tiêu đề Nhãn
- BIÊN KHẢO
- CÂU ĐỐI
- CỔ THI
- GIA CHÁNH
- GIẢI TRÍ
- HÌNH ẢNH HỘI NGỘ
- HÌNH ẢNH NAY
- HÌNH ẢNH XƯA
- HỘI HỌA
- KHOA HỌC
- LƯU NIỆM
- LỊCH SỬ
- LỜI HAY Ý ĐẸP
- NHẠC
- SƯU TẦM
- SỨC KHOẺ
- THƠ
- THƠ CẢM TÁC
- THƠ DIỄN NGÂM
- THƠ DỊCH
- THƠ NHẠC
- THƠ PHỔ NHẠC
- THƠ SƯU TẦM
- THƠ TRANH
- THƠ TRANH NGHỆ SĨ
- TIN BUỒN
- TIN VUI
- VĂN
- VŨ HỐI THƯ HỌA
- VƯỜN THƠ VIÊN NGOẠI
- XƯỚNG HỌA
- YOUTUBE
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Thành Sơn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Thành Sơn. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2026
Tóm Tắt Tiểu Sử Của Ông Nguyễn Thành Sơn
Nguyễn Thành Sơn (1940- 2026)
Ông Nguyễn Thành Sơn sinh ngày 10 tháng 4 năm 1940 tại xã Phú Quới, tỉnh Vĩnh Long, trong một gia đình có 11 anh chị em.
Từ năm 1959 đến năm 1966, ông là giáo viên tiểu học và giáo sư trung học. Trong thời gian ấy, ông hoàn tất chương trình Cử nhân Việt văn tại Viện Đại học Cần Thơ.
Năm 1966, theo lệnh tổng động viên, ông nhập ngũ, tốt nghiệp Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khóa 23, và phục vụ trong binh chủng Pháo binh với cấp bậc Trung úy.
Sau khi giải ngũ, ông trở lại với nghề giáo, giảng dạy tại các trường Trung học Thủ Khoa Huân, Tống Phước Hiệp, Đại học Sư phạm Vĩnh Long và đồng thời giữ chức Giám học Trường Trung Học Bán Công Nguyễn Thông.
Ngoài sự nghiệp giáo dục, ông cùng gia đình xây dựng trại chăn nuôi gà. Bạn bè và thân hữu thường trìu mến gọi ông là: "Sơn Gà."
Sau biến cố năm 1975, ông bị đưa đi cải tạo. Sau khi được trả tự do, ông tiếp tục tham gia các hoạt động phục quốc. Đến năm 1980, trong lần bị bắt thứ hai, ông đã vượt ngục thành công.
Cuối năm 1981, ông đưa cả gia đình vượt biên đến bến bờ tự do.
Định cư tại Hoa Kỳ, ông làm nhiều công việc để nuôi các con ăn học nên người, đồng thời tiếp tục theo học tại City College of San Francisco để trau dồi kiến thức và hòa nhập với cuộc sống mới.
Năm 2009, do di chứng của vết thương từ thời chiến tranh, ông buộc phải cắt bỏ một chân.
Thế nhưng, ông chưa bao giờ đầu hàng số phận. Với nghị lực phi thường, ông bắt đầu viết truyện ngắn, ký sự và hồi ký về nghề giáo, đời quân ngũ và những sinh hoạt bình dị nơi làng quê, được đăng trên các nguyệt san của trường Trung học Thủ Khoa Huân và Đại học Sư phạm Vĩnh Long. Trang nhà Long Hồ Vĩnh Long. Những trang viết ấy không chỉ lưu giữ ký ức của một đời người mà còn gửi gắm những bài học quý báu cho thế hệ mai sau.
Người xưa có câu: "Sống gửi, thác về."
Sau một cuộc đời với biết bao thăng trầm, cống hiến và hy sinh, ông đã thanh thản từ biệt cõi trần vào ngày 20 tháng 6 năm 2026, hưởng thọ 86 tuổi.
Dẫu biết sinh, lão, bệnh, tử là quy luật muôn đời của tạo hóa, nhưng sự ra đi của ông vẫn để lại niềm tiếc thương vô hạn trong lòng gia đình, thân bằng quyến thuộc, bạn bè và tất cả những người từng biết và quý mến ông.
Hôm nay, trong giờ phút tiễn biệt này, chúng con xin cúi đầu kính tiễn Ba về nơi an nghỉ cuối cùng.
Vĩnh biệt Ba. Chúng con mãi mãi thương nhớ và biết ơn Ba
Điếu Văn Tưởng Niệm Ông Nội – Nguyễn Thành Sơn

Kính thưa quý cô bác, anh chị em, cùng toàn thể gia đình và bạn bè có mặt hôm nay.
Đối với những cô chú, bác và anh chị em mà hôm nay con chưa có dịp gặp, con tên là Nhi, và Nguyễn Thành Sơn là ông nội của con.
Trước hết, con xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tất cả mọi người đã không quản đường xa gần đến đây hôm nay để tiễn biệt Ông Nội và cùng tưởng nhớ cuộc đời của ông. Con cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến các cô, các chú – những người con của Ông Nội. Mọi người đã dành biết bao tình yêu thương, công sức và sự tận tụy để chuẩn bị buổi lễ trang trọng và đầy ý nghĩa này.
Con biết những tuần vừa qua là khoảng thời gian vô cùng khó khăn đối với cả gia đình. Mỗi người đều đối diện với nỗi đau theo một cách riêng. Vì vậy, chúng con càng biết ơn hơn khi hôm nay tất cả có thể cùng quây quần bên nhau, để chia sẻ tình yêu dành cho Ông Nội và cùng nhau tưởng nhớ một cuộc đời thật đẹp.
Ông Nội sinh năm 1940 và là người đã trải qua những năm tháng chiến tranh đầy khốc liệt. Ông lớn lên giữa những mất mát mà có lẽ nhiều người trong chúng ta sẽ không bao giờ có thể hình dung hết được. Ông mất cha mẹ và một người em ruột trong một trận bom thảm khốc. Chiến tranh Việt Nam đã buộc ông phải bước vào những trận chiến mà không một người trẻ nào đáng phải trải qua. Sau chiến tranh, ông còn phải chịu những năm tháng tù đày vì là một người lính.
Con có thể dành rất nhiều thời gian để kể về những gian khổ mà Ông Nội đã trải qua. Nhưng con nhắc đến những điều đó không phải để nói về đau thương, mà để mọi người hiểu rõ hơn về con người mà con mong tất cả chúng ta sẽ luôn ghi nhớ.
Ông không chỉ là một người đã chịu đựng quá nhiều mất mát.
Ông là một người luôn chọn hy vọng.
Ông luôn tin rằng ngày mai sẽ tốt đẹp hơn, không chỉ cho chính mình mà còn cho những người ông yêu thương.
Chính niềm hy vọng ấy đã thôi thúc ông rời bỏ quê hương để trốn chạy khỏi sự đàn áp chính trị. Cùng với các con của mình – ba con, các cô và các chú – ông đã chấp nhận một hành trình vượt biển vô cùng hiểm nguy để đi tìm tự do. Sau tất cả, ông đã tìm được một mái nhà mới trên một vùng đất hoàn toàn xa lạ.
Nếu không có quyết định đầy can đảm ấy của Ông Nội, sẽ không có chúng con của ngày hôm nay.
Cuộc sống mà chúng con đang có, những cơ hội mà chúng con được trao, và tương lai mà chúng con được quyền xây dựng đều có được, một phần nhờ vào lòng kiên cường, sự hy sinh và niềm hy vọng chưa bao giờ tắt của ông.
Đó là điều cả gia đình sẽ mãi mãi biết ơn.
Mọi người sẽ luôn nhớ đến Ông Nội vì con đường mà ông đã mở ra cho cả gia đình. Nhưng với riêng con, con sẽ luôn nhớ đến người ông mà con có may mắn được lớn lên bên cạnh.
Ông là người rất thích pha trò, đôi khi còn là những câu đùa khá 'đen'. Ông luôn biết cách làm mọi người bật cười.
Ông cũng là người yêu thương các cháu bằng tất cả sự dịu dàng và bao dung. Ông luôn chiều chuộng chúng con theo cách rất riêng của mình.
Ông thích ngồi trò chuyện với những người bạn già, cười thật sảng khoái khi nhắc lại những kỷ niệm cũ. Ông cũng tìm thấy niềm vui trong việc viết lại những câu chuyện của cuộc đời mình. Và biết đâu đấy, có lẽ Ông Nội đã nổi tiếng trên mạng rồi cũng nên, dù đến giờ gia đình vẫn chưa thể chính thức xác nhận.
Nhưng có lẽ điều con sẽ nhớ nhất về ông là hình ảnh rất quen thuộc: Ông lặng lẽ ngồi đó, trên tay là một ly rượu, mỉm cười nhìn các con và các cháu cùng ăn uống, trò chuyện và cười đùa trong cùng một căn phòng.
Ông không cần điều gì lớn lao. Chỉ cần nhìn thấy gia đình đông đủ, bình an và hạnh phúc, như vậy cũng đã đủ làm ông vui.
Ngay cả trong những ngày cuối đời, Ông Nội vẫn để lại cho gia đình chúng con một món quà vô giá: thêm một cơ hội để cả đại gia đình được ở bên nhau.
Chúng con cùng xem lại những bức ảnh của các chuyến đi năm xưa. Cùng tập thể dục trong phòng khách. Cùng nấu món canh chua mà ông yêu thích. Và đơn giản nhất là được ngồi bên cạnh ông.
Đó sẽ mãi là những ký ức quý giá nhất mà gia đình chúng con mang theo suốt cuộc đời.
Con tin rằng, nếu có một điều Ông Nội muốn tất cả chúng con luôn ghi nhớ, thì đó là:
Hãy tha thứ nhanh hơn.
Hãy yêu thương nhiều hơn.
Và hãy cười nhiều hơn.
Khi nhớ về Ông Nội, con mong tất cả chúng ta không chỉ nhớ đến những gian khổ mà ông đã vượt qua, mà còn hãy cùng nhau trân trọng món quà vô giá là 86 năm cuộc đời mà ông đã sống và những ký ức đẹp đẽ ông đã để lại cho tất cả chúng ta.
Ông Nội ơi,
Con biết hôm nay bài điếu văn này được đọc hoàn toàn bằng tiếng Anh.
Nhưng con hy vọng trên đó có sẵn Google Dịch trực tiếp, vì con biết Ông ghét nhất là khi tụi con không nói tiếng Việt.
Nhưng dù bằng ngôn ngữ nào đi nữa, điều con muốn nói vẫn luôn như nhau.
Được làm cháu nội của Ông là niềm vinh dự lớn nhất trong cuộc đời con.
Và nếu có thêm bất kỳ một kiếp nào nữa, con vẫn sẽ luôn chọn Ông làm Ông Nội của con.
Con cảm ơn Ông.
Tưởng Niệm Và Tiễn Biệt Ba Nguyễn Thành Sơn
Hôm nay, trong giờ phút tiễn biệt ba, lòng chúng con nghẹn ngào thương tiếc, bởi từ đây gia đình đã mất đi người cha kính yêu. Dù đã chuẩn bị tinh thần từ những ngày ba lâm bệnh, nhưng đến hôm nay chúng con vẫn chưa thể chấp nhận được sự thật rằng ba đã rời xa chúng con mãi mãi.
Tuổi thơ của ba không được đầy đủ như nhiều người. Ba đã lớn lên trong sự nghèo khó, sớm nếm trải những vất vả của cuộc đời. Chính những tháng năm ấy đã rèn cho ba ý chí mạnh mẽ, sức chịu đựng, chịu khó và đức hy sinh vì gia đình.
Suốt cuộc đời, chúng con hiếm khi nghe ba nói những lời yêu thương, cũng không có nhiều cái ôm hay sự vỗ về. Ba là người cha nghiêm khắc, ít nói, đôi khi khiến chúng con sợ hơn là gần gũi. Nhưng càng lớn lên, chúng con càng hiểu: ba không cần thể hiện tình cảm bằng lời nói, vì ba đã chọn cách yêu thương bằng hành động, bằng đôi vai gầy gánh vác, bằng những ngày làm việc không nghỉ ngơi và bằng sự hy sinh mà chính ba cũng không bao giờ nhắc đến.
Những năm tháng cuối đời, bệnh tật đã lấy đi sức khỏe của ba. Nhìn ba từng ngày chống chọi với đau đớn, lòng chúng con xót xa vô hạn. Chúng con thương ba vì đã chịu đựng quá nhiều mà không một lời than trách. Ba hãy yên nghỉ. Từ nay không còn những đêm mất ngủ vì đau nhức, không còn những ngày tháng mệt mỏi vì bệnh tật. Ba hãy thanh thản ra đi, buông bỏ mọi lo âu và phiền muộn của kiếp người.
Dù biết cuộc đời là cõi vô thường, có đến rồi có đi, có hợp rồi có tan, nhưng sự ra đi của ba vẫn khiến lòng chúng con quặn thắt và tiếc thương.
Ba đã dành cả cuộc đời cho gia đình, còn chúng con sẽ dành phần đời còn lại để nhớ về ba, lưu giữ những kỷ niệm và tiếp tục sống tốt, như điều ba luôn mong muốn. Ba hãy thanh thản an nghỉ. Chúng con vĩnh biệt ba!
Nguyện cầu hương linh ba nương nhờ Phật lực tiếp dẫn, an nhiên vãng sinh về cõi Cực Lạc.
Chúng con kính tiễn ba.
Nam mô A Di Đà Phật.
The Master Gardener’s Legacy By Stacey Brown - Di Sản Của Người Làm Vườn Nguyễn Thành Sơn
.png)
They say that love requires spoken words.
What if English failed or Vietnamese blurred?
But Ba, our language grew inside the soil.
We spoke in love of plants, patience, and toil.
Most visits to Ma and Ba’s started the same:
Excited smiles, warm hugs, a playful poke of his cane.
Then off to the garden we together would go,
Pride beaming for the vegetables and roses you’d grow.
Weeding and pruning, lessons from your gentle hand,
That life returns blessings from the seeds that we plant.
You planted Honor,
With quiet strength time simply cannot erase.
It grows in every branch, every flower,
With dignity and grace.
Honor bloomed in the loving care from Anh Quỳnh, cousin Minh Đức, Chị Nguyệt.
Honor and courage held you through your last breath.
You planted Character,
Its roots spread far and wide,
Long before your peach tree and the flowering Mai.
You never saw an "in-law," but welcomed us as your own,
Shaping the family you grew, with character carved in stone.
You planted Determination,
A resilient garden in the droughts and the rains.
By Stacey Brown
Eulogy For Ông Nội - Nguyễn Thành Sơn
Hello everyone. For those of you I haven't had the privilege of meeting yet, my name is Nhi, and Nguyễn Thành Sơn was my grandfather—my ông nội.
Before I begin, I’d like to take a brief moment to thank each and every one of you for traveling from near and far to honor Ông Nội and celebrate the life he lived. I also want to express my deepest gratitude to his children—my aunts and uncles. You have poured so much love, care, and effort into planning and preparing this beautiful service to honor Ông Nội. I know how difficult these past few weeks have been as each person grieves in different ways, and our entire family is so grateful we can come together once more to share our love for him and remember him.
Ông Nội was born in 1940, and he was no stranger to war. He grew up witnessing immense tragedies some of us in this room will never begin to understand—this includes losing his parents and a sibling to a mass bombing. The Vietnam War, in particular, forced him to fight in battles no young person should ever have to experience, and in the midst of this, he was also incarcerated as a soldier.
I could speak at length about the hardships he faced, but I bring this up to shed light on how I hope Ông Nội will be remembered. He wasn’t just someone who faced tremendous heartache, but someone who fiercely embraced hope and the possibilities of a better life for himself and the people he loved. This hope led him to escape political persecution. Alongside his children—my dad, uncles, and aunts—he took the immense risk to flee by boat, eventually finding refuge in a new, foreign country. Without Ông Nội, none of us would be here today. We are able to pursue the lives that we lead, in part, because of his unwavering hope in the midst of so much loss.
Ông Nội will be remembered for the path he paved for our family, but as his granddaughter, I will also hold tightly to the person I got to witness and grow up with. A man who allowed himself to make jokes—at times even dark ones. A person who learned how to love deeply and be soft with his grandchildren. A man who chuckled often when catching up with old friends. Someone who didn’t speak much, but found solace in writing his stories – he might even be internet famous, though we can’t confirm. And most importantly, he was a grandfather and a dad who found quiet comfort simply watching his children and grandchildren eat, play, and laugh in one room—of course, with a glass of wine in his hand.
Even during his final days, he gifted us a moment to come together as a family to be with him—laughing at old vacation photos, doing exercises in the living room, cooking canh chua together, and spending precious time together with him as a family.
I’d like to believe that if there’s anything Ông Nội would want us to remember, it is this: forgive faster, love fiercely, and laugh often. When we think about Ông Nội, let’s continue to laugh and embrace the gift of the [86] years of life and memories he offered us.
Ông Nội, I know this was all in English, but I hope there’s a live Google Translator up there since I know how much you hate it when we don’t speak Vietnamese. Still, I want you to know — it has been an honor to be your cháu nội, and I would gladly choose you to be my Ông Nội again in every single lifetime. Thank you.
Thân Bằng Quyến Thuộc Kính Tưởng Nhớ Bác Nguyễn Thành Sơn

KÍNH TƯỞNG NHỚ
BÁC NGUYỄN THÀNH SƠN
1940 – 2026
“Có những cuộc chia ly không phải là kết thúc, mà là sự khởi đầu của những ký ức sẽ mãi được nâng niu.”
Dẫu biết sinh tử là quy luật của cuộc đời, sự ra đi của Bác Nguyễn Thành Sơn vẫn để lại niềm thương tiếc và nỗi nhớ khôn nguôi trong lòng gia đình, họ hàng, bạn bè và tất cả những người từng quý mến Bác.
Lời Phân Ưu
Quý bác, cô, dì, dượng, chú, thím, cậu, mợ, Các bạn Phù Đổng và thân hữu, Các bạn học cấp II, Các em tại Việt Nam & Germany: Xin thành kính phân ưu cùng anh Linh, chị Phi Phương và toàn thể gia đình. Nguyện hương linh Bác Nguyễn Thành Sơn sớm an nghỉ nơi miền Cực Lạc.
Tang Gia Ông Nguyễn Thành Sơn Cảm Tạ

LỜI CẢM TẠ
Gia đình chúng tôi xin chân thành cảm tạ quý thân bằng quyến thuộc, quý bạn bè gần xa đã gửi lời phân ưu, lời cầu nguyện, đến thăm viếng và tiễn đưa Bác Nguyễn Thành Sơn về nơi an nghỉ cuối cùng. Sự hiện diện, tình cảm và những lời động viên của quý vị là niềm an ủi to lớn đối với gia đình chúng tôi trong những ngày đau buồn và mất mát.
Đặc biệt, gia đình xin chân thành tri ân Cô Lê Thị Kim Oanh đã tận tình giúp đỡ trong việc đăng cáo phó, lời phân ưu cùng các bài viết tưởng niệm trên trang nhà Long Hồ – Vĩnh Long.
Một lần nữa, gia đình xin thành kính tri ân tất cả quý vị.
Tang quyến Nguyễn Thành Sơn
Thứ Năm, 17 tháng 4, 2014
Đôi Giày Bata
|
Đôi giày đầu tiên tôi mua năm 1954, năm tôi vào Đệ thất công lập sau kỳ thi
tuyển khá gay go. Hai tỉnh Vĩnh Long Sa Đéc gần ngàn thí sinh, trường
chỉ chọn một trăm tuyển sinh chánh thức thêm năm người dự khuyết. Ngày tựu
trường tôi cũng như bao học sinh miệt vườn khác, quần áo lè phè, guốc vông
lộp cộp đứng sắp hàng chọn lớp. Lúc bấy giờ quý vị Giám thị mới cho biết là
tất cả học sinh trường Trung học Nguyễn Thông phải đồng phục: nữ áo dài
trắng, quần đen hay trắng; nam áo sơ mi, quần tây, áo phải bỏ “vô
thùng” đàng hoàng, chân mang giày cho ra vẻ học trò trung học. Phải nói rõ
như thế để quý bạn biết là vì nhà trường bắt buộc nên tôi mới mua giày để đi
học chứ không phải là phần thưởng của ba má tôi tặng cho. Ba má tôi
quan niệm giản dị: đi học thì phải thi đậu, rớt đồng nghĩa với việc tự ý nghỉ
học do vậy không có gì phải thưởng cả.!
Tự lên nhà trọ, với số tiền nho nhỏ trong túi để vừa mua sách vở, quà bánh, nay thêm đôi giày nữa khiến tôi phải đắn đo không ít. Giày vớ, đối với tôi quá lạ lùng và mới mẻ. Kể từ khi biết đi lững chững không nghe mẹ kể là đã mua giày vớ cho tôi, chắc là không có rồi! Sáu tuổi bắt đầu đi học thì cứ chân đất như bao trẻ khác trong xóm. Tối đi ngủ tôi mượn tạm đôi guốc của ba, hay bất cứ của ai trong gia đình rửa chân sạch sẽ rồi leo lên giường. Đôi khi quên hay làm biếng, tôi chỉ làm vài động tác lếu láu bằng cách đưa chân ra ngoài chà xát cho sạch đất, cát rồi chui vô mùng ngủ. Cũng xong. Tôi tới lui nhiều tiệm hy vọng tìm đôi giày mình ưng ý mà giá nhẹ nhàng. Có những đôi giày da, giày săng đan rất quyến rũ, nhưng đắt quá nên tôi lủi thủi tìm tiệm bình dân. Kìa một sạp ngoài trời bán đủ đồ học sinh kể cả dép, giày Bata, tức loại giày thể thao. Trong số đó có đôi màu “ dà”( đỏ sậm ) tương đối rẻ. Người bán, anh Chệt, luôn tô hồng chuốt lục: nào là tất cả học sinh đều mang giày loại này vừa tiết kiệm, khỏi phải đánh phấn hay si-ra, lâu lâu chỉ việc giặt phơi khô rất tiện. Tôi cũng có ý chọn nó vì hợp với túi tiền, mặc dù tôi biết nếu mang vào tôi giống với những ông Bắc Kỳ di cư. Nhưng thôi kệ, đời ta ba đời nó lo gì!. Từ ngày có đôi giày tôi luôn khổ tâm với những bình phẩm của các bạn ngồi gần như: “giống mấy anh Bắc Kỳ thứ thiệt, hơn nữa còn mang dáng vóc của chú chệt bắt heo”. Rồi hắn dẫn chứng là mới hôm qua nhà hắn bán heo, ông chệt mang đôi giày y chang giày của tôi.. Tôi làm thinh chịu trận, nhưng bụng cảm thấy tức, phải chi mình thêm năm bảy đồng nữa bây giờ không bị mấy thằng bạn cà chớn chọc tức thế này.
Về nhà trọ, giang sơn của tôi là một phần của bộ ngựa vừa làm nơi ngủ, học và
làm bài. Nhà chật, đông người, buổi chiều tới lúc đi ngủ, tiếng ồn ào huyên
náo giống như cái chợ nho nhỏ mãi chín giờ tối cảnh náo nhiệt mới giảm
dần. Bấy giờ là thời gian để tôi làm bài và học bài. Muốn tiện nghi hơn
cũng không thực hiện được. Ở tỉnh nầy gia đình tôi chỉ quen nhà bà dì.
Bà là chị họ của má tôi, nhà nghèo, đông con, nhưng tốt bụng. Tôi ở trọ
chỉ đóng chút ít tiền mua thức ăn, gạo thóc tôi mang đến mỗi tháng. Các anh
chị trong nhà ai cũng tốt với tôi. Ông dượng quanh năm đốn củi hoang bên cồn
về bán lấy tiền. Bình thường dượng ít nói, chỉ khi nào nhậu hơi xỉn dượng mới
lèn èng. Một hôm không biết bực tức điều gì, nhè tôi ông trút giận, ông nói
những điều khó nghe.đã vậy ông còn bắt tôi phải xuống ngang Bệnh Viện đội mớ
củi me ông bửa sẵn đem về nhà. Tôi uất ức quá độ, ở trọ có đóng tiền,
sao lại bắt tôi làm những việc như người ăn kẻ ở. Tôi toan phản đối, nhưng
nghĩ tội nghiệp cho dì nên nhịn. Công việc không có gì khó, tôi từng
xay lúa, giã gạo, nhưng vào lúc nầy, lúc đã nhổ giò, bắt đầu để ý đến bạn
khác phái, biết e thẹn khi đứng gần phái nữ. Đội củi khiến tôi mất mặt. Tôi
bất đắc dĩ phải làm, bụng ấm ức không vui. Để tránh gặp mặt bạn bè quen biết,
tôi vác cần xé củi một bên vai lầm lũi rảo bước, thầm vái van đừng gặp ai
quen. Nhưng vừa tới ngã tư Phan Thanh Giản và Võ Tánh trên đường ngược chiều,
bên kia lộ, một cô gọi tôi rối rít:
- Anh Văn, Anh Văn… Tấn thối lưỡng nan, tôi toan giả đò như không nghe đi luôn nhưng tiếng gọi quá quen nên đành dừng lại, để cần xé củi xuống xem ai gọi. Cô gái mừng rỡ: - Đúng là anh rồi, vậy mà em ngỡ mình lầm với ai khác. Tôi đưa tay áo chùi mặt cho bớt mồ hôi và xiết bao mừng rỡ khi biết người gọi mình là Hương, cô bạn chung lớp ở bậc Tiểu học, đã ra tỉnh gần năm nay. Tôi vừa ngượng nhưng vẫn lộ nét mừng vui, pha chút cà riễu: - Hương mà anh cứ ngỡ tiểu thơ nào. - Anh ở gần đây không? Em hỏi thăm mấy nhỏ bạn như Xuân, Sương nhưng không ai biết anh ở đâu cả. - Anh vào học mấy tháng nay, có ghé chị Ba thăm em nhưng không gặp thành thử không biết em ở đâu mà tìm. Em cho anh địa chỉ nhà trọ để khi rảnh anh đến thăm. Từ giã Hương tôi đi thẳng về nhà như trốn chạy. May là Hương nếu người khác chắc Văn khó xử hơn. Hương từng đến nhà Văn nhiều lần, Hương đã thấu hiểu tình cảnh của chàng. Về tới nhà trọ, Văn quăng cần xé củi trước sân, mặt kém vui, lúc nầy nếu ai trêu ghẹo chắc chắn Văn sẽ không nhịn nữa. Cũng may, mọi người đều đi vắng, bây giờ Văn lờ mờ hiểu: vì không còn ai nên Văn bắt buộc phải làm việc vác củi. Thấu hiểu lý do của sự việc khiến chàng như trút bỏ những ấm ức trong lòng. Chàng thay đồ, tắm rửa và không quên giặt đôi giày cho sạch sẽ. Văn cẩn thận phơi nó ở phía sau rồi đến nhà Tôn cùng học bài, làm bài và đấu láo. Văn nghe tâm hồn thư thái, những lời săn đón, lo lắng của Hương khiến chàng thấy ấm áp, yêu đời.
Tôn ở với ông cậu làm Trắc Họa Viên, nhà rộng mênh mông, Tôn và cậu ăn cơm
tháng, cậu Năm của Tôn đi đo đạc suốt ngày, hôm nào không ra ngoài ông cặm
cụi vẽ họa đồ. Đến chiều Văn từ giã bạn về nhà. Gần khuôn viên trường Văn
thấy chú Năm xích lô, người hàng xóm đang lớn tiếng cãi cọ với ông khách mặc
đồ sang trọng, chàng không bỏ dịp may đến tận nơi xem việc gì xảy ra. Chàng
nghe một đoạn của câu chuyện như sau: - Vào Nam Chính phủ chỉ cấp cho chừng ấy tiền, nhận hay không tùy. Ông khách toan đi thẳng vào cổng trường. Chú Năm thường chuyện trò với Văn mỗi khi rảnh nên chàng biết chú là lính Nhảy Dù trong quân đội Pháp, giãi ngũ không lâu, chú rất tốt, hay giúp đỡ kẻ yếu nhưng phải cái tật “du côn” ai hiếp đáp, chú thường nói chuyện bằng chân tay. Ông khách đi xe chú ăn mặc lịch sự nhưng có vẻ húng hiếp người. Ông vừa đi được vài bước, chú Năm rất lẹ, tiến đến trước mặt ông hỏi gay gắt: - Ông trả hay không, nói đi? Ông khách vẫn cứng cỏi - Số tiền ấy đủ rồi. Chú Năm dang cánh tay vạm vỡ nắm chặt áo ông khách tay kia toan tung quả đấm. Bây giờ ông khách phát hoảng la lên: Tôi trả …Tôi trả. Màn kịch hay kết thúc, chú Năm còn bồi thêm mấy câu cho hả tức: - Ê nhớ kỹ, đừng hòng lường gạt thằng nầy. Nghe chưa?! Văn về nhà, trời cũng vừa tắt nắng, việc đầu tiên chàng ra phía sau đem đôi giày vô để hôm sau còn mang đi học. Văn tìm khắp mọi nơi mà không thấy chả lẽ gió thổi bay xuống vũng nước đọng sau hai dãy nhà đâu lưng màu đen ngòm, mùi hôi xông lên nồng nặc kia sao? Văn bối rối: tiền đâu mua đôi giày khác, dì đi vắng; nêu có dì ở nhà chưa chắc dì sẵn tiền hay là đến chị Ba Thảnh ở Cầu Lộ, người cùng xóm mượn tạm tuần sau về nhà xin tiền trả. Bất đắt dĩ đành đến tìm Hương mượn tạm ít chục đồng. Văn cảm thấy ngượng ngùng khi nghĩ đến việc hỏi mượn tiền Hương, mặc dù chàng biết Hương rất thông cảm và sẵn lòng. Văn vừa ra khỏi nhà thì anh Mười con Dì Năm cũng về tới, mồ hôi nhuễ nhại, anh cho biết là mượn tạm đôi giày của tôi đá banh chiều nay. Tôi vừa mừng, vừa giận, mừng vì khỏi đi mượn tiền, giận vì anh ấy quá ngang tàng, mượn đồ của mình mà không thèm hỏi. Người trong nhà chả lẽ mình hành động giống chú Năm ban chiều?. Đôi giày Bata của tôi không còn là đề tài nóng bỏng để các bạn trêu chọc nữa, giả sử không việc gì xảy ra sau đó, có lẽ tôi đã quên mất là tôi từng có đôi giày bata theo kiểu Bắc kỳ. Hôm đó, tới giờ Anh văn, lớp học khá nóng nực, tôi cởi một chiếc giày cho mát, chẳng may, thầy gọi lên trả bài, tôi loay hoay tìm chiếc giày mang vô, tìm mãi không thấy. Một phút trôi qua, thầy có vẻ giận, ông gọi tên tôi lần nữa. Hoảng quá, tôi xách tập chạy lên, trong trạng thái một chân mang giày, một chân không. Ông thầy không để ý đến bộ dạng của tôi lúc đó. Thầy chỉ hỏi tôi thuộc bài không mà lâu lắc thế. Trả bài xong tôi toan về chỗ, thình lình một tiếng ồ lớn của dãy bàn bên phái nữ. Thầy hỏi chuyện gì? Một chị bạn trả lời: - Không biết ai quăng chiếc giày vào tụi em - Đâu nào? Ai quăng chiếc giày? Không tiếng trả lời Có lẽ thầy biết đây là màn chọc phá của đám học trò, thầy dịu giọng. - Ai mất giày thì đến lấy. Tôi nghi đó chính là chiếc giày của mình. Quả không sai. Tôi thẹn thùng đến nhặt chiếc giày mang vào chân. Thầy nói như giải hòa: - Học hành không lo, nếu còn tái diễn tôi sẽ phạt. Tôi về chỗ ngồi, mong cho mau hết giờ để tìm cho ra thủ phạm. Tôi hỏi nhưng mấy thằng bạn ngồi gần đều chối leo lẻo. Tôi rủa độc: - Thằng nào phá tao có ngày sẽ gãy chân cho hết mang giày. Câu chuyện đôi bata “ Bắc Kỳ “ đi vào quên lãng. Thời gian qua nhanh, mới đó mà chúng tôi đã ra trường, mỗi đứa một ngành nghề tung ra bốn phương tìm sinh kế. Một hôm vào dịp nghỉ Tết, tôi tình cờ thấy trên báo đăng tin rớt máy bay, anh phi công tên Đinh Th. N, tên giống như tên thằng bạn ngồi bên tôi năm nào, tôi chạy tìm mấy đứa bạn cùng tỉnh hỏi tin tức về N. Đúng là N. bị tai nạn máy bay gãy chân, may mắn sống sót. Mừng cho bạn, nhưng tôi chợt hối hận nhớ lại năm xưa thời còn cắp sách, N. thường đá dép, giấu giày chẳng những của tôi mà còn của các bạn ngồi gần, N. nhận những lời rủa sả độc địa, vẫn cười thoải mái không bao giờ để ý. Phần tôi, tôi hối hận tự nhủ: Chả lẽ những lời rủa sả lại linh ứng như thế sao? Tôi hứa là sẽ cẩn trọng lời nói để khỏi làm hại người khác. Giờ đây gẫm lại tôi chợt phì cười, nếu lời thề thốt rủa sả mà linh ứng chắc ngày nay tôi không có mặt tại xứ này Viết xong July 15, 2013 Nguyễn Thành Sơn |
Thứ Tư, 19 tháng 3, 2014
Sơ Lược Trường Sư Phạm Vĩnh Long Qua Các Giai Đoạn
Thầy Nguyễn Thành Sơn (Cựu Học Sinh Nguyễn Thông ).Trước 1975 là Giáo Sư các trường Trung học Chợ Lách, Trường trung học Tống Phước Hiệp và Trường trung học Thủ Khoa Huân. Sau biệt phái về, Thầy Sơn dạy tại Trường Bán Công Nguyễn Thông và là Giám Học Trường Bán Công Nguyễn Thông từ năm 1973-1975.
Đồng thời 1973-1975 Thầy dạy môn Việt Văn tại trường Sư Phạm Vĩnh Long. Hiện nay Thầy đang định cư tại San Francisco, Hoa Kỳ.
Với trí nhớ của Thầy, Thầy đã ghi lại sơ lược lịch sử trường Sư Phạm giai đoạn 1958-1962.
Nếu Tất cả Quý Thầy Cô và Quý Giáo Sinh còn nhớ những giai đoạn kế tiếp xin vui lòng bổ túc, để trường Sư Phạm Vĩnh Long có những chi tiết về lịch sử của trường được đầy đủ hơn.
Chân thành cám ơn.
Trân trọng.
Kim Oanh
Thể theo lời đề nghị của một số anh chị Giáo Sinh trường Sư Phạm Vĩnh Long, Thầy Nguyễn Thành Sơn đã ghi chú lại sơ lược về ngôi trường này qua các thời đại như sau:
Trường Sư Phạm Vĩnh Long được thành lập vào Tháng 8 Năm 1958.
Những Vị Hiệu Trưởng từ năm 1958 - 1975.
. Ông Bửu Trí
. Ông Lâm Phi Điểu
. Ông Phan Công Minh
. Ông Nguyễn Văn Lượm
Khoá Một :1958-1959
Lớp một sư phạm đầu tiên được khai giảng vào tháng 8/1958 có khoảng 50 giáo sinh, và được học tại Phòng Khánh Tiết Trường Nguyễn Thông (lúc bấy giờ chưa đổi tên Tống Phước Hiệp).
Hiệu Trưởng:
. Ông Lý Chánh Đức.
Các Giảng Viên gồm có:
. Ông Trần Văn Xường
. Ông Phan Văn Diệp
. Ông Phạm Văn Tệt
. Ông Nguyễn Văn Điếu
. Ông Nguyễn Ngọc Trạch
. Ông Hồ Văn Trai
. Ông Lê Văn Sĩ
Khoá Hai :1959-1960
Lớp một sư phạm khoá 2 cũng được học tại Phòng Khánh Tiết Trường Nguyễn Thông ( chưa đổi tên Tống Phước Hiệp).
Khoá Ba: 1960-1961
Năm này thì trường đổi về địa điểm chính thức Trường Sư Phạm Vĩnh Long toạ lạc tại đường Nguyễn Huệ.
Hiệu Trưởng:
. Ông Bửu Trí
Giám Học:
. Ông Đinh Xuân Thọ
Năm 1961-1962 Lớp cấp tốc được tăng lên 4 lớp, lớp bổ túc cũng được 4 lớp.
Muốn thi vào lớp giáo học bổ túc, thí sinh cần phải có Tú Tài I trở lên. Chương trình học gồn hai năm. Ban Giảng Huấn gồm có:
. Ông Võ Thành Châu
. Ông Đặng Ngọc Diệp
. Ông Phan Văn Diệp
. Ông Nguyễn Văn Điếu
. Ông Lê Văn Hoà
. Ông Châu Kim Đính
. Ông Nguyễn Quốc Hùng
. Cô Phan Kiêm Loan
. Ông Võ Hoà Hài
. Ông Nguyễn Triết Lý
. Ông Nguyễn Trí Năng
. Ông Phan Đình Ngẫu
. Ông Nguyễn Tử Quý
. Ông Dương Văn Tường
. Ông Trần Viết Sáu
. Ông Đinh Văn Thiệt
. Ông Forest Gerb, người Mỹ phụ trách môn Anh Văn.
Thầy Nguyễn Văn Điếu
(Hình ảnh của anh Song An Châu gửi)
(Hình ảnh của anh Song An Châu gửi)
Nguyễn Thành Sơn
(Cựu Giám Học Trường Bán Công Nguyễn Thông 1973-1975)
Kính thưa quí Thầy Cô Cựu Giáo Sinh Sư Phạm Vĩnh Long,
Tôi là Huỳnh Hữu Đức Khoá 8 Sư Phạm Vĩnh Long,Xin được góp đôi lời về trường SP Vĩnh Long.
Trường Sư Phạm Vĩnh Long được thành lập rất sớm có thể nói là ngôi trường đầu tiên ở Miền Tây.Khởi đầu trường thu nhận Giáo Sinh đào tạo theo ngạch GIÁO VIÊN TIỂU HỌC hệ 1 năm.Nhưng không biết vào năm nào thì chấm dứt hệ đào tạo này (Dường như khoá cuối cùng của hệ này là NK 62-63 theo lời kể của một đàn anh ở chung trong xóm)
Trường Sư Phạm Vĩnh Long được hoàn thành vào năm 1962,Và cũng trong niên khoá 62-63 khai giảng khoá 1 ngạch GIÁO HỌC BỔ TÚC hệ 2 năm.Từ đó, những khoá tiếp theo là khoá 2,3,4....đến Khoá 12 ra trường vào năm 1975.
Rất mong được nhận thêm nhiều đóng góp liên quan đến trường của Cựu Giáo Sinh Sư Phạm Vĩnh Long.
Riêng cá nhân ,tôi chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Thành Sơn về sơ lược trường Sư Phạm Vĩnh Long để các Cựu Giáo Sinh chúng tôi có thể tìm lại hình ảnh,kỷ niệm thân yêu về ngôi trường Sư Phạm xa xưa.Ngôi Trường Sư Phạm đầu tiên của Miền Tây.
Chân thành cảm ơn.
Kính chào
Huỳnh Hữu Đức
Thứ Ba, 3 tháng 12, 2013
Rau Muống Đồng
Rau muống đồng là loại rau có màu sậm so với rau
muống Tàu. Miền Tây Việt Nam nơi nào cũng
tìm được loại rau nầy. Nó mọc ở những vùng đất thấp, tràn lan ở các thửa ruộng
vừa hết trầm thủy,trên các bờ ranh, dưới các lung, đầm , đám mạ, dọc theo các
kinh rạch.
Đặc điểm của loại rau nầy sanh xôi nẩy nở rất
nhanh. Hột khô nẩy mầm thành cọng rau con, hay lấy khúc rau gần gốc cắm trong
môi trường ẩm hay nước sâu chừng một phân thì cọng rau sẽ ra rễ, khi đủ dài thì
từ các nách lá sẽ đâm chồi non, cứ như thế rau muống trở thành từng đám dày đặt.
Ở miền quê, những cơn mưa đầu mùa vào
khoảng tháng tư âm lịch,ở các đám mạ, chỗ đất trủng trong ruộng, rau muống mọc và lớn nhanh, vắng mặt vài ba
hôm, khi trở lại chúng ta sẽ thấy một đám rau muống, đọt có khi dài hơn năm tấc, non mơn mởn bò trên mặt nước.
Quê tôi thuộc vùng trầm thủy, quanh năm ẩm ướt,
các kinh rạch có nơi nước chảy thông thương, có nơi sông còn chưa đủ sâu, hai bên bờ sông đất phù sa nhiều chỗ bồi ra xa khiến cho con sông hẹp và cạn dần như
cái lạch chỉ ghe xuồng nhỏ mới vận chuyển được. Sát bờ có nơi rau mác tụ thành
từng đám cũng sanh nở mau chóng. Ở chỗ doi, do đất bồi, rau muống mọc, lớn theo con nước, đọt mập
dài, chỉ ở chót có ít lá nhỏ, đó là mầm
của cọng rau. Ở những kinh rạch,hay sông nước chảy lờ đờ, rau muống túa ra, nhiều
nơi rau muống chiếm gần một phần ba bề rộng. Nhìn đọt rau dài thượt,
mơn mởn, lả lướt trên mặt nước tự nhiên chúng ta muốn bẻ một mớ vì phần tươi
non quyến rủ của nó dù chưa biết ăn cách nào: bóp gỏi, luộc chấm mắm, ăn sống
hay chiên mỡ chấm nước mắm ớt.
Rau muống có công dụng khử phèn rất tốt. Trẻ nhỏ
miền quê, em nào cũng biết công dụng nầy của rau muống.Vào tháng tư, tháng năm
âm lịch, đi ngoài ruộng đôi khi khát nước, chỗ có nước như bào, lung, đám mạ,
trên mặt nước đóng một lớp phèn màu vàng sậm, nếu quá khát, bạn tìm bẻ một cọng
rau muống để mủ rau nhỏ xuống chỗ có nước, bạn sẽ thấy lớp phèn vẹt ra tạo
thành một vùng nước trong ngần, bạn
không ngại thì cứ kê miệng xuống ực một hơi cho no, bảo đảm bạn sẽ không bị đau
bụng vì chỗ nước đó đã được khử phèn.
Muốn ăn rau muống đồng, bạn nên nhớ một điều là
phải lặt bỏ cái đọt có hai ba lá nhỏ tí ngoài chót của ngọn rau, dù ăn sống hay
đã luộc chin. Bạn quên điều vừa nói, nếu bạn ăn nhiều đọt bạn chắc chắn sẽ bị
tào tháo đuổi chạy không kịp.
Người nông dân họ ăn uống giản dị nhưng cũng đầy đủ chất đạm, chất sơ. Buỗi trưa từ ngoài ruộng lội về nhà, họ tiện tay bẻ một nắm rau muống về nhà rửa sạch chấm với mắm chưn cũng xong một bữa trưa ngon lành. Vào những tháng khan hiếm cá tôm, nông dân có thể lội đến mấy cái lung,hoặc đám mạ, bắt năm bảy con ốc bươu, bẻ một mớ đọt rau muống, vài trái xoài sống,ốc vừa kho mặn, nấu canh chua rau muống xoài, ăn với nước mắm thật cay. Canh chua nóng, nước mắm cay chan húp mồ hôi nhuễ nhại, thật vô cùng khoái khẩu, thiết nghĩ cao lương mỹ vị cũng đến thế là cùng.
Rau muống còn chế thành một món ăn nữa cũng hết
xẩy: rau muốn bóp dấm, chấm với mắm kho, cơm gạo Nàng Hương ăn bới không kịp.
Mùa đông 1953, bộ đội Việt Minh về đóng quân ở xóm tôi, buổi sáng sau khi tập
thể dục xong, hai anh mượn xuồng nhà tôi, không biết họ làm gì , họ không ngồi
trên xuồng bơi mà họ lội dưới sông kéo
xuồng theo, thì ra hai anh đó bẻ rau muống non dọc theo hai bờ sông, họ bẻ một số nhiều nên cần xuồng để chở. Đem về
nhà họ mượn thau, rỗ ,tốp lặt bỏ lá,tốp chẽ, xong đem rửa sạch họ bóp dấm. Hột
vịt luộc quậy nước mắm, cơm trưa và chiều
chỉ có chừng ấy thức ăn, nhưng các anh ây ăn đổ mồ hôi. Từ dạo đó xóm tôi quý
bà biết ăn rau muống bóp dấm. Sau nầy tôi lên tỉnh đi học cũng đôi lần chủ nhà trọ cho ăn rau muống bóp dấm
nhưng có lẽ ngon hơn nhiều vì chủ nhà mua rau muống tàu cọng trắng thay vì rau
muống đồng mộc mạc.
Trước tháng tư năm 1975 vài tháng, tự nhiên bà
xã tôi cũng đem rau muống tàu cắm dọc theo bờ cái mương dài cạnh nhà. Rau muống
tàu gặp nước tốt cũng bò, cũng sanh sôi nẩy nở thành ao rau muống thật lớn, nhờ
vậy sau 30 tháng tư năm 1975 các con tôi nấu cơm độn chuối, ăn với
rau muống trồng ở ao nhà chấm với nước mắm đắp đổi qua ngày.
Trước kia rau muống đồng dân quê cũng ăn nhưng số
lượng ít. Ở An Phú Thuận, cách làng tôi
vài cây số, một anh nông dân làm giàu nhờ rau muống. Anh đào ao lớn nuôi cá tra, thức ăn cho cá toàn
rau muống từ ngoài ruộng anh gom lại chở về nhà, chặt khúc ngắn nấu nhừ đoạn trôn với cám. Hầm
cá đủ mồi mau lớn, thức ăn sạch, ao nước thông thương, cá trắng phau, anh bán được giá hêt đợt nầy tiếp đợt khác.
Đám tiệc trong vùng toàn mua cá tra của
anh.
Một ông khác thấy anh nuôi cá sử dụng rau muống
làm mồi, ông ta nghĩ đến việc nuôi heo lấy rau muống làm thức ăn. Ông làm
chuồng nuôi heo, ban đầu cho ăn với tấm
cám, lần lần ông chỉ nấu rau muống với
cám cho heo ăn. Trại heo của ông không mau lớn như những người nuôi với thức ăn
chế tạo theo công thức nhưng bù lại ông chi ít tiền về thức ăn cho bầy
heo, nhờ vậy ông cũng thu vào lợi nhuận đáng kể.
Rau muống đồng tài nguyên thiên nhiên phong phú,
nếu biết tận dụng có thể ăn nên làm ra được
Viết xong November 25, 2013.
Nguyễn Thành Sơn
Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013
Chị Năm Trầu
và các bạn đã định cư ở các nước Tự Do trên khắp thế giới)
Nhìn qua tựa bài, các độc giả lớn tuổi chắc hẳn
hình dung ra nhân vật Năm Trầu là một người đàn bà luống tuổi, ghiền trầu, còn
những vị nào mê tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh lại mường tượng cảnh bà Hội Đồng nào
đó đang bỏm bẻm nhai trầu, miệng thì ra lịnh cho đám người ăn kẻ ở hết chuyện
này đến việc khác. Đối với các bạn trẻ sinh ra và lớn lên ở ngoại quốc đó là
hình ảnh quá xa lạ, có thể bạn ấy chưa từng gặp qua.
Sự thực nhân vật trong truyện không hề biết ăn trầu, cũng có thể chưa bao giờ biết têm trầu. Chị là một người bạn lâu đời của tác giả. Nhắc tên Năm Trầu để nhớ đên giọng nói của chị: khi thì rề rề, lúc lên giọng cao vút y hệt như nhân vật Bà Năm Trầu của tác giả nào đó được Ban Chiêu Hồi của đài Phát Thanh Quốc gia phát sóng hằng ngày vào khoảng từ một hai giờ trưa, trước khi mất nước.
Năm 1958
chị và một số bạn nữa học lớp Sư Phạm Cấp tốc đầu tiên ở Vĩnh long với tác giả.
Lớp học bốn mươi bảy người chỉ có mười bốn
nữ. Chị xuất thân trong gia đình danh giá ở Vĩnh long, ba chị là công chức, các
anh đều có địa vị dưới thới Việt Nam Cộng Hòa. Cuộc đời công chức của chị phải
nói hoàn toàn như ý, không gian truân hay bị trù dập như một số người khác, chị
luôn được ở chỗ tốt. Những năm đầu chị cũng
dạy chỗ xa nhà nhưng có xe đò sáng đi chiều về, không bị nạn đắp mô hay
chận xe như một số đia danh trong tỉnh, lần hồi về tỉnh lỵ trong khi đó một số
bạn của chị phải lặn lội nơi đèo heo hút gió ít nhứt cũng đôi ba năm mới mò về gần tỉnh.
Việc bổ
nhiệm công chức đặc biệt giáo chức thời bấy giờ có thể nói là rất công bằng, không
có cảnh chạy chọt, lo lót hay bị làm tiền. Bên cạnh đó vấn đề nể nang hay quen
lớn không nhiều thì ít chắc chắn phải có. Chị được thuận lợi trên đường nghề nghiệp chắc nhờ sự quen biết từ những
người thân trong gia đình.
Đường nghề nghiệp rất hạnh thông, trái lại
tình duyên không mấy ưng ý, nghe đâu lúc trẻ chị đã một lần dang dở, nói tóm gọn
mối tình đó bằng mấy từ đơn giản nhưng đau lòng “,tình chị duyên em” câu chuyện
thầm kín do một số bạn thân của chị tiết lộ. Với người ngoài chị kín đáo không
bao giờ hở môi. Chị kết hôn với anh Đ..một thư sinh, sau một thời gian ngắn anh
vào quân đội. Nhà binh rày đây mai đó, tuy vậy anh chị vẫn có hai trai hai gái.
Đứa út chào đời không lâu anh đền nợ nước.Tang chồng chưa mãn lại đến tang của
đất nước. Nghề gõ đầu trẻ không còn đất
dụng võ cho vợ sĩ quan chế độ cũ. Bất đắc dĩ,chị phải chuyển sang các nghề khác
như làm vườn, buôn bán, nhưng đó chỉ là công việc tạm bợ, vì thiếu kinh nghiệm
lẫn tiền bạc nên rớ chỗ nào cũng không xong.
Các con ngày một lớn, tương lai mờ mịt. Bây giờ
chị càng tủi thân khi vô kế khả thi, những gia đình khác các con trông cậy vào
cha, đàng nầy con của chị chỉ biết trông chờ ở chị. Chính chị là người ban phát
cho chúng ; hoặc tới nơi chúng có thể học hành thành người hữu dụng hay là bám
lấy quê hương mà các loa ra rả gọi là “anh hung”để rồi suốt đời làm thuê làm mướn
vì lý lịch của cha và mẹ chúng không còn chỗ nào để hy vọng, để bám víu.
Một người bạn học cùng trường với chị thủa
xưa, có ý định tổ chức vượt biên. Anh cho gia đình con cái chị cùng đi. Thật
đúng mong ước của chị. Thôi đành đánh cuộc với số mệnh. Con gái nhà giàu, lên
xe xuống ngựa có ai thèm để ý đên ghe xuồng, nếu bất đắc dĩ dùng tới ghe thì phải
ghe loại lớn, ghe hầu dành cho chủ cả hồi trước. Số mạng đưa đẩy phải khăn gói
lên thuyền (ghe )băng qua biển rộng. Ngoài biển nào phải trong sông,khi thì trời
yên biển lặng, nhưng rất hiếm, sóng to gió lớn, ghe nhỏ tròng trành, nhấp nhô
theo từng lượn sóng, khi thì thuyền như bay bổng trên cao, bất thần rớt xuống
tưởng chừng như chiếc ghe vở tan. Đàn
ông còn khiếp vía huống hồ thân phận nữ nhi. Hoảng sợ không ai tránh khỏi, riêng
chị cố giữ bình tỉnh trấn an mấy con. Những người đàn bà khác vượt biên cùng chồng
con, ông chồng quán xuyến mọi việc. Nhìn những người đó, chị cảm thấy mình bơ
vơ, lạc lõng. Bất chợt chị nhớ lại câu:
Người
ta đi biển có đôi
Còn
tôi đi biển mồ côi một mình.
Anh bạn, ngoài chăm sóc cho hai con, thỉnh thoảng
cũng an ủi chị như đưa cho chị viên thuốc say sóng, rót cho ly nước. Những khi
trời yên biển lặng,anh tìm đến ngồi bên chị, nói chuyện bâng quơ, đầu Ngô mình
Sở không ngoài mục đích giết thì giờ, cầu mong cho con thuyền mau đến bến bình
an.
Hồi
còn là học sinh, anh Luận cũng là một trong những cây si, mỗi khi gặp chị anh cứ
ấp a ấp úng nói chuyện trời trăng mây nước, trong khi vấn đề chính anh lại quên
mất hoặc nói vòng vo, dân đi học phê là” lạc đề”. Cơ hội không đến hai lần, mối
tình nhen nhúm của Luận theo thời gian cũng phôi pha. Anh theo lịnh cha mẹ lập
gia đình với người khác, chị lên xe hoa cùng người mình yêu. Cuộc đời khá trớ
trêu, anh chị vẫn thỉnh thoảng gặp nhau, vì tỉnh Vĩnh long nhỏ hẹp, hơn nữa anh
chị lại ở cùng xóm.
Ai đã từng vượt biển, mới cảm nhận sự gian nguy
luôn rình rập, con người trên thuyền vượt biên thật mong manh nhỏ bé, một cơn
sóng cũng đủ nhấn chìm thuyền.
Ngoài ra còn có thể chết vì thiếu ăn, thiếu uống
khi tàu bị hư máy, hêt xăng, gặp hải tặc v.v.. Do vậy khi tới trại tỵ nạn thuyền
nhân cảm thấy như mình vừa được tái sanh.
Một hớp nước trên biển khi gặp nguy cấp còn hơn một gia tài, một lời an ủi,
động viên trên thuyền giữa biển khơi khiến người nhận như mang ơn to tát. Chị
Dung anh Luận, định mệnh khiến xuôi anh chị cùng chung gian khổ trên con đường tìm tự do. Sau mấy tháng ở trại tỵ nạn, anh
được đi định cư đến một Tiểu Bang nhỏ, ít người, nửa tháng sau chị Dung và gia đình cũng về cùng Tiểu bang với anh Luân. Bây giờ hai anh chị đều độc
thân tại chỗ. Khi xưa duyên tình của họ vừa nhen nhúm lại tắt, nay đâu còn trở
ngại nào ngăn cách họ. Ban đầu anh nhà anh, tôi nhà tôi. Sống như vậy thêm tốn
kém tiền mướn nhà, chợ búa. Luận đề nghị chị sống chung nhà. Lúc còn trẻ người ta thường sử dụng thuật ngữ I love you,
tuổi càng cao mỗi khi toan xài câu trên lại thấy ngượng nghịu. Lời đề nghị sống
chung bao hàm ý tưởng bao quát hơn nghĩa nghèo nàn vốn có của các từ vừa nói.
Hai anh chị vào thời gian nầy không còn gì ràng
buộc. Theo quan niệm ĐôngPhương, chồng chết phải thủ tiết ba năm, bây giờ đã
quá thời gian. Con anh, con chị đã chung sống nhau trong lúc vượt biên đầy nguy
nan và gian khổ, chúng coi nhau như anh em một nhà. Anh chị bây giờ gương vở lại
lành họ chung sống thật hạnh phúc.
Trong Truyện Kiều,khi Từ Hải gặp Kiều, gắn bó với nàng, nhưng Từ Hải là con người hiếu
động, sống với Kiều chỉ được nửa năm;
Nửa
năm hương lửa đương nồng
Trượng
phu thoắt đã động lòng bốn phương
Anh Luận sống với chị Dung được hai năm, anh lại
động lòng, không phải vẫy vùng cho thỏa chí bình sanh như Từ Hải, anh chợt nghĩ
đến quê nhà còn nhiều gắn bó ràng buộc,trong nhất thời anh cương quyết ra đi,
nay thấy bao nhiêu người về quê vẫn an toàn, nên anh cũng nôn nao, mấy đứa con
bên Mỹ tương lai đầy hứa hẹn nếu chúng chịu khó học hành, còn số phận những đứa
con còn ở Việt Nam thì sao? Phải chăng lúc ra đi anh còn thủ con đường an toàn
nếu chuyến đầu thất bại. Chính vì tính toán quá kỹ nên bây giờ anh nôn nóng trở
về thăm!
Không biết phải do số mệnh, anh về dăm hôm lại
vướng căn bịnh nghiệt ngã: tai biến mạch máu não. Anh vĩnh viễn ra đi! Chị Dung một lần nữa lại để tang chòng. Cuộc
đời góa bụa lại càng cô đơn, chit bóng. Hồi tưởng những câu kệ trong lúc sắp sửa
động quan của vị sư già hồi đám tang anh
Đức, người chồng trước, bất chợt chị nghe lòng mình tê tái.
Hồi
nào vợ vợ chồng chồng…
Cuộc đời vô thường.!! Mới hôm nào còn anh anh,
em em, nay mỗi người mỗi ngã.
Những tháng ngày tang khó, dường như chị Dung thấu
rõ cuộc đời vốn ngắn ngủi, vô thường .
Lúc trước ai mời chị đi đâu chị ngại xa, ngại
khó. Sau ngày anh Luận mất, chị lần lượt đi thăm tất cả bạn bè. Ai gặp chị đều
nhận thấy một biến đổi lớn nơi chị. Dường như chị quyến luyến với tất cả bè bạn.
Trước kia đôi khi chị còn giận còn hờn.
Nay ai chị cũng trân quý, chị luôn là người hàn gắn mọi hiểu lầm của các
bạn. Nơi nào có chị họp mặt , bao giờ cũng nghe tiếng cười ròn rã. Sự biến chuyển
tâm lý khiến bạn bè tinh ý thêm âu lo. Đó là điềm báo chị Dung sắp sửa xa lánh
bạn bè chăng? Lo sợ nhưng không ai tin đó là sự thật.
Tôi đang làm việc lặt vặt bỗng có điện thoại,
người gọi là con gái của chị. Cháu cho biết là mẹ cháu bịnh nặng cần gặp tôi.
Tôi gọi lại, chị nói chuyện có vẽ mệt
nhưng còn tỉnh táo, chị yêu cầu nói chuyện với vợ tôi. Chị yêu cầu chúng tôi cầu
nguyện cho chị. Chúng tôi vẫn đinh ninh
một vài hôm chị sẽ bình phục . Than ôi, ngày hôm sau tức ngày 21 tháng hai
dương lịch lúc 12giờ 48 trưa chị trút hơi thở cuối cùng. Chị thanh thản ra đi
đã để lại tiếc thương cho bạn bè và những người thương mến chị.
Chúng tôi cầu
mong chị sớm vãng sanh nơi miền Cực Lạc.
Viết xong November 4-2013
Nguyễn Thành Sơn
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

.png)

.png)







