Hiển thị các bài đăng có nhãn Đỗ Tước. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đỗ Tước. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 30 tháng 1, 2024

Ngũ Cổ Đại Phu Nhân

Ảnh bà Cò lúc 40 tuổi
Lời nói đầu

Tính tới bài này, Con Cò đã viết được 124 bài Liêu Trai Chí Dị thế kỷ 21 trong đó đã giới thiệu trên 130 bài thơ Đường và 15 bài thơ Việt do mình sáng tác. Tất cả những bài thơ Đường đều là những con yêu tinh đã sống trên dưới 1200 năm nên công lực rất thâm hậu. Mấy bài thơ Việt thì chưa mấy người biết tới. Chúng mới ra đời trong vòng 25 năm và sống lay lắt nhờ bà con thân thích thỉnh thoảng mớm thêm công lực. Bài thơ Dậy Đi Em ra đời tháng 6 năm 2005, lúc bà Cò ở năm thứ 2 của bệnh Alzheimer và bị cảm cúm trong một chuyến viễn du cách nhà nửa vòng trái đất. Bà nằm suốt ngày trong khách sạn không chịu dậy, không chịu ăn…… Nó được ghép với bài phú Ngũ Cổ Đại Phu Phu Nhân (viết ngày 30-1-2019) để thành đề tài LTCD thế kỷ 21 số 127.

Bài phú NGŨ CỔ ĐẠI PHU PHU NHÂN
(Phỏng theo Sử Ký của Tư Mã Thiên và Đông Châu Liệt Quốc)

Bách Lí Hề làm quan đại phu tại nước Ngu. Nước Tấn diệt nước Ngu. Hề bị bắt. Tấn Hiếu công gả con gái cho Tần Mục công và dùng Hề làm lính theo hầu sang Tần. Hề lấy làm xấu hổ (không cam lòng hầu hạ đàn bà, coi là việc hèn), bỏ trốn sang nước Uyển, làm nghề chăn bò. Sau Hề bị vua Sở bắt và cho làm lính giữ ngựa (Hề cam lòng giữ ngựa nhiều năm, không coi nghề giữ ngựa là hèn).

Tần Mục công nghe đồn Bách Lí Hề là người hiền, muốn sai người đem lễ vật tặng vua Sở để xin Hề về dùng. Tôn Công Chi can rằng: "Vua Sở bắt Bách Lí Hề chăn ngựa chỉ vì không biết y là người hiền. Chúa công làm như vậy khác gì mách cho vua Sở biết tài của y mà trọng dụng. Chi bằng chúa công gỉa vờ nêu cái tội theo hầu công nương nước Tấn sang làm dâu nước Tần mà bỏ trốn rồi dùng 5 bộ da dê mà chuộc y về đây để trị tội. Đó là kế của Tề Hoàn công đánh lừa nước Lỗ cho Quản Di Ngô thoát thân về Tề vậy".

Tần Mục công y kế, đón được Bách Lí Hề về nhưng thoạt nhìn thấy thân hình tiều tụy thì than rằng: "Tiếc thay! gìa qúa rồi!".
Bách Lí Hề thưa: "Nếu chúa công sai tôi bắt chim bay trên trời hoặc đuổi thú dữ trong rừng thì tôi gìa thực. Nhưng nếu khiến tôi bàn việc chính trị thì tôi còn trẻ hơn Lã Vọng mười tuổi. Ngày xưa, Lã Vọng lúc 80 tuổi mới được vua Văn Vương phong làm quốc phụ".
Tần Mục công lấy làm hài lòng và phong Bách Lí Hề làm tể tướng. Nước Tần trở nên thịnh vượng nhờ Bách Lí Hề. Người dân nước Tần gọi Bách Lí Hề là Ngũ Cổ Đại Phu (cổ: bộ da dê đậm màu, nhồi bông).

Đỗ Thị kết hôn với Bách Lí Hề từ thuở thơ ấu, hàn vi. Lúc gần sanh đứa con trai duy nhất (sau đặt tên là Mạnh Minh), thấy chồng cam tâm sống nghèo hèn bên cạnh vợ, nàng hết lòng khuyên chàng nên thoát ly gia đình để mưu cầu danh vọng. Hôm chồng ra đi, nàng mổ con gà mái đang ấp trứng trong ổ và nấu nồi cơm nếp gạo lức (kể như nửa gia tài của mình) để tiễn chân. Nàng kiên cường sống đời nghèo khổ. Sau cùng lưu lạc sang nước Tần. Mạnh Minh (lúc này đã ngoài 40 tuổi) vẫn quen thói lêu lổng, suốt ngày theo chúng bạn săn bắn làm kế sinh nhai.
Đôi lần nàng thấy Bách Lí Hề ngồi xe chạy qua mà không dám nhận. Hỏi ra thì biết vua Tần dùng 5 bộ da dê mua ông từ nước Sở về và tôn làm tể tướng. Nàng bèn cậy cục xin làm người giặt thuê trong dinh.
Một hôm, nhân lúc Bách Lí Hề ngồi nhà trên nghe phường nhạc tấu ở dưới thềm, nàng lân la tới xin hát tặng tể tướng một bài. Được cho phép, nàng ôm đàn mà ca rằng:

Bách Lí Hề! 5 bộ da dê! Nhớ ngày nào, tiễn biệt chàng; mổ con gà mái ấp, thổi nồi cơm gạo nâu. Chứ thương thì thương….nay giầu sang, quên ta chăng?
Bách Lí Hề! 5 bộ da dê! Cha ăn thịt cá, con đói khát hoài. Chứ thương thì thương…nay giầu sang, quên ta chăng?
Bách Lí Hề! 5 bộ da dê! Chồng mặc gấm vóc, vợ đi giặt thuê. Chứ thương thì thương….nay giầu sang, quên ta chăng?
Bách Lí Hề! 5 bộ da dê! Nhớ ngày xưa, tiễn chàng ra đi, thiếp tôi nước mắt chứa chan. Tới bây gìơ, thấy chàng ngồi đó, thiếp tôi ruột đứt từng cơn. Chứ thương thì thương… nay giầu sang, quên ta chăng?
Bách Lí Hề qúa đỗi ngạc nhiên và xúc động. Gọi lại gần. Hỏi rõ tên. Nhìn tận mặt. Nhận ra vợ mình. Bèn ôm nhau mà khóc.
Tần Mục công biết chuyện, tặng vàng lụa cho Đỗ Thị và phong Mạnh Minh làm quan đại phu, coi việc binh bị, dưới quyền tể tướng Bách Lí Hề. Vợ chồng, cha con, từ đó đề huề vinh hiển.

Suy Diễn:

Đọc bài ca bất hủ của Đỗ Thị, Con Cò nghĩ rằng tuy mình kém xa Bách Lý Hề về nhiều phương diện nhưng lại hơn Y một điều: cam lòng rửa đít cho bà Alzheimer (trái ngược với Bách Lý Hề không cam lòng theo hầu công nương nước Tấn sang làm dâu nước Tần). Cò bèn cảm hứng đặt lời hai cho đời mình. Bài rằng:

Bà Cò Alzheimer! Nhớ ngày nào, Ta cưới nhau lúc tuổi tròn trăng. Chung sống keo sơn. 3 cuộc chiến tranh. 2 lần di tản. Chứ thương thỉ thương…..nay thanh bình, còn nhận ra ta chăng?
Bà Cò Alzheimer! Nhớ ngày nào, em chân lấm tay bùn, anh học trò thời loạn. Túng thiếu không sờn. Gian nguy không nản. Chứ thương thì thương….nay về hưu, còn nhận ra ta chăng?
Bà Cò Alzheimer! Nhớ ngày nào, em mù chữ, anh giảng bài. Em miệt mài, anh nhồi nhét. Chứ thương thì thương….nay chữ trả lại thày, còn nhận ra ta chăng?
Bà Cò Alzheimer! Tới hôm nay, em 80 tuổi rưỡi, anh sắp 81 rồi. Em phóng uế trên giường, anh vui lòng tắm rửa. Chứ thương thì thương….nay hôn mê, còn nhận ra ta chăng?
Bà Cò Alzheimer! Nhớ ngày nào, anh nhủ em đừng sợ chết, em rằng muốn chết trên tay anh. Chứ thương thì thương…. mai kia nếu được chết trên tay ta, còn nhận ra ta chăng?*
Ngày 30-1-2014 (1 năm trước ngày bà Cò mất).

Chú giải
*Một hôm, em có vẻ sợ chết. Anh khuyên em đừng sợ vì thánh thần cũng phải chết. Em cãi rằng em không sợ chết mà chỉ sợ không được chết trên tay anh…. Rồi mai đây em sẽ được chết trên tay anh nhưng chắc chắn em sẽ không nhận ra điều đó. Hơn một lần trong mỗi ngày, em vẫn than rằng anh phụ bạc, nỡ bỏ em mà đi biệt tăm (anh ở bên em từng giờ nhưng em cứ tưởng là người hàng xóm). Ngày xưa, em muốn chết trên tay anh giống như một tín đồ muốn chết trên tay giáo chủ. Bây giờ, anh giữ vững lời thề như giữ gìn tính mạng của mình. Nhưng nhiều năm qua, ngày nay và mãi mãi em sẽ không biết rằng em được chết trên tay anh! Cái "không biết" ấy là điều ân hận nhất trong đời ta đó! Bà Cò ơi!
(Đoản văn này viết hồi tháng giêng năm 2014, một năm trước khi bà Cò nhập diệt ngày 30-1-2015).

Bài thơ: Dậy Đi Em

Dậy đi em nắng đã lên
Hoa thơm đang ngóng trước thềm chờ ta
Dậy đi em nắng đã già
Hướng dương xoay mặt dần dà về tây
Dậy đi em nắng đã gầy
Và em vừa vặn một ngày chưa ăn
Dậy đi em dẫu khó khăn
Đau lưng cũng dậy chứ nằm mãi sao?
Đêm nay trăng vẫn ngọt ngào
Đêm mai anh biết thế nào cũng mưa
Dậy đi! Em đã dậy chưa?
Ăn tô cháo cá cho vừa lòng ai
Ngày đau đã kéo qúa dài
Ngày lành như những quân bài chia nhanh
Tuổi già như trái chin cành
Em ơi cố dậy cho mình khoan rơi./.

Tháng 6 năm 2005
Con Cò
***
Dịch bài thơ Dậy Đi Em ra tiếng Anh

Get Up, Darling

Get up my love, the sun has risen
Fragrant flowers are waiting for us out front

Get up my love, the sun is setting
To the west all sunflowers are slowly turning

Get up my love, the sun is weakening
For the whole day, you haven’t been eating

Get up my love, in spite of your plight
Even with back pain, don’t keep lying in bed

The moon is still sweet tonight
I know it will rain tomorrow night

So please get up, darling
Have a bowl of fresh-made fish porridge

Your days of ill health have lasted too long
While good days speed by like a quick hand of cards

Old age is similar to tree-ripened fruit
Try to get up, darling, to delay its fall.

Translated by Hoang-Tam
On the flight from Taipei to LA

***
Chuyện Cò nghe thật thảm thương
"dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng"
ngẫm ra từ thuở trùng phùng
một lòng một dạ thủy chung một đời
thương em dẫu chả nên lời
bên em, Cò chỉ rối bời ruột gan
ngày nào có thiếp có chàng
nay nhìn vợ quý hai hàng lệ rơi
rồi ngày hai đứa hai nơi
em về tiên cảnh, ta chơi vơi sầu...

Quản Mỹ Lan
***
Tình Cò

Tình Cò nghe kể lệ rơi ...
Nồng nàn, khắng khít chơi vơi một lòng
Từ cảnh ngơ ngác động phòng
Tới khi em mất trong vòng tay anh
Đớn đau lúc chim lìa cành
Nhớ em da diết năm canh sụt sùi
Sáu mươi năm tình thật mùi
Bây chừ tóc bạc lui cui một mình

Đồ Cóc
***

Góp ý của Lạc Thủy Đỗ Qúy Bái LTĐQB (trích một đoạn)

Tôi đưa tấm hình 33 năm trước có ý trình bầy cảnh gia đình vui vẻ trẻ trung đáng yêu như vậy mà mình có giữ nổi đâu. Vợ tôi một đời tần táo gây dựng gia đình đến lúc được các con báo hiếu thì không được hưởng vì mắc bệnh nan y Parkinson thêm lú lẫn sống đời thực vật dã gần chục năm rồi. Tất cả chi tiết đó đều nằm trong bài thơ tôi để kèm phía dưới đó. Đúng là trẻ Tạo đành hanh ghen sắc thắm. Ngày PHỤ NỮ mà nàng có được hưởng gì đâu phải không quý chị? Nhân ngày lễ PHỤ NỮ Tôi xin cầu chúc quý chị được hưởng hạnh phúc và may mắn hơn hiền thê của tôi, Chị CÒ cũng từng sống trong cảnh vợ tôi không biết mấy năm nhưng chỉ lú lẫn thôi còn đi lại được mà trước khi về theo ông bà lại hồi quang phản chiếu hát cho anh CÒ nghe bài ca từ thủa mới yêu nhau (câu này Lạc Thủy hiểu nhầm, Đỗ Thị, vợ của Bách Lý Hề hát chứ không phải bà Cò hát). ANH CÒ còn may mắn hơn tôi nhiều .
Trân trọng
LTĐQB

Thương Xót Hiền Thê Mồng Tám Tháng Ba

(Ngày Phụ Nữ)

Tháng ba mồng tám tới kia rồi,
Càng nghĩ càng thương xót vợ tôi:
Lạy mẹ theo chồng nơi lạ lẫm,
Ôm con kiếm việc chốn xa xôi.
Bốn lăm năm lẻ đầu thêm bạc,
Mấy chục niên dư má đốm mồi ...
Trẻ Tạo đành hanh ghen sắc thắm:
Ban cho bệnh nặng (*) khó nằm ngồi..
(*) Nàng mắc bệnh Parkinson

LTĐQB
***
Góp ý của Mõ (trích)

Xin cám ơn các sư ca sư tỷ đã bình loạn thật hay, giúp Mõ học thêm nhiều điều.
Sư ca Đồ Quỷ (phải bái làm thầy) trưng hình ngày xưa khiến Mõ nhìn mãi dung nhan hiền thục bà chị. Giàng ui, gái ba con (lớn tướng) trông mòn cả con mắt, còn anh "chân quê" hết mực ! Hay thiệt đó nhe. Chả trách anh trung thành suốt đời với chị là phải. Vợ đẹp, nết na hiền thục như rứa phải tôn là Tiên, là Phật !
Xin tiếp tục "kê tủ đứng" dzô văn thơ Cò huynh. Mong Cò huynh đánh chữ đại xá, tha thằng Mõ cái tội "láo lếu" ! Cụm từ ngữ (group of words) "Chứ thương thì thương" làm Mõ nhớ tới bài dân ca Hò ví dặm vùng Nghệ Tĩnh, có tựa đề "GIẬN MÀ THƯƠNG" (Xin xem lời ca bên dưới).
Trong thơ Cò huynh đâu hề có chút nào giận, mà chỉ có thương thôi. Mà thương và nhớ không để đâu cho hết đấy!
Mõ vẫn "bảo lưu" góp ý tử đầu : Cô Cò ! Bà Alzheimer ! Với "assumption" ông Cò sốt ruột, gọi giựt giọng, cố lay tỉnh bà Cò.
Bởi thế nên mới "ÔI THƯƠNG LÀ THƯƠNG" thật xúc động và thắm thiết.

Ngâm thơ:
Anh ơi khoan vội (mà) bực mình,
Em xin kể lại (mà) phân minh cho anh tỏ tường.

Anh cứ nhủ rằng em không thương
Em đo lường thì rất cặn kẽ
Chính thương anh nên em bàn với mẹ
Phải ngăn anh không đi chuyến ngược Lường
Giận thì giận mà thương thì thương
Giận thì giận mà thương thì thương

Anh sai đường thì em không chịu nổi
Anh yêu ơi xin đừng có giận vội
Mà trước tiên anh phải tự trách mình
Anh cứ nhủ rằng em không thương
Em đo lường thì rất cặn kẽ
Chính thương anh nên em bàn với mẹ
Phải ngăn anh không đi chuyến ngược Lường
Giận thì giận mà thương thì thương
Giận thì giận mà thương thì thương

Anh sai đường thì em không chịu nổi
Anh yêu ơi xin đừng có giận vội
Mà trước tiên anh phải tự trách mình

Ngâm thơ:
Chứ người ơi, em yêu anh cha mẹ nỏ ưng
Cấm em cửa trước thì em lại vòng ra cửa sau.
Em yêu anh cha mẹ đánh trăm roi,
Chứ xong rồi em đứng (ơ) dậy
Mà em quyết tâm thương chàng

Giận thì giận mà thương thì thương
Giận thì giận mà thương thì thương
Anh sai đường thì em không chịu nổi
Anh yêu ơi xin đừng có giận vội
Mà trước tiên anh phải tự trách mình.

Bài viết hay và cảm động kỷ niệm ngày Phụ nữ mồng 8 tháng 3 năm nay.


***
Nghĩ lại ngày xưa đàn ông tệ bạc thật. Ngay như Bách Lí Hề là người hiền, có học, có tài kinh bang tế thế; khi hàn vi được vợ giục giã thoát ly gia đình để mưu cầu công danh cho thỏa chí tang bồng. Ngày ra đi vợ hy sinh nửa gia tài để làm lễ tiễn đưa mong chồng thỏa ước vọng. Lúc thành đạt thì chàng quên cả vợ lẫn con; may mà người vợ mưu trí và có tài thơ phú, ca hát nên chồng vợ, con cái mới có dịp đoàn tụ một nhà vinh hiển.
Ngày nay đàn ông khác hẳn: Lúc hàn vi cùng vợ hiền chung tay gầy dựng cơ đồ. Lúc nguy nan chung lòng thoát hiểm. Lúc bệnh hoạn chia xẻ nỗi đau, xả thân chăm sóc không phải một ngày một bữa mà đơn vị tính là hàng năm. Gương hi sinh của cánh đàn ông bây giờ thì rất nhiều, nhìn quanh ta có vô vàn điển hình.
Cò Ông chấp nhận làm công việc, mà Bách Lí Hề chê là hèn hạ không đáng làm, khi tuổi tác đã lớn, lớn hơn nhiều Bách Lí Hề lúc làm tể tướng.
Lạc Thủy Đỗ Quí Bái săn sóc vợ bị Parkinson và Alzheimer hàng chục năm.
Anh Phí Minh Tâm, cũng vậy nuôi vợ bịnh hết lòng không lời oán thán.
Và còn nhiều nhiều nữa trong số các bạn bè tôi.
Phụ nữ có ngày 8/3, đàn ông thời thuần hóa cũng có nhiều không ít như xưa. Chả biết khi nào có ngày Phụ thân?
Cám cảnh phe đàn ông chung tình chịu thương, chịu khó, LB nương vận bài Đường luật phía trên của Lạc Thủy với ý bài Bà Cò Alzheimer và 2 câu chót Dậy Đi Em của Cò Ông để chế ra bài này. Xin mời đọc:

Tháng  Ba

Ngày tám tháng ba tớ biết rồi.
Lặng thầm tính sổ cuộc đời tôi
Chiến tranh, di tản bao lần thoát
Túng thiếu, gian nan kiếm nắm xôi
Dạy dỗ i tờ, mây tóc mượt
Rửa chùi quên lãng, xác da mồi.
Em ơi cố dậy cho thêm sức
Trái chín tuổi già dễ rớt rơi!

Lộc Bắc
***
Tôi biết tiếng anh Cò từ lâu, mới được gặp nhau cách đây mấy tháng ở Cali, hai anh em rất tương đắc, nói chuyện quên cả thời gian. Tuy tôi may mắn còn đủ cặp, nhưng rất thông cảm với nỗi lòng của anh Cò, và cảm phục sự hy sinh của anh đối với chị. Anh Lộc Bắc chê Bách lý Hề quên vợ con, tôi nghĩ anh thiếu thông cảm: Bách già rồi, lại bận công vụ, hồi đó phương tiện giao thông khó khăn, không dễ gì tự đi tìm vợ con, mà sai người khác thì ngày đó chưa có máy chụp hình, lại xa nhau đã nhiều năm, làm sao mà tìm được .Vì Bách làm tể tướng, nổi tiếng, vợ mới biết đường mà mò ra. Chứng cớ là khi gặp vợ, Bách cũng không nhận ra. Nếu là người vô ơn, bạc nghĩa thì Bách đã lấy vợ khác, và khi gặp vợ cũ và con thì cứ lờ đi..
Vì không đủ tài làm cả bài thơ, tặng anh Bảo hai câu thôi:

Thương nàng, lòng những ngẩn ngơ,
Trăm năm hương lửa, xin chờ kiếp sau..

Bát Sách Nguyễn Thanh Bình
***
Anh Cò,
Rất xúc động đọc bài Dậy Đi Em cuả anh. Ai là người nam nhi tuổi bát thập dư mà không có hoàn cảnh và tâm tư tương tự, phải không anh?
Nguyên Chẩn đời Đường là bạn thân của Bạch Cư Dị viết nỗi lòng mình trong một bài điệu vong (thương người đã mất) 3 kỳ dù lúc đó mới 36 tuổi. Kiềm Lâu lấy vợ là Vi Tùng lúc còn hàn vi. Vi Tùng mất sớm lúc hai vợ chồng còn thiếu thốn mọi bề. Sau Kiềm Lâu làm quan đến chức Tể Tướng chân thành thương nhớ người vợ tào khang nên có làm bài thơ lời lẽ bình dị, thanh thoát và xúc động.

Khiển Bi Hoài Kỳ Tam

Nhàn toạ bi quân diệc tự bi
Bách niên đô thị kỷ đa thì
Đặng Du vô tử tầm tri mệnh,
Phan Nhạc điệu vong do phí từ
Đồng huyệt yểu minh hà sở vọng
Tha sanh duyên hội cánh nan ky.
Duy tương chung dạ trường khai nhãn
Báo đáp bình sanh vị triển my.

Dịch: Khiển Bi Hoài Kỳ 3

Thương nhớ nàng lại đau xót phận
Đời trăm năm lận đận xiết bao
Đặng Du số mệnh lao đao
Khóc người Phan Nhạc tốn hao mỹ từ
Chuyện chung huyệt tợ như hẹn gió
Duyên gặp nàng đâu có lần hai
Không sao chợp mắt đêm dài
Làm sao tìm lại Dương Đài thuở xưa.

Ghi Chú:
Kiềm Lâu: người nước Tề, rất nghèo nhưng sống ngay thẳng thanh cao. Có người nói chính là Nguyên Chẩn.
Vi Tùng: con gái cưng của quan tể tướng Tạ An.
Đặng Du: người đời Tấn, chạy loạn phải đem theo con và cháu. Gặp hoàn cảnh phải cứu hoặc con hoặc cháu, Đặng Du bỏ con cứu cháu vì nghĩ mình còn có thể có con, trong khi em đã chết không còn có con được nữa.
Phan Nhạc: người nước Tấn. Khi vợ mất làm 3 bài từ Điệu vong, lời lẽ hoa mỹ tình ý tha thiết. Từ của Phan Nhạc được so ngang với từ của Tống Ngọc
Dương Đài: nơi ở của Vu Sơn Thần Nữ. Tương truyền, Sở Tiên Vương đi chơi Cao Đường ngủ mơ thấy thần nữ dâng gối chiếu. Ở đây muốn nhắc đến người thương yêu.

Phí Minh Tâm

***
Anh Bảo ơi,
Kiến thức của anh thật quái dị nên khi vung kiếm chiêu số khó đoán! Tôi xin cám ơn anh cho lạc vào đào hoa đảo của Đông Tà đảo chủ dù biết anh cũng "kẹt".
Tôi viết riêng cho anh để anh tuỳ nghi như tôi đã giãi bầy.
Đọc bài này của anh, tôi thật xúc động và cảm thông với nỗi "sầu lẻ bóng" của anh. Bà xã tôi tuy kém tôi cả chục tuổi nhưng cũng xấp xỉ "cổ lai hy”. Bây giờ cũng cảnh 2 con khỉ già trong empty nest mà cái lẽ vô thường ai biết được. Tình nghĩa phu thê của Bách lí Hề… chia ly cay đắng nhưng kết còn có hậu, bẩy bó mới lập thân làm nhớ tới câu thơ Đỗ Phủ "Bi quân biệt lão lệ triêm cân, thất thập vô gia vạn lý thân, sầu kiến chu hành phong hựu khởi… bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân. "Hình ảnh ông già 7 bó mà vô gia cư, lên thuyền khi gió nổi, xa dần đầu bạc nhấp nhô sóng bạc đầu… cảm khái chi đâu! Nhớ bài hát “Nhìn con thuyền xa bến” của Lưu Bách Thụ... Tuy nhiên, về lòng thuỷ chung tôi thấy tể tưởng Án Anh hay hơn.
Bài thơ của anh thống thiết ân tình làm tôi thấy ngượng với chính mình. Tôi cũng có bài thơ "Nịnh vợ" nhưng không tha thiết như anh. Tôi chép ra đây để anh thấy những nỗi buồn say xỉn khi bà xã ham đi shopping…

Xa em dẫu chỉ một vài giây.
Mà tưởng đất trời hết muốn xoay
Nắng chói đứng chờ cho đỡ bực
Mưa dầm ngồi đợi để còn gây
Mải vui khiến gã buồn thui thủi
Ham sắm làm chàng say ngất ngây
Nếu định đi lâu thì bảo trước
Để anh lo tưới cỏ cùng cây!

Anh thấy 2 câu đề chan chứa tình cảm, nhưng 2 câu thực đã có vẻ "du côn”, bực lắm chờ nàng về còn gây. 2 câu luận trách móc nhưng 2 câu kết vuốt ve lại sẵn sàng tưới hoa cỏ vườn tược cho nàng.
Tôi có ông cậu làm chủ báo "Quê Hương" năm xưa ở Hà Nội. Ông từng là chủ tịch hội cao niên vùng Hoa Thinh Đốn. Khi bà mợ tôi mãn phần, ông làm thơ than khóc hoài. Phải thời gian lâu, ông mới vơi nỗi sầu và vui trong văn chương thơ phú khi ông có nhiều bạn văn thơ ở miền đông. Ông qua đời ở tuổi 91. Hồi ông tổ chức kỷ niệm 60 năm văn thơ, tôi cũng có bài thơ mà tôi mong "cụ" CÒ trưởng tràng cũng tìm được an ủi trong nhóm bạn và quên mối sầu..

Sáu mươi năm nặng nợ văn thơ
Vẫn cứ say mê chẳng thể ngờ
Thi tứ mượt mà tình với luỵ
Văn chương chau chuốt mộng cùng mơ
Da mồi nhưng trí còn minh mẫn
Tóc bạc mà lòng lại ngẩn ngơ
Mừng cụ bây giờ đầy mãn nguyện
Không sầu lẻ bóng, hết bơ vơ!

Thật tình bây giờ rõ hoàn cảnh anh, tôi tha thiết mong anh vững mạnh lèo lái con thuyền LTCD 21 cứ lướt sóng mà đi.

Đỗ Tước

***
Phỏng Dịch: Khiển Bi Hoài

Ngồi rảnh thương em tủi tấm thân,
Trăm năm thời vận có bao lần.
Đặng du tuyệt tự yên phần số,
Phan Lạc uổng thơ lập điếu văn.
Chung huyệt mù mờ sao đợi được,
Kiếp sau gặp lại khó vô ngần.
Chỉ còn chong mắt đêm không ngủ,
Hận nỗi bình sinh chẳng đáp ân.

Lục Bát:

Thương em nghĩ cũng thương đời,

Trăm năm có được bao thời cơ đâu.
Đặng Du vô hậu đành sầu,
Uổng thơ Phan Lạc khóc nhau điếu từ.
Huyệt chung là chuyện mù mờ,
Kiếp sau gặp lại mong chờ có không ?
Đêm dài thao thức mắt chong,
Thương nàng xưa khổ , hận không kịp đền.

Song Thất Lục Bát:

Ngồi nhàn rỗi thương em tủi phận,

Trăm năm dài thời vận bao lần.
Đặng Du vô hậu cam phần,
Uổng thơ Phan lạc điếu văn khóc tình.
Chôn cùng huyệt phiêu linh sao đợi,
Gặp kiếp sau duyên nối khó mong.
Đêm dài thức trắng mắt chong,
Ân tình lúc sống hận không kịp đền.

Mỹ Ngọc
***
Tưởng nhớ Bà Cò vĩnh viễn ra đi đã 9 năm rồi từ ngày 30/01/2015.

Vợ Chồng Gắn Bó

Tình nghĩa từ thời tuổi ấu thơ
Mười lăm mười sáu mối duyên tơ
Chiến tranh ba trận hai lần tản
Vẫn sống bên nhau mộng với mơ

Vào tuổi tám mươi em lú lẫn
Bên chồng nhưng nhớ rồi quên, nhớ
Trách anh phụ bạc để em sầu
Anh vẫn cạnh em không hững hờ

Em đã ra đi cõi vĩnh hằng
Trong vòng tay ấm yêu thương vợ
Tình mình lộng lẫy như trăng sáng
Thôi hẹn kiếp sau thỏa đợi chờ

Thanh Vân
28.1.2024
 ***
Anh Cò kính mến.
Út Kim Oanh xin kính gửi đôi lời tưởng nhớ Chị Cò đã xa anh 9 năm qua.

Hôm nay tưởng nhớ Chị Cò
Trong anh chất chứa một kho tình đầy 
Bao nhiêu nồng ấm vui say
Nương theo làn khói quyện bay lên trời
Cầu chị hạnh phúc nghỉ ngơi
Dương trần anh mãi đời đời chẳng quên!

Kính mến!

Út Kim Oanh
Melbourne 30.1.2024


Thứ Năm, 30 tháng 3, 2023

Đường Sùng Huy Công Chúa Thủ Ngân Hoạ Hàn Nội Hàn 唐崇徽公主手痕和韓內翰 - Âu Dương Tu (Bắc Tống, Liêu)


(Chúc mừng thượng thọ chín mươi Ông Cò)

Âu Dương Tu 歐陽修 (1007-1072) tự Vĩnh Thúc 永叔, hiệu Tuý ông 醉翁, Lục Nhất cư sĩ 六一居士, thuỵ hiệu Văn Trung 文忠, người huyện Lư Lăng tỉnh Giang Tây. Ông là một vị cổ văn gia, lịch sử học gia có tiếng, lại là một thi nhân tài tình và phong phú. Ông còn là ân-sư (giám khảo) chấm thi cho Tô Đông Pha đậu thủ khoa tiến sĩ. Tác phẩm của ông hiện còn lại Lục nhất từ 3 quyển.

Nguyên tác                            Dịch âm

唐崇徽公主手痕和韓內翰  Đường Sùng Huy công chúa thủ ngân hoạ Hàn Nội Hàn

故鄉飛鳥尚啁啾 Cố hương phi điểu thượng chu thu (thâu), 何況悲笳出塞愁 Hà hướng bi già xuất tái sầu. 青冢埋魂知不返 Thanh Trủng mai hồn tri bất phản, 翠崖遺跡為誰留 Thuý Nhai di tích vị thuỳ lưu. 玉顏自古為身累 Ngọc nhan tự cổ vi thân luỵ 肉食何人與國謀 Nhục thực hà nhân dữ quốc mưu. 行路至今空嘆息 Hành lộ chí kim không thán tức, 岩花澗草自春秋 Nham hoa dã thảo tự xuân thu.

Chú giải

尚 thượng: còn, mà còn. Đạo Đức Kinh 道德經 (chương 23): “Thiên địa thượng bất năng cửu, nhi huống ư nhân” 天地尚不能久, 而況於人 Trời đất còn không dài lâu, phương chi là con người.

* 啁啾 chu thu: (từ ghép) khóc hu hu. Nghĩa đen của câu Cố hương phi điểu thượng chu thu là chim nhạn bay xa cố hương còn khóc hu hu. Trong bài LTCD thế kỷ 21 số 77c đã có một cuộc bàn cãi rất bổ ích về tiếng nhạn kêu; sau cuộc bàn cãi này ỐC công nhận rằng tiếng nhạn giống tiếng kèn đồng (có lẽ do hình thể đặc biệt của cổ họng nhạn). Các thi sĩ Đường-Tống vì vậy thường ví tiếng nhạn với tiếng khóc (ví von bao giờ cũng chủ quan nhưng rất thơ).
悲笳 bi già: cái kèn lá; người Hồ cuốn lá lại thổi như kèn, gọi là hồ già 胡笳.
青冢 Thanh Trủng: mộ của Vương Chiêu Quân. Tương truyền rằng cỏ trên mộ quanh năm xanh. Thoạt đầu ÔC viết sai chính tả theo Thi Viện là Thanh Chủng; nay sửa lại cho đúng theo đề nghị của Bát Sách.
埋魂 mai hồn: chôn vùi hồn.
翠崖 Thúy Nhai: tên phiến đá có dấu tay của công chúa Sùng Huy ở Sơn Tây. Nhà Đường gả công chúa Sùng Huy cho Hồi Hột khả hãn; khi công chúa đi qua đây, vì không muốn lấy chồng xa, dùng bàn tay níu vào vách đá nên đã lưu lại dấu tay”.
肉食 nhục thực: nghĩa đen là ăn thịt; nghĩa bóng là quan chức hưởng nhiều lộc.
嘆息: thán tức: than vãn, ấm ức, thổn thức. 空嘆息 không thán tức: chữ không (空) ở đây không có nghĩa phủ định mà có nghĩa là hư không; không thán tức nghĩa là không than vãn vô nghĩa.

** 岩花澗草自春秋 nham hoa dã thảo: hoa trong hang núi cỏ ở đồng nội; cụm từ này đồng nghĩa với câu châm ngôn của người Việt “hoa đồng cỏ nội”, ý nói những hoa cỏ trên mặt đất.

***春秋 xuân thu: mùa xuân và mùa thu. Âu Dương Tu, thi hào danh tiếng về cổ thi đã dùng cụm từ xuân thu để ám chỉ thời gian qua mau. Nguyễn Du cũng lấy nghĩa chóng vánh của xuân thu trong hai câu thơ của truyện Kiều: Những là phiền muộn đêm ngày, Xuân thu biết đã đổi thay mấy lần. Con Cò rất hứng khởi khi dịch câu Nham hoa dã thảo tự xuân thu là: Hoa đồng cỏ nội sớm xuân thu!

Dịch nghĩa

Dấu tay của công chúa Sùng Huy nhà Đường, hoạ (thơ) Hàn Nội Hàn

Con nhạn bay xa quê còn kêu như khóc, Huống chi lại đi ra ngoài biên ải nghe tiếng hồ-già buồn. (Vương Chiêu Quân) Vùi hồn trong Thanh Trủng (vì) biết là sẽ mãi mãi không về (nước), (Công chúa Sùng Huy) Vì không muốn xa quê mà để dấu tay lại ở Thuý Nhai. Từ xưa tới nay sắc đẹp làm lụy đến thân, Quan chức (người ăn thịt), những ai lo cho nước? Nay (ta) qua đây không khỏi than thở: Hoa trong hang núi, cỏ ở đồng nội sẽ lụi tàn mau (theo mệnh trời)!

Dịch thơ

Dấu tay của công chúa Sùng Huy nhà Đường, hoạ (thơ) Hàn Nội Hàn

Nhạn bay xa xứ khóc hu hu, 
Hòa tiếng hồ-già vượt ải mù. 
Thanh Trủng vùi hồn than vĩnh biệt, 
Thúy Nhai ghi dấu để ngàn thu. 
Tự xưa sắc đẹp làm thân lụy, 
Quan chức nào ai nhớ quốc thù? 
Qua ải buổi nay ta thổn thức: 
Hoa đồng cỏ nội* sớm xuân thu!**

Lời bàn:

Trước hết hãy đọc một đoạn trích rất đặc sắc trong Thi Viện:

Bài này tuyển từ Âu Dương Văn Trung toàn tập quyển 13 (Cư sĩ tập). Năm Đại Lịch thứ 4, Đường Đại Tông đem con gái của Thái Ninh quận vương Phác Cổ phong làm Sùng Huy công chúa, rồi gả cho Hồi Hột khả hãn. Nay linh thạch ở Sơn Tây có bia mang ngấn tay của Sùng Huy công chúa; truyền lại là: “Khi công chúa được gả cho Hồi Hột đi qua đây, vì không muốn lấy chồng xa, dùng bàn tay níu vào vách đá nên lưu lại dấu tay”. Bài thơ này làm vào năm thứ tư Gia Hựu (1059); tác giả, thông qua đề tài, bi kịch hoá công chúa Sùng Huy, gửi gắm nỗi lo về phương bắc lúc bấy giờ. Vế đối thứ nhất (hai câu 3 & 4), được Chu Hy khen: “Nói về thơ, là thơ số một, nói về nghị luận, cũng là nghị luận số một” (Trích trong Thi Viện).

Sau đây là lời bàn thường lệ của Con Cò

Chu Hy là một học giả bình luận cổ thi danh tiếng nhất Trung quốc. Ông đã có công chú giải toàn bộ Kinh Thi do Khổng tử san định. (Mạnh Tử chỉ chú giải được một phần nhỏ của KT). Lời khen của Chu Hy cho bài thơ này có một giá trị rất lớn.

Bài thất ngôn bát cú này rất độc đáo nên Con Cò đã phải:

1/ Dùng lời bình luận của học giả Chu Hy để mình khỏi phải bàn cho hai câu 3 & 4. (Xin xem lời khen của Chu Hy do Thi Viện trích ở trên).
2/ Viết chú giải cho cụm từ chu thu để làm rõ nghĩa cho câu 1 của nguyên bản. (Xin xem chú giải cho chu thu*)
2/ Dùng châm ngôn Việt để giải nghĩa cụm từ nham hoa dã thảo. (Xin xem chú giải cho nham hoa dã thảo**)
3/ Phối hợp thơ của Âu Dương Tu với thơ của Nguyễn Du để giải nghĩa cụm từ xuân thu. Nếu không hiểu xuân thu là chóng vánh thì không thể nào dịch suôi được câu 8. (Xin xem chú giải cho xuân thu ***).
Con Cò
***
Các Bài Dịch Khác:

Dấu tay Của Công Chúa Sùng Huy Nhà Đường, Hoạ Hàn Nội Hàn

Chim bay biệt xứ rúc buồn đau,
Lại nữa kèn kêu ở ải sầu.
Thanh Trủng hồn vùi về hết được,
Thúy Nhai dấu ấn có vì đâu.
Từ xưa sắc đẹp làm thân lụy,
Việc nước quan sai chẳng kẻ cầu.
Thấy chuyện qua đường nay thổn thức,
Hoa rừng cỏ nội sẽ tàn mau.

Mỹ Ngọc .
Mar. 6/2023.
***
Hoạ Hàn Nội Hàn

Đến mùa Nhạn bỏ quê hương,
Tiếng kêu ỏi óng - bi thương vang trời.
Huống chi biên ải xa vời,
Âm buồn kèn lá, dạ thời hắt hiu.
Mả mồ Thanh Trủng tiêu điều,
Bất hồi cố quận - Vương Chiêu Quân sầu...
Sùng Huy Công Chúa xót đau,
Thúy Nhai lưu vết năm đầu ngón tay.
Chí kim tự cổ xưa nay,
Hồng nhan bạc phận - chuốc vay lụy phiền.
Quan quyền bổng lộc bao niên,
Mấy ai lo ngại hậu tiền nước non?
Chu du ngang dọc làng thôn,
Thở dài tắc lưỡi - điếng hồn than van:
Cỏ hoa đua nở bạt ngàn,
Phù du chóng úa - bàng hoàng xuân thu...

Khánh-Hưng
***
Dấu Tay Công Chúa Nhà Đường  

Chim rời quê cũ khóc hy hu
Huống tiếng kèn than chốn ải Hồ
Mả biếc lấp hồn không trở lại
Vách xanh dấu tích cớ chi lưu?
Mày xinh từ cổ gây thân lụy
Quan giặc ai người góp kế mưu
Qua lộ nay còn vương oán thán
Cỏ đồng, hoa đá cũng xuân thu!

Lộc Bắc
Mars23
***
Dấu Tay Công Chúa Đại Đường

Nhạn lạc xa rừng kêu thảm thê
Âm cùng kèn lá vọng đưa về
Thuý Nhai in dấu bàn tay khắc
Thanh Trủng vùi hồn mộ ủ ê
Nhan sắc xưa/nay thường khốn đốn
Cao lương vạn thưở vẫn mồi mê!
Ải biên không khỏi buồn than thở
Cỏ dại hoa đồng sống ngắn ghê!!!

Rời rừng nhạn lẻ khóc khàn
Tiếng hồ già thổi… lại càng bi thương
Chiêu Quân Thanh Trủng hồn vương
Thuý Nhai công chúa Đại Đường dấu tay
Xưa nay tài sắc hoạ tai
Quan to yến tiệc miệt mài đáng khinh
Ngang qua ải đưa mắt nhìn
Hoa đồng cỏ nội lung linh chiều tàn

Kiều Mộng Hà
Mar23rd2023
***
Góp ý:

Đường Sùng Huy Công Chúa Thủ Ngân Hoạ Hàn Nội Hàn.
Dấu Tay Của Công Chúa Sùng Huy Nhà Đường, Hoạ Thơ Hàn Nội Hàn.

Nhạn bay lìa tổ hót bi thương,
Nghe tiếng kèn Hồ biệt cố hương,
Thanh trủng chôn hồn về chẳng được,
Thúy nhai còn vết tại ai vương,
Mặt ngọc trước nay làm thân lụy,
Quan chức ai người giữ kỷ cương,
Nay tới chốn đây lòng uất hận,
Hoa rừng, cỏ dại đã bao sương.

Bát Sách.
(Ngày 06 tháng 03 năm 2023)
***
Nguyên tác:           Phiên âm:

唐崇徽公主手痕   Đường Sùng Huy Công Chúa Thủ Ngân
欧阳修                   Âu Dương Tu

故鄉飛鳥尚啁啾   Cố hương phi điểu thượng trù thu 
何況悲笳出塞愁   Hà hướng bi già xuất tái sầu
 青冢埋魂知不返  Thanh Trủng mai hồn tri bất phản 
翠崖遺跡為誰留   Thúy Nhai di tích vị thùy lưu 
玉顏自古為身累   Ngọc nhan tự cổ vi thân lụy 
肉食何人與國謀    Nhục thực hà nhân dữ quốc mưu
 行路至今空嘆息   Hành lộ chí kim không thán tức 
巖花野草自春秋    Nham hoa dã thảo tự xuân thu 

· Tống Nguyên Thi Hội - Thanh - Trần 宋元詩會-清-陳焯 
· Tống Thi Sao - Thanh - Ngô Chi Chấn 宋詩鈔-清-吳之振 
· Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石倉歷代 詩選-明-曹學佺 
· Tống Thi Kỷ Sự - Thanh - Lệ Ngạc 宋詩紀事-清-厲鶚 
· Thi Lâm Quảng Ký - Tống - Thái Chánh Tôn 詩林廣記-宋-蔡正孫

Bài thơ được khắc đăng trong các sách bên trên. Sách của Lê Ngạc và Thái Chánh Tông cho tựa bài thơ đơn giản và dễ hiểu là Đường Sùng Huy Công Chúa Thủ Ngân (Dấu tay của công chúa Sùng Huy nhà Đường). Các sách khác có tựa dài 11 chữ: Đường Sùng Huy Công Chúa Thủ Ngân Họa Hàn Nội Hàn.


Chưa kịp hết ngạc nhiên và vui với cái tựa ngắn 7 chữ dễ hiểu dễ dịch. Với cái tựa dài 11 chữ, tôi không chắc dịch nghĩa 4 chữ Họa Hàn Nội Hàn 和韓內翰 ra sao cho đúng? Họa Hàn Nội Hàn = họa theo Hàn Nội Hàn (tên một nhân vật, một tác phẩm?). Các bài thơ với tựa dài 11 chữ dùng 2 chữ 涧草 = giản thảo trong câu 8. Các bài thơ với tựa 7 chữ dùng 2 chữ 野草 = dã thảo trong câu 8. Điều không ngạc nhiên là Thi Viện chép bài thơ tựa dài 11 chữ với câu 8: 岩花澗草自春秋,và phiên âm sai: Nham hoa dã thảo tự xuân thu. Chưa kể bài Hán Việt phiên âm sai chữ 2 câu 3. 冢 = trủng, không phải chủng, theo chính tự điển của Thi Viện.

Ghi chú:

Sùng Huy Công Chúa: Năm 769, Đường Đại Tông phong cho con gái út của danh tướng nhà Đường Cố Hoài Ân làm Công Chúa Sùng Huy và gả cho Hồi Hột Đăng Lý Khả Hãn để giao hòa. Truyền thuyết kể rằng khi công chúa đi qua vùng Âm Địa, bên bờ sông Phần, huyện Linh Sơn, tỉnh Sơn Tây, vì không muốn lấy chồng phương xa, dùng bàn tay níu vào vách đá nên đã lưu lại dấu tay. Người đời sau gọi là bia Thủ Ngân. Trên bia còn có bài thơ Âm Địa Quan Sùng Huy Công Chúa Thủ Tích 阴地关崇徽公主手迹 của Lý Sơn Phủ 李山甫, thi nhân đời Đường.

Thủ ngân: dấu vết của bàn tay
Hàn Nội Hàn: Hàn Ác 韓偓, Nội Hàn chỉ Hàn Lâm học sĩ.

Hàn Ác (khoảng năm 842 – 923), một trong 5 đại thi nhân đời Vãn Đường, tên là Đông Lang, tự Trí Quang, hiệu Trí Nghiêu, tuổi già còn được gọi là Ngọc Sơn Tiều Nhân. Người huyện Vạn Niên, Thiểm Tây (nay là Phàn Xuyên). Thuở nhỏ thông minh hiếu học, năm 10 tuổi, từng làm thi phú tặng cho dượng là Lý Thương Ẩn, khiến mọi người kinh ngạc. Lý Thương Ẩn khen ngợi bài thơ của ông là "Tiếng phượng thanh trong lão phượng". Năm Long Kỷ đầu (năm 889), Hàn Ác phủ đậu tiến sĩ, lần đầu nhậm chức mạc phủ tiết độ sứ trấn Hà Trung. Các triều sau đó, ông giữ các chức vụ: Tả Thập Di, Tả Gián Nghị Đại Phu, Độ Chi Phó Sứ, Hàn Lâm Học Sĩ… Hàn Ác có để lại một thi văn tập gọi là Hàn Nội Hàn Biệt Tập 韓內翰別集. Tuy nhiên tôi không tìm được gì liên quan đến Công Chúa Sùng Huy trong biệt tập này. Ngoài ra trong hơn 316 bài thơ của Hàn Ác để lại trong Toàn Đường Thi Khố, không có bài thơ nào nói về Công Chúa Sùng Huy. Ngự Định Toàn Đường Thi chỉ có duy nhất 2 bài thơ của Lý Sơn Phủ viết về Công Chúa Sùng Huy là Âm Địa Quan Sùng Huy Công Chúa Thủ Tích 阴地关崇徽公主手迹 Di Tích Dấu Bàn Tay Của Công Chúa Sùng Huy Nơi Ải Âm Địa và Đại Sùng Huy Công Chúa Ý 代崇徽公主意 Thay Mặt Sùng Huy Công Chúa Nói Ý.

Trù thu: tiếng chim hót líu lo
Hà hướng: huống chi, dùng giọng điệu hỏi ngược lại để biểu đạt ý tứ
Già: một nhạc cụ ống như sáo cổ xưa, được truyền từ phía bắc và tây vực vào Trung Nguyên. Vì âm của nó buồn nên được gọi là bi già. Cái kèn lá người Mán cuốn lá lại thổi gọi là hồ già 胡笳.
Xuất tái: ra khỏi biên giới
Thanh Trủng: mộ của Vương Chiêu Quân đời Hán, tương truyền rằng địa phương có nhiều cỏ trắng mà cỏ trên mộ này luôn xanh. Ngày nay, nằm trong khu tự trị Nội Mông.
Mai hồn: chôn cất hồn phách anh hùng tử sĩ

Thúy Nhai: tên phiến đá có dấu tay của công chúa Sùng Huy ở Linh Sơn/Đài, Sơn Tây
Di tích: dấu vết của con người và những đồ vật còn sót lại từ thời xưa
Ngọc nhan: dung nhan đẹp đẽ
Nhục thực: ăn thịt, vinh thân phì da chỉ các quan chức hưởng nhiều bổng lộc
Hành lộ: người qua đường
Chí kim: cho đến bây giờ
Thán tức: thở dài, thở than cho số phận hẩm hiu của người phụ nữ; tán thưởng khen ngợi sự hy sinh thân phận cho đất nước
Xuân thu: mùa xuân và mùa thu; việc cúng tế mùa xuân và mùa thu; ánh sáng và bóng tối; quanh năm; tên thời đại; niên sử cổ…

Dịch nghĩa:

Đường Sùng Huy Công Chúa Thủ Ngân
Dấu Tay Của Công Chúa Sùng Huy Nhà Đường

Cố hương phi điểu thượng trù thu
Con chim bay rời xa quê hương còn kêu gào,
Hà hướng bi già xuất tái sầu
Huống chi công chúa lấy chồng ngoài biên ải ngày đêm nghe tiếng sáo buồn.
Thanh Trủng mai hồn tri bất phản
Chôn hồn phách trong Thanh Trủng biết không còn trở về,
Thúy Nhai di tích vị thùy lưu
Để lại dấu tay ở Thúy Nhai là vì ai?
Ngọc nhan tự cổ vi thân lụy
Từ xưa dung nhan xinh đẹp hay làm lụy đến thân,
Nhục thực hà nhân dữ quốc mưu
Những kẻ hưởng bỗng lộc, ai là người lo cho đất nước?
Hành lộ chí kim không thán tức
Hôm nay đi ngang qua đây không khỏi thở than,
Nham hoa dã thảo tự xuân thu
Hoa đồng cỏ nội khắc tự sinh ra và tự lụi tàn.

Bài thơ này làm ở Hà Nam vào năm thứ tư Gia Hựu (1059), tác giả thông qua bi kịch của công chúa Sùng Huy, gửi gắm nỗi lo về phương bắc lúc bấy giờ. Vế đối thứ nhất:

Thanh Trủng   mai hồn   tri bất phản
Thúy Nhai      di tích       vị thùy lưu

được Chu Hy khen: “Nói về thơ, là thơ số một, nói về nghị luận, cũng là nghị luận số một”.

Vế đối thứ hai:

Ngọc nhan   tự cổ       vi thân lụy
Nhục thực    hà nhân  dữ quốc mưu

cũng hoàn hảo về từ, thanh và ý.

Trong bài thơ, thi nhân không chỉ thương công chúa Sùng Huy phải lấy chồng nơi xa xôi và than khóc cho bất hạnh của mình, mà còn chỉ ra nguyên nhân của thảm kịch này. Bài thơ có phong cách khác với những bài hát buồn thông thường, truyền cảm hứng cho mọi người trong nỗi buồn sâu sắc và sau đó suy nghĩ về bi kịch cá nhân của người phụ nữ, khơi dậy sự phẫn nộ đối với những kẻ hưởng nhiều bổng lộc mà không thể mưu đồ cho đất nước.

Dịch thơ:

Công Chúa Sùng Huy

Xa quê chim chóc cũng thương đau,
Biên ải ngày đêm sáo thảm sầu.
Thanh Trủng phách hồn không trở lại,
Thúy Nhai dấu đá nhắc nghìn sau.
Xưa nay nhan sắc làm thân lụy,
Đâu đấy mâm cao chất của giàu.
Khách ghé qua đây lòng tán thán,
Cỏ hoa đồng nội tự thay màu.

Tang Princess Chong Hui by Ou Yang Xiu
Birds cry flying away from the father land,

The princess, marrying outside the border, listened to the sad flute day and night.
Qing Zhong tomb would not allow the spirit to return home,
Cui Ya stone retains the hand print for whom?
Beauty has from times past been responsible for misfortune,
Who among the well-fed officials have plans for the country survival?
Passers-by to this day do not fail to sigh thoughtfully,
Flowers on the cliff and grass in the wild flush between autumn and spring.

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

啁啾 là từ onomatopoeia bắt chước tiếng chim ríu rít và âm Hán-Việt tru thu (hay trảo thu) không giống gì tiếng ngỗng kêu hết. Câu đầu bài thơ tả cảnh chim bay và hót ríu rít trên trời phương Tây, tương phản với tiếng kèn Hồ buồn bã ở biên ải trong câu nhì và trong hai câu thơ hoàn toàn không có gì gợi ý nhạn/ngỗng thiên di hết! Một tựa đề cho bài thơ cho ta biết rằng đây là một bài họa thơ Hàn Ác (không biết có sử liệu nào có bài đó) và ta chỉ có thể đoán rằng bài thơ của họ Âu phản ảnh tâm trạng người có tài năng bị biếm đến Sơn Đông-An Huy (Đông-Bắc Hoa Lục) chỉ vì triều chính thối nát. Câu đầu bài thơ không tả cảnh chim thiên di mà nói lên tâm trạng nhớ nhà - chim bay và hót ríu rít trên trời có thể ám chỉ đám quan lại nhởn nhơ vô tích sự ở triều đình, tựa như tâm trạng của Sùng Huy công chúa làm vợ người Nội Mông.

笳=già là một loại nhạc khí của người Hung Nô/Mông Cổ mà bây giờ không còn ai biết chính xác thế nào; hình dạng tựa như các loại kèn gỗ, tre hay sừng, có lưỡi gà (reed) hay không.

 
胡笳

Các dữ kiện kèn làm bằng lá quấn lại rất có thể đến từ Thái Diễm Biệt Truyện trong đó kể chuyện người Hồ cuốn lá thành kèn để tưởng nhớ Thái Văn Cơ (một thi-nhạc sĩ, con gái của Thái Ung thời Tam Quốc bi bắt làm thiếp một lãnh chúa người Hung Nô ở Nội Mông) sau khi cô ta được Tào Tháo chuộc lại. Thái Văn Cơ là nhân vật trong Hồ Già Thập Bát Khúc - một bản thơ và nhạc cho cổ cầm về tiếng nhạc Hồ già - và rất có thể rằng người đời sau dựng hư cấu về Hồ già từ đó. Theo Thái Bình Ngự Lãm, người Hồ cuốn lá sậy làm kèn thổi nhưng rất có thể rằng cái kèn sơ khai này không phải là kèn người Hồ dùng trong trận mạc. Link bên cạnh hình kèn ở trên đưa ta đến một bài viết rất chi tiết về Hồ già và gợi ý rằng cho dù Hồ già là một loại kèn Mông Cổ, tên của kèn có thể có gốc Hán vì kèn nguyên thủy làm từ lá 葭 (gia, lau/sậy) và 笳 (già, kèn) là hai từ đồng âm.

和親=hòa thân, dịch sang Anh ngữ là marriage alliance, là một tập tục/phương cách chính trị rất thông thường thời cổ trong nhiều quốc gia Âu Á, không chỉ riêng gì ở đất Hoa Lục. Từ tập tục này người Việt có truyền thuyết Huyền Trân Công Chúa, và hoàng tộc Âu Châu có hiện tượng di truyền hemophilia. Mặc dù danh từ công chúa được thấy thường xuyên trong các truyền thuyết-dật sử, công chúa không hẳn đã là con gái của vua, mà có thể chỉ là một tước hiệu cho người đàn bà trong vài hoàn cảnh đặc biệt nào đó.

Sùng Huy công chúa là con gái của tướng nhà Đường 僕固懷恩=Bộc Cố Hoài Ân, người bộ lạc Bộc Cố Bộ. Chị của cô đã được gả theo lối 和亲=hòa thân cho 登里可汗=Đăng Ly khả hản và được gọi là 光亲可敦=Quang

Thân khả đôn (khả hản là từ Hán-Việt để gọi vua người Mông cổ/Turk, và khả đôn dùng cho hoàng hậu). Cô chị chết sớm và Đường Đại Tông phong cô em thành Sùng Huy công chúa để tiếp tục đường lối hoà thân với Đăng Ly khả hãn nên Sùng Huy công chúa cũng trở thành một khả đôn.

Tại sao đời sau có dật sử cho cô em họ Bộc Cố mà không thấy nói đến cô chị thì ta chỉ có thể đoán mò nhưng người đọc chuyện có thể phân vân tại sao hình như không ai biết tên cúng cơm của các "khả đôn" này là gì. Có gì đặc biệt nơi cô em để có thể lưu lại dấu tay trên vách đá? Các dữ kiện về Sùng Huy công chúa đến từ đây: 崇徽公主 - zn.Wikipedia

Huỳnh Kim Giám


Chúc Mừng Của Đỗ Tước:

Mừng huynh cửu thập cổ lai hy
Nặng nợ cả đời với cổ thi!
Cắt nghĩa rõ ràng không kẻ vượt..
Dịch thơ bay bướm ít ai bì...
Diễn đàn tranh luận nhiều gây cấn
Chủ bút dung hoà bớt thị phi
Mọi việc sau cùng rồi cũng ổn
Chuyện cho qua được sẽ du di...

Đỗ Tước 
29-3-202
***
Thư ký xin mời độc giả đọc bài chúc thọ đàn chủ 90 tuổi của Bát Sách với sự thêm gia vị của Lộc Bắc.

Tặng Ông Cò

Tuổi thật Ông Cò sắp chín mươi,
Thân già tâm trí vẫn còn tươi, .
Hung hăng, từ Tống nhào vô dịch,
Lãng mạn thơ Đường sửa chút chơi. (hoang đường hóa)
Con cháu góp tiền đi vạn dặm,
Bằng xe đọc trật bị thâu hồi.
Từ nay cuốc bô đi mua sắm,
Tội cặp chân gầy chống gậy thôi.

Bát Sách. (Lộc Bắc thêm chút gia vị)


Thứ Tư, 29 tháng 6, 2022

採蓮曲 其二 Thái Liên Khúc Kỳ Nhị - Vương Xương Linh (Thịnh Đường)


Vương Xương Linh 王昌齡 (khoảng 698-756) tự là Thiếu Bá (少伯); được bạn bè khen là vua thơ (thi thiên tử), từng một thời là bạn thơ của thi bá Lý Bạch. Năm 27 tuổi đỗ Tiến sĩ (cùng tuổi với Lý Bạch khi đậu tiến sĩ). 7 năm sau ông lại đỗ Khoa bác học hoằng từ, chuyển đi làm Quan Uý ở Di Thuỷ. Nhưng do hành vi lãng mạn, bị biếm ra nơi biên ải làm Quan Uý ở Long Tiêu... Rồi về làm chức Thừa ở quê (Giang Ninh=Nam kinh). Ở đây Ông ngâm thơ không biết mệt mỏi. Không may Ông đắc tội với Thứ Sử bản địa Lư Khâu Hiểu nên bị Lư giết. Về sau Trấn thủ Hà Nam là Trương Cảo, điều quân đội các Lộ đến tập hợp, Lư Khâu Hiểu đến chậm bị xử tử (bị kết tội khi quân), coi như đó là báo thù cho Vương Xương Linh (ai bảo Lư dám giết vua thơ?).

Lời phi lộ

採蓮曲 Thái Liên Khúc là đầu đề của gần một chục bài thơ Đường nhưng chỉ có 3 bài của Vương Xương Linh (LTCD thế kỷ 21 bài 673b), Lý Bạch (LTCD thế kỷ 21 bài 55c) và Bạch Cư Dị (LTCD thế kỷ 21 bài 100) là có sức quyến rũ độc giả như loài yêu tinh. Bài của họ Vương và của họ Lý tả nhan sắc của cô gái hái sen; bài của họ Bạch tả nét quyến rũ của cảnh trai gái tự tình lúc hái sen. Cả 3 bài đều là 3 ngôi sao lấp lánh trên bầu trời thơ văn quốc tế.

Nguyên tác         Dịch âm

採蓮曲其二        Thái Liên Khúc Kỳ Nhị

荷葉羅裙一色裁 Hà diệp la quần nhất sắc tài
芙蓉向臉兩邊開 Phù dung hướng kiểm lưỡng biên khai
亂入池中看不見 Loạn nhập trì trung khan bất kiến
聞歌始覺有人來 Văn ca thủy giác hữu nhân lai

Chú giải:

荷葉 hà diệp: lá sen.
羅裙 la quần: quần là.
芙蓉 phù dung: dáng hoa.
亂入 loạn nhập: nhập loạn xà ngầu vào….
池中 trì trung: trong ao.
看不見 khan bất kiến: nhìn chẳng phân biệt được.
聞歌始 văn ca thủy: nghe hát dưới nước.
覺有人來 giác hữu nhân lai: biết có người tới.

Dịch nghĩa

Lá sen và quần lụa cùng một sắc màu,
Hoa sen nghiêng về mặt người, hai bên cùng nở.
Trong ao lẫn lộn nhìn không biết (phân biệt) được,
Nghe tiếng hát mới nhận ra là có người.

Dịch thơ

Ca Khúc Hái Sen kỳ nhị

Sen thắm quần là một sắc tươi,
Phù dung mỹ nữ sánh chung đôi,
Lẫn lộn trong ao phân biệt khó,
Nghe ca dưới nước nhận ra người.

Lời bàn

Bài thơ được soi sáng bởi 4 ngọn đưốc: đó là 4 câu thất ngôn; 3 câu đầu rất kiều diễm, tô điểm cho câu 4 trở thành linh hồn của bài thất ngôn tứ tuyệt. Ý tổng quát của cả bài như sau:
“Mặt người và sắc hoa sen đẹp ngang nhau cho nên tác giả cứ tưởng dưới ao chỉ có hoa sen, không có người. Tới khi nghe tiếng hát vọng lên từ dưới ao mới hiết trong ao có người. Biết trong ao có cả người và hoa sen nhưng vẫn không phân biệt được đâu là hoa sen, đâu là mặt người! Dưới ngòi bút của Vương Xương Linh mặt cô gái hái sen đã biến thành yêu tinh gốc hoa sen”.

Thật là tuyệt! Trong ngôn ngữ của loài người, chưa hề thấy lời thơ nào tả nhan sắc của cô gái hái sen lại khéo léo đến như vậy. Muốn so sánh 2 thứ giống nhau, người ta thường nói “giống nhau như 2 giọt nước”. Nhưng hai giọt nước chỉ giống nhau về hình dáng, khích thước, sức nặng, màu sắc chứ chưa hẳn giống nhau về nét duyên dáng, nét kiều diễm, nét quyến rũ…. Họ Vương chỉ cần nói lên một khác biệt duy nhất là: cô gái hái sen biết nói mà hoa sen thì câm; còn tất tần tật những điểm khác thì giống nhau y hệt. Cái nét-yêu-tinh-của sự so sánh nằm ở điểm này.

 Con Cò
***
Khúc Hát Hái Sen Kỳ 2

Áo lụa, lá sen, giống sắc màu,
Mỹ nhân, hoa thắm, đẹp như nhau.
Trong hồ lẫn lộn khôn nhìn rõ,
Nghe hát nhìn ra khách ở đâu.

Mỹ Ngọc 
May 26/2022.
***
Bài hát hái hoa sen

Dung nhan ngời giữa ngàn hoa
Xanh xanh màu lá lụa là xiêm y
Lung linh ẩn hiện chợt khi
Véo von nghe tiếng họa mi – biết nàng!

Yên Nhiên
***
Thái Liên Khúc Kỳ 2

Váy lụa, lá sen tiệp một màu
Phù dung, má thắm liếc nhìn nhau
Trong ao lẫn lộn trông nào rõ
Thiếu nữ nhận ra - giọng hát mau!

Lộc Bắc
Jun2022
***
Bài Ca Hái Sen Kỳ 2

Lá xanh váy lụa cùng màu
Má đào hoa thắm đua nhau rạng ngời
Ẩn hiện bóng dáng nụ tươi
Nghe ca mới rõ có người trong ao.


Kim Oanh
***
Nguyên tác: Phiên âm:

採蓮曲其二-王昌齡 Thái Liên Khúc Kỳ 2 – Vương Xương Linh

荷葉羅裙一色裁 Hà diệp la quần nhất sắc tài
芙蓉向臉兩邊開 Phù dung hướng kiểm lưỡng biên khai
亂入池中看不見 Loạn nhập trì trung khan bất kiến
聞歌始覺有人來 Văn ca thủy giác hữu nhân lai

Bài thơ được khắc bản trong các sách:

Đường Bách Gia Thi Tuyển - Tống - Vương An Thạch 唐百家詩選-宋-王安石
Đường Âm - Nguyên - Dương Sĩ Hoằng 唐音-元-楊士弘
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石倉歷代詩選-明-曹學佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁
Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư - Nhạc Phủ Thi Tập Quyển 50 钦定四库全书 - 乐府诗集卷五十

Ghi chú;

La quần: váy được làm từ vải lụa mỏng mềm mại
Nhất sắc tài: cắt một màu, giống như cắt bằng cách sử dụng cùng một màu sắc của quần áo.
Phù dung: hoa sen.
Loạn nhập: lộn xộn, trộn lẫn, lẫn lộn.
Khán bất kiến: không thể phân biệt được đâu là hoa đỏ lá xanh của sen (phù dung), đâu phải là hồng nhan váy xanh của thiếu nữ.
Văn ca: nghe bài hát.
Thủy giác: mới biết.

Dịch nghĩa:

Thái Liên Khúc Kỳ 2

Bài Hát Hái Sen Kỳ 2

Hà diệp la quần nhất sắc tài
Lá sen và váy lụa của thiếu nữ hái sen cùng một màu (xanh lá cây),
Phù dung hướng kiểm lưỡng biên khai
Khuôn mặt thiếu nữ ẩn hiện giữa hoa sen nở rộ, chiếu rọi lẫn nhau.
Loạn nhập trì trung khan bất kiến
Trong hồ sen lẫn lộn nhìn không phân biệt được bóng dáng,
Văn ca thủy giác hữu nhân lai
Nghe tiếng hát mới nhận ra là có người.

Bình luận:

Thi nhân so sánh người với hoa: trong câu 1 (váy xanh như màu lá), trong câu 2 (mặt đẹp tươi cười như hoa nở) và câu 3 (hoa và người lẫn lộn vì má hồng hoa cũng hồng, quan trọng hơn nữa là người đẹp như hoa).

Dịch thơ:

Hái Sen

Lá sen váy lụa cùng xanh tươi,
Má phấn hoa hồng đua nở cười.
Lẫn lộn trên ao chẳng khác biệt,
Nghe hát trong thanh biết có người.

Bài Ca Hái Sen

Lá sen váy lụa cùng màu,
Má hồng hoa thắm cùng nhau nở cười.
Lá hoa rậm rạp xanh tươi
Nghe ca mới biết có người trên ao.

Song of Cutting Lotus Flowers by Wang Chang Ling
The lotus leaves and the girl’s skirt are of the same green color,
The flowering lotus and the girl’s face reflect each other.
In the crowded pond, it’s difficult to distinguish her face and flowers,
Only when hearing the song then you realize her presence.
Chanson de la Cueillette des Lotus par Wang Chang Ling

Traduction de Alex

Les feuilles de lotus sont de la même couleur que le tissus de sa jupe,
Et son visage se confond avec les fleurs ouvertes en deux profils :
Marchant dans l'étang, elle crée une agitation qui achève de la dissimuler,
Et ce n'est que par sa chanson que je prends conscience de sa présence.

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:
Cám ơn ÔC đã chọn mấy bài Thái Liên Khúc.
Bài kỳ nhị của Vương là BS thích nhất, đã thuộc từ lâu, vì bài thơ quá hay, rất lãng mạn, tả cảnh mà mơ hồ như Liêu Trai… Vả lại cũng vì có dính dáng tới chuyện riêng tư của mình… BS bị một vị tiểu sư muội chê là anh BS mê rất nhiều người mà không được ai mê lại.. Ngày xưa, BS mê một cô nữ sinh Trưng Vương, có tên là loài hoa sen thơm ngát, mê tả tơi, mê hốc hác… những muốn hái sen mà hái không được…. Chuyện này thì Tước Đỗ biết rành lắm.
Bài thơ này ngắn, không có chữ khó, BS không phải dài dòng, chỉ dịch thôi.

Bài ca hái sen, kỳ nhì.

Lá sen, quần lụa một mầu tươi,
Hoa hướng mặt ai, đẹp rạng ngời,
Lẫn lộn trong ao nhìn không thấy,
Nghe ca mới biết có người thôi.

Bát Sách.
(Ngày 26 tháng 5 năm 2022)
----------
Tái bút:
Cảm đề viết thêm một bài thơ về ngày khai mở đóa sen thơm ngày cũ
Cảm Đề Thái Liên Khúc của Vương Xương Linh.

Xem thơ lãng mạn thật nhẹ nhàng,
Hoa kia sao lại đúng tên nàng,
Tình xưa tưởng đã thành truy ức,
Mà trái tim ta vẫn rộn ràng.

Bát Sách.
(ngày 19/ 06 / 2022)
***
Góp ý:
Vì BS cảm khái bài hái sen nên hé mở tâm tình "Sen thơm ngày cũ" và còn nói tôi rành 36 câu.. chuyện đó...nên tôi cũng xin góp ý chút đỉnh.

Trước hết, đàn em có lời xin lỗi ỐC. Em nào dám giận gì đàn chủ đâu! Em vốn lười..lại thêm chữ nghĩa ăn đong nên cứ dựa cột..mà nghe. Anh em mình tuổi quá bát tuần rồi... Hai đại ca trong nhóm thì anh HXT đã giỗ đầu rồi. Anh hơn em 6 tuổi nhưng em rất mừng thấy anh còn mạnh đi đây đi đó..đầu óc minh mẫn lèo lái diễn đàn:"Da mồi nhưng trí còn minh mẫn..Tóc bạc mà lòng vẫn..ngẩn ngơ."
Bài thơ-rất đẹp như BS nói-làm tôi nhờ bức ảnh nổi tiếng chụp mỹ nhân sadec Thái Nhã Vân..trong hồ sen..da trắng yếm đen..quần lĩnh...

BS cũng thả hồn về dĩ vãng vì Sen thơm ngày cũ. Bạn vàng nhớ sen thơm thì ta khác chi đâu. Cũng một thư Hồng thắm dày vò cả cuộc đời...Tưởng rằng đã quên...Nhớ thời Tình Thương khi bạn vàng viết tạp chuyện và ta viết"Thế giới chúng tôi" có bao kỷ niệm trường y quá đẹp. Ta phục bạn vàng vẫn có can đảm để nói về những giây phút xao lòng ngoài vợ ngoài chồng..Này bạn vàng..có một bài hát bạn nên mở mà nghe như ta thường hay nghêu ngao..Đó là bài của nhạc sĩ Thanh Bình (Cùng tên BS). Nhạc sĩ này nổi tiếng với bài"Tình lỡ". Bài này của ông ta nhiều ca sĩ hát..nhưng ta thích nhất là Sĩ Phú. Đó là bài "TIẾC MỘT NGƯỜI" với những câu như "Hỡi hương nào gây nhớ..mới hay tình thật bền..Tình ngủ êm trong tim...Đã thấy tàn cuộc đời..còn TIẾC hoài một người.. ngổn ngang tâm sự Đắng.. Toàn bài lời hợp tâm tư bọn mình. Ráng tìm nghe. Có bà DS Minh Châu hát cũng thấm lắm.. Thôi thì "Duyên trăm năm đứt đoạn..Tình một thuở còn hương"..như câu thơ Đoàn Phú Thứ.

Xin góp ý dich:

Sen Xanh quần lụa một mầu tươi
Ánh má phù dung nở nụ cười.
Thấp thoáng trong ao đâu thấy bóng
Vẳng nghe giọng hát biết là người!

Đỗ Tước

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2022

Đăng Quán Tước Lâu 登鸛雀樓 - Vương Chi Hoán


Lời nói đầu:

Hôm nay (2-6-2022) là ngày giỗ đầu của thi sĩ Hoàng Ngọc Khôi bút hiệu Hoàng Xuân Thảo, diễn đàn LTCD thế kỷ 21 hoàn tất bài số 578 mà anh Khôi (lúc đó là cố vấn của diễn đàn) soạn dở dang trước khi từ trần:

Vương Chi Hoán 王之渙 (688-742) tự Lý Lăng 季淩, là người Tính Châu triều Đường (nay là Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây). Sinh năm Thùy Củng thứ tư thời Đường Võ Hậu (năm 688 SCN), mất năm Thiên Bảo đầu tiên thời Đường Huyền Tông (năm 742 SCN), hưởng thọ 55 tuổi. Tính tình hào phóng ngang ngạnh, thơ cũng như người, khí thế hào hùng, nhiệt tình trào dâng. Các bài thơ của ông được “chuyển thể thành nhạc, lưu mãi trong dân”, được đại chúng yêu chuộng sâu sắc, nhờ đó mà truyền tụng muôn đời, ngang danh Cao Thích, Sầm Tham, Vương Xương Linh, v.v… Bởi ông không chuộng khoa cử công danh, nên cuộc đời cũng không được nhiều người biết đến, chỉ từ mộ chí mà thấy được đây là một thi nhân “Có hiếu với nhà, có nghĩa với bạn, khảng khái vô tư, tài năng phóng khoáng”. Nghe nói ông sáng tác rất nhiều thơ, đáng tiếc là chỉ có sáu bài tứ tuyệt là được lưu truyền lại, thâu tập trong “Toàn Đường thi”, trong đó “Đăng Quán Tước lâu” và “Xuất tái” (còn gọi là “Lương Châu từ”) là nổi tiếng nhất.

Nguyên tác   Dịch âm

登鸛雀樓     Đăng Quán Tước Lâu

白日依山盡 Bạch nhật y sơn tận,
黃河入海流 Hoàng Hà nhập hải lưu.
欲窮千里目 Dục cùng thiên lý mục,
更上一層樓 Cánh thướng nhất tằng lâu.

(Quán Tước lâu giờ tại huyện Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây).

Chú giải

* 黃河入海流 Hoàng Hà nhập hải lưu: sông Hoàng đi vảo dòng chảy của biển cả; ngụ ý nó chảy vào và biến mất trong biển cả.

Dịch nghĩa

Lên lầu Quán Tước

Mặt trời dần lặn khuất sau núi,
Hoàng Hà chảy đổ vào biển cả.
Muốn phóng mắt nhìn xa ngàn dặm,
Hãy lên thêm một tầng lầu nữa.

Dịch thơ

Lên Lầu Quán Tước

Mặt trời gác sườn núi
Hoàng Hà đổ trùng dương
Muốn nhìn tận ngàn dặm
Lên lầu thêm một tầng.

Lời bàn của cố thi sĩ cố vấn Hoàng Xuân Thảo:

Lầu Quán Tước nằm trên một ngọn núi nhỏ thuộc huyện Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây, thời đó gồm có ba tầng. Lầu được đặt tên như vậy vì có nhiều đàn cò thường bay tới và đậu tại đây. Tục truyền có bữa Vương Chi Hoán cùng Cao Thích và Vương Xương Linh tới một hí viện vừa uống rượu vưà nghe tấu nhạc. Ba người giao ước với nhau xem ai có thơ được các ca nương diễn ngâm nhiều nhất. Các bản được nhạc quan cho đàn hát bắt đầu bằng hai bài của Vương Xương Linh, rồi một bài của Cao Thích. Vương Chi Hoán nâng ly chúc mừng hai bạn rồi bảo, “Nếu lần tới bài hát không phải là thơ tôi thì từ nay tôi không dám tranh đua tiếng tăm cùng nhị huynh nữa”. Quả nhiên hai ca nương sau liên tiếp diễn ca hai bài của ông là Xuất Tái và Đăng Quán Tước Lâu.

Về thi pháp, hai câu đầu cho ta một khái niệm về thời gian, ẩn dụ qua cảnh mặt trời đang từ từ lặn xuống sau triền núi và nước sông Hoàng Hà tuôn trôi ra biển, gợi ý cuộc đời là vô thường, khuyên ta đừng nên đắm chìm trong vòng danh lợi. Tác giả cũng đứng trước cảnh bao la núi cao, sông dài và gợi ý con người thật nhỏ bé trước vũ trụ, trước không gian và theo Lâm Ngữ Đường thì tác giả khuyên ta nên biết giới hạn cái dục vọng của mình và ít nhất cũng dạy ta biết khiêm tốn.

Hai câu sau tác giả muốn nói rằng nhìn rõ sự đời hay cái cùng thông của sự vật thì tự ta phải cố gắng mà vươn lên qua hình ảnh leo lầu, mà lên cao thêm để làm gì nếu không phải là mở tầm mắt để mở rộng lòng xúc cảm và tri thức, một nhân sinh quan cao cả mà nhà phê bình Chương Thái Liên đã thốt lên là một danh ngôn thiên cổ.

Hoàng Xuân Thảo
***
Các Bài Dịch Khác

Lên Lầu Quán Tước

Vừng ác chìm non thẳm
Hoàng Hà lặn biển sâu
Muốn nhìn xa ngàn dặm
Lên nữa một tầng lầu.

Bài ngũ ngôn tứ tuyệt này được sắp ngang hàng với những bài trác tuyệt cùng thể loại của những thi hào gạo cội thờỉ Đường do cái ý chứa đựng trong 2 câu cuối: “Muốn nhìn xa ngàn dặm, Lên nữa một từng lầu” ngụ ý rằng muốn cho kiến thức rộng hơn thi phải cố học hỏi thêm.

Đại ca Hoàng Xuân Thảo kính!

Hôm nay là ngày giỗ đầu của anh, ngày giỗ quan trọng nhất sau khi lìa đời, tất cả anh chị em trong diễn đàn LTCD thế kỷ 21 vẫn còn bùi ngùi khi nghĩ tới anh. Đành rằng trong thiên hạ, rất hiếm người thọ tới 90 tuổi như anh, nhưng đáng nhẽ anh còn vui chơi với chúng tôi nhiều năm nữa nếu anh chích ngừa Covid 19 sớm hơn (đầu tháng 2 thay vì cuối tháng 5 năm 2021).

Anh có cảm thấy cô đơn (lonely) trong mộ phần không? Chúng tôi đang cảm thấy cô đơn trong diễn đàn chỉ vì thiếu vắng anh. Con Cò, nhân danh chủ bút của diễn đàn, nhờ Bobby Vinton hát bài Mr Lonely để cúng anh; hy vọng bài hát sẽ giúp anh giải tỏa nỗi cô đơn, rũ hết bụi trần mà thanh thản bước lên Thiên Đường.

(Xin bấm vào link màu xanh dưới đây)

Lời bài hát

Lonely, I'm Mr. Lonely
I have nobody for my own
Now I am so lonely, I'm Mr. Lonely
Wish I had someone to call on the phone

Now I'm a soldier, a lonely soldier
Away from home through no wish of my own
That's why I'm lonely, I'm Mr. Lonely
I wish that I could go back home

Letters, never a letter
I get no letters in the mail
I've been forgotten, yes, forgotten
Oh, how I wonder, how is it I failed

Now I'm a soldier, a lonely soldier
Away from home through no wish of my own
That's why I'm lonely, I'm Mr. Lonely
I wish that I could go back home.

Dịch ra tiếng Việt:

Cô đơn, tôi là người Cô đơn,
không có ai làm bạn với mình.
Tôi rất cô đơn, tôi là người cô đơn.
Ước gì có người gọi tôi qua điện thoại.

Tôi là một chiến sĩ, một chiến sĩ cô đơn,
xa nhà không do tôi mong muốn.
Đó là lý do tại sao tôi cô đơn, tôi là người cô đơn.
Tôi ước rằng tôi có thể trở về nhà.

Thư ư? không bao giờ có một lá thư;
tôi không nhận được thư trong hộp thư.
Tôi đã bị lãng quên, ừ, bị lãng quên.
Ồ, tôi tự hỏi làm thế nào tôi thất bại?

Bây giờ tôi là một chiến sĩ, một chiến sĩ cô đơn,
xa nhà không do tôi mong muốn.
Đó là lý do tại sao tôi cô đơn, tôi là người cô đơn.
Tôi ước rằng tôi có thể trở về nhà….

Con Cò 
***
Lên Lầu Quán Tước

Nắng tắt phía sau đồi,
Hoàng hà đổ biển khơi.
Muốn nhìn xa vạn dậm,
Lên nữa, lầu trên coi.

Mỹ Ngọc.
May 18/2022.
***
Lên Lầu Quán Tước

Mặt trời soi khắp núi đồi
Hoàng Hà luôn chảy biển khơi trùng trùng
Dặm xa ngoại cảnh chập chùng
Lên cao tầng nữa ung dung ngắm nhìn.

Kim Oanh
***
Lên Lầu Quán Tước

Hội trùng dương nước sông tuôn đổ
Nắng chiều còn lấp ló sau đồi
Muốn nhìn xa vạn dặm khơi
Lầu cao chân bước ngắm trời mênh mông

Yên Nhiên
***
Lầu Quán Tước.

Mặt trời đã gác non đoài,
Hoàng Hà tuôn chảy ra ngoài biển khơi,
Muốn nhìn ngàn dặm chân trời,
Thì leo thêm một lầu thôi cũng vừa.

Bát Sách.
(Ngày 20 tháng 5 năm 2022)
***
Lên Lầu Quán Tước

Bóng ác nương sau núi
Hoàng hà nhập biển sâu
Muốn nhìn muôn dặm trước
Lên tiếp một khung lầu!

Bóng ô đã gác non đoài
Sông Hoàng cuồn cuộn ra ngoài biển Đông
Muốn nhìn vạn dặm thỏa lòng
Bước thêm lầu nữa, ước mong toại nguyền!

Lộc Bắc
Mai22
***
Nguyên Tác: Phiên Âm: Dịch Thơ:

登鸛雀樓 Đăng Quán Tước Lâu Lên Lầu Quán Tước

王之渙* Vương Chi Hoán

白日依山盡 Bạch nhật y sơn tận Núi cao dấu mặt trời
黃河入海流 Hoàng hà nhập hải lưu Sông Hoàng vào biển khơi
欲窮千里目 Dục cùng thiên lý mục Muốn xem khắp ngàn dặm
更上一層樓 Cánh thướng nhất tằng lâu Lên một lầu nữa thôi.

Dị bản:

Bài ngũ ngôn tứ tuyệt này được khắc bản trong nhiểu sách thời Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh…Văn bản đều giống nhau, nhưng tác giả không chắc là ai: Vương Chi Hoán, Đỗ Nghiễm, hay Chu Bân?

Ngự Định Toàn Đường Thi Quyển 253 Vương Chi Hoán. Tựa trong mộc bản có ghi dị bản thơ của Chu Bân (Chu Bân Thi 朱斌詩).
Ngự Định Toàn Đường Thi Quyển 203 Đỗ Nghiễm 杜儼 đăng với tựa Đăng Lâu登樓 và có ghi dị bản thơ của Vương Chi Hoán (Vương Chi Hoán Thi 王之渙詩).
Quốc Tú Tập - Đường - Nhuế Đĩnh Chương 國秀集-唐-芮挺章 cho tác giả là Chu Bân 朱斌, tựa Đăng Lâu登樓 và có ghi dị bản thơ của Vương Chi Hoán (hoặc khắcVương Chi Hoán 或刻王之渙詩).

Ghi Chú:

Lầu Quán Tước hiện nay ở phía nam Vĩnh Tế, Sơn Tây, bên bờ đông sông Hoàng Hà, gần Bồ Châu Trấn 蒲州镇, phía tây bắc cách chân núi Trung Điều 中条山 khoảng 6 cây số (Xem bản đồ bên dưới).

Lầu được xây cất thời Nam Bắc Triều khoảng năm 557-571. Lầu nguyên thủy (đã bị nước sông cuốn trôi từ lâu), ở tây nam Bồ Châu, cao 3 tầng, phía trước nhìn vào núi, phía sau nhìn xuống Hoàng Hà. Lầu có tên Quán Tước vì, tương truyền, thường có quán tước đến làm tổ (quán tước là một giống cò/hạc họ Ciconiidae mà đầu không đỏ, cổ ngắn, mỏ dài, mình trắng, đuôi và cánh đen). Lầu đuợc xây cất lại nhiều lần ở vị trí khác, lần mới nhất khánh thành năm 2002.

- Bạch nhật: mặt trời.
- Y: dựa vào
- Tận: biến mất, ý nói rằng mặt trời nép chìm vào núi
- Dục: mong muốn hay hy vọng có được hoặc đạt được một cái gì đó
- Cùng: tất cả, để đạt đến cực.
- Thiên lý mục: tầm nhìn rộng.
- Cánh: thay thế
Bình luận:

Bài thơ mô tả những gì thi nhân nhìn thấy và cảm nhận khi ông leo lên Lầu Quán Tước. Trong câu 1, ông nhìn thấy núi cao ngay trước mặt như che dấu ánh mặt trời. Nhìn sau lưng, sông Hoàng cuộn chảy về đông để đổ vào biển Đông còn cách xa gần ngàn cây số. Đó là từ vị trí nguyên thủy của lầu ở phía nam Bồ Châu. Trong địa điểm hiện tại, ngang với Bồ Châu với lầu cao gần 75 thước, núi có còn che mặt trời không, còn nhìn thấy sông Hoàng chảy về đông không? Hay là thấy trong tiềm thức do cái nhìn thấy của thi nhân ngàn năm về trước. Theo Stork Tower - Wikipedia , lầu nhìn thẳng vào mặt trời mọc.

Dịch nghĩa:

Đăng Quán Tước Lâu Lên lầu Quán Tước

Bạch nhật y sơn tận Ánh sáng mặt trời rọi khắp bên sườn núi,
Hoàng Hà nhập hải lưu Sông Hoàng Hà chảy mãi để vào biển khơi.
Dục cùng thiên lý mục Muốn nhìn thấy cảnh ngoài ngàn dặm,
Cánh thướng nhất tằng lâu Hãy lên thêm một tầng lầu.

On The Stork Tower by Wang Zhi Huan
Translation and note by Peter Wang 01-13-2013

The sun beyond the mountains glows;
The Yellow River seawards flows.
You can enjoy a grander sight,
By climbing to a greater height.

Notes: This poem describes what the poet sees and feels when he ascends the Stork Tower. In the first two lines, he shifts his eyes from the sunset beyond the mountains to the Yellow River, which flows out of sight eastwards towards the sea. Then he writes the famous line “You can enjoy a grander sight, By climbing to a greater height.” which blends landscape, emotion and philosophical thinking in the short verse?

Ascending the Stork Tower by Wang Zhihuan
Translation by Andrew W.F. Wong (Huang Hongfa)

Over the mountains, the white sun daily sets,
And into the ocean, the Yellow River flows.
Wishing to eye: the view of a thousand miles,
A floor, a floor more, up the stairs one goes.

Besteigung des Storchenturms
Translation by John Frazer October 21, 2017

Dort langt die gleiße Sonne schon nach der Berge Saum /
Hienieden gießt sich der Gelbe Fluß ins Meer //
Nimmer müd will das Aug die Weiten schaun /
Drum höher, auf, zum nächsten Stock!
Ascent of the stork tower
There the bright sun reaches to the mountainside
Below the yellow river pours into the sea
The eye never wants to see the expanses tired
So higher up, to the next floor!

Phí Minh Tâm
***
Những Lời Góp Ý: 

白日依山盡=bạch nhật y sơn tận (Mặt trời dần lặn khuất sau núi)


Trong hình không ảnh ở trên, Hoàng Hà (đầy phù sa màu vàng) ở bên trái và sau 6 dặm Anh sẽ chuyển hướng từ Bắc-Nam thành Tây-Đông để đổ ra Đông Hải. Lầu Quán Tước (hình tháp màu lục với tên Guanque Tower) nằm hướng Tây Bắc của Ngũ Lão Phong (五老峰, góc dưới bên phải) nên ta có thể thấy mặt trời mọc hướng đó nhưng không thể thấy mặt trời lặn.

Theo họa đồ. Quán Tước Lâu ở bờ tây sông Hoàng Hà, phía bắc dãy núi Hoa Sơn, trong đó có Ngũ Lão Phong. Khá xa nên đứng trên lầu có thể thấy mặt trời mọc cũng như lặn.

Theo sử liệu, lầu Quán Tước ở ngoài cửa Tây của Bồ Châu (蒲州), Sơn Tây gần bến đò Bồ Tân (蒲津渡) và như thế ở chừng 6 km hướng Tây Bắc của Ngũ Lão Phong chứ không phải ở trên núi. Nhìn bản đồ không ảnh:


Từ trái qua phải, Puzhou Ferry là bến đò Bồ Tân, Gucheng Relic site là di tích cổ thành Dự Châu, icon máy hình là địa điểm của Quán Tước lâu, Pozhoucun là Bồ Châu Trấn (蒲州镇). Rặng núi trong hình là Trung Điều Sơn (中条山), trong đó có đỉnh Ngũ Lão, chấm đỏ trong hình dưới. Thật sự ra không thể thấy mặt trời mọc từ lầu Quán Tước vì bị rặng núi Trung Điều che. Đỉnh cao nhất trong rặng núi này 2,231 m trong đó Quán Tước ở khoảng 300 m (trên mặt biển).


Thời Bắc Chu (đầu tk 6) Vũ Vặn Hộ (宇文護) chấp chánh, lộng quyền, cho xây nhiều dinh thự và lầu đài, nhưng Quán Tước lâu là một tháp ba tầng gần bờ sông để canh chứng vì Dự Châu là địa điểm chiến lược quan trọng trên đường đến Tràng An. Tháp đã bị chiến chinh thiêu hủy nhiều lần và cái Quán Tước lâu xây trong thế kỷ 21 này không giống gì các tháp thời Bắc Chu hay Đường!

Hoàng Hà đổi chiều từ Bắc-Nam thành Tây-Đông 6 dặm (anh) dưới Quán Tước lâu và Bồ Châu nên cách định vị để khỏi lầm lạc là nói lầu ở tả ngạn Hoàng Hà.

--* * *--

《清一统志》记载,楼的旧址在山西蒲州(今永济县,唐时为河中府)西南,“黄河中高阜处,时有鹳雀栖其上,遂名” 《 Thanh nhất thống chí 》 ký tái, lâu đích cựu chỉ tại Sơn Tây Bồ Châu (kim Vĩnh Tể huyện, Đường thì vi Hà Trung phủ )tây-nam, " Hoàng Hà trung cao phụ xứ, thì hữu quán tước tê kì thượng, toại danh." Dịch đại khái thành Thanh Nhất Thống Chí nói ngày xưa lầu ở hướng Tây-Nam Bồ Châu, Sơn Tây (Vĩnh Tế huyện bây giờ, Hà Trung phủ thời Đường), ở vùng đất cao giữa Hoàng Hà, có nhiều cò đậu nên có tên đó.

Bàn về con hạc:

Quán Tước là một loài chim giống con hạc.
Hì hì ... Đọc nghe thì xuôi tai nhưng con hạc là con ... chi? Quán là tên Hán cho bút hiệu của khổ chủ của diễn đàn LT21!

Người ni đã viết một lần trên diễn đàn này rằng tên Việt của các loài sinh vật, kể cả chim, không chính xác và mỗi vùng dùng tên khác nhau cho cùng một con chim. Hạc, sếu, cò, diệc, vạc là tên của những con chim lớn lội nước và trong khoa học họ Hạc là từ dùng chung để chỉ những con này nhưng một đặc tính chung (cho 鸛=quán) dùng trong trang vn.Wikipedia là chúng có "mỏ lớn". Hình các con chim mà các bạn thường gọi là hạc có mỏ dài, nhọn nhưng KHÔNG lớn! Nếu các bạn dùng zn.Wikipedia thì sẽ thấy rằng 鸛=quán là một con chim cao cẳng, lội nước với cái mỏ rất lớn mà tên trong Anh ngữ là stork như trong bài dịch qua tiếng Anh của anh Tâm, và trong Pháp ngữ là cigogne. Các loài cò đứng riêng biệt trong một họ, không có liên lạc DNA với các loài chim cao cẳng (hạc, sếu, vạc) khác. Con hạc "đầu đỏ" anh Tâm nói đến thật sự ra là con crane/sếu.

Vì tên Việt chưa thống nhất, họ Hạc trong vn.Wikipedia là 鹳科=quán khoa/họ cò trong chữ Hán, Ciconiidae trong danh pháp hai phần (binomial nomenclature) hai đặc điểm của chúng để phân biệt với các con chim lớn lội nước khác là mỏ rất lớn và không phát tiếng nhưng đập mỏ để liên lạc với đồng loại. Quán trong tên lầu có thể là con giang sen (painted stork)

bạch đầu toàn quán
Hay con cò trắng đông phương ở dưới

Đông phương bạch quán

Một đặc điểm nữa của loài cò là tổ của chúng rất lớn và chúng thường làm tổ trên mái nhà; đó là nguồn gốc của cái tên quán tước lâu. Hai con chim trong bài của anh Tâm là cò trắng tây phương.

Chữ 雀=tước tạo nhiều hiểu lầm vì đa số người Việt nghĩ đến chim sẻ khi nghe/đọc tước và tôi chưa tìm ra tại sao người Hoa Lục thời xưa gọi cò là quán tước; người bây giờ bỏ chữ tước đi rồi. Chứ 雀=tước gồm 小=tiểu và bộ 隹=chuy. Chuy là từ để gọi các con chim đuôi ngắn như chim sẻ, cò, hạc nhưng không dùng một mình và chỉ là bộ trong những từ hài thanh.

Huỳnh Kim Giám
***
Thanh Vân góp ý

Trong Diễn Đàn Liêu Trai 21 do Ông Cò thành lập, ông chỉ mời hơn 10 thành viên, điều thú vị không ngờ là họ ở rải rác khắp nơi: Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Hòa Lan, Úc. Buổi tối ở Hoa Kỳ, Canada là ban ngày ở Pháp, Hoà Lan, Úc, như vậy giang sơn của nhóm Liêu Trai 21, mặt trời không bao giờ lặn! Trong ba năm qua, cùng hoạt động chung, mỗi tuần góp ý trên một bài thơ đường do Ông Cò soạn thảo, mỗi người bàn một cách, các thành viên lần lần thân thiện nhau và có một mối liên hệ mật thiết.

Lúc đầu chỉ vài người biết mặt nhau (như Ông Cò, huynh trưởng Hoàng Xuân Thảo, anh Bát Sách, chị Hoàng Tâm) còn những thành viên khác, sau này có khi nhìn thấy mặt qua hình ảnh. Vậy đó mà sinh hoạt lâu ngày, có một sợi dây thân ái nối liền các thành viên với nhau. Ngoài bàn luận thơ văn, trong nhóm còn chia sẻ tâm tình, niềm vui nỗi buồn, thậm chí có ai khỏe mạnh, ốm đau gì cũng đem ra bài tỏ. Ban đầu là bạn văn thơ, bây giờ là anh chị em cùng một mái nhà. Đôi khi cũng có chút giận hờn, nhưng không kéo dài lâu, giống như một cơn dỗi thoảng qua cho sinh hoạt chung thêm sống động, thêm hương vị…

Cuộc đời không như một giòng sông êm đềm chảy. Khi huynh trưởng Hoàng Xuân Thảo bất ngờ ra đi, cả nhóm như tê dại, sửng sờ trước hung tin. Ông Cò bảo mỗi người dành vài phút tịnh tâm hướng về huynh trưởng. "Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ", đúng như thế, cả nhóm đau buồn lặng lẻ nhớ người huynh trưởng hiền hòa, khoan dung, nhiều tài năng nhưng khiêm tốn.

Hôm nay là một năm huynh Hoàng Xuân Thảo rời xa mọi người. Bồi hồi nhớ lại những ngày vui sinh hoạt chung, huynh Hoàng Xuân Thảo rất năng động, lúc nào cũng có những ý tưởng mới, đứng ra làm đầu đàn khởi xướng cho nhiều đề tài : họa thơ trên tranh, họa thơ qua một chủ đề.... Vui và thân thiết làm sao ! Nhưng ngày vui chóng tàn, tìm đâu ra những ngày thân ái cũ.
Huynh Hoàng Xuân Thảo đã đi rồi, xin chúc huynh an nghỉ thảnh thơi nơi miền cực lạc dù biết rằng huynh để lại nhiều nuối tiếc cho người ở lại. Như bài Tống Biệt Hành của thi sĩ Thâm Tâm, xin mượn gởi đến huynh vài dòng tưởng niệm:

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng...

Trong bài Đăng Quán Tước Lâu (Lên Lầu Quán Tước), huynh trưởng Hoàng Xuân Thảo đã góp ý nhưng dỡ dang, các anh chị trong nhóm bàn luận thật sôi nổi và đã có những vần thơ hay. Vậy thôi cho Thanh Vân miễn phần thơ nhé. Chỉ xin cảm ơn Ông Cò đã thành lập nhóm, cho Thanh Vân có cơ hội sinh hoạt và quen biết nhiều người.
Cầu mong sức khỏe, an vui đến với mọi người.

Thanh Vân
--o0o--

Góp ý của Đỗ Tước:
 Túc Oánh Công Thiền Phòng Văn Phạn 宿瑩公禪房聞梵   - Lý Kỳ

Từ lâu, Anh Chị Em sinh hoạt trên diễn đàn đều đặn và hăng hái.nhất là các chị em phái nữ. Đàn chủ, anh Tâm, anh Giám, Lộc Bắc và bạn vàng không ngừng bước.. kỳ nào. Ta cứ tà tà thưởng thức.. tuy cũng mặc cảm.. "ăn mà không trả"..Thời gian qua mau thật! Ta cũng nhớ đại ca Hoàng Xuân Thảo và những góp ý tuyệt vời cho diễn đàn. Thoáng đấy mà cả năm rồi.

Với bài dich thất ngôn luật "Trọ ở phòng Thiền của Oánh công nghe kinh" bạn rất ưng ý nhưng kẹt vận, niêm.. kêu gọi Anh Chị Em  tiếp sức, ta cũng mạo muội.. cùng bạn vàng ráng xoay chuyển mà cố giữ ý của Bát Sách. Bạn vàng thích câu 1, ta xin chuyển bài vận trắc sang bằng để nhịp thơ.. đi cùng niêm.. như sau:

Hoa cung tiếng tụng vẳng xa đưa
Trăng ẩn thành cao giọt lậu thưa
Sương đọng rừng khuya e lá rụng
Sao trời nghe sớm tiếng đong đưa
Tiêu điều khí lạnh lùa đây đó
Ào ạt như trời thu đổ mưa.
Mới biết phù sinh không ổn định...
Theo lòng tâm đạo thấy mà ưa!

Đại khái như thế không sai ý bạn vàng nhưng niêm luật ổn hơn. Bạn vàng thoải mái lâu lắm ta mới xuống núi góp vui.
Cám ơn bạn vàng đã nói về ta trong mục thư tín ở số Tập San Y Sĩ kỳ vừa rồi.

Đỗ Tước
***
Phụ Bản

Có một lần, đại ca hờn dỗi bỏ đi chơi xa 3 tháng, nhưng khi nhận được bài thơ này của Lý Kỳ do Con Cò soạn… Đại ca bèn tức tốc trở về ngay diễn đàn:

Nguyên tác           Dịch âm

宿瑩公禪房聞梵 Túc Oánh Công Thiền Phòng Văn Phạn

花宮仙梵遠微微 Hoa cung tiên phạn viễn vi vi,
月隱高城鐘漏稀 Nguyệt ẩn cao thành chung lậu hy.
夜動霜林驚落葉 Dạ động sương lâm kinh lạc diệp,
曉聞天籟發清機 Hiểu văn thiên lại phát thanh ky.
蕭條已入寒空靜 Tiêu điều dĩ nhập hàn không tĩnh,
颯遝仍隨秋雨飛 Táp đạp nhưng tùy thu vũ phi.
始覺浮生無住著 Thủy giác phù sinh vô trụ trước,
頓令心地欲皈依 Đốn linh tâm địa dục quy y.

Dịch thơ

Trọ Phòng Thiền Của Oánh Công Nghe Kinh

Lời kinh thiền viện vẳng đưa xa
Nguyệt lặn thành cao giọt điểm giờ*
Tối đọng sương rừng rơi lá úa
Sáng nghe sáo núi chạnh lòng già**
Gieo buồn khí lạnh tiêu điều thấm
Xé gió mưa thu ào ạt sa
Mới rõ đời người trôi nổi thế
Muốn qui y Phật động lòng ta

* Giọt: đồng hồ ngày xưa làm bằng một bình nước nhỏ giọt.
** Gió thổi qua khe núi phát ra tiếng sáo.

Lời bàn của Con Cò

Một bài luật thi toàn bích.
Ý tứ sâu sắc. Ngôn từ trang nghiêm. Dàn xếp mạch lạc. Âm điệu hài hòa.
Lý Kỳ, sau một thời gian dài lăn lộn với công danh, ghé thăm và ngủ trong thiền viện của Oánh công. Ông bắt đầu lắng nghe những âm thanh huyền bí và phức tạp: tiếng cầu kinh của thiền sư (âm thanh của sám hối), tiếng đồng hồ nhỏ giọt (âm thanh của thời gian), tiếng rơi của lá úa nặng chĩu sương đêm (âm thanh của gánh nặng trần tục), tiếng gió luồn qua khe núi (âm thanh của thiên nhiên). Sau cùng, khi cảm thấy da thịt như thấm buồn bởi hơi lạnh (âm thanh của thời tiết) và nghe như có mưa thu xé gió ào ào ở ngoài trời (âm thanh của dãi dầu) thì ông muốn chấm dứt cuộc sống quan trường để quy y cửa Phật.

Đó là những âm thanh nhiệm mầu được tả bởi Lý Kỳ. Những âm thanh này, vẫn hiện hữu hằng ngày trung quanh thiền phòng của Oánh công; ai cũng có thể nghe thấy nhưng không phải ai cũng thấm nhuần được. Theo nhà Phật, chỉ những người có duyên với chúng mới giác ngộ khi lắng nghe chúng. Họ Lý, khi đã chán cảnh bon chen danh lợi, rất dễ kết duyên với những âm thanh diệu kỳ kể trên rồi động lòng muốn quy y. Việc quy y của họ Lý có ý nghĩa triết lý hơn là giáo lý. Nó không hẳn là tụng kinh cầu an, cầu siêu, cầu tài, cầu lộc….; mà có nghĩa là giác ngộ.

Con Cò
***
 Góp ý (khi chưa gia nhập diễn đàn):

Trọ ở thiền phòng, nghe niệm kinh
Thanh thoát tiếng kinh cầu vang vọng
Đêm sương rơi xao động rừng phong
Tường cao khuất ánh trăng trong
Thời gian lặng lẽ một dòng buồn tênh
Sớm mai hồn thênh thênh bay bổng
Nghe sáo trời lồng lộng vi vu
Lạnh vào cõi vắng mịt mù
Hắt hiu từng giọt mưa thu não nùng
Kiếp phù sinh long đong mê lộ
Chốn cửa không giác ngộ tìm về

Yên Nhiên
***
Bát Sách bổ túc thêm:

Lúc đầu, Bát Sách chỉ dịch bài Quán Tước Lâu, sau đọc lại, thì thấy ÔC nhắc tới bài Túc Oánh Công Thiền Phòng Văn Phạn, là bài thơ mà khi ÔC đưa lên diễn đàn thì anh Khôi lại “ trở về mái nhà xưa “ mà góp ý… Anh Khôi bàn rất cao siêu, nói về NGỘ trong đạo Phật. Đọc lời bàn thì BS cũng ngộ ra được một chút và thấy bài thơ hay hơn nhiều. Bát Sách cũng nhớ anh Khôi vô cùng, nhớ giọng nói hoà nhã, nhớ tiếng cười chân thành, thân thiện, nhớ thâm tình giữa đồng nghiệp và bạn văn, và tiếc rằng anh ra đi đột ngột để cuốn tiểu thuyết dã sử Mỹ Nhân Tự Cổ Như Danh Tướng phải đứt gánh giữa chừng.

Túc Oánh Công Thiền Phòng Văn Phạn.
(Trọ Ở Phòng Thiền Của Oánh Công Nghe Kinh)

Kinh tụng hoa cung xa vẳng đưa,
Trăng ẩn thành cao, giọt lậu thưa,
Sương động rừng khuya, e lá rụng,
Sáo trời nghe sớm, tiếng đong đưa,
Tiêu điều khí lạnh ùa đây đó,
Ào ạt trời thu lúc đổ mưa,
Mới biết kiếp người không vĩnh cửu
Chợt muốn quy y dưới mái chùa!

Bát Sách
(Ngày 21 tháng 5 năm 2022)
***
Ở Quán Trọ Oánh Công Thiền Phòng Nghe Kinh

Cung hoa kinh Phật, vọng xa vời,
Nguyệt lặn cao thành giọt lậu vơi.
Tối đổ sương rừng khua xác lá,
Sớm nghe gió núi lộng khung trời.
U buồn khí lạnh âm thầm ngấm,
Sầm sập mưa thu lã chã rơi.
Hiểu rõ vô thường đời bất định.
Đạo tâm phát khởi, ẩn quy khơi.

Mỹ Ngọc 
May 23/2022.