Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2025

EmTự Ngàn Xưa - Thơ; Đinh Hùng - Nhạc: Hoàng Khai Nhan - Song Ca: Ái My & Ngọc Mỹ


Thơ; Đinh Hùng
Nhạc: Hoàng Khai Nhan
Song Ca: Ái My & Ngọc Mỹ

Anh Mơ

 

 

Anh mơ...đến mùa Thu
Sương sa, gió cuốn mịt mù!
Có em...luôn bên cạnh...
Ấm lòng lữ khách viễn du!
Anh mơ...có mùa Thu
Kề vai nhau...chén tạc chén thù
Đường đời...dù muôn vạn nẻo!
Diều nhau ...thoát cảnh âm u!!
Em ơi...suốt đời anh vẫn mơ..
Dù cho tuyết trắng...dáng hững hờ!
Nhưng trong tim...còn hơi ấm...
Cầu xin...chớ đứt giây tơ!
Giấc mơ...nay đã chín mùi...
Gian nan, vất vả...ngược xuôi...
Ông lái đò...quay nhìn sông nước...
Hoàng hôn tím cả...phương trời!
Tạ ơn...đất Mẹ trời Cha
Hương Thu ngây ngất...ngọc ngà...
Lá lìa cành...ấm lòng đất
Chờ Xuân đến...nở ngàn hoa!!


Tô Đình Đài

Tất Cả Đều Là Em

 

Anh ơi, những mùa Đông,
Tuyết rơi trong thành phố,
Tuyết rơi ngoài cánh đồng,
Đường chân trời trắng xóa.

Nhưng anh có biết không,
Dù tuyết nhiều đến thế,
Không thể nhiều bằng em,
Một tâm hồn băng gía.

Những khi em xa anh,
Là bao cơn bão tuyết,
Là bao gío lạnh căm,
Đâu vì mùa Đông đến 

Anh ơi, biển mênh mông,
Sóng lớn và sóng nhỏ,
Đứng trước biển bềnh bồng,
Biển cùng em chia sẻ.

Biển không thể nào cạn,
Sóng không thể nào thôi,
Em tâm hồn lãng mạn,
Là biển sóng cả đời.

Khi đất trời yên tĩnh,
Một ngày không nắng mưa,
Nhưng em lại mong ước,
Anh là mưa nắng về.

Bỗng hôm nào núi lửa,
Giấc trăm năm trở mình,
Bỗng trần gian mở cửa,
Cho em được gặp anh.

Khói bụi và lửa đỏ,
Che một khỏang trời xanh,
Nóng bỏng tình em đó,
Cháy lòng em yêu anh..

Những màu sắc cuộc đời,
Tranh tối và tranh sáng,
Buồn vui một kiếp người,
Sự sống và sự chết.

Đường âm ty chưa đến,
Nhưng có lúc khổ đau,
Em đã thấy mộ huyệt,
Hương khói trong chiêm bao.

Nhớ thương và tuyệt vọng,
Tất cả đều là em,
Anh và em xa lắm,
Giữa hai bờ nhân duyên.

Nguyễn Thị Thanh Dương.

Điển Tích:Lá Thắm


Điển tích “LÁ THẮM” được sử dụng rất nhiều và rất rộng rãi trong văn chương Việt Nam. Phần đầu Truyện Kiều, khi dò la chỗ ở của Thúy Kiều, Kim Trọng đã đụng phải:

Thăm nghiêm kín cổng cao tường,
Cạn dòng LÁ THẮM dứt đường chim xanh!

Lá Thắm là từ Nôm của từ “Hồng Diệp紅葉” là Lá đỏ thắm; mà Hồng Diệp lại là từ nói gọn lại của nhóm từ “Hồng Diệp Đề Thi 紅葉題詩” là “Lá Đỏ Đề Thơ”, hay là “Thơ Bài Lá Đỏ” như trong thơ của Hoàng Sĩ Khải:

Thực nhân tình THƠ BÀI LÁ ĐỎ,
Mạch sầu kia hầu tỏ cùng ai.

lắm lúc lại được nói trại đi thành “Thả Lá Doành Câu” như trong Bích Câu Kỳ Ngộ là :

Trông hoa lặng ngắt giờ lâu,
Ấy ai THẢ LÁ DOÀNH CÂU ghẹo người?!

Hồng Diệp đôi khi còn được nói thành nửa Hán nửa Nôm là “Lá Hồng”, như thơ của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện:

Gớm nơi ngôi bảng duềnh khơi,
LÁ HỒNG bỗng đến chi nơi nổi chìm.

Hồng Diệp còn thường đi chung với Xích Thằng, thành “Hồng Diệp Xích Thằng紅葉赤繩”, như lời của Thúy Kiều nói với Kim Trọng :

Nàng rằng : HỒNG DIỆP Xích Thằng,
Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri!

Và như trong Tây Sương Ký:

Sự đâu nói gió bàn trăng,
Mà nghe HỒNG DIỆP Xích Thằng như chơi!

Hồng Diệp Xích Thằng nói Nôm na thành ra “Lá Thắm Chỉ Hồng”, cũng lời của Thúy Kiều nói với Kim Trọng khi Kim tỏ tình :

Dù cho LÁ THẮM Chỉ Hồng,
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.

Ta thấy, điển tích Lá Thắm được sử dụng hết sức rộng rãi trong văn học cổ Việt Nam ta, và được biến thể rất đa dạng từ Hồng Diệp đến Lá Thắm, Lá Hồng, Hồng Diệp Đề Thi, Thư Bài Lá Đỏ, Hồng Diệp Xích Thằng … Nên muốn hiểu hết, cảm nhận hết ý nghĩa của các câu thơ trên, ta phải tìm hiểu xuất xứ của điển tích này để thấy được hết cái hay, cái ý vị hàm chứa trong các câu thơ đó.

Có 3 xuất xứ cho điển tích LÁ THẮM như sau:

1. Theo THỊ NHI TIỂU DANH LỤC:

Con gái nuôi của tài nhân nhà Phụng Ân Vương đời Đường là Phượng Nhi thường đề thơ trên lá đỏ, rồi thả trên dòng nước từ cung vua trôi ra ngoài. Tiến sĩ Giả Toàn Hư bắt được lá. Quan Kim Ngô tâu việc ấy lên vua. Nhà vua bèn gả Phượng Nhi cho Giả Toàn Hư và phong cho chức Kim Ngô.

2. Theo sách VĂN KHÊ HỮU NGHỊ:

Thư sinh Lư Ốc đi ngang qua ngự câu ( dòng nước chảy từ cung vua ra ngoài ), Ngẫu nhiên vớt được một chiếc lá đỏ trên đó có đề một bài thơ. Ốc nâng niu và cất vào trong tráp. Khi vua Đường thải cung nữ cho đi lấy chồng. Lư Ốc lấy được một cô, lại đúng là người thả chiếc lá kia. Lúc trông thấy chiếc lá đỏ trong trap, người vợ nói :” Khi ấy thiếp chỉ ngẫu nhiên đề thơ, không ngờ chàng lại chính là người đã bắt được !”.

3. Theo THANH TỎA CAO NGHI và THÁI BÌNH QUẢNG KÝ:

Cung nhân Hàn Thị đề một bài thơ trên lá đỏ, thả trên dòng nước từ cung vua trôi ra ngoài. Thư sinh Vu Hựu nhặt được đem cất đi. Hựu lại viết hai câu thơ, rồi đợi nước lớn thả ngược vào trong cung. Hàn Thị bắt được lá cũng cất vào trong rương. Sau vua Đường cho thải ba ngàn cung nhân, Hàn Thị được thải ra và rất tình cờ lấy được Vu Hựu làm chồng. Khi phát hiện ra lá đỏ của nhau, vợ cùng cùng cảm kích mà nói:” Chúng ta phải tạ ơn cho hai người mai mối, chính là hai cái lá đỏ nầy đây “.

Cả ba xuất xứ trên của điển tích Lá Thắm đều có nội dung tương tự như nhau. Nhưng truyền tụng rộng rãi trong dân gian và được mọi người yêu thích nhất là Xuất Xứ Thứ 3 : Truyện của chàng thư sinh Vu Hựu và cung nhân Hàn Thị. Truyện được kể như sau :

Đời vua Đường Hi Tông (874-888). Thiên hạ loạn lạc. Giặc giã nổi lên khắp nơi, vì thế mà kẻ sĩ là những người chân yếu tay mềm đều nhập kinh lánh nạn, một số cũng nhân cơ hội nầy đợi kỳ ứng thí để tìm chút công danh. Trong số đó có chàng nho sinh Vu Hựu.

Sau khi lưu lạc ở đất Trường An, Vu Hựu cũng không tìm được việc làm thích hợp. Chàng hay lang thang đi về những nơi hẻo lánh của chốn kinh thành. Một buổi chiều thu, khi thả bộ bên dòng Ngự câu từ trong cung chảy ra, ngắm những lá phong vàng bị gió thu cuốn rơi lả tả trôi theo dòng nước. Cảm khái với thân phận của mình cũng giống như những chiếc lá vàng kia. Chàng bèn ngồi xuống một tảng đá bên bờ ngự câu mà nhìn lá rơi nước cuốn. Những chiếc lá phong đỏ rực lắp lánh bên dòng nước thu hút sự chú ý của chàng. Chàng chợt thấy thắp thoáng trên một chiếc lá phong ẩn hiện như có dòng chữ viết, bèn vội vả vớt lên xem, thì thấy có bốn câu Ngũ ngôn Tứ tuyệt sau đây :


Lưu thuỷ hà thái cấp ? 流水何太急?
Thâm cung tận nhật nhàn. 深宮盡日閒。
Ân cần tạ hồng diệp, 殷勤謝紅葉,
Hảo khứ đáo nhân gian ! 好去到人間!

Có nghĩa:

Nước chảy sao vội thế?
Trong cung suốt buổi nhàn.
Ân cần nhờ là đỏ,
Đưa đến chốn nhơn gian!

Lời thơ thanh tân mà chất chứa bao nỗi u ẩn ở trong lòng : Nước ơi, sao mà chảy vội vả thế, trong cung cấm ta nhàn rỗi suốt cả ngày, nên mới ân cần nhờ chiếc lá đỏ gởi những dòng tâm sự nầy ra đến cỏi dân gian ! Vu Hựu cảm thương cho người cung nữ tài hoa, nàng đã gọi thế giới bên ngoài là " Nhơn Gian ", thế thì ở trong cung cấm là gì ?" Địa Ngục " sao ?. Chàng cứ ray rức ngẩn ngơ thương cho nàng cung nữa bất hạnh, bèn lên phía thượng lưu của ngự câu, chọn một chiếc lá thật đẹp, rồi thả trở vào cung hai câu thơ thất ngôn sau đây :

Tằng văn diệp thượng đề hồng oán, 曾聞葉上題紅怨
Diệp thượng đề thi ký A thùy ? 葉上題詩寄阿誰?

Có nghĩa:

Từng nghe lá đỏ đề thơ oán,
Lá đỏ đề thơ gởi đếm ai?

Bạn bè biết được sự si tình của Vu Hựu, lại chế giễu chàng bằng hai câu thơ sau :

Quân ân bất cấm đông lưu thủy, 君恩不禁東流水
Lưu xuất cung tình thị thử câu. 流出宮情是此溝.

Có nghĩa:

Vua không ngăn nước về đông,
Thả tình cung cấm theo dòng chảy ra!

Mặc cho bạn bè cười cợt, Vu Hựu vẫn mang chiếc lá về cất kỹ trong rương. Rồi từ đó về sau chàng đi thi mãi mà vẫn không đậu đạt gì cả. Vì cuộc sống khó khăn nên chàng mới xin vào làm gia khách, gia sư cho một qúy nhân ở Hà Trung là Hàn Vĩnh. Hàn rất kính trọng về nhân phẩm và học vấn của Vu Hựu nên đối với chàng rất tốt.

Mười năm sau, trong cung vua thải ra ba ngàn cung nhân, cho về quê lấy chồng sinh sống. Trong số đó có Hàn Thị là em họ của Hàn Vĩnh. Vĩnh biết Hựu chưa lập gia đình nên mới làm mai Hàn Thị cho chàng. Hàn Thị ở trong cung lâu ngày nên cũng tích lũy được một ít tài vật, lại có nhan sắc. Vu Hựu vốn là thư sinh cùng đồ mạt vận, nay bỗng được vợ đẹp lại có của thì còn gì sung sướng cho bằng. Còn Hàn Thị thì ngoài ba mươi mới lấy chồng, nên hết lòng thương yêu chăm sóc cho Vu Hựu. Sau tân hôn họ sống với nhau rất là hạnh phúc.

Một hôm, Hàn Thị sắp xếp lại sách vở cho chồng, bỗng phát hiện ra chiếc lá đỏ có đề thơ của mình được kẹp trong một quyển sách. Nàng rất ngạc nhiên mà hỏi chàng về lai lịch của chiếc lá. Vu Hựu bèn kể lại đầu đuôi câu chuyện ngày xưa. Hàn Thị bèn cho chàng biết đó là bài thơ của mình, đồng thời cũng lấy từ trong trap ra chiếc lá có hai câu thơ của Vu Hựu mà nàng đã vớt được sau đó. Cả hai đều rất kinh ngạc và cảm khái cho duyên số đã an bài. Hàn Thị bèn từ trong trap lấy ra thêm một bài thơ nữa và nói với chồng rằng : “Đây là bài thơ của thiếp làm sau khi vớt được chiếc lá của chàng!”. Vu Hựu bèn đọc bài thơ như sau :

Độc bộ thiên câu ngạn, 獨步天溝岸,
Lâm lưu đắc diệp thì. 臨流得葉時.
Thử tình thùy khả đắc, 此情誰可得,
Trường đoản nhất liên thi ! 腸斷一聯詩 !

Có nghĩa:

Lẻ loi bước giữa dòng câu,
Bên bờ vớt lá nghe sầu mênh mang.
Tình nầy ai thấu can tràng,
Đau lòng cung nữ đôi hàng thơ ai!

Hôm sau, vợ chồng Vu Hựu bèn đem chuyện Lá Đỏ Đề Thơ nói cho Hàn Vĩnh biết. Nghe xong Hàn Vĩnh cả cười, cầm bút lên viết ngay một bài thất ngôn tuyệt cú như sau :

Nhất liên giai cú tùy lưu thủy, 一聯佳句題流水,
Thập tải u tư mãn tố hoài. 十載幽思滿素懷.
Kim nhật khước thành loan phượng hữu, 今日卻成鸞鳳友,
Phương tri hồng diệp thị lương mai. 方知紅葉是良媒.

Có nghĩa:

Đôi câu thơ đẹp chảy theo dòng,
Ấp ủ lòng son suốt chục năm.
May mắn hôm nay loan phụng hợp,
Mới hay lá đỏ chính mai dong!

Sau đó, Hàn Vĩnh còn cho tổ chức một Hồng Diệp Hội ( một Party về Lá Đỏ ) cho hai vợ chồng Vu Hựu và còn công khai chuyện Lá Đỏ Đề Thơ ra ngoài. Các văn nhân thi sĩ ở Trường An lúc bấy giờ hưởng ứng rất đông. Trong số văn thơ xướng họa, nổi tiếng nhất có bài thất ngôn tứ tuyệt của thi sĩ Cố Huống như sau :

Hoa lạc thâm cung oanh diệc bi, 花落深宮鶯亦悲,
Thượng Dương cung nữ đoạn trường thì. 上陽宮女斷腸時。
Quân ân bất bế đông lưu thủy, 君恩不閉東流水,
Diệp thượng đề thi ký dữ thuỳ ? 葉上題詩寄與誰?

Có nghĩa:

Hoa rụng thâm cung oanh cũng sầu,
Thượng Dương cung nữ quặn lòng đau.
Ơn vua không bế dòng lưu thuỷ,
Trên lá đề thơ gởi đến đâu?!

Chẳng bao lâu sau, gặp loạn Hoàng Sào. Đường Hi Tông cùng bá quan văn võ lià bỏ kinh thành chạy loạn vào đất Thục. Vợ chồng Vu Hựu cũng cùng với Hàn Vĩnh theo phò giá. Vì trước kia từng ở trong cung nên rất am tường về nề nếp sinh hoạt của hoàng gia, vì thế Hàn Thị được vua triệu kiến. Nhà vua bèn hỏi nàng về chuyện đề thơ trên lá. Hàn Thị bèn kể lại chuyện mình. Vua lại triệu kiến Vu Hựu. Thấy chàng ăn nói chửng chạc đối đáp lưu loát, có văn tài, bèn cho theo làm tùy tùng bên cạnh vua.

Khi loạn Hoàng Sào được dẹp yên. Vu Hựu vì theo phò giá có công, nên được phong làm Thần Sách Quân Ngu Hầu. Mặc dù quan chức không lớn, nhưng khi trở lại trường an, vợ chồng Vu Hựu nổi tiếng với câu cuyện Lá Đỏ Đề Thơ của mình. Họ sống với nhau trong phú qúy hạnh phúc và mặc dù đã trên ba mươi mới lấy chồng, Hàn Thị vẫn sinh được năm trai hai gái. Đến khi con cái lớn lên thành đạt cả rồi mà câu chuyện Lá Đỏ Đề Thơ vẫn còn được dân gian nhắc mãi.

Tương truyền là Hàn Thị mất trước. Trước lúc lâm chung, bà còn yêu cầu chồng cho chôn chung chiếc lá đỏ với mình. Lá đỏ giờ đã phai màu, nhưng câu chuyện “Hồng Diệp Đề Thi “ của họ vẫn thắm đượm mãi trong dân gian…

Lúc bấy giờ, Thừa Tướng đương triều là Trương Tuấn張濬biết được việc nầy đã cảm khái mà viết nên bài ca sau đây:

Trường an bách vạn hộ, 長安百萬戶,
Ngự thủy nhật đông chú. 御水日東注。
Thủy thượng hữu hồng diệp, 水上有紅葉,
Tử độc đắc giai cú. 子獨得佳句。
Tử phục đề thoát diệp, 子復題脫葉,
Lưu nhập cung trung khứ. 流入宮中去。
Hán cung thiên vạn nhân, 漢宮千萬人,
Diệp quy Hàn Thị xứ. 葉歸韓氏處.
Xuất cung tam thiên nhân, 出宮三千人,
Hàn Thị tịch trung số. 韓氏藉中數。
Hồi thủ tạ quân ân, 回首謝君恩,
Lệ sái yên chi vũ. 淚灑胭脂雨。
Ngụ cư qúy nhân gia, 寓居貴人家,
Phương dữ tử tương ngộ, 方與子相遇。
Thông môi lục lễ cụ, 通媒六禮俱。
Bách tuế vi phu phụ. 百歲為夫婦。
Nhi nữ mãn nhản tiền, 兒女滿眼前,
Thanh tử doanh môn hộ. 青紫盈門戶。
Tư sự tự tiền vô, 茲事自前無,
Khả dĩ truyền thiên cổ ! 可以傳千古!

DIỄN NÔM:

Thành Trường An dân đông bách hộ,
Dòng ngự câu vẫn đổ về đông.
Chảy xuôi lá đỏ theo dòng,
Chàng Vu bắt được bâng khuâng sớm chiều.

Viết đôi câu đánh liều thả ngược,
Trôi vào cung theo nước phản hồi.
Lãnh cung nhan nhản những người,
Lá về Hàn Thị tìm vui cung buồn.

Thải về nguồn ba ngàn cung nữ,
Hàn Thị về vui chữ đoàn viên.
Cúi đầu lạy tạ ơn trên,
Lệ rơi ướt má hết phiền hết lo.

Đem thân trọ nhà anh Hàn Vĩnh,
Gặp chàng Vu định mối lương duyên.
Mối mai sáu lễ đã yên,
Trăm năm chồng vợ phỉ nguyền sánh đôi.

Con đàn cháu đống thảnh thơi,
Nên danh áo tía lộc trời vinh hoa.
Duyên lành LÁ ĐỎ đồn xa,
Lưu danh thiên cổ ai mà chẳng khen!

Sau bài ca nầy, câu chuyện “Hồng Diệp Nhân Duyên “(Nhân duyên nhờ vào lá đỏ) của Vu Hựu và Hàn Thị được loan truyền khắp cả nước và … mãi mãi cho đến ngày nay!

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức
***
ĐIỂN TÍCH “LÁ THẮM VÀ CHỈ HỒNG”
(Bs Phan Thượng Hải)

Trong lương duyên vợ chồng, văn học sử thường dùng 2 điển tích “Lá Thắm và Chỉ Hồng” (Hồng Diệp và Xích Thằng).

* Lá Thắm (Hồng Diệp)

Đời Đường Hy Tông, thư sinh Vu Hựu nhặt được 1 chiếc Lá thắm (lá đỏ) trôi theo dòng nước từ cung vua ra ngoài. Trên chiếc lá đỏ nầy có ghi một bài thơ, có lẽ từ một cung nữ:

Lưu thủy hà thái cấp
Thâm cung tận nhật nhàn
Ân cần tạ hồng diệp*
Hảo khứ đáo nhân gian.

(Trần Trọng San dịch)

Nước chảy sao mà vội
Thâm cung suốt buổi nhàn
Ân cần nhờ lá thắm
Trôi đến tận nhân gian.

Vu Hựu cũng làm 1 bài thơ ghi trên lá đỏ thả theo dòng nước vào cung:

Sầu kiến oanh đề liễu nhứ phi
Thượng dương cung nữ đoạn trường thì
Quân ân bất cấm đông lưu thủy
Diệp thượng đề thi ký dữ thùy?

(Trần Trọng San dịch)

Ngắm liễu nghe oanh thoáng cảm hoài
Cung cấm người đương buổi ngậm ngùi
Nước trôi không xiết tâm tình ấy
Trên lá thơ đề gửi đến ai?

Mười năm sau, Đường Hy Tông cho một số cung nữ xuất cung về sống đời thường dân. Hàn Thúy Tần là 1 trong số cung nữ nầy về ở với quyến thuộc và kết duyên với Vu Hựu. Vu Hựu tình cờ khám phá vợ mình có chiếc lá đỏ đề thơ của mình và nàng cũng là tác giả của bài thơ kia.
Nhờ chiếc lá thắm (hồng diệp) như là cái duyên tiền định của 2 người.
Hàn Thúy Tần sau khi thành gia thất với Vu Hựu có làm thêm bài thơ:

Nhất liên giai cú tùy lưu thủy
Thập tải ưu tư mãn tố hoài
Kim nhật khước thành loan phượng lữ
Phương tri hồng thiệp thị lương mai.

(Trần Trọng San dịch)

Đôi câu thơ thả theo làn nước
Tâm sự mười năm chất chứa đầy
Ngày nay đã kết nên loan phượng
Mới hay lá thắm thuận duyên may.

* Chỉ Hồng (Xích Thằng)

Ngoài câu chuyện và những bài thơ về "Lá thắm", còn có câu chuyện về "Chỉ hồng":

Vi Cố gặp 1 ông già xách cái túi đựng chỉ hồng (xích thằng) và có cuốn sách cho biết có tên Vi Cố sẽ kết duyên (nối chỉ hồng) với 1 cô gái nhỏ tuổi con nhà hàng rau rách rưới. Ông già nầy là Nguyệt lão và cuốn sách nầy là Hôn thư. Vi Cố không tin nhưng quả thật nhiều năm sau đó ông lấy vợ chính là cô gái nầy.

*
Từ đó, văn học Việt Nam có những câu thơ về lương duyên vợ chồng dùng điển cố “Lá thắm và Chỉ hồng”:

Lá hồng ra mối chỉ hồng
Nước bèo kia cũng tương phùng có phen
(Bích Câu Kỳ Ngộ)

Nhận ra trong lá thơ đề
Bút tiên chi để điểm mê lòng phàm
(Bích Câu Kỳ Ngộ)

Ba sinh cho vẹn mười nguyền
Nhờ tay kim tướng đem duyên xích thằng*
(Bích Câu Kỳ Ngộ)

Sinh vừa tựa liễu nương cây
Lá hồng đâu đã thổi bay tới gần
Mắt coi mới tỏ dần dần
Mấy dòng chữ viết ba vần bốn câu
Trông qua lặng ngắt giờ lâu
Ấy ai thả lá doành câu ghẹo người
(Bích Câu Kỳ Ngộ)

Dù khi lá thắm chỉ hồng*
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha
(Đoạn Trường Tân Thanh)

* Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ và Ngọc Hân Công Chúa

Năm 1786, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ của nhà Tây Sơn ra Bắc Hà, đem theo 2 ông Vũ Văn Nhậm và Nguyễn Hữu Chỉnh, tấn công chúa Trịnh.

Ông Nguyễn Huệ sai ông Nguyễn Hữu Chỉnh đi trước theo đường biển vào cửa Đại An của sông Đáy theo sông Nam Định đến sông Hồng rồi chiếm kho lương ở Vị Hoàng (vùng đất có khúc sông nhỏ cùng tên chảy từ sông Hồng vào Nam Định). Biết quân chúa Trịnh chưa kịp phòng thủ, ông Nguyễn Huệ theo đường bộ qua Nghệ Tĩnh và Thanh Hóa đến hội ở Vị Hoàng.

Từ Vị Hoàng, quân Tây Sơn đánh bại bộ binh của ông Bùi Thế Dận ở Đông An (gần Hưng Yên?) và đánh bại thủy quân của ông Đinh Tích Nhưỡng ở góc sông Luộc và sông Hồng. Quân Tây Sơn lại thắng quân của chúa Trịnh Tông (Trịnh Khải) và ông Hoàng Phùng Cơ ở hồ Vạn Xuân (thuộc Thanh Trì, Hà Nội).

Chúa Trịnh Tông chạy về Sơn Tây nhưng bị tên Nguyễn Trang bắt giải về nộp cho Tây Sơn. Chúa Trịnh Tông dùng gươm cắt cổ tự tận. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ cho tống táng chúa Trịnh Tông và vào Thăng Long chầu vua Lê Hiển Tông.

Sau khi cưới Ngọc Hân Công chúa (con Lê Hiển Tông) rồi Hiển Tông mất và cháu nội là Duy Kỳ lên ngôi là vua Lê Chiêu Thống, ông Nguyễn Huệ và Vũ Văn Nhậm về Phú Xuân (Huế) và để ông Nguyễn Hữu Chỉnh giữ Nghệ An.

Người Bắc Hà không thích cuộc hôn nhân nầy giữa ông Nguyễn Huệ và Công chúa Ngọc Hân. Ông Nguyễn Thì Thấu (con của Nguyễn Thế, đã từng là quân sư của Hoàng tử Lê Duy Mật chống lại Chúa Trịnh) có làm bài "Kỹ thuật thời sự", trong đó có những câu thơ nói về Công chúa Ngọc Hân trong hôn nhân nầy:

Ngựa thồ thay mối xích thằng*
Ông Tơ bà Nguyệt dẫu giằng, chẳng ra
Một ngày một vắng quê nhà
Sáng từng từng nhớ, tối tà tà trong.

Bs Phan Thượng Hả biên soạn

Tài Liệu Tham Khảo (trong phanthuonghai.com)

1) Điển Cố Từ Thơ (Bs Phan Thượng Hải)
2) Thơ và Sử Việt - Nhà Nguyễn (Bs Phan Thượng Hải)

 

Thứ Sáu, 16 tháng 5, 2025

Tình Vào Thu - Nhạc & Lời: Nguyễn Tâm Hàn - Tiếng Hát: Ngọc Quy


Nhạc & Lời: Nguyễn Tâm Hàn
Tiếng Hát: Ngọc Quy
Thực Hiện: Đặng Hùng

Thu Ca - Điệu Ru Cô Đơn

(Cảm xúc từ tiếng hát Thái Thanh
* Lời nhạc của Nhạc Sĩ Phạm Duy)

Mùa thu nức nở tiếng thở dài *
Vỹ cầm vang vọng khúc Thu Ca
Ngồi đây tưởng nhớ ngày xưa cũ
Ấp ủ những gì của chúng ta

Tiếng lá lao xao hay tiếng lòng
Trời ơi không! Điệu Ru Cô Đơn
Như hờn oán trách mùa thu đã
Ngập lá vàng rơi lấp mộ chôn

Chôn hết cả thời ta có nhau
Còn đây mỗi một vết thương sâu
Còn đây chiếc lá thu vàng úa
Chạnh mối u hoài lá chết khô

Lòng ta khốn khổ với mỏi mòn *

Kim Phượng

Với Bạn Đời

Giữa đất trời mênh mông
Nơi trần thế đục trong
Lợi danh luôn cám dỗ
Ân nghĩa dễ oằn cong
Khi dạ bền son sắc
Anh luôn vẹn chữ đồng
Với em tình mãi thế
Nghịch cảnh chẳng thay lòng.

Quên Đi


Chúc Anh Đài Cận 祝英台近 - Tân Khí Tật 辛棄疾


晚春 Vãn xuân

寶釵分, Bảo thoa phân,
桃葉渡, Đào Diệp độ,
煙柳暗南浦。 Yên liễu ám nam phố.
怕上層樓, Phạ thướng tằng lâu,
十日九風雨。 Thập nhật cửu phong vũ.
斷腸片片飛紅, Đoạn trường phiến phiến phi hồng,
都無人管, Đô vô nhân quản,
更誰勸、啼鶯聲住?Cánh thùy khuyến, đề oanh thanh trú.

鬢邊覷, Mấn biên thứ,
試把花卜歸期, Thí bả hoa bốc quy kỳ,
才簪又重數。 Tài trâm hựu trùng sổ.
羅帳燈昏, La trướng đăng hôn,
哽咽夢中語。 Ngạnh yết mộng trung ngữ.
是他春帶愁來, Thị tha xuân đái sầu lai,
春歸何處? Xuân quy hà xứ?
卻不解、帶將愁去。Khước bất giải, đái tương sầu khứ.

Chú Thích

1- Chúc anh đài cận祝英台近: tên từ bài, tên khác là Bảo thoa phân寶釵分. Bài này có 77 chữ, đoạn trước có 8 câu với 4 trắc vận, đoạn sau có 8 câu với 5 trắc vận. Cách luât:

T B B cú
B T T vận
B T T B T vận
X T B B cú
X T T B T vận
X B X T B B cú
X B X T cú
T X T, X B B T vận

T B T vận
X X B T B B cú
X B T B T vận
X T B B cú
X X T B T vận
X B X T B B cú
X B X T vận
T X T, X B B T vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần

2- Bảo thoa phân 寶釵分: cái thoa quý chia đôi. Thời Nam Tống thịnh hành tập quán là khi vợ chồng phân ly thì bẻ thoa tặng nhau. Ngoài ra thành ngữ “Phân thoa phá kính 分釵破鏡” có ý nói vợ chồng thôi nhau, ly dị nhau.

3- Đào Diệp độ 桃葉渡: Bến sông Đào Diệp, nay tại Nam Kinh, chỗ sông Tần Hoài 秦淮 và sông Thanh Khê 青溪 hợp lưu. Khi xưa vào đời Tấn 晉, Vương Hiến Chi 王獻之 đưa đón người ái thiếp tên là Đào Diệp 桃葉. Vương Hiến Chi là con của nhà thư họa Vương Nghĩa Chi 王羲之, lừng danh lúc bấy giờ. Trong bài này chữ Đào Diệp độ chỉ nơi 2 người nam và nữ đưa tiễn nhau.

4- Nam phố 南浦: phiếm chỉ nơi đưa tiễn.

5- Tằng lâu 層樓: lầu cao.

6- Đoạn trường 斷腸: hình dung buồn bã cực độ.

7- Phi hồng 飛紅: hoa rụng bay trong gió.

8- Đề oanh 啼鶯: chim oanh hót.

9- Mấn biên thứ 鬢邊覷: liếc mắt nhìn mái tóc mai.

10- Bả hoa bốc quy kỳ 把花卜歸期: đếm số cánh hoa để bói ngày chồng hay tình nhân về (không ai còn biết cách bói như thế nào).

11- Trâm 簪: cái trâm cài tóc, ở đây có nghĩa là cài cái trâm lên mái tóc.

12- Trùng sổ 重數: đếm lại (số cánh hoa để bói) (Tâm tình bất định, mới đếm đã quên).

13- La trướng 羅帳: màn lụa quanh giường.

14- Hôn 昏: hôn ám, mờ tối.

15- Ngạnh yết 哽咽: nghẹn ngào nức nở.

16- Mộng trung ngữ 夢中語: lời nói trong lúc ngủ mê.

17- Đái 帶: mang, đem.

18- Khước 卻: lại.

19- Ba câu cuối: lời nói trong lúc ngủ mê của người phụ nữ nhớ chồng. Lấy ý từ bài từ “Thước kiều tiên 鵲橋仙” của Triệu Ngạn Đoan 趙彥端:

“春愁元自逐春來,Xuân sầu nguyên tự trục xuân lai,
“卻不肯、隨春歸去。Khước bất khửng, tùy xuân quy khứ.

“Cái buồn xuân nguyên tự theo mùa xuân mà đến,
“Lại không chịu, theo mùa xuân mà đi.”


Dịch Nghĩa

Xuân muộn

Chia đôi bảo thoa rồi phân ly,
Tại nơi bến Đào Diệp,
Khói sương, khóm liễu làm u ám.
(Tôi) Sợ đi lên lầu cao,
(Thời tiết cứ) Mười ngày thì chín ngày mưa gió.
Buồn bã nhìn cánh hoa từng phiến bay bay,
Không một ai quản,
Lại có ai (vô công đi) khuyên, chim oanh đừng kêu.

 
Liếc nhìn chòm tóc mai (có bông hoa trên cái trâm),
Thử đem (số cánh) hoa bói xem ngày (chàng) về.
Vừa cài (bông hoa trên tóc) xong lại (gỡ ra để) đếm lại (số cánh hoa).
Ánh đèn mờ ám (chiếu tôi cô đơn với) trướng màn lụa,
Trong mộng nói mê nghẹn ngào,
Đó là xuân đem sầu đến,
Xuân đi về đâu?
Lại không biết đem cái sầu đi theo.

Phỏng Dịch

1 Chúc Anh Đài Cận - Sầu Chia Phôi

Bảo thoa chia,
Đào Diệp độ.
Sương phủ liễu nam phố.
Sợ bước lên lầu,
Mười buổi chín mưa gió.
Đau lòng tan tác hồng bay,
Không ai thương tiếc,
Lại ai nữa, khuyên oanh im hộ.

Tóc mai ngó.
Thử đem hoa bói ngày về,
Đếm rồi lại xem nữa.
Màn trướng đèn mờ,
Trong mê nghẹn lời mớ.
Chính xuân mang cái sầu theo,
Rồi về đâu đó?
Lại chẳng biết, đem sầu chuyên chở.

2 Sầu Chia Phôi

Bảo thoa chia, bến lá đào,
Khói sương liễu rủ dạt dào bờ nam.
Lầu cao dạo bước không kham,
Mười ngày thơ thẩn mưa dầm chín hôm.
Hoa xuân từng phiến bay hồng,
Quản chi hoa rụng tấc lòng triền miên.
Chim oanh than vãn ai khuyên,
Liếc trông mái tóc ưu phiền lê thê.
Thử xem hoa, đoán ngày về,
Cây trâm cài tóc ê chề mấy phen.
Trướng màn mờ ảo ngọn đèn,
Lời mê trong mộng nỗi niềm tình thơ
Xuân đem sầu nhớ người mơ,
Nơi nào xuân đến? Hững hờ xuân đi.
Hãy mang theo mọi sầu bi.

HHD 11-2021
***
Xuân muộn

1-

Thoa quý chia
Đào Diệp đó
Khói liễu che Nam phố
Sợ lên lầu cao
Mười ngày, chín mưa gió
Đoạn trường phiến phiến hoa bay
Thảy không ai quản
Có ai khuyên oanh ngưng kêu rộ?

Tóc mai ngó
Thử cầm hoa bói ngày về
Mới cài đếm lại gỡ
Màn lụa, đèn mờ
Trong mơ, nghẹn nức nở
Mang sầu đến, chính là xuân
Xuân về đâu đó?
Lại chối từ mang sầu đi hộ!

2-

Bến Đào Diệp chia thoa ngày đó
Khói liễu che Nam phố, sợ lầu
Mười ngày, chín gió mưa sầu
Đoạn trường từng phiến hoa đâu bay về
Chẳng ai quản, nỗi ê chề
Khuyên oanh ngưng hót tiếng nghe não lòng!
Liếc tóc mai, cánh hồng, bói thử
Mới vừa cài lại gỡ xuống ngay
Đèn mờ, màn lụa gió lay
Trong mơ nức nở tỏ bày oán ân
Mang sầu đến, chính là xuân
Về đâu? xuân chối mang phần sầu đi!

Lộc Bắc


Thứ Năm, 15 tháng 5, 2025

Anh Không Còn Yêu Em - Sáng Tác: Vũ Lương Đúng - Ca Sĩ: Tú Mary



Sáng Tác: Vũ Lương Đúng
Ca Sĩ: Tú Mary

Quán Cũ



(Tặng T.tháng tư ngày gặp lại)

Ta gặp nhau chiều hơi nắng cũ
Ngày gió xuôi tay lá cúi đầu
Quán nghiêng một góc đời dâu bể
Không bóng chim về kêu nhớ nhau
Ngồi đây nghe tiếng ngàn sông lạnh
Nước đi còn tiếc mộng chưa đầy
Đêm ta đợi chuyến phà qua bắc
Gió tạt buồn theo khăn trắng ai
Ngồi đây mưa ướt chân ngày tháng
Lòng ẩm,thềm rêu, quán khách thưa
Không mắt em cười xanh áo trận
Đã níu người đi bạt mấy mùa

Ta gặp nhau chiều lạc quán xưa
Tháng Tư làm rớt lại cơn mưa
Buồn như ma bắt hồn trai trẻ
Nghe máu xương tràn chén rượu đưa
Bắt tay còn thiếu hơi bè bạn
Sờ ấm vong linh tấm thẻ bài
Chết chưa đời lính bao năm trước
Còn nợ người đi chén rượu cay…

Lâm Hảo Khôi


Thì Đã Nhủ Rằng


Thì đã nhủ rằng đừng ráng yêu 

Mà tin to nhỏ những mỹ miều 

Mà nhìn đăm đắm mùi hàng hiệu 

Mà tín ai kia bởi dáng kiều


Thì đã nhủ rằng đừng ráng yêu 

Mà than gió lạnh ngả ngớn chiều 

Mà vin nắng nhạt chao ôi điệu 

Mà vịn mây buồn lững lững phiêu.


Thì đã nhủ rằng đừng ráng yêu 

Mà sao khóe mắt lệ cứ nhiều 

Mà sao thổn thức từng ngữ điệu 

Mà dáng đổ dài bóng xiêu xiêu.


Làng Đá, 03 giờ 35 - 09/04/2023

Đặng Xuân Xuyến



Hy Vọng Con Về Không Quá Muộn


Ông nghe có tiếng chuông gọi cửa, muốn nhờ bà vợ ra cửa xem ai đến, vì ông đang lỡ ngồi sắp xếp lại mấy quyển sách, nhưng nhìn tới nhìn lui thấy vắng bóng bà, ông uể oải đứng dậy từ từ ra phía cửa.
Cánh cửa được mở toang, sự ngạc nhiên đến tận cùng làm ông muốn ngã quị xuống. Trước mặt ông, một người đàn ông trung niên, tuy ốm, nhưng có vẻ rắn chắc với hàm râu lởm chởm nơi cằm, đang có vẻ hồi hộp như chờ đợi ông mở lời để được bước vô nhà, nhưng ông thì cứ đứng sững và không nói được tiếng nào. Cuối cùng thì chính người đàn ông lên tiếng dè dặt sau khi để cái túi xách trên vai xuống:
-Ba cho con vô nhà nghen ba!.
Ông giựt mình và đứng né sang một bên nhưng đầu óc vẫn còn ở đâu đâu, ông ấp a ấp úng:
-Vô! vô đi con, con về…?
Ông bỏ lửng câu nói trong khi người đàn ông lách mình bước vào phòng khách, Anh nhìn quanh quất như muốn tìm kiếm một điều thân quen nào đó trong căn nhà xa lạ này.
Ông bước theo sau người đàn ông với vẻ lảo đảo, những giọt nước mắt mừng vui đang cấu thành trong đôi mắt già của ông, ông muốn đến thật gần người đàn ông và ôm anh ta vào lòng thật chặt, ông ôm giọt máu của chính mình sau bao nhiêu năm dài ông rất muốn mà chưa bao giờ có cơ hội, nhưng rồi ông đến gần và chỉ vào cái ghế :
-Con ngồi xuống nghỉ đi, con ..,con.., con có mệt không? sao con về mà không báo cho ba má biết?
Cố gắng lắm ông mới hỏi một câu thật dài và chờ đợi câu trả lời từ ngưòi đàn ông trẻ
-Con muốn cho ba má sự ngạc nhiên, vả lại ở đó sáng nay người ta mới đọc tên con cho về trong đợt ân xá nhân ngày lễ Giáng Sinh…
-Ba mừng quá, cuối cùng thì ngày tháng ba má chờ đợi cũng đã tới, Cảm tạ ơn Chúa cho con về với gia đình.
Người đàn ông trẻ lên tiếng hỏi:
-Má đâu? hồi nãy giờ con ngóng tìm mà không thấy?
Ông quay vào trong gọi lớn:
-Mình ơi mình, ra đây xem ai về đây nè.
Có tiếng dép từ từ đi ra và có tiếng đàn bà:
-Có khách nào đến mà mình réo dữ vậy?
Nhưng khi bà bước đến gần cái ghế sopha, và nhìn thấy người đàn ông trẻ vừa đứng dậy khiến bà từ từ khuỵu xuống:
-Má! Má ! Má có sao không?
-Mình! Mình có sao không? Những tiếng hỏi hốt hoảng lo lắng từ hai người đàn ông giúp bà thở mạnh ra và gượng đứng dậy theo cánh tay rắn chắc của người đàn ông trẻ.
-Sao con về mà không báo tin cho ba má biết để đi đón con? Bà cũng lập lại câu hỏi của người chồng lúc sớm.
-Họ cho con về bất thình lình, nên không cho mình biết trước. Con theo xe họ đưa về thành phố rồi lấy taxi về nhà sớm cho ba má ...mừng.
Chữ mừng người đàn ông bỏ nhỏ, như có điều gì e ngại.
Bây giờ người đàn bà mới đến gần người đàn ông trẻ và bà sờ mó khắp người, hai tay bà ôm vòng người đàn ông trẻ mà nước mắt đoanh tròng, bà vuốt ve trìu mến, xoa xoa mái tóc ngắn cũn cỡn trên đầu rồi xiết thật mạnh, người đàn ông trẻ cứ thút thít mà không khóc thành tiếng, trong khi ông già thì cứ xuýt xoa:
-Ba cảm tạ ơn Chúa, cuối cùng thì con cũng được về nhà.
Người đàn bà buông người đàn ông trẻ và nắm tay dắt đi:
-Đi con! Con vô tắm rửa cho sạch sẽ đi, để má …vô bếp kiếm cái gì cho con ăn, chắc con đói rồi. Con có…quần áo gì không? Ba má không biết con về nên chưa đi sắm sửa…Hay con lấy quần áo của ba mặc đỡ nhen. Bà nói một hơi không cho người được hỏi có cơ hội trả lời.
Xoay qua ông chồng bà cầu cứu:
-Mình đi lấy cho con bộ đồ nào mặc trong nhà cho nó thay, cho nó thoải mái một chút.
-Dạ con chưa đói lắm, Ba khỏi lấy đồ, con cũng có đem về bộ quần áo mà ba má đã đem vào cho con lần trước lên thăm đó, trong đó con đâu có mặc quần áo thường……
Trong khi người đàn bà dắt con trai đi vào nhà trong, ông ngồi thừ người ra ghế sopha và bao nhiêu hình ảnh cứ hiện ra mồn một trước mắt.
***
Tiếng máy tiện chạy ầm ầm nhưng ông vẫn nghe được tiếng nói của người leader:
-Anh lên văn phòng đi, có tin khẩn gì từ ty cảnh sát báo cho anh đó.
-Chú nói gì? Cái gì mà có ty cảnh sát trỏng? tui đâu có …uống rượu lái xe ẩu hồi nào..?
-Ai mà biết, thằng Sherman nó bảo em đi gọi anh lên nhận tin chứ em đâu có biết gì.
-Đùa với chú mày thôi. Ông vừa nói và cũng vừa kéo tắt nguồn máy đang chạy rồi xếp lại mấy dụng cụ cho gọn gàng và gửi lời cảm ơn người đã báo tin cho ông biết.
Đường lên văn phòng phải qua hai khu vực nhà máy, rồi đi qua một dãy hành lang dài của bộ phận lấp ráp, cuối cùng mới đến văn phòng chính của hãng.
Thấy ông bước vào, Bà trưởng phòng Cindy người Mỹ trắng, niềm nỡ chào hỏi và mời ông ngồi.
Như có điều gì bất ổn, ông có linh cảm như vậy khi thấy bà suýt xoa chấp hít vài tiếng trước khi từ tốn nói với ông:
-Tôi rất lấy làm tiếc mà phải cho Tom (tên VN là Thân, nhưng trong hãng họ gọi Tom cho dễ) biết tin này, tin từ ty cảnh sát mới gọi đến. Ngừng một lát bà mới tiếp:
-Thành thật chia buồn với Tom và gia đình, tôi…, Bà ngập ngừng rồi nuốt nước bọt như để lấy thêm can đảm và ngồi thẳng người lên nhìn vào ông mà chậm rãi từng tiếng:
-Con trai của Tom vừa bị cảnh sát vào trường bắt đi, vì tình nghi liên can tới một vụ…gì đó. Bà Cindy cố làm nhẹ vụ việc dù bà được cảnh sát báo trực tiếp cho biết là con ông đã liên can đến một vụ “cướp của giết người”, nên họ mới đến tận trường học mà bắt rồi còng tay dẫn đi.
Như sét đánh ngang tai, ông chồm tới trước và lắp bắp hỏi lại :
-Bà nói sao? Con trai tôi vừa bị cảnh sát vào trường học bắt đi, nhưng họ có nói nó có tội gì không?
Bà Cindy ngập ngừng thương cảm người nhân viên hiền lành đang ngồi trước mặt, mà đang rơi vào hoàn cảnh khó khăn nghiệt ngã.
Bà ân cần nhỏ nhẹ:
-Chuyện đâu rồi còn có đó, tôi khuyên Tom hãy nhờ luật sư can thiệp cho cháu, Cháu đang tuổi vị thành niên, có sai lầm gì rồi cũng có thể cải huấn được.
Bà nói rồi đứng lên lại gần và vỗ nhẹ lên vai ông.
-Tom thu xếp về nhà sớm đi, báo tin cho người nhà biết mà còn lo liệu cho cháu, chúc Tom và gia đình vượt qua cơn khủng hoảng này. God bless you!
Ông đứng dậy, cảm ơn Bà Cindy và lảo đảo bước đi như người say rượu với bao nhiêu thắc mắc đang chạy lung tung trong đầu của ông. Thằng Davis bị tội gì? Nó đang đi học mà sao cảnh sát lại vào trường bắt dẫn đi? Nó ở nhà hiền lành lắm mà, nó đã chơi với những bạn bè nào thì ông cũng đã từng biết, nhưng nó gây sự với ai? Bao giờ? mà sao vợ chồng ông không hề hay biết…? hay là vợ ông biết mà dấu nhẹm không cho ông hay…?

Những người bạn làm cùng phòng thấy ông trở về với vẻ mặt thất thần, buồn bã, họ muốn hỏi đã xảy ra điều gì cho ông, nhưng thấy ông cứ cúi đầu im lặng và dọn dẹp đồ nghề rồi lẳng lặng ra về, nên họ cũng lảng xa và ai về chỗ nấy mà chưa có lời hỏi han hay có lời an ủi đến với ông.
Và con ông đã vào tù khi tuổi vừa mười tám. Bị kêu án “chung thân”. Tội con ông quá nặng, dù lúc xảy ra án mạng, con ông chỉ là “đồng phạm” đang còn tuổi vị thành niên.

Trại tù nằm rất xa thành phố. Nhưng đã mấy chục năm trôi qua, vợ chồng ông cũng đã lặn lội đến thăm vào những ngày chủ nhật. Nhìn con ông lớn dần trong tù, ông đau xé ruột gan. Nhiều lần ông tự hỏi chính mình tại sao con ông ra nông nỗi? Ông bà đem con vượt thoát trong những ngày đau buồn của cả nước, khi con ông vừa mới lên ba tuổi. Những ngày đó ông phải trực bay trong đơn vị, vợ ông ẵm đứa con đầu lòng theo đoàn người di tản ra Côn đảo, và ngày cuối cùng khi Tổng thống Dưong Văn Minh đầu hàng giặc, vợ ông đã rất cực nhọc ẵm thằng con trai ba tuổi lội bì bõm vượt lên những cơn sóng bạc đầu, cố leo lên con tàu buôn há mồm đang ra tay cứu giúp những con người, đa số là đàn bà và con trẻ đang kẹt cứng trên vùng đất côn đảo này. Và may mắn gia đình ông được ‘đoàn tụ” ngay trên đệ thất hạm đội, rồi được sang đảo Guam.

Sau mấy tháng trong trại Fort Chaffe, vợ chồng ông được bảo trợ về tiểu bang miền Nam nắng ấm. Tại đây vợ chồng ông cũng gắng sức đi làm để cho con có những gì chúng cần trong cuộc sống mới. Rồi gia đình ông cũng thêm người, cuối cùng thì bốn đứa con có trai có gái, bạn bè nói gia đình ông có phúc, và thằng Davis là đứa con lớn nhất đang còn năm cuối là vào đại học rồi. Ông cố gắng chăm lo cho mấy đứa con thật đầy đủ từ tinh thần đến vật chất trong điều kiện có thể. Cuối tuần ông cũng chất cả gia đình lên chiếc xe van rồi chở đi chỗ nọ chỗ kia, hay đi xem hát xiệc, movie nếu không phải làm overtime.

Nhưng khổ nỗi, đám con ông thì càng ngày càng lớn, nhiều lúc chỉ muốn đi chơi riêng với bạn bè chứ không muốn gần cha mẹ, nhất là thằng con lớn Davis, nó chưa có bạn gái nhưng bạn bè cùng cỡ thì nhiều, có lúc ông gặp bọn nó đến nhà chơi, mấy đứa nhỏ mới nhìn qua cũng thấy hiền lành, nên ông tin tưởng vào con mình cũng ngoan ngoãn như ông nghĩ. Có đôi lần vợ ông nói hớ rằng con ông chơi với đám bạn biết hút thuốc và xài đồ hiệu, bà biết nhưng cứ nghĩ… không sao, vì bà là chủ tiệm rượu có tiền, cứ cho nó là xong, vì đối với bà, tiền là trên hết. Và nó, thỉnh thoảng bà cũng thấy nó có nhiều tiền, có lần bà tò mò hỏi nó tiền ở đâu con có? Nó cứ cười cười và nói nó làm thêm và bà tin điều nó nói. Lần đó, khi ông biết bà giấu ông về chuyện bà cứ cho con tiền để nó xài hoang phí, ông giận bà một thời gian, nhưng rồi tình nghĩa vợ chồng khi bà khóc lóc năn nỉ, ông đành bỏ qua.

Nhưng rồi con ông đã sa ngã và đi vào tù tội, dù ông đã cố gắng nhờ luật sư can thiệp, nhưng tội rành rành “cướp của giết người” có nhân chứng, làm sao thoát khỏi cảnh tù tội được.
Để rồi mỗi lần vào nhà tù thăm con, hình như con trai ông không mặn mà gì với mẹ nó.

***
Và hôm nay một người đàn ông trung niên đã về ngồi đây, nỗi mừng vui của ông bùng vỡ. Con ông đã thoát hẳn cảnh tù tội, dù đã mấy mươi năm rồi còn gì? Nhờ những ngày trong tù, con ông biết...tu tỉnh học hành, cũng lấy được tấm bằng luật sư, và biết giúp đỡ những bạn tù, nói chung là một tù nhân gương mẫu nên được giảm án. Rồi nó sẽ sống ở đây với ông bà, ông bà sẽ chăm lo đời sống cho khoảng đời còn lại của nó, thay vì nó lo cho ông bà lúc về già, và nó sẽ tìm việc để làm, và biết đâu ông sẽ đi tìm và cưới vợ cho nó nữa.

Bà làm một bữa tiệc rất thịnh soạn để chào mừng ngày con trai lớn trở về đoàn tụ với gia đình. Đáng lẽ đi ra nhà hàng, nhưng ông bảo ở nhà ấm cúng hơn, mấy đứa con khác của ông cũng muốn như vậy, khi chúng về lại thành phố này..
Người đầu tiên đến là con Jennice và chồng, chúng nó đem đến cho anh nó một lô quần áo hàng hiệu, thằng Davis cầm túi đồ mà rưng rưng nước mắt, nó nghĩ em nó cũng thương nó nhiều lắm nên đã bỏ công đi sắm sửa quần áo cho nó.

Bác sĩ Henry và vợ vừa vào cửa là hỏi đủ chuyện về anh nó, về hồi nào? cuộc sống ra sao? Có học được một ngành nghề gì lúc còn ở trong tù không? (dù Ba nó thỉnh thoảng cũng cho nó biết sơ sơ). Rồi tương lai anh có dự định làm gì? một lô câu hỏi dồn dập khiến Davis không biết trả lời câu nào trước câu nào sau đành im tiếng, nhưng có một nỗi buồn thoáng qua, dù được Henry tặng cho một máy computer mới toanh. .

Người cuối cùng là con Brenda. Nó đến với hai đứa con cũng đã lớn bộn, vì tụi nó ở gần, nó bảo chồng nó bận đi làm overtime nên không đến được, nó có mua quà cho anh nó một cái Iphone mới nhất, và trao ngay cho Davis mà không cần biết anh nó có muốn nhận hay không?

Cuộc trùng phùng vui vẻ trong một không gian ấm cúng của gia đình, đã cho ông một niềm vui không kể xiết. Ông ngồi nhìn anh em chúng nó nói chuyện thăm hỏi nhau như chưa có một lần chia cách khiến ông mừng quá đỗi. Phải vậy chứ, dù gì thì Davis vẫn là thằng con lớn nhất trong nhà, dù thằng Henry có là bác sĩ, dù con Jennice có giàu tiền muôn bạc triệu với cái nghề buôn bán nhà cửa và có cái shopping riêng, dù con Brenda có hai ba tiệm nail, thì chúng nó vẫn là em của Davis, vẫn phải nể mặt anh nó theo thứ tự trong gia đình.

Thằng Davis được ông bà cho chiếc xe cũ, dù đó là chiếc Lexus mà bà thích nhất, được mua từ lúc bà bán tiệm, nghỉ làm, để hai ông bà đi du lịch đó đây cho rộng rãi, thoải mái, chứ ông vẫn lái chiếc xe cũ hằng ngày. Ông bà cũng đi mở cho thằng con một account ngân hàng cho nó có tiền đổ xăng và xài vặt.

Bữa cả nhà ông ngồi lại để bàn và hoạch định tương lai cho thằng Davis, con Jennice và Henry chẳng biết góp ý như thế nào, dù anh nó có cho biết là trong tù cũng có học thêm và có bằng luật, dĩ nhiên tiếng Mỹ thì nó rành quá rồi, vì coi như là ngôn ngữ chính của nó mà, từ trường học hồi trước và cả trong tù đều dùng tiếng Mỹ nên không còn trở ngại gì trong cuộc sống, và tiếng Việt nó cũng rất khá, tuy giọng nói có hơi cứng một chút, vì được học từ một người bạn lớn tuổi trong tù, ông nguyên là một thầy giáo hồi còn bên nhà, nhưng bị tội “giết vợ” nên ở tù chắc không có ngày ra.

Cuối cùng nghe con Brenda bảo anh nó đi học làm…nail tạm thời, và cố gắng đi thi để lấy cái bằng, rồi vào tiệm của nó mà làm, vì công việc có sẵn mà coi bộ nhẹ nhàng hơn là đi làm công ty hay hãng xưởng, với lại tiệm của nó làm chủ thì anh nó cũng được đối xử đàng hoàng hơn là đi làm bên ngoài, với lý lịch từng ở tù vì tội hình sự mới được thả ra, người ta sẽ nhìn với đôi mắt không được thiện cảm.

Ông bà ngồi nhìn các con sắp xếp và bàn định tương lai cho đứa con trai lớn đâu vào đó, thấy mừng rỡ trong lòng. Ít ra gần cuối đời, gia đình không còn cảnh ly tán nữa, rồi đây ông bà sẽ tìm mối mai để tìm vợ cho Davis, nếu đến cùng mà không có cô gái nào ở Mỹ, ông bà sẽ đưa nó về…Việt Nam, vì bạn bè ông bà cũng còn nhiều bên đó, nhờ họ tìm dùm một cô gái để cưới cho con chắc cũng không khó khăn gì, vì con gái bên nhà bây giờ, người nào cũng muốn sang Mỹ mà. Bạn bè của ông cũng đã có nhiều đám cưới vợ từ VN vậy, có người hên gặp cô con dâu tốt, biết tình nghĩa, ăn ở phải đạo với chồng và gia đình chồng, nhưng cũng có cô sang được Mỹ rồi là bắt đầu tung tăng bay nhảy và…nhảy luôn ra khỏi gia đình nhà chồng mà không lời từ giã. Nhưng đó là phước đức của mỗi gia đình, hy vọng con ông sẽ gặp nhiều may mắn hơn trong cuộc đời còn lại.

Ông lắc lắc cái đầu, vì mình đã nghĩ quá xa về cuộc sống hiện tại của đứa con trai lớn, trong khi chưa biết nó quyết định thế nào.

Thằng Davis nãy giờ ngồi im lặng lắng nghe các em của nó góp ý và lên kế hoạch tương lai của đời nó, nó cảm động rơm rớm nước mắt, nó không ngờ ngày trở về của nó lại ấm cúng thế này. Những ngày còn trong tù, nó sống cho qua ngày tháng với những bạn bè đồng cảnh ngộ với nó, cũng có một số người Việt Nam, tụi nó…hung tợn lắm, xâm tay xâm khắp mình mẩy, mới nhìn đã thấy ớn lạnh. Tụi nó mỗi lần nói chuyện là văng tục, vì chúng bất cần đờì, có đứa còn không muốn ra ngoài, vì bọn nó không còn gia đình nên sợ ra tù làm sao mà sống nổi. Nhưng cũng có nhiều đứa hiền lành, qua một thời gian dài bị…hành hạ cực khổ của đời sống người tù, đã thuần thục và rất biết điều, chỉ sống chờ ngày trở về đời sống hiền lương, chính trực.

Ông ngồi nhìn con và cố đọc suy nghĩ của nó, ông biết nó rất tủi thân khi trở về, phải…thua xa em út, tuy mỗi lần ông bà đi thăm, vẫn cho nó biết các em nó sống ra sao. Nhưng khi gặp thực tế, nó sẽ có sự so sánh và rồi sinh ra tự ti mặc cảm, bất mãn rồi buông xuôi, đó là điều ông lo sợ mà không dám tỏ bày với ai.
***
Thằng Davis đi đến tiệm của con Brenda thử việc được mấy bữa, nhưng rồi bữa nay nó về sớm với nét mặt buồn buồn. Ông vặn hỏi nó mãi, nó mới tâm sự rằng nơi đó không hợp với nó, rằng chỗ đó nhiều đàn bà và họ cũng nhiều chuyện nữa. Họ không tế nhị như nó nghĩ, mà họ ăn nói bạt mạng, họ tò mò về đời tư của nó, họ nói bóng nói gió sau lưng rồi cưòi cợt làm nó vô cùng khó chịu, nên nó …không muốn tập tành làm ở đó nữa nên bỏ về sớm.

Bữa cơm chiều nay có món cá chiên dầm nước mắm gừng mà nó rất thích từ lúc xưa còn ở nhà, với nồi canh rau thập tàng nấu tôm tươi chung với mấy trái mướp sau vườn, bữa cơm đơn sơ nhưng thằng Davis coi bộ thích lắm, nó ăn nhiều thật nhiều như chưa bao giờ được ăn, bà vợ ông cứ ép cho nó ăn thêm. Nói chung vợ chồng ông cố gắng hết sức để cho thằng con đỡ thấy tủi thân, không cảm thấy cô đơn, tẻ lạnh khi trở về nhà.

Bữa cơm chưa xong thì có tiếng gọi cửa, ông thư thả ra mở cửa trong khi con Brenda ào vào nhà và la toáng lên:
-Anh làm gì mà giận dỗi bỏ về vậy? Mấy đứa nó hỏi đùa một chút có chết ai đâu?
-Nhưng anh không thích họ đùa cợt như vậy?
-Làm tàng vừa thôi, anh mới ở tù về thì tụi nó tò mò hỏi cảnh trong tù thôi, chứ có làm gì đâu?
-Nhưng anh…

Thằng Davis bỏ lửng câu nói, ngồi im, trong khi con Brenda lên giọng người chủ tiệm làm thầy đời với anh nó, nó kể tội anh nó… làm tàng, nào là mới ở tù ra mà làm bộ nghiêm trang, đứng đắn, tụi nó hỏi trong tù đã có bồ bịch gì không mà cũng khó chịu? nào là có bằng luật sư trong tù thì đã sao? Ra ngoài đi làm ai mà mướn? Nó nói liên miên cả hai thứ tiếng, có lúc còn hỏi anh nó: you think who you are? mà ông bà thì cứ ngồi chết trân, ngó sững vào cô con gái mà chưa biết phản ứng như thế nào. Nhưng rồi ông tức quá, ông đứng phắc dậy và muốn trấn áp những lời nói khó nghe của con Brenda dành cho anh nó, ông đập bàn và cố hét thật to:
-Mày có im đi không! Im đi! Im đi! Shut up!
-Mình ơi! dậy đi! dậy đi! Mình nằm mơ thấy gì mà la hét thật to, còn quơ tay lung tung vậy.?
Bị bà vợ lay lay người và cố đánh thức ông, ông mở mắt ra vẫn thấy mình đang nằm trên giường, trong khi bà vợ không ngừng hỏi tới:
-Nằm chiêm bao thấy gì mà mình hét to quá vậy? cả tiếng Mỹ nữa, mình có sao không?
Ông ngồi dậy, lấy hai tay dụi mắt và thẫn thờ trong lúc nhìn lên trần nhà với cái quạt máy đang quay từ từ chầm chậm. Ông thở dài trong tiếc nuối.
-Mình vừa đánh tan giấc mơ dài của tôi.
-Hình như lúc này mình hay nằm chiêm bao lắm đó, mới rồi em đâu có biết mình mơ thấy gì, chỉ nghe mình la hét quá rồi quơ tay làm em giựt mình tỉnh giấc, lay người cho mình tỉnh lại thôi, mà mình mơ thấy gì vậy? ác mộng hả?
Ông không trả lời bà, chỉ lắc lắc cái đầu, lẩm bẩm tự hỏi:
-Mình vừa nằm chiêm bao sao? Chỉ là giấc chiêm bao?

Ông nén tiếng thở dài và lật người cố bước chân xuống giường, đôi chân hơi co cứng như muốn vọp bẻ, ông cứ duỗi duỗi ra rồi cố gắng bước xuống đi tìm nước uống, để nghĩ về đứa con trai đang ở trong tù vừa trở về trong giấc chiêm bao của ông, nhưng chưa biết ngày nào được về trong đời sống thật? Ông buồn lắm, vì ông cũng đã già rồi, không biết ngày về của nó ông có còn sống ở trên đời để gặp, hay đã phải đi xa…? Hy vọng ngày về của con ông không quá muộn!

Lê thị Hoài Niệm

Thứ Tư, 14 tháng 5, 2025

Trăng Tôi Và Biển - Nhạc & Lời: Yên Sơn - Ca Sĩ: Thanh Ngọc


Nhạc & Lời: Yên Sơn
Ca Sĩ: Thanh Ngọc

Chập Chùng

 (Bóng Núi - Paulle Minh)


Chập chùng bóng núi với trời xa
Mờ mịt sương giăng níu nguyệt tà
Nung thức hàng cây mùa lửa hạ
Giấu lòng uất nghẹn nỗi đau ta!


Kim Oanh

Đành Thôi



Đừng hỏi tim ơi có được không
Giờ đây kỷ niệm tựa mây lồng
Tình xưa tươi tắn thời xuân mởn
Hương cũ phai tàn nhạt cuối đông
Duyên dáng chi đây cành phượng thắm
Yêu đương đâu nữa giấc mơ hồng
Đành thôi tim hỡi đà sai nhịp
Mộng đã tan rồi chớ đợi trông

Quên Đi


Mộng Ước


Thao thức đêm dài nhớ tới em
Bên đèn hiu hắt mặn môi mềm
Ngoài hiên lá trút sầu tê tái
Một nửa thu về trong bóng đêm.
Em nhé anh buồn em biết không?
Canh tàn giá buốt nát tan lòng
Yêu em mộng ước vầy duyên mới
Anh hỏi em rằng: có cảm thông?

Thành Tài Nguyễn

30-10-2019

Giáo Dục Thời Việt Nam Cộng Hòa


Sau năm 1954 nước Việt Nam bị chia làm hai, từ vĩ tuyến 17 trở vô đến Cà Mau có 20 triệu dân, là vùng đất Tự Do, theo chế độ Cộng Hòa, thủ đô là Sài Gòn. Nước VNCH về hành chánh chia ra 40 tỉnh và về quân sự chia ra 4 vùng chiến thuật.

Vùng I có 5 tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi.
Vùng II có 12 tỉnh: Kontum, Bình Ðịnh, Pleiku, Phú Bổn, Phú Yên, Darlac, Khánh Hòa, Quảng Ðức, Tuyên Ðức, Ninh thuận, Lâm Ðồng, Bình Thuận.
Vùng III có 9 tỉnh: Tây Ninh, Bình Long, Phước Long, Bình Dương, Long khánh, Bình Tuy, Gia Ðịnh, Biên Hòa, Phước Tuy.
Vùng IV có 17 tỉnh là Châu Ðốc, Kiến Phong, Kiến Tường, Hậu Nghĩa, Kiên Giang, An Giang, Vĩnh Long, Ðịnh Tường, Long An, Chương Thiện, Phong Dinh, Vĩnh Bình, Kiến Hòa, Gò Công, An Xuyên Bạc Liêu, Ba Xuyên.

Những năm đầu sau khi Pháp rút về nước, giáo dục Việt Nam tiếp tục cái gì có trước. Cho đến Ðại Hội Giáo Dục Toàn quốc năm 1958, VNCH mới xây dựng nền giáo dục độc lập dựa trên 3 nguyên tắc:

Nhân Bản-Dân Tộc và Khai Phóng.

- Nhân Bản: Giáo dục coi con người là cưu cánh, tôn trọng giá trị thiêng liêng của con người.
- Dân Tộc: Giáo dục tôn trọng giá trị của gia đình, quốc gia, phù hợp với truyền thống văn hóa, phong tục, đạo đức Việt Nam.
- Khai Phóng: Giáo dục theo phương pháp khoa học, nội dung khoa học, theo đà tiến bộ của nhân loại và tôn trọng giá trị các quốc gia khác.
Giáo dục VNCH có ba cấp như các nước trên thế giới là: tiểu học, trung học và đại học.

Bậc tiểu học học trình 5 năm

Từ lớp 1 đến lớp 5. Trẻ em từ 6 tuổi được cha mẹ ghi tên vào lớp 1, học miễn phí. Tuy VNCH không có chủ trương cưỡng bách giáo dục, nhưng do phụ huynh có ý thức cao cho nên tất cả trẻ em hầu như đều học qua bậc tiểu học.
Chương trình học gồm các môn Việt Văn, Toán, Khoa học Thường thức và Ðức Dục hay Công Dân Giáo Dục.
Giáo dục tiểu học thời VNVH phát triển nhanh chóng và vượt trội so với thời Tây đặc biệt vế số lượng học sinh. Thời Tây 1930, toàn Ðông Dương có 406,669 học trò gồm sơ và tiểu học trong đó có 20% là học trò Lào và Miên.
Thời Ðệ I Cộng Hòa, năm học 1960 miền Nam có 1 triệu 214,621 học sinh tiểu học, 112, 129 học sinh trung học. Tăng 200% so với niên học 54-55, lúc mới thâu hồi độc lập từ tay Pháp.

Bậc trung học chia ra 2 cấp

1. Trung Học Ðệ I Cấp/Trung học Cấp I: học trình 4 năm, có 4 cấp lớp 6, 7, 8, 9:
Học sinh vào trường công phải thi tuyển, không đậu có thể học trường tư. Chương trình gồm Việt Văn, Lý Hóa, Vạn Vật, Toán, Sử Ðịa, Công Dân và Sinh Ngữ. Môn Nhiệm Ý là Nhạc, Hội họa, Thể thao, Nữ công dành cho nữ sinh.
Cuối năm thứ Tư/lớp Ðệ Tứ, học sinh thi lấy bằng Trung Học Ðệ I Cấp.
Ðậu bằng Trung Học Ðệ Nhứt Cấp học sinh có thể ra đi làm, có thể thi vào trường Sư Phạm Cấp Tốc để trở thành giáo viên tiểu học; hoặc tiếp tục học tiếp lên.

2. Trung Học Cấp II Cấp/Trung học cấp II: học trình 3 năm, có 3 cấp lớp 10, 11, 12:
Muốn vào học lớp 10, phải có bằng Trung Học Ðệ I Cấp. Học sinh học các môn như Trung Học Ðệ I Cấp nhưng sâu hơn và có thêm môn Triết Học cho học sinh lớp 12.
Từ lớp 10, có phân 4 ban: Ban A Khoa Học Thực Nghiệm), Ban B (Toán), Ban C (Sinh Ngữ), Ban D (Cổ Ngữ). Học sinh tự do chọn ban theo sở thích cá nhân.

Xong lớp Ðệ Nhị tức lớp 11, học sinh thi lấy bằng Tú Tài I. Học tiếp lớp 12/Ðệ Nhứt, thi lấy bằng Tú Tài II.

Trường Trung Học Nguyễn Ðình Chiểu Mỹ Tho là một trường trung học có lâu đời ở miền Nam.
Trường Nguyễn Ðình Chiểu Mỹ Tho khởi đầu từ một trường Tiểu Học (École Primaire) gọi là trường tỉnh, dạy tới lớp Nhứt. Lúc đó trường tiểu học Mỹ Tho bằng lá, cất ở gần khu Nhà Việc làng Ðiều Hòa, nay là khu Trung Tâm Thương Mại Mỹ Tho.
Năm sau trường tiểu học Mỹ Tho dời đến nơi mà trước kia là nhà của vị quan triều Vua Tự Ðức tên là Ngô Phước Hội, gần tòa bố.

Ngày 14 Tháng Sáu 1880, Le Myre de Vilers thống đốc Nam Kỳ ban hành nghị định 17 Tháng Ba 1879, cho phép tỉnh Mỹ Tho thành lập một trường trung học lấy tên là trường là “Collège de My Tho”, trường trung học đầu tiên ở xứ Nam Kỳ.

Collège de My Tho (lúc đầu còn bao gồm cấp tiểu học) thành lập trên khu đất rộng 25,000 mét vuông, 4 hướng bao bọc bởi 4 con đường. Hướng Ðông có cổng chánh quay ra đường số 9, sau đổi tên là Rue D'Aries, đến 7 Tháng Tư 1954 Thủ Hiến Nam Phần đổi tên là đường Lê Lợi tới nay.

Hướng Tây quay ra đường Filippini nay là Hùng Vương.
Hướng Bắc quay ra là đường số 3, sau đổi tên là Colombert, rồi Maréchal Pétain, Albert Buissiere, đến ngày 7 Tháng Tư 1954 Thủ Hiến Nam Phần đổi tên là đường Ngô Quyền tới nay.
Hướng Nam quay ra đường số 20, rồi sau đổi tên Rue de Landes, ngày 7 Tháng Tư 1954 Thủ Hiến Nam Phần đổi tên là đại lộ Lê Ðại Hành tới nay.

Collège de My Tho hoạt động được 10 năm, đến ngày 11 Tháng Mười Hai 1889 Thống đốc Nam Kỳ ra lịnh đóng cửa hệ trung học (tiểu học vẫn tiếp tục) vì không có ngân sách, cho nên học trò một số có tiền lên Sài Gòn học ở trường Collège D'Adran.

Ðến năm 1894 Collège D'Adran ngưng hoạt động nên Thống Ðốc Nam Kỳ phải mở lại trường Collège de My Tho để thâu nhận học trò Lục Tỉnh.

Năm 1941, Nhựt chiếm Mỹ Tho lấy Collège de My Tho làm nơi đóng quân, một số lớp dời đến học tại đình Ðiều Hòa cho tới năm 1942 Nhựt mới chuyển đi nơi khác.

Ngày 2 Tháng Mười Hai 1942 trường đổi tên là Collège Le Myre de Vilers. Năm 1953 tổng trưởng giáo dục Việt Nam là Nguyễn Thành Giung ký Nghị định 179-NÐ ngày 22 Tháng Ba 1953 đổi tên trường Collège Le Myre de Vilers thành trường trung học Nguyễn Ðình Chiểu tới nay.

Giáo viên tiểu học trước năm 1975 có chỉ số 250, giáo học bổ túc là 320, giáo sư Ðệ I cấp chỉ số 400, Ðệ II cấp lên 470. Lương giáo viên, giáo sư như thế so với ngạch công chức và quân đội, tương đối cao, nên đời sống bảo đảm, thư thả; đặc biệt vị trí người thầy luôn được xã hội tôn trọng, cha mẹ học sinh kính nể.

“Muốn sang thì bắc cầu kiều,
Muốn cho hay chữ phải yêu mến thầy”.
(Ca dao)

Bậc đại học đào tạo cử nhân, cao học và tiến sĩ.

Sau Thế Chiến Thứ II, Pháp trở lại Việt Nam, Ðại Học Ðông Dương ở Hà Nội được đổi tên là Ðại Học Hà Nội, viện trưởng vẫn là người Pháp. Sau đó có một số khoa được mở ở Sài Gòn như Luật, Y khoa và Khoa Học, do phó viện trưởng là người Việt điều hành.

Sau năm 1954, chi nhánh đại học Hà Nội tại Sài Gòn cải tên là Viện Ðại Học Quốc Gia Việt Nam, đến năm 1957 đổi tên là Viện Ðại Học Sài Gòn, tên nầy giữ cho tới năm 1975.
Khi bắt đầu diễn ra Hội Nghị Paris (trong kế hoạch chuẩn bị hậu chiến) năm 1972 VNCH thành lập Hệ Thống Ðại Học Cộng Ðồng, năm sau 1973 Viện Ðại Học Bách Khoa Thủ Ðức thành lập.
Hệ thống đại học ở VNCH không thuộc Bộ Giáo Dục, và cũng không có cơ quan chủ quản (trư trường Y Dược thuộc Bộ Y Tế chủ quản). Ðại học Việt Nam tự trị về học vụ chuyên môn. Ngân sách của đại học là bộ phận trong ngân sách Bộ Giáo Dục do Quốc Hội chuẩn duyệt hàng năm; nhân viên và giáo sư đại học thuộc Tổng Ủy Công Vụ.

Ðại học VNCH bấy giờ có hai hệ thống: Ðại Học Quốc Gia và Ðại Học Cộng Ðồng Ðịa Phương.
Ðại Học cấp Quốc Gia:

1. Viện Ðại Học Sài Gòn:

Sau năm 1954, Viện Ðại học Hà Nội chuyển vào Nam nhập vào Viện Ðại Học Sài Gòn. Viện có 8 phân khoa là Y, Dược, Nha, Sư Phạm, Khoa Học, Văn Khoa, Luật và Kiến Trúc. Có đại học xá Minh Mạng dành cho nam, Trần Quý Cáp dành cho nữ, có trung tâm Y tế chăm sóc sức khỏe cho sinh viên.

2. Viện Ðại Học Huế:

Thành lập theo sắc lịnh VNCH-1 do Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ký vào Tháng Ba năm 1957 gồm có 4 khoa như Sư Phạm, Y khoa, Văn khoa và Luật.

3. Viện Ðại Học Cần Thơ:

Ðược thành lập ngày 31 Tháng Ba 1966 do nghị định của chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương ký. Có 4 khoa là: Khoa Học, Văn Khoa, Sư Phạm, Luật & Khoa Học Xã Hội.

4. Học Viện Quốc Gia Hành Chánh thuộc Phủ Thủ Tướng:

Học viện được thành lập từ 29 Tháng Năm 1950 theo Quyết Ðịnh của Chánh Phủ Quốc Gia Việt Nam (tên gọi lúc đó), lúc đầu đặt ở Ðà Lạt, năm 1958 dời về đường Trần Quốc Toản, Sài Gòn.

5. Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, thuộc Bộ Quốc Phòng:

Sinh viên học 4 năm, môn chánh là võ khoa; môn phụ là Toán, Khoa học tự nhiên, Khoa học Xã Hội. Tốt nghiệp bằng Cử Nhơn Võ Khoa, một ngành mới mẻ đối với Việt Nam.

6. Viện Ðại Học Bách Khoa Thủ Ðức:

Thành lập do sắc lệnh của tổng thống VNCH, và hoạt động chánh thức năm 1974.
Viện bao gồm một số trường có trước như Trung Tâm Phú Thọ, Ðại Học Nông Nghiệp, Ðại Học Kỹ Thuật. Viện có lập một số trường mới như là Ðại Học Kinh Thương, Ðại Hoc Khoa Học Căn Bản, Ðại Học Thiệt Kế Ðô Thị và Nông Thôn...

Ðại học Cộng Ðồng Ðịa Phương
Trường Ðại Học Cộng Ðồng Ðịa Phương chỉ huấn luyện về chuyên môn và thực dụng, học trình 2 năm.
Cho tới năm 1975, VNCH có 5 trường:

- Ðại Học Cộng Ðồng Quãng Ðà
- Ðại Học Cộng Ðồng Nha Trang
- Ðại Học Cộng Ðồng Tiền Giang Mỹ Tho
- Ðại Học Cộng Ðồng Long Hồ Vĩnh Long
- Ðại Học Cộng Ðồng Ban Mê Thuột, mới có quyết định.

Giáo Dục Việt Nam trước 1975 ngoài hệ thống công lập còn có hệ thống trường tư.
Ðại học tư trước năm 1975:

- Viện Ðại Học Ðà Lạt
- Viện Ðại Hoc Minh Ðức
- Viện Ðại Học Vạn Hạnh
- Viện Ðại Học Cao Ðài/Tây Ninh
- Viện Ðại Học Hòa Hảo/An Giang

Nền giáo dục Việt Nam mình từ thời dạy và học bằng chữ Hán, chữ Tây đến chữ Việt lúc nào cũng lấy phương châm “Tiên học Lễ, Hậu học Văn” làm gốc.
Từ năm 1954 nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa phát triển nhanh, chú trọng chuyên môn khoa học nhưng không buông lơi giáo dục đạo đức-luân lý cho học sinh, nhứt là bậc tiểu học.
Học sinh tiểu học trước năm 1975 được dạy Ðức Dục, Công Dân Giáo Dục từ 2 giờ đến 2 giờ 30 phút mỗi tuần. Học sinh trung học, môn Công Dân Giáo Dục 2 giờ mỗi tuần.

Nam Sơn Trần Văn Chi
(Nguồn Bảo tồn văn Hoá Việt Nam)

Thứ Ba, 13 tháng 5, 2025

Nguyện Cầu - Thơ: Bảo Nguyên - Nhạc: Võ Tá Hân - Ca Sĩ: Quốc Dũng & Bích Phượng


Thơ: Bảo Nguyên
Nhạc: Võ Tá Hân
Ca Sĩ: Quốc Dũng & Bích Phượng

Chuỗi Thương Xót

 

Bên Mẹ diệu kỳ chuỗi xót thương
Xin vâng tràng hạt sức kiên cường
Vượt qua bể khổ tràn hy vọng
Bóng mát đời con  Mẹ tỏ tường

Kim Phượng

Tạ Ơn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

 

Thơ & Trình Bày: Minh Lương

Nhẹ Gánh

 

Nhẹ nhàng quẩy gánh như không
Bao nhiêu ưu uất trong lòng buông trôi
Thênh thang thanh thoát biển trời
Không đi,
Chẳng đến...,
Xa rồi thời gian...

Nguyễn- Khắc Tiến - Tùng
Munich,22.11.22
 

Hồng Giọt Mưa Ngâu


Gửi thương nắng bướm muộn màng
Ve sầu hạ vẫn ngai vàng bồ câu
Phượng em hồng giọt mưa ngâu
Gót thu xa vắng mắt sâu sóng tình

Sương khuya ướt nắng bình minh
Hương xưa chết khát cho nhìn áo bay
Hẹn hò quên lạnh vòng tay
Cho lưng trần ấm vẽ mày tân hôn

Đá cười nát tượng tan hồn
Đất chưa kịp khóc cô đơn trời gầm
Thương mắc bẫy nhớ sụp hầm
Em trôi anh nổi nghìn năm tội tình

Bàng hoàng cánh bướm văn minh
Hạc vàng mây trắng hồi sinh ngọt ngào
Đường hoa xuân bướm chiêm bao
Em về vá áo trăng sao thơm mình

Hôn thơ dài tóc ba sinh
Lửa hương tình muộn diễm tình ru anh
Hương thơ ôm chữ dỗ dành
Hôn mê bất tử lều tranh thương hồng

Tắm mưa cỡi nắng hát rong
Nguồn yêu thác lũ ngược dòng tử sinh
Thả thơ dạo nhạc cầu kinh
Chia hai hạt muối chung mình cảo thơm...

MD.06/10/08
LuânTâm