Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2026

Mai Nở Đã Bao Mùa - Season of Plum Blossoms - Thơ: Mây Tần Phạm Khắc Trí - Nhạc& Trình Bày: Magnolia Cao Tran


Thơ: Mây Tần Phạm Khắc Trí
Nhạc& Trình Bày: Magnolia Cao Tran

Xuân Lỗi Hẹn


Sông xưa bến vắng con đò
Lạ chưa văng vẳng tiếng hò đâu đây
Trời cao lờ lững những mây
Chiêm bao có phải hoặc rày tương tư
Mái chèo khua động hình như
Không...lòng tôi chết kể từ xa nhau
Vàng sân mai trổ nụ chào
Xuân này lỗi hẹn xuân sau có chờ

Kim Phượng 



Tiệc Rượu Cuối Tuần



Bài Xướng:

Tiệc Rượu Cuối Tuần


Sá gì thêm một hai ly cỏn
Bằng hữu đời nay đỏ mắt tìm
Thiên hạ mưu cầu danh lợi cả
Ta ngồi ta luận cổ suy kim

Biển dâu tan hợp âu là mệnh
Tự thuở trăng soi chốn hải tần
Ôi kẻ một đi không trở lại
Tử sinh xem nhẹ tựa phù vân

Sá gì thêm một hai ly cỏn
Chếnh choáng nào ta đã đại ngôn
Rượu ngấm dăm vần thơ lẩn thẩn
Ngàn xưa chi khác lũ vương tôn?

Gác chuyện nhân sinh ngoài cửa sổ
Nghêu ngao đàn hát chẳng vui sao?!
Tùy tâm bằng hữu… ta nào ép,
Rượu đấy, mồi đây… chỉ thiếu đào!

Hồ Công Tâm
***
Bài họa:

Tự Tình


Đời ta tự buổi làm ly khách
Một góc quê hương , vẫn ngóng tìm
Chiến hữu, bạn bè tan tác cả
Đâu thời oanh liệt, thuở hoàng kim ?

Em yêu đâu nhỉ, chừ xa tắp
Một thuở nào mơ chuyện Tấn,Tần
Ta muốn làm chim về chốn cũ
Khung trời hun hút nẻo tường vân

Tri kỷ nơi đây dường quá hiếm
Quanh ta chỉ thấy kẻ cuồng ngôn
Ễnh ương đáy giếng coi trời nhỏ
Hợm hĩnh khinh đời, rất tự tôn

Bốn bức tường câm giam hãm mãi
Buồn tênh chán ngắt thế này sao ?
Nương thân tị nạn , sầu vong quốc
Nào có vui chi nhắp rượu đào ?

Nguyễn Kinh Bắc


Mưa Cuối Năm

 

Mưa cuối năm
mù giăng
mịt mờ lam khói
buốt lạnh vuốt lên da người
Còn bao nhiêu ngày đâu
năm tàn tháng lụn
Nguyên Đán sắp kéo màn
diễn trình
đưa Tết tới
Hoa đón Xuân chờ gió chướng lên
thôi đi mưa ơi
để ngàn hoa vươn mình
khoe sắc...

Chiều nửa cuối tháng 11 âm lịch

Phong Tâm

Tuế Mộ Hữu Cảm 歲暮有感 - Đỗ Chiêu Đức

 

Dạo:
Cho dù đông hết xuân về,
Nỗi sầu xa xứ mãi tê tái lòng!

歲暮有感                  Tuế Mộ Hữu Cảm

歲月匆匆似落虹, Tuế nguyệt thông thông tự lạc hồng,
離鄉背井又殘冬。 Ly hương bối tỉnh hựu tàn đông.
天高地迥愁身隻, Thiên cao địa quýnh sầu thân chích,
日短夜長怨朔風。 Nhật đoản dạ trường oán sóc phong.
萬象更新心有感, Vạn tượng canh tân tâm hữu cảm,
一元復始意無窮。 Nhất nguyên phục thủy ý vô cùng.
悠悠五十春溜去, Du du ngũ thập xuân lưu khứ,
故國天崖永不忘! Có quốc thiên nhai vĩnh bất vong !
杜紹德                   Đỗ Chiêu Đức

* Nghĩa bài thơ:

Cảm Xúc Lúc Năm Tàn

- Năm tháng sồng sộc đi qua như mỗi độ ráng chiều rơi rơi...
- Xa lìa quê hương chòm xóm lại gặp buổi tàn đông.
- Nhìn trời cao đất rộng buồn cho ta chỉ chiếc thân cô độc,
- Giữa lúc ngày vắn đêm dài nầy lại thấy ghét thêm những cơn gió bấc.
- Vạn vật đang đổi mới khiến lòng ta không khỏi dâng lên mối cảm hoài,
- Một dòng nguyên khí đang vận hành trở lại làm cho người ta cảm khái vô cùng.
- Dằng dặc thế mà năm mươi mùa xuân đã lướt qua mất rồi...
- Tấm thân ở nơi chân trời góc bể nầy vẫn mãi không quên tình cố quốc !

* Diễn Nôm:

Tuế Mộ Hữu Cảm

Năm tháng vội vàng tựa ráng mây,
Tha hương đông đến lạnh vơi đầy.
Trời cao đất rộng thân đơn chiếc,
Ngày vắn đêm dài gió bấc rây.
Vạn vật sinh sôi lòng cảm khái,
Đất trời đổi mới dạ dường ngây.
Năm mươi xuân sắc qua như nước,
Cố quốc chân trời mãi chẳng khuây!

Lục bát:

Tháng ngày qua tợ ráng chiều,
Ly hương xa xứ lạnh nhiều tàn đông.
Trời cao đất rộng long đong,
Đêm dài ngày vắn gió lồng thân côi,
Muôn loài nẩy nở sinh sôi,
Đất trời đổi mới bồi hồi riêng ta.
Năm mươi xuân đã đi qua,
Lòng quê canh cánh kẻ xa chân trời!

Thời gian âm thầm lặng lẽ trôi một cách thản nhiên vô tình, chẳng đợi chờ ai cả. Thoáng cái mà đã năm mươi năm qua rồi ! Người viễn xứ vẫn còn là thân viễn xứ. Chợt nhớ lại hai câu thơ trong bài NGUYÊN NHẬT 元日 của Lê Cảnh Tuân 黎景詢 (một danh sĩ cuối đời Trần) mà không khỏi ngậm ngùi:

歸期何日是? Quy kỳ hà nhật thị?
老盡故園梅。 Lão tận cố viên mai!

Có nghĩa:
Ngày nao mới được hồi quê ?
Cội mai vườn cũ xuân về khẳng khiu!

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức    
***
Đoản Khúc Mùa Đông
Họa: Tuế Mộ Hữu Cảm

Cuối trời giăng mắc mịt mờ mây
Điềm báo rồi đây tuyết phủ đầy
Xuân ngõi kìa xuân mưa ướt sũng
Tết chờ đó Tết nắng buồn rây
Ngồi trong cửa sổ lòng ngao ngán
Đứng trước thềm hoa dạ ngất ngây
Hy vọng mai ngày trên đoái đến
Vui cầu họa chút để mong khuây…


Thái Huy

Jan/21/25

Năm Bính-Ngọ, Nói Truyện Vui Về Ngựa - Doanh Linh


Lưu ý: Tôi dùng máy nhận mặt chữ (OCR) nên có thể có những chữ sai vì bản nguyên thủy lờ mờ.

Theo âm lịch, nói về 12 con giáp, ngựa đứng vào hàng thứ bảy. Về dương lịch, cũng có 12 con giáp và cũng có con ngựa nhưng khác với con ngựa Âm lịch, con ngựa này đứng vào hàng thứ chín, và có đầu người nên được gọi là sao Nhân Mã (Sagittaire).

Như chúng ta đều biết, ngựa là con vật rất quen thuộc của người, dùng để cưỡi để chuyên chở. Thời xa xưa, ngựa được dùng để ra trận. Vì thế ngày xưa, để nói về trí trai trong thời loạn, các cụ ta vẫn thường nói: "thanh gươm yên ngựa" hoặc "tài trai da ngựa bọc thây" để nói lên lòng dũng cảm trước sự xâm lăng đất nước của ngoại bang, người trai tuốt gươm lên ngựa ra biên cương ngăn giặc, bên tai còn văng vẳng câu chúc "mã đáo thành công" và nếu có bị rủi ro thì đã có da ngựa bọc lấy anh hùng, người đã hiến thân cho tổ quốc.

Ngày nay, tuy chúng ta ở vào thời đại nguyên tử, những danh từ trên vẫn được dùng để chỉ vị hoá lòng hăng say của người trai thế hệ. Ngựa tuy không còn dùng để ra trận như ngày xưa nhưng trong các cuộc chiến tranh, ngựa vẫn được dùng để vận tải vũ khí, đạn dược súng ống. Bên Hoa kỳ có những tiểu bang dùng những đoàn Cảnh sát kỵ binh (Cavalerie montée) và tại các nước Tây Phương vẫn có những đoàn kỵ mã phần nhiều chỉ dùng trong các cuộc diễn binh được tổ chức nhân dịp có đại lễ trong nước.

Ngoài ra, ngựa còn được dùng vào các cuộc đua.

Nói về đua ngựa, ở nước ta ngày nay gọi là "cá ngựa" thì ai cũng biết đó là món cờ bạc trá hình hợp pháp được du nhập vào nước ta từ ngày nước Việt Nam bị đô hộ.

Từ Bắc đến Nam, môn cờ bạc hợp pháp này đã làm cho bao nhiêu người khuynh gia bại sản không kể lắm người bị ngựa đá thẳng vào nhà lao vì đã thụt két để lấy tiền đi đánh cá ngựa.

Theo cuốn Tự điển "Larousse Illustrée" những cuộc đua ngựa được tổ chức với mục đích thể thao. Sản sóc giống ngựa, chọn con ngựa đẹp, khỏe mạnh, chạy mau để gây giống. Nước Anh là nước đầu tiên khai sanh ra cuộc đua ngựa. Cuộc đua chính thức đầu tiên được tổ chức dưới triều đại vua nước Anh là Jacques đệ nhất (1603-1625). Vào cuối thế kỷ 17, nước Anh mua những ngựa giống bên Đông phương mang về gây lấy giống. Đến năm 1791, nước Anh mới có quyển "Stud book" là cuốn sổ hộ tịch về giống ngựa đó. Những cuộc đua ngựa bên Anh được phát triển mạnh vào giữa thế kỷ thứ 18.

Bên Pháp bắt đầu có cuộc đua ngựa vào năm 1776 nhưng mãi đến năm 1833, nước Pháp mới có sổ hộ tịch về ngựa như bên Anh. Pháp có bấy tấm trường đua ngựa như trường đua Longchamp, Auteuil, Chantilly, Maisons-Laffitte v.v...

Ở nước ta, ngoài Bắc Việt có hai trường đua ngựa, 1 ở Hà Nội (làng Kim Mã) và một ở Hải Phòng. Trong Nam có một trường đua (ở Phú Thọ).

Đông Phương cũng như Tây Phương đều có những thần thoại về ngựa.
Vào khoảng hai ngàn năm trước đây, chưa có dương lịch khoa học Đông Phương đã phát triển ông Trần Đoàn (tức Hi Di Tử) đã khám phá ra khoa lý số học trong đó con ngựa đứng vào hàng trung tinh và dĩ nhiên là một ngôi sao gọi là Thiên Mã (ngựa nhà Trời).

Đối với các bạn tin vào số Tử Vi, sao Thiên Mã biểu hiệu cho sự di chuyển, sự thay cũ đổi mới, ảnh hưởng nhiều đến công danh, tài lộc, phúc thọ. Đứng cùng với các ngôi sao quý như Tử vi, Thiên phủ sao Thiên Mã sẽ biến thành ngựa kéo xe cho vua chúa (Phù dư Mã). Bạn nào có được cung số như vậy tất là người tài giỏi, thao lược có uy quyền, hiển hách, giàu sang tột bậc.

Về Dương lịch như đã nói trên, sao Nhân Mã đứng vào hàng thứ 9. Đó là một chòm gồm 65 vị sao xếp thành hình con ngựa, có đầu người, chiếu vào những người nào sanh trong khoảng từ 23-11 đến 21-12 dương lịch. Ai có sao Nhân Mã chiếu là người bạn tốt sẵn sàng giúp đỡ bạn bè và là người có óc tổ chức, sáng kiến, luôn luôn tìm ra một cái gì để thỏa mãn người ta.

Chuyện ngựa sắt của nước Việt Nam

Về nước ta, tục truyền rằng đời Hùng Vương thứ 6, nước ta bị giặc Ân bên Tàu sang quấy nhiễu. Vua phải sai sứ giả đi khắp trong nước để tìm người tài giỏi ra dẹp giặc. Sứ giả đi tới làng Phù Đổng (thuộc tỉnh Bắc Ninh hiện nay) thì có một cậu bé nhờ cha mẹ yêu cầu sứ giả xin nhà vua cho một con ngựa sắt và một cây roi sắt để cậu ra đánh giặc. Sứ giả cho là lạ bèn tâu với Vua y cho. Cậu bé cưỡi ngựa sắt, múa roi sắt, đi đến đâu giặc tan đến đấy. Đó là truyện Phù Đổng Thiên Vương (hiện nay một làng ở Bắc Ninh còn có miếu thờ) cưỡi ngựa sắt cứu nước.

Thời Tam quốc bên Tàu, có con ngựa Xích thố, khi còn là con ngựa chiến của Lã Bố, con Xích thố chỉ là một con ngựa như trăm ngàn ngựa khác. Nhưng đến khi Lã Bố mất, con Xích thố về tay Tào Tháo. Tào A Man mang con Xích thố hiến dâng cho Quan Công thì con Xích thố mới được nổi tiếng là con thần vật giúp Quan Công một ngày đi trăm ngàn dặm. Ngồi trên Xích thố, Quan Công nhờ nước kiệu thần tốc, đã trảm Nhan Lương, truy Văn Xú, rồi quá ngũ quan trảm lục tướng của Tào. Con thần vật này đã giúp Quan Công lập bao nhiêu công trạng cho nhà Hậu Hán. Con ngựa thứ hai trong Tam quốc là con Đích Lư của Lưu Bị. Từ thứ, khi mới về với Lưu Bị, thấy con Đích Lư thì cho là con ngựa sát chủ, khuyên Lưu Bị không nên dùng. Bị chê Từ Thứ là người nông cạn, gặp nhau chưa nói đến đại sự đã nói đến con ngựa. Bị không nghe vẫn dùng con Đích Lư. Quả nhiên sau này con Đích Lư đã có lần cứu thoát Lưu Bị bằng cách phi qua một cái khe khá rộng, đưa vị Hoàng Thúc của nhà Hậu Hán ra khỏi vòng vây của quân Tào. Thật đúng với câu "quý vật tầm quý nhân".

Thần thoại Tây Phương về ngựa cũng không kém phần ly kỳ và có khi còn rùng rợn là khác. Sau đây là một vài truyện về ngựa Tây Phương.

Ngựa thần Pégase:

Con ngựa được người ta nói nhiều nhất trong thần thoại Tây phương là ngựa thần Pégase. Khi nàng Méduse bị Persée cắt cổ, máu đổ ra đọng lại và biến thành con ngựa có đôi cánh bay, đó là con Pégase. Persée cưỡi con Pégase đi cứu công chúa Andromède, con gái vua xứ Ethiopie khi ấy đang bị Thủy vương Neptune trói lại để mang dâng cho thủy quái vì Nàng Andromède đã dám thi sắc đẹp với 50 nàng công chúa Thủy cung và Nàng đã chiếm giải Hoa Hậu. Nhờ có Ngựa thần Pégase Persée cứu được Andromède và lấy nàng làm vợ.

Ngoài ra, ngựa thần Pégase còn giúp chàng dũng sĩ Bellérophon giết được quái vật Chimère. Chàng dũng sĩ Bellérophon ân hận vì đã giết lầm anh ruột, nên chàng ân hận bỏ tổ quốc, xuất ngoại. Chàng đến nhờ vua xứ Lyrie (một xứ trong vùng Tiểu Á). Ông vua này sai chàng đi giết quái vật Chimère là một quái vật đầu sư tử, mình dê, miệng khạc ra lửa. Nhờ có thần mã Pégase, Bellérophon giết được Chimère. Về sau chàng được vua xứ Lyrie gả con gái và truyền ngôi cho. Người ta còn kể rằng khi đi qua núi Hélicon, ngựa thần Pégase đã lấy chân đá vào núi. Sườn núi bị lủng và một dòng suối chảy ra. Dòng suối này được đặt tên là "Fontaine d'Hippocrène" và ở nơi phong cảnh rất đẹp nên các thi sĩ vẫn thường đến bên suối để tìm vần thơ.

Nửa ngựa, nửa người:

Ngày xưa ở vào phía Bắc nước Hy Lạp, xứ Thessalie, có một giống nửa ngựa, nửa người, gọi là "Centaure".

Dân xứ Thessalie là dân Lapithes có biệt tài về chế ngự loài ngựa. Vua của dân Lapithes là Pirithoos. Một hôm, trong bữa tiệc cưới của Pirithoos lấy nàng Hippodamie, bọn dân Centaure trong khi uống rượu say, đã mạ lỵ những đàn bà có mặt trong bữa tiệc. Do đó đã xảy ra cuộc xô sát giữa dân Lapithes và dân Centaure. Giống nửa ngựa, nửa người này đã bị dân Lapithes tiêu diệt trong vụ chém giết này.

Ngựa gỗ thành Troie

Truyện thần thoại kể lại rằng quân đội nước Hy Lạp bao vây thành Troie trong 10 năm mà không hạ nổi thành này. Về sau, Ulysse Tướng của Hy Lạp đã nghĩ ra kế để lấy thành này. Ông ta sai làm một con ngựa gỗ thật lớn.
(Xem tiếp trang 9)
---------
(Tiếp theo trang 6)
Ông cho các tướng sĩ chui vào ẩn trong bụng ngựa rồi một mặt thả cho ngựa lênh đênh trên mặt biển, một mặt giả vờ cho quân đội Hy Lạp rút lui về nước. Quân trong thành Troie tưởng rằng quân Hy Lạp đã rút lui thật, liền mở cửa thành, kéo nhau ra bờ biển lấy con ngựa gỗ đẩy vào trong thành. Đến đêm, các tướng sĩ Hy Lạp trong bụng ngựa nhảy ra mở cửa thành và theo thế "nội công, ngoại kích" quân Hy Lạp đã hạ thành Troie.

Ngựa giữ chức Lãnh sự

Vua xứ La Mã là Caligula trị vì từ năm 37 đến năm 41 (sau Thiên Chúa) vì bị loạn óc, nên ông ta rất tàn ác. Ông ta đã ước mong dân La Mã chỉ có một đầu để ông khỏi mất thì giờ, chỉ phải chém một nhát là giết chết hết cả mọi người. Ông ta rất say mê một con ngựa. Ông ta đặt tên nó là Incitatus và phong cho ngựa chức "Lãnh sự" và bắt cất một ngôi nhà thật đẹp cho "Lãnh sự" ngựa ở.

Những truyện thần thoại về ngựa Đông Phương cũng như Tây Phương có rất nhiều, phạm vi truyện vui kể không hết.

Trở lại thực tế, trên đất nước ta, thì cách đây 12 năm, vào năm Giáp Ngọ (1954) Việt Cộng đã cùng với Thực dân chia đôi đất nước Việt-Nam, đưa lịch sử nước ta lùi lại thời gian 300 năm về trước, năm 1627 là năm nước Đại-Việt bị chia làm hai, lấy sông Gianh làm giới tuyến. Hơn một trăm năm sau, ngày 21 tháng 7 dương lịch 1786 (khoảng năm Bính Ngọ) Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã vượt sông Gianh kéo thẳng ra thành Thăng Long (Theo tài liệu Việt sử đệ ngũ của Trần Hữu Quảng).

Những sự kiện lịch sử vẫn thường hay được lập lại. Chúng tôi mong rằng cuộc Bắc Tiến ngày xưa của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ cách đây 180 năm (cũng vào năm Ngọ 1786) sẽ được quân lực V.N.C.H. tái diễn, các chiến sĩ anh dũng của quân đội VNCH bắt chước tiền nhân hùng dũng hiên ngang vượt qua dòng Bến Hải kéo quân vào thành Hà Nội cũng vào năm Bính Ngọ này.

Doanh Linh

Huỳnh Chiêu Đẳng
Lưu giữ & Đánh máy
-------
Nguồn tin và chi tiết: ThoiLuan XuanBinhNgo 1966.pdf 14675 < == click để xem hay right click để download
Trở về Kho Sách Xưa 1 <---Vài chục ngàn tờ báo xưa.

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2026

Mùa Xuân Đó Có Em - Sáng Tác: Anh Việt Thu - Trình Bày: Trần Văn Phú


Sáng Tác: Anh Việt Thu
Trình Bày: Trần Văn Phú

Vầng Trăng Khuyết

 

Chiều buồn, mở cửa ngắm nhìn trăng
Trăng ở trên cao ngó xuống rằng:
Đừng nhỏ giọt sầu trên má thắm,
Nụ cười dí dỏm của nàng Hằng 

Ta nhìn mãi một vầng trăng khuyết
Giống chị Hằng cười rất có duyên
Khiến trái tim ta êm ái lắm
Hôm nay thơ thẩn mộng non Tiên

Bầu trời xanh thắm, mắt trong biết
Nắng dịu một màu như nối liền
Với biển mơ hồ trên mây nhẹ
Sóng lòng cũng lặn ẩn tình riêng 

Ô hay, sao chỉ thấy trăng cười
Mà ở đây lòng ta đã vui
Muốn hỏi: Nàng Tiên sao chẳng tới
Để một mình ta giữa đất trời 

Đình Duy Phương
Nov. 2024 

Sài Gòn Một thuở

 

Một thuở Sài Gòn trong nắng mai
Các cô thiếu nữ đẹp trang đài
Phất phơ tà áo vờn trong gió
Dịu dàng rão bước dáng khoan thai

Sài Gòn hoa lệ phố hàng cây
Rợp che bóng mát gió heo may
Tiếng cười rộn rã vang hè phố
Dìu bước người yêu tay trong tay....

Xe cộ dập dìu nối ngược xuôi
Tiếng rao hè phố gánh chè xôi
Nhạc trỗi xập xình bên quán nước
"Tình anh lính chiến" tuổi đôi mươi

Khung trường đại học tuổi mộng mơ
Ươm bao ước vọng đẹp ý thơ
Vòng tay ôm ấp tình sông nước......
Noi bước Tiền Nhân phất ngọn cờ

Bao năm xa xứ chẳng phôi pha
Sài Gòn ngày tháng cũ trong ta
Cờ Vàng lộng gió bay phất phới
Chào đón bình minh đến mọi nhà....!

Ngư Sĩ

Tưởng


1- Lúc trẻ, tưởng khóc là buồn, bây giờ phát hiện buồn nhất là không thể khóc được, cứ trống rỗng, tỉnh táo và vô hồn.

2- Lúc trẻ, tưởng cười là vui, bây giờ nghĩ lại, có những giọt nước mắt còn vui hơn cả một trận cười.

3- Lúc trẻ, tưởng đông bạn là hay, bây giờ mới biết chỉ cần một người hiểu mình là hạnh phúc lắm rồi.

4- Lúc trẻ, tưởng cô đơn là ở nơi vắng người, đến giờ mới hiểu, lạc lõng giữa nơi đông người mới là tận cùng cô đơn.

5- Lúc trẻ, tưởng yêu là tất cả, là mọi thứ, lớn rồi mới biết không có gì là tồn tại mãi mãi cả.

6- Lúc trẻ, tưởng mình có thể thay đổi cả thế giới, giờ thấy được ngay cả một người còn chẳng có khả năng thay đổi. Có chăng, vẫn chỉ là tự thay đổi mình.

7- Lúc trẻ, tưởng chỉ có kẹo là ngọt, giờ lớn lên còn biết có những thứ còn ngọt ngào hơn cả kẹo.

8- Lúc trẻ, rất sợ phải chết, nhưng bây giờ khi lớn lên mới biết sống mà vô nghĩa còn đáng sợ hơn cái chết rất nhiều.

9- Lúc trẻ, tưởng nói dối là xấu, giờ mới biết có những lời nói thật đau đớn làm sao.

10- Lúc trẻ, tưởng hạnh phúc là điều gì đó xa xôi lắm, giờ mới biết hạnh phúc chỉ đơn giản là những thứ bình dị xung quanh ta, có chăng là mình đã không nhận thấy.

11- Lúc trẻ, cứ mơ ước lớn lên sẽ trở thành người này người kia. Sau này mới nhận ra: "Được trở thành chính mình mới là hạnh phúc nhất"

Hãn Nguyễn Sưu Tầm

Kẻ Hợm Mình ( Bản Dịch: Đào Văn Bình) - The Snob (Morley Callaghan )

 
 
Đôi Lời Giới Thiệu:

Morley Callaghan sinh tại Toronto, Canada năm 1903. Ông theo học St. Michael’s College, University of Toronto từ 1921-1925. Ông tốt nghiệp bằng cử nhân về nghệ thuật tổng quát và cũng học thêm rất nhiều những môn học khác. Ông cũng làm việc bán thời gian cho tờ Toronto Star Weekly và gặp văn hào Hemmingway tại đây và Hemmingway đã trở thành người hướng dẫn cho Callaghan lúc ban đầu. Mặc dù tốt nghiệp luật khoa năm 1928 nhưng Callagha lại mê viết văn.

Cuốn tiểu thuyết đầu tiên Strange Fugitive của Callaghan xuất hiện năm 1928. Năm 1929 ông ký kết với một nhà xuất bản ở New York để xuất bản một tuyển tập truyện ngắn nhan đề A Native Argosy. Ông lấy vợ và đáp tàu sang Pháp và tại Paris, ông làm bạn với Hemmingway, F. Fitzgerald và James Joyce. Trong một trận đấu quyền Anh giao hữu, ông hạ đo ván Hemmingway và tình bạn giữa hai người không còn được như trước nữa. Morley Callaghan chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các nhà văn theo Trường Phái Tự Nhiên của Hoa Kỳ. Những tác phẩm của ông xuất bản năm 1932, 1935, 1936 & 1937 với đặc điểm bàn luận về chủ đề thần học Thiên Chúa Giáo, mô tả nhân vật phức tạp, giải quyết những mâu thuẫn trong tình yêu theo kiểu nước đôi đã khiến ông trở nên một khuôn mặt lớn trong giới văn chương Bắc Mỹ. Ông được khá nhiều giải thưởng văn chương. Ông mất năm 1990 tại Toronto. Hai truyện ngắn nổi tiếng của ông là The Snob và Luke Balwin’s Vow.

Truyện ngắn The Snob của Callaghan dưới đây cho chúng ta thấy tình cảm rất phức tạp của chàng sinh viên Harcourt ở thập niên 1930 trong một đất nước giàu có, thanh bình Canada. Những tình cảm phức tạp đó có thể đưa tới xung đột, nếu không khéo sẽ gây đổ vỡ. Kính mời quý vị thưởng thúc.

Kẻ Hợm Mình
The Snob

Tại quầy bán sách của khu thương xá, chàng sinh viên trẻ John Harcourt thóang nhìn thấy cha mình. Trong đám đông xô đẩy nhau dọc lối đi, mới đầu chàng không tin chắc lắm, nhưng có những cái mà chàng biết rất rõ - đó là cái màu phía sau cổ của ông già, chiếc mũ nỉ bạc màu. Harcourt đang đứng với một người con gái mà chàng yêu mến để mua sách cho nàng. Suốt buổi chiều chàng đã nồng nàn nói chuyện với nàng nhưng cũng đầy rụt rè và xao xuyến như thể trong chàng vẫn còn ngõ ngàng tự hỏi tại sao nàng lại có thể thật sung sướng khi được đi bên cạnh chàng.

Dưới chiếc mũ rơm rộng vành, khuôn mặt của nàng thật đẹp, mạnh khỏe và tỏa ra dáng vẻ đầy tự tin, thường quay qua nhìn chàng và mỉm cười mỗi khi chàng nói điều gì. Hai người thường nói chuyện với nhau như thế và chưa bao giờ dám bạo dạn bày tỏ hết tình cảm của mình. Harcourt cũng vừa mua sách xong, và cũng vừa thọc tay vào túi với một dáng vẻ tự nhiên và sẵn sàng như thể chàng vốn có thói quen mua sách cho các cô - thì ông già đầu bạc với chiếc mũ nỉ bạc màu đang đứng ở đầu quầy chợt quay nửa mình về phía chàng và chàng biết rất rõ mình chỉ còn cách ông cụ có vài thước.

Giọng nói lưu lóat thường nhật của chàng thanh niên bỗng ấp úng rồi trở nên thều thào như thể chàng sợ người chung quanh nghe thấy. Trong chàng dậy lên một một nỗi bực dọc khôn tả, chàng linh cảm thấy một cái gì đó thật quý giá mà chàng đang nắm giữ dường như sắp đổ vỡ. Cha chàng đang đứng thẳng thốn ở quầy trả tiền, ông cụ trầm ngâm lật đi lật lại cuốn sách trên tay. Rồi ông cụ lấy ra cặp kính lão từ cái bao da đã sờn, sửa đi sửa lại trên sống mũi rồi cúi nhìn cuốn sách. Chiếc áo khoác (manteau) bỏ ngỏ, còn chiếc áo vest thì hai chiếc khuy không cài nút, tóc ông cụ quá dài còn bộ quần áo luộm thuộm khiến ông cụ trông như dân thợ, có lẽ một ông thợ mộc thì đúng hơn. Một nỗi bất bình dậy lên trong chàng khiến chàng muốn đau khổ kêu lên “Tại sao ông cụ lại ăn mặc như thể trong đời chưa bao giờ có một bộ quần áo tốt đẹp? Ông cụ chả để ý gì đến thế giới này đang nghĩ gì về ông cụ. Ông cụ chẳng để ý gì cả. Mình đã nói cả trăm lần là bố phải ăn mặc đàng hòang khi ra đường. Mẹ cũng đã nói như vậy. Ông cụ chỉ nhe răng cười. Và giờ thì Grace có thể thấy ông cụ. Grace có thể gặp ông cụ.”

Vì thế mà chàng Harcourt đứng yên như tượng đá, đầu gục xuống và linh cảm thấy một cái gì đau đớn sắp xảy đến. Chàng xao xuyến liếc nhìn Grace lúc này đã quay đầu lại quầy tính tiền. Trong số khách hàng mặt đỏ gay, người nào người nấy tỉnh bơ, dùng cả cùi chõ, xô đẩy nhau để dành lối đi, Grace nổi bật lên với vẻ đẹp lộng lẫy. Con người nàng tỏa ra một dáng vẻ rất tự tin về sự giao tiếp với mọi người, với mấy người bán hàng, với sách vở nằm trên kệ và với tất cả mọi thứ chung quanh nàng. Đầu vẫn cúi xuống, chàng nhích lại gần nàng thì thào với giọng thật lo lắng, “Mình kiếm chỗ khác để uống trà đi Grace.”

“Chút xíu nữa anh,” nàng đáp.

“Mình đi ngay bây giờ đi.”
“Chút xíu nữa mà anh,” nàng lơ đãng nhắc lại.
“Ở đây ngột ngạt quá. Mình đi ngay bây giờ đi.”
“Sao anh nóng ruột quá vậy?”
“Ở đây chẳng có gì cả ngòai mớ sách cũ trên kệ.”
“Có thể có một số mà em rất cần trong cuộc sống của em,” nàng vừa nói vừa mỉm cười tươi tắn và không hề nhận biết mối lo âu trên khuôn mặt của Harcourt.

Chính vì thế mà Harcourt phải tiến lại phía sau nàng do đó mỗi lúc chàng càng đến gần ông cụ hơn. Có lúc chàng ngửng đầu lên, liếc nhìn qua một bên với vẻ lơ đãng, Còn cha chàng, với khuôn mặt hồng hào, phúc hậu, vẫn yên lặng đọc sách nhưng lúc này dường như trên khuôn mặt của ông cụ có dáng vẻ tự lự như thể trong sách có cái gì làm ông cụ xúc động cho nên ông cụ quyết định đứng lại đó đọc tiếp.

Ông già Harcourt có dư thời gian để vui thú bởi ông đã nghỉ hưu sau khi làm việc cực nhọc suốt cả đời. Ông gửi chàng vào đại học và ước mong chàng rạng rỡ với người ta. Mỗi tối khi trở về nhà, dù sớm dù khuya, chàng thường vào phòng bố mẹ, bật đèn lên để chia xẻ với song thân những gì hay đẹp trong ngày. Cả hai lắng nghe chàng nói và chia xẻ với chàng về một thế giới mới mà chàng đang ngụp lặn trong đó. Cả hai ngồi dậy trong bộ quần áo ngủ, mỗi khi mẹ chàng hỏi điều gì, cha chàng đều chăm chú lắng nghe, đầu nghiêng qua một bên, mỉm cười hoặc chau mày. Tất cả những hình ảnh đó hiện rõ trong tâm trí chàng lúc này thế nhưng có một niềm khát khao và một nỗi đau đớn mỗi lúc cứ đè nặng lên chàng khi chàng sợ hãi liếc nhìn cha mình, nhưng chàng bướng bỉnh cho rằng, “Mình không thể giới thiệu ông cụ với Grace. Mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn nếu ông cụ không nhìn thấy hai người. Phải mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn. Như thế hợp lý hơn. Gặp Grace chỉ làm cho ông cụ thêm lúng túng.”

Vào lúc này thì Harcourt biết mình đang xấu hổ, nhưng chàng biện minh cho sự xấu hổ của mình với lý do cha của Grace là người có phong thái lịch sự và tự tin vì suốt đời sống trong một xã hội giàu có và thành công. Thỉnh thỏang khi ghé vào nhà Grace lễ phép nói chuyện với mẹ nàng, chàng không khỏi suy nghĩ về vẻ đơn sơ của nhà mình, về giọng nói tiếng cười xuề xòa, mộc mạc của cha mẹ và chàng quyết định phải làm sao để gia đình Grace nể mặt.

Chàng thận trọng ngước nhìn lên vì hai người chỉ còn cách nhau khỏang ba thước, nhưng vào ngay lúc đó, ông cụ cũng ngửng đầu lên nhưng ánh mắt của Harcourt lại tránh qua một bên, nhìn về phía lối đi, về phía quầy tính tiền, làm bộ như không thấy gì cả. Khi đôi mắt xanh và bình thản của ông cụ chú mục qua cặp mắt kính, có một lúc dường như hai người đã nhìn thấy nhau. Không biết rõ là ai, nhưng khi chàng Harcourt quay lưng và hối hả nói với Grace thì chàng biết rõ là cha chàng đã nhìn thấy chàng. Chàng biết chắc như vậy vì vẻ bình thản trong đôi mắt xanh của ông cụ. Niềm xấu hổ trong chàng trào dâng và nó làm chàng đau khổ khi chàng đứng đó bất động, không biết làm gì cả.

Cha chàng quay lui, đi dọc theo hành lang, bước đi thẳng thốn trong bộ quần áo đã sờn cũ, đôi vai ông cụ giang rộng và không quay đầu nhìn lại. Rồi ông cụ bước xuống đường với dáng vẻ trầm tư mà chàng biết chắc mỗi lúc mỗi trở nên sâu nặng và nghiêm trọng.

Chàng trẻ tuổi Harcourt đứng bên cạnh Grace, khẽ cọ vào đôi vai mềm mại của nàng và thoang thỏang ngửi thấy mùi nước hoa mà nàng dùng. Đó, đứng sát bên mình, nàng là tất cả những gì mà chàng khát khao ôm chặt lấy, nhưng giờ đây chàng chỉ còn thấy một nỗi thù hận ghê gớm khiến chàng ủ rũ cúi mặt và đứng bất động.

“Anh nói đúng đó John,” giọng nàng nhỏ nhẹ và hơi ề à. “Vào ngày nóng nực như thế này ở đây khó chịu thật anh ạ. Giờ mình đi. Nè, có bao giờ anh nghĩ rằng đứng ở khu thương xá lâu như thế này có khi mình trở nên ghét người ta không biết chừng?” Nhưng vừa nói nàng vừa mỉm cười cho nên Harcourt biết chắc rằng nàng chẳng ghét ai cả.

“Em ghét người ta có phải không?” chàng gặng hỏi.
“Ghét người ta? Mà người ta nào? Anh nói gì vậy?”
“Anh muốn nói,” chàng bực tức nói tiếp, “em không thích những người mà em gặp ở đây chẳng hạn.”
“Đâu phải vậy. Mà ai ghét? Anh nói gì vậy?”
“Thiên hạ đều biết rằng em không, “ chàng nói bừa với tất cả sự bực tức để tấn công nàng. “ Anh muốn nói em không thích những người bình dị, chân chất là những người mà em gặp ở khắp thành phố này.”

Chàng thốt ra những lời nói này như thể chàng muốn chọc giận nàng nhưng trong thâm tâm thật sự chàng muốn nói, “ Em không thích gia đình anh. Tại sao anh không muốn đưa em tới nhà để ăn cơm tối với cha mẹ anh? Em sẽ có thái độ khinh khỉnh bởi vì bố mẹ anh không có tính tự phụ, kiêu căng. Ngay khi cha anh nhìn thấy em, ông cụ biết rằng em không muốn gặp ông cụ. Cứ nhìn cách ông cụ bỏ đi là anh biết mà.”

Cha chàng đang trên đường về nhà và chàng biết rằng trong bữa cơm tối nay cả nhà sẽ gặp lại. Mẹ chàng và em gái chàng sẽ nói mau mắn hỏi đủ chuyện nhưng còn cha chàng thì ông cụ sẽ không nói gì với chàng, không nói gì với mọi người. Rồi trong ký ức của chàng sẽ nổi lên hình ảnh của cha chàng với cái nhìn đăm chiêu qua đôi mắt xanh và cả nỗi đau đớn của ông cụ mà chàng biết rất rõ khi ông cụ bỏ đi.

Khi hai người bước qua hiệu sách, Grace ngắm nhìn khuôn mặt sầu thảm của Harcourt và nàng hiểu rằng Harcourt đang giận dữ trong lòng cho nên sự bực tức và nỗi bất bình trong nàng lại dâng lên, nàng nghiêm nghị nói, “Theo em nghĩ anh có quyền bực tức trong một buổi chiều nóng nực như thế này, nhưng còn em, nếu em không thích chỗ này thì em có quyền không thích. Anh cũng muốn đi chỗ khác cơ mà. Có ai thích đứng lì ở đây trong một buổi chiều nóng nực như thế này đâu? Nói cho anh biết, em bắt đầu không ưa những người lố bịch đụng vào người em, tất cả những ai gần em. Như vậy thì có sao không?

“Thì em là kẻ hợm mình.”
“Em mà là kẻ hợm mình à?” nàng tức giận hỏi lại.
“Rõ ràng em là kẻ hợm mình,” chàng nói.

Lúc này hai người đã ra ngòai cửa và sửa soạn bước xuống đường. Trong ánh nắng chan hòa, giữa dòng người đang tản bộ dọc theo con phố, khi hai người sánh bước bên nhau, Harcourt cố tìm cho ra những câu nói để diễn tả hết ý nghĩ thầm kín của mình đối với Grace, “ Anh biết rất rõ cảm nghĩ của em đối với những người không thích hợp với lối sống của gia đình em,” chàng nói.

“Anh đúng là kẻ lố bịch,” nàng nói. Lúc này mặt Grace đỏ gay và vì không biết làm cách nào để diễn tả hết cơn giận dữ, cho nên nàng ngửng cao đầu và bước thẳng.

Chưa bao giờ hai người nói với nhau như thế nhưng giờ đây thì cả hai sẵn sàng tấn công để làm tổn thương nhau. Sau một thôi một hồi, nàng bắt đầu tranh luận với Harcourt rồi nàng trấn tĩnh lại, nói, “ Nghe đây John, tôi nghĩ rằng anh không còn muốn đi với tôi nữa. Uống trà với nhau làm gì thêm vô ích. Tôi nghĩ chúng mình chia tay ngay bây giờ tốt hơn.”
“Được lắm,” Harcourt nói. “ Chào em.”
“Chào anh.”
“Chào em.”

Nhưng khi nàng bỏ đi, bước đi khỏang hai bước thì Harcourt run sợ, vội vã nắm chặt lấy tay nàng, năn nỉ, “ Đừng bỏ đi Grace à.”

Tất cả nỗi bực dọc và căm tức giờ đây biến mất trong chàng và chỉ còn lại một niềm khát khao và xao xuyến qua giọng nói,” Xin Grace tha thứ cho anh. Anh không có quyền nói với em như thế. Không hiểu tại sao anh lại thô lỗ như vậy hoặc có cái gì đây. Anh lố bịch thật. Anh lố bịch quá em à. Xin em tha thứ cho anh. Đừng bỏ anh.”

Harcourt chưa bao giờ nói ấp úng như thế và nói bằng cả khối chân tình cho nên Grace bắt đầu xúc động. Trong khi lắng nghe chàng nói và hiểu được tấm lòng thương mến của chàng, do sự xung đột lúc vừa rồi, dường như họ xích lại gần nhau hơn lúc nào hết và Grace bắt đầu cảm thấy e thẹn. “Em không hiểu tại sao như vậy anh ạ. Em nghĩ cả hai chúng ta đều bực bội trong mình. Có lẽ tại thời tiết nóng quá,“ nàng nói. “Nhưng em không giận anh đâu.”

Harcourt đau khổ gật đầu. Chàng nồng nàn nói cho Grace biết là chắc chắn cha chàng sẽ quý mến nàng, nhưng chưa bao giờ trong đời chàng cảm thấy đau khổ như thế. Chàng nắm chặt lấy tay Grace như muốn ghì chặt lấy cái gì thân thương nhất trong đời như sợ nó có thể vuột khỏi tầm tay… và trong đầu chàng lại hiện lên và còn tiếp tục hiện lên hình ảnh cha chàng đã lặng lẽ bỏ đi và ông cụ không quay đầu trở lại./.

Cước chú: Quý vị, quý bạn có thể vào Google rồi đánh máy The Snob Morley Callaghan để đọc nguyên tác bằng tiếng Anh.

Đào Văn Bình

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026

Nếu Xuân Này Em Lấy Chồng - Sáng Tác: Xuân Vinh,Mộng Đạt - Ca Sĩ: Hoàng Oanh


Sáng Tác: Xuân Vinh,Mộng Đạt
Ca Sĩ: Hoàng Oanh
Thực Hiện: Nhạc Xưa Sài Gòn Pre75

Thần Hoàng Thổ Địa Đối Thoại

      

Thần Hoàng Thổ Địa 1

Đình làng cổ kính giữa sương mai
Lời khấn của người tượng cũng lay
Thổ Địa miệng cười xin lấy chuối
Thần Hoàng nghiêm mặt vội giơ tay:
- "Dân còn đang sống trong nghèo đói
Ông chớ tham đòi hỏi mặn chay"
- "Thần Thánh xuân về vui đủ thứ
Nghe Ông chỉ hít khói nhang này".


Thần Hoàng Thổ Địa 2

- "Chớ để cho lòng nhuốm đục trong
Tuy rằng nhang khói khó no lòng
Nông dân trồng trọt bao nhiêu thứ
Hoa quả mần ra phải tặng không
Đất thấm mồ hôi hoà nước mắt
Áo màu nâu củ lẫn cây sồng (*)"
Thần Hoàng khuyên thế còn Ông Địa
-"Nếu chỉ thế thì chức khó mong".

Quên Đi.

(*) Ngày xưa, người dân chân lấm tay bùn thường lấy củ nâu và cây sồng để nhuộm quần áo, củ nâu cho màu nâu, câu sồng cho màu đen. Trong văn chương, chữ nâu sồng chỉ người sống nghèo khổ đạm bạc và những người tu của Phật Giáo.

Demain, Dès L’aube(Victor Hugo) - Ngày Mai, Mờ Sáng…(Lộc Bắc)

 

Demain, Dès L’aube

Demain, dès l’aube, à l’heure où blanchit la campagne,
Je partirai. Vois-tu, je sais que tu m’attends.
J’irai par la forêt, j’irai par la montagne.
Je ne puis demeurer loin de toi plus longtemps.

Je marcherai, les yeux fixés sur mes pensées,
Sans rien voir au dehors, sans entendre aucun bruit,
Seul, inconnu, le dos courbé, les mains croisées,
Triste, et le jour pour moi sera comme la nuit.

Je ne regarderai ni l’or du soir qui tombe,
Ni les voiles au loin descendant vers Harfleur,
Et quand j’arriverai, je mettrai sur ta tombe
Un bouquet de houx vert et de bruyère en fleur.

Victor Hugo
***
Ngày Mai, Mờ Sáng…

Sớm mai khi cánh đồng vừa rạng
Ta đi ngay buổi sáng. Biết đương chờ
Băng qua rừng núi tinh mơ
Xa nhau chẳng thể ơ hờ lâu hơn

Ta bước đi trí luôn suy tưởng
Chẳng thấy gì, chẳng vướng âm thanh
Lưng còng tay chắp, vô danh
Lòng buồn ngày hạ cũng thành đêm đông

Chẳng nhìn ngắm ráng hồng buông xuống
Lẫn buồm xa xuôi hướng Harfleur
Đến nơi cha đặt lên mồ
Bó hoa thạch thảo, ô rô ngậm ngùi!!!

Lộc Bắc

Mai17


 

Đếm Bước Thời Gian

  
Ảnh: Nguyễn Gia Khanh)

Xướng:

Đếm Bước Thời Gian

Ngỡ bóng câu vừa thoảng vụt song
Thời gian lặng lẽ cuốn theo dòng
Thang đời mấy bậc leo đà mỏi
Món nợ bao ngày gỡ chửa xong
Tuổi mới chồng lên tờ lịch cũ
Niềm xưa giũ xuống mảnh lưng còng
Ta ngồi phủi mộng vương đầu trắng
Chạnh bước phong trần lỡ ruổi rong.
Nguyễn Gia Khanh
(Bình đầu, Thượng vỹ)
***
Bài Họa:
Long Đong Dòng Đời

Mây chiều lờ lững thoáng qua song
Hỏi lệ buồn dâng chảy mấy dòng
Cay đắng bao lần đà nếm đủ
Ngọt ngào mấy bận vẫn chưa xong
Bễ dâu được mất đang còn trãi
Năm tháng dần qua đã vội còng
Thời thế thế thời thời phải thế
Bạc đầu nhưng phận mãi long rong

Hoành Trần
26/1/25
***
Hoài Niệm
Mơ về liếp cũ gió luồn song
Tủi nỗi niềm xưa đắm lệ dòng
Nghĩa mẹ tình cha còn mãi ruổi
Ơn thầy nợ bút trả nào xong
Sầu tâm quẫn trí san lòng biển
Chở cát tàn thân xót dạ còng*
Sóng vỗ ngàn năm vùi ước mộng
Ai mà nhắc đến một đời rong.

* Con Còng(Dã tràng).
Thái Chung
***
Bóng Thiều Quang
Dương tà vội vã lướt ngoài song
Giữa cảnh tà huy khó ngược dòng!
Bởi nghiệp trần gian sầu đã dứt
Nên tình lữ khách thảm vừa xong
Hồn thơ tuyết điểm đầu sương bạc
Lứa tuổi mùa trôi gậy ngõ còng
Diệu Pháp Kinh chiều luôn thả nghĩa
Nương thuyền Bát Nhã để mà rong.
Mộng Hoài Nhân
Sài Gòn 26/1/2026
***
Suy Tư
Thều thào ngọn gió thổi ngoài song
Khắc khoải hồn thi ngẫm mấy dòng
Ngoảnh lại duyên trần vương chẳng hết
Quay về thế cuộc trả nào xong
Dường như mái tóc dần thêm bạc
Có lẽ bề lưng đã sắp còng
Cứ mãi phiêu lưu đời lận đận
Bồng bềnh phận số giữa long đong .

Nguyễn Thanh
***
Trrước Thềm Xuân

Đông tàn khói loãng phủ mờ song
Ngõ lạnh sầu loang thảo mấy dòng
Nợ mãi lo đời không trả hết
Vay hoài sợ kiếp chẳng hoàn xong
Ngày Thu kẻ trách thân dần cỗi
Buổi Hạ người chê dáng đã còng
Tết vẫn theo mùa quay trở lại
Thôi đành giã biệt lối từng rong

Đinh Tuấn Minh.
***
Bóng Chiều

Nghiêng chiều nắng nhạt phản hàng song
Lấm bụi trần gian ẩn giữa dòng
Mộng cưỡng duyên hoàn thôi chẳng thiết
Canh tàn lửa rụi thế là xong
Hèn sang tại số thời điên đảo
Khổ sướng rồi sau phận loã còng
Rẽ lối khi nào qua hiểm lộ
Thương đời lựa cảnh kiếp bèo rong.
Nguyễn Tiến

Pháo Hoa & Đèn Lồng Ăn Mừng Chiến Thắng Nian Và Đón Chào Năm Mới (Bài Dịch: Thái Lan)


Pháo hoa Đèn Lồng
Xua Đuổi điều không may Chiếu sáng Niềm Hy Vọng

Việc đốt pháo và thắp đèn lồng trong đêm: nhớ đến cuộc chiến chống lại Nian:
Đốt pháo và thắp đèn lồng trong đêm: Những việc này, biểu tượng của Tết Nguyên Đán, không chỉ đơn thuần là một truyền thống lễ hội. Nó bắt nguồn từ truyền thuyết về quái vật Nian và mỗi năm, nó thể hiện một nghi lễ bảo vệ, hạnh phúc và hy vọng cho hàng triệu gia đình.

Truyền thuyết về Nian: tiếng ồn và ánh sáng.

Theo thần thoại Trung Quốc, Nian là một sinh vật đáng sợ- nó rời khỏi hang ổ dưới đáy biển hoặc trên núi vào đêm trước Tết Nguyên Đán. Sự xuất hiện của nó mang theo nỗi sợ hãi và sự tàn phá: nó ăn hết mùa màng, gia súc, và đôi khi cả dân làng. Để thoát khỏi hiểm nguy này, người dân đã tìm nơi trú ẩn, cho đến một ngày một ông lão cho biết rằng con quái vật sợ màu đỏ, ánh sáng và tiếng ồn. Từ đó ra đời phong tục trang trí nhà cửa bằng màu đỏ, thắp đèn lồng và nến, và nhất là đốt pháo vào ban đêm: cả một kho mưu mẹo nhằm xua đuổi sinh vật này và cũng nhờ từ những điều này, để xua đuổi tà ma.

Pháo hoa: phương tiện bảo vệ dùng âm thanh chống lại vận rủi. Đốt pháo hoa không chỉ đơn thuần là giải trí; mà còn là một hành động thanh tẩy. Những tiếng nổ mạnh mẽ có hiệu lực đánh dấu sự kết thúc của năm cũ và tượng trưng cho việc xua đuổi vận rủi. Quan niệm dân gian cho rằng tiếng nổ càng lớn, càng nhiều tà khí bị xua đuổi, và cánh cửa hạnh phúc càng mở rộng cho năm mới.

Phong tục này ăn sâu vào văn hóa đến nỗi các đám cưới và lễ khai trương kinh doanh cũng đi kèm với pháo hoa, để "ban phước" cho không gian bằng sức mạnh bảo vệ của chúng.

Đèn lồng: Thắp sáng hy vọng và mời gọi thịnh vượng.

Ánh sáng của những chiếc đèn lồng đỏ là một phương tiện bảo vệ vững chắc khác. Màu đỏ, màu sắc gắn liền với may mắn và sức sống ở Trung Quốc, hoạt động như cách ngăn trở, chống lại các thế lực có hại có thể ẩn náu trong đêm. Từ triều đại nhà Hán trở đi, đèn lồng trở thành biểu tượng của các lễ hội: chúng thắp sáng đường phố, đền chùa và nhà cửa, được treo hoặc thả lên bầu trời trong màn kết thúc hoành tráng. Giơ cao đèn lồng là một cách để mời gọi sự sung túc, đoàn kết gia đình và đem may mắn vào nhà.

Lễ hội đèn lồng (Yuan Xiao Jie), sự kiện kết thúc chu kỳ Tết Nguyên Đán của Trung Quốc, càng làm tăng thêm ý nghĩa biểu tượng này.
Hàng trăm chiếc đèn lồng được thắp sáng để chào mừng ngày trăng tròn đầu tiên của năm âm lịch. Những việc trưng đèn sáng rực nhân ngày lễ này đánh dấu sự trở lại của mùa xuân và thể hiện mong muốn xua tan bóng tối của quá khứ để chào đón ánh sáng và may mắn sắp đến.

Truyền thống, Thời Hiện đại và Sự Duy trì Chuyển giao,

Ở các thành phố lớn, pháo hoa thường thay thế pháo nổ kiểu cũ vì lý do an toàn, nhưng nguyên tắc vẫn giữ nguyên: - bắn tóe ánh sáng lên và thể hiện âm thanh rộn rã để đánh dấu sự chuyển giao sang một năm mới tràn đầy hy vọng. Thắp đèn lồng hoặc đốt pháo cũng là một cách để truyền lại câu chuyện này cho thế hệ trẻ, trao cho họ vai trò tích cực trong việc "đánh bại Nian" và làm đổi mới niềm hạnh phúc chung.

Văn hóa và Xã hội

Vượt ra ngoài văn hóa dân gian, những cử chỉ này thể hiện niềm tin tập thể vào sức mạnh của nghi lễ. Chúng củng cố gia đình, gắn kết khu phố và thể hiện niềm tin rằng ánh sáng, niềm vui và âm thanh thiện lương tử tế sẽ mạnh mẽ hơn sự hỗn loạn và nỗi sợ hãi. Đốt pháo và thắp sáng màn đêm là để tôn vinh ký ức về Nian và chiến thắng của hạnh phúc và sự đoàn kết trước thế lực bóng tối.

Vì vậy, mỗi năm, trận chiến mang tính biểu tượng chống lại quái vật Nian được tái hiện trong sự náo nhiệt vui vẻ của pháo hoa và sự kỳ diệu tĩnh lặng của những chiếc đèn lồng đỏ treo lơ lửng, duy trì niềm tin vào một tương lai tốt đẹp hơn, được bảo vệ và tươi sáng.

Bài Dịch: Thái Lan


 

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

Cánh Nhạn Về Đâu - Thơ: Phương Hoa - Nhạc: Trần Chương Lương - Hòa Âm: Hoàng Đệ - Ca Sĩ: KN Ngọc Thuý


Nhạc: Trần Chương Lương
Hòa Âm: Hoàng Đệ
Ca Sĩ: KN Ngọc Thuý

Cà Phê Dư Âm

 

Ly cà phê dĩ vãng
pha chút vị hôm nào
trên chiếc bàn biển rộng
uống từng ngụm chiều sau...

Về đây mùi hương cũ
cho nhau chút cuộc đời
nhiều năm trời gom lại
cũng đủ một viền môi

Bàn tay dài năm ngón
mấy lần chạm niềm đau
Bàn tay dài nhung nhớ
mấy lần vẫy chào nhau

Quán xưa không còn nữa
dư âm của một thời
ly cà phê đời cạn
hương còn mãi về sau

Người về đâu, về đâu?
Những quán đời không mỏi
giọt cà phê úa màu
vẫn nghiêng bóng hình nhau..!

Durham, North Carolina
Nguyễn Vĩnh Long

Cho Anh

 
(Tranh: Hoạ Sĩ Đặng Can)

Em cho anh… mùa Xuân

Ôi, mùa Xuân…hoa bướm vui mừng

Lan tỏa đâu đây…đầy hương sắc

Tơ trời xao xuyến…phiếm sáo ngân!


Bốn mùa, năm tháng… chóng qua

Sắc hương… tình nghĩa bớt mặn mà!

Xác thân mỏi mòn…rơi rụng…

Thâm tình.. thì khó phôi pha!


Đâu còn hai tiếng… Em ơi!

Cháu con…che mắt…mỉm cười

Gọi nhau “Ông Bà” cho hợp nhé!

Bên ngoài …mây gió chơi vơi!


Nặng nề …lê bước bên nhau

Đường về …ai trước,ai sau…

Cõi ấy…hãy chờ nhau nhé

Đời đời vinh hiển…chẳng phai màu!


Tô Đình Đài

Nghe Đàn Huế


Cuối cùng thì ''Bà Già'' cũng ''đi''! ''Đi'' , một cách rất bình thản, nhẹ nhàng. Một ''lên đường'' mà, tôi nghĩ, tất cả chúng ta đều mong muốn được như thế. 2h khuya (27/1) khi con gái vào phòng thăm, bà vẫn còn tỉnh táo nhưng đến 9h khi cô vào thăm thì bà đã ''đi''. ''Đi'', trong giấc ngủ , trong căn phòng ấm cúng. ''Đi'' ngay ở nhà mình . ''Đi'' theo cái quy luật của tạo hóa : ''sinh lão bệnh tử ''!

Và người ''thọ'' nhất (?) trong giới Y Khoa Việt Nam (corps médical) không còn là bà Henriette Bùi quang Chiêu ( 8-9-1906 _ 29-4-2012), vị nữ Bác-sĩ Việt đầu tiên ( Paris 1934). Mà là ''Bà Già'', "cô đỡ" (sage femme) Nguyễn Thị C. : trên 106 tuổi ( 31-7-1919_27-1-2026) .

Xin gởi lại bài tôi viết năm 2016 . Để bạn cùng tôi hướng lòng về ''Bà-Già''.
Con cầu nguyện hương linh Bà-Già sớm về cõi Phật!

BP
02/02/2026
===================

Thích hay không thích, vui hay buồn , chắc bạn cũng đồng ý với tôi, rằng đêm 31/12/1999 là một trong những đêm giao thừa "đặc biệt"của chúng ta? Bởi vì không phải ai cũng được là nhân chứng cho cái giây phút bàn giao giữa hai thế kỷ! Thế kỷ 20 và 21 .

"Đất nước chúng ta có 4000 năm văn hiến". Không biết ai là người đã viết ra câu đó, nói ra câu đó, trong thế kỷ 20 (cụ Trần trọng Kim chăng?) . Nhưng văn hiến không phải là văn hóa.

Dựa theo định nghĩa của học giả Đỗ Trọng Huề "Văn hiến là trình độ văn hóa của một dân tộc đã thoát khỏi bóng tối của thời tiền sử để bước vào ánh sáng thời kỳ lịch sử ", ký giả Mặc Giao (nguyên dân biểu VNCH ) , cho rằng văn hiến Việt Nam, mà chứng tích là một bài từ của thiền sư Khuông Việt, bắt đầu, trễ nhất , là năm 986 . Có nghĩa là chỉ " mới "1030 năm (986 – 2016). Chính văn hóa (culture) mới được 4000 ( 5000 ? ) năm .

Tuy có một nội lực thượng thừa là 4000 năm nhưng câu văn ta đọc hôm nay, khúc ca ta hát hôm này , bức tranh trong phòng khách, câu thơ mới vừa ngâm vân vân . Nhất nhất những cái "văn hóa" đó, chỉ đều được khai sinh trong thế kỷ vừa qua. Cái thế kỷ mà Vũ hoàng Chương ( sinh 1916 ) đã than thở
"đầu thai lầm" , mà Nguyên Sa  sinh 1932) đã chua chát"dăm bảy nụ cười không xóa hết ưu tư! Tôi muốn nói đến câu văn Đông Dương , Nam Phong của cụ Vĩnh, cụ Quỳnh , đến nốt nhạc « Con thuyền không bến « của cụ Đặng , đến vần điệu « Tình Già « của cụ Phan , đến những nét họa của cụ Vân, cụ Trí.. vv . Những « khai sinh » đó , trừ tờ Đông Dương ( ra đời 1913 ) , đến nay , vẫn chưa được trăm tuổi! Nên thế kỷ 20 , với tôi , là thế kỷ đánh dấu sự hội nhập của văn chương , nghệ thuật Việt nam vào văn chương , nghệ thuật quốc tế . Chưa nói đến thế kỷ 20 là thế kỷ duy nhất trong lịch sử (tôi hy vọng vậy) mà mấy triệu người Việt đã liều chết , bỏ nước ra đi tìm Tự Do. Nên , chào thế kỷ 21 , có lẻ không một người Việt nào , nhất là những người tị nạn CS , mà không lễ mễ mang hy vọng chất đầy"trước thềm năm mới « với mong ước ngày « hẹn một ngày về"(Lê Hữu Mục) sẽ không còn xa lắm.
Bằng những rộn ràng đó, mong mỏi đó , chúng tôi đã tổ chức đêm « Chào đón năm mới. Mừng thế kỷ mới " vừa ăn Tết ( tây ) vừa ăn « tân gia"( sau hơn một năm lao động phờ người!) .

Vui tết thì phải vui với bạn, mới vui! Trong 40 "quan khách" thân tình, có một vị đặc biệt . Đặc biệt là vì dù không được thiệp mời , vẫn khăng khăng đòi tới . Đó là một nữ lưu … 81 tuổi ( sinh 1918 ) , thân mẫu của Nguyễn , ông bạn thân nhất của tôi ngày đó. Theo Nguyễn , tôi gọi bà cụ là " Bà Già" .

Ông già, bà già là người Huế. Ông Cụ có "cabinet" ở Đà lạt. Sang Pháp định cư sau tết Mậu Thân. Thân với Nguyễn, tôi được cả gia đình bạn ta xem như " con cháu trong nhà " Nhất là " bà già". Nhờ Nguyễn , thỉnh thoảng chúng tôi "trúng số", được bà làm các món Huế , gởi cho Nguyễn đãi chúng tôi . Bà vui tánh và rất mê văn nghệ . Lần đầu tôi đệm cho bà "Đoàn Chuẩn Từ Linh", vừa đệm vừa nhắc tuồng , nhờ thế mà được lọt vào mắt xanh bà Cụ . Mỗi lần gặp, bà đều dơ hai tay ôm mặt tôi nựng  "Hổm rày mi đi đâu mà bà già không gặp?".

Năm 1999, hay tin chúng tôi tổ chức "réveillon" với chương trình "50 năm âm nhạc VN", bà đòi tới tham gia . Sau cùng , bị mấy đứa con "bắt" phải ở nhà ăn Tết với " ông già" , nên bà so dây , nắn phiếm cây đàn tranh (từ lâu không đụng tới) dạo vài khúc " tủ " thu băng, gởi chúng tôi . Xem như một đóng góp vào chương trình đêm không ngủ với đám "trẻ". Nhận được băng nhạc sau tết , khi Nguyễn thực hiện cuốn băng kỷ niệm , tôi nhờ anh lấy đó làm nhạc đệm cho bài thơ tôi viết tặng « bà già «!

Cuốn băng vẫn nằm trong thư viện nhà tôi . Thú thật là tôi không còn nhớ các ( đàn ) tranh-khúc nhưng cái cảm giác khi một mình ngồi trong phòng khách đầy bóng tối , nghe réo rắc tiếng đàn , thì vẫn nhớ như in. Đó là cái cảm giác của một người đi xa, 20 năm chưa quay về cố lý, chợt một hôm tình cờ nghe lại tiếng róc rách , nhỏ đều , tiếng ào ào , tuôn chảy. Như suối của Đà lạt . Như mưa ở Huế . Như đêm bão rừng lộng gió năm xưa . Lòng ly hương muốn tru dài những tiếng hú sói hoang

Bây giờ, tôi vẫn gặp "bà già", trong những đêm đón giao thừa ở Phật Đường ( mà bà và các con đã đóng góp rât nhiều trong việc thành lập chùa ) thành phố tôi ở. Mới hôm tết rồi, ở tuổi 98 mà trông bà vẫn tráng kiện , mạnh khỏe , trí nhớ vẫn tốt , da mặt vẫn mịn màng . Gặp mẹ nhưng không gặp con: Nguyễn , đứa con trai út của bà, người bạn thân của tôi . Giản dị là Nguyễn đã đi xa, đi thật xa, trong một ngày hè năm 2008!

Tôi ghi lại bài thơ dưới đây như một tưởng niệm . Về người bạn Huế hiền lành , dễ mến của tôi .
Như một lời cám ơn gởi đến " bà già " của chúng tôi , lần nữa

BP

Nghe "Ðàn Huế "
Kính gởi "Bà già"
"Ðàn buồn, đàn lặng, ôi, đàn chậm
Mỗi giọt rơi, tàn như lệ ngân"

Xuân Diệu

Này là tiếng đàn
Khởi đi từ Huế-mưa-giăng
Bay lên mù-sương-Ðà-Lạt
Tiếng đàn không tiếng hát
Nghe như suối nhỏ trên ngàn!

Ðàn của cung tần kêu Chúa Thượng
Loan phòng: gối lạnh đùa chăn!
Ðàn của đêm nào say ngất ngưỡng
Trầm mình, Lý Bạch ôm trăng
Ðàn của thiếu thời cơn gió cuốn
Mộng tàn theo ánh sao băng!

Này, từng nhịp rời
Ngậm ngùi, xa vắng, chơi vơi
Nhớ đêm mới sóng thuyền xa bãi
Đã thấy thiên thu một góc trời!

Thì thôi, một đời cô độc
(Ðã đành mây trắng lang thang… )
Thì thôi, bắt đầu mái tóc
Sợi dài bạc gốc cưu mang
Ðàn khua tận cùng đáy cốc
Những hình bóng cũ trôi ngang
Người đi dưới trời sao mọc
Ngập hồn cả một Việt Nam!
Chân run, cuối cùng con dốc
Ðứng im, nước mắt hai hàng!

Này là cung Thương
Này là cung Oán
Này là con thuyền neo trên bến vắng
Sóng vỗ về, mê mõi kiếp ly hương

Thấy rồi, đôi tay ngón nhỏ!
Khoan thai nhấn phím tơ chùng
Ðà Lạt, đêm nào bỏ ngỏ
Mắt người, đẫm một màu trăng

Những cành thông và những đồi thông
Những cơn đau còn đó chập chùng
Căn nhà cũ gói lòng thiẽu phụ
Nhạc sầu khơi động cả không trung!

Ðàn ơi, Hương Giang ơi!
Ðàn ơi, Cam Ly ơi!
Quê nhà, mây trắng bay không tới
Kỷ niệm đùn lên một góc đời

Ðàn kéo buồn len theo hớp rượu
Vỡ lòng như sói hú đồng hoang!

10-03-2000
BP

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026

Chuyến Tàu Hoàng Hôn - Minh Kỳ - Hoài Linh - Kim Trúc


Sáng Tác: Minh Kỳ & Hoài Linh
Trình Bày: Kim Trúc

Sớm Bình Yên

 

Song buồn…sương khói mong manh

Lời em…ngọt lịm mây xanh

Ru hồn anh…  ngàn hoa đua nở…

Ong bướm líu lo…nặng trĩu cành!


Dáng em như chiếc thuyền mơ!

Va chạm tim anh…quá bất ngờ…

Đôi vai gầy…đang rung động

Bồng bềnh… dòng suối nhạc thơ!


Tập nhật ký…em vội trao tay

Đây dòng sông…sóng vỗ tháng ngày

Giọt lệ mờ…trang giấy trắng

Hồn anh rung động…cánh cò bay!


Biết nói gì đây…chết lặng người

Sông dài, biển rộng chơi vơi…

Lôi kéo hồn anh lìa bến mộng

Sự thật là đây…hay ảo vời!


Văng vẳng…giọng nói nhủ khuyên

Em ơi…ván đã đóng thuyền

Cám ơn…tình yêu là như thế đó!

Nguyện cầu  sóng gió…sớm bình yên!


Tô Đình Đài