Hiển thị các bài đăng có nhãn Bác Sĩ Đinh Đại Kha. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bác Sĩ Đinh Đại Kha. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 10, 2025

Cáo Phó Từ Gia Đình Bác Sĩ Đinh Đại Kha

CÁO PHÓ

(1931 - 2025)

Nghi thức thăm viếng và nghi lễ an táng chỉ dành riêng cho gia đình Bác sĩ Kha. Xin quí vị niệm tình thông cảm. Chân thành cảm ơn.

Gia đình chúng tôi vô cùng đau đớn, báo tin cùng quí vị thân bằng quyến thuộc, bạn hữu xa gần để kính tường: Chồng, Cha, Ông chúng tôi là Bác sĩ gia đình hồi hưu: 

ĐINH ĐẠI KHA 

Sinh ngày 22 tháng 11 năm 1931
Đã từ trần ngày 15 tháng 9 năm 2025, 
Hưởng thọ 93 tuổi.

Bà quả phụ Đinh Đại Kha, nhũ danh Dương Thị Tuyết Nương; 
Trưởng nữ: Đinh Đại Tuyết Minh; 
Trưởng nam: Michael Đinh Đại Quang và vợ Lindsay Foley-Đinh; 
Trưởng tôn: Nathan Quang Vinh Foley-Đinh; 
Thứ tôn: Mikayla Bảo Châu Foley-Đinh.

Nguyễn Thượng Vũ Báo Tin Bác Sĩ Đinh Đại Kha Qua Đời


Tôi rất đau thương báo cho các anh chị một tin rất buồn là Bác Sĩ Đinh Đại Kha, một đàn anh của tôi vừa qua đời, hưởng thọ 93 tuổi. ,

Bác Sĩ Đinh Đại Kha được các đồng nghiệp, các bạn hữu, các đàn em, các bệnh nhân của anh trong ngót 70 năm qua yêu mến và kính trọng vô cùng.
Anh Bác Sĩ Kha vào Trường Thuốc tại Hanoi cùng năm với các anh Hoàng Cơ Lân, Nguyễn Thế Minh, Phạm Văn Biểu, Trịnh Cao Hải, Bạch Đình Minh và anh BS Từ Uyên.

Các người này cũng qua đời nhiều năm nay, ngoại trừ hai anh Hoàng Cơ Lân và Từ Uyên.
Có lẽ anh Kha cũng có thể học cùng với anh Bác Sĩ Nguyễn Thế Huy hay là sau anh Huy một lớp.

Tôi ngưỡng mộ anh Bác Sĩ Kha từ lâu vì anh bao giờ cũng tính tình hôn nhiên, vui vẻ, tử tế với tất cả mọi người.

Anh Kha là người biết nhiều, hiểu nhiều và là tác giả nhiều tài liệu Y Khoa vô cùng giá trị, viết với 1 cách hành văn giản dị cho các người không phải bác sĩ cũng hiểu được.
Anh Bác Sĩ Kha dời khỏi quân đội, giải ngũ cũng sớm trong thập niên 60. Anh lên Dalat mua lại phòng mạch và bệnh viện của 1 bác sĩ người Pháp lớn tuổi , muốn về hưu bên Pháp với gia đình.
Anh Bác Sĩ Kha xuất ngoại sang Pháp để tu nghiệp và cũng làm việc bên Pháp một thời gian, rồi chuyển sang Canada, mở phòng mạch tại Tỉnh Vancouver, một tỉnh đẹp nhất, khí hậu tốt nhất của Canada.

Tôi thật tình không phải là bạn thân của anh Bác Sĩ Đinh Đại Kha, vì anh trên lớp, trên tuổi và sống xa cách nhau, chỉ liên lạc bằng thư từ với nhau mà thôi,
Nhưng tôi rất thân với anh Bác Sĩ Hoàng Cầm và chi GS Nha Khoa Đinh Tố Nhàn, em rể và em gái anh Bác Sĩ Kha, mà tôi quý mến vô cùng.

Ít lâu nay không nhân được thư từ gì của anh Kha, nên tôi thắc mắc vô cùng, tính soạn lại điện thoai để kêu anh thăm hỏi.
Không ngờ hôm nay nhận được hung tin từ anh chị Hoàng Cầm & Tố Nhàn.

Anh Bác Sĩ Cầm cho tôi biết là anh Bác Sĩ Kha có dăn cháu Tuyết Minh, con gái cả của anh, báo cho tôi biết tin buốn khi anh ra đi, và cháu Tuyết Minh nhờ anh chị Hoàng Cầm báo cho tôi biết.

Với cái tuổi 94, anh Bác Sĩ Kha đã có một đời sống phong phú, thành đạt, có người vợ - chị Dương Tuyết Nương - hiển thục, một cháu gái và một cháu trai thành công, tôi nghĩ biết bao nhiêu người chỉ ước mong có mội cuộc đời hậu vận tốt đẹp như anh Bác Sĩ Kha.

Cầu mong đấng Tối Cao sẽ đón nhận Bác Sĩ Đinh Đại Kha về yên nghỉ miền Vĩnh Cửu.

Nay Kính

Nguyễn Thượng Vũ


Ban Biên Tập Trang Long Hồ Vĩnh Long Thành Kính Phân Ưu Cùng Gia Đình Bác Sĩ Đinh Đại Kha

 


Thân Hữu Thành Kính Phân Ưu Cùng Gia Đình Bác Sĩ Đinh Đại Kha


Rất đau buồn khi nhận tin Niên Trưởng Đinh Đại Kha đã ra đi.
Anh Kha là Tiểu Đoàn Phó TĐ SVHDQY khi tôi còn là Sinh Viên năm thứ ba.
Xin cầu cho Niên Trưởng được thanh thản nơi chốn vĩnh hằng
Đa tạ anh Nguyễn Thượng Vũ đã gửi tin

Nguyễn Ngọc Khôi 
SVHDQY 16
***
Tôi biết tin anh Kha qua đời ngày 15/ 09, do bs Soma Ganesan ở Vancouver thông báo. Tôi chờ chi tiết của Soma mà không thấy, không có cáo phó, không có email để chia buồn.
Tôi rất áy náy và buồn, vì anh Kha và tôi có rất nhiều kỷ niệm mà tôi đã kể một số trên Tập San Y Sĩ của Canada.

Thân phụ anh Kha là cụ Đinh Bá Hoàn, bút hiệu Tú Hát, là bạn của cha tôi.
Người vợ lớn của cụ sinh ra anh Kha, chị Tố Nhàn và anh Đinh Hải Tùng, cùng lớp với anh Vũ, chắc anh Vũ phải biết.

Người vợ sau sinh ra Đinh Ngọc Mô, làm đố vui để học trên TV ở Việt Nam, Đinh Thị Kiến Hoà, bác sĩ, Đinh Ngọc Bôi….Kiến Hoà ở Montreal. Hình như còn một cô bs nữa là Đinh Thị Ninh Hưởng mà tôi không quen.
Năm 1975, mới định cư ở Montreal từ mùa hè, tới mùa đông thì tôi và vợ chồng bác sĩ Lê Thiện Nhân RIP, con bác sĩ Lê Lữ RIP lớp tôi, đi Québec city để coi Carnaval des neiges.

Xứ lạ, không quen ai, biết anh Kha đang làm Resident về giải phẫu ở Québec nên coi phone book, tìm số điện thoại, gọi anh Kha, tự giới thiệu, và nhờ cậy. Anh Kha sai Bôi ra bến xe, đón về nhà ăn cơm, rồi đưa đi coi Carnaval, uống rượu Caribou…
Từ đó tôi quen anh Kha, dù anh đã dọn qua Vancouver. Chúng tôi gặp nhau nhiều lần, khi ở Montreal, khi ở Vancouver. Anh Kha coi tôi như em.

Anh ra đi, tôi rất buồn, nhưng anh đã hưởng đại thọ… Kính chúc anh yên nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.

Nguyễn Thanh Bình.
***
Tôi hân hạnh được Bác Sĩ Đinh Đại Kha chuyển tặng sách Y Học do ông soạn thảo. Ông đã bỏ ra nhiều công sức viết quyển Y Học này. Để giúp đời, giúp người.

Vô cùng tiếc thương khi hay tin Bác Sĩ Đinh Đại Kha đã ra đi. 
Thành kính chia buồn đến gia quyến của ông trước sự mất mát to lớn này.
Xin cầu nguyện Hương Hồn Ông sớm về miền cực lạc.

Thanh Vân
***

Xin thành kính phân ưu cùng gia đình Bác sĩ Đinh Đại Kha, đã tận tụy chữa bệnh cho cộng đồng người Việt ở Vancouver và những bài viết về Y Học Thường Thức trên TMG group.

Nhờ đọc được những lời chia sẻ tưởng nhớ của các anh chị đồng nghiệp với Bác sĩ Đinh Đại Kha, được biết Bác sĩ Đinh Đại Kha đã khép lại hành trình gần một thế kỷ sống và cống hiến, để lại trong lòng đồng nghiệp, học trò và bạn hữu hình ảnh một thầy thuốc tận tâm, uyên bác, và hiền hòa.

Thành kính.
Hoàng Yến
***
Rất xúc động biết tin huynh trường Đinh Đại Kha đã ra đi.
Chân thành phân ưu cùng tang quyến, anh chị Hoàng Cầm và Đinh Thị Tố Nhàn.
Nguyện cầu hương linh huynh trưởng sớm về cõi An Bình.

Vợ chồng Mùi Quý Bồng
***

Kính gửi BS Nguyễn Thường Vũ,
Mỹ Ngọc cám ơn BS Nguyễn Thượng Vũ đã báo hung tin BS Đinh Đại Kha đã qua đời ở tuổi 94, tại Canada.
Thành kính phân ưu cùng tang quyến, BS HoàngCầm, Giáo Sư Nha Sĩ Đinh Thị Tố Nhàn. 
Cầu nguyện Đấng Tối Cao đón Hương Linh BS Đinh Đại Kha về an nghỉ cõi vĩnh hằng.

Thành kính phân ưu,

Nguyễn thi Mỹ Ngọc
***
Những bài viết về Bác sĩ Đinh Đại Kha, anh Vũ và anh Bình .....đã
cho biết thêm nhiều điều dễ thương của người đàn anh tử tế, ưa giúp đỡ mọi người...vừa mới giã từ anh chị em.
Nguyện cầu Hương Linh đan anh Đinh Đại Kha sóm được về cõi vĩnh hằng.
Thành kính phân ưu.

Nguyễn Tích Lai
***
Thành kính phân ưu cùng gia đình Bác Sĩ Đinh Đại Kha.
Nguyện cầu Hương Linh Bác Sĩ sớm về Miền Vĩnh Cửu

Phan Văn Thàng & Tiểu Thu Kính Bái

***
Cung kính tiễn đưa bác sĩ Đinh Đại Kha về cõi vĩnh hằng yên giấc ngàn thu.

Tố Kim

***

Kim Oanh rất buồn và tiếc thương khi hay tin Bác Sĩ Đinh Đại Kha đã ra đi.
Thành kính chia buồn, đồng hành cùng tang gia trong nỗi đau mất mát này.
Nguyện cầu cho Hương Linh của Bác Sĩ Đinh Đại Kha sớm được yên nghỉ nơi miền Vĩnh Cửu.

Trong những năm qua Bác Sĩ Đinh Đại Kha đã gửi cho Kim Oanh 2 quyển Sách Y Học Thường Thức  để lên Trang Long Hồ Vĩnh Long.
Kim Oanh rất quý và đã dành riêng một trang dành cho sách của Bác Sĩ, đọc giả cần dễ tìm hơn. Kim Oanh còn đang đăng danh dỡ.
Kính gửi:


Kính nguyện.

Kim Oanh

Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2024

Bệnh Rào Rào Trong Tai (Tinnitus) - Bác Sĩ Đinh Đại Kha

 

Đại cương

Đây là một bệnh không tác hại gì nhưng gây phiền phức cho bệnh nhân. Người bệnh nghe thấy một tiếng động kéo dài liên miên nhưng tiếng động này không có thực. Mọi người ở chung quanh không nghe thấy tiếng động đó. Theo thống kê thì bệnh rào rào trong tai khá phổ thông: tùy theo địa phương mà số người bị bệnh này thay đổi từ 10% tới 15% dân số.

Vì tiếng động của bệnh rào rào trong tai không có thực nên y học mệnh danh các trường hợp này là bệnh rào rào trong tai chủ quan. Tuy nhiên, trong một số trường hợp hiếm có thì tiếng động đó có thực, do một bộ phận ở trong đầu bệnh nhân và ở ngay gần tai gây ra: đó là bệnh rào rào trong tai khách quan.

Đặc tính

Tiếng động của bệnh rào rào trong tai thay đổi theo từng bệnh nhân. Có người cho rằng tiếng động nghe thấy giống như tiếng xe chạy ào ào ngoài xa lộ, hoặc như tiếng sóng biển rì rào, tiếng côn trùng rỉ rả, tiếng gió hú, tiếng chuông gọi cửa, tiếng thổi còi… Tiếng động này khi lớn, khi nhỏ, khi có, khi không. Tiếng rào rào trong tai nghe lớn hơn khi bệnh nhân đang ở một nơi yên tĩnh hoặc vào lúc ban đêm.

Đa số bệnh nhân thích ứng được với tiếng rào rào trong tai, nghe lâu thành quen nên không bị lo sợ hay bực tức nữa. Trong trường hợp này, bệnh trong tai không gây xáo trộn trong sinh hoạt thường ngày của họ và không ảnh hưởng tới sức khỏe tổng quát.

Bệnh rào rào trong tai khách quan thường do mạch máu bất thường ở trong đầu bệnh nhân gây ra. Máu chạy trong mạch máu bất thường phát ra tiếng động thay đổi theo nhịp tim đập. Nghĩa là người bệnh nghe thấy tiếng rào rào này lớn hơn khi tim bóp và nhỏ hơn khi tim nở. Họ có thể theo dõi sự biến đổi của tiếng động này mà đếm được nhịp tim của mình.

Khi người bệnh không thích ứng được với tiếng rào rào trong tai, họ có thể bị mất ngủ hoặc bị trầm cảm. Đây là trường hợp cần khám bệnh để điều trị tiếng rào rào trong tai, vì nếu tình trạng này kéo dài sẽ làm suy yếu sức khỏe thể chất và tâm thần của bệnh nhân.

Nguyên nhân


Chức năng thính giác (sự nghe) của chúng ta di chuyển qua hệ thống truyền âm bao gồm, từ ngoài tới trong (xem hình bên dướii):

Lỗ tai
Ống tai ngoài
Tai giữa
Tai trong
Dây than kinh thính giác
Trung tâm thính giác trong óc

Mọi xáo trộn lâu dài xảy ra trong hệ thống truyền âm đều có thể gây ra bệnh rào rào trong tai chủ quan. Các nguyên nhân gây xáo trộn như vậy bao gồm:

Tiếng động lớn nghe nhiều lần khiến dây than kinh thính giác bị tổn thương (điếc), đây là trường hợp làm việc trong nhà máy ồn ào hoặc nghe nhạc quá lớn tiếng.

Tuổi già: sự lão hóa khiến các cụ bị điếc. Hóa chất gây tổn thương thính giác. Đây là nói về phản ứng phụ nguy hại của một số thuốc trụ sinh. Bệnh thiên đầu thống (đau nhức một bên đầu). Bệnh nhiễm trùng bất kỳ nơi nào thuộc hệ thống truyền âm.

Tổn thương thần kinh trung ương, thí dụ: đột quỵ.
Các nguyên nhân của bệnh rào rào trong tai khách quan bao gồm:
Sự tuần hoàn bất thường tại động mạch cảnh (hai bên cổ) hoặc tại tĩnh mạch cổ.
Khối u tai giữa, loại có nhiều mạch máu khiến tuần hoàn gây tiếng động.
Dị tật bẩm sinh tại mạch máu màng óc gây ra tuần hoàn bất thường nơi đó.
Sự co thắt các bắp thịt nhỏ tại vòm miệng hoặc nơi tai giữa.

Chẩn đoán

Bệnh sử

Sự chẩn đoán bệnh rào rào trong tai thông thường dựa vào bệnh sử. Khi bệnh nhân kể bệnh và trình bày chi tiết về các triệu chứng đặc trưng thì bác sĩ rất dễ định bệnh.
Đối với bệnh rào rào trong tai khách quan thì triệu chứng có chỗ khác lạ để phân biệt với bệnh rào rào trong tai chủ quan:
Tiếng rào rào thay đổi khi lớn, khi nhỏ, theo nhịp tim đập.

Bệnh nhân mô tả tiếng động họ nghe thấy không có tính cách ào ào liên tục mà là tiếng lách cách giống như khi những vật bằng kim loại bị va chạm. Tiếng lách cách này là do sự co thắt bắp thịt nhỏ tại vòm miệng hoặc tai giữa.
Tiếng ào ào chỉ nghe thấy một bên tai khi có khối u tai giữa.

Khám lâm sàng

Khám lâm sàng bệnh rào rào trong tai bao gồm khám tai, khám hệ thần kinh và đo thính giác tại phòng mạch.

Dụng cụ đo thính giác tại phòng mạch tên là âm thoa (xem hình bên), chế tạo bằng kim loại, sử dụng dễ dàng, không cần phụ thêm máy móc gì.
Đo thính giác bằng âm thoa cho biết người bệnh nghe được cả hai tai hay bị điếc một bên. Nếu bị điếc một bên thì nghi ngờ do bệnh lý não bộ và cần gửi đi xét nghiệm bổ túc.

Các loại xét nghiệm

Bệnh rào rào trong tai thông thường không cần xét nghiệm để chẩn đoán. Tuy nhiên có những trường hợp đặc biệt cần sử dụng tới xét nghiệm:

Đo thính giác tại phòng thí nghiệm để xác định bệnh nhân bị điếc một bên tai do dây thần kinh thính giác bị bệnh hoặc do tổn thương thần kinh trung ương.

Chụp hình cộng hưởng từ tính chuyên môn vùng tai khi tình nghi dây thần kinh thính giác có mọc khối u.

Trị liệu

Khi bệnh nhân hoàn toàn thích ứng được với bệnh rào rào trong tai, tất nhiên họ không cần trị liệu. Nếu người bệnh muốn giảm bớt tiếng rào rào trong tai thì sự trị liệu bao gồm:

Dùng máy trợ thính mặc dầu chỉ bị điếc nhẹ. Tránh mọi sự kích thích than kinh: bỏ hoặc giảm bớt uống cà-phê, uống rượu, dung các loại thuốc kích thích.

Dùng máy che dấu tiếng rào rào trong tai. Đây là thiết bị gây tiếng động nhỏ liên tục để chia trí người bệnh khiến họ không chú ý tới tiếng rào rào trong tai nữa. Dụng cụ này hình dạng going như máy trợ thính và cũng đặt trong ống tai ngoài.

Bệnh rào rào trong tai cần dùng thuốc để trị liệu khi bệnh nhân bị mất ngủ thường xuyên hoặc bị bệnh trầm cảm. Điều này ảnh hưởng tới sức khỏe tổng quát, cho nên đây là lúc người bệnh phải đi khám bệnh để các bác sĩ quyết định phương cách điều trị.

Đối chiếu danh từ y học Việt-Anh

Bệnh rào rào trong tai Tinnitus
Trầm cảm Depression
Chức năng thính giác Hearing function 
Hệ thống truyền âm Auditory pathway 
Bệnh thiên đầu thống Migraine headache 
Động mạch cảnh Carotid artery
Vòm miệng Palate
Đặc trưng Specific
Tiếng lách cách Clicking sound 
Khám lâm sàng Clinical examination 
Âm thoa Tuning fork
Đo thính giác Hearing test
Chụp hình cộng hưởng từ tính Magnetic resonance imaging (MRI) Máy trợ thính Hearing aid
Máy che dấu tiếng rào rào trong tai Tinnitus masker 

BS Đinh Đại Kha
Trích Hội Y Nha Dược Florida 17
Bản Tin Mùa Xuân 2024

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2022

Phương Pháp Dưỡng Sinh - Bác sĩ Đinh Đại Kha


Đại cương


    Ngay từ thời xa xưa đã có nhiều người suy đi tính lại để tìm ra một phương cách giúp cho con người sống lâu và tránh bệnh tật. Kể từ các đạo sĩ thời tiền sử tới ngự y của các vua chúa đầy uy quyền, họ đều tận tâm tận lực nghiên cứu bí quyết trường sinh bất tử. Vậy mà theo các tài liệu ngàn xưa ghi lại thì không có một người nào đạt được kết quả như mong muốn.

    Hiện nay chúng ta sống trong một khung cảnh văn minh, khoa học phát triển không ngừng, thử hỏi có cách sinh hoạt nào giúp cho con người tăng tuổi thọ và tránh bệnh tật, chứ không nói tới thuật trường sinh bất tử viển vông như thời xưa nữa. Nếu như sống lâu mà lại bệnh tật liên miên thì cũng chẳng ích lợi gì, cho nên phương cách dưỡng sinh hiện nay là tìm cách tránh các bệnh tim mạch và bệnh tiểu đường là các bệnh thông thường của tuổi già. Các vị lão niên mà không bị vướng mắc các bệnh này tất sẽ sống thọ hơn.

    Trên thế giới, có rất nhiều nhóm nghiên cứu về vấn đề này. Cho tới nay có 2 nhóm nghiên cứu tại Hoa Kỳ đã đạt kết quả tốt, tìm ra một cách sinh hoạt dưỡng sinh tương đối giản dị có thể áp dụng cho đủ mọi người. Đặc biệt hơn nữa là họ đã vận động được rất đông người tham dự, áp dụng phương cách trên trong nhiều năm cho nên các kết quả thống kê đều có giá trị thực tế. Hai nhóm nghiên cứu này gồm có: thứ nhất là nhóm Nurses’ Health Study ngay từ lúc đầu đã có hơn 70 ngàn phụ nữ tham dự và thứ nhì là nhóm Health Professional Follow-up Study gồm lối 44 ngàn nam tình nguyện viên. 

    Hai nhóm nghiên cứu này cùng phác họa ra một cách sinh hoạt để giữ gìn sức khỏe, chúng ta hãy gọi là “sinh hoạt lành mạnh”. Sau đó họ chia đôi số tình nguyện viên để cho một nửa áp dụng “sinh hoạt lành mạnh” và số người còn lại thì sinh hoạt tùy thích. Sau hơn 6 năm theo dõi sức khỏe của 2 nhóm, tổng kết thống kê cho thấy là so với số người sinh hoạt tùy thích thì bên phía “sinh hoạt lành mạnh” ít bệnh tật hơn:

  • Về bệnh tiểu đường, bớt được 90%,

  • Các bệnh tim mạch, bớt được 80%.

    Một loại bệnh khác cũng giảm bớt, mà còn giảm nhiều hơn dự liệu của nhóm nghiên cứu: đó là bệnh đột quỵ, bớt được 80% bên phía “sinh hoạt lành mạnh”. Bệnh ung thư cũng giảm bớt chút ít, nhưng thời gian 6 năm theo dõi tương đối quá ngắn hạn đối với ung thư nên kết quả này không được kể tới trong thống kê ban đầu. 

    Tài liệu cập nhật: hai nhóm nghiên cứu kể trên đã liên lạc lại với các tình nguyện viên, 17 năm sau khi khởi đầu công cuộc nghiên cứu. Tuy không được nhiều người hồi âm, nhưng nói chung thì nhóm áp dụng sinh hoạt lành mạnh vẫn sống thọ hơn (nhiều người còn sống hơn) và ít bệnh hơn (kể cả ung thư) so với nhóm các tình nguyện viên sinh hoạt tùy thích. 

   

“Sinh hoạt lành mạnh”


Cách sinh hoạt này gồm 5 thành phần:


  1. Dinh dưỡng đúng cách

    Thức ăn thường ngày, điều thứ nhất phải là khẩu phần cân bằng nghĩa là phải có đủ 5 loại bao gồm chất bột-đường (cơm, bún, bánh mì…), chất đạm (thịt, cá, trứng…), sữa, rau và trái cây. Điều kiện kế tiếp là ăn nhiều rau và trái cây đồng thời bớt 3 loại thức ăn kia. Sau nữa, phải bớt ăn các chất dầu mỡ và chất mặn là vì nếu nấu ăn theo khẩu vị thông thường của chúng ta thì luôn luôn dư các chất này so với nhu cầu của cơ thể.    

    Trong khẩu phần kể trên, sữa là nói về sữa động vật (bò, dê…), nếu như bạn không uống được sữa bò do cơ thể không dung nạp đường lactose khiến đau bụng (lactose intolerance) thì có thể thay thế bằng sữa đậu nành.


  1. Giữ trọng lượng cơ thể đúng mức

    Phải giữ cho cơ thể đừng bị mập, nghĩa là theo lý thuyết phải giữ cho chỉ số khối lượng cơ thể nhỏ hơn số 25. Về chỉ số này, quí vị có thể nhờ bác sĩ gia đình tính dùm cho hoặc có thể tìm trên mạng Internet. Một phương pháp giản dị hơn để tạm tính trọng lượng cơ thể đúng mức là mang chiều cao thân thể tính bằng cm trừ đi số 100. Số còn lại là trọng lượng đúng mức tính bằng Kg (áp dụng cho người lớn). Thí dụ người cao 1 mét 60 phân thì trọng lượng đúng mức là (160 – 100) 60Kg.


Cách tìm chỉ số khối lương cơ thể trên mạng:


  • Vào trang web CDC (Center for Diseases Control)

  • Tìm kiếm: bmi

  • Bấm nút chuột trái vào từ Metric

  • Điền chiều cao và trọng lượng cơ thể trong khung thích hợp. Nên ghi nhớ là bên Anh ngữ họ dùng dấu chấm thay thế cho dấu phẩy trong các số liệu. Thí dụ chiều cao của bạn là 140cm mà họ tính đơn vị là mét, hãy điền trong khung là 1.4

  • Điền xong 2 khung, bấm nút chuột trái vào từ Calculate sẽ có số bmi hiện ra


  1. Vận động thân thể

    Cần phải vận động tối thiểu 30 phút một ngày. Nguyên tắc chung là vận động tùy theo khả năng mỗi người vì tập quá sức lại có hại cho sức khỏe. Mọi cách vận động đều có thể áp dụng được: thể thao tài tử, thái cực quyền (tài chi), đi bộ, bơi lội, khiêu vũ… Nếu vì lý do gì mà bạn bỏ vận động một vài ngày thì cũng phải sắp đặt cho đủ tối thiểu là 3 ngày tập thể dục trong một tuần lễ. Thời gian tổng cộng tập thể dục trong một tuần lễ phải giữ tối thiểu là 3 giờ 30 phút.


  1. Hạn chế uống rượu

    Tính chung cho những người mạnh khỏe thì số lượng rượu có thể uống tối đa trong một ngày là 30 gram cồn cho phái nam và phân nửa số lượng này cho phụ nữ. Như vậy có nghĩa là đàn bà trong một ngày có thể uống tối đa hoặc một ly nhỏ rượu mạnh, hoặc một ly trung bình rượu chát, hoặc một chai bia. Đàn ông có thể dùng gấp đôi số lượng này. Nếu đem so sánh các loại rượu thì tương đối rượu vang đỏ có ích lợi hơn chút ít cho sức khỏe vì có hiệu lực giúp biến dưỡng cô-let-tê-rôn. Tuy nhiên dù là rượu nào cũng phải hạn chế như đã nói trên đây.


  1. Tuyệt đối không dùng thuốc lá

    Phần cuối cùng của “sinh hoạt lành mạnh” là không được dùng thuốc lá dưới bất kỳ hình thức nào, dù là thuốc điếu, noặc thuốc hút bằng tẩu, thuốc lào hoặc dùng thuốc lá nhai như nhai trầu người mình gọi là thuốc xỉa, thuốc rê… Có người lại nghĩ là hút thuốc có lọc qua một lớp nước như khi dùng điếu bát, điếu ống hoặc điếu cày thì sẽ bớt độc. Thực ra điều này không đúng vì thời gian làn khói thuốc lọc qua lớp nước chỉ có ít giây đồng hồ cho nên phần lớn các hóa chất độc hại vẫn xâm nhập vào phổi và bộ tuần hoàn của người hút thuốc.


Kết luận


    Nếu ta suy diễn theo những thông tin trên đây thì phải công nhận là lề lối sinh hoạt chung hiện nay có hại cho sức khỏe. Vì vậy bí quyết dưỡng sinh nay đã có sẵn, ta phải chủ động thay đổi cách sống theo phác đồ sau đây:


  1. Dinh dưỡng. Hiện nay, khẩu phần thông thường của chúng ta dư chất đạm (thịt, cá, hải sản...) mà thiếu rau, trái cây. Phải sửa đổi lại, bớt chất đạm và thêm rau, trái cây cho khẩu phần được hợp lý hơn. Trong khẩu phần cân bằng có kể tới sữa, nhưng nếu bạn không uống sữa bò được (đau bụng) thì có thể thay thế bằng sữa đậu nành. Các chất béo dù là mỡ động vật (kể cả bơ và phô-mai) hay dầu thực vật đều phải hạn chế. Nói một cách đơn giản thì khẩu phần hàng ngày không được dùng hơn 30 phân khối (6 muỗng cà-phê) chất béo, tính chung cả dầu mỡ dùng chiên, sào, trộn sà-lách, có sẵn trong sữa, trong mì ăn liền, trong bánh ngọt... Các chất mặn cũng cần hạn chế là vì khẩu phần trung bình của người Việt chứa tới 3 hay 4 lần lượng Natri (muối, nước mắm, nước tương, bột ngọt) cần thiết cho nhu cầu cơ thể. 

  2. Trọng lượng cơ thể. Cần giữ trọng lượng cơ thể trung bình. Cách tính trọng lượng trung bình: xin coi trong các phần trên bài này. Người mập cần phối hợp bớt ăn và tăng vận động để đạt trọng lượng cơ thể trung bình. Ngoài ra, người mập cũng cần bớt ăn các chất bột-đường (cơm, bún, phở, mì, bánh mì...) vì ăn dư chất bột-đường là một nguyên nhân của bệnh tiểu đường loại 2.

  3. Thể dục. Kiên trì vận động thường xuyên cũng là một điều khó thực hành vì dễ bị nhàm chán. Vậy cho nên chúng ta nên tìm một thứ thể thao hay thể dục mình ưa thích để có thể tiếp tục lâu dài (bơi lội, khiêu vũ, đi bộ...). Vận động cơ thể cần phải điều hòa, nghĩa là ít nhất cũng phải tập thể dục 3 ngày trong 1 tuần. Thể dục nhẹ như đi bộ, đi xe đạp chậm chậm cũng đủ ích lợi cho sức khỏe. Cho nên thí dụ như đánh quần vợt tuần lễ một lần không ích lợi bằng đi bộ 4 ngày một tuần. Tổng cộng thời gian vận động mỗi tuần phải từ 3 tiếng rưỡi trở lên. 

  4. Rượu. Đã từ lâu, nhậu nhẹt gần như thành một truyền thống của dân Việt. Chúng ta cần từ bỏ thói xấu tác hại sức khỏe này, càng sớm càng tốt. Tuy không có thống kê chi tiết, nhưng số bệnh nhân bị xơ gan (cả nam lẫn nữ) cần điều trị, hiện nay mỗi năm mỗi tăng nhiều. Xin nhắc lại giới hạn cho nam giới là hai chai bia một ngày (hoặc số lượng tương đương các thứ rượu khác) và cho nữ giới là một nửa lượng rượu này mà thôi. 

    Có người tin rằng mỗi ngày uống một ly rượu vang đỏ sẽ có lợi cho sức khỏe vì rượu này giúp sự biến dưỡng cô-let-tê-rôn. Thực ra, rượu vang đỏ ảnh hưởng rất ít trong sự biến dưỡng cô-let-tê-rôn. Nếu bạn bị dư cô-let-tê-rôn trong máu thì cần trị liệu theo chỉ dẫn của bác sĩ. Uống rượu để tự chữa bệnh thì đúng là lợi bất cập hại. Hơn nữa kể từ năm 2014, khoa học còn chứng minh được là rượu có khả năng gây ung thư. Vì vậy cho nên tránh uống rượu là điều hợp lý.

  1. Thuốc lá. Đối với mọi loại sản phẩm do cây thuốc lá chế biến ra thì không có giới hạn nào gọi được là an toàn, cho nên tuyệt đối không được sử dụng. Ngoài những bệnh tim mạch, đột quỵ và tiểu đường, thuốc lá còn là nguyên nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, giãn phổi và ung thư phổi. Ý tưởng hút thuốc lào lọc qua một lớp nước cho bớt độc hại là một điều sai lầm hoàn toàn vì thời gian khói thuốc tiếp xúc với nước rất ngắn (ít giây đồng hồ), chỉ đủ giữ lại một vài phần trăm các chất độc mà thôi.


    Nói tóm lại, bí quyết để sống khỏe và sống lâu đã được khoa học nghiên cứu rõ ràng, chúng ta chỉ cần đem áp dụng cho chính bản thân. Tất nhiên việc gì cần tuân thủ thường xuyên cũng dễ gây nhàm chán, bê trễ, nhưng khi làm theo đúng rồi sẽ có phần thưởng vô giá là sức khỏe lâu dài và tinh thần thoải mái. Cũng xin lưu ý bà con là lề lối sinh hoạt này càng áp dụng sớm càng tốt, giới thanh niên không nên để đến tuổi già mới bắt đầu lo dưỡng sinh.


Đối chiếu danh từ y học Việt-Anh

   

Sinh hoạt lành mạnh        Healthy lifestyle

Dinh dưỡng đúng cách        Appropriate nutrition

Khẩu phần cân bằng        Balanced diet

Trọng lượng cơ thể tối ưu        Optimum body weight

Chỉ số khối lượng cơ thể        Body mass index

Vận động thân thể             Exercises

Thể dục                Physical exercises

Thể thao tài tử            Non-professional sports

Không dung nạp đường lactose    Lactose intolerance

Bác Sĩ Đinh Đại Kha

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2022

Lạm Bàn Về Việc Mách Thuốc Trên Mạng


Từ xưa tới nay, câu chuyện mách thuốc đã rất phổ thông ở khắp mọi nơi trên trái đất này. Bên nước ta, người mách thuốc có khi giới thiệu những thang thuốc đầy đủ các vị thuốc Bắc chính cống, rồi có người nói tới các loại thuốc Nam, thậm chí tới các cây cỏ linh tinh cũng được người ta cho là những món thuốc thần diệu. Người giới thiệu phô trương hiệu quả “có một không hai” của môn thuốc, dựa vào kinh nghiệm bản thân, hoặc kinh nghiệm của thân nhân, lại có khi là: “Tôi nghe chính thằng X kể lại rõ ràng, nó uống thuốc này chỉ có 3 ngày là hết bệnh. ”

Xưa kia, việc mách thuốc chỉ lan truyền hạn chế qua nhóm người hiện diện khi nghe chuyện. Nay thì đã có mạng thông tin, chuyện gì cũng có thể có rất nhiều người đọc được và thử áp dụng. Vì thế, bên tiếng Anh mách nhau nhiều loại thần dược như sinh tố E, sụn cá mập, thuốc bào chế bằng lá bạch quả (ginkgo biloba)… Tin mách thuốc tiếng Việt trên mạng cũng không chịu kém, nào là đông trùng hạ thảo, nấm linh chi rồi tới canh dưỡng sinh, lá đu đủ chữa ung thư… Phong trào này không khi nào ngừng, khi một món thuốc hết ăn khách thì lại có món khác xuất hiện để thay thế. Điều nguy hiểm là có những bệnh nhân ung thư vì muốn thử thần dược mà bỏ ngang việc trị liệu chính thức, khiến tử vong sớm hơn. Ấy là chưa kể các phản ứng phụ nguy hiểm của các môn thuốc mệnh danh là dược thảo, thí dụ như thuốc bào chế bằng lá bạch quả gây xuất huyết bộ tiêu hóa. Thuốc này được tiếng là giúp trí nhớ, đặc biệt tốt cho người già. Các cụ uống vào rồi có một số bị tử vong mà không rõ nguyên nhân. Tới khi mổ khám nghiệm tử thi mới biết do xuất huyết bộ tiêu hóa. Sự việc này đã xảy ra trong một số nhà dưỡng lão (nursing home) bên Mỹ.

Tưởng cũng không nên can thiệp vào việc mách thuốc đó. Nó có và sẽ tiếp tục có, không ai cản được. Tuy nhiên, tôi chỉ muốn yêu cầu các bạn Y Nha Dược chúng ta đừng gián tiếp làm chuyện này. Khi quý vị chuyển lại lời mách thuốc kèm theo chức vị của mình e rằng người đọc nghĩ là chúng ta khẳng định giá trị của món thuốc đó. Đôi khi chúng ta lầm tưởng tin tức trên mạng có giá trị khoa học vì do một nhóm thuộc một trường đại học y khoa phổ biến. Về điều này, xin phép nhắc lại mấy nguyên tắc căn bản về y khoa chứng cứ (evidence based medicine) mà chúng ta ít nhiều đều đã am hiểu:Số người tình nguyện tham dự thử nghiệm lâm sàng phải là số nhiều để bảo đảm sác xuất (probability) cao. Con số này tối thiểu cũng phải là nhiều ngàn.
Cần 2 nhóm có tuổi tác, giới tính và tình trạng sức khỏe tương đương, cho dùng thuốc giống nhau rồi so sánh kết quả thử nghiệm đôi bên.
Hình thức thử nghiệm dùng phương thức ẩn danh kép (double-blind study) để đạt kết quả hoàn toàn khách quan.
Thời gian theo dõi thường là khoảng 5 năm để biết chắc là thuốc có hiệu lực lâu dài và cũng để cho kết quả thử nghiệm khỏi bị ảnh hưởng của hiệu ứng thuốc giả (placebo effect) là điều xảy ra trong lối 6 tháng đầu tiên.
Tỷ số kết quả tốt sẽ tính theo quy luật thống kê để quyết định thử nghiệm này có áp dụng được cho tập thể hay không.

Vì vậy cho nên khi một nhóm y học đưa ra một thống kê về bệnh lý, chúng ta cần tìm hiểu chi tiết về các số liệu đề xuất. Nói thí dụ họ cho biết là số người ăn, uống những món này sẽ sống lâu hơn nhóm không ăn hay không uống những thứ đó. Nếu thống kê của họ dựa vào việc lượm lặt trong sổ sách hộ tịch (đọc giấy khai tử), thử hỏi hai nhóm ăn uống khác nhau có tình trạng sức khỏe tương đương không? Ấy là chưa kể họ còn có những thói quen sinh hoạt khác nhau không, thí dụ người này vận động thân thể nhiều hơn người kia, người này ưa dùng thuốc ngủ, người kia thì không…

Thông thường khi các trường đại học y khoa phổ biến tin tức loại này mà nếu không áp dụng y khoa chứng cứ (thí dụ như làm thống kê theo hộ tịch), họ đều ghi thêm đây là khơi mào một giả thuyết để nghiên cứu. Nếu họ thử nghiệm theo đúng qui luật y khoa chứng cứ, cũng phải ghi chú chờ các nhóm khác thử nghiệm kiểm chứng. Các nhóm truyền thông dựa theo đó đổi thành tin tức giật gân để câu khách. Chúng ta nên tránh truyền lại loại tin tức có thiên kiến (biased news) này mà coi là nói có sách mách có chứng.

Hơn nữa, đối với chúng ta trong giới Y Nha Dược thì tốt hơn hết là nên tìm kiếm các tin tức y học cập nhật trong các trang web chuyên môn như Medscape, Medline, Merk Manuel… là những nguồn thông tin y khoa có kiểm chứng đứng đắn. Hà cớ gì ham của lạ mà lên mạng tìm đọc những tin tức giật gân không đâu.

Tôi xin cáo lỗi đã viết dài dòng về một vấn đề y học thường thức mà quý bạn Y Nha Dược chắc chắn đã hiểu biết từ lâu rồi. Mục đích là để giúp bạn đọc ngoài nghề thêm kiến thức. Và cũng mong rằng những dòng này góp ý để các diễn đàn Y Nha Dược thông tin hoàn toàn theo khoa học. Mong vậy thay!

Đinh Đại Kha (2022)


Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2022

Y Học Thường Thức - Bệnh Ngưng Thở Ngắn Hạn Khi Ngủ (Bác Sĩ Đinh Đại Kha)


Y HỌC THƯỜNG THỨC

Bệnh Ngưng Thở Ngắn Hạn Khi Ngủ 


 Đại cương 

Bệnh ngưng thở ngắn hạn khi ngủ là trường hợp bệnh nhân bị nghẽn hô hấp tại họng trong giấc ngủ. Sự nghẽn hô hấp chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn nhưng trở đi trở lại nhiều lần trong đêm. Mỗi lần nghẽn hô hấp, bệnh nhân ngưng thở trên 10 giây đồng hồ. Bệnh nhân bị bệnh này, đêm ngủ không yên, ngáy lớn tiếng, tỉnh giấc nhiều lần khi ngộp thở. Sáng dậy họ bị nhức đầu, cả ngày buồn ngủ nên mất tỉnh táo. 

Chẩn đoán bệnh ngưng thở ngắn hạn khi ngủ dựa vào bệnh sử, nhiều khi do thân nhân người bệnh trình bày với bác sĩ; bệnh nhân vì kém tỉnh táo nên quên chi tiết bệnh lý. 

Xét nghiệm chẩn đoán bệnh này dùng thiết bị để quan sát và ghi lại chi tiết về chức năng hô hấp của bệnh nhân trong giấc ngủ ban đêm. Phương cách trị liệu chính của bệnh ngưng thở ngắn hạn khi ngủ là dùng thiết bị gây áp lực liên tục trong đường hô hấp tại họng. 

Các phương tiện khác là thiết bị mang trong miệng và giải phẫu. 

Bệnh ngưng thở ngắn hạn khi ngủ mà được trị liệu thì có tiên lượng rất tốt. Nếu không trị liệu, bệnh này có thể gây nhiều biến chứng nguy hại. Tùy theo thống kê địa phương, tỷ số người bị ngưng thở ngắn hạn khi ngủ trong đại chúng thay đổi từ 2% tới 9%. Nam giới bị bệnh này nhiều hơn nữ giới 4 lần. 

Đặc biệt người mập phì bị bệnh ngưng thở ngắn hạn khi ngủ nhiều hơn người bình thường tới 7 lần. Nguyên nhân Mọi lý do khiến đường hô hấp tại họng bị hẹp lại đều có khả năng gây bệnh ngưng thở ngắn hạn khi ngủ. 

Các nguyên nhân khiến họng bị hẹp bao gồm: 
Điều kiện cơ thể bất thường 
-Người đầu tròn và cổ ngắn nên họng nhỏ hơn bình thường. 
-Phần cuối lưỡi, hạch hạnh nhân quá lớn. 
-Thành họng ở hai bên hoặc quá dày hoặc chứa nhiều mỡ nên nhô ra khiến họng bị hẹp bớt. 

Các yếu tố nguy cơ 
-Tuổi già. 
-Uống rượu, dùng thuốc an thần. 
-Tính di truyền.
-Bệnh nhược giáp trạng. 
-Bệnh cực đại (bệnh kích thích tố tuyến yên khiến xương mặt, xương tay, chân phát triển rất lớn). 

Triệu chứng và dấu hiệu 

Triệu chứng và dấu hiệu của bệnh ngưng thở ngắn hạn khi ngủ bao gồm: 
Sự việc xảy ra ban đêm: 
-Bệnh nhân ngáy lớn tiếng, làm phiền mọi người chung quanh nhưng tự mình vẫn ngủ được nên nhiều khi không tin là mình ngáy lớn. 
Đây là dấu hiệu dễ nhận biết nhưng không đặc trưng cho ngưng thở ngắn hạn khi ngủ và rất phổ thông trong đại chúng. 
Đa số những người ngáy lớn tiếng không có bệnh. 
-Họ bị ngộp thở nhiều lần trong giấc ngủ, khi thở lại được thì thở dốc một hơi. 
-Họ ngủ không yên, có những lần ngộp thở khiến tỉnh giấc nhưng nhiều khi ngủ lại được ngay nên không nhớ mình có triệu chứng này. 

Sự việc xảy ra ban ngày:
 -Bệnh nhân cảm thấy nhức đầu vào buổi sáng, khi mới thức dậy. 
-Họ bị khô miệng hoặc đau họng. 
-Họ buồn ngủ cả ngày. 
-Họ khó tập trung tư tưởng. 

Chẩn đoán 

Chẩn đoán bệnh ngưng thở ngắn hạn khi ngủ dựa vào lâm sàng, phối hợp bệnh sử và các yếu tố nguy cơ. Chi tiết bệnh sử thường do thân nhân người bệnh trình bày đầy đủ với bác sĩ vì tự bệnh nhân không nhận biết những điều này. 
Cần xét nghiệm để xác định chẩn đoán trước khi quyết định trị liệu. Loại xét nghiệm này dùng thiết bị ghi lại các chi tiết về chức năng hô hấp của bệnh nhân khi họ ngủ lại một đêm tại phòng thí nghiệm: 
-Bệnh nhân bị ngưng thở trung bình bao nhiêu lần trong một tiếng đồng hồ. 
-Họ bị tỉnh giấc trung bình bao nhiêu lần trong một tiếng đồng hồ. 
-Mức độ ô-xy trong máu giảm bao nhiêu sau mỗi lần ngưng thở. 

Tiên lượng 

Bệnh ngưng thở ngắn hạn khi ngủ mà được trị liệu thì có tiên lượng rất tốt. Nếu không trị liệu, bệnh này có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hại: 
-Huyết áp cao quá độ. 
-Rối loạn nhịp tim. 
-Suy tim. 
-Dễ bị tai nạn khi lái xe hay sử dụng máy móc lớn vì thiếu tỉnh táo (buồn ngủ cả ngày). 

Trị liệu 

Các phương cách trị liệu ngưng thở ngắn hạn khi ngủ bao gồm:

 Loại bỏ yếu tố nguy cơ 
Tất nhiên có những yếu tố nguy cơ không thay đổi được, thí dụ như tuổi già. 
Các yếu tố thay đổi được như nghiện rượu, mập phì rất khó loại bỏ vì cần quyết tâm và kiên trì. Theo kinh nghiệm lâm sàng thì phương cách này ít khi có hiệu quả. Dùng thiết bị gây sức ép liên tục trong đường hô hấp 
Đây là phương pháp thông thường và có kết quả tốt để điều trị bệnh ngưng thở ngắn hạn khi ngủ. 
Bệnh nhân dùng thiết bị hình dáng như một cái hộp có nối ống hơi mang một mặt nạ nhỏ úp lên mũi. Máy này liên tục bơm không khí qua mũi bệnh nhân làm căng thành họng khiến đường hô hấp tại đây luôn mở rộng. Thiết bị này có những bộ phận đặc biệt để động tác hít thở của bệnh nhân không bị trở ngại khi máy chạy. 
Dùng thiết bị mang trong miệng Các thiết bị này có tác dụng hoặc kéo lưỡi hoặc kéo hàm dưới đưa ra phía trước. Loại dụng cụ này khó dùng và cũng ít khi kiến hiệu. 

Giải phẫu 

Nếu dùng thiết bị gây sức ép liên tục đường hô hấp mà không có kết quả thì dùng tới giải phẫu. Nguyên tắc của việc giải phẫu này là cắt bỏ bớt mô họng ở hai bên thành họng. Bác sĩ giải phẫu mổ tách màng nhầy hai bên thành họng, vén  qua một phía, cắt bỏ mô dư ở bên dưới rồi may màng nhầy dính lại khiến vết mổ mau lành. 

Đối chiếu danh từ y học Việt-Anh 

Bệnh ngưng thở ngắn hạn khi ngủ Obstructive sleep apnea (OSA) 
Ngáy Snoring 
Sức ép liên tục đường hô hấp Continuous positive airway pressure (CPAP) 
Tỉnh giấc Awakening 
Bệnh cực đại Acromegaly 
Thở dốc Gasping 
Xét nghiệm ngưng thở ngắn hạn khi ngủ Polysomnography 
Thiết bị mang trong miệng Oral appliances


Thứ Tư, 1 tháng 6, 2022

Y Học Thường Thức - Bệnh Phổi Tắc Nghẽn Mạn Tính (Bác Sĩ Đinh Đại Kha)

Y HỌC THƯỜNG THỨC

Bệnh Phổi Tắc Nghẽn Mạn Tính

Đại cương 

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính xảy ra sau khi phổi bị viêm lâu năm do hóa chất tác hại hô hấp. Kết quả là các cuống phổi lớn, cuống phổi nhỏ và mô phổi đều bị hư hại khiến cho sự lưu chuyển không khí ra vào phổi thường xuyên yếu hơn khi trước. Hóa chất tác hại hô hấp quan trọng hơn hết chính là khói thuốc lá. 
Các triệu chứng thông thường là bệnh nhân thường xuyên khó thở và ho có đàm. Lúc khởi đầu các triệu chứng này tương đối nhẹ rồi sau nhiều năm mới trở nặng và ảnh hưởng đến sinh hoạt thường ngày của bệnh nhân. Các dấu hiệu do bác sĩ dùng ống nghe phát hiện được gồm có tiếng động hô hấp nhỏ hơn bình thường, thời gian thở ra kéo dài hơn và hơi thở có tiếng khò khè. Khi có biến chứng các triệu chứng đột nhiên trở nặng trong một thời gian. Nguyên nhân chính gây biến chứng là nhiễm trùng đường hô hấp. 
Biến chứng xảy ra nhiều lần có thể đưa tới tử vong do phổi suy hoặc tim suy. Chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính dựa vào lâm sàng, chụp hình điện tuyến phổi và xét nghiệm chức năng hô hấp. 
Căn bản trị liệu bệnh này dùng thuốc hít và thuốc uống. 
Chữa trị biến chứng gồm có thuốc trụ sinh, ô-xy và các phương pháp phục hồi chức năng hô hấp. 

Khi bệnh nhân bị phổi tắc nghẽn mạn tính đã tới thời kỳ trở nặng thì tỷ số tử vong trong vòng 10 năm kế tiếp là lối 50%. Có một thiểu số bệnh nhân bị phổi tắc nghẽn mạn tính do bệnh dãn phổi gây ra. Khi bệnh dãn phổi phá hủy khá nhiều phế nang thì sức thở ra yếu đi và làm tắc nghẽn hô hấp. 

Nguyên nhân 

Nguyên nhân chính của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là khói thuốc lá. Nhiều nguyên nhân khác do ô nhiễm không khí gồm các hóa chất chứa trong bụi hoặc trong hơi hay khói. 
Nguyên nhân phụ của bệnh này là tính di truyền khiến bệnh nhân thiếu chất men chống viêm trong phổi. Theo thống kê thì lối 15% những người hút thuốc lá lâu ngày bị mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Nếu mỗi ngày họ hút 20 điếu thuốc thì lối 20 năm sau sẽ phát bệnh này. Hút nhiều hơn 20 điếu trong một ngày thì bệnh phát khởi sớm hơn. 
Các nguyên nhân khác gây bệnh này bao gồm nấu ăn trong nhà mà không có máy hút khói, gián tiếp hít thở khói thuốc lá, không khí ô nhiễm ở nơi công cộng, hóa chất trong không khí nơi làm việc. Những người có tính di truyền khiến cho cơ thể thiếu chất men chống lại tác hại phổi do hóa chất sẽ dễ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. 

Bệnh lý Các tác nhân dẫn tới bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính gồm có: 

Chứng viêm: 

Các hóa chất trong khói thuốc lá hoặc trong không khí bị ô nhiễm gây viêm trong các cuống phổi và các phế nang. Do tính di truyền có người thiếu một loại men bảo vệ phổi nên dễ dàng bị viêm. Hiện tượng viêm này làm tổn hại cuống phổi và phế nang, đồng thời cũng kích thích cơ thể tạo ra những chất có tính cách phục hồi chức năng cuống phổi và phế nang. Khi triệu chứng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đã trở nặng thì cơ thể không sản xuất đủ các hóa chất phục hồi nữa cho nên khi đó dù bệnh nhân bỏ hút thuốc thì chứng viêm cũng vẫn tiếp tục phát triển. 

Nhiễm trùng: 

Khi bệnh nhân phổi tắc nghẽn mạn tính bị nhiễm trùng đường hô hấp thì sự tác hại trong cuống phổi và phế nang tăng mạnh hơn là đối với người bình thường. Nguyên nhân nhiễm trùng thường là vi trùng bệnh cúm. Trong phổi người hút thuốc lá, đàm nhớt không thải hết được nên tạo thành môi trường cho vi trùng sinh sản khiến họ dễ bị nhiễm trùng phổi. 

Sự tắc nghẽn hô hấp: 

Hiện tượng này xảy ra khi các cuống phổi bị tổn thương nên vừa nhỏ bớt vừa kém đàn hồi hơn lúc bình thường. Tất nhiên khi đó việc không khí lưu chuyển ra vào trong phổi bị trở ngại. Kết quả là lượng ô-xy trong cơ thể hạ thấp và lượng thán khí tăng cao hơn. 

Biến chứng Các biến chứng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bao gồm: 

Bệnh cao huyết áp động mạch phổi: 

Cơ thể thiếu ô-xy có phản ứng tự nhiên là tăng huyết áp trong động mạch phổi. Nếu điều này thường xuyên xảy ra sẽ gây bệnh cao huyết áp động mạch phổi và tăng áp xuất trong tâm thất phải rồi dẫn tới suy tim. 

Nhiễm trùng đường hô hấp: 

Người bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính không thải được hết đàm nhớt trong phổi, tạo ra môi trường thuận lợi cho vi trùng tăng trưởng và sinh sản nên dễ bị nhiễm trùng phổi. 

Sụt cân hoặc ung thư: 

Người bị bệnh này ăn không ngon miệng và phải mất nhiều năng lượng khi thở nên sẽ sụt cân. Bệnh cũng còn làm cho cơ thể sản xuất ra một số hóa chất dễ gây ung thư. 

Triệu chứng và dấu hiệu Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có những triệu chứng rất đặc biệt: 

Ho có đàm: thông thường mỗi buổi sáng khi thức dậy người bệnh ho ra rất nhiều đàm. Triệu chứng này khởi đầu trong thời gian bệnh nhân ở lứa tuổi 40 tới 50 tuổi. 

Khó thở: triệu chứng này tăng lên từ từ theo thời gian. Bệnh nhân cũng cảm thấy khó thở nhiều hơn mỗi khi họ vận động cơ thể và trong thời gian bị nhiễm trùng đường hô hấp. Họ thường bắt đầu phát hiện triệu chứng này ở lứa tuổi từ 50 tới 60 tuổi. Các triệu chứng trên đây mau trở nặng nếu bệnh nhân tiếp tục hút thuốc lá hoặc đã hút thuốc quá nhiều năm. 

Các dấu hiệu của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính gồm có hơi thở khò khè, thời gian thở ra kéo dài hơn bình thường và lồng ngực nhô ra phía trước. Các bệnh nhân này thường xuyên thiếu ô-xy nên động tác hít vào luôn luôn phải cố gắng hết sức khiến cho các xương sườn giữ vị trí nâng cao làm cho lồng ngực nhô ra. Khi bệnh nặng hơn thì bệnh nhân hơi há miệng khi hít vào và môi có thể bị tím vì thiếu ô-xy. 
Trường hợp suy tim bệnh nhân bị phù chân. Chẩn đoán Chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính dựa vào lâm sàng theo các triệu chứng và dấu hiệu kể trên. Kế tiếp là chụp hình điện tuyến phổi và xét nghiệm chức năng hô hấp để xác định bệnh và xếp loại nặng nhẹ. 

Ngoài ra nếu tình nghi bệnh nhân bị: 
-Bệnh lý hô hấp khác thì chụp hình điện tuyến cắt lớp (CT). 
-Suy tim thì xét nghiệm tim mạch. 
-Quá dư thán khí trong cơ thể thì xét nghiệm độ acit trong máu để kịp thời trị liệu. 

Trị liệu 

Ngưng hút thuốc lá là việc đầu tiên phải thực hiện khi trị liệu để loại bỏ nguyên nhân chính gây ra bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. 
Y học có nhiều phương cách giúp thực hiện việc này: khích lệ tâm lý, thuốc uống tác dụng thần kinh trung ương khiến không còn thèm hút thuốc, chất ni-cô-tin thuộc dạng thuốc nhai hay thuốc bơm để dùng tạm khi quá thèm thuốc. Hiện nay trên thị trường có nhiều loại thuốc hít và thuốc uống để chữa bệnh này. Các thứ thuốc đó phải dùng liên tục, có hiệu lực giảm bớt triệu chứng, đề phòng biến chứng và tăng cường chức năng hô hấp. Ngoài ra bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính còn phải dùng tới những phương cách trị liệu khác khi bị biến chứng hoặc khi lâm vào tình trạng thường trực thiếu ô-xy quá độ. 

Tóm tắt 

Khói thuốc lá là nguyên nhân chính gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Bệnh này chẩn đoán theo lâm sàng, thông thường kèm theo chụp hình điện tuyến phổi và xét nghiệm chức năng hô hấp. 
Trị liệu bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có nhiều loại thuốc hít và thuốc uống. Bệnh nhân hãy áp dụng đủ mọi cách để ngưng hút thuốc lá như nhai viên ni-cô-tin, uống thuốc ảnh hưởng thần kinh trung ương… 

Đối chiếu danh từ y học Việt-Anh 
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Chronic obstructive pulmonary disease (COPD) 
Khó thở Dyspnea Ho có đàm Productive cough Thở khò khè Wheezing 
Chụp hình điện tuyến cắt lớp Computer-assisted tomography (CAT) 
Xét nghiệm chức năng hô hấp Pulmonary function test 
Ống thuốc hít Inhaler 
Phục hồi chức năng hô hấp Pulmonary function rehabilitation

Bác Sĩ Đinh Đại Kha

Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2022

Y Học Thường Thức - Bệnh Động Mạch Ngoại Biên - Bác Sĩ Đinh Đại Kha

                            

Y HỌC THƯỜNG THỨC

Bệnh Động Mạch Ngoại Biên

 Đại cương 

Bệnh xơ cứng động mạch tại tứ chi có thể chặn bớt lòng động mạch tới mức độ gây thiếu máu cục bộ. Đó là bệnh động mạch ngoại biên. Có tới hơn 99% các trường hợp bệnh này xảy ra ở chi dưới. Khi bệnh động mạch ngoại biên còn nhẹ thì hoặc không gây triệu chứng, hoặc khiến bệnh nhân bị đau chân cách hồi. Bệnh nặng hơn khiến người bệnh cảm thấy đau chân ngay cả khi họ ngưng vận động. Da họ mỏng hơn và rụng lông. Bệnh nặng hơn nữa sẽ gây lở và hoại thư (thối thịt) ở chân. 

Chẩn đoán bệnh này dựa vào: 
-Bệnh sử 
-Khám lâm sàng 
-Chỉ số huyết áp cổ chân và bắp tay 

Trị liệu bệnh động mạch ngoại biên: 

-Bệnh nhẹ: loại trừ yếu tố nguy cơ, thể dục, dùng thuốc.
 -Bệnh nặng thì phải giải phẫu: hoặc khai thông động mạch bị nghẹt, hoặc mổ bắc cầu, hoặc cắt bỏ vùng hoại thư. 

Tiên lượng về trị liệu cục bộ thường là tốt. 

Tuy nhiên bệnh nhân bệnh động mạch ngoại biên có nguy cơ tử vong khi mổ là vì từ 50% tới 75% số người thuộc nhóm này đồng thời bị bệnh động mạch vành hoặc bị bệnh xơ cứng nặng tại các động mạch của não bộ. 

Nguyên nhân 

Nguyên nhân chính của bệnh động mạch ngoại biên là vì xơ cứng động mạch. 

Các yếu tố nguy cơ bao gồm: 

-Tuổi già 
-Huyết áp cao 
-Bệnh tiểu đường 
-Dư mỡ trong máu 
-Các hình thức dùng thuốc lá, kể luôn hít thở khói thuốc lá trong môi trường 
-Bệnh mập phì 
-Tính di truyền 

Triệu chứng và dấu hiệu 

Triệu chứng chính của bệnh động mạch ngoại biên là đau chân cách hồi. Bệnh nhân cảm thấy đau hay bị chuột rút (vọp bẻ) ở bắp chân sau ít phút đi bộ, đứng lại ít phút thì hết đau. Đi tiếp lại đau, nghỉ lại bớt, tiếp tục đau, bớt như vậy nhiều lần nên gọi là đau cách hồi. Đôi khi chứng đau cách hồi xảy ra tại bàn chân, đùi, bên hông, trong mông. Lý do gây đau là chất acit lactic sinh ra khi cơ bắp hoạt động, cơ thể cần có đủ ô-xy để phá acit này. 

Tuần hoàn giảm bớt khiến thiếu máu cục bộ, tất nhiên không cung cấp đủ ô-xy tại đây. Bệnh động mạch ngoại biên nặng gây đau chân ngay cả khi bệnh nhân ngồi nghỉ, tức là thiếu máu cục bộ thường xuyên, có nguy cơ gây hoại thư. 

Các dấu hiệu của bệnh động mạch ngoại biên: 


Mạch chân yếu: 

Tại những nơi bắt mạch chân phía sau đầu gối, cạnh gót chân và trên lưng bàn chân hoặc mạch đập nhẹ hoặc không sờ thấy. Thay đổi tại bàn chân: Cho bệnh nhân ngồi bỏ thõng chân xuống để quan sát. Da bàn chân có màu đỏ bất thường, mỏng, rụng lông và lạnh. 

Hoại thư: 

Bàn chân hoặc bắp chân có chỗ bị lở. Chung quanh vết lở có một vòng mô chết màu đen và khô là hoại thư thường. Nếu vùng hoại thư bị nhiễm trùng thì vết lở sâu hơn và chảy nước vàng. 

Chẩn đoán 

Chẩn đoán bệnh động mạch ngoại biên dựa vào lâm sàng, nhưng cần có xét nghiệm để tìm hiểu thêm chi tiết về bệnh lý và quyết định cách trị liệu. 

Các xét nghiệm về bệnh này bao gồm: 

-Chỉ số huyết áp cổ chân và bắp tay 
-Kỹ thuật siêu âm Doppler 
-Chụp hình động mạch Chỉ số huyết áp cổ chân và bắp tay Đo huyết áp tại bắp tay và cổ chân bệnh nhân. Lấy số huyết áp khi tim bóp (số cao) đo tại cổ chân chia cho số tương đương đo tại bắp tay. 

Nếu kết quả bằng 0,90 hoặc nhỏ hơn thì đấy là bệnh động mạch ngoại biên. 
Thí dụ huyết áp đo tại cổ chân là 110/75, đo tại bắp tay là 130/80; lấy 110 chia cho 130 được 0,84, chỉ số này xác định bệnh lý. 

Chỉ số này còn cho biết độ nặng nhẹ của bệnh động mạch ngoại biên: 

-Từ 0,71 tới 0,90 là bệnh nhẹ -Từ 0,41 tới 0,70 là bệnh trung bình 
-Từ 0,40 trở xuống là bệnh nặng, có nguy cơ gây hoại thư 

Máy Doppler đo lưu lượng máu 

Máy này dùng kỹ thuật siêu âm, đo lưu lượng máu trong động mạch ngay chỗ đặt đầu máy nên xác định được vị trí nơi bị nghẽn tuần hoàn. 

Chụp hình động mạch 

Chụp hình điện tuyến động mạch dùng chất cản quang cho biết chi tiết về đường kính và chiều dài của các vùng nghẽn tuần hoàn. Đây là xét nghiệm quan trọng hơn hết để quyết định cách trị liệu. 

Trị liệu 

Khi bệnh động mạch ngoại biên còn nhẹ thì trị liệu bằng cách điều trị tổng quát, tập thể dục đều đặn và dùng thuốc. Bệnh nặng phải nong động mạch hoặc giải phẫu. 
Các phương pháp trị liệu ít khi áp dụng là liệu pháp nén mô và cấy tế bào mầm. 

Trị liệu tổng quát 

Các phương cách này áp dụng để loại bỏ yếu tố nguy cơ bệnh động mạch ngoại biên: 
-Không dùng thuốc lá dưới mọi hình thức (thuốc điếu, thuốc lào, thuốc rê…). 
-Dinh dưỡng: bớt mặn, bớt mỡ, thêm rau và trái cây. 
-Nếu bị đau chân khi nằm, hãy kê đầu giường cao hơn chân giường từ 10cm tới 15cm để có thêm lưu lượng máu chạy xuống chân. 
-Chữa cho tới mục tiêu các bệnh huyết áp cao, tiểu đường, dư mỡ trong máu. 

Tập thể dục 

-Hãy tập thể dục đều hòa, mỗi tuần 3 hoặc 4 buổi, mỗi buổi tập dượt từ 35 phút tới 50 phút. 
-Cách tập dượt dễ áp dụng cho người bị bệnh động mạch ngoại biên là chia buổi tập ra làm nhiều đoạn, thí dụ cứ tập 5 phút lại nghỉ 5 phút, trở đi trở lại như vậy. 
-Động tác dễ áp dụng là đi bộ ngoài trời hoặc dùng máy đi bộ, đi chậm rãi để tránh bị đau chân. 

Dùng thuốc 

Có 3 loại thuốc để trị liệu bệnh động mạch ngoại biên: 
-Thuốc ngăn cản sự tụ tiểu cầu để màng cứng động mạch bớt có cục máu đông. Bệnh nhân có thể uống mỗi ngày 1 hoặc 2 viên ASA 81mg. 
Có những loại thuốc tương đương dành cho người không dùng được ASA. 
-Thuốc giúp hồng cầu dễ di chuyển qua những chỗ hẹp trong lòng động mạch, giảm bớt triệu chứng đau chân. 
-Thuốc hạ huyết áp loại ức chế men chuyển hóa angiotensinogen giúp nội mạc động mạch bớt viêm.
 
Nong động mạch 
Kỹ thuật nong động mạch dùng bong bóng và lò so áp dụng cho trường hợp động mạch lớn bị hẹp. Bệnh động mạch ngoại biên dù tới lúc trở nặng và bắt đầu gây hoại thư, nhưng nếu chỗ bị nghẹt chỉ tập trung tại động mạch lớn thì cách trị liệu nong động mạch thường có kết quả tốt. 

Giải phẫu 
Nếu các cách trị liệu trên không có kết quả thì phải dùng tới giải phẫu. Cần khảo sát tình trạng tim mạch của bệnh nhân, xác định họ có đủ sức chịu đựng cuộc giải phẫu hay không. 

Có 3 loại giải phẫu dùng cho bệnh động mạch ngoại biên: 

-Loại bỏ màng cứng động mạch: Mổ mở động mạch rồi cắt bỏ màng cứng khiến lòng động mạch rộng lớn lại như bình thường. Kỹ thuật này dùng để điều trị các khúc hẹp ngắn của động mạch lớn. 

-Giải phẫu bắc cầu: Dùng tĩnh mạch của bệnh nhân hay mạch máu nhân tạo bằng nhựa để bắc cầu từ một động mạch lớn đi vượt qua chỗ động mạch bị nghẹt. 

-Giải phẫu cắt bỏ: Phần chân bị hoại thư mà không phục hồi tuần hoàn được đành phải cắt bỏ. 

Liệu pháp nén mô 

Cách trị liệu này dùng bít tất (vớ) đặc biệt, do máy điện tử điều khiển, hoạt động theo nhịp tim của bệnh nhân. Khi tim nở, bít tất đè nén bắp chân, dồn máu tĩnh mạch lên phía trên. Khi tim bóp, bít tất ngưng đè nén, các mô bắp chân đàn hồi nên phình trở ra, tĩnh mạch hết máu nên xẹp bớt, động mạch trong bắp chân có thêm thể tích để tiếp nhận máu động mạch chứa ô-xy. Mỗi kỳ dùng liệu pháp nén mô, máy điện tử chạy liên tục từ 1 tới 2 tiếng đồng hồ, có thể dùng mỗi ngày một lần hoặc cách nhật. 

Cấy tế bào mầm 

Hút tủy xương chậu của chính bệnh nhân rồi trộn với dịch truyền, chích tĩnh mạch cho họ. Các tế bào mầm có sẵn trong tủy xương sẽ khiến các động mạch nhỏ tại chi dưới mọc thêm nhánh để tăng tuần hoàn cục bộ. 

Đối chiếu danh từ y học Việt-Anh 
Bệnh động mạch ngoại biên Peripheral arterial disease (PAD) 
Đau chân cách hồi Intermittent claudication 
Thiếu máu cục bộ Ischemia Hoại thư Gangrene 
Chỉ số huyết áp cổ chân và bắp tay Ankle-brachial blood pressure index 
Mổ loại bỏ màng cứng Endarterectomy 
Dùng bong bóng nong động mạch Balloon angioplasty 
Dùng lò so nong động mạch Stenting