Hiển thị các bài đăng có nhãn Từ Kế Tường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Từ Kế Tường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2025

Những Đêm Trăng Sáng - Từ Kế Tường

 
 
Ông Tám Đạo đã tới nhận việc lột dừa. Việc đầu tiên là tìm chỗ xóc cây dằm. Một người sáng mắt, nếu không quen việc xóc cây dằm để lột dừa cũng rất khó. Trước tiên là phải chọn vị trí thuận tiện, kế đến là chỗ đất thịt không cứng lắm nhưng cũng không được “ nhão” để cây dằm lún thật sâu, hơi nghiêng một góc 45o, và vừa tầm tay khi xóc trái dừa vào lột nhanh gọn, nhẹ nhàng. Thế nhưng ông Tám Đạo không thấy đường, vẫn xóc được cây dằm lột dừa đúng ý mà không cần ai giúp.

Ông Tám Đạo lột dừa rất nhanh, chỉ cần “ phập” trái dừa khô vào lưỡi dằm, nạy đúng hai lần là lấy nguyên được phần vỏ dừa, động tác rất nhịp nhàng, dứt khoát. An ngồi nhìn ông Tám Đạo lột dừa không chớp mắt, nó thầm phục người đàn ông khiếm thị này và cảm thấy áy náy cho công việc nặng nhọc mà ông đang làm, lẽ ra phải thuộc về một thanh niên khỏe mạnh, sáng mắt. Chị Chiêm và chị Én cũng đã tới, để đảm nhận việc đập dừa. Dì Tư Ảnh không lấy nước dừa, mà cho người đập lấy để “ thắn” nước màu rồi chia thành quả lại dì Tư Ảnh với tỉ lệ 7/3. Dì Tư Ảnh lấy 3, người đập dừa lấy 7. Nước màu dừa là một loại gia vị không thể thiếu trong việc kho cá từ thôn quê tới thành thị, cá kho không có nước màu thì không ngon đã đành, lại không đẹp mắt. Người ta có thể “ chế” nước màu chữa cháy bằng cách “ thắn” một muỗng đường cát hoặc một miếng đườn tán để trở thành nước màu. Nhưng loại nước màu đường này không thể so sánh với nước màu dừa.

Một mùa dừa của riêng nhà dì Tư Ảnh, chị Chiêm và chị Én “ thắn” mỗi người cũng được vài chục lít nước màu, bán cũng được một khoản tiền, nên đây là một nguồn lợi khác của cây dừa mà ít người biết. Hôm nay chỉ còn lại An, Tiếp, Mạnh làm việc ở khâu bưng dừa đã đập xong ra sân phơi, Phiến và Trang đảm nhận việc phơi dừa. Những trái dừa phơi ba nắng là có thể cạy được để trở thành sản phẩm vô bao mang lên tỉnh cân bán cho các vựa thu mua. Tới mùa giật dừa, nhà vườn nào cũng bân rộn nhưng rất vui, người ta có thể làm việc cả ngày rồi đến đêm theo yêu cầu của chủ vườn, nhất là những đêm trăng sáng.
Chị Én ngồi nhìn ông Tám Đạo lột dừa một lúc rồi lên tiến trêu chọc:
-Nhanh lên anh Tám ơi, người ta đang chờ đập dừa lấy nước mà anh lột chậm như rùa bò vậy?
Ông Tám Đạo nghiêng hai con mắt chỉ còn tròng trắng cười vô tư:
-Hai bà cứ đập thoải mái đi, sợ đập không kịp nữa, ở đó mà kêu chậm với mau?
-Anh lột nãy giờ có đếm được bao nhiêu trái không?
-Tôi không đếm nhưng biết được cả trăm trái rồi.
Chị Chiêm cười:
-Một trăm trái tui và con Én đập ba mươi giây là xong. Đêm nay có trăng, anh Tám ở lại lột dừa luôn cho tụi tui đập lấy nước kịp “ thắn” nước màu luôn nghen.
-Lột ngày rồi ở lại lột đêm nữa mệt lắm.
-Bà Tư Ảnh sẽ nấu cháo già bồi dưỡng, lo gì. Đêm trăng mà nghe anh vừa đàn vừa ca sáu câu “ Chuyện tình Lan và Điệp” chắc con Én…nó bỏ nhà theo anh luôn.
Chị Én dập thùm thụp lên vai chị Chiêm ngượng nghịu nói:
-Cái bà này…vô duyên. Có bà theo ảnh thì có.
-Thôi mày ơi, tao có chồng con rồi anh Tám đâu có chịu, mày còn con gái nheo nhẻo ảnh mới ô kê.

Ông Tám Đạo tánh tình hiền khô, hình như ông không biết giận ai bao giờ, nên trước những lời trêu ghẹo của chị Chiêm và chị Én ông Tám Đạo vẫn cười hồn nhiên, không giận mà cũng chẳng tỏ vẻ buồn phiền.
An lên tiếng:
-Đêm nay trăng sáng lắm chú Tám ơi, chú ở lại lột dừa rồi ca cho tụi con nghe đi. Tụi con mê chú ca sáu câu lắm.
-Mày là đứa nào?
-Con là thằng An.
Ông Tám Đạo cười:
-Tao nghe tiếng mày rồi, mày đã chỉ huy tụi nhóc truy bắt con sấu hoa cà sổng chuồng của ông Sáu Xê phải không?
Chị Chiêm nói:
-Nó đó chứ ai.
-Mày làm gì ở đây?
-Chờ bưng dừa đem phơi, rồi mai mốt cạy dừa luôn.
Chị Én bỗng nói:
-Anh Tám ơi, thằng An nó muốn làm đệ tử anh để học đàn, học ca đó, anh nhận đi. Thằng này có… “ chí khí” lắm đấy, nó rất xứng đáng để anh nhận làm đệ tử.
Ông Tám Đạo dừng tay hỏi:
-Mày muốn thiệt không An?
-Dạ thiệt.
-Mày suy nghĩ kỹ chưa?
-Dạ rồi.
-Xưa nay tao không nhận đệ tử, nhưng vì tao khoái mày là đứa có “ dũng khí” dám chơi con sấu hoa cà nên tao phá lệ. Mày về hỏi má mày đi, nếu má mày cho học thì tao nhận.
An sướng phồng mũi, nó không ngờ việc xin học đàn, học ca với ông Tám Đạo lại diễn ra nhanh chóng và dễ dàng như vậy, bởi An nghe nói ông Tám Đạo rất khó tính.
Chị Én vui vẻ nói:
-Vậy là mày ngon rồi nghe An, được ông Tám Đạo nhận làm đệ tử không phải dễ đâu. Mau bái sư phụ đi mày.
-Ừ, phải làm gà, làm vịt nấu cháo cúng thầy đi, không thì ổng đồi ý đó.
Ông Tám Đạo cười dòn:
-Mấy bà này bày chuyện hù dọa con nít. Tôi nhận là tôi nhận, chẳng cúng bái gì cả. Bao giờ mày học cứ tới nhà tao cho biết là coi như xong nghe An.
-Dạ, để con về hỏi má con đã.
-Được rồi, mày cứ xin phép má mày đi. Còn bây giờ tối nay tao ở lại lột dừa…ngoài giờ. Trăng lên tao sẽ ca cho tụi bây nghe.
Chị Chiêm gật gù:
-Vậy là ngon rồi, công mày lớn lắm nghen An?
-Tui có công gì?
-Tại ông Tám Đạo khoái mày nên mới chịu ở lại chứ tao và con Én nãy giờ nói gãy lưỡi mà ông co chịu nhận lời đâu?
An không biết có đúng như chị Chiêm nói không, nhưng nó cũng lấy làm hãnh diện vì được ông Tám Đạo chấp nhận cho học đàn và chịu làm sư phụ nó. Một chuyện mà không phải đứa trẻ con nào cũng làm được.
Ông Tám Đạo giục:
-Hai bà lo đập dừa đi, ở đó mà ngồi nhiều chuyện.

Đập dừa là một công đoạn tuy dễ nhưng mà khó. Nếu không biết đập, trái dừa không bể làm đôi mà bể làm ba, bốn miếng thì khó phơi và cũng rất khó cạy.Thành phẩm cơm dừa đã không đạt chuẩn mà nhà vườn khi thu miễng gáo cũng rất khó bán. Người đập dừa “ chuyên nghiệp” tay trái đỡ trái dừa, tay phải trở sóng dao đập một phát mạnh, trái dừa bể làm đôi, hai phần bằng nhau như cắt. Thế là đạt yêu cầu.
An đã thử đập nhiều lần, nhưng vẫn chưa “ chuyên nghiệp” bằng chị Én và chị Chiêm, hai bà này chỉ cần hai thao tác: tay trái cầm trái dừa, tay phải trở sóng dao đập “ bụp” một cái, trái dừa bể làm hai, kê vào thùng hứng nước rồi ném qua bên cho tụi An chất vào cần xé khiêng ra sân phơi là xong.

Phiến và Tranh đã quét dọn hai nền sân rộng làm chỗ để phơi dừa, An và Tiếp một khiêng một cần xé, Mạnh và Na một cần xé thi chạy nước rút từ chỗ đập dừa tới sân phơi. Phiến và Tranh cũng thi đua nước rút, xếp những mảnh dừa ngửa lên theo hàng lối đều tăm tắp ra sân để phơi dưới nắng. Đứng trên khoảng sân rộng, nheo nheo mắt nhìn ánh nắng mặt trời đang chiếu xuống gay gắt, thằng Na chép miệng nói:
-Nắng này, chỉ cần hai ngày là cạy dừa được.
-Cạy xong còn phải phơi hai nắng nữa chứ?- An nói.
-Tao nghĩ chỉ cần một nắng thôi.
-Tùy mày, nhưng dừa khô không đạt yêu cầu thì má mày chửi ráng mà nghe đấy.
Na cười khì:
-Đến giai đoạn này thì khỏe rồi.
An biết ý nghĩa tiếng “ khỏe” của thằng Na vừa nói, vừa khỏe vì công việc đã nhàn hạ, vừa khỏe vì…nó có thể ăn cắp một bao dừa cạy lén đem bán lấy tiền bỏ túi riêng mà má nó không biết.
Phiến đang phơi dừa, vụt ngửng lên nhìn an hỏi:
-Thế là An định học đàn với ông Tám Đạo thật à?
-Thật.
-Đàn kìm khó lắm đấy, chỉ có hai sợi dây mà sao đàn réo rắt thế?
-Phiến thích nghe đàn kìm không?
-Thích.
Tranh cười dòn:
-Phiến ơi, làm thân con gái chớ nghe đàn kìm.
-Sao vậy?
Người ta nói con gái mà nghe đàn kìm không tốt đâu.
-Không tốt là sao?
-Ai biết, Tranh chỉ nói vậy thôi.
Tiếp cười ranh mãnh:
-Tiếp biết.
-Là sao?
-Má Tiếp nói con gái mà nghe đàn kìm là…bỏ theo anh đánh đàn kìm.

Nói xong Tiếp bỏ chạy, Phiến và Tranh ngượng ngùng cúi xuống phơi dừa. An không biết thằng Tiếp phịa chuyện ra nói hay đúng là do má nó nói. An tủm tỉm cười nghĩ thầm, chắc là thằng Tiếp xạo chứ nếu đúng thì tại sao tới giờ này “ sư phụ” nó vẫn còn sống cu ki một mình? Sao không có cô gái nào theo?
***
Sư phụ của thằng An rất uy tín, nói là giữ lời. Buổi chiều hết giờ làm việc, sau khi ăn cơm ở nhà thằng Na xong, ông Tám Đạo về nhà, có lẽ để tắm rửa, thay quần áo. Đúng giờ 7 giờ tối như đã hẹn, sư phụ An quay trở lại. Khi nghe tiếng gậy khua trên lối đi vào nhà thằng Na, An biết là sư phụ nó tới nên vội chạy ra đón. An hơi bị bất ngờ vì sư phụ nó bây giờ rất “ phong độ” chứ không lùi xùi như lúc sáng nữa. Áo sơ mi trắng, quần Tây xanh đen, đôi dép Lào đỏ dưới hai bàn chân to bè, tóc chải gọn gàng và hình như có mùi dầu thơm. Sư phụ mang theo trên vai cây đàn kìm quen thuộc mà An thường thấy, cây đàn cũ, lên nước bóng ngời, trục đàn có cẩn xà cừ rất đẹp.

Chị Chiêm và chị Én có mặt từ rất sớm, hai bà này cũng diện quần áo đẹp như đi ăn đám cưới. Tiếp. Mạnh, Phiến, Tranh cũng có mặt. Mọi người đều háo hức chờ ông Tám Đạo tới. An nắm đầu gậy của sư phụ định dẫn qua bậc thềm tam cấp nhà thằng Na nhưng sư phụ nó khua gật nạt:
-Mày kéo đầu gậy tao làm gì thế?
-Để con dẫn sư phụ đi, sợ sư phụ vấp té.
-Khỏi, chưa bao giờ tao nhờ ai dẫn tao đi cả. Tao…thấy đường.

Bữa tiệc cháo gà được dọn lên bộ ván gõ, thằng Na mang lên một xị rượu và cái ly nhỏ. Ai cũng biết rằng để ông Tám Đạo lấy hứng, đàn hay, ca mùi thì cho ông uống một xị rượu. Ông Tám Đạo chỉ uống một xị thôi, có nài ép cũng không uống thêm và bữa tiệc nào cũng thế, khi ra về, ông Tám Đạo tay lần gậy, miệng ca sáu câu suốt dọc đường và khi đó người ta mới biết là ông say.
Ông Tám Đạo vừa ngồi xuống chỗ của mình đã khịt khịt mũi:
-Chà, có rượu ngon đây.
-Biết ý anh Tám nên làm sao thiếu chất…men cay đắng được- Chị Én tủm tỉm cười.
-Ừ, có vài ly ấm bụng nó mới hứng.
Dì Tư Ảnh mời:
-Thôi mời chú Tám ăn miếng cháo cho nóng.
-Hồi chiều tôi ăn cơm còn no, giờ ăn cho vui thôi, chủ yếu làm vài ly cho ấm bụng. Có ai uống với tôi cho vui không?
Chị Chiêm vỗ vai chị Én cười:
-Có con Én nó “ đối ẩm” với ông chứ ai, không lẽ bắt mấy đứa con nít uống rượu?
Chị Én giãy nẩy:
- Bà này…vô duyên, ai biết uống rượu hồi nào mà “ đối ẩm”?
- Mày làm bộ chứ …khùng lên mày uống thầy chạy luôn.
- Nhưng bữa nay tui…chưa khùng. Thôi ăn cháo đi bà ơi, nhiều chuyện thấy ghê luôn.
Ông Tám Đạo ngửng mặt hỏi:
-Mày đâu rồi An?
-Con ngồi kế sư phụ nè.
Chị Chiêm cười:
-Chà, chưa học ngày nào mà kêu sư phụ ngọt xớt vậy mà?
-Nhất tự vi sư bán tự vi sư mà chị.
-He he…thằng An bữa nay xổ nho nữa ta- chị Chiêm cười dòn.
Ông Tám Đạo giọng cao hứng:
-Mày rót rượu chưa An?
-Ủa, sư phụ…không thấy đường hả?
-Ừ, cái gì tao cũng tự làm được, nhưng chuyện rót rượu tao…thua.
An rót rượu vào ly cho sư phụ. Ông Tám Đạo uống một hơi, đặt cái ly xuống chép miệng nói:
-Chà, rượu ngon…xé mang tai.

An lại rót rượu vào ly cho ông Tám Đạo. Khi xị rượu đế đã vơi hết nửa thì trăng cũng đã lên sáng vằng vặc bên ngoài. Một tấm đệm lớn đã được chị Chiêm trải sẵn ngoài sân phơi. Chị Én pha một bình trà, Phiến và Tranh cầm theo mấy cái tách.
Chị Én vừa đặt bình trà xuống giữa tấm đệm, ngước mắt nhìn trăng nói:
-Chà, đêm nay trăng sáng quá ta.
-Trăng mười bốn rồi không sáng sao được?- Chị Chiêm nói.
-Đêm trăng mà nghe đàn ca tài tử thì hết ý.

Thằng Na mang ra một dĩa đường tán để mọi người ăn đường tán uống nước trà, đây là cái “ gu” uống trà của người nhà quê, không chỉ người lớn thích mà trẻ con như bọn An cũng khoái. Có lần anh Tân con chú Đồng về chơi, An cũng cho anh Tân uống trà với đường tán, mới đầu anh Tân không quen vì ở thành phố không ai uống trà kiểu này, hoặc là uống trà khơi khơi, không cần “ mồi”, nếu có “ mồi” thì phải là kẹo đậu phộng hay bánh ngọt, hoặc thứ gì đó chứ không ai uống trà với đường tán bao giờ. Nhưng khi anh Tân đã quen rồi thì mê luôn và khen “ tuyệt cú mèo”.

Mọi người đều kéo ra ngồi thành vòng tròn quanh tấm đệm, người lớn ngồi một bên, trẻ con ngồi một bên, sư phụ Tám Đạo ngồi giữa và đang vặn trục lên lại dây đàn. Thật kỳ lạ, nhiều lần An nhìn xoáy vào đôi mắt của sư phụ như muốn tìm ra đằng sau hai tròng mắt “ trắng dã” vô hồn ấy là cái gì nhưng An không thể biết được. Đó là một điều hoàn toàn bí ẩn mà chắc chỉ có…ông Tám Đạo biết thôi. An ngồi cạnh Tiếp, kế đến là Tranh, Phiến, Mạnh rồi tới thằng Na. Lần đầu tiên ngồi cạnh con gái mà không phải trong lớp học, thằng Tiếp có cảm giác rất lạ, nó vừa thích thú vừa…run.

Tiếp ghé vào tai An nói:
-Tóc con gái thơm thật mày ạ. Nhỏ Tranh chắc không gội đầu bằng xà bông. Nó gội bằng cái gì ấy.
-Con gái thường gội đầu bằng…dầu gội đầu chứ cái gì?- An tỏ vẻ thành thạo.
-Nhưng dầu gội đầu tên gì mà thơm quá vậy?
-À, chắc là “ đúp bô-rích”.
-Sao mày biết?
-Ừ, tao…nghe quảng cáo trên tivi.
-Nhỏ Phiến gội dầu gì?
An thụi vào bụng Tiếp:
-Mày vô duyên quá, làm sao tao biết được. Mày ngồi gần làm bộ quay qua hỏi chuyện nó rồi… ngửi tóc nó xem.
Tiếp nhe răng cười:
-Rủi hồi chiều vội quá nó không kịp gội đầu thì sao?
-Mày ngu quá, tóc con gái lúc nào cũng thơm, không gội đầu cũng vẫn thơm.
An tưởng nói chơi thôi, không ngờ thằng Tiếp làm thật, nó nghiêng người qua chỗ Tranh để hỏi chuyện nhỏ Phiến, mũi nó cố tình dí sát vào tóc Phiến rồi quay lại nói vào tai An:
-Tao biết nhỏ Phiến gội đầu bằng dầu gì rồi?
-Dầu gì?
-Đúp-bô-rích.
-Sao mày biết?
-Thì mày…vừa nói đó.

An mắc cười quá mà không dám cười. Trời ơi, cái thằng này thậm ngu, con gái thường gội đầu bằng dầu gội đầu thì đúng rồi, nhưng đâu phải đứa nào cũng gội “ Đúp –bô- rích”?

Nhưng sư phụ Tám Đạo đã lên xong dây đàn và đàn dạo trước khi ca, dưới chân sư phụ là cây “song lang” dùng để đánh nhịp, nói là “ đánh” chứ thật là đạp, mỗi dứt câu, xuống hò, xuống xề người giữ cây “song lang” đạp nhẹ bàn chân, cây “ song lang” sẽ kêu “ cốp” một tiếng rất thanh, rất giòn làm điểm nhấn cho cả giọng ca và tiếng đàn nghe rất hay.
Sư phụ Tám Đạo gõ mấy tiếng “song lang” cốp cốp cốp rồi hỏi:
-Giờ tôi ca bài gì đây?
-Chuyện tình Lan và điệp.
-Võ Đông Sơ Bạch Thu Hà.
-Tình anh bán chiếu.
-Gánh nước đêm trăng.
-Tống tửu Đơn Hùng Tín.
Mọi người tranh nhau yêu cầu bài ca mà mình thích. Nhưng ông Tám Đạo thì chỉ có một, không thể đáp ứng hết tất cả yêu cầu của mọi người trong cùng một lúc được. Sư phụ cười rất hồn nhiên:
-Trời ơi từ từ…rồi cháo nó cũng nhừ. Tôi sẽ lần lượt đáp ứng hết mọi yêu cầu của mấy cô, mấy chị và mấy cháu. Đêm nay trăng sáng…ca tới sáng luôn. Giờ tôi chơi bản ruột trước nghe, một lớp “ Tây Thi” trước khi vô sáu câu. Đó lài bài “ Tống tửu Đơn Hùng Tín”
-Vỗ tay tụi bây- Chị Chiêm nhắc.
Tiếng vỗ tay lốp bốp, giọng sư phụ Tám Đạo cất lên:

“ Dạ thưa Đơn nhị ca chính em đây là Giảo…danh tánh họ Trình
Thủa nhỏ chuyên nghề bán muối lậu, ăn cướp bạc vua
Lớn lên em mới ra đầu Đường…”

Ông Tám Đạo thật kỳ lạ, càng về khuya, trăng càng sáng, ông càng ca thật hay, thật mùi. Khi ông Tám Đạo ca tới bài “ Gánh nước đêm trăng” thì An nhìn lên bầu trời đêm lấp lánh ánh sao và vầng trăng như càng thêm sáng. Giọng ông Tám Đạo càng ngọt ngào, nghe như tiếng thổn thức:

“ Trăng ôi, trăng sáng làm chi khi lòng của tôi đang u tối
Nước giếng sâu trong vắt sao lòng của ai kia như vũng nước trong bùn…
Đêm nay tôi lại thẫn thờ ra đi gánh nước
Ngồi trên bờ giếng một mình
Có ai giải mối hận tình tôi không…”

Ông Tám Đạo nhịp “song lang” cái cốp, An thấy chị Én đưa tay lên dụi mắt.
An và các bạn chưa kịp vỗ tay đã nghe chị Chiêm cất giọng nói:
-Ông Tám ơi, ông ca mùi quá làm cho con Én nó khóc rồi nè.
An nghe sư phụ thở ra một hơi nhẹ, nhưng cái giọng vẫn hồn nhiên:
-Hóa ra cô Én cũng mau nước mắt quá nhỉ.
-Ông ca mùi rệu làm tui cũng muốn khóc luôn chứ nói gì con Én- chị Chiêm cười.
-Thôi nghỉ- Ông Tám Đạo nói gọn- Tôi cũng buồn quá ca hết nổi rồi.
-Một bài nữa đi- Chị Chiêm yêu cầu.
-Thôi, tôi nói thôi là thôi.
Tánh ông Tám Đạo là vậy. Nói xong tay trái ông tìm cây gậy, tay phải ông xách cây đàn, đứng lên nói:
-Chào bà con và mấy cháu nghen. Tôi về đây.

Thế là ông Tám Đạo lọc cọc chống gậy lần đường về nhà không cần chờ đợi ai. Ông mày mò lần bước dưới ánh trăng, cái bóng cô độc của ông khuất dần.

***
An và các bạn cũng ra về ngay sau đó. Do Tranh ở gần nhà Tiếp và tiện đường về nhà Mạnh nên An nói với Tiếp:

-Hai đứa mày phải có trách nhiệm đưa Tranh về tới nhà nhé.
-Được rồi, còn mày?- Tiếp hỏi.
-Còn tao có trách nhiệm đưa Phiến về.
Mạnh cười:
-Tao có ý kiến này, hay là tụi mình cùng đưa nhau về cho vui.
-Là sao?
-Tao, mày, Tiếp, Tranh đưa Phiến về.
-Rồi sao nữa?
-Tới phiên Phiến đưa Tranh, tao, mày, Tiếp về.
-Rồi sao nữa?
-Tao, Phiến, Tranh, Tiếp đưa mày về.
Tiếp thụi vào lưng Mạnh:
-Vậy là tới sáng chẳng ai về nhà được. “Tối” kiến của mày hơi bị…khùng rồi Mạnh ơi.
-Ừ, ước gì mình không phải về nhà mà đi hoài suốt đêm trăng như thế này nhỉ?
Tiếp rờ trán Mạnh nói:
-Thằng này bị ấm đầu thật rồi.
-Là sao?
-Bị khùng chứ sao.
An gật gù:
-Ừ, tao cũng chợt có suy nghĩ như thằng Mạnh, ước gì được đi lang thang trên đồng, ra bãi sông…ngắm trăng thì tuyệt cú mèo.
-Mày cái gì cũng tuyệt cú mèo.
Phiến so vai nói:
-Phiến bị lạnh rồi, phải về nhà thôi. Giờ này ở nhà không có ai, thằng Sơn chắc ngủ mất đất rồi.
-Còn Tranh thì buồn ngủ, hai con mắt muốn nhắm lại luôn.
-Ừ, thì về.

Thế là nhóm bạn tách hàng, Tranh theo Mạnh và Tiếp rẽ một hướng, còn An và Phiến rẽ một hướng.. Đúng là gió lạnh thật và sương cũng đang xuống. An ngước nhìn ánh trăng đang treo trên đỉnh đầu, nó rất sáng, và vầng trăng như đang trôi ngược chiều với những đám mây.
An hỏi:
-Phiến lạnh thật hả?
-Lạnh ghê luôn.
-Ước gì có chiếc áo ấm.
-Chi vậy?
-Để Phiến mặc cho hết lạnh.
-Lúc chiều đi Phiến quên đó chứ.
Phiến bỗng nhìn lên bầu trời và hỏi:
-Đố An mặt trăng đang trôi hay đứng một chỗ?
-Mặt trăng thì đứng một chỗ chỉ có mây đang trôi thôi nên dưới này nhìn lên tưởng là vầng trăng đang trôi.
-Lạ nhỉ?
-Đó là quy luật của vũ trụ, chỉ có trái đất là quay vòng vòng bất tận nên mới gọi là hành tinh.
-Còn mặt trời có quay vòng vòng không?
-Mặt trời đứng yên, trái đất quay chung quanh mặt trời.
-Vậy mặt trời là hành tinh hay là gì?
-Mặt trời là định tinh, khác với hành tinh.
Phiến cười:
-Sao cái gì An cũng biết hết vậy?
-Nhờ An đọc sách. Phiến biết không, sách là túi khôn của nhân loại đấy. Mình đọc sách nhiều thì túi khôn của mình càng chứa được nhiều kiến thức.
-An có nhiều sách không?
-Chỉ có vài chục cuốn, anh Tân hứa lần này về chơi sẽ mang nhiều sách về cho An đấy.
-Thích nhỉ, nếu có cuốn nào hay An cho Phiến mượn đọc “ ké” với nhé.
-Sẵn sàng.
-Phiến cũng thích đọc sách lắm đấy, nhưng Phiến không có sách để đọc.
-Mai mốt Phiến tha hồ đọc, An sẽ sưu tầm cho mình một tủ sách lớn.
Phiếp chớp mắt:
-Vậy là An định chứa tất cả túi khôn của nhân loại vào đó hả?
-Ừ.
-Lạnh quá.
-Biết làm sao cho Phiến hết lạnh bây giờ?
-Chỉ có đi thật nhanh là hết lạnh thôi.
An ngẫm nghĩ rồi nói:
-Nhưng đi thật nhanh sẽ…mau về tới nhà Phiến.
-Thì mình cũng mong cho mau về tới nhà mà?
-Không phải vậy- An gãi đầu.
-Phiến không hiểu An muốn nói gì?

An cũng không hiểu nó muốn nói gì, chỉ là buột miệng nói thế thôi, vì đi nhanh con đường cũng sẽ nhanh chóng bị thu ngắn lại, trong lúc An như muốn con đường…dài thêm ra để nó và Phiến được đi dưới ánh trăng như thế này càng lâu càng tốt. Nhưng làm sao giải thích được điều đó cho Phiến hiểu?

Hai đứa đi nhanh hơn, con đường làng đã được tráng nhựa thẳng tăm tắp, hai bên những ngôi nhà đang thiếp ngủ, chỉ có cây lá xạc xào trong những cơn gió đêm thổi qua. Ánh trăng rải xuống đường nhựa một sắc vàng mờ ảo, cây cỏ hai bên đường dường như cũng nhuộm trong sắc vàng mờ ảo này. Đêm trăng đẹp một cách lạ lùng.
Phiến bỗng hỏi:
-Chừng nào An học đàn với sư phụ?
-Chắc vài hôm nữa thôi, khi chú Tám Đạo lột xong dừa nhà thằng Na.
-Bộ chú không nhận lột dừa cho nhà khác à?
-An không biết nữa.
-Chừng nào học xong An đàn cho Phiến nghe nhé, Phiến cũng thích nghe tiếng đàn kìm lắm.
-Người ta gọi đàn kìm là nguyệt cầm. Phiến biết tại sao không?
-Làm sao Phiến biến được.
An giải thích:
-Vì cây đàn kìm hình tròn giống như vẩng trăng đêm rằm tròn vành vạnh. Cái cần dài giống như cây đa trong sự tích chú cuội ngồi gốc cây đa để trâu ăn lúc gọi cha ời ời đấy.
-Chứ không phải chú cuội ngồi gốc cây đa đợi chị Hằng Nga hả?
-Ai biết, nhưng có lẽ thế thật, chú cuội ngồi đợi chị Hằng Nga mà quên mọi thứ đến nỗi để trâu ăn lúa phải gọi cha ời ời…đến cứu đấy.
Phiến cười giòn:
-An giải thích thật là “ siêu”
-Là sao?
-Siêu tưởng tượng ấy mà!
-Phiến thích nghe đàn kìm, bộ không sợ hả?
-Sợ gì?
-Sợ điều Tiếp nói lúc nãy.
-Tiếp nói sao Phiến quên rồi.
-Làm thân con gái chớ nghe đàn kìm.
Phiến cười:
-Câu này Phiến biết Tiếp “ chế” ra để chọc Phiến và nhỏ Tranh thôi. Người ta nói là làm thân con gái chớ nghe đàn bầu chứ không phải đàn kìm.
-Vậy là đàn bầu còn “ siêu” hơn cả đàn kìm?
-Chắc là như vậy.
An nheo mắt hỏi:
-Như vậy là sao?
-Chắc là…buồn hơn cả đàn kìm chứ sao.
-Ừ nhỉ, đàn kìm có hai dây đàn lên nghe đã buồn, nhưng đàn bầu chỉ có một dây mà đàn lên nghe còn buồn…thê thảm hơn. Người ta “chế” ra hai cây đàn này hay thật.

Rồi nhà Phiến cũng hiện ra dưới ánh trăng khi An đưa Phiến về tới chân cây cầu khỉ bắc qua con rạch. Cây cầu làm bằng những thân tre nối nhau “ lên dốc, xuống đèo” có tay vịn, bình thường An không chú ý, nhưng bỗng dưng trong đêm trăng nó hiện ra lừng lững trên dòng nước tắm đẵm ánh trăng vàng đẹp như một bức tranh kỳ ảo, sương khói khiến An sững sờ nhìn không chớp mắt. Rồi ngôi nhà của Phiến cũng thế, nó cũng hiện ra lừng lững dưới cây lá và cũng đẹp như một bức tranh.

-An nhìn gì thế?
-Phiến cũng nhìn đi thì biết- An nói.
Và Phiến chợt hiểu. Phiến cũng sững người trước chân cầu khỉ mà chưa vội bước qua. Cây cầu tre hiện rõ dưới ánh trăng, nó in cái bóng mờ ảo trên mặt nước đầy và cả An và Phiến đều nhìn thấy bóng trăng in xuống mặt nước gợn sóng lăn tăn.
-Đẹp tuyệt vời- Phiến nói rất khẽ.
-Ừ nhỉ, sao mãi bây giờ mình mới nhận ra điều này nhỉ?- an gật gù.
-Có lẽ tại thường ngày mình không để ý.
-Không phải, tại vì lần đầu tiên tụi mình mới đi chơi đêm và lần đầu tiên An mới nhìn thấy cảnh vật trước nhà Phiến vào một đêm trăng sáng như thế này.
Phiến ngước nhìn lạn bầu trời nói:
-An có biết chuyện những ngôi sao làm đám cưới chưa?
-À, chuyện này An có đọc trong sách, hình như của ông nhà văn Dodet thì phải?
-Nếu những ngôi sao trong bầu trời đêm nay cũng đang tổ chức một cái đám cưới trong vũ trụ mênh mông thì sao nhỉ?
An xuýt xoa, chép miệng:
-Thì…thật tuyệt vời, xem như An và Phiến đang dự đám cưới tập thể của những ngôi sao trong bầu trời vậy. - . /.

Từ Kế Tường




Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2025

Buổi Sáng Có Cơn Mưa Nhỏ - Từ Kế Tường


Buổi sáng, tôi bóc một tờ lịch theo thói quen. Tờ giấy mỏng in những dòng chữ và những con số đánh dấu cho một khoảng thời gian ngắn ngủi bị rơi ra nằm gọn trong lòng bàn tay tôi. Như vậy là gần hết tháng tám. Gần hết một tuần lễ này để sang tuần lễ của một tháng mới. Hình như tôi có một lời hẹn trên tờ lịch, có những điều để nhớ mong và để nghĩ ngợi trên những dòng chữ và những con số đó. Đồng thời, tôi cũng mơ hồ thấy được rằng, tờ lịch được tôi bóc ra khỏi tập giấy dày, như là một chiếc lá rơi, mang theo những điều phải lỗi hẹn. 
Tôi vu vơ vo tròn tờ giấy mỏng manh đó trong lòng bàn tay, và ném qua khỏi cửa sổ. Buổi sáng, hình như trời đang sửa soạn cho một cơn mưa lớn. Tôi bắt gặp cái vẻ ẩm thấp của những mái nhà chen chúc nhau trong tầm mắt và cái dáng trời nghiêng xuống. Tờ lịch rơi hút xuống con hẻm nhỏ chạy cặp bên hông nhà. Vài đứa trẻ con nhà hàng xóm đang ngồi rải rác từng góc, nhai chậm chạp mẩu bánh mì cầm ở tay, hay chụm đầu, kẻ những đường phấn trắng cho một trò chơi ăn thua bằng những tấm bìa cứng có hình màu mè đẹp mắt.
Nơi những ngọn cây vút cao lên trong khoảng trời mù mù là hướng con sông lớn. Chạy theo những đường dây điện kia là một khu phố khác, rất nhiều những mái nhà ngói cổ. Ở phía đó cũng có màu xanh của cây, của những cánh cửa sổ mở. Và cái tháp chuông nhà thờ bao giờ cũng cao sừng sững, cố định, cheo leo bên một góc trời.

Tôi bỗng nhớ ra một buổi sáng gần đây, ít nhất là trong những ngày gần hết tháng tám, hình như tôi không còn được nghe tiếng chuông đổ cho từng buổi lễ sớm. Tôi vẫn thức vào khoảng năm giờ sáng, khi bóng đèn trong phòng bắt đầu hâm nóng cái khoảng không khí lạnh từ khuya cho tới lúc gần sáng. Bóng đèn ngủ trong phòng tôi như một cái đồng hồ báo thức êm đềm nhất, đúng nhất, và dễ thương nhất cho một người và một đời sống yên lặng như tôi. Ngôi nhà được khởi công xây cất vào khoảng tháng ba, đầu mùa mưa và hoàn tất vào khoảng những ngày hết tháng tám, của một năm trước. Tôi bỗng ngẩn ngơ nghĩ rằng, chính hôm nay hoặc ngày mai, hoặc đã qua một hai hôm rồi ngôi nhà của tôi đầy một năm, đúng một tuổi. Một năm qua ngôi nhà chưa phai màu sơn ở cửa sổ, chưa hết mùi vôi ở những bức tường, đã có điều gì xảy ra?

Mẹ tôi, người đàn bà coi như góa bụa một đời, đã bỏ đi tới một căn nhà khác. Tôi không thể hình dung ra gương mặt người đàn ông mang tới cho mẹ tôi một mùa xuân gần cuối một đời người (Hay thêm một lần khổ đau nữa cho cuối một đời người).
Đứa em gái tôi cũng mới theo chồng khoảng hai tháng.
Rồi những những mối tình trôi qua, tan mất như những chiếc bóng mưa của tôi, của một người cuối cùng ở lại để nhìn thấy căn nhà không còn ai, không có ai, chỉ có một mình. Những sự ra đi cho dù ra đi vì một nguyên cớ nào, hình như cũng đều để lại ít nhiều nỗi buồn. Tôi bắt gặp điều đó nơi thềm cửa, trên những cánh hoa dại nở sau một đêm mưa nơi lối đi trong khoảng sân, ở những bậc thang dẫn lên tầng trên, thấp thoáng một khoảng vườn nhỏ phía sau nhà dưới. Một người tưởng sẽ bỏ đi trước nhất không ngờ là người ở lại sau cùng. Nhiều lúc tôi hơi bàng hoàng nghĩ lại điều đó, nhưng tôi thích ở lại trong một căn nhà vắng, đi về một mình, tắm đẫm trong nỗi buồn của người khác để lại, bây giờ hình như tôi không còn người thân nào, không khí của gia đình cũng mất. Tôi sống trong căn nhà và căn nhà đó có tôi. Cảm giác chỉ gọn gàng như thế.

Như sáng hôm nay tờ lịch mỏng báo cho tôi biết là gần hết tháng tám. Nơi cánh cửa sổ nhìn ra một khoảng trời mỗi ngày, tôi cũng có cảm tưởng như bầy chim đang bay kia, báo hiệu một mùa tàn phai.
Tôi rời cánh cửa sổ ra đứng ngoài bao lớn, chậu cúc vàng hôm qua mới nở mấy bông, nay như đã sắp tàn. Tôi nhớ tới đứa bé gái nhà bên cạnh thích có một bông cúc vàng gắn lên mái tóc vừa mới dài chấm vai. Tôi mong thấy đứa bé để hái những bông cúc sắp tàn cho nó. Nhưng cửa nhà bên cạnh đóng kín. Chưa tám giờ, chắc mọi người còn ngủ. Tôi đứng ngắm vu vơ những ngọn cây rất xa trong thành phố, đến một lúc mưa bắt đầu bằng những giọt nước nhỏ, kéo giăng giăng, mờ mịt những ngọn cây kia. Vừa lúc cánh cửa sổ phòng nhà bên cạnh cũng xịch mở, tôi thấy đứa bé gái ló đầu ra ngiêng mắt nhìn trời. Thấy tôi, cô bé nhoẻn miệng cười. Bao lơn nhà cô bé đâu với bao lớn nhà tôi, khoảng cách thật gần. Tôi có thể nói chuyện từ bên này sang cho cô bé nghe. Nhưng cô bé vừa thấy tôi đã nói chuyện trước:
- Sao ông dậy sớm thế?
Tôi nhìn đồng hồ mỉm cười:
- Gần tám giờ, tôi không ngủ muộn được.
- Ông quen thức rồi sao?
Tôi gật đầu, cô bé cười:
- Ông giống như con chim vẫn thức kêu sau vườn nhà em trong lúc người ta đang ngủ.
- Chim gì?
- Em không biết tên.
- Trong nhà có ai không?
- Chị Truyền chắc biết.
- Sao em lại bảo tôi giống con chim, không giống con gì khác được sao, hả?
- Ông muốn con gì?

Tôi cười. Cô bé như chồm cả người qua cửa sổ để nghiêng mắt nhìn ra một khoảng trời mưa đang giăng mờ. Tôi đưa tay ra hứng những giọt nước lạnh, những bụi nước tung toé bay lên mặt. Cô bé bỗng cười lên:
- Ông cũng giỡn nước nữa sao? Em tưởng ông là người lớn nên không còn giỡn nước nữa chứ.
- Tôi là người lớn rồi. Tất nhiên.
- Nhưng không phải người lớn nhất- Cô bé lý sự.
Tôi cười:
- Nhưng ít ra cũng lớn hơn cô bé, được không?
- Cái này thì được.
Tôi cười, hái một bông cúc vàng đưa ra trước mặt nói:
- Cho cô bé này.
- Trời ơi sao ông ngắt nó?
- Không sao, nó sắp tàn rồi. Tôi sẽ hái hết cho cô bé cài lên tóc.
- Uổng quá.
- Uổng gì đâu. Không hái nó cũng rụng.
- Thà nó rụng.
Tôi cười:
- Không thích cài hoa lên tóc nữa phải không?
Cô bé gần như hốt hoảng:
- Không phải vậy đâu, em thích lắm chứ.
- Vậy em hãy xòe tay ra bắt bông hoa này.

Tôi ném bông cúc vàng qua cho cô bé. Bông hoa vuột qua khỏi tầm tay của cô bé rơi vào khoảng trống giữa chấn song của sổ. Cô bé cười bảo:
- Nó rơi trên bàn học của em.
- Tôi không biết ở đó là cái bàn học. Tưởng chỉ có khung cửa sổ. Cô bé thường ngồi học bài ở đó?
- Dạ. Em thường nhìn thấy ông đi ra đi vào ngoài bao lơn. Nhưng lúc ấy thì em đã đóng cửa sổ.
- Đóng cửa sổ làm sao thấy tôi?
- Em nhìn qua những kẽ hở. Sao những lúc đó ông buồn vậy?
- Sao cô bé biết tôi buồn?
Cô bé chỉ cười. Tôi thấy cô bé cài bông hoa lên tóc. Hình như cô bé đi tới một tấm gương để ngắm mái tóc của mình. Một lúc cô bé trở lại với khung cửa sổ. Tôi bảo:
- Cô bé tên gì, ra ngoài bao lơn nói chuyện phải vui không. Ở trong đó hoài vậy?
- Tên em buồn cười lắm, không đẹp như tên chị Truyền đâu. Ông đừng cười thì em mới dám nói.
- Tôi không dám cười.
- Ông hứa đi.
- Tôi hứa.
- Em tên là… Tí Bo.
- Sao vậy? Nhưng cũng dễ thương đấy. Tí Bo, chắc là một cái tên dễ nhớ.
- Tên đó là tên trong nhà gọi thôi cơ. Em đi học có tên khác. Tên là Trâm.
- À, Trâm. Tên đẹp.
- Nhưng ông thích tên nào nhất?
- Tôi thích cả hai tên. Nhưng nếu gọi em tôi gọi là Tí Bo.
Cô bé cười:
- Dạ em thích như thế. Vì trong nhà ai cũng gọi em như vậy cả.
- Nếu thế tôi phải gọi khác đi chứ. Tôi gọi tên thật của em. Trâm. Nhưng mà cái gì Trâm?
- Bảo Trâm.
- Em ra ngoài này nói chuyện vui hơn. Biết mở cửa không?
- Biết chứ. Nhưng em phải đi rửa mặt. Nói chuyện với ông bằng gương mặt mới ngủ dậy ông cười chết.

Nói dứt lời, cô bé biến mất khỏi khung cửa sổ. Mưa bắt đầu nặng hạt và một lúc sau đó, tôi nghe tiếng nước ròn rã, mạnh bạo chảy trong các ống máng trên mái nhà, và nhìn những giọt nước mờ mịt tung toé trên bao lơn nhà cô bé Bảo Trâm. Lúc này chắc cô đang rửa mặt, đang có bàn chải nhỏ trét đầy kem, và những chiếc răng xinh xắn trong miệng. Tôi bắt đầu làm quen với cô bé từ ngày em gái tôi có chồng và những người trong nhà này lần lượt bỏ đi. Tôi thường ra đứng ngoài bao lơn nhìn về một phía thành phố, ngắm những bông cúc vàng nở, và bắt gặp cô bé phía bên kia với một nụ cười. Ngày trước tôi đi khỏi nhà rất sớm và về rất tối. Tôi không hay bên cạnh nhà có hai chị em cô bé dễ thương như thế. Tôi đang hình dung ra Truyền. Chắc phải giống Tí Bo.

Cô bé đã trở lên. Gương mặt trắng xanh trong màn mưa giăng ngoài cửa sổ. Tôi nói:
- Mưa lớn quá, cô bé thấy không?
- Dạ mưa buồn quá. Chắc hôm nay phải đi học trễ, lạnh lắm.
- Em học tám giờ rưỡi cơ. Bây giờ em phải xuống nhà ăn sáng rồi Ba đưa tới trường. Còn ông không đi học sao?
Tôi muốn bật cười khi nghe cô bé nói thế. Chắc cô bé sẽ ngạc nhiên vô cùng nếu tôi nói rằng tôi đã thôi học, không còn là học trò như cô bé nữa. Nhưng tôi chỉ cười:
- Không. Hôm nay tôi không đi học.
- Thích ghê. Em chỉ ước được ở nhà để nhìn mưa thôi.
- Trong lớp cô bé nhìn mưa cũng được vậy. Cô bé ngồi gần cửa sổ chứ?
- Gần, nhưng đâu có dám nhìn ra ngoài. Cô giáo sẵn sàng cho một cặp trứng vịt vào vở học. Ông có thích trứng vịt không? Trong vở em toàn trứng vịt. Em học dở lắm.
Tôi nghĩ là cô bé không học dở. Nhưng tôi cũng cười. Cô bé bỗng nhìn tôi chăm chú hỏi:
- Ủa, ông ở nhà một mình hoài vậy sao?
- Tôi ở một mình hoài.
- Không có bạn bè chi hết?
- Có, nhưng ít ai tới lắm. Tôi thích sống một mình.
- Lúc trước nhà ông có nhiều người mà?
- Đúng, nhưng bây giờ đã đi hết rồi, chỉ còn lại mình tôi.
Cô bé chớp mắt:
- Rồi bao giờ ông đi?
- Chưa biết.
- Thôi ông ở đây đi, đừng bỏ đi nữa.
- Chi vậy?
- Không thấy ông chắc cái bao lơn bên này buồn lắm.
Tôi sững sờ một lúc. Cố bật lên một tiếng cười:
- Việc chi mà cái bao lơn bên ấy phải buồn?
- Không biết nữa. Nhưng em cảm thấy như vậy.
- Tôi bỏ đi. Cô bé buồn như cái bao lơn phải không?
Cô bé mỉm cười không trả lời. Chỉ nhìn chậu cúc vàng rồi đưa tay hứng mấy giọt mưa. Và bỗng cô bé giật mình hốt hoảng:
- Thôi chết, em phải xuống nhà ăn sáng rồi đi học kẻo trễ. Ông có ăn sáng không?
Tôi lắc đầu. Cô bé cười nói giòn tan:
- Ông hút nhiều thuốc quá.

Rồi cô bé vụt rời khỏi cửa sổ. Tôi thấy cánh cửa khép lại, bàn tay cô bé nhỏ nhắn như bàn tay con búp bê. Cửa đóng kín, và mưa bên ngoài. Tôi đứng lặng thêm một lúc rồi vào nhà tự làm những công việc quen thuộc buổi sáng. Nhưng tôi bỗng nhiên bỏ ý định làm một bữa ăn sáng ở nhà. Tôi thay nhanh quần áo, khoác áo mưa,dắt xe, khóa cửa ra đường. Tôi thấy hai chị em cô bé vừa bước lên một chiếc Honda ngồi phía sau cho người đàn ông chở, chiếc áo đi mưa của ông ta phủ trùm lên người chị em cô bé. Chắc cả hai chị em cô bé không ngờ có tôi chạy xe theo phía sau.
Một khoảng đường ngắn. Chiếc xe Honda chở hai cô bé quẹo vào mộ con đường khác. Tôi chạy tới quán nước quen thuộc. Mưa làm tóc tôi ướt rũ xuống trán. Quán vẫn còn thưa người. Buổi sáng trước tám giờ hay sớm hơn nữa, những hôm chán một bữa ăn sáng ở nhà do chính mình làm lấy, tôi lại ra ngồi ở quán này. 
Vào lúc đó quán mới vừa mở cửa, hoặc đôi khi tôi phải chờ. Người hầu bàn là một cô bé gái nhỏ, người như quen thuộc với tôi lắm. Những hôm như thế cô mở cửa cho tôi vào với một nụ cười. Cô bỏ tôi ngồi với chiếc bàn trong góc, nhìn ra ngoài đường phố lớn, rồi cầm tấm giẻ lau cửa kính. Những người hầu bàn khác cũng làm như vậy. Khi công việc thường ngày của họ vào lúc quán mới mở cửa đã xong, cô hầu bàn quen mới đến bàn hỏi tôi uống gì, ăn gì. Và lúc đó bữa sáng của tôi mới bắt đầu theo cái sinh hoạt bắt đầu sống động của quán. 

Bữa nay tôi tới trễ, nhưng không phải là trễ so với mọi người. Bởi vì sau tám giờ, khách sẽ đến đông nghẹt, ăn uống, nói chuyện nhởn nhơ và nhả khói thuốc. Lúc đó tôi phải đứng lên. Tôi không chịu được không khí ồn ào của quán sau tám giờ. Tôi chỉ yêu cái không gian lúc mở cửa quán, ngọn đèn vàng trong tường mới bật lên, hơ ấm cái lạnh từ ngoài đường tràn vào, cái hơi lạnh có pha chút hương thơm của cây lá, hoa dại. Tôi ngồi một mình, một góc quán, và nhìn ra hiu hắt một góc đường. Ở đó, sinh hoạt của thành phố bắt đầu, những gương mặt, những ánh mắt, những nụ cười còn giữ chút hơi lạnh của đêm vừa tan. Tôi ngồi như thế và chờ giờ rời khỏi quán. Lúc đó thành phố cũng bắt đầu ngợp thở trong cảnh người và xe cộ chen chúc nhau, nồng nặc hơi xăng, bụi khói.
Chiếc bàn quen thuộc của tôi vẫn chưa có người ngồi. Tôi tới ngay đó, ngồi xuống. Người hầu bàn tiến tới và bỗng nhiên hỏi một câu không như lệ thường:
- Mấy hôm ông đi đâu bỗng không không thấy tới?
Tôi hơi ngạc nhiên vì câu hỏi bất ngờ này. Bình thường, tôi đến đây, chỉ nghe- ông ăn gì, uống gì? Và cô bé im lặng chờ đợi câu trả lời của tôi một cách kiên nhẫn.
Tôi cười:
- Tôi có đi đâu đâu. Vẫn ở đây mà.
- Sao ông không tới?
- Đôi lúc trong túi cũng hết tiền chứ.
Cô bé tưởng tôi đùa nên cười khúc khích. Tôi gọi thức ăn và cà phê. Tôi nói thêm:
- Đừng tưởng tôi nói đùa nghe, tôi nói thật đó. Mấy hôm không thấy tôi đến quán là tôi hết tiền.
Nhưng cô bé vẫn cứ nghĩ là tôi nói đùa. Cô bước đi mà tiếng cười khúc khích còn lại. Tôi mỉm cười, ngó ra đường phố. 

Công viên ở trước mắt tôi. Những tán cây cao vút khỏi mái nhà, cỏ xanh vây lấy những lối đi trải sỏi. Tôi chưa hề bước chân vào công viên ấy. Hôm nay tôi chợt nhận ra điều đó với một chút ngạc nhiên. Mưa vẫn còn, nhưng không lớn như lúc tôi mới bước vào quán. Mọi người không cần khoác áo mưa mà vẫn có thể chạy băng qua đường và không sợ ướt. Tôi nhìn mưa giăng phía công viên, những giọt nước kéo xuống trên những thân cây vỏ mốc trắng. Giờ này trong công viên không có ai. Ghế đá buồn hiu, những bãi cỏ hiu quạnh và những lối đi chưa có dấu chân người. Tiếng động trên mặt bàn làm tôi quay lại. Cô bé hầu bàn đã mang thức ăn ra. Tôi ngồi ăn và cảm thấy buồn buồn. Lúc đó tôi uống cà phê thì mưa bên ngoài ngớt hột. Tôi lắng nghe một đoạn nhạc trong quán. Tự nhiên buổi sáng nay tôi nghĩ nhiều về trường hợp của Mẹ tôi. Tôi không hiểu. Tôi lù mù trước một hoàn cảnh và cảm thấy gia đình giống như một cái gì sắp rã tan, trôi giữa dòng sông mênh mông. Tuổi nhỏ của tôi là khoảng thời gian luôn làm tôi bàng hoàng mỗi lần nhớ lại. Tôi không hiểu tại sao tôi có đủ can đảm sống tới bây giờ. Trong khi những người bạn thân thiết thường bảo tôi( như là họ không tin ) nếu không phải là người can đảm nhất thế giới, chắc tôi đã tự tử hay trở thành một tay anh chị giang hồ nào rồi. Tôi không dám nhìn lại quãng đời nhỏ bé đó. Tôi không còn dám nghĩ về nó. Bởi mỗi lần nhớ tới, tôi lại muốn khóc. Ba tôi là một người đàn ông, Mẹ tôi là một người đàn bà, và anh em chúng tôi là những đứa con, trai có, gái có. Giản dị thế thôi sao?

Hôm nay tôi mới nghĩ rằng mình đã thật sự rời bỏ cổng trường. Tôi bỏ học từ bao giờ? Hình như là một khoảng thời gian xa xôi, ở ngoài trí nhớ. Tôi không còn là học trò với sách vở mùa thi. Năm cuối cùng ở trường Luật tôi thi rớt, và từ đó tôi bước vào đời sống với hai bàn tay trống không. Nói tóm lại là tôi đang chờ đợi một điều gì đó như phép lại xảy ra cho mình. Nhưng đó là điều gì? Tôi chưa thể biết.
Đời sống. Đó là nơi cuối cùng đón nhận tôi. Tôi rời tuổi nhỏ của mình với tâm trang hoài nghi, cũng như tôi đã lớn lên, sống qua những năm tháng dài với thành phố này như kẻ vô gia đình. Không một chút gắn bó với người thân. Không một chút hy vọng (Ngẫm lại tôi còn điều gì để hy vọng?). Tôi đơn độc tội tình. Mẹ tôi chọn con đường khác. Ba thôi ở phương trời nào. Em tôi đã ra khỏi nhà này để tới một ngôi nhà khác. Chỉ còn tôi ở lại nhìn thấy rõ ràng những điều đã vơi đi, đã mất và cuối cùng, đã vĩnh biệt. Aùnh nắng bây giờ đã hé lên, xuyên qua phía công viên, lướt trên vài ngọn cây với màu lá non tươi rói. Tôi đã thấy quán bắt đầu đông khách. Tiếng nhạc bị tiếng nói, tiếng cười lấn át không còn nghe thấy nữa. Tôi gọi người hầu bàn tính tiền rồi bước ra khỏi quán. Con đường trước mặt tôi được che bằng tàn cây rậm lá non. Hơi mưa phủ xuống mát lạnh.- . /.

Từ Kế Tường

Thứ Năm, 22 tháng 6, 2017

Bài Thơ Năm 18 Tuổi - Từ Kế Tường



Thôi nhé, những chiều sương khói xưa
Vai em rồi cũng lạnh sang mùa
Tóc em rồi cũng trăm sợi nhỏ
Theo nắng phai tàn, theo gió mưa

Phố dài thêm, cây nhú lá non
Cành quạnh hiu những nụ hoa buồn
Tai nghiêng mấy tiếng đời lặng lẽ
Vai nhỏ nghiêng về như khói sương

Môi xưa còn vướng nụ hôn đầu
Trời xanh xa quá thủa yêu nhau
Tay chia từng phiến mây phiêu lãng
Trả hết cho người đi phía sau

Khi em xa khuất một dòng sông
Tiếng sóng khua tan vỡ trong lòng
Như tan vỡ những mùa mưa cũ
Ôi những thu buồn nghe chớm đông

Chân em bước nhạt hết mùa hoa
Bỏ lại ngày xưa dấu lệ nhòa
Tình đã xa vời theo kỷ niệm
Trên những hao gầy câu tiễn đưa.

Từ Kế Tường
Ân Nguyễn sưu tầm

Thứ Sáu, 16 tháng 6, 2017

Áo Trắng Xưa Đâu - Từ Kế Tường


Tuổi mới lớn tóc vừa nghiêng áo trắng
Thủa sân trường rộn rã tiếng ve ngân
Chùm phượng trên cao nhuộm nắng đỏ dần
Tiếng chim sẻ níu khoảng trời xanh biếc

Tay vẫy lá hồn nhiên, buồn chưa biết
Thương con đường lất phất bóng mưa thưa
Những bàn chân khua guốc bước theo mùa
Và em cũng về nghiêng đôi mắt nhỏ

Trong cặp sách giấu mùi hương hoa cỏ
Tiếng gió thơm nơi góc phố dịu dàng
Môi em cười mát lạnh chiếc que kem
Thời gian mở thênh thang từng trang giấy

Em đâu biết dòng sông không trở lại
Nơi cánh buồm xa thẳm cuối chân mây
Ngày tháng qua đi, bụi cát lấp đầy
Khi chợt thấy mắt xanh màu sương khói

Em đâu biết có một thời thơ dại
Đổi bằng tiếng ve, màu phượng đỏ trời
Khoảng sân trường, áo trắng tóc ngang vai
Thành cổ tích của bây giờ tưởng tiếc.

Từ Kế Tường
(Ân Nguyễn Sưu tầm)

Thứ Ba, 28 tháng 2, 2017

Lỗi Của Mùa Đông


Anh xa em có lỗi của mùa đông
Hàng cây thay lá và đường phai nắng
Đâu ai quay lại một thời áo trắng
Để yêu thêm người ấy – tuổi thơ xưa

Mỗi bàn tay năm ngón đếm sương mùa
Chia cái rét cuối năm đầy vai áo
Con đường vắng se lòng ta qua giông bão
Quán ngã ba không đủ ấm tim mình

Áo ngày xanh mặc vội cứ rộng thênh
Trăng nửa mảnh cong lên trời làm nguyệt khuyết
Sầu thơ dại chất trên lưng con chuồn chuồn biếc
Em qua cầu nhẹ hẫng cánh hoa trôi

Những ngày xưa gói lại tưởng quên rồi
Bỗng mùa đông ào về thổi tung kỷ niệm
Ngàn lá chết và hoa rụng đầy như ai ném
Một nền trời xiêu lạc cỏ lau xa

Lỗi của mùa đông đem rét mướt thổi ngang qua
Người ở lại góc trời mưa bụi
So vai áo trở về ngồi quán đợi
Môi ngày xưa buồn đắng, nhạc không lời.

Từ Kế Tường
An Nguyen sưu tầm

Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2017

Mùi Rơm Giáp Tết - Từ Kế Tường

Một góc trời quê


Đồng đất quê tôi ngày xưa trồng lúa một vụ, gọi là lúa mùa. Ba tháng giáp Tết những cơn gió chướng thổi về mang theo hơi lạnh se se báo hiệu những ngày cuối năm. Lúc này mưa đã dứt, chỉ có gió chướng và nắng quái lướt nhẹ trên những cánh đồng vàng rực màu lúa chín rộ. Hôm trước vẫn còn đi trên bờ ruộng, nghe thấy gió và nắng như nhuộm thêm thứ sắc màu đẹp lộng lẫy cho những bông lúa no đầy, trĩu nặng. Một cơn gió chướng từ hướng con sông làng thổi tới, cả cánh đồng vang lên âm thanh rào rạt của lúa và lúa, những nhánh bông lúa lắc lư, đong đưa, cạ vào nhau thành tiếng gọi quen thuộc của nhà nông. Âm thanh như có cả mùi thơm bay theo vào tận xóm làng, lay động những bờ tre, nồng nàn thêm khói bếp, đong đầy những căn nhà trống và sân phơi lúa đã được dọn sạch chờ một vụ mùa rộn rã tiếng nói cười của những chàng trai, cô gái vần công, đổi công gặt, đập, cộ lúa về đầy sân.

Ấy thế mà chỉ một vài hôm đi lại trên những bờ ruộng mới hôm trước như bị thu hẹp lại bởi những nhánh lúa trĩu nặng bông vàng cạ vào chân. Nhưng hôm nay cả quãng đồng không, chẳng thấy một nhánh lúa nào lắt lĩu theo gió, đong đưa trong nắng vàng như mật ong mà chỉ toàn chân rạ tươi đang chuyển sang màu vàng nhạt để bắt đầu khô quắt lại với màu vàng sậm hơn khi nước rút khỏi chân ruộng trơ vơ một màu đất trắng đang trở mình để nứt ra theo từng dấu chân trâu. Một mùa rơm rạ mới làm đẹp thêm cho những cánh đồng chang chang nắng buổi trưa rồi trở lạnh se se vào chiều sẫm, báo hiệu thời tiết cuối đông bắt đầu chuyển sang xuân.

Có hai cách thu hoạch lúa và lấy rơm. Một là người ta gặt tới đâu, công đập bồ kéo cái bồ to đùng tới đó để đập từng ôm lúa rồi vứt rơm thành từng đống trên mặt ruộng, còn lúa được cho vào bao cột lại có xe trâu cộ về. Hai là lúa gặt tới đâu có công bó lại rồi gánh hoặc xe trâu cộ về sân nhà chờ trâu đạp. Người ta thường đợi những đêm trắng sáng để cho trâu đạp lúa, khung cảnh vừa thơ mộng, vừa mát mẻ đỡ mệt người và trâu. Muốn thế, cả nhà xúm nhau mỗi người một việc, những nhánh lúa được trải ra trên sân thành một lớp dày, trâu được cột ách hai con đạp đôi cho nhanh. Trâu đạp lúa sẽ bị chụp vào miệng một cái rọ đan bằng tre để nó khỏi vừa đạp vừa ăn lúa, một người cầm roi tre đi phía sau điều khiển cho đôi trâu đi vòng vòng thật chậm để đạp cho lúa rơi ra, rơm sẽ được một người dùng cây đòn xóc hất gom vế một chỗ. Để đề phòng trâu đạp lúa rồi “ị” bậy, một đứa nhỏ được giao nhiệm vụ cấm cái xô hoặc cái chậu chực sẵn, khi thấy trâu có dấu hiệu “ị” bậy thì lập tức cầm xô hoặc chậu chạy nhanh vào hứng. Hình ảnh này rất quẹt thuộc trong khung cảnh đạp lúa của nhà nông ngày xưa.

Dù thu hoạch lúa bằng cách đập bồ hay cho trâu đạp, rơm cũng vẫn là thứ phế thải của nhà nông. Ở thôn quê, hầu như nhà nào cũng có một cây rơm không trước sân thì sau nhà. Đống rơm vun cao là biểu tượng của một mùa lúa trúng, gia chủ no đầu. Rơm chất thành đống lúc đầu còn tươi xanh, sau khô dần sẽ biến thành màu vàng sậm. Tuy là thứ thải loại từ cây lúa sau mùa gặt, nhưng rơm không bỏ phí mà chất đống để dành, dự trữ cho trâu bò ăn cho tới mùa mưa năm sau. Rơm còn được bó lại thành con cuối để đốt un muỗi cho người và cho trâu bò. Rơm cũng được dùng làm chất đốt, lửa rơm để nướng bánh phồng, bánh tráng vào dịp Tết mà không có thứ lửa củi nào bằng. Rơm còn được chất thành vồng để nuôi nấm rơm và khi rơm khô mục sau vài mùa mưa thì dưới chân rơm sau mấy cơn mưa dầm, đất ẩm sẽ nhú lên những tai nấm rơm màu nâu, đây là nấm rơm tự nhiên không cần dùng meo để cấy nuôi và tất nhiên sẽ rất ngon khi chế biến. Những cây rơm nào sau mấy vụ mưa mà cho nấm tự nhiên thì gia chủ sẽ rất vui vì tin tưởng mình gặp may mắn, năm nay lại sẽ trúng mùa.

Trẻ con thôn quê thường có những trò chơi quanh đống rơm vào những đêm trăng sáng, nhất là trò chơi cút bắt ( trốn tìm) hay cũng còn gọi là trò chơi năm mười. Nhưng rơm còn sót lại trên đồng ruộng mới cho ta hết ý nghĩa của một mùa rơm, rồi chân rạ khô tàn lụi vừa có tên là gốc rạ nhưng cũng vừa là rơm, người thôn quê gọi tắt là rơm rạ. Khi đồng ruộng còn nước lấp xấp để đắp hầm cho cá nhảy thì gốc rạ là thứ vật liệu không thể thiếu để kết dính với bùn be bờ, nhét hang cá, đốt lên hun khói hang chuột thì không họ hàng nhà chuột nào chịu nổi mùi khói của rơm rạ ắt phải phóng khỏi hang thoát thân để …chui vào rọ thôi. Đến khi đồng ruộng cạn khô, nứt nẻ thì rơm rạ oai mục sẽ là một thứ “cỏ” tuyệt vời để lót nền ruộng thành sân đá bóng cho những đội bóng trẻ con chân đất thôn quê. Sân bóng tự nhiên có rơm rạ lót nền “cầu thủ” chạy rất êm chân, chạy mệt đứt hơi thì nằm lăn ra trên rơm rạ nằm thở, rất lạ là mùi rơm rạ khi hít vào lại tạo cho ta cảm giác dễ chịu, khoan khoái, mau lại sức và tiếp tục đua theo trái bóng của một thời thơ ấu tuyệt vời.

Sau bao nhiêu năm đi xa quê làng, tôi vẫn chỉ ao ước được trở về nằm lại một lần trên rơm rạ để hít, ngửi lại mùi thơm nồng ấm, ngọt ngào, chất chứa ngút ngàn kỷ niệm ấu thơ ấy. Nhưng rất buồn vì đồng ruộng quê tôi bây giờ người ta đã lên vườn, cải tạo thành ao nuôi tôm, hầu như không còn ai trồng lúa nữa nên mơ ước nhỏ nhoi này không thực hiện được. Quê nhà tôi bây giờ cũng ít còn những căn chòi giữ vịt, những ngôi nhà lợp lá đơn sơ mà hầu như đều là nhà tường lợp tôn giả ngói, nông dân ăn gạo đong ngoài chợ nên nhà cũng chẳng có đống rơm nào. Mấy hôm về quê tìm lại thú vui ngày cũ tôi có nuôi vài con gà, khi gà kêu ổ, tôi đi hỏi khắp xóm, khắp làng để xin nắm rơm về lót ổ gà nhưng không ở đâu có, đành phải tét lá chuối khô lót ổ đỡ cho gà đẻ vậy. Thấy tôi đi xin rơm cả làng cùng cười, bởi vì có ai còn ruộng, trồng lúa nữa đâu mà có rơm?

Bỗng dưng tôi trở thành người đi lang thang xin rơm, buồn ngẩn ngơ nơi chính quê mình và nhớ mùi rơm rạ tuổi thơ vô cùng.

Từ Kế Tường
( Ngô Minh Trí Sưu tầm)

Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

Dạ Khúc Mưa - Từ Kế Tường


Một lần bất chợt nghe mưa
Cố tình để chút âm thừa dội lên
Tiếng khua động bóng hình em
Ngời ngời viễn cách đêm đêm bước về

Cúi đầu thương ngọn gió se
Thương ta kiếp trước đâu dè ngày nay
Gõ đàn lên kịp mấy dây
Khóc trong dạ khúc, lòng đầy hương xưa

Ai ngoài cây cỏ xa mờ
Trăm năm mắt lệ nằm chờ ánh trăng
Ta ngồi trong cõi nhân gian
Búng tay mấy nhịp nghe tràn nỗi đau

Thôi đành như nước chân cầu
Ngược, xuôi cũng một bóng câu qua trời
Một lần tạ hạt mưa rơi
Vờ quên đóng cửa gọi chơi bóng người. 

Từ Kế Tường
Suối Dâu sưu tầm

Thứ Sáu, 28 tháng 3, 2014

Mưa Học Trò - Từ Kế Tường

Sơ Lược Tiểu Sử:

      Từ Kế Tường tên thật là Võ Tấn Tước, sinh ngày 2 tháng 3 năm 1946, quê quán tại xã Phú Vang, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Ông sống ở Sài Gòn từ trước năm 1975. Từ 1969 ông đã bắt đầu viết văn, làm báo. Tính đến 1975, ông đã xuất bản nhiều sách gồm: thơ, tập truyện ngắn, tiểu thuyết, trong đó có các sách viết cho thiếu niên và nhi đồng.
      Tháng 5 năm 1975, Từ Kế Tường gia nhập Hội Văn nghệ Giải phóng Sài Gòn – Gia Định. Từ 1979 đến 1986 ông làm việc trong ngành Văn hóa thông tin; từ 1986 đến 2003 làm Thư ký tòa soạn báo CA.Hiện nay, ông làm việc tại tuần báo Văn nghệ.
      Từ Kế Tường là Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Ông còn có bút danh khác là Phan Tường Niệm.
Tác phẩm đã xuất bản:
* Tiểu thuyết : Huyền xưa – Đường Phượng bay – Mùa áo vàng – Con đường sỏi buồn – Áo tím qua đường- Còn những bóng mưa tan – Mối tình sương khói – Tuyệt vời khi giã từ nhau – Một chút hương thời gian – Tới một tuổi nào – Tình yêu có màu gì – Tìm nhau trong hương khói – Bông hồng cho tình đầu – Áo vàng qua ngõ – Bờ vai nghiêng nắng – Cánh hồng gai – Ngày vắng mưa thưa – Bầu trời màu trứng sáo – Hoa lưu ly không về…
* Thơ: Trên xác lá mùa hè – Thơ hồng – Khi bỏ trường mà đi – Tái hiện một giấc mơ – Nửa đời ta yêu em – Áo còn vướng lại – Có tên một dòng sông…

Cùng nhiều tác phẩm viết cho thiếu nhi. 



Hình như là lất phất mưa
Đủ cho hạt bụi lên vừa mắt em
Tiếng ve ru cánh phượng mềm
Cháy trong vòm lá nỗi niềm tháng năm

Tóc dài từ thủa xa xăm
Thả trên vạt nắng xưa nằm nghiêng nghiêng
Mộng về một khoảng trời riêng
Mắt xanh cửa lớp ưu phiền gửi theo

Tay lùa ngọn gió trong veo
Mới thương mùa hạ rơi vèo như không
Hàng me xanh đến nao lòng
Tiếc chi một nét môi cong với chiều

Em về khua guốc liêu xiêu
Áo bay cuối phố dài theo mắt người
Hình như mưa lất phất cười
Hồn nhiên làm tuổi hai mươi biết buồn.
  
Từ Kế Tường
( Suối Dâu sưu tầm)