tiêu đề Nhãn
- BIÊN KHẢO
- CÂU ĐỐI
- CỔ THI
- GIA CHÁNH
- GIẢI TRÍ
- HÌNH ẢNH HỘI NGỘ
- HÌNH ẢNH NAY
- HÌNH ẢNH XƯA
- HỘI HỌA
- KHOA HỌC
- LƯU NIỆM
- LỊCH SỬ
- LỜI HAY Ý ĐẸP
- NHẠC
- SƯU TẦM
- SỨC KHOẺ
- THƠ
- THƠ CẢM TÁC
- THƠ DIỄN NGÂM
- THƠ DỊCH
- THƠ NHẠC
- THƠ PHỔ NHẠC
- THƠ SƯU TẦM
- THƠ TRANH
- THƠ TRANH NGHỆ SĨ
- TIN BUỒN
- TIN VUI
- VĂN
- VŨ HỐI THƯ HỌA
- VƯỜN THƠ VIÊN NGOẠI
- XƯỚNG HỌA
- YOUTUBE
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Đức Tuấn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Đức Tuấn. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015
Hận Chiến Trường
Tặng Kim Oanh
Áo tím ai mang hồn thu thảo,
Nhẹ rắc đời ai chút diễm tình.
Lạnh lắm những chiều trên ốc đảo,
Hoa vàng xóa dấu nẻo thư sinh.
Ai gọi hồn ai, ai nhớ ai,
Xuân nồng, ai nỡ để xuân phai?
Hoa vàng mỏng mảnh như tơ đó,
Dây tím trèo lan gác phượng đài.
Ai bước về khoe chân tiểu thư,
Giẫm hồn ta nát mộng Tương Như.
Khúc đàn diễm tuyệt, đàn Tư Mã,
Hoàng hỡi, còn thương khúc Phượng cầu ?
Mộng mị đâu tràn lan gối chăn,
Lan tràn trên áo Trác Văn Quân.
Bên thềm chuốc chén mời Tô Nữ,
Ánh Nguyệt nàng ơi, mộng dễ cầm ?
Thoang thoảng mơ hồ vương chút hương,
Bụi hồng điểm má khách tha phương.
Phấn hồng điểm má nàng thương nữ,
Vong quốc còn ôm hận chiến trường.
Montreal, March 1999
(PSSC Houston, xuân 2000)
Nguyễn Đức Tuấn
Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2015
Những Chuyện Về Ma
Vào thế kỷ này mà nói MA chắc không ai tin, nhưng ngẫm lại mà xem, thường thì trên thế gian bao giờ cũng có 2 cái đối nghịch nhau, có rộng thì có hẹp, có dài thì có ngắn, có xa thì có gần, có cao thì có thấp, có hữu hình thì tất phải có cái vô hình. Hữu hình là cái thấy được, sờ được, nắn được, còn cái vô hình thì không thể thấy, không thể nắn, không thể sờ, do đó người ta không tin. Niềm tin có thể có được ở cái vô hình là niềm tin tôn giáo. Mặc dù không thấy Phật, không thấy Chúa, không thấy Đức Mẹ, nhưng người ta vẫn tin, tin một cách điên cuồng đến mức có thề oánh nhau, choảng nhau, giết nhau như xưa Âu châu đã có cuộc Thánh chiến, vác thập tự giá mà đi đánh nhau và mới đầu năm nay tại Paris có cuộc bắn giết hàng chục người phi lý tại tòa soạn tờ Charlie Hebdo đường Nicolas-Appert.
Thực tế, ma là một hiện tượng có thật, có người nói rằng phải có ''duyên'' thì mới nhìn thấy ''nó'' được chứ không phải bất kỳ ai muốn thấy thì thấy. ''Duyên'' là gì ? Một từ ngữ nghe trừu tượng quá, nhưng có thể hiểu một cách khoa học rằng mọi sự vật đều có phát ra những làn sóng vô hình ở những dải tần suất (frequencies band) khác nhau, nếu ta ''bắt'' được nó thì ta sẽ nhìn thấy nó, tương tự như khi ta bắt sóng truyền hình ở dải tần vài trăm Mega-hertz, băng VHF hay UHF.
Tôi sẽ kể ra đây một số chuyện và các chuyện này hoặc do người khác kể lại hoặc do chính mắt tôi nhìn thấy.
1.- CHUYỆN MA TRONG VƯỜN NHÀ NGOẠI TÔI, QUẬN GÒ VẤP
Nhà ngoại tôi và cũng là nhà mẹ tôi thời còn bé nằm ở gần cuối đường Lê Quang Định, Gò Vấp, vào thời đó còn là một vùng khá hoang vu, ngay trước mặt nhà ngoại tôi, trừ các khóm nhà có người ở, đi vào sâu là rừng tre, tre gai rậm rạp, chạy dài lên đến tận Thủ Đức, Biên Hòa. Khung cảnh âm u đó khìến người ta sợ ma, những bóng dáng vô hình nhưng có thể hiện ra, giơ tay, lè lưỡi nhát những người yếu bóng vía.
Thời đó con người cũng hơi ác, đã sợ ma lại còn hay nhát ma. Ông ngoại tôi kể rằng chính ông khi còn trẻ cũng theo chúng bạn đi nhát ma đàn bà con gái đi đêm. Cách nhát thường nhất là leo núp trên cây, khi có đàn bà con gái đi qua thì rung cây ào ào và khè khè như ma quái hoặc dùng lon có đục hình mặt người, trong bỏ than hồng quạt đỏ, dòng dây thả xuống, kéo lên...
Tại hông quận lỵ Gò Vấp ngày xưa có một con đường nhỏ đâm sâu vào khu nghĩa địa đất Thánh Tây, vào ban đêm thì tối om, không có đèn đuốc gì cả. Trên đường này có một cây điệp tây thuộc hàng cổ thụ, phía dưới bị bộng do côn trùng đục khoét nên tạo thành lổ hổng to, người có thể chun vào đó nấp được. Một tối, ông tôi cũng chơi trò nhát ma theo kiểu ''ma rờ đầu'', nghĩa là khi có ai đi qua thì thò tay ra mà xát xát lên đầu người đó cho họ sợ chơi.
Không may, hôm ấy người bị chiếu cố lại là ông cố tôi, một người có võ nghệ và tánh tình rất hung dữ. Hôm ấy, ông đi ăn đám giỗ nhà ai đó về ngang, trong bóng tối, ông tôi đâu biết là ai, thấy mặc áo dài khăn đống thì nghĩ là đàn bà, bèn giơ tay ra sờ gáy...
Vô phúc, người ''đàn bà'' ấy lại có xách ba-toong, bị rờ thì biết ngay là tụi con trai chứ không ai khác. Chả nói chả rằng, ông cố tôi giơ ba-toong lên và chọc ngay vào lổ bộng mấy cái, hét: ''Ma nào ở trong đó ló đầu ra coi !''
Nghe tiếng ông già, ông tôi hoảng hồn nhảy ra và lạy lấy lạy để. Nhưng ông cố tôi đâu có tha ? Điệu về nhà, ông bắt trói ngoài sân suốt đêm cho muỗi cắn để từ đó tởn, hết dám nghịch đùa.
Nhiều năm sau, ông tôi có vợ và có con, lúc ấy má tôi còn nhỏ lắm. Một đêm, đang ngồi chơi trước thềm, ông tôi bỗng khều bà tôi, nói nhỏ ''Nó đó..'' Bà tôi không hiểu ''nó'' là ai, nhưng nhìn theo tay chỉ của ông tôi thì thấy ở sân nhà bên cạnh có một thiếu phụ đội nón lá, tay xách giỏ như mới đi chợ về. Bà tôi thắc mắc hỏi: ''Con Hai không biết đi đâu mà về khuya vậy héng ?''
''Con Hai'' mà bà tôi nói là con gái lớn của bà cô tôi ở kế bên, nhưng ''nó'' không đi vào nhà mà lại lừng lững đi về phía nhà ngoại tôi và ung dung băng xuyên hàng rào ắc ó khá dầy, không gây một tiếng động rồi tiến lại phía bồn hoa, dạo quanh một vòng. Bà tôi hãi quá, ngó trân trân, biết đó là ma chứ không phải người. Bóng đó sau khi dạo quanh thì đi thẳng về phía bụi tre bên hông nhà và biến mất.
Câu chuyện mà tôi vừa kể được ngoại tôi kể đi kể lại đến mấy lần nên tôi nhớ lâu lắm, chuyện ấy khiến thời còn bé tôi đâm ra sợ ma vào ban đêm, không dám đi ra sau nhà tiểu một mình, dù cho có cầm đèn dầu hay đèn pin đi nữa cũng phải có bà tôi đi theo, tình trạng ấy kéo dài cho đến năm 1959 thì tôi hết sợ, không những thế còn tò mò, muốn biết hình thể con ma ra sao và tôi mong cho ma hiện.
2.- MA Ở CƯ XÁ THANH ĐA, PHƯỜNG 27 QUẬN BÌNH THẠNH
Năm ấy là 1979, tôi đang cặp bồ với một cô bạn đồng nghiệp tên Minh Hằng, nhà ở Lô VI, cư xá Thanh Đa và tối nào cũng vậy, chúng tôi hẹn hò nhau bên bờ sông cư xá.
Hôm ấy, tôi ngồi đợi Hằng bên khóm dương trồng ở đầu Lô IV khá lâu, trời hơi có trăng nhưng trăng có quầng nên không sáng lắm. Khi nàng từ nhà đi ra, tôi dẫn xe đạp và bách bộ cùng nàng về phía Lô I, định sẽ cùng nhau đi vòng qua phía bờ sông bên kia, ngồi ngắm về phía cầu xa lộ và Sài Gòn.
Tuy nhiên, đi được vài bước, tôi để ý thấy trước mặt mình không xa có một thiếu nữ mặc đồ bộ trắng, tóc dài, đang đi cùng một hướng. Chẳng nhìn được mặt, tôi không biết là ai nhưng cái làm tôi để ý nhứt là nàng ta hình như đi hỗng trên không, vì nơi này lúc ấy có rất nhiều lá buông do tổ đan mây tre lá ban ngày bỏ vương bừa bãi, nếu chân chạm đất thì sẽ gây ra những tiếng lào xào, loạt soạt.
Bỗng tôi dừng lại, níu tay Hằng, hỏi: ''Nãy giờ em có để ý thấy gì không ?''
Hằng: ''Thấy gì ?''
Tôi trỏ về phía trước, bảo: ''Đàng trước mình có một cô gái mặc áo trắng đang đi và cô ta vừa rẽ ra phía bờ sông, nơi có cái chòi lá...''
Hằng: ''Vậy hả ? Mình đi lại đó xem sao...''
Tôi bảo: ''Không sợ thì đi thử coi...''
Chúng tôi đi nhanh hơn và tiến ngay về phía cái chòi lá, không biết người ta cất lên để làm gì, nhưng khi đến đó thì chúng tôi thấy nó hoàn toàn hoang vắng, bên trong đầy những cọng lá buông và không đèn, không một bóng ai. Tôi bảo: ''Đúng là ma hiện rồi chứ không phải người ta đâu em !''
Hằng bảo: ''Nhưng tại sao anh thấy mà em không thấy ?''
Tôi cười, bảo: ''Vì em không cùng tần số với nó, cô giáo dạy vật lý hiểu chưa ?''
3.- MA PHÁ NGƯỜI Ở CƯ XÁ THANH ĐA
Tôi và Minh Hằng thành hôn với nhau vào đúng ngày sinh nhật thứ 30 của tôi, sau ngày cưới khoảng 10 ngày, chị cả của vợ tôi, chủ nhân căn 1.25 Lô VI, kêu chúng tôi lại, bảo: ''Chị sắp vượt biên rồi, hai em ráng chạy lo việc ghi tên vào hộ khẩu để giữ căn nhà, vì mất nó thì uổng lắm, chị đã trả hết ba phần tư.''
Nhờ mẹ vợ tôi lúc đó hoạt động mạnh trong tổ phụ nữ phường 27 và tình hình lúc ấy cũng rối nhăng, chúng tôi vào hộ khẩu nhà không khó lắm.
Tự nhiên có được một căn nhà thuộc loại lớn của cư xá, chúng tôi rất mừng, vì nhà này ngày trước Tổng cục gia cư chỉ bán cho công chức hạng A và sĩ quan trong quân đội từ cấp tá trở lên. Bố vợ tôi thời ấy là giám đốc hỏa xa nên mua được 3 căn 0.25, 1.25 và 4.25, căn 1.25 thì nhượng lại cho bà chị cả tốt nghiệp kỹ sư hóa ở Canada về và lại lấy chồng là bác sĩ quân y, căn lầu 4 thì để cho 3 cô con gái ở, tức Tống Kim Linh, Tống Ngọc Nga và Tống Minh Hằng, bà xã tôi. Sau khi ổn định mọi thứ, ông bán căn lầu 4 và căn lầu 1 thì có vợ chồng chị Kim Linh, vợ chồng tôi và cậu Tống văn Ân (em vợ) cùng nhau chia sẻ.
Đời sống êm ả trôi qua, mọi sự bình yên, không có gì đáng nói. Chị Linh có lớp dạy cắt may ở Tân Định, ban ngày làm việc ở đó, tối lại về ngủ, khi thì với chồng, khi thì với cô đệ tử ruột, vợ tôi thì ban ngày đi dạy ở trường trong cư xá, tôi dạy ở quận Nhất, cuối buổi cũng trở về, ăn rồi ngủ, riêng cậu em vợ thì làm nghề chụp hình, ăn cơm bên dưới nhà với ông bà già vợ nhưng tối lại lên lầu, qua đêm trên một chiếc giường nhà binh nơi phòng khách.
Thế rồi đến một ngày kia, cuộc sống yên lành bắt đầu bị quấy động và tác nhân của sự quấy động không phải là người.
Một đêm nọ vào khoảng 2 giờ sáng, tôi đang ngủ ngon thì vợ tôi vực tôi dậy, hỏi: ''Bộ trời nực lắm sao mà cởi hết quần ra ?'' Tôi càu nhàu: ''Bà này lạ, ai cởi hồi nào đâu ?'' Vợ tôi: ''Không cởi thì tại sao cái quần lại nằm dưới đất ?'' Tôi nhìn lại thì đúng thật, nó không còn dính trên người tôi. Biết là bị oan nhưng tôi không làm sao biện bạch được. Vài ngày sau, chuyện hôm trước lại xảy ra thêm 2 lần nữa, tôi bảo Hằng: ''Em còn nhớ vụ gặp một người con gái áo trắng đi rồi biến mất bên bờ sông Lô I không ? Anh nghi là nhà này có ma, bây giờ nó hiện ra và giở trò phá phách.''
Hằng yên lặng, bán tín bán nghi. Thế rồi một hôm, khoảng gần 1 giờ sáng, tôi buồn đái nên mở cửa bước ra toilette nằm kế bên. Tuy nhiên, thấy bên trong đèn sáng, biết là đang có người, tôi trở vào và ngồi đợi. Năm phút, rồi mười phút, thấy lâu quá mà không nghe tiếng mở cửa, tôi bước ra. Bị động, vợ tôi cũng thức dậy theo. Nàng cũng bước ra và gõ cộc cộc vào cửa buồng tắm. Không có tiếng trả lời, nàng bước vào. Tôi nằm xuống bên cạnh, nói nhỏ: ''Không biết người nào anh Hoành, chị Linh hay con Minh ? Dù gì, nghe gõ thì cũng phải lên tiếng chứ !''
Tôi vừa nói dứt thì nghe vọng ra tiếng xối nước và tiếng kéo rê dưới sàn của một cái thau. Vợ tôi sốt ruột, chạy ra, lên tiếng: ''Ai đang ở trong đó cho biết giùm ?''
Im lặng, không một tiếng trả lời.
Vợ tôi nắm ngay tay nắm cửa và đẩy mạnh vào (cửa mở bên trong). Bên trong đèn sáng nhưng không có một ai!
Tôi bảo: ''Thế này thì đã rõ chưa ? Anh đã bảo là ma mà!''
Và tôi lớn tiếng: ''Ma nào đến viếng đó, xin hiện ra giùm xem?''
Im lặng, nhưng sự to tiếng của tôi làm tất cả người trong nhà giật mình, thức dậy. Vợ tôi kể lại tỉ mỉ mọi điều. Vợ chồng chị Kim Linh và cô học trò thì có vẻ tin nhưng thằng em vợ tôi thì cười khẩy: ''Làm gì có chuyện ma ở thế kỷ này ?'' Nói xong thì đi ngủ tiếp, chỉ có bọn chúng tôi còn ngồi bàn tán ở ghế salon.
Sáng hôm sau, chuyện ban đêm lại được đem ra kể ở nhà ông bà mẹ vợ tôi bên dưới, lúc đó là quán bán cà phê nên có nhiều khách tham gia nghe và bàn tán. Một bà lớn tuổi nói: ''Chuyên ma là có đó, cư xá này xưa là bãi bắn của tụi Pháp, bắt được Việt Minh là chúng đem ra xử bắn ở đây, cả mấy trăm người, nhiều lắm...'' Thằng em vợ tôi vẫn cười khẩy, tỏ vẻ không tin.
Không lâu, chỉ hai hôm sau thôi, người bị ma lột trần truồng không phải là tôi mà là thằng em vợ đó. Nó tức lắm, tối ngủ, nó mặc quần jean, thắt dây nịt thật chặt để xem ma sẽ giở trò gì. Buổi sáng, khi chúng tôi thức dậy, nó lắc đầu bảo: ''Thôi, tối nay em không dám ngủ trên này nữa đâu.'' Tôi hỏi: ''Biết sợ ma phá rồi à ?'' Và nó kể lại cho chúng tôi tất cả mọi chuyện, trỏ tay vào sợi dây nịt đang máng tòn teng nơi đầu giường sắt: ''Nó quá tài, lột ra mà em không hay chút nào, thể như là mình bị thổi bùa mê.''
Sau vụ đó, một anh tên Hoàng, võ sĩ Vovinam đai đen ngụ cùng Lô cho biết anh cũng bị ma phá kiểu đó, đến nỗi anh phải mua đồ, thắp nhang cúng để nó để cho yên, và một anh khác tên Hòa, tu sĩ phái thiền tông, còn cho biết rõ hơn: đó là một con ma nữ tóc dài, chuyên mặc đồ trắng, hay lởn vởn ở khu này, có lẽ trước kia đã chết oan nghiệt hay sao đó, không đầu thai được nên hiện về phá khuấy trần gian, hễ mua đồ cúng vái thì nó để yên, càng không tin, nó càng phá tợn.
Và tôi chấm dứt câu chuyện đây, mặc dù cũng còn nhiều chuyện khác về ma ở cư xá Thanh Đa, chuyện có thật và có đăng trên báo Công An xuất bản ở Sài Gòn.
Montréal, đêm 17 tháng 6 năm 2015
Nguyễn Đức Tuấn
Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015
Xin Cô Tha Lỗi
Trong quãng đời đi học, cô cậu học trò nào cũng có ít nhất một lần làm lỗi và đôi khi có những lỗi khiến người đó ân hận suốt đời. Tôi sẽ kể cho các bạn nghe một chuyện làm lỗi của tôi thời tiểu học.
Năm ấy là 1958, tôi vừa học xong lớp tư ở chi nhánh 2 trường tiểu học Gò Vấp thì được chuyển sang chi nhánh 1 ở ngay bên hông tòa hành chánh quận, lớp 3F, do cô Phạm Kim Ngọc làm giáo viên hướng dẫn.
Lớp 3F, do cô Phạm Kim Ngọc làm giáo viên hướng dẫn 1958-1959.
Cô Ngọc, một giáo viên trẻ, người miền Bắc, có vóc dáng thanh thanh và mái tóc chải tém trông rất dễ thương, vừa nhìn thấy cô là tôi có cảm tình lền.
Năm học ấy của tôi là một năm học rất thành công, tôi đạt điểm tối đa cả về học và hạnh, đứng đầu lớp, do đó rất được cô cưng, đàng khác năm 1959 cha tôi lại bị bệnh mất, việc đó lại càng làm tăng tình ưu ái cô dành cho tôi.
Hè năm ấy, cô cùng 3 cô giáo lớp khác tổ chức một cuộc du ngoạn ở Vũng Tàu và Phước Hải, mỗi học sinh muốn tham dự phải đóng lệ phí 40 đồng nhưng tôi thì cô miễn, vì là học trò giỏi và con mồ côi.
Đoàn xe đò 2 chiếc khởi hành từ trường chánh phía trên đầu chợ lúc gần 8 giờ và đưa chúng tôi ra xa lộ Biên hòa, nhắm Vũng Tàu trực chỉ. Vui lắm, vì đó là lần đầu tiên đi chơi xa của tôi, tôi sắp sửa thấy núi, thấy biển và sẽ được tắm biển, leo núi, làm một chuyến "phiêu lưu" nho nhỏ...
Xe tới Bà Rịa lúc 10 giờ và chỉ chừng nửa giờ sau là đã vào thành phố Vũng Tàu, một nơi thật là mới lạ đối với tôi.
Xe tấp vào Bãi Trước và Bãi Sau cho chúng tôi xuống tham quan, đồng thời xuống biển tắm táp rồi lên bờ để ăn trưa, nghỉ ngơi một tiếng để bù lại mấy tiếng ngồi mệt mỏi trên xe. Tuy nhiên, chúng tôi nào có ngủ nghỉ gì được, vì trời nắng nóng quá, ăn xong là chúng tôi lại chạy ào ra bãi biển để... bới cát bắt sò. Bắt sò, vâng, vào thời ấy bãi biển Vũng Tàu nhiều sò lắm, dân địa phương dùng một dụng cụ đơn giản là ống lăn có cánh để bới cát lên, hầu như bới tới đâu, sò hiện ra tới đó. Chúng tôi không có dụng cụ ấy nên bới bằng tay, vậy mà cũng được rất nhiều, có bạn bắt được cả sò huyết to bằng nắm tay.
Vào lúc 1 giờ trưa thì trời bỗng kéo mây vần vũ, các cô giáo ơi ới gọi học sinh trở lên xe vì mưa sắp tới. ào... ào... ào..., mưa từ ngoài biển đổ vào thấy rõ, nó chạy rất nhanh, mới thấy còn ở xa thì nước đã đổ lên đầu, cả bọn con trai, con gái chạy như ma đuổi nhưng quần áo cũng ướt hết trơn, hơi đất bốc lên mù mịt, khét lẹt.
Mưa rơi nặng hạt một lúc lâu thì bắt đầu dịu lại nhưng không ngừng, nó tiếp tục rơi cho đến 3 giờ rưỡi chiều khi đoàn xe chúng tôi qua tới Phước Hải, địa điểm cắm trại, một biệt thự bỏ hoang, nghe nói là vì có ma.
Bao nhiêu năm qua rồi nhưng tôi còn nhớ như in cái hàng rào xây bằng gạch quét vôi trắng có vài chỗ đã sụp đổ, len vào giữa đó là những lá dứa gai có lẽ là cây mọc hoang, bởi căn nhà hoàn toàn không ai ở, trong khoảng sân rộng, cỏ dại mọc đầy, ngọn thấp ngọn cao, ba hướng đạo sinh trong đó có anh cô là huynh trưởng nhảy xuống, dùng rìu phát quang những bụi rậm để có chỗ cho chúng tôi vào sinh hoạt, ăn uống và cắm trại đêm.
Bấy giờ, người chỉ huy chúng tôi không còn là các cô giáo mà là các anh hướng đạo, các anh bảo chúng tôi đem hành lý cất hết vào trong căn nhà cho gọn rồi ra sân sinh hoạt, lối sinh hoạt truyền thống của hướng đạo sinh.
Sau màn sinh hoạt, các anh phân công: con trai thì xách thùng đi xách nước, con gái thì chuẩn bị lo nấu ăn. Lũ con trai chúng tôi hí hởn, vì chỗ lấy nước khá xa, chúng tôi tha hồ lang thang đùa giỡn, miễn sao có nước mang về. Tôi đi chỉ đúng có hai chuyến thì mỏi dừ cả cánh tay, đành nhường cho mấy anh khỏe mạnh (thời ấy tôi là một trong hai đứa nhỏ con nhứt lớp, trong lớp tôi có mấy người đã gần đủ tuổi để lấy vợ). Không đi xách nước, tôi đi lang thang hết ngoài bãi biển lại đến trong căn nhà, để xem... ma nấp ở đâu.
Phải nói là thời đó tuy tôi bé loắt choắt nhưng rất bạo gan, nghe nói nhà có ma, tôi đi hết phòng nọ lại phòng kia, xong còn chui cả xuống tầng hầm tối đen như mực.
Cũng ghê rợn đó, vì nó lạnh lẽo âm u và trên vách có đủ thứ hình ma quái do các đoàn người đi trước để lại, nhiều nhất là hình xương người bắt tréo, ở giữa có cái đầu lâu. Như trong một truyện đăng năm nào trên Phù sa sông Cửu tôi có nói, chui xuống đó một hồi, tôi trở lên với một vỏ dừa khô và khoe với các bạn rằng mình đã gặp được ma và đây là "chiến lợi phẩm": cái đầu lâu gõ nghe cóc cóc...
Trời sụp tối nhanh vì vừa qua một trận mưa, trong sân, các anh hướng đạo đã căng bạt, dựng lều, làm chỗ cho đám nữ sinh ngủ, riêng bọn nam sinh thì phải ngủ trong căn nhà ma (ngủ trên lầu, vì trên lầu tương đối sạch sẽ hơn bên dưới).
Có tiếng bát đũa gõ leng keng và tiếng hát của vài ba anh "Giờ cơm tới rồi, giờ cơm tới rồi...", tiếng Bắc kỳ của một cô giáo "Các em ra xơi cơm đi nào", sau tôi mới biết đó là tiếng của cô Nhiệm, bạn thân của cô giáo tôi và là chị của cô Hà, cô sẽ dạy tôi năm kế tiếp.
Tôi còn đang xớ rớ xa xa thì thấy cô Ngọc từ trong đám đông đi lại. Âu yếm như một người chị đối với đứa em, cô dắt tôi ra chỗ để nước và bảo tôi rửa tay, xong, cô tự tay bới cho tôi một bát và đưa cho tôi đôi đũa.
- Cơm nếp đấy, đã có rắc muối vừng, nếu thấy chưa đủ thì vào lấy nhé.
Tôi bưng chén cơm và đi tìm một chỗ để ngồi ăn. Tuy nhiên, chỉ ăn chừng ba đũa là tôi thấy nhạt nhẽo làm sao, bởi món rau ghém với cơm này là bắp chuối bào và rau muống bào, những thứ đi với muối mè thì không hợp, tôi nghe xam xảm trong miệng, chẳng ra hương vị gì.
Phải nói thật lòng, tôi không phải là đứa kén ăn, song một vị như thế thì tôi không thể nào nuốt nổi. Giá mớ nếp này nấu thành xôi thì dễ ăn hơn. Biết làm sao bây giờ?
Tôi đứng dậy, giả vờ vừa đi vừa ăn, tiến dần ra phía sau nhà, nơi ấy giáp ranh với bìa rừng, có nhiều bụi rậm. đi tới đi lui, thấy không có ai nhìn, tôi chọn một bụi cây kín đáo và trút cả vào trong đó.
Nhẹ nhõm, tôi bước trở ra, miệng giả vờ còn nhai nhóp nhép. Tôi cầm chiếc chén đã vơi đi về phía thau nước để bỏ vào trong đó cho bọn con gái rửa. Trông thấy tôi, cô Ngọc hỏi: "Em ăn đã no chưa ?" Tôi đáp: "Thưa cô, đã no rồi ạ."
Lần đầu tiên trong đời, tôi nói dối! để lấp đầy khoảng trống trong bụng, tôi đi tìm nước uống rồi đi lang thang ra bãi biển, nơi sóng đánh ầm ầm. Trên bãi biển chiều hôm, tôi bắt được mấy con dã tràng nho nhỏ, nghĩ bụng giá có lửa, nướng nó ăn, tiện đó, nướng luôn mớ sò bắt được hồi trưa, ăn cho đỡ đói, nhưng chỉ nghĩ thế thôi chứ nào làm được gì.
Tôi không bao giờ nghĩ được đêm đó tôi đói như thế nào, bởi vì sau một ngày đi đường xa, trong người nghe mệt lã, buổi trưa trên xe, tôi lôi cả 3 ổ bánh mì mà mẹ tôi đã xắt lát và nướng cho tôi ăn lúc đi đường, đem chia hết cho các bạn.
Tội nghiệp cô giáo tôi lắm, lúc khoảng 9 giờ, cô dẫn tôi lên lầu, lấy chổi quét sạch một khoảng sàn phía balcon và trải bạt ra đó, đưa cho tôi một cái mền mỏng của chính cô, bảo tôi ngủ ở đó, xong còn dặn anh trưởng lớp nằm chặn phía ngoài kẻo tôi ngủ mê rồi lăn té xuống lầu.
Sự ân cần chăm sóc của cô quá vô ích, bởi vì đêm đó tôi không ngủ được, thứ nhất là vì lạ giường lạ chiếu, thứ hai là vì nhớ nhà và thứ ba là vì đói, cái đói bắt đầu hành hạ vào lúc khoảng ba giờ khuya, khi tôi nghe từ bên dưới bay lên một mùi thơm của chè, các cô giáo thức đêm cùng đám nữ sinh chơi lửa trại.
Vũng Tàu Bãi Trước
Tất nhiên với tư cách một đứa học trò cưng, tôi có quyền chạy xuống xin cô cho một, hai chén, nhưng làm như vậy tôi sẽ để lòi ra tội nói dối buổi chiều. Cái tự ái của tôi lớn lắm, thà chết chứ chẳng thèm xin! đến khoảng 4 giờ rưỡi sáng thì tiếng nói chuyện ồn ào bên dưới nhỏ dần, tôi biết là lửa đã tàn và mọi người đã đi ngủ. Gần về sáng, tiết trời mỗi lúc một lạnh vì sương xuống và gió từ ngoài biển thổi vào, tôi nằm khoanh mình như con tôm, nghe cái tái tê thấm sâu vào từng sớ thịt. Tôi nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ em. Chưa bao giờ tôi xa gia đình như vậy, từ trong rừng sâu núi thẳm, tiếng khỉ khè khè khẹt khẹt, tiếng vượn hú suốt đêm, còn ở ngoài xa kia, sóng vẫn triền miên tấp ầm ầm vào các gộp đá.
Khi ở đàng đông hơi rực lên ánh sáng, tôi bắt đầu ngủ được, nhưng nhắm mắt chỉ được chừng hai mươi phút thì bên dưới có tiếng còi, anh huynh trưởng đánh thức mọi người dậy để tập thể dục buổi sáng.
Tôi lồm cồm bò dậy, xếp lại chiếc mền và đem xuống, trả lại cho cô. Cô hỏi tôi ngủ được không, tôi gật gật đầu, nhưng thấy vẻ dã dượi của tôi, chắc chắn là cô biết tôi nói dối.
Trong khi bọn học sinh chúng tôi ra sân tập các động tác hít thở, các cô giáo thi nhau làm thức ăn sáng. Khẩu phần của chúng tôi là mỗi người một ly sữa và một cái bánh bao, bánh bao mua từ trưa hôm qua ngoài chợ Vũng Tàu và sữa là do Mỹ viện trợ. Khẩu phần này thật không đủ để nhét kẽ răng tôi!
Cái tệ hại là ngày hôm ấy đoàn tôi sẽ đi chơi núi, thăm viếng một ngôi chùa. Chúng tôi lên đường lúc 9 giờ 30, có người mang theo thuốc và bông băng cấp cứu.
Tùng, dân Sa đéc, bạn thân của tôi năm ấy, đi cạnh tôi, bạn có lẽ rất ngạc nhiên vì sao tôi bỗng dưng ít nói, khác với mọi khi. Tuy nhiên, chuyện này tôi giữ một mình, không cho ai biết hết...
Trên đường đi lên núi, các bạn tôi hái được một số quả gì đó ăn rất ngon, tôi cũng được chia cho vài quả, tôi hái được một chùm nhưng quả quá chua, đành liệng bỏ, vì ăn vào chỉ tổ bào xót ruột gan.
Đường lên núi cũng gian nan lắm, vì chúng tôi phải vạch cành lá mà đi, trèo qua những gộp đá, có lúc phải đu dây rừng như thể Tarzan. Tuy nhiên, đến lưng chừng núi thì tôi quá mệt và đuối sức, lúc trèo lên một gộp đá, tôi bị hụt chân và té ào xuống, không tài nào thắng lại. Tôi lăn giống như một con vụ, đập mình vào đá và rễ cây, đó đây bật máu, áo tôi bị rách một mảng. Khi không còn lăn nữa, tôi nằm bất tỉnh, ai nấy đều hết hồn.
Mọi người chạy lại đỡ tôi lên, một anh hướng đạo sinh đè tôi và làm hô hấp nhân tạo, lát sau tôi tỉnh thì thấy cô Ngọc ngồi bên, nét mặt âu lo, một cô giáo đang bôi thuốc sát trùng và băng bó cho tôi, mặt tôi có dán một miếng băng keo hình chữ thập. Cô Ngọc ngồi sát bên tôi cùng vài bạn khác, cô lấy dầu măng bôi lên những chỗ bầm nhưng không chảy máu, sau đó bảo Tùng và Khuê (phó lớp) dìu tôi đi.
Rất gian nan, đến 11 giờ 30 tôi mới leo lên đến đỉnh núi trong khi những người khác đã đến lâu rồi và tản ra đi tham quan Phật tự.
Tôi chọn một tảng đá bằng và ngồi phịch xuống, Tùng cũng ngồi xuống cạnh tôi. Tôi bảo "Tùng ơi, đi chơi với họ đi, để tui ngồi lại đây một mình cũng được" nhưng Tùng không chịu, nhất định ngồi lại bên tôi. Nơi đây có lẽ tôi phải nói thêm: Tùng là người đã bênh vực tôi khi tôi bị bạn bè ăn hiếp hay nói rõ ra là hăm dọa đón đường, lý do: tôi được cô giao ghi tên những người nghịch và nói chuyện trong lớp. Từ chiều hôm ấy, Tùng luôn đi về chung đường với tôi và chúng tôi dần trở thành đôi bạn thân, sóng bước bên nhau trên đường đi và về học mỗi ngày. Tùng thương tôi đến mức muốn về sau tôi sẽ lấy Mai, em gái của Tùng, để biến tôi thành thằng em rể. Năm đó, chúng tôi mới học lớp nhì thôi!
. . . . . . . . .
Thời gian đằng đẵng trôi qua, tôi dần xa ghế nhà trường để lên trung học rồi đại học. Trong thời gian đó, thỉnh thoảng mẹ con tôi vẫn đến thăm cô tôi. Nhà tôi thì có vườn cây, quanh năm lúc nào cũng có vài ba thứ trái. Mỗi lần đi thăm cô, tôi đều hái một giỏ trái cây để làm quà, có khi nguyên một trái mít chín, và một lần nọ, tôi đẵn tặng cô một nhánh mai thật to.
Khi cả hai mẹ con cùng đi thăm, trong khi người lớn nói chuyện với nhau, tôi đi ra một góc chơi với đứa em trai của cô tên là Huấn, một cậu bé rất dễ thương, hơi nhỏ tuổi hơn tôi.
Từ năm lên đại học, tôi quên cô giáo của mình, không còn tới viếng thăm nữa. Nói phải tội, nguyên do chỉ vì có bồ, mê cô bồ hơn mê cô giáo !
Xa Lộ Biên Hòa 28/4/1961
Ba mươi mốt năm sau kể từ ngày học với cô, tôi trở thành một anh thầy giáo và kết hôn với một cô giáo. Năm ấy là 1990, vợ chồng tôi có giấy tờ xuất cảnh, chỉ còn chờ ngày lên máy bay. Một hôm, trên đường đi từ Sài gòn về nhà, khi đi ngang ngã tư xa lộ, đột nhiên tôi nhớ lại cô giáo năm xưa và hè năm ấy cô cho tôi đi chơi Vũng Tàu hoàn toàn miễn phí, chiếc xe đã chạy qua ngã tư này, con đường còn xấu lắm... (xa lộ Biên hòa chỉ tốt từ thập niên 60).
Tôi về nhà và kể chuyện ngày xưa cho vợ tôi nghe, bảo rằng muốn dẫn vợ tôi đi tìm cô để thăm, nhân đó nói lời xin lỗi về câu nói dối. Vợ tôi hài lòng.
Vào một buổi trưa, sau khi sắp xếp công chuyện ở nhà, tôi chở vợ tôi đi tìm nơi con hẻm cũ. Sau bao nhiêu năm trời, tiệm phở Tiến Lợi (*) nơi đầu hẻm vẫn còn, nhưng khi đi vào thì tôi nghệch mặt vì khung cảnh quá đổi thay, không còn nhìn ra nhà nào là nhà cô nữa.
Hai vợ chồng hỏi thăm nhiều người trong xóm nhưng họ đều trả lời rằng không ai biết cô Ngọc là ai. Chúng tôi không nản chí, đi tới đi lui rất nhiều lần, gặp ai cũng hỏi.
Thế rồi trong lúc sắp tuyệt vọng, tôi chợt nhìn thấy một bà cụ mái tóc bạc phơ đang ngồi chải tóc. Một linh cảm thoáng vụt trong lòng, tôi dừng xe lại và nhìn kỹ. Theo dáng vẻ thì rõ đây là người miền Bắc, một chi tiết đáng lưu ý. Vì hơi chói nắng, tôi không nhìn rõ những đồ vật trong nhà, nhưng nhìn một hồi, tôi thấy lờ mờ dạng một chiếc tủ gụ đen, đóng theo lối miền Bắc, đặt ngay sau cánh cửa sổ. Tôi bảo vợ tôi "Chắc là nhà này, anh thấy có cái tủ đó có vẻ quen quen... để xem còn cái gì quen nữa không..."
Tôi vụt hô lên: "Có, cái ghế xích đu nằm sau giàn trầu bà, bao nhiêu năm rồi vẫn y như ngày xưa !"
Ngay lúc ấy, từ trong nhà một người đàn ông trung niên đẩy một chiếc xe gắn máy đi ra. Tôi nhớ ngay đến Huấn, nhưng Huấn bây giờ sao trông lạ quá...
Không ngại ngùng gì cả, tôi gọi ngay:
- Ới này anh ấy ơi, cho tôi hỏi thăm chút xíu.
Người đàn ông chậm chạp bước ra.
- Vâng, ông muốn hỏi gì ạ ?
- Thưa, anh có phải là Huấn, em của cô giáo Ngọc không?
- Vâng, tôi là Huấn, nhưng ông là ai mà biết chị tôi?
Tôi sung sướng quá, bảo rằng:
- Không nhận ra học trò cũ của cô Ngọc à? Ngày xưa tôi và mẹ tôi hay ra đây thăm cô nhưng bây giờ thì đi với vợ tôi.
- Ồ, bao nhiêu năm rồi, làm sao nhớ nổi, nhưng nói vậy thì liền nhớ ra. Mời anh chị vào nhà chơi, chị Ngọc tôi đã có chồng, không còn ở đây nữa.
- Không sao cả, vấn đề là tôi muốn hỏi địa chỉ của cô Ngọc để đến thăm. Bà cụ kia có phải là mẹ anh không, bây giờ trông cụ già quá.
Vợ chồng tôi vào nhà và lễ phép chào bà cụ. Không như tôi tưởng, bà cụ nhận ra tôi ngay.
- Hơn ba mươi năm rồi đó bác, cháu không nhận ra Huấn mà Huấn cũng không nhận ra cháu, còn bác nhận ra, quả là tài. Cháu tìm nhà nãy giờ đã có hơn một tiếng, hết vòng tới lại vòng lui, cháu nhớ ngày xưa từ đầu hẻm vào đây là 11 căn mà bây giờ con số lại khác, nhưng nhà bác vẫn còn một số món cũ. Này, chiếc ghế xích đu sơn xanh, cái tủ chén bằng gụ, chỉ khác là hồi đó nó nằm ở góc này, bây giờ nằm sang góc khác.
- Thì với thời gian nó phải thay đổi chứ sao. Huấn nó đã có vợ và có hai con, cái Ngọc cũng thế, vợ chồng nó bây giờ ở đường Trương Minh Giảng buôn bán đồ gỗ, nó đã nghỉ dạy lâu rồi.
- Cháu vẫn nhớ cô và thương cô như thời còn đi học. Hôm nay vợ chồng cháu ghé đây là để thăm cô vì sắp tới vợ chồng cháu không còn sống ở đất này. Có thể nào bác cho cháu xin địa chỉ ?
- Tôi không nhớ số, để bảo Huấn nó lấy bì thư ra xem, lâu lâu Ngọc nó lại biên thư về nhà vì bận việc bán buôn nên nó ít khi về lắm.
Hôm ấy, chúng tôi ngồi chơi cũng khá lâu, bẵng đi bao nhiêu năm, biết bao là chuyện.
Tuy nhiên, điều ân hận của tôi là cuối cùng lại không đi thăm cô giáo được, bởi tôi muốn cả hai vợ chồng cùng đi, để tôi xin lỗi cô tôi trước mặt vợ tôi, song trong thời gian sắp ly hương chúng tôi có quá nhiều chuyện để giải quyết, chứ nếu tôi đừng khăng khăng như vậy, cứ một mình đi thăm thì cũng đưọc rồi.
Vì không còn cơ hội nào để chuộc lại lỗi ngày xưa, tôi mãi mãi sẽ ôm thắc mắc này, với một cô giáo hiền lành và dễ thương như cô, sao tôi lại đành lòng đi nói dối? Cái đáng nguyền rủa nhứt là chén cơm cô bới cho tôi, tôi đem đổ hết vào bụi cây, nghĩ về tình thương và sự ân cần săn sóc của cô, tôi thật là mắc cở.
Năm nay thay vì viết những truyện bình thường, tôi viết lại lời tạ tội, dù những lời này không chắc gì thấu đến tai cô.
Phạm Kim Ngọc, cô giáo mà tôi thương nhứt thời còn nhỏ, mong rằng kiếp sau tôi sẽ là học trò nữa, và là học trò của cô.
Montreal, đêm 15/03/2012
Nguyễn Đức Tuấn
(*) Từ Bà Chiểu đi vào, trước khi đụng ngã tư Bình hòa (tức Lê Quang định và Nguyễn văn Học), có một cái hẻm, phở Tiến Lợi nằm ngay đầu hẻm.
Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2015
Tán Gái
Hôm qua vừa bước ra đường,
Thấy cô con gái dễ thương quá chừng.
Tuổi thời đang độ thanh xuân,
Cặp môi đo đỏ, má hồng hây hây
Tóc cô chẳng ngắn chẳng dài,
Thân hình thanh mảnh, trông hoài cũng ưa.
Hỏi cô đi sớm về trưa,
Có ai đi đón đi đưa không này?
Cô cười: "Anh hỏi mới hay,
Ai đưa ai đón chi đây hở trời ?"
Ừ, tôi chỉ hỏi thế thôi,
Nếu chưa ai đón thì tôi đón giùm.
Nhỡ khi giông gió mịt mùng,
Cô về có kẻ đi cùng với cô.
Cô mà về trễ, tôi chờ.
Cô mà về sớm, tôi mơ suốt ngày.
Trên trời có mấy vầng mây,
Tôi đem góp lại để xây mộng vàng.
Xây dọc rồi lại xây ngang,
Xây cho kín hết thiên đàng của tôi.
Bên trên thì có ông trời,
Bên dưới thì có một người tôi thương.
"Anh ơi, tôi hiểu đàn ông,
Nói ra thì lắm miệng mồm khó tin.
Chi bằng anh hãy về nhanh,
Cho tôi thong thả sau anh, tôi về."
Nguyễn Đức Tuấn
Thứ Hai, 18 tháng 5, 2015
Bài Thơ Hè 1960
Tôi có thơ đầu tay năm lên 9 tuổi, thời còn thơ chưa biết luật thơ, nhưng đã cao hứng ra thơ như thế này, Hè 1960,
Đăng báo năm 1961, lúc Oanh mới có 4 tuổi hà... Đã đăng lại trên Đặc San Tống Phước Hiệp, Cali hè 2007 nhưng chưa hề tặng ai, nay tặng Oanh làm kỷ niệm nghen.
Hoa phương rơi như thầm nhắc nhở
Tuổi học trò ghi lại trong đây.
Xa trường, xa bạn, xa thầy,
Buồn gì hơn, buồn gì hơn ?
Tuổi thư sinh tháng ngày mài bút thép,
Còn mãi luyến lưu, mãi giận hờn.
Nếp áo học trò chưa hoen lệ,
Con tim non chưa vướng nặng niềm đau.
Buồn thì chỉ để mai sau,
Nhìn màu phượng thắm, ngỡ màu tâm tư.
Nguyễn Đức Tuấn
Đăng báo năm 1961, lúc Oanh mới có 4 tuổi hà... Đã đăng lại trên Đặc San Tống Phước Hiệp, Cali hè 2007 nhưng chưa hề tặng ai, nay tặng Oanh làm kỷ niệm nghen.
Hoa phương rơi như thầm nhắc nhở
Tuổi học trò ghi lại trong đây.
Xa trường, xa bạn, xa thầy,
Buồn gì hơn, buồn gì hơn ?
Tuổi thư sinh tháng ngày mài bút thép,
Còn mãi luyến lưu, mãi giận hờn.
Nếp áo học trò chưa hoen lệ,
Con tim non chưa vướng nặng niềm đau.
Buồn thì chỉ để mai sau,
Nhìn màu phượng thắm, ngỡ màu tâm tư.
Nguyễn Đức Tuấn
Thứ Tư, 13 tháng 5, 2015
Nắng Chiều 1
Thoang tháng lạnh, chiều dâng dâng nỗi nhớ,
Lá xanh buồn, ngơ ngẩn giọt thu sang.
Lá đợi mùa thu, lá đợi gió thu vàng,
Lá đợi mấy mùa thu đây hỡi gió ?
Tôi tìm lại hình dung em thuở nọ,
Một yêu kiều, một vóc dáng phong sương.
Đôi mắt liêu trai hờ hững mấy thiên đường,
Khung cửa khép bao lần rung nhịp tóc.
Tóc nâu đen, tóc xanh dài khô khốc,
Gió chiều bay gợi nắng nhớ hoàng hôn.
Bên kia sông chiều gọi gió ru hồn,
Thăm thẳm nắng, sông chiều xanh biển mắt.
Tôi nhớ thương em những chiều hoa giấu mặt,
Trút xuân thì lãng đãng nắng thu đưa.
Tím vội hoàng hôn, nhung nhớ nói sao vừa ?
Xanh thuở đó, vàng mây lên đỉnh khói.
Người con gái một lần yêu thấy tội,
Bước qua cầu để lại trái xuân non.
Chín chưa em, trái nhớ vẫn như còn,
Vương nỗi nhớ, chiều tang thương biển vắng.
Người yêu hỡi, nếu chiều đi lẳng lặng,
Bóng xuân thì còn dấu lệ hoa xưa ?
Cuối đường mây, thơ thẩn gió sang mùa,
Vô tình lắm, chiều đi, thong thả bước...
Montreal 01-07-2004
(PSSC Houston xuân 2005)
Nguyễn Đức Tuấn
Thứ Ba, 14 tháng 4, 2015
Huyễn Mộng Kinh Kha
(Tặng Cao Vị Khanh)
Tôi đến thăm em một chiều thứ bảy,
Chiều cuối tuần, lâu không thấy người qua.
Tôi không giận vì câu em nói lẫy:
"Mấy năm rồi không ngó đến người ta !"
Tôi biết chứ, xa xôi thì nhớ lắm.
Xưa bảo rằng nhất nhật tự tam thu.
Trong mắt biếc tôi chừng nghe lắng đọng
Tiếng thu không, trống gọi những canh thâu.
Tôi lững chững bước mang đời cô lữ,
Đã lâu rồi xa vắng những tình thư.
Xin em chút lòng bao dung tha thứ,
Dẫu hoa tàn còn nhớ tuổi ngây thơ.
Tôi đến thăm em một chiều thứ bảy,
Hoa nở hoa tàn, tôi chẳng biết sao ?
Trong xuân sắc, tôi làm sao không thấy
Một ngày kia rụng rã cánh hoa đào ?
Đã biết yêu hoa thì thương hoa,
Cho tôi gói ghém mộng sơn hà.
Cho tôi gởi lại dòng di chúc
Cho mối tình si em với ta.
Tôi mang máng nhớ người bên Dịch thủy
Đứng bên bờ, sáo trúc nhẹ trên tay.
Miên man thổi, giang sơn lời van vỉ,
Gánh sơn hà sao trĩu nặng trên vai.
Tôi đến thăm em một chiều thứ bảy,
Đã qua mùa nhung nhớ nở đơm hoa.
Tôi nắm chặt tay em, hồn run rẩy,
Miệng Tô Tần sao tỏ mộng Kinh Kha?
Thì thôi nhé, em ơi, tình chỉ vậy,
Trách mà chi cho xâu xé lòng nhau ?
Xin em nhớ xa xôi còn đâu đấy,
Xác tim ai nằm cạnh xác hoa đào.
Montreal, March-1999
(PSSC Houston, xuân 2000)
Nguyễn Đức Tuấn
Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015
Mùa Thơ
(Tặng người thơ Kim Oanh)
Có một mùa nghe hơi gió thở,
Thi nhân ngồi lặng, tâm lao đao.
Có một mùa nghe hoa chớm nở,
Thi nhân ngồi lặng, tâm xôn xao.
Mùa trăng năm trước mắt em tròn.
Trăng lạnh chiều hôm xoa xuýt luôn.
Hoa ở trên cành xua đuổi bướm,
Vàng rơi ngọc rớt buổi chiều hôm.
Có một mùa thơ, mây quyến thơ
Về chung với gió ghẹo trăng mờ.
Trăng nấp sau rèm nghe nhịp thở,
Nào trăng nào gió khuấy lòng mơ.
Có một mùa trăng, sao đón trăng
Về chung đò ngược, gió bâng khuâng.
Mây giũ trần ai hoen dải lụa,
Một khúc ty cầm chắn dải ngân.
Rồi chợt xuân tình nghe lãng đãng,
Lưng lửng nơi hồn ta chơi vơi.
Trút rượu pha tình nơi đáy mắt,
Hò khoan nhặt điệu, phách buồn lơi.
Vận đứt làm thơ nghe nhạt quá,
Thi nhân quay bước ngắm chân mây.
Ở nơi đâu đó hờ vang lại
Một tiếng cười duyên của những ai.
Em quay khung cửi dệt tơ sầu,
Mười sáu trăng tròn ở những đâu.
Ta thấy mơ hồ sau nếp lụa,
Một vầng trăng nấp ghẹo mưa mau.
Thôi trách làm chi những diễm tình,
Ơ hờ cung bậc tuổi thư sinh.
Ta mơ trăng gió, tìm hư ảo,
Em giấu làm chi đóa nguyệt xinh?
Có một mùa nghe hơi gió thở,
Thi nhân buồn lặng ngỡ hơi ai.
Một mùi hương thoảng trong hơi gió,
Ta đoán là em, quyết chẳng sai.
Em ạ, đừng chê những thi nhân,
Vì hoa sung sướng biết bao ngần.
Hoa rung rung cánh làm thơm gió,
Không lối đào nguyên cũng lối xuân.
Montreal, 15-09-2009
Nguyễn Đức Tuấn
Thứ Bảy, 21 tháng 2, 2015
Nụ Cười Xuân
Xuân về, tết đến, thật vui thay!
Cánh cửa nhà ai khép mọi ngày
Mở rộng đón chào hương sắc mới,
Trong vườn, bươm bướm giỡn đùa mai.
Em bé hôm kia áo cũ mèm,
Đôi giày há mõm, miệng tèm lem.
Hôm nay áo mới, vui, vui nhé,
Giày mới, cười tươi, xảnh xẹ nghen!
Mẹ bước về ngang qua xóm cũ,
Bụp bụp đầu thôn vang pháo nổ.
Eo sèo pháo chuột cũng là vui,
Khi đời xuôi ngược, thuyền chưa đổ.
Cây xanh cho lá mãi xanh đời,
Đào sắc hồng cho bướm mãi vui.
Năm tận tháng cùng, nguyên đán tới,
Đầu trang, giấy trắng mỉm môi cười.
Nguyễn Đức Tuấn
Khai bút xuân 2002
(PSSC Houston, xuân 2003)
Thứ Tư, 4 tháng 2, 2015
Cõi Phù Hoa
Đưa nhau qua cuộc đời này,
Dìu nhau lội hết bãi lầy phù hoa.
Em, người con gái kiêu sa,
Giấu sau làn lụa một tòa tuyết trinh.
Ngày xưa nghiêng nước nghiêng thành,
Ngày nay xây một cung đình mà chơi.
Hỏi nàng Bao Tự xa xôi,
Bao nhiêu vải đổi nụ cười giai nhân?
Cho ta đi ại cuộc trần,
Cho người khoác lại một lần áo hoa.
Cho người rỡ mặt kiêu sa,
Cho ta ngắm lại dáng tà lụa bay.
Xuân xưa còn có xuân này,
Dễ gì kiếm lại một ngày xuân xưa!
Montreal, xuân 1998
(Phù sa sông Cửu Houston, xuân 1999)
Nguyễn Đức Tuấn
Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2014
Một Thuở Thơ Ngây
Thông thường, để nói về cái khôn của con người, người ta hay
dùng thành ngữ "đầu có sạn", nhưng để có sạn trong đầu, con người
phải đạt đến một tuổi nào đó chứ nếu có quá sớm, người ta sẽ bảo rằng"khôn
lõi", tức cái khôn, cái lém lỉnh của nhóc tì.
Tôi thuở bé là một thằng nhóc phải nói là thơ ngây đáo để,
thơ ngây đến độ ai nói gì cũng tin. Tôi sẽ kể cho các bạn nghe một vài câu
chuyện thật, cười lộn ruột.
Chẳng là thời đó tôi nhỏ mà ham làm người lớn lắm, thích làm
những việc mà người lớn làm, việc đầu tiên là xách nước. Nhà tôi thời ấy xài
nước giếng, nước lấy ngay từ cái giếng ở trước sân nhà. đó là một cái giếng sâu
khoảng 8 mét, trên miệng có xây thành xi măng cao khoảng 2 gang tay và có mái
che cùng nắp đậy. Vì giếng sâu, muốn lấy nước, người ta phải quay lên, quay
bằng một ống quay đặt ngay trên miệng, vật dùng để múc nước là một chiếc gàu
hay chiếc thùng.
Thấy người lớn làm, tôi ham lắm, nhưng bọn trẻ chúng tôi bị
cấm không cho lại gần giếng, vì sợ bất cẩn sẽ té xuống đó.
Thói đời, cấm tức là gợi cho người ta ý làm trái lại. Một
cách âm thầm, tôi lấy một chiếc lon sữa bò và tẩn mẩn đóng thành dạng chiếc
thùng có thanh ngang bên trên. Xong, tôi đi tìm những đoạn dây nhợ nối lại
thành một sợi dài.
Một buổi trưa nọ, lựa lúc trước nhà không có ai, tôi bò lại
giếng, đẩy nắp qua một bên và dòm xuống. Ôi chao, hay thật, bên dưới sâu có một
lõm nước hình tròn in hình trời xanh và mây trắng, rất yên lặng. Tôi kề miệng
hú một tiếng thì bên dưới có tiếng hú theo. Hay quá..., tôi nhấc chiếc lon lên
và từ từ thả xuống...
Không chạm đến mặt nước. Thì ra tôi chưa ước đoán đúng độ
sâu, bèn vào nhà lấy trộm cuộn nhợ đỏ, cuộn nhợ mà cha tôi vẫn dùng để lấy
đường thẳng khi xây cất. Cuộn nhợ này thì dài hơn chiều sâu, chiếc lon đã chạm
mặt nước mà dây vẫn chưa hết.
Tôi nhấp nhấp cho chiếc lon hụp xuống nước để có thể lấy
nước lên, như vậy được mấy lần, tôi xách nước vừa lấy được đem đi tưới các chậu
cây.
Thích chí, ngày hôm sau tôi tiếp tục, tiếp tục... Thế nhưng
sang ngày thứ ba, khi tôi chồm đầu để ngó xuống thì chợt cảm thấy đôi chân sau
bị ai nhấc bổng lên không. Sợ quá, tôi la lên thì nghe có tiếng ở phía sau:
- Mẹ họ..., thấy người lớn mắc ngủ, đi ra giỡn với bà Thủy
!... (thần giếng).
Người nói là ông ngoại tôi. Ông nắm hai chân tôi nhấc bổng
lên để tôi khỏi bị đập mặt xuống và trong tư thế đó, ông lôi tôi vào nhà, mắng
vốn với mẹ tôi.
- Mầy coi, hở ra là nó đi phá giếng !
Tất nhiên là tôi bị đòn. Sau vụ đó, ông làm ổ khóa, khóa
chặt nắp lại.
Sau vụ đi phá giếng, tôi xin người lớn cho xách giỏ đi chợ.
Phải năn nỉ nhiều lần, bà tôi mới cho, nhưng buổi đầu tập sự, bà chỉ cho tôi
mua một vài món. Một thời gian, thấy đã quen, bà giao tiền cho tôi đi mỗi ngày.
Năm ấy là 1960, tôi đúng mười tuổi và đã học lớp nhì, trường
tôi học là trường Gò Vấp, ở phía trên đầu chợ, nghĩa là có dịp đi ngang qua đó
mỗi ngày, đi riết rồi hóa ra quen.
Hôm ấy là hôm nào tôi không còn nhớ, chỉ nhớ là sau khi mua
được một, hai món ở chợ dưới, tôi đi lên phía chợ trên để mua trầu, cau cho bà
tôi, vì mặc dù chợ dưới cũng có bán nhưng mối quen của bà là ở trên ấy.
Khi tôi đi tới thì thấy hàng bà này nghỉ bán, bèn quay ngược
trở ra và xáp vào hàng bán bài ca vọng cổ, vì thời đó tôi mê hát lắm... ngồi
xem để lựa được một lúc, tôi vừa đứng dậy thì thấy có một bà già tác độ năm
mươi tiến đến, xởi lởi chào:
-Ồ, bà cháu đâu rồi mà cháu đi có một mình ?
- Dạ, bà cháu ở nhà, giao cho cháu đi chợ.
Tôi trả lời, mặc dù không biết bà ta là ai, quen biết như
thế nào với bà tôi, vì nghe cách nói, thấy bà có vẻ như thân mật.
- Nè, bà cháu dặn mua những gì ?
Tôi móc từ túi ra một mẩu giấy:
- Cháu không nhớ hết, có cái liste do má cháu viết nằm đây.
- Giỏi quá há, con trai mà biết đi chợ ! Nè, bà bán mía ở
phía đầu kia, lại đây bà chỉ cho xem...
Nói xong, chẳng cần tôi ưng thuận hay không, bà nắm tay tôi
kéo đi. đống mía mà bà nói có vẻ mới từ trên xe đổ xuống, chưa được sắp lại
đàng hoàng.
Bà bán ở đây nhưng còn chờ thằng con trai ra phụ. Bác có
việc cần xuống chợ dưới mà chẳng có ai trông, hay là cháu ngồi xuống đây trông
giùm bác, đưa tiền với cái giỏ đây, bác theo danh sách mà mua đồ giùm cho.
Miệng nói, tay nắm liền chiếc giỏ, không chờ tôi phản ứng,
bà nhanh nhẹn như một con sóc, có lẽ do thói quen của người buôn bán mía, giơ
dao chặt phụp phụp là đứt lìa và phăng phăng róc vỏ. Lỡ rồi, tôi móc túi đưa
hết số tiền gói trong chiếc khăn nhỏ cho bà, bảo:
- Bà đi lẹ lẹ nhe !
- ừ, chút xíu là xong, cứ ngồi xuống đó đi.
Tôi không ngồi mà cứ đứng nhìn ông đi qua bà đi lại, vì đâu
có chiếc ghế nào để ngồi, ở giữa chốn chợ chiền, ngồi chồm hỗm trông kỳ lắm...
Tôi đứng đó chờ và thời gian qua hình như càng lúc càng
chậm. Năm phút, mười phút, mười lăm phút... Tôi bắt đầu sốt ruột vì một phút
bấy giờ không còn là một phút nữa, nó dài y như mười phút hay hơn. Mọi người
thản nhiên đi qua đi lại, không ai để ý gì đến thằng nhỏ đang đứng với gương
mặt rầu rĩ và bụng đánh lô tô.
Một tiếng rồi có lẽ, tôi ước lượng bằng cách nhìn ánh nắng
mặt trời, tự nhủ: "Không thể được, từ đây xuống đó chưa tới năm phút mà
tại sao ?..." Tôi bắt đầu nghi và nghĩ đến sự la mắng của gia đình khi thú
thực rằng mình đã bị gạt. Không chờ được nữa, tôi rời đống mía và đi ngược trở
lại bằng lối chợ trong, mắt liếc nhìn đây đó. Chợ trong rồi chợ giữa, chợ
ngoài, tôi đi tới đi lui liền mấy chập nhưng bóng bà già xưng là chủ đống mía
bặt tăm, bặt tăm cùng chiếc giỏ và số tiền đi chợ của tôi, nhớ đâu chừng bốn
chục (tiền thời đó lớn lắm, vì còn xài tiền cắc, tiền xu).
Mệt rã rời chân và nóng nực, tôi đi ra khỏi chợ và hướng về
phía phòng thông tin, nơi mọi khi tôi vẫn ghé để đọc báo, nhưng lúc đó thì chán
nản, bực dọc, lúc đi ngang tôi chỉ liếc vào.
Qua tới khoảng đường trãng, tôi nghe hơi gió mát nhưng cái
nóng nảy trong lòng làm tôi thấy nóng ran. Sẽ trả lời ra sao khi về nhà ? Có
một bà già nhờ giữ giùm đống mía rồi xách tiền, xách giỏ đi luôn !...
Mọi người sẽ nhận định ngay tôi là một thằng khờ, nghe người
lạ nói mà cũng tin được. Tôi không đi theo con đường cái mà qua khỏi Cầu Hang,
tôi đi lẫn vào trong xóm, nơi có con đường xe lửa điện năm xưa, nơi đây ít
người qua lại. Tôi muốn tránh mặt mọi người, vì có mặc cảm rằng nhìn tôi, họ sẽ
biết chuyện khờ dại của tôi.
Tôi về đến nhà bằng ngõ sau, cũng đi bằng lối tắt, băng
ngang xóm. Nhìn thấy tôi về tay không, bà tôi hỏi:
- Sao hôm nay đi lâu vậy con ?
Tôi ú ớ. Phải bắt đầu bằng câu gì đây ? Tôi ngọng thật, chưa
bao giờ tôi bị lâm vào một hoàn cảnh khó trả lời như thế.
- Dạ, con đi đến đầu chợ trên thì gặp một bà xưng là quen
với ngoại, bả nhờ con giữ giùm đống mía và bảo sẽ đi chợ giùm. Thế rồi...
- Bị gạt hả ? Hèn gì...
Tôi khóc, khóc vì mắc cở mà cũng vì tức. Các em tôi nghe
tiếng, chạy ra xem. Bà tôi bảo:
- Nó bị người ta
gạt rồi !
Tôi ngồi phịch
xuống đất, bảo:
- Rồi bữa nay lấy cái gì ăn đây ?
- Thôi, ở nhà đi, để bà đi chuyến nữa cho.
Tôi bảo:
- Ngoại đi, nhớ kiếm bà ấy để đòi lại tiền.
- Thơ ngây quá, cháu ơi, nó đã lừa thì làm gì kiếm được nó?
Mà bà có biết nó là ai đâu?
Đấy, một câu chuyện nhỏ của đời tôi năm vừa mới lên mười.
Thời ấy tôi đúng là thơ ngây thật, có một lần đi chợ, thấy hàng kia có những
quả su su le lưỡi trắng, tôi thích quá, ngồi xuống và lựa những quả kiểu ấy,
mua hết..., nghĩ rằng về nhà sẽ được khen. Khi về nhà, tôi giơ lên và khoe ngay
thành tích. Bà tôi lắc đầu, bảo:
- Su le lưỡi mà
cũng mua !
Thì ra đó là
những quả su già, bên trong, thịt toàn là sơ, ăn xam xảm. Nhưng tôi thì thích
lắm, vì cái "lưỡi" ăn không xảm mà nghe bùi bùi. Tuy nhiên, kinh
nghiệm bị chê một lần, từ đó tôi không bao giờ mua su le lưỡi nữa.
Một lần khác, bà
tôi dặn đi chợ mua hai con cá trê để về chiên ăn. Tôi vào chợ, thấy có một hàng
kia bày một cái thau tròn trong có vô số con cá trê đang bơi lội. Lại cũng
thích quá, tôi móc tiền ra bảo: "Bà bán cho con bao nhiêu đây tiền."
Tôi hí hửng mang
về mười mấy con, cho rằng như thế là đã "lời", bà đưa tiền mua hai
con mà đem về được đến mười mấy con. Bà tôi hết ý kiến về thằng cháu, nhưng
cũng chẳng mắng mỏ gì, đem ra "xử lý" hết, mặc dù tôi bảo nếu không
ăn liền thì để dành nuôi cho tới khi nào lớn hãy ăn.
Tôi không thể nào quên thời đó cứ ba năm một lần, ngôi chùa
thờ Quan thánh đế quân (Quan công) gần nhà tôi lại một lần xây chầu, mời gánh
hát đến, họ diễn những tuồng tích xưa dưới hình thức ra điệu bộ (hát bội). Mặc
dù chẳng hiểu gì nhưng được bà dẫn đi xem, tôi thích lắm, thấy sân khấu thật là
tráng lệ và những diễn viên sao quá đẹp, đẹp tựa những nàng tiên.
Lần đó có một nhân vật nữ làm tôi mê, đêm về không ngủ được,
tôi nghĩ ngày sau mà có được một cô vợ như thế thì sướng nhất đời.
Sáng hôm sau, tôi thức dậy sớm và một mình đi lại sân chùa
để xem cho biết mặt giai nhân, vì các tài tử vẫn còn qua đêm tại đó.
Tôi đi lòng vòng phía sau hậu trường để xem trong những
người đã thức ai là giai nhân. Tôi đi tới, đi lui, đi xuôi, đi ngược, cố ý nhìn
kỹ gương mặt từng người nữ để nhận diện, nhưng ban ngày thì nhận hết ra. Tôi
làm quen một chú trong gánh hát và hỏi đêm qua ai đóng vai ấy. Chú ta chỉ tôi
một người đang ngồi đánh răng với mái tóc uốn loăn xoăn và bộ đồ nhăn nhúm.
- Trời ơi, người đó hả?
Tôi thất vọng não nề, bởi vì bên ngoài, giai nhân trông già
chát và xấu hoắc, khác một vực một trời với giai nhân trên sân khấu đêm qua.
Trong sân chùa có hai cây đào tiên đang mùa ra trái, những
trái to đùng bằng cả bàn tay, mướt xanh và tròn trịa. Trông mượt mà, xinh đẹp
nhưng nó ăn không được, chỉ trồng để làm cảnh mà chơi. Tôi so sánh nó với giai
nhân trên sân khấu đêm qua, có điều phấn son còn tẩy đi được, còn cái vỏ xanh
xao này thì là của thiên nhiên, về sau tôi rất sợ những người son phấn.
Tôi bắt đầu cuộc đời bằng sự thơ ngây, từ việc bị một bà già
lừa cho đến một cô tài tử trên sân khấu, nhưng cô tài tử chỉ là sự vô tình, cô
lừa người vì nghề nghiệp, còn bà già kia..., có phải cũng là một cái
"nghề"?
Câu chuyện qua đi có đến 50 năm, hôm vừa rồi, cô em tôi bên
Việt nam nhắc lại. Tôi giật mình, tự hỏi "ủa, có chuyện như vậy nữa sao
?"
Ừ, nhưng mà rồi tôi nhớ ra, quả là hồi ấy mình thơ ngây
thiệt, bà già cầm đi mấy chục nhẹ nhàng, còn tôi, nếu có muốn cũng không thể
nào rinh nổi đống mía kia đi !...
Nguyễn Đức Tuấn
Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2014
Lẻ Loi
(Tặng Kim Oanh)
Thôi rồi nắng đã tàn trên góc phố,
Nghe tiếng chiều than thở ở đâu đây.
Người xa lắm, từ khuê ly có lẽ,
Bởi vì ta như kẻ đã xa bầy.
Chạnh nhớ lại tháng ngày xa xưa đó,
Một góc đời, một thuở đã bên nhau.
Ta xa cách rồi em như xa cách,
Lạc hướng lòng, buồn bã bước chân đau.
Chiều xám nặng thay màu trên lối cũ,
Những hàng cây tóc rũ đổi thay ca.
Người sao đến rồi người đi vội vã,
Để chiều nay thơ thẩn chỉ riêng ta?
Montreal, 04-05-2012
Nguyễn Đức Tuấn
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)









