Hiển thị các bài đăng có nhãn Mỹ Nga. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mỹ Nga. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2022

Nhớ Lại Tháng Ngày Qua….


Những kỷ niệm thời thơ ấu

Nơi sinh của tôi là thành nội Huế, gần hồ Tịnh Tâm đầy hoa sen nở rộ vào tháng sáu, thơm ngát dịu cả một vùng trời. Mẹ tôi cũng sinh vào tháng sáu nên mẹ tôi được ông ngoại tôi đặt cho biệt hiệu là "Bạch Liên", hoa sen trắng. Mãi về sau này khi em gái tôi ra đời, mẹ tôi đặt cho em tên Mỹ Liên, tôi mới được mẹ giải thích vì sao mẹ đặt tên này cho em.

Khi lên 5 tuổi thì tôi theo cha mẹ vô Sài Gòn vì cha tôi phải vào Sài Gòn làm việc. Ông bà ngoại, họ hàng Nội Ngoại của tôi tất cả ở Huế. Cha mẹ tôi là một trong những người "tiên phong" trong họ hàng vào Sài Gòn lập nghiệp thuở đó. Mỗi lần có cô dì chú bác từ Huế vào Sài Gòn chơi, ai cũng mang theo một ít quà quê hương miền Trung xa lắc xa lơ cho gia đình tôi, nào là nón lá bài thơ hay chiếc nón găng nặng trịch quê quê có thêu rồng phượng mặt bên trong, nào là những xâu hột sen khô, mè xửng dòn, mè xửng dẻo, bánh ít đen lá gai, những con nuốc không chân trắng phau (miền Nam gọi là con sứa) ăn với trái vả đắng chát chấm mắm ruốc mà ngày xưa còn bé tôi chẳng thấy nó ngon ở chỗ nào cả, chỉ thấy mẹ tôi hít hà chắt lưỡi chép miệng "răng mà ngon như ri hè" …... Những món quà tuy nhỏ nhoi tầm thường nhưng thấm đượm cả một tình quê hương, làm sao mà không ngon cho được. Mãi sau này, khi sống xa quê hương hàng vạn dặm, xa cả một nửa vòng trái đất, lúc đó tôi mới lờ mờ cảm nhận được những cái nho nhỏ mà vô cùng quý báu đó.

Ông bà nội tôi mất sớm nên chúng tôi chỉ còn ông bà ngoại. Tôi không nhớ rõ năm nào, chỉ biết là lúc ấy tôi còn nhỏ lắm, cha tôi chở chúng tôi bằng chiếc xe Citroen màu đen từ Sài Gòn về Huế ăn Tết với ông bà ngoại và gia đình cậu dì của tôi. Một mình mẹ lo sửa soạn chuẩn bị mọi thứ cho bầy con 6 đứa một chuyến đi chơi xa. Chuẩn bị ở đây có nghĩa là ngoài quần áo, giày dép, áo len áo ấm này nọ vì thời tiết vào dịp tết ở Huế lạnh lắm, mẹ còn phải bới xén các thức ăn vặt vãnh cho anh em chúng tôi ăn dọc đường, từ trái cây, khoai sắn cho đến cơm vắt thịt kho, thịt chà bông …vì lũ anh em chúng tôi như "tằm ăn rỗi" lúc nào cũng ăn và lúc nào cũng đói, mà ăn dọc đường dọc xá thì vừa bụi bậm lại vừa tốn kém. Là con gái lớn tôi được mẹ giao phó mang đồ ăn thức uống chất vào xe để còn biết chỗ mà lấy cho các em khi chúng nó kêu đói.

Chuyến viễn du từ Sài Gòn ra Huế

Tôi chỉ nhớ là ngày ấy từ sở làm về, mới bước chân vào nhà cha tôi đã hối hả giục cả nhà lên xe. Hối giục vẫn là một thói quen cố hữu của cha tôi và mẹ tôi thì lúc nào cũng bắt cha tôi chờ, không bắt chờ sao được khi mọi chuyện lớn nhỏ trong nhà chỉ một tay mẹ lo… Thứ nào chúng tôi chưa kịp đem lên xe là cha tôi bắt bỏ lại, vội vã lái xe ra khỏi thành phố, lên xe rồi ông mới giải thích cho mẹ và anh em tôi vì sao mà phải quýnh quáng đi như ma đuổi như thế. Ông nói giờ phút chót, chính phủ đã ra lệnh giới nghiêm khẩn cấp, cấm ngặt tất cả mọi di chuyển ra khỏi thành phố trong dịp Tết, công chức càng tuyệt đối không được rời nhiệm sở …. Nếu chần chờ thêm vài ba tiếng đồng hồ nữa thì không thể nào ra khỏi thành phố, và như thế là phải dẹp chuyến đi ăn Tết ở Huế mà cha mẹ tôi đã chờ đợi và hứa hẹn với ông bà ngoại từ mấy tháng nay. Đó là những ngày trước Tết Canh Tý….

Ngày xưa những chuyến du lịch xa xôi như thế này thật là hiếm hoi chứ không như bây giờ. Từ Sài Gòn mà lái xe theo quốc lộ số 1 về đến Huế là cả một ….chuyến viễn du, cứ như là đi du lịch năm châu bốn bể ra ngoại quốc không bằng. Năm đó mẹ tôi đang mang thai người em thứ 7 của tôi, cô em gái duy nhất, nếu tính ngược dòng thời gian thì năm đó phải là năm 1960…..Một mình cha tôi lái từ Sài Gòn ra Huế, một chuyến đi dài gần 1000 km, đi máy bay chong chóng thời ấy cũng phải mất cả 3 tiếng đồng hồ, còn lái xe hơi thì cà rịch cà tang phải đi mất 3 ngày 2 đêm mới đến. Chúng tôi đã đi qua những tỉnh miền Trung quen thuộc như Phan Thiết, Cam Ranh, Nha Trang, xa hơn nữa là Quy Nhơn, Bình Định,Tuy Hoà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Tam Kỳ, Đà nẵng và cuối cùng về đến Huế. Con đường quốc lộ số 1 thời ấy có thể nói là còn tạm an ninh, không có những đồn bót canh gác nghiêm phòng cẩn mật kiểm soát như sau này. Đường xá thì ổ gà ổ vịt, khi là một khúc đường nhựa không có lề đường, không có vạch kẻ ngăn chia hai chiều, khi thì chỉ là một con đường đất đỏ, bụi tung mịt mù, những cây cầu cũ kỹ vặn mình răng rắc mỗi khi xe chúng tôi qua cầu …Xe cộ dọc đường phần lớn là xe đạp, họa hoằng lắm mới có một chiếc xe đò chở lưa thưa hành khách với những giỏ cần xé nằm lỏng chỏng trên nóc theo nhịp xe nhún lên nhún xuống lắc lư tránh ổ gà cứ như sắp sửa rơi xuống đường.

Cha tôi cứ phải bấm còi tin tin để qua mặt xe hàng, mỗi lần qua mặt như thế anh em chúng tôi lại được dịp vỗ tay ầm ĩ, cha tôi cũng vui lây với lũ con mà quên đường xa dằn xóc …. Đường xá có dằn xóc tốt xấu kiểu gì thực ra cũng chẳng ăn thua gì với lũ trẻ con chúng tôi. Cả sáu anh em tôi lúc ấy chỉ thích đứng, chen nhau mà đứng để được nhìn đằng trước, không ai chịu ngồi. Lấn được là lấn, chẳng đứa nào nhịn đứa nào. Chỉ có 2 cậu em nhỏ nhất là đành phải ngồi vì lấn không lại mấy ông anh và bà chị. Thời đó làm gì có chuyện cài giây an toàn, đứng mãi cũng mỏi nên anh em chúng tôi thay nhau ngồi, và dĩ nhiên chỉ chịu ngồi khi buồn ngủ vì lý do dễ hiểu là không thể ngủ đứng được. Mỗi lần dừng chân ở đâu để nghỉ xả hơi ăn uống, lúc lên xe đi tiếp anh em chúng tôi tự điểm danh từ số 1 đến số 6, con số 6 thì tôi hô giùm cho cậu em út lúc đó mới 3 tuổi. Tài xế chỉ cần nghe đến số 6 là rồ máy chạy, cha mẹ tôi phải dọa như thế để chúng tôi sợ mà lo leo lên xe nhanh nhanh, chứ đứa leo lên, đứa leo xuống, cứ như cóc bỏ dĩa thì chẳng bao giờ "đề pa" đi được. Tội nghiệp cha tôi phải gồng người ra mà lái vì mẹ tôi không biết lái xe. Nhưng có lẽ làm quan tòa phân xử anh em tôi vì dành chỗ đứng tốt trên xe cũng đủ làm mẹ tôi mệt lử, hết quay bên này đến quay bên kia dỗ dành, công việc này e còn mệt và căng thẳng hơn cả lái xe …

Những đôi guốc gỗ

Tôi còn nhớ khi về đến Quy Nhơn, chúng tôi phải nghỉ đêm cuối ở đây, đêm đầu thì ngủ lại ở Nha Trang. Bọn anh em tôi, 4 đứa lớn ngủ một phòng, 2 em nhỏ thì ngủ chung với cha mẹ tôi. Khách sạn để guốc gỗ ở ngoài cửa phòng cho khách trọ đi cho sạch chân … Anh em tôi ở nhà vốn quen chạy chơi với chân không, nay thấy mấy đôi guốc gỗ ngộ nghĩnh nên cả bọn khoái tỉ, cứ thế mà thay nhau xỏ guốc, mang guốc, rồi đi tới đi lui lộp cộp trong phòng ngủ, lâu lâu có đứa còn giả bộ ra mấy lu nước nằm dọc hành lang để ….rửa chân cho mát. Mấy anh em tôi cứ thế mà đi tới đi lui, lụp cà lụp cụp suốt đêm. Cha mẹ tôi lúc này đã yên giấc sau một ngày mệt nhọc, không ngờ là bầy con đang phá làng phá xóm, phá giấc ngủ của khách ngủ trọ trong khách sạn… Sáng hôm sau khi xuống trả tiền trọ, ông chủ khách sạn đưa cho cha tôi mảnh giấy nhỏ của một người khách trọ nào đó. Tờ giấy với nội dung "Yêu cầu khách sạn cất guốc khi có con nít đến ngủ trọ". Ông chủ khách sạn kể rằng, đêm khuya ông khách trọ này không ngủ được vì ồn quá đã bỏ đi và để lại mảnh giấy này. Cha mẹ tôi cầm mảnh giấy trong tay….nhưng biết làm sao hơn với lũ con nghịch ngợm, có la mắng chúng tôi lúc đó thì chuyện cũng đã rồi, đành xin lỗi và có lẽ cũng đang thầm xin lỗi ông khách trọ không quen đã để lại một lời trách hết sức là nhẹ nhàng lịch sự và tế nhị….

Ra khỏi địa phận Qui Nhơn Bình Định là đèo Đại Lãng phong cảnh thật hữu tình … Trên cao nhìn xuống những rặng dừa xanh ngút ngàn, sóng biển trắng xóa đập vào ghềnh đá văng bọt nước lên cao, bờ biển khi ẩn khi hiện sau rặng dừa xanh, ánh nắng rực rỡ trong vắt của buổi ban mai nhảy múa trong những tàng cây cao hai bên ven đường, lúc đó sao tôi thấy lòng mình thơ thới yêu đời, yêu phong cảnh quê hương không thể tả, mặc dầu tôi chỉ là một con bé con mới 8 tuổi đầu !

Đèo Hải Vân

Càng về gần đến Tam Kỳ, Đà Nẵng, trời càng âm u, ánh nắng chan hòa của đoạn đường Nha Trang-Quy Nhơn bây giờ đã được dần dần thay thế bằng những giải mây mù thấp trĩu nặng nước mưa … Leo lên được gần đến đỉnh đèo Hải Vân thì bỗng dưng xe của cha tôi….làm reo, không chịu chạy nữa. Đèo Hải Vân thật ra không quá cao nhưng đối với kỹ thuật xây đường xá của Pháp ngày xưa thì đèo chỉ được chạy một chiều, chiều lên hoặc chiều xuống, xe nào lên được tới đỉnh thì phải ngừng ở đó, đợi mọi xe phía bên kia đèo lên hết dốc mới được phép chạy xuống. Mỗi lần lên xuống như vậy là mất cả tiếng đồng hồ, thành ra xe nào cũng hối hả cho kịp giờ lên đèo và xuống đèo. Bây giờ xe của cha tôi chết máy như thế này chắc là phải kẹt lại ở trên đỉnh đèo rồi, làm sao mà xuống cho kịp lần đổ đèo này…

Tuy là con nít nhưng lòng tôi lúc đó cũng đánh lô tô lo sợ, chỉ biết cầu mong sao cho xe sớm chạy lại được…Bầu trời vẫn vần vũ, mây giăng thật thấp tưởng như nắm bắt được trong lòng tay, mưa vẫn như trút, dòng nước cuồn cuộn theo triền dốc hai bên đường càng làm tôi thêm lo sợ, mắt đã bắt đầu rơm rớm chực khóc mà cố gượng. Cha tôi mở nắp máy xe tìm cách sửa, mẹ tôi bầu bì cũng ráng lúp xúp đi bộ lên con dốc cao để tìm người phụ giúp cha tôi. Anh em tôi lúc đó đứa nào cũng biết thân, không dám chọc phá nhau, cả bọn đứng im thin thít chung quanh xem cha sửa xe, cũng chẳng đứa nào chịu ngồi lại trong xe, kể cả thằng em 3 tuổi …. Cuối cùng, không biết cha tôi mở cái nắp gì mà hơi nước phụt ra cái rầm…Thằng em thứ 4 của tôi đang đứng xớ rớ gần đó hoảng quá, nhắm mắt nhắm mũi nhảy đại sang một bên. Bên lề đường chỗ xe cha tôi nằm ụ có một cái hố cạn, cu cậu nhảy làm sao mà rơi tọt nằm gọn lỏn trong hố, mặt mày xanh ngắt vì sợ. Sau cú "xì hơi" đó máy xe nổ lại, thế là xe cha tôi theo kịp đoàn xe đổ dốc xuống đèo…..

Xuống hết đèo, vào đến địa phận Lăng Cô. Miền Trung của tôi sao nghèo nàn quá đỗi, trời tháng giêng lạnh buốt mà người ta vẫn đi chân không, không giày không dép, đầu đội chiếc nón lá che những giọt mưa tới tấp, trên người mặc cái áo tơi cũng kết bằng lá, lầm lũi gánh gồng hay đạp xe đạp đi trong mưa gió. Nón lá và áo tơi lá ướt đẫm nước mưa đã là những hình ảnh không bao giờ quên được trong trí óc non nớt của tôi.

Tết Canh Tý 1960 ở Huế

Về đến Huế, có ông bà ngoại, có cậu mợ cô dì, có các anh các chị họ….xúm xít xung quanh mừng rỡ, cha mẹ tôi như rũ bỏ được bao nhiêu lo lắng cho đoạn đường thiên lý vừa trải qua… Cái Tết đó tôi được sống trọn vẹn trong tình gia tộc, có ông bà và họ hàng quý mến thương yêu. Tết đó tôi được mặc chiếc áo dài đầu tiên trong đời, chiếc áo của bà chị họ bằng nỉ màu cà phê sữa sao mà ấm áp và đẹp quá, chiếc áo đã được tôi diện cả ba ngày Tết.

Sáng mùng hai ngủ dậy cha tôi đưa cả nhà về làng thăm mộ ông bà nội tôi. Làng nội tôi chỉ cách Huế 15km, làng Dương Nổ, có con sông mang cùng tên làng, một nhánh sông đào của sông Hương, chảy ra cửa biển Thuận An. Con sông này cha mẹ tôi vẫn thường tranh cãi nhau vì mẹ tôi vẫn cho rằng con sông Bồ chảy qua làng Niêm Phò của mẹ tôi, con sông này đổ ra Phá Tam Giang, rộng lớn hơn sông Dương Nổ của cha tôi. Mẹ tôi vẫn cho rằng sông đào, sông nhân tạo thì không thể nào rộng lớn hơn sông thiên nhiên được. Đến ngày hôm nay tôi vẫn không biết sông làng Ngoại hay sông làng Nội rộng hơn mà "phân xử" đúng sai cho cha mẹ.

Mộ ông bà nội tôi nằm ngoài ruộng đồng, đường ra mộ bùn lầy ướt át trơn trợt, phải đi bộ ra xa tắp mới đến …Trời tháng giêng ở Huế có mưa phùn nhè nhẹ, trong không khí có mùi lành lạnh rét mướt của mùa đông. Ở Sài Gòn quen với cái nóng nhiệt đới, lũ anh em chúng tôi đứng trước mộ ông bà mà hai hàm răng đánh bò cạp vì lạnh, môi đứa nào đứa nấy tím ngắt chỉ ưng mau mau được quay về căn nhà của ông bà ngoại, được ôm cái lồng ấp có những cục than nho nhỏ mà bà ngoại phát cho mỗi đứa chúng tôi. Về làng thắp được nén hương cho ông bà nội tôi, cha mẹ tôi rất lấy làm mãn nguyện và chắc là không còn cảm thấy mệt nhọc khi phải lái xe mấy ngày mấy đêm, đi cả ngàn cây số với lũ con nghịch như quỷ. Những ngày cùng các anh chị lớn, con của cậu tôi, đi thăm các lăng tẩm Tự Đức, Khải Định là những kỷ niệm khó phai trong lòng tôi.

Vui cách mấy rồi cũng không kéo dài mãi được, mồng 4 Tết gia đình tôi phải quay trở lại Sài Gòn. Thật là kỳ lạ, chuyến "đi ra Huế", tôi vẫn còn nhớ như in trong đầu, thế mà chuyến "đi về Sài Gòn" tôi lại hoàn toàn không nhớ một mảy may gì cả. Trong ký ức của tôi ngày ấy chỉ còn sót lại một điều duy nhất là đêm cuối cùng trước khi chia tay, tôi đã khóc sướt mướt khi biết rằng ngày mai phải xa rời người chị họ, chị lớn hơn tôi 3 tuổi và cũng chính chị là người đã cho tôi cái cảm giác được làm người lớn trong chiếc áo dài mặc ké của chị trong 3 ngày Tết vừa qua. Tôi khóc vì ngày mai chị em tôi phải xa cách nhau, không biết khi nào mới lại được gặp nhau…..Làm sao tôi biết được là sẽ có cái ngày đảo chánh, lật đổ ông tổng thống mà ngày ấy tôi không biết tên, đưa đẩy gia đình cậu tôi vào Nam sinh sống, cho chị em tôi được trùng phùng!!!

Hè 1965 ở Huế

Mùa hè năm 1965, mùa hè thứ hai của tôi ở trường Trưng Vương, cha tôi ra nhậm chức ở Huế, đem theo cả gia đình về lại nơi chôn nhau cắt rốn, anh em tôi theo cha mẹ về Huế mà lòng buồn rười rượi vì phải xa bạn xa trường ở Sàigòn….

Về Huế nhằm vào dịp nghỉ hè, chưa phải đụng tới sách vở nên chúng tôi tạm quên những chuyện tương lai bạn mới trường mới xa vời phức tạp, chỉ biết tận hưởng những ngày hè đầy thú vị mà ở Sài Gòn chưa chắc chúng tôi đã có thể có được. Ngày nào chúng tôi cũng đạp xe đạp từ Tòa Khâm, nơi nhà mới của chúng tôi ở Huế, đạp về Đập Đá, về Vĩ Dạ hay đạp lên Bến Ngự, dốc Nam Giao, đạp qua cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp mà bây giờ tôi mới tỉ mỉ nhận ra ….Đạp vào Thành Nội, tìm đến hồ Tịnh Tâm, ngày nào siêng lắm thì đạp lên Thiên Mụ, đạp bở hơi tai vì phải leo lên con dốc khá cao, để rồi quay xe trở về, thả hai tay co giò …đổ dốc. Dọc đường dừng xe tôi hái những chùm trái keo (phượng tây) bên lề, nhét đầy túi làm đồ nhắm dọc đường. Loại trái keo có hình thù giống như trái phượng nhưng trái nhỏ hơn và có mùi hăng hắc, không bùi như hột phượng. Vừa đạp xe, một tay vịn ghi đông xe đạp, tay kia bóc vỏ trái keo với sự trợ giúp của hàm răng, nhần nhần ra những hột keo xanh xanh nho nhỏ, nhai bùi bùi trong miệng, rồi vứt đại vỏ keo xuống con đường Lê Lợi nằm dọc theo bờ sông Hương tỏa đầy bóng mát êm ả của hàng phượng vĩ đỏ rực trồng hai bên đường.

Những ngày tập bơi bì bõm ở Đập Đá, nhà của ông bà ngoại tôi. Khúc sông Hương này rẽ quành theo Cồn Hến nên nước chảy không xiết lắm, anh em tôi chặt vài thân cây chuối trong vườn, hì hục hè nhau lăn xuống sông cho nổi lềnh bềnh tứ tán, rồi cứ thế mà cắm đầu nhảy tõm xuống nước, vịn theo mấy nhánh cây mọc vươn ra ngoài, lặn hụp theo kiểu "bơi chó" ra tới được những thân cây chuối đang trôi nổi bồng bềnh trước mặt, rồi cứ thế mà mỗi đứa tay ôm một thân cây chuối và chân thì đập vùng vẫy quậy nước tung tóe để…tập bơi. Lúc lên lại bờ, đứa nào đứa nấy đều run rẩy ướt như chuột và áo quần thì dính đầy mủ chuối, giặt kiểu gì cũng không ra hết mủ….Mấy anh em tôi tự học bơi với nhau, chẳng ai là thầy ai, đứa nào bạo dạn ít sợ thì học nhanh, biết bơi sải, bơi nhái, đứa nào nhát cáy thì tha hồ uống nước sặc sụa, rồi đứa sau theo đứa trước, như một bầy rái cá ….lặn hụp trong dòng sông êm ả của quê nhà. Những chiếc thuyền nan đánh cá chạy dọc ven sông, gõ lóc cóc vào thành ghe cho cá nghe tiếng động mà tụ tập tới cho họ giăng lưới bắt, đành quay mũi ghe, chèo đi hướng khác tìm chỗ giăng lưới vì ở đây những con …"rái cá Sài Gòn" đang khuấy động cái yên tĩnh của khúc sông, cá tôm gì cũng sợ, lặn trốn mất tiêu.

Cầu Bến Hải

Hè đó cha tôi cho anh em chúng tôi ra Quảng Trị thăm cầu Bến Hải, chiếc cầu biên giới chia đôi hai miền đất nước. Cầu Bến Hải, sông Bến Hải, vĩ tuyến 17….. những cái tên này đối với tôi ngày ấy thật là xa tắp, nằm ở đâu đó chứ không phải trên giải đất Việt Nam mặc dầu Bến Hải chỉ cách Huế khoảng 60 hay 70 cây số đường chim bay. Cha tôi chỉ cho phép bốn anh em lớn chúng tôi đi theo, căn dặn cẩn thận không được chạy lăng quăng và không được nói vớ vẩn bậy bạ. Những lời dặn dò của cha tôi khiến tôi đâm ra mất cảm tình với cây cầu mặc dầu tôi chưa hề thấy bóng dáng nó ra sao. Những tháng ngày nghỉ hè ở Huế, anh tôi và tôi thường vặn radio nghe chương trình Dạ Lan vào buổi tối, đôi lần cô Dạ Lan có nhắc đến tên chiếc cầu Bến Hải, nhưng chiếc cầu với tôi lúc đó như một thực thể xa vời .

Từ xa trên một quãng đồi khá cao, nhìn xuống bên dưới chúng tôi đã thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ đang ngạo nghễ phất phới tung bay trong không gian vắng lặng đồng không mông quạnh không nhà không cửa của vùng phi quân sự…. Càng đến gần, chiếc cầu biên giới đơn sơ nhỏ bé bắt ngang con sông Bến Hải càng hiện rõ dần. Gió lồng lộng nhưng cũng không đủ làm gợn sóng lăn tăn làn nước xanh ngắt đang lặng lờ chảy dưới chân cầu. Một phẳng lặng an bình tưởng như không có gì có thể khuấy động được nếu không có dàn loa phóng thanh mấy trăm cái được treo làm ba tầng, các mặt loa hướng thẳng sang bờ Bắc bên kia cầu. Bên cạnh dàn loa là dàn đèn pha với không biết bao nhiêu là bóng đèn sẵn sàng rọi chiếu bất cứ ngọn cây khúc cỏ nào hai ven bờ.

Bên bờ Bắc của cây cầu biên giới, một cột cờ khác cũng cao không kém gì cột cờ bên này, lá cờ đỏ sao vàng cũng đang phất phới tung bay trước gió. Bên kia không thua gì bên này, cũng có một dàn loa phóng thanh, có lẽ to hơn và cao hơn dàn loa bên bờ Nam, các mặt loa đen ngòm hướng sang bờ Nam như thách thức khiêu khích.

Chúng tôi tới cầu Bến Hải may là nhằm lúc hai bên đang ngừng giờ phát thanh, chỉ có cơn gió lồng lộng làm tung bay phần phật hai lá cờ của hai bờ Nam Bắc như thách thức nhau…. Chỉ có tiếng gió lao xao còn ngoài ra là một im lặng rợn người.

Không hiểu ngày ấy vì sao mà cha tôi đã đưa bốn đứa con lớn của ông về lại cây cầu biên giới này? Sau này khi đọc xong tập hồi ký của cha tôi, tôi mới thấm thía được tấm lòng của ông lúc ấy. Ngày xưa cha tôi đã từng liều mình vượt qua cửa Việt, bỏ lại đằng sau những tháng ngày tù đày đen tối đầy hận thù của miền Bắc, trở về vùng quê hương yêu dấu ấm áp tình người. Cửa Việt ngày đó cũng là một ranh giới phân chia bên này bên kia, bên Việt Minh và bên Quốc gia….Những kỷ niệm ngậm ngùi của một quá khứ xa xưa như sống lại với cha tôi khi ông đứng lặng trên cây cầu Bến Hải chia cắt hai miền…

Một đồn canh nhỏ nằm lặng lẽ giữa cầu, lằn ranh giới chính thức chia hai miền Nam Bắc được cả thế giới công nhận !!! Cha tôi dắt bốn anh em tôi xuống cầu, đi theo cha tôi là hai người cảnh sát cận vệ. Những mảnh ván của cây cầu run nhẹ dưới chân tôi, nước sông vẫn lặng lờ chảy, cảm giác sợ sệt trong tôi lúc đó như biến mất, tôi vẫn nhớ là lúc đó tôi "vênh mặt" lên như sẵn sàng đối kháng với bất cứ một đe doạ nào…Một thứ "tuổi trẻ ngông nghênh", chỉ biết mình mà không biết người…

Đứng trên cầu, tôi tò mò giương mắt cố nhìn cho rõ bờ bên kia…Thấp thoáng xa xa chỉ thấy có vài bóng người ra vào một đồn canh nhỏ bên kia bờ. Một người lính bộ đội miền Bắc đang đứng canh gác bên kia cầu, thấy cha con tôi anh ta cũng bước lên cầu và từ từ tiến đến gần chúng tôi. Hai bên hình như có đôi lời "chào hỏi" nhưng không bắt tay nhau. Tôi nhìn thao láo người lính của miền Bắc, mặt anh ta lạnh như tiền!!! Lúc đó tôi đã thầm nhủ "sẽ không bao giờ có một ngày mình đặt chân lên phần đất của bờ Bắc bên kia, chắc là sẽ không bao giờ xảy ra chuyện đó".

Mấy chục năm sau, mặc dù đất nước không còn chia cắt, không còn bờ Bắc bờ Nam nữa nhưng lòng tôi vẫn ngần ngại không muốn về. Đã biết bao lần bay ngang bay dọc trên không phận Việt Nam, từ trên cao nhìn xuống mảnh đất thân thuộc yêu dấu, khoảng cách với quê hương chỉ vỏn vẹn 10 km theo độ cao của máy bay nhưng sao quá xa cách diệu vợi với tôi…..Mãi cho đến 33 năm sau, khi vượt qua được cái ngần ngại không muốn về thăm quê hương, chúng tôi mới quyết định đi theo một nhóm du khách Đức về lại Việt Nam. Lần đầu tiên đặt chân xuống phi trường Nội Bài của Hà Nội, lòng tôi đã chùng lại, tâm trạng bồi hồi khó diễn tả…. Dù chân đã đứng trên mảnh đất quê hương nhưng cái cảm giác xa cách như khi ngồi trên cao nhìn xuống giải đất quê hương lại trở về trong tôi. Vì Hà Nội không phải là Sài Gòn, vì Hà Nội không phải là Huế của tôi….

Cái cảm giác của tôi của một thời xa xưa: tò mò, xa cách, khó gần gũi khi đứng trên chiếc cầu Bến Hải ngăn chia hai miền Nam Bắc Việt Nam cũng không khác gì cái cảm giác mỗi khi nhìn sang phía Đông của bức tường Bá Linh khi bức tường vẫn còn là biên giới ngăn chia hai bên Đông Tây của nước Đức. Cổng "Brandenburger Tor" bên phía Đông của bức tường không gợi trong tôi một chút thân thiện gần gũi. Tôi đã nhìn "Khải Hoàn Môn" của Đông Đức không khác gì khi nhìn lá cờ đỏ sao vàng của bờ Bắc sông Bến Hải của một ngày xa xưa….

Khi bức tường Bá Linh sụp đổ, dân chúng hai miền Đông Tây của Đức đã ôm nhau nhảy múa mừng vui ngày đất nước họ từ nay thống nhất thành một. Ngày đó tôi đã đem một chai Champagne vào hãng để chúc mừng các đồng nghiệp người bản xứ. Chúc mừng người ta mà lòng thì buồn vời vợi khi chạnh nghĩ đến đất nước quê hương của mình. Quê hương mình đi trước họ, quê hương mình cũng không còn bị chia cắt nhưng sao mình vẫn phải làm người dân xa xứ, sống lạc loài nơi xứ sở quê người ???

Bến Ngự

Lúc gia đình tôi còn ở Huế, anh em tôi đã nhập học vào các trường Quốc Học, Đồng Khánh hay Hàm Nghi thì biến động miền Trung bùng nổ, đâu đâu cũng nghe "đả đảo Thiệu Kỳ", đâu đâu cũng chỉ thấy biểu tình và biểu ngữ… Cha tôi đưa mẹ tôi và các em nhỏ vào lại Sài Gòn vì ở Huế không còn yên lành nữa. Không hiểu sao lúc ấy cha mẹ tôi lại để ba anh em lớn chúng tôi ở lại Huế, sau này tôi hỏi lại thì mẹ tôi nói rằng "sợ các con nghỉ học nửa chừng không có học bạ để nộp lại cho trường ở Sài Gòn". Cho tới bây giờ, sau mấy chục năm đã trôi qua, trải qua bao nhiêu biến cố hãi hùng khác, thỉnh thoảng nhắc lại chuyện ngày xưa, mẹ tôi vẫn còn rùng mình tỉnh giấc không ngủ lại được, vì sao hồi đó lại to gan để mấy đứa con lớn ở lại Huế, nếu lỡ dại có chuyện gì xảy ra thì gia đình chia cắt, cha mẹ một đằng con cái một nẻo!!!

Mặc cho tình hình sôi động ở Huế, anh em tôi dọn về Bến Ngự ở với người dì, người em gái út của mẹ tôi, chờ ngày trường học mở cửa lại mà đi học cho đến hết niên khóa. Lúc đó tôi chẳng hiểu chuyện gì đã xảy ra ngoài chuyện trường học bây giờ đóng cửa, mặc dầu chưa hết niên khóa, nhưng không phải đi học, được ở nhà vui chơi thỏa thích. Những ngày tháng ở chung với người dì vui tính, anh em chúng tôi ngày nào cũng nhảy xuống sông Bến Ngự trước mặt nhà bơi ngang bơi dọc. Dì tôi ở chung với gia đình nhà chồng, có mấy người em cũng cỡ tuổi anh em chúng tôi, cả bọn lại hợp tính hợp tình, suốt ngày vui đùa với nhau nên tôi chẳng thấy nhớ cha mẹ và các em của tôi gì cả.

Thu, cô em chồng đảm đang của dì tôi, Thu học cùng lớp với tôi ở Đồng Khánh, tuy học cùng lớp nhưng hình như Thu lớn hơn tôi 1-2 tuổi. Thu có nuôi hai con heo trong vườn nhà, con heo nái gần ngày sinh nên chỉ nằm lười biếng quanh quẩn trong chuồng. Ngày nào Thu cũng dụ khị anh em tôi vớt bèo dưới sông lên để Thu xắt nhỏ, trộn với thân chuối và cám cho heo ăn. Ngày nào lôi lên được một về bèo thật lớn là tôi hỉ hả nhất định đòi Thu tiền công vớt bèo, Thu thường trả nợ tôi bằng dĩa bánh bèo hay vài cái bánh bột lọc, hình như những thức ăn này lúc nào cũng có sẵn trong nhà. Cái đêm heo nái chuyển bụng đẻ, tôi muốn cùng Thu thức để canh chừng nhưng rồi ngủ gục lúc nào không hay. Sáng hôm sau tỉnh dậy, chạy ra chuồng heo, thấy mấy chú heo con nằm bú vú mẹ ngon lành, tôi đứng ngẩn tò te nhưng không dám trách Thu…tại sao không đánh thức tôi dậy để phụ làm cô mụ cho heo. Tôi chỉ nhớ khi chia tay với gia đình dì để trở lại Sài Gòn với cha mẹ tôi, tôi cũng đã lại khóc sướt mướt, vì có chia tay nào mà vui đâu?

Vào Sài Gòn tôi được trường Trưng Vương cho nhập học lại, trở lại lớp cũ có bạn bè quen biết lúc trước và học ở đây cho đến ngày đậu tú tài rồi sang Tây Đức du học. Trước khi lên đường đi du học, khoảng đầu tháng hai, sau khi ăn Tết, cha mẹ tôi cho tôi về Huế thăm mộ ông bà nội tôi. Huế vẫn còn mùa đông, vẫn còn mưa phùn bay lất phất, vẫn còn cái lành lạnh gai gai không quen cho người Sài Gòn, tôi đã được cô cháu gái, tuy là hàng cháu nhưng cùng tuổi với tôi vì cha nó, người anh họ con bác cả của tôi, cũng gần gần bằng tuổi cha tôi.

Hai cô cháu tôi đèo nhau bằng chiếc Honda về làng, con đường ra mộ lầy lội bùn non, chúng tôi gửi xe ở một quán cóc rồi lội bộ ra cánh đồng. Tiếc thay cánh đồng trong mùa đông đã ngập đầy nước, tôi chỉ còn biết đứng xa xa nhìn gò mã của ông bà nổi chênh vênh trên ruộng nước mà không thắp được một nén hương trước ngày ra đi. Lúc đó tôi nghĩ thầm, lần này không thắp hương được thì thắp lần sau, chắc cũng không muộn màng gì ….

Cái lần sau đó tôi phải đợi mãi đến 33 năm sau.Trên chuyến bay từ Hà Nội về Huế khi tôi trở lại Việt Nam, tôi đã nghẹn ngào và bật khóc khi cô tiếp viên của hãng hàng không Việt Nam báo tin máy bay sắp đáp xuống phi trường Phú Bài của Huế.

Hoang mang

Cuối hè năm 1974, cha mẹ tôi cho tôi về Sài Gòn thăm nhà trước khi nhập học khoá mùa đông cho năm học sắp tới. Cha mẹ tôi chỉ sợ tôi sẽ không có thì giờ về thăm nhà khi bắt đầu chuẩn bị thi ra trường sau đó. Về nhà chưa được bao ngày thì cha mẹ tôi lại hối thúc tôi mau trở sang Đức vì tình hình đột ngột biến chuyển. Nghe lời cha mẹ, tôi lại khăn gói lên đường trở về Đức, đâu biết rằng đây là lần cuối cùng mình còn được thở hít cái không khí tự do trên mảnh đất thân yêu của Việt Nam Cộng Hòa !

Tình hình chiến cuộc dạo đó càng ngày càng khốc liệt. Những trận giao tranh giữa hai bên ngày càng gia tăng, tin tức trong nước và ngoài nước như hai mâu thuẫn, như trắng và đen, chẳng biết phải tin vào ai. Những đàm phán không ngừng của hai miền Nam Bắc và của thế giới làm đầu óc tôi muốn bể tung ra. Lúc này tôi không còn học ở đại học Mainz nữa mà đổi lên Frankfurt, cách Mainz khoảng 30 km. Sáng chiều hai bận tôi đi đi về về Mainz-Frankfurt , quãng đường không xa lắm nhưng xe lửa cứ mỗi trạm lại ngừng nên mỗi ngày đi về cũng mất gần 2 tiếng đồng hồ. Cầm theo tờ báo đọc cho đỡ sốt ruột quãng đường dài nhàm chán, càng đọc bao nhiêu tin tức, lòng lại càng thêm trĩu nặng bấy nhiêu, dù tôi có muốn giả ngu, giả điếc, giả quên, giả tảng lờ gì đi chăng nữa, nhưng khi tin tức Việt Nam dồn dập đập vào mắt, lại đọc, lại nghe, lại suy luận, lại phỏng đoán rồi lại…. hy vọng này nọ.

Tối nào về nhà mở TV xem tin tức thì cũng lại là những tin tức về Việt Nam. Cả thế giới đang bình luận về Việt Nam, cả nước Đức nói về Việt Nam, bên ủng hộ miền Bắc, bên ủng hộ miền Nam. Đài TV nào, phóng viên nào "chống" miền Nam thì tôi tắt, đổi đài khác, không muốn nghe! Nhưng chính những đài chống miền Nam lại cho những tin tức sát thực nhất, lúc đó thực sự chúng tôi chỉ còn muốn nghe những tin tức "ru ngủ" cho lòng dạ bớt hoang mang, bớt khủng hoảng, nói đúng ra chúng tôi đang muốn trốn tránh sự thực, cái sự thực đau lòng càng ngày càng rõ mồn một.

Bạn bè sinh viên đi học với nhau, đứa nào trong chúng tôi cũng mang một tâm trạng hoang mang lo âu, nói ra với nhau cũng chẳng giúp được gì nhau, nhưng không nói thì chắc nổ tung đầu mà điên lên mất. Nếu gặp phải đám sinh viên "thân" bên kia thì lại cãi nhau, hằm hè nhau như hai kẻ thù, để rồi rút cục ….đường ai nấy đi cho đỡ bực mình. Thư từ qua lại gửi đi thời đó giữa Việt Nam và Đức bình thường phải mất đến 10 ngày mới tới tay người nhận, đọc xong viết trả lời gửi về lại cũng mất thêm 10 ngày nữa, vị chi là 20 ngày, một thời gian quá dài cho những tin tức nóng bỏng đang thay đổi từng ngày từng giờ …. Dạo đó chúng tôi chỉ còn biết gửi express hoặc telegram về cho gia đình khi nghe bất cứ một tin tức nào mà chúng tôi cho là quan trọng, gia đình cần phải biết gấp.

Màu đỏ khủng khiếp

Bản đồ Việt Nam ngày ngày được thế giới đem ra mổ xẻ, dĩ nhiên là TV Đức tường thuật và bình luận rất khách quan những diễn tiến quyết liệt đang xảy ra ở quê nhà. Càng bình luận khách quan ráo hoảnh bao nhiêu, càng như xa muối ớt vào lòng dạ chúng tôi bấy nhiêu. Không gì đau đớn cho bằng phải giương mắt nhìn, phải vảnh tai nghe những điều đau lòng, mà bó tay, biết làm gì hơn bây giờ??? Những bản tin càng ngày càng bi đát hơn, Mỹ đã đồng ý bỏ rơi Việt Nam, không còn một hy vọng hão huyền nào có thể đứng vững được nữa rồi….

Chiều ngày 25.03 anh em chúng tôi ngồi dán mắt trước TV để xem tin tức. Đặc phái viên của đài truyền hình số 1 (ARD) của Đức đang nói về cái tin nóng bỏng "thành phố Huế đã chính thức rơi vào tay Cộng quân", tai tôi lùng bùng lắng nghe giọng nói bình luận đều đều của phóng viên mà nước mắt lặng lẽ chảy lúc nào không hay, cổ họng tôi như nghẹn lại. Bỏ buổi cơm chiều, tôi ôm cái TV nghe tiếp bản tin của đài số 2 (ZDF).

Bản tin truyền đi, bản đồ Việt Nam lại được chiếu lên, lần này màu đỏ đã từ Bến Hải, Quảng Trị, địa đầu của quê hương tôi, rồi nhuộm tràn tới thành phố Huế. Suốt đêm hôm ấy tôi không ngủ được, lòng buồn bã rối bời, Sài Gòn của tôi còn đó nhưng còn.......bao lâu nữa ?? Những ngày sau đó bọn sinh viên chúng tôi không đứa nào còn lòng dạ để học hành hay nói cười gì nữa cả, một màn tang tóc đã bao trùm lấy chúng tôi. Mấy ngày sau thành phố Đà Nẵng cũng mất, tôi không còn nước mắt để khóc vì có bao nhiêu nước mắt tôi đã khóc cho Huế mất rồi …

Ba anh em tôi, hai đứa ở Đức, một đứa ở Bỉ, đánh 3 cái telegram khẩn về nhà, báo cho gia đình ở nhà biết là bằng mọi cách phải rời khỏi Việt Nam, vì không còn một bám víu, một hy vọng gì nữa rồi, hãy tìm cách ra đi lập tức, đừng chờ đợi nữa! Chưa đủ, tôi viết thêm một lá thư kể rõ mọi sự tình tin tức mà tôi có được, một lá thư viết trong tuyệt vọng cùng cực, vì còn gì nữa mà trông mong, vì cả thế giới bây giờ đang bỏ rơi chúng ta. Gửi express, tem dán chồng chất khắp bì thư như thầm mong cho thư bay đi nhanh hơn! Thế mà tất cả mọi telegram và thư express của chúng tôi chỉ về được đến …Thái Lan thì nằm ụ ở đó, hai tháng sau anh em tôi nhận lại đầy đủ nguyên vẹn không mất đi cái nào với lời ghi chú "không người nhận" !!!

Khi thành phố Tuy Hoà mất, cô bạn học cùng đại học với tôi quê ở Tuy Hoà, cô khóc ròng như tôi đã từng khóc cho Huế một tuần trước đó. Màu đỏ khủng khiếp lan tràn nhanh chóng và ngừng lại ở Ban mê Thuộc thì tôi nhận được thư express của cha tôi viết sang, lá thư ông viết lúc Huế và Đà Nẵng sắp thất thủ, tin tức qua lại giữa cha con tôi mất đi thời gian tính. Dạo đó cha tôi làm việc cho Air Vietnam, Hàng Không Việt Nam. Vì những chuyến bay ở Huế bị hủy bỏ, hành khách ứ đọng, nhân viên địa phương không thể giải quyết tình trạng rối beng nên ông phải bay về Huế.

Cha tôi viết: Đáp xuống phi trường Phú Bài vắng vẻ, đường từ Phú Bài về Huế bị chận lại, nếu cứ lấy xe đi đại về Huế, tuy có sự trợ giúp của quân đội nhưng rất có thể bị kẹt lại trong thành phố, như thế phi cơ sẽ quay về Sài Gòn và sẽ không có mặt cha …. Cha cùng phi hành đoàn đã làm lễ hạ kỳ ở phi trường Phú Bài trong không khí trang nghiêm với đôi dòng lệ buồn tủi của kẻ thua trận… Xếp lá cờ trong tay, vĩnh biệt Phú Bài, vĩnh biệt Huế!!

Cha tôi rời Huế 5 giờ chiều ngày 20.03 nhưng mãi đến 25.03 Việt Cộng mới chiếm được Huế. Mấy ngày sau Hàng không Việt Nam lại phái cha tôi bay ra Đà Nẵng để giải quyết hành khách và máy bay đang ứ đọng ở đây. Phi cơ đậu ở phi trường không cất cánh lên được vì hành khách xô đẩy chen lấn nhau lên phi cơ, phi cơ quá trọng tải đành phải nằm ụ, phi hành đoàn lánh mặt vì không biết phải giải quyết làm sao. Đoàn thanh tra đặc biệt của cha tôi ra đến Đà Nẵng cũng bị kẹt cứng luôn tại đây đến mấy ngày. Sài Gòn phải gửi cấp tốc một chiếc Caravell bay ra Đà Nẵng để tìm cách bốc đoàn thanh tra về lại Sài Gòn.

Cha tôi viết tiếp: Máy bay đáp xuống phi đạo nhưng không dám ngừng hẳn lại vì sợ dân chúng ào lên. Trước khi đáp, phi công trưởng đã liên lạc với cha, dặn phải tìm cách "nhảy" lên máy bay khi phi cơ còn chạy chầm chậm trên taxi way. Kế hoạch nhảy máy bay thật táo bạo nhưng đó là cách duy nhất để đem người về (Cha tôi vẫn có giọng kể chuyện thật hấp dẫn giống như ngày xưa khi ông kể chuyện trinh thám gay cấn hồi hộp cho các con nghe, tuy vậy ông cũng đã không dấu được cái ngậm ngùi cay đắng của kẻ bại trận). Năm người trong đoàn thanh tra của hàng không Việt Nam ngồi trên chiếc xe Jeep phóng nhanh trực chỉ hướng phi đạo khi chiếc Caravell ló dạng trên Taxi way… Rút cục chỉ có ba người nhảy lên được, còn hai người kia không dám nhảy nên kẹt lại, mặc dầu phi công đã lượn thêm một vòng quanh phi trường và đáp xuống lần thứ hai nhưng hai người kia vẫn không nhảy lên được…Ra khỏi không phận Đà Nẵng thì phi trường bị pháo kích dữ dội …….“ .

Đọc xong lá thư của cha tôi, tôi càng nhận thấy rõ là người trong nước hình như vẫn không biết hay không nhận ra là thế giới bên ngoài đã bỏ rơi Việt Nam, người trong nước kể cả cha tôi vẫn còn bám víu vào những con cờ vô dụng, vẫn còn hy vọng tình hình không đến nỗi nào …
Màu máu đỏ lúc này đã lan xuống đến vĩ tuyến 11, Hàm Tân, căn cứ gần như cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa. Ngày nào năm xưa trong chuyến đi về Huế ăn Tết thăm ông bà ngoại của tôi, tôi chỉ nhớ trong tâm khảm đường "đi ra Huế" mà không nhớ đường "đi về Sài Gòn", giờ đây đường "đi về Sài Gòn" của tôi đang được đài truyền hình Đức dẫn giải từng bước một, từng chặng này đến chặng kia, khởi đầu là Huế, rồi đến Đà Nẵng, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Quảng Nam, lan xuống Tuy Hòa, Quy Nhơn, Bình Định, Nha Trang, Phan Thiết, bây giờ làn sóng đỏ dừng lại ở Hàm Tân!!! Có còn giải pháp hòa bình nghiêm chỉnh nào không khi đất nước tôi từ vĩ tuyến 17 nay thu hẹp về đến ….vĩ tuyến 11?

Chúng tôi, những đứa con xa xứ, xa nhà, nhìn cảnh nước mất nhà tan, nhìn cả một miền Nam bị lùa vô rọ, bỗng chốc không còn nhận một tin tức nào của gia đình, thử hỏi còn có gì đau đớn và khủng hoảng cho bằng???? Đứa này hỏi đứa kia, gia đình bạn tôi ở Tuy Hoà đã di tản vào Sài Gòn, từ ngày mất Tuy Hoà bạn tôi cũng đã mất luôn tin tức của gia đình. Tin tức cuối cùng mà tôi nhận được của gia đình là vào khoảng đầu tháng tư cho biết cha mẹ và các em tôi đang lên đường về Rạch Giá …đóng tàu, mua tàu, để vượt thoát theo đường biển.

Mùa Xuân 75

Semester mùa hè đã bắt đầu tự khi nào (15.04.1975), mùa xuân đã trở về, những cánh hoa đỗ quyên vàng cả không gian đã bắt đầu nở rộ, những dãy Narzisse, Tulipe rung rinh trong nắng sớm ban mai vẫn thường làm tôi rộn rã trong tim, nôn nả háo hức chờ ngày nhập học gặp lại bạn bè. Mùa xuân lại đến nhưng sao lòng tôi tan nát chán chường, học làm gì nữa? Chúng tôi hoàn toàn xao lãng chuyện học, lòng dạ nào mà đi học bây giờ khi chúng tôi đang mất hết mọi tin tức của gia đình, khi phải nhìn cảnh sụp đổ của đất nước, khi phải đứng trước một tương lai đen tối vô định, không biết ngày mai rồi sẽ ra sao, tiền bạc dự trữ không có….Tâm trạng chúng tôi lúc đó phải nói là như chai đá, như ù lì, như một thân cây đang đầy mầm sống mà bị đánh bật rể nằm chỏng chơ ..… Còn một phản ứng nào thích hợp trước cái biến cố khủng khiếp của đời người này hay không? Buồn bã chán chường, sinh viên Việt Nam quốc gia chúng tôi chỉ còn biết tụ nhau lại, không phải để cùng nhau đi ăn trưa như những ngày hạnh phúc bình yên đã qua, mà là để chỉ bảo nhau chỗ nào có thể kiếm việc làm sống đắp đổi qua ngày, chờ tin tức gia đình!!!

Lúc này những cảnh giành giật nhau để được chen vào bên trong tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn được TV Đức trình chiếu trong bản tin buổi tối cho người dân bản xứ. Những chiếc thuyền nan nhỏ bé của đồng bào miền Trung di tản vào Nam cũng được phóng viên của các đài truyền hình thâu gọn vào ống kính và trình chiếu đặc biệt mỗi ngày. Giờ phát hình ăn tiền câu khách nhất là 8 giờ tối, giờ "tử hình" của chúng tôi, chúng tôi đau đớn dán mắt mà nhìn, nhìn cho cay xé hai con mắt để rồi cuối cùng buông những tiếng chửi thề trong thất vọng não nề. Những cuộc biểu tình phản chiến rầm rộ của sinh viên Đức ủng hộ kẻ lấn chiếm, xen kẽ với những đám biểu tình lẻ tẻ không được phối hợp quy mô của sinh viên VN tại Đức vẫn tiếp diễn trong các đại học có nhiều sinh viên quốc gia như Stuttgart, München v...v…Ở Paris có những cuộc biểu tình quy mô hơn của tổng hội sinh viên Việt Nam, nhưng quy mô hay không quy mô, cũng chỉ là những tiếng kêu gào ….vô vọng trong sa mạc.

Làm gì được lúc này? Tiếng nói của sinh viên chúng tôi nhỏ bé quá, mà có quy mô đi chăng nữa thì làm được gì khi thế giới đã quá chán ghét chiến tranh và kẻ hô hào đem lại hòa bình cho đất nước tôi đang chiến thắng trên bàn cờ thế giới? Toà đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Đức ngày ấy bình chân như vại, ông đại sứ không tỏ một dấu hiệu, không có một tiếng nói nào để trấn an hay an ủi bọn sinh viên chúng tôi. Chúng tôi như rắn mất đầu, cuống cuồng chạy lên tòa đại sứ để xin xỏ cho thêm được vài con dấu mộc sắp trở thành vô dụng đóng vào thông hành, cái thông hành của một quốc gia không còn tên trên bản đồ thế giới, với hy vọng (lại hy vọng) may ra với những con dấu này có thể di chuyển trong khắp Âu Châu, vì trong thông hành của sinh viên chúng tôi dạo ấy chỉ được phép ở Tây Đức và về VN. Sống trong một nước cũng đang bị chia cắt, làm sao biết được tình hình xoay chuyển ra sao, nếu một khi Đông Đức "thắng" Tây Đức !!!

Ngày 29.04.1975, như thường lệ, tôi bật đài truyền hình số 2, tôi vẫn thích nghe tin tức đài này vì ông phóng viên có dáng dấp tao nhã, có mái tóc bềnh bồng lãng tử, có giọng nói trầm ấm, vẫn thường có những lời bàn dành nhiều cảm tình cho miền Nam Việt Nam của tôi, chứ không như ông phóng viên già tóc bạc của đài số 1, đài này một mực chiêu đãi bên kia và đã từng vào tận bưng biền làm phỏng vấn với cái gọi là "Mặt trận giải phóng miền Nam".

Người phóng viên quen thuộc của tôi ngày đó đang đứng trên boong tàu của hải quân Mỹ, máy thâu hình đổi hướng liên tục, khi thì hướng ra hải phận quốc tế chiếu hình ảnh của Đệ Thất hạm đội Hoa Kỳ, khi thì hướng về giải đất của Việt Nam đang mờ dần đằng sau, người phóng viên nói lên những lời bình luận của ông, đọc bản tin cuối cùng về Sài Gòn, kết luận một khúc phim lịch sử của VNCH chấm dứt từ đây và ông gửi lời chào tạm biệt khán giả của đài truyền hình Đức…

Trong tiếng gió biển phần phật, ánh nắng chiều dần dần tắt hẳn sau lưng, lời nói của ông ký giả đài ZDF vẫn còn văng vẳng bên tai, những hình ảnh cuối cùng của hòn ngọc viễn đông vẫn còn nhảy múa trong đầu tôi, nhưng mắt tôi đã nhòa đi, những dòng nước mắt đã không còn cần phải che đậy nữa. Thôi thế là hết ….thế là bức màn sắt đã buông xuống, đất nước tôi đã không còn nữa. Đối với tôi không phải chờ đến ngày 30.04 mà là ngày 29.04, khi ống thâu hình của đài truyền hình Đức được đóng lại với những hình ảnh cuối cùng của thành phố SàiGòn.

Buổi chiều ngày 29.04 hôm ấy, khi tôi còn ngồi bất động trước máy truyền hình ở Đức, tôi nào ngờ gia đình cha mẹ và các em tôi lúc đó cũng đang vượt dòng sông Sài Gòn trong đêm tối, xa rời thành phố thân yêu trong ánh lửa cháy bùng của kho đạn Thành Tuy Hạ, trực chỉ ra hải phận quốc tế về hướng hạm đội số 7….

Sau ngày 30.04.1975, làn sóng người di tản với những con tàu exodus đổ xô ra biển Đông, tôi lại dán mắt vào TV, chăm chú nhìn cái màn hình nhỏ bé với cái hy vọng mong manh may ra nhận mặt được người quen, không hề dám mơ tưởng là nhìn thấy được cha mẹ và các em của tôi. Lúc đó tôi hoàn toàn không biết cha mẹ và các em mình đang ở đâu, Sài Gòn hay Rạch Giá? hay đâu đó trên mảnh đất miền Nam trù phú nay đã bị trao qua tay người khác….

Tên hòn đảo Guam trước đó tôi chưa hề nghe qua một lần, giờ đây ngày nào TV Đức cũng nói đến, họ chiếu từng đoàn người xếp hàng dài chờ nhận thức ăn, chờ làm thủ tục nhập trại hay chờ máy bay đi tiếp sang Mỹ….Tâm trạng của tôi lúc ấy "sao những người này hạnh phúc may mắn đến thế" . Nhìn đoàn người đang xếp hàng dưới cái nắng chang chang ở đảo Guam mà lòng tôi không khỏi ghen tức, một ghen tức trong ngậm ngùi vì biết là ngoài tầm tay của mình. Tôi cứ thầm mơ ước tuy biết chỉ là ảo vọng "phải chi gia đình mình cũng có được cái may mắn này". Bây giờ tôi còn không biết gia đình mình ra sao, ở đâu, thì còn nói chi đến chuyện không tưởng đó. Lúc đó tôi chỉ dám cầu xin làm sao cho tôi biết được tin gia đình thì tôi cũng đã mãn nguyện lắm rồi. Tuy vẫn biết là hão huyền nhưng ai cấm tôi nuôi cái hy vọng là nhìn ra cha mẹ hay các em mình trong số người di tản hạnh phúc này !!!!

Sáu tuần lễ sau, 6 tuần lễ dài đằng đẵng trong đời, tôi nhận được lá thư của cha tôi viết đi từ đảo Guam. Cầm lá thư trong tay, nhìn nét chữ thân yêu và quen thuộc của cha tôi, tôi đọc đi đọc lại tên người gửi mà vẫn không dám tin đây là sự thực. Tôi không dám mở cái thư ngay lúc ấy mà chạy bộ đến nhà anh tôi…. Hai anh em tôi ở cùng một con đường cách nhau khoảng 2 cây số.

Đưa anh lá thư, anh cũng như tôi, chúng tôi vẫn không dám tin đây là sự thực. Anh em tôi đã ôm chầm lấy nhau và khóc trong sung sướng khi biết cha mẹ và các em mình sau 23 ngày lênh đênh trên biển cả đã tới được bến bờ bình yên.

Mỹ Nga
(viết để nhớ mãi những ngày đen tối …)

Thứ Ba, 25 tháng 1, 2022

Tết Và Kỷ Niệm

Hôm nay là 23 tháng chạp, ngày đưa ông Táo về trời, ông Táo “đất” mà hơn bốn mươi năm qua tôi không một lần hỏi thăm hay rớ tới ông, tuy vậy năm nào tôi cũng được xem ông múa may mặc áo xanh áo đỏ, đội mũ cánh chuồn bằng giấy, nhảy tưng tưng đọc sớ trên sân khấu, đã thế có năm tôi phải xem ông đọc sớ đến mấy lần. Năm nay tôi nằm nhà nên bày ra nấu bánh chưng, để trước khi đưa ông Táo về trời, tôi bắt ông làm việc chút xíu trước khi lên chầu Ngọc Hoàng. Ông Táo tân thời của tôi là cái bếp bằng Gaz có 3 chân sắt. Ông Táo “sắt”được kê ngoài Terrasse, giang sơn của ông là cái bàn vuông nho nhỏ, tôi cẩn thận che thêm cho ông cây dù cho bớt lạnh.

Không khí Tết bắt đầu đến với tôi khi trong bếp bày ngổn ngang những rổ rá đựng nếp, đậu xanh, thịt ba chỉ ướp tiêu hành và mớ lá chuối xanh tươi nhưng ….đông lạnh. Đứng rửa lá mà lòng miên man nhớ đến những cái Tết năm xưa khi còn nhỏ, còn ở nhà với Cha Mẹ…..

Một tuần trước Tết, là con gái lớn trong nhà nên tôi được tháp tùng theo mẹ lên chợ Cầu Muối mua sắm để sửa soạn Tết. Chợ Cầu Muối lúc nào cũng tấp nập, dịp Tết nhất lại càng đông đúc tấp nập hơn, người đi mua sắm chen vai thích cánh, những sạp bán dưa hấu cao nghều nghệu, tiếng rao mời chào khách sao mà náo nhiệt vui vẻ tưng bừng quá. Mẹ đứng lựa dưa hấu, bắt ông bán hàng dùng dao nhọn, xẻ một hình vuông nhỏ vào quả dưa, để xem bên trong dưa có đỏ và không bị xốphay không. Ông bán hàng nhấc quả dưa lên một cách chuyên nghiệp, rồi vừa vỗ quả dưa kêu bình bịch vừa liếng thoắng miệng quảng cáo:

– Dưa của tui bảo đảm đỏ, không xốp, dở thì bác Tư đem trả lại tui….

Lựa xong chục dưa, mẹ tôi dặn ông bán hàng để riêng ra một góc, chốc nữa mua bán xong sẽ quay trở lại để lấy. Rồi mẹ xăm xăm đi vào những gian hàng bán gừng, bán dừa khô, bán củ kiệu, hành hương củ nhỏ màu đỏ. Mẹ vừa lựa từng củ gừng vừa giải thích cho tôi:

– Con nhớ lựa gừng non, đừng lựa gừng già, gừng già cay, làm mứt không ngon, mà nhớ lựa những củ có hình dáng đẹp, khi cắt, lát gừng sẽ thành những cô tiên múa cho đẹp….

Tôi cũng mầy mò lựa theo mẹ, nhưng lại cố tình lựa những củcó hình dáng đơn giản để về nhà gọt cắt cho dễ, còn gừng non hay già thì chỉ biết cầu may rủi bóc đại. Hết hàng gừng, Mẹ đảo qua hàng bán hành và củ kiệu. Những bó kiệu có râu ria xồm xoàm, Mẹ cứ nhấc lên nhấc xuống, không biết Mẹ lựa theo tiêu chuẩn nào, tôi chỉ nhớ là tôi bốc bó nào, Mẹ lại xì một tiếng rồi bỏ lại:

– Con phải lựa bó nào củ nhỏ, đừng ham củ lớn, ngâm không đẹp.

Đến hàng dừa khô thì tôi đứng im không dám táy máy, vì trái dừa khô nào cũng khô như nhau, biết đâu mà lựa, vậy mà mẹ cũng cầm lên lắc lắc, bỏ lên bỏ xuống mấy bận. Qua đến hàng bán trái me thì mẹ khỏi dặn, tôi nhớ là phải lựa trái Me nào dài đều và có hình cong cong, món này là món ruột của tôi, mặc dầu biết là ngồi gọt vỏ Me rất chi ư là cực khổ. Đến sạp bán mãng cầu xiêm là tôi bắt đầu ….hết xíu quách, chỉ mong mẹ đừng trả giá nữa mà mua đại vài trái cho mau cho rồi, nhưng đi chợ ở Việt Nam mà không trả giá thì sao ngây ngô giống người ngoại quốc quá, lớ ngớ là mua hớ với giá trên trời dưới đất như chơi. Sang đến hàng Chùm Ruột , mẹ chỉ trả giá sơ sơ vì cô bé bán Chùm Ruột mặt mày hiền lành, một khuôn mặt khá hiếm thấy ở chợ Cầu Muối. Các bà bán hàng ở chợ Cầu Muối có tiếng là dữ, lớ quớ là nghe mắng vốn đầy cả tai. Tôi chỉ sợ mẹ bị la, nhưng đông người và ồn ào quá, thành ra nếu có bị la chắc cũng không phân biệt nổi với tiếng chào mời hay tiếng trả giá ồn ào như ….cái chợ. Cuối cùng rồi mẹ cũng mua bán xong. Bây giờ hai mẹ con tôi đã tay xách nách mang đầy cả hai tay. Chen ra được bên ngoài, ngoắc một chiếc xích lô máy, lại trả giá, ông xích lô máy phụ mẹ khuân chục dưa hấu lên xe, giỏ bị đầy nhóc nào Củ Kiệu, Hành Tỏi, Me, Chùm Ruột, Dừa khô, và Mãng Cầu Xiêm. Chiếc xe phóng như bay trong dòng xe xuôi ngược đông đúc của Sài Gòn đưa hai mẹ con tôi về nhà.

Gọt vỏ Gừng với những củ có hình dáng điệu bộ như cô tiên là phần của Mẹ, phần của tôi là gọt những củ thẳng tuột, không cong queo này nọ. Ngâm Gừng trong nuớc muối độ 2 tiếng thì đến màn cắt lát. Mẹ có con dao mỏng thật bén, cắt lát nào lát nấy đều rỉ và các ngón tay ngón chân của củ Gừng vẫn còn nguyên vẹn. Ngày xưa còn nhỏ tôi không thích ăn mứt Gừng, vì ở nhà trời nóng, ăn mứt Gừng cay toát cả mồ hôi. Mặc dầu truớc khi bỏ Gừng vào chảo để rim liu riu với lửa nhỏ, mẹ đã nấu Gừng qua một lần cho bớt mủ, bớt cay và như thế khi rim,Gừng sẽ không bị sậm màu. Ngày đó còn nhỏ, tôi nào biết đến cái thú nhâm nhi miếng mứt Gừng cay và uống miếng nước trà cho thấm giọng của người lớn……

Rồi bây giờ thì đến màn gọt trái Me, vừa gọt vừa chảy nước miếng vì tưởng tượng đến vị chua của trái Me. Gọt vỏ Me cũng trần ai cực khổ lắm, nhất là đòi hỏi một kiên nhẫn tuyệt đối. Những trái Me chua tròn dài được ngâm trong nước đường nấu sẵn, xếp đứng từng trái vào những keo lọ có bề cao hơn trái Me, rồi đổ nước đường nấu sẵn vào keo, đậy kín lại và chờ ngày Tết, lôi ra, cắn một miếng vào trái Me dầm chua ngọt, chỉ mới tưởng tượng thôi mà tôi đã chảy đầy nước miếngtrong miệng. Nước đường ngâm Me lên men, nhấp nhấp vài ngụm cứ như là uống rượu của người lớn. Thuở nhỏ tôi đã là “bợm” rượu rồi thì phải !

Mứt Mãng Cầu Xiêm thì đơn giản hơn. Món mứt này tôi phụmẹ rất đắc lực, mặc dầu vẫn không biết phân lượng đường vàMãng Cầu Xiêm, phải cho bao nhiêu thì vừa. Mẹ vừa đảo chảo mứt Gừng bên cạnh vừa canh chừng lượng đường mứt Mãng Cầu Xiêm của tôi:

– Thêm nữa đi con, thêm độ một chén ăn cơm là vừa.

Sao ngày đó tôi chẳng nhắc mẹ ghi lại phân lượng đường và trái cây cho rõ ràng nhỉ, năm nào cũng làm mứt mà năm nào tôi cũng phải chờ mẹ phán mới yên tâm. Khi chảo mứt Mãng Cầu Xiêm vừa xên xết quánh lại là tôi bắt đầu lôi mớ giấy kính trong đã cắt sẵn ra, sửa soạn gói. Mứt còn dẻo dễ gói, để một hột Mãng Cầu màu đen quay ra ngoài, phết một muổng nhỏ mứt lên giấy kính, hai tay vặn hai đầu ngược chiều nhau, hơi nóng của mứt làm giấy kính căng phồng lên. Cái kẹo Mãng Cầu Xiêm không những ngon tuyệt mà hình dáng dài dài tròn trĩnh trông xinh xắn vô cùng. Làm cực nhọc cả buổi tối mà mấy cậu em tôi vốc một lúc cả mấy cái, vừa đánh bài vừa ăn, chẳng biết thưởng thức hay nghĩ đến cái “công lao”của bà chị gì cả.

Bây giờ đến màng mứt Dừa. Nạo Dừa khô ra khỏi vỏ là nhiệm vụ của chị giúp việc, mẹ chỉ lo phần cắt lát dừa. Những lát dừa trắng tinh, dài, mỏng, mềm mại, được rim trong một chảo lớn. Nhà tôi đông anh em, lại chỉ toàn con trai, ăn cái gì cũng nhiều, chỉ mỗi tội ăn mà không biết “thưởng thức”, ý tôi muốn nói là khen, chứ chê thì tài lắm. Mứt Dừa khi vừa xên tới xong, trắng phau trắng ngần trông thật đẹp. Tôi lại khoái cái lớp dừa hơi vàng vàng ở bên dưới chảo, tuy không đẹp nhưng ăn thơm hơn mứt Dừa trắng nhiều.

Nhà tôi là người Huế nên ngoài những món Mứt thông lệ, năm nào mẹ cũng không quên làm bánh in, bánh in bột Nếp hay bánh in Đậu xanh. Những cái khuôn bánh in bằng đồng của mẹ chỉ mua được ở Huế, khuôn bánh in bột Nếp có hình vuông, khuôn bánh in Đậu xanh có hình chữ nhật. Mỗi khuôn có một cái nắp khắc hình chữ Vạn hay chữ Thọ. Bánh in bột Nếp làm rất công phu. Vào sinh sống ở Saigon mẹ tôi vẫn mang theo cái cối đá để xay bột nếp làm bánh in. Khi tôi lớn lên và biết phụ mẹ chút xíu thì mẹ không dùng cối đá để xay bột nếp nữa mà mua sẵn bột về làm.Theo mẹ tôi kể thì bột Nếp làm bánh in phải rang lên, xay nhuyễn bằng cối đá, trộn nước đường nấu sẵn, rồi đem đi rây cho bột đường trộn đều. Nhân bánh in cũng rất công phu. Bí đao xắt hột lựu, rim sơ với đường, xong trộn với mè và chút xíu quế. Bột nếp làm bánh in của người Huế cũng tương đương như bột nếp làm bánh dẻo Trung Thu. Bánh in ra khuôn, phải đem sấy cho khô rồi mới gói vào giấy kính trong màu đỏ. Bánh in bột Nếp đã cất công như thế cũng chưa bằng bánh in Đậu xanh. Mặc dầu là bột làm bằng đậu xanh nhưng người Huế vẫn gọi bánh này là bánh Hạt sen. Công đoạn làm bánh in rất nhiêu khê, vậy mà anh em chúng tôi cứ nửa ăn nửa bỏ, vứt lung tung, tội nghiệp mẹ, cứ chắc lưỡi tiếc của tiếc công….Đúng là không biết công lao mẹ và cũng không biết “thưởng thức” món ngon vật lạ ngày Tết. Ngày Tết, trên bàn thờ ông bà hay trên bàn nước trong phòng khách khi nào cũng bày một dĩa bánh in gói giấy đỏ ….

Năm nào Mẹ tôi cũng làm chả thẻ và tré. Ngồi phụ Mẹ xắt nào tai heo, thịt đầu heo và thịt bò đem chiên lên rồi xắt rối, chưa kể những củ riềng cứng ơi là cứng và mớ tỏi cay nồng. Cái gì cũng phải xắt mỏng, xắt sợi, xắt rối. Cái kiên nhẫn của Mẹ đã lây qua tôi tự lúc nào. Trước khi làm Tré, mẹ tôi đã làm sẵn Thính để trộn Tré cho mau chua. Mẹ tôi làm Thính bằng đậu xanh rang xay nhuyễn, chứ không dùng nếp hay gạo như vẫn thường làm để trộn Nem nướng. Mẹ tôi giải thích là Thính đậu xanh là Thính của nhà vua, dân gian ít người biết đến công thức này. Ngày đó tôi cứ thắc mắc trong đầu không biết nhà mình có họ hàng dây mơ rễ má gì với vua chúa mà mẹ lại biết đến Thính đậu xanh. Sau này mẹ tôi cũng có giải thích cái “dây mơ rễ má” đó cho tôi nghe nhưng lâu ngày quá tôi cũng quên đi không còn nhớ nỗi bà Dì hay bà Cô nào là hoàng hậu của ông vua nào thuộc nhà Nguyễn ngày xưa.Trộn thính xong là bắt đầu nén chặt Tré, rồi đến gói Tré thành từng lọn trong lớp lá ổi, ngoài bọc lá chuối, và bên ngoài cùng lại thêm một lớp rơm rạ. Khách khứa đến thăm nhà ngày Tết, tôi có nhiệm vụ dọn một dĩa tré, một dĩa chả thẻ, dĩa củ kiệu, vài món Mứt, bưng ra mời, miệng lí nhí chúc Tết rồi chui tọt vào nhà để sát phạt tiếp trong ván xì lát với anh em trong nhà…

Lúc nhỏ khi còn học tiểu học, đến mùng hai Tết là cha mẹ tôi đi một vòng thăm họ hàng. Bên nội, cha tôi là út, bên Ngoại, mẹ tôi áp út, nên cha mẹ tôi có nhiệm vụ đi chúc Tết các bác các cô dì trong họ. Ông anh và mấy cậu em trai của tôi ham ở nhà đánh bài hay chơi giỡn với nhau nên không phải đi theo chúc Tết. Tôi là con gái độc nhất vì em gái tôi chưa ra đời, cứ phải đại diện anh em, đi theo cha mẹ chúc Tết họ hàng. Ngày đó tôi miễn cưỡng đi theo, nhưng đến nơi mới nhận ra rằng mình được độc quyền lãnh tiền lì xì. Về nhà dấu béng ông anh và mấy cậu em, dĩ nhiên là tôi không chia chát số tiền đã đại diện nhận giùm. Dại gì mà chia!!!

Năm cha tôi làm việc ở Huế, gia đình dọn về theo và tôi đã ăn một cái Tết nhớ đời ở đây. Số là đầu năm, sáng mùng Một Tết, anh em tôi theo thông lệ, mặc quần áo mới, theo thứ tự lớn nhỏ ra chúc Tết cha mẹ. Sáng sớm mùng một hôm đó, trời mùa đông ở Huế lạnh gây gây, anh em tôi đứa nào cũng thắng bộ quần áo đẹp mới may nhưng vì còn sớm quá nên cả bọn rủ nhau ra vườn chơi…. Vườn nhà rộng mênh mông nên mẹ tôi có nuôi thêm hai con bò để làm kỵ giỗ Ông Bà Nội. Kỵ ông Nội vào rằm tháng giêng và kỵ bà Nội vào rằm tháng ba. Hai con bò vẫn quanh quẩn sống trong vườn nhà, những bãi phân bò nằm rải rác dưới hai gốc nhãn sai trái vẫn là một đề tài sôi nổi của anh em tôi. Cậu em kế tôi, anh chàng này vốn vẫn hay bày những trò ngịch ngợm quái quỉ, đưa đề nghị là cắm thử viên pháo đại vào bãi phân bò rồi châm ngòi đốt xem pháo…. nổ to cỡ nào. Miệng nói, tay cắm pháo vào bãi phân và châm lửa đốt. Cả bọn 7 anh em tôi đứng quây quần chung quanh xem pháo nổ. Cùng với tiếng nổ cái đùng của viên pháo, phân bò văng tung tóe, dính đầy mặt mũi và quần áo của chúng tôi. Mặt đứa nào đứa nấy tái mét không phải vì lạnh mà vì….sợ. Kết quả là một cái Tết không có tiền lì xì !!!

Chiều 29 Tết cha mẹ tôi bắt đầu nấu bánh Tét. Cha tôi gói bánh Tét rất đẹp, nhưng sửa soạn mọi thứ vẫn là là công việc của mẹ. Cha chỉ lo tướt lạt và gói. Gian nhà bếp của nhà tôi khá rộng, mẹ dậy sớm, bày sẵn Nếp, Đậu đã ngâm từ tối hôm qua. Hai cái đòn gỗ kê giữa nhà cho cha mẹ tôi ngồi gói bánh. Cha tôi cao lớn, chân lại dài nên ông duỗi chân duỗi tay chiếm trọn giang sơn gói bánh. Gói xong là ông đi lên nhà, mẹ lại lục đục xếp bánh vào thùng và đem nấu ở ngoài sân, gần cái giếng sâu của gia đình. Lúc còn ở nhà, ngày gói bánh, tôi chỉ quanh quẩn bên cạnh chờ cha mẹ sai vặt. Với tôi ngày ấy, gói bánh Tét là một việc trọng đại, nên không hề nghĩ đến việc học gói học làm. Vớt bánh ra, được nếm thử bánh chín tới là cái thú mà tôi không bao giờ bỏ qua.

Đêm giao thừa, trong cái vắng lặng thanh vắng của buổi giao mùa, mùi trầm hương tỏa bay khắp nhà, mẹ tôi khoác cái áo dài ra sân thắp hương khấn vái ông bà tổ tiên phù hộ cho con cháu được mọi sự bình yên. Cha tôi lo đốt châm ngòi phong pháo đỏ treo trước nhà. Chung quanh nhà đã vang rền tiếng pháo nổ dòn tan đón Giao Thừa….

Năm tôi thi Tú tài hai, sau khi cúng Giao Thừa, mẹ cho tôi bổ quả dưa hấu làm đôi, bói quẻ đầu năm, dưa đỏ thi đậu, dưa không đỏ chắc phải đi mắng vốn ông bán hàng ở chợ Cầu Muối. Năm ấy, quả dưa hấu tôi bổ đôi, đỏ tươi, đẹp như đôi môi đỏ thắm của cô gái xuân thì. Tôi đã thi đậu và vẫn thích được bói quẻ đầu năm như một ngày xa xưa đó….

Udenheim, tháng Giêng 2012

Mỹ Nga

Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2021

Một Thoáng Mơ Phai

(Bản Đồ - Tác giả phát họa)

Có những kỷ niệm tưởng chừng như đã quên, sẽ không bao giờ trở lại, nhất là trở lại trong một khung cảnh hoàn toàn xa lạ như xứ Đức nơi tôi đã đến cách đây 50 năm và ở lại cho đến bây giờ.... Thế mà, khi đọc câu chuyện Bình Đông Bình Tây với cội Mai già, rồi hôm nay thêm câu  chuyện "Khu Nancy ở Saigon" của anh Nguyễn Minh Nữu thì tâm hồn tôi đã bay bổng trở về với khung cảnh ngày xưa với những hình ảnh không xa khu Nancy bao nhiêu - Đại lộ Cộng Hòa – Tất cả như ....Rồi mùa xuân qua đây lạc loài, đường quen xưa bùi ngùi, một thoáng mơ phai ("Một Thoáng Mơ Phai" của Trần Thái Hòa).

Từ cư xá Chu Mạnh Trinh vùng Phú Nhuận, gia đình ba mẹ tôi dọn về Trung Tâm Huấn Luyện Cảnh Sát Quốc gia ở đại lộ Cộng Hòa. Ngày ấy tôi mới bắt đầu vào lớp 3 trường tiểu học Phan đình Phùng (đường Nguyễn Thiện Thuật, thuộc khu Bàn Cờ).

Trung Tâm Huấn Luyện nằm đối diện với trường trung học Petrus Ký trên đại lộ Cộng Hòa. Trung Tâm có những dãy cư xá dành cho học viên là các ông trưởng ty, quận trưởng, đến tu nghiệp, tham dự khóa học, một câu lạc bộ có thể chứa đến hơn 200 người, một sân thể thao rất rộng có cả sân bóng chuyền và một xạ trường tập bắn súng rất tân tiến dưới hầm, bên trên xạ trường là 2 sân đánh vũ cầu trong nhà..... Ba tôi là người điều hành Trung Tâm và cũng là một giảng viên nên được cấp nhà ở ngay trong khuôn viên của Trung Tâm.

Thuở ấy anh em chúng tôi chỉ biết có 2 nhà hàng xóm: nhà bác Mộc có 2 cô con gái và nhà bác Khôi có 2 thằng con trai. Hai cô con gái nhà bác Mộc nhỏ tuổi hơn nên hai chị em chỉ quanh quẩn trong nhà, ít khi ra sân chơi. Có lẽ 2 cô cũng sợ anh em chúng tôi vì chỉ toàn là con trai. Phá làng phá xóm là bọn tôi gồm 2 cậu con trai hàng xóm cộng với 6 anh em của tôi vị chi là 8. Là đứa con gái duy nhất trong bọn nên tôi đánh đu theo những trò chơi của con trai.
Ngoài thời gian ở trường, về đến nhà, chúng tôi đem banh ra sân, chia làm 2 đội để đá với nhau mà không cần có trọng tài. Chạy theo trái banh dưới trời nắng nổ đom đóm mắt mà vẫn không dành được trái banh trong chân mấy thằng con trai, tôi luôn tự hỏi "sao không lấy thêm vài trái banh vào sân để khỏi dành nhau". Làm sao tôi biết được là môn đá banh được cả thế giới yêu chuộng cũng chỉ vì 1 trái banh mà 22 cầu thủ phải "dành" nhau trong mỗi trận đá là cả một tài nghệ, một kỹ thuật ăn tiền, là thắng thua chỉ vì 1 trái banh. Đã chạy trối chết để dành trái banh, toát cả mồ hôi, tóc tai tèm nhẹp, lại thêm bị cát nóng chà xát vào ống quyển, đau đến chảy cả nước mắt mà cũng không rớ được tới trái banh đang được ông anh kềm trong chân!! Con nít đá banh thì làm gì có giày có vớ nhà nghề như mấy cầu thủ mà chỉ là những đôi chân trần của bầy nhóc tì, cho nên môn đá banh sớm bị tôi cho ra rìa, không tham gia nữa.

Thiếu "cầu thủ" nên anh em tôi bày ra chơi tạt hình. Có được bao nhiêu tiền cắc dành dụm, anh em tôi rủ nhau đi mua những xấp hình ở tiệm chạp phô trên đường Lý Thái Tổ gần nhà. Tiệm nhỏ xíu nhưng mua gì cũng có. Mua mấy xấp hình về rồi ngồi cắt thành từng tấm hình nhỏ. Mỗi lần chơi phải chồng 5-6 tấm của phần mình, xong mỗi đứa cầm 1 chiếc dép, đứng lui ra sau cách chồng hình khoảng 5-6 thuớc. Từ đó phải tạt chiếc dép làm sao cho trúng chồng hình cao cao đặt trong vòng tròn phía đằng trước. Hình tạt được bao nhiêu là thuộc về mình bấy nhiêu. Chỉ vài lần tạt hình là biết ngay đứa nào giỏi đứa nào dở ngay. Thằng em kế của tôi tạt hình rất thiện nghệ.
Sau này tôi mới "ngộ" ra là nó ăn gian. Khi tạt, tôi hay đứng thẳng đuột người, tạt chiếc dép ra đằng trước, phần lớn dĩ nhiên là tạt hụt, không "ăn" được tấm hình nào. Còn nó thì vừa bước tới 1-2 bước vừa tạt, nên tạt lần nào xấp hình cũng bay tung tóe... Môn này tôi cũng ô rờ voa, rút lui vì chỉ mất tiền vô ích mà còn bị nó chọc quê "tạt gì mà dở ẹc!".

Đến mùa mưa, cây cối cỏ sậy trong khuôn viên Trung Tâm mọc um tùm nên có rất nhiều dế. Dế lửa, dế than, gáy vang trời khi tắt mặt trời... Lúc đó tôi chưa biết phân biệt dế đực và dế mái. Cứ thấy con dế đang bò men theo vách tường là tóm cổ, nhét vào chai sirô, không cần biết dế thuộc giới tính nào. Sau này khôn ra mới biết là dế mái không bao giờ có vân trên cánh và dĩ nhiên là hiền khô, không biết đá!!! Con dế đực nào có nhiều vân trên cánh là dế háo chiến, đá trăm trận trăm thắng. Dế than màu đen và dế lửa màu nâu. Dế lửa đá "ngầu" hơn dế than v...v... Trước khi đem dế ra đá phải cho dế ăn cỏ non, ăn xong phải làm cho nó say bằng cách cho nó quay vù vù trong không khí. Dế quay tít nên bị chóng mặt, thả xuống dế đi lảo đảo, nhào vô tấn công đối thủ ngay. Mà muốn cho dế quay thì phải dùng một sợi tóc dài.Tóc thì mấy thằng con trai nhà tôi làm gì có, toàn húi cua. Thế là mái tóc dài lúc nào cũng bù xù của tôi được trưng dụng tối đa: đứa giựt bên này, đứa giựt bên kia. Hết chống đỡ chỉ còn nước la oai oái!! Ban đêm, đứa nào cũng đem dế theo vào phòng ngủ, nhét dưới gối. Đêm khuya dế bắt đầu nỉ non, gáy vang trời. Bọn con nít chúng tôi ngủ say làm sao biết được là mấy con dế thần sầu quỹ khốc của chúng tôi đã làm phiền cha mẹ mình. Sáng hôm sau ngủ dậy mới biết là những cái hộp đựng dế của chúng tôi
đang nằm lăn lóc ngoài vườn, và mấy chiến sĩ dế cũng đã tung cánh chim tìm về tổ ấm là các hang hóc đâu đó trong vườn. Thế là hết mùa đá dế....

Trong 2 thằng hàng xóm của tôi có thằng em là thằng Phát, lâu lâu nó lại thích làm dáng yểu điệu như thục nữ nên tôi cũng có "bạn gái". Để làm con gái, Phát phải nhặt các lọn gỗ bào khá dài quăn tít kẹp lên mái tóc ngắn ngủn của nó. Dạo đó hai đứa tôi thích bắt chước hai cô ca sĩ Lệ Thanh và Thanh Thúy. Sân khấu của chúng tôi là mái hiên của câu lạc bộ. Mỗi ca sĩ ôm một "Microphone" là chậu cây mai cao ngang tầm chúng tôi. Lúc hát, hai ca sĩ làm bộ lấy tay hất "mái tóc" là những lọn gỗ bào ra đằng sau, mắt thì liếc làm duyên với đám khán giả là bầy con trai ngồi bên dưới.... Phát học trường Tây, đi học có xe Cyclo đưa đón. Tôi thì cuốc bộ đến trường, đi chung với cậu em học sau tôi một lớp. Sáng ra chưa tỉnh ngủ, hai chị em tôi ra đến bùng binh Cộng Hòa, ở đây rộng thoáng, gió các ngã đường thổi về, lạnh đến co ro.... Hai chị em tôi có bữa phải ngồi thụp bên lề đường vì gió, rồi dựa lưng nhau ....nhắm mắt ngủ một chặp, trước khi băng qua đường Phạm Biểu Chánh rồi Hồng Thập Tự để sang bên kia bùng binh là đường Nguyễn Thiện Thuật, nơi có trường tiểu học Phan Đình Phùng của chúng tôi.
Ngoài những trận đá banh, chạy đua, tạt hình hay vật lộn chung với bọn con trai, Phát và tôi rất "ghiền" chơi riêng với nhau, hết bày trò chơi này đến trò chơi khác cho đến tối mịt mới chịu về nhà. Trò chơi mà hai đứa tôi thích nhất là làm "đậu đỏ bánh lọt": cạo phấn trắng hòa với nước
lạnh vào chén để làm nước dừa, cắt dây thung màu xanh lá cây ra từng khúc ngắn làm bánh lọt và dây thung màu đỏ làm đậu đỏ. Trong khuôn viên Trung Tâm trồng rất nhiều cây trứng cá.
Đến mùa trứng cá chín, hai đứa tôi hái từng rổ trứng cá, bóp ra làm chè Kê..... Cho đến một ngày, hình như là sinh nhật của tôi, Phát rủ tôi đi hái hoa ở công viên trước hội trường lớn của

Trung Tâm. Gió mát hây hây, mây trắng bay trên đầu, đang mải mẻ hái hoa, bỗng dưng Phát quay nhìn tôi rồi nói "tụi mình giống vợ chồng ghê há!". Không hiểu sao, một cảm giác là lạ, rờn rợn chợt đến trong tôi. Cũng "thằng Phát" của mọi ngày, sao bữa nay nó nói gì mà giống như người lớn! Từ đó tôi hay lãng tránh Phát, không muốn chơi riêng với Phát nữa. Không có bạn gái, Phát mon men làm quen với 2 cô con gái nhà bác Mộc. "Ghét" Phát ăn nói kỳ cục nhưng thấy Phát có bạn mới, tôi lại tức, tức hay ....ghen?? Sau này gia đình tôi không còn ở Trung Tâm nữa mà dọn về Trương Minh Ký. Trước ngày sang Đức, nghe mẹ tôi kể là bác Khôi trai đã mất và Phát thì vào Biệt kích Dù của Mỹ....

Trường Petrus Ký nằm bên kia đường, đối diện với Trung Tâm Huấn Luyện. Hai bên đại lộ ngày ấy có hai hàng cây Điệp và cây Phượng trồng xen kẽ. Hè đến, hoa Điệp màu hồng và hoa Phượng màu đỏ nở rộ rất đẹp. Những trái Phượng dài dài màu xanh, mọc chen lẫn trong đám hoa đỏ ối, hoạ hoằng lắm mới có trái chín khô rơi nằm chỏng chơ trên mặt đất. Cây Điệp thấp hơn và trái Điệp cũng nhỏ hơn, màu đen. Mùa hè trái Điệp thi nhau rụng đầy lề đường. Anh em tôi thường lượm trái Điệp, đập ra lấy hột làm bi bắn ná....Mùa hè đến cũng là mùa thi tuyển vào đệ thất của các nam sinh. Kết quả của cuộc thi tuyển thường được đọc qua Microphone vang cả một khúc đường từ sáng cho đến trưa. Phụ huynh và các tuyển sinh đứng chờ trước cửa từ sáng sớm để nghe kết quả. .... Hết phần xướng danh, ngưòi thì mừng rỡ vui mừng vì trúng tuyển, kẻ thi rớt thì tiu nghỉu buồn xo, tiếng xe gắn máy, tiếng cười nói..... Đại lộ Cộng Hòa ngày ấy không biết đã chứng kiến bao lần cảnh vui mừng sung sướng hay đau khổ dở khóc dở cười của các cậu học trò Saigon. Các anh em trai nhà tôi đều là học sinh của ngôi trường cổ kính Petrus Ký.


Năm tôi thi vào đệ thất trường Trưng Vương là năm có trận lụt rất lớn ở miền Tây. Bài luận văn thi tuyển năm đó có đề tài đại khái là "em nghĩ gì về nạn lũ lụt ở miền Tây". Con bé 10 tuổi đầu là tôi lúc đó chẳng nghĩ gì đến cảnh nhà trôi, đường lở, cầu sập, người chết, đói khát ....mà chỉ "bận tâm" một điều duy nhất là lũ lụt như thế này thì học trò làm sao đi thi đệ thất, giấy mực đâu mà thi? Thế là con bé hý hoáy viết đến 2 trang giấy, chỉ lo suy nghĩ làm thế nào để mua giấy mực cho học sinh để đi thi trong mùa lũ lụt. Bài luận của tôi nghe ông bác chấm thi kể lại được tới ...2 điểm. Kết quả dĩ nhiên là trợt vỏ chuối.

Để chờ kỳ thi đệ thất năm sau, tôi được gửi vào học bán trú trường Thánh Linh trong khu Chợ Quán do các bà sơ điều hành - Học lớp Tiếp liên - Các sơ ở đây mặc áo chùng đen và khăn lúp trên đầu cũng màu đen nhưng không nhớ hay không biết các sơ thuộc dòng nào. Chỉ nhớ một điều là có Sơ Anna hiền dịu dạy làm luận văn, sơ Therèse hay cười dạy may thêu và hát thánh ca.
Nhưng nhớ nhất là sơ Anné, bà sơ dạy Toán và dữ hơn bà chằng!!! Có một lần làm bài kiểm Toán, cả lớp chúng tôi cọp dê nhau nên làm sai bét cả đám. Sơ Anné giận lắm, tuyên bố là trả tập vở lại, không thèm chấm điểm. Cả lớp không ai dám nhúc nhích đến bàn của sơ để lấy tập vở của mình về. Đứa này chờ đứa kia .... cho đến khi nguyên chồng vở Toán bị sơ Anné quẳng xuống chuồng gà bên dưới. Lúc đó 3-4 đứa trong lớp mới dám chạy xuống sân, nhặt lại mấy quyển vở toán đem lên, thì sơ chỉ lạnh lùng phán một câu "vở dính đầy phân gà, mấy em đem về nhà chép lại vào quyển vở mới, tuần sau nộp lại". Lúc đó đã gần cuối năm học, vở chép cũng đã gần hết cuốn.... Ngồi chép lại những bài toán từ đầu năm mà "hận" sơ Anné không bút nào tả xiết.... Có
lẽ đây là hình phạt nặng nhất trong cuộc đời đi học của tôi và có lẽ cũng nhờ đó mà hè năm sau tôi thi đậu vào đệ thất Trưng Vương.


Năm tôi đậu vào đệ thất Trưng Vương cũng là năm đảo chính Tổng
 Thống Ngô Đình Diệm. Ngày khai giảng thì còn xa nhưng ở nhà không biết làm gì cho hết ngày nên tôi thường đạp xe đạp lên trường TV để xem lại kết quả thi đậu của mình. Từ đường Cộng Hòa, rẽ tay phải vào đường Hồng Thập Tự, cứ thế mà đạp cho tới gần sở thú thì rẽ vào Nguyễn Bỉnh Khiêm là đến. Ngôi trường TV lúc đó vẫn còn rất xa lạ với tôi. Tên học sinh trúng tuyển được niêm yết trong một lồng kính treo trên tường. Tên tôi trên bảng niêm yết vẫn nằm nguyên ở vị trí cũ, số 17, chẳng có gì thay đổi, nhưng sao lần nào nhìn thấy tên mình, lòng tôi cũng rộn ràng xôn xao khó tả. Ngày nhập học vào đệ thất năm đó cứ bị hoãn đi hoãn lại. Tôi lại lấy cớ đi xem thông cáo về ngày khai giảng, lại hùng hục đạp lên trường rồi đạp về ....Năm ấy, mãi đến gần cuối tháng 11 năm 1963, tôi mới được bước chân vào ngôi trường của một thời áo trắng Trưng Vương.

Sau này, khi đã trở thành cô thiếu nữ dậy thì, mỗi lần chạy ngang Trung Tâm Huấn Luyện trên đường Cộng Hòa, tôi không khỏi bùi ngùi nhớ lại cả một quãng thời thơ ấu của mình..... Dạo đó tôi thường đến đại học sư phạm trên đường Nguyễn Trải để chơi vũ cầu. Các anh chị trong hội ai cũng là sinh viên hoặc đã đi làm việc sau khi xong đại học. Tôi là con bé duy nhất còn ở bậc cuối trung học. Chơi vũ cầu xong mọi người thường kéo nhau đi ăn đậu đỏ bánh lọt ở
Khu Nguyễn Thiện Thuật. Là cô em nhỏ nhít trong hội nên tôi luôn được các anh hoặc các chị thay nhau bao ly chè. Một hôm, đang vui vẻ ăn ly chè sâm bổ lượng thì một bà chị, lúc đó chị đã là giáo sư trường Gia Long, báo tin Phiên, cũng là hội viên của hội vũ cầu, sắp lấy vợ, hỏi tôi có biết chưa. Nghe chị hỏi mà tôi tưởng mình nghe lầm nhưng vẫn cố làm tỉnh để trả lời "dạ, em
biết rồi!".

Phiên là sinh viên Kiến trúc năm thứ hai, sinh hoạt trong ca đoàn "Gió Khơi" (ca đoàn áo nâu của Lê văn Khoa). Mỗi lần ca đoàn trình diễn ở Quốc gia âm nhạc tôi luôn được Phiên mời đi nghe chàng hát. Sinh nhật 17 tuổi của tôi Phiên đến dự với bức tượng "Manneken Pis" bằng thạch cao. Những buổi tối chơi vũ cầu đánh đôi chung với Phiên, Phiên bao sân bên dưới, tôi ôm lưới đứng trên chờ những trái bỏ nhỏ của bên đối thủ.... Đôi khi lỡ bộ, chạy không kịp, ngó lui ra đằng sau cầu cứu Phiên. Bốn mắt cứ giao nhau như thế này thì thua là cái chắc!!! Phiên hay đến nhà tôi, lấy cớ là "kèm toán" cho bạn. Một lần Phiên rủ tôi đi nghe nhạc ở "Đêm Màu Hồng". Đang lo không biết phải xin phép ba mẹ như thế nào để đi chơi với chàng thì may thay có ông anh họ là sĩ quan Hải quân đóng ở Nha Trang về phép ghé thăm. Thế là lấy cớ "tháp tùng" theo ông anh, tôi hẹn với Phiên ở Đêm Màu Hồng. Không khí Đêm Màu Hồng tối hôm đó thật là ấm cúng dễ thương, dạo đó ban Thăng Long chuyên trình diễn ở đây. Tiếng hát của Hoài Trung, Thái Thanh như quyện lấy cả không gian tràn ngập khói thuốc. Đây là lần đầu tiên tôi biết đến không khí phòng trà. Ra về, chia tay nhau trước cửa ĐMH, tiếng xe, tiếng cười nói xôn xao nhưng vẫn không át được tiếng đại bác xa xa vọng về....
Thế rồi, đùng một cái, chẳng hiểu sao, Phiên bỏ đi lấy vợ!! Nghe tin mà tê tái cả lòng. Tự ái, tôi
đem bức tượng "Manneken Pis" đến nhà trả lại cho chàng. Món quà duy nhất Phiên tặng cho tôi,
Ngày đám cưới của Phiên tôi xách xe Honda đến hồ tắm Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hồ tắm NBK một
ngày mưa, mưa lất phất, mây mù giăng thật thấp, chỉ có vài mạng đang mải miết bơi.... Ngày ấy tôi chỉ còn biết bơi trong mưa cho quên sầu, bơi cho bớt hận.... Mưa mỗi lúc một nặng hột.
Thành phố bắt đầu lên đèn. Phóng Honda về lại nhà, tóc ướt, mắt ướt không biết vì mưa hay vì khóc cho mối tình mới chớm từ nay thôi đành chôn kín tận đáy lòng....

Ba năm sau (trước 75), trong một chuyến về thăm nhà, tình cờ tôi gặp lại Phiên trên đường Duy Tân, gần công trường Con Rùa và cũng gần trường Kiến trúc của chàng.... Bầu trời SG hôm ấy thật cao, lá cây xanh hai bên đường tỏa bóng mát xuống con đường. Hai chiếc Honda chạy chầm chậm song song bên nhau như ngày nào. Bao kỷ niệm ngày xưa chợt ùa về.....
Thành phố Saigon của tôi giờ đây đã thay đổi quá nhiều. Lần cuối cùng trở về sau hơn 35 năm, tôi không nhận ra đâu vào đâu. Hỏi người đi đường thì thường nhận được một cái tên lạ hoắc.
Cảm giác "không còn thuộc về nơi đây nữa" luôn chế ngự trong tâm tư. Lần đầu tiên và cũng là cuối cùng, chúng tôi ở khách sạn "Continental" ở góc đường Tự Do. Thèm sầu riêng, chúng tôi mua một trái của một xe gác ở lề đường Lê Lợi. Biết là không thể đem vào Hotel nên chúng tôi ghé vào con hẻm trên đường Lê Lợi có quán cóc dựng bạt bán cà phê, có các ghế đẩu bằng nylon cho khách ngồi.... Bà chủ quán sốt sắng kéo ghế mời 2 quý khách đang lúng túng với trái sầu
riêng trên tay, lăng xăng giúp chúng tôi xẻ trái sầu riêng có múi vàng lườm thơm phứt.... Những tình cảm thân thuộc nồng ấm như thế này lâu lắm rồi chúng tôi mới có lại...Nhưng mời mãi, năn nỉ mãi mà bà vẫn không chịu ăn cùng!!

Ăn trái sầu riêng vừa xong thì trời đổ mưa.....
Đứng trú mưa dưới tấm bạt trĩu nước của quán cà phê, chàng của tôi mời ông bạn mới làm quen cũng đang trú mưa điếu thuốc lá. Khói thuốc bay tỏa trong không gian, trời lạnh nên khói thuốc không bay cao mà quyện lấy cả 3 chúng tôi.... Tiếng kể chuyện giọng SG đặc sệt xen lẫn tiếng mưa rả rich sao ấm cúng và thân thương như một thuở xa xưa!!!


(Cảm tác nhân đọc "Khu Nancy của Saigon" của Nguyễn Minh Nữu)

Mainz, tháng 9/2021
Mỹ Nga