhưng hội trường bỗng nhiên vắng lặng, vì là giờ trưa, phụ huynh và các em đổ xô ra ngoài hành lang để mua đồ ăn. Khu ăn uống ôi thôi là chộn rộn, toàn là trẻ em với nhau, người mua, người bán tíu ta tíu tít, nhiều em vừa ăn nhưng tay không rời lồng đèn để chơi. Toàn khu ăn uống vui nhộn đã vẽ lên một bức tranh thanh bình tuổi trẻ, hạnh phúc của những vợ chồng trẻ với con thơ. Hành lang hội trường thật tiện nghi, rộng rãi cho những gian hàng, đủ chỗ cho các em qua lại dành ăn vui đùa, một khu bàn ghế mênh mông cho phụ huynh và các em họp mặt gia đình ăn uống, nhà vệ sinh sạch sẽ. Đúng là tiện nghi của American. Thấy đấy mà mất đấy, chỉ trong thoáng chốc là các em lại ùn ùn chạy vô hội trường, chơi trò chơi, thi vẽ. Ban tổ chức bắt đầu phát lồng đèn, các em rước đèn chạy lung tung, thế là đám đông trở lại, hàng quán bên ngoài bỗng vắng hẳn đi và họ cũng đã bán đồ ăn gần hết rối.

Các đoàn hướng đạo thành lập những trò chơi, các em mặc đồng phục trông rất đẹp mắt, Việt Kids là tổ chức làm Tết Trung Thu hàng năm, dạy các em tiếng Việt từ lúc 2 tuổi, trau dồi văn hoá Việt cho các em để từ từ các em vẫn giữ lại gốc gác của mình là người Việt Nam. VACF là tổ chức lâu đời, thường tổ chức ngày diễn hành độc lập July 4 parade tại Washington DC và văn hoá Việt trong ngày Asia Fiesta là ngày chính phủ Mỹ cho những người Á Châu làm rất lớn tại Washington D.C.vào tháng 5 mỗi năm. Trường Việt Ngữ Thăng Long của các bạn trẻ hướng dẫn bởi anh Hoàng Vi Kha, hàng năm đã đào tạo rất nhiều các em học sinh viết và nói tiếng Việt. Tổ chức “Make Us Visible” là một tổ chức của những người trẻ đã can thiệp mạnh mẽ vào hệ thống trường công của Mỹ để dạy thêm về người Mỹ gốc Á (Asian American history in school).

Nhà Việt Nam là một tổ chức bất vụ lợi, đã đóng góp văn hoá Việt trong cộng đồng Việt tại Mỹ trong nhiều năm qua, một người rất sáng trong nhà Việt Nam là anh Hoàng Đức Long, anh Long đã được cô bác tín nhiệm bầu anh làm chủ tịch Cộng Đồng Washington D.C, Maryland và Virginia. Chúc mừng ông tân chủ tịch Hoàng Đức Long.

Những tổ chức VUSA, NOVAL, GMUVSA, đều có hoạt động hữu hiệu trong hội chợ, mục đích dạy dỗ các em và tìm những mầm non nhân tài, chúng tôi có nói chuyện với Trung Tá Nguyễn Phương US Army LTC thì được biết quân đội Mỹ đưa phái đoàn nhà binh Mỹ để hợp tác tạo niềm vui cho các em và tìm kiếm những trẻ em tài giỏi.


Lúc hai giờ chiều là cao điểm nhất, hội trường đã đông nghẹt các em và phụ huynh, có thể lên tới cả ngàn trẻ em và người lớn. Tiếng nhạc ồn ào đã nổi lên do anh Hùng DJ với dàn nhạc và một EmCee thật tài giỏi, anh Thịnh trẻ tuổi nói giọng miền Nam sành sỏi mạch lạc, nói tiếng Việt đâu ra đấy bắt đầu điều khiển chương trình. Toán chào kính của các em hướng đạo đã tiến lên sân khấu, một em hướng đạo đã điều khiển buổi lễ chào cờ Mỹ và Việt Nam Cộng Hoà. Một điều làm tôi xúc động chảy nước mắt khi nghe bài quốc ca VNCH các em hát, đến câu kết với giọng trẻ thơ truyền cảm, các em đã hát lên… “Công dân ơi mau hiến thân dưới cờ, công dân ơi mau làm cho cõi bờ vẻ vang nòi giống xứng danh dòng giống lạc hồng.” Tương lai chúng ta là các em, xin mở rộng vòng tay giúp cho tuổi trẻ.

EmCee Thịnh bắt đầu trình diễn 5 thành viên trong ban tổ chức tết Thu năm 2024, năm thứ 36: Luật sư Mary Margaret, anh Long, anh Quảng (HB), Tínị Dinh Favila và luật sư Uyên Đinh. Ngay sau khi được giới thiệu Mary Margaret đã phát đi hàng trăm bao lì xì có $2.00 mỗi bao. trong đó, mục đích không phải cho các em mà để các em lì xì cho con lân khi nó đến gần.

Ban tổ chức, từ trái: Anh Long, Tínị Đinh Favila, LS Mary Margaret,đại diện Arlington County, LS Uyên Đinh, anh Quảng (HB).

Màn trình diễn đầu tiên vang động hội trường, cộng đồng Đại Hàn đã tham dự tết Trung Thu, một đoàn trống với gần hai mươi tay trống, đồng phục kiểu võ sĩ với dây vàng vắt chéo lên vai, uy dũng bước lên sân khấu, hai tay hai dùi trống đưa thẳng lên trời. Mở màn là 3 nghệ sĩ Đại Hàn, người đứng giữa có một sợi lụa dài lê thê trên đỉnh mũ, anh ta vận dụng cái cổ mà quay sợi lụa dài như một giải lụa quấn quanh, trong khi hai người nghệ sĩ hai bên đã dùng một cái cây sắt nhỏ cứng, quay tròn cái đĩa trên đó, thỉnh thoảng anh lại tung cao cái đĩa lên trời và nhanh chóng hứng lại cho nó tiếp tục quay tròn mà không rơi xuống đất. Thế rồi tiếng trống ào ào nổi lên đoàn người đánh trống thi thố tài năng; họ vừa đánh, vừa múa, tiếng trống vào nhịp, điệu múa đồng nhất tạo hội trường như mây bay, như gió cuốn. Chỉ trong ít phút trình diễn mà đoàn nghệ sĩ Đại Hàn đã chinh phục các em và phụ huynh. Khi tiếng trống vừa dứt thì tiếng vỗ tay thay thế vang động hội trường.


Ban tổ chức thật có tầm nhìn, không đóng khung Tết Trung Thu cho riêng các em Việt, mà họ mời những cộng đồng bạn tham gia, người ta cũng thấy rất nhiều sắc dân người da trắng, da màu, người Xì dắt con cái theo để vui chơi và học văn hoá VN.

Đoàn trống vừa cúi đầu chào tạm biệt thì đoàn lân của Liên Đoàn Hùng Vương xuất hiện, ba con lân thi nhau lăn lộn nhào múa, hội trường vừa vang động tiếng trống trường thành của đoàn võ sĩ Đại Hàn, nay được thay thế bằng tiếng phèn la inh ỏi. Không biết là bao nhiêu trẻ em với phong bao lì xì có tiền sẵn, các em nhào ra cho tiền vào miệng con lân, ba con lân, miệng to quá sức, các em đút tiền vào bao nhiêu là nó cũng nuốt hết. Đến lúc vãn tuồng múa lân thì các em mới bỏ cái đầu lân xuống ngả mũ chào, thì than ôi, các em trong Liên Đoàn Hùng Vương bé mà giỏi quá, các em chỉ trạc 11, 12 tuổi mà múa lân hay như người lớn.


Màn trình diễn kế tiếp thời trang áo dài, năm ngoái trong Tết Trung Thu năm thứ 35, ban tổ chức chỉ có ba em được giải thưởng, năm nay để khuyến khích các em mặc áo dài, ban tổ chức nói bất cứ em nào, mặc áo dài đều có phần thưởng, thế là cả trăm em có áo dài lên sân khấu, ban tổ chức đã dành vinh dự cho giáo sư Kim Oanh lên lì xì cho các em. Họ dạy các em lễ phép biết cúi đầu cảm ơn trước khi nhận phong bì lì xì của cô Kim Oanh; cũng nên nhắc lại tết Trung Thu năm ngoái 35 năm, các em đã mời trường Gia Long cùng đến vinh danh cho giáo sư kim Oanh vì cô có công dạy các em âm nhạc, lưu truyền văn hoá Việt ở xứ người. Dù không hiện diện trong buổi lễ, ban tổ chức đã đặc biệt cảm ơn cô giáo Mộng Hoa và cô Chử Nhất Anh, hai cô không hiện diện nhưng đã cho các em nhiều tiền để chơi tết Trung Thu. Cô Nhất Anh và cả gia đình Nhất, Nhị, Tam, Tứ Anh đã cùng thành lập hội giáo dục trẻ em, dậy tiếng Việt hơn 40 năm qua. Hôm nay các em trong ban tổ chức, cho dù thành đạt kỹ sư, bác sĩ, luật sư nhưng hầu hết các em đã là học trò tiếng Việt của cô Mộng Hoa và cô Nhất Anh, hay là học trò âm nhạc của giáo sư Kim Oanh. Cảm ơn quý cô đã giữ cho văn hoá Việt được sống nơi quê người.


Sau hết không thể không nói đến những ân nhân, bạn bè bằng hữu của chúng tôi, hàng năm đều cho tiền các em để tổ chức Tết Trung, lòng thương trẻ em và giữ lại văn hoá Việt cho các em đã thể hiện Tết Trung Thu cho 36 năm qua xin kể những số tiền các em phải chi dùng.

Tiền thuê trường học để có hội trường, thuê nhân viên của Arlington county trong những công việc, an ninh, hành chánh và vệ sinh.

Tiền mua lồng đèn, tiền mua bảo hiểm an toàn cho các em, tiền mua áo dài, tiền li xì cho đoàn lân, âm thanh, tiền mua đồ chơi làm giải thưởng.

Ban tổ chức bán vé cho các em $1.00/mười vé, mà nếu mua 55 vé chỉ có $5.00. Các em có thể dùng vé chơi các trò chơi vừa vui, giải trí và có phần thưởng. Thật vô cùng cảm ơn tấm lòng quảng đại của quỳ cô bác và quý anh chị, đã giúp cho các em. Xin bày tỏ lòng biết ơn và nói rằng Tết Trung Thu tùy thuộc vào tấm lòng của các bác trong Cộng Đồng Việt Nam, xin giữ cho truyền thống này được sống còn. Nguyên văn tiềng Mỹ:

“…So the bottom line is Tet Trung Thu relies on the generosity of Cac Bac in CDVN to keep this tradition alive!”

Đinh Hùng Cường
Tường trình tại Tết Trung Thu Arlington, Virginia