Hiển thị các bài đăng có nhãn Bùi Bảo Trúc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bùi Bảo Trúc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 23 tháng 11, 2023

Lời Cảm Ơn Trong Mùa Thanksgiving - Bùi Bảo Trúc


Xin cảm ơn những điều nhỏ nhặt… những điều may và chưa may những điều đã có, những điều đã mất, và những điều còn lại…
Xin cảm ơn ngay từ hôm nay,
Vì sợ rằng một ngày trí nhớ bỏ ta đi… thì làm sao còn có thể Thanksgiving cho nhau(?!),
cho một cuộc đời, xem vậy mà cũng, rất đáng sống này!

(*) Bùi Bảo Trúc:(1944 – 2016)

Ông sinh năm 1944 tại làng Trình Phổ, tỉnh Thái Bình. Đi học ở tỉnh Hải Phòng năm 1952, sau lại dời lên Hà Nội vào năm 1953 để theo học Tiểu học tại trường Lý Thường Kiệt nằm ở phố Sinh Từ. Thời gian này ông cư ngụ ở ngõ Yên Sơn, đối diện với Chùa Bà Ngô, là một ngôi chùa nhỏ kế cận Văn Miếu, tức Quốc Tử Giám, Hà Nội. Ông thường nói ông đã từng có tuổi thơ vui đùa chạy nhẩy trong Văn Miếu với những cây muỗm cây xoài rậm rạp và những con rùa đội bia tiến sĩ ở nơi này.
Năm 1954 ông di cư theo gia đình vào Nam, theo học nốt chương trình bậc Tiểu học ở trường Nguyễn Tri Phương, Sài Gòn, sau đó tiếp tục bậc Trung học ở trường Chu Văn An, và tốt nghiệp Tú tài Toàn phần, Ban C năm 1963.
Sau đó ông du học ở Tân Tây Lan (New Zealand) và trở về nước năm 1965 để dạy Anh ngữ ở Hội Việt Mỹ và trường London School của giáo sư Nguyễn Ngọc Linh.
Thời gian sau ông qua làm việc với Phủ Tổng Ủy Dân Vận và Chiêu Hồi của ông Hoàng Đức Nhã.
Năm 1973 ông đảm nhiệm chức vụ phát ngôn viên chính phủ, mà trong cương vị này, với khả năng Anh ngữ lưu loát, ông đã đối phó với nhiều ký giả ngoại quốc một cách thích đáng và hữu hiệu để bảo vệ lập trường của Việt Nam Cộng Hòa trong tình thế khẩn trương – Hồi đó, do cuộc chiến càng lên cao độ, ký giả ngoại quốc càng hay soi mói, đặt ra nhiều vấn đề.
Năm 1974, ông làm việc tại Tòa Đại Sứ Việt Nam ở Anh Quốc, và sau biến cố tháng 4-1975, ông qua Canada vào tháng 6 cùng năm.
Năm 1977 ông làm việc cho đài VOA ở Hoa Thịnh Đốn cho đến năm 2001 thì nghỉ hưu. Tuy nhiên ông vẫn tiếp tục viết loạt bài Thư Gửi Bạn Ta cho nhiều báo, được rất đông độc giả tán thưởng.
Ông cũng cộng tác với đài Little Saigon Radio, Hồn Việt TV trong hai chương trình Ngày Này Năm Xưa, Chào Hoàng Hôn mỗi ngày, và Anh Ngữ Trong Đời Sống hằng tuần.

Sau vài tháng trở bệnh, ông từ giã cõi trần hồi 11:45 pm hôm 16-12-2016 tại Fountain Valley, California.

Thứ Năm, 9 tháng 3, 2023

Học Sử Việt Nam Dễ Nhớ - Học Sinh Tiểu Học Thời Việt Nam Cộng Hòa


Học sinh VNCH thời tiểu học đã được dạy lịch sử.
100 câu thơ về lịch sử VN mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!!

1. Vua nào mặt sắt đen sì?
2. Vua nào trong buổi hàn vi ở chùa?
3. Tướng nào bẻ gậy phò vua?
4. Tướng nào dùng bút đánh lừa Vương Thông?
5. Ngựa ai phun lửa đầy đồng?
6. Voi ai nhỏ lệ ở giòng Hóa Giang?
7. Kiếm ai trả lại rùa vàng?
8. Súng ai rền ở Vũ Quang thủa nào?
9. Còn ai đổi mặc hoàng bào?
10. Nữ lưu sánh với anh hào những ai?
11. Nhà thơ lên đoạn đầu đài?
12. Tướng Tàu chui ống chạy dài Bắc phương?
13. Tướng Nam chẳng thiết phong vương?
14. Rắc lông ngỗng, thiếp nghe chàng hại cha?
15. Anh hùng đại thắng Đống Đa?
16. Đông du khởi xướng bôn ba những ngày?
17. Lũy Thầy ai đắp, ai xây?
18. Hồng-Sơn Liệp-Hộ, triều Tây ẩn mình?
19. Vua Bà lừng lẫy uy danh?
20. Ấu nhi tập trận, cỏ tranh làm cờ?
21. Vua nào nguyên-súy hội thơ?
22. Hùng-Vương quốc-tổ đền thờ ở đâu?
23. Đại vương bẻ gẫy sừng trâu?
24. Rừng Lam khởi nghĩa áo nâu anh hùng?
25. Hại dân bán nước tên Cung?
26. Đục chìm thuyền địch dưới sông Bạch-Đằng?
27. Lý triều nổi tiếng cao tăng?
28. Bình-Ngô ai soạn bản văn lưu truyền?
29. Mười ba liệt sĩ thành Yên?
30. Bỏ quan treo ấn tu tiên thủa nào?
31. Ai sinh trăm trứng đồng bào?
32. Bình-Khôi chức hiệu được trao cho người?
33. Tây-Sơn có nữ tướng tài?
34. Cần-vương chống Pháp bị đầy xứ xa?
35. Tổ ngành hát bội nước ta?
36.. Khúc ngâm Chinh-Phụ ai là tác nhân?
37. Vua nào sát hại công thần?
38. Nhà văn viết truyện Tố-Tâm trữ tình?
39. Thái-Nguyên chống Pháp dấy binh?
40. Hà-Ninh tổng đốc vị thành vong thân?
41. Vua nào mở nghiệp nhà Trần?
42. Nêu gương hiếu tử diễn âm lưu truyền?
43. Công lao văn học Nguyễn-Thuyên?
44. Lừng danh duyên hải Dinh-Điền là ai?
45. Nhà thơ sông Vị, biệt tài?
46. Vua nào chống Pháp bị đầy đảo xa?
47. Ngày nào kỷ niệm Đống Đa?
48. Biên thùy tiễn biệt lời cha dặn dò?
49. Mê-Linh xây dựng cơ đồ?
50. Bến Hàm-Tử bắt quân thù xâm lăng?
51. Húy danh Hoàng-Đế Gia-Long?
52. Tướng nào hương khói Lăng-Ông thủa giờ?
53. Rồng thiêng kết nghĩa Âu-Cơ?
54.. Thánh Trần nay có bàn thờ ở đâu?
55. Đời nào có chức Lạc-Hầu?
56. Tướng Châu-Văn-Tiếp, ở đâu bỏ mình?
57. Danh nho thường gọi Trạng Trình?
58. Cha con cùng quyết hy sinh với thành?
59. Đầm Dạ-Trạch nức uy danh?
60. Sớ dâng chém nịnh không thành, từ quan?
61. Công thần vì rắn thác oan?
62. Ai mời bô lão dự bàn chiến chinh?
63. Vua nào dòng dõi Đế-Minh?
64.. Vĩnh-Long thất thủ, liều mình tiết trung?
65. Ngày nào trẩy hội Đền Hùng?
66. Ngày nào sông Hát, nhị Trưng trẫm mình?
67. Núi nào ngự trị Sơn-Tinh?
68. Sông nào ghép lại bút danh thi hào?
69. Gốc nguồn hai chữ đồng bào?
70. Bôn ba tổ chức phong trào Đông du?
71. Hùm Thiêng trấn đóng chiến khu?
72. Vua nào thành lập Hội Thơ Tao-Đàn?
73. Dẹp Thanh giữ vững giang san?
74. Thiết triều nằm lả khiến tàn nghiệp Lê?
75. Hóa-Giang giữ trọn lời thề?
76. Mười năm kháng chiến chẳng nề gian lao?
77. Móng rùa thần tặng vua nào?
78. Bình Chiêm, Dẹp Tống, Lý trào nổi danh?
79. Dâng vua sách lược “Trị-Bình”?
80. Trạng nguyên tướng xấu ví mình hoa sen?
81. Người Tàu dựng đất Hà-Tiên?
82. Họ Lương chống Pháp, Thái-Nguyên bỏ mình?
83. Quy-Nhơn thất thủ, quyên sinh?
84. Lê Triều sử ký soạn thành họ Ngô?
85. Công thần mà bị quật mồ?
86. “Vân-Tiên” tác giả lòa mù là ai?
87. Đại-Từ nổi tiếng tú tài?
88. Đem nghề in sách miệt mài dạy dân?
89. Dâng vua cải cách điều trần?
90. Sánh duyên công chúa Ngọc-Hân, vua nào?
91. Thi nhân nổi loạn họ Cao?
92. Xây thành đắp lũy, họ Đào là ai?
93. Họ Phan lãnh ấn khâm sai?
94. Phòng khuya vọng tiếng thuyền chài tương tư?
95. Đông y lừng tiếng danh sư?
96. Lời thề diệt địch trên bờ Hóa-Giang?
97. Vân-Đồn ai thắng danh vang?
98. Am mây ẩn dật chẳng màng lợi danh?
99. Mùa xuân nào phá quân Thanh?
100. Bao giờ trở lại thanh bình Việt Nam?
100 Câu Đố Lịch sử

(của Đào Hữu Dương)
***
Câu Trả Lời Là


1- Mai Hắc Đế, mặt sắt đen sì
2- Lý Thái Tổ thuở hàn vi ở chùa
3- Hưng Đạo bẻ gậy phò vua
4- Nguyễn Trãi dùng bút, đánh lừa Vương Thông
5- Ngựa Thánh Gióng phun lửa đầy đồng
6- Voi Hưng Đạo khóc giữa dòng Hóa Giang!
7- Kiếm Lê Lợi trả rùa vàng
8- Súng Cao Thắng nổ Vũ Quang thuở nào.
9- Lê Lai cứu chúa đổi bào
10- Hai Bà Trưng sánh anh hào ra oai!
11- Cao Bá Quát lên đoạn đầu đài
12- Thoát Hoan chui ống chạy dài bắc phương.
13- Trần Bình Trọng khinh Bắc Vương
14- Mỵ Châu, lông ngỗng rắc đường hại cha!
15- Quang Trung đại thắng Đống Đa
16- Cụ Phan sang Nhật bôn ba tháng ngày! (Phan Bội Châu lập phong trào Đông                                                                                                                             Du)
17- Đào Duy Từ đắp Lũy Thầy
18- Nguyễn Du xử thế, triều Tây ẩn mình!
19- Bà Triệu lừng lẫy uy danh
20- Đinh Bộ Lĩnh lấy cỏ tranh làm cờ
21- Thánh Tông nguyên súy Hội thơ
22- Lâm Thao Nghĩa Lĩnh đền thờ Hùng Vương
23- Sừng trâu bẻ gẫy: Phùng Hưng
24- Lê Lợi khởi nghĩa, anh hùng Lam Sơn
25- Họ Hồ phản bội cha ông
26- Yết Kiêu, Dã Tượng, thần sông Bạch Đằng!
27- Vạn Hạnh, triều Lý cao tăng
28- “Bình Ngô”… Nguyễn Trãi hùng văn lưu truyền
29- Quốc Dân Đảng, (mười ba) Liệt Sĩ thành Yên
30- Từ Thức treo ấn tu tiên (động) Bích Đào.
31- Âu Cơ (sinh) trăm trứng đồng bào
32- Bình Khôi, Trưng Nhị được trao chúc này
33- Bùi Thị Xuân, nữ tướng tài
34- Hàm Nghi chống Pháp, bị đày xứ xa.
35- Đào Tấn, tổ hát bội nước ta
36- Đặng Trần Côn với khúc ca Chinh Phụ sầu…
37- Gia Long giết hại công hầu
38- Tố Tâm Ngọc Phách xiết bao trữ tình! (Hoàng Ngọc Phách tác giả tiểu thuyết  Tố Tâm)
39- Đội Cấn chống Pháp, dấy binh
40- Hoàng Diệu tổng đốc, vị thành vong thân
41- Trần Cảnh mở nghiệp nhà Trần (Trần Cảnh tức Trần Thái Tông)
42- Chuyện Hiếu Văn Phức, diễn âm lưu truyền (Lý Văn Phức, tác giả Nhị ThậpTứ Hiếu diễn ca)
43- Chữ Nôm khai sáng, Nguyễn Thuyên
44- Công Trứ dựng nghiệp dinh điền chẳng sai!
45- Tú Xương thơ phú biệt tài
46- Duy Tân chống Phàp, bị đày đảo xa
47- Mùng Năm Tết, giỗ Đống Đa
48- Nam Quan, Nguyễn Trãi nghe cha dặn dò
49- Trưng Vương xây dựng cơ đồ
50- Quang Khải: Hàm Tử “cầm Hồ” hiên ngang (Trần Quan Khải: Đoạt sáo Chương Dương
độ. cầm Hồ Hàm Tử quan
51- Nguyễn Ánh tên huý Gia Long
52- Tướng Lê Văn Duyệt, Lăng Ông phụng thờ
53- Lạc Long kết nghĩa Âu Cơ
54- Thánh Trần, Vạn Kiếp ngai thờ tử lâu
55- Đời Hùng: Lạc Tướng , Lạc Hầu
56- Long Hồ thủy chiến, tướng Châu bỏ mình (Châu Văn Tiếp)
57- Nguyễn Bỉnh Khiêm, tức Trạng Trình
58- Tri Phương, phò mã hy sinh thủ thường (Nguyễn Tri Phương và phò mã Nguyễn Lâm)
59- Triệu Quang Phục, Dạ Trạch Vương
60- Chu thần thảo sớ chém phường nịnh gian (Chu thần tức Chu Văn An)
61- Nguyễn Trãi vì rắn thác oan
62- Nhân Tông triệu tập Diên Hồng đánh Nguyên (Trần Nhân Tông)
63- Lộc Tục dòng dõi Đế Minh (Lộc Tộc tức Kinh Dương Vương)
64- Mất thành, Thanh Giản quyên sinh cùng đường! (Cụ Phan Thanh Giản để mất thành
Vĩnh Long)
65- Mười tháng ba, Giỗ Hùng Vương
66- Tháng hai mồng sáu Nhị Trưng trầm mình
67- Tản Viên ngự trị Sơn Tinh (Tản Viên thuộc dẫy núi Ba Vì ở Hà Tây).
68- Sông Đà núi Tản bút danh thi hào
69- Trăm con một bọc : Đồng Bào
70- Phan Bội Châu khởi phong trào Đông Du
71- Hoàng Hoa Thám lập chiến khu
72- Lê Thánh Tông mở Hội Thơ Tao Đàn
73- Quang Bình giữ nước đuổi Thanh (Nguyễn Quang Bình tức Nguyễn Huệ)
74- Ngọa triều Long Đĩnh khiến tàn Tiền Lê.
75- Hoá Giang Hưng Đạo hẹn thề
76- Mười năm Lê Lợi một bề đuổi Minh
77- Thục Phán được móng rùa thiêng (Thục Phán An Dương Vương)
78- Thường Kiệt đánh Tống bình Chiêm lẫy lừng (Lý Thường Kiệt tức Ngô Tuấn)
79- Lương Đắc Bằng dâng sách “Trị Bình”
80- Đĩnh Chi tướng xấu, ví mình hoa sen (Mạc Đĩnh Chi)
81- Mạc Cửu dựng đất Hà Tiên
82- Ngọc Quyến chống Pháp, Thái Nguyên bỏ mình (Lương Ngọc Quyến)
83- Quy Nhơn, Võ Tánh hy sinh
84- Đại Việt Sử Ký, công trình họ Ngô (Ngô Sĩ Liên soạn bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đời Lê)
85- Lê Văn Duyệt bị san mồ
86- Đồ Chiểu tác giả lòa mù “Vân Tiên” (Nguyễn Đình Chiểu)
87- Đại Từ nổi tiếng Hải Thần (Nguyễn Hải Thần,hoạt
động cách mạng chống Pháp)
88- Nhữ Học in sách, ân cần dạy dân. (Lương Nhữ Học)
89- Trường Tộ, cải cách điều trần. (Nguyễn Trường Tộ, thời vua Tự Đức)
90- Vua Quang Trung sánh Ngọc Hân chung tình
91- Cao Bá Quát chống Triều Đình
92- Duy Từ đắp lũy, đào kinh bậc thầy (Đào Duy Từ)
93- Phan Kế Toại lãnh ấn Khâm Sai
94- Trương Chi tiếng hát đọa đầy Mị Nương
95- Hải Thượng y thuật danh nhân
96- Lời thề sông Hóa thánh Trần diệt Mông (Trần Hưng Đạo)
97- Khánh Dư nổi tiếng Vân Đồn (Trần Khánh Dư)
98- Trạng Trình ẩn dât chẳng còn lợi danh
99- Mùa Xuân Kỷ Dậu đuổi Thanh
100- Dân quyền, dân chủ an lành Việt Nam

(Lý Ngọc Cương sưu tầm)

Thứ Hai, 19 tháng 9, 2022

“Em Lớp Sáu” – Học Trò Saigon Xưa


Đang lang thang tôi tình cờ tìm thấy những bức ảnh ấy trong Internet nhưng không biết ai là người chụp nó, cố gắng mãi tôi cũng không biết những cô cậu học sinh nhỏ ấy học trường nào mặc dù ở cổ áo dài trắng của cô có gắn huy hiệu trường, tôi chắc đó phải là một trường nữ nào đó, tất cả các bạn của cô đều mặc đồng phục trắng, và tuổi khoảng 11 hay 12 là cùng.

Cô có mái tóc ngắn uốn quăn, không một nỗ lực làm dáng hay chải chuốt nào. Cô đeo ở tai một cặp tòn ten, miệng cười chúm chím. Cô có cái nét tươi tắn hơn tất cả những người bạn cùng lớp trong ảnh. Ở tuổi đó, chắc cô đang học lớp đầu trung học, có thể là lớp Sáu. Có một điều lạ trong bức ảnh đó: cô có nét mặt rất miền Nam. Hỏi cái nét miền Nam đó là nét gì thì quả thực tôi không biết trả lời làm sao. Nhưng nhìn cô học sinh nhỏ ấy, tôi nghĩ ngay cô là một cô bé miền Nam. Hồn nhiên, hiền lành, đằm thắm. Cô cười, hai mắt cũng cười theo.

Tự nhiên khi xếp những chi tiết tưởng tượng đó lại gần nhau, tôi nhớ ngay đến một bài thơ đăng trong tờ Bách Khoa mà một người quen mua được ở Việt Nam khoảng hơn hai chục năm trước và cho lại tôi. Bài thơ ấy nguyên được tìm thấy trong tờ báo xuân năm 1975 của trường trung học Bùi Thị Xuân. Tác giả là một người tên Trần Bích Tiên, chắc là một nữ sinh Bùi Thị Xuân Đà Lạt. Bài thơ nhan đề là “Nói Với Em Lớp Sáu”.
 

Bài thơ viết bằng 7 chữ có 9 đoạn 4 câu, tổng cộng 36 câu kể lại cuộc gặp gỡ tình cờ buổi chiều ngoài phố. Cô học sinh lớp Sáu tung tăng chạy trước, tác giả Trần Bích Tiên đi sau. Tác giả nhìn cô rồi nhớ lại tuổi thơ trong lửa đạn của mình. Cha mẹ đã khuất, nhà cửa tan nát vì binh lửa, và người từng rót vào hồn tác giả những lời hạnh phúc ngày nào cũng không còn nữa. Tác giả muốn người bạn nhỏ mới quen cứ hồn nhiên, vô tư đuổi hoa bắt bướm như trong buổi chiều hai người quen nhau vì chính tác giả đã đánh mất cái thời hoa niên đẹp đẽ đó.

Câu cuối cùng “Giữ hoài cho chị tuổi Hoa Niên” cũng làm nhớ một câu trong một ca khúc của Lê Trạch Lựu: “Đường đời anh muốn em còn mơ”.

Bức ảnh ít nhất phải được chụp từ hơn 40 năm. Cô học trò nhỏ đó ngày nay phải ở tuổi ngoài 50. Cô đang ở đâu nơi quê hương mù mịt đó? Cô có còn ở cái thành phố nơi cô đi học và lớn lên không? Đời sống của cô như thế nào? Cô có làm được như lời căn dặn của câu cuối trong bài thơ không? Và cả Trần Bích Tiên nữa. Cô có còn làm thơ nữa không? Thơ cô làm còn buồn như bài thơ cô viết cho báo xuân năm nào?


Này em lớp sáu này em nhỏ
Gặp em rồi không quen em đâu
Chiều nay hai đứa về qua phố
Rất tự nhiên mà mình quen nhau

Em chạy tung tăng không mắc cỡ
Chị thì bước bước chậm theo sau
Tuổi mười hai chị xa vời quá
Chị gọi em chờ, em chạy mau

Này em lớp sáu này em nhỏ
Em hãy dừng chân một chút lâu
Chị vuốt tóc em rồi chị nhớ
Tóc em thơm ngát mùi hương cau

Hương cau vườn chị xa như tuổi
Ba má chị nằm dưới mộ sâu
Vườn cũ nhà xưa tàn với lửa
Chị đi về hai buổi âm u

Gặp em ngoài phố mình như bạn
Thời mộng trong bàn tay nắm nhau
Chị ngắt cho em hoa cúc nhỏ
Em cười cái miệng mới xinh sao

Ngày xưa chị cũng như em chứ
Cũng rất ngây thơ rất ngọt ngào
Chị nhớ mỗi chiều tan học sớm
Bạn bè đuổi bướm thật xôn xao

Những con bướm lượn trên bờ cỏ
Chị cũng như em chạy đuổi mau
Bây giờ bướm biệt trên đường phố
Em đuổi sương mù chơi chiêm bao

Này em lớp sáu này em nhỏ
Gặp em rồi muôn thuở không quên
Trời ơi câu đó ngày hôm trước
Ai rót vào hồn chị hỡi em?

Sách trên tay chị nghe chừng nặng
Sao cặp em đây vẫn nhẹ tênh?
Thôi nhé em về con phố dưới
Giữ hoài cho chị tuổi Hoa Niên

 

Cầu mong cho những cô học sinh nhỏ trong bức hình, cô học sinh lớp Sáu trong bài thơ của Trần Bích Tiên và luôn cả Trần Bích Tiên nữa bình an, giữ mãi được tuổi Hoa Niên cho dù bất cứ ở đâu trong thế giới này.

Bùi Bảo Trúc

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2022

Thư Gửi Bạn Ta - Bùi Bảo Trúc


Bùi Bảo Trúc viết ngày 31 tháng 8 năm 2011.

Bạn ta,

Một người bạn vừa gửi cho tôi bản sao của một tài liệu gọi là Đố Vui Việt Sử làm bằng thể lục bát với một trăm câu đố về lịch sử và văn học Việt Nam.

Tài liệu ghi tác giả là luật sư Đào Hữu Dương và hai trăm câu trả lời của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh.
Tập tài liệu này được in lần đầu ở San Diego năm 1985 và được gửi tặng các trường dậy Việt ngữ, rồi lại được Trung Tâm Việt Ngữ Văn Lang ở San Jose, California in lại để làm tài liệu dậy tiếng Việt.
Thực ra, tập tài liệu này mà một số người gọi là một tập thơ thì không đúng lắm.

Gọi là tập thơ thì phải có nhiều bài, chỉ một trăm câu hỏi viết bằng lục bát và hai trăm câu trả lời thì chưa thể gọi là một tập thơ được.

Tài liệu này được đặt tên là Đố Vui Việt Sử nhưng đọc những câu hỏi và những câu trả lời thì người ta thấy không hẳn một số câu liên quan đến lịch sử, nhất là lịch sử Việt Nam.
Thí dụ trong câu hỏi số 94 (Phòng khuya vọng tiếng thuyền chài tương tư?) thì ông Trương Chi là nhân vật lịch sử Việt Nam từ bao giờ? Ông là nhân vật văn học sử Việt Nam lúc nào?

Giáng Hương và Từ Thức trong câu hỏi số 30 (bỏ quan treo ấn tu tiên thủa nào?) không phải là nhân vật lịch sử Việt Nam mà cũng không phải là nhân vật văn học mà chỉ là hai nhân vật trong một truyện cổ tích thần tiên tưởng tượng.
Khi ra câu đố, người xướng phải cung cấp một số chi tiết thì người giải mới trả lời được. Những chi tiết không thể đưa ra quá nhiều và quá rõ để câu trả lời đã nằm sẵn ngay trong câu hỏi.

Thí dụ câu 86 (Vân Tiên tác giả mù lòa là ai?) thì không ai lại không biết tác giả là Nguyễn Đình Chiểu, người cũng viết Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc.

Câu 88 là một câu khiên cưỡng cho đúng luật gieo vần của lục bát khiến ý nghĩa hoàn tòan không rõ: Đem nghề in sách miệt mài dậy dân.

Nếu chỉ đưa ra những chi tiết chung chung tổng quát thì người trả lời dù có thể có nhiều kiến thức và hiểu biết bao nhiêu chăng nữa vẫn có thể trả lời sai như thường. Câu số 10 ( Nữ lưu sánh với anh hào những ai?) giải đáp có thể là hai bà Trưng, hay bà Triệu, hay Bùi Thị Xuân, hay cô Giang, cô Bắc đều đúng.

Câu 16 (Đông du khởi xướng bôn ba những ngày) có thể là Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Tăng Bạt Hổ, Hoàng Tăng Bí, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để…

Có những câu đố không có ý nghĩa gì hết như câu 84 (Lê Triều sử ký soạn thành họ Ngô?) Đồng ý đây là Ngô Sĩ Liên người viết Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhưng câu hỏi Lê Triều sử ký soạn thành họ Ngô thì khó hiểu quá. Soạn thành họ Ngô là ý nghĩa thế nào?

Hay như câu 89 (Dâng vua cải cách điều trần) thì câu đáp có thể là Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ, và luôn cả Phan Thanh Giản sau khi đi sứ về.

Câu 37 (Vua nào sát hại công thần) thì có quá nhiều ông vua trong lịch sử Việt đã làm như thế, làm sao trả lời cho đúng.

Phần câu hỏi, nếu không có cái dấu hỏi ở cuối, thì người bị đố không thể biết đó là câu hỏi. Thí dụ câu 81 (Người Tầu dựng đất Hà Tiên?) hay (Đại Từ nổi tiếng tú tài?) mà những câu như thế thì quá nhiều. Chỉ thỉnh thoảng mới có những câu trong thể hỏi với những đại danh từ "Ai" hay những chữ "nào", " ở đâu"…

Có những câu đọc lên tưởng như hai người là một như các câu 33 và 34 (Tây Sơn có nữ tướng tài? Cần Vương chống Pháp bị đầy xứ xa?) thực ra là hai người, Bùi Thị Xuân và vua Hàm Nghi.

Những sai sót đó sở dĩ có là vì những câu hỏi không được ngắt ra bằng những chữ để hỏi đặt ở đầu câu, khác hẳn những câu sau đây mà tôi sẽ nói ở cuối thư:

Vua nào mặt sắt đen sì?
Vua nào trong buổi hàn vi ở chùa?
Tướng nào bẻ gậy phò vua?
Tướng nào dùng bút đánh lừa Vương Thông?
Ngựa ai phun lửa đầy đồng?
Voi ai nhỏ lệ ở giòng Hóa Giang?
Kiếm ai trả lại rùa vàng?
Súng ai rèn ở Vũ Quang thủa nào?
Còn ai đổi mặc hoàng bào?

Phần giải đáp ghi là của Nguyễn Xuân Vinh có những câu nghe rất lạ, chắc để hiệp vần lục bát: Lý Công, tên Uẩn, xuất đường lên ngôi… Vũ Quang, chống Pháp lập đô… Triệu Trưng kể lại biết bao…Nguyễn Du tạm lánh sơn trung, truyện Kiều thi phẩm, anh hùng nổi danh…Phùng Hưng bẻ gẫy sừng trâu, tôn thờ Bố Cái, sức đâu hơn người… Đoàn thư, Chinh phụ dịch ra, Trần Côn trước tác khúc ca ngậm ngùi…Ngọa Triều tửu sắc liệt mình, uống cho Long Đĩnh tan tành nghiệp ê…


Người đọc phần giải đáp để dậy cho các em học sử Việt sẽ thấy rất khó để giảng cho các em những chữ như xuất đường lên ngôi là gì. Hay Vũ Quang, chống Pháp lập đô có thể hiểu là ông Vũ Quang nào đó xây lên một thủ đô mới. Truyện Kiều và tác giả của nó không bao giờ là anh hùng nổi danh. Phùng Hưng chính là Bố Cái Đại Vương thì tại sao lại nói Phùng Hưng bẻ gẫy sừng trâu, tôn thờ Bố Cái, sức đâu hơn người. Thế còn Đoàn thư là ai? Tại sao không viết rõ là Đoàn thị Điểm và Trần Côn có thể làm người đọc hiểu làm tên ông này là Trần Côn thay vì Đặng Trần Côn. Rồi "nghiệp ê" là nghiệp gì của Lê Ngọa Triều?

Thỉnh thoảng, giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, người giải câu đố lại thêm những thiên thu và ngàn thu vào khiến cho câu giảng trở thành … kỳ lạ như Danh Trần Quang Khải ngàn thu… Đời Lê bình trị thiên thu…. Ông Lương Ngọc Quyến thiên thu tuyệt mình…Ngàn năm dân Việt tôn vinh phụng thờ…

Có điều bạn tôi, người gửi cho tôi tập tài liệu này không biết rằng phần câu đố nói là của luật sư Đào Hữu Dương đã lấy nguyên văn từng chữ 9 câu lục bát đầu trong bài đố lịch sử Việt mà ông bố tôi đã viết từ cuối những năm 1950, những năm 60 và 70 ở Sài Gòn khi ông làm tờ tuần báo thiếu nhi Tuổi Xanh với các bạn của ông là cụ giáo Hà Mai Anh, họa sĩ Tú Duyên và sau đó được in trong những sách giáo khoa tiểu học do ông viết. Ra hải ngoại, ông bố tôi cho in những câu đố này trong quyển Giữ Gìn Tiếng Việt do nhà xuất bản Quê Hương ấn hành tại Toronto, Canada năm 1982, trước khi hai ông Đào Hữu Dương in những câu đố của ông tại San Diego năm 1985.

Ông bố tôi viết tất cả 38 câu đố về các nhân vật lịch sử thành 88 câu lục bát về các nhân vật lịch sư mà tôi sẽ chuyển cho bạn vào tuần tới. Ngoài ra, ông cũng viết những câu đố địa lý gồm những câu về núi non, sông ngòi Việt Nam.

Ông Đào Hữu Dương đã chép nguyên văn 9 câu đầu của ông bố tôi và mô phỏng bài lục bát đố lịch sử của bố tôi, cụ Bảo Vân Bùi Văn Bảo để viết thành những đoạn đầy sơ sót sau đó.

Việc phổ biến những kiến thức lịch sử cho con em chúng ta ở hải ngoại và ở trong nước trước đây là một việc đáng khuyến khích. Ai làm cũng được, cũng hay, cũng hữu ích.

Nhưng nên nhớ ghi tên của người viết cho công bằng và lương thiện.
Đừng bao giờ đề tên của mình vào công trình của người khác.*

Bùi Bảo Trúc

* Đó là một hình thức đạo văn