Hiển thị các bài đăng có nhãn Bác Sĩ NCT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bác Sĩ NCT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2020

2019 Virus Corona Mới (2019-nCoV) Từ Vũ Hán (Wuhan) – Trung Quốc


Từ tháng 12.2019, một loại virus corona mới (2019 – nCoV) gây viêm phổi tại thành phố Vũ Hán (Trung Quốc) đã được xác định và đang lan rộng tới nhiều nước trên thế giới.

Cho tới nay (25/01/2020) trên thế giới đã có khoảng 1320 trường hợp đã được xác định là mắc bệnh viêm phổi do virus corona mới. Trong số 1320 trường hợp này, 1297 là người Trung Hoa. 324 người đã trong tình trạng sức khỏe nguy kịch

1965 trường hợp bị tình nghi là mắc bệnh viêm phổi do virus corona mới từ 20 tỉnh, vùng và thành phố từ Trung Quốc.

23 trường hợp đã nhiều quốc gia ở châu Á (Nhật, Hàn Quốc, Singapore, Việt Nam) cũng như một số nước ở các châu lục khác như Australia, Pháp, Nepal và Mỹ, cũng ghi nhận các trường hợp lây nhiễm.

41 người mắc bệnh viêm phổi do virus corona mới đã tử vong. Tình trạng của các bệnh nhân nhiễm virus corona chủng mới “ít nguy hiểm hơn” so với các bệnh nhân nhiễm chủng corona gây Hội chứng Viêm đường hô hấp cấp (SARS). Ở thời điểm hiện tại, tỷ lệ tử vong do chủng corona mới là chưa đến 5%. Trong khi đó, các đợt bùng phát virus SARS năm 2002-2003 và virus gây Hội chứng Hô hấp vùng Trung Đông (MERS) năm 2012 có tỷ lệ tử vong lần lượt là 9,5% và 34,5%.

Loại virus corona mới thuộc gia đình vi khuẩn Corona. Một số loại virus corona gây bệnh cho con người trong khi những loại khác ảnh hưởng những thú vật như dơi,lạc đà hay mèo. Hiếm khi một số loại virus corona có thể truyền từ thú sang người và sau đó được truyền từ người sang người tương tự như những trường hợp MERS and SARS.

Virus corona mới có thể lây theo đường hô hấp, ở mức độ tiếp xúc gần hay qua những đồ vật như quần áo, dụng cụ cá nhân của các bệnh nhân nhiễm virus corona.

Thời gian ủ bệnh của virus corona chủng mới tối đa 2 tuần.

Hiện chưa có vaccine phòng ngừa virus corona. Các thử nghiệm vaccine phòng chủng virus gây bệnh MERS vẫn đang trong giai đoạn phát triển. Thuốc trụ sinh không hiệu quả đối với virus corona mới.

CÁCH PHÒNG NGỪA:

1- Tránh tiếp xúc với những người mắc bệnh viêm phổi do virus corona mới hay có triệu chứng bị bệnh đường hô hấp.

2- Thường xuyên rửa tay bằng chất sát trùng (Antiseptic) hay xà bông sau khi tiếp xúc với người bệnh.

3- Che miệng mỗi khi ho, cố gắng tránh đưa tay chạm lên mắt, mũi, miệng.

4- Cần gặp bác sĩ gắp nếu bị sốt, ho, cảm thấy khó thở (triệu chứng của sưng phổi), triệu chứng chảy nước mũi, hắt hơi hoặc đau họng. Virus corona mới không gây ra các vấn đề về dạ dày như tiêu chảy, vốn là triệu chứng của 20-25% số bệnh nhân nhiễm SARS.

Bác sĩ NCT

Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2020

Những Dữ Kiện Mới Về 2019-nCoV (2019-nCoV) Từ Vũ Hán (Wuhan) – Trung Quốc


Lancet, một tạp chí y khoa nổi tiếng, đã công bố những dữ kiện khoa học sau đây về 2019-nCoV :

1- Những triệu chứng của 2019-nCoV giống như SARS và 2019 Virus Corona mới có thể được truyền từ người sang người.

2- Hiện giờ 7 loại corona virus ( kể cả 2019 nCoV) có thể gây bệnh cho người. Tỉ lệ tử vong vì virus Corona thấp hơn SARS và MERS nhiều.

3- Cho tới ngày 24/01/2020, nhiều người bệnh Trung Hoa nhiễm virus corona mới có tiếp xúc với chợ hải sản Vũ Hán. Hiện giờ chưa ai có thể xác định loại động vật hoang dã buôn bán trong chợ đã truyền virus qua người.

4- Đa số người bị nhiễm virus corona mới là người khỏe mạnh. Dước 1/3 người bị nhiễm virus corona mới có bệnh kinh niên như tiểu đường, áp huyết cao và các bệnh tim khác.

5- Đa số bệnh nhân nhập viện vì sưng phổi do virus corona mới đều bị sốt, ho, cảm thấy khó thở. Khác với những triệu chứng của bệnh SARS, bệnh nhân bị nhiễm virus corona mới thường không bị sổ mũi, hắt xì, đau cổ và chỉ một số ít bị nhức đầu hay bị đi cầu chảy.

6- Khoảng 1/3 bệnh nhân nhiễm virus corona mới phát bệnh đường hô hấp nặng cần vô ICU.

Bác Sĩ NCT

Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2019

Bệnh Cao Huyết Áp


Huyết áp là áp lực của máu lên thành mạch. Cứ tưởng tượng tim là một cái máy bơm nước. Chỉ số trên (huyết áp tâm thu) là chỉ số khi tim bơm máu chạy khắp cơ thể. Chỉ số dưới (huyết áp tâm trương) là chỉ số khi tim đang nghỉ. Huyết áp bình thường của người lớn thường dưới 140/90 mmHg. Huyết áp của bệnh nhân bị bệnh tim, tiểu đường, thận cần phải thấp hơn (120/70-80).

Càng lớn tuổi, thành động mạch càng cứng càng dễ dẫn tới cao huyết áp. Đa số bệnh nhân bị cao huyết áp không có triệu chứng gì ngoại trừ khi áp huyết quá cao gây nên đột quỵ hay trong giai đoạn cuối khi cao huyết áp dẫn tới biến chứng. Vì thế nhiều người bị bệnh cao huyết áp không chịu theo dõi huyết áp thường và không uống thuốc thường. Một điều quan trọng cần lưu ý là khi cao huyết áp dẫn tới bệnh nặng thường quá trễ rồi. Dù lúc này có chữa cao áp huyết, các cơ quan trong cơ thể cũng không phục hồi lại được.

VÌ VẬY PHẢI THEO DÕI VÀ CHỮA TRỊ CAO ÁP HUYẾT NGAY TỪ BAN ĐẦU.

1- Nguyên nhân và triệu chứng bệnh cao huyết áp:

90% trường hợp áp huyết cao không rõ nguyên nhân.
10% được gây ra do những bệnh khác như bệnh tuyến thượng thận, bệnh thận kinh niên, bệnh hẹp động mạch thận, một số thuốc như thuốc ngừa thai, thuốc uống bệnh trầm cảm v.v.

Ngoài ra một số yếu tố có thể góp phần gây ra tăng huyết áp:

– Tuổi tác: tuổi càng cao thì càng dễ bị tăng huyết áp đặc biệt là huyết áp tâm thu, do động mạch trở nên cứng hơn, nguyên nhân là do bệnh xơ cứng động mạch.
– Stress có thể tăng huyết áp.
– Tiền sử gia đình (tính di truyền): bệnh tăng huyết áp có khuynh hướng di truyền theo gia đình.
– Thừa cân (béo phì): Những người béo phì có nguy cơ bị cao huyết áp cao gấp từ 2 đến 6 lần những người có trọng lượng trong giới hạn bình thường.
– Thiếu tập thể dục: ngồi nhiều một chỗ có thể gây béo phì và tăng huyết áp.
– Thức ăn nhiều muối, uống rượu nhiều.
– Bệnh nhân bị tiểu đường dễ bị áp huyết cao.
– Mắc chứng ngưng thở lúc ngủ
– Có một số phụ nữ bị áp huyết cao trong thời kỳ có thai.

Bệnh nhân bị áp huyết cao có thể không có triệu chứng gì. Bệnh nhân có thể bị nhức đầu, chóng mặt, chảy máu mũi. Một trong những biến chứng của bệnh cao huyết áp là chảy máu não. Áp huyết cao có thể làm vỡ những mạch máu bất bình thường ở trong đầu (cerebral aneurysm). Triệu chứng của chảy máu não bao gồm nhức đầu dữ dội và đột ngột, buồn nôn, ói mửa, hôn mê, bất tỉnh, yếu một cánh tay hoặc chân, giọng nói ngọng v.v.

2- Những biến chứng có thể xảy ra của cao huyết áp là gì?

– Suy tim. Tim của bệnh nhân bị áp huyết cao phải làm việc nhiều hơn. Điều này làm cho trái tim to ra và trở nên yếu hơn.
– Chảy máu não.
– Suy thận. Các mạch máu trong thận có thể trở nên hẹp lại, làm giảm lượng máu chảy tới thận và gây suy thận.
– Nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Động mạch bị hẹp ở một số nơi trong cơ thể, từ đó dẫn đến việc hạn chế lưu lượng máu (đặc biệt là cho tim, não, thận và chân). Điều này có thể gây ra một cơn đau tim, đột quỵ.

Nếu bị nhồi máu cơ tim hay bị đột quỵ, bạn cần gọi xe cứu thương gấp

Bệnh mắt: Các mạch máu trong mắt vỡ hoặc chảy máu. Điều này có thể dẫn đến những thay đổi về thị lực và trong những trường hợp nặng có thể bị mù lòa.




3- Làm thế nào để chẩn đoán cao huyết áp?

– Bạn cần kiểm tra huyết áp nhiều lần trong ngày
– Trước khi kiểm tra huyết áp, bạn nên dành ra một thời gian để thư giãn. Không nên kiểm tra huyết áp lúc bạn đang hồi hộp, căng thẳng.
– Dùng đồ đo huyết áp đúng tiêu chuẩn
– Có nhiều bệnh nhân quá lo sợ khi tới bác sĩ khám bệnh. Những bệnh nhân này huyết áp bình thường khi ở nhà nhưng cao khi đo ở phòng mạch bás sĩ. Có thể gởi những bệnh nhân này tới phòng khám nghiệm để mang máy đo áp huyết trong người trong 24 tiếng đồng hồ.
– Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng, tăng huyết áp có thể được phân loại như sau:
Tăng huyết áp độ 1: 140-159/90-99 mmHg
Tăng huyết áp độ 2: 160-179/100-119 mmHg
Tăng huyết áp độ 3: Áp huyết 180/110 hoặc cao hơn.

4- Điều trị cao huyết áp:

– Giữ cho huyết áp dưới 140/90 mmHg. Nếu bạn có bệnh tiểu đường, bệnh tim hoặc bệnh thận mãn tính, huyết áp của bạn cần dưới 120-30/80 mmHg.

– Thay đổi lối sống:
Có chế độ ăn lành mạnh và ít muối,
Cố gắng duy trì một cân nặng lí tưởng,
Bỏ hút thuốc,
Ng̣ưng uống rượu,
Uống thuốc điều trị bệnh cao huyết áp theo hướng dẫn của bác sĩ,
Theo dõi huyết áp của bạn thường xuyên ở nhà với một thiết bị theo dõi tốt,
Không nên tự ngưng thuốc,
Tập thể dục đều.

– Uống thuốc
Các chất ức chế men chuyển ACE, ARB
́Thuốc lợi tiểu
Thuốc ức chế Beta
Thuốc ức chế Alpha
Thuốc ức chế hấp thụ canxi
Thuốc ức chế hấp thụ canxi
Thuốc giãn mạch

Bạn cần uống loại thuốc nào tùy theo sức khỏe của bạn. Bạn có thể uống thuốc lợi tiểu nếu bạn bị phù chân, tim yếu, tiểu đường; thuốc ức chế Beta nếu bạn bị bệnh nhồi máu cơ tim, thuốc giãn mạch nếu bạn bị nghẻn động mạch tim.

Melbourne, 23/11/2019
Bác sĩ NCT


Thứ Hai, 7 tháng 10, 2019

Phương Pháp Ngăn Ngừa Unh Thư Vú


Ung thư vú là loại ung thư thông thường nhất trong giới phụ nữ ở Úc.

NGUYÊN NHÂN UNG THƯ VÚ:

1- Tuổi

Đa số phụ nữ bị ung thư vú sau 50 tuổi, khoảng 30% ung thư xảy ra ở độ tuổi 40-50, 6% dưới 40 tuổi và chỉ 1% dưới 30 tuổi.

2- Di truyền

Đa số những trường hợp ung thư ngực xảy ra ngẫu nhiên. Tuy nhiên 1- 5% người bị ung thư vú do di truyền. Các khoa học gia đã khám phá ra gene gây nên ung thư vú là gene BRCA1, BRCA2.

Nguy cơ bị ung thư vú sẽ cao hơn nếu trong gia đình có quan hệ huyết thống gần nhất (mẹ, chị, em) với người bệnh, và nguy cơ đó sẽ thấp hơn nếu chỉ là họ hàng xa (cô, dì). Nguy cơ sẽ càng cao hơn nếu có nhiều người trong gia đình cùng bị ung thư vú và bệnh nhân phát bệnh khi tuổi dưới 50.

Ung thư buồng trứng cũng làm tăng nguy cơ bị ung thư vú.

3- Những nhóm người sau đây có nguy cơ bị ung thư vú cao hơn người thường:

– Những người trước đó đã bị ung thư vú hay có tiền sử những bệnh liên quan tới vú
– Không có con
– Có con trễ (sau 30 tuổi)
– Có kinh sớm (trước 12 tuổi)
– Tắt kinh trễ
– Những người mãn kinh dùng thuốc hormone
– Người quá cân
– Uống rượu nhiều

Phương pháp ngăn ngừa ung thư vú:

Phụ nữ cần phải tự khám vú thường (thời gian khám tốt nhất là 1- 2 tuần sau khi có kinh) để phát hiện những khối u cứng lạ ở ngực hay là ở nách. Đặc biệt nên để ý những thay đổi nơi da vú (da bị đỏ hay có vẻ trũng như quả cam), đầu vú bị thụt vào trong, đầu vú tiết ra chất nhờn hay là máu. Thường khối u ung thư vú không đau. Nếu ung thư vú lan ra phổi hay xương, bệnh nhân có thể bị khó thở, phổi có thể bị nước, ̣dau xương, giảm cân, ói mửa.

Cần gặp bác sĩ sớm nếu phát hiện những thay đổi nói trên.

Phụ nữ trên 50 tuổi và không bị nguy cơ ung thư vú kể trên cần làm mammogram hai năm/lần. Nếu có nhiều hơn một người họ hàng gần bị ung thư trước 50 tuổi, bị ung thư vú hay có tiền sử những bệnh liên quan tới vú, hoặc có nhiều người trong gia đình bị ung thư vú, ung thư buồng trứng và mang gene ung thư vú như RCA1, BRCA2 thì cần làm mammmogram sớm và thường xuyên hơn.

– Những người dưới 40 tuổi không nên làm mammogram ngoại trừ khi bị những triệu chứng kể trên hay thuộc về những nhóm người có nguy cơ bị ung thư ngực cao.

– Có nhiều loại ung thư vú phát hiện được nhờ mammogram nhưng không thể phát hiện được khi siêu âm.Vì vậy cần làm cả hai để có kết quả chính xác. Có thể dùng MRI để hiểu rõ thêm về kích thước ung thư và tìm bất cứ dạng ung thư nào khác tại vú.

– Sinh thiết là cách duy nhất để biết chắc chắn bạn có bị ung thư hay không. Có nhiều dạng sinh thiết, cho nên, bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa nếu bạn muốn làm sinh thiết để phát hiện sớm bệnh ung thư vú. Nếu nghi ngờ bị ung thư vú, người bệnh vẫn có thể sinh thiết khối u vú mặc dù siêu âm/mammogram âm tính.

Bác Sĩ NCT
Tháng 09/2019

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2019

Ngăn Ngừa Ung Thư Ruột Già


Ung thư ruột già là một trong những ung thư thường gặp. Trong giai đoạn đầu, những người bị ung thư ruột già có thể không có triệu chứng gì.
Triệu chứng của ung thư ruột già:


Máu trong phân (máu có thể đỏ đậm và hòa lẫn với phân), đau bụng, táo bón hoặc là đi cầu chảy), mắc cầu nhưng đi xong cảm giác vẫn còn muốn đi nữa, sụt cân, mệt mỏi do thiếu máu.

Những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư ruột già:

1- Tuổi

Xác suất ung thư ruột già tăng theo tuổi. Trên 50 tuổi, 1trong 300 người sẽ bị ung thư ruột già. Trên 60 tuổi, 1 trong 100 người sẽ bị ung thư ruột già.

2- Gia đình có người bị ung thư ruột già

Nguy cơ bị ung thư ruột già tùy theo quan hệ huyết thống trong gia đình và số tuổi của người trong gia đình bị ung thư ruột. Nếu người bị ung thư là ba, mẹ, anh, chị, em thì xác suất người trong gia đình bị ung thư ruột già sẽ cao hơn. Cũng vậy, xác suất người thân trong gia đình bị ung thư ruột già sẽ cao hơn nếu như đã có người trong gia đình bị ung thư ruột già trước ̀50 tuổi

3- Polyp đại trực tràng:


Polyp là một khối u tăng trưởng bên trong ruột già. Nếu để lâu, polyp có thể trở thành ung thư. Vì vậy, ai bị polyp cần phải soi ruột và lấy polyp ra mỗi 2-5 năm tùy theo polyp lớn hay nhỏ, nhiều hay ít và độ ác tính của polyp.

3- Những ai bị bệnh viêm ruột như Ulcerative Colitis hay Crohn có nguy cơ bị ung thư ruột nhiều hơn những người bình thường, nên cần được theo dõi và soi ruột thường để được phát hiện sớm.

4- Thức ăn

Ăn nhiều đồ mỡ, thịt, uống rượu nhiều và hút thuốc dễ dẫn tới ung thư ruột già.

Nên:

KIÊN ĂN ĐỒ MỠ, THỊT VÀ TRÁNH ĂN THỨC ĂN NHIỀU CALORIE,

BỚT UỐNG RƯỢU, HÚT THUỐC VÀ NĂNG TẬP THỂ THAO,

NÊN ĂN THỨC ĂN CÓ NHIỀU CHẤT BÃ,

UỐNG CALCIUM 1000-1200 MG/NGÀY CÓ THỂ GIẢM NGUY CƠ BỊ UNG THƯ RUỘT GIÀ.

Một số thuốc như ASPIRIN, NSAIDS (Nurofen, Brufen), COX 2 INHIBITOR

(Celecoxib, meloxicam), THUỐC HORMONE CHO NHỮNG NGƯỜI MÃN KINH) có thể giảm nguy cơ bị ung thư ruột già. Có thể uống aspirin 100 mg-300 mg mỗi ngày nếu nguy cơ bị ung thư cao và không bị loét bao tử, chảy máu đường ruột v.v. Nên gặp bác sĩ để được hướng dẫn về việc uống thuốc ngừa ung thư ruột già.

5- Những bệnh di truyền ruột bị nhiều bị nhiều polyp:

Một trong những bệnh di truyền này là Familial Adenomatous Polyposis.

Người bị bệnh di truyền này bị rất nhiều polyp trong ruột già khi còn rất trẻ. Các em cần được gặp bác sĩ khoảng 12-15 tuổi để được theo dõi và soi ruột.

Phương pháp ngăn ngừa ung thư ruột già:

1- Áp dụng những điều trong mục thứ 4 viết ở trên.

2- Nếu có người trong gia đình bị ung thư ruột già cần soi ruột lúc 50 tuổi hay là 10 năm trước tuổi người trong nhà đã chẩn đoán bị ung thư ruột. Ví dụ nếu người nhà bị ung thư ruột lúc 53 tuổi, con cái hay anh chị em của người đó cần được soi ruột lúc 43 tuổi. Nếu soi ruột bình thường, người nhà nên được soi ruột mỗi 5 năm nếu không có triệu chứng gì, hay là soi ruột sớm hơn nếu bị polyp.

3- Cần gặp bác sĩ khám sớm nếu bị những triệu chứng ung thư ruột già kể trên NHẤT LÀ KHI BỊ CHẢY MÁU ĐƯỜNG RUỘT.

4– Nếu không có triệu chứng gì, có thể thử máu vi thể trong trong phân (FOBT) mỗi 2 năm. Thử máu vi thể trong trong phân để xem coi trong phân có máu không. Có nhiều lý do trong phân có máu nên thử máu vi thể trong trong phân dương tính không có nghĩa là người thử bị ung thư ruột già. Nếu thử dương tính, cần phải soi ruột.

Bác sĩ NCT
Melbourne, 30/8/2019

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2019

Ung Thư Tuyến Tiền Liệt


Ung thư tuyến tiền liệt là ung thư thông thường nhất của nam giới. Tuyến tiền liệt là một tuyến nằm ngay dưới bọng đái và bao quanh niệu đạo.

Nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt:

1- Tuổi:

Ung thư tuyến tiền liệt là bệnh của người lớn tuổi. Càng lớn tuổi, xác suất ung thư tuyến tiền liệt càng cao. Ước lượng khoảng 80% nam giới 80 tuổi bị ung thư tuyến tiền liệt.

2- Tiền sử gia đình:

Nguy cơ người trong gia đình bị ung thư tuyến tiền liệt sẽ cao hơn nếu có thân nhân ruột thịt đời thứ nhất bị ung thư này (ba, anh hay em).

3- Chủng tộc:

Người Mỹ đen có xác suất bị ung thư tuyến tiền liệt cao nhất và người Nhật thấp nhất. Tuy nhiên từ khi người Nhật bắc chước người Tây Phương ăn thức ăn nhiều chất béo, xác suất người Nhật bị ung thư tuyến tiền liệt đã gia tăng khá nhiều.

4- Thức ăn:

Thức ăn có nhiều chất béo, protein, carbohydrate tăng ung thư tuyến tiền liệt trong khi omega 3, soy isoflavones và lycopenes trong dầu cá giảm ung thư.

Ung thư tuyến tiền liệt phát triển rất chậm. Phải mất một thời gian rất lâu để ung thư tuyến tiền liệt lan ra ngoài. Ung thư tuyến tiền liệt có thể lan tới các hạch ở bụng, xương, phổi v.v.

Thời gian đầu, người bệnh có thể không có triệu chứng gì. Triệu chứng ung thư tuyến tiền liệt bao gồm máu trong nước tiểu hay tinh dịch, triệu chứng nghẽn ống dẫn tiểu như đi tiểu thường, khó đi tiểu, đau thắt lưng và nhiễm trùng đường tiểu.

Vì ung thư tuyến tiền liệt lan rất chậm, có nhiều bác sĩ chỉ theo dõi ung thư tuyến tiền liệt trong thời gian ban đầu nhất là khi người bệnh lớn tuổi, yếu do bị nhiều bệnh khác.

Ngăn ngừa ung thư tuyến tiền liệt

1- Khám bệnh ngăn ngừa ung thư tuyến tiền liệt mỗi năm bắt đầu lúc 50 tuổi. Nếu có thân nhân ruột thịt đời thứ nhất bị ung thư tuyến tiền liệt, người nam trong gia đình nên khám ngăn ngừa sớm hơn (từ 40 tuổi).

2- Có thể khám tuyến tiền liệt bằng ngón tay để phát hiện những u cứng phía ngoài tuyến tiền liệt.

3- Thử PSA trong máu. Tuy nhiên, PSA cũng không chính xác lắm. Có nhiều người bị ung thư tuyến tiền liệt nhưng PSA vẫn bình thường. Ngoài ung thư tuyến tiền liệt, PSA có thể cao do tuyến tiền liệt phì đại lành tính, nhiễm trùng tuyến tiền liệt, khám tuyến tiền liệt bằng ngón tay, phẫu thuật soi niệu đạo.

Nếu PSA cao, có thể thử thêm free/total PSA. Phần lớn PSA trong máu được gắn với các protein huyết tương. Một lượng nhỏ của PSA không gắn với protein được gọi là PSA tự do (free PSA). PSA của người bị ung thư tuyến tiền liệt thường bị gắn vào ung thư tuyến tiền liệt nên free PSA thường thấp.

Free/total PSA >25% , xác suất bị ung thư sẽ rất thấp.

Free/TotalPSA <25%, xác suất bị ung thư sẽ cao

̀5- Giảm thức ăn nhiều mỡ, protein, carbohydrate. Ăn nhiều dầu cá chứa omega 3, thuốc có chứa lycopenes hay soy isoflavones.

Chuẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt

Khám tuyến tiền liệt bằng ngón tay có thể phát hiện u cứng phía ngoài tuyến tiền liệt.

PSA có thể cao với free/total PSA dưới 25%.

MRI tuyến tiền liệt.

Sinh thiết

CT bụng, phổi +/- thử PET để biết ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn nào và lan ra tới đâu.

Phác đồ điều trị ung thư tiền liệt tuyến

1-Theo dõi tình hình bệnh nếu ung thư trong giai đoạn sớm.

2- Chữa bằng cách đặt cây phóng xạ vào giữa tuyến tiền liệt (brachytherapy)

3- Phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt- có thể dùng phẫu thuật nội soi bằng robot.

4- Xạ trị

5- Điều trị nội tiết- chích thuốc làm giảm testosterone.

Bác sĩ NCT
Melbourne, 05/9/2019

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2019

Biến Chứng Của Bịnh Tiểu Đường Và Cách Ngăn Ngừa


Bài viết này chỉ tập trung về những biến chứng của bệnh tiểu đường và cách ngăn ngừa biến chứng. Chẩn đoán và ngăn ngừa bệnh tiểu đường sẽ được đề cập trong một bài viết khác.


Tiểu đường (tuýp 1 và tuýp 2) có thể gây nên nhiều biến chứng.

Bệnh tiểu đường có thể không có triệu chứng lúc ban đầu nên người bị tiểu đường có thể không biết mình bị biến chứng của tiểu đường.

Phát hiện sớm và được chữa trị kịp thời có thể ngăn ngừa những tổn hại lâu dài. Phát hiện những biến chứng trễ thường không giúp người bệnh phục hồi những tổn hại.

Vì vậy những người bị tiểu đường cần phải gặp bác sĩ gia đình để khám tổng quát thường xuyên khi bị tiểu đường.

Bệnh tiểu đường có thể ảnh hưởng những cơ quan sau đây

1- Mắt
2- Thận
3- Động mạch của tim
4- Bàn chân của người bị tiểu đường.

1- MẮT


Tiểu đường thường ảnh hưởng võng mạc. Nguyên do chính của bệnh võng mạcdo tiểu đường gây ra là những động mạch của võng mạc không cung cấp đủ máu cho võng mạc nên những động mạch này có thể xuất huyết hay tràn dịch vào trong võng mạc làm ảnh hưởng tới thị giác của người bệnh. Một khi võng mạc đã bị ảnh hưởng, những chữa trị chỉ ngăn ngừa thị giác bị ảnh hưởng xấu hơn, nhưng không phục hồi được phần thị giác đã bị tổn hại. Bác sĩcó thể dùng tia laser bắn vào những mạch máu bị ảnh hưỡng đễ giảm bớt xuất huyết hay tràn dịch.

Tiểu đường cũng có thể gây nên bệnh cườm mắt (cataract) hay bệnh cao nhãn áp (glaucoma)

NGƯỜI BỊ TIỂU ĐƯỜNG NÊN KHÁM MẮT MỖI NĂM ĐỄ PHÁT HIỆN SỚM BỆNH MẮT DO TIỂU ĐƯỜNG GÂY RA. NẾU BỊ XUẤT HUYẾT HAY TRÀN DỊCH VÕNG MẠC CẦN GẶP BÁC SĨ THƯỜNG HƠN.

2- THẬN

Tiểu đường là một trong những nguyên do chính gây nên bệnh suy thận kinh niên. Một nguyên do khác gây nên bệnh suy thận kinh niên là áp huyết cao (hypertension) – mà nhiều người bị tiểu đường thường hay bị.

Người bị tiểu đưòng có thể tới bác sĩ để thử microalbumin trong nước tiểu.

Microalbumin là một loại protein trong cơ thể. Microalbumin cao là một trong những dấu hiệu thận suy sớm nhất. Thử thận bằng máu (eGFR) có thể bình thường trong giai đoạn thận suy ban đầu; eGFR chỉ bất thường khi thận suy tương đối nặng. Bệnh nhân bị microalbumin cao trong nước tiểu dễ bị nhồi máu cơ tim hay đột quỵ.



Người bị tiểu đường có thể ngăn ngừa hay làm bệnh thận phát triển chậm lại bằng cách:


          1. Kiêng ăn và tập thể dục thường xuyên để giữ mức đường thấp
          2. Giữ áp huyết <140/90 hay thấp hơn (khoảng 120/80) nếu bị microalbumin trong nước tiểu

          3. Uống thuốc ACE inhibitor hay Angiotension II inhibitor
          4. Thử microalbumin thường mỗi năm.

3- ĐỘNG MẠCH TIM


Ngoài bị đường cao, bệnh nhân bị tiểu đường thường bị béo phì, cholesterol, triglyceride (một loại mỡ trong máu) cao và áp huyết cao. Bệnh nhân bị tiểu đường dễ bị bệnh tắc nghẹn động mạch do cholesterol tích tụ trong thành động mạch.

Vì vậy, những ngưòi bị tiểu đường dễ bị bệnh tim (nhồi máu cơ tim), đứt mạch máu não và bệnh động mạch ngoại biên (peripheral vascular disease). Triệu chứng của nhồi máu cơ tim: Đau ngực (như bị ai đè, có thể lan tới cổ, hàm dưới, tay trái, đau hơn khi vận động và sẽ bớt đau hơn khi nghỉ mệt), ói mửa, khó thở, vã mồ hôi, tim đập mạnh. Bệnh nhân bị bịnh động mạch ngoại biên thường cảm thấy đau bắp chân (do thiếu máu) khi đi bộ, chạy. Cơn đau sẽ hết khi bệnh nhân nghỉ ngơi. Trong những trường hợp bệnh động mạch ngoại biên nặng, người bệnh có thể bị đau bắp vế cả khi đã nghỉ vận động.



Để tránh những biến chứng kể trên, người bị tiểu đường có thể:


         1. Không hút thuốc
         2. Kiêng ăn, giảm cânvà tập thể dục thường xuyên để giữ mức đường thấp.
         3. Tránh áp huyết cao (kiêng ăn mặn, bớt uống rượu và tập thể dục +/- uống thuốc áp huyết cao)
         4. Kiêng ăn mỡ +/- uống thuốc nếu mỡ cao
       5. Những người trên 65 tuổi, dưới 65 nhưng bị bệnh nhồi máu cơ tim, đứt mạch máu não hay bệnh động mạch ngoại biên nên uống ASPIRIN để làm loãng máu.

Những người sau đây không nên uống aspirin: phản ứng aspirin, chảy máu do loét bao tử, bị xuất huyết não.

Người bị tiểu đường có thể bị bệnh liệt dương (impotence). Những ngưòi bị bệnh liệt dương nên:

          1. Không hút thuốc.
          2. Kiêng ăn và tập thể dục thường xuyên đễ giữ mức đường thấp.
          3. Tránh uống rượu.
          4. Thuốc như viagra, cialis v.v.

4- BỆNH ẢNH HƯỞNG BÀN CHÂN CỦA BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯỜNG.


Người bị tiểu đường có thể bị bệnh thần kinh ngoại biên. Người bị bệnh thần kinh ngoại biên có thể bị tê chân, cảm giác như bị kim chích. Bệnh thần kinh ngoại biên + bệnh động mạch ngoại biên + dễ bị nhiễm trùng làm cho người bị tiểu đường dễ bị loét chân và bị nhiễm trùng. Trường hợp nặng có thể dẫn tới cưa ngón chân, cưa bàn chân (foot amputation) và cưa chân dưới hay trên đầu gối.

Để tránh những biến chứng kể trên, người bị tiểu đưòng có thể:

   . Thực hành những điều nói trong phần 3.
   . Kiểm tra bàn chân thường xuyên để phát hiện sớm những chỗ loét, chỗ da bị dày, nứt lòng bàn chân do da quá khô hay dầy, móng chân dài. Có thể dùng gương để quan sát lòng bàn chân là nơi rất khó thấy nếu không dùng gương.
   . Năng gặp chuyên viênvề những vấn đề về chân hay bác sĩ.
   Gặp bác sĩ để theo dõi bệnh thần kinh ngoại biên + bệnh động mạch ngoại biên.

Những điều người bị tiểu đường nên làm:

   . Thường xuyên quan sát chân.
   . Nếu da khô, nên dùng kem làm ẩm da (moisturizer).
   . Lau chân khô sau khi tắm, nhất là vùng giữa các ngón chân.
   . Cắt móng chân thẳng và đừng ngắn quá.
   .Tránh mang giày chật, nên mang giày thoải mái cho chân
   . Nếu bị loét hay nhiễm trùng chân, nên gặp bác sĩ càng sớm càng tốt.

Những điều người bị tiểu đường không nên:

   . Hút thuốc
   . Đi chân không
   . Để chân trong nước nóng quá, vì nhiều bệnh nhân tiểu đường không cảm thấy đau khi dẫm lên vật nhọn, bị phỏng hay bị loét lòng bàn chân.

Bác sĩ NCT
Melbourne 08/19

Thứ Năm, 29 tháng 12, 2016

Người Bền Lòng Theo Chân Chúa

(Thánh Chúa giáng sinh nơi máng cỏ nghèo nàn)

Trời trở lạnh thêm và gió nhiều
Giáo đường im bóng nỗi đìu hiu
Núi rừng trầm mặc hồn quê nhớ
Thời khắc Kontum hỡi thoáng chiều

Tôi "đến" Kontum không vì nét đẹp đặc biệt, nằm trong lòng chảo thung lũng sông Đăkbla, nhưng "đến" bởi Người bền lòng theo chân Chúa và trung thành trong ơn gọi thánh hiến. Đó là Linh mục Bác Sĩ Augustinô Nguyễn Viết Chung. Mỗi lần nhắc đến tên Cha, một câu duy nhất " Từ nhà thương đến nhà Chúa", đã lay động con tim của biết bao người.
Đã rất nhiều người vinh danh Cha. Tôi chỉ "theo" chân Cha, đến những nơi Cha đã đồng hành, gần gũi với những người nghèo khổ khốn cùng.


Cha Nguyễn Viết Chung đi thăm các gia đình sống ở miền xa xôi. Sự tận tâm của Cha là tia nắng ấm mang đến, xua tan cái lạnh lẽo khi đông về.





Giáng Sinh, mùa của niềm vui, của yêu thương. Hầu hết trẻ em, đầy ấp quà trong tay. Nhưng những em bé nơi này, đôi tay không ngừng nghỉ, giúp phần nào hoàn tất nhanh chóng việc xây cất, hầu có nơi nương tựa.




Giáng Sinh về, người dân nơi đây chỉ lo cho những con vật được no lòng trước. Có như thế họ mới có cơ may được ấm lòng.

Hình Ảnh: LM. Nguyễn Viết Chung

Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2014