Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2026

Từ Điệu Lâm Giáng Tiên


Sau khi nhà Đường 唐 bị Chu Ôn 朱溫 soán ngôi và diệt vong, nước TH tiến vào thời kỳ “Ngũ Đại Thập Quốc 五代十國”. Những khúc hát của Đường giáo phường vẫn lưu truyền trong dân gian, kể cả những đoản kịch và những bài ca múa, được gọi là “Đôn Hoàng Khúc Tử 敦煌曲子”, “Đôn Hoàng Khúc Tử Từ 敦煌曲子詞”, “Đôn Hoàng Ca Từ 敦煌歌辭”, hay giản đơn là “Đôn Hoàng Khúc 敦煌曲”. Những bài hát này làm nền móng cho Tống Từ sau này. Các thi sĩ thời Ngũ Đại bắt đầu thích thú với việc đặt lời ca mới cho đôn hoàng ca từ, động tác này gọi là “Điền Từ”, khởi đầu cho một thời hưng vượng của từ.

Vào thời Ngũ Đại, Đôn hoàng khúc hẳn phải có rất nhiều. Rất tiếc đã bị mai một theo thời gian, chỉ còn lại khoảng vài trăm bài. Một trong những bài xưa nhất là “Lâm Giang Tiên”. Sách “Liệt Tiên Truyện 列仙傳” kể rằng có một vi tiên người nước Triệu thời Chiến Quốc, không ai biết tên thật của ông, chỉ biết người đời gọi ông là “Cầm Cao 琴高”. Ông rất giỏi âm luật, thường gẩy đàn cầm và hát rất hay trong đó có bài hát sau này là từ điệu Lâm giang tiên. Sau khi tu tiên đắc đạo, ông thường ngao du vùng Ký Châu 冀州, Trác Quận 涿郡 trong vòng hơn 200 năm. Sau cùng ông cùng một người đệ tử, cưỡi cá chép đỏ bơi trên sông Trác Thủy rồi đi vào trong nước.

Một thuyết nói tên từ bài Lâm giang tiên là tưởng niệm và ca tụng các vị thủy thần kể cả nữ thần sông Tương湘. Theo truyền thuyết vua Nghiêu 堯có 2 người con gái là bà Nga Hoàng 娥皇và Nữ Anh女英 đều gả cho vua Thuấn舜. Khi vua Thuấn băng hà, 2 bà tự trầm ở sông Tương và trở thành nữ thần ngự trị sông Tương.

Cái tên Lâm Giang Tiên lấy từ lời của bài Đôn hoàng ca từ:

岸闊臨江底見沙,Ngạn khoát lâm giang để kiến sa,
東風吹柳向西斜。Đông phong xuy liễu hướng tây tà.

Chữ “tiên thêm vào để chỉ các vị thủy tiên.

Vào thời Ngũ Đại, Lý Tuần 李珣 ở nước Tiền Thục là người đầu tiên điền bài từ này. Sau đó nhiều thi sĩ cũng điền bài từ này với nhiều tên khác nhau như “Tạ Tân Ân 謝新恩”, “Thụy Hạc Tiên 瑞鶴仙”, “Uyên Ương Mộng 鴛鴦夢”, v.v.

Trong bài này tôi xin cống hiến quý độc giả 2 bài từ của thi sĩ thời Ngũ Đại là Lộc Kiền Ỷ 鹿虔扆 và Lý Dục 李煜. Chúng ta đã biết nhiều về Lý Dục. Tôi xin nói chút ít về Lộc Kiền Ỷ. Ông đỗ tiến sĩ nước Hậu Thục後蜀 trong thời Ngũ Đại, dưới triều vua Mạnh Sưởng孟昶, còn được gọi là Hậu Chủ 後主. Mạnh Sưởng là ông vua xa xỉ, thích tiệc tùng ca hát, nghe lời xàm tấu hại người hiền. Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn 趙匡胤 đánh tan nuớc Hậu Thục, bắt Mạnh Sưởng làm tù binh. Mạnh sưởng uất ức hoặc bị đầu độc mà chết. Vợ của Mạnh Sưởng là bà Hoa Nhụy Phu Nhân 花蕊夫人 có nhan sắc bị Triệu Khuông Dẫn thu dụng. Tuy phải hầu hạ kẻ chiến thắng, bà vẫn lén lút thờ bài vị của Mạnh Sưởng. Bà cũng là tác giả của bài “Vong Quốc Thi” mà chúng ta đã biết. Thương cho một kiếp hồng nhan sống trong “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi”.

Lộc Kiền Ỷ là 1 trong 5 vị quan của nước Hậu Thục, chuyên làm từ soạn nhạc giúp hậu chủ Mạnh Sưởng giải khuây, bị dân gian ghép cho cái tên “Ngũ Quỷ”. Tuy nhiên sau khi Thục vong, ông về quê ở ẩn, từ chối làm quan cho Tống Triều.

臨江仙 - 鹿虔扆 Lâm Giang Tiên - Lộc Kiền Ỷ

金鎖重門荒苑靜, Kim tỏa trùng môn hoang uyển tĩnh,
綺窗愁對秋空。 Ỷ song sầu đối thu không.
翠華一去寂無蹤。 Thúy hoa nhất khứ tịch vô tung.
玉樓歌吹, Ngọc lâu ca xúy,
聲斷已隨風。 Thanh đoạn dĩ tùy phong.

煙月不知人事改, Yên nguyệt bất tri nhân sự cải,
夜闌還照深宮。 Dạ lan hoàn chiếu thâm cung.
藕花相向野塘中, Ngẫu hoa tương hướng dã đường trung,
暗傷亡國, Ám thương vong quốc,
清露泣香紅。 Thanh lộ khấp hương hồng.

Chú Thích


1- Lâm Giang Tiên 臨江仙: nguyên là tên 1 bài hát của Đường giáo phường, sau dùng làm tên từ bài. Bài này song điệu có 58 hoặc 60 chữ, vần bằng. Có người nói Lộc Kiền Ỷ làm bài này để thương tiếc nhà Hâu Thục Mạnh Sưởng孟昶, cũng có người nói ông thương tiếc nhà Tiền Thục Vương Diễn王衍. Cách luật:

X X B X B X T cú
X B X T B B vận
X B X T T B B vận
X B X T cú
X T T B B vận

X X T X B X T cú
X B X T B B vận
X B X T T B B vận
X B X T cú
X T T B B vận

2- Kim tỏa trùng môn 金鎖重門: nhiều lớp cửa khóa.
3- Hoang uyển荒苑: vường của hoàng gia bị bỏ hoang phế.
4- Ỷ (khỉ) song 綺窗:Song hộ có vẽ hoa văn mầu sắc.
5- Thu không 秋空: bầu trời mùa thu.
6- Thúy hoa 翠華 = Thúy vũ hoa cái 翠羽華蓋: những võ khí hoặc cờ xí mà những người tùy tùng của hoàng đế mang theo đã dùng lông chim phỉ thúy làm trang sức. Trong bài này chữ “thúy hoa” ám chỉ hoàng đế.
7- Vô tung 無蹤: không có tung tích.
8- Ngọc lâu玉樓: nhà lầu trong cung vua.
9- Ca xúy 歌吹: tiếng đàn hát.
10 Yên nguyệt 煙月: khói và trăng hoặc ánh sáng trăng khi trời có mây mỏng.
11- Dạ lan 夜闌: đêm sắp hết, thâm khuya.
12- Thâm cung 深宮: cung cấm của hoàng gia.
13- Ngẫu hoa 藕花: hoa sen.
14- Tương hướng 相向: đối diện nhau.
15- Dã đường 野塘: ao hồ hoang vắng.
16- Ám thương 暗傷: âm thầm thương tiếc.
17- Thanh lộ 清露: giọt sương trong trẻo.
18- Hương hồng 香紅: chỉ hoa sen.

Dịch Nghĩa


Nhiều lớp cửa cung khóa kín, vường thượng uyển hoang vu yên tĩnh.
Cửa sổ hoa lệ đượm buồn nhìn bầu trời thu.
Nhà vua đã ra đi hoàn toàn không tung tích.
Những tiếng đàn hát trên lầu ngọc ngày xưa,
Đã tan biến theo làn gió.

Khói trăng không biến đến việc người thay đổi,
Trong đêm tàn còn chiếu trên cung xưa.
Trên mặt hồ hoang phế chỉ còn hoa sen soi bóng.
Âm thầm thương tiếc cho quốc gia đã mất,
Những giọt sương trong trẻo đọng trên lá sen rơi xuống như những giọt châu lệ.

Phỏng Dịch

1 Lâm Giang Tiên – Non Nước Xưa

Khóa kín cửa đôi vườn hoang lặng,
Song thưa sầu ngắm trời không.
Đế vương mai một tuyệt vô tung.
Đàn ca lầu ngọc,
Tan biến ngọn thu phong.

Nhân vật đổi thay tàn trăng khói,
Đêm thâu mờ chiếu thâm cung.
Hồ xưa hoang vắng phù dung.
Thầm thương vong quốc,
Sương trắng khóc sen hồng.


2 Non Nước Xưa


Cửa cung khóa kín trùng trùng,
Vườn hoa thượng uyển một vùng hoang vu.
Đượm buồn song hộ trời thu,
Người xưa nay đã phiêu du nơi nào.
Lầu cao đàn hát xôn xao,
Âm thanh ngày ấy tan vào gió khơi.
Khói trăng không biết đổi dời,
Đêm tàn mờ chiếu một trời cung xưa.
Hoa sen hồ cũ còn trơ,
Ngậm ngùi vong quốc hững hờ giọt sương.
Như dòng lệ khóc hồng hương.


HHD 12-2019
***
Lâm Giáng Tiên, Lộc Kiển Ỷ

1-

Cửa kép khóa vàng, vườn hoang vắng
Song gấm buồn ngó thu không
Xe vua một xuất, biệt vô tung
Sáo ca lầu ngọc
Thanh dứt theo gió đông

Trăng mờ không biết người thay đổi
Đêm tàn còn chiếu thâm cung
Hoa sen soi bóng xuống hồ hoang
Thầm thương nước mất
Sương trong khóc búp hồng


2- Sầu Vong Quốc

Thượng uyển hoang, khóa vàng cửa cấm
Ngó trời thu song gấm sầu buồn
Xe vua xuất, biệt tăm luôn
Sáo ca lầu ngọc gió luồn mang theo

Người thay đổi, trăng treo nào biết
Đêm gần tàn chiếu miết thâm cung
Hoa sen soi bóng hồ rong
Thầm thương nước mất, búp hồng móc vương!

Lộc Bắc
Aug26
***
Sầu Non Nước

Cửa cung khóa kín hoang vu
Song thưa lệ đẫm trời thu đượm sầu
Cố nhân nay biết tìm đâu
Thanh âm xưa vẳng lầu cao tiếng đàn
Âm thầm theo gió biến tan
Khói trăng bất biến chẳng màn​g đổi thay
Mặt hồ hoang phế bóng ai
Tiếc thương non nước tàn phai suy rồi
Búp sen đọng giọt sương rơi
Như dòng lệ khóc sao vơi ngậm ngùi


Kim Oanh
Oct.2026

--------o0o--------

臨江仙 - 李煜 Lâm Giang Tiên – Lý Dục
(謝新恩 Tạ Tân Ân) 其一 Kỳ 1


秦樓不見吹簫女, Tần lâu bất kiến xuy tiêu nữ,
空餘上苑風光。 Không dư thượng uyển phong quang.
粉英含蕊自低昂。 Phấn anh hàm nhụy tự đê ngang.
東風惱我, Đông phong não ngã,
才發一衿香。 Tài phát nhất câm hương.

瓊窗夢醒留殘日, Quỳnh song mộng tỉnh lưu tàn nhật,
當年得恨何長! Đương niên đắc hận hà trường!
碧闌干外映垂楊。 Bích lan can ngoại ánh thùy dương.
暫時相見, Tạm thời tương kiến,
如夢懶思量。 Như mộng lại tư lương.

Chú Thích

1 Tác giả làm để tưởng nhớ bà Đại Chu Hậu 大周后qua đởi ở tuổ 29.

Bài này tác giả đặt tên là “Tạ Tân Ân 謝新恩”. Bình luận gia Vương Quốc Duy王国维 nhận thấy bài này hát theo điệu lâm giang tiên 臨江仙 nên xếp vào loại “Lâm giang tiên”. Hiện nay còn lưu lại 5 bài từ theo điệu Tạ tân ân. Chỉ có kỷ 3 là tìm thấy cách luật trên trang mạng “Từ bài 詞牌”. Với bài này tôi cũng chép lại cách luật ấy duy những chữ không phù hợp đã được sửa lại thành “X”, thường ở vị trí số 1 và 3 của câu thơ.

B B T T B B T cú
X B T T B B vận
X B X T T B B vận
X B X T cú
B T T B B vận

B B T T B B T cú
X B X T B B vận
X B X T T B B vận
X B B T cú
B T T B B vận

2 Tần lâu 秦楼: căn lầu do Tần Mục Công 秦穆公xây cho con gái là nàng Lộng Ngọc弄玉. Tên khác là Phụng Hoàng đài鳳凰台.
3 Xuy tiêu nữ 吹箫女: tức là nàng Lộng Ngọc弄玉 trong truyên cổ xưa, thổi tiêu rồi cưỡi phụng bay đi. Người đời sau nhắc đến việc này để biểu thị tình cảm nhớ người ra đi bỏ lầu trống không, nhìn vật nhớ người.
4 Thượng uyển上苑: vườn hoa của hoàng gia.
5 Phong quang 風光: cảnh sắc, phong cảnh.
6 Phấn anh粉英: các loại hoa. Có bản chép sai là “Phấn mạc 粉莫".
7 Hàm Nhụy含蕊: chứa nhụy hoa. Bản khác chép “Kim nhụy金蕊: nhụy vàng”. Phấn anh hàm nhụy: chỉ các loại hoa mầu sắc.
8 Tự 自 = các tự各自: mỗi hoa tự có.
9 Đê ngang 低昂: cao thấp khác nhau.
10 Đông phong東風: gió xuân.
11 Não惱: làm cho phiền muộn, khổ não, phiền não.
12 Tài才: chỉ có.
13 Phát 發: đưa ra, phân bố.
14 Câm (khâm) 衿= khâm襟: cổ áo. Nhất câm hương一衿香: hương thơm ám trên y phục.
15 Quỳnh song 瓊窗: cửa sổ làm bằng ngọc, phiếm chỉ cửa sổ hoa lệ.
16 Tỉnh 醒: nguyên chính bản lưu lại thì chữ này mất hoặc không đọc được nên người đời sau tùy tiện thêm vào. Có người dùng chữ “Địa地: đất” thành “Mộng địa 夢地: vùng đất mộng”. Có người dùng chữ “Tỉnh: tỉnh dậy” thành “Mộng tỉnh 夢醒: tỉnh mộng”.
17 Đắc hận 得恨: ôm hận.
18 Hà trường 何長: dài làm sao.
19 Bích lan can 碧闌干: lan can sơn mầu xanh hoặc lan can có khảm ngọc xanh.
20 Thùy dương 垂楊: cành dương liễu rủ xuống. Trong văn chương thường gọi cây dương liễu 楊柳 là “Dương 楊”, ngoài đời thường gọi là “Liễu 柳”.
21 Tạm thời tương kiến 暫時相見: gặp nhau trong giấc mộng ngắn ngủi.
22 Lãn (lại) 懒: lười hoặc chán ghét. Có bản chép sai là “Nộn 嫩: non", hay Nga 娥: người đẹp".
23 Tư lương 思量 = tư niệm 思念: suy tư.

Dịch Nghĩa

Lên lầu Tần mà không nhìn thấy cô gái thổi tiêu,
Chỉ còn lại quang cảnh của khu vườn thượng uyển.
Các loại hoa nở nhiều mầu sắc tự mọc cao thấp (không ai xem).
Gió xuân làm tôi phiền não,
Chỉ đưa đến cổ áo y phục của tôi một chút hương.

Tỉnh mộng ra thì ngoài cửa sổ hoa lệ còn lưu lại tí ánh sáng của ngày tàn. (Hoặc ngoài song cửa hoa lệ trên vùng đất mộng còn lưu lại tí ánh sáng của ngày tàn, nếu dùng chữ “Địa” thay cho chữ “Tỉnh”).
Năm xưa hoan lạc chỉ còn là mối hận dài đăng đẳng.
Ngoài lan can xanh thắm có bóng rặng thùy dương,
Đều là cảnh tạm,
Như thấy trong giấc mộng. Tôi chán ngán không muống nghĩ tới nữa (Thực sự vẫn phải nghĩ tới, vẫn phải luôn luôn nuối tiếc thời vàng son đã mất).

Phỏng Dịch

1 Lâm Giang Tiên - Nhớ Người Xưa


Lầu Tần chẳng thấy người tiêu nữ,
Còn đây thượng uyển thênh thang.
Muôn hoa sắc thắm tự bầy hàng,
Gió đông áo não,
Còn thổi chút hương tàn.

Bên song tỉnh giấc ngày trầm lắng,
Năm xưa mối hận còn vương.
Lan can vừa ánh bóng thùy dương.
Thấy nhau chăng nữa,
Như mộng mãi buồn thương.

2 Nhớ Người Xưa

Lầu Tần người đã đi đâu?
Còn đây vườn cũ muôn mầu sắc hoa.
Gió xuân phiền não chan hòa,
Đưa hương thoang thoảng ngày qua lỡ làng.

Bên song tỉnh giấc, ngày tàn,
Năm xưa ôm hận, phũ phàng thời gian.
Ánh dương liễu, ngoài lan can,
Thấy nhau như mộng nghĩ cằn tâm tư.

HHD 
12-2019
***
Lâm Giáng Tiên kỳ 1, Lý Dục

1-

Lầu Tần không thấy nàng thổi sáo
Chỉ còn vườn thượng cảnh quang
Sắc mầu hoa nở tự dọc ngang
Gió xuân phiền não
Cổ áo chút hương tàn

Tỉnh mộng song quỳnh ngày tàn nắng
Vui xưa tiếc hận mãi vương
Ngoài rào biếc bóng thùy dương
Gặp nhau cảnh tạm
Như mộng, lười tiếc thương!

2- Người xưa

Nàng thổi tiêu lầu Tần không thấy
Chỉ vườn vua còn mấy cảnh quang
Hoa đua nở, tự dọc ngang.
Gió xuân phiền não hương loang áo sồng

Khi tỉnh mộng, ngoài song tàn nắng
Hoan lạc xưa sầu đắng mãi vương
Ngoài rào biếc bóng thùy dương
Thấy nhau cảnh tạm, tiếc thương cũng đành!

Lộc Bắc
Aug26
***
Nhớ Người Xưa

Lầu Tần lặng tiếng tiêu nàng
Vườn hoa thượng uyển thênh thang vắng người
Sắc màu đua nở xinh tươi
Gió đông áo não kém vui hương tàn
Bên song tỉnh giấc mơ màng
Năm xưa mối hận còn mang ngút ngàn
Ánh thùy dương ngoài lan can
Chỉ là giấc mộng dở dang thôi đành!


Kim Oanh
Oct. 2026


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét