Hiển thị các bài đăng có nhãn Đàm Trung Phán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đàm Trung Phán. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2026

Giác Quan Con Người Và Vấn Nạn Môi Sình


Hương gây mùi nhớ,
Trà khan giọng tình.
(Kiều)

Trời sinh ra con người có mắt, tai, mũi, mồm, lưỡi, họng, tay, chân…Mỗi bộ phận này đều có nhiệm vụ riêng của nó để giúp cho cơ thể con người tránh được những hậu quả mà có thể làm cho con người không thể tồn tại được nữa.

Thiên hạ có thể tuyệt thực mà vẫn sống nhưng con người không thể “tuyệt thở” được vì sẽ bị “tắt thở và có thể… đi đoong luôn!”
Mạch sống của con người là không khí và chúng ta cần phải có không khí trong lành để sống khỏe mạnh. Người viết sợ nhất là phải ngứi mùi thuốc lá của người khác và mùi nước hoa của phái nữ đã làm cho chúng tôi choáng váng cái cái đầu trong nhiều năm trước đây.
Thứ đến là nước uống. Chúng ta cần phải uống nước. Tuyệt thực thì… OK nhưng chúng ta vẫn cần phải thở và uống nước. Quan trọng là nước uống cần phải được tinh khiết, trong lành…
Đôi mắt chúng ta, cho dù rất tinh anh trong lúc còn nhỏ cho đến khi lớn lên rồi bắt đầu bị lão hóa… Muốn nhìn cho được chính xác, dù mắt tốt, mắt yếu, chúng ta cũng cần phải có không khí không bị ô nhiễm che mất những thứ gì đang thật sự xẩy ra…
Cái lưỡi con người giúp chúng ta biết thế nào là vị mặn, ngọt, chua, cay… của đồ ăn, thức uống. Phản ứng của cơ thể con người có thể làm cho cổ họng chúng ta sưng lên (để rồi chúng ta có thể bị tắt thở luôn), và cũng có thể làm cho con người bị nôn, ọe…

Trời sinh ra cái tai con người để nghe được những tiếng động xung quanh. Cái tai và bộ óc con người không những giúp cho chúng ta có thể nghe được các tiếng động xung quanh mà còn nghe và hiểu được tiếng nói của những người xung quanh mình nữa… Môi trường mà quá ồn ào thì tai chẳng giúp gì cho ta nghe và biết được sự việc ra sao…
Trời cũng sinh ra cái mũi con người để chúng ta có thể ngửi được những mùi trong không khí xung quanh nhất là những mùi thơm trong các nhà bếp, nhà hàng. Nhiều mùi vị xung quanh có thể làm cho chúng ta thấy khoan khoái nhưng cũng có thể làm cho chúng ta xây xẩm mặt mày. Đặc biệt là lắm mùi thơm thoang thoảng trong không khí có thể mang tâm hồn chúng ta trở về một dĩ vãng rất nên thơ của một thời nào đã qua.
Trời còn cho chúng ta xúc giác. Trời lạnh, thấy lạnh. Trời nóng, thấy nóng. Tùy theo cái cảm giác nóng lạnh này mà chúng ta đã biết cách ăn mặc để cho cơ thể có thể giúp chúng ta cảm thấy dễ chịu hơn.
Hồi người viết đang đi vào tuổi 50 gì đó, mỗi buổi tối, tôi có thói quen hay đi bơi tại một hồ bơi gần nhà. Bơi xong, cảm thấy nhẹ nhàng và khỏe khoắn vô cùng. Trên đường về, trong đêm mùa hè, khi lái xe dọc theo một khúc quanh, bỗng nhiên ngửi thấy mùi thơm rất nhẹ nhàng dễ chịu vô cùng… Ra khỏi khúc quanh, mùi hương biến mất… Mùi thơm này đã mang cho tôi trở lại thời thơ ấu tại Bắc Ninh với mùi hoa bưởi khi cây đang ra hoa. Bỗng đâu, tôi được nhớ lại thời kỳ còn cha, còn mẹ, còn được đoàn tụ với tất cả các anh chị em… Một chút gì để nhớ, để thương…

Hè năm 2002, ngay sau khi tôi được về hưu non ở tuổi 60, vợ chồng chúng tôi cùng 20 người bạn rủ nhau sang Punta Cana, Dominician Republic để nghỉ hè trong vòng một tuần lễ. Sau khi xe bus đã thả chúng tôi xuống trước cửa Hotel, chúng tôi lấy hành lý và mỗi cặp đi về phòng của mình. Đang kéo cái valise, bỗng đâu, tôi ngửi thấy mùi thơm thoang thoảng trong không khí ban đêm mùa hè… Người viết có cảm giác như mình đang còn sống tại quê hương cội nguồn hồi còn nhỏ. Hồi mà chưa bị cảnh gia đình tan nát sau khi di cư vào Nam… Vui buồn lẫn lộn; cho đến bây giờ, hơn 20 năm sau, khi nhớ lại, tôi vẫn còn thấy vương vấn vô cùng.
Cũng trong dịp đi chơi này, đêm hôm sau, sau khi đã ăn cơm no nê, cả bọn chúng tôi đi dạo xung quanh bờ biển… Gió hiu hiu thổi, nói tiếng Việt huyên thuyên với nhau… Bỗng đâu, tôi liếm môi và nhận thấy vị muối mằn mặn. Hóa ra cơn gió từ ngoài khơi thổi vào, mang theo vị muối của nước biển… Trời ban đêm mùa hè nóng nực, vị mặn của muối trong cơn gió biến đã mang tôi trở về với bãi biển Vũng Tàu, sau khi tôi mới thi xong phần Tú Tài 1…

Năm 1989, tôi đã được may mắn đi nghỉ hè cùng gia đình sang Venezuela tại một cái resort mà quên tên mất rồi. Nhớ nhất là được ăn hai món: Fish Soup (canh cá nấu với chuối plaintain và khoai sọ) và Venezualian Pork (thịt heo kho Nam Mỹ). Vị canh cá và thịt heo này đã đưa tôi trở về hồi còn nhỏ dại được ăn cá rô rán và thịt lợn nuôi trong vườn nhà – khác xa với cái vụ cá đông lạnh (frozen fish) và thịt lợn nuôi hàng đàn và bị giết hàng loạt tại Canada. Vị giác đã giúp tôi “nối lại được với mạch điện dĩ vãng” đã bị vùi sâu trong rất nhiều năm trời.
Suốt cả thập niên 2010, tôi đã từng đi kiếm một hiệu ăn Nam Mỹ (Venezualian restaurant) tại Torono để được thưởng thức lại cái món “Fish Soup” và “Venezualian Pork” nhưng tiếc quá, không tìm ra được một hiệu ăn nào hết. Vẫn cò thấy hậm hực trong người. Và tiếc thay Canada không còn có dịch vụ đi du lịch sang Venezuala nữa.

Năm 2005, vợ chồng chúng tôi đã được sống 4 ngày tại Sapa. Sapa có cái lành lạnh rất đặc biệt: rất khác cái lạnh của Bắc Mỹ, Úc, Âu châu, Nhật Bản. Nhưng nếu tôi được “hưởng cái lạnh đặc biệt này” tại một nơi nào đó trên thế giới mà có cái lạnh giống như tại Sapa, chắc chắn là tôi sẽ nhận ra nó ngay. Xúc giác giữ nhiệm vụ này.
Cũng trong năm 2005, trong 9 ngày thăm viếng Hà Nội thì 8 ngày tôi bị ho liên tục trừ một ngày khi vợ chồng chúng tôi bỏ Hà Nội để đi thăm Tam Cốc. Sau khi xe bus đã ra khỏi Hà Nội, tôi hết ho. Sau khi xe về lại Hà Nội, tôi lại tiếp tục ho. Tất cả các nơi khác tại Việt Nam, kể cả Sài Gòn, tôi không hề bị ho. Không khí tại Hà Nội hoàn toàn bị ô nhiễm vì không được gió thổi đi. Sài gòn may mắn có những luồng gió ban đêm thổi không khí ô nhiễm ra Biển Đông rồi thay bằng một luồng không khí mới.

Nếu tôi nhớ không lầm, cho đến thập niên 1990, nước hoa mà đàn ông và đàn bà ưa thích dùng để “làm đẹp, làm thơm” con người vẫn còn thịnh hành. Nhưng càng ngày, càng nhiều người bị dị ứng với mùi thơm của các loại nước hoa/dầu thơm cho nên thiên hạ mới bắt đầu để ý đến việc không dùng nước hoa khi đi ra ngoài nữa. Cá nhân người viết cũng đã từng cảm thấy khó chịu khi ngửi mùi nước hoa đắt tiền của thiên hạ, nhất là khi đi trong thang máy.
Người viết đã từng cảm thấy rất khổ sở trong lúc mùa đông tại Canada, nhà bị đóng kín mít mà thiên hạ vẫn còn hút thuốc lá trong nhà. Chúng tôi đã thường phải đứng gần cửa ra vào, hay cứa sổ để lâu lâu hé mở cưả để được thở không khí trong lành. Mãi về sau này, chính quyền mới cấm không cho phép dân chúng hút thuốc trong nhà, trong những nơi làm việc…

Thời tiền sử, con người chỉ cần có nhu cầu như thức ăn, nước uống, trồng lúa, trồng rau, nuôi súc vật… Đời sống giản dị cho nên ít có nhu cầu. Càng văn minh bao nhiêu, càng sinh ra nhiều nhu cầu khác mà con người lại quên mất mình đã lạm quyền rất nhiều vì đã làm hại cho phần môi sinh của thiên nhiên…
Theo con số thống kê thì mỗi ngày, mỗi người dân Bắc Mỹ thải đi 1.5 kg rác (solid wastes). Thải rác bằng cách nào?
i. Đốt rác ở nhiệt độ rất cao. Hệ lụy: không khí bị ô nhiễm + tốn tiền – Kết quả: Tránh đốt.
ii. Phần rác rưởi (solid wastes) được xé nhỏ rồi đem đi trôn. Hệ lụy: Vẫn còn tốn đất, tốn tiền.
iii. Dùng lại (Reduce, Reuse, Recycle) nếu có thể được. Hệ lụy: Khá hơn, ít tốn kém hơn, nhưng vẫn còn tốn đất đế trôn các thứ khác.

Hồi năm 1984, 1985 gì đó, các giáo sư trong ngành Công Chánh tại Centennial College chúng tôi đã nẩy ra ý kiến thành lập chương trình (program) “Solid Wastes Management” (Xử lý Rác Rưởi) của trường Công Chánh nhưng không được Colledge chấp thuận vì số sinh viên nhập học không được nhiều cho lắm. Lý do chính yếu là bộ môn “Solid Wastes Management” không “ăn khách” (“hot”) một chút nào: rác rưởi thì ai mà muốn đụng tới!

Cái lưỡi, trong văn hóa Việt Nam, thường hay bị chê trách là “miệng lưỡi thiên hạ!” Tuy nhiên nó giữ một “chức vụ quan trọng” so với các giác quan khác. Khi ta bỏ một món gì vào trong miệng, cái lưỡi sẽ báo động cho cơ thể biết cái “vị” của món đó liền. “Hệ thống tình báo của cái miệng” sẽ ngay lập tức nhổ cái vật đó ra khỏi miệng và lưỡi liền.
Cái lưỡi nhận diện không những mau chóng mà còn rất tinh vi nữa. Khi ta bỏ một miếng đồ ăn vào miệng quá nóng, ngay lập tức ta há miệng ra, la làng mà cũng có thể cái miệng, cái lưỡi tự động đẩy miếng đồ ăn ra khỏi miệng ngay lập tức luôn.
Một lần khi tôi sang vùng Orange County bên Mỹ thăm bà con, tôi được ăn nhãn lồng được trồng tại Hawaii. Quả nhãn ngọt lịm; vị ngọt này đã làm cho tôi nhớ lại ngay cái vị ngọt của trái nhãn Hưng Yên khi tôi còn nhỏ tại làng quê ở Bắc Ninh. Tự nhiên tôi “nhận thức” được vị ngọt của quá nhãn ngay lập tức, tuy rằng máy chục năm sau mới được ăn trái nhãn đầu đời của tôi khi còn nhỏ dại.

Cũng có lần ở trong tuổi 70, khi vợ chồng già chúng tôi sang nghỉ hè tại Honolulu, bà vợ tôi hứng chí nấu cho 10 người trong nhóm món Bún Bò Huế sau khi cả bọn đi shopping mua thịt heo, thịt bò, rau, đồ gia vị về… Khi tôi ăn rau húng quế trồng tại Hawaii, cảm thấy rất ngon, vị húng rất Việt Nam, vì rằng đó là vị rau húng quế mà tôi đã được ăn tại Sài Gòn khi mới còn đang học mấy năm đầu của Trung học. Không những nó ngon mà nó còn mang lại cả một bầu trời Sài Gòn, sau khi gia đình chúng tôi mới di cư vào Nam. Vị giác là một bộ phận rất là tinh vi và chính xác…

Vị giác (lưỡi), khứu giác (mũi), xúc giác (tay, chân, mặt, họng), thị giác (mắt), thính giác (tai) là những bộ phận rất tinh vị để điều khiển thân thể con người. Mà cũng vì con người đã lạm dụng các bộ phận này cho nên nhân loại mới bắt đầu phải để ý đến phần bảo vệ môi sinh liên quan đến không khí ô nhiễm, vấn đề rác rưởi ảnh hưởng tai hại đến môi sinh, nước mưa/nước ngọt/nước biển, âm thanh, bụi bậm…

Kính mời Quý Vị đón đọc những bài viết liên quan đến môi sinh trong những bài tiếp của chúng tôi trong tương lai.

Đàm Trung Phán
GS Công Chánh Hồi Hưu
Mississauga, Canada
Oct. 26, 2023

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2026

Chữ Tâm Kia Mới Bằng Ba Chữ Tàì


LỜI NGƯỜI VIẾT:

Thi hào Nguyễn Du đã viết:

“ Có tài mà cậy chi tài,
Chữ ‘Tài’ liền với chữ ‘Tai’ một vần.”

“Tài” ở đây liên quan tới phần “Thông minh đầu óc” (mà người Tây Phương có thể đo lường qua chỉ số “IQ”, viết tắt từ chữ “Intelligence Quotient”) hay “Những khả năng đặc biệt của đầu óc” (Multiple Intelligences). Tuy nhiên, nếu con người chỉ có “Tài”, nôm na gọi là khẳ năng đầu óc , mà không biết cách xử thế, nôm na gọi là “cách ăn ở”, thì e rằng khi ra đời làm việc, sẽ gặp nhiều gian nan, tai hoạ . “Tai” ở đây liên quan đến phần “Thông Minh Con Tim”/ “Thông Minh Cảm xúc” (mà ngừời Tây Phương có thể đo lường bằng “EQ”, viết tắt từ chữ “Emotional (Intelligence) Quotient”. Ngoài ra, muốn tiến tới được phần thăng hoa của loài người, con người cần phải có phần “Thông Minh Tâm Linh” (đo lường bằng “SQ”, viết tắt từ chữ “Spiritual (Intelligence) Quotient”) để cảm nhận được phần tinh hoa của “Lẽ Trời” liên quan tới chữ “Tâm”, cái “Ðức” của con người trong văn hóa Việt Nam .

Kinh mời quý vị vào đọc bài viết “Chữ Tâm Kia Mới Bằng Ba Chữ Tài” và đặc biệt phần bàn luận về bài viết này trong Forum Ðặc Trung dưới đây:

Phần bàn luận trong Forum Ðặc Trưng

Chữ “TÂM”


Khi còn học Trung Học, tôi rất thích mấy câu thơ dưới đây trong Truyện Kiều của Cụ Nguyễn Du:

“Có tài mà cậy chi tài,
Chữ Tài liền với chữ Tai một vần
Ðã mang lấy Nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn Trời gần, Trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tàì “

Thú thực là hồi đó, tôi chỉ cảm nhận thấy rằng tôi rất “gần gũi” với những câu thơ này nhưng thực sự tôi chưa thật thấu hiểu và cho đến bây giờ với những kinh nghiệm đã sống trên 60 năm cuộc đời, tôi mới thấy “thấm” được ít nhiều những gì mà Cụ Nguyễn Du đã viết.

Tôi đã khôn lớn, ra trường rồi đi “vật lộn” với cuộc sống. Trong đời đi dậy, tôi đã có cái may mắn được gặp rất nhiều học trò thuộc các mầu da, tôn giáo và tuổi tác khác nhau để tôi quan sát và học hỏi từ chính họ. Hai đồng sự Canadian và tôi thường hay bàn cãi với nhau về nhiều đề tài khác nhau, nhất là những đề tài liên quan tới vấn đề Giáo Dục.

Chúng tôi cùng dậy trong Phân Khoa Kỹ Thuật tại một Community College ở Canada, vì vậy mà chúng tôi đã từng dậy chung một số sinh viên trong những môn học khác nhau. Học lực và hạnh kiểm của học trò do đó mà chúng tôi cũng đều biết rõ. Thoạt đầu, chúng tôi lấy làm ngạc nhiên thấy một số học trò khi còn đi học đã được điểm rất cao nhưng sau khi ra trường và đi làm, họ lại rất là lẹt đẹt trong vấn đề “thăng quan tiến chức”, không những như vậy mà một số còn bị mất việc luôn. Tôi còn nhớ rõ khoảng đầu thập niên 80, có một anh chàng – tạm gọi tên là Les Hart – hay vặn lý sự với tôi là tại sao anh ta lại mất điểm (nhỏ thôi) trong các bài Assignments. Tôi đã giải thích cặn kẽ và cho hắn coi các “solution with marking scheme” của tôi. Chứng nào, tật nấy, một hôm tôi đang bận giảng bài trong lớp, anh chàng còn gây sự và to tiếng với tôi về cái vụ mất điểm. Tôi ngưng việc giảng bài và tôi “giảng” cho anh chàng một bài học về cách xử thế. Tôi nói:

– Nếu “you” không thay đổi được cái thái độ của “you” khi cư xử với những người xung quanh “you”, tôi sẽ không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy “you” bị “fired” khi you đi làm! Tôi không chịu nổi cái tính hay bắt bẻ và thích ăn người của “you” lắm rồi!”

Khi tôi nói xong, tôi không ngờ cả lớp đều đứng lên vỗ tay đôm đốp và sau giờ học, một vài sinh viên ở lại lớp và nói với tôi:
– Well said and thank you, Sir!

Họ còn cho tôi biết là anh chàng Les Hart này đã từng “làm mưa, làm gió” với các vị giáo sư khác và làm mất thì giờ của các đồng môn trong giờ học.
Hai năm sau khi Hart đã ra trường, một người học trở về lại trường thăm chúng tôi và anh ta cho biết:
– Thầy biết không? Ðúng như lời Thầy nói ở trong lớp, Les Hart đã cùng làm chung tại Office với em nhưng đã bị Boss cho nghỉ việc rồi vì cả sở không ai chịu nổi được với hắn. Thật là tiếc, Thầy ơi vì Les nó rất thông minh nhưng lòng dạ lại chẳng ra gì!

Tôi nghĩ ngay đến hai câu thơ của cụ Nguyễn Du:

Có tài mà cậy chi tài,
Chữ Tài liền với chữ Tai một vần

Ba đồng sự chúng tôi vẫn tiếp tục theo dõi học trò từ lúc họ còn đi học cho tới khi họ ra đời làm việc. Thế rồi, đầu thập niên 90, chúng tôi rất vui thú được đọc trên tờ Time Magazine một bài viết về “Emotional Intelligence” (EQ) mà tôi tạm dịch là “Thông Minh Xúc Cảm ” (để đối nghịch lại với “Intelligence Quotient”, IQ, mà tôi tạm dịch là “Thông Minh Trí Tuệ”).
Vậy thì Thông Minh là gì?

Theo tự vị Encarta, “Thông Minh” là danh từ mô tả khả năng của Trí Tuệ về lý luận, về giải quyết các vấn dề, về lối suy nghĩ trừu tượng, về học hỏi và hiểu biết những thứ gì mới lạ cũng như biết rút tỉa từ những kinh nghiệm (Intelligence: term usually referring to a general mental capability to reason, solve problems, think abstractly, learn and understand new material, and profit from past experience).

Các nhà trường ngày xưa thường đánh giá rất cao và chú trọng đến IQ trong các địa hạt của khả năng sinh ngữ (linguistic), lý luận (logical), toán học (mathematical). Giáo Sư Howard Gardner trong Phân Khoa Giáo Dục của Ðại Học Harvard cho rằng con người còn có những tài năng (gifts) khác như tài năng sáng tác của các nhà văn, kiến trúc gia, nhạc sĩ, người sáng tạo kiểu mẫu (designers), vũ công (dancers), người buôn bán (entrepreneurs), hay là bất cứ tài năng nào để giúp cho đời sống con người được hoàn mỹ hơn.

Năm 1983, GS Gardner đã là người tiền phong về Multiple Intelligences (tạm dịch là “Thông Minh Ða Dạng”). Ông nêu ra 8 chiều thông minh hay tài năng dưới đây:
– Tài năng về Ngôn Ngữ (Linguistic Intelligence): Năng khiếu về ngôn ngữ, viết lách
– Tài năng về Lý Luận-Toán Học (Logical-Mathematical Intelligence): Năng khiếu về phần các con số- lý luận, toán học.
– Tài năng về Không Gian (Spatial Intelligence): Năng khiếu về hình ảnh và hội họa
– Tài năng về các động tác vận chuyển của thân thể (Bodily-Kinesthetic Intelligence): Năng khiếu về các động tác của chân tay, chạy, nhẩy …
– Tài năng về âm nhạc
– Tài năng về cách xã giao (Interpersonal Intelligence): Khả năng biết cách đối xử với người khác (people smart)
– Tài năng về Nội Xét (Intrapersonal Intelligence): Khả năng về biết cách tự đương đầu với nội tâm và cách suy diễn từ nội tâm (self smart)
– Tài năng hiểu biết về Thiên Nhiên, Vạn Vật (Naturalist Intelligence)

Community College của chúng tôi đã khuyến khích các nhà giáo chúng tôi nên áp dụng các phương cách của Multiple Intelligences trong các bài giảng dậy (Lecture notes), các bài thi Tests (bài thi trong Cá Nguyệt, Term) và Final Exams (bài thi cuối Cá Nguyệt, Term) để Ban Giảng Huấn chúng tôi thực sự “measure” (lượng sức) được học lực của học trò.

Việc bàn cãi về Thông Minh vẫn tiếp tục. Năm 1986, 25 nhà khảo cứu rất thông thái về đề tài “Thông Minh” đã cho rằng Thông Minh của con người bao gồm các lãnh vực như: – khả năng về cách ứng xử với các vấn đề nan giải mới có trong cuộc đời (general adaptability to new problems in life) ; – khả năng suy nghĩ trừu tượng (ability to engage in abstract thinking) ; – biết cách ứng biến trong mọi hoàn cảnh (adjustments to the environment); – khả năng trí tuệ và khả năng hiểu biết những gì đã có (capacity for knowledge and knowledge possessed); – khả năng biết tự tập, suy nghĩ độc đáo và hiệu nghiệm trong suy tư (general capacity for independence, originality, and productiveness in thinking); – biết cách kiếm thêm khả năng (capacity to acquire capacity); – thấu triệt các mối liên quan thích đáng (apprehension of relevant relationships); – khả năng biết xét đoán, thấu hiểu và suy luận (ability to judge, to understand and to reason); – khả năng suy diễn các mối tương quan (deduction of relationships); – khả năng thiên bẩm về nhận thức tổng quát (innate, general cognitive ability).

Người Tây Phương đã quan niệm rằng họ có thể “đo lường” được trí thông minh con người qua cách khảo nghiệm (IQ test – tạm dịch Intelligence Quotient là “Thương Số Thông Minh Trí Tuệ”) và nhiều người thường cho rằng những người có IQ cao thì sẽ thành công khi đi học cũng như khi đi làm.

Cho mãi tới thập niên 90, các nhà khảo cứu khoa học nhân văn tây phương mới thấy là phần “Thông Minh Xúc Cảm” (Emotional Intelligence- viết tắt là EI- được đo lường qua Emotional Quotient- viết tắt là EQ- tạm dịch là “Thương Số Thông Minh Xúc Cảm”) mới giúp con người đi đến thành công hơn trong công ăn, việc làm.

Có trí khôn (Intellectual Intelligence) vẫn chưa đủ, nhất là khi ra đời làm việc và theo sự nhận xét của GS Daniel Goleman thuộc Ðại Học Hardvard thì lòng ganh tị, bực tức, buồn rầu, lo sợ, thắc mắc, khắc khoải… thường ảnh hưởng rất nhiều tới đời sống của con người. Có nhiều người mặc dù phần trí tuệ (IQ) rất cao nhưng đến khi phải đương đầu với các vấn đề tình cảm khó xử, họ lại hoàn toàn mù tịt chẳng biết cách ứng xử ra sao hết. Nhiều người đã phải đi đến ly dị, sức khỏe tâm thần của họ bị bê bết và còn có nhiều người đã tự tử luôn.

GS Goleman đã lên tiếng để cho mọi người biết những gì mình cần biết về chính mình để tránh những tai họa về sau. Ông kêu gọi nhà trường nên dậy học sinh những căn bản về EQ , “Thông Minh Xúc Cảm”

EQ bao gồm những gì? GS Goleman nêu lên 5 điểm chính sau đây:
1.
Tỉnh Thức (Self Awareness): Mình nên biết lòng mình (emotions) và những cảm nhận (feelings) mà mình đang có.

2. Quản chế nỗi vui buồn (Mood Management): Cần biết cách đương đầu với những cảm nhận (feelings) đang xẩy ra để có thể đối phó và tự kiềm chế đúng lúc.

3. Ý đồ (Self motivation): Cần gom góp lại những cảm nhận (feelings) đang hiện hữu và đưa chúng tới một mục tiêu (goal) rõ rệt mặc dù mình đang trù trừ (self doubt), trì trệ (inertia), hoặc đang hành động bốc đồng (impulse)

4. Giao cảm (Empathy): Cần phải nhận biết được những cảm nhận (feelings) của người khác và tác động lại bằng ngôn từ (verbal cue) hay cử chỉ (non verbal cue) cho đúng cách.

5. Cách Giao Tiếp (Managing Relationships): Cần có cách ứng xử (interpersonal interaction) cho hợp lý, hợp tình, biết cách hòa giải (conflict resolution) và thương lượng (negotiations).

GS Goleman còn cho biết “Thông Minh Xúc Cảm” không những giúp cho con người tránh được các hậu quả tai hại mà còn giúp cho con người sống hài hòa, an vui với vợ-chồng-con cái và thành công ngoài đời nữa. Ðiều đặc biệt là con người có thể học thêm và phát triển phần “Thông Minh Xúc Cảm” này nếu họ biết cách. Nếu không biết cách duy trì nó, con người sẽ còn giảm mất phần EQ nữa.

Nói tóm lại, nhờ có “Thông Minh Trí Tụê” (IQ) mà con người có thể học hành dễ dàng hơn nhưng như vậy vẫn còn chưa đủ. Ðó mới là phần “Trí”. Con người cần phải có thêm phần “Thông Minh Xúc Cảm” (EQ) thì mới biết cách ứng xử và thăng tiến kể từ khi bắt đầu đi học cho tới khi ra đời làm việc và về hưu. Các lãnh tụ, các chính trị gia thường có cả IQ lẫn EQ rất cao. Họ có thể rất là khôn ngoan, đức độ mà họ cũng có thể rất là gian hùng và tàn ác.

Cả IQ và EQ không đặt trọng tâm vào vấn đề Ðạo Ðức của con người. Cái nguy hại trên thế giới hiện nay là nhà trường đã quá lơ là đến các vân đề thuộc về phần “Công Dân Giáo Dục” (rất liên quan đến EQ) cho nên học trò đôi lúc rất… khó dậy vì học trò chỉ nghĩ đến các lợi lộc cho riêng cá nhân họ và nhiều lúc họ đã thiếu mất phần căn bản của “Tiên học lễ, hậu học văn”!

Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài.

Sang đến Thế Kỷ 21, người Âu Mỹ đã “đi thêm một bước nữa”: họ cho ra đời phần thông minh mà tôi tạm dịch là “Thông Minh Tâm Linh” (Spiritual Intelligence, viết tắt là SI và được đo lường qua Thương Số Thông Minh Tâm Linh – Spiritual Intelligence Quotient viết tắt là SQ).

IQ có thể ví như là phần thông minh của máy điện toán Computer, EQ là phần thông minh của loài người và vài loài động vật có vú thượng đẳng (mammals), trong khi đó SQ (Spiritual Quotient) thì chỉ loài người mới có được mà thôi vì SQ liên quan đến phần Tinh Thần và Tâm Linh của con người. Các nhà khảo cứu về Khoa Học Nhân Văn cho rằng phần SQ là phần căn bản nhất so với IQ và EQ. Con người cần phải có phần “Thông Minh Tâm Linh” này để phát triển lòng mong muốn tìm hiểu: – về ý nghĩa của sự vật, – về sự việc nhìn xa trông rộng và – về chân giá trị .
Nhờ có SQ mà con người có những ước mơ và cố gắng đạt nguyện chúng. SQ đặt vấn đề về phần tâm linh và vai trò của đạo giáo trong đời sống của con người.
Vì “mới ra lò” sau năm 2000 nên tôi chắc là ít người đã biết đến SQ và SQ cũng đang còn ở trong thời kỳ phôi thai nên chúng ta chưa thực sự thấy rõ được cái tầm vóc và tương lai của SQ ra sao.

Như vậy người Tây Phương mới chỉ nói tới IQ, EQ, SQ nhưng theo tôi nghĩ thì trên phương diện giáo dục họ chưa thực sự trú trọng để tâm tới phần Ðạo Ðức qua chữ “Tâm” và chữ “Ðức” trong văn hóa Việt Nam và Phật Giáo của chúng ta. Tôi cảm nhận được phần tinh hoa về “Ðạo Làm Người” của tổ tiên Việt Nam chúng ta trong cách dậy dỗ con người từ đời nọ đến đời kia. Tôi cũng cảm nhận thấy rằng tôi đã rất may mắn được hấp thụ nền đạo lý và phần tâm linh sâu sắc này.

Trong bài viết này, tôi muốn dùng lối suy nghĩ của Tây Phương và Ðông Phương để giải thích một vài điều mà chính tôi đã thấy tận mắt. Tôi cũng muốn đem so sánh quan niệm của Việt Nam và Tây Phương về “Thế nào là Thông Minh”. Tôi mạo muội viết ra đây những gì tôi biết một cách thô thiển về chữ “Tâm” của Phật Giáo và chữ “Ðức” trong văn hóa Việt Nam cội nguồn. Xin quý vị bỏ qua cho lối “múa rìu qua mắt thợ” này và nhất là những sai lầm của tôi, xin đa tạ trước.

Theo tôi nghĩ, muốn duy trì cái “Ðức”, con người cần có cái “Tâm” trong sáng (nói nôm na là “Tấm Lòng tốt, đạo đức, trung thực, trong sáng, dễ dãi …” trong tiếng Việt) để nhận diện được sự việc một cách trung thực và luôn luôn để ý đến các hành động của chính mình cho thích hợp với “Ðạo làm người” trong đời sống hàng ngày.

Theo Tự Ðiển Phật Giáo của Tác Giả Ðoàn Trung Còn, chữ “Tâm” được định nghĩa như sau:

“Chữ tâm” có những nghĩa về vật chất và về tinh thần.

Về vật chất, tâm là:

Trái tim. Như trong Bồ Tát giới kinh có nói: Hễ Bồ Tát nghe tiếng bọn người ác ngoại đạo đem lời gièm pha phá hủy Phật giới, dường như ba trăm mũi giáo đâm vào tâm mình.
Chỗ chính giữa. Cũng như trái tim ở chính giữa thân thể, cái chi ở chính giữa sự vật, gọi là tâm, trung tâm, trung tâm điểm.

Về tinh thần, tâm thường dịch nôm là lòng, nghĩa là:

Lòng dạ, nỗi niềm cảm động. Như: An tâm, loạn tâm, ưu tâm, hỷ tâm.
Nội: bề trong, đối với ngoại: bề ngoài. Như: Tâm nhãn.
Chí, lòng cương quyết. Như: nhứt tâm, chuyên tâm, tâm lực.
Ý: Phạn: Citta, tức tâm ý. Như: tham tâm, sân tâm, si tâm, Bồ đề tâm: Bodhicitta.
Thức: Phạn: Vijnna tức tâm thức. Như trong Bát thức: Tám thức, người ta thường gọi các thức A lại da là tâm.Trí, tức trí thức, Tâm trí. Như: Phàm tâm, Vọng tâm, Thánh tâm, Phật tâm, Chơn tâm.
Cái linh giác chung của: chúng sanh, vạn vật, vũ trụ, tức là tâm linh, thần hồn. Như trong Niết Bàn Kinh, quyển 34, Phật phán: Những chúng sanh ở đời làm thiện hoặc làm ác, khi xả thân, thì Tứ đại đều tan rã hư hoại. Lúc ấy, người nào đã làm Nghiệp thuần thiện thì cái tâm đi lên, kẻ nào đã làm nghiệp thuần ác, thì cái Tâm đi xuống.
Căn bổn, chỗ phát sanh, chỗ trụ cốt. Như: tâm địa tâm vương.
Tánh, tức tâm tánh. Như: tâm bình, tâm trực.
Chỗ bí mật. Như: tâm sự, tâm truyền. Tâm đối với: sắc, trần, cảnh, thân. “

Tôi nghĩ rằng chắc Quý Vị cũng giống như tôi, trong cuộc sống hàng ngày, có những lúc mình thích có cái này, có cái nọ đến độ như tham lam, có những lúc mình thấy bực tức, oán hờn, ghen tị, sợ hãi, vui vẻ … Những lúc này thật khó cho mình có thể bình tâm mà chăm chú vào một việc gì khác được vì đầu óc mình nó còn ở đâu đâu. Cũng chỉ là vì cái “Tâm” ( hay nôm na ra là lòng dạ) của mình nó đang lăng xăng ở đâu đâu nên khó lòng mà mình sống thật yên ổn bên trong được. Nếu mình gọi đó là cái “Tâm”, vậy thì “Tâm” trong Ðạo Phật là gì và “nó” đang ở đâu? Câu hỏi này không dễ gì mà trả lời được.

Tác giả Phạm Công Thiện đã viết về “Tâm” theo quan niệm Phật Giáo như sau:

“Cái Tâm là cái gì?

Chúng ta thường nói rằng mọi sự đều do tâm tạo ra. Điều này lại càng chính xác hơn nữa, nếu chúng ta đừng bao giờ đồng nhất và đồng hóa với cái bản
ngã hay cái “tôi” nội tại của chính mình. Hiểu được tâm là gì chính là điều khó khăn nhất trong những điều khó khăn nhất của kiếp người. Cái lòng của mình hay cái lòng của người đời không phải là chuyện dễ hiểu như chúng ta thường tưởng như vậy.
Đừng bao giờ tự nhận rằng mình tự hiểu cái lòng mình hay hiểu được lòng người; có ý thức trọn vẹn như vậy thì mới có khả năng tạ ơn, ngưỡng mộ, và tôn kính tất cả những gì khó khăn và khó hiểu nhất hiện nay. Mỗi khi mình vừa tìm cái tâm thì tâm đã đi mất rồi. Tâm không phải là cái mà mình có thể đạt tới được trong quá khứ, hiện tại, và tương lai. Điều bí mật lạ thường là cái tâm không ở thời gian và không ở trong không gian mà vẫn bừng sáng liên tục.
Điều đầu tiên cần hiểu về cái tâm là cái tâm không là một cái gì cả mà tâm lại không là hư vô. Nói về bản chất hay về tính thể của cái tâm là tạm dùng danh từ dễ hiểu để gọi một cái không hề giống như cái mình tưởng nhận lầm lạc. Nói theo danh từ Phật Pháp thì tâm không có tự tính, vì không có tự tính (vô tự tính) nên không có thực thể, không có hữu thể. Tâm là Không Tính mà Không Tính lại chính là Tâm. Điều cuối cùng cần nhớ thường trực: cái Tâm vốn là trống trải, trong veo, sáng ngời, vô ngại, thông đạt. Sự trống rỗng ở đây không phải là không có gì cả mà lại biết được tất cả, sáng và sướng đồng lúc.”

Tôi xin trích một đoạn viết về cái “Tâm” trong Tạng Thư Sống Chết dưới đây:

”… Lúc đó tôi chừng chín tuổi. Thầy tôi gọi tôi đến và bảo tôi ngồi trước mặt ông. Chỉ có hai thầy trò chúng tôi. Thầy tôi bảo:
– Bây giờ ta sẽ khai thị cho con về bản lai diện mục của tâm.

Cầm cái chuông và trống tay nhỏ lên, thầy triệu thỉnh tất cả những bậc thầy trong hệ truyền thừa, từ Phật nguyên thủy trở xuống đến bậc thầy của chính thầy. Rồi thầy bắt đầu khai thị. Bỗng chốc thầy ném vào mặt tôi một câu hỏi không thể trả lời:

– Tâm là gì?

Thầy nhìn xoáy sâu vào mắt tôi. Tôi hoàn toàn kinh ngạc. Tâm tôi tan ra. Không còn ngôn từ, tên gọi, ý tưởng nào ở lại – Không có tâm nào hết, quả thế.
Cái gì xảy ra trong giây phút đầy kinh ngạc ấy? Những ý niệm quá khứ đã chết, tương lai chưa đến; dòng tư tưởng của tôi bị cắt ngang đột ngột. Trong cú sốc đó một khoảng trống mở ra, trong khoảng trống ấy chỉ có một giác tính tuần túy trực tiếp về hiện tại, một cái gì hoàn toàn vượt ngoài mọi bám víu chấp thủ. Giác tính ấy đơn giản, sơ nguyên và căn để. Tuy vậy sự giản đơn thuần túy đó cũng tỏa sáng đầy sự ấm áp của một niềm bi mẫn bao la.

Biết bao nhiêu điều tôi có thể nói về giây phút ấy! Thầy tôi rõ ràng đang đặt cho tôi một câu hỏi, nhưng tôi biết thầy không chờ đợi một câu trả lời.Tôi chưa săn tìm giải đáp thì đã thấy rằng không có giải đáp nào có thể tìm kiếm. Tôi ngồi thộn ra trong kinh ngạc, nhưng trong khi ấy một niềm tin vững chắc sâu xa sáng chói tôi chưa từng biết đến, đang dâng tràn trong tôi.
Thầy tôi đã hỏi: “Tâm là gì?” và vào lúc ấy tôi tưởng chừng ai cũng biết rằng, không có chuyện có hiện hữu một cái tâm nào cả, làm sao tôi có thể tìm ra.Vậy, dường như đi tìm tâm thực là phi lý.
Sự khai thị của thầy tôi đã gieo một hạt giống sâu xa trong tôi. Về sau tôi mới biết đấy là phương pháp khai thị được dùng trong truyền thống chúng tôi. Tuy nhiên, vì lúc đó tôi không biết, mà những gì xảy ra có vẻ hoàn toàn bất ngờ, và do đó càng kinh hoàng mãnh liệt.”

Như vậy có phải rằng ta chỉ có thể cảm nhận được cái “Tâm” của ta mà thôi?
Làm sao mà cảm nhận được cái “Tâm” của mình nhỉ?

Khi tôi đã trên 40 tuổi, có lắm lúc tôi thấy rất mệt mỏi, buồn bực, lo âu, đời đầy áp lực… Tôi muốn ngủ mà ngủ cũng chẳng được vì đầu óc bị căng thẳng. Tôi không muốn uống thuốc ngủ và một người bạn đã chỉ cho tôi cách thực tập “Transcendental Meditation”: mình phải cố gắng làm sao cho đầu óc ngăn chặn được những ý nghĩ đến liên tục trong đầu óc để hy vọng là mình không còn phải vướng bận gì nữa (blank out the mind). Những khi tôi làm được như vậy, tôi thấy như được tiếp sức bởi một luồng “energy” sảng khoái, đầu óc tôi trong sáng và nhẹ nhàng, tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay và khi tôi ngủ dậy, tôi thấy rất khỏe khoắn, giống như cái “battery” được “fully recharged “vậy. Tuy nhiên, cũng có lúc tôi không thể “concentrate” (tập trung tư tưởng) nổi để chặn đứng những ý tưởng đang khởi niệm trong đầu óc vì tâm trí tôi bất an, lòng dạ rối bời và khi ngủ dậy, tôi cảm thấy mệt mỏi.

Tới tuổi 50, tôi đi dự khóa Thiền của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh. Cách Thiền rất là đơn giản: trong một căn phòng tĩnh mịch, ngồi trên một cái gối (Tọa Cụ), hai chân xếp lên nhau (thế Kiết Già), mắt lim dim và bắt đầu đếm hơi thở (Thí dụ: 1 là thở vào, 2 là thở ra, 3 là thở vào, 4 là thở ra …Ðếm đến 100 thì lại bắt đầu đếm lại từ đầu…). Thực tập theo lối này (Thiền Chánh Niệm, Mindfulness Meditation) tôi thấy đơn giản, dễ dàng và nhẹ nhàng hơn vì tôi không phải luôn luôn cố gắng xua đuổi ý nghĩ trong đầu gì hết. Ngồi đếm hơi thở, tự nhiên con người từ từ mang phần hồn (tâm trí) về lại với phần thân xác vì đầu óc chỉ chú trọng tới việc đếm hơi thở mà thôi. Khi tâm trí mình an trú trong thân xác, người ngồi Thiền đạt được Chánh Niệm (Mindfulness) và tự nhiên mình biết mình đang làm gì, đang ở đâu mà không còn suy nghĩ vẩn vơ nữa. Tiếp tục thực tập lối Thiền Thở này, con người sẽ sống trong tỉnh thức (Self awareness), biết mình đang làm gì, đầu óc đỡ bị rối bời hơn và có thể tự kiềm chế được lòng mình…

Tôi đã thực tập Thiền theo lối này được hơn 10 năm. Mỗi lần Thiền như vậy, tôi cảm thấy rất nhẹ nhàng bên trong và tôi có thể tự ý mang ra những xúc cảm như vui, buồn, sầu, lo, ai oán…để đối diện với chúng rồi tôi có thể tìm ra những nguyên do tại sao tôi lại có những cảm xúc (feelings) như vậy. Những hôm khí hậu tốt và tôi có thì giờ rảnh rỗi, tôi đi bộ (Thiền Hành) trong những nơi thanh vắng. Tôi đã từng ngồi đối diện với chính tôi bên dòng nước, trong công viên, trong căn phòng… Những lúc này, tôi chỉ muốn được “totally left alone” để tự mình ngồi “soi bóng” chính mình tôi mà thôi. Có lẽ đây là những giây phút mà tôi hằng ao ước để thấy đời thanh thản, không vướng bận vào bất cứ việc gì để rồi bất chợt tôi “thấy” được nhiều điều mà tôi đã hằng muốn biết trong nhiều năm qua.

Có những đêm, sau khi ngồi chấm bài hay soạn bài, nếu không ngồi Thiền trước khi đi ngủ đến khi tôi thiếp đi, tôi thấy đầu óc tôi chứa đầy các dòng chữ, các con số và nhiều thứ đã làm tôi bận tâm suốt trong ngày hôm đó. Buổi sáng khi thức dậy, tôi cảm thấy lừ đừ, mệt mỏi vì giấc ngủ của tôi bị “phân tâm”. Nếu tôi ngồi Thiền trước khi đi ngủ – chỉ cần 15 phút mà thôi – tôi ngủ một giấc thật ngon, không hề thấy các dòng chữ, các con số… trong giấc ngủ và tôi cảm thấy khỏe khoắn khi tỉnh dậy.

Trong đời dậy học, tôi cũng đã thấy một số sinh viên khi thi Term Test (kỳ thi trong Niên Khóa) hay Final Exam (Thi tổng quát cuối Niên Khóa) thường hay bị “nervous” (lo quýnh lên) đến nỗi có người đầu óc của họ đã quên hết và không còn nhớ được điều gì đã học nữa (blank out). Rút tỉa từ kinh nghiệm này, tôi chỉ cho họ cách ngồi đếm hơi thở ở ngay trong lớp học: Thở vào một hơi thật sâu (thở vào bụng!) và từ từ thở ra cho tới khi bụng xẹt xuống. Chỉ cần “Thiền Thở” như vậy 5 phút mà thôi. Học trò tôi rất ưng ý với phương pháp này.

Sinh viên trong Phân Khoa Kỹ Thuật của chúng tôi cũng thường phải qua các “job interview” trong các “Co-op Term” (Trong Cá Nguyệt này, học trò đi làm thay vì đi học) hay khi đi xin việc làm sau khi đã ra trường. Ðể tránh cái vụ “feeling nervous” (lo “cuống đì”), tôi khuyên họ nên “Thiền Thở” trong khi chờ phiên họ được “interview”. Họ thấy được an tâm hơn trong lúc chờ đợi và khi họ được “interview”, họ đã “perform much better” (ăn nói lưu loát và có vẻ tự chủ hơn) vì họ thấy rất bình tĩnh và tự chủ, tự tin trong lúc “job interview” .

Trong 5 năm cuối trước khi tôi về hưu, tôi thường phải lái xe mất ít nhất 45 phút trên xa lộ mỗi lần đi và mỗi lần về. Có những buổi chiều, trên đường về trong xa lộ, tôi thấy mệt đừ sau một ngày làm việc mà mặt trời còn chiếu thẳng vào mặt tôi và xe cộ chạy rầm rầm xung quanh tôi nữa. Tôi hay nhìn đồng hồ và tự nhủ:

– Trời ơi, còn những 30, 20, 15 … phút nữa mới tới nhà sao? “

Xe cộ càng ngày càng đông làm tôi thấy “nervous” và mệt mỏi hơn (đó là chưa kể đến những hôm trời bão tuyết hãi hùng). Tôi nhớ ngay ra cách thức “Thiền Thở” và áp dụng liền: vừa lái xe và để ý tới cái “lane” của tôi, vừa tiếp tục đếm hơi thở ngay trong lúc lái xe. Thật là nhiệm mầu: tôi về đến nhà lúc nào không hay mà tôi chẳng còn thấy mệt mỏi gì nữa vì tôi đã hít được nhiều Oxygen vào trong cơ thể do đó các bắp thịt của tôi trở nên thư giãn hơn!

Tôi chẳng biết tôi đã kiếm ra được cái Tâm của tôi hay chưa, có điều tôi biết rất rõ là tôi ngủ rất dễ, giấc ngủ rất ngon, tôi ngủ một mạch cho đến sáng luôn và tôi cảm thấy cuộc sống của tôi an nhàn và ít khi bị day dứt, buồn bực … như ngày xưa. Có lẽ chắc cũng nhờ cái trạng thái tâm an nhàn này (Tâm an nhàn đã hỗ trợ cho phần EQ của tôi để rồi EQ còn trợ giúp cho phần IQ?) mà đầu óc tôi đã nhiều lúc tự nhiên “thấy” rõ được những ý tưởng, những bài giải của các “con toán cuộc đời” và rất nhiều điều mà ngày xưa tôi không thể “thấy rõ” được chúng mặc dù tôi đã từng đi tìm kiếm trong nhiều năm trước.
Tôi xin chép vào đây vài vần thơ tôi ghi lại trong một đêm tỉnh giấc sau khi tôi ngồi Thiền rồi ngủ thiếp đi.

MỘNG THƯỜNG

Nửa đêm về sáng
Tự trong cơn mơ
Tôi thức giấc
Viết bài thơ nàỵ

Có những giấc ngủ say
Và đầy mộng mị
Tôi không thấy kinh dị,
Không vui mà cũng chẳng buồn.
Không sầu, không lo,
Không thương, không tiếc.
Tôi không nghe thấy tiếng mình nói
Mà chỉ lắng nghe trong tĩnh lặng.

Tôi đã được trở về
Như một đứa trẻ thơ:
Cali, Sài Gòn, Hà Nội, Sydney…
Gặp Cha, thăm Mẹ
Và rất nhiều người thân
Mà đã ra đi vĩnh viễn từ lâu.
Gặp nhau không âu sầu,
Không nhớ, không thương.

Tôi chỉ muốn luôn luôn
Được sự êm đềm
Trong Mộng Tưởng.
Giấc mộng không vấn vương
Giấc mộng bình thường.

Đời vui, đời buồn,
Đời vời vợi,
Đời nhiều vấn vương,
Đời đầy áp lực
Đè nặng con người,
Đi vào Tâm Thức.

Khi Đời lắng xuống
Trong giấc ngủ hồn nhiên
Hay trong lúc ngồi Thiền
Tôi cảm thấy …
Đời người như sợi tơ trời
Nhiều sắc, nhiều mầu
Bập bềnh
Trong Không Gian, Vũ Trụ
Biến đổi không ngừng
Theo thời gian và không gian.

Giấc ngủ nhẹ nhàng hơn
Là phải sống
Trong Cõi Chết
Của đời sống
Văn Minh, Máy Móc
Hàng ngày.

Vô Không
Sept. 1996

Xin Quý Vị lượng thứ bỏ qua cho những gì mà tôi viết làm nhàm tai Quý Vị. Cũng xin cám ơn Quý Vị đã kiên nhẫn đọc những dòng chữ này.

Xin chúc Quý Vị được Thân Tâm An Lạc

Tài liệu tham khảo:

1. Intelligence Quotient:

2. Multiple Intelligences

3. Emotional Intelligence

4. Spiritual Intelligence

5. Phật Học Tự Ðiển
Ðoàn Trung Còn

6. Tinh Túy trong sáng của Ðạo Lý Phật Giáo
Những Lời dạy thực tiễn của Tổ Sư Thánh Tăng Ấn Độ ATISA lúc truyền Đạo Phật vào Tây Tạng
Tác giả: Phạm Công Thiện – Viên Thông California Xuất Bản 1998


7. Tạng Thư Sống Chết
The Tibetan Book Of Living And Dying

Ðàm Trung Phán

Giáo Sư Công Chánh hồi hưu
March1, 2005-2011
Mississauga, Canada

Thứ Bảy, 21 tháng 2, 2026

Hoa, Thiên Nhiên Và Thơ


1. HOA DẠI VÀ HOANG VU

Những ngày tháng hè của thời tôi còn là sinh viên tại Úc Ðại Lợi, không những tôi đã phải xa nhà, xa gia đình, xa bạn bè mà tôi còn phải bắt buộc đi thực tập ngành kỹ sư Công Chánh tại những công trường xa xôi trong nội điạ của đất Úc. Hè năm thứ ba, nơi tôi làm, tôi được có xe riêng để chạy từ nơi này sang nơi khác trong công trường của cái đập nước đang được xây cất . Mùa hè nội địa Úc nóng như sa mạc và ban đêm lại rất lạnh. Trong giờ ăn trưa, tôi thường lái xe vào những khu hoang vu của công trường mà xem các hoa dại đang nở đỏ rực. Nỗi nhớ nhà và là một sinh viên đang tuổi lớn phải đương đầu với những khác biệt của hai nền văn minh Âu và Á đã làm tôi cảm thấy đôi lúc rất lạc lõng và hoang mang . Nhìn hoa nở và nhìn mây trắng trôi về miền vô định, tôi bỗng “ngộ ra” một điều : tôi đã tìm thấy bạn đồng hành của tôi mà người này lại là chính tôi đang “gửi gió cho mây ngàn bay”.


HOA DẠI VEN ĐƯỜNG

Rồi tuổi đôi mươi qua đi lúc nào không hay. Nhưng tôi còn nhớ rất rõ các hoa Christmas Bells, những đám mây trắng, những cảm giác “một mình mình biết, một mình mình hay”. Ðến tuổi 50, tôi chợt thấy “connected” được với Dĩ Vãng và những hình ảnh, những kỷ niệm này đã được tôi ghi chép lại trong bài “Hoang Vu” dưới đây:

HOANG VU

Tôi đã qua nhiều bãi biển hoang vu
Tuổi trẻ đã trôi theo tiếng sóng gầm
Và chìm sâu trong giòng Dĩ Vãng.

Thập niên sáu mươi
Những ngày đi xây đập nước
Trong sa mạc đại lục Úc Châu.
Trời nóng như thiêu
Ruồi đen rất nhiều
Uống nước hồ, bụng sôi như giòng suối.
Tôi đi làm trong công trường
Mùa hè Giáng Sinh
Sỏi nóng như nung.
Tôi đã qua các trưa hè
Trong khu rừng hoang dã
Đầy hoa Christmas Bells và nhiều rắn độc,
Nằm thả hồn, nhìn mây trắng bay.
Vời vợi, chợt nhớ người yêu!

Đêm sa mạc nóng bức,
Những buổi chiều tà oi ả
Ngồi uống bia cùng đồng nghiệp.
Các week end lạc lối
Vì đường xa không về thăm bè bạn,
Em giờ này, Em ở nơi nao?

Hàng Gum Trees đứng im
Trong trưa hè không gió,
Một đàn bò thong thả nhai ăn.
Trong bóng mát
Bầy thỏ dại chạy nhẩy đâu đây.

Quê hương tôi giờ này xa lắc,
Tôi, một kẻ lạc lối giữa Á và Âu.
Sa mạc này, tôi đã tìm thấy tôi!

Nguyễn Đàm Duy Trung
50 tuổi đời
May 1992

2. GUM TREES (CÂY KHUYNH DIỆP)


Nhiều ngày hè tại xứ Úc, tôi đã từng lái xe trên các con đường miền quê (rural roads) của vùng New South Wales và tôi đã thấy rất nhiều cây Khuynh Diệp (Eucalyptus, Gum Trees) đứng sừng sững uy nghi trong cái oi bức dưới bầu trời xanh biếc của mùa hè như đang chờ đợi một làn gió mát nuôi thân .

Tôi những tưởng đã quên hết những hình ảnh nàỵ. Mùa Hè năm 1999, khi sang thăm viếng California, tôi đã thấy rất vui thú kiếm lại được những hình ảnh đó và nhất là những cảm xúc của “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” qua hình ảnh của các cây Gum Trees cao chót vót tại New Port và San Diego. Vẫn cùng một hình ảnh và cảm giác nhưng chỉ khác biệt nhau về thời gian tính: hơn 30 năm sau . Ngày xưa tôi còn là một sinh viên rất đơn lẻ nhưng 30 năm sau, tôi đã trở thành một nhà giáo và tự cảm thấy không những không còn đơn độc mà tôi còn được đền bù nữa. Tuy nhiên cũng trong cái khoảng thời gian 30 năm đó, đời tôi đã từng trôi giạt, lạnh lẽo, ngả nghiêng nhưng tôi vẫn còn được may mắn mà sống sót trơ trơ như các hàng Gum Trees đơn độc và khô cằn này. Tôi ghi vội những diễn biến nội tâm trong bài Gum Trees dưới đây:

GUM TREES

Có những buổi chiều
Đìu hiu trong Đại Lục Úc Châu.
Có những lời nguyện cầu
Trong Thánh Đường tĩnh mịch đêm khuya.
Có những lần ta về
Với chính ta
Tại miền Canada lạnh giá.

Trên Cõi Ta Bà
Ta đã bỏ đi tất cả.
Có ai biết
Ta đã lặng lẽ ra đi
Mặc xác những dị nghị!
Để cuối cùng
Ta đã tìm thấy chính ta.

Hỡi hàng Gum Trees
Ta và Mi
Là hai kẻ đồng hành
… Dị biệt!

Vô Không
December 2000

3. PHƯỢNG VỸ

Lần đầu tiên tôi thấy Hoa Phượng khi tôi theo thân phụ đi học xa nhà tại Phúc Yên. Lúc đó, tôi mới tám tuổi . Cây Phượng thật là to và cao vút che cả một phần sân trường . Mùa hè, nhìn Phượng nở và nghe ve kêu, thật là ngoạn mục. Tôi cảm nhận thấy hoa Phượng rất là đẹp nhưng trong cái đẹp lại chứa đựng một nỗi buồn man mác báo hiệu cho một sự chia ly nào đó.

Rồi Hoa Phượng tại Saigon, sau khi gia đình tôi di cư vào Nam, đã để lại cho tôi biết bao những hình ảnh khác nhau. Tôi nhớ lại những kỳ thi Viết và Thi Vấn Ðáp của Trung Học Ðệ Nhất Cấp, Tú Tài 1 và Tú Tài 2. Tôi hồi hộp nhớ lại các trường thi và nhất là những kỳ đi nghe kết quả thi của tôi, của bạn bè và của những người thân thương trong mùa Hoa Phượng nở. Ðang tuổi lớn, Hoa Phượng đã đánh dấu một cái mốc thời gian của tôi và từ đó, tôi mê luôn cả những “bông hoa biết nói” , biết mặc áo dài mang tên các loài hoa như Phượng, Lan, Hồng, Ðào … Nhưng lúc đó chỉ biết mê để mà … mê mà thôi vì tôi còn đang mải học chối chết cho xong hai cái bằng Tú Tài!

Từ ngày xuất ngoại, tôi vẫn thường đi kiếm Phượng Vĩ, nhất là khi tôi thăm viếng các nước miền Nhiệt Ðới – như để cho tôi tìm lại lại những kỷ niệm của ngày còn trẻ tại quê nhà . Năm 1991, tôi chợt thấy Phượng Vĩ nở đỏ chói hai bên vệ đường tại một thị chấn nhỏ của Dominican Republic khi gia đình tôi đi nghỉ hè. Tôi tiếc hùi hụi là vì tôi không chụp được một tấm hình nào cả vì rằng xe Bus đi hơi nhanh và tôi không kịp lấy máy hình ra kịp. Còn chăng trong trí óc tôi chỉ là hình ảnh của một con đường nhỏ với hàng Phượng Vĩ hai bên đường, mờ mờ ảo ảo sau lớp bụi khi xe Bus đã đi qua.


Bỗng đâu, tháng Bẩy năm 2002, khi chúng tôi cùng một số bạn bè đi nghỉ hè tại Punta Cana, Dominican Republic, không hẹn lại lên, tôi may mắn chụp được một số hình ảnh hoa Phượng qua ống kính Digital. Tôi cảm thấy như đã “connect” được với khoảng thời gian của 40, 50 năm về trước. Tôi thấy vui mừng như “gặp mẹ về chợ” vậy nhưng vẫn thấy ngậm ngùi làm sao ấy. Xin mời Quý Netters đọc thơ và xem các hình ảnh Hoa Phượng dưới đây:

VÔ THƯỜNG

Nhìn hoa Phượng nở
Lòng thấy sững sờ
Nhớ hồi còn thơ
Ðời nhiều mộng mơ
Rồi đời tan vỡ
Còn gì để nhớ
Còn gì mà chờ
Ðời như giấc mơ
Kiếp người tạm bợ.

Vô Không
Tháng Sáu, 1994

PHƯỢNG ƠI

Phượng ơi, Phượng nở trong lòng,
Bây giờ Phượng đã vào lòng đất sâu.
Cớ sao trời lại mưa ngâu,
Nhìn hoa Phượng nở, thêm sầu, thêm thương.
Thân trai ta vẫn dặm trường,
Đường đời rong ruổi, lòng vương nơi nào!

Văn Khoa
Tháng Sáu, 2000

4. PHONG LAN

Năm tôi 17 tuổi, tôi thấy Phong Lan tại Việt Nam và tôi bắt đầu thích Phong Lan từ hồi đó. Qua tuổi 40, khi tôi bắt đầu đi vào một khúc quanh của cuộc đời, tôi mới thực sự “có duyên” với Phong Lan và Ðịa Lan.

Có những niềm vui rất khó diễn tả được khi tôi trồng lan, ngắm hoa lan, đi vào green house xem lan, đi mua lan, thay chậu cho lan, mang lan ra vườn vào những tháng hè tại Canada … Trong cái Thú Chơi Lan, tôi có cảm tưởng như là tôi đang sống trong một thế giới khác với cái “Tĩnh” của Nội Tâm, xa vời với những thứ ràng buộc, với những stress của đời sống hàng ngày và để cho tôi tránh được nhiều cái phiền toái trần gian.


PHONG LAN

Mỗi lần Phong Lan nở
Đứng nhìn ngắm lặng im
Thả hồn về Cõi Mộng
Đi tìm kiếm nàng Tiên.

Giữa núi ngàn thác đổ
Tiếng chim hót, vượn kêu
Ngạt ngào mùi nhiệt đới
Hoa lá mọc hoang đường.

Chót vót đỉnh ngọn cây
Phong Lan lay theo gió:
Hoàng Hậu Cattleya.
Nàng khoe mầu yếm thắm
Kiêu kỳ nơi gió sương,
Ban ngày, chàng ong lượn
Đu đưa nhịp vấn vương.
Chàng vào cung nàng hưởng
Nàng trao chàng nhụy hương.

Rồi văn minh tràn đến
Nhiều rừng rậm thưa đi.
Nàng Phong Lan khuất dạng
Còn đâu Ong, Phấn, Hương!

Nguyễn Đàm Duy Trung
December 1994

Có những nỗi buồn dai dẳng theo tôi từ ngày này qua tháng nọ, khi ẩn , khi hiện mờ mờ ảo ảo, nhưng tôi tin chắc là thế nào cũng có ngày tôi “chụp” được cái bóng hình này. Không những vậy, tôi hy vọng rằng cái bóng hình này còn sẽ hiện nguyên hình “bằng da bằng thịt” nữa. Xin mời Quý vị đọc:

PHONG LAN VÀ GIAI NHÂN

Một sáng mùa xuân
Chim hót xa gần
Mây trắng phù vân
Bay về vô tận.
Hoa đào, hoa mận
Nở rộ ngoài vườn
Bên hàng hướng dương
Có con bướm trắng
Bay lượn chập chờn.
Lòng tôi gợn buồn
Ngắm hoa lan tìm
Tôi vẫn đi tìm
Sao Em ẩn hiện?
Trông Em diện tiền
Hiền như Phật Mẫu.
Nếu đã thương nhau
Sao không xuất hiện?
Hay Em là Tiên?
Tôi người trần tục
Năm tháng nhiều lúc
Đi trong sương mù.
Đông, Hạ, Xuân, Thu
Đi tìm chân lý.
Công danh, ý trí
Có nghĩa lý gì!
Tôi kẻ Tình Si
Say men thi vị
Với hình bóng em.
Xin hãy hiện lên
Với bông Lan này
Tôi đang chờ đây
Thẹn thò chi nữa!

Nguyễn Đàm Duy Trung
Mother’s Day
May 1997

Bây giờ, khi tôi viết những giòng chữ này vào tháng Bẩy năm 2004, thì cái hình ảnh mờ mờ ảo ảo đã hiện nguyên hình “bằng da bằng thịt” luôn luôn đi bên cạnh và chia sẻ cuộc đời với tôi.


DUYÊN TÌNH

Em đi cát mịn bám chân,
Đôi ta chung bước: em gần, hết xa .
Quãng đời giam hãm đã qua,
Gió hiu hiu thổi, đôi ta chung đường.
Trời xanh, cát trắng, trùng dương,
Hàng dừa theo gió, đón đường ta đi.
Bên nhau, hai đứa thầm thì:
“Trăm năm duyên kiếp, ta đi, luân hồi!“

Nguyễn Đàm Duy Trung
Tháng 6, 2002
Punta Cana, Dominican Republic

Tôi quan niệm Trồng Lan là một loại “thiền” của riêng tôi mà tôi xin tạm gọi là “Thiền Lan”. Nhờ “Thiền Lan” mà tôi đã vượt qua được rất nhiều bão táp của cuộc đời. Tôi cảm thấy như “thuyền tôi đã tới bến“. Tôi ghi vội những cảm nghĩ này qua bài “Ðóa Lan Rừng” dưới đây:

ĐÓA LAN RỪNG

Em là kết tinh
Của Sương
Của Gió
Của Mặt Trời
Và của Thiên Nhiên.

Em sống trong
Rừng hoang
Núi thẳm
Chẳng ưu phiền.
Em là nàng Tiên
Của Thiên Nhiên hoang dã.

Với riêng ta
Em là tất cả
Vì Em đã
Mang lại cho đời
Chất Nhẹ trong Tâm.

Em đã giúp ta sống
Âm thầm, lặng lẽ
Vượt qua khỏi
Chặng đường
Gặm nhấm trần gian!

Cám ơn Em:
Phong Lan!
Ta trân quý Em muôn vàn!

Nguyễn Đàm Duy Trung
Happy New Year
2001

5. HOA QUỲNH


Phong Lan mang lại cho tôi sự êm đềm và lâu bền, Hoa Quỳnh mầu trắng luôn luôn mang lại cho tôi cái cảm giác vừa đam mê vừa quyến rũ và sự tiếc thương vời vợi. Quỳnh Hoa mầu trắng nở rất là ngắn hạn trong khi cái Ðam Mê vẫn còn dai dẳng, khó quên sau khi hoa đã tàn lụi. Quỳnh Hoa (mầu trắng) cho tôi một cảm giác rất là đối nghịch (constrast): đẹp thanh khiết và quyến rũ tuyệt trần đời với hương thơm ngạt ngào khi hoa còn đang nở nhưng hoa trông ủ rũ buồn chi lạ sau khi đã bắt đầu tàn úa. Hoa chỉ nở khi chớm đêm và hoa héo tàn vào giữa đêm gợi cho tôi hình bóng của một nàng Liêu Trai lãng mạn và “hồng nhan bạc mệnh” ,

QUỲNH HOA

Em đến giữa đêm khuya
Tự cõi nào, Em về?
Em hiện thân Lan-Huệ
Đưa ta vào Đam Mê.

Cớ sao tình nở muộn
Vài tiếng chẳng là bao
Thịt da Em ngọt ngào
Vội chào, Em vĩnh biệt!

Ta ngồi đây thương tiếc
Thật, Giả, hay Chiêm Bao?

Nguyễn Đàm Duy Trung
Tháng Chín, 2000
Toronto, Canada

6. HOA VÀ TÔI

Tôi vẫn còn yêu hoa và tôi sẽ tiếp tục cái Thú Chơi Lan cho tới khi không thể “Thiền Lan” được nữa. Nhờ “Thiền Lan” mà tôi đã tìm ra chính tôi và cũng nhờ vậy mà bây giờ tôi thấy an bình, vui vẻ – mà cũng có lẽ phần lớn là do “bông hoa biết nói“ của tôi đã giúp tôi rất nhiều trong đời sống nội tâm?

Ðàm Trung Phán
July 6, 2004
Mississauga, Canada

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

Demain, Dès L’aube: Một Tuyệt Tác Của Victor Hugo


Tuyển tập Les Contemplations của Victor Hugo (1802-1885) chứa đựng 158 bài thơ ghi lại các kỷ niệm của ông về những chuyện vui buồn trong đời sống thường nhật, gồm cả nỗi đớn đau khôn lường do cái chết mang lại. Tất cả được thi hào sáng tác trong khoảng thời gian từ 1830 đến 1855 và cho xuất bản năm 1856.

Trong số những bài ghi lại nỗi đớn đau vì tử biệt trong Les Contemplations, vô số độc giả trong cũng như ngoài nước Pháp đã coi bài Demain, dès l’aube như một tuyệt tác mà có người đã học thuộc lòng ngay sau lần đọc đầu tiên.

Victor Hugo viết bài ấy trong dịp tưởng niệm hàng năm lần thứ tư sự qua đời quá sớm của cô con gái đầu lòng Léopoldine. Tuyệt tác chỉ gồm 12 dòng thơ chia làm 3 đoạn (strophes) giản dị trong sáng nhưng đậm nét sầu thương dùng để dựng lên trong tâm trí thi hào một chuyến sắp đi thăm mộ cô con gái thương yêu nhất của ông.

Mời quý bạn đọc thưởng lãm bài thơ Demain, dès l’aube song hành với bản dịch hết sức cố gắng của tôi sang tiếng Việt. Khi làm công việc liều lĩnh này tôi biết mình có cơ nguy bị lên án là dám “phản bội” một tuyệt tác, như lời cảnh cáo chí lý từ lâu của dân tộc Pháp: “Traduire, c’est trahir” (Dịch, đó là phản bội).

Demain, dès l’aube, à l’heure où blanchit la campagne,
Ngày mai, ngay lúc rạng đông, khi vùng quê bừng sáng,

Je partirai. Vois-tu, je sais que tu m’attends.
Cha sẽ lên đường. Con ơi, cha biết con nóng lòng chờ đợi.

J’irai par la forêt, j’irai par la montagne.
Cha sẽ đi qua rừng, cha sẽ đi qua núi.

Je ne puis demeurer loin de toi plus longtemps.
Cha không thể nào lâu hơn nữa ở xa con.
.................
Je marcherai, les yeux fixés sur mes pensées,
Cha sẽ bước đi, mắt chìm sâu trong suy nghĩ,

Sans rien voir au dehors, sans entendre aucun bruit,
Không nhìn quanh, chẳng nghe động tĩnh chi,

Seul, inconnu, le dos courbé, les mains croisées,
Cô đơn, lạc lõng, lưng khòm, tay chắp,

Triste, et le jour pour moi sera comme la nuit.
Lòng sầu đau, với cha ngày sẽ tối như đêm.
....................
Je ne regarderai ni l’or du soir qui tombe,
Cha sẽ không ngắm ánh chiều vàng rơi xuống,

Ni les voiles au loin descendant vers Harfleur,
Cũng như cánh buồm xa thẳm hướng Harfleur,

Et quand j’arriverai, je mettrai sur ta tombe
Và khi tới, cha sẽ đặt cho con trên mộ

Un bouquet de houx vert et de bruyère en fleur.
Chùm ô rô xanh lá và thạch thảo trổ hoa.

Bài thơ dẫn người đọc đi xuyên qua miền đồng quê vùng Normandie phía tây bắc nước Pháp, nhưng tác giả chưa cho biết chuyến đi sẽ dẫn tới nơi nào. Rồi lần lượt người đọc thấy tác giả thì thầm những lời âu yếm với một người nào đó đang chờ mong ông, tiếp theo là một hình ảnh đăm chiêu của ông với lưng khom và đôi tay khoanh trước ngực như đang cầu nguyện một điều gì trên đường đi hành hương đến một nơi nào chưa rõ.

Qua nguyên tác bằng tiếng Pháp, cho đến hết 10 dòng thơ đầu, người đọc tốt phần sẽ đoán đây là một cuộc hẹn hò của hai tình nhân, vì hai đại từ nhân xưng thân mật “je” và “tu” rất hợp cho hoàn cảnh này.

[Buồn thay, bản dịch của tôi đã làm mất đi lời đoán thú vị đó, chỉ vì hai đại từ nhân xưng “cha” và “con” của tiếng Việt không thể nào áp dụng cho hai tình nhân được! Mỗi dịch giả chỉ còn có nước “đổ tội” cho sự khác biệt trong cách sử dụng đại từ xưng hô giữa tiếng Pháp và tiếng Việt mà thôi!]

Mãi tới khi bàng hoàng với 2 dòng thơ chót, người đọc mới thấy được cuộc hẹn hò lạ thường này thiêng liêng và cận kề trái tim Victor Hugo bội phần hơn bất cứ một cuộc hò hẹn nào khác trong đời của vị đệ nhất văn thi sĩ nước Pháp.

Léopoldine là trưởng nữ và cũng là cô con gái yêu dấu nhất (có thể so với “con gái rượu” trong nếp sống dân Việt) của Victor Hugo. Bốn năm về trước, khi cô 19 tuổi và người chồng mới cưới đã chết đuối trong dòng sông Seine ở khúc gần thị trấn nhỏ Villequier vì chiếc thuyền của họ bị lật. Ông bố Victor lúc ấy đang du lịch với tình nhân ở miền nam nước Pháp và chỉ được biết muộn màng về cái chết thảm của con gái khi ông ngồi xem nhật trình trong một quán cà phê!

Nỗi đoạn trường ấy đã được Victor Hugo thổ lộ trong bài thơ À Villequier cũng trong tuyển tập Les Contemplations. Bên mộ Léopoldine tại Villequier sát bờ sông Seine thơ mộng, nơi cô tử nạn 4 năm về trước, thi hào đã than thân với Đấng Vô Cùng:

“Ô mon Dieu! cette plaie a si longtemps saigné / L’angoisse dans mon âme est toujours la plus forte / Et mon coeur est soumis, mais il n’est pas résigné” (Thượng Đế hỡi! vết thương này rướm máu đã quá lâu / Trong hồn tôi nỗi xót xa mỗi lúc chỉ thêm sâu / Và trái tim tôi chịu thua, nhưng chưa hề cam phận).

Demain, dès l’aube là bài thơ trữ tình chất ngất nỗi tiếc thương mà người cha Victor Hugo viết cho cô con gái yêu dấu nhất của mình đã phải lìa đời quá trẻ. Câu kết tuyệt chiêu của bài thơ là một ước ao bất tử hóa cuộc đời tươi đẹp nhưng vắn số của ái nữ Léopoldine. Còn gì khác có thể đóng vai một ẩn dụ toàn bích hơn là chùm ô rô lá mãi xanh màu và cụm thạch thảo hoa muôn đời nở đã được người cha lẫy lừng tên tuổi âu yếm đặt trên mộ để người đời không bao giờ quên được nàng?

Nếu như khẳng định của thi hào Alfred de Musset (1810-1857) rằng “Les plus désespérés sont les chants les plus beaux” (Những bài ca tuyệt vọng nhất là những bài ca đẹp nhất) lúc nào cũng đáng tin cậy, thì Demain, dès l’aube của Victor Hugo là một minh chứng hùng hồn vô song.

Đàm Trung Pháp
Viết cho Diễn Đàn Thế Kỷ trong một ngày mưa dầm dề cuối năm 2016 
tại California

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2025

One Sunny Autumn Day - Sept.26, 2020.


Trong cuộc sống của chúng tôi, thời buổi làm cái Youtube này đang là lúc chúngtôi khỏe mạnh vì chúng tôi vừa xây xong TĐTN tại Mississauga trong vòng 4 năm trời từ 2016 đến 2019. Sau đó là biến cố COVID, chẳng ai được phép tụ họp.

Một hôm, trời mùa Thu, chúng tôi trèo lên xe đạp, chạy dài hơn 10 km cả đi lẫn về trong một cái “bicycle path” gần nhà, đạp xe một mình thật là tuyệt vời.

Cảnh lá mùa thu quá đẹp, cho nên mới nẩy ra ý kiến này: gắn một cái máy thu hình lên trên đỉnh cái “hard hat” để đội trên đầu trong lúc đạp xe. Sau đó, bèn đi bộ xung quanh nhà ban đêm để xem hình ảnh nó ra sao.

Thấy OK, sáng hôm sau, bèn đội “hard hat”, đạp xe từ nhà ra park. Sau khi đã đến cái “bicycle park”, chúng tôi bèn mở máy, đạp xe một hồi rồi đạp xe trở về.

Tối hôm đó, chúng tôi ngồi trước PC mấy tiếng đồng hồ để “xem phim”. Đây là lúc “thiền xe đạp” mà tôi thấy thích thú nhất.

Sau đó vài hôm, trong một ngày đẹp trời, chúng tôi lại trèo lên xe đạp, đạp một hồi, rồi quay xe, đạp về. Khoan khoái viết bao: “biking meditation” (thiền xe đạp)!

Tiếc rằng, ít lâu sau đó, một hôm đạp xe một mình, ông già 77 tuổi bị té ngửa vì bánh xe cán phải một hòn đá nhỏ. Lúc mở mắt, ông già thấy mình đang nằm ngửa trên cái “bicycle path”. Xung quanh chẳng có bóng người. May mà đã đội mũ an toàn.

Tuổi đã cao, tiếp tục đi xe đạp một mình… sẽ gặp vấn đề …

Đạp xe cũng thú, một vài tháng năm…

Đàm Trung Phán

Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2025

Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ Qua Đời 14/10/25


Chúng tôi vừa nghe tin:

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ vừa qua đời lúc khoảng 10 giờ sáng ngày 14 Tháng Mười 2025, tại bệnh viện West Anaheim Medical Center, thành phố Anaheim, California, thọ 103 tuổi.

Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17 Tháng Hai, 1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, Hà Nội. Ông từng tham gia Việt Minh kháng chiến chống Pháp.
Vào năm 1946, ông lập gia đình với bà Hồ Thị Thảo, ái nữ của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu.
Năm 1954, hiệp ước Geneva chia đôi đất nước, ông di cư và mang gia đình vào miền Nam.

Doãn Quốc Sỹ có hai sự nghiệp song song; một sự nghiệp nhà văn, một sự nghiệp nhà giáo. Ông thường nói: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.”

Ông từng giảng dạy tại các trường Trung Học Công Lập Nguyễn Khuyến (Nam Định 1951-1952), Chu Văn An (Hà Nội), Hồ Ngọc Cẩn (Sài Gòn, 1961-1962), Trường Quốc Gia Sư Phạm Sài Gòn, Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn. Ông từng là hiệu trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên (1960-1961) và từng đi tu nghiệp về sư phạm tại Hoa Kỳ (1966-1968).
Năm 1956, ông đồng sáng lập nhà xuất bản Sáng Tạo, và tạp chí văn nghệ cùng tên với Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh và Ngọc Dũng.

Ông có tác phẩm đăng trên các tạp chí Sáng Tạo, Văn Nghệ, Bách Khoa, Văn Học, Nghệ Thuật…

Sau 30 Tháng Tư, 1975, Doãn Quốc Sỹ cùng các văn nghệ sĩ như Trần Dạ Từ, Thanh Thương Hoàng, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Sỹ Tế, Chóe… bị chế độ Cộng Sản bắt giam. Đến năm 1980, ông được thả tự do nhờ sự can thiệp của nhiều tổ chức quốc tế.

Trong thời gian chờ đợi được con gái bảo lãnh đi nước ngoài, ông tiếp tục viết thêm nhiều tác phẩm nữa, trong đó có quyển “Đi,” ký bút hiệu Hồ Khanh. Ông gửi tác phẩm này sang Pháp để xuất bản tại hải ngoại. Cũng vì lý do này, ông bị bắt lần thứ hai vào tháng Năm, 1984. Cùng bị giam với ông trong đợt này có ca sĩ Duy Trác, nhà báo Dương Hùng Cường, hai nhà văn Hoàng Hải Thủy và Lý Thụy Ý. Ông bị kết án mười năm tù và mãn hạn tù lần thứ hai vào Tháng Mười Một, 1991.

Năm 1995, ông được con trai là Doãn Quốc Thái bảo lãnh sang Houston, Hoa Kỳ.

Nhận định về ảnh hưởng của tác phẩm Doãn Quốc Sỹ, nhà thơ Trần Mộng Tú từng viết trên VOA: “Những người yêu chữ nghĩa văn chương ở Việt Nam thời 1954-1975 ở miền Nam Việt Nam không ai là không đọc những tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ. Những tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ cho người đọc thấy yêu quê hương, yêu gia đình, bạn hữu hơn mặc dù trong những dòng chữ đó không hề nhắc đến một bổn phận nào.”

Nhà thơ, nhà báo Đỗ Quý Toàn, nhận định với Người Việt: “Doãn Quốc Sỹ xuất hiện trong nhóm Sáng Tạo nhưng ông tạo một phong cách văn chương riêng biệt. Ông theo lối cổ truyền: Dùng văn chương chuyên chở đạo lý.”

Nhà thơ, hoạ sĩ thuộc thế hệ hậu bối, Đinh Trường Chinh, nhận định với Người Việt: “Doãn Quốc Sỹ là một trong những con chim đầu đàn của nhóm Sáng Tạo, nhóm đã làm thay đổi diện mạo văn học miền Nam sau 1954 và góp phần thay đổi cảm quan người đọc thời ấy ra khỏi mỹ cảm Tự Lực Văn Đoàn và văn thơ tiền chiến vốn đã hiện diện và ăn sâu vào người đọc thời ấy.”

Là người gần gũi và có nhiều kỷ niệm với Doãn Quốc Sỹ và gia đình, nhà báo Đinh Quang Anh Thái kể: “Đọc tác phẩm của bác, mê văn bác từ nhỏ, nhưng mãi tới sau ngày 30 Tháng Tư 75, lúc bấy giờ tôi ngoài 30 tuổi, tôi mới có cơ duyên được hầu chuyện bác, tôi cảm ngay được nhân cách hiền hòa, kín đáo của bác. Bác chừng mực nhưng không xa cách. Bác đôn hậu nhưng không vồn vã. Đúng cung cách “Quân Tử Chi Giao Đạm Nhược Thủy”, tình cảm thâm trầm, lắng đọng vào bên trong, không sôi nổi, bộc lộ ra ngoài.”

Doãn Quốc Sỹ là nhà văn có sức sáng tác phong phú và đa dạng. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhấtb của ông là tiểu thuyết Khu Rừng Lau, gồm 4 tập: Ba Sinh Hương Lửa (1962), Người Đàn Bà Bên Kia Vỹ Tuyến (1964), Tình Yêu Thánh Hóa (1965) và Những Ngã Sông (1966).

Nhiều truyện ngắn của ông được độc giả ghi nhớ lâu dài. Trong đó có thể kể đến: Gìn Vàng Giữ Ngọc, Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Mình Lại Soi Mình, Đàm Thoại Độc Thoại, Dấu Chân Cát Xóa, Dốc Sương Mù…

Tổng số tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ là 25 cuốn.
https://www.facebook.com/share/p/1AMhpfJeRT/?mibextid=wwXIfr

Hai anh em chúng tôi (Đàm Trung Pháp và Phán) đã may mắn được GS Doãn Quốc Sĩ dạy môn Việt Văn tại Trường Trần Lục, Saigon năm chúng tôi học Đệ Ngũ (1956, 1957).

Đàm Ttrung Phán đã được nghe Thầy Sỹ đọc mấy bài thơ theo thể thơ Tự Do và nhờ vậy mà chúng tôi đã có thể viết ra một số bài thơ thể tự do trong lúc đi thực tập ngành công chánh trong đại lục Úc Châu vào thập niên 1960. Một kỷ niệm khó quên!

Xin chia buồn cùng đại gia đình Thầy Doãn Quốc Sỹ. Nguyện cầu hương linh Thầy sớm tiêu diêu miền cực lạc.

Đàm Trung Phán
Giáo Sư Công Chánh hồi hưu
Canada

Thứ Năm, 9 tháng 10, 2025

Biến Cố 1979 Của Trường Công Chánh, Centennial College - Canada



Cuối tháng 7 năm 2024, khí hậu vùng chúng tôi đang sống thật là tuyệt vời tại Canada: ngày nào cũng có mặt trời, cũng nóng khoảng 2, 28 độ C mà thôi.

Ở tuổi tôi bây giờ. tại xứ lạnh này mà được mặc áo may ô như hồi còn đang đi học trung học tại Sài gònvậy, cảm thấy khoan khoái vô cung. Bèn lấy giấy bút ra ghi lài những gì mà tôi còn nhớ được trong khoảng thời gian ông giáo sư George Sand cứ tự biên, tự diễn muốn làm gì thì làm mà không sợ bị College có biện pháp gì đối với ông.

Ông ta gia nhập College của chúng tôi khoảng năm 1967 gì đó (trước tôi 3 năm), ngay sau khi ông JK được bổ nhiệm làm chức vụ Civil Dept Chairman vào năm 1966 (hệ thống của Community College đầu tiên của tiểu bang Ontario, Canada được thành lập vào năm 1965).

Sau đó, College của chúng tôi thuê ông GS Don Kennedy có kinh nghiệm về các phòng thí nghiệm thử vật liệu xây cất, rồi thuê ông Tom Transit đã từng có công ty đo đường để dậy các môn Surveying (Địa Chánh).

Ngoài ra, College cũng thuê hai ông SK và ông RC để dạy các môn liên quan đến Applied Mechanics và Structural Designs.

Ông Chairman đã có bằng Masters về Structures tại Đại học Toronto và có rất nhiều kinh nghiệm về kiến tạo (design) và xây cất (construction) tại Hoa Kỳ, Canada và Nam Mỹ Trên phương diện nghề nghiệp, các ông có đầy đủ kiến thức và kinh nghiệm để chỉ dẫn cho sinh viên nhưng mà phần thực hành về“Public works” thì ông Chair JK lại thuê nhiều giáo sư chỉ có kinh nghiệm vể “Structures” trong khi đó Dept. lại cần có “expertise “ về Nước uống, Nước Phế Thải và quen biết nhiều trong Công Kỹ Nghệ tại Canada.

Trên phương diện tình người đối với tình người, ông Chairman JK rất nóng tính và thích gây gỗ với các đồng sự.

Năm 1969. ông Don Kennedy xin được một công việc dạy học tại một College khác trong một tỉnh nhỏ. Nhờ vậy mà tôi may mắn vì đã có đôi chút kinh nghiệm về vụ testing các vật liệu xây cất bên Úc cho nên đã được “trúng tuyển” sau khi ông Chairman đã phỏng vấn tôi trong khoảng 90 phút để rồi cuối cùng hai ông George Sand và Tom Transit phỏng vấn tiếp về các kinh nghiệm để mà tôi có thể giúp cho hai ông trong Trường công chánh như thế nào.

Rất nhiều người tưởng lầm là các nhà giáo chúng tôi là công chức (civil servants) : một khi đã được thuê làm giáo sư, chúng tôi được ở lì cho đến khi về hưu luôn. Thực ra, nó không phải là như vậy!

Mỗi một College tại Ontario hay tại các tỉnh bang khác được coi như là một “Corproration”có nghĩa là mỗi College đều nhận được một ngân sách (annual funding) cho mỗi năm. Mỗi College đều có một “Board of Governors” do Chính Phủ Tình Bang (Ontario Provincial Government) bổ nhiệm. President của College là một “Board member”. Các “Board of Governors members” k[a đều là những nhân vật lỗi lạc trong xã hội và họ làm việc hoàn toàn vô vụ lợi…

Theo hệ thống điều hành của College, các Viện Trưởng (President, được trả lương) có nhiệm vụ phải cai quản College để phần chi tiêu trong các năm không bị lỗ lã (tiêu tiền nhiều hơn phần ngân quỹ Chính phủ đài thọ trong năm đó )

Nếu chẳng may trong những năm bị lỗ lã, College vẫn có thể OK về tiền bạc”, có nghĩa là miễn sao là nhà trường vẫn còn có đủ ngân sách dự trữ để trang trải các chi phí nhưng những năm sau đó, College phải cố gắng làm sao để có phần tài chánh được dư thừa để “balance” cho ngân sách của College.

Các College thường có những ủy ban trông nom về cách gây quỹ thêm cho College. Ví dụ như: thu nhận sinh viên ngoại quốc vào nhà nhà trường, mở thêm các lớp học dạy ban đêm hay xin phần tài trợ của các công ty lớn như: Shell, Esso, các nhà băng…

Các nhân viên cao cấp của College được chia ra làm ba loại như sau:

1Admin (Administrators) gồm có: President (Viện Trưởng), Vice Presidents (Phó Viện Trưởng)…
Họ ký hợp đồng làm việc với nhà trường để làm việc trong 5 năm… President có bổn phận phải làm việc cho đâu ra đó vởi “Board of Governors”Các Admin (như VP) có thể bị sa thải nếu họ làm việc không đúng theo luật lệ của nhà trường. Thường thì vị Viện trưởng làm việc lâu nhất trong cái “term” là 5 hay 10 năm mà thôi vì mỗi một College cần phải có “luồng gió mới” để dẫn đường cho các sinh hoạt của College, và nhất là College phải được dân chúng cho là “có giá” trong xã hội.

Chúng tôi đã từng thấy vị President mới của College có “thói quen”: họ thích có một cái “team” mới, có nghĩa là sẽ “act” để làm sao họ có khá nhiều các “New VP” để mang “một luồng gió mới cho College”!

Sau năm 1975, các giáo sư toàn thời gian (Full-time Professors) tại Centennial College được tuyển lựa kỹ càng bởi một “Faculty Selection Committee” gồm có 16 nhân viên nhà trường thuộc các thành phần: Giáo Sư (Faculty), thành phần Admin , thành phần nhân viên phụ tá (support staff) và 2 đại diện sinh viên của College

Mỗi khi thuê một Fulltime Professor mới, College lại có một Faculty Selection Committee mới… Các “Faculty candidates” được tuyển lựa rất kỹ càng : các Resumé được phát ra và được các “Committee members” đọc kỹ càng. 15 “top candidates” được “Committee members phỏng vấn và theo dõi trong một “mini lecture” (bài giảng dạy của mỗi một “candidate”) mà người nghe là 16 vị “Selection Committee members”.

Các “Selection committee members” sẽ cùng nhau quyết định lựa ra 5 “candidates” sáng giá nhất để rồi 16 vị đó cùng nhau bàn cãi để chọn lựa theo thứ tự từ 1 đến 5.

Hồi cuối thập niên 1980, chúng tôi đã có cái may mắn được đại diện Phân khoa Khoa Học và Kỹ Thuật gia nhập Ủy Ban Tìm Kiếm một Giáo Sư Anh Văn đế dạy môn English as a second English (ESL) và môn English Literature. Có khoảng 201 người nộp đơn trong số đó có khoảng 100 vị có bằng Ph.D. về ESL và English Literature.

Bằng cấp cao không phải là tiêu chuẩn hàng đầu của Ủy Ban Tuyển Lựa. Nhờ có cái vụ “mini lecture trong khoảng 30 phút” mà Ban Tuyển Chọn có thể loại bỏ một số “candidates” không lưu loát trong lúc họ dạy thử (communication problems..).

Ngoài ra, các candidates cần phải có nhiều kinh nghiệm về nghề nhiệp, về cách hành xử với nhứng ai trong lúc interviews, trong lúc “mini lecture”, về “connections” trong xã hội để giúp cho College nhất là phần chỉ dần cho sinh viên …

Thú thực với quý vị: cá nhân tôi cảm thấy rất tiếc là College không có đủ ngân sách để thuê hết 5 vị candidates hàng đầu này. Chỉ một vị được college thuê để trở thành một “Full time Professor” và 2 vị kia được thuê theo dạng “Part time professor” trong cái năm “Academic year” đó mà thôi.

Mỗi năm các giáo sư phải ký hợp đồng lại với college để dạy sinh viên do College chỉ định. Đây là một con dao hai lưỡi, nó có thể có lợi cho giáo sư (trong trường hợp department bị đóng cửa, giáo sư có thể dạy trong 1 department khác ). Mà nó cũng có thể rất hại cho giáo sư vì nhà trường có thể sa thải giáo sư nếu sinh viên không hài lòng với cách dạy học của vị giáo sư đó, nhất là cách hành xử của giáo sư với sinh viên.

Trong trường hợp ông George Sand, College đã không “offer” một môn nào hết để hai bên ký ký hợp đồng với nhau trong hóa học mùa thu 1979 và khóa học mùa đông 1980. Ông ta không thể kiện College được vì cả hai bên đâu có ký hợp đồng với nhau. Ông giáo sư này hoàn toàn thua cuộc và rút lui trong bóng tối.

Tiện đây, chúng tôi xin kể ra một chuyện về ông giáo sư “A” và College. Thường thì ông A dậy khoảng 12 tiếng trong 1 tuần. Ông đã khôn khéo nhờ một bác sĩ viết cho ông ta một cái thư nói rằng ông ta đang ở trong tình trạng sức khỏe không tốt cho nên ông ta chỉ có thể dạy 8 tiếng trong một tuần mà thôi; vì lý do đó à ·nhà trường đã phải làm theo ý nguyện của ông ta.

Năm sau, ông ta vẫn “bản cũ soạn lại” nhưng ban đêm. ông ta lại đi dạy thêm (continuing education) mỗi tuần 3 tiếng. Đặc biệt là ông ta được trả lương thêm mỗi tuần 3 tiếng và nhà trường đã “lại quảa” ông như sau:

Thay vì nhà trường đề nghị ông ta dạy môn học như thường lệ, nhà trường đưa “contract” bắt ông dạy môn “car maintenance và car body repair”, một môn mà ông hoàn toàn không biết và phải làm việc bằng chân tay.

Dĩ nhiên là ông ta hoàn toàn không có thể dạy môn đó được. Ông nghỉ việc tại college khi ông chưa đủ điểm để về hưu non. Ông biến mất trong College mà không ai biết ông ra đi lúc nào nữa!

Đây là một thiệt thòi quá nặng nề cho ông trong những năm hưu trí của ông, giống như ông George Sand vậy.

***

Vào cuối tháng 4 năm 1979, ngay sau khi Ông giáo sưeorge Sand không được phép vào lớp học, nhà trường bổ nhiệm ôngTom Transit trở thành Giáo Sư Trưởng Phòng ngành Công Chánh ngay lập tức dựa theo thâm niên (seniority).Tất cả 5 vị giáo sư chúng tôi trong trường Công Chánh ủng hộ điều đó tuy nhiên có một điều lấn cấn:ô·ng Tom Transit là một “Surveyor” vì vậy mà không biết nhiều về các môn học về Công Chánh của chúng tôi. Ông Rick Chan và tôi xung phong trở thành người phụ tá cho ông giáo sư trưởng phòng mới vì bộ ba chúng tôi thường làm việc song hành khi dạy môn Địa Chánh SU 201 để giải quyết các vấn đề chung của trường Công Chánh sau khi tôi bắt đầu dậy vào năm 1970 và chúng tôi thư·ờng hay đi uống cà phê cũng như đi ăn văn với nhau.

Chúng tôi biết được lực học của hầu hết các sinh viên nhất là những khúc mắc khác của “Civil department” liên quan đến hai ông Giáo sư SK với môn··Applied Mechanics và MA với môn··GeoTechniques…

Ông Tom Transit là người Canadian duy nhất còn lại trong Civil department và ông không biết được các ngóc ngách nghề nghiệp của dân “immigrants”, nhất là hai ông giáo sư SK và MA. Vì lẽ đó mà ông RC và PD phải giúp ông Co-ordinator Tom Transit một tay để 2 ông kia không thế “ra chiêu” một cách dễ dàng bất lợi cho sự “sống còn” của Civil Department!

***

Bắt đầu từ giữa thập niên 1970, Chương Trình Công Chánh đã bị Ban Giảng Huấn cao cấp của College khoanh tròn (red circled): có nghĩa là nếu Department của chúng tôi tiếp tục không có đủ sinh viên năm Thứ Nhất, một năm nào đó, College sẽ đóng cửa trường Công Chánh.

Tại Canada, trong mùa đông ngành xây cất ngoài trời hầu như bị tạm ngưng vì vậy mà dân chúng khó có thể xin được việc làm liên quan đến ngành xây cất. Tình trạng kinh tế của Canada trong thập niên 1980 thật là bê bết.
Ý kiến sáp nhật hai trường Công Chánh và Kiến Trúc thành một “cluster”là một ý kiến tuyệt chiêu: rất thực tế và không khó khăn gì!

Trên phương diện thu nhập sinh viên (Freshmen enrolment , trường Kiến Trúc rất may mắn đã không phải tốn nhiều tiền bạc để dạy sinh viên không cần phải có các phòng thí nghiệm. Ngoài ra, phần lớn các học sinh / sinh viên lại còn ưa thích ngành Kiến Trúc vì nó có cái “flare” nghệ sĩ tính. Sinh viên trường Kiến Trúc cũng phải theo học môn Đo Đường, Kiến tạo nhà cứa, văn phòng, sinh viên được gửi sang trường Công Chánh để học các môn như “Field Surveying” (Địa Chánh), Applied Mechanics (Cơ Học Áp Dụng), Structural Design (Kiến Tạo hình thái)…

Vài vị giáo sư trong ngành Kiến Trúc còn đi làm thêm trong những hãng xưởng về xây cất. Một vị giáo sư khác còn hay “cúp cua/không đến lớp vì ông ta còn bận phải kiềm tiền vể “dog training” trong một cái trại của ông ta cách xa nhà trường hơn một tiếng lái xe…

Phần lớn các giáo sư trường Kiến Trúc đã coi thường các chỉ thị của ông Super Chair và bà Dean. Phần lớn các tài liệu n à·trường (lecture notes) Kiến Trúc phát cho sinh viên tham khảo đã chưa hề được “updated” cho nên đã lỗi thời và sinh viên rất bất mãn. Văn phòng ông VP-Academic và văn phòng ông President đều biết các tin tức này.

Trong những buổi họp của tất cả các Giáo Sư, Dean, Super Chairs, Co-ordinators của phân khoa Khoa Học và Kỹ Thuật chúng tôi để bàn luận về tương lai của Phân Khoa, mấy vị GS trường Kiến Trúc rất năng nổ phát biểu và “dậy bảo” cho các giáo sư trong phân khoa làm cho tôi nghĩ đến các loạn kiêu binh trong lịch sử ngãy xưa vậy.

Các hành vi kiêu ngạo này không những đã được văn phòng của ông VP-Academic biết đến mà văn phòng hai đời President còn biết đến. Kết quả là sau khi trường công chánh của chúng tôi bị đóng cửa vào năm 1997 thì trường Kiến Trúc cũng bị đóng cửa sau đó vài năm (sau khi tôi được College giữ lại để dạy trong Environmental Protection Technology Deoartment).

Một số nhân viên (như thư ký của Department, Super Chair, Dean) làm việc với College với danh tính công chức ( support staff) có nghĩa là họ không bị mất chức nếu khi Departmnet họ đang làm việc bị đóng cửa: họ sẽ được nhà trường sắp xếp để sang một department khác làm việc hoặc là họ có thể được bổ nhiệm vào một College khác trong khi đó các giáo sư phải ký giao kèo với nhà trường, College có quyền bắt các giáo sư dạy môn nào thì giáo sư phải dạy môn đó. Nếu không dạy được thì họ mất việc luôn!

Năm 1995, giáo sư Tom Transit về hưu theo đúng quy chế. Năm 1997, khi trường Công Chánh bị đóng cửa, giáo sư Rick Chan và PD được nhà trường biệt phái sang Environment Protection Department, chúng tôi càng thân nhau hơn nhưng đến năm 1998, ông tự ý về hưu sau khi vợ ông qua đời. Tôi “hết nợ” vởi “Co ordinatorship” trongnăm 1997, sau 8 năm mệt mỏi với “Co op” và “Civil Department bị bức tử!

Thời buổi 1997 – 2002, đời đi dạy của tôi đỡ vất vả hơn nhiều: Tôi được dạy tất cả 6 môn về Công Chánh trong ngành Bảo Vệ Môi sinh do chính tôi viết ra và tôi là một trong 3 vị giáo sư viết ra chương trình này. Ông Graham Bird viết về các môn liên quan đến Hóa Học. Tiến Sĩ kiêm Luật sư Doug Lean viết về các môn Biology và Luật liên quan đến vấn đề về Mối Sinh.

Niềm vui của tôi: khi viết bài này, chương trình EPT/BVMS rất sáng giá và thu hút một số các sinh viên đã có bằng BA, BSc…

Hai ông giáo sư Mohaned Ali và·· Sharad Kawale đã “được College mời dạy vài môn phải dùng chân tay thay vì trí óc, Tôi không còn nhớ rõ là tôi gặp lại được hai ông này sau năm 1995.

***

Các Admin như Superchairs và Dean ra nhập hội đoàn Admin Association, họ cũng phải ký contract sau mỗi năm

Nhà trường có quyền sa thải họ nếu họ không thi hành chỉ thị như ý muốn của nhà trường. Tôi đã được biết một vị Giao sư trường Điện đã trở thành vị Super Chair và đã bị Security Guard của College áp tải ra parking lot…

Theo gót thời gian, College chúng tôi đã hành xử với nhân viên như một hãng tư vậy, mất đi ít nhiều tính cách của một Đại Học Cộng Đồng…
Phương diện sắp xếp công việc cho các giáo sư (các môn dạy, mỗi tuần day mấy tiếng…) càng ngày càng khó khăn…
Nhà trường đã gặp các trở ngại sau đây:
Khóa học mùa đông (Winter semester bắt đầu từ đầu tháng Giêng và bế mạc vào giữa tháng 5.
Những năm trước năm 1979, chính phủ tỉnh bang và chính phủ liên bang còn có đủ ngân quỹ cho nên các college được đài thọ tương đối khá hơn.

Theo thông lệ từ giữa tháng 5 Đến giữa tháng 6, các giáo sư được tham dự rất nhiều các hội thảo liên quan đến nền giáo dục cấp Cao Đẳng Sau đó College chúng tôi không còn đủ ngân sách để tổ chức các sinh hoạt để trợ giúp cho các nhà giáo chúng tôi nữa

Một số ít các giáo sư bắt đầu đi làm thêm từ giữa tháng 5 cho tới gần tháng 9: họ vừa được nhận thêm tiền khi đi làm mà vần còn được nhận lương hàng tháng của nhà trường.

Nếu là người có lương tâm nghề nghiệp, các giáo chức phải dùng thì giờ của họ từ ngày 15 tháng 5 đến giữa tháng 6 trước khi họ sửa soạn nghỉ 2 tháng hè

Đáng lẽ giờ họ phải dùng thì giờ ngay sau khi dậy xong khóa học mùa Đông cho tới khi họ đi nghỉ hè vào giữa thàng 6, họ phải dùng thì giờ đó để đọc lại / edit lại và thêm thắt lại tất cả những tài liệu giảng dạy dựa theo đúng quy luật nhà trường.

Theo giao kèo (contract) giữa nhà trường và các giáo sư, các giáo sư chỉ được phép nghỉ hè từ giữa tháng 6 cho tới giữa tháng 8 và cũng theo quy luật nhà trường, các giáo sư cần phải có ít nhất hai tuần để sửa soạn các tài liệu giảng dạy trước khi khóa học mùa thu bắt đầu.

Tiếc rằng một số giáo sư không cần biết đến các bài soạn của họ có được sửa lại theo đúng tiến trình của ngành nghề hay không. Chính họ là những người đã làm cho ban giảng huấn có thái độ rất là nghiêm khắc đối với các giáo sư…

***

Sau khi ông GS được ngồi chơi xơi nước, nhà trường không hề mướn thêm giáo sư để thay thế ông ta vào khóa học Mùa Thu 1979.

Người viết được giao trọng trách dạy môn “PW 301 Organizations and Services” thay thế ông George Sand. Môn này ông đã dậy từ năm 1970 (khi tôi mới gia nhập Centennial College) cho đến khi tôi thay thế ông ta vào Mùa Thu năm 1979.
Môn học nghe lạ hoắc với tôi và nhiều người khác vì mình chẳng biết nó liên hệ ra sao với ngành Công Chánh.

Như một thói quen, tôi đã mượn được một anh chàng sinh viên đã học ông George Sand trong Khóa Học Mùa Đông vào năm 1978. Đặc biệt là ông GS lại không dùng một cuốn Text book hay Reference book nào. Ngay cả các “hand out notes” (các tài liệu mà các giáo sư chúng tôi in thêm và phát cho sinh viên trong giờ “lecture”) để giúp cho sinh viên dễ hiểu cuốn “textbook” hơn… Ông cứ tự biên, tự diễn…Môn này trở thành một “descriptive subject”, dễ làm học trò buồn ngủ, nhất là giọng ông lại sẽ sàng… làm cho sinh viên “cúp cua” rất nhiều. Điều này làm cho ông Chair JK và Ban giảng Huấn chúng tôi lo nghĩ vì bị mất sinh viên để rồi làm cho nhà trường mất tiền tài trợ và Civil Department của chúng tôi bị “Red Circle” và cuối cùng College thẳng tay đóng cửa trường Công Chánh vì thiếu sinh viên, trong khi đó, trường Kiến Trúc “lâm nạn” vì giáo sư cư sử như kiêu binh trong thập niên 1990…

Nội dung của cuốn notebook mà tôi mượn được từ anh chàng sinh viên này rất là khiêm tốn vì ông George Sand cứ “tự biên, tự diễn” trong lớp: biết gì nói vậy, không chịu khó tham khảo và nhất là lại không có một cái “Course outline” nào đẻ phát cho sinh viên.

Tài liệu “hand out” (tài do giáo sư soạn ra đế phát thêm cho sinh viên) dường như chẳng thấy đâu!

Sau khi tôi đã đọc nhiều “text book” và “referene books” liên quan đến ngành công chánh mà tôi đã mượn được từ trong thư viện nhà trường tại Progess campus. Chúng ôi được phép mượn rất nhiều cuốn sách này để mang theo về nhà đọc trong hết mùa hè năm 1979.

Sau khi tham khảo các sách suốt mùa hè khi con trai út tôi đang nằm ngủ trong chiếc xe của con nít mà ông bố 37 tuổi thường đẩy xung quanh cái công viên rất yên tĩnh, tôi được biết “Organizations” có nghĩa là phân chia, phân loại các khu vực, và cũng có nghĩa là các cơ quan, các hội đoàn.

Services có nghĩa là các dịch vụ mà ngành công chánh phục vụ cho dân chúng.

Từ đó tôi suy diễn: Canada đất rộng cho nên phải có một Chính Phủ Liên Bang (Feeral Government) để chăm lo phận sự quốc gia Canada trên toàn cầu. Vì là một quốc gia quá rộng lớn, đất nước Canada cần phải chia ra nhiều các tỉnh bang cho nên cần phải có các Chính Phủ Tỉnh Bang (Provincial Government) để cai quản cho đúng luật lệ. Mỗi tỉnh bang lại có nhiều thành phố, quận, huyện khác nhau cho nên trong mỗi một tỉnh bang cần phái có các “Municipal Government (tạm dịch là Chính Quyền Địa Phương) để lo cho các dịch vụ hàng ngày của dân chúng giả dụ như điện, nước uống, nước cống, khí đốt ( gas), hốt rác, ủi tuyết, giao thông., công trình xây cất, việc sửa đường xá, hệ thống giao thong…

Canada là một nước rất là rộng lớn, đầy nguyên liệu, còn phải chuyển các dầu thô từ miền Tây sang miền Đông … Đây là những công việc chính mà ngành công chánh của chúng tôi cũng như các ngành khác đã thường phải chăm lo cho Canada…

***

Mùa hè 1979 là một mùa hè tuyệt vời: mẹ thằng cu được nghỉ ở nhà với con cả 6 tháng trời. Că ngày, ông bố đẩy xe cho con út ra cái công viên gần nhà. Vừa trông con đang ngủ, vừa đọc sách và bà mẹ mang con trai đầu lòng của chúng tôi đi chơi thể thao… Tối về, gia đình đoàn tụ làm cho chúng tôi hạnh phúc vô cùng.

Tuy rằng môn học này là một môn học phải ăn nói rất nhiều và có thể rất là khô khan Người giáo sư không chịu đọc sách và soạn bài cho thật kỹ thì làm sao mà sinh viên muốn đến lớp học…

Cá nhân chúng tôi đã rất may mắn được ba nhân viên của “Audio Visual Section” làm việc trong thư viện lùng kiếm những cuốn phim 8 mma liên quan đến đề tài “Organizations”(hệ thống 3 chính phủ, cắc cơ quan liên quan đến ngành Công Chánh), và đề tài về “Services” trong ngành Công Chánh (điện, nứớc, rác rưởi, ô nhiễm trong không khí, ủi và cạo tuyết trong các khu phố…) mà tôi đã giải thích cho ba nhân·vviên dó··

Có nhiều phim rất hay và nhờ vậy mà học trò thích học cái môn này hơn Những năm sau, tôi vẫn tiếp tục đi kiếm thêm các tài liệu dưới sự trợ giúp của và Thư Viện Trướng ( Campus Libraian) và bà Reference Librarian. Học trò rất thích được xem những phim liên quan đến vấn đề ô nhiễm, dịch vụ rác rưởi (Solid waste management)… Một số sinh viên còn gọi môn PW301 Organizations and Services ( về sau được Department của chúng tôi đổi thành “Introduction to Civil Engineering Technology” cho đúng nghĩa hơn. Một số sinh viên còn gọi môn đó là Phan Dam’s Show vì tôi cho học trò xem một số phim liên quan đến ngạnh Công Chánh

Khi viết những dòng này, tôi cảm thấy mình được may mắn vô cùng để có cơ hội nhớ lại cái “tích xưa” trong một ngày mùa hề tại Canada.


Xin gặp lại Quý Vị trong bài viết săp tới.

Đàm Trung Phán
Mississauga, Canada
Aug. 14, 2024