
Thôi Hộ là một thi nhân đời Đường, chưa rõ ngày sinh ngày mất, sống vào khoảng niên đại Đường Đức tông (742 – 805). Ông tự là Ân công, người quận Bác Lăng, nay là Định huyện, tỉnh Trực Lệ, Trung Hoa. Tương truyền ông vốn là người phong nhã nhưng sống khép kín, ít giao du. Về đường khoa cử lại rất lận đận, Mãi đến năm 796, niên hiệu Trinh Nguyên, Thôi Hộ mới đậu tiến sĩ, làm tiết độ sứ Lĩnh Nam. Ông nổi tiếng nhờ bài thơ 題 昔 所 見 處. Đề Tích Sở Kiến Xứ, còn có tên là Đề Đô Thành Nam Trang (Thơ đề ở ấp phía nam đô thành) với câu chót của một bài thất ngôn tứ tuyệt bất hủ muôn năm: 桃 花 依 舊 笑 東 風 Đào hoa y cựu tiếu đông phong (Hoa đào như cũ còn cười với gió đông).
Khác với Bạch Cư Dị và mấy thi hào thời Đường, Thôi Hộ không dùng thơ thể hứng và thể tỷ để tả liễu mà dùng thể phú để tả chân như bài thơ bất hủ dưới đây:
Nguyên tác Dịch âm
五月水邊柳 Ngũ Nguyệt Thủy Biên Liễu
結根挺涯涘 Kết căn đĩnh nhai sĩ,
垂影覆清淺 Thùy ảnh phúc thanh tiên.
睡臉寒未開 Thụy kiểm hàn vị khai,
懶腰晴更軟 Lãn yêu tình cánh nhuyễn.
搖空條已重 Dao không điều dĩ trọng,
拂水帶方展 Phất thủy đới phương triển.
似醉煙景凝 Tự túy yên cảnh ngưng,
如愁月露泫 Như sầu nguyệt lộ huyễn.
絲長魚誤恐 Ty trường ngư ngộ khủng,
枝弱禽驚踐 Chi nhược cầm kinh tiễn.
長別幾多情 Trường biệt kỷ đa tình,
含春任攀搴 Hàm xuân nhậm phàn khiên.
Dịch nghĩa
Rễ cây bện với nhau mọc xỉa ra đất ven bờ.
Bóng cây rũ xuống soi mình trên dòng nước xanh.
(Khuôn mặt) ngái ngủ chưa chịu thức mở.
Cành lười biếng càng thêm vẻ ẻo lả,
Dao động trong khoảng trời, nhánh cây như quá mệt nhọc,
Quét nhẹ mặt nước (lăn tăn) trôi dạt.
Như say khói sóng, ánh dương ngừng lại
Cùng với nỗi sầu vầng trăng nhỏ lệ (sương đêm).
Tơ dài khiến cá lầm sợ hãi.
Nhành cây yếu lũ chim bay loạn cả lên.
Chia tay biền biệt biết bao là tình (tục bẻ cành liễu tặng nhau lúc chia ly)
Ôm giữ mùa xuân mặc kệ (ai) muốn nhổ đi.
Dịch thơ
Tháng Năm Liễu Rủ Ven Bờ
Rễ xoắn xuyên bờ đất.
Bóng rủ soi nước xanh.
Như thiu thiu giấc lành,
Cành biếng lười nghiêng ngả.
Vươn vai như mệt lả,
Quét nước lăn tăn trôi.
Say khói nắng ngừng lại.
Trăng u buồn lệ rơi.
Tơ dài hù cá chạy.
Cành mềm chim loạn bay.
Đa tình khi ly biệt,
Giữ mãi xuân mặc ai…
Lời bàn
Rất nhiều thi hào đời Đường đã tả liễu bằng thơ tứ tuyệt hoặc bát cú. Ít ai dùng một bài dài 12 câu để tả liễu như Thôi Hộ. Ông tả tỉ mỉ từ gốc rễ tới cành lá, từ nét yểu điệu của thục nữ (quét mặt nước gây sóng lăn tăn) tới lối hù dọa như phù thủy (sợi dài khiến cá tưởng dây câu bỏ chạy). Ưu điểm đặc biệt nhất của liễu (giữ mãi xuân xanh cho những kẻ biệt ly) thì được ông dành cho hai câu kết; đó là tục lệ bẻ cành liễu tặng nhau khi chia tay, chúc nhau xanh tươi mãi để hy vọng sau này còn gặp lại nhau.
Tóm lại họ Thôi đã dùng thơ tả chân để tả liễu, tức là thể phú, không có nghĩa bóng như Bạch Cư Dị (dùng thể hứng hoặc thể tỷ để gán cho liễu một sắc thái đặc biệt nào đó (như một giai nhân, một gái giang hồ….).
Con Cò
***
Liễu Bên Bờ Nước Tháng NămRễ bén ven bờ nướcLiễu rủ soi dòng xanhNgái ngủ chưa thức tỉnhEo lười lả thân cànhĐong đưa hoài trĩu nặngPhơ phất sóng nước quanhKhói say vầng dương đọngSương sầu lệ trăng thanhCành yếu chim khiếp sợTơ dài cá lặn nhanhBiệt ly tình bịn rịnDẫu xuân mặc bẻ cành!Kim Oanh***
Tháng Năm Cây Liễu Ven Bờ1-
Bén rễ vươn bờ bến
Che nước trong bóng rủ
Ngái ngủ mặt chưa khoe
Eo lười thân nắng rũ
Trời lay cành đã nặng
Quét nước giải lụa mở
Như say cảnh đọng sương
Như sầu móc trăng rỏ
Tơ dài cá hoảng sợ
Cành yếu chim kinh nỏ
Chia xa biết bao tình
Hơi xuân mặc vin nhổ
2-
Nơi bờ bãi cành vươn rễ phủ
Nước cạn trong bóng rủ an lành
Lá ngái ngủ, chưa nở xanh
Thân mềm yếu gặp nắng hanh ngại ngùng
Cành trĩu nặng không trung lay động
Giải lụa giăng trải rộng quét sông
Như say mờ khói sương ngưng
Như sầu hạt móc rưng rưng trăng thề
Liễu tơ căng cá về khiếp sợ
Cành liễu mềm chim ngỡ cung tên
Biệt xa biết mấy đa tình
Hàm xuân cũng mặc vin cành bẻ cây!Lộc BắcFev26
***
Tháng Năm Liễu Rủ Bờ HồLiễu xanh bám rễ ven bờUyển chuyển nghiêng dáng soi hồ nước trongE ấp mê ngủ lá nonDưới nắng tha thướt cành thon diễm kiềuTháng Năm nhành lá ra nhiềuXòe trên mặt nước mỹ miều lụa tơTrong sương dáng liễu mộng mơTrăng vàng nước đọng vẩn vơ lệ sầuRủ bóng cá sợ cần câuMềm mại chim chóc bay mau tránh cànhBiểu tượng ly biệt liễu xanhChia tay bên gốc tặng anh vài nhànhThanh Vân***
Đang từ bài Đề Đô Thành Nam Trang, nhẹ nhàng, lãng mạn, dễ thương, thì nhẩy qua bài này, chữ cuối câu là vần trắc,nghe không êm dịu, lại khó hiểu…BS tra cứu lung tung, đọc nhiều lần, coi bài của ÔC, góp ý của các anh Giám và Tâm mới hiểu một chút… Tóm lại là rất vất vả.
Anh Giám cho rằng Thôi muốn tả một người, vì 2 câu có chữ kiểm và yêu, BS không đồng ý: đó là Thôi nhân cách hóa cây liễu, chứ cả bài không thấy câu nào làm cho mình nghĩ tới một người, chỉ thấy cành, tơ, rễ…
Những chữ khó khá nhiều:
-Sĩ: bờ nước.
-Thuỳ: buông rủ xuống.
-Phúc: trái ngược lại, xét lại, báo lại, đổ ụp xuống.
-Tiên: tiếng nước chảy mau, ào ào
-Thuỵ: ngủ.
-Kiểm : mặt.
-Lãn: lười.
-Yêu: eo lưng.
-Tình, với bộ nhật : trời trong, nắng.
-Dao: lấy động, quấy nhiễu.
-Điều: cành nhỏ.
-Triển: mở ra ( khai triển ) , họ người.
-Tư: giống như, so sánh, hình như.
-Ngưng: đọng lại, xong.
-Huyễn, bộ thủy : nước nhỏ xuống.
-Tiễn: đạp lên ( đậu ), đánh, cắt lấy.
-Phàn, như Pha : vịn, nắm lấy, leo trèo, kéo lại, bẻ.
-Khiên: nhổ ( cây, cỏ..)
Liễu Bên Bờ Nước Tháng Năm
Rễ ôm bên bờ nước,
Rủ bóng xuống sông xanh,
Ngái ngủ, mặt chưa tỉnh,
Eo lười, cây mong manh,
Đong đưa, cành nghe nặng,
Chạm nước, sóng vờn quanh,
Tuý luý, ngưng cảnh khói,
Trăng buồn, sương long lanh,
Tơ dài, cá sợ hãi,
Cành yếu, chim loanh quanh,
Chia tay, tình lai láng,
Xuân bị nhổ cũng đành.
Bát Sách.
(Ngày 31/01/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm: Dịch thơ:
五月水邊柳 Ngũ Nguyệt Thủy Biên Liễu Liễu Tháng Năm
崔護 Thôi Hộ
結根挺涯涘 Kết căn đĩnh nhai sĩ Tháng Năm liễu bên bờ,
垂影覆清淺 Thùy ảnh phúc thanh tiên Bóng rủ như đang mơ.
睡臉寒未開 Thụy kiểm hàn vị khai Mặt ngủ còn chưa tỉnh,
懶腰晴更軟 Lãn yêu tình cánh nhuyễn Nắng ấm eo nhởn nhơ.
搖空條已重 Dao không điều dĩ trọng Đung đưa cành lá nặng,
拂水帶方展 Phất thủy đới phương triển Lướt nước dải lụa tơ
似醉煙景凝 Tự túy yên cảnh ngưng Say khướt trong sương khói,
如愁月露泫 Như sầu nguyệt lộ huyễn Dưới trăng sương lệ mờ.
絲長魚誤恐 Ty trường ngư ngộ khủng Nhánh dài cá sợ hãi,
枝弱禽驚踐 Chi nhược cầm kinh tiễn Cánh mềm chim ngẩn ngơ.
悵別幾多情 Trướng biệt kỷ đa tình Biệt ly tình khốn cảm,
含春任攀搴 Hàm xuân nhậm phàn khiên. Mặc khách bẻ cành trơ.
Sách cổ nhất có đăng bài thơ là Đường Thi Kỷ Sự - Tống - Kế Hữu Công 唐诗纪事-宋-计有功 và cho bài thơ là của Trương Hựu Tân 张又新.
Sách Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐诗-清-圣祖玄烨 cho tác giả có thể là Thôi Hộ.
Ghi chú:
nhai sĩ: ven sông.
thụy kiểm: miêu tả những chiếc lá liễu xòe ra.
thụy kiểm hàn vị khai: lá liễu khép nép chưa xòe hết vào buổi sớm như gương mặt lạnh mặt thiếu nữ chưa tỉnh giấc nồng
lãn yêu: lắc lư nhẹ nhàng, miêu tả sự mềm mại của cành liễu
lãn yêu... nhuyễn: hình ảnh cành liễu uốn lượn như vòng eo của thiếu nữ đang vươn vai
yên cảnh: cảnh mờ sương, một khung cảnh mờ ảo, như trong mơ.
nguyệt lô huyễn: ánh trăng và sương long lanh, những giọt sương long lanh dưới ánh trăng
ngư ngộ khủng: cá sợ hải, chi tiết tinh tế do tơ liễu rủ xuống nước làm cá ngỡ là lưới, dây hay lưởi câu nên sợ hãi
phàn khiên: bẻ hoặc giật cành cây
nhậm phàn khiên: theo phong tục xưa, người ta thường bẻ cành liễu để tiễn biệt người đi xa. Dù liễu không tình nhưng vẫn chấp nhận để người ta bẻ cành, làm tròn nhiệm vụ của một sứ giả biệt ly đầy tình cảm.
Dịch nghĩa:
Liễu Bên Bờ Sông Vào Tháng Năm
Rễ cây bám chặt và vươn mình nơi bờ bãi.
Bóng liễu rủ xuống che phủ làn nước trong xanh và nông.
Lá liễu như mặt người đang ngủ còn vương chút khí lạnh nên chưa mở mắt (chưa xòe ra)
Dưới ánh nắng, cành liễu uốn lượn như người đẹp vươn vai ẻo lả, trông càng mềm mại dịu dàng.
Đung đưa giữa không trung, những cành lá đã trở nên rậm rạp, nặng nề.
Cành liễu lướt trên mặt nước như dải lụa bắt đầu xòe rộng.
Trong khói sương mờ ảo, dáng liễu như đang say khướt, ngưng đọng giữa cảnh vật.
Dưới ánh trăng, sương đọng trên lá như giọt lệ sầu cảm.
Nhành liễu dài rủ xuống nước khiến lũ cá sợ hãi vì lầm tưởng là dây câu.
Cành liễu quá yếu mềm khiến chim chóc kinh hãi không dám đậu lên.
Liễu vốn là biểu tượng của sự ly biệt, chứa đựng biết bao tình cảm.
Dẫu đã sang hè nhưng vẫn còn vương nét xuân, mặc cho người ta vịn cành bẻ lá.
Bài thơ Ngũ Nguyệt Thủy Biên Liễu miêu tả vẻ đẹp của rặng liễu vào cúi xuân, đầu mùa hè (tháng 5 âm lịch). Dưới ngòi bút tinh tế và giàu tính hình tượng của thi nhân, cây liễu không chỉ là thực vật mà hiện lên như một trang tuyệt thế giai nhân với vẻ đẹp ẻo lả, mềm mại và đa tình.
Ba ý nghĩa chính:
Nghệ thuật nhân hóa: thi nhân đã sử dụng những từ ngữ vốn để nói về người như: thụy kiểm=mặt ngủ, lãn yêu=lưng ẻo lả, tự túy=như say, như sầu=như buồn, để thổi hồn vào cây liễu.
Vẻ đẹp u nhã: Bài thơ mang phong cách đặc trưng của một bài tiễn biệt - diễm lệ, mong manh và có chút buồn man mác.
Điển tích "chiết liễu": Câu cuối nhắc đến phong tục bẻ liễu tiễn người đi xa của người Trung Hoa xưa. Cây liễu tháng Năm dù đã xanh tốt nhưng vẫn mang thân phận của kẻ phải chia ly, âm thầm chịu đựng việc bị người đời hái bẻ cành để gửi gắm tình cảm.
Dịch thơ:
Liễu Tháng NămThể thất ngôn: Tháng Năm bên nước liễu đơm xanh,
Bờ bãi vươn thân rễ bám quanh.
Bóng rủ che mờ làn nước biếc,
Mặt ngái chưa khai lạnh phủ nhành.
Lưng eo dưới nắng thêm mềm mại,
Cành dẻo đung đưa giữa thiên thanh.
Phơ phất mặt hồ tơ lụa dải,
Khói sương như rượu đời mông manh.
Dưới trăng sương đọng sầu lóng lánh,
Cá sợ lầm câu liễu buông mành.
Nhành yếu chim kinh không dám đậu,
Ly biệt đau buồn nhớ ngày xanh.Thể song thất lục bát: Bờ tháng năm xanh um rặng liễu,
Rễ bám sâu tha thước bên ghềnh.
Bóng rủ nước biếc mông mênh,
Mặt như ngái ngủ lòng bền chưa mở.
Nắng vừa lên vươn vai hớn hở,
Cành trĩu mây nhún nhảy tầng không.
Lướt hồ dải lụa thong dong,
Sương khói mơ màng say trong cảnh đọng.
Dưới ánh trăng lệ sầu vương bóng,
Tơ liễu dài làm cá sợ câu.
Cành mềm chim ngó trước sau,
Mặc người bẻ nhánh tiễn nhau chí tình.
Phụ đính: Cây liễu
Trong thơ ca và văn hóa Trung Hoa, cây liễu (柳, liǔ) là một biểu tượng đa diện, thường gắn liền với sự chia ly, tượng trưng vẻ đẹp phụ nữ và sự xuất hiện của mùa xuân. Ý nghĩa của nó bắt nguồn từ đặc điểm tự nhiên, cách chơi chữ và truyền thống văn học kéo dài nhiều thế kỷ.
Dưới đây là 4 ý nghĩa văn hóa quan trọng nhất của cây liễu:
1. Biểu tượng của sự chia ly và luyến lưu
Sự liên kết văn hóa nổi bật nhất là với những lời tạm biệt.
• Chơi chữ đồng âm: Từ liễu (柳 liǔ) có âm gần giống với từ lưu=ở lại (留 liú). Tặng một cành liễu là lời cầu xin thầm lặng cho người bạn hoặc người thân yêu sắp ra đi hãy ở lại.
• Phong tục lịch sử: Từ thời nhà Hán, người ta thường tiễn bạn bè ở những cây cầu và tặng họ một cành liễu chiết liễu làm quà chia tay. Đặc biệt là cầu Ba ở Trường An thời Đường là nơi nổi tiếng với phong tục tiễn biệt này, đến mức người ta nói rằng những rặng liễu quanh cầu gần như bị bẻ trụi mỗi mùa chia tay.
• Di sản văn học: Chủ đề này xuất hiện từ rất sớm trong Kinh Thi (Shijing), nơi một người lính ra trận quan sát, "Khi chúng ta lên đường, những cành liễu đung đưa nhẹ nhàng trong gió".
2. Biểu tượng cho vẻ đẹp của phụ nữ
Cành liễu mềm mại, thướt tha thường được dùng để ca ngợi người phụ nữ:
• Đặc điểm hình thể:
-Liễu yêu (vòng eo liễu): Để chỉ những người phụ nữ có vòng eo thon nhỏ, mềm mại như cành liễu trước gió.
-Liễu diệp mi (mày lá liễu): Miêu tả đôi lông mày dài, thanh mảnh và cong vút như lá liễu, một tiêu chuẩn vẻ đẹp của phụ nữ Á Đông xưa.
• Đặc điểm tính cách: Khả năng uốn cong mà không gãy của cây là một phép ẩn dụ cho sự kiên cường nhẫn nại của phụ nữ - người trông có vẻ yếu đuối mềm mại, nhưng lại sở hữu sức mạnh nội tâm to lớn.
3. Sứ giả của mùa xuân và sự hồi sinh
• Sức sống: Liễu là một trong những loài cây đâm chồi nảy lộc sớm nhất khi mùa đông vừa dứt, là sức sống của thiên nhiên sau mùa đông, là sứ giả chính của mùa xuân.
• Sự đổi mới: Những chồi non xanh tươi tượng trưng cho sự đổi mới của cuộc sống và .
• Nguồn cảm hứng: Các nhà thơ như Hạ Tri Chương nổi tiếng đã so sánh những chiếc lá liễu non với "những dải ngọc bích" được cắt bởi "lưỡi kéo" của gió xuân đầu mùa.
4. Ý nghĩa tâm linh
• Nỗi nhớ quê hương và sự hoài niệm: Vì cây liễu thường mọc trong vườn và ven sông ở quê nhà, hình ảnh của chúng thường khơi gợi những cảm xúc sâu sắc về nỗi nhớ quê hương đối với những người đi xa nhà.
• Biểu tượng tôn giáo: Trong Phật giáo, Bồ Tát Quán Thế Âm thường cầm cành dương liễu để rảy nước cam lộ cứu độ chúng sinh. Cành liễu ở đây tượng trưng cho đức tính nhẫn nhục, dẻo dai.
• Xua đuổi tà ma: Trong tín ngưỡng dân gian cổ đại, cành liễu được cho là có thể xua đuổi tà ma và thường được đặt ở cửa ra vào để bảo vệ gia đình và cầu bình an.
Fifth-Month Willows by the Water by Cui Hu
Their roots take hold and rise up along the river’s edge.
Hanging shadows drape over the clear, shallow water.
Their "sleeping faces" (buds/leaves) remain closed against the chill.
Their "lazy waists" (supple branches) grow even softer in the clearing sun.
Swaying in the void, the long twigs are already heavy with foliage.
Brushing the water, their green ribbons are just beginning to unfurl.
They seem intoxicated as the misty scenery settles.
They seem sorrowful as the moonlight glistens like falling tears.
Their long silk-like strands frighten the fish, who mistake them for lines.
Their weak branches startle the birds, who fear to tread on them.
Filled with the melancholy of a many-themed parting.
Brimming with the spirit of spring, they allow themselves to be plucked.
Key Themes and Analysis
Anthropomorphism: Cui Hu gives the willow human-like qualities. He describes them as having "faces" and "waists" and experiencing emotions like "laziness," "drunkenness," and "sorrow."
Sensory Imagery: The poem captures the transition of the seasons. The "cold" of earlier spring (Line 3) meets the "sun" of the fifth month (Line 4), showing the willow at its most lush and heavy.
Interaction with Nature: The willow is so lifelike and delicate that it affects the surrounding wildlife. The "fear" of the fish and birds highlights the willow's ethereal, thread-like presence.
Symbolism of Parting: In Chinese culture, "plucking the willow" (zhe liu) is a traditional gesture of farewell. The final lines refer to this tradition, where the tree "submits" to being plucked as a symbol of the lingering "spring" (affection) between friends or lovers saying goodbye.
Phí Minh Tâm
***
Góp ý:
Toàn vài thơ ngũ ngôn được xem như là một ví dụ của tài nhân cách hóa tĩnh vật nhưng hai câu cuối cho người đọc thấy rằng có thể Thôi Hộ mượn cảnh để tả người. Cảnh đây là cảnh chia tay giữa một người con gái và ai đó.
Từ 柳=liễu ký âm pinyin /liǔ/ là từ đồng âm của 留=lưu cũng ký âm pinyin /liǔ/ nên liễu thường được dùng làm hình tượng cho sự mong muốn được lưu giữ người đi ở lại. Từ đó có tục bẻ liễu - làm rúng động chim trên cây và cá dưới nước trong hai câu 9 và 10 - nhưng người đọc cần nhớ rằng người con gái bẻ liễu để tước vỏ của cành liễu, uốn tròn thành một cái vòng đeo vào tay người đi. Vòng là 鐶=hoàn trong chữ Hán nhưng 鐶 có một từ đồng âm 還=hoàn với nghĩa trở về - và hai từ đều ký âm pinyin là /huán/ nên điển cố bẻ liễu là bằng chứng của lòng mê tín của người Hoa Lục phản ảnh qua lối dùng chữ của họ.
Bài thơ không tả người nhưng những từ 臉=kiểm (mặt) và 腰=yêu (lưng) là hai từ dùng bộ 肉=nhục để nói về các phần cơ thể con người nên người đọc có thể hiểu rằng thi nhân họ Thôi đang tả một người con gái lưng eo và khuôn mặt buồn ngủ - nghĩa nguyên thủy của 睡=thụy là ngủ gục, có thể vì đã thức trắng đêm hôm qua - Nếu từ 淺 cuối câu 4 phát âm là tiên thay vì thiển (淺 có 5 cách phát âm trong pinyin qiǎn, jiān, jiàn, cán, zàn) với nghĩa (nước) chảy xiết thì người đọc cỏ thể hình dung rằng người con gái đang tiễn người yêu xuống thuyền bên bờ sông.
Người con gái này không thể là người với "nhân diện đào hoa tương ánh hồng" của bài Đề Đô Thành Nam Trang nên thi sĩ họ Thôi phải là một giống đa tình.
Huỳnh Kim Giám***
@ Ý kiến của Phí Minh Tâm:
Có thể nào Thôi Hộ bị nghĩ là đa tình vì bị nhầm lẫn với một người khác chăng?
Sách cổ nhất đăng bài thơ là Đường Thi Kỷ Sự - Tống - Kế Hữu Công 唐诗纪事-宋-计有功 cho bài thơ là của Trương Hựu Tân 张又新.
Sách Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐诗-清-圣祖玄烨 mới cho tác giả có thể là Thôi Hộ.
Có lẽ trước đây vì không đọc được thêm sách đời Tống, mà chỉ dựa vào sách nhà Thanh, nên người ta đề quyết là thơ Thôi Hộ mà không ghi chú gì thêm. pmt
@mirordor trả lời:
Có thể như anh nói nhưng tôi khoán việc tìm và đối chiếu sử liệu cho anh lâu rồi. Ta chỉ có 6 bài thơ gán cho Thôi Hộ nên khó mà có thể suy ra lối dùng chữ, hành văn và diễn tả của ông ta như thế nào. Đến các năm sinh tử hay tuổi đổ tiến sĩ ta cũng không biết!
Huỳnh Kim Giám