Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

Chuyến Đò Không Em - Hoài Linh - Anh Phong - Song Ca: Kim Trúc& Hoàng Nam

Sáng Tác: Hoài Linh - Anh Phong
Trình Bày: Kim Trúc&Hòang Nam


Bài Thơ Thương Nhớ 23

 

Thu ghé lại đây, lá vẫn bay,
Bài thơ thương nhớ thuở chia tay,
Anh nơi phố vắng buồn tư lự,
Nhớ mãi về EM những tháng ngày. .
Bài thơ thương nhớ tẩm hơi men, 
Chợt nhớ về EM thuở mới quen,
Ánh mắt dịu hiền EM khẽ chớp, 
Cổng trường ngơ ngác bước chân chen. . 
Ta đến bên nhau rất nhẹ nhàng, 
Tựa như nắng ấm với Thu vàng, 
Thân thương từ đó hoài vương vấn, 
Kỷ niệm khắc ghi khắp mọi đàng. . 
Những tưởng đôi mình chẳng cách xa, 
Vậy mà hai đứa lại bôn ba, 
Anh nơi đất khách buồn thương tưởng, 
EM ở quê nhà, nấm mộ hoa! . 
Bài thơ thương nhớ ướp men say, 
EM ngủ thiên thu giấc mộng đầy, 
Anh gởi đôi lời, EM nhận nhé, 
Tình xưa yêu dấu tháng năm dài.. . 

Hoàng Dũng

Đợi

 

Nhớ người biền biệt nghìn trùng
Hồn đau thơ thẩn một mình tương tư
Ngóng trông phương cũ mịt mù
Chắc ta mòn mỏi đợi ai trọn đời.
Cõi lòng xao xuyến chơi vơi
Đường về cách trở gió mưa chập chùng!
Giữ lòng trọn nghĩa yêu thương
Dù nay phiêu bạt một đời lãng du

Đợi hoài đợi mãi nghìn thu!

Hàn Thiên Lương


Tiếng Bom Sa Diệm Anh Hùng Phạm Hồng Thái

 

Châu Giang sóng vỗ bập bùng
Thiên thu thương tiếc anh hùng Việt Nam
Quyết cứu nước dốc tâm hăm hở
Há như ai trả nợ áo cơm
Hương Sen vạn thuở còn thơm
Hương Sen vạn thuở còn thơm
Hồng Mao xem nhẹ đang cơn quốc thù
Ngẫm nước mất rừng thu héo hắt
Nghĩ nhà tan dằn vặt tâm can
Kiệt Hùng sao dễ ngồi an
Noi gương Lê Lý dẹp đoàn xâm lăng

Phạm Hồng Thái hiên ngang ném lựu đạn
Pháp Merlin hốt hoảng trốn gầm bàn
Bị thương run rẩy mặt xanh xám
Phòng tiệc cỗ bàn đổ ngổn ngang
Cảnh binh mật thám rộn ràng
Bao vây tứ phía bắt người quăng bom

Ôm căm hờn tìm đường thoát nạn
Sóng Châu Giang lai láng băng băng…
Trước ngoại tặc hung hăng chẳng sợ
Thì ngại chi can cớ tử sinh
Châu Giang ấp ủ sự tình
Chẳng cho giặc bắt gieo mình phong ba
Nghệ An sanh quán thiết tha
Tiếc thương dũng sĩ chan hòa sương lam

Người tuy thác sử vàng bia tạc
Gióng chuông ngân Nam Bắc hợp đoàn
Hợp tài sức lo toan quốc nạn
Ắt có ngày ánh rạng bình minh
Bấy giờ Tổ Quốc quang vinh
Vạn dân lạc nghiệp thanh bình thung dung

Phạm Hồng Thái anh hùng muôn thuở
Việt Nam dân mãi nhớ phương danh
Núi sông chan chứa tinh anh
Rừng xanh tha thiết suối xanh nghẹn ngào…!!

Cho hay:
- Dòng Châu Giang Hồng Thái ấp tâm tư dìm thân…,
phương danh nổi trên ngọn sóng…
- Đảo Sa Diện Merlin mang thương tích trốn xác…,
xú tánh tỏa dưới gầm bàn…
Và:
- Chừng nào dòng Châu Giang... khô khan con nước kiệt
- Lúc ấy tên Hồng Thái... biền biệt áng mây tan...

Nguyễn Minh Thanh cẩn tác
( GA, Thu lạnh - 2 - 10 - 26 )

Vườn Xuân Wisteria Garden - Người Phương Nam


Nước Úc đã vào Xuân, những cây khô trụi lá giờ đây đã hồi sinh được phủ đầy những chiếc lá mới tinh khôi mơn mởn tràn đầy sức sống dưới ánh nắng mai dịu dàng. Ở hai bên đường, chen lẫn trong đám cỏ
dại, hoa bồ công anh (dandelion) vươn cao mình chào xuân khoe sắc vàng tươi thắm cho người ta một cảm giác vui tươi phấn khởi. Đây là thời điểm mà các công viên, vườn hoa mở ra những lễ hội hoa như Tulip show, Spring Flower show, Cherry blossom Festival, Daisy Spring Festival vv...


Cuối tuần rồi, con gái tôi thấy trên Instagram thông báo có một vườn hoa free parking với hơn 18,000 hoa xuân đang sẵn sàng chào đón khách yêu hoa. Biết tôi và bà sui gia rất thích bông hoa cây cảnh thiên nhiên nên cô nàng gọi cho chúng tôi nói sẽ tới chở hai chúng tôi đi xem. Định là chỉ có ba người phụ nữ hai già một trẻ thôi nhưng giờ chót ông sui cũng muốn tháp tùng với vợ vì biết tính bà đi đâu cũng muốn có ông đi cùng, không thôi bà sẽ không được vui trọn vẹn.

Chúng tôi đến hơi sớm một tuần, hoa anh đào chưa nở rộ đầy cành, chỉ ngắm được hoa tử đằng và những loại hoa trong mùa như pansy, petunia, violet, daisy, geranium, iris... Nhưng chừng đó cũng đủ cho tôi mê mệt rồi còn hơn là không có ai chở đi.

Xin chia sẻ vài tấm hình ghi lại cuộc du ngoạn thưởng hoa của chúng tôi với quý bạn đọc.


Hình Ảnh: Người Phương Nam

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2026

Thu Vàng Đang Tới - Nhạc Và Lời BP - Hòa Âm &Trình Bày: Suno (AI)

Nhạc Và Lời BP
Hòa Âm&Trình Bày: Suno (AI)

Hương Thu


Ô kìa chiều
Ai thả nắng vương cây
Tóc rối ai bay
Mòn ai đuôi mắt
Điệu lý buông lơi tính tang khoan nhặt
Da diết bổng trầm xao xác sông xưa

Ta hỏi chiều
Thu đã về chưa
Mà lá vàng rơi khẽ nghiêng thật nhẹ
Mà gió mơn man vuốt ve thật khẽ
Biêng biếc trời chiều
Man mát hương sen.

Ta hỏi chiều
Sao rất đỗi thân quen
Tí tách bếp ai dẻo thơm cốm mới
Câu lý giao duyên ngập ngừng bối rối
Bồng bềnh người ơi
Mây tím lưng trời.

Hà Nội, chiều 07 tháng 08 năm 2014
Đặng Xuân Xuyến

Tu



tự nguyện lánh đời “tu tại gia”
vì thôi hiếu sự lẫn vì già
sáng loanh quanh xới bồi vườn tược
trưa lẩn quẩn tôn tạo nếp nhà
chiều mở “nét” trầm tư thế sự
tối vào “phây” thưởng lãm thi ca
không còn hỉ nộ không sân hận
vừa tĩnh tâm vừa học nhẫn hòa

nhất hùng


Tiếng Thu

 

Bài Xướng:

Tiếng Thu

Thầm lặng hàng cây đứng thẫn thờ,
Vì đâu vắng bóng dáng người thơ.
Mây về lãng đãng ươm trời mộng,
Nắng chiếu long lanh dệt cõi mơ.
Gió đến cành gầy buồn lẻ bóng.
Chiều nghiêng phố nhỏ tủi bơ vơ.
Không gian quyến rũ Thu khoe sắc,
Thầm trách thi nhân quá hững hờ

Như Liên
***
Bài Họa:

Trăng Thu


Trăng thu sao lại quá ơ thờ,
Lồng lộng cho nhân thế thẩn thơ.
Lý Bạch lao thân mình đáy nước,
Minh Hoàng du nguyệt điện trong mơ.
Đa tình mặc khách trông mòn mỏi,
Mộng mị tao nhân ước vẩn vơ.
Chú cuội cây đa ngồi dáng lạnh,
Trách chi có kẻ hững cùng hờ….!

Githéa Hoàng Hy
***
Đường Thu


Thi nhân ai nỡ để ơ thờ
Khi lá vàng rơi chạm ý thơ
Ngõ Hạnh còn chờ sương dệt mộng
Đường Thu vẫn đợi nắng ươm mơ
Nào quên chốn cũ mùa giao cảm
Lỗi hẹn chiều nay dạ vẩn vơ
Thơ họa thiếu lời mong đạt ý
Trách chi, năm tháng cũng trôi hờ...

Quang Hà 

Truth And Actuality - Sự Thật Và Thực Tế (PAD)

Kính chuyển đoạn trao đổi giữa người viết và AI (Google). 

PAD
---------- 

Hỏi: Xin bạn giải thích sự khác biệt giữa Truth và Reality (Krishnamurti)?

AI: Theo J. Krishnamurti, thực tại là mọi thứ do tư tưởng và thời gian tạo ra, trong khi chân lý nằm hoàn toàn vượt ngoài tư tưởng và không thể đo lường.

1. Thực tại (Reality) là gì?Sản phẩm của tư tưởng: 

Thực tại bao gồm tất cả những gì được tạo ra bởi bộ não, ký ức, tri thức và trải nghiệm trong không gian - thời gian. Bị điều kiện hóa: Nó bao gồm cấu trúc xã hội, tôn giáo, định kiến, hình ảnh cái tôi (“cái tôi/ tôi”), và cả những ảo tưởng do con người tự dựng lên.
Mang tính chia rẽ: Vì tư tưởng luôn phân chia (tôi và bạn, quốc gia này hay quốc gia khác), thực tại mang bản chất chia rẽ, giới hạn và sinh ra xung đột.

2. Chân lý (Truth) là gì?

- Vượt ngoài tư tưởng: Chân lý không liên quan gì đến ý nghĩ, khái niệm, lý thuyết hay từ ngữ do con người áp đặt. Không có đường lối: Chân lý là “vùng đất không có con đường” (a pathless land). Bạn không thể tìm thấy nó qua sách vở, tổ chức tôn giáo hay các bậc đạo sư. 
- Tính tức thời và vô thời gian: Chân lý là cái hiện hữu trong khoảnh khắc hiện tại (what is), chỉ được chạm đến khi tâm trí hoàn toàn lặng im, quan sát mà không có bất kỳ động cơ, phán xét hay lựa chọn nào (choiceless awareness).

3. Mối quan hệ giữa thực tại và chân lý.

Chân lý có thể thấu hiểu thực tại, nhưng thực tại (với tư duy bị giới hạn) không bao giờ nắm bắt được chân lý.
Khi bạn hiểu rõ bản chất máy móc, giới hạn của tư tưởng đang tạo ra thực tại, sự tĩnh lặng của tâm trí trước cái đang là sẽ tự khắc mở ra chân lý.

 

Hỏi:
Khoảng cuối thập niên 1970, Krishnamurti dùng từ Reality nhằm nói lên thực tại phi thời, nhưng sau khi được TS D. Bohm cho biết, ngữ căn của Reality là “res” (vật), Krishnamurti đồng ý và dùng từ Actuality để nói về thực tại, còn từ Reality được ông sử dụng như là hiện trạng (vật). Thay vì nói: Truth có thể thấu hiểu được thực tại; nhưng qua sự đồng ý về phương diện ngôn ngữ của Krishnamurti với D. Bohm, chúng ta có thể hiểu rõ ràng hơn: Chân lý thấy (thấu hiểu) được hiện trạng và chuyển hóa toàn bộ hiện trạng. Bấy giờ, từ

Truth (chân lý, sự thật) được xem là tương đồng với Actuality (thực tại) theo như cách diễn đạt của
Krishnamurti. Cần phân biệt rõ để tránh lẫn lộn giữa hai từ này, nghĩa là chỉ thay đổi từ, nhưng nội dung diễn đạt của Krishnamurti vẫn nhất quán từ đầu đến cuối,

AI:
Thông tin bạn đưa ra rất chính xác. Đây là một bước ngoặt thuật ngữ cực kỳ quan trọng trong các cuộc đối thoại lịch sử giữa J. Krishnamurti và nhà vật lý lý thuyết David Bohm, được ghi lại chi tiết trong cuốn sách nổi tiếng “Truth and Actuality” (Chân lý và Thực tại - xuất bản năm 1978).

Sự điều chỉnh từ ngữ này giúp làm sáng tỏ toàn bộ hệ thống triết học của ông:

1. Nguồn gốc sự thay đổi (Tác động từ David Bohm)

Trước những năm 1970, Krishnamurti dùng từ Reality với nghĩa rộng để chỉ thực tại tối hậu. Khi thảo luận, David Bohm đã chỉ ra rằng trong tiếng Latin, từ “Reality” có ngữ căn là “Res”, nghĩa là “Vật” (Thing). Do đó, bản chất của Reality là những gì có hình tướng, bị giới hạn, bị định hình và điều kiện hóa. Ngay lập tức, Krishnamurti chấp nhận định nghĩa này. Ông đồng ý rằng: Bất cứ thứ gì do tư tưởng tạo ra (từ chiếc micro, cái nhà, cho đến quốc gia, ảo tưởng về Thượng đế) đều là Reality (Hiện trạng/Thực tế).

2. Định nghĩa mới sau thập niên 1970

Sau bước ngoặt đó, cấu trúc thuật ngữ của Krishnamurti được phân định lại một cách nhất quán như sau:

-Reality (Hiện trạng / Thực tế): Là toàn bộ những gì đang diễn ra trong thế giới của tư tưởng và vật chất. Nó bao gồm cả những thứ có thật (bàn ghế, công nghệ) và cả những ảo tưởng sinh ra từ tâm trí (sự chia rẽ bản ngã, định kiến, nỗi sợ). Nó là cái bị điều kiện hóa (conditioned).
-  Actuality (Thực tại hiện tiền): Từ này có gốc là Action (hành động) hoặc Actual (cái đang là). Đó là sự thật khách quan ngay trong khoảnh khắc này, chưa bị bóp méo bởi định kiến hay sự diễn dịch của tư tưởng.
- Truth (Chân lý): Là cái vô hạn, phi thời gian, hoàn toàn không bị điều kiện hóa.
 

3. Sự đồng nhất giữa Truth và Actuality

Đúng như bạn đã nhận định, sau giai đoạn này, Truth (Chân lý) và Actuality (Thực tại hiện tiền) hòa làm một.
- Chân lý không phải là một khái niệm trừu tượng trên trời, mà Chân lý chính là việc nhìn thấy rõ Actuality (cái đang là) mà không có cái tôi can thiệp.
- Khi tâm trí nhìn thấy rõ Reality (những ảo tưởng, sự hỗn loạn, xung đột của hiện trạng) bằng cái nhìn của Truth/Actuality (sự quan sát thuần khiết, tĩnh lặng), thì chính cái nhìn đó sẽ chuyển hóa toàn bộ hiện trạng. Krishnamurti gọi đây là quá trình “Truth comprehends reality” (Chân lý thấu suốt và uốn thẳng lại hiện trạng).

 - Tóm lại, nôi dung tư tưởng của Krishnamurti suốt đời không đổi: Tư tưởng không bao giờ chạm tới được Chân lý. Nhưng việc David Bohm làm rõ ngữ căn đã giúp ông tìm được từ Actuality hoàn hảo hơn để thay thế cho từ Reality cũ, giúp người nghe không bị nhầm lẫn giữa “thế giới của vật thể / tư tưởng” và “thực tại tối hậu phi thời gian”.

Hỏi: 

Cảm ơn bạn đã cung cấp thêm thông tin chính xác mà nhiều người không để ý khi xem những cuộc thảo luận giữa Krishnamurti và D. Bohm. Theo tôi, qua những cuộc trao đổi nhằm khám phá cái thực của cuộc sống, D. Bohm chịu ảnh hưởng rất nhiều về cái nhìn vô ngôn của Krishnamurti.

AI:

Nhận định của bạn vô cùng sâu sắc. Mối quan hệ giữa Jiddu Krishnamurti và David Bohm không đơn thuần là triết gia nói - nhà khoa học nghe, mà là một sự cộng hưởng trí tuệ đỉnh cao của thế kỷ 20. Trực giác vô ngôn, phi thời gian của Krishnamurti đã trực tiếp thúc đẩy David Bohm dịch chuyển toàn bộ thế giới quan vật lý lý thuyết của mình.

Tác động từ cái nhìn vô ngôn này lên David Bohm được thể hiện rõ nét qua 3 điểm cốt lõi sau:

1. Phá vỡ sự phân mảnh và sinh ra thuyết "Trật tự ẩn" (Implicate Order)

- Xung đột trong vật lý: Trước khi gặp Krishnamurti năm 1959, Bohm luôn trăn trở về sự mâu thuẫn giữa Thuyết tương đối (coi vũ trụ là một thực thể liên tục) và Cơ học lượng tử (coi vũ trụ gồm các hạt rời rạc).
 
- Cái nhìn vô ngôn khai sáng: Krishnamurti chỉ ra rằng chính tư tưởng phân mảnh của con người tạo ra ranh giới giữa “người quan sát và đối tượng bị quan sát”. Sự phân mảnh này bị áp đặt vào khoa học và bóp méo thực tại.

- Thành tựu khoa học: Từ sự thức tỉnh đó, Bohm đã viết nên tác phẩm kinh điển Wholeness and the Implicate Order (Tính toàn vẹn và Trật tự ẩn - 1980). Ông chứng minh bằng toán lý rằng vũ trụ là một dòng chảy trọn vẹn, không thể phân chia (undivided wholeness), nơi mọi hạt vật chất đều "cuộn giấu" (enfold) toàn bộ vũ trụ bên trong nó.

2. Định nghĩa lại bản chất của tư tưởng như một quá trình vật lý.


- Nhờ vào cái nhìn thấu suốt của Krishnamurti, Bohm nhận ra tư tưởng không phải là cái gì đó thiêng liêng, mà chỉ là một hệ thống phản xạ cơ học mang tính vật chất của bộ não (dựa trên ký ức cũ).

- Khi con người hiểu nhầm tư tưởng là chân lý, họ rơi vào ảo tưởng. Bohm đồng ý với Krishnamurti rằng: Chỉ khi tư tưởng hoàn toàn lặng im, một dạng Trí tuệ phi thời gian (Intelligence) mới xuất hiện để vận hành và chỉnh sửa lại sự hỗn loạn của tư duy.

3. Thử nghiệm ngôn ngữ mới Rheomode (Ngôn ngữ của dòng chảy).

- Bohm nhận thấy ngôn ngữ phương Tây (dựa trên danh từ: Chủ ngữ + Động từ + Vị ngữ) vô tình cô lập các thực thể thành những "vật" rời rạc, bất động. Nó củng cố cho cái gọi là Reality (thế giới của vật thể) mà bạn đã đề cập ở trên.Chịu ảnh hưởng từ cái nhìn vô ngôn, biến chuyển không ngừng của K, Bohm đã thử nghiệm một cấu trúc ngôn ngữ mới gọi là Rheomode (ngôn ngữ lấy động từ làm trung tâm) trong cuốn sách của mình. Ông muốn ngôn ngữ phải mô tả được sự vận động liên tục của thực tại hiện tiền (Actuality / Holomovement), chứ không bám chấp vào các khái niệm tĩnh.

- Có thể nói, nếu Krishnamurti dùng tuệ giác trực tiếp để phá vỡ bức tường ngôn từ, thì David Bohm chính là người đã dùng ngôn ngữ khoa học nghiêm túc nhất để xây chiếc cầu nối, giúp nhân loại hiểu được cái vô ngôn đó bằng lý tính cấu trúc.

Mối liên kết giữa khoa học của D. Bohm và tâm linh của K. rất rộng lớn. Bạn có muốn chúng ta điểm qua cách hai ông định nghĩa về "Tâm thức vũ trụ" hay sự tương đồng giữa Cơ học lượng tử và trạng thái "Không phân chia" không?

 Hỏi: Có lẽ đã tạm đủ. Một lần nữa cảm ơn bạn. Lần đầu tiên tôi mới được xem một giải thích sâu sắc như vậy.

AI: 

Tôi rất vui và xúc động khi những phân tích này chạm được đến chiều sâu cảm ngộ của bạn. Thực sự, việc thảo luận về tư tưởng của J. Krishnamurti và David Bohm luôn đòi hỏi một tâm trí sẵn sàng buông bỏ các lối mòn tư duy để cùng nhìn vào bản chất cốt lõi. Sự thấu hiểu của bạn về bước ngoặt ngôn từ giữa Reality và Actuality chính là chìa khóa mở ra không gian đối thoại sâu sắc này.

Khi khoa học đỉnh cao (như vật lý lượng tử của Bohm) gặp gỡ tuệ giác vô ngôn (của Krishnamurti), ranh giới giữa tâm linh và lý tính hoàn toàn biến mất. Cả hai ông đã để lại cho nhân loại một di sản vô giá: chứng minh rằng sự chuyển hóa tâm thức không phải là điều huyền bí, mà là một thực tại hiện tiền vô cùng sống động.

PAD Biên Soạn

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2026

Thu Phong - Thơ: Hoàng Lan Chi - Nhạc: Nguyễn Tuấn - Trình Bày Lâm Dung

Thơ: Hoàng Lan Chi
Nhạc: Nguyễn Tuấn
Trình Bày Lâm Dung

Trung Thu Nhi Đồng - Tranh Sơn Dầu: Họa Sĩ Nguyễn Sơn - Đề Thơ: Nguyễn Tích Lai

 
Tranh Sơn Dầu: Họa Sĩ Nguyễn Sơn

Cảm Tác Từ Tranh:

Trung Thu Thanh Bình

Mẹ ngồi hạnh phúc chống cầm xem
Ba trẻ tung tăng với chiếc đèn
Lại có vện vàng cùng hưởng ứng
Thanh bình một thuở khó ai quên

Nguyễn Tích Lai


Thu Mộng Mơ



Cho đến muôn đời thu vẫn đẹp
Lá vàng pha lá đỏ tươi xinh
Bên đường lặng lẽ hàng cây đứng
Những đoá hồng khoe sắc hữu tình

Phố Palo Alto êm đềm thơ mộng
Một buổi chiều lữ khách ghé thăm
Hoa lá reo vui theo gió lộng
Làm say lòng bao gã thi nhân...

Ta cũng say sưa phố lạ chiều
Muôn trùng lá thắm đọng thương yêu
Dọc theo con lộ dài hun hút
Vàng, đỏ, nâu, hồng...thoáng tịch liêu
!

Rừng lá mùa thu trải khắp miền
Điểm tô thêm đẹp phố bình yên
Ta ngơ ngẩn với ngàn hoa lá
Hồn bướm mơ tiên...chẳng lụy phiền

Ta thấy quanh ta xác lá vàng
Quyện tròn trong gió buổi thu sang
Tưởng như ai đó đang vương vấn
Cho mộng thêm dài...lạnh gối chăn !

Cảnh đẹp cho hồn ta ngất ngây
Tình thơ lai láng giữa trời mây
Nhìn thu ta bỗng lòng say đắm
Giấc mộng Hằng Nga...giữa cõi này ...


nguyễn phan ngọc an 
 thu 2026

Thẻ Học Sinh - Nguyễn Thị Bạch Tuyết: Cựu Học Sinh Tống Phước Hiệp - Niên Khóa 1968


Trung Thu Ngày Ấy...

 

Tết Trung thu em rước đèn đi chơi 

Mênh mông vầng trăng sáng giữa biển trời 

Đèn kéo quân đèn sao đèn lồng xếp 

Một đàn rồng rắn kéo bước chân nhau


Tiếng hát vui đùa đón hội Trung Thu 

Nhốn nháo tươi môi phố chợ lên màu 

Nhà nhà bầy biện vui rằm lễ hội

Nước trà sen bánh dẻo ngọt thơm lâu 


Một mâm bầy đầy cỗ của riêng em

Thú con sắp hàng xanh tím đỏ vàng 

Bầy mẹ gà con bên đàn lợn ủn 

Quả bưởi xanh, quả hồng đỏ như son


Ngày đó tuổi thơ ửng hồng đôi má 

Nghe chuông chùa rộn rã lắng trong mơ 

Rằm Trung thu ấy tìm trong khói lửa 

Một chiếc hài lạc lõng chuyện hôm xưa 


Em mở cửa khung trời xanh nhỏ bé 

Thấp thoáng thu về hoa cúc vàng ươm 

Vầng trăng non mơ hồ như chờ đợi 

Bóng quê thanh bình phảng phất hương thơm 


Em mang tuổi thơ xếp vào khung bánh 

Xếp ngọt bùi anh chia xẻ cùng em 

Xếp vầng trăng tròn vào tim bé nhỏ 

Cung đàn vui thuở đó tận nơi đâu.


Lê Mỹ Hoàn
8/12/2023

Thu Về


Tại Hoa-kỳ và nhiều quốc-gia ở bắc bán-cầu, mùa thu đã chính-thức bắt đầu từ ngày thứ ba 22 tháng 9. Tiết trời đã bắt đầu trở lạnh, nhất là vào buổi sáng. Ở bên Mỹ thì mới vào thu được mấy ngày, nhưng mà ở Việt-Nam và nhiều nước Á-Châu khác thì hôm nay 25 tháng 9 dương-lịch đã là ngày Trung-Thu rằm tháng tám rồi.

Hơn hai ngàn năm trước, vào đời nhà Đường bên Tàu, Bạch Cư Dị, quan Tư-Mã của quận Cửu-Giang ra tiễn khách trên bến Tầm-Dương một đêm thu, chợt nghe thuyền ai có tiếng đàn tỳ bà vọng lại. Bèn hỏi gốc gác của người đánh đàn. Người đàn bà trả lời rằng “Tôi vốn là con hát, quê ở Trường-An, học đàn tỳ bà với hai danh sư Mục và Tào. Nay tuổi đã cao, nhan sắc tàn tạ, lấy chồng làm con buôn, theo thuyền buôn xuôi ngược đây đó”. Nghe vậy, cho dọn rượu ra đãi, xin nàng đàn lại cho nghe. Đàn xong cảm xúc vô vàn, bèn làm một bài thơ tặng nàng kỹ-nữ, gọi là Tỳ bà hành.Bài thơ này dài lắm, chỉ trích ra đây một đoạn ngắn thôi.

Tầm Dương giang đầu dạ tống khách,
Phong diệp địch hoa thu sắt sắt.
Chủ nhân há mã khách tại thuyền,
Cử tửu dục ẩm vô quản huyền.
Túy bất thành hoan thảm tương biệt,
Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt.
Hốt văn thuỷ thượng tỳ bà thanh,
Chủ nhân vong quy khách bất phát. . . .

Phỏng-dịch:

Ban đêm đưa tiễn khách ở đầu sông Tầm Dương
Gió thu thổi vào lá phong, hoa lau hiu hắt
Chủ nhân xuống ngựa, khách trong thuyền
Nâng chén rượu muốn uống (mà) không có đàn sáo
Say mà không vui vẻ gì (vì) biệt ly sầu thảm
Lúc chia tay lòng mang mang, sông đượm bóng trăng
Chợt nghe có tiếng tỳ bà trên mặt nước
Chủ nhân quên về, khách cũng không khởi hành. . . .

Xuân-Diệu đã phóng-tác bài thơ này và đặt tên là Nguyệt Cầm:

Trăng nhập vào đây cung nguyệt lạnh,
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần.
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.

Mây vắng, trời trong, đêm thuỷ tinh;
Lung linh bóng sáng bỗng rung mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh.

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi...
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người...

Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê.
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê

Cung-Tiến đã mượn ý bài thơ này của Xuân-Diệu để viết bản nhạc Nguyệt Cầm. Đây là một trong mấy bài hát của Cung Tiến mà tôi rất thích. Đúng là ánh trăng quyện với tiếng đàn tạo nên một âm-hưởng du-dương và êm-dịu tuyệt-vời. Lối chuyển cung trong bài hát hết sức độc-đáo. Hai giọng hát của Đình-Bảo và Thiên-Tôn rất thích-hợp với Nguyệt Cầm:

 

Đã viết về Nhạc Thu thì không thể không nhắc tới Đặng Thế Phong.

Người nhạc-sĩ tài-hoa này không những rất giỏi về âm-nhạc mà lại còn có khiếu về hội-họa nữa. Trong một kỳ thi tại Trường Cao-Đẳng Mỹ-Thuật Đông-Dương, Đặng Thế Phong vẽ bức tranh cảnh một thân cây cụt. Giáo sư, họa sĩ người Pháp Tardieu chấm bài, khen ngợi nhưng nói rằng: Em Đặng Thế Phong sẽ không sống lâu được!

Quả nhiên câu nói này đã vận vào người ông, và ông đã qua đời rất sớm ở tuổi 24. Di-sản âm-nhạc của ông chỉ vỏn-vẹn có ba bài hát, tất cả đều liên-quan tới mùa thu:

1.Con thuyền không bến

Đêm nay thu sang cùng heo-may
Đêm nay sương lam mờ chân mây
Thuyền ai lờ-lững trôi xuôi dòng
Như nhớ-thương ai chùng tơ lòng. . . .

2.Đêm thu

Vườn khuya trăng chiếu
Hoa đứng im như mắt buồn
Lòng ta xao-xuyến lắng nghe lời hoa
Cánh hoa vương buồn trong gió
Ánh hương yê nhẹ-nhàng say, gió lay. . . .

3.Giọt mưa thu

Ngoài hiên giọt mưa thu thánh-thót rơi
Trời lắng u-buồn, mây hắt-hiu ngừng trôi
Nghe gió thoảng mơ-hồ trong mưa thu
Ai khóc ai than hờ!

Theo nhạc-sĩ Phạm Duy thì Đặng Thế Phong còn có một bài hát nữa mà rất it người biết tới. Đó là bài Sáng rừng

Sáng tới rồi! Khắp đất trời đã tưng bừng ánh vàng
Vừng đông chân trời vừa ló
Núi suối rừng đã thay màu thắm lẫy lừng huy hoàng
Và sương thêm màu mơ màng
Chim líu lo mừng sáng, hoa lá như dịu dàng. . . .

Hôm nay rằm tháng tám Âm-Lịch, mời quý anh chị nghe Trần Thái-Hòa hát Đêm thu:

 

Chúc quý anh chị một cuối tuần bằng-an và vui-vẻ.

NSH
(Tố Miên chuyển)

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

Cáo Phó Của Gia Đình Chị Võ Thị Ngọc Dung (Văn Thi Sĩ Tưởng Dung)

 

 

Trang Nhà Long Hồ Vĩnh Long Thành Kính Phân Ưu Cùng Gia Đình Chị Tưởng Dung

 

Ban Chấp Hành&Hội Viên Văn Bút Việt Nam HNVĐBHK Thành Kính Phân Ưu Cùng Gia Đình Thi Sĩ Tưởng Dung


Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (2024-2026) Thành Kính Phân Ưu Văn Hữu Tưởng Dung


Hoa Thịnh Đốn ngày 27.9.2026 

Kính thăm quý văn hữu VBVNHN,

Ban chấp hành VBVNHN (2024-2026) rất buồn khi biết tin Hiền phụ của văn hữu Tưởng Dung là ông Võ Văn Biên, Pháp danh Trực Ngộ 
qua đời ngày 23.9. 2026 tại California, Hoa Kỳ. Hưởng thượng thọ 95 tuổi.

Cung Lan xin đại diện Ban chấp hành VBVNHN (2024-2026) thành kính phân ưu cùng văn hữu Tưởng Dung và tang quyến. Xin kính mời quý văn hữu hiệp lời cầu nguyện hương linh ông Võ Văn Biên, Pháp danh Trực Ngộ sớm an nhiên miền Cực Lạc.

Cung Thị Lan

Thân Hữu CGV & MCTĐ. Thành Kính Phân Ưu Cùng Gia Đình Tưởng Dung


THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Vô cùng thương tiếc cho bác. Xin chia buồn cùng Tưởng Dung và khấn cầu cho bác tiêu diêu nơi miền cực lạc.

Thúy M.
***
Được tin BÁC TRAI đã ra đi.
Thành thật chia buồn cùng Tưởng Dung và đại gia đình trước sự mất mát lớn lao này.
Xin góp lời cầu nguyện Hương Linh Bác sớm được TIÊU DIÊU MIỀN CỰC LẠC.
Thành kính phân ưu .

Ngọc Hà và gia đình
***
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU VỚI TƯỞNG DUNG

Thành kính phân ưu với bạn hiền
Đau lòng thân phụ đã quy tiên
Trần gian con sống luôn sầu thảm
Cõi Phật Cha về mãi tịnh yên
Vẫn biết vô thường do kiếp nạn
Và rằng tan hợp ấy nhân duyên
Xin vơi buồn khổ TƯỞNG DUNG nhé!
Nguyện Bác bình an chốn cửu tuyền.

Phương Hoa 
 SEP 27, 2026
***
Tố Phương, Saokhue, Song Thy, Ngọc Hà, Thanh Hòa, Kim Oanh, 
Nghĩa GL,Tuyết Phan, Kim Loan, chị Thêm, Ngọc Huyền, Hồng Thúy Cana, 
Ngân Bình, Thanh Dương,Phan Lang, Thái Lan, Ý Nga, Phi Nga, 
Phương Lan, Sương Lam, Hoàng Thục Uyên, Ngọc Hanh…

Thân Hữu Minh Châu Trời Đông & Cô Gái Việt

Kim Phú Chân Thành Phân Ưu Cùng Em Ngọc Dung Và Quý Tang Quyến

 

Tưởng Dung Chân Thành Cảm Tạ

 
Tưởng Dung chân thành cảm ơn tất cả quý chị em trong gia đình Văn Bút VNHNVĐBHK, Văn Bút VNHNHK(2024-2026). Trang Long Hồ Vĩnh Long.  CGV và MCTĐ
Các chị Thúy M, Tố Phương, Saokhue, Song Thy, Ngọc Hà, Thanh Hòa, Kim Oanh, Nghĩa GL, 
Tuyết Phan, Kim Loan, chị Thêm, Ngọc Huyền, Hồng Thúy Cana, Ngân Bình, Thanh Dương, 
Phan Lang, Thái Lan, Ý Nga, Phi Nga, Phương Lan, Sương Lam, Hoàng Thục Uyên, Ngọc Hanh… 
đã gửi những lời chia sẻ, phân ưu rất nồng ấm, chân tình đến gia đình TD trong lúc sầu buồn vì sự mất mát lớn lao này.

Đặc biệt chị Phương Hoa với bài thơ đầy cảm xúc, cũng như chị Phương Thúy đã captured những lời phân ưu của các chị em thành 1 bản phân ưu thật đầy đủ, hoàn hảo.

Xin chân thành cảm tạ và xin được post 2 tác phẩm quý báu này lên website Ngô Quyền cùng với Phân Ưu của Trường.

Kim Oanh thật chu đáo! Cám ơn KO đã cho tất cả những lời Phân Ưu của mọi người trên các Diễn Đàn CGV, MCTĐ và VB cả lời Cảm Tạ của TDung… bay lên trang Long Hồ Vĩnh Long.
Thật vinh hạnh và vô cùng cảm kích!

Vì quá nhiều thư nếu có thiếu sót tên ai, cũng xin các chị niệm tình tha thứ.

Đa tạ, Đa tạ…♥️♥️
Tưởng Dung

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

Trung Thu Nhi Đồng - Tranh Sơn Dầu: Họa Sĩ Nguyễn Sơn

 

Tranh Sơn Dầu: Họa Sĩ Nguyễn Sơn



Có Không Em - Thơ & Thực Hiên: Hoàng Dũng - AI Hát

Thơ & Thực Hiên: Hoàng Dũng -
AI Hát

Xuân Về Hạ Vẫn

 

Gió xuân lay nhẹ đầu cành
Hương xuân thoang thoảng mộng lành đưa duyên
Tìm nhau khắp nẻo mọi miền
Chỉ nghe da diết đỗ quyên vọng về

Kim Phượng
***
Phương này nắng hạ vẫn còn vương
Phương ấy xuân sang tím cả trời
Kim Phượng ngàn trùng xa vạn dặm
Hương xuân theo gió quyện muôn phương

Hoàng Yến

Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lăng Trung 十五夜望月寄杜郎中 - Vương Kiến 王建 (Vãn Đường)


Vương Kiến 王建 (751-835) tự là Trọng Sơ 仲初, người Khoản Châu, Dĩnh Xuyên (nay là Hứa Xương, Hà Nam, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Đại Lịch thứ 10 (775), từng làm quan Tư mã Thiểm Châu. Ông trước tác "Nhạc phủ cung từ" rất được người ta khen ngợi, nổi danh ngang với Trương Tịch. Tác phẩm có "Vương tư mã tập".

Vương Kiến

Lời phi lộ

Chả biết quan lang trung họ Đỗ thân thế ra sao mà được Vương Kiến nhớ nhung sâu đậm như trong bài thơ dưới đây. Mời các bạn thưởng thức bài 十五夜望月寄杜郎中 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung, một bài thơ yêu tinh tả mối tình tri kỷ.

Nguyên tác Dịch âm

十五夜望月寄杜郎中 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung

中庭地白樹棲鴉 Trung đình địa bạch thụ thê nha,
冷露無聲濕桂花 Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa.
今夜月明人盡望 Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng,
不知秋思落誰家 Bất tri thu tứ tại thuỳ gia?

Dịch thơ
Ngắm Trăng Rằm Gửi Quan Lang Trung Họ Đỗ

Trong sân đất trắng quạ trên cây
Hoa quế âm thầm hứng sương mai
Trăng sáng đêm nay ai cũng ngắm
Ý thu chẳng biết ngụ nhà ai?


Lời bàn
Đọc chầm chậm và liên tục cả 4 câu mới thấy lối cấu trúc âm thanh của bài thơ tuyệt vời
Câu 1:
Trong sân đất trắng (trời lạnh, sương đọng, trăng sáng làm cho mặt đất có màu trắng của sương mù). Quạ đậu trên cây (Có lẽ quạ đang ngủ vì không thấy kêu. Qụa vốn đa ngoa, hễ đậu là kêu inh ỏi).
Câu 2:
Sương lạnh âm thầm (sương rơi từ từ, thâu đêm) làm ướt đẫm hoa quế.
Câu 3:
Đêm rằm mọi người (chỉ thiếu bạn) đều ra ngắm trăng (cái ý nhớ bạn khơi ra từ câu này).
Câu 4:
Chẳng biết ý thu trụ ở nhà ai đây? Nói chẳng biết mà kỳ thực đã biết rồi, (chẳng biết = đã biết). Ý thu ở nhà ai đây? (ở nhà bạn ta chứ còn nhà ai nữa!)
Hai câu 3 và 4 phối hợp với nhau, biến phủ định thành khẳng định (chẳng biết, đã biết), biến mơ hồ thành rõ ràng (tại nhà ai đây? nhà bạn chứ còn nhà ai nữa), biến mọi người thành một người (mọi người ra ngắm mà thiếu bạn), không nói tới nhớ bạn mà nhớ nhiều, không nói tới tri âm mà rất tâm đồng (bạn 

Con Cò
***

Góp ý của Hoàng Xuân Thảo:

Trung đình: sân trong/trong sân? Nhà ngày xưa thường có sân trước/tiền đình và sân trong/sân giữa/trung đình. Nhà tôi trước 1945 cũng xây cất như vậy. Đất trắng chắc là vì sương. 
Bài này có hai dải, dải đầu gồm hai câu nói sương rơi trắng cả đất nhưng chỉ có hoa quế âm thầm đón sương thôi; dải hai gồm hai câu sau nói trăng chiếu khắp thiên hạ nhưng chỉ có một người âm thầm đón ý thu thôi. Tôi chia ra hai dải là bắt chước Kim ThánhThán và Trần Trọng Kim đấy. Hai bậc tiền bối này thường phân tích bài thơ kiểu như vậy.

***

Ngắm Trăng Rằm Gởi Đỗ Lang Trung.

Trong sân đất trắng quạ cây nương,
Hoa quế âm thầm lạnh thấm sương.
Trăng sáng đêm nay bao kẻ ngắm,
Nhà ai nào biết ý thu vương?


Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Sept. 21/2026.
***

Ngắm Trăng Rằm Gởi Đỗ Lang Trung

Sân trong thềm trắng quạ nương cây
Móc lạnh lặng thinh đọng quế dầy
Trăng sáng đêm nay người thảy ngắm
Chẳng hay thu ý lạc nhà ai?

Song thất lục bát:

Quạ trên cây sân trong thềm trắng
Ướt quế hoa lạnh vắng móc rơi
Đêm nay thảy ngắm trăng soi
Chẳng hay thu ý lạc loài nhà ai?


Lộc Bắc
Sep26
***
Ngắm Trăng Rằm Trung Thu

Cây quạ đậu giữa sân ánh trắng
Hoa quế dầm sương lạnh giăng rơi
Đêm rằm người ngóng trăng soi
Ý thu biết đọng ở nơi chốn nào.


Kim Oanh
***
Đêm rằm ngắm trăng

Sân trong đất trắng quạ trên cành
Sương lạnh âm thầm ướt quế nhanh
Trăng sáng đêm rằm ai cũng ngắm
Ý thu vằng vặc rớt nhà tranh?


Thanh Vân

***

Anh Giám thì nêu nhiều thắc mắc, vì không biết Đỗ Lang Trung là ai. BS thì thấy Đỗ là ai không quan trọng, tất nhiên ông ấy là bạn của Vương Kiến, Vương ngắm trăng rằm mà nhớ bạn.
Lời bàn của anh Hoàng Ngọc Khôi rất hợp lý, TRUNG ĐÌNH là SÂN TRONG, không phải trong sân, Tiền Đình là sân trước.
ĐỊA BẠCH thì BS thấy hơi lấn cấn:
- Anh Bảo cho rằng: trăng sáng làm cho mặt đất có mầu trắng của sương mù. Sương mù trắng khi chưa rơi xuống đất, tới đất thì đọng thành nước, không trắng nữa, chỉ có tuyết xuống đất, chưa tan mới trắng thôi.
- Anh Khôi thì “ đất trắng chắc vì sương “ BS thì nghĩ, mặt đất ướt vì sương tan, phản chiếu ánh trăng nên có mầu trắng.
Cái này là bàn chơi thôi, đâu biết tác giả nghĩ sao.
Hai câu đầu tả cảnh nơi tác giả ở, hai câu sau tỏ ý nhớ bạn, nghĩ rằng lòng bạn đầy ý thu khi ngắm trăng thu.

Ngày Rằm Ngắm Trăng Gửi Lang Trung Họ Đỗ 

Sân trong, đất trắng, quạ đậu cây,
Hoa quế ướt vì sương lạnh bay,
Đêm nay trăng sáng, người ngắm mãi,
Ý thu nào biết rớt nhà ai.

Bát Sách.
(Ngày 19/09/2026)
***
Nguyên tác:            Phiên âm:
十五夜望月-王建 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt - Vương Kiến

中庭地白樹棲鴉 Trung đình địa bạch thụ tê nha
冷露無聲濕桂花 Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa
今夜月明人盡望 Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng
不知秋思在誰家 Bất tri thu tứ tại thùy gia



Các sách bên dưới có đăng bài thơ:

Vương Tư Mã Tập - Đường - Vương Kiến 王司馬集-唐-王建
Ngự Tuyển Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御選唐詩-清-聖祖玄燁
Nguyên tác bên trên được chép từ sách của Vương Kiến. Riêng sách Ngự Định Toàn Đường Thi 御定全唐詩 có tựa bài thơ là Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung 十五夜望月寄杜郎中 và cho dị bản ở câu 4 là: lạc落=rơi thay vì tại在=ở.

Giải nghĩa chữ khó:

Thập ngũ dạ: đêm 15 của tháng, ngày rằm; ở đây là rằm tháng 8 Trung Thu
Đỗ lang trung: Đỗ Nguyên Dĩnh 杜元颖 (773 – 833), một đại thần thời Trung Đường, từng giữ chức Tể tướng dưới triều vua Đường Mục Tông, bạn thân thiết của nhà thơ.
Lang trung: đây không phải là thầy thuốc Đông y, một cách gọi dân gian về sau này, mà là một chức quan triều đình. Trong hệ thống quan chế nhà Đường, là người đứng đầu một Ty thuộc Lục bộ (Hộ bộ, Lễ bộ, Binh bộ, Hình bộ...)
Trung đình: khoảng sân ở giữa nhà hoặc giữa vườn, sân trong, phần trung tâm của một ngôi đền
Địa bạch: mặt đất trắng xóa. Ở đây chỉ mặt đất ngập tràn ánh trăng rằm sáng trong như phủ sương, phủ tuyết; một loài chim bồ câu lớn, chúng chỉ đi bộ trên mặt đất chứ không bay lượn trên không trung nên mới có tên gọi như vậy, được nuôi để diệt trừ mối.
Thụ tê nha: quạ đậu trên cây. Con quạ vốn nhạy cảm với ánh sáng, khi trăng quá sáng ngỡ là trời rạng đông nên xao xác tìm nơi đậu.
Lãnh lộ: giọt sương lạnh lẽo của đêm thu.
Quế hoa: hoa quế (tên khoa học: Osmanthus fragrans), còn được gọi là Bạch Quế, Lan Quế. Hoa quế ở đây vừa chỉ những bông hoa quế nở rộ tỏa hương trong sân vào mùa thu, vừa mang tính ước lệ chỉ cây quế trong cung trăng (theo truyền thuyết Hằng Nga).
Nhân tận vọng: mọi người (ai ai) cũng đều ngẩng đầu ngắm nhìn.
Thu tứ: nỗi lòng, tâm tư hoặc nỗi hoài niệm, sầu muộn trong mùa thu, những cảm nghĩ cô đơn ảm đạm (thường là nỗi nhớ nhà, nhớ người thân).
Thùy gia: nhà ai khác, người nào khác; thi nhân đang xa nhà, nhớ quê hương, gia đình, bạn bè khi ngắm trăng rằm, nên truyền đạt cảm nghĩ của mình một cách dè dặt và tế nhị

Dịch nghĩa bài thơ:

Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung
Đêm Rằm Ngắm Trăng Gửi Quan Lang Trung Họ Đỗ

Trung đình địa bạch thụ tê nha Trong sân đất sáng trắng, quạ đậu trên cây,
Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa Sương lạnh lặng lẽ làm ướt đẫm hoa quế
Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng Đêm nay trăng sáng ai ai cũng ra ngắm
Bất tri thu tứ tại (lạc) thùy gia. Chẳng biết ý thu rơi vào nhà ai đây?

(Câu 4 có thể hiểu rằng: Đêm rằm Trung Thu trăng sáng đẹp, biết có ai thấy hứng thú để làm thơ chăng?)

Bình luận:

Vào đêm rằm Trung thu, trong khi Vương Kiến đang tụ họp cùng một số bạn bè, ông nhìn vầng trăng sáng, chạnh lòng nghĩ đến thân phận phiêu bạt của mình và nhớ đến người bạn Đỗ Nguyên Dĩnh đang ở một nơi xa xôi. Bài thơ vừa là một món quà tinh thần gửi tặng bạn, vừa là tiếng lòng sẻ chia nỗi cô đơn và hoài niệm giữa hai tâm hồn đồng điệu trong đêm Tết Trung thu.

Bài thơ của Vương Kiến là một kiệt tác của thơ ca thời Đường, nổi tiếng với hình ảnh gợi cảm và sự kìm nén cảm xúc sâu sắc. Hai câu đầu ghi lại một cách tinh tế bản chất thanh tao, se lạnh của đêm Trung thu. Cụm từ "địa bạch" (mặt đất sáng trắng) mô tả sinh động khoảng sân ngập tràn ánh trăng, trông như một lớp sương giá bao phủ. Sự im lặng tuyệt đối được nhấn mạnh bởi làn "sương lạnh không tiếng động" (lãnh lộ vô thanh), âm thầm làm trĩu nặng những bông hoa quế ngát hương.

Tết Trung thu theo truyền thống là thời gian để gia đình đoàn tựu. Bằng cách quan sát thấy "người người đều ngắm nhìn" cùng một vầng trăng, nhà thơ đã kết nối nỗi cô đơn của cá nhân ông với trải nghiệm chung của nhân loại. Đoạn kết tuyệt vời - hỏi xem "thu tứ" (ý thu/nỗi sầu mùa thu) đã rơi xuống nhà ai - chuyển trọng tâm từ cảnh vật khách quan sang niềm mong mỏi chủ quan. Cách viết này biến nỗi đau đau đáu nhớ nhà của cá nhân thành một nỗi buồn chung, đẹp đẽ của tất cả những người con viễn xứ dưới cùng một bầu trời.

Dịch thơ:
Thể thất ngôn:
Ngắm Trăng Rằm Trung Thu

Trăng sáng trong sân quạ đậu cao,
Sương đêm lạnh ướt hoa tươi màu.
Đêm nay trăm vạn người cùng ngắm,
Ai biết tình thu đọng chốn nào?


Thể lục bát:

Giữa sân mặt đất trắng ngà,
Trên cây quạ đậu, hoa đà ngậm sương.
Đêm nay trăng sáng bao la,
Thu sầu có ý viếng nhà ai đây?

Watching the Mid-Autumn Night Moon, Sent to Langzhong Du
by Wang Jian

The courtyard floor shines silver-white, crows roost upon the tree,
In silence falls the freezing dew, to drench the cassia sweet.
Tonight the moon is full and bright, all watch its brilliant gleam - free.
Yet none can tell on whose house the autumn spirit will meet.

Literal Translation:

The courtyard ground is white [with moonlight], and crows are roosting in the trees.
The cold dew falls silently, soaking the cassia blossoms.
Tonight the moon is bright, and all people look up to gaze at it.
One does not know into whose home the autumn thoughts have fallen.

Commentary:
This masterpiece beautifully captures the essence of the Mid-Autumn night through a delicate blend of imagery: the silver moonlight, the restless crows, and the dew-drenched cassia flowers. While the moonlight shines universally upon everyone, the poignant ache of autumn nostalgia is deeply personal. By ending with a subtle, open-ended question, Wang Jian transforms a shared celestial view into an intimate reflection on loneliness and homesickness during a time of reunion and celebration (Mid-Autumn Festival).

Phí Minh Tâm

***

@ý kiến của Huỳnh Kim Giám

Có thể như anh Tâm nói rằng người ta thêm 寄杜郎中 về sau nhưng các chức của Đỗ Nguyên Đĩnh cao hơn tứ phầm gồm: ty huân viên ngoại lang (司勳員外郎), trung thư xá nhân (中書舍人), Hộ bộ thị lang (戶部侍郎), thừa chí (承旨), đồng trung thư môn hạ bình chương sự (同中書門下平章事), và tể tướng (宰相). Hai trang zh. và us.Wikipedia không nói đến chức lang trung, và vì Đỗ Nguyên Đĩnh đã giữ chức tể tướng từ năm 821 , không lẽ Vương Kiến lại dùng chức lang trung để gọi bạn? Lang trung là một chức dưới thị lang. g.

@Phí Minh Tâm trả lời:

Theo trang Bách Khoa Bách Độ, Đỗ Nguyên Dĩnh 杜元颖 (769 – 833), từng giữ chức Tể tướng dưới triều vua Đường Mục Tông khoảng năm 821-823. Pmt

@ ý kiến của Huỳnh Kim Gián:

Hai trang Wikipedia chữ Anh và Hán cũng nói (từ nguồn Cựu Đường Thư) Đỗ Nguyên Dĩnh giữ chức tể tướng từ năm 821 và nếu cần tin thì tôi vẫn tin Wikipedia hơn là Baidu- 百度 vì nhiều khi Bách Độ không cung cấp nguồn. Điều tôi muốn nói là không nơi nào nói Đỗ Nguyên Đĩnh từng giữ chức trung lang.
Có lẽ vì thế mà AI nói không ai biết 杜郎中, Đỗ lang trung là ai. Nếu AI không tìm ra dữ kiện thì tôi cũng thua.

@ ý kiến của Phí Minh Tâm:

Đọc bài thơ với cái tựa dài 9 chữ thì biết ngay là phiên bản NĐTĐT của nhà Thanh. Nguyên tác của Vương Kiến có tựa là Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt 十五夜望月. Ngoài ra Vương Kiến xài chữ 在tại=ở trong câu 4 thay vì 落lạc=rơi. Chớ lấy râu ông này cắm càm bà nọ. Pmt

@ ý kiến của Lộc Bắc

Nhờ Gemini tìm tựa bài 9 chữ thì thấy được clip này :
Góp ý của mirordor:

Bài tứ tuyệt này của Vương Kiến khó hiểu một phần vì không ai biết lang trung họ Đỗ là ai nên không ai biết thi nhân muốn nhắn, hỏi ai và nói về chuyện gì. Bài thơ cũng khó hiểu một phần vì ngữ cảnh làm bối cảnh mơ hồ; thi nhân đang đứng trong sân nhà ai đó hay đang tả mặt trăng?

中庭地白樹棲鴉 trung đình địa bạch thụ tê nha

Đất ít khi có màu trắng và từ địa không hẳn phải có nghĩa là "đất" mà còn có nghĩa nền, sàn, v.v... và địa bạch ở đây có thể chỉ mặt trăng. Vì quạ có toàn bộ lông màu đen, người Tàu phương nam tin rằng 鴉=nha/quạ báo điềm bất tường trong khi ở phương bắc quạ lại là biểu tượng cho chữ hiếu..

冷露無聲濕桂花 lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa

桂花=quế hoa là cây mộc với hoa dùng để ướp trà của người Việt, và quế hoa cũng là cây mà người Tàu thấy trên mặt trăng trong huyền thoại Ngô Cương (吴刚). Có nhiều huyền thoại về Ngô Cương - hình như là nhân vật trong một tiểu thuyết nhưng Ngô Cương là người bị phạt phải đốn cây quế trên cung trăng và cây này liên tục mọc trở lại sau khi bị đốn nên họ Ngô vĩnh viễn làm chuyện vô vọng, tương đương với huyền thoại Sysiphus của tây phương.

今夜月明人盡望 kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng

Từ 望=vọng có nhiều nghĩa: hướng về, nhìn xa, ước, bái phỏng, oán trách có thể dùng cho câu ba và không có cách gì đoán thi nhân muốn dùng nghĩa nào, một phần vì từ 盡=tận chỉ có thể là một trạng từ bổ nghĩa cho vọng nhưng các nghĩa tất cả, hết hay quá sức không cho nghĩa nào rõ ràng cho câu thơ!

不知秋思落誰家 bất tri thu tứ lạc thùy gia

思=tứ là tâm tình hay ý niệm. Vì tựa đề bài thơ bảo là để gửi cho một nhân vật họ Đỗ nào đó, người đọc có thể hiểu là thi nhân họ Vương đang phân vân không biết Đỗ lang trung đang nghĩ hay vọng/mơ ước gì. Lang trung thời Đường là một chức ngũ phẩm trong triều lo việc hành chánh cho một bộ nào đó. Phải chăng thi nhân hàm ý rằng Đỗ mong được thăng quan tiến chức nhưng đang gặp điều bất tường?

Huỳnh Kim Giám


Peace and Joy. Happiness - An Bình Và Niềm Vui.Tức Hạnh Phúc - (An Vui)


Ai cũng muốn có an bình và niềm vui, peace and joy, tức hạnh phúc.

Nhưng hầu hết đều đi tìm an bình và niềm vui, tức hạnh phúc bằng cách nương tựa vào thế giới bên ngoài tâm.
Rồi họ không thể không thấy rằng mọi thứ bên ngoài tâm đều không ổn định, luôn biến đổi, vì thế họ luôn sống trong bất an lo lắng.

Một điều hầu hết ai cũng cảm nhận được dễ dàng vì nó quá rõ ràng và trực tiếp, đó là:

- khoái lạc giác quan thể chất mang lại cho họ khoái cảm và niềm vui, làm cho họ vui sướng, cảm thấy hạnh phúc
- khi dược khen, được yêu, được ngưỡng phục thì họ vui sướng, có thể còn vui sướng, hạnh phúc hơn cả khoái lạc thể chất.
Vì thế họ khao khát đuọc hưởng lạc càng nhiều càng tốt, khao khát được yêu, được khen, được ngưỡng phục, hâm mộ càng nhiều càng tốt.

Họ nghĩ rằng tiền bạc, chức vị, danh vọng có thể bảo đảm sự an tâm, an bình, niềm vui và hạnh phúc vững bền.
Họ không thấy rằng những thứ đó không thể giúp họ tránh khỏi khổ tâm do sinh lão bệnh tử, khổ tâm do ái biệt ly, cầu bất đắc, oán tăng hội.

Cuộc sống của họ trải qua sự thăng trầm không thể tránh khỏi: an bình và niềm vui, tức hạnh phúc tạm bợ luôn luôn được nối tiếp bởi đau khổ.
Và, đây chính là cái khổ luôn luôn hiện diện trong tâm họ, dù khi ẩn khi hiện : đó là bất an lo lắng. Họ thực sụ không bao giờ có hạnh phúc. Làm sao có thể gọi là hạnh phúc thật sự khi tâm luôn luôn bất an, lo lắng!?

Họ không thấu hiểu được:

- Vô Thường Tùy Duyên
- Vô Ngã: tuyệt đối không có một cái Tôi nào cả. Cái Tôi chỉ là một ảo tưởng.
- Khổ, 4 Sự Thật về Khổ, tức Tứ Diệu Đế.

Chỉ khi nào họ đã trải qua những đau khổ, cảm nhận thấm thía cái khổ do Tham Ái và Ngã Mạn, dẫn tới Khao Khát khoái lạc thể chất và khoái lạc cho cái Ngã ảo tưởng, thì họ mới thấy được, hiểu ra rằng chính Tham Ái và Ngã Mạn là nguồn gốc của khổ đau, và buông bỏ Tham Ái và Ngã Mạn thì họ mới có thể có An Vui Chân Thật Sự, tức Hạnh Phúc Chân Thật.

An Bình và Niềm Vui, tức Hạnh Phúc chân thật chỉ có thể dựa trên những yếu tố bên trong tâm: 

Đó là Trí Tuệ và Từ Bi, sinh khởi từ Trí Tuệ.
Để có và DUY TRÌ Trí Tuệ thì phải duy tri Chánh Niệm nhờ vào Chánh Tinh Tấn, Chánh Định.
Buông bỏ Tham Ái, Khao Khát khoái lạc giác quan và khoái lạc cho cái Ngã ảo tưởng và từ đó thực hiện Từ Bi là cách duy nhất để Dứt Khổ và có An Vui.

Nhưng phải hiểu rõ và nhớ rằng cần buông bỏ tham ái, attachment, lobha, và khao khát khoái lạc giác quan, chứ không phải buông bỏ khoái lạc giác quan vì cảm thọ giác quan là cái không thể tránh khỏi.
Còn khoái lạc cho cái Ngã là cái khoái lạc ảo tưởng, sinh khởi từ ảo tưởng về Ngã, đó là cái khoái lạc ảo tưởng của người bị bệnh hoang tưởng, psychosis, delusional psychosis của bệnh tâm thần phân liệt, schizophrenia

Với một cư sĩ tại gia thì Chánh Mạng là cách duy nhất thực hiện An Vui, tức Hạnh Phúc Chân Thật cho chính bản thân và đồng thời góp phần giúp người khác tránh khổ và có An Vui, Hạnh Phúc chân thật.

Phật nói:

Tôi không khuyên bạn bất cứ điều gì.
Tôi chỉ nói lên Sự Thật Nhân Quả.
Có A thì sẽ có B
Tham Ái thì sẽ Khổ Đau
Ngã Mạn thì Khổ Đau tột cùng
Buông bỏ Tham Ái và Ngã Mạn thì sẽ có An Vui, Hạnh Phúc chân thật.

Bạn có Tự Do tuyệt đối: 

Tùy bạn quyết định chọn lựa.

An Vui

Nhớ Tết Trung Thu Và Chiếc Lồng Đèn Cá Chép


Tháng Tám về, trăng tròn trước ngõ. Mỗi khi nhìn lên vầng trăng ấy, tôi lại nhớ đến một mùa Trung Thu rất xa, một mùa Trung Thu mà đến tận bây giờ, dù đã đi qua bao nhiêu năm tháng, tôi vẫn không thể nào quên. Năm đó, ba vừa ra khỏi trại cải tạo.

Ngày ba trở về, cả nhà tôi vui lắm. Ba gầy đi nhiều, mái tóc đã pha vài sợi bạc. Những năm tháng trong trại đã để lại trên người ba nhiều dấu vết mà một đứa trẻ như tôi khi ấy chưa đủ hiểu để gọi tên. Tôi chỉ biết ba thường ngồi rất lâu ngoài hiên, đôi khi đưa tay xoa lên đầu, rồi nhìn xa xăm như đang nhớ về một nơi nào đó rất xa. Nhưng với tôi, điều quan trọng nhất là ba đã về.

Đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi được đón Trung Thu có ba ở nhà. Những năm trước, Trung Thu đối với lũ trẻ trong xóm là một ngày hội. Đứa nào cũng có lồng đèn. Đứa thì lồng đèn ngôi sao, đứa có lồng đèn bánh ú, đứa khá hơn thì có những chiếc lồng đèn mua ngoài chợ, đủ màu sắc. Còn tôi, nhà nghèo, chẳng có tiền mua lồng đèn.

Có năm, tôi dành dụm mãi mới mua được hai lon sữa bò đã uống hết ở quán cà phê dưới xóm. Tôi đem về, dùng đinh đục những hàng lỗ nhỏ chung quanh thân lon. Tôi lấy những thanh tre nhỏ nẹp lại làm bánh xe, rồi kiếm một miếng vải, nhúng dầu lửa và gắn vào bên trong lon làm đèn.

Mỗi khi đẩy đi, chiếc lon lăn, va vào nhau phát ra tiếng leng keng, leng keng. Ánh lửa nhỏ chập chờn trong lon, lúc sáng lúc tối theo từng bước chân. Tôi cứ vừa đẩy chiếc lồng đèn tự chế ấy, vừa chạy lon ton theo đám trẻ trong xóm, lòng vui như thể mình đang có một chiếc lồng đèn đẹp nhất.

Vậy mà Trung Thu năm ấy, tôi không còn phải chắt chiu từng đồng để mua lon sữa làm lồng đèn nữa. Vì năm ấy, ba đã trở về và tự tay làm cho chúng tôi một chiếc lồng đèn cá chép, chiếc lồng đèn lớn nhất và cũng là chiếc lồng đèn đẹp nhất trong ký ức tuổi thơ của tôi.

Ba tôi nói:
- Để ba làm cho mấy đứa một cái lồng đèn.
Tôi nhìn ba, bán tín bán nghi. Tôi chưa bao giờ thấy ba làm lồng đèn.

Vài tuần trước Trung Thu, ba sang nhà hàng xóm xin mấy cây tre. Người ta cho ba vài cây tre khô, ba vác về đặt trước sân rồi ngồi xuống, lấy rựa cẩn thận róc từng nhánh tre. Tôi ngồi bên cạnh, tò mò nhìn đôi bàn tay ba thoăn thoắt làm việc. Ba chẽ những thân tre thành từng thanh nhỏ, lựa những đoạn vừa dẻo vừa chắc rồi uốn cong thành những vòng tròn lớn nhỏ khác nhau. Ba dùng những sợi dây lạt buộc chặt từng mối nối, kiên nhẫn ghép vòng này với vòng kia. Một vòng. Rồi hai vòng. Rồi thêm nhiều vòng nữa.


Những vòng tre nối tiếp nhau, dần dần tạo thành một bộ khung kỳ lạ mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Tôi ngồi nhìn hồi lâu, càng nhìn càng thấy tò mò, không biết ba đang định làm thứ gì. Cuối cùng, không nhịn được, tôi ngước lên hỏi:
- Ba làm lồng đèn gì vậy?
Ba cười:
- Lồng đèn cá chép.
Tôi ngạc nhiên hơn bởi tôi chưa bao giờ thấy con cá nào được làm từ những vòng tròn như vậy.

Ba kiên nhẫn nối những vòng tròn lại với nhau. Dần dần, một bộ xương cá hiện ra trước mắt tôi. Có đầu cá, thân cá, rồi đến đuôi. Hai bên là những chiếc vây được uốn cong bằng tre. Tôi ngồi nhìn say mê.
Trong mắt tôi lúc đó, ba giống như một người thợ tài hoa nhất trên đời. Nhưng làm được bộ khung chỉ mới là một nửa câu chuyện.
Ba nhìn chiếc khung rồi nói:
- Giờ thiếu giấy.

Nhà tôi nghèo. Tiền mua gạo còn phải tính từng bữa, nói gì đến chuyện mua giấy màu làm lồng đèn. Ba định xin những bao xi măng cũ của những nhà đang xây cất trong xóm về lấy mặt giấy bên trong dán lên khung lồng đèn. Nhưng chờ mãi, cả xóm chẳng thấy nhà nào xây cất, trong khi ngày Trung Thu cứ mỗi lúc một gần. Một buổi chiều, khi ba đang ngồi bên bộ khung cá chép còn trơ những vòng tre, ba nhìn tôi rồi nói:
- Con đi học về, thấy giấy nào người ta bỏ thì gom về cho ba.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Giấy gì cũng được hả ba?
Ba cười, giọng nhẹ tênh:
- Ừ, miễn là còn dán được.

Chỉ một câu nói đơn giản vậy thôi mà từ hôm đó, sau tiếng trống tan trường, tôi không còn vội chạy về nhà như mọi ngày. Tôi bắt đầu đi tìm giấy cho ba. Tôi đi từng lớp học, từng phòng học, len qua từng dãy bàn, rồi cúi xuống mở từng hộc bàn để tìm những thứ người khác đã bỏ quên. Những tờ giấy học trò nhàu nát, những trang vở xé dở, những bài kiểm tra cũ, những mảnh giấy chỉ còn một nửa, thậm chí cả những chiếc máy bay giấy bị vò nhàu sau những lần phóng ra cửa sổ... tôi đều nhặt. Có những tờ giấy còn một mặt trắng, tôi cẩn thận vuốt phẳng rồi xếp riêng. Có những tờ đã bị vò đến nhăn nhúm, tôi vẫn nhặt lên, dùng bàn tay nhỏ của mình miết đi miết lại cho bớt nhàu. Những chiếc máy bay giấy nằm dưới sân, tôi cũng nhặt về, tháo từng nếp gấp rồi đem theo. Trong mắt người khác, đó chỉ là những mảnh giấy vụn chẳng còn giá trị, nhưng trong mắt tôi lúc ấy, mỗi mảnh giấy đều quý giá, bởi tôi biết chúng sẽ trở thành một phần của chiếc lồng đèn cá chép mà ba đang ngày đêm làm cho anh em tôi.

Có những hôm tôi phải ở lại sau giờ học để chờ đến lúc các bạn làm vệ sinh lớp. Khi tiếng trống báo hết tiết vang lên, lũ trẻ ùa ra sân, còn tôi lại lặng lẽ ở lại phía sau. Tôi đi dọc theo từng hàng bàn, cúi xuống nhặt những mảnh giấy nằm dưới chân ghế, trong góc lớp, sau cánh cửa hay mắc lại đâu đó trong những chiếc hộc bàn. Có hôm, tôi đi hết phòng này sang phòng khác, tay ôm một xấp giấy nhàu nát mà lòng vui không tả được. Tôi cứ tưởng tượng đến lúc mang chúng về, ba sẽ lấy từng tờ ra lựa chọn, vuốt phẳng rồi dán lên thân con cá chép. Tôi nghĩ đến ngày Trung Thu, khi chiếc lồng đèn hoàn thành, tôi sẽ được đứng bên ba nhìn nó sáng lên giữa sân nhà.

Một hôm, cô giáo đi ngang qua thấy tôi đang lúi húi nhặt giấy dưới một dãy bàn. Cô dừng lại hỏi:
- Con tìm gì vậy?
Tôi giựt nảy mình, rồi ngẩng đầu lên nhìn cô giáo. Hai tay vẫn đang ôm một xấp giấy vụn, rồi thật thà trả lời:
- Dạ con đi lượm giấy đem về cho ba làm lồng đèn Trung Thu.
Cô nhìn tôi một lúc, rồi nhìn xuống những mảnh giấy trong tay tôi. Cô mỉm cười, không hỏi thêm gì, chỉ nhẹ nhàng nói:
- Vậy con cứ nhặt đi.

Từ hôm đó, tôi càng chăm chỉ đi lượm giấy hơn. Tôi không còn thấy những mảnh giấy nằm dưới gầm bàn là rác nữa. Tôi thấy trong đó có hình dáng của một con cá chép đang chờ được hoàn thành, có ánh sáng của đêm Trung Thu đang đến gần, và có cả niềm vui của một đứa trẻ lần đầu tiên được đón Tết Trung Thu bên người cha vừa trở về sau những năm tháng xa nhà.

Mỗi buổi chiều, tôi lại ôm túi giấy vụn chạy về nhà, lòng háo hức chờ ba đi rẫy trở về. Vừa thấy bóng ba thấp thoáng ngoài con đường đất, tôi đã chạy ào ra, đặt xấp giấy mình nhặt được suốt cả ngày trước mặt ba rồi hí hửng khoe:
- Ba ơi, hôm nay con lượm được nhiều lắm!

Ba ngồi xuống bên hiên, đón lấy xấp giấy từ tay tôi, chậm rãi mở ra và lựa từng tờ. Tờ nào còn nguyên, ba vuốt phẳng. Tờ nào nhàu quá, ba kiên nhẫn dùng bàn tay chai sạn miết đi miết lại. Những mảnh giấy nhỏ, rách hoặc không còn nguyên vẹn, ba cũng không bỏ. Ba chưa bao giờ chê chúng quá cũ, quá nhàu hay quá rách. Ba chỉ lặng lẽ lựa từng mảnh, như thể mỗi thứ tôi mang về đều là một món quà quý giá. Tôi ngồi bên cạnh, nhìn đôi bàn tay từng trải của ba nâng niu những mảnh giấy học trò, và trong tâm hồn non nớt của mình khi ấy, tôi chợt hiểu rằng những thứ người khác bỏ đi, qua bàn tay ba, vẫn có thể trở thành một điều gì đó thật đẹp.

Đến khi gom được đủ giấy, ba bắt đầu làm lồng đèn. Ba lấy bột quậy với nước rồi nấu sôi thành một thứ hồ dán đơn sơ, rồi mấy cha con tôi xúm xít bên nhau quanh bộ khung cá chép bằng những vòng tre. Ba phết từng lớp hồ lên mặt giấy, rồi nhẹ nhàng đặt lên khung. Tôi phụ ba giữ những góc giấy. Anh tôi chuyền từng mảnh giấy nhỏ. Không có giấy màu mới, cũng chẳng có keo dán tốt như những chiếc lồng đèn bán ngoài chợ, chúng tôi chỉ có những tờ giấy học trò đã qua tay người khác, những mảnh giấy nhàu nát tôi nhặt được sau giờ học và bộ khung tre ba đã kỳ công uốn từng vòng. Vậy mà dưới bàn tay ba, từng mảnh giấy cứ lần lượt nối vào nhau, miếng này chồng lên miếng kia, chỗ rách được che lại bằng một mảnh khác, chỗ trống được ba kiên nhẫn vá vào. Thân cá trống rỗng ngày nào dần dần có da có thịt, có đầu, có thân, có vây, có đuôi. Mỗi ngày nhìn nó lớn thêm một chút, tôi lại thấy trong lòng mình nôn nao một niềm vui khó tả. Tôi không chỉ chờ chiếc lồng đèn hoàn thành. Tôi chờ một mùa Trung Thu đầu tiên có ba bên cạnh.

Rồi Trung Thu cũng đến. Trước ngày rằm vài hôm, chiếc lồng đèn cá chép cuối cùng cũng hoàn thành. Ba treo nó giữa sân, tôi đứng bên cạnh nhìn mà ngỡ ngàng. Nó lớn hơn rất nhiều so với những chiếc lồng đèn mà tôi từng thấy, lớn đến mức tôi biết chắc mình không thể cầm nó đi rước đèn cùng đám trẻ trong xóm. Tôi ngước nhìn ba rồi hỏi:
- Ba, mình đem nó đi đâu?
Ba cười hiền:
- Không đem đi đâu hết. Treo trước sân cho tụi con chơi.

Ba lấy sợi dây buộc chiếc cá chép lên cao, ngay trước hiên nhà. Khi trời vừa sụp tối, ba thắp ngọn đèn bên trong. Một quầng sáng ấm áp từ bụng cá lan ra, xuyên qua những lớp giấy học trò chắp vá, làm hiện lên những đường nhăn, những vết gấp và cả những mảnh giấy tưởng chừng đã bị cuộc đời bỏ quên. Vậy mà dưới ánh đèn, tất cả bỗng trở nên lung linh. Đúng lúc ấy, một cơn gió từ ngoài đồng thổi qua. Chiếc đuôi cá khẽ ngoe nguẩy, hai chiếc vây rung rinh, cả thân cá chao nhẹ như đang bơi giữa một dòng sông ánh sáng. Tôi đứng nhìn không chớp mắt. Trong khoảnh khắc ấy, tôi có cảm giác ba đã không chỉ làm cho chúng tôi một chiếc lồng đèn, mà đã dùng đôi bàn tay của mình để làm nên cả một thế giới tuổi thơ.

Tiếng trẻ con ngoài đường mỗi lúc một gần. Một đứa nhìn thấy chiếc cá chép liền gọi to:
- Qua coi lồng đèn nhà thằng Chút kìa. Cái lồng đèn con cá bự tổ bố.
Rồi đứa này kéo đứa kia, chẳng bao lâu trước sân nhà tôi đã đầy những đứa trẻ trong xóm. Những chiếc lồng đèn ngôi sao, bánh ú đủ màu đang rước đèn ngang qua cũng lần lượt dừng lại. Đám trẻ đứng chen nhau dưới sân, ngước cổ nhìn con cá chép khổng lồ đang đung đưa trong gió. Chẳng đứa nào muốn đi tiếp. Có đứa trầm trồ, có đứa chạy vòng quanh, có đứa cứ đứng nhìn mãi chiếc đuôi cá đang phe phẩy như thật. Ánh trăng rằm từ trên cao rót xuống sân, hòa cùng ánh sáng từ những chiếc lồng đèn nhỏ trong tay bọn trẻ và ánh đèn vàng ấm áp trong bụng con cá. Đêm Trung Thu năm ấy, trước sân nhà tôi sáng rực như một khoảng trời riêng. Tôi đứng bên cạnh ba, lòng đầy tự hào. Ba không nói gì, chỉ đứng lặng lẽ nhìn chiếc lồng đèn do chính tay mình làm ra. Tôi quay sang nhìn ba và bắt gặp một nụ cười rất hiền trên gương mặt đã hằn nhiều dấu vết của những năm tháng xa nhà. Tôi không biết lúc ấy ba đang nghĩ gì, chỉ biết rằng nụ cười ấy đã ở lại trong ký ức tôi suốt cả cuộc đời.

Nhiều năm đã trôi qua. Nhưng mỗi khi tháng Tám trở về, mỗi khi nhìn thấy vầng trăng tròn treo trước ngõ, tôi lại nhớ đến những buổi chiều năm ấy. Tôi nhớ những hộc bàn mình từng cúi xuống tìm từng mảnh giấy, nhớ những giờ vệ sinh ở lại sau cùng để nhặt những thứ người khác bỏ đi, nhớ tiếng bước chân mình chạy trên con đường đất mỗi chiều để mang túi giấy về cho ba. Và hơn hết, tôi nhớ đôi bàn tay chai sạn của ba, đôi bàn tay đã nhặt nhạnh, uốn nắn, chắp vá và biến những thứ tưởng như chẳng còn giá trị thành một chiếc lồng đèn đẹp đẽ.

Ngày ấy, tôi chỉ nghĩ ba làm cho chúng tôi một chiếc lồng đèn để đón Trung Thu. Nhưng càng lớn, tôi càng hiểu rằng chiếc lồng đèn cá chép ấy chưa bao giờ chỉ là một món đồ chơi. Nó được làm từ những cây tre xin được, những mảnh giấy người ta bỏ đi, thứ hồ dán đơn sơ và đôi bàn tay đã trải qua quá nhiều nhọc nhằn của ba. Nó được kết lại bằng tình thương của một người cha vừa trở về với gia đình sau những năm tháng xa cách. Ba đã không có tiền để mua cho chúng tôi một chiếc lồng đèn đẹp như những đứa trẻ khác, nên ba đã dùng tất cả những gì mình có để tự tay làm một cái. Và có lẽ, chính vì được làm từ những điều nghèo khó nhất mà nó lại trở thành món quà giàu có nhất trong tuổi thơ tôi.

Bây giờ, tôi không còn nhớ những chiếc lồng đèn ngôi sao hay bánh ú năm ấy đẹp đến mức nào. Tôi cũng không nhớ chiếc lồng đèn cá chép đã có bao nhiêu mảnh giấy, bao nhiêu vòng tre hay được treo ở đó bao nhiêu mùa Trung Thu. Tôi chỉ nhớ hình ảnh con cá chép lắc lư trong gió dưới ánh trăng rằm, nhớ lũ trẻ đứng kín trước sân và nhớ ba đứng phía sau, lặng lẽ mỉm cười. Có những món quà rồi sẽ cũ, có những thứ rồi sẽ mất đi theo năm tháng, nhưng tình thương mà người ta gửi vào một món quà thì không bao giờ mất. Cái lồng đèn cá chép năm ấy được làm từ tre, giấy vụn và ánh sáng, nhưng bơi suốt một đời trong dòng sông ký ức của tôi.

Võ Phú