Ngô Minh Trí
tiêu đề Nhãn
- BIÊN KHẢO
- CÂU ĐỐI
- CỔ THI
- GIA CHÁNH
- GIẢI TRÍ
- HÌNH ẢNH HỘI NGỘ
- HÌNH ẢNH NAY
- HÌNH ẢNH XƯA
- HỘI HỌA
- KHOA HỌC
- LƯU NIỆM
- LỊCH SỬ
- LỜI HAY Ý ĐẸP
- NHẠC
- SƯU TẦM
- SỨC KHOẺ
- THƠ
- THƠ CẢM TÁC
- THƠ DIỄN NGÂM
- THƠ DỊCH
- THƠ NHẠC
- THƠ PHỔ NHẠC
- THƠ SƯU TẦM
- THƠ TRANH
- THƠ TRANH NGHỆ SĨ
- TIN BUỒN
- TIN VUI
- VĂN
- VŨ HỐI THƯ HỌA
- VƯỜN THƠ VIÊN NGOẠI
- XƯỚNG HỌA
- YOUTUBE
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngô Minh Trí. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngô Minh Trí. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 11 tháng 7, 2017
Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2017
Mùi Rơm Giáp Tết - Từ Kế Tường
Một góc trời quê
Đồng đất quê tôi ngày xưa trồng lúa một vụ, gọi là lúa mùa. Ba tháng giáp Tết những cơn gió chướng thổi về mang theo hơi lạnh se se báo hiệu những ngày cuối năm. Lúc này mưa đã dứt, chỉ có gió chướng và nắng quái lướt nhẹ trên những cánh đồng vàng rực màu lúa chín rộ. Hôm trước vẫn còn đi trên bờ ruộng, nghe thấy gió và nắng như nhuộm thêm thứ sắc màu đẹp lộng lẫy cho những bông lúa no đầy, trĩu nặng. Một cơn gió chướng từ hướng con sông làng thổi tới, cả cánh đồng vang lên âm thanh rào rạt của lúa và lúa, những nhánh bông lúa lắc lư, đong đưa, cạ vào nhau thành tiếng gọi quen thuộc của nhà nông. Âm thanh như có cả mùi thơm bay theo vào tận xóm làng, lay động những bờ tre, nồng nàn thêm khói bếp, đong đầy những căn nhà trống và sân phơi lúa đã được dọn sạch chờ một vụ mùa rộn rã tiếng nói cười của những chàng trai, cô gái vần công, đổi công gặt, đập, cộ lúa về đầy sân.
Ấy thế mà chỉ một vài hôm đi lại trên những bờ ruộng mới hôm trước như bị thu hẹp lại bởi những nhánh lúa trĩu nặng bông vàng cạ vào chân. Nhưng hôm nay cả quãng đồng không, chẳng thấy một nhánh lúa nào lắt lĩu theo gió, đong đưa trong nắng vàng như mật ong mà chỉ toàn chân rạ tươi đang chuyển sang màu vàng nhạt để bắt đầu khô quắt lại với màu vàng sậm hơn khi nước rút khỏi chân ruộng trơ vơ một màu đất trắng đang trở mình để nứt ra theo từng dấu chân trâu. Một mùa rơm rạ mới làm đẹp thêm cho những cánh đồng chang chang nắng buổi trưa rồi trở lạnh se se vào chiều sẫm, báo hiệu thời tiết cuối đông bắt đầu chuyển sang xuân.
Có hai cách thu hoạch lúa và lấy rơm. Một là người ta gặt tới đâu, công đập bồ kéo cái bồ to đùng tới đó để đập từng ôm lúa rồi vứt rơm thành từng đống trên mặt ruộng, còn lúa được cho vào bao cột lại có xe trâu cộ về. Hai là lúa gặt tới đâu có công bó lại rồi gánh hoặc xe trâu cộ về sân nhà chờ trâu đạp. Người ta thường đợi những đêm trắng sáng để cho trâu đạp lúa, khung cảnh vừa thơ mộng, vừa mát mẻ đỡ mệt người và trâu. Muốn thế, cả nhà xúm nhau mỗi người một việc, những nhánh lúa được trải ra trên sân thành một lớp dày, trâu được cột ách hai con đạp đôi cho nhanh. Trâu đạp lúa sẽ bị chụp vào miệng một cái rọ đan bằng tre để nó khỏi vừa đạp vừa ăn lúa, một người cầm roi tre đi phía sau điều khiển cho đôi trâu đi vòng vòng thật chậm để đạp cho lúa rơi ra, rơm sẽ được một người dùng cây đòn xóc hất gom vế một chỗ. Để đề phòng trâu đạp lúa rồi “ị” bậy, một đứa nhỏ được giao nhiệm vụ cấm cái xô hoặc cái chậu chực sẵn, khi thấy trâu có dấu hiệu “ị” bậy thì lập tức cầm xô hoặc chậu chạy nhanh vào hứng. Hình ảnh này rất quẹt thuộc trong khung cảnh đạp lúa của nhà nông ngày xưa.
Dù thu hoạch lúa bằng cách đập bồ hay cho trâu đạp, rơm cũng vẫn là thứ phế thải của nhà nông. Ở thôn quê, hầu như nhà nào cũng có một cây rơm không trước sân thì sau nhà. Đống rơm vun cao là biểu tượng của một mùa lúa trúng, gia chủ no đầu. Rơm chất thành đống lúc đầu còn tươi xanh, sau khô dần sẽ biến thành màu vàng sậm. Tuy là thứ thải loại từ cây lúa sau mùa gặt, nhưng rơm không bỏ phí mà chất đống để dành, dự trữ cho trâu bò ăn cho tới mùa mưa năm sau. Rơm còn được bó lại thành con cuối để đốt un muỗi cho người và cho trâu bò. Rơm cũng được dùng làm chất đốt, lửa rơm để nướng bánh phồng, bánh tráng vào dịp Tết mà không có thứ lửa củi nào bằng. Rơm còn được chất thành vồng để nuôi nấm rơm và khi rơm khô mục sau vài mùa mưa thì dưới chân rơm sau mấy cơn mưa dầm, đất ẩm sẽ nhú lên những tai nấm rơm màu nâu, đây là nấm rơm tự nhiên không cần dùng meo để cấy nuôi và tất nhiên sẽ rất ngon khi chế biến. Những cây rơm nào sau mấy vụ mưa mà cho nấm tự nhiên thì gia chủ sẽ rất vui vì tin tưởng mình gặp may mắn, năm nay lại sẽ trúng mùa.
Trẻ con thôn quê thường có những trò chơi quanh đống rơm vào những đêm trăng sáng, nhất là trò chơi cút bắt ( trốn tìm) hay cũng còn gọi là trò chơi năm mười. Nhưng rơm còn sót lại trên đồng ruộng mới cho ta hết ý nghĩa của một mùa rơm, rồi chân rạ khô tàn lụi vừa có tên là gốc rạ nhưng cũng vừa là rơm, người thôn quê gọi tắt là rơm rạ. Khi đồng ruộng còn nước lấp xấp để đắp hầm cho cá nhảy thì gốc rạ là thứ vật liệu không thể thiếu để kết dính với bùn be bờ, nhét hang cá, đốt lên hun khói hang chuột thì không họ hàng nhà chuột nào chịu nổi mùi khói của rơm rạ ắt phải phóng khỏi hang thoát thân để …chui vào rọ thôi. Đến khi đồng ruộng cạn khô, nứt nẻ thì rơm rạ oai mục sẽ là một thứ “cỏ” tuyệt vời để lót nền ruộng thành sân đá bóng cho những đội bóng trẻ con chân đất thôn quê. Sân bóng tự nhiên có rơm rạ lót nền “cầu thủ” chạy rất êm chân, chạy mệt đứt hơi thì nằm lăn ra trên rơm rạ nằm thở, rất lạ là mùi rơm rạ khi hít vào lại tạo cho ta cảm giác dễ chịu, khoan khoái, mau lại sức và tiếp tục đua theo trái bóng của một thời thơ ấu tuyệt vời.
Sau bao nhiêu năm đi xa quê làng, tôi vẫn chỉ ao ước được trở về nằm lại một lần trên rơm rạ để hít, ngửi lại mùi thơm nồng ấm, ngọt ngào, chất chứa ngút ngàn kỷ niệm ấu thơ ấy. Nhưng rất buồn vì đồng ruộng quê tôi bây giờ người ta đã lên vườn, cải tạo thành ao nuôi tôm, hầu như không còn ai trồng lúa nữa nên mơ ước nhỏ nhoi này không thực hiện được. Quê nhà tôi bây giờ cũng ít còn những căn chòi giữ vịt, những ngôi nhà lợp lá đơn sơ mà hầu như đều là nhà tường lợp tôn giả ngói, nông dân ăn gạo đong ngoài chợ nên nhà cũng chẳng có đống rơm nào. Mấy hôm về quê tìm lại thú vui ngày cũ tôi có nuôi vài con gà, khi gà kêu ổ, tôi đi hỏi khắp xóm, khắp làng để xin nắm rơm về lót ổ gà nhưng không ở đâu có, đành phải tét lá chuối khô lót ổ đỡ cho gà đẻ vậy. Thấy tôi đi xin rơm cả làng cùng cười, bởi vì có ai còn ruộng, trồng lúa nữa đâu mà có rơm?
Bỗng dưng tôi trở thành người đi lang thang xin rơm, buồn ngẩn ngơ nơi chính quê mình và nhớ mùi rơm rạ tuổi thơ vô cùng.
Từ Kế Tường
( Ngô Minh Trí Sưu tầm)
Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016
Ngày Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving Day) Là Ngày Nào?
Lễ Tạ Ơn – Thanksgiving Day là gì?
Thanksgiving hay Thanksgiving Day trong tiếng Anh dịch tiếng Việt có nghĩa là ngày lễ Tạ Ơn. Đây là một ngày lễ quốc gia diễn ra chủ yếu ở Mỹ và Canada. Đây là ngày mừng thu hoạch được mùa và tạ ơn Thiên Chúa đã cho sống no đủ và an lành. Đây cũng là ngày nghỉ lễ chính thức, cho tất cả người lao động theo luật định tại Mỹ và Canada. Ngày này còn được ví von như là ngày chết của những con gà tây. Bởi vì gà tây là thực phẩm không thể thiếu trong ngày lễ Tạ Ơn – Thanksgiving Day này.
Nguồn gốc ngày lễ Tạ Ơn – Thanksgiving Day:
Ngày lễ Tạ Ơn là một kỳ nghỉ hàng năm ở Mỹ kể từ năm 1863. Ngày lễ Tạ Ơn – Thanksgiving Day đầu tiên được cho là diễn ra vào năm 1623 để cảm ơn cơn mưa đã kết thúc đợt hạn hán. George Washington, vị tổng thống đầu tiên của Mỹ đã tuyên bố ngày lễ Tạ ơn trở thành một ngày lễ chính thức của Mỹ vào năm 1789.
Ngày là một ngày truyền thống dành cho gia đình bạn bè sum họp bên nhau cho một bữa ăn đặc biệt. Bữa ăn đặc biệt này thường bao gồm gà tây, khoai tây, nước sốt việt quất, bánh bí ngô, rau xanh… Ngày Lễ Tạ Ơn là ngày lễ dành cho nhiều người để tạ ơn cho những gì họ có. Đây cũng có là thời gian dành cho những chuyến đi du lịch hay về thăm gia đình, bạn bè.
Lễ Tạ Ơn – Thanksgiving diễn ra vào ngày nào?
Lễ Tạ Ơn – Thanksgiving không có ngày cố định. Ngày này được tính bằng cách như sau. Ngày lễ Tạ Ơn sẽ diễn vào ngày thứ năm của tuần lễ thứ 4 của tháng 11. Cụ thể ngày lễ Tạ Ơn của năm 2015 ở Mỹ sẽ diễn ra vào ngày 26/11/2015.
Lưu ý ngày Lễ Tạ Ơn ở Canada thì diễn ra vào ngày thứ 2 lần thứ hai của tháng 10. Có nghĩa là ngày Lễ Tạ Ơn của Canada sẽ diễn ra vào ngày 12/10/2015. Ngày này còn diễn ra ở những nơi khác như ở Hà Lan, Grenada, Liberia, Anh,…
| Năm | Thanksgiving ở Mỹ | Thanksgiving ở Canada |
| 2015 | 26/11/2015 | 12/10/2015 |
| 2016 | 24/11/2016 | 10/10/2016 |
| 2017 | 23/11/2017 | 09/10/2017 |
| 2018 | 22/11/2018 | 08/10/2018 |
| 2019 | 28/11/2019 | 14/10/2019 |
| 2020 | 26/11/2020 | 12/10/2020 |
| 2021 | 25/11/2021 | 11/10/2021 |
| 2022 | 24/11/2022 | 10/10/2022 |
| 2023 | 23/11/2023 | 09/10/2023 |
| 2024 | 28/11/2024 | 14/10/2024 |
| 2025 | 27/11/2025 | 13/10/2025 |
| 2026 | 26/11/2026 | 12/10/2026 |
| 2027 | 25/11/2027 | 11/10/2027 |
| 2028 | 27/11/2028 | 09/10/2028 |
| 2029 | 26/11/2029 | 08/10/2029 |
| 2030 | 28/12/2030 | 14/10/2030 |
Hy vọng qua bài viết Lễ Tạ Ơn – Thanksgiving Day là gì và diễn ra vào ngày nào đã giúp bạn giải đáp được những thắc mắc về Lễ Tạ Ơn – Thanksgiving Day là ngày gì. Cám ơn các bạn đã dành thời gian để xem qua bài viết này.
Ngô Minh Trí Sưu tầm từ Net
Ngô Minh Trí Sưu tầm từ Net
Thứ Hai, 7 tháng 11, 2016
Đôi Tay Biết Nói Của Nguời Nữ
Là đàn ông nên chuyện bắt tay thường tình đến chẳng ai nhớ là đã từng bắt tay ai. Rồi xã hội văn minh lên, thời đại bình đẳng hơn. Mọi người dần quen mắt với hình ảnh phụ nữ bắt tay nam giới trên truyền hình, nơi công cộng, trong sở làm, đồng nghiệp nam nữ bắt tay nhau trong nhà máy, bạn bè nam nữ bắt tay nhau khi gặp lại… Nhưng tôi lại cảm nhận từ bàn tay nữ giới qua cái bắt tay của họ là họ nắm tay người đối diện một cách rất phụ nữ chứ không hoàn toàn xã giao như cái bắt tay của đàn ông.
Có lẽ chiều qua, mọi người ra về vui vẻ với cuối tuần nghỉ lễ. Riêng tôi đem về nhà cái nắm tay của bà bạn làm chung trong hãng. Trước hết, tôi không biết bà bao nhiêu tuổi, là người gì, chồng con ra sao, vui buồn tâm tư, hoàn cảnh thế nào… Thú thật không ưa tính nết bà nên tôi không quan tâm. Chỉ biết bà nói tiếng Anh rất khó nghe đến ông sếp người Mỹ còn ngán bà phân bua, nên tôi sợ hơn nữa vì bà hay nói nhỏ với tôi mới khổ. Khổ nhất là hôm bị cô em người Việt bắt quả tang bà dúi tiền vô tay tôi, rồi lại thì thầm vào tai tôi… Cô tra khảo mãi là chuyện gì, nhưng tôi không nói được vì biết cô cũng không ưa bà. Nói làm sao được với nỗi khổ của người khác ngoài sự thấu hiểu và chia sẻ.
Trời ơi, khi thương củ ấu cũng tròn/ khi ghét bồ hòn cũng méo. Tôi ước gì bà ấy biết và hiểu câu tiếng Việt đó để giữ thân làm việc chung với người Việt mà tánh bà lại ưa than phiền người này với người kia. Tánh tình gì mà càm ràm tới chính mình cũng không tha, cứ mỗi lần bà làm sai, tôi nhắc nhở bà làm việc phải tập trung hơn. Bà cằn nhằn luôn cả bà, "Ông có biết là tôi giận tôi lắm không, tôi chẳng làm được việc gì cho đúng cả!" Rồi bà khóc.
Từ đó, tôi cẩn thận hơn với những đôi mắt không ưa bà để cho bà mượn năm đồng đi ăn trưa, mười đồng đi chợ chiều, hai chục đổ xăng giữa tuần… Bà phiền đến tôi muốn đưa bà đi chỗ khác để tôi hết bị sếp trên càm ràm vì bà làm thì dở, hay quên, thiếu sót, sai lộn… Bà chỉ giỏi nhất là làm chậm vô địch và than phiền người khác. Nhưng lòng tôi lại chùng xuống khi nghĩ đến khả năng mất việc của bà sẽ cao lắm nếu đẩy bà đi chỗ khác.
Trời thương đôi bạn già nên cho lắm lúc bà cũng dễ thương ra phết, nữ tính bể bờ. Như hôm sáng sớm, bà đến chỗ tôi, cười một nụ bát quái trận đồ, rồi hỏi tôi màu son môi có hợp với bà không? Trời ơi, tôi bị say sóng thần tới hấp hối. Bà đi rồi, người bạn trẻ ngồi bên lên tiếng, "Đúng là con mẹ điên!" Nhưng tôi thương bà lắm, từ hôm bà hồn nhiên đi vào tim tôi, "hôm qua tôi làm bánh, may là kịp nhớ đến ông chứ không thì mấy đứa con tôi đã ăn hết…" Bà cho tôi cái bánh gói trong miếng lụa hồng. Làm tôi ăn thì sợ câm với bùa mê Ả Rập. Nhưng ai lại vứt bỏ một tấm lòng.
Đến hôm đám trẻ tựu trường, bà lại nói nhỏ với tôi, bà cần mượn tôi hai trăm để sắm sửa cho tụi nhỏ chút đỉnh tựu trường. Lòng tôi bâng khuâng xa, nhớ những năm sau biến cố ở quê nhà. Mẹ tôi xuôi ngược chợ sáng chợ chiều để may cho con cái áo lành, mua cho đôi giày mới để đi tựu trường. Người mẹ nào rồi cũng về trời, nhưng lòng mẹ tại thế truyền đời những vất vả, lo toan. Những lúc bà rối trí, bù đầu với mọi người la làng bà làm chậm, làm sai... làm cản trở công việc của họ. Tôi đến giúp bà một tay cho kịp supply cho mọi người bớt ồn. Qua vai bà thấp thoáng hình ảnh mẹ tôi đổ xà bông giặt vào nồi cá kho hôm 30 tháng 04 năm 1975 mà cứ ngỡ là đường. Đầu tóc mẹ tôi cũng rối bời, ngơ ngác, lạc thần ánh mắt khổ đau của người mẹ với bầy con nhỏ thời tao loạn.
Tôi đưa bà hai trăm như tạ ơn những người mẹ, nên chỉ nói được với bà hai điều, "một là không cần trả tiền lời cho tôi. Hai là bao giờ có thì trả, không cần gấp."
Nhưng chiều qua bà gởi lại tôi hai trăm, chúc tôi về nghỉ lễ vui vẻ. Tôi yên tâm khi nghe bà nói, mấy tuần nay chúng ta làm thêm giờ nhiều. Tôi để dành được nên xin gởi lại ông. Tôi không muốn cầm lại từ khi cho vay vì cứ nghĩ trong đầu, trong đời đã nhận nhiều vất vả, lo toan từ lòng mẹ, sao không trả cho lòng mẹ lo toan, vất vả khác cũng là trả, đâu nhất thiết phải trả đúng mẹ mình. Tôi thấy tường u mê thủng một lỗ kim. Chỉ cần nhỏ lại lòng ích kỷ bằng sợi chỉ là chui qua được. Tôi cảm ơn bà lắm! Những chiều về muộn trời chao đảo cánh chim đơn. Tôi nghĩ người mẹ nào cũng là những vất vả cả đời để lo toan từng ngày cho đàn con vong ơn. Nhưng liệu bà có hiểu khám phá mới của tôi không? Cái lỗ mọt có thể làm đắm thuyền thì cái lỗ kim có thể làm xập đổ bức tường u mê. Nhưng cái bà ấm ớ như mảnh lụa hồng gói cái bánh vàng mỡ gà thơm phức đi tặng cho đời mà chẳng hiểu đời là bể khổ…
Nhìn đi nhìn lại chỉ còn tôi với bà trong chỗ làm. Mọi người đã ra cửa cả rồi. Tôi cứ ngập ngừng hai ba lần không nói được câu, "Thôi, bà cũng về nghỉ lễ vui vẻ đi. Chuyện nhỏ không cần ơn nghĩa nhiều." Nhưng bà cứ nắm tay tôi làm không nói được. Ông sếp đã có mặt ở công tắc đèn, chỉ đợi hai chúng tôi rời chỗ làm là ông tắt đèn để về nghỉ lễ. Nhưng ông sếp đứng lặng thinh chờ đợi. Ông biết tôi thấy ông, nên ông kiên nhẫn. Nhưng bà cứ nắm tay tôi như xạc điện; luồng cảm ơn chân thành, lòng biết ơn không quên, tình cảm nhớ mãi…
Tôi không biết bàn tay mình còn mấy ngón trong tay bà càm ràm. Chỉ thấy đời nhạt thết những lời răn vì người ta vẫn ưu ái người này, ghét bỏ người kia đến quên cả phận người đều bơi chung trong bể khổ. Chia nhau que diêm thắp sáng linh hồn, niềm tin trong khó nghèo cần hơn cái pháp danh, tên thánh…
Tôi lái về nhà, bỏ cuộc vui với mấy ông bạn đã hẹn hò từ trưa. Định gọi chúc lễ vui vẻ cho người bạn vừa gởi điện thư chúc lành cho tôi những ngày nghỉ. Những ngày kế đó sẽ chúc sau. Ngần ấy đã đủ cho những ngày nghỉ tủm tỉm cười với người tử tế quá sinh nghi!
"Về ngồi trong những ngày. Nhìn từng hôm nắng tàn…" Có lẽ cái nắm tay cũ nhất mà tôi còn nhớ được là năm tôi sắp đi học. Thường thì tôi phải ở nhà - dưới sự trông coi của bà vú. Nhưng hôm đó tôi được ra chơi chỗ cha mẹ tôi có cái xưởng trên bờ dưới bến. Những ghe chuối từ đâu chả biết, cứ nối đuôi nhau cặp bến sau nhà. Thế là nhiều người khuân vác những quầy chuối thật to, họ đi trên miếng ván dài như làm xiếc. Tôi lõ mắt trông chờ ai đó té xuống sông để cười vỡ bụng. Nhưng chẳng có ai té ngã cả.
Rồi tôi vào nhà xem những người ra chuối. Một quầy chuối to đến cả chục nải, nhưng chỉ lấy hai, ba nải to trái nhất. Đến những người khác đóng chuối vào thùng gỗ thưa, chêm rơm cho êm. Rồi lại những người khuân vác cũ, họ chất những thùng chuối lên xe vận tải. Đầy xe thì tài xế nổ máy, lái đi. Xe khác lại nối đuôi trên bờ như ghe này nối đuôi ghe khác dưới bến…
Chả có gì vui hơn miếng ván dài từ ghe bắc lên sàn gỗ sau nhà. Tôi đợi hết người lớn thiu thiu ngủ trưa, tôi làm nhà ảo thuật một mình. Nhưng trọng lượng của tôi không đủ nặng để tạo ra độ nhúng theo mỗi bước chân. Tôi đi xuống ghe nó không nhúng; tôi cố vác một quầy chuối để mình nặng hơn thì không nổi. Tôi. Tôi chỉ có cái bóng mình ngắn ngủn trên miếng ván đòn làm bạn, nhưng hai đứa cũng nghĩ ra được cách tăng trọng lượng. Tôi trở lên nhà thử sức, thì khuân nổi một cái thùng không. Tôi mừng vui với cái thùng gỗ mỏng đóng ô ca-rô thì mình vẫn thấy đường đi, là miếng ván đòn để đừng bước trật chân mà rớt xuống sông.
Thế mà miếng ván đòn vẫn không nhúng. Tôi quyết định tự nhúng… bằng cách nhắm mắt lại! Tôi thật sự có cảm thấy miếng ván đòn trũng xuống theo bước chân tôi, rồi trồi lên theo bước tiếp. Thích quá. Tôi bước nhanh chân cho nó nhúng nhanh hơn.
Tôi bước xuống sông.
Là trẻ con miền sông nước thì ba tuổi đã lội như rái. Tôi năm, sáu tuổi, sắp đi học rồi thì qua sông một mình là chuyện nhỏ. Nhưng ngặt cái lời trù ẻo cho người ta té thì mình ngã. Mà ngã khỏi bơi luôn vì cái thùng gỗ cứ trùm lên đầu tên gian ác ốc tiêu.
Khi bản năng đạp tung được cái thùng gỗ thì vừa lúc hết hơi, bụng đã uống đầy nước sông quê hương nên tôi đi thăm hà bá. Nhưng bỗng thấy lờ mờ trên ván đòn có một bàn tay vươn ra. Tôi cố ngoi lên bằng được để nắm bàn tay ấy.
Bàn tay người cứu mạng nay đâu? Giá gặp lại con gái bà chủ ghe chuối năm xưa thì lấy thân đền đáp cũng cam lòng. Nhưng nợ trả được chứ ơn thì chỉ mang suốt đời này thôi. Cứ nhớ bàn tay cứu mạng nhỏ nhoi mà chừa gian ác lớn, hết dám trù ẻo ai trong đời phất phưởng nữa.
Ngoài kia nắng tàn, mây trôi gió ngàn. Cảm giác ngày mai không phải đi làm len lỏi vào từng mạch máu. Làm nhớ quá đi thôi cái nắm tay thị thành,
Tuổi nhỏ qua nhanh như mưa nắng quê nhà. Chiến tranh leo thang xé nát những vùng quê. Tôi về thành đi học. Chiều Sở thú thích lắm. Con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm thật thơ mộng với tuổi học trò hay do con gái bên trường Trưng Vương đẹp nức nở... Nên mấy thằng Vỏ Trứng Thối (Võ Trường Toản) cứ chiều là ngẩn tò te như Huy Cận đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ, từ đàn anh Đệ Tam, Đệ Nhị, tới mấy thằng nhóc con Đệ Thất, Đệ Lục… đều treo ngược linh hồn ở cành cây hết trọi. Vì thế mà tôi tông vô xe hơi, chứ không phải xe hơi đụng tôi.
Trời ơi thảm họa. Con ngựa sắt của chàng dũng sĩ tí hon đã què chân trước là cái bánh xe đạp đã hình số 8. Dũng sĩ không què nhưng ê mông, đau điếng với đầu gối, cùi chõ đỏ lè. Phần tiếc cái xe đạp là gia tài nên tôi nhắm mắt dưỡng thần, mặc người ta nói tôi đau tới ngồi luôn dưới mặt đường trước phủ thủ tướng mà không biết xấu hổ nam nhi.
Rồi người đàn ông rất lịch sự trong trí nhớ tôi. Ông bước xuống xe để đỡ tôi đứng dậy. Tôi nhớ đã bảo ông, "Chờ cháu chút. Cháu không bị gãy chân đâu. Chỉ đau thôi." Ông khom người xuống, định bồng bế tôi vô lề đường. Tôi cũng không chịu.
Nhưng định mệnh đến thì phải cúi đầu. Ai mà ngờ được định mệnh là trong xe có con Tiểu Long Nữ bên Trưng Vương. Nó mở cửa sau, bước xuống xe làm lóa mắt như xe chở mây, mây bay ra kìa… Đẹp não nùng hơn mấy bà chị bên ấy nhiều. Dương Hoá mê liền cái giọng ngọt lừ như nước mía ép ở hồ bơi Yết Kiêu, "anh chảy máu rồi đó cha ơi! Chở anh đi nhà thương mau đi cha."
Rồi Tiểu nói với Dương, "anh đau lắm phải không! …em xin lỗi." Tiểu chìa cả hai tay cho Dương, "anh ráng đứng lên đi…"
Tôi nắm bàn tay nhỏ bé nhưng nỗi nhớ lâu dài vì bàn tay biết nói. Chỉ một cái xiết tay yếu xìu con gái mà hết đau. Nhưng lại rất đau khi lạc mất tay nhau theo cuộc đổi đời. Mấy mươi năm rồi vẫn nhớ hơi ấm bàn tay thay băng đầu gối cho tôi những chiều tan trường về. Vết thương da thịt không muốn lành thì lên sẹo, vết thương lòng không sẹo nên rỉ máu tháng năm, cứ hè về lại nhớ đến lần đó chia tay, gió đêm không nhiều sao lá rơi bay/ đường dài suốt như đêm dài thao thức…
Cái nắm tay giữa người với người lạ lắm! Điện thân tương hợp là chan hoà ngay, quý mến nhau sâu… cứ như quen thuở nào. Cái nắm tay giữa người với người không duyên cũng nợ nói gì nhân duyên. Nhớ tôi nằm mê man mấy ngày vì sốt rét khi đi dạy học xa. Tay thằng bạn thay cho cái áo đẫm mồ hôi lúc nửa đêm thật chan chứa ân tình như trăng côi cút lùa vào cửa sổ. Tay cô giáo phòng bên thay cho cái khăn hạ nhiệt trên trán lại thấy mát lòng như uống nước chanh mùa hạ. Nhưng cái nắm tay trong cơn mê sảng của người vượt sóng băng rừng đến ngay. Vì mấy thằng bạn tôi sợ tôi chết quá nên đánh điện tín gấp.
Tôi hôn mê rất sâu vì đâu có thuốc men gì. Cứ vắt sức trẻ ra mà chịu đựng những cơn sốt hết nóng rồi lạnh đến mơ hồ, ảo giác… Nhưng chỉ cái nắm tay đúng người tôi mong là đả thông kinh mạch, sốt rét lùi xa… để chiều còn ra biển ngắm mặt trời lặn. Thì ra buồn chán, tuyệt vọng, cả bệnh hoạ, nếu nắm được bàn tay cho ta cảm giác được che chở, thấu hiểu, chia sẻ… những buồn đau vơi đi nhiều lắm!
Khác với cái bắt tay xã giao của nam giới. Tôi cảm nhận nữ giới, họ nắm tay người đối diện hơn là bắt tay. Cái nắm tay của nữ giới như được đặc ân từ tạo hoá cho họ biết diễn tả, bàn tay họ biết truyền đi những thông điệp, chứ không đơn giản chỉ là bắt tay đồng lõa của đàn ông.
Lâu rồi, trên báo Science có bài viết về đôi "dã nhân phương nam - southern apes" được cho là thủy tổ của loài người vì họ đã sống cách nay tới hai triệu năm. Nhưng độc đáo nhất của phát hiện năm 2008 của những nhà khảo cổ vẫn là đôi bàn tay với ngón cái thon dài chứ không ngắn và cục mịch như những giả thuyết khác về thủy tổ loài người. Chiếc cổ tay của bộ xương nữ giống y như của loài người ngày nay. Đôi bàn tay của người nữ hai triệu năm trước đã được các nhà khoa học diễn tả rất khoa học là khéo léo vô cùng. Không chỉ biết xài dụng cụ mà còn biết chế tạo ra dụng cụ để xài… Nên chẳng lạ gì thêm hai triệu năm sau, đôi tay người nữ biết nói, biết diễn tả.
Tiếc là người đời hời hợt nên không chú ý mấy đến phần đẹp nhất trên cơ thể người nữ là đôi tay của họ. Nơi ta có thể nhận biết những điều không chót lưỡi đầu môi, "em yêu anh lắm!" rất khó nói bao nhiêu thì thật lòng bấy nhiêu qua cái nắm tay thật nhẹ nhưng ấm áp của nàng.
Phan
Ngô Minh Trí sưu tầmThứ Hai, 26 tháng 9, 2016
Vĩnh Long - Văn Thánh Miếu
Cổng Tam quan của Văn Thánh Miếu -Vĩnh Long
Trong kho tàng văn hoá, sinh hoạt lễ hội là loại hình văn hoá rất đặc trưng ở Việt Nam. có mặt khắp mọi miền đất nước, giúp con người nhớ về cội nguồn, hướng thiện, tạo dựng cho mỗi người chúng tamột cuộc sống yên vui, nhất là về mặt tinh thần được an lành , lạc quan. Lễ hội đem đến cho con người sự thanh thản tâm linh, loại bỏ hay quên đi những lo toan thường nhật để hướng về cội nguồn, nhớ ơn các bậc tiền nhân có công với tổ quốc, các bậc tiền hiền khai khẩn nơi mình đang sống, Thành hoàng bổn cảnh…
Chúng tôi xin nhắc đến Văn Thánh Miếu -Vĩnh Long.
Vàì nét về lịch sử tỉnh Vĩnh Long: là vùng đất đa dạng màu mỡ và trù phú do hai sông lớn Tiền Giang và Hậu Giang bù đắp phù sa hằng năm,với hệ thống sông rạch chằng chịt, thuận tiện giao thông, có thể nói Vĩnh Long là trung tâm và là hĩnh ảnh thu nhỏ của của đồng bằng sông Cửu Long.
A-VỊ TRÍ TỈNH VĨNH LONG
Phía bắc giáp tỉnh Tiển Giang (Định Tường), tây bắc giáp tỉnh Đồng Tháp, phía đông giáp Bến Tre, đông nam giáp Trà Vinh , phía nam giáp, Sóc Trăng và Cần Thơ.
Thị xã Vĩnh Long cách thành phố Sài Gòn 136km , có quốc lộ 1 và quốc lộ 53 đi ngang qua, nơi đây là cầu nối giao thông quan trọng giữa Sài Gòn -Cần Thơ và các tỉnh miền Tây.
Nhắc lại trước kia, năm 1732, chúa Ninh Vương Nguyễn Phúc Trú đã lập ở phía nam dinh Phiên Trấn đơn vị hành chánh mới là dinh Long Hồ, châu Định Viễn (tỉnh Vĩnh Long ngày nay). Thủ phủ của dinh Long Hồ lúc mới thành lập đóng ở thôn An Bình Đông, huyện Kiến Đăng, được gọi là dinh Cái Bè.
Đến năm Đinh Sửu (1757) (a) thì chuyển đến xứ Tầm Bao (thuộc địa phận thôn Long Hồ, nay là thành phố Vĩnh Long).
Nhờ đất đai phì nhiêu, giao thông thuận lợi, cư dân đông đúc, việc buôn bán thông thương phát đạt … dinh Long Hồ trở thành trung tâm quan trọng thời bấy giờ. Chúa Nguyễn đã thiết lập nơi vùng đất nầynhiều đồn binh như Vũng Liêm, Trà Ôn…
Đến năm 1813, thời vua Gia Long, dinh Lonh Hồ được đổi là Vĩnh Trấn. Năm 1832, tỉnh Vĩnh Long được chính thức thành lập.
Vĩnh Long là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hoá như: thành xưa Long Hồ, miếu Công thần, đình Long Thanh (được xây dựng năm 1720), chùa Phước Hậu (được xây dựng vào nữa cuối thế kỷ 18 ) chùa Kỳ Sơn (được xây dựng khoảng năm 1812)… Đặc biệt là là Đền Văn Thánh hay Văn Thánh Miếu..
B-VĂN THÁNH MIẾU
Văn Thánh Miếu Vĩnh Long cùng với Văn Thánh Miếu Biên Hòa (thuộc tỉnh Đồng Nai), Văn Thánh Miếu Gia Định thành, là ba Văn Thánh Miếu của vùng đất Nam Kỳ có từ thế kỷ 19 được xây dựngnhằm đề cao Nho giáo.
Theo sử liệu , dưới triều vua Tự Đức có nhiều cuộc nổi dậy đánh phá dữ dội ở Bắc Kỳ mà trong Nam Kỳ thì thực dân Pháp đã đánh chiếm nhiều nơi :
Ngày 31-8-1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha đã kéo chiến hạm đến dàn trận tại cửa biển Đà Nẵng. Sáng ngày 1-9-1858, chúng cho tàu chiến bắn đại bác lên các đồn Điện Hải, An Hải … mở đầu cho cuộc xâm lược nước ta.
Thành Gia Định thất thủ ngày 17-2-1859Pháp lần lượt chiếm các tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Định Tường và Vĩnh Long
Thực dân Pháp đã dùng áp lực quân sự buộc triều đình nhà Nguyễn phải đầu hàng với hiệp ước bất bình đẳng năm Nhâm Tuất (1862). Vua Tự Đức cử Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Sài Gòn giảng hoà với thực dân, để triều đình có thể đem quân dẹp an các cuộc nổi dậy ở đất Bắc.
Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp đành phải cầu hoà ký hiệp ước bất bình đẳng , hoà ước năm Nhâm Tuất ký tại Sài Gòn ngày 5-6-1862 cắt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp : Biên Hoà, Gia Định , Định Tường và các đảo Côn Lôn .
Hoà ước Nhâm Tuất được ký trên chiến hạm Duperré của Pháp đậu trên sông Sài Gòn. (Có ý kiến cho rằng trên chiến hạm Duperré chỉ là trao đổi ủy nhiệm thư, còn việc ký hoà ước của hai phái đoàn đượcthực hiện tại Trường Thi – nay là Nhà Văn Hoá Thanh Niên, số 4 đường Phạm Ngọc Thạch, quận 1 Sài Gòn).
Hoà ước có 12 điều khoản , trừ các điều khoản có tính cách ngoại giao, thì 8 điều khoản được coi là quan trọng, trong đó có khoản 11 có liên hệ đến tỉnh Vĩnh Long .:
Khoản 11: Thành Vĩnh Long sẽ được binh lính (Pháp) canh gác cho đến khi có lệnh mới mà không ngăn cản bất cứ cách nào hoạt động của các quan Đại Nam. Thành nầy sẽ được trao trả cho Hoàng đế nước Đại Nam ngay khi Ngài đình chỉ cuộc khởi nghĩa do lệnh Ngài ra tại các tỉnh Gia Định và Định Tường và những người cầm đầu cuộc khởi nghĩa nầy ra đi và xứ sở được yên tĩnh và qui phục như một xứ bình yên. (Wikipedia)
Năm Tự Đức thứ 14 (1862), ba tỉnh miền Đông đã lọt vào tay thực dân Pháp. Lúc bấy giờ tỉnh Vĩnh Long cũng đã nằm trong tay quân viễn chinh Pháp, nhưng theo điều 11 của hoà ước Nhâm Tuất (1862), thì Pháp phải trả lại tỉnh Vĩnh Long cho triều đình Huế . Do đó, các sĩ phu ở các tỉnh Biên Hoà, Gia định và Định Tường đã phải “vượt biên”, “vượt tuyến “ về “tỵ địa” tại Vĩnh Long. Quan đốc học là Nguyễn Thông đã chọn nơi rộng rãi an toàn gần thành Vĩnh Long xây dựng nơi cư ngụ để tập hợp họ lại ôn nhuần kinh sử để chờ ngày ứng thí
Xây dựng Văn Thánh Miếu
Mặc dầu đang trong cảnh chiến tranh dầu sôi lửa bỏng nhưng giới sĩ phu thời bấy giờ với tinh thần yêu nước tôn sư trọng đạo đã gấp rút vận động và xây dựng Văn Thánh miếu bên cạnh nơi ôn tập. Người chủ xứơng xây dựng công trình nầy là Kinh lược sứ Nam Kỳ Phan Thanh Giản và quan Đốc Học Vĩnh Long Nguyễn Thông.Tuy danh nghĩa là đề cao Nho giáo nhưng thực chất là xây dựng một nơi hoạt động văn hóa đề cao các bậc tiền hiền, các gương anh hùng chiến đấu chóng ngoại xâm và giáo dục lòng yêu nước cho người dân. Công trình khởi công từ mùa đông năm Giáp Tý (1864) và hoàn thànhvào mùa thu năm Bính Dần (1866).
Sau khi hoàn thành, giới quan lại, sĩ phu đã thành lập hội Văn Thánh Miếu để trông nom việc tế lễ hằng năm. Hội cũng lo tạo cơ sở lâu dài, ruộng đất hương hỏa cho văn miếu nầy. Thế nhưng tấm lòng yêunước của giới sĩ phu không qua được con mắt mật thám của bọn Việt gian tay sai đế quốc xâm lược, chỉ ít lâu sau thì quân viễn chinh Pháp lại đem chiến thuyền uy hiếp thành Vĩnh Long lần thứ hai.
Kinh lược sứ Phan Thanh Giản tuẫn tiết
Những tưởng một lời an bốn cõi,
Nào hay ba tỉnh lại chầu ba! (PTG).
Kinh lược sứ Phan Thanh Giản trấn nhậm Vĩnh Long chẳng được bao lâu, vào trung tuần tháng 6, nhận được tối hậu thơ của De Lagrandière buộc phải nhượng luôn cho họ 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Phan Thanh Giản trả lời :” Tôi có quyền giữ đất, chớ không có quyền nhượng đất”. Ngày 20-6-1867, Phan tiên sinh cùng quan Án sát Vĩnh Long tìm gặp De Lagrandière để hội đàm. Pháp yêu sách quá đáng, phái đoàn ta yêu cầu chờ thỉnh ý triều đình Huế; De Lagrandière cũng chấp thuận. Nhưng khi Phan Thanh Giản trở về thành thì thấy quân đội Pháp đã chiếm đóng thành Vĩnh Long. Tiếp theo là Châu Đốc thất thủ vào lúc nửa đêm 21 rạng ngày 22, Hà Tiên mất sáng ngày 24-6-1867. Năm ngày mất 3 tỉnh ! Toàn thể lãnh thổ Nam Kỳ Lục tỉnh đã lọt vào tay quân cướp nước. Sứ mạng không thành, Phan Thanh Giản đành chịu chết để đền nợ nước.
Sau khi viết một tờ sớ lời lẽ cực kỳ lâm ly thống thiết, Phan Thanh Giản xếp đồ triều phục và các đạo sắc phong, cho người đem về Kinh, rồi tuyệt thực. Nhịn ăn 17 ngày mà không chết, Phan tiên sinh uống thuốc độc để kết liễu đời mình , ông mất ngày mùng 5 tháng7 năm Đinh mão (4-8-1867) . Khi Nam Kỳ Lục tỉnh lọt vào tay quân cướp nước, Nguyễn Thông đang giữ chức Đốc Học Vĩnh Long, để tỏ ý bất khuất phục, liền dời cả gia quyến đến “tỵ địa” tại Bình Thuận (Trung Phần).
Bảo vệ Văn Thánh Miếu
Sau khi chiếm Vĩnh Long, bọn thực dân Pháp lấy cớ thiếu gỗ xây dựng dinh tham biện (dinh tỉnh trưởng) định phá Văn Thánh Miếu để lấy gỗ. Bá tánh, đồng bào bàn nhau đề cử ông Trương Ngọc Lang (tức Bá hộ Non) đứng ra thương lượng với quân viễn chinh giữ lại công trình văn hoá nầy. Và từ ngày đó đến nay Văn Thánh Miếu được trùng tu nhiều lần và xây dựng thêm các công trình phụ.
Văn Thánh Miếu tọa lạc tại phường 4, thị xã Vĩnh Long, ngày trước thuộc làng Long Hồ, tổng Long An, tuy đã trãi qua các lần trùng tu , nhiều giai đoạn lịch sử nhưng vẫn giữ được nét cổ kính rợp bóng câyxanh bên cạnh bờ sông Long Hồ. Phía trước,mặt tiền là cổng tam quan xây theo lối cổ lâu có ba tầng mái, nằm sát vệ đường lớn. Qua cổng tam quan là.thần đạo đi thẳng vào điện Đại Thành. Mặt trước chánh điện là ba tấm bia đá. Đáng chú ý nhất là tấm bia do Phan Thanh Giản viết trước khi tuẩn tiết. do ông Trương Ngọc Lang lập năm 1874 . Tấm bia thứ hai kỷ niệm ông Tống Hữu Định và giới trí thứctrùng tu ngôi miếu năm 1903. Tấm bia thứ ba ca ngợi lòng hảo tâm của bà Trương thị Loan (con gái của ông Trương Ngọc Lang) đã hiến đất làm hoa lợi hương hoả. Hai tấm bia sau do ông Nguyễn Liên Phong thành lập.
Tuỵ Văn lâu
Trong khuôn viên miếu có hai cái ao (hồ) trồng sen gọi là hồ Nhật Tinh và hồ Nguyệt Anh. Trong văn bia do Phan Thanh Giản viết có nói đến “Thơ lầu” (lầu sách) ở bên tả Văn Thánh Miếu (từ trong nhìn ra). Do đó, sau khi Phan Tiên sinh tuẩn tiết, các con của ông hưởng ứng phong trào kháng chiến chống Pháp, những người trong giới sĩ phu, trong đó có người Minh hương, đứng đầu là ông Trương Ngọc Lang đã lập sổ lạc quyên kêu gọi mọi người đóng góp hiện kim, hiện vật để xây dựng một “Tân Đình” phía tả Văn Thánh Miếu để thờ Phan Thanh Giản. Công trình bắt đầu xây dựng năm 1869 và hoàn thành vào năm 1872, Trương Ngọc Lang dựng bia đặt tên là Tuỵ Văn Lâu (b) (lầu nhóm họp văn nhân tài tử). Tuỵ Văn Lâu được trùng tu năm 1914 và khoảng năm 1920 – 1923 được đổi tên là Văn Xương Các . Trên gác là Thơ lầu, nơi cất giữ sách và thờ Văn Xương Đế Quân -vị tinh quân chủ quản việc thi cử học hành (c). Nhưng từng dưới Văn Xương Các mới là nơi quan trọng nhất. Gian giữa là nơi các văn nhân thi si nhóm họp đàm đạo. Phía trong là khánh thờ Gia Định Sử sĩ Sùng Đức Tiên sinh Võ Trường Toản ( danh hiệu được Nguyễn Vương ban cho) và Khâm sai Kinh Lược sứ Phan Thanh Giản.Khánh thờ chạm trỗ tinh vi, trong đặt hai bài vị, có câu đối ca tụng hai bậc sĩ phu đứng đầu đất Gia Định:
Hoàng phong “Sử sĩ ” thanh cao lão,
Tự hiệu “thư sinh” tiết liệt thần. (d)
Đến khoảng năm 1933, Tiên sinh Phan Thanh Giản được vua Bảo Đại nhà Nguyễn phong thần. Từ đó tại khánh thờ nầy có thêm một hòm sắc phong và một bức chân dung của Phan Thanh Giản dohoạ sĩ Philippe Trần vẽ rât công phu. Và các nhân sĩ đã hiến tặng nhiều câu đối ca tung công đức của Phan Tiên sinh.
Bên tả khánh thờ chính là khánh thờ các quan đại thần có công khởi xướng xây dựng Văn Thánh Miếu:
Tổng đốc Vĩnh Long Trương văn Uyển
Bố chánh Vĩnh Long Nguyễn văn Nhã
Án sát Vĩnh Long Võ Doãn Thanh
Bố chánh Quảng Ngãi Nguyễn Thông (nguyên đốc học Vĩnh Long)
Gian bên hữu thờ các quan đại thần:
Tuần phủ Hà Tiên Lê Quang Nguyên
Án sát Hà Tiên Nguyễn Toán
Án sát An Giang Phạm Hữu Chánh
Tri phủ Định Viễn Lê văn Khiêm
Tri phủ Định Viễn Nguyễn Tống Minh
Giáo thọ Hoằng tự Nguyễn Tu Mẫn
Tổng đốc Thuận Khánh Nguyễn Mục Như (Nguyễn văn Phong)
Bá hộ Trương Trọng Tiên (Trương Ngọc Lang)
Nguyễn Mục Như người Vĩnh Long, là cha chồng bà Trương Thị Loan, hai ông Trương Ngọc Lang và Nguyễn Mục Như được thờ tại Văn Thánh Miếu là do bà Trương thị Loan gởi hậu. Riêng ông Trương Ngọc Lang là người có công lớn trong việc trùng tu và bảo vệ Văn Thánh Miếu. (Sách di tích lịch sử văn hoá tỉnh Vĩnh Long)
.
.
Khánh thờ Phan Thanh Giản và Võ Trường Toản
Khu vực chánh của Văn Thánh Miếu gồm Đại Thành Điện và hai ngôi miếu trước sân đâu mặt nhau gọi là Tả vu và Hữu vu. Khu vực nầy có tường hoa bao bọc, chỉ có thể vào bằng cửa Kim Thanh và Ngọc Chấn. Chánh điện xây theo kiểu trùng thềm điệp ốc. Bên trong bài trí trang trọng, giữa khánh thờ bài vị “Đại Thành Chí Thánh Tiên sư Khổng Tử ” và bài vị bốn vị đứng vào hàng đệ tử của ngài gọi là “Tứ Phối” . Sau nầy , khi họa sĩ Philippe Trần hoạ chân dung Phan Thanh Giản có vẽ chân dung bán thân của Khổng Tử. Bức chân dung nầy thay thế bức tượng cũ. Cũng trong chánh điện hai bên tả ban và Hữu ban là khánh thờ “Thập nhị hiền triết”. Còn hai bên nhà Tả và Hữu vu thờ “Thất thập nhị hiền “, mỗi bên ba mươi sáu vị. Đồ tự khí trong ba gian thờ phượng nầy bằng gỗ, bàng sành sứ hay đồng thau, tuy được chạm trỗ, sơn son thếp vàng nhưng mỹ thuật đơn giản .
Trong Văn Miếu có rất nhiều hoành phi, câu đối do các nhân sĩ, các nhà hảo tâm ở khắp nơi hiến cúng,
Đời vua Duy Tân, năm 1913, Thượng thư bộ Học Cao Xuân Dục có đến viếng Văn Thánh Miếu và đã đề hai đôi liễn:
Xuân thu hà đẳng càn khôn, đạo tại ngũ kinh song nhật nguyệt;
Thù, Tứ biết thành võ trụ, đồ qua lục tỉnh nhất cung tường.
Nghĩa:
Đời Xuân Thu trời đất bậc nào, đạo ở năm kinh đôi nhật nguyệt;
Sông Thù, Tứ, cõi bờ riêng đó, đường qua sáu tỉnh một cung trường.
Mỗi năm tại Văn Thanh Miếu có các ngày lễ lớn:
Tế Khổng Tử và các vị Thánh hiền vào ngày Xuân Đinh và Thu Đinh (ngày Đinh đầu tháng hai và ngày Đinh cuối tháng tám).
Tại Văn Xương Các có lễ giỗ Phan Thanh Giản (mùng 4 và mùng 5 tháng bảy, ngày giỗ các quan đại thần (ngày 12 và 13 tháng mười ) tất cả các ngày lễ giỗ đều tính theo ngày âm lịch. Nếu so sánh lễ hộivới các đình miếu khác ở Vĩnh Long thì lễ hội tai Văn Thánh Miếu thu hút khách hành hương chưa đông lắm nhưng khách đến đây đều với tấm lòng nhiệt thành với văn hoá và yêu kính các bậc tiền nhân.
Tụy Văn Lâu trong Văn Thánh Miếu Vĩnh Long

Kề bên Văn Xương Các vẫn còn hai khẩu súng thần công đại bác, tương truyền là súng đã dùng để bảo vệ thành Vĩnh Long từ năm 1860.
C -THAY LỜI KẾT LUẬN
Đến đây xin kết lại, nơi cổng chánh, trên cao có ba chữ Hán đại tự Văn Thánh Miếu: 文聖廟, hai cột hai bên có đôi câu đối cũng chữ Hán, đấp nổi thể chân phương:
Khổng môn truyền đạo thiên ban thưởng
Thánh miếu sùng văn vạn đại tôn
Tạm dịch:
Cửa Khổng truyền đạo, ngàn lớp quý chuộng
Miếu Thánh trọng văn , muôn đời tôn sùng.
Nguyễn Bá Hoa
(Website Nam kỳ Lục tỉnh)
Ngô Minh Trí sưu tầm
Ghi chú:
(a) -Năm 1757 , chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát phong cho Nặc-Tôn làm vua xứ Chân Lạp. Nặc-Tôn dâng đất Tầm Phong Long (Sa đéc) để đáp lễ.
(b)-Tụy Văn Lâu hay Văn Xương Các là một công trình nhỏ đẹp nằm bên phải lối thần đạo, trong khuôn viên rộng rãi của Văn Thánh miếu Vĩnh Long.
Lúc xây Văn Thánh Miếu Vĩnh Long, ý của Phan Thanh Giản đã muốn xây thêm một thơ lầu phía bên trong Văn Thánh Miếu. Nhưng vì Pháp đến đánh chiếm và Phan tiên sinh tử tiết, nên công việc đành bị dở dang. Năm 1869, Trương Ngọc Lang đứng ra quyên tiền để xây một cái lầu, theo ý định của Phan Tiên sinh.
(c) -Văn Xương Các có nghĩa là một tòa lầu gác thờ Văn Xương Đế quân, các vị thần trông nom về văn học, cũng như đền Ngọc Sơn, Hà Nội đã có thờ.
(d) -Câu trên nói về cụ Võ Trường Toản, là một người thanh cao, ở ẩn dạy học, không chịu ra làm quan, được vua Gia Long cho là "Sùng Đức sử sĩ". Câu dưới nói về cụ Phan Thanh Giản, vốn là bề tôi tiết liệt, khi sắp chết, dặn ghi trong tấm triện là "lão thư sinh" mà thôi.
Thứ Ba, 31 tháng 5, 2016
Tướng Mạo Con Người Qua Ca Dao Dân Ca - Trần Minh Thương
Bao nhiêu người đẹp duyên bong ra ngoài
Từ xa xưa, người Việt luôn luôn nhìn nhận về cơ thể mình như một ý thức, một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống. Ca dao dân ca là nơi để họ giãi bày những nhận định, suy đoán về tính người qua hình dáng cơ thể sau nhiều thế hệ được đúc kết lại.
Tất nhiên, cách nhìn nhận ấy sẽ có đúng và có sai. Bởi đã nói là “đúc kết kinh nghiệm” thì không thể nào hoàn hảo được, dù những kinh nghiệm đó xuất phát từ thực tế cuộc sống đi nữa. Dưới góc nhìn của văn hoá dân gian, chúng tôi xin được điểm qua những kinh nghiệm ấy của người bình dân Việt Nam.
1. Nhìn người qua diện mạo, hình dung
1.1. Qua “răng” và “tóc”
Đầu tiên, điều người bình dân quan tâm nhất là hai bộ phận răng và tóc. Bởi lẽ, theo họ “cái răng, cái tóc là góc con người”!
So sánh với kinh nghiệm dân gian của những bà nội trợ khi chọn cá, diện mạo con người cũng được nhìn nhận, xét trong nội hàm câu ca, chúng tôi cho rằng đây dành cho người phụ nữ:
Cá tươi xem lấy đôi mang
Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai
Tương tự như vậy, có câu:
Tóc mai dài xuống mang tai
Là người khó tánh ít ai vừa lòng
Một tướng mạo khả ái danh cho khách má hồng:
Tóc thưa, dài, mướt, trắng da
Ở hàng lầu các, dung hòa phu nhân
Ngược lại, đây là hình ảnh lý tưởng:
Tóc đen, thưa, rộng mà dài
Vuông tròn sắc mặt là trai anh hùng
Nhìn tưởng của cả hai: đàn ông lẫn đàn bà:
Đàn ông ít tóc: an nhàn
Đàn bà ít tóc: dở dang duyên tình
Tương tự, và ở chiều người lại, ca dao có câu:
Đàn bà nhiều tóc thì sang
Đàn ông nhiều tóc thì mang nặng đầu
Như vậy, có thể thấy rằng dân gian quan niệm đàn bà nhiều tóc là tốt tướng. Ngược lại, đàn ông ít tóc mới hay, trừ trường hợp:
Cái sọ trọc như không có tóc
Kém công danh lao lực về sau
Hàm răng cũng là nơi để người bình dân đánh giá chân dung con người.
Nhưng lời dành cho phái mạnh:
Trai mà có cặp răng nanh
Gan dạ, chịu đựng, khôn lanh đủ điều
Dành cho thiếu phụ:
Răng cao, miệng nhỏ: điêu ngoa
Răng thấp môi kín: thương cha nhớ chồng
Một câu khác cũng gần tương tự, nhưng có kết hợp với những yếu tố “da trắng” và “mặt sẫm”:
Răng thưa, da trắng: gái hay
Răng thưa, mặt sẫm: đổi thay chuyện tình
1.2. Mặt, trán, má, mày …
Trông mặt mà bắt hình dong, từ quan niệm ấy, nên trong kho tàng ca dao Việt Nam không ít lần người bình dân bày tỏ cách nhận diện con người qua mặt, mày:
Mặt dài tuy nhỏ: vui chơi
Tai to mặt ngắn: chịu lời đắng cay
Ở trán, một bộ phận nằm trên khuôn mặt cũng là nơi thể hiện tính cách, đối với phái nam, dân gian nhận xét:
- Đàn ông gân trán nổi cao
Tánh tình nóng nảy, dạt dào ái ân
- Trán cao có cái đầu vuông
Văn chương, khoa bảng có nhường ai đâu
Còn đây, là lời đúc kết dành cho phận gái:
Gò má mà chẳng cân phân
Cuộc đời cam chịu lắm phần lao đao
Đúng là “má hồng - bạc mệnh”!
Má hồng, trán bóng có duyên
Lương tâm dẫu tốt, đừng hòng tuổi cao
Cái nhìn dành cho cả hai đối tượng:
Đàn ông trán dựng có tài
Đàn bà trán dựng lâu đài soi gương
Môi, miệng cũng là nơi có thể đoán tính người:
Môi mỏng nói điều sai ngoa
Mai sau sinh nở con ra hoang đàng
Mồm mép cũng là những bộ phận không kém phần quan trọng để người ta trông vào:
Môi dày, miệng rộng cân phân
Nhơn trung sâu rộng, tánh chơn khoan hòa
Theo sách nhân tướng xưa, thì điểm giữa môi trên và đầu mũi được gọi là nhân trung
Một câu ca quen thuộc:
Đàn ông miệng rộng thì sang
Đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà
Xét nội dung ngữ nghĩa, ta có hiểu cả về dáng hình của miệng rộng, lớn, cũng có thể xem xét ở nghĩa khái quát hơn nói miệng rộng tức là chỉ những người nhiều chuyện, lắm lời!
Nếu như câu ca trên dành cho phụ nữ, thì câu ca dưới đây không có chủ thể hiểu ở cả nữ lẫn nam đều có thể chấp nhận:
Hai môi không giữ kín răng
Là người yểu tướng, nói năng hỗn hào
Chân tướng những người khôn ngoan:
- Những người râu mép ngoảnh ra
Mép dày môi mỏng, ấy là tinh khôn
- Những người thành thật môi dày
Lại thêm ít nói lòng đầy nghĩa nhân
Cũng có khi phải kết hợp nhiều bộ phận từ dáng người đến tóc, môi, …
Người đen mà ốm lại cao
Tóc quăn, môi lớn, lao đao tháng ngày
Đến râu, lông cũng bộc lộ nhân cách.
Râu rìa, lông ngực đôi bên
Chẳng phường phản bạn, cũng tên nịnh thần
Họ không ngần ngại kết luận:
Đàn ông mà kém bộ râu
Văn chương cũng dở, công hầu đừng mong
Nếu râu là bộ phận không thể thiếu cho bậc nam nhi, thì ngược lại nhũ hoa là bộ phận quan trọng không kém của người phụ nữ, bởi thiên chức của nó:
Đàn ông không râu bất nghì
Đàn bà không vú lấy gì nuôi con
Nơi cửa sổ của tâm hồn là đôi mắt, người bình dân cũng dành những nhận định xác đáng:
Người khôn con mắt đen sì
Người dại con mắt nửa chì nửa than
Một câu ca khác gần tương tự về nội dung như thế:
Người khôn con mắt dịu hiền
Người dại con mắt láo liên nhìn trời!
Câu ca dành để xem nam tướng:
Trán cao, mắt sáng phân minh
Là người học rộng, công danh tuyệt vời
Con mắt của kẻ vô nghì, ham mê tửu sắc:
Mắt tròn dưới mí láng sưng
Là tên tửu bác, không ngừng chơi đêm
Mũi cũng thể hiện được tính cách chủ nhân của nó:
Lỗ mũi mỏng, đầu cong, nhọn hoắc
Ắc lòng tham, hiểm độc gian phi
Tướng này đức đã suy vi
Nếu không tu thiện, hậu thì khó toan
Hay:
Lỗ mũi mà hỉnh ngửa lên
Bạc tiền chồng chất một bên chẳng còn
1.3. Ngoài những sắc diện đã giới thiệu, chúng ta còn thấy dân gian nhìn nhận ở các bộ phận khác trên cơ thể con người:
Một câu ca chỉ đơn thuần nói về hình thể:
Hàm rộng, miệng cọp: anh hùng
Hàm rắn, miệng chuột: bất trung vô nghì
Nhìn thân hình cũng có thể biết:
- Những người béo trục béo tròn
Ăn vụng như chớp đánh con cả ngày
- Ngồi khòm đầu gối quá tai
Là người cực khổ chẳng sai chút nào
Ở phụ nữ, dáng vẻ không thể chê vào đâu được:
Những người thắt đáy lưng ong
Vừa khéo chiều chồng, lại khéo nuôi con.
Bộ phận dưới của tai, theo dân gian cũng bộc lộ nhân cách:
Dái tai như hột châu thòng
Có thành, có quách, dày, hồng sắc tươi
Thiệt người phú quý thảnh thơi
Phong lưu tao nhã trên đời chẳng sai
Đến nốt ruồi cũng quyết định ít nhiều, …
Mụt ruồi màng tang cả làng ăn thép.
Mụt ruồi bên mép, ăn thép cả làng,
Ngón tay, bàn chân cũng là những bộ phận khác trong cơ thể của con người, góp phần hình thành tính cách.
Những người có tướng mạo tốt:
- Ngón tay thon thỏn búp măng
Tánh tình khoan nhã, thơ văn đủ mùi
- Bàn tay đỏ ửng như son
Không người danh tướng cũng con học hành
- Thông minh, học giỏi, anh tài
Ngón (tay) nhỏ mà dài tựa đọt hành non
Những con người không ra gì, thể hiện ở tay, chân:
- Bàn tay ngang lại lắm lông
Là người nhục dục ắt không phải vừa
- Móng tay mỏng, nhọn: cơ cầu
Tâm tư hiểm độc, hay xâu của người
- Đàn bà chân thẳng ống đồng
Khó con mà lại sát chồng, nguy nan
Dân gian cảnh báo hãy tránh xa!
2. Đoán tính cách con người qua hành động đi đứng, ăn uống, tiếng nói, giọng cười
Nhưng người khôn ngoan bộc lộ qua lời nói:
Chim khôn kêu tiếng rảnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.
Bên cạnh đó, chân tướng của những người mà dân gian cho là “không ra gì” biểu hiên qua hành động đi đứng, chưa nói đã cười của họ:
Những cô chưa nói đã cười
Chưa đi đã chạy là người vô duyên
Một câu khác tương tự:
Vô duyên chưa nói đã cười
Chưa đi đã chạy là người vô duyên
Đến khi có chồng rồi, tính cách kia không sửa đổi, điều chỉnh thì chẳng những “vô duyên” mà tác hại còn nặng nề hơn:
Đàn bà chưa nói đã cười
Lương duyên vất vả, cuộc đời truân chuyên
To tiếng cũng là chân dung những phụ nữ không ra gì ở mai hậu:
Vai ngang, mặt lớn, tiếng to
Nhiều chồng mà lúc về già vẫn không
Cùng trong hành động đi, đứng, ta còn gặp hàng loạt câu ca khác:
- Ra đi chân bước nhẹ nhàng
Là người hiếu khách, rõ ràng yên vui
- Bước chân thình thịch, cúi đầu
Bôn ba đây đó, dãi dầu nắng mưa
Cùng một dáng đi, nhưng nam xấu, nữ tốt:
Tướng đi chân bước hai hàng
Nàng thì rộng lượng, còn chàng tiểu tâm
Kết hợp diện mạo, ăn nói, hành động:
Lưng dài vai mập ba gang,
Ăn nhai nửa miệng: khô khan chai lười
Dáng một “hiền nhân”
Mắt ngước, chân bước nhẹ nhàng
Tướng đi khang nhã, rõ ràng hiền nhân
Nhút nhát bộc lộ sự thiệt thòi:
Chưa nói mà đã thẹn thò
Phải chịu thiệt thòi trong việc làm ăn
Hay nhẹ hơn, đây là những hành động chỉ những người luôn luôn sầu tư, ảo não:
Những người chép miệng thở dài
Chỉ là sầu khổ bằng ai bao giờ
Kết hợp cả diện mạo và lời nói, chân tướng của kẻ khôn ngoan:
Khao khao giọng thổ tiếng đồng,
Quăn quăn tóc trán là dòng khôn ngoan.
Giọng nói của người hiểm độc:
- Tiếng nói rít qua kẽ răng
Là người nham hiểm sánh bằng hổ lang
- Những người, lẩm bẩm một mình
Giàu sang chẳng được, lại sinh kém tài
Cũng có khi cùng một gam “giọng nói” nhưng nam thì tốt, mà nữ thì bị xã hội phê phán:
Giọng nói răm rắp tiếng dư
Trai thì can đảm, gái ư gan lỳ
Và “tiếng nói” để nhận diện phụ nữ:
Đàn bà lanh lãnh tiếng đồng
Một là sát chồng, hai là hại con
Hoặc những nam nhân mà mang nhiều “nữ tính”:
Trai mà nói giọng đàn bà
Tánh tình nhu nhược, còn là long đong
Ăn trông nồi, ngồi trông hướng, dân gian đã căn dặn hậu sinh như thế. Qua đó, có thể thấy rằng không chỉ trong “ăn nói” mà ngay trong hành động ăn uống cũng góp phần thể hiện tính cách.
Ăn uống khoan thai là người thanh cao
Ăn uống nhồm nhoàm là người thô tục
Một người có tài “mồm mép”!:
Trán cao, miệng rộng, mũi dài
Có khoa ăn nói, ít ai sánh bằng
3. Nhìn tướng người và thể hiện thái độ bằng những quan hệ ứng xử
Từ tướng mạo, người bình dân đưa ra hướng ứng xử trong giao tiếp. Tuỳ theo đối tượng, khen chê, trọng khinh được đưa ra.
Đối với với người dịu dàng dễ thương mến
Chẳng tham nhà ngói rung rinh
Tham vì một nỗi anh xinh miệng cười
Miệng cười em đáng mấy mươi
Chân đi đáng nén miệng cười đáng trăm
Những người con mắt lá răm
Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền
Lối so sánh vừa khéo léo, tế nhị đã bộc lộ được tất cả những gì người nói muốn nói! Nhưng người có “cao” tướng, ắt hẳn sẽ có hạnh phúc
Đàn ông gối dụm, chân chàn
Chẳng cô gái đẹp cũng nàng nết na
Còn đây, nhưng người mà theo dân gian phải tránh xa:
- Chim sa, cá nhảy chớ nuôi
Những người lông bụng chớ chơi bạn cùng
- Mắt trắng, môi thâm, da thiết bì
Người nhiều lông bụng: vô nghì chớ thân
Hay:
Những người tai mỏng mà mềm
Là phường xấc láo, lại thêm gian tà
Dáng mạo cũng báo trước cho biết những người khó thuỷ chung
- Mi nhỏ như sợi chỉ mành
Tình trong chưa thắm, ngoại tình đã giao
Tính cách không ra gì:
Những người béo trục béo tròn
Ăn vụng như chớp đánh con cả ngày
Những người mặt nạc đóm dầy
Mo nang trôi sấp, biết ngày nào khôn.
- Đàn bà vú lép, to hông
Đít teo bụng ỏng, cho không chẳng cầu
- Những người ti hí mắt lươn
Trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người
- Những người mặt nặng như mo
Chân đi bậm bịch, có cho chẳng thèm
Những kẻ bảo thủ, không có ý cầu tiến:
Những người tai ngửa ra sau
Tướng hèn mà lại cứng đầu, chậm nghe
Trên diện mạo đôi lúc chỉ cần đảo vị trí, tính tình cũng quay ngược hẳn ở hai chiều khác nhau:
Mắt dài, mày ngắn: bất bình
Mày dài, mắt ngắn: đệ huynh vẹn toàn
Xem ánh mắt, dân gian không ngần ngại bày tỏ với những cô gái “vô duyên”:
- Con lợn mắt trắng thì nuôi
Những người mắt trắng đánh rồi đuổi đi
- Miệng rộng, môi mỏng, liếc ngang
Con gái như thế chẳng màng làm chi
Dành cho kẻ “sáng say, chiều xỉn”
Lờ đờ như người say rượu
Mắt đỏ hoe, phải liệu mà chơi
Cũng có người mà ngay trong tướng mạo như đã báo trước những điều bất hạnh:
Kẻ nào trống giữa bàn chưn
Hổng không đụng đất thì đừng chơi xa
4. Những nhận con người qua công việc
Ở một cấp độ khác, người bình dân thể hiện thái độ của mình qua việc nhìn nhận đánh giá về công việc thường nhật. Chúng tôi chỉ dừng lại ở thái độ mỉa mai, phê phán những hiện tượng lười biếng, dành cho những hạng người vô tích sự trong cuộc sống.
Dân gian cho rằng người phụ nữ chu đáo, đáng trọng là người biết tảo tần, đảm đang, có chồng phải “gánh giang san nhà chồng”, nên họ khẳng khái dành cho những kẻ “ngồi lê đôi mách”
Đàn bà yếu chân mềm tay
Làm ăn chẳng được lại hay nỏ mồm
Họ quả quyết chắc chắn rằng:
Đàn bà không biết nuôi heo là đàn bà nhác
Đàn ông không biết buộc lạt là đàn ông hư
Và nặng lời chế giễu:
Làm trai cho đáng thân trai
Khom lưng cố sức gánh hai hạt vừng
Ăn no rồi lại nằm khoèo
Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem
Chân dung của những con người vô dụng:
Chú tôi hay tửu hay tăm
Hay nước chè đặc hay nằm ngủ trưa
Ngày thì khấn những ngày mưa
Đêm thì ước những đêm thừa trống canh
Hay:
- Chồng người cưỡi ngựa bắn cung
Chồng em thì lấy dây thung bắn ruồi
- Chồng người đi ngược về xuôi
Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo, …
5. Kết luận
Qua các cung bậc nhìn nhận đánh giá con người qua tướng mạo chúng ta thấy đời sống tinh thần của người bình dân hết sức đa dạng, phong phú.
Từ đó, mở rộng vấn đề chúng ta nhận thấy chức năng của thể loại ca dao – dân ca không chỉ dừng lại ở cấp độ nghi lễ hay trữ tình, nó còn phản ánh đầy đủ các biểu hiện, các khía cạnh trong đời sống tâm hồn người bình dân. Mảng ca dao tướng mạo – tính cách vừa là kinh nghiệm sống, kinh nghiệm ứng xử trong các mối quan hệ ở cánh đồng thửa ruộng, thôn quê tự ngày xưa ấy!
Đã nói là đoán và xem tướng mạo, như chúng tôi đã đề cập ngay trong phần đầu bài viết, nó có thể đúng, cũng có thể sai, song đúng hay sai gì thì những lời ca ấy vẫn tồn tại, vẫn có sức sống lâu bền, sống bằng cách của riêng nó. Tự trong lòng ca dao, dân gian cũng tự nhận định và đánh giá nội dung này:
Sông sâu sào vắn dễ dò
Đố ai lấy thước mà đo lòng người
Hay:
Vẻ cọp chẳng vẻ được xương
Hoạ chăng chỉ thấy mấy đường ngoài da
Xin mượn lời hát đối đáp sau đây để thay lời kết luận với hàm ý muốn nhắc lại những cách đánh giá, nhận định về tướng mạo không ít nội dung bị tư tưởng chủ quan của người trong cuộc quyết định!
- Má bánh bầu xem lâu muốn chửi
Mặt chữ điền tiền rưỡi muốn mua
- Má miếng bầu coi lâu càng thắm
Mặt chữ điền xấu lắm ai ơi!
Trần Minh Thương
( Ngô Minh Trí sưu tầm từ Net)
Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2013
Văn Thánh Miếu - Quốc Tử Giám phương Nam - Khám Phá Việt Nam
Khu Văn Thánh Miếu là một trong ba Quốc Tử giám của vùng đất phương Nam (gồm Văn Thánh miếu Gia Định, Vĩnh Long và Biên Hòa),tọa lạc trên đường Văn Thánh Vĩnh Long.
Đối diện Văn Thánh Miếu là dòng sông Long Hồ.
Vào Những năm thế kỷ 19, khi thực dân Pháp còn đô hộ, các sĩ phu yêu nước thời bấy giờ xây dựng nên Văn Thánh miếu từ năm 1864-1866.
Mục đích là nơi gìn giữ và giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống dân tộc cho người dân, là nơi ôn tập cho các sĩ tử, đề cao những bậc Nhâ hiền, mà trong đó người có công đầu xây dựng nên Văn Thánh là cụ Phan Thanh Giản - Kinh Lược Sứ Nam Kỳ và cụ Đốc học Nguyễn Thông.
Bức hoành phi với đôi câu đối của cụ Cao Xuân Dục và 3 tấm bia bằng đá. Đến đây ta như thấy được lòng yêu nước, trăn trở và niềm tin sắt đá vào một tương lai tươi sáng của tiền nhân trong thời kỳ tối tăm nhất của vùng đất Nam Kỳ lục tỉnh.
Trải qua nhiều thăng trầm và biến cố lịch sử, khu Văn Thánh được trùng tu nhiều lần nhưng tất cả vẫn giữ được nét cổ kính và uy nghiêm như thủa ban đầu.
Khám Phá Việt Nam thực hiện
(Ngô Minh Trí Sưu tầm)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)













