Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyên Nhung. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyên Nhung. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 30 tháng 3, 2019

Thu Ẩm



Bài Xướng:
Thu Ẩm

Một thoáng heo may gợn sóng trà
Gợi bao nhung nhớ tháng ngày qua
Mùa thu lại đến thay màu lá
Rét mướt theo về tím sắc hoa
Xen giữa hương ngâu làn khói toả
Mờ trong đáy cốc bóng người xa
Bâng khuâng hồi tưởng lời giao ước
Nâng chén mà sao mắt lệ nhoà

Đoàn Ngọc Kiều Nga
***
Các Bài Họa:
Lá Sầu

Trời vừa ươm lạnh... trổ hoa Trà
Thương nhớ về ai! Kỷ niệm qua
Gió hát lời buồn xao xác lá
Quạ kêu bi thảm động lòng hoa
Xa nhau nào biết bao giờ gặp
Gần đó đâu ngờ cách trở xa
Đêm luống ngẩn ngơ tình chợt khép
Lá sầu ôm kín hạt sương nhoà

Kiều Mộng Hà
March 19th 2019
***
Hương Trà

Nâng tách hương thơm dịu vị trà
Một làn khói toả tiếc thu qua
Vườn sau mấy độ hồng đơm nụ
Sân trước bao lần cúc trổ hoa
Văng vẳng chuông ngân mưa gió thoảng
Mơ hồ sáo vọng núi đồi xa
Hỡi ơi năm tháng dài nhung nhớ
Hình bóng người xưa khó nhạt nhoà

Hồ Công Tâm
March 19th 2019
***
Thu Buồn

Nghe thoáng trong đêm hương ngát trà
Chạnh lòng thương nhớ bóng hình qua
Mây Thu hiu hắt mờ hương phấn
Nắng Hạ mơ hồ tươi sắc hoa
Hạnh phúc nồng nàn duyên thắm đượm
Đau thương tan tác tình chia xa
Sợi buồn rung rẩy mờ sương khói
Kỷ niệm ngàn năm chẳng xóa nhòa./.
                     
Toronto 19/3/2019
Nguyên Trần
***
Tơ Lòng

Heo may lành lạnh thoảng hương trà
Đáy cốc mờ mờ bóng thoáng qua
Vạn vật hòa mình thu lộng ngọc
Mây ngàn dẫn lối giấc mơ hoa
Chờ muôn nẻo đến từ ngàn dặm
Trao cả tơ lòng tận chốn xa
Từng ngón cô đơn đan dĩ vãng
Ôm theo kỷ niệm chữa phai nhòa

Kim Phượng
***
Giao Mùa

Một sớm tinh sương uống ngụm trà
Ngát thơm nhài cúc tiễn mùa qua
Đầu vườn phai sắc hương cây trái
Cuối xóm nhạt màu lá cỏ hoa
Có phải Thu giăng buồn luyến nhớ
Để rồi Đông đến dệt mơ xa
Dư âm vọng mãi trong tiềm thức
Cạn chén đầy vơi chẳng xóa nhòa.

Trần Quế Sơn
Illinois ;Oct-15-2010
***
Thu Nhớ

Một sớm heo may,một tách trà
Nhắp từng ngụm nhỏ ngắm ngày qua
Vườn thu xào xạc cây thay lá
Hiên vắng bơ thờ buớm nhớ hoa
Lãng đãng sương lan trong khói biếc
Mơ hồ ai gọi phiá trời xa
Trăm năm ghi khắc lời giao uớc
Son sắt trong tim chẳng nhạt nhòa

Nguyên Nhung
***
Thu Cảm

Mỗi sáng em pha một tách trà
Thơm tình nồng ấm mấy năm qua.
Vườn cây thu đến thay màu lá
Cụm cúc nắng lên hé nụ hoa.
Em vẫn yêu anh dù cách biệt
Anh còn thương mẹ dẫu ly xa.
Tình yêu vẫn mãi trong tâm khảm
Xa cách nhớ thương lệ nhạt nhòa!

Minh Lương
Cali. 16 / 10 / 2010
***
Quê Hương

Khóm trúc, bờ tre với chậu trà,
Bao năm mòn mỏi bấy thu qua,
Ngày về ngong ngóng vườn sai trái,
Đêm đến mơ màng đất trổ hoa.
Nợ nước giờ đây sầu biển cát,
Ơn nhà bao độ nhớ Trường Sa
Cao nguyên cũng đã phai màu đất,
Giòng Cữu Long Giang có lệ nhòa.

TTT
10/2010
***
Thu Buồn

Sáng ra thơ thẩn nhấp chung trà
Hiu hắt bên thềm Thu ghé qua
Chót vót Anh Đào đang úa lá
Chơ vơ Nguyệt Quế đã tàn hoa
Xứ người tuổi đến càng thêm ngắn
Quê Mẹ ngày về lại qúa xa
Mộng sự chan hòa qua sợi khói
Cửu Long tiếng sóng chẳng phai nhòa..!!

Nguyễn Minh Thanh
GA, 17-10-10
***
Đông Ẩm
(tặng Lê Trọng Nghĩa)

Mời nhau nhắp chén tịnh tâm trà
Rũ bỏ ngoài hiên mưa gió qua
Khói tỏa chơi vơi vờn ảo ảnh
Hương bay phảng phất gợn phù hoa
Người luôn vọng tưởng quê nhà cũ
Kẻ mãi lưu hành phố chợ xa
Đối ẩm chiều đông thanh khí quyện
Tình trai lữ thứ chẳng phai nhòa

Đoàn Chinh Nam
***
Đối Ẩm

Trưa nay đối ẩm cạnh khay trà
Tiễn hạ ta mời bạn thiết qua
Thấp thoáng sầu tư huơng dã thảo
Bang khuâng luyến nhớ rượu hoàng hoa
Mùa sang vuơng vấn tơ sương nhẹ
Kẻ ở mơ màng bóng nhạn xa
Vẫn lá vàng bay như bướm luợn
Mà sao hiu hắt cánh thơ nhòa

Hawthorne,19-10-2010
Cao Mỵ Nhân
***
Thưởng Thức Trà Ngon

Mời bạn ngồi chơi uống tách trà
Tuổi già hồi tưởng tháng ngày qua.
Nhìn trời buổi sáng thêm sinh khí
Ngắm cúc nắng thu lại nở hoa.
Khách quý hàn huyên dù xứ lạ
Trà ngon thưởng thức dẫu phương xa.
Mời nhau chân thật đừng chê trách !
Tri kỷ thương nhau chẳng nhạt nhòa!

Minh Lương Trương Minh Sung
Cali. ngày 20/10/2010
***
Thu Tha Hương

Cám cảnh tha hương độc ẩm trà
Ngậm ngùi hồi ức thuở can qua
Quê nguời mấy độ thu vàng lá
Đất mẹ bao mùa cúc trổ hoa
Lữ thứ chiều sương hiu hắt nhớ
Mây tần mai sớm mịt mù xa
Cây đa, gốc thị còn nghiêng bóng
Trên nóc hương quan nắng úa nhoà

22-10-2010
Song Ngọc
***
Đối Ẩm Đầu Thu

Sáng sớm tinh sương chế ấm trà
Khi người vừa mới bước chân qua
Giữ hương trong tóc xe duyên nợ
Đưa nước về nguồn tưới cội hoa
Đối ẩm đầu thu mừng hạnh ngộ
Độc hành cuối hạ ngại chia xa
Mạn sen thơm ngát tràn tâm thức
Đã mấy mươi năm chẳng xoá nhòa

Phan Khâm
23-10-10
***
Độc Ẩm -1

Có trăng càng cảm đậm hương trà
Hẹn đấy mà sao chẳng thấy qua ?
Thế bạn dăn chung tâm chợt ngộ
Đây vơi ít chén mắt không hoa
Càng yêu tha thiết khung trời mộng
Thậm nhớ triền miêm đất nước xa
Chẳng biết chừng mô ngày trở lại
Cho đau thương cũ sớm phai nhòa.

Thái Huy
18-10-10 (*) 
***Độc Ẩm --2

Ta tự mời ta một chén trà
Giữa nơi đất khách đón thu qua
Bấy nay bận rộn chăm lo việc
Tự hậu rảnh rang thưởng thức hoa
Vui thú điền viên dù bạn vắng
Sống đời an lạc dẫu quê xa
Mai kia mốt nọ thân gìa mục
Nước mắt còn đâu bảo nhỏ nhòa !

Thái Huy
19-10-10
(*) so vơi ngày nhận bữa nay (20-10-10)
***
Danh Trà

Mùi thơm mấy dặm hảo danh trà
Hỏi bác còn không em ghé qua
Khói tỏa lung linh chung nạm ngọc
Hương bay nghi ngút đĩa chèn hoa
Thi sao tả hết niềm ưu ái
Chữ cũng khôn bày nỗi xót xa
Đạo lý thênh thang ta đối ẩm
Tấm tình tri ngộ khó phai nhòa

Lê Bá Lộc

Pinehill Oct-22-2010
***
Trà Thu

Tinh mơ nhóm bếp nhấm chung trà
Nhấm nháp hương đời vội vả qua
Sen trắng hạ tàn chờ rũ cánh
Cúc vàng thu muộn khó đơm hoa
Tự do ngờ thực mà ra ảo
Dân chủ tưởng gần lại vẫn xa
Thương xót quê hương nghèo tủi nhục
Niềm đau tóc trắng chẳng phai nhòa

NDT
2010-11 
***
Lánh Đời

Một viên kẹo ngọt, một chung trà
Bạn hữu thân sơ hãy ghé qua
Bỏ lại đời thường thương với hận
Vào thăm vườn đẹp kiểng cùng hoa
Mộng đời đeo đuổi chừng vô tận
Bến đợi trông về cũng chẳng xa
Đi cuối quãng đời còn mấy bước?
Hơn, thua, được, mất, cũng phai nhòa

Thúy M
March 20th 2019
***
Trà Hoa Mộng

Vườn lạnh sương rơi trổ đóa trà
Đợi chờ nhung nhớ bóng hình qua
Mây bay ca hát lời tình tự
Gió thổi điệu trầm đẫm cánh hoa
Ly cách cuộc đời mong hội ngộ
Tương phùng giây phút chợt lìa xa
Đêm dài thao thức hồn ươm mộng
Nhật ký hồng mơ chữ nhạt nhoà.

3/19

Đỗ Thị Minh Giang
***
Trà Thu

Tinh sương ngõ vắng ẩm chum trà
Lá rụng bên ngoài mấy bữa qua
Mộng thắm đàn chim vờn bụi cỏ
Say mềm giọt nắng chiếu cành hoa
Màu Thu sắc nhuộm vừa nhen đến
Giấc Hạ hương lùa chợt bỏ xa
Nhặt mảnh hồn xưa mờ đáy cốc
Miên man kỷ niệm lệ rơi nhoà

Minh Thuý
14:09 - 31/03/2019

Thứ Tư, 29 tháng 8, 2018

Nhẹ Lòng*



Ngày tựu trường bước với cô đơn
Mọi người vui riêng chỉ tôi buồn
Tin nhạn vắng biệt tăm đâu còn nữa
Xác phượng khô lăn lóc cát ven đường

Ôm con nhỏ dạo chơi xóm vắng
Áo trận xanh nghe thoảng phong trần
Món quà bé bé vân vân
Bao năm mới được một lần rưng rưng!

Hai tám năm về thăm làng cũ
Nước dừa tươi, phượng đỏ ven sông
Mắt một con nhìn xa không rõ
Chân một bên nghiêng ngả vô cùng

Cơm hội ngộ món ăn dân dã
Nhắc chuyện xưa phiêu bạt điêu linh
Gió loạn ngừng, quán nhỏ mưu sinh
Thương bè bạn nơi rừng xanh núi đỏ!

Cây phượng vĩ ven sông nhẹ gió
Rồi cũng xong một buổi ra chơi.
Rồi cũng qua sóng gió một thời
Nỗi niềm, tâm sự đầy vơi… nhẹ lòng!

Lộc Bắc
Aug2018

*Cảm tác bài Những Cánh Phượng Khô Ép Trong Trang Vở của Nguyên Nhung

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2018

Những Cánh Phượng Khô Ép Trong Trang Vở


Lâu lắm rồi, có một lần trong đời tôi tìm lại được những cánh phượng khô ép giữa những bài thơ, trong tập thơ có những trang giấy “pelure” màu hồng, màu xanh dễ thương như cái tuổi học trò thơ mộng. Những kỷ niệm thời học trò bị bỏ quên nằm lẫn lộn với những cuốn sách cũ trên kệ sách, hình như không ai đụng đến. Rất, rất lâu tôi cũng không đụng đến, cho đến một buổi chiều mưa tự nhiên tôi lại nhớ, những cánh hoa khô bất ngờ rơi xuống lả tả đã trở màu nâu xậm là lúc ấy trong trí tôi, cũng rưng rưng những cánh phượng màu đỏ thắm rơi trên mặt cỏ …

Cảm giác mênh mang buồn khi tìm gặp lại những cánh phượng khô ép trong trang vở, khiến tôi nhớ đến anh, người “bạn” duy nhất trong đời học sinh, đã nhặt những cánh phượng rơi trên thảm cỏ gần mé sông, ép vào trang vở bọc trong giấy kính mờ rồi làm quà cho cô bạn nhỏ. Nét chữ bay bướm cuả anh nghiêng nghiêng trên những tờ thư mỏng, anh vẫn thường nhận phần trang trí hay chép hộ tôi những bài thơ hay. Chỉ vậy thôi, ngày nào trên đường đi học về tôi cũng đã phải ghé vào nhặt vài bông hoa cầm trên tay để làm duyên với anh bạn chung đường, hình như từ đó cũng nảy nở một mối tình học trò, be bé xinh xinh như những cánh phượng đầu mùa ép khô đã đổi màu với thời gian.

Mối tình ấy bao lâu tôi không nhớ, nó bắt đầu khi nào và kết thúc làm sao vẫn chỉ để lại một nỗi buồn hờn giận nhẹ nhàng mà lại khó nguôi trong trái tim nhỏ bé cuả tôi. Hai năm dài đi chung một con đường đến trường, bỡ ngỡ xa lạ lúc ban đầu, êm đềm đằm thắm lúc về sau, để rồi sau một mùa hè “người ấy” biến mất, như những cơn mưa mùa hè đã cuốn theo những cánh hoa phượng rã rời trôi theo dòng sông biền biệt.

Tôi chỉ biết anh ở trọ nhà bà con trong suốt thời gian đi học, bà mẹ quê phải vất vả tằn tiện từng đồng nuôi con đi học xa. Quê anh tít trong vùng sâu ở bên kia sông, thời chiến tranh nằm giữa hai lằn đạn. Bà mẹ chịu ở lại với mảnh vườn và ruộng lúa để nuôi các con ăn học, tình hình chiến sự nhiều khi trở nên rất sôi động đến nỗi con cũng không dám về nhà thăm mẹ cho nguôi lòng thương nhớ, mẹ cũng phải khó khăn mới chèo chống được với sóng gió, bằng chiếc ghe nhỏ chở khẳm gạo và thức ăn bơi qua sông lớn để nuôi con ăn học. Chính vì vậy mà tâm tư anh khắc khoải một nỗi buồn, nhất là những đêm tiếng đại bác vọng về thành phố, ánh hoả châu soi sáng vùng trời xa bên kia sông, tương lai tuổi trẻ ngày ấy mịt mờ nặng trĩu những âu lo khiến anh nghĩ tới bà mẹ quê tội tình mà không an tâm trong việc học. Năm đó anh thi rớt, một là học lại một năm nữa để thi nốt mảnh bằng tú tài 2, sau đó lên Đại Học, nhưng đúng lúc đó chiến trận leo thang, anh cũng đang độ tuổi tòng quân nhập ngũ. 

Anh biến mất trong tôi kể từ mùa hè năm ấy không một lời từ giã. Có lúc tôi nghĩ chắc anh đã nghỉ học về quê ở nhà với mẹ để trốn lính, hay có khi lại chạy theo bên kia vì nhà anh thuộc vùng xôi đậu. Thôi thế là hết, tình học trò còn non nớt như những bông hoa phượng đỏ, lắm nhớ nhung để rồi tự nhiên bị đứt như dây tơ chùng xuống nốt nhạc buồn. Trong tâm hồn người con gái tuổi mộng mơ mới biết yêu vẫn thổn thức khi niên học mới một mình đến trường không còn ai đưa đón. Lật tập thơ tôi thấy còn nhiều cánh hoa phượng khô của anh tặng năm xưa nằm xen trong những trang giấy mỏng, lúc ấy tôi đã làm bài thơ “Ngày Tựu Trường”, ép vào đó một cánh phượng khô với nỗi buồn của tôi, nỗi hờn giận đã làm tan nát trái tim non nớt tuổi học trò.


Ngày Tựu Trường 

Ngày tựu trường lòng tôi sao trống vắng
Đếm trên đường từng bước với cô đơn
Người ta vui sao chỉ có tôi buồn
Tình êm đẹp bây giờ không còn nữa

Lá phượng xanh , màu xanh nay đã úa
Ngày tựu trường trời sao vẫn nhiều mưa
Đường đi, về tôi cảm thấy bơ vơ
Nên cúi mặt tìm màu hoa đỏ thắm

Một người ra đi nơi nào xa lắm
Cánh phượng hồng khô héo đã từ lâu
Những bông hoa kỷ niệm buổi ban đầu
Vẫn còn đó không một lời hẹn ước

Ngày tựu trường có một mình tôi khóc
Đâu còn anh ai chép hộ bài thơ
Đâu còn anh mình tôi bước thẫn thờ
Trong buổi sáng đầu năm vào lớp học.


Bài thơ dễ thương ấy là một trong những bài thơ tuổi học trò, với những cánh hoa ngả màu nâu buồn nằm thầm lặng trong góc tủ sách , hay suốt đời nằm thầm lặng trong đáy hồn tôi.

Khi tôi nghĩ sẽ không bao giờ còn gặp lại “người ấy”, dù chia tay chỉ vì hoàn cảnh nhưng đã vô tình làm tổn thương trái tim non nớt của tôi. Vậy mà vài năm sau khi lập gia đình, tôi bồng đưá con gái nhỏ ghé vào tiệm bách hoá mua đồ chơi cho con thì gặp anh. Trong bộ chinh y còn nhàu bụi đường xa, hình như anh mới từ đơn vị về nên nét mặt còn hằn dấu phong sương.

Ngỡ ngàng, bối rối, bồi hồi, ba cảm giác ấy trộn lẫn vào nhau khiến tôi lúng túng thốt ra toàn những câu thật ngớ ngẩn khi hai bên chạm mặt nhau. Má tôi nóng bừng lên lẫn lộn cảm xúc bất ngờ sung đột trong lòng, khi nhớ đến chuyện ngày xưa, lại nửa như muốn cho anh nhìn thấy cái hạnh phúc mà tôi đang có. Vẫn không bỏ được tính trẻ con, bất đắc dĩ tôi phải hỏi, vẫn trống không như ngày xưa mỗi lần hờn giận:
“Mới về hả?”
Anh cũng mỉm cười gật đầu, ánh mắt nửa thương mến nửa giễu cợt khi nhớ lại cái tính hay hờn cuả tôi:
“Ừ, mới về!”

Rồi lặng thinh nhìn tôi rất lâu. Đôi mắt ấy chừng như đâu đó đọng lại một niềm vui dịu dàng khi biết tôi đã có một đời hạnh phúc, xen lẫn chút ân hận khi nghĩ đến chuyện cũ. Thời gian qua lâu rồi, những cánh hoa phượng đã uá rồi vẫn nằm trong tập thơ tôi nhét kín trong kẹt tủ sách. Trong bấy nhiêu năm trời tôi đâu biết anh đi đâu về đâu, bây giờ nhìn anh trong màu áo trận, tôi ân hận là đã có lúc nghĩ sai về anh, vì tưởng anh sợ đời lính nên trốn về quê núp bóng mẹ. Anh nựng đưá bé trên tay tôi rồi hỏi:
“Cháu xinh và giống mẹ ghê, được mấy tuổi rồi?”

Tôi lí nhí trả lời nhưng tự nhiên một nỗi hờn giận dâng lên trong ánh mắt, tôi có làm gì nên tội để ngày ấy anh bỏ đi không một lời từ giã. Theo thời gian tình yêu ấy giờ đây đã khâm liệm rồi, nhưng niềm đau thì hình như vẫn còn đó khi nhớ lại. Nỗi đau tuổi đầu đời, in một dấu hằn trong trái tim nhỏ bé, chưa kể những giọt nước mắt tủi hờn mỗi lúc lẻ loi trên đường đi học, tôi vẫn phải đi ngang nhịp cầu và mé sông rưng rưng tàn hoa phượng đỏ mỗi lúc sang hè.
Tự nhiên tôi bật hỏi:
“Hồi đó anh đi đâu?
Anh buồn buồn:
“Anh nhập ngũ, mẹ anh đâu còn bao nhiêu sức lực để nuôi anh học lại một năm nữa, anh cũng không thể về cày cuốc nơi mảnh đất quê nhà. Đành là ra đi mà không dám nói lời từ biệt, anh xin lỗi…”

Chúng tôi còn nói thêm vài câu chuyện nữa, đã hết giận anh rồi, chuyện cũ đã được giải thích, dù sao hiện tại tôi đã ấm êm với một gia đình hạnh phúc, riêng anh đời lính đẩy đưa qua những miền đất lạ, chỗ nào cũng chỉ có đạn bom. Anh chưa lập gia đình dù mẹ anh mong mỏi, nhưng đời lính luôn đối diện với sống chết lại ám ảnh chuyện “những kinh kha một sớm chẳng quay về” nên anh ngại ngùng chưa nghĩ đến hôn nhân.

Tôi bế con ra khỏi tiệm bách hoá, trên tay con bé giữ chặt món quà cuả người lính mua tặng, nó toét miệng cười khi anh đặt nụ hôn dịu dàng lên vầng trán ngây thơ cuả đứa bé trước khi từ gĩa. Chuyện năm nao đã lắng xuống rồi, ít ra cũng có một câu trả lời để “cô bé học trò” ngày ấy khỏi tấm tức vì nghĩ mình bị bỏ rơi. Nụ hôn dịu dàng anh gửi lại trên vầng trán đưá bé, khiến tôi chạnh nhớ đến lần cuối cùng, anh cũng dấu kín lời từ biệt với nụ hôn nhẹ nhàng trên trán tôi rồi ra đi mà không nói một lời. Món đồ chơi trẻ con đưá bé giữ chặt trong tay, khiến tôi bật cười mà lại cảm động khi nghĩ tới những bông hoa phượng màu nâu khô ép trong tập thơ nhét trong kẹt tủ, ngày xưa tôi cũng giơ tay nhận món quà trời cho ấy mỗi độ sang hè, nhớ đôi mắt nồng ấm của anh nhìn tôi với nụ cười xinh dấu trong vành nón lá.


Kể từ lần gặp ấy tôi không hề gặp lại anh nữa, cuộc đời cứ thế trôi đi theo cái tan nát của nước non. Tôi may mắn cùng chồng rời khỏi quê nhà trong những giờ thứ 25 của cuộc chiến, chẳng mang theo được gì, huống chi là tập thơ tuổi học trò dấu trong kẹt tủ sách có những cánh hoa khô ép trong cuốn vở. 

30 năm sống ở quê người, lòng tôi vẫn chưa nguôi ngoai nỗi nhớ quê và mong ước một lần trở về. Trở về để làm một người khách lạ trên chính quê hương của mình, những gì trong quá khứ đã không còn, tôi chẳng tìm đâu ra hai cây phượng nơi mé sông, tôi cũng không nhìn ra ngôi trường mình đã học ngày xưa vì nó thay đổi hết rồi. Chị bạn đồng hành mời tôi về thăm sông nước miền Tây cho biết đời sống và vẻ đẹp cuả những thôn làng nằm ven bờ sông Hậu, tôi nhận lời ngay vì chợt nghĩ đến ngày xưa, có lần tôi đã ao ước được theo anh về thăm nhà, nhưng anh nói:
“Em không biết chèo xuồng, không biết bơi làm sao dám về vùng sông nước.”

Anh nói vậy nhưng tôi hiểu cái mặc cảm trong lòng anh, một cô gái thị thành “ăn trắng mặc trơn”, sao phù hợp được với cảnh đời cuả một thanh niên cảnh nhà thanh bạch nơi quê mùa đầy những bất trắc cuả chiến tranh. Lần trở về này tôi theo người bạn về thăm quê chị, nơi mà có lần mấy chục năm về trước, tôi đã nhìn thấy nỗi bồn chồn cuả người yêu cũ khi nhìn ánh hoả châu phía chân trời bên kia sông, mà nghĩ đến bà mẹ quê nghèo đang lao đao giữa hai lằn đạn.

Đã bao nhiêu khuôn mặt thân hay sơ đi qua đời mình,bạn bè chung trường chung lớp ngày xưa bây giờ mỗi người có một số phận khác nhau và đời sống khác nhau. Tôi gặp một vài người bạn cũ còn sống ở quê nhà, có người thành công có người lận đận an phận sống cho hết kiếp người. Tôi thoáng nhớ đến anh người bạn thuở học trò, không biết bây giờ anh ra sao, chỉ mong sao anh cũng thoát được nỗi vất vả cuộc đời mà qua hai giai đoạn tôi biết, đời học sinh và đời lính tuổi nào anh cũng ắp đầy nỗi khổ.

Chuyến đò xình xịch nổ máy rồi rời bến chở khách về thăm lại làng quê miền đồng bằng sông Cửu Long, bây giờ cũng có một con đường nhỏ chạy song song với dòng sông. Đa số người miền quê vẫn thích đi bằng đò vì mát mẻ và vận chuyển được nhiều hành lý, còn người đi xa trở về lại muốn hưởng cảm giác thanh bình cuả những làng mạc nằm dọc theo dòng sông. Lòng tôi êm dịu quá, những đợt sóng nhỏ vỗ vào mạn đò êm như nhịp võng và tiếng ầu ơ cuả những trưa hè trong một xóm nhỏ của miền Namngày xưa, tôi để lòng trôi nổi theo những kỷ niệm một thời đã lắng xuống sau 30 năm tôi sống ở quê người.

Chập chờn theo tiếng sóng vỗ vào con đò tròng trành trên dòng sông, gió mát miền quê ru tôi vào giấc ngủ, lúc ấy đò vừa cập bến nên mọi người lao nhao đứng dậy để lên bờ, tôi mới ngây ngất nhìn thấy hai cây phuợng thắm bên giẻo sông này đang mùa hoa tưng bừng nở rộ. Hoa đỏ chi chít chen lẫn trong những cành lá xanh ly ty xanh biếc, lòng lại bồi hồi xúc cảm vì bất chợt tìm lại những gì mất đã lâu nay bỗng dưng hiện ra trước mắt. Ôi chao! Cũng những cánh hoa tả tơi rơi trên mặt đất, cũng cây phượng hồng bên mé sông, chỉ khác là hôm nay tôi không còn là cô nữ sinh tuổi mười bảy của những năm tháng trước. Hai cây phượng hồng che bóng mát cho một cái quán nghèo nhà quê, bán trái cây và những thứ kẹo bánh, đồ chơi cho trẻ con, người làng xã mỗi lần ra bến chờ chuyến đò ra tỉnh.

Mỏi chân nên tôi ngồi nghỉ nơi cái bàn cuả quán nước ở ngoài hiên, chờ chị bạn lấy hành lý về thăm nhà bà con, bảo người phụ nữ chủ quán có nét mặt hiền hoà đôn hậu chặt cho tôi một trái dừa xiêm nhỏ.Biết tôi khách phương xa, chị quày quả gọi vào bên trong lấy cho tôi một trái dừa tươi nhất từ trên cây phía sau nhà. Khi người đàn ông chống đôi nạng gỗ khập khễnh bước ra đem trái dừa cho vợ, mắt tôi loà nhoà một hình ảnh rất thân quen, mặc dù thời gian và tuổi tác đã cày sâu trên khuôn mặt, nhưng chắc chắn là tôi không lầm. Trời ơi!Anh đấy ư? Có thể nào như thế nếu như trời vẫn còn bắt tôi gặp lại người xưa trong cảnh huống này, con người quả có số phận, nhưng nỡ nào chiến tranh lại lấy đi cuả anh nhiều như vậy? Một cái chân bỏ lại chiến trường, cộng thêm một con mắt khiến anh khó lòng nhận ra tôi lúc ấy, chính tôi cũng thay đổi nhiều rồi, nhưng so sánh giữa hai cảnh đời thì anh đã gánh chịu quá nhiều bất hạnh.

Không nén được cảm xúc, tôi uống một ngụm nước dưà nhưng lại không cảm được cái ngọt lừ cuả nước mát quê hương. Thấy anh đi vào, tôi bật đứng dậy chạy gọi với theo khiến người vợ cũng ngạc nhiên:
“Anh …anh gì ơi, cho tôi hỏi thăm”

Anh ngạc nhiên đứng lại, cây nạng gỗ dựa bên khiến dáng anh khập khiễng làm lòng tôi càng thương cảm. Rồi nhìn tôi chăm chú bằng con mắt còn lại, linh tính đã nhận ra tôi là người quen năm cũ, anh bình tĩnh mỉm cười, nụ cười ấy tôi nhận ra ngay như ngày nào gặp lại nhau trong tiệm bách hoá. Anh hỏi:
“Mới về hả?” 
Tôi nhìn anh lòng rộn lên niềm vui, lí nhí nói:
“Ừ, mới về!”
Trong bao nhiêu năm cứ như thời gian không ảnh hưởng gì đến cái tình năm xưa trong quá khứ, anh nói tiếp:
“Không ngờ quả đất tròn thiệt, tôi không ngờ mình còn sống để có ngày gặp lại”.
Chúng tôi trở lại bàn dành cho khách uống nước, chờ chị bạn để về nhà.Vợ anh lăng xăng mừng rỡ:
“Cô đây quen với mình hả?”
Anh gật đầu vui vẻ:
“Quen, hồi anh còn đi học nhưng lâu rồi không gặp, cũng mấy chục năm rồi mà còn nhận ra nhau. Bữa nay em chuẩn bị làm cơm mình đãi khách quý, hình như cũng là bạn cuả cô Út cháu bà Hai trong xóm mới từ nước ngoài về?”
Tôi gật đầu, chị bạn tôi cũng vưà đến, nhất định tôi phải thuyết phục chị buổi chiều đến nhà anh ăn bữa cơm hạnh ngộ. Thấy anh lom khom với cây nạng, tôi dò hỏi:
“Sao anh không dùng xe lăn cho khoẻ?”
Anh mỉm cười nhẫn nhục:
“Ở nhà quê đường xá gập ghềnh, chống nạng tiện hơn, cái chân này cũng vững vì nó biết phải bảo vệ cái chân kia cho mình khỏi té.”

Trời ơi, bao nhiêu năm vốn văn chương vẫn còn nguyên trong trí nhớ cuả người học trò, vẫn khí phách cuả người lính dám đứng thẳng đối phó với hoàn cảnh. Chắc anh khổ nhiều mà không nói ra, nhưng tâm tôi đã quyết phải làm một cái gì cho anh. Trả ơn những bài thơ chép trong cuốn vở, trả ơn những cánh hoa khô ép trong thơ đã cho tôi những tháng ngày mộng mơ tuổi học trò, trả ơn người lính đã đánh mất phần thân thể cho tôi được bình yên trong thời chinh chiến.

Hai ngày theo chị bạn về quê, nơi này làng xóm thân cận nên ai cũng biết nhau, cũng không ai biết gì về sợi dây thân tình cuả anh thương phế binh với người phụ nữ trung niên từ xa mới về. Mẹ anh chết lâu rồi, anh trở về sống trong căn nhà hương hoả cuả gia đình, an phận với nếp sống đạm bạc rau trái trong vườn, mãi mới chịu lấy vợ để tuổi gìa đỡ hiu quạnh. Hai đưá con anh lớn lên được cho ra tỉnh trọ học y như cha chúng nó ngày xưa, nhưng khá hơn vì đã hết chiến tranh, ngày nghỉ vẫn theo đò về quê thăm cha mẹ. Anh đối đãi tôi bằng mối thâm tình cuả người anh với cô em gái, sau bữa cơm khá thịnh soạn có món gỏi gà trộn rau răm bắp chuối, chị lưỡng lự chưa dám cầm món quà cuả tôi nhét vào túi áo chị dù biết rằng nó sẽ giúp anh chị thực hiện những ước mơ, như làm lại cái quán nhỏ để mưu sinh qua ngày, bán thêm vài thứ đồ chơi rẻ tiền cho trẻ con trong xóm.


Anh thở dài rồi cũng phải nhận món quà của người em gái một thời còn nợ anh những bông hoa phượng ép trong cuốn vở, nhưng vẫn nói:
“Cảm ơn cô đã nghĩ đến anh, sau chiến tranh anh được về với mảnh đất quê nhà là may mắn rồi, còn biết bao đồng đội của anh què chân cụt tay lê la ngoài đầu đường xó chợ không có ai giúp đỡ. Nếu có lòng, em cố giúp những người ấy, phần anh như vậy đã quá đủ, còn có hai cây phượng bên bờ sông nở hoa mỗi độ hè về, đâu ao ước gì hơn nữa.”

Xế trưa hôm sau nữa tôi và chị bạn trở ra tỉnh để lên Sàigòn chuẩn bị chuyến bay. Lúc vợ anh bận bịu bán hàng cho khách trong quán, chị bạn tôi cũng lăng xăng từ biệt gia đình người bà con, mắt ai cũng rươm rướm hẹn lần tái ngộ. Lúc ấy tôi có dịp đứng một mình với anh dưới tàng cây phượng vĩ, rực rỡ những bông hoa đỏ lung linh in bóng xuống dòng sông. Vướng một chút hắt hiu khi nắng chiều rọi vào khuôn mặt đã hằn dấu vết thời gian, anh nói nhỏ:

“Em vẫn còn giữ được nụ cười năm xưa. Bây giờ có hiểu tại sao anh lại trồng hoa phượng, cũng chỉ bởi muốn giữ trong lòng những kỷ niệm thời đi học.”

Tôi gật đầu không nói, nhưng mắt lại rưng rưng khi hiểu rằng trong trái tim anh thấp thoáng vẫn còn hình ảnh cô bạn nhỏ thời đi học. Chắc khó gặp lại nhau lần nữa, khi con đò tròng trành rời bến ra giữa sông, bóng anh nhỏ dần nhưng mắt tôi vẫn ngoái trông những bông hoa phượng rưng rưng nơi bờ sông lộng gió …

Nguyên Nhung


Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2016

Đốm Lửa Trên Sông


Ông thầy già ngôi trường Trung Học của tôi thời cắp sách, cho đến bây giờ ngoài “thất thập cổ lai hi” vẫn mê thơ Đường. Những bài thơ của Tô Đông Pha, Lý Bạch, Trương Kế từ hơn nghìn năm trước vẫn được thầy ngồi suy tư nghĩ ngợi, tìm trong thơ ý tưởng của người xưa, như bây giờ người ta đi tìm cái bí ẩn nụ cười của Mona Lisa (1479 - 1528), bức danh họa của Leonard da Vinci. Chắc hẳn thầy đã trăn trở nhiều đêm với nỗi lòng của người xưa, bài thơ được thầy dịch đi dịch lại nhiều lần mà vẫn chưa vừa ý, qua nhiều tháng năm mòn mỏi của đời người, để mỗi lần đọc lại thầy vẫn thấy còn thiêu thiếu.

Mới đây, thầy gửi đi một bản dịch bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc” nguyên tác của Trương Kế, thi sĩ Trung Hoa từ thế kỷ thứ 8, khoảng trước và sau năm 756, niên hiệu Chí Đức, đời Đường Tông, sinh quán ở Tương Châu, thuộc tỉnh Hà Bắc. Tương truyền rằng Trương Kế thi rớt khoa thi năm đó, đêm neo thuyền ở cầu Phong, nhìn ánh trăng bàng bạc trên sông nước. Thao thức mãi không ngủ được, quá nửa đêm về sáng lại nghe tiếng quạ kêu sương, hai bên bờ hàng cây say ngủ, bỗng đâu nghe vẳng lên tiếng chuông chùa Hàn San, nỗi u uẩn của lòng hòa thêm tiếng chuông tinh khôi buổi sáng khiến lòng càng trắc ẩn, ngậm ngùi nên tức cảnh sinh ...Thơ. Bài thơ vỏn vẹn 4 câu đã trở thành bất hủ:

Phong Kiều Dạ Bạc 

“Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.”
(Trương Kế)

Ý tưởng và vẻ đẹp thi ca của người xưa vẫn còn bàng bạc mãi trong tâm hồn người yêu thơ cho tới tận bây giờ. Khi dịch bài thơ này, ông giáo già cứ băn khoăn mãi khi tưởng tượng ra đốm lửa trên chiếc thuyền chài cá lúc nửa đêm, sương giăng như một dòng sữa, hàng cây phong ven bờ lim rim ngủ, tiếng quạ kêu khắc khoải quyện với hồi chuông khuya từ ngôi chùa Hàn San.

“Trăng lẩn, quạ kêu, trời đầy sương
Ánh lửa chài xa quyện vấn vương
Hàng cây phong ngủ bên bờ vắng
Văng vẳng chuông khuya vỗ mộng thường.”
(Giáo sư Phạm khắc Trí)

Đọc bản dịch của Thầy, hình như mấy chữ “ánh lửa chài” trong bài thơ bỗng làm tôi nhớ đến nỗi buồn mông lung của những Xóm Thuyền Chài ngày xưa, trên một dòng sông nhỏ thời tôi còn trẻ. Dễ có đến hơn bốn mươi năm khi tuổi còn thanh xuân, sao những đốm lửa trên sông vẫn in trong lòng tôi một nỗi buồn khắc khoải. Nhất là mỗi buổi tối trời nhập nhoạng lên đèn, ngồi bên bờ sông trên bến nước, đưa mắt nhìn ra khoảng sông tối mịt mùng xa xa vẫn thấy ánh lửa lắt lay trên những chiếc thuyền chài rách nát ...

Nguyên Nhung

Thứ Năm, 24 tháng 3, 2016

Thời Gian



Thời gian như giọt nước
Nhỏ xuống đời mông mênh
Thấm vào từng năm tháng
Thành sông dài lênh đênh

Đợi đến đôi vai mỏi
Là lúc ta đã già
Mới nghe lòng tiếc nuối
Thời gian nào đã qua ...

Thương từng chiếc lá úa
Cố níu lấy cành cây
Thương từng con dốc nhỏ
Bao bóng người đã xa

Thời gian như cơn gió
Như có mà như không
Gió luồn qua phòng trống
Nào biết gió đi đâu?

Thời gian sẽ ngừng lại
Vào phút cuối cuộc đời
Chỉ mỗi người mới biết
Thời gian là gì thôi!

Nguyên Nhung

Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2014

Ngọn Nến Lung Linh

      

      Tôi không nhớ được mùa Giáng Sinh năm ấy tôi bao nhiêu tuổi, nhưng chắc chỉ độ lên mười. Có lẽ đó là một mùa Giáng Sinh khá buồn và ảm đạm vì các anh chị tôi đi làm, đi học xa không về được, ở nhà quạnh quẽ chỉ còn hai mẹ con. Thời thơ ấu, tôi thèm lắm những bóng đèn xanh đỏ chớp nháy trên cây Giáng Sinh, một hang đá bằng giấy quết mực đen với những tượng Thánh xinh xinh bằng đất nung. Nhưng mộng ước ấy xa vời lắm đối với một đứa trẻ mười tuổi quá bé bỏng, trong lúc mẹ tôi xoay sở lo cho các con cơm ăn áo mặc đã vất vả, thời buổi ấy quả là một gánh nặng nhọc nhằn, trên đôi vai bé nhỏ của người đàn bà góa bụa.

      Là một đứa trẻ con, nhưng dường như ông Trời đã cho tôi một tâm hồn khá nhạy cảm để âm thầm tìm niềm vui cho mình từ những nhỏ nhoi nhất. Bởi vậy, đêm Giáng Sinh năm ấy dù không có đèn sao nhấp nháy, những trái châu xanh đỏ, nhưng tôi đã biết dùng những chiếc kẹo đủ màu để treo lên nhánh cây dương xỉ nhặt được trong khu nhà thờ, khi người ta đến đó trang hoàng hang đá cho mùa Giáng Sinh. Duy nhất một ngọn nến trắng bập bùng, ánh sáng lung linh hắt lên tường bóng một cành cây và một bóng người. Ngọn nến trắng đêm ấy đã làm cho cành cây và cái bóng của đứa trẻ thơ như lớn hơn, in lên tường chập chờn một giấc mơ tuyệt vời ấm áp. Tôi không nhớ được hết cảm giác đó vì thời gian qua đi khá lâu, nhưng cảm nhận về ngọn nến trắng thời thơ ấu đã giúp tôi vượt qua nhiều nỗi buồn, mỗi khi lẻ loi, thất vọng, tôi vẫn cứ nhớ hoài ngọn nến trắng mùa Giáng Sinh năm tôi mười tuổi. Tôi còn nhận được một món quà đặc biệt của bà hàng xóm, bạn của mẹ tôi, cho đến bây giờ dù thời gian qua đi mấy chục năm, tôi vẫn hình dung ra được hình dáng và mùi vị của nó: một củ khoai lang nướng.

      Món quà Giáng Sinh nghèo nàn của bà hàng xóm quê mùa thật vừa bụng tôi lắm, dù rằng mẹ tôi có làm vài món ăn đặc biệt cho ngày Lễ. Tôi mơ màng nhìn ngọn nến lung linh soi lên cây Giáng Sinh của tôi, cứ gọi như vậy vì nó là niềm vui có thể làm được của một đứa trẻ con mười tuổi, củ khoai nướng gói trong mảnh lá chuối còn nóng hổi, mùi mật ngọt của khoai bốc lên thơm lừng, mùi rơm rạ hình như còn ủ trong lớp vỏ khoai cháy xém. Nụ cười trìu mến trên khuôn mặt hiền lành của bà hàng xóm, khi đưa cho tôi món quà Giáng Sinh nghèo nàn ấy. Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ khuôn mặt quê mùa, chân thật của bà, củ khoai lang nướng đêm Giáng Sinh ngày thơ ấu đã theo tôi vào đời. Khi trưởng thành, những lúc bụng đói mắt cay, đời gặp lúc gian nan, buồn tủi, tôi cũng nhớ củ khoai nướng, nhớ mùi khoai lang nướng. Khi sung sướng hạnh phúc ở quê người, đời no đủ những cao lương mĩ vị, tôi cũng nhớ mùi vị củ khoai nướng. Phải chăng trong tôi vẫn vấn vương thứ TÌNH NGƯỜI nhỏ nhoi ấy, không thể mua được bằng tiền. . .

2-
      Tôi yêu đóm lửa ngọn nến trắng từ hồi còn thơ ấu, chắc là ngọn nến sáng mùa Giáng Sinh năm xưa cũng đi theo tôi đến những chặng đường còn lại của đời người. Có một câu chuyện tôi sắp kể ra đây, đó là câu chuyện của ông cụ Rôbéctô tôi có dịp gặp ở ngôi nhà nguyện. Mỗi ngày, sau Thánh Lễ buổi sáng, mọi người đã lục tục ra về, ngôi nhà nguyện đóng kín cửa như chìm trong yên lặng và bóng tối, chỉ còn lại duy nhất một ngọn nến trắng trên bàn thờ. Ánh nến hắt lên tường những chấm sáng lung linh, soi lên bức tượng Đức Mẹ bồng con bằng thạch cao trắng toát. Nến trắng và tượng trắng, tất cả chỉ là một màu trắng nhưng nghe trong thinh lặng chút bình an tràn ngập tâm hồn.

      Tôi ngồi lại một lúc giữa những hàng ghế chỏng trơ không còn ai, nhìn chăm chăm lên ngọn nến. Tôi ở lại một mình chỉ vì thích đóm lửa nhỏ nhoi của ngọn nến, say sưa nhìn đóm lửa nhỏ lay lắt tỏa ánh sáng hắt hiu xuống chiếc khăn trải bàn cũng màu trắng, trong cái tĩnh lặng của tâm hồn. Tôi không cầu nguyện gì đâu, nhưng cảm giác bình yên khi nhìn ánh sáng của cây nến trắng đã rất đủ. Chắc hẳn trong mỗi đời người ai cũng có lúc thèm sự yên tĩnh của tâm hồn. À không, ở dãy ghế bên kia còn một ông già Mễ Tây Cơ, ông vẫn quỳ im lặng nhìn lên ngọn nến như tôi vậy, nhưng khác hơn là miệng ông mấp máy cầu nguyện. Mặt ông héo quắt với chòm râu bạc, đôi mắt đăm đăm nhìn lên ngon nến, nét mặt thành khẩn như đang cố bám lấy một niềm hy vọng nơi bức tượng Thánh trên bàn thờ.

      Buổi sáng nay đi ngang công viên để đến nhà nguyện, tôi đã nhìn thấy mùa Đông trở về, một rừng lá vàng khô xôn xao đuổi nhau lăn xuống cuối dốc, trơ lại những nhánh cây khô, treo trên đó là những thân tầm gửi đang đong đưa theo gió sớm. Buổi sáng đầu mùa Đông mang theo chút giá buốt, khu công viên chỉ lác đác dăm người đi bộ, và những cây hoa dại có một sức chịu đựng dẻo dai, nở những bông hoa li ti trên bờ cỏ ven đường. 

      Khi ngọn nến tàn là lúc ấy tôi với ông già Mễ cũng ra khỏi ra nguyện. Ánh sáng leo lét của ngọn nến cháy bập bùng rồi gần như lả xuống trong lòng chiếc bình thủy tinh trong suốt, y như cái ngoẹo đầu cuối cùng của một người khi từ giã cõi đời. Ông già Mễ mỉm cười chào tôi trước sân nhà nguyện, ở đấy có một vườn hoa nhỏ và hai băng ghế dài đặt song song đối diện nhau. Có khi tôi cũng ngồi lại một chút để nhìn vẩn vơ lũ chim sẻ đang nhảy nhót trên sân tìm mồi, bỗng đồng loạt bay ào lên khi thấy có bóng người bước tới. Đôi khi tôi và ông Rôbéctô hay trao đổi vài câu chuyện nhỏ, cái miệng móm mém của ông phều phào kể cho tôi nghe những nỗi buồn nho nhỏ trong gia đình, ông hay đi nhà thờ để cầu nguyện cho đứa cháu đang đi lính ở phương xa.

      Khi biết tôi ở lại một mình cũng chỉ vì thích ánh sáng lung linh của ngọn nến trắng, và câu chuyện mùa Giáng Sinh thời thơ ấu, ông RôBécTô cảm động lắm. Đôi mắt ông hấp háy, nhòa ướt qua giọng nói khàn khàn ẩm đục. Mùa Giáng Sinh đến, trời bắt đầu lạnh hơn, tôi có ý nghĩ chuẩn bị một món quà cho ông bạn già vong niên trước ngày Lễ Giáng Sinh. Có gì đâu, tôi lại nhớ đến củ khoai lang nướng bà hàng xóm tặng tôi đêm Giáng Sinh, bây giờ nghe ông Rôbéctô thích vài món ăn Việt Nam, tôi nghĩ đến chuyện tặng ông một hộp cơm rang và chục cái chả giò tôm thịt. Chẳng có gì hơn bằng một món quà đáp ứng đúng sự ưa thích của người nhận, ông Rôbéctô cảm động lắm khi nhận món quà của tôi buổi sáng trước ngày Lễ Giáng Sinh, tôi thấy đôi mắt ông nhòa lệ khi nắm lấy tay tôi nói phều phào những lời cảm ơn.

      Tôi không nghĩ đến việc cho đi để nhận lại một món quà thật dễ thương của ông Rôbéctô vài hôm sau đó. Khi tan buổi lễ, ông gặp tôi trước sân nhà nguyện, với một gói giấy hoa thật đẹp, thì ra ông già đã nhờ cô con gái mua hộ cho tôi một món quà thật xinh: đó là chiếc áo len màu hồng nhạt. Vẫn cái giọng Mễ Tây Cơ lùng bùng những thanh âm nằng nặng, ông nói rằng món quà này thật là thích hợp cho tôi, người phụ nữ Á Đông có dáng dấp nhỏ nhắn và nước da trắng trẻo. Quả thật chiếc áo len màu hồng khi mặc vào đã làm tôi như trẻ lại hằng chục tuổi. Món quà của ông Rôbéctô đã thắp lại trong tôi ngọn nến sáng mùa Giáng Sinh năm nào, với củ khoai lang nướng khi tôi là cô bé lên mười thuở ấy. . .

      Ông Rôbéctô đã qua đời vài năm nay, ông chết vì bịnh ung thư phổi. Những năm cuối của cuộc đời, ông không đến được nhà nguyện mỗi ngày, nhưng trước khi chết ông vẫn mong được gặp những khuôn mặt yêu thương của những người Việt ông quen biết. Rất tiếc là tôi không thường gặp ông sau này, nhưng tôi biết ông ra đi rất êm ả. Người ta kể rằng trong những giây phút cuối cùng của đời người, ông chỉ xin đốt lên cho mình một ngọn nến. . . 

3-

      Những ngày cuối năm với những cơn mưa mùa Đông làm ẩm ướt không gian, đất trời như nặng trĩu một nỗi sầu da diết. Trong căn nhà vắng lặng, bóng chiều hình như đến vội với những giọt mưa rả rích ngoài hiên. Trời rét lắm, gió và rét khiến những chú chim sẻ nhiều chuyện không ríu rít như mọi ngày, chúng rủ nhau vào trốn gió sau bụi mía, lả mình vào hàng rào đang rung rung những chiếc lá úa. Những con chim sẻ mùa Đông trông thật dễ thương, xù lông ra tròn quay như một cụm len màu nâu xám biết nhảy nhót.

      Góc vườn nơi cửa sổ nhà bếp rất khuất gió, bụi mía sắp tàn như một mái nhà tranh trống trước hở sau, che tạm cho một gia đình nghèo khổ. Sau cơn mưa, trời chuyển qua những đợt gió lạnh buốt xương, tôi đứng từ trong nhà nhìn ra khung cửa kính nhà bếp, tò mò nhìn mấy chú chim sẻ núp dưới vòm lá mía. Cũng đỡ buồn lắm khi ngắm nhìn bầy chim sẻ mùa Đông, y như những đứa trẻ bụi đời trên vỉa hè thành phố một đêm mưa nào đó, rúc vào nhau trong tấm chiếu trải bên lề đường, cuộn tròn lại với nhau đưới tấm chăn bẩn . Mấy con chim sẻ cũng khôn ngoan rủ nhau tụ vào một chỗ, có con đang co ro ngủ gật, có con mắt láo liên, thỉnh thoảng lại lách chách bay lên tàu lá như vừa tìm được một con mồi đỡ lòng cho ngày Đông buốt giá. Nhu cầu ăn để sống vẫn bắt nó phải tìm mồi dù đôi cánh lảo đảo trong gió rét như muốn rơi xuống thảm cỏ, trông thật tội nghiệp.

      Đứng trong nhà nhìn qua lớp cửa kính trong suốt, ở góc phòng chớp tắt những chiếc đèn nhấp nháy trên cây Giáng Sinh, tôi thấy con chim bé bỏng đang vỗ vỗ đôi cánh nhỏ, rồi gõ cái mỏ nhỏ xíu lên mặt kính, cũng tò mò nhìn tôi, làm như nó cũng thèm thuồng được vào trú ẩn trong căn nhà có ánh đèn ấm áp. Tôi chia xẻ được gì đây? Người và chim là hai thế giới khác hẳn nhau, và có lẽ dù được cho ăn no, chú chim sẻ vẫn không thích thú gì khi bị con người giam chú vào cái lồng chim chật hẹp. Những chú chim sẻ mùa Đông như những búp len xậm màu, xếp hàng xúm xít vào nhau để trốn gió sau rặng mía ven bờ rào, lại dẫn đưa tôi đến một khía cạnh khác của con người, mà ở câu chuyện này tôi vẫn thấy cái đẹp nhỏ nhoi của Tình Người ấm áp biết bao nhiêu. Đó là câu chuyện của hai người vô gia cư, hay là chuyện "lá rách đùm lá nát" đã làm thức dậy chút bâng khuâng trong tâm hồn những quả tim chai đá.

4-

      Một buổi tối mùa Đông trước ngày Lễ Giáng Sinh, trời mưa phùn, rét như cắt ruột. Đường phố vắng xe qua lại, phía xa là những ánh đèn màu rực rỡ chớp tắt quấn trên những thân cây ven đường. Suốt một tuần sắp lễ Giáng Sinh, thời tiết bỗng dưng âm ỉ rét, những đợt gió lạnh từ hướng Bắc thổi về, người có việc ra đường co ro trong những chiếc áo ấm dày cộm và khăn phu la quấn quanh cổ. Hình như người ta ngại đi ra đường vào một tối trời mưa như vậy, chỉ còn một vài cửa hàng bán "fast food" và cà phê là còn mở cửa, có dăm người khách ngồi im lặng trầm ngâm trước khay thức ăn ăn uống uể oải. Khách đến tiệm vào giờ này có lẽ là những kẻ xa nhà, thiếu một bếp lửa hồng để sưởi ấm cõi lòng cô quạnh, ngày giáp Lễ thường sau giờ làm việc, ai nấy hối hả về nhà chuẩn bị đón mừng lễ Giáng Sinh.

      Người phụ nữ bán hàng đang dọn dẹp mấy thứ lặt vặt, mong đến giờ đóng cửa để đi về, vì chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa là đến nửa đêm. Bà nghĩ đến hai đứa con đi học xa vừa về nhà với mẹ mấy hôm nay, đã lâu lắm người mẹ chỉ mong được gặp các con trong những dịp Lễ Tạ Ơn hay mùa Giáng Sinh, và bà đã chuẩn bị những món ăn truyền thống mùa Giáng Sinh cho các con từ mấy ngày hôm trước. Gia cảnh đơn chiếc vì năm ngoái người chồng đã qua đời sau một tai nạn, bà vẫn ở một mình trong căn chung cư cũ kỹ, những ngày gió mưa căn nhà nhỏ như càng ẩm ướt, lạnh lẽo.

      Ngay khi ấy, cánh cửa tiệm bật mở đem theo một làn gió buốt lạnh vào trong tiệm ăn, hai người đàn ông chùm đụp trong những tấm chăn bẩn bước vào tiệm. Người phụ nữ nghĩ đó là hai người khách cuối cùng, vì bà cũng nhớ ra đó là hai người đàn ông nghèo khổ, không có một mái nhà, chỗ trú của họ là cái gầm cầu ngoài xa lộ đi về hướng Galveston. Thỉnh thoảng họ có dắt nhau đến đây, trông họ có vẻ là hai anh em, người đàn ông lớn tuổi trông vẻ mặt rất ngây ngô như một đứa trẻ chậm phát triển.

      Trong hai người đàn ông ấy, ông già gương mặt đờ đẫn, ngờ nghệch nhìn thế giới xung quanh ông như nhìn một thế giới khác, thời gian đã cày lên khuôn mặt ông những nếp nhăn chằng chịt, bộ râu hung hung nay đã xám ngoét, bết vào nhau như một cụm rơm bẩn. Người đàn ông kia trẻ hơn, có đôi mắt màu xanh lơ trông hiền lành như màu biển, co ro trong chiếc áo rét bằng dạ xám bẩn và cũ. Họ rét lắm, chằng đụp lên người những quần áo và chăn bẩn, bốc lên một mùi hôi. Ngoài trời, cơn mưa phùn mùa Đông như những chiếc kim khâu luồn từng giọt căm căm vào xương tủy, gió nhiều hơn mưa, mưa và gió lại là hai vị Thần nguy hiểm của những người bần cùng, nghèo khổ.

      Hai người đứng xếp hàng chờ đợi. Người đàn ông trung niên vét mãi hết túi này đến túi kia được một nắm hào lẻ, chưa đầy một đồng bạc nhưng cũng đủ mua một ly cà phê nóng. Theo quy định của cửa hàng, khách vào tiệm phải mua một món gì mới được phép ngồi lại. Trời rét ngọt ở bên ngoài, nhưng trong tiệm thật ấm vì có máy sưởi, quần áo của hai người đàn ông nghèo khổ toát ra một mùi hôi khiến những người trong tiệm phải nhăn mặt. Mua xong ly cà phê, họ vội vã dẫn nhau vào cái bàn xa nhất, như sợ rằng mùi hôi trên quần áo, cái nheo nhóc, bẩn thỉu của thân phận người nghèo cũng sẽ làm những người xung quanh khó chịu.

      Người phụ nữ bán hàng để ý nhìn hai người "homeless" mà chỉ mua có một ly cà phê. Khi nhận ly cà phê trên tay bà, người đàn ông trẻ hơn vội vã đưa cánh tay dìu người đàn ông già đi về chiếc bàn trong góc tối. Hình ảnh đó khiến bà xúc động, một người "không có gì" cũng đang cố sức giúp một người" không có gì" gượng đứng trên cõi đời đầy đau khổ, khi họ nhường cho nhau ủ đôi bàn tay lạnh cóng vào ly cà phê nóng còn bốc khói. Người đàn ông trẻ hơn đẩy ly cà phê vào đôi tay ông bạn già đang run rẩy, rồi một chốc người kia lại đẩy ly cà phê sang phía người đối diện, họ cứ chuyền tay nhau ly cà phê nóng còn bốc khói mà không uống ngụm nào. Họ cần một chút ấm trong đêm nay, mà cơn gió tháng chạp lạnh lẽo đã luồn vào gầm cầu trống trải khiến họ rét run bần bật . Thời tiết và thời gian là đôi bạn đồng hành ác độc đè lên đôi vai họ một cách nghiệt ngã, để họ không còn sức chịu đựng mà chống chỏi cơn giá rét mùa Đông như những năm trước.

      Người phụ nữ đứng trong quầy hàng, như bức xúc trước cái khổ của đồng loại. Dù sao bà cũng có một mái nhà để chui ra chui vào, dù sao bà cũng có hai đứa con, và lát nữa đây khi tiệm đóng cửa, con bà sẽ đến đón mẹ về nhà để đón mừng ngày Lễ Giáng Sinh. So sánh giữa hai cái khổ, bà vẫn thấy mình hạnh phúc hơn hai người đàn ông "homeless" kia. Không biết nghĩ sao, bà móc túi tìm vài đồng bạc lẻ, và thật sung sướng khi đóng vai một người khách, bà có đủ tiền mua tặng cho hai người đàn ông nghèo khổ một khay thức ăn nóng hổi. Bà bưng khay thức ăn đến cái bàn của hai người đàn ông, với một nụ cười dịu dàng và câu chúc "Giáng Sinh Vui Tươi", bên chiếc khay còn thêm một ngọn nến trắng cắm trong cái ly nhỏ bằng thủy tinh trong suốt, bà vừa mua nó hồi trưa nay tại một tiệm chín mươi chín xu để buổi tối đặt trên bàn ăn, đốt lên ngọn lửa giáng sinh ấm áp mừng ngày xum họp trong gia đình.

      Hai người "homeless" ngỡ ngàng nhìn người phụ nữ. Người đàn ông mắt màu xanh lơ có chòm râu bạc nhìn chăm chăm vào khuôn mặt của người phụ nữ tốt bụng, nói lời cảm ơn nghẹn ngào với đôi mắt rưng rưng. Ông đẩy khay thức ăn qua cho người bạn già ngớ ngẩn của mình, bằng ánh mắt thương yêu trìu mến. Ngọn nến mà người đàn bà tốt bụng vừa đốt lên để mừng Giáng Sinh, cho họ một cảm giác cực kỳ hạnh phúc, vì họ đang tận hưởng được sự trân trọng như những con người bình thường trong xã hội.

      Sau khi ăn xong khay thức ăn, người đàn ông trẻ tuổi dọn dẹp rồi lại dìu người bạn già ra khỏi tiệm ăn. Đi qua chỗ người phụ nữ, ông ta ngước đôi mắt xanh và mấp máy một lời chúc tốt lành nhất mùa Giáng Sinh đến người phụ nữ, họ mỉm cười với nhau. Đã tới giờ đóng cửa, hai kẻ cùng khổ không nhà ấy dẫn nhau trở về cái dạ cầu, nơi trú ẩn của họ hằng bao nhiêu năm nay, họ xin người đàn bà cho họ mang theo ngọn nến trắng. Bụng đã no, lòng đã ấm vì tình người như một món quà Giáng Sinh quá bất ngờ, vừa rơi xuống từ Trời để họ biết là vẫn còn những tấm lòng tử tế trên cõi đời này. Người phụ nữ cũng sửa soạn ra về, mang theo trong lòng một niềm vui nhỏ nhoi mà thật là ấm áp. Đôi mắt xanh hiền hậu của người "homeless" nhìn bà lúc nãy trông quen quá, dường như bà đã nhìn thấy ở đâu? Sau một phút nghĩ ngợi, bà chợt "à"ø lên một tiếng nhỏ. Phải rồi, đó là đôi mắt tượng Chúa treo trên vách nhà nguyện, ngồi giữa một bầy trẻ thơ đang ríu rít đứng xung quanh.

5-

      Người ta kể cho tôi nghe một câu chuyện khác, lần này thì tôi nhớ ra ông Tom, người đưa thư da đen quen thuộc vùng ngoại ô SouthEast. Ông Tom gốc gác người Phi Châu, da đen bóng, tổ tiên ông bao đời đã từng sống nơi vùng đầm lầy Lousiana, người du lịch đó đây có thể thấy bên ven đường đi Baton Rouge, đài kỷ niệm những bước chân đầu tiên của người nô lệ da đen trên xứ Mỹ. 

      Ông Tom làm nghề phát thư cho khu vực này khá lâu, từ khi hàng cây sồi ven đường còn bé tý, những căn nhà khang trang thuở ấy nay đã cũ kỹ, và chủ nhân những căn nhà ấy bây giờ có thể là một bà cụ già đi không vững, đám trẻ đã đi đâu mất, chỉ còn những tiếng chim ríu rít trên rặng sồi là còn y nguyên. Ông Tom biết hết những căn nhà trên con đường River, biết cả những căn nhà lần lượt đổi chủ, và những phụ nữ xinh đẹp dễ thương năm nào, nay bước vào tuổi già còn lại một mình trong khu nhà êm ả đầy bóng cây râm mát.

      Ông Tom thân với cụ Mary nhất, cũng từ cái hôm ông bị một con chó trong khu vực ra được cổng rào, rượt ông chạy trối chết rồi vấp chân vào bậc xi măng bên vệ đường, ngã lăn ra trước cổng nhà cụ Mary, đúng vào lúc bà cụ ra mở thùng thư để lấy thư như thường lệ. Bà cụ nhìn người đưa thư da đen ái ngại, rồi bà mời ông vào ngồi nghỉ trên chiếc ghế đá ở sân trước, trong khi ông Tom chưa hoàn hồn vì cái ngã đau làm đầu gối ông bị trầy trụa, rướm máu.

      Bà cụ Mary vào nhà, lúc trở ra bà bưng cho ông một ly nước cam, với một túi vải đựng dăm thứ thuốc sát trùng và băng cá nhân. Bà dịu dàng bảo ông Tom vén ống quần lên cho bà xem vết thương, nhẹ nhàng lau vết thương cho ông rồi băng lại cẩn thận. Ông Tom cảm thấy dễ chịu quá, trước kia ông vẫn ngấm ngầm cho rằng đâu đó là sự chia cách của màu da, của con người giữa những tầng lớp xã hội, và những đau buồn của dĩ vãng từ đời tổ tiên khiến ông có ít nhiều mặc cảm với người da trắng. Hai người mỉm cười với nhau, chỉ có thế mà ông Tom nhớ mãi vì hôm ấy là một ngày đẹp nhất của mùa thu . . .

      Từ đó họ thành đôi bạn vong niên của nhau. Ông Tom cũng biết thêm bà cụ Mary sống cu ky có một mình, con cháu bà ở một thành phố khác, từ khi cụ ông qua đời thì bà Mary cô quạnh thêm vì vắng người hủ hỉ. Mỗi ngày đem thư đến khu vực này, ông Tom luôn mong thấy khuôn mặt và nụ cười hiền lành của bà bạn vong niên ra lấy thư, hôm nào vắng bà cụ là ông Tom lại cảm thấy không yên bụng.

      Năm nay mùa Giáng Sinh lại đến. Mùa Đông rét hơn mọi năm, hay là ông Tom nay đã yếu để thấy rằng cơn gió mùa Đông Bắc bỗng dưng lại khắc nghiệt hơn những năm trước. Sau mùa Giáng Sinh ông Tom sẽ có những ngày nghỉ phép, ông về thăm lại anh em của mình ở vùng đầm lầy Lousiana, ông sẽ trở về khu nhà tồi tàn, cũ kỹ nhưng ấm áp tình thương gia đình. Trước khi đi, ông Tom sẽ nói cho bà Mary biết những ngày ông đi vắng, và ông cũng mong rằng con cháu bà sẽ về xum họp với bà trong những ngày nghỉ lễ cuối năm. Những ngày cuối năm bận rộn, ông Tom lái xe đem đầy nhóc những cánh thiệp Giáng Sinh, thùng thư nào cũng có những cánh thiệp mang đầy lời chúc tốt đẹp, nhưng hai ngày qua mà thùng thư của bà Mary vẫn còn nguyên, không thấy bà lấy thư như mọi khi.

      Ông Tom lái xe đi rồi lại băn khoăn nghĩ ngợi mãi, không yên lòng chút nào cả. Bà bạn già của ông không biết đi đâu, ra sao? Lúc trước mỗi lần đi vắng đôi ngày, bà có nói cho ông Tom biết, nhưng lần này ông chỉ nghe bà khoe người con trai sẽ về thăm, lũ cháu đi nghỉ Đông với bạn bè ở miền Bắc. Chắc chắn là bà Mary ở trong nhà, nhưng lý do nào mà thùng thư của bà hai hôm rồi vẫn chưa lấy? Đáng lẽ ông Tom lái xe về Bưu Điện khi đã bỏ hết thư trong ngày, nhưng nghĩ sao ông lại quành xe về nhà bà cụ Mary, và ông rón rén mở cánh cổng rào thấp, hồi hộp gõ cửa chờ đợi. Ông gõ năm, bảy lần, ông bần thần trong dạ, linh tính cho ông biết bà bạn già không đi đâu, nhưng chẳng biết vì sao bà không mở cửa.

      Tuổi già sống một mình như bà cụ Mary là chấp nhận tất cả nỗi cô đơn, buồn rầu, hiu quạnh, chưa kể những cơn bịnh đến bất ngờ không chống đỡ được. Ông Tom định bỏ đi nhưng lòng không an ổn, ông nhớ lại buổi chiều thu hôm nào bà Mary đã lật đật lấy cho ông một ly nước cam, đã lau chùi băng lại vết thương trầy trụa trên đầu gối ông, đã cho ông một nụ cười hiền dịu nhất của tình nhân loại. Không nghĩ gì nữa, ông Tom quyết định gọi "emergency" để báo cáo về sự vắng mặt của bà bạn già dễ mến của mình. Khi người ta phá cửa vào nhà, bà Mary chỉ còn thoi thóp thở, nằm bất động trên giường với khuôn mặt xanh lướt. . . .

      Câu chuyện của người đưa thư da đen cứu sống một người đàn bà già nua cô độc trong căn nhà ở đường River, người ta có đưa lên chương trình truyền hình địa phương một buổi tối áp lễ Giáng Sinh. Chẳng biết có ai nghĩ gì về những nỗi buồn đầy ắp trong cuộc sống thường ngày, hay chỉ có ông Tom đang cầu nguyện cho bà bạn già mau bình phục.

Nguyên Nhung

Thứ Hai, 27 tháng 10, 2014

Chiếc Lá...


Có đôi khi tôi hỏi mình là ai
Từ đâu tới và còn đi đâu nữa?
Đêm hôm qua chắc ngoài trời nổi gió
Vì sáng nay nhiều chiếc lá vàng rơi

Nhìn lá rơi tôi lại thấy ngậm ngùi
Như đâu đó, vài người thân đã khuất
Đặt bàn tay lên trái tim thổn thức
Những gì qua không lấy lại bao giờ

Như trở về mình vẫn thấy dòng sông
Nơi bến cũ thuyền xưa không còn nữa
Tôi nhìn mãi từng đường cong lá úa
Nghĩ về Cha, về Mẹ, về Anh Em

Đường tôi đi sao chỉ thấy dài thêm
Những khắc khoải của một đời đã sống
Một nửa đời còn đong đầy nỗi nhớ
Một nửa đời còn lại để lãng quên
Một ngày nào sẽ không nhớ nổi tên
Của những người quen mà mình đã biết
Và như thế ...
Lá cũng có một ngày để chết
Cho cành khô lại hé những lộc non
Để cuộc đời sẽ mãi mãi xanh hơn
Thì lá rớt đâu phải điều đáng tiếc

Có một điều, chỉ một điều tôi biết
Khi ngước nhìn theo một áng mây trôi
Một cánh chim đang xoãi cánh chơi vơi
Bay mải miết dường như không biết mỏi
Tôi đã tự trả lời một câu hỏi
Đời vẫn còn đẹp tựa một bài thơ
Có gì đâu, sao ta phải hững hờ ?!!

Nguyên Nhung
***
Chiếc Lá
(từ Chiếc Lá của Nguyên Nhung)

Chồi xanh mơn mởn lông tơ
Cho con ong nhỏ ôm bờ lá cong
Sương bay ươm nhẹ nắng hồng
Sắc khoe màu biếc thong dong dịu dàng.

Bổng nhiên hoang vắng điêu tàn
Phất phơ từng đợt lá vàng nhẹ bay
Duyên thừa số phận lắt lay
Thu sang mưa đổ xác đầy bơ vơ.

Sang mùa như mối tình hờ
Lặng im lá ngủ bên bờ quạnh hiu
Lá bay khi gió đổi chiều
Vàng lên lá rụng dập dìu lối quen.

Thương cho chiếc lá lỡ làng
Tử sinh sớm tối nhọc nhằn riêng mang
Bên đường rộn tiếng chuông ngân
Tiển đưa về với mộ phần cỏ hoa.

Lá xanh cuộc sống chan hòa
Chiều nào mõi cánh cứ tà tà rơi
Lá còn quyến luyến cuộc đời
Hãy bay về phía chân trời nắng lên.

Dương Hồng Thủy

( 25/10/2014)