Hiển thị các bài đăng có nhãn Chu Văn An. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chu Văn An. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2022

Linh Sơn Tạp Hứng 靈 山 雜 興 - Chu Văn An



靈 山 雜 興

萬 疊 青 山 簇 畫 屏
斜 陽 淡 抹 半 溪 明
翠 蘿 徑 裏 無 人 到
山 鵲 啼 煙 時 一 聲
朱 文 安
***
Linh Sơn Tạp Hứng


Vạn điệp thanh sơn thốc họa bình
Tà dương đạm mạt bán khê minh
Thúy la kính lý vô nhân đáo
Sơn thước đề yên thời nhất thinh

Chu Văn An 
***
Bản dịch:

Cảm Hứng Đề Thơ Tại

Núi Chí Linh 

Núi biếc chập chùng tựa bức tranh
Nắng chiều chênh chếch nửa khe xanh
Rừng hoang cỏ dại không người tới
Tiếng quạ chìm trong khói mỏng manh


Trần Quốc Bảo

Richmond, Virginia


Thứ Tư, 2 tháng 12, 2020

Vọng Thái Lăng - Chu Văn An


Chu Văn An 朱文安 (1292-1370) hiệu là Tiều Ẩn,tên chữ là Linh Triệt, tên thụy là Văn Trinh. Tên thật là Chu An, được phong tước Văn Trinh Công nên đời sau quen gọi là Chu Văn An. Ông người làng Văn Thôn , xã Quang Liệt, huyện Thanh Ðàm (nay là huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội). 

Sau khi thi đậu thái học sinh, Chu Văn An không ra làm quan, chỉ ở nhà dạy học.Học trò theo học rất đông, trong số đó có Phạm Sư Mạnh, Lê Quát. 

Năm Khai Thái đời Trần Minh Tông ông mới nhận chức Quốc Tử Giám tư nghiệp,dạy cho thái tử học. Ðời Trần Dụ Tông (1341-1369) nhà vua mải mê chơi bời, bỏ bê việc nước, bọn quyền thần thì lộng quyền,hà khắc,tham nhũng; Chu Văn An bèn dâng sớ xin chém bảy tên nịnh thần, nhưng vua không nghe. Ông xin từ chức, lui về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng, làng Kiệt Ðặc, huyện Chí Linh. Ông mất năm Thiệu Khánh thứ nhất. Ðời Trần Nghệ Tông (1370), được vua làm lễ tế và đặt tên thuỵ là Văn Trinh. 

Tác phẩm: Chu Văn An từng có những tác phẩm như: Thất trảm sớ, Tiều ẩn thi tập, Tiều ẩn quốc ngữ thi tập, Tứ thư thuyết ước. Nhưng cho đến nay mới chỉ tìm được 12 bài thơ chữ Hán chép trong Toàn Việt thi lục. 

Vọng Thái Lăng 

Tùng thu thâm toả nhật tương tịch,
Yên thảo như đài mê loạn thạch.
Ảm đảm thiên sơn phong cánh sầu,MAI
Tiêu trầm vạn cổ vân vô tích.
Khê hoa dục lạc vũ ti ti,
Dã điểu bất đề sơn tịch tịch.
Kỷ độ trù trừ hành phục hành,
Bình vu vô tận xuân sinh bích. 

Dịch nghĩa 

Cây tùng cây thu khoá kín trời sắp về chiều,
Cỏ non xanh rợn, như rêu che lấp những hòn đá ngả nghiêng.
Ngàn non ảm đạm, gió thổi càng thêm buồn,
Muôn thuở tiêu tan, mây không để lại dấu vết.
Hoa bên suối sắp rụng, mưa lất phất,
Chim ngoài đồng nội im tiếng, núi quạnh hiu.
Mấy lần dùng dằng, đi rồi lại đi,
Cỏ rậm bát ngát, sắc xuân xanh biếc.

Dịch Thơ: 

Trông Về Thái Lăng 

Thông giăng kín ngày thu sắp tắt, 
Đá rêu phong xanh ngát cỏ rờn, 
Ngàn non ảm đạm gió vờn, 
Mây tan muôn thuở đâu còn dấu xưa. 
Hoa suối rụng chiều mưa lất phất, 
Bặt tiếng chim hiu hắt núi ngàn. 
Dùng dằng cất bước mấy lần, 
Đồng xanh bát ngát sắc xuân mơ màng. 

Mailoc
***
Vọng Thái Lăng

Chiều sắp tắt rừng tùng thu chen kín 
Cỏ xanh rờn, rêu che đá ngã nghiêng 
Non ngàn ảm đạm, gió vờn buồn thêm 
Mây muôn thuở tan không còn lưu dấu 
Hoa bên suối rung, mưa chiều lất phất 
Ngoài đồng hoang tiếng chim núi bặt im 
Lựa lần do dự cất bước chân lên 
Cỏ cây rập rạp, sắc Xuân xanh rờn 

songquang
***
Trông Về Thái Lăng 

Tùng che rợp bóng kín trời chiều 
Phiến đá cỏ che tựa mọc rêu 
Gió thổi miên man, non ảm đạm 
Mây trôi biền biệt, cảnh tiêu điều 
Hoa rơi bên suối, mưa lay lắt 
Chim lặng ngoài nương, núi quạnh hiu 
Nửa ở nửa đi ngần ngại mãi 
Điệp trùng cỏ biếc ngọn liêu xiêu

Phương Hà

Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2020

Thôn Nam Sơn Tiểu Khế 村南山小憩 - Chu Văn An


村南山小憩           Thôn Nam Sơn Tiểu Khế

閑身南北片雲輕,Nhàn thân nam bắc phiến vân khinh,
半枕清風世外情。Bán chẩm thanh phong thế ngoại tình.
佛界清幽塵界遠,Phật giới thanh u, trần giới viễn, 
庭前噴血一鶯鳴。      Đình tiền phún huyết nhất oanh minh.
                      
朱文安                              Chu Văn An

Dịch nghĩa

Thân nhàn như đám mây nhẹ bay khắp Nam Bắc,
Gió mát thổi bên gối, tâm tình để ngoài cuộc đời.
Cõi Phật thanh u, cõi trần xa vời,
Trước sân, hoa đỏ như máu, một chiếc oanh kêu.

Dịch Thơ:

Núi Thôn Nam Tạm Nghỉ
Thân như mây bềnh bồng nam bắc
Nửa gối trăng gió mát tâm an.
Thanh u cõi Phật, lánh trần,
Oanh kêu, hoa rỏ máu loan sân ngoài

Mailoc
***
Các Bài Dịch Khác:

Núi Thôn Nam Nghĩ Chân

Thân tựa mây bồng bềnh bay Nam Bắc

Bên gối trăng tâm xao nhãng sự đời
Tìm cõi Phật,đường trần nên xa lánh
Nghe tiếng chim, nhìn hoa nở thảnh thơi

songquang
***
Tạm Nghỉ Ở Thôn Nam

Nhàn nhã như mây nhẹ nhõm trôi
Hiu hiu gió mát dạ an thơi
Thanh u cõi Phật xa trần thế
Hoa đỏ nhuộm sân, nhạn cất lời.

Phương Hà
***
Thôn Sơn Nam Tiểu Khế

Nhàn nhã tợ mây trôi khắp nơi
Gió lùa gối mộng tạm xa đời
Thanh u cõi Phật so trần thế
Oanh hót sân ngoài chẳng lúc ngơi

Kim Phượng
***
 Thôn Nam Sơn Tiểu Khế

村南山小憩            Thôn Nam Sơn Tiểu Khế


閑身南北片雲輕, Nhàn thân nam bắc phiến vân khinh,
半枕清風世外情。 Bán chẩm thanh phong thế ngoại tình.
佛界清幽塵界遠, Phật giới thanh u trần giới viễn,
庭前噴血一鶯鳴。 Đình tiền phún huyết nhất oanh minh.
朱文安                     Chu Văn An

* Chú Thích:
- Khế 憩: là nghỉ ngơi, Nghỉ mệt. Tiểu Khế 小憩 : là nghỉ xả hơi một chút.
- Nhàn Thân: Tấm thân nhàn hạ.
- Bán Chẩm: là Nửa gối.
- Phún huyết: là Phun máu, mửa máu.

* Nghĩa Bài Thơ:

Nghỉ Tạm Ở Một Thôn Của Nam Sơn

Vì bản thân nhàn rỗi nên như đám mây nhẹ trôi từ nam đến bắc. Làn gió mát thổi nhè nhẹ bên gối, tâm tình lâng lâng như vượt khỏi cuộc đời nầy. Cõi Phật rất thanh tịnh u nhã như xa hẵn cõi trần. Trước sân một con chim oanh hót đến mửa máu ra ( vì phải mang cái nghiệp ca hót của cõi trần thế !).

* Diễn Nôm:

Thân nhàn nam bắc dõi mây xa,
Nửa gối ngoài đời gió thoảng qua.
Cõi Phật thanh u xa cõi tục,
Ngoài sân mửa máu một oanh ca!

Lục bát:

Thân nhàn nhẹ tựa mây bay,
Thoát tình nhân thế gió lay gối đầu.
Lánh trần cõi Phật thanh u,
Trước sân nặng nghiệp máu trào oanh ca!

Đỗ Chiêu Đức
***
Nghỉ Chút Nam Sơn

1-

Mây mỏng nhàn trôi suốt bắc nam
Gió ru xuất thế gối bên nằm
Thanh u cõi Phật, trần gian lánh
Sân trước máu oanh giọng hót thầm!

2-

Mây nhàn trôi nhẹ bắc nam
Lâng lâng gió thổi gối nằm hóa thân
Thanh u cõi phật thoát trần
Con oanh hoen máu trước sân gọi hè!

Lộc Bắc
Nov20
***
Bắc Nam bay lượn ngàn mây
Gió lành thổi tới hoá ngay mưa dầm
Phật tử tu hành thiện tâm
Chim Oanh rướm máu đậu nhầm bụi gai

Lạc Thủy Đỗ Quý Bái


Thứ Tư, 20 tháng 5, 2020

Linh Sơn Tạp Hứng 靈 山 雜 興



靈 山 雜 興 

萬 疊 青 山 簇 畫 屏 
斜 陽 淡 抹 半 溪 明
翠 蘿 徑 裏 無 人 到 
山 鵲 啼 煙 時 一 聲

朱 文 安

Linh Sơn Tạp Hứng

Vạn điệp thanh sơn thốc họa bình
Tà dương đạm mạt bán khê minh
Thúy la kính lý vô nhân đáo
Sơn thước đề yên thời nhất thinh

Chu Văn An (*)
***
Bản dịch:

Hứng Bút Đề Thơ 
tại Núi Chí Linh (**)

Núi biếc chập chùng tựa bức tranh
Nắng chiều dọi sáng nửa khe xanh
Rừng hoang cỏ dại không người tới
Tiếng quạ chìm trong khói mỏng manh


Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia

(*) Chu Văn An (1292-1370) tên thật là Chu An, hiệu là Tiều Ẩn, biệt hiệu là Linh Triệt. Quê quán ở Văn Thôn, làng Quang Liệt, huyện Thanh Đàn. Nay là Thanh Trì, Hà nội. Đậu Thái Học sĩ (nay là Tiến sĩ) đời vua Trần Minh Tông (1314-1340) . - 

Ông là vị Quan Văn tài giỏi, tiết tháo, nổi tiếng liêm khiết, đức độ, sung chức Tư nghiệp Quốc Tử Gíám (Thày dậy học cho Thái Tử -là Thái tử Vượng sau lên ngôi vua, là Trần Hiến Tông, niên hiệu Khai Hữu 1329-1341), được phong tước Văn Trinh Công. Nên thường gọi ông là Chu Văn An. Đến đời Trần Dụ Tông (1341-1368), Ông dâng Sớ lên vua xin trảm quyết 7 tham quan nịnh thần trong triều (gọi là “Thất trảm Sớ”) , vua không thuận ý, nên ông cáo lão, từ quan, lui về quê, dạy học và bốc thuốc cứu nhân độ thế, ẩn dật cuối cuộc đời. - 

(**) Linh Sơn, là núi Chí Linh, thuộc địa giới huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa. Núi cao có vách đá, hang sâu, đia thế hiểm trở. - Quần thể núi non thuộc vùng thượng du sông Chu, gồm các núi: Chí Linh, Lam Sơn, Lạc Thủy. Khu vực hiểm yếu này từng là căn cứ đia, nơi dấy binh khởi nghĩa, của Bình Định Vượng Lê Lợi (1384-1433) chống quân nhà Minh, bên Tầu sang xâm lấn Nước ta. 

Ghi chú: Mới đây, có kẻ giả bộ tỉnh say, buông lời hỗn hào, xúc phạm đến tôn danh Cụ Chu Văn An. Chính những lời lẽ rất mất dạy của tên súc sinh ấy đã tự chôn tên tuổi hắn.. 

Sự việc nói trên, hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến lòng tôn kính ngưỡng mộ của tầng lớp sĩ phu đương thời, đối với vị Sư Biểu Tiền bối Chu Văn An cả. Nhân phẩm và đức độ của Ngài luôn sáng ngời như vầng nhật nguyệt trên khung trời văn học Việt Nam vậy.

Thứ Năm, 23 tháng 1, 2020

Những Bài Thơ Xuân

Nhân dịp xuân về, Kính gởi đến Quý Thầy Cô và Anh Chị Em Vườn Thơ Thẩn một "Những Bài Thơ Xuân" của Việt Thi, bắt đầu bằng bài thơ "Xuân Hiểu" của ông Vua Trần Nhân Tông nhé !

1. XUÂN HIỂU - Trần Nhân Tông.

春曉                 Xuân Hiểu 

睡起啟窗扉, Thụy khởi khải song phi, 
不知春已歸。 Bất tri xuân dĩ quy. 
一雙白蝴蝶, Nhất song bạch hồ điệp, 
拍拍趁花飛。 Phách phách sấn hoa phi.

CHÚ THÍCH :

* Thụy Khởi 睡起 : là Ngủ dậy, chỉ Vừa thức giấc.
* Khải 啟 : là Mở ra, giống như chữ KHAI (thanh BẰNG, còn KHẢI là thanh TRẮC ).
* Song Phi 窗扉 : Cánh cửa của Cửa sổ.
* Phách Phách 拍拍 : là Vổ vổ(cánh), ở đây có nghĩa là Vổ Phần phật.
* Sấn : là Nhân(dịp), ở đây có nghĩa là Hướng về...

NGHĨA BÀI THƠ :

Sáng Sớm Mùa Xuân
Vừa mới ngủ dậy, ta mở toang hai cánh cửa sổ ra... Đâu biết rằng mùa xuân đã về đến rồi !( Trông kìa,) một đôi bướm trắng nỏn nà đang vổ vổ cánh bay về các khóm hoa ( đang nở rộ !). 

DIỄN NÔM:
Sáng Xuân

Thức giấc mở song ngay,
Xuân đến nào có hay.
Một đôi bươn bướm trắng,
Hướng hoa vổ cánh bay!

Lục bát:

Vừa thức giấc, mở cửa song,
Nào hay xuân đã về trong đất trời.
Một đôi bướm trắng xinh tươi,
Khóm hoa bay lượn thành đôi chập chờn.

Đỗ Chiêu Đức
2. XUÂN ĐÁN          Chu Văn An

春旦                         Xuân Đán
寂寞山家鎮日閒, Tịch mịch sơn gia trấn nhựt nhàn,
竹扉斜擁護輕寒。 Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn.
碧迷草色天如醉, Bích mê thảo sắc thiên như túy
紅濕花梢露未乾。 Hồngthấp hoa tiêu lộ vị can.
身與孤雲長戀岫, Thân dữ cô vân trừơng luyến tụ
心同古井不生瀾。 Tâm đồng cổ tỉnh bất sanh lan.
柏薰半冷茶煙歇, Bá huân bán lãnh trà yên yết,
溪鳥一聲春夢殘。 Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn.

朱文安                    Chu Văn An

* CHÚ THÍCH:
- Xuân Đán 春旦: là Ngày Xuân, mà cũng có nghĩa là Ngày Tết nữa.
- Trấn Nhật 鎮日: la Suốt ngày. 
- Trúc Phi 竹扉 " là Cửa tre. 
- Tà Ủng 斜擁: TÀ là Xiên, xéo. ỦNG là Ôm. nên TÀ ỦNG là Ôm xeo xéo.
- Thiên Như Túy 天如醉 : Trời như say.
- Lộ Vị Can 露未乾: Sương chưa khô
- Tụ 岫: là Hang núi trên cao, thường có mây vần vũ trên đó.
- Lan 瀾 : là Gợn sóng lăn tăn.
- Trà Yên Yết 茶煙歇: trà Thuốc đều hết.
- Khê Điểu 溪鳥: Những con chim trong khe núi.

* Dịch Nghĩa:
Ngày Xuân

Suốt ngày nhàn hạ rảnh rổi với ngôi nhà quạnh quẽ vắng lặng ở trên núi nầy. Chiếc cửa tre xiêu vẹo ôm ấp lấy căn nhà che chắn bớt cái cơn lạnh nhè nhẹ đang lan tỏa. Nhìn xuống xa xa bãi cỏ non xanh biếc, bầu trời cũng xanh biếc như ngất ngây say. Những đóa hoa hồng lên trên cành rực rỡ với các giọt sương còn lóng lánh chưa khô. Tấm thân ta như đám mây đơn lẻ kia cứ mãi quyến luyến không nở rời đỉnh núi, và lòng ta thì đã khô cằn như chiếc giếng xưa kia đã không còn dậy sóng nữa. Những nhánh tùng bách cháy tàn nửa vời lạnh lẽo, trà thuốc cũng đã cạn rồi. Những con chim bên khe núi vổ cánh bay tiếng kêu oang oác làm ta chợt tỉnh giấc, nên mộng xuân cũng tàn lụi theo luôn.

* DIỄN NÔM:
Ngày Xuân

Nhà tịch mịch núi cao nghe vắng vẻ,
Cửa phên tre nghiêng ngã lạnh lan tràn.
Trời như say thảm cỏ biếc mênh mang,
Hoa đỏ thắm đầu cành sương chưa ráo.
Thân nầy tựa như mây còn luyến núi,
Lòng thì như giếng cạn sóng đà an.
Lửa tắt trà khô thuốc hết đêm tàn,
Chim oang oác giật mình tan giấc mộng!

Lục bát:

Nhà cao vắng vẻ an nhàn,
Cửa tre xiêu vẹo lạnh tràn gió đông.
Trời xanh đồng cỏ mênh mông,
Ngậm sương mấy đóa hoa hồng nở xinh.
Thân như mây nổi linh đinh,
Lòng như giếng cạn không sinh sóng hời.
Đêm tàn lửa tắt trà vơi,
Chim kêu tỉnh giấc một trời xuân mơ!

Đỗ Chiêu Đức.
3. XUÂN DẠ Nguyễn Du: 

Năm 1789, Tây Sơn chiếm Bắc Hà, cụ vừa 24 tuổi. Để tránh nạn binh lửa, cụ đã về ẩn tại quê vợ, huyện Quỳnh Côi (Thái Bình). Bài thơ trên nằm trong Thanh Hiên Tiền Hậu Tập, có lẽ đã được cụ Nguyễn Du làm trong thời gian này, lúc cụ chưa tới 30 tuổi. Qua đấy ta có thể thấy thể chất của cụ không mấy khỏe mạnh do cuộc sống nghèo túng và bản thân cụ cũng hay đau ốm. Chính nơi đây đã chôn vùi quãng đời thanh xuân của cụ. Sống nơi thôn dã, cụ đã gần gũi và hiểu biết rõ ràng đời sống và tâm tình của tầng lớp dân quê nghèo khó. Mãi hơn 10 năm sau, lúc đã 37 tuổi (1802) cụ mới ra làm quan với triều Nguyễn với chức vụ Tri Huyện Phù Dung (Hưng Yên) rồi sau đó thăng Tri phủ Thường Tín (Hà Tây).

春 夜                             Xuân Dạ

黑 夜 韶 光 何 處 尋? Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm?
小 窗 開 處 柳 陰 陰. Tiểu song khai xứ liễu âm âm
江 湖 病 到 經 時 久, Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu
風 雨 春 隨 一 夜 深. Phong vũ xuân tùy nhất dạ thâm
羈 旅 多 年 燈 下 淚, Ký lữ đa niên đăng hạ lệ
家 鄉 千 里 月 中 心. Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm
南 臺 村 外 龍 江 水, Nam Đài thôn ngoại Long Giang thủy
一 片 寒 聲 送 古 今. Nhất phiến hàn thanh tống cổ câm (kim).

阮攸                           Nguyễn Du

* CHÚ THÍCH:
- Thiều Quang 韶光 :là Ánh sáng tốt đẹp của mùa xuân, của tuổi trẻ. Như cụ Nguyễn Du cũng đã viết trong Truyện Kiều :"Thiều Quang chín chục đã ngoài sáu mươi".
- Liễu Âm Âm 柳陰陰 : Liễu nằm im lìm rũ bóng trong đêm.
- Ký Lữ 羈旅: Gởi thân nơi đất khách.
- Nam Đài 南臺: Tên xóm nhà nơi Nguyễn Du ở trọ.
- Long Giang 龍江: Còn gọi là Thanh Long giang, tức Sông Lam.

* NGHĨA BÀI THƠ:

Đêm Xuân

Biết đến nơi đâu để tìm cho được ánh thiều quang rực rỡ trong đêm tối nầy ? Nơi cánh cửa sổ nhỏ mở ra là cành liễu rũ im lìm trong đêm tối. Thân trải giang hồ sông nước nên bịnh cứ dai dẵng mãi cho đến hiện nay. Mưa gió lại theo ngày xuân mà về trong đêm dài dằng dặc nầy. Dưới đèn ta lại rơi lệ vì thân còn phiêu bạc xứ người đã nhiều năm nay. Ngắm trăng mà trong lòng tưởng nhớ đến quê hương ở xa ngoài ngàn dặm. Nhìn dòng nước Long Giang chảy ngoài thôn Nam Đài với dãi nước cuồn cuồn lạnh lùng như cuốn trôi cả dòng đời kim cổ.

* DIỄN NÔM: 
Đêm Xuân

Ánh xuân đêm tối biết đâu tìm,
Mờ mịt ngoài song liễu lặng im.
Bệnh tật song hồ cùng dai dẵng,
Gió mưa xuân sắc vẫn im lìm.
Dưới đèn giọt lệ sầu xa xứ ,
Bóng nguyệt quê nhà xót nhói tim.
Dòng nước Long Giang cuồn cuồn mãi,
Lạnh lùng cuốn sạch cổ cùng kim.

Lục bát:

Tìm đâu đêm tối thiều quang?
Ngoài song liễu rũ mơ màng trong đêm.
Giang hồ dai dẳng bệnh thêm,
Gió mưa não nuột bên thềm xuân sang.
Dưới đèn lệ nhỏ trăng ngàn,
Tấm thân lữ thứ ly tan ai hoài.
Long Giang dòng nước Nam Đài,
Lạnh lùng cuồn cuộn chảy dài cổ kim.

Đỗ Chiêu Đức.
4. XUÂN NHẬT HỮU CẢM - Trần Quang Khải:

春日有感 一.       Xuân Nhật Hữu Cảm 1

雨白肥梅細若絲,    Vũ bạch phì mai tế nhược ty,
閉門兀兀坐書癡。 Bế môn ngột ngột tọa thư si.
二分春色閒蹉過,    Nhị phân xuân sắc nhàn sai quá,
五十衰翁已自知。 Ngũ thập suy ông dĩ tự tri.
故國心還飛鳥倦, Cố quốc tâm hoàn phi điểu quyện,
恩波海濶縱鱗遲。 Ân ba hải khoát túng lân trì.
生平膽氣輪囷在,    Sinh bình đãm khí luân khuân tại,
醉倒東風賦一詩。 Túy đảo đông phong phú nhất thi.

春日有感 二.         Xuân Nhật Hữu Cảm 2

月色微微夜向闌, Nguyệt sắc vi vi dạ hướng lan,
東風特地起春寒。 Đông phong đặc địa khởi xuân hàn.
翻空柳絮黏高閣, Phiên không liễu nhự niêm cao các,
攪夢湘筠撲畫欄。 Giác mộng tương quân phốc hoạ lan.
被物潤從天外雨, Bị vật nhuận tòng thiên ngoại vũ,
驚心紅褪昔時顏。 Kinh tâm hồng thối tích thời nhan,
袪愁賴有三杯酒, Khử sầu lại hữu tam bôi tửu,
撫劍悠悠憶故山。 Phủ kiếm du du ức cố san.
陳光啓                     Trần Quang Khải. 

* NGHĨA 2 BÀI THƠ:
BÀI 1:
Mưa xuân trắng xóa phơi phới như tơ làm tươi tốt mấy cành mai, một thư sinh mọt sách đóng cửa ngồi trơ mà nhìn ra ngoài. Hai phần ba xuân sắc đã trôi qua một cách vô ích, Lão già năm mươi già yếu tự biết sức mình. Tấm lòng đối với cố quốc thì như cánh chim bay đà mõi, Còn ơn Vua thì rộng như biển nên chưa kịp vươn vẫy để cố bơi. Cái đãm khí của bình sinh vẫn còn sừng sửng đó, nên say khước dưới gió xuân vẫn làm nốt một bài thơ !
BÀI 2 :
Bóng trăng mờ ảo nhạt dần vì trời sắp sáng, gió xuân có Ý mang cái lạnh của sáng mùa xuân đến, những cành liễu bay lộn trên không phất vào gác cao, những cành trúc đập vào lan can làm tỉnh giấc mộng xuân. Muôn vật được tưới gội nhờ mưa từ trời đổ xuống, giật mình vì dung nhan ngày cũ đã phai tàn. Đành chỉ mượn ba chung rượu để tiêu sầu, và chỉ còn biết vuốt ve kiếm báu mà nhớ đến sông núi xưa vằng vặc đã qua rồi !

* DIỄN NÔM:
Cảm Xúc Ngày Xuân

Bài 1:
Mai đẹp mưa xuân gội trắng ngần,
Thư sinh trong cửa dạ lần khân.
Hai phần xuân đã qua hơn nửa,
Năm chục già đà tự biết thân.
Cố quốc chút lòng chim cánh mõi,
Ơn Vua tợ biển cá đuôi sần.
Bình sinh đởm lượt còn hun đúc,
Say khướt gió xuân vẫn họa vần!

Bài 2.
Ánh trăng mờ chiếu báo đêm tàn,
Se lạnh hơi xuân gió sớm sang.
Phe phẩy liễu cành vương gác tía,
Phất phơ trúc nhánh vướng lan can.
Tốt tươi vạn vật nhờ mưa móc,
Già cỗi một lòng nhớ sắc nhan.
Đành mượn tiêu sầu ba chén rượu,
Vuốt thanh kiếm báu nhớ giang san !

Đỗ Chiêu Đức 
5. SƠ XUÂN Nguyễn Tử Thành:

初春                         Sơ Xuân

臘梅開盡雪飄零, Lạp mai khai tận, tuyết phiêu linh,
老大情懷節勿驚。 Lão đại tình hoài tiết vật kinh. 
傍水人家楊柳嫩, Bàng thủy nhân gia dương liễu nộn,
寒天客院半陰晴。 Hàn thiên khách viện bán âm tình . 
遊蜂摘蜜穿花去, Du phong trích mật xuyên hoa khứ, 
野蝶偷香帶粉經。 Dã diệp thâu hương đới phấn khinh. 
檢點名園供勝賞, Kiểm điểm danh viên cung thắng thưởng, 
春花一樣百般生。 Xuân hoa nhất dạng bách ban sinh.

阮子成                     Nguyễn Tử Thành 

* NGHĨA BÀI THƠ: 
Đầu Xuân

Tháng chạp hoa mai đã nở hết trong khi tuyết vẫn còn bay lả tả,
Tâm tình của người già biết tiết chế, nên không lấy làm lạ.
Nhà ai đó bên mé nước với hàng dương liễu xanh non.
Phòng khách trong mùa lạnh nên nửa nắng nửa râm.
Ong đi lấy mật nên bay xuyên qua cả chòm hoa.
Bướm ngoài đồng trộm hương nhẹ nhàng mang theo cả phấn hoa.
Điểm qua hết các vườn hoa nổi tiếng để mà thưởng ngoạn, thì thấy...
Cũng chỉ là trăm vẻ hoa xuân cùng đẹp như nhau mà thôi !

* DIỄN NÔM:
Đầu Xuân

Tuyết rơi mai nở báo xuân sang,
Già cả nhìn quen chẳng ngỡ ngàng.
Bến nước nhà ai xanh liễu mới,
Trời đông phòng khách nắng râm vàng.
Ong vui hái mật đùa bay lượn,
Bướm hút nhuỵ hoa vội tách ngang.
Điểm hết xưa nay bao thắng cảnh,
Hoa xuân trăm vẻ đẹp mơ màng. 

Đỗ Chiêu Đức 
6. HỮU SỞ CẢM Phạm Đình Hổ:

有所感             Hữu Sở Cảm

長安小兒女, Trường An tiểu nhi nữ; 
纖手綰丫鬟。 Tiêm thủ quán a hoàn. 
深閨不知苦, Thâm khuê bất tri khổ; 
猶掃落花看。 Do tảo lạc hoa khan. 

長安小兒女, Trường An tiểu nhi nữ; 
眉黛月雙彎。 Mi đại nguyệt song loan. 
為愛梅花潔, Vị ái mai hoa khiết; 
臨風不覺寒。 Lâm phong bất giác hàn. 

長安小兒女, Trường An tiểu nhi nữ; 
花前獨倚欄。 Hoa tiền độc ỷ lan. 
只怕檀郎聽, Chỉ phạ đàn lang thính; 
橫琴笑不彈。 Hoành cầm tiếu bất đàn.

范廷虎             Phạm Đình Hổ

* CHÚ THÍCH:
- Trường An 長安: Còn đọc là Tràng An. Vốn là từ chỉ kinh đô cuả thời Tây Hán. Sau dùng chung để chỉ kinh thành, nơi vua ở. Trong bài thơ nầy chỉ kinh đô Thăng Long của ta ngày xưa.
- Tiêm Thủ 纖手: Chỉ đôi cánh tay nhỏ nhắn dịu dàng của các cô gái.
- Quán A Hoàn 綰丫鬟 : Búi hai búi tóc hình trái đào ở trên đầu. Đây là kiểu búi tóc của các cô bé mới lớn. Ngày xưa các tiểu thơ hay có các cô bé theo hầu búi tóc như thế, nên từ A HOÀN 丫鬟 (còn đọc là NHA HOÀN) dùng thét rồi trở thành danh từ chung để gọi các cô hầu của nhà quyền qúy.
- Mi Đại 眉黛: Đôi mày đen đẹp.
- Nguyệt Song Loan 月雙彎 : là Cong như hai vành trăng.
- Ỷ Lan 倚欄: Đứng tựa vào lan can.
- Đàn Lang 檀郎 : Từ dùng để gọi bóng dáng người yêu của các bà các cô xưa.

* NGHĨA BÀI THƠ:

Cô con gái nho nhỏ ở Trường An.
Đôi tay nhỏ xinh xinh bện hai bím tóc đen.
Ở trong khuê phòng thầm kín chẳng biết sầu khổ là gì.
Cô còn đang quét hoa rụng xem chơi.

Cô con gái nho nhỏ ở Trường An,
Đôi mày tô điểm cong cong như hai vành trăng cánh cung.
Vì yêu thích sự trong sạch của hoa mai, nên... 
Cô ra gió ngắm hoa mà không cảm thấy lạnh.

Cô con gái nho nhỏ ở Trường An,
Một mình đứng tựa lan can trước khóm hoa.
chỉnh e người yêu nghe thấy, nên...
Cô đặt ngang đàn cầm, cười mà không gảy.

* DIỄN NÔM:

Có Niềm Cảm Xúc

Trường An cô thiếu nữ,
Tay ngọc búi tóc cao.
Phòng khuê nào biết khổ,
Quét hoa dạ chẳng nao !

Trường An cô thiếu nữ,
Mày trăng mới cong sao !
Thương mai hoa tinh khiết,
Gió bấc chẳng lạnh nào !

Trường An cô thiếu nữ,
Ngắm hoa tựa lan can.
Vì sợ chàng nghe thấy,
Cười e ấp không đàn ! 

Lục bát:

Trường An cô bé xinh xinh,
Tay ngà búi tóc cho mình thêm tươi.
Buồng khuê chỉ biết vui cười,
Quét tàn hoa rụng làm vui xuân về !

Trường An cô bé xinh ghê,
Đôi mi cong tựa trăng thề trên cao.
Yêu mai tinh khiết biết bao,
Mặc cho gió lạnh lao xao chẳng màng.

Trường An cô bé mơ màng,
Trước hoa ngồi tựa lan can e dè.
Chỉnh e đâu đó chàng nghe,
Đặt ngang cầm phím, cười e, không đàn !

Xuân Canh Tý 2020
Đỗ Chiêu Đức

Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2019

Xuân Đán 春 旦 - Chu Văn An



春 旦

寂 寞 山 家 鎮 日 閒
竹 扉 斜 擁 護 輕 寒
碧 迷 草 色 天 如 醉
紅 濕 花 梢 露 未 乾
身 與 孤 雲 長 戀 岫
心 同 古 井 不 生 瀾
柏 薰 半 冷 茶 煙 歇
溪 鳥 一 聲 春 夢 殘
朱 文 安

Xuân Đán

Tịch mịch sơn gia trấn nhật nhàn
Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn
Bích mê thảo sắc thiên như túy
Hồng thấp hoa tiêu lộ vị can
Thân dữ cô vân trường luyến tụ
Tâm đồng cổ tỉnh bất sinh lan
Bá huân bán lãnh trà yên yết
Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn

Chu Văn An (*)

Bản dịch:

Sáng Sớm Mùa Xuân


Căn nhà trên núi thật yên nhàn
Phên trúc che nghiêng, gió lạnh khan
Cỏ biếc trời mơ say đắm đuối
Hoa hồng sương đẫm mộng miên man
Mây như thân phận, hằng vương vấn
Giếng tựa tâm hồn, vốn lặng an
Bếp củi thông tàn, trà đã nguội
Chim kêu đầu suối, mộng xuân tàn.


Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia

(*) Chu Văn An (1292-1370)
Tên thật là Chu An, hiệu là Tiều Ẩn, biệt hiệu là Linh Triệt. Quê quán ở Văn Thôn, làng Quang Liệt, huyện Thanh Đàn. Nay là Thanh Trì, Hà nội. Đậu Tiến sĩ (tức Thái Học sĩ) đời vua Trần Minh Tông (1314-1340). Ông là vị Quan Văn tài giỏi, tiết tháo, nổi tiếng liêm khiết, đức độ, sung chức Tư nghiệp Quốc Tử Gíám (Thày dậy học cho Thái Tử), được phong tước Văn Trinh Công. Nên đời sau thường gọi ông là Chu Văn An. Đến đời Trần Dụ Tông (1341-1368), Ông dâng Sớ lên vua xin trảm quyết 7 tham quan nịnh thần trong triều (gọi là “Thất trảm Sớ”), vua không thuận ý, nên ông cáo lão, từ quan, lui về quê, dạy học và bốc thuốc cứu nhân độ thế, ẩn dật cuối cuộc đời. 

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2018

Nguyệt Tịch Bộ Tiên Du Sơn Tùng Kính 月夕步仙 遊山松徑 - Chu Văn An


月夕步仙 Nguyệt Tịch Bộ
遊山松徑 Tiên Du Sơn Tùng Kính


緩緩步松堤, Hoãn hoãn bộ tùng đê
孤村淡靄迷。 Cô thôn đạm ái mê
潮回江笛迥, Triều hồi giang địch quýnh
天闊樹雲低。 Thiên khoát thụ vân đê
宿鳥翻清露, Túc điểu phiên thanh lộ
寒魚躍碧溪。 Hàn ngư dược bích khê.
吹笙何處去, Xuy sinh hà xứ khứ,
寂寞故山西。 Tịch mịch cố sơn tê (tây)

朱文安             Chu Văn An
***
Dich Nghĩa:
Ðêm trăng dạo bước dưới rặng thông ở núi Tiên Du 

Lững thững dạo chơi trên đê tùng
Làn mây nhạt che khuất làng hẻo lánh
Triều xuống tiếng địch trên sông nghe xa vắng
Trời rộng, mây là là ngọn cây
Chim về tổ bay qua sương mát
Cá gặp lạnh nhảy dưới khe trong
Người thổi sáo đi đâu vắng?
Để núi tây cũ thêm quạnh hiu.
Ðêm Trăng Trên Núi Tiên Du

(1)


Trên đê tùng, dạo chơi thong thả
Làn khói mờ che cả cô thôn
Triều hồi, địch vẳng bến sông
Trời quang mây lượn ngàn thông la đà
Chim xao động sương ngà đêm mát
Nước lạnh tanh cá quạt khe trong
Tiếng sênh im bặt mênh mông
Núi xưa hiu quạnh hư không một màu

(2)
Lửng thửng trên bờ thông
Sương khói mờ cô thôn
Triều lui tiếng sáo vẳng
Trời tạnh rừng mây lồng
Sương rung chim lũ lượt
Cá lạnh quẫy khe trong
Sênh ai vừa bặt tiếng
Non cũ quạnh trời không

Mailoc

***
Dịch Nghĩa:
Ðêm trăng dạo bước dưới rặng thông ở núi Tiên Du

Lửng thửng dạo bước trên bờ đê dưới bóng tùng. Mây khói mơ hồ như che khuất làng quê hẻo lánh. Nước thủy triều lên trong tiếng sáo xa xa trên sông vắng. Trời cao rộng, nên mây như là là thấp xuống gần ngọn ngọn cây hơn.Chim về tổ bay trong làn sương mát nhẹ. Cá gặp lạnh nhảy dưới khe nước trong biêng biếc. Đâu rồi tiếng tiêu sáo văng vẳng trên sông. Để núi tây cũ thêm quạnh hiu, vắng lặng !

Diễn Nôm:
Ðêm trăng dạo bước dưới rặng thông ở núi Tiên Du


Chầm chậm dưới bóng tùng,
Xóm nhỏ sương mông lung.
Nước về vang tiếng sáo,
Trời cao cây mây chùn.
Chim chiều bay về tổ,
Cá lạnh vượt khe rừng.
Tiêu thiều đà vắng ngắt,
Núi tây lại lạnh lùng.

Lục Bát:

Thẩn thơ đi dưới bóng tùng,
Làng quê sương khói mông lung mơ màng.
Nước về tiếng sáo vẳng sang,
Trên cao mây thấp cây ngang lưng trời.
Chim bay về tổ sương rơi,
Lạnh căm khe nước quẩy đuôi cá về.
Tiêu thiều lặng ngắt tư bề,
Quạnh hiu làng cũ tái tê núi đồi!

Đỗ Chiêu Đức
***
Đêm trăng dạo bước núi Tiên Du

Trên đê tùng,dạo chơi đi lững thững
Làn mây che khuất nẻo cảnh cô thôn
Triều nước xuống,tiếng sáo vẳng bên sông
Trăng trong sáng,mây la đà ngọn bách
Chim về tổ bay qua làn sương mát
Nước khe sâu,cá lạnh nhảy lung tung
Tiếng sáo im,người thổi sếnh đã ngưng
Phía tây núi,cảnh xưa càng hiu quạnh

Songquang


***
Đêm Trăng Dạo Bước Dưới Rặng Tùng Ở Núi Tiên Du

Dưới tùng, lững thững dạo bờ đê
Ẩn khuất thôn làng mây khói che
Sông vắng, triều dâng, tiêu vẳng giọng
Trời cao, mây thấp, lá vươn khoe
Chim bay về tổ sau sương tỏa
Cá nhảy trong khe trốn lạnh về
Tiếng sáo lịm dần trên sóng nước
Non tây lặng lẽ cảnh sầu tê.

Phương Hà

Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2018

Linh Sơn Tạp Hứng 靈山雜興 - Chu Văn An



靈山雜興                Linh Sơn Tạp Hứng

萬疊青山簇畫屏, Vạn điệp thanh sơn thốc họa bình,
斜陽淡抹半溪明。 Tà dương đạm mạt bán khê minh
翠蘿徑裏無人到, Thúy la kính lý vô nhân đáo,
山鵲啼煙時一聲。 Sơn thước đề yên thời nhất thinh.
朱文安                     Chu Văn An

Dịch nghĩa

Muốn lớp núi xanh tụ lại như bức bình phong vẽ,
Bóng chiều nhạt dọi tới sáng nửa lòng khe.
Trong lối cỏ biếc, không người đến,
Thỉnh thoảng một tiếng chim thước kêu trong khói mù.

Dịch Thơ

Vịnh Cảnh Núi Chí Linh

(1)
Núi chập chùng tựa tranh xanh ngát
Nửa khe sâu nắng nhạt chiều tà.
Lối mòn vắng lặng người qua,
Kêu sương tiếng thước vọng xa từng hồi.

(2)
Trùng trùng núi biếc đẹp như tranh,
Nhàn nhạt nửa lòng suối nắng hanh.
Cỏ biếc đường quanh người vắng ngắt,
Từng hồi thước quát xé trời thanh.

Mailoc

***
Các Bài Dịch Khác:

* Chú Thích:
- Linh Sơn 靈山: Tức núi Chí Linh, là một ngọn núi thuộc huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa, cao và hiểm yếu bậc nhất ở thượng du sông Chu (nay thuộc xã Giao An, giữa Lang Chánh và Thường Xuân).
- Điệp 疊: là Chất chồng lên nhau, nên Vạn Điệp là Chất chồng cả muôn cả vạn lên với n
- Thốc 簇 : là Lượng từ, chỉ(một) Cuộn, Bó, Bức, Tấm...
- Đạm Mạt 淡抹 : là Thoa một lớp mỏng, trong bài thơ chỉ Ánh nắng chiều chiếu nhàn nhạt.
- Thúy La 翠蘿 : là những dây leo màu xanh biếc.
- Sơn Thước 山鵲 : là những con qụa núi.

* Nghĩa bài thơ:

Chợt Hứng ở núi Chí Linh

Cả muôn cả vạn ngọn núi xanh chồng chất lên nhau, trông như một bức bình phong tranh vẽ. Ánh nắng chiều nhàn nhạt chiếu làm cho dòng khe tranh tối tranh sáng. Trên con đường cỏ phủ đầy dây leo xanh biếc vì không người đi tới, thỉnh thoảng một vài tiếng qụa núi kêu vang trong sương khói mơ hồ.
Quả là một bức tranh núi non hùng vĩ thâm u, nơi đã từng là căn cứ địa của nghĩa quân Bình Định Vương Lê Lợi trong công cuộc kháng chiến chống quân Minh.

* Diễn Nôm:

Núi non trùng điệp tựa như tranh,
Nắng chiếu chập chờn khe nước xanh.
Cỏ biếc dây leo đường núi vắng,
Đâu đây tiếng qụa khói mờ quanh.

Lục bát

Điệp trùng núi biếc tựa tranh,
Nắng chiều mờ tỏ khe xanh chập chờn.
Dây leo đường núi trống trơn,
Một vài tiếng qụa khói sương mơ hồ.


Đỗ Chiêu Đức
***
Linh Sơn Tạp Hứng

1/Núi non trùng điêp vẽ nên tranh
Sâu lắng tà dương nửa suối xanh
Cỏ biếc lối đi người chẳng đến
Khói mù một tiếng quạ kêu nhanh


2/Linh Sơn Tạp Hứng

Trùng điệp núi xanh như bức vẽ
Nắng chiều rơi lặng nửa lòng khe
Lối đi cỏ biếc vắng hoe
Khói mù tiếng quạ cũng nghe vọng về

Mai Xuân Thanh
Ngày 13/08/2018
***
Vịnh cảnh núi Chí Linh

Núi xanh trùng điệp như tranh họa sỉ
Nửa lòng khe mây hé buổi chiều tà
Lối cỏ mòn chẳng thấy bóng người qua
Tiếng chim thước vọng xa mù sương khói

songquang
***
Ngẫu Hứng Ở Núi Chí Linh

Núi xanh trùng điệp tựa bình phong
Ánh nắng chiều phai, nước sẫm dòng
Cỏ phủ tràn lan đường vắng lặng
Quạ kêu đứt quãng khuấy mù không.

Phương Hà


Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2018

Thanh Lương Giang 清涼江 - Chu Văn An


Thanh Lương Giang


Sơn yêu nhất mạt tịch dương hoành,
Lưỡng lưỡng ngư chu bạn ngạn hành.
Độc lập Thanh Lương giang thượng vọng,
Hàn phong táp táp nộn triều sinh.

Dịch nghĩa:


Một vệt bóng chiều vắt ngang sườn núi,
Dọc theo bờ sông, thuyền câu đi từng đôi một.
Đứng một mình trên sông Thanh Lương ngắm cảnh,
Gió lạnh vi vút, nước triều dâng lên.

Dịch Thơ:
Sông Thanh Lương

Nắng chiều một vệt vắt lưng đồi,
Thuyền cá xuôi bờ cứ cặp đôi
Lặng ngắm Thanh Lương hồn lảng đảng,
Lao xao gió lạnh nước lên rồi.

Mailoc
***
清涼江  Thanh Lương Giang


山腰一抹夕陽橫, Sơn yêu nhất mạt tịch dương hoành,
兩兩漁舟畔岸行。 Lưỡng lưỡng ngư chu bạn ngạn hành.
獨立清涼江上望, Độc lập Thanh Lương Giang thượng vọng,
寒風颯颯嫩潮生。 Hàn phong táp táp nộn triều sinh.

朱文安                     Chu Văn An

* Chú Thích:
- Sơn Yêu 山腰 : là Cái eo của núi, là Sườn núi.
- Nhất Mạt Tịch Dương 一抹夕陽 : là Một vệt nắng chiều.
- Bạn Ngạn 畔岸 : là vựa sát theo bờ sông.
- Táp táp 颯颯 : là Phần phật, là Vi vút, là Vù vù...
- Nộn Triều Sinh 嫩潮生 : Nước Thủy triều bắt đầu lên.

* Nghĩa Bài Thơ:
Dòng Sông Thanh Lương 

Một vệt nắng chiều vắt ngang qua sườn núi. Trên sông từng đôi từng hàng thuyền câu đang dọc theo bờ sông mà về bến. Ta đứng một mình trên dòng sông Thanh Lương mà nhìn ngắm. Gió lạnh thổi vi vút từng cơn trong khi con nước thủy triều đang bắt đầu dâng cao.

* Diễn Nôm:

Một vệt nắng chiều núi vắt ngang,
Thuyền câu về bến xếp song hàng.
Một mình đứng ngắm Thanh Lương chảy,
Vi vút gió về nước lại sang.

Lục Bát:

Nắng chiều sườn núi vắt ngang,
Song đôi về bến hai hàng thuyền câu.
Thanh Lương đứng ngắm hồi lâu,
Vụt vù gió lạnh lên mau thủy triều!

Đỗ Chiêu Đức
***
Sông Thanh Lương

Vệt nắng chiều vắt ngang trên sườn núi
Dọc dòng sông thuyền cá cặp từng đôi
Bờ Thanh Lương ngắm cảnh một mình thôi
Gió vi vút,nước triều dâng thấy lạnh

songquang
***
Sông Thanh Lương

Sườn núi chiều in vệt vắt ngang
Thuyền câu từng cặp sóng đôi sang
Một mình ngắm cảnh Thanh Lương ấy
Gió lạnh vi vu sóng nước tràn

Phương Hà

Thứ Tư, 15 tháng 8, 2018

Xuân Đán 春旦 - Chu Văn An




春旦                          Xuân Đán

寂寞山家鎮日閒, Tịch mịch sơn gia trấn nhựt nhàn,
竹扉斜擁護輕寒。 Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn.
碧迷草色天如醉, Bích mê thảo sắc thiên như túy
紅濕花梢露未乾。 Hồngthấp hoa tiêu lộ vị can.
身與孤雲長戀岫, Thân dữ cô vân trừơng luyến tụ
心同古井不生瀾。 Tâm đồng cổ tỉnh bất sanh lan.
柏薰半冷茶煙歇, Bá huân bán lãnh trà yên yết,
溪鳥一聲春夢殘。 Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn.
朱文安                     Chu Văn An
***
Dịch Nghĩa:
Sớm Xuân

Nhà trên núi vắng vẻ, suốt ngày thảnh thơi,
Cửa phên nghiêng chắn hơi lạnh nhẹ .
Màu biếc mây trời làm đắm say
Hoa hồng ngậm sương chưa tan
Thân như mây cô đơn lưu luyến núi
Lòng như giếng cổ không gợn sóng
Khói thông tan, trà hết khói
Một tiếng chim bên suối làm tan giấc mộng xuân

Dịch Thơ:Sớm Mai Đầu Xuân

Ngày nhàn hạ trên non lều vắng
Cửa trúc phên nghiêng chắn gió hàn
Trời trong cỏ biếc ngút ngàn
Hồng dầm sương sớm chưa tan lệ tràn
Thân tựa mây núi ngàn lưu luyến
Sóng lòng như cổ giếng lặng căm
Hương phai trà nguội khói tan
Chim kêu trong suối mộng tàn giấc Xuân 


Mailoc
***
Dịch Nghĩa:
Suốt ngày nhàn hạ rảnh rổi với ngôi nhà quạnh quẽ vắng lặng ở trên núi nầy. Chiếc cửa tre xiêu vẹo ôm ấp lấy căn nhà che chắn bớt cái cơn lạnh nhè nhẹ đang lan tỏa. Nhìn xuống xa xa bãi cỏ non xanh biếc, bầu trời cũng xanh biếc như ngất ngây say. Những đóa hoa hồng lên trên cành rực rỡ với các giọt sương còn lóng lánh chưa khô. Tấm thân ta như đám mây đơn lẻ kia cứ mãi quyến luyến không nở rời đỉnh núi, và lòng ta thì đã khô cằn như chiếc giếng xưa kia đã không còn dậy sóng nữa. Những nhánh tùng bách cháy tàn nửa vời lạnh lẽo, trà thuốc cũng đã cạn rồi. Những con chim bên khe vổ cánh bay tiếng kêu oang oác làm chợt tỉnh giấc, mộng xuân cũng tàn lụi theo luôn.

Diễn Nôm:

Nhà tịch mịch núi cao nghe vắng vẻ,
Cửa phên tre nghiêng ngã lạnh lan tràn.
Trời như say thảm cỏ biếc mênh mang,
Hoa đỏ thắm đầu cành sương chưa ráo.
Thân nầy tựa như mây còn luyến núi,
Lòng thì như giếng cạn sóng đà an.
Lửa tắt trà khô thuốc hết đêm tàn,
Chim oang oác giật mình tan giấc mộng!

Lục bát:

Nhà cao vắng vẻ an nhàn,
Cửa tre xiêu vẹo lạnh tràn gió đông.
Trời xanh đồng cỏ mênh mông,
Ngậm sương mấy đóa hoa hồng nở xinh.
Thân như mây nổi linh đinh,
Lòng như giếng cạn không sinh sóng hời.
Đêm tàn lửa tắt trà vơi,
Chim kêu tỉnh giấc một trời xuân mơ!

Đỗ Chiêu Đức
***
Sớm Xuân

Núi cao nhà vắng thanh nhàn
Phên thưa gió lạnh lan tràn giá đông
Trời pha sắc cỏ xanh đồng
Sớm mai long lánh hoa hồng điểm sương
Thân đây mây luyến núi vương
Lòng như giếng cạn sóng dường lắng tan
Trà vơi lửa tắt canh tàn
Chim kêu tỉnh mộng ngỡ ngàng giấc xuân

Kim Oanh
***
Xuân Sớm

Vắng vẻ căn nhà núi hưởng nhàn
Phên tre xiêu vẹo lạnh tràn lan
Mênh mông bãi cỏ xanh biêng biếc
Bát ngát sương hoa đỏ chứa chan
Đỉnh núi mây ngàn trời quyến luyến
Lòng nương giếng cạn đất bình an
Trắng đêm lửa tắt trà vơi hết
Chim chóc hồn xuân giấc mộng tàn

Mai Xuân Thanh
Ngày 11/08/2018
***

Sáng Xuân

Nhà bên núi dìu hiu,lòng thanh thản
Hơi lạnh lan,phên cửa chắn len vào
Màu da trời biêng biếc,cỏ xanh xao
Sương mai sớm chưa tan,hồng ngậm giọt
Thân khách tựa mây đơn lưu luyến núi
Cơn sóng lòng như giếng cổ nằm phơi
Trà thuốc cạn,lửa thong khói tan rồi
Bên suối vắng,tiếng chim tàn Xuân mộng

Song Quang
***
Sáng Đầu Xuân

Núi cao, nhà vắng, sống an nhàn
Phên nứa vẹo xiêu tránh lạnh sang
Ngây ngất trời say màu cỏ biếc
Long lanh hoa ửng giọt sương lan
Thân như mây lẻ ôm non thẳm
Lòng tựa giếng cằn cạn sóng loang
Lửa rụi, khói tan, trà nguội lạnh
Chim kêu thảng thốt mộng phai tàn.

Phương Hà