Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

Một Cõi Tình Phai -Tác Giả Ngô Thụy Miên -Thực Hiện & Trình Bày: Kim Oanh (Canada)


Tác Giả Ngô Thụy Miên
Thực Hiện & Trình Bày: Kim Oanh (Canada)

Em Vẫn Còn Đây

 

EM vẫn còn đây, trong nét thơ,
Nhắc bao nỗi nhớ thuở ngu ngơ,
Những ngày vụng dại nhiều si ngẩn,
Vậy đó, một thời với mộng mơ.

EM vẫn còn đây, bao tháng ngày,
Thời gian trôi mãi bụi mờ bay,
Từng mùa Thu đến rồi đi biệt,
Vậy đó, nỗi buồn chẳng đổi thay.

EM vẫn còn đây, ngắm lá rơi.
Gió heo may lạnh phủ phương trời,
Người đi rớt lại môi hồng nhỏ,
Vậy đó, còn chăng một góc đời.

EM vẫn còn đây, thơ mấy câu,
Viết lên kỷ niệm đẹp tươi màu,
Công viên thác nước ươm tình sử,
Vậy đó, mà người nay ở đâu?

EM vẫn còn đây, năm tháng qua.
Gặp nhau ánh mắt tựa hoen nhòa,
Nụ cười buồn héo như chào hỏi,
Vậy đó, sao mà bao cách xa.

EM vẫn còn đây, EM biết không?
Câu thơ vụn vỡ ngẩn ngơ lòng,
Chiều Thu gió lạnh như vương vấn,
Vậy đó, tôi về lại nhớ mong.

Hoàng Dũng

Mai Mốt

  

Mai mốt em về thăm anh không

Hay là mãi mãi lệ đá đông
Nghìn sau điên đảo đời xa lạ
Mây hết cao xanh nắng hết hồng

Tuyết sẽ phủ đầy những lối rêu
Chỗ ngồi chỗ đứng hết hương yêu
Những lời tình tứ thành mưa gió
Trời đất giận lây đến nắng chiều

Dấu cỏ hơi sương cũng hững hờ
Còn ai đọc sách ai quay tơ
Nhà không còn dấu vườn đâu mất
Bến vắng sông khô khói mịt mờ

Ai sẽ lang thang qua lối nầy
Lẽo đẽo theo hoài nhặt hương bay
Bao nhiêu hương sắc thành hư ảo
Để bước si tình thêm đắng cay

Ngày đêm lẫn lộn chân ngược xuôi
Nửa tỉnh nửa mê khóc lẫn cười
Đi ở không xong về không được
Thân xác hình như chẳng giống người

Anh sẽ đi trong mắt em buồn
Tìm em đếm kỹ lại ngàn thương
Bao nhiêu duyên nợ còn mang nặng
Sao chẳng chờ nhau chẳng chỉ đường

Anh cũng không còn anh nữa đâu
Nếu em không kịp trở về mau
Hôn anh một chút yêu một chút
Tha thiết tuyệt vời trong chiêm bao…

MD 04/04/04
LuânTâm
(Trích trong Tuyển Tập Thơ Quốc Gia Hành Chánh ,
Cơ Sở Hoài Bão Quê Hương xb,CA,USA.2005,tr.143-144)

Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm Kỳ 1 芙蓉樓送辛漸其一 - Vương Xương Linh (Thịnh Đường)

  

(Diễn đàn LTCD TK 21 chúc niên trưởng Mỹ Ngọc sớm hồi phục sức khỏe)

Vương Xương Linh  王昌齡 (khoảng 698-756) tự là Thiếu Bá (少伯); bạn bè khen là vua thơ. Năm 27 tuổi đỗ Tiến sĩ (cùng tuổi với Lý Bạch khi đậu tiến sĩ). 7 năm sau ông lại đỗ Khoa bác học hoằng từ, chuyển đi làm Quan Uý ở Di Thuỷ. Nhưng do hành vi lãng mạn, bị biếm ra nơi biên ải làm Quan Uý ở Long Tiêu... Rồi về làm chức Thừa ở quê (Giang Ninh=Nam kinh). Ở đây Ông ngâm thơ không biết mệt mỏi. Không may Ông đắc tội với Thứ Sử bản địa Lư Khâu Hiểu nên bị Lư giết. Về sau Trấn thủ Hà Nam là Trương Cảo, điều quân đội các Lộ đến tập hợp, Lư Khâu Hiểu đến chậm bị xử tử (bị kết tội khi quân), coi như đó là báo thù cho Vương Xương Linh (ai bảo Lư dám giết vua thơ?). Vương Xương Linh được người đương thời xưng là Thi thiên tử, có bạn thân là Vương Chi Hoán và Tân Tiệm.



Nguyên tác              Dịch âm

芙蓉樓送辛漸其一 Phù Dung Lâu TốngTân Tiệm Kỳ 1


寒雨連江夜入吳 Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô,
平明送客楚山孤 Bình minh tống khách Sở sơn cô.
洛陽親友如相問 Lạc Dương thân hữu như tương vấn,
一片冰心在玉壺 Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.

Chú giải


芙蓉樓 Phù Dung lâu: Lầu Phù Dung do vua nhà Đông Tấn cho xây và đặt tên ở tại phía tây bắc thành Trấn Nam phủ (nay là tây bắc huyện Đan Dương, tỉnh Giang Tô).
夜入吳 Dạ nhập Ngô: Tác giả mới ra làm quan ở Ngô, ban đêm vừa đến nhậm chức thì mưa lạnh rơi trên sông, sáng sớm hôm sau lại tiễn đưa Tân Tiệm về Lạc Dương, khách tiễn đưa chỉ có tác giả và ngọn núi Sở cô đơn (楚山孤).
相問 Lạc Dương: Giờ là Hà Nam.
一片冰心在玉壺 nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ: câu này ám chỉ lòng ta đối với bạn trong trắng như nước tuyết tan trong bình ngọc.

Dịch nghĩa

Lầu Phù Dung Tiễn Tân Tiệm Kỳ 1


Mưa lạnh rơi dọc mấy con sông liên tiếp nên tới đêm khuya mới tới đất Ngô,
Khi tảng sáng lại phải tiễn Tân Tiệm về Lạc Dương; đưa tiễn chỉ có ta và ngọn núi Sở trơ trọi.
Nếu bạn bè thân thích ở Lạc Dương có hỏi (về cuộc tiễn đưa này),
(Thì xin anh cứ đáp rằng): Lòng ta (với anh) trong trắng như một miếng băng đựng trong hũ ngọc.

Dịch thơ

Lầu Phù Dung Tiễn Tân Tiệm kỳ 1

Mưa lạnh sông dài tối tới nơi,
Bình minh tiễn bạn có non côi.
Lạc Dương ai hỏi thì xin đáp:
Bình ngọc lòng băng bạn với tôi.


Lời bàn

Hãy nghe Vương Xương Linh tả cuộc tiễn đưa Tân Tiệm kỳ 1 bằng 28 chữ của thơ thất ngôn tứ tuyệt:

Câu 1:
Vương đi thuyền trên nhiều con sông nối tiếp nhau dưới mưa lạnh để tới nhiệm sở mới tại đất Ngô; không nói rõ sau bao nhiêu ngày; chỉ nói rằng một đêm khuya mới đến nơi.

Câu 2:
Tờ mờ sáng hôm sau lại phải tiễn Tân Tiệm từ lầu Phù Dung về Lạc Dương (Vương đã chịu dầm mưa lạnh nhiều ngày trên sông, đến nơi chưa kịp ngủ lại phải đi tiễn bạn). Cuộc tiễn đưa chỉ có Vương và ngọn núi Sở trơ trọi (Tân sống cô đơn ở nơi này; chờ Vương tới là ra đi; vậy sự có mặt của Vương trong cuộc tiễn đưa sáng nay là rất qúy).

Câu 3 & 4:
Vương dặn Tân rằng, khi tới Lạc Dương, nếu bạn bè hỏi tình bạn của Vương đối với Tân ra sao thì Tân chỉ cần nói 7 chữ: “Trong trắng như băng trong bình ngọc” (7 chữ này chứa nhiều ý sâu đậm lắm; ÔC kể không xuể).

Con Cò 
***
(Cầu chúc chị Mỹ Ngọc sớm lấy lại sức khỏe để tiếp tục làm thơ với nhóm.)

Tiễn Bạn

Vào Ngô mưa lớn nước tràn sông
Sáng sớm tiễn anh núi Sở buồn
Ai hỏi về tôi xin hãy nói
Trung trinh vẫn ở trái tim nồng

Thanh Vân
***
Lầu Phù Dung Tiễn Tân Tiệm Kỳ1

1-

Mưa lạnh sông dài đêm đến Ngô
Sáng mai tiễn khách Sở hoang vu
Lạc Dương bạn hữu ai han hỏi
Một phiến băng tâm giữa ngọc hồ

2-

Đêm đến Ngô, sông dài mưa lạnh
Sớm hôm sau, tiễn khách Sở cô
Lạc Dương bạn hữu hỏi dò
Xin thưa chan chứa ngọc hồ, băng tâm!

Lộc Bắc
Dec25
***
(Trước hết, xin cầu nguyện cho một đàn chị khả ái, khả kính của diễn đàn là chị Mỹ Ngọc được tai qua nạn khỏi, mau bình phục để trở lại góp mặt với mọi người.)

Về bài thơ của Vương Xương Linh, thì như anh Tâm đã nói, có 2 Phù Dung Lâu:
& một ở Giang Tô, do Thứ Sử đời Đông Tấn là Vương Cống xây.
& một ở Hồ Nam. Theo bài viết của Nguyễn Thị Mai Chanh và Lê Thời Tân, thì Phù Dung Lâu này do Vương Xương Linh xây, khi bị biếm làm Long Tiêu Uý. Long Tiêu thuộc đất Sở.

Bài thơ có mấy chữ “Sở sơn cô“ thì có lẽ Vương tiễn bạn ở Phù Dung Lâu thuộc Hồ Nam.
Mấy chữ “dạ nhập Ngô“chứng tỏ là Vương mới tới đất trích, sáng hôm sau đã tiễn bạn ở Phù Dung Lâu thì lầu này không thể do ông xây được.

Tân Tiệm là bạn của Vương, nhưng Bát Sách không tìm được chi tiết. Mà sao lại trùng hợp như vậy? Vương vừa tới thì bạn ra đi.
Bài thơ này ngắn, nhẹ nhàng.

Tiễn Tân Tìệm Tại Lầu Phù Dung

Mưa lạnh tràn sông, tối tới Ngô,
Ban mai tiễn khách núi chơ vơ,
Bạn hữu Lạc Dương như có hỏi,
Một tấm lòng son tại ngọc hồ.

Bát Sách.
(Ngày 07/01/2026)

***
Nguyên Tác: Phiên Âm:

芙蓉樓送辛漸其 Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm Kỳ 1
王昌齡 Vương Xương Linh

寒雨連江夜入湖 Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô
平明送客楚山孤 Bình minh tống khách Sở sơn cô
洛陽親友如相問 Lạc Dương thân hữu như tương vấn
一片冰心在玉壺 Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ

Bài thơ có mộc bản trong các sách:

· Tập Dị Ký - Đường - Tiết Dụng Nhược 集異記-唐-薛用弱
· Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 萬首唐人絕句-宋-洪邁
· Cổ Thi Kính - Minh - Lục Thì Ung 古詩鏡-明-陸時雍
· Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 詩-清-聖祖玄燁


Ghi chú:

Phù Dung Lâu: tên tòa nhà nằm ở góc tây bắc của thành phố Nhuận Châu (nay là Trấn Giang, Giang Tô) vào thời nhà Đường. Trước đây được gọi là Tòa nhà Tây Bắc, nó nhìn ra sông Dương Tử.
Tân Tiệm: bạn của Vương Xương Linh. Lần đó cùng vượt sông từ Nhuận Châu, để Tân Tiệm đi Dương Châu rồi đi về bắc đến Lạc Dương.
Hàn vũ: mưa lạnh vào mùa thu và mùa đông.
Liên giang/thiên: liền sông/ trời, mưa lớn liền với mặt sông/trời
Ngô: tên cổ của đất nước, ở đây đề cập đến phần phía nam của Giang Tô và phần phía bắc của Chiết Giang
Bình minh: lúc mặt trời vừa ló dạng
Khách: ở đây chỉ Tân Tiệm
Sở sơn: tức là Cảnh Sơn, ở phía tây tỉnh Hồ Bắc, dãy núi Võ Đang ở phía đông nam và sông Hán ở phía tây
Lạc Dương: cố đô của Trung Hoa thời Đường, hiện nằm ở phía tây tỉnh Hà Nam, trên bờ nam sông Hoàng Hà
Băng tâm: ẩn dụ cho một trái tim thuần khiết
Ngọc hồ: bình làm bằng ngọc bích

Dịch Nghĩa:

Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm      Tiễn Tân Tiệm Tại Lầu Phù Dung

Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô        Đêm vào nước Ngô mưa lạnh ngập tràn sông,
Bình minh tống khách Sở sơn cô      Bình minh đã phải tiễn bạn ở núi Sở.
Lạc Dương thân hữu như tương vấn Nếu có ai ở Lạc Dương hỏi về tôi, xin hãy nói:
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ  Tôi vẫn giữ tấm lòng băng giá trong bình ngọc (tâm vẫn thanh khiết).

Dịch Thơ:

Tiễn Tân Tiệm Tại Lầu Phù Dung

Vào Ngô đêm lạnh mưa tràn sông,
Tiễn khách núi buồn sớm tinh sương.
Bạn hữu Lạc Dương có hỏi đến,
Giữ trong bình ngọc tấm lòng son.

At Hibiscus Inn Parting With Xin Jian By Wang Changling
Translation by Witter Bynner

With this cold night-rain overflowing the river, you have come into Wu.
At dawn, we parted at lonely Mount Chu.
Should friends ask of me at Loyang, answer:
"One-hearted as ice crystal in a jade vase."

WANG Changling – Seeing off Xin Jian at the Hibiscus Tower
Translation by Betty Tseng

You arrived in the Wu region when icy rain rendered the river full,
Now at dawn I'm seeing you off to cross the isolated mountains of Chu.
If my family and friends in Luoyang asked about my situation,
You could say that my heart is crystal clear and kept jadeite pure.

Phí Minh Tâm
***

Góp ý:

Người ni không hiểu Vương Xương Linh muốn nói vì với câu cuối - băng tâm và ngọc hồ tượng trưng những gì? - nên chỉ có thể bàn về các địa danh.

Thời xưa có hai 芙蓉樓=Phù Dung lâu, một ở Trấn Giang, Giang Tô (镇江, 江苏) và môt ở (洪江, 湖南) Hồng Giang, Hồ Nam. Ngôi lầu ở Trấn Giang do thứ sử Vương Cung thời Đông Tấn (刺史王恭,东晋) xây và là nơi thi nhân họ Vương tiễn bạn Tân Tiệm. Lầu có tên là lầu Tây-Bắc nhưng được gọi là Phù Dung vì có cây dâm bụt cạnh đó. Lầu sụp năm 1990 và đã được xây lại theo kiểu thời Đường.

Ngô và Sở là hai địa danh thi nhân thường dùng để nhắc đến chuyện người Hán xâm chiếm hay tàn phá các nước thời Đông Chu Liệt Quốc và người đọc dù muốn dù không cũng phải liên tưởng đến chuyện chiến chinh, bất an.

Sở sơn là tên một ngọn núi ở Hồ Bắc. 8 dặm phía nam Tương Dương.(襄陽,湖北) và có tên nguyên thủy là Mã An san (馬鞍山), Vũ Lăng Vương Tư Mã Tuân làm thứ sử ở Tương Dương, nhìn thấy núi và nghĩ đến Yên Thành (鄢城) của Sở nên đặt tên núi là 望楚山 Vọng Sở sơn. Núi được nói đến trong Thủy Kinh Chú.

Huỳnh Kim Giám

***
Góp ý của Isamurai:

Xin thành tâm cầu nguyện cho bà Mỹ Ngọc được an toàn và phục hồi.

PHL
***
Chị Mỹ Ngọc kính mến.

Nguyện cầu chị sớm bình phục và về chung vui với gia đình trong Năm Mới.

Kim Oanh nhớ chị trong lời cầu nguyện.

Kim Oanh


Người Việt Cao Quý


“Sướng gì hơn sướng làm lành,
Cho bao nhiêu của để dành bấy nhiêu”

Cuộc đời từ chiếc nôi đến ngôi mộ quá lắm cũng chỉ ba vạn sáu ngàn ngày, nhưng thường phải trải qua không biết bao nhiêu là biến cố. Ba mươi năm đầu là thời gian học hỏi để nên người. Tam thập lập thân - cũng là 30 năm sinh tử của cuộc đời, thành bại sau này đều bắt đầu từ những năm trưởng thành của cuộc sống. Những năm đầu, con người hấp thụ kinh nghiệm của nhân sinh hệ lụy. Tùy hoàn cảnh giáo dục gia đình và học đường mà mỗi người mang một bản sắc khác nhau, người thì nhân từ độ lượng, trọng nghĩa khinh tài đáng là bậc trượng phu, kẻ thì lòng dạ hẹp hòi, tham tiền bỏ nghĩa, phản trắc, bội tín và phi nghĩa.

Giáo dục và tín ngưỡng đã ảnh hưởng đến sự hình thành tâm tính và quan niệm của con người về cuộc sống. Con người tính bổn thiện nhưng thế thượng thường tình có thể bị tà ma, lợi lộc làm mờ lương tri. Do đó cổ nhân đã để lại những nguyên tắc luân lý lưu truyền từ đời này sang đời khác nhằm điều chỉnh thái độ và giúp con người cải tà, quy chánh.

Các nguyên tắc luân lý đó thường được bàn bạc qua văn chương và triết học. Triết lý văn nghệ của các truyện nôm như Phan Trần, Nhị Độ Mai … nêu cao khí phách của con người lý tưởng, đạo đức:

“Trời nào phụ kẻ trung trinh,
Dẫu vương nạn ấy, ắt dành phúc kia.
Danh thơm muôn kiếp còn ghi,
Để gương trong sạch, tạc bia với đời.
Gian tà đắc chí mấy hơi,
Mắt thần khôn dấu lưới trời khôn dung.
Uy quyền một phút như không,
Xem bằng lứa đá, ví cùng đám mây.” (Nhị Độ Mai)

Đức tính truyền thống của con người cao quý theo truyền thống của dân tộc Việt là con người có Trung, có Hiếu, có Tiết, có Nghĩa đúng theo ngũ thường Nhân-Lễ-Nghĩa-Trí-Tín

“Ai ơi lẳng lặng mà nghe,
Dữ răn việc trước, lánh dè thân sau.
Trai thời Trung, Hiếu làm đầu,
Gái thời Tiết, Hạnh là câu sửa mình.”

Nhưng giữ được cương thường đạo nghĩa ở đời không phải là chuyện dễ vì lợi lộc, vinh hoa phú quý có thể mua chuộc lòng người. Ngày trước nói đến chữ Trung có nghĩa “trung thần bất sự nhị quân”, làm tôi ngay không thờ hai Chúa, “trung trinh ái quốc một lòng vì dân vì nước”! Ngày nay là trung thành với lý tưởng tự do chống độc tài hữu phái hay tà phái dù rằng kẻ trung nghiã đôi khi gặp rủi ro, bị gian thần hãm hại hoặc không được trọng dụng.

“Từ ngày đi sứ đến Tây Kinh
Thấy việc Âu Châu phải giật mình,
Kêu gọi đồng bào mau thức tỉnh
Hết lòng năn nỉ chẳng ai tin!” (Nguyễn Trường Tộ)

Người trung nghĩa và kẻ phản tặc thưởng được vạch trần mỗi khi quốc gia lâm nạn. “Quốc nạn thức trung thành”. Sau khi quân Pháp đánh lấy Nam Kỳ năm 1862, Tôn Thọ Tường phản quốc ra hàng làm sai cho Pháp. Sĩ phu thời bấy giờ cương quyết chống đối hành vi bất trung của Tôn Thọ Tường. Tôn Thọ Tường làm 10 bài thơ liên hoàn nhan đề là “Tự Thuật”. Đứng đầu môn phái chủ trương “trung thần bất sự nhị quân” là Phan Văn Trị. Phan Văn Trị đã hoạ lại 10 bài thơ của Tôn Thọ Tường.

Sự xướng hoạ đã tạo nên cuộc bút chiến về “Chính và Tà” vào hạ bán thế kỷ 19. Đặc sắc là bài “Tôn Phu Nhân Quy Thục”

“Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng,
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông.
Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc,
Về Hán trau tria mảnh má hồng.
Son phấn thà cam dày gió bụi,
Đá vàng chi thẹn với non sông.
Ai về nhắn với Châu Công Cẩn :
Thà mất lòng anh đặng bụng chồng.”
(Tôn Thọ Tường)

Tôn Thọ Tường tự thú theo Pháp vì mình như người con gái bán gả cho người ta nên dù mất lòng với vua y cũng theo Pháp:

“Thà mất lòng anh được bụng chồng!”

Phan văn Trị hoạ lại, cho Tôn Thọ Tường không phải là người trung, nghĩa vì trai ngay phải thờ chúa, gái mới thờ chồng:

“Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng,
Mặt ngã trời chiều biệt cõi Đông.
Ngút tỏa đồi Ngô ùn sắc trắng,
Duyên về đất Thục đượm màu hồng.
Hai vai tơ tóc bền trời đất,
Một gánh cương thường nặng núi sông.
Anh hỡi !Tôn Quyền : anh có biết ?
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng.”
(Phan Văn Trị)

Phải chăng vì vinh hoa phú quý, chức cao quyền trọng mà Tôn Thọ Tường phải hoá kiếp thành thất phu thường tình.!

Người Việt cao quý
phải là người hiếu thảo với cha mẹ

Hiếu tức là hành vi của người con tốt (hảo tử). Khi cha mẹ còn sống thì hết lòng vâng lời, phụng dưỡng cha mẹ; khi cha mẹ mất thì hết lòng thương nhớ. Đó là hiếu đạo của con cái đối với cha mẹ. Kẻ bất hiếu là kẻ thờ ơ chểnh mảng với cha mẹ khi cha mẹ còn sống, lúc cha mẹ chết thì làm văn tế ruồi! Tục thờ kính Ông Bà Tổ Tiên thể hiện lòng hiếu thảo đối với thân sinh phụ mẫu. Đức Khổng Tử bảo rằng hiếu là “Người con thờ đấng thân: Khi đấng thân còn sống thì phụng dưỡng cho phải lễ. Khi đấng thân mất thì tống táng cho phải lễ, khi cúng bái đấng thân thì tế cho phải lễ”. Điều quan trọng là khi phụng dưỡng cha mẹ, nét mặt phải hoà vui, cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi cha mẹ không kể tháng kể ngày! “ Nếu nghĩ là có tiền cho cha mẹ vào nhà dưỡng lão và lơ là việc thăm viếng, phụng dưỡng cha mẹ như vậy thì chưa phải là có hiếu vì có tiền bạc nuôi ăn mà không có tình với cha mẹ thì chẳng khác nào nuôi gia súc!”

Hán Văn Du ăn ở với mẹ rất là có hiếu, mỗi khi có lỗi mẹ thường đánh đòn. Một hôm Văn Du phải đòn, khóc mãi, mẹ thấy vậy hỏi: Mọi khi mẹ đánh con biết lỗi, con câm ngay, lần này sao con lại khóc dai thế? Bá Du thưa: Mọi khi mẹ đánh, con thấy đau, con biết mẹ còn khỏe mạnh. Lần này mẹ đánh con, con không đau mấy, con biết mẹ đã yếu, cho nên thương mẹ già yếu mà con khóc. Tình con yêu mẹ như thế thật thắm thiết!

NHÂN- LỄ- NGHĨA-TRÍ- TÍN

Người Việt Cao Quý là người trọng NHÂN

Người nhân nghĩa khác kẻ tiểu nhân vì lúc nào cũng để tâm việc nhân vì cái tâm không tàn ác, không cường bạo phi lý. Nhân là thương yêu đồng loại, thương người như thể thương thân như lời của Vua Trần Nhân Tông đối với thần dân. “Trẫm thương dân như thương con trẫm”.

Người Việt cao quý Là người trọng LỄ

Lễ là xử thế hợp lý với lòng kính trọng con người. Thánh hiền cư xử với người một cách kính trọng: không có giờ phút nào bỏ được lòng nhân hậu. “Thiên địa nhất gia, thiên hạ nhất nhân”. Cả thiên hạ như một nhà, cả nước như người. Thánh nhân đã dạy:
“Hãy xem tha nhân như thầy của mình thì mọi sự sẽ được yên vui”.

Người Việt cao quý là người trọng NGHĨA

Trong cuộc đời, con người phải có nghĩa với nhau thường được hiểu qua câu ơn nghĩa người đồng liêu, với người trên kẻ dưới. Câu huynh đệ chí binh nói lên cái nghĩa khí một dạ, một lòng, quan quân như một. Làm việc nghĩa tức là làm phải, việc hữu ích chung, công bình ơn đức, con người sống vị nghĩa dễ sinh tình mến phục. Nếu chỉ biết nhau trong lúc vô sự đến lúc nguy nan, bỏ bạn mà chạy, sống chết mặc bay thì là phi nghĩa, bạc ác, bất nhân.

Cổ nhân nói rằng “Lễ nghĩa liêm sỉ là bốn giường mối căn bản giữ vững quốc gia. Bốn giường vó ấy mà không căng lên được nghĩa là vô lễ, vô nghĩa, vô liêm, vô sỉ, thì quốc gia phải sụp đổ và diệt vong". Khuất Nguyên cũng ca ngợi nghĩa khí: “Một bên là quần chúng, một bên là bản thân, hai bên đều trọng cả. Nhưng nếu gặp trường hợp cần thì phải hy sinh bản thân để cứu giúp quần chúng”. Vị nghĩa quên mình, vị quốc vong thân. Con người sống trong một ngày, nghe được một điều phải, làm một việc nghĩa thì không phải là sống thừa.” Celui qui a planté un arbre avant de mourir n’a pas vécu inutilement”.

Người Việt Cao quý là người trọng TRÍ

Người trí là người tự biết mình như triết gia Socrate nói: “Ngươi hãy tự biết ngươi” (Connais-toi toi-même). Con người phải biết mình, phải tự hiểu mình rồi mới có thể hiểu người, tri kỷ tức là biết mình vậy. Có biết mình mới tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Có biết mình mới trọng tư cách của mình tức là tự trọng. Kẻ không tự trọng không phải là kẻ trí vì không hiểu và không trọng mình thì làm sao kẻ khác trọng mình được. Cho nên người Việt cao quý không những phải có nhân, có nghĩa, có lễ có nghĩa, mà còn phải có trí để biết mình và biết người, hành động sáng suốt. Đánh lưỡi bảy lần trước khi nói “Tourner la langue sept fois avant de parler”.

Người Việt cao quý là người trọng TÍN

Kẻ bất tín là kẻ gian tà. Ăn cơm Quốc gia, thờ ma Cộng sản! Đã là gian tà thì không thể là kẻ yêu nước, thương nòi được. Trong sự giao tiếp hằng ngày giữa người và người chữ Tín đóng vai trò hết sức quan trọng. Hành động bội tín, làm mất lòng tin tưởng, thì sống cũng chỉ là sống thừa. Chữ tín được liệt rõ trong ngũ thường: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Trong sự giao thiệp, sinh hoạt cộng đồng, đoàn thể, chính quyền, phải luôn luôn lấy chữ Tín làm chuẩn. Đức Khổng Tử bảo rằng “Nhân vô tín bất lập” nghĩa là phàm làm người mà bất tín thì không còn ai tin cậy và vì vậy không thể đứng vững ở đời được. “Tín vi nhân chi bảo” chữ Tín là bảo vật của nhân thế.

Người Việt cao quý là người trọng LIÊM SỈ

Liêm sỉ là căn bản đạo đức của văn võ bá quan. Vua, quan mà vô liêm sỉ thì thượng bất chính hạ tắc loạn. Kết cuộc thì quốc gia phải sụp đổ, dân tộc phải diệt vong. Nhưng thế nào là vô liêm, vô sỉ? Liêm là liêm khiết (integrity), là nền tảng của đạo làm người, là tính thanh liêm, phân minh, ngay thẳng, không lấy của bất nghĩa. Người mà không có liêm thì cái gì cũng lấy hay làm việc bất nghĩa, vơ vét cho đầy túi tham “Có ba trăm lạng việc này mới xong” (Kiều).

Sỉ là hổ thẹn (shame), tự mình lấy làm hổ thẹn. Người vô liêm sỉ thì việc gì cũng làm, là kẻ không biết hổ thẹn, không tôn trọng luân thường đạo lý. Thầy Mạnh Tử nói rằng “nhân bất khả vô sì” nghĩa là người mà không biết xấu hổ thì không phải là người. Có liêm sỉ là nền tảng của đạo làm người, Có liêm sỉ thì có hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa. Vô liêm sỉ thì còn gì là luân thường đạo lý.

Người Việt cao quý là người CƯƠNG TRỰC

“Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di và uy vũ bất năng khuất”. Người cương trực là người trọng lẽ phải, vì lẽ phải có sức mạnh hơn mũi gươm. Người có lòng cương trực, ý chí như sắt đá, sáng như sao bắc đẩu, dù nguy cấp thế nào cũng không thay lòng đổi dạ. Người cương trực là người giữ được tiết tháo, bảo vệ công lý để đối phó với bạo tặc, cường quyền. Biết bao chiến hữu dân, quân, cán, chính của VNCH đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, hoặc can trường bất khuất trong cảnh tù tội sau ngày CS xâm lăng VNCH. Gương anh dũng đáng kính phục nầy đã được sử sách lưu truyền, thể hiện niềm tự hào, danh dự của dân, quân, cán, chính VNCH. Thái độ cương trực này là tấm gương sáng cho hậu thế soi chung.

Ngoài ra, tứ đức: Công, Dung, Ngôn, Hạnh còn là đặc trưng của nhi nữ Việt Nam. Công tức là làm việc giỏi:

“Gái thì lo việc trong nhà,
Khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa”.,
Dung tức là sắc diện vui hoà, phục sức thanh lịch.
“Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”
Ngôn là tiếng nói phải dịu dàng:
“Chim khôn hót tiếng rảnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.”

Hạnh là hạnh kiểm tốt, kể cả vấn đề thờ cha kính mẹ. “Cái nết đánh chết cái đẹp”. “Character is better than beauty”. Cái đẹp thì có hạn nhưng cái nết thì vô cùng, vẫn là câu tục ngữ truyền tụng trong dân gian để ca ngợi đức tính đạo hạnh của người con gái, thể hiện giá trị luân lý vượt thời gian và không gian.

‘Cô gái Việt Nam ơi
Nếu chữ hy sinh có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi” ( Hồ Dzếnh))

Sở dĩ có câu:

“Đàn ông chớ đọc Phan Trần,
Đàn bà chớ kể Thuý Vân, Thúy Kiều”.

Là vì trong nền luân lý cổ truyền, hình ảnh Phan Sinh trong tác phẩm Phan Trần, đã bị uỷ mị hoá. Phan Sinh thất tình vì người yêu mà đâm ra nản chí, khóc lóc thảm thiết.! Tác giả đã mô tả Phan Sinh khi nghe đến người yêu thì đã “hai hàng lã chã nhường mưa”, không phải là hình ảnh hào hùng, khí phách của người trai nước Việt cao quý.

Vậy thì nền luân lý cổ truyền thật là phong phú. Ngày nay, trên bước đường gió bụi của cuộc đời viễn xứ, dù áo rách nhưng phải giữ lấy lề. Người Việt cao quý vẫn là người hiếu đạo, trung nghĩa, là người có nhân, có nghĩa, có lễ, có trí, có tín, là người liêm sỉ, cương trực:

“Trai thì trung hiếu làm đầu,
Gái thì tiết hạnh là câu sửa mình.”

Truyện người tiết phụ đã là gương sáng truyền tụng trong Ngũ Đại sử: Vương Ngung đi làm quan chẳng may chết sớm. Vợ là Lý Thị trên đường đi nhận hài cốt của chồng, lỡ đường dẫn con vào một quán trọ bên đường xin trọ. Người chủ quán thấy đàn bà con nít có ý nghi ngờ không cho trọ. Người chủ quán nắm lấy tay Lý Thị dắt đuổi ra. Lý Thị ngửa mặt lên trời nức nở than rằng: “Ta làm đàn bà chẳng hay thủ tiết thờ chồng đến nỗi người ngoài cầm được cái tay này. Ta chẳng nỡ để vì một cái tay mà bẩn lây cả thân ta”. Nói xong lập tức lấy dao thái thịt chặt phăng đứt ngay cánh tay! Xem thế thì tình nghĩa vợ chồng cao quý biết dường nào!

Hiện nay các đức tính này cũng được nhắc nhở trong các bộ luật luân lý nghề nghiệp (Professional Code of Ethics) dựa trên những ý niệm căn bản về cần, kiệm, liêm chính, nhân, nghiã, lễ, trí, tín. Những kẻ phi nhân, thất đức dù ở trong xã hội nào, vào thời nào chăng nữa thì cũng chỉ là kẻ xấu xa phá hoại nhân quần xã hội mà thôi.

Hoằng dương luân lý cổ truyền dân tộc tức là chuyển tải chủ trương đạo lý đến với tha nhân về hình ảnh mẫu mực của “người Việt cao quý”. Cương thường đạo lý hướng dẫn hành vi của con người. Lúc thất thế, Nguyễn Công Trứ không trở thành đạo tặc cũng chỉ vì sợ nhục nhã gia phong:

“Mất việc toan trở nghề cơ tắc
Tủi con nhà mà hổ mặt anh em.
Túng đường mong quyết chí cùng tư
E phép nước chưa nên gan sừng sỏ,
Cùng con cháu thuở nói năng chuyện cũ
Dường ngâm câu "lạc đạo vong bần
Gặp anh em khi bàn bạc sự đời,
Lại đọc chữ vi nhân bất phú.
Tất do thiên âu phận ấy là thường
Hữu kỳ đức ắt trời kia chẳng phụ...”

Vâng, sống đức hạnh thì trời không phụ lòng người. “Grace respects nature- Vi thiện giả thiện báo chi dĩ phúc”. Người Việt mình ăn ở đức hạnh, hãnh diện với dòng giống Lạc Hồng. Chính lòng tự hào về nguồn gốc dân tộc mà chúng ta duy trì cuộc sống thanh đạm ở xứ người, dù thất cơ lỡ vận nhưng không trổ nghề cơ tắc vì sợ “Tủi con nhà mà hổ mặt với anh em”.

Tư tưởng lên khuôn cho hành động. Dân tộc Việt chúng ta là một dân tộc tự trọng và hào hùng, niềm kiêu hãnh đó dù trải qua phong ba bão táp, vẫn lưu mãi trong tâm khảm mọi người, điều hướng hành động của chúng ta: hành động tốt của người Việt cao quý. Nhớ đó cộng đồng được vui hoà, đoàn thể sinh hoạt được hanh thông.

Nền văn hoá cổ truyền của người da đen và da đỏ đã bị băng hoại vì người da trắng tiên phong đã lầm lẫn huỷ hoại văn hoá của hai nhóm thiểu số này khiến cho họ mất cả gia bảo, không còn gì để bám víu, để hãnh diện. Một số người bị lôi cuốn vào cuộc đời đầu đường xó chợ, “như thuyền không lái, như ngựa không cương”, sổng cũng không thể sống nên hồn, muốn chết không xong! Tai hoạ này kết quả không sao lường được, là một vấn xã hội trầm kha trong xã hội ngày nay của Hoa Kỳ ảnh hưởng đến mọi hoạt động giáo dục, an sinh xã hội, kinh tế, chính trị, tội phạm…

Tai họa nầy cũng đang hoành hành xã hội Việt Nam sau năm 1975, nền văn hoá hơn bốn ngàn năm văn hiến đang bị băng hoại. Khôi phục, bảo tồn, phổ biến những đặc nét luân lý của nền văn hóa cổ truyền cũng là một sứ mệnh trong công tác cải tổ phục hưng quốc tổ thân yêu của chúng ta.

Chúng ta đến Hoa kỳ và các quốc gia tự do vì tinh thần yêu chuộng tự do. Bảo toàn những đặc nét của gia bảo luân lý cổ truyền là nhiệm vụ thiêng liêng chung của chúng ta. Được như vậy, tập thể tỵ nạn của chúng ta sẽ là tập thể gương mẫu, xây dựng một hậu phương vững mạnh, sẵn sàng hỗ trợ đại nghiệp cứu quốc và kiến quốc.

Dù khoa học vật chất tiến triển nhanh chóng và sự khác biệt về địa phương, một số phong tục và luân lý xã hội cổ truyền có phần lỗi thời vì “ Bên này dãy núi Pyrénées là chân lý, bên kia là sai lạc” Tuy nhiên, mía sâu có đốt nhà dột có nơi, chúng ta vẫn duy trì và phát huy các đặc nét hữu ích của nền luân lý cổ truyền phổ quát liên quan đến phần bản chất tâm lý nhân sinh hợp với thế thượng thường tình (common sense is the ability to think and behave in a reasonable way and make good decision) không mấy thay đổi qua dấu chỉ của thời đại vượt thời gian và không gian.

Ai không kiểm soát được cảm giác (sensation) thì không điều khiển được thái độ (attitude). Sợ thì tay run, tác xạ linh tính có thể không chính xác, cũng như “một khi đã nổi cơn điên, người khôn hoá dại, người hiền hóa ngu”. Không trang bị cho mình những tiêu chuẩn đạo lý căn bản thì không làm chủ được hành động của mình. Không có quan niệm chính xác về thế nào là công chính (just) và phải đạo (right) thì dễ lâm vào hành động bất nghĩa. Công sản bất nghĩa hô hào nâng đỡ bần cố nông bằng cách sát hại địa chủ, phú nông. “Trí, phú, địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” trái với chủ trương “Do not expect to build up the week by polling down the strong” (Edmund Burke). Đây là nỗi lo chung của chúng ta đối với làn sóng vô thần huỷ diệt nhân tính và khích lệ thú tính. Hoa Kỳ là một quốc gia tự do và thịnh vượng, chia sẻ hạnh phúc với toàn thế giới. Thế giới không ai muốn di dân đến các nước Cộng sản mà muốn di dân đến Hoa Kỳ. Thế mà cũng có những phần tử muốn đến Hoa Kỳ để phá hoại. Một giáo sĩ Hồi giáo tuyên bố “Islamic is not here to co-exist. We were here to dominate the world, to extinguish and wipe out every and other religions. We were superior to every one else”. Vì thế, cổ nhân truyền lại những đạo lý căn bản để hướng thiện hành vi con người và dành cho chúng ta ý chí tự do (free will) để tuỳ cơ ứng biến.

Mười Điều Tâm Niệm trong sinh hoạt Xã hội.

1- Trọng Nhân: Phục vụ xã hội vì tình đồng hương, nghĩa đồng bào, tôn trọng nhân phẩm, thành tâm chánh ý, quyết tâm xây dựng tình đoàn kết quốc gia.

2- Trong Lễ: Sinh hoạt với tinh thần tôn trọng đồng hương, hoàn thành sứ mệnh công dân trong tinh thần tương kính không phân biệt giới tính, tín ngưỡng, tuổi tác, sắc tộc, địa phương.

3- Trọng Nghĩa: Mọi công tác được thực hiện với mục đích tương thân, tương trợ. Làm việc nghĩa không kể lợi hại, luận anh hùng, không kể hơn thua, hy sinh thì giờ, nhân tài, vật lực để xây dựng nhân quần xã hội.

4- Trọng Trí: Minh bạch, thận trọng, chính trực, sáng suốt, can đảm lúc hành sự

5- Trọng Tín: Tôn trọng ý chí chung, kiến tạo sự tín nhiệm của đồng hương, thành viên trong tổ chức, không cạnh tranh bất chính, ngôn hành hợp nhất. “Nhân vô tín bất lập”

6- Vô Ngã: Biết quên mình để phục vụ nhân quần xã hội. “Quân tử vui vì đạt được nghĩa cả.”

7- Vô Công: Phục vụ vi lòng nhân ái, không vì danh lợi, không tranh giành, không dèm pha, không công kích bất công, không tranh quyền đoạt lợi. Cá nhân gieo nhân lành cộng đồng gặp quả tốt.

8- Vô danh: Phục vụ xã hội với sứ mệnh cao cả của người Việt cao quý, không phải vì ham mê danh lợi. “Sợ mình không biết người để đối xử cho phải lễ, chứ không sợ người không biết mình”. Hữu xạ tự nhiên hương.

9- Bất tranh: Hoạt động xã hội không nên đặt trên nguyên tắc cạnh tranh. Cạnh tranh là khai thác khuyết điểm của người khác để thủ lợi cho mình. Cạnh tranh thích ứng cho thương trường, không thích ứng cho các đoàn thể ái hữu, xã hội.

10-Hợp tác: “Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết”. Chỉ có tinh thần hợp tác thực sự mới tạo được sự đoàn kết để phục vụ cộng đồng càng ngày càng thịnh vượng (phú), dân số càng ngày càng đông đảo (thứ) và trí tuệ càng ngày càng cao (giáo).

“Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh, bông trắng, lại chen nhụy vàng
Nhuỵ vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.”

Trần Xuân Thời
“ Văn Dĩ Tải Đạo”


Có Những Niềm Vui Năm Mới


Đây là bài số bảy trăm chín mươi bốn (794) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ ORTB

Bây giờ đã bắt đầu một năm mới. Mọi người dần dần làm quen với những sinh hoạt của năm mới như khi viết “check” trả tiền nhà, tiền điện, tiền bảo hiểm v..v.. bạn phải để ý đề ngày cho đúng năm 2026 nhé.

Có những cá nhân nhân dịp đầu năm này cũng thiết lập một chương trình sinh hoạt riêng cho mình: ăn uống, tập thể dục như thế nào để làm sao không cho “phát triển thêm bề ngang”. Quý vị phu nhân ở xứ Mỹ này đều sợ bị chê là “phì nhiêu” quá! Quý bà ai cũng muốn được khen là: “Dạo này chị ốm bớt nên mặc áo dài có eo ghê!” Thích nhé!

Còn quý ông cũng nhất quyết lên kế hoạch kiêng uống rượu, kiêng hút thuốc, bớt ăn chất béo để cho lượng Cholesterol không tăng theo “cấp số nhân” và không bị cao máu nhiều hơn năm cũ nữa để mà sống hưởng phước với số tiền hưu trí của ông Trump phát hàng tháng. Vui nhỉ!

Khi đi sưu tầm tài liệu viết bài tôi tìm được bài thuyết giảng của Hòa Thượng Tịnh Không trên internet về đề tài “Thay đổi cách sống”, xin được chia sẻ cùng các bạn.

Hòa Thượng đã nêu lên quan niệm giáo dục đạo đức đời sống của Đông Phương Trung Quốc và Tây Phương Âu Mỹ.
Đông Phương cho rằng đời người có bốn giai đoạn như bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông của đất trời.

1. Dưới 20 tuổi như Mùa Xuân con người cần phải được giáo dục đạo đức.
2. Từ 20 - 40 tuổi như mùa Hạ con người cần phục vụ xã hội.
3. Từ 40 - 60 tuổi như mùa Thu con người cần truyền trao kinh nghiệm cho người kế thừa.
4. Sau 60 tuổi như mùa Đông con người cần về hưu để hưởng phước.

Trong khi đó Tây Phương lại quan niệm:

1. Tuổi trẻ là tuổi để hưởng thụ cho nên tuổi thơ được ví như đang sống trong thiên đàng.
2. Tuổi trung niên sống trong chiến trường tranh đua danh lợi
3. Tuổi già sống buồn thảm đi vào phần mộ.

Theo lời trình bày kể trên chúng ta cần phải chọn lựa và thay đổi cách sống như thế nào để có thể sống một cuộc đời an vui hạnh phúc, bạn nhỉ?
Trong khi đó thì Mẹ Têrêsa khuyên chúng ta:

Hãy cho nhau nụ cười

Có lần mẹ Têrêsa thành Calcutta kể lại câu chuyện như sau:

“Nhiều người đến thăm tôi tại Calcutta và trước khi ra về thường ngỏ ý với tôi: “Xin cho chúng tôi một lời khuyên để chúng tôi sống tốt đẹp hơn”.

Tôi liền bảo họ: “Quý vị hãy về và hãy ban tặng cho nhau những nụ cười. Một nụ cười cho vợ của ông. Một nụ cười cho chồng của bà. Một nụ cười cho con cái của ông bà. Hãy cười tươi với tất cả mọi người, bất luận người đó là ai. Với những nụ cười tươi như thế quý vị sẽ lớn lên trong tình yêu hỗ tương”.

Nghe vậy một người trong nhóm hỏi tôi:
- Bà có lập gia đình không?
Tôi gật đầu và nói:
- Ðôi khi tôi cũng cảm thấy khó nở một nụ cười với vị hôn phu của tôi.

Và mẹ Têrêsa kết luận:
- Ðúng thế, Chúa Giêsu có thể đòi hỏi rất nhiều. Và chính khi Ngài đòi hỏi như thế thì không gì đẹp cho bằng nở một nụ cười thật tươi với Ngài

Lạy Chúa! Nụ cười không mất tiền mua, không phải vất vả cực nhọc để đi xa mang về… Nụ cười thật dễ dàng để xuất hiện trên môi miệng và trên khuôn mặt nhưng sao con lại thấy thật khó khăn vất vả để trao tặng nụ cười trên khuôn mặt của con cho những người xung quanh… Con đã thay thế nụ cười bằng những cái nhăn mặt méo mó, bằng những ánh mắt giận dữ, bằng những cái lắc đầu xua tay và đôi khi bằng những lời nói làm đau lòng người khác. Xin cho con luôn ý thức rằng: mỗi khi con mang nụ cười đến cho những người xung quanh chính là lúc con dâng lên Thiên Chúa tình yêu và nụ cười, sức sống và hy vọng của đời con. Amen.
(Nguồn: Sưu tầm trên internet)

Nếu năm rồi chúng ta chưa có cơ hội cho nhiều hơn nhận, chưa trao hoặc không trao nụ cười cho ai cả thì trong năm mới chúng ta thử thay đổi cách sống để cuộc đời thêm nở hoa, bạn nhé!

Riêng tôi dù là đầu năm hay cuối năm tôi luôn sống trong tinh thần lạc quan với "Có Những Niềm Vui" của tôi và tôi muốn chia sẻ niềm vui này đến thân nhân thân yêu gia đình tôi và bạn hữu thân mến của tôi. Hy vọng Bạn sẽ cùng vui với tôi, Bạn nhé.

Có Những Niềm Vui

Có những niềm vui suốt đời nhớ mãi:
Thuở tuổi ấu thơ, theo mẹ đến trường
Mẹ nắm tay con, gửi trọn tình thương
Con đã vào lớp, mẹ còn trông ngó

Có những niềm vui, ngây thơ tuổi nhỏ:
Đánh đáo, chọi bi, đánh đũa, lò cò
Vô tư, khờ dại, chẳng chút âu lo
Chỉ biết giỡn đùa, quấy cha, nũng mẹ

Có những niềm vui, một thời coi nhẹ:
“Cồng sin”, chép phạt, một thuở biết yêu
Ngớ ngẩn theo ai, dáng liễu yêu kiều
Gửi lén thơ tìn , nên vào trễ học

Có những niềm vui, cười trong tiếng khóc:
Pháo cưới vu quy, con bước theo chồng
Một sáng mùa Xuân, có kẻ sang sông
Bỏ lại sau lưng, biết bao kỷ niệm

Có những niềm vui, phải đành dấu diếm:
Gặp lại cố nhân, đôi mắt vẫn tình
Sống lại trong tim tuổi mộng thư sinh,
Cuộc tình thứ nhất, học trò vụng dại

Có những niềm vui, mỉm cười sảng khoái:
Thấy kẻ thân yêu, được sống an bình,
Giữa cuộc trần ai, đau khổ sinh linh
Thân tâm tĩnh lạc, an vui, hạnh phúc

Hy vọng sau khi đọc xong bài tâm tình này, qúy bạn sẽ thấy vui hơn, tinh thần thoải mái hơn, ăn được, ngủ được và sẽ không bao giờ hỏi “Tại Sao Không Ngủ Được” như Sư Cô Suối Thông giải thích dưới đây:

Tại Sao Không Ngủ Được – Sư Cô Suối Thông


Ai trong chúng ta cũng sẽ có lúc không ngủ được. Không phải không muốn ngủ, mà bởi có quá nhiều chuyện buông không đành. Vì suy nghĩ quá nhiều nên tâm tình phiền muộn. Vì trăn trở quá mức mà thành ra trằn trọc.

Con người sở dĩ mỏi mệt là vì cứ mãi đuổi theo những tham vọng không hồi kết, chất chứa nhiều toan tính, rối rắm trong lòng.
Dù bạn thông minh đến đâu cũng không thể nhìn thấu hết mọi việc. Bạn trí tuệ thế nào cũng không thể hiểu hết được lòng người. Dù bạn thanh bạch trong sáng cũng không thể tránh khỏi những nghi ngờ vụn vặt.

Cho nên điều gì cần buông thì nên buông xuống, đừng cố gắng đeo mang; chuyện gì nên quên thì hãy quên đi, đừng cứ mãi ghi nhớ. Đừng níu kéo một câu chuyện quá lâu, thời gian lâu ngày sẽ ảnh hưởng tới những việc khác, đêm đến không ngủ được.Tài vật, danh lợi vốn là vật ngoài thân, nếu biết xem nhẹ thì sẽ không mỏi mệt, giấc ngủ sẽ tự động tìm về.
Lời không cần nói thì không nên nói, việc có thể cho qua thì cho qua, cần gì phải phân định rạch ròi hay luận bàn đen trắng? Bởi trên đời, rất nhiều việc, hiểu rõ rồi thì tổn thương thần khí; rất nhiều người, nhìn thấu rồi chỉ tổn thương tâm tình!

Thế gian vốn không có chuyện mọi thứ đều thuận lòng, thôi thì tự tìm chút hợp ý vậy. Không có người thập toàn thập mỹ thì trân trọng chút bình yên trước mặt. Giữ tâm thái lạc quan đối diện tất cả.

Xem nhẹ thì vui vẻ, nhìn thoáng sẽ hạnh phúc, thân tâm đều không bị trói buộc thì đêm đến giấc ngủ cũng nhẹ nhàng.
Trích sách “SỐNG ĐỜI BÌNH AN”
Suối Thông sưu tầm & biên dịch

* Chúc mọi người ngủ ngon nha!

Kính chúc toàn thể quý độc giả và thân hữu Một Năm Mới nhiều sức khỏe, thân an trí lạc, dứt bớt được nhiều điều phiền não và làm được nhiều chuyện thiện lành.

Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn
Sương Lam
(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi- MCTN 794-ORTB 1235-1-7-2025