Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Tất Điều. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Tất Điều. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2025

Thương Giọt Sương Mai


Hệ thống giao thông kỳ diệu trong không gian – nền tảng cấu trúc của vũ trụ – nằm gọn trong một giọt chất đen. Nhưng chất đặc biệt này còn tạo nhiều cuộc tranh luận sôi nổi. Kẻ tin người ngờ, phe nào cũng có lập luận vững vàng, chặt chẽ.

Các khoa học gia – tin “có” – tính toán rồi ước lượng vũ trụ có khoảng bảy mươi phần trăm là chất đen. Nhưng nhiều người khác, gồm cả các nhà vật lý học danh tiếng, nhất quyết không tin cái món này có thật.
Nghi ngờ cũng rất chính đáng vì họ – và toàn thể nhân loại – chưa từng thấy nó bao giờ, và sau hơn ba thập niên nỗ lực truy lùng với những dụng cụ khoa học tối tân nhất vẫn không “bắt” được nó.

Lò thí nghiệm tìm chất đen lớn và có kỹ thuật cao nhất là hầm Xenon (Lux) – The Large Underground Xenon (Lux) – ở South Dakota. Nằm sâu trong lòng đất – nơi xưa kia là một mỏ vàng – lò gồm một buồng chứa hàng tấn xenon, một hồ đầy với mấy trăm ga-lông nước cực kỳ tinh khiết. Đó là cái giàn “hứng” chất đen. Chất đen ở đây được hiểu là những phân tử nhỏ nhất trong trời đất, là đơn vị nền tảng của vũ trụ, đang từ không gian phóng xuống.

Theo lý thuyết và dự kiến: mỗi giây đồng hồ có hàng ngàn tỉ phân tử căn bản – thành phần chính của chất đen – rớt như mưa từ không gian xuống trái đất, xuyên suốt chiều dày của hành tinh này. Tóm được một mớ hạt để nghiên cứu thì khó, nhưng bắt được dấu vết nó để lại, chứng tỏ nó thực sự hiện hữu, thì rất có triển vọng.

Vậy mà, “hứng” như thế suốt hơn ba mươi năm không đạt một kết quả nào đáng kể. Các lò truy tầm nhỏ hơn, rải rác khắp thế giới, cũng chung số phận.

Tháng 12 năm 2016, nhà thiên văn học Stacy McGaugh, giáo sư trường đại học Case Western Reserve ở Cleveland, Ohio, trả lời Robin McKie, chủ bút tạp chí khoa học The Observer, rằng: Lò thí nghiệm đang được cải tiến, xây dựng lại, tối tân hơn, nhưng coi như đây là đánh ván bài chót. Nếu phen này vẫn chẳng tìm thấy cái gì thì kể như kẹt cứng, lâm vào ngõ cụt, sẽ phải tính tới chuyện sửa đổi hoặc loại bỏ luôn các lý thuyết hiện có, tìm những giải thích khác cho nhiều hiện tượng trong vũ trụ, kể cả lý thuyết về căn nguyên tạo ra hấp lực (gravity).

Làm việc cặm cụi hơn 30 năm, tay trắng hoàn trắng tay – không thấy phân tử gốc của chất đen đã đành, còn không dám chắc nó có mặt trên đời – vẫn chưa nản chí anh hùng, tiếp tục chiến đấu thêm một keo nữa! Sự bền bỉ, kiên trì thật đáng cảm phục. Lại dự phòng biện pháp đối phó nếu keo chót cũng thua luôn, thật là tỉnh táo, khôn ngoan, nhìn xa trông rộng.

Chỉ xin không đồng ý với giải pháp đem các lý thuyết ra mổ xẻ, sửa chữa, vào thời điểm này, hoặc ngay cả trong tương lai, khi canh bạc nghiên cứu đã làm ta cạn láng, cháy túi.

Ta chưa có đủ bằng chứng để phán xét đúng sai, xác định chất đen có thật hay không. Vì không tìm thấy nó nên ngờ nó không hiện hữu, rồi sửa lại các lý thuyết, căn cứ trên xác quyết chất đen chỉ là sản phẩm tưởng tượng, thì rất nguy hiểm, có thể chọn lầm những hướng đi chẳng dẫn tới đâu, hoặc lọt xuống vực thẳm sai lầm.
Chuyện nên làm bây giờ là thử dùng một phương pháp điều tra, nghiên cứu khác.
Thí dụ, để chứng tỏ chất đen có thật, ta dùng cách truy tầm thủ phạm của các thám tử: quan sát, nghiên cứu, phân tích các bằng chứng ở hiện trường.

Mấy khi hung phạm hành động xong, chịu khó ngồi chờ cảnh sát đến còng tay. Nó xa chạy cao bay rồi. Có đứa khéo trốn, biến mất vĩnh viễn. Nhưng dấu tích rải rác khắp phạm trường, thương tích trên thân thể hay thi thể nạn nhân, v.v… lập tức xác định sự hiện hữu của thủ phạm.

Đang nói chuyện vật lý khô khan nhàm chán, lôi chuyện điều tra tội ác, giết chóc bạo động vào thế này, có cái hay là làm bạn đọc giật mình, tỉnh ngủ. Nhưng với những bạn nhạy cảm, chắc nó gây khó chịu, mất vui.

Vậy ta nhớ những chuyện khác vui hơn: thí dụ như một trong những lần đi coi ảo thuật.
Ảo thuật gia phù phép rồi lừng lững bay lên, những vị tài ba còn bay lượn quanh rạp, lướt trên đầu khán giả, lơ lửng gần đụng trần. Ta phục lăn, vô cùng ngưỡng mộ tài năng của họ và như mọi người, vỗ tay, hoan nghênh nhiệt liệt. Nhưng không như đám con trẻ còn tin ở phép thuật trong những thần thoại hoang đường, ta biết ảo thuật gia “bay” nhờ những sợi dây treo. Ta không thấy, và có phần chắc là cả đời không hiểu được “bí mật nghề nghiệp” – cách giấu những dụng cụ hỗ trợ đặc biệt – tạo nên những chuyến bay rất… phi vật lý ấy. Nhưng ta biết chúng hiện hữu.

Dùng những thí dụ của vết dao đâm, đạn bắn trong án mạng, hay những sợi dây vô hình trong một màn ảo thuật để chứng minh sự hiện hữu của chất đen thì không có gì sai, nhưng e rằng phạm tội bất công với nó. Dấu tích nó để lại, cũng như thành tích nó đang và sẽ mãi mãi tạo ra, hầu hết là những công trình xây dựng lớn lao đóng góp vào sự hình thành cũng như sự chuyển vận của toàn thể vũ trụ.

Để công bằng với nó, ta nên dùng hình ảnh những thanh sắt thép làm cốt lõi trong cột trụ chân cầu, hay bộ máy trong chiếc xe đang chạy. Ta không nhìn qua được lớp xi-măng dày để thấy sắt thép, hay mở mui chiếc xe đang chạy để nhìn bộ máy vận hành, nhưng ta biết chắc một điều là chúng có mặt trên đời, như ta, như chính vũ trụ này.
Và quanh quẩn trong vườn chiều nay, không giàn hứng của hầm Xenon (Lux), không hệ thống “đập phân tử” tối tân của CERN (European Organization for Nuclear Research), ta vẫn dư sức chứng minh chất đen hiện hữu.

Bạn nhìn lũ cá bơi tung tăng trong hồ, hay lững lờ trong bình nuôi cá. Bạn ngắm những cánh chim bay lượn trên không trung. Rồi, chờ bóng đêm về, xem trăng sao lấp lánh khắp trời.
Kiến thức vật lý thiên bẩm – được bổ túc bằng kinh nghiệm – cho ta biết rằng:

Cá lội được nhờ nước.
Chim bay dọc ngang giữa trời được nhờ không khí.

Trăng, sao, mặt trời, mặt trăng và chính hành tinh này lơ lửng trong không gian được là nhờ một chất lỏng đặc biệt nào đó hiện diện khắp cùng vũ trụ.
Chất lỏng ấy chính là một thành phần của hợp chất tạo thành chất đen.
Tránh dùng những dấu tích phá hoại, chỉ nêu những thành quả xây dựng để chứng minh sự hiện hữu của chất đen, ta đã rất công bằng khi nêu ra một thành tích vô cùng lớn lao của nó: giữ cho vô lượng tinh tú lơ lửng giữa trời.

Cũng nhờ biết xử đẹp với chất đen mà ta được phần thưởng ngay. “Một lời đã biết đến ta…” chất đen cảm động, hé lộ cho các tri kỷ những nét chính trong dung nhan, thể lý, thể hình của nó.

Căn cứ trên những nhiệm vụ nó đang phải đảm trách: Bơm cho vũ trụ ngày càng nở lớn, treo vô lượng thiên thể lửng lơ khắp trời, tạo ra hấp lực, v.v… và nhất là trách nhiệm phải tạo ra vật chất, vật thể, cho toàn thể vũ trụ, chất đen phải gồm có, ít nhất, hai thành phần này:


1) Chất đen – phần thể lỏng

Đây là chất lỏng cực kỳ trong, nhẹ và loãng. Nhiều khoa học gia trang trọng gọi nó là Super Liquid. Nó tham dự vào hầu hết các hiện tượng xảy ra trong trời đất, đóng góp vào những yếu tố chính tạo nên những định luật vật lý đang hướng dẫn, chế ngự từ những động thái nhỏ nhoi đến sự vận hành của toàn thể vũ trụ.

2) Chất đen – phần vi phân tử

Các phân tử, vi phân tử trong chất đen có trọng trách tạo ra vật chất, vật thể, muôn hình muôn vẻ, từ hạt bụi, hạt cát tí teo đến những tinh cầu khổng lồ, thiên hà mênh mông. Chất đen phải chứa đựng tất cả các loại phân tử, vi phân tử hiện hữu trong vũ trụ mới có đủ nguyên liệu để chu toàn nhiệm vụ ấy.

Chất đen – nguyên chất – chiếm 70% (hoặc 90%, theo một ước lượng khác) thể tích của vũ trụ.
Nhưng ta không phải mỏi mắt nhìn vào cõi mênh mông để tìm tòi, nghiên cứu thêm. Chỉ cần ngắm nghía cõi vô cùng nhỏ nằm trong một giọt chất đen.

Phân tử nguyên thủy còn chưa thấy, đào đâu ra một giọt chất đen để quan sát?

Xin dùng tạm một món hữu thể, hữu hình: Giọt sương mai đọng trên cánh hoa hồng.
Món này cũng hiếm với đa số chúng ta. Không sao, xin nhớ lại giọt sương đã từng thấy trong đời. Thấy thật hay chỉ trên hình ảnh, họa phẩm, trong một lời nhạc, câu thơ… đều quý. Rõ ràng gặp nhau chớp nhoáng, chẳng bao lần, mà ta với sương mai quen thuộc, gần gũi lạ thường.

Giọt sương ấy đã nằm trong một giọt chất đen và – chính nó – cũng là giọt chất đen với dung nhan, thể chất mới, sau muôn triệu năm biến thái. Nó được tạo thành nhờ sự kết tụ của các phân tử, vi phân tử nằm trong chất đen nguyên thủy.
Trước khi nghiên cứu kỹ hơn, cũng nên biết về sự biến thiên, nhất là bước ngoặt đặc biệt, của hạt sương do chính con người gây ra.
Qua tiến trình chuyển hóa từ vi phân tử thành vật chất, diễn ra liên miên hàng triệu, tỉ năm, giọt sương, đến thời đại chúng ta, đột nhiên bị biến đổi sâu xa.

Hình thức hệt như xưa, nhưng nội dung hoàn toàn khác.

Đọng trên hoa, trên lá, giọt sương năm xưa gợi ra cõi trong vắt, bình an, đẩy hồn ta vào chốn không bến không bờ, mênh mông, tịch mịch. Những đêm không trăng sao, ta cũng thấy trong cõi mịt mùng sự an hòa, tĩnh mịch ấy. Nhưng cõi tịch mịch của thăm thẳm trời đêm thì lạnh lẽo, vô hồn. Cõi mênh mông cảm từ giọt sương có phơn phớt nắng mai, thấp thoáng màu lá, màu hoa, bao giờ cũng ấm áp, man mác niềm vui nhẹ nhàng, thanh thoát như sương khói, như tơ.

Giọt sương quen thuộc, thân yêu ấy đã biến mất, đã trôi vào quá khứ cùng lịch sử của vũ trụ mất rồi. Dù vẫn giữ hình thái, dung nhan của muôn triệu năm trước, giọt sương hôm nay đang mang trong lòng một sự ồn ào khủng khiếp.

Vô lượng vi phân tử, sóng radio của điện thoại di động mang theo những lời thủ thỉ yêu thương, gay gắt tranh luận, ầm ầm giận dữ, đắng cay nhiếc móc, nỉ non than thở, tiếng khóc, tiếng cười, nỗi bi thương, cơn cuồng nộ – đủ món hỉ nộ ái ố – … điệp điệp, trùng trùng lướt qua giọt sương liên miên từ lúc nó chào đời cho tới khi tan biến.

Giọt sương trong veo, an hòa, xinh xinh trên lá, trên hoa, ở thời đại này, phải chứa trong lòng tất cả những eo sèo của miệng thế gian.

(11/5/2021)
Lê Tất Điều



Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2024

Chỉ Cần Một Đoạn Phim…

Hình minh họa: ZCH

Năm 2015, tôi nghiên cứu về bản thể của Chất Đen. Tình cờ, những khám phá được trở nên hữu dụng.

Với sức mạnh làm nở cả vũ trụ, liên miên biến đổi hình thái các thiên hà, nhưng trong từng địa phương nhỏ (local) thì chất đen “hiền khô” hoàn toàn tĩnh lặng, bất động. Do đó, nó khiến những vật rơi trong không gian – nghĩa là trong lòng nó – bất động theo.
Nó tạo ra quán tính (sức ỳ, sức trì kéo) của muôn vật.

Tháng 5 năm đó, bà Viktoria Nyamadi, người Hung Gia Lợi, giáo sư toán và vật lý học ở Budapest, hội viên của Theoretical Physics Group, nhắc về thuyết của Galileo, “Trong chân không, thiếu sự cản trở của không khí, mọi vật rơi cùng tốc độ” và nêu thắc mắc: Hai trái banh một nặng, một nhẹ rơi xuống đất, cùng một vận tốc, như thể chúng có cùng một trọng lượng vậy. Cái gì tạo ra hiện tượng có vẻ lạ thường như thế?

Như máy, định trả lời bằng câu nói quen thuộc như kinh nhật tụng: “Vì trong chân không, thiếu vắng không khí, chứ có gì đâu mà còn phải hỏi. Vớ vẩn!” Rồi giật mình, nhớ ra mình lười biếng y hệt tiền nhân, nghiên cứu quá sơ sài thuyết của Galileo hơn bốn trăm năm nay.

Cứ nói đến thuyết Galileo là có ngay lông chim và một cái gì đó như cái kìm, cái búa đứng cạnh để chứng tỏ “không khí đã gây cản trở”. Bên nặng bên nhẹ quá khác biệt. Đáng lẽ các nhà nghiên cứu phải tiến xa hơn, không thể ngừng ở kết luận lười biếng ấy.

Chỉ cần loại bỏ lông chim (thiếu yếu tố sức cản không khí), rồi cho hai cái búa một 5 ký, một 4 ký, chẳng hạn, cùng rơi trên mặt trăng, mặt đất – xem chúng có rơi cùng tốc độ hay không… là biết liền. Năm ký, bốn ký hay một ký v.v… đều “rơi” cùng tốc độ dù có hay không có vacuum. Vì thực sự, chúng… không rơi!

Chính chất đen, khi tạo ra quán tính cho muôn vật, đã gây ra hiện tượng ấy.

Năm 1971, khi David Scott, làm thí nghiệm trên mặt trăng, đã thấy búa và lông chim “rơi” “cùng tốc độ” thì thực ra, ngay khi rời khỏi tay anh, cả hai món đó, đã đứng sững trong không gian.
Chất đen vây chặt lấy chúng, tạo quán tính, không cho nhúc nhích.

Tiến sĩ Charles Ivie nói về sự bất động của muôn vật trong không gian bằng cách nêu ra một thí nghiệm dễ thấy, dễ hiểu của Einstein.
Trong thí nghiệm này, một phòng thí nghiệm được đặt trong lòng một hỏa tiễn có sức bay lên với vận tốc 10 mét/ giây. Có hai trái banh, một nặng, một nhẹ, treo trên nóc phòng thí nghiệm. Lọc hết không khí để phòng thí nghiệm trở thành chân không. Rồi cùng lúc thả rơi hai trái banh.
Không còn ràng buộc gì với hỏa tiễn (để tiếp tục bị nó kéo lên theo với vận tốc 10 mét/ giây) hai trái banh một nặng, một nhẹ sẽ đứng sững trong không gian.
Quan sát viên đứng trên trái banh sẽ thấy sàn phòng thí nghiệm dâng lên, tiến về phía mình.

Còn quan sát viên trong phòng thí nghiệm thì lại vội vã tránh né để hai trái banh khỏi rớt trúng đầu.

Giáo sư Brian Cox, sau khi quan sát trái banh bowling và lông chim (tưởng rơi mà thực sự không hề rơi) trong phòng thí nghiệm Vacuum lớn nhất, cũng nói rất rõ về thuyết của Einstein đại ý rằng:
“Nếu cụ Isaac Newton ở đây, chắc cụ đã nói quả bóng và lông chim rơi xuống vì có một lực kéo chúng xuống: đó là trọng lực.

Nhưng cụ Einstein lại nghĩ khác.

Sở dĩ lông chim, quả bóng bowling không rơi vào đâu cả vì là vì chúng… không hề rơi. Chúng đang đứng yên. Không có lực nào tác động lên chúng hết.”
Thành ra, Tạo hóa dựa trên bản tính “chủ quan” cố hữu của loài người, bắt từ người đầu tiên trên thế gian bị “bé cái lầm” dài dài… cứ thế suốt bao nhiêu thế hệ.

Cứ thấy cái gì trên “trời rơi xuống” là đinh ninh nó phải rơi xuống đất, không thể ngờ chính mình và hành tinh mình đang sống lại “dâng lên” cùng tốc độ vận hành của địa cầu để… chạm vào vật đang rơi!
Nhưng khám phá được âm mưu của Tạo Hóa vào đúng lúc này thì cũng hay. Vì kỹ nghệ nhiếp ảnh, điện ảnh của quân ta giờ đây đã đạt mức thượng thừa.

Mai đây, chỉ cần một nhiếp ảnh gia thông minh, nhiều sáng kiến, thực hiện một đoạn phim ngắn.
Hoặc chụp qua một vacuum có tường bằng kính để thấy banh và lông chim bất động trong khi trái đất dâng lên, so với những trăng sao dùng làm mốc ở chân trời.
Hoặc dùng những ống zoom cực mạnh từ không gian nhìn về trái đất và thấy được muôn triệu hoa trái vừa lìa cành là bất động giữa thinh không.

Có chứng cớ rõ ràng ấy, mọi tranh luận, cãi cọ sẽ biến hết.
Và trong khu vườn nhỏ của tôi có một lão ông di tản – gốc gác là người di tản buồn – sẽ hết sức vênh váo, khoái chí tử, vì biết mình là người đầu tiên trên thế gian lật tẩy được trò chơi tinh quái, bất ngờ, và rất dễ thương của Đấng Tạo Hóa.

Lê Tất Điều
——————
Để bạn đọc tiện nghiên cứu thêm:
Đăng trên tạp chí “International Journal of Fundamental Physical Sciences” Vol. 14 No. 2 (2024).
2. Youtube: Video của Bri-Mountain Films.

Thứ Tư, 16 tháng 8, 2023

Sự Thật Muôn Đời

 

Einstein là cha đẻ của thuyết Tương Đối, nhưng không là người đầu tiên trong nhân loại ý thức được hiện tượng tương đối.

Từ những ngày xa xưa, anh nông dân đi xa về, nhìn chiều cao của cây đa đầu làng để ước lượng khoảng cách còn lại của đường trường. Người họa sĩ, tuân thủ luật phối cảnh, vẽ nhà cửa, cảnh vật xa nhỏ, gần to… Họ đều ý thức được sự tương đối và biết ứng dụng nó.

Nhưng chỉ một mình Einstein nghiên cứu, lập thuyết, biến cái kiến thức thiên bẩm ấy thành một đóng góp lớn cho khoa học, một món quà vô giá cho nhân loại. Dựa trên những luận án, phương trình toán của Einstein, bây giờ ta có những lộ trình dành cho hỏa tiễn liên hành tinh chính xác từng giây từng phút, những hệ thống định vị bao phủ gần khắp mặt địa cầu.

Mọi chuyện chỉ bắt đầu phức tạp, phiền toái khi Einstein tung ra Thuyết Tương Đối Đặc Biệt (TĐĐB) hay Tương Đối Hẹp. Trong tiến trình lập thuyết cũng như phần kết luận: “Thời gian trôi chậm lại trong con tàu di chuyển” có nhiều sơ suất, nhiều chỗ bất ổn, tạo ra những nghịch lý khó giải thích, bào chữa.

Nhưng thuyết lập tức được giới khoa học nồng nhiệt chào mừng, tán tụng là khám phá về vật lý kỳ diệu nhất của nhân loại. Việc kiểm lại, xét nghiệm lại để tìm lỗi lầm ở một thuyết đã được đời coi là toàn hảo hóa ra thừa thãi, vô duyên. Chắc Einstein đã không bao giờ bận tâm về chuyện “nhìn lại”.

Tiếc thay! Nếu chịu khó xét lại, cụ đã có nhiều cơ hội để thấy những sai lầm nghiêm trọng, khiến thuyết khó sống sót.

Hình vẽ sai lầm. 

Vẽ xong hình lập thuyết, nhìn kỹ lại, thấy chỗ bất ổn ngay.

Hãy bỏ qua những luật chi phối thị giác khiến người quan sát không thể thấy tia sáng AC cùng lúc với người trong tàu thấy tia AB, như đã phân tích ở một chương khác. Hãy theo đúng sự tưởng tượng của Einstein:

“Vì tàu đã di chuyển, khi người quan sát Q thấy tàu – lần đầu tiên – thì tàu đã di chuyển đến vị trí mới, B đã đến C.”

Điều này hoàn toàn đúng. Nhưng cũng chính khoảnh khắc ấy A đã di chuyển đến D. Vì sàn tàu di chuyển thì trần (hay nóc) tàu cũng di chuyển theo.

Nghĩa là cả toa tàu và những món nó chứa trong lòng bắt buộc phải cùng di chuyển.

Einstein vẽ đường AC, tưởng nó chính là đường AB, là sai. Hình vẽ thể hiện một tình huống không thể có: B đã di chuyển nhưng A lại bất động, đứng nguyên tại chỗ.

Mà thiếu AC, tam giác ABC không thành hình, những tính toán dựa trên định lý Pi-ta-go vô dụng.

Thí nghiệm trong tưởng tượng (thought experiment) của Einstein thiếu sót, không bao gồm đầy đủ những chi tiết quan trọng. Thể hiện thành hình vẽ, nó trình ra một bức tranh không phản ảnh sự thật, dẫn tới những nhận định, kết luận sai lầm.

Nếu ngay lúc ấy, khám phá ra A đã thành D, như B đã thành C, AB đã biến vào quá khứ, không phải là đường AC, thấy được những chỗ sai chí tử của hình vẽ, chắc Einstein đã ngừng lập thuyết.

Thuyết nói một đàng, tính toán một nẻo
Không thấy, không biết hình vẽ sai, vẫn còn cơ hội thấy những lỗi lầm trong phần toán học.
Để lập thuyết, ngoài những bài toán dựa trên định lý Pi-ta-go, còn có phương trình thông dụng:

L = vt (Đường dài bằng vận tốc nhân với thời gian).

Xe chạy với vận tốc 100 dặm một giờ, chạy hai giờ thì được 200 dặm. Vận tốc (v) càng nhanh thì thời gian (t) càng nhỏ đi, nhưng lúc nào t cũng phải lớn hơn số không, thì mới có chuyện xe chạy.

Nay thuyết khẳng định khi v = c = vận tốc ánh sáng thì t=0 (thời gian ngừng trôi)

Phương trình ấy biến thành:

L = ct = 300.000 km/s x 0 = 0 (zero).

Nghĩa là tàu đang phóng ào ào, nhưng vừa đạt vận tốc ánh sáng, đụng phải lý thuyết của Einstein, tức khắc đứng sững lại, tê liệt, không nhúc nhích!
Hãy tưởng tượng sự hoang mang, lúng túng của những sinh viên phải áp dụng thuyết TĐĐB trong toán học.
Tính đường dài tàu đã vượt qua thì cứ L = vt hay L = Ct (C là vận tốc ánh sáng) như… thường lệ.
Nhưng khi tính đến khoảng đường dài khách trong tàu vượt được thì lại phải áp dụng thuyết TĐĐB, biến phương trình thành:

L = c (vận tốc ánh sáng) nhân với 0 (zero) thời gian (t) = 0. Nghĩa là:

L = C x 0 = 0

Kết quả bài toán là một con số không.

Như thế thuyết ban cho nhân loại một cảnh tượng lạ lùng, kỳ dị: Khi đạt vận tốc ánh sáng, con tàu chỉ cần vài giây đã phóng đi xa lắc, xa lơ, nhưng tất cả hành khách thì vẫn còn ngồi chơi xơi nước trên sân ga!

Nhưng Albert Einstein không thấy chỗ nghịch lý đó. Cụ thản nhiên dùng phương trình L=vt giống hệt như mọi người! Tưởng như lý thuyết – tốc độ ảnh hưởng sự trôi nhanh chậm của thời gian – cụ đẻ ra không hề có mặt trên đời.

Để tính chiều dài đoạn A– B, cụ viết: L = ct,
Với chiều dài đoạn A– C, cũng vậy: L’ = ct’.
Nếu nhớ áp dụng TĐĐB, Einstein đã thấy A–B = L = ct = cx0 = 0 (zero).
Và AC cũng không khác L’ = ct’ = c x 0 = 0.

Nghĩa là trong con tàu di chuyển với vận tốc ánh sáng, chính ánh sáng lại bị đông cứng, không nhúc nhích được vì không có thì giờ để nhúc nhích. Tia sáng từ đèn A chiếu xuống sàn ở B, hay tia sáng hướng về C đều không được lý thuyết của Einstein – phần toán học -- cho phép rời khỏi bóng đèn!

Ngay khi viết xuống phương trình L = ct mà quên hẳn hiện tượng “vận tốc con tàu ảnh hưởng tốc độ của thời gian” do chính mình sáng tạo, Einstein đã vô tình phủ nhận giá trị của lý thuyết ấy.

Không tôn trọng những định luật, nguyên tắc căn bản của Vật Lý.

Không nhận ra chỗ sai trong hình vẽ, trong những bài toán, vẫn chưa hết thuốc chữa. Einstein còn nhiều cơ hội để giật mình, khám phá ra những lỗi lầm khác, những chỗ phản vật lý của thuyết TĐĐB.

Khi đám đệ tử hớn hở trình cụ rằng họ để một đồng hồ nguyên tử trên một tàu bay (hay phi đạn gì đó) bay thật nhanh thì họ thấy quả thực đồng hồ chạy chậm lại chút xíu, chứng tỏ thuyết của cụ đúng… thì, là một khoa học gia, cụ phải thấy ngay cái “kiểm tra” của họ hoàn toàn phi vật lý.

Đáng lẽ cụ phải giảng cho đệ tử những lời tương tự như lời phân tích của khoa học gia Charles Scurlock đăng trên diễn đàn của hội Theoretical Physics Group, khi trả lời câu hỏi: “Thời gian có giãn nở được như Einstein nói không?”

“Thời gian không phải là một vật thể, một biến cố, hay một hiện tượng có thực. Nó chỉ là một ý niệm trong tâm trí con người được sáng chế để đo lường, tính toán, cảm nhận và truyền thông về (sự hiện hữu) của các vật thể, các sự kiện, các hiện tượng. Quan niệm rằng thời gian sở hữu một thể chất có thể bị ép lại hay nở ra được là quá sai lầm…”

Đúng vậy, Thời gian không thể chất, sự hiện hữu của nó mơ hồ, trừu tượng như ý tưởng, ý niệm. Làm sao cái món vô thể chất ấy lại có sức tác động lên các cơ phận của đồng hồ, khiến nó chạy chậm hay nhanh?

Rồi lại thêm cái hệ quả: Thời gian ngừng trôi thì nhân loại sẽ không còn ai mắc bệnh già!

Tin như thế, mặc nhiên kết tội: Thời gian là chánh phạm trong tội ác tàn phá tuổi trẻ, sự sống của muôn loài. Phạm tội vì nó không kiểm soát được tốc độ khiến thiên hạ cứ bị già đi đều đều. Mai mốt có con tàu của Einstein bay nhanh bằng ánh sáng làm thời gian tê liệt, họa may nó mới chịu bó tay, hết phá làng phá xóm.

Thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ, tu sĩ, cuồng sĩ v.v… và tất cả những ai ít kiến thức khoa học đều có quyền chửi bới, rủa xả, lên án thời gian. Khoa học gia công bằng và tự trọng không thể kết tội oan cho nó một cách ngây ngô như vậy.

Tiến trình sinh diệt bắt đầu và chấm dứt bằng những chuyển biến hóa học, do những thể chất trong trời đất tương tác với nhau. Một thanh sắt phơi trần ngoài trời chỉ vài tuần đã rỉ sét, được sơn thật kỹ sẽ bền bỉ trăm năm. Vì Oxy không xâm phạm được, không vì thời gian đã ngừng trôi trong thanh sắt có sơn bao bọc. Da mặt bà hành khách tươi trẻ mãi vì bà chịu khó bôi kem dưỡng da, không vì đang ngồi trên chuyến tàu chạy nhanh bằng ánh sáng.

Thời gian không thể chất, không là chất xúc tác kích thích những tiến trình chuyển biến hóa học. Nó hiện hữu trong thanh sắt theo sự mường tượng trong trí ta, hay thực sự hiện hữu trong thanh sắt trăm ngàn năm… luôn luôn vô hại, không tạo được một tác động vật lý lớn, nhỏ nào.

Đến đây, chắc bạn cũng như tôi (thời còn giữ niềm tin sắt đá là “Einstein không thể sai lầm”), chúng ta có khuynh hướng giở lý sự cùn – gọi một cách văn chương là cãi cho đến cùng kỳ lý – ta nêu thắc mắc: “Thanh sắt đâu có rỉ sét ngay, phải cần một thời gian hàng tuần, hàng tháng cho tiến trình rỉ sét hoàn tất. Vậy sự đóng góp của thời gian cũng có thể là thật, là cần thiết chứ?”

Quả thật, thanh sắt cần thời gian để bị rỉ sét. Và tất cả các tiến trình chuyển hóa trong trời đất đều diễn ra trong thời gian đang trôi. Lý sự cùn của chúng ta hóa ra… sắc bén, lập tức khiến ta hoang mang, bối rối.

Với tầm hiểu biết hạn hẹp về bản chất thực của Vũ Trụ không gian, chúng ta mất tự tin, vội lập thêm giả thuyết, nâng lý sự cùn lên mức sắc bén cao hơn: Có thể thời gian là một thể chất với siêu vi phân tử quá nhỏ khoa học hôm nay chưa đủ tiến bộ để thấy được. Biết đâu đấy! Mà đã có thể chất thì thời gian trở thành chất xúc tác can dự vào mọi chuyển biến hóa học trong trời đất là chuyện bình thường, có gì lạ đâu.

Đặt câu hỏi, giả thiết như thế thì “có lý quá trời” liền, nếu đang tranh luận, có thể làm đối thủ lúng túng, vì không tìm đâu ra bằng chứng để phản biện. Nhưng chính nó lại đẩy ta vào đường cùng, ngõ cụt.

Vì, khi cho thời gian khả năng phá hoại thì cũng phải chấp nhận quyền lực của nó trong sự sinh tồn. Trong con tàu chu du Vũ Trụ bay với tốc độ ánh sáng, thời gian ngừng trôi, không ai già đi nhưng cũng chẳng còn sinh vật nào sống sót. Ít nhất, muôn vật bị tê liệt hết vì không có thì giờ di chuyển – như cảnh tượng rùng rợn trong truyện khoa học giả tưởng hài hước: “Giải cứu một phương trình toán học thân quen.” Trong đó, thiếu bước tiến của thời gian, tim ngừng đập, phổi ngừng thở, máu huyết hết luân lưu, máy móc vận chuyển con tàu ngưng hoạt động.

Tốc độ của Thời Gian

Thời Gian vô ảnh, vô hình, vô thể chất. Nó chỉ được “thấy” trong tâm trí, nhận thức của chúng ta, như một ý niệm. Sự hiện hữu vật lý của nó rất đáng ngờ.

Tuy nhiên, đã đặt tên cho nó, cảm nhận được sự hiện diện của nó ở khắp nơi mà dám bảo nó không hiện hữu thì sẽ phải cãi nhau to với các triết gia. Vậy hãy tìm cho Thời Gian một kiểu hiện hữu thích hợp, tạm gọi là “hiện hữu tầm gửi”.

Màu sắc thuộc loại hiện hữu này. Thí dụ màu da cam. Ta thấy nó, tưởng chạm được vào nó, nhưng thiếu vỏ cam, nó biến mất. Muốn tái tạo, phải dùng vỏ cam hay sơn, bút chì màu, phấn tiên v.v... Không thể tách riêng màu sắc ra như một thực thể riêng biệt, độc lập. Để được hiện hữu, nó phải gửi thân nơi một thực thể khác.

Màu sắc thấy được, nếu tinh tế còn cảm được độ nóng lạnh, vậy mà luôn luôn phải ăn gửi nằm nhờ. Thời Gian không kích động bất cứ một giác quan nào của con người, càng cần nơi nương tựa để hiện hữu.

Khách trọ Thời Gian rất trung thành, gắn bó tới những giây phút cuối cùng của quán trọ. Có thể là ngàn triệu năm trong tảng đá sườn non. Có thể thoảng qua như bông hoa sớm nở tối tàn dưới chân đồi. Thời Gian ở cùng vạn vật, từ cái vô cùng nhỏ đến cái vô cùng lớn. Nó hiện hữu trong tất cả các vi phân tử, nguyên tử… là một phần bất khả phân ly của toàn thể Vũ Trụ.

Trong lúc Vũ Trụ chuyển vần, Thời Gian là máy đo tốc độ, là máy định vị, ghi nhận vị trí của muôn vật trong không gian từng mỗi sát na. Vì vậy, Einstein coi nó là “chiều thứ tư”.

Như thế, vận tốc của Thời Gian chính là vận tốc hiện hữu của Vũ Trụ.

Muốn nó chạy chậm lại hay ngừng trôi là bắt toàn thể Vũ Trụ phải giảm tốc độ hay ngưng vận hành!

Những ông thần hộ mạng

Từ tiến trình lập thuyết – dùng người quan sát nhưng không tôn trọng những luật chi phối thị giác khiến anh ta KHÔNG THỂ THẤY những hình ảnh Einstein dự kiến phải thấy – cho đến hiện tượng cuối cùng thuyết dẫn tới – vận tốc con tàu làm thay đổi vận tốc thời gian do đó biến đổi luôn cả nhịp vận hành của Vũ Trụ – nhìn chỗ nào cũng thấy có “vấn đề” cần kiểm tra, xét nghiệm lại.

Nhưng, như đã nói, khoa học gia toàn thế giới không cho Einstein kịp thi hành quyền “tự phê, tự kiểm” cũng tịch thu luôn nhu cầu xét lại tác phẩm mới của mình. Vừa trình làng TĐĐB lập tức được nồng nhiệt chào mừng và tôn vinh. Tất nhiên, sự tôn vinh hàm ý một lời xác quyết: Thuyết tuyệt đối đúng.

Cũng có người nghi ngờ nêu ra những nghịch lý. Nhưng hầu hết khoa học gia, gồm những tên tuổi lẫy lừng, thì dồn hết tâm lực vào việc làm thí nghiệm, tìm những hiện tượng trong thiên nhiên chứng tỏ thuyết đúng. Họ viết luận án, sách báo… dựng tường cao, đào hào sâu quanh thuyết để kiên cường chống lại mọi chỉ trích, dẹp tan những nghi ngờ.

Muốn xâm phạm thuyết, phải bước qua xác chết của nhiều vệ sĩ và, ít nhất, hai vị Thần hộ mạng – võ nghệ siêu quần, danh trấn giang hồ: Hendrik A. Lorentz và James C. Maxwell.

Thần hộ mạng Lorentz không bênh Einstein một lời. Vì chẳng có gì phải bênh hết! Đối với cụ, thuyết tuyệt đối đúng, chỉ chưa toàn hảo, cần bổ túc thêm, nhất là phần áp dụng vào toán học.

Trong thuyết, Einstein dùng người quan sát đứng một chỗ, nhìn toa tàu di động. Lorentz khai triển thêm phần tính toán, giúp ta đo lường được sự biến đổi không gian, thời gian khi những vị trí quan sát có liên hệ với nhau di động – khiến những hệ quy chiếu biến đổi. Nói giản dị là cụ thêm nhiều tình huống, bối cảnh rắc rối hơn nhưng cũng hợp thực tế hơn: Người quan sát không bất động mà cũng di động, khi song song với tàu, khi tách xa dần về hướng khác. Vận tốc cũng có thể khác, không giống vận tốc tàu v.v…

Là một kỳ tài về toán học, Lorentz tính được hết, còn tìm công thức, phương trình – phép hoán chuyển Lorentz – có giá trị như những hằng số bất biến có thể dùng cho nhiều tình huống, hoàn cảnh khác nhau.

Trong phép hoán chuyển, cũng như những bài toán của Lorentz, T (t viết hoa) chỉ thời gian giãn nở được của Einstein, để phân biệt với t (t viết thường) chỉ thời gian bình thường, bất biến, mà các khoa học gia gọi là “thời gian của Newton” ngụ ý cái món thời gian ấy cũ rồi, xưa rồi, không dùng được trong thời đại đã có Einstein.

Thành ra, thuyết vừa được Einstein tạo hình, còn mơ hồ, đã được Lorentz tặng cho một thể xác chắc nịch, rõ ràng như… toán học.

Từ đó, phần toán học của Lorentz dính chặt với TĐĐB như linh hồn và thể xác. Nó trở thành cơ thể vạm vỡ, dũng mãnh của TĐĐB. Nói về thuyết mà không biết phép hoán chuyển Lorentz là thiếu kiến thức, không nên nói tiếp. Bạn vừa thắc mắc, tỏ ý nghi ngờ giá trị thuyết là bị dí vào mắt công thức, phương trình, những bài toán của Lorentz với lời khuyến cáo: “Xem kỹ lại đi, coi có chỗ nào sai không? Tìm không ra chỗ sai trong cách tính toán của Lorentz thì không nên thắc mắc, nghi ngờ tiếp!”

Đến đây, bạn hãy cùng tôi, ta suy nghĩ thêm, kỹ hơn một tí nhé.

Suy nghĩ kỹ thì thấy chúng ta là nạn nhân của một phương pháp ngụy biện kín đáo và tài tình.

Thuyết Einstein và toán Lorentz là hai thực thể khác biệt, mang số phận sai đúng riêng, chỉ liên hệ chặt chẽ với nhau ở vài điểm. Phần toán Lorentz là hệ quả của thuyết, xây dựng trên giả định là thuyết đúng. Do đó, thuyết sai, nó sai theo. Nhưng nó đúng thì thuyết đẻ ra nó không tất nhiên được dựa hơi, cũng đúng nốt.

Nó là TẦNG HAI của một tòa lâu đài.

Nếu lâu đài xây trên nền cát lún, sụp đổ, thì tầng hai dù kiên cố, hoành tráng cỡ nào cũng tiêu tùng luôn.

Cũng như thời gian T (giãn nở được) nằm trong những bài toán của Lorentz chỉ đúng với điều kiện là thuyết thời gian giãn nở được phải đúng trước. Thuyết sai, T trở nên vô nghĩa, vô dụng.

Vậy mà, khi ta thắc mắc, đặt nghi vấn về sự vững chắc của tòa lâu đài thì các vệ sĩ của thuyết bắt ta chấp nhận sự vững chắc của tầng hai là bằng cớ chứng tỏ sự kiên cố của nền móng toàn bộ kiến trúc.

Trong hơn trăm năm qua có biết bao người yếu bóng vía, bị thế võ ngụy biện này áp đảo, khuất phục, đành nín thinh, hết dám hó hé.

Coi bộ thần Lorentz sẽ còn thành công trong nhiệm vụ bảo vệ Einstein nhiều trăm năm nữa.

Thần hộ mạng James Maxwell, như thần Lorentz, cũng không hề bênh thuyết một lời. Nhưng một kết quả trong công trình nghiên cứu của Maxwell lại đóng góp rất lớn cho việc bào chữa, bảo vệ thuyết.

Chuyên nghiên cứu về sự di động của ánh sáng, Maxwell khám phá ra là ánh sáng lan tỏa theo dạng sóng và có tốc độ bất biến khi vượt qua những môi trường khác nhau. Khám phá ấy được biến cải, thêm thắt thành: Vận tốc của ánh sáng hoàn toàn độc lập với (không bị ảnh hưởng bởi) vị trí của người quan sát. Nghĩa là đứng gần, xa, bất cứ ở vị trí nào trong không gian cũng thấy ánh sáng giữ nguyên tốc độ “bay” nhanh.

Những vệ sĩ thông minh, sắc bén, của Einstein nhìn ngay ra khả năng “cứu chúa” trong khám phá của Maxwell.

Bạn nhớ: trong tiến trình lập thuyết, có một khâu tức khắc gây hoang mang, nghi ngờ. Đó là lúc Einstein dùng c (vận tốc ánh sáng) để tính chiều dài của tia AB và tia AC. Einstein dùng công thức tính chiều dài quen thuộc: A-B = ct và A-C = ct’. Nếu áp dụng thuyết TĐĐB, thì t và t’ ở đây “có vấn đề” vì tốc độ của ánh sáng làm cả t và t’ ngắn đi rồi biến mất, trở thành zero. Nếu bị yêu cầu giải thích, các vệ sĩ và chính Einstein chắc lúng túng.

Nay có lời minh xác của Maxwell: “Vận tốc của ánh sáng hoàn toàn độc lập với vị trí của người quan sát” mọi chuyện êm đẹp, ổn thỏa ngay. Ngồi trong tàu, đứng ngoài tàu, ở bất cứ vị trí nào trong Vũ Trụ, người quan sát tha hồ nhìn ngắm ánh sáng mà vận tốc ánh sáng không hề hấn gì, vẫn “nhanh như ánh sáng”.

Trong vận tốc có yếu tố thời gian t. Vận tốc v không thay đổi thì t cũng không đổi thay. Cái nhìn của người quan sát – theo đúng thuyết TĐĐB – luôn luôn bắt thời gian trong những vật chạy nhanh phải trôi chậm lại, nhưng khi đụng ánh sáng thì nó tha luôn, không can thiệp vào quyền độc lập, tự do đi lại của cái món chạy nhanh nhất này.

Do đó, Einstein tha hồ dùng phương trình: L=ct mà không gây thắc mắc nữa.

Công bảo vệ thuyết của Maxwell lớn không thua công của Lorentz.

Chỉ có một chỗ bất ổn. Đó là sự xuất hiện của danh từ “người quan sát” trong văn chương, ngôn ngữ Maxwell.

Cụ Einstein chào đời tháng 3 năm 1879, thì đến tháng 11 cùng năm ấy cụ Maxwell quy tiên. Như thế, cả đời Maxwell không từng nghe cái tên Einstein, nói chi thuyết TĐĐB và vai trò quan trọng của “người quan sát” trong thuyết ấy mà đòi xía vô hỗ trợ!

Sửa đổi kết quả nguyên thủy trong công trình nghiên cứu của Maxwell, thêm thắt, bịa đặt, biến nó thành vũ khí bênh vực Einstein, các vệ sĩ của Einstein không rành lịch sử khoa học? Hay biết mà cứ lờ đi, sẵn sàng chịu trả giá đắt: Cái giá của sự lương thiện?

***
Một mai, khi không còn bị hào quang sáng chói của các thần hộ mệnh, các vệ sĩ làm mờ, hết bị bức màn ngụy biện che khuất, Sự Thật sẽ hiện ra.
Rõ ràng minh bạch như trời đất, nắng mưa. Sừng sững như núi non.

Sự Thật và bài học nó cho ta cũng giản dị thôi:

1. Lập thuyết dựa trên những dữ kiện do người quan sát cung cấp thì phải tuyệt đối tôn trọng những luật thiên nhiên chi phối thị giác, những giới hạn trong khả năng của giác quan này. Không tôn trọng luật sẽ dẫn tới thảm cảnh: người quan sát “KHÔNG HỀ THẤY” những hình ảnh, dữ kiện mà người lập thuyết tưởng lầm anh ta phải thấy.

2. Tương Đối Rộng hay Tương Đối Hẹp đều nghiên cứu hiện tượng“tương đối”do thị giác làm trung gian diễn dịch.

Anh nông dân, cô họa sĩ, nhìn từ xa thấy cây đa thấp xuống, căn nhà nhỏ lại, là thấy hình ảnh, ảo ảnh của cây, nhà, những sự thật đã bị biến dạng. Hình ảnh cây đa thấp, nhà nhỏ lại SO VỚI nhà thật, cây thật, vậy thôi. Lập thuyết Tương Đối Rộng, căn cứ trên kích thước của ảo ảnh để tính toán, lần mò tìm ra kích thước, hình dạng thật của sự vật, biến chuyển thật trong hiện tượng quan sát được, thì đúng và hay.

Nhưng tiến xa hơn, đồng hóa “cái thấy” – hình ảnh, ảo ảnh – với “sự thật” thì đi quá xa … sự thật. Kiểm chứng dễ và nhanh. Bạn nhìn một tàu bay trên trời, thấy bay chậm rì rì, bèn nói với một đứa trẻ thông minh rằng ở chốn xa xôi ấy tốc độ thực của tàu bay chậm lắm, chỉ cỡ 10 dặm một giờ thôi, đứa trẻ sẽ phì cười, nghi bạn giả ngu, nói giỡn.

Không riêng tốc độ ánh sáng, tốc độ thật của con tàu, như tốc độ của muôn vật muôn loài trên thế gian, không vì “cái nhìn” của bạn, người quan sát, mà biến đổi. Chỉ những ảo ảnh lọt vào tầm nhìn của bạn, tác động vào thần kinh thị giác, khiến não bộ tạo cho bạn cảm tưởng là chúng bị đổi thay.

Nếu người quan sát của Einstein quả thực nhìn thấy hiện tượng “thời gian trôi chậm lại trên con tàu di chuyển” thì những cái anh ta thấy chỉ là một nhóm ảo ảnh, không là sự thật có thể dùng được ngay, khỏi qua máy lọc phân tích, xét nghiệm. Trong trường hợp thuyết TĐĐB, chuyện “quả thực” cũng không có luôn, vì “cái thấy” của người quan sát chỉ hiện ra trong trí tưởng tượng của Einstein thôi.

3. Khi lập thuyết ráng khiêm tốn và chịu khó nể mặt Tạo Hóa một tí. Thấy thuyết manh nha tham vọng đòi biến cải những tác phẩm lớn của Tạo Hóa như không gian, thời gian, nhịp vận hành của Vũ Trụ v.v… thì cần đưa nó đi bệnh viện khám nghiệm tâm thần, tiện thể, xin thầy thuốc khám luôn cả ta nữa, cho chắc ăn!

Liều lĩnh lập ra một thuyết kiêu căng đến thế, nó phải chết từ trong trứng nước.

(31 tháng 7/ 2023)
(Trích “Rong Chơi Mấy Cõi Vô Cùng”)

Lê Tất Điều

Thứ Sáu, 11 tháng 8, 2023

Mấy Cõi Vô Cùng

 

Cuối tháng 6 –2023, phim “The Making of the Universe” đã hoàn tất.

Nhân dịp này, xin gửi bạn đọc toàn bộ 9 cuốn phim của Bri-Mountain Films.

Thứ tự không sắp xếp theo thời gian thực hiện, ngày hoàn tất, mà dựa trên những kiến thức cần có trước hay sau để góp thành hành trang giúp bạn dễ tìm thấy lộ trình thám hiểm không gian, tiến sâu vào hai cõi vô cùng: vô cùng lớn cũng như vô cùng nhỏ.

1. THE BIG QUESTION about the Universe’s Structure


Câu hỏi thật lớn, thật mới, chỉ nảy ra khi trong túi ta có điện thoại di động.

Khắp mặt địa cầu, toàn thể nhân loại, ai cũng ngụp lặn trong biển sóng. Suốt ngày đêm, lúc thức như lúc ngủ! Miên man bất tận. Chỉ những người sống nơi hoang dã, xa thế giới văn minh, ngoài tầm với của khoa học, chưa bị “phủ sóng” thì mới bớt được một mớ sóng phát thanh, truyền hình, điện thoại. Bớt một mớ thôi. Không bao nhiêu. Vẫn bị điệp điệp trùng trùng sóng từ trời bao phủ. Vô lượng sóng! Chi chít, đặc kín không gian!

Cảnh tượng không thấy bằng mắt, chỉ bằng nhận thức, gây choáng ngợp, bàng hoàng, và kích động dữ dội trí tò mò, làm tức khắc bật ra, vang dội, câu hỏi chưa từng gặp trong đời:

“Vùng không gian bao quanh ta, quanh mặt địa cầu, được kiến trúc như thế nào để cho phép vô lượng sóng cùng lan tỏa bên nhau, chằng chịt, chi chít, mà không hề bị trộn lẫn, vướng mắc, rối mù? Cứ đường ai nấy đi, rất thênh thang?”

Câu hỏi khó thì phần thưởng lớn. Trả lời, giải đáp đúng là ý thức được cấu trúc kỳ diệu, tinh vi đến rợn người của Vũ Trụ. Nó có sẵn một hệ thống giao thông để vô lượng phân tử, vi phân tử có thể cùng di chuyển tự do, an toàn xuôi ngược bên nhau, và tất cả cùng di động với tốc độ ánh sáng.

2. DARK MATTER: Finding the Most Elusive Matter of the Universe


Hệ thống giao thông kỳ diệu trong không gian – nền tảng cấu trúc của Vũ Trụ – nằm gọn trong một giọt chất đen (dark matter). Nhưng nhân loại chưa có hân hạnh thấy chất đặc biệt này.

Trong những lò thí nghiệm tối tân nằm sâu trong lòng đất, các khoa học gia làm giàn “hứng” chất đen – thực ra là hứng những phân tử nguyên thủy, được coi là những phân tử nhỏ nhất trong trời đất, là đơn vị nền tảng của Vũ Trụ – đang từ không gian phóng xuống.

Hứng như thế suốt hơn ba thập niên, vẫn xôi hỏng bỏng không. Nhiều vị nản lòng, muốn bó giáp quy hàng.

Cần dùng một phương thức truy lùng, điều tra mới.

Chất đen khó thấy, khó bắt, nhưng dấu vết bằng cớ về sự hiện hữu của nó thì nhiều, tràn ngập khắp Vũ Trụ. Dựa trên những dấu vết thấy được mà suy ra “dung nhan” của nó. Nhờ phương pháp mới này ta có thể vẽ được cấu trúc của một giọt chất đen nhỏ bằng giọt sương mai. Đó chính là cái kiến trúc kỳ diệu cho phép vô lượng phân tử, vi phân tử có thể cùng di chuyển tự do, an toàn xuôi ngược bên nhau. Tất cả cùng di động với tốc độ ánh sáng.

Và câu hỏi lớn được trả lời.

3. LIGHTNING SPEED: How Light Moves towards Every Direction at All Times


Hệ thống giao thông kỳ diệu trong từng giọt chất đen – cấu trúc căn bản của Vũ Trụ – cho phép vô lượng vi phân tử, sóng radio, sóng ánh sáng di chuyển an toàn, xuôi ngược tự do… nhưng chúng – thí dụ như photon của ánh sáng – di chuyển như thế nào, bằng cách nào để có thể lan tỏa cùng lúc về mọi hướng?

Để trả lời câu hỏi này phải nghiên cứu thêm về cách lan tỏa đặc biệt theo dạng sóng hình cầu của những phân tử ánh sáng photon.

4. NEW LAWS OF MOTION and What Causes Thing to Move in the Universe


Sau khi nghiên cứu về những di động cực nhanh, cần trở lại tìm hiểu một chuyện căn bản: giây phút khởi hành. Cái gì? Nguyên nhân nào khởi động một sự di chuyển?

Phim trình bày, phân tích về những khám phá, những luật chi phối sự chuyển động hiện có và đóng góp thêm những luật mới rất cần thiết cho những công trình nghiên cứu trong tương lai.

5. MOTION IN CHAIN OR CHAIN MOVEMENT


“Chuyển động dây chuyền” ít được chú ý, không được dành cho những công trình nghiên cứu quan trọng, nhưng lại mang những đặc tính độc đáo, cá biệt, đóng góp vào sự hình thành những hiện tượng lạ lùng nhiều khi có vẻ huyền hoặc trong Vũ Trụ. Nó giúp phân tử ánh sáng, phân tử radio và vô lượng phân tử, vi phân tử trong trời đất di chuyển cực nhanh, nhiều khi có vẻ như tới mục tiêu tức khắc.

Phim nêu rõ thành tích của “chuyển động dây chuyền”, ghi nhận những đóng góp quan trọng của nó vào sự vận hành của Vũ Trụ, xác định vị trí đặc biệt, không thể thiếu của nó trong ngành vật lý học.

6. E = mc² THE MYTH AND THE TRUE MEANING


Phương trình lừng lẫy của Einstein này hầu như ai cũng biết, nhưng lại ít người hiểu. Không hiểu, hiểu nhầm dễ đưa đến những lời giải huyền hoặc, phi lý, phi vật lý.

Phim phá bỏ những huyền thoại, nêu rõ ý nghĩa thực của phương trình. Nó không là phương trình để tính năng lượng mà là công thức nêu ra tiến trình chuyển hóa vật chất thành năng lượng.

Phim cũng nêu ra đóng góp rất quan trọng cho vật lý của phương trình: Nó giải đáp một câu hỏi lớn khác về sự vận hành của photon, về sóng ánh sáng.

Ánh sáng lan tỏa cùng lúc về mọi hướng, lan tỏa cực nhanh – nhanh nhất trong trời đất – chuyện ấy ta biết rồi. Nhưng nhờ cái gì, sức tác động nào mà nó vừa khởi hành đã tức khắc đạt tốc độ ánh sáng? Phim phân tích rõ câu trả lời tiềm ẩn trong E= mc².

7. EINSTEIN’S DEFINITION OF GRAVITY NEEDS PHYSICAL FOUNDATION


Einstein lập được thuyết hay và đúng về Hấp Lực, nhưng lại đưa ra một định nghĩa cầu kỳ, khó hiểu, hoàn toàn phi vật lý.

Phim dựa trên một thí nghiệm khi lập thuyết “Bàn chân giẫm trên trampoline” để bổ túc, sửa chữa và hoàn chỉnh thuyết bằng cách thiết lập cho nó một nền tảng vật lý vững chắc.

8. SPECIAL RELATIVITY THEORY: An Adorable Mistake of Einstein


Chuyện sai đúng của Einstein trong thuyết Tương Đối Đặc Biệt là vấn đề lớn nhất, được tranh luận nhiều nhất hơn trăm năm nay. Nhưng tìm giá trị đích thực của thuyết không phải là chuyện quá khó khăn.

Quan sát là cảm nhận ngoại vật bằng thị giác. Có những luật thiên nhiên chi phối và hạn chế khả năng của thị giác. Thấy một vật là chỉ thấy hình ảnh, ảnh ảo của vật đó. Khoảng cách, góc nhìn, độ phản quang, tốc độ của vật có thể biến dạng hình ảnh cuối cùng của nó đến mắt ta.

Lập thuyết Tương Đối Rộng, dựa trên hình ảnh quan sát được để tính toán, suy diễn ra sự thực (kích thước, biến cố, tốc độ v.v…) ở địa phương có mục tiêu quan sát thì tuyệt đối đúng. Kết quả luôn luôn chính xác.

Nhưng tiến xa hơn, lập thuyết Tương Đối Đặc Biệt – Tương Đối Hẹp – dẫn tới kết luận “Vận tốc con tàu biến đổi vận tốc của thời gian” thì nguy cơ bị sai lầm rất lớn.

Phim đề cập đến những luật chi phối thị giác căn bản bị Einstein bỏ quên hoặc không tôn trọng dẫn tới hậu quả tai hại: người quan sát KHÔNG THỂ THẤY những hình ảnh, biến cố, dữ kiện mà Einstein TƯỞNG LẦM là anh ta đã thấy.

Lập thuyết trên những yếu tố ảo, sản phẩm của một thí nghiệm tưởng tượng đầy khiếm khuyết thì thuyết phải sụp đổ.

9. THE MAKING OF THE UNIVERSE


Ngoài phần phân tích tiến trình hình thành của Vũ Trụ, phim gợi cảm hứng cho nỗ lực tìm năng lượng sạch và phong phú từ Chất Đen, một chất, khi ở dạng nguyên thủy, thì cực kỳ khó thấy, khó tìm, nhưng chứa đựng nguồn năng lượng vô tận và có sức chuyển vần cả Vũ Trụ.

***
Chín cuốn phim ngắn, thời lượng trên dưới 10 phút, chỉ thể hiện một phần nhỏ kết quả công trình nghiên cứu suốt hơn một thập niên. Muốn trình bày hết những cái đã thấy, đã tìm được, cần nhiều bộ nữa.

Nhưng việc làm phim, dù vui và đôi khi hào hứng, không hợp với tuổi già. Vừa tốn kém vừa phung phí thì giờ quá mức. Tiền bạc là chuyện nhỏ, nhưng thời gian không thể coi thường. Nhất là thứ thời gian gắn chặt trên một thân thể đã bị dùng quá tải hơn 80 năm.

Đành thay đổi chiến thuật, chiến lược. Tạm dừng binh ở đây, chờ quân tiếp viện.

Trong khi chờ đợi, sẽ trở lại bàn viết, hoàn tất tác phẩm cuối cùng:

“RONG CHƠI MẤY CÕI VÔ CÙNG”

(Tìm thấy cấu trúc và sự vận hành của Vũ Trụ khi thơ thẩn trong vườn sau)

Những độc giả lười biếng thấy nhan đề, tiểu đề sách như thế chắc mê ngay. Không cần lò thí nghiệm vĩ đại, viễn vọng kính khổng lồ, chỉ cần một mảnh vườn sau?...

Thực thế bạn ạ. Tôi không khoác lác, mánh mung để dụ khị bạn mua sách đâu. Bản thân đã kinh qua nhiều lần “nghiên cứu” theo phương cách vô cùng nhàn nhã như thế.

Trong vườn sau, nơi công viên, trên đường dạo quanh hồ rợp bóng cây, bạn giữ thần trí trong veo, xua hết đi đám bụi trần lấm bê bết chuyện nhân gian.

Chính trong sự tịch mịch tuyệt đối của trí óc rỗng không, bạn sẽ cảm nhận được nhịp vận hành, những biến thái đang vần vũ hình thành trong khắp cõi mênh mông, những chuyển hóa, di động miên man muôn triệu năm dài trên thăm thẳm trời cao.

Sẽ nghe được mạch sống tươi non, rào rạt, tưng bừng của vô lượng phân tử trong lòng cây cỏ, lá hoa.

Lê Tất Điều
(10 tháng 7/ 2023)

Thứ Tư, 15 tháng 3, 2023

Thực Hiện Bộ Phim Về Vật Lý

“An Adorable Mistake of Einstein”:

Khoa học thực dụng cực kỳ tiến bộ, khoa học lý thuyết nhiều món giậm chân tại chỗ, những chỗ cách đây cả trăm năm. Chỉ vì khoa học thực dụng sai đúng kiểm chứng được ngay, trong khi khoa học lý thuyết thì rất khó, nhiều khi không có cách xét nghiệm thực hư.

Thế nên, hôm nay, chúng ta vẫn phải sống chung với nhiều kiến thức lạ lùng:

“Hấp Lực là đường cong không gian/thời gian do các khối thể chất di động tạo ra”.
“Hiện tượng thời gian giãn nở có thực”.

“Bay nhanh như ánh sáng thì thời gian ngừng trôi”.

“Vũ trụ hình thành bắt đầu bằng một nguyên tử gốc nhỏ bằng viên sỏi, chứa đựng cả thời gian không gian, nở ra tới đâu là phân phát không gian, thời gian tới đó”.

V. v…

Sợ gia tài tiền nhân để lại chưa đủ nặng, nhiều khoa học gia đương thời còn sáng tạo thêm những hiện tượng dị kỳ.

“Giữa hố đen có ông thần Singularity ngồi hút muôn vật xuống với sức hút mạnh khủng khiếp khiến ánh sáng cũng không chạy thoát.”

“Hai hố đen sát nhập, tạo sóng hấp lực, gợn sóng trong không gian, thời gian, lan tỏa khắp trời hàng tỉ năm mới lan tới trái đất.”

“Trong chân không có một năng lượng cực mạnh gọi là “năng lực của khoảng trống tuyệt đối.”

Mới đọc, ngạc nhiên và buồn cười, ngờ rằng các nhà thông thái muốn tranh tài với văn sĩ khoa học giả tưởng. Thấy ngộ nghĩnh, vui vui và vô hại, lại tưởng có phần ích lợi cho việc giải trí.

Khi tìm hiểu thêm, mới biết mình cạn nghĩ.

Cứ cố tưởng tượng ra “đường cong không gian, thời gian”, những phi thuyền có thân tàu bay nhanh như ánh sáng, nhưng trong lòng tàu thời gian lại… ngừng trôi, những đợt sóng Hấp Lực do hai hố đen nhập một tạo thành, vượt đường trường hàng tỉ năm ánh sáng vẫn còn dư sức xô vào các dụng cụ trong lò thí nghiệm LIGO, khoảng không tuyệt đối lại chứa đầy năng lực, v.v… là thấm đòn ngay. Suy nghĩ xì khói ra lỗ tai, đầu óc bị hành hạ thật dã man vẫn không văng ra tí ánh sáng, kết quả nào.

Thấy nguy, ta khôn hồn ngừng lại, chịu mang tiếng ngu dốt, bỏ của chạy lấy người, thì thoát.

Nhưng sinh viên, học sinh bây giờ và mai sau đâu có được tự do trốn chạy như thế. Bị gắn chặt trên ghế nhà trường, các em phải vận dụng hết tâm trí để cố hiểu, cố học những điều vô cùng rắc rối mà lại sai sự thật. Đứng trên bục giảng, thầy cô cũng vận dụng tất cả khả năng giảng huấn để vô tình ngụy biện, truyền bá cho bằng được những lý thuyết hoang tưởng, huyền hoặc, phi vật lý.

Vừa giận vừa thương. Giận nguồn gốc của những điều nhảm nhí. Xót thương tâm trí trẻ thơ bị nhồi nhét những kiến thức sai lầm. Muốn đem hết sức mình làm giảm đi những giờ khắc vô ích, tai hại cho cả thầy lẫn trò.

Nhưng những vấn đề khoa học, viết chưa đủ, cần làm thêm những phim ngắn, trình bày mọi chuyện rõ hơn. Tôi quyết định thực hiện một bộ phim. Trong hoàn cảnh thiếu nhân lực, tài lực, dù gắng hết sức mình, vẫn khó tạo được những sản phẩm vừa ý mình, hợp ý người. Kính mong các bậc trưởng thượng, bằng hữu, và bạn đọc bao dung cho những vụng về, sơ sót.

Đây là phim đầu tiên. Xin quý vị tiếp tay phổ biến. Sự thật được lan tỏa rộng, sẽ cuốn đi những rác rưởi, bảo vệ sự tinh khiết cho kho tàng kiến thức chung của nhân loại.

Lê Tất Điều
(Mùng một Tết Nhâm Dần)

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2022

Vũ Trụ Hình Thành Như Thế Nào?

 

Hôm trước, một cô em đi chợ về, ghé qua, cho hai trái dừa. Chiều nay oi bức, tạm gác mục cà phê, ta thưởng thức hương vị ngọt ngào của đất nước quê hương, và nhân tiện bàn một vấn đề muôn đời không nguội lạnh:

Vũ trụ hình thành như thế nào?

Tạm quên “Big Bang” và những thuyết cao siêu về gốc nguồn Vũ trụ đi, sẽ thấy trái dừa, trái cam… đưa ta đến gần sự thật rất nhanh, rất tự nhiên.

Vũ trụ đầy nhóc thiên thể, tinh cầu, hành tinh… khô cằn đất đá, nên có vẻ là một khối khoáng sản vô sinh khổng lồ. Nhưng nó đang nở lớn, không như đất đá mà giống một thực thể hữu sinh. Để cục đá cạnh trái cam, thấy ngay đá không đủ điều kiện là một vũ trụ. Vinh dự ấy phải dành cho trái cam trên cành. Như vũ trụ, trái cam đang nở lớn.

Vũ trụ cam thành hình như thế nào?

Một cành cam vươn tới vùng không gian tương đối trống rỗng. Mầm nguyên thủy của trái cam bung ra, phát triển. Mầm lớn dần thành trái nhờ nhựa cây nuôi. Nguồn dinh dưỡng từ cây, cành, qua cuống, tuôn vào, lan tỏa theo dạng sóng hình cầu, đưa sự sống, sức lớn dậy, đến từng phân tử trái cam.

Chất đen trong Vũ trụ, như nhựa cam, nhựa của vô lượng cây trái trên thế gian, cũng đang từng sát na làm nó nở lớn. Giống nhau lắm.

Chắc bạn suýt nhảy nhổm. Nhưng là người đầy bản lãnh – giận dữ, sợ hãi hay khinh ghét không lộ ra – bạn vẫn an nhiên, bình thản. Tôi còn tinh ý lắm bạn hiền ơi, chỉ một thoáng ngẩn ngơ phớt qua trong cái nhìn của bạn, tôi biết bạn bắt đầu băn khoăn về tình trạng tâm thần của anh nghiên cứu gia nhảy dù này.

“Coi bộ cha nội già lão lẩm cẩm rồi”, bạn nghĩ, “những bộ óc siêu phàm phải cần những món kỳ diệu như Nguyên tử mầm, Nguyên tử gốc chứa cả không gian lẫn thời gian… để diễn tả sự hình thành của vũ trụ… giờ lão này cả gan bảo tiến trình ấy cũng tầm thường như sự sinh trưởng của trái cam! Nghe thật chướng tai!”
Nghĩ thế, bạn đã bất công với cam và vô lượng cây trái trên thế gian này.

Sự sinh sôi nẩy nở của cỏ cây hoa lá cũng kỳ diệu, không tầm thường chút nào. Một hột cam nhỏ nhoi, hấp thụ đất nước, mọc rễ lớn dần thành cây cam. Từ một cành cam, mầm nguyên thủy trái cam xuất hiện, lớn dần thành trái. Cấu trúc trong lòng Vũ trụ có vẻ lộn xộn, không ra kiểu cách gì. Trái cam thì được “thiết kế” rất gọn gàng, nghệ thuật, chỗ là hạt, chỗ là múi… muôn triệu trái nguồn gốc khác nhau cùng một khuôn mẫu, hình thành theo cùng một tiến trình. Loài người văn minh tuyệt đỉnh, chưa có ai biến từ cõi không ra một hạt táo, hạt cam nào. Công trình kỳ diệu ấy còn xa tầm với của con người.
Nhưng ta vẫn coi thường nó, vì nó gần gũi, quen thuộc quá, chẳng có vẻ cao siêu, huyền diệu tí nào.

Coi thường cái quen thuộc, gần mình là thói thường (Gần chùa gọi Bụt bằng anh, Thấy Bụt hiền lành bế Bụt đi chơi!). Đã thế, ta còn ham tôn vinh quá đáng những món chưa biết, chưa hiểu, ngoài tầm hình dung, tưởng tượng của ta.

Đức ông Georges Lemaître quả quyết rằng Vũ trụ khởi đầu là một Nguyên tử gốc, nhỏ như viên sỏi, chứa cả không gian lẫn thời gian, rồi nở đến đâu thì sinh thêm không gian thời gian đến đó.
Tôn sùng Vũ trụ đến mức ấy thì hơi quá.

Tạo hóa có ba tác phẩm lớn: không gian, thời gian và vũ trụ. Em bé Vũ trụ vừa chào đời nhỏ tí teo bằng viên sỏi đã cướp công của Ngài, giành phần làm mẹ (đẻ và nuôi cho khôn lớn) cả không gian lẫn thời gian! Đến cái công sinh ra Vũ trụ, Đức Ông – người của thế giới thánh thần – cũng không nêu tên một đấng Tối cao nào. Hay là Vũ trụ đã tự sinh luôn, Tạo Hóa chỉ có công ngồi chơi xơi nước?

Nhưng nếu hiểu ngầm công tạo sinh Nguyên tử gốc kiểu Big Bang chính là của Tạo Hóa thì còn kẹt nữa. Ta sẽ hoang mang, sinh lòng bất kính. Vì ta thấy Tạo Hóa hơi ngớ ngẩn, buồn cười.

Tạo vô lượng trái cây trên thế gian, xưa nay, Ngài vẫn dùng một khuôn mẫu: rễ cây tổng hợp biến chế nước đất thành nhựa lan khắp lá cành, tuôn vào mầm trái, giúp nó nở ra, lớn dần. Vậy mà để tạo thế gian, Ngài lại chọn khuôn mẫu, phương pháp khác hẳn: Cho một nguyên tử gốc nhỏ bằng viên sỏi vô sinh, nổ tung thành Vũ trụ khổng lồ, bây giờ còn tiếp tục phình ra, to thêm, miên man, bất tận!
“NỔ” ra, dù nhỏ hay to, khác với “NỞ” ra.

Sau tiến trình nổ, trái bom chỉ còn những mảnh vụn có tổng hợp thể tích không lớn hơn thể tích nguồn. Viên sỏi vô sinh sau “big bang” sẽ tiếp tục hiện hữu là cát bụi. Muốn nó “nổ” mà không bị hủy hoại chỉ còn trông chờ ở những ơn phép nhiệm mầu, huyền hoặc của các đấng thiêng liêng. Nhưng Đức Ông Georges Lemaître tế nhị, nhất định không chịu mượn tay thánh thần, chỉ trông chờ ở luật vật lý thôi. Thế nên thuyết của Ngài mới bị Einstein chê: “…vật lý ngài (Georges Lemaître ) dùng quá tồi – thuyết Big Bang phi lý, không thể lý giải, chấp nhận được trên phương diện vật lý”.

Einstein thông minh cỡ nào ta biết rồi. Không tin cụ, khăng khăng tin thuyết Big Bang là vô tình can tội báng bổ đấng Tối cao. Tội chê Tạo Hóa già nua lẩm cẩm, vừa ra tay sáng thế đã vi phạm luật vật lý do chính mình ban hành!

Big Bang không những xúi dại ta coi thường sự thông minh khôn ngoan của Tạo Hoá, tin vào những chuyện huyền hoặc phi vật lý mà còn biến ta thành những sinh vật kiêu căng vô lối.

Ta hồn nhiên tin Vũ trụ (của ta) to nhất, là thực thể duy nhất. Từ thời ban sơ, khi Vũ trụ nhỏ như viên sỏi, nó đã duy ngã độc tôn. Ngoài nó là tuyệt đối “không có gì”, một tí teo không gian, thời gian để làm cảnh cũng không. Trong hai cõi vô cùng – vô cùng nhỏ và vô cùng lớn – ta thuộc về đỉnh cao nhất của cõi lớn.

Nếu chẳng may Vũ trụ của ta có một hay nhiều bạn đồng hành, hoặc tập thể vũ trụ cỡ này lại đang cư ngụ trong một vũ trụ khổng lồ khác, rồi những đợt khổng lồ khác nữa… cứ thế miên man bất tận thì sao!? Cơ duyên chúng ta lửng lơ ở khoảng giữa hai cõi vô cùng lớn lắm.

Thuyết của Đức ông Georges Lemaître coi bộ nguy hiểm quá. Tin nó ta sẽ hố nặng. (Các khoa học gia của CERN tin nó, đã hố lại còn “lỗ” nặng, tốn bạc tỉ và biết bao thì giờ công sức mới gặt hái được một con số không to đùng.)

Vậy ta cứ tin vào Tạo Hóa cho nó chắc.
Ngài không nói gì, “vô ngôn” kinh niên, nhưng luôn luôn dí vào mắt ta những bằng chứng cụ thể, giúp ta dễ dàng hình dung tiến trình, cảnh tượng Vũ trụ hình thành.

Hãy tưởng tượng một Vườn Địa Đàng ở đâu đó bên ngoài Vũ trụ này.

Trên cành cây cổ thụ – tạm gọi là Cây Vũ trụ – một ngày kia, ngày khai thiên lập địa của chúng ta, mầm một quả Vũ trụ nẩy ra.
Khởi đầu, nó nhỏ như hạt đậu, viên sỏi. Nhựa cây, dưới dạng chất đen, tuôn vào, làm nó nở ra, to lên – như muôn triệu trái cây trên thế gian.

Tiến trình nở của trái cam, trái dừa hay trái Vũ trụ cũng vậy, thật kỳ diệu nhưng cũng thật giản dị. Nhựa cây tuôn tràn vào lòng trái dừa, lan tỏa theo sóng hình cầu, đẩy phần vỏ nở ra mọi hướng. Sức đẩy ấy chậm dần khi đụng áp suất bên ngoài. Vô lượng phân tử trong nhựa cây khi bị cản đường lập tức chồng chất, tích tụ thành lớp vỏ dày, cứng dần.
Trước nhanh sau chậm. Khi sức đẩy cân bằng sức cản, trái ngừng phát triển.

Hiểu cách hình thành – và còn đang thành hình – quan sát tiến trình nở lớn, ta biết thêm cách Vũ trụ vận hành.

Nghiên cứu từng chi tiết những chuyển vần trong lòng Vũ trụ là việc của nhiều khoa học gia, nhiều thế hệ. Chỉ xin nêu ra sơ đồ đã phác họa được.

Như đã trình bày nhiều lần trước đây: Mỗi sát na Vũ trụ nhận một khối lượng chất đen khổng lồ để tiếp tục nở lớn. Với tốc độ tuôn chảy vào lòng Vũ trụ cực nhanh, chính khối chất đen này tạo ra sức đẩy cực mạnh lan tỏa theo dạng sóng hình cầu về mọi hướng, mọi nơi, tác động tới cả những điểm xa xôi trên bờ Vũ trụ.

Luồng chất đen liên tục tạo áp lực, xô đẩy tất cả các khối thể chất trong không gian về mọi hướng, giống như những dòng sông, dòng suối cuốn đi tất cả những món nổi trôi trong nước. Nhưng khác với nước chỉ đẩy lên bên ngoài, phần vỏ của mọi vật, chất đen với phần thể lỏng đặc biệt luôn luôn thẩm thấu vào tận trung tâm mọi vật thể, đẩy lên tất cả những phân tử, nguyên tử của khối vật chất, khiến chúng di chuyển, xoay tròn và còn bay quanh quỹ đạo của nhau.

Mang theo vô lượng phân tử nguyên thủy, trên bước du hành, nó tạo sinh vật chất, vật thể, thiên thể, thiên hà…

Biết những chuyện ấy để làm gì đây?

Riêng tôi, để thỏa trí tò mò và cũng để ước mơ. Mơ rằng một ngày không xa, cái năng lực chuyển vần cả Vũ trụ ấy lọt vào mắt xanh của những thiên tài. Nhân loại sẽ có cơ may ngừng tay đào ngoáy, đục đẽo làm khô héo địa cầu mà ung dung hái năng lượng chất đen từ trời, đem về thắp đèn, thổi cơm, nấu nước, thay cho xăng nhớt chạy máy móc, tàu, xe v.v...

Bốn tỉ năm nữa, mặt trời hết xí quách, nguội lạnh. Nhân loại ngày ấy sẽ không hoảng loạn, vẫn bình chân như vại. Đã thế còn vừa hào hứng vừa bùi ngùi tiếc thương, ung dung cùng nhau ngắm những bình minh, hoàng hôn cuối cùng. Ngắm từ bờ biển, đỉnh núi, sa mạc hay vườn sau nhà trên một hành tinh đang được năng lượng chất đen, thay mặt trời, sưởi ấm.

Và đây mới là chuyện vô cùng thống khoái.

Một ngày không đẹp trời, nhân loại thấy dải Ngân Hà xuất hiện những triệu chứng xấu, khu xóm thiên thể của ta bắt đầu lộn xộn, bất an với những vụ đụng độ kinh thiên động địa. Hay đáng sợ hơn, có một khối tinh vân đang ào ào xông tới, đe dọa sự sinh tồn của toàn thể Ngân Hà!

Thay vì bó tay thúc thủ, chịu chết chùm theo chòm xóm, nhân loại chỉ mỉm cười khinh bỉ, rồi tà tà trương lên một cánh buồm vĩ đại. Nương theo chiều gió chất đen, ta ngạo nghễ giong buồm, lèo lái con thuyền Trái Đất phăng phăng tiến đến một bến bờ không gian tuyệt đối an toàn.

Cứ thế, Địa cầu xinh đẹp của chúng ta sẽ hiên ngang hưởng đại thọ cùng Vũ trụ.

Lê Tất Điều
(30/10/2022) 

Phim trong năm 2022:
1) The Big Question
https://youtu.be/PuAfou52bzs
2) Finding Dark Matter 
https://youtu.be/T-p-PYmEvUg
3) How Light Moves Toward Infinnite Direction At All Times 
https://youtu.be/yS4MFdmMaO8
4) An Adorable Mistake Of Einstein  
https://youtu.be/MbA8Ob-p_pk



Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2022

Cỏ Hoang


Như một con sâu nhỏ bé có thể tự bảo vệ bằng bề ngoài kinh khiếp của nó, như một cô gái, thiếu sắc đẹp, hấp dẫn kẻ khác phái bằng một thứ duyên thầm, bằng chính sự không may của mình, ngôi trường của tôi càng ngày càng trở nên dễ thương đối với những người đã từng chán ghét nó trong buổi gặp gỡ đầu tiên. Tất cả những điều đáng ghét, đáng sợ của ngôi trường này dần dần trở thành những sự khôi hài. Rồi sau này, khi những sự kỳ quái của ngôi trường đã hoàn toàn biến mất thì chúng tôi vẫn muốn nhắc nhở lại chuyện cũ như nói đến những kỷ niệm êm đềm, khó quên.

Hồi mới được xây lên, trường chỉ có hai lớp nhỏ bé, thấp và sơ sài như những căn nhà nghèo. Mái tôn thấp và nung nóng đến nỗi tôi có cảm tưởng thà vứt bỏ mái đi ngồi ngay dưới ánh nắng mặt trời còn thoải mái, dễ chịu hơn. Trong những ngày nắng to, nhìn lũ trẻ vừa vuốt mồ hôi vừa cặm cụi làm toán, thỉnh thoảng lại ngừng bút cầm vở quạt phành phạch, tôi nghĩ rằng nếu nhà trường không cho chúng được một số vốn kiến thức thì ít nhất cũng đã dạy chúng một bài học kiên nhẫn và chịu đựng. Ngày mưa thì còn tệ hơn, nước dội ào ào xuống mái tôn, tôi có gân cổ gào to đến mấy chúng cũng chẳng nghe thấy gì, tốt hơn hết là cho chúng ngồi xúm vào một chỗ không bị dột, để chờ mưa ngớt. Và như thế tôi lại còn có thì giờ để lo bảo vệ sổ sách khỏi bị ướt sũng.

Ngày đầu được gửi đến làm việc ở đây tôi đã đi hàng giờ để kiếm cái bảng tên trường mà mãi ba năm sau mới có. Rồi tôi mất nửa giờ nữa để đứng lặng nhìn ngôi trường, tồi tàn quá sức tưởng tượng, cứ phân vân chẳng hiểu kẻ chỉ đường có chủ tâm chơi xỏ hay đánh lừa mình không.


Một cái hàng rào để định ranh giới của ngôi trường cũng không có. Trường nằm chung trên một phần đất rộng với trạm y tế độc nhất của vùng ngoại ô, và một cái chợ nhỏ. Sân trường đầy cỏ hoang và những cây gai um tùm, đó là nơi tụ họp của các loài ngan, ngỗng, vịt, gà, chó, heo. Người lao công trông coi ở đây già yếu đến nỗi không ai nỡ nặng lời với ông ta. Ông ta chỉ cầm nổi cái chổi khi đã tỉnh rượu, và thường thường ông ta chỉ tỉnh rượu khi đã lên giường ngủ được một vài giờ, thời gian độc nhất có thể khiến ông ta tạm xa chai rượu.

Những ngày làm việc sau đó tôi phải đối phó với đủ thứ chuyện bất ngờ. Có nhiều lúc tôi ngẩn ra không biết phải phản ứng như thế nào cho hợp. Trong tất cả những sách vở viết về khoa sư phạm mà tôi đã được đọc, tôi chưa thấy một tác giả nào nêu ra trường hợp một ông thầy đang hăng hái giảng bài phải giật mình vì thấy một con heo đùng đùng chạy vào lớp mình. Con heo to lớn, dẫn theo một bầy con lít nhít, kêu eng éc, chẳng coi ai ra gì. Lớp tôi có hai cửa nên đã trở thành con đường giao thông ngắn nhất từ sân trường về chuồng của lũ heo, ở trong một căn nhà hàng xóm của nhà trường. Thấy tôi vô tình đứng cản đường đi của mẹ con nó, con heo đứng lại kêu to phản đối, mấy con heo con nhân dịp đó, bỏ hàng ngũ chạy đại vào những khoảng trống giữa hai dãy ghế học trò ngồi. Ấy thế là cái trật tự của lớp mà tôi đã mất bao công lao mới tạo được đột nhiên bị phá vỡ. Lũ trẻ nhao nhao nhảy ra khỏi chỗ để chống lại sự xâm lăng của bầy heo, dĩ nhiên, tôi cũng phải ngừng giảng bài để hợp tác với lũ học trò. Lớp học tràn đầy một không khí kỳ quái với tiếng trẻ la hét, dậm dọa, xen lẫn tiếng heo kêu. Mấy con chó cũng thi nhau chạy vùn vụt qua lớp luôn luôn. Về sau tôi không dám mở to cửa lớp ra nữa và lúc nào cũng phải để ý canh chừng để xua đuổi kịp thời những sự bất ngờ này.

Cái chợ ở ven trường thì lúc nào cũng ồn ào và có nhiều vụ cãi nhau hơn cả các chợ khác. Khi có vài bà bán tôm bán cá đùng đùng nổi giận mà chia làm hai phe đấu khẩu, chửi rủa nhau thì khó mà ngăn những câu nói của họ khỏi bay vào lớp học, dù tôi có đóng hết các cửa lại. Tôi bắt lũ học trò ngồi thật nghiêm trang, và cố gắng giảng cho chúng nghe những điều thật đặc biệt, nhưng vô ích, một vài câu chửi gợi lên những hình ảnh quá tục tĩu vẫn làm cho vài đứa bật ra khúc khích cười.
Phải mất hàng hai ba tháng trời tôi mới triệt được cái bệnh văng tục, bệnh ở bẩn của lũ học trò. Nhưng đó chỉ là những điều vụn vặt, khiến tôi bực mình, không gây nên sự chán nản.

Cái việc gây nhiều khó khăn, cản trở cho công việc của tôi, chính là đời sống của người dân ở đây. Ngoài một số rất hiếm người khá giả, thì người dân ở đây đều nghèo khổ. Họ không có một cơ sở hay việc làm vững chắc như người thành phố hay có một việc làm hiền lành như người miền quê. Họ như từ bốn phương tụ lại, đại diện cho khắp nơi và sống bằng đủ các thứ nghề, lương thiện có mà không lương thiện cũng có. Như những cây cối mọc chen chúc trong một khu vườn hoang họ vươn lên, tìm sống bằng các phương tiện hợp với khả năng họ, trong tầm tay họ. Và họ đã tạo nên được cái vẻ muôn mặt, hỗn độn, bí mật của một vùng ngoại ô cằn cỗi.

Vì thế, tôi không thể giảng một bài đức dục nào mà lại hoàn toàn không động chạm đến nghề nghiệp, tật xấu, hay quá khứ của một ông chủ gia đình. Khi tôi nêu ra một điều tệ hại cần tránh và thấy lũ học trò quay cả về phía một đứa đang cúi đầu ngượng nghịu thì tôi biết ngay rằng ba thằng bé này làm nghề gì. Có lần, sau một hồi hăng hái giảng về sự tai hại của tính mê tín dị đoan và sự láo khoét của mấy ông thầy pháp, tôi phải ngẩn người vì một thằng học trò bỗng đứng bật dậy, chỉ vào một đứa khác tố cáo:
– Thưa thầy, tía anh nầy cũng là thầy pháp, tối nào tía anh ấy cũng đi cúng.

Ðứa học trò có người cha bị tố cáo ngượng ngùng lấm lét nhìn tôi, miệng cười gượng, tay cấu mãi vào một góc vở, đôi mắt nó nhìn tôi để lộ những tia sợ hãi, tuyệt vọng, khổ sở. Thì ra ba nó chính là cái ông thầy pháp đã từng làm tôi mất ngủ, khó chịu. Ðêm đêm, khi cúng bái cho một nhà nào ông ta thường mặc bộ quần áo màu sặc sỡ, khua chiêng đánh mõ om sòm và thỉnh thoảng lại thổi một tiếng kèn ngắn ngủi, quái đản, nghe thật ghê sợ. Tôi vội vàng mắng át đứa kia và quả thực, sau đó, phải chật vật lắm tôi mới có thể làm cho lũ học trò, vừa biết rõ sự bịp bợm của mấy ông thầy pháp, lại vừa tin rằng ba của đứa học trò kia, dù thế nào cũng vẫn phải được kính yêu. Chúng chưa đủ trí khôn để tìm thấy sự mâu thuẫn trong cách giải thích của tôi. Nhưng thế nào mà chả có đứa phân vân. Thành ra tôi đã mở mắt cho chúng để chúng nhìn thấy những sai lầm trên các người sinh thành ra chúng.
Lũ trẻ thường bị rơi vào giữa gọng kìm của một cuộc đời thực tế và một cuộc đời tốt đẹp trong sách vở. Chúng trở nên hiền lành, sợ hãi một cách thật đáng thương.

Nhưng càng mến yêu lũ học trò thì tôi càng tỏ ra nghiêm khắc với chúng. Tôi đã làm ngược lại những điều mà lớp người trước căn dặn tôi: phải tạo một không khí thân mật giữa thầy và trò, phải cho học trò thấy rõ là mình rất thương mến chúng. Nếu tôi cố gắng tạo cho lớp học một không khí quá vui tươi, cởi mở thì sẽ có nhiều đứa học trò của tôi nhìn thấy gia đình chúng là một nơi thật đáng ghét, đáng sợ, đôi khi mang dấu vết xấu xa, tối tăm của địa ngục. Có đứa coi những giờ đến trường là những giờ được nghỉ ngơi sung sướng nhất, bởi vì khi trở về nhà nó phải làm việc quần quật suốt ngày. Khi được giao công việc nhẹ nhàng nhất là việc bế em thì lập tức chúng lại tìm đến sân trường, chơi đùa với lũ học trò ở đây, sung sướng như đang sống trong một thiên đường nhỏ. Tôi cố giả vờ tạo một bộ mặt nghiêm khắc đến thế nào thì cũng không thể làm cho chúng sợ hãi bằng nét mặt cau có của một người cha say rượu khi ông ta cầm trong tay một thanh củi lớn và hung hăng đập lên người chúng như đập lên một kẻ tử thù. Phải thấy cha mẹ mình lầm lỗi và bị hàng xóm khinh ghét một đứa học trò cảm thấy đau đớn, tủi hổ gấp trăm, ngàn lần những khi nó bị phạt ở nhà trường. Có những đứa trẻ quen chịu đựng sự cực khổ đến nỗi lúc nào nó cũng giữ được vẻ thản nhiên, ấy thế mà khi bị ốm nằm nhà, thấy thầy và bạn đến thăm nó lại đâm sững sờ rồi bật khóc nức nở. Tình thương, sự săn sóc đến bất ngờ quá khiến nó ngẩn ngơ, kinh ngạc.

Ðối với những đứa trẻ không được đi học tới năm năm trời thì sự sung sướng của thế giới học trò thường làm chúng khổ sở khi phải rời khỏi học đường. Trường hợp của trò Dũng đã khiến tôi thấy rõ điều này. Ðã có nhiều đứa đang học thình lình phải bỏ ngang để đi học nghề. Nhưng chỉ có cái buồn rầu của trò Dũng trong lần cuối cùng nó rời khỏi lớp học là được ghi đậm trong ký ức tôi.
Cho đến bây giờ, ngôi trường đã được kiến thiết đẹp đẽ, sân trường không còn một sợi cỏ, thế mà mỗi lần nhìn thấy những luồng gió lốc tung cát, chạy quanh trong sân trường, tôi tưởng như vẫn thấy bóng trò Dũng ngập ngừng bước bên đám cỏ hoang, đôi bàn chân đen đủi của nó còn ghi vết trên con đường nhỏ.


Trong buổi học của ngày đầu niên học tôi đã chú ý ngay đến nó. Ngồi ở dãy bàn cuối lớp, Dũng cao hơn các bạn nó hẳn một đầu. Nét mặt nó lúc nào cũng tươi tỉnh, làn da đen xám khiến nó càng có vẻ láu lỉnh, khôn ngoan. Nó quay sang bên phải nhe răng cười rồi lại quay sang bên trái nháy mắt như có điều gì thú vị lắm. Ðầu tiên tôi tưởng nó thuộc loại những đứa trẻ lớn đầu và ngỗ nghịch. Nhưng khi tôi gọi đến nó thì nó lại tỏ ra là một đứa trẻ hết sức lễ phép và ngoan ngoãn. Tôi chưa thấy đứa trẻ nào tha thiết, sốt sắng với công việc của lớp học như trò Dũng. Tính sốt sắng ấy nhiều khi trở nên quá đáng. Tôi vừa hỏi có trò nào viết trên bảng được không thì lập tức Dũng nhỏm ngay dậy. Ngoài cánh tay giơ cao nhất lớp nó còn át các bạn của nó bằng cách nói lia lịa:
– Con viết được, con viết được, thầy cho con viết.

Và tôi vừa gật đầu là nó đã hấp tấp chạy lên bảng để rồi viết ra những hàng chữ ngả nghiêng, leo dốc xuống đèo làm cho cả lớp kêu ầm ĩ vì không đọc nổi. Trong những ngày sau đó Dũng trở thành nguồn vui của lớp học. Trước câu hỏi của tôi, dù khó khăn đến đâu nó cũng giơ tay xin trả lời, và trả lời mười lần sai hết chín. Dũng viết những chữ rất xấu, nhưng nó có tài giữ gìn sách vở. Nó thường chỉ nổi giận khi có một đứa bạn làm dây mực vào sách vở của nó. Thỉnh thoảng nó lại đem tặng lớp học một món quà nhỏ. Và lớp học dần dần có vẻ tươi mát với những cây leo trồng trong một cái bóng đèn điện chứa đầy nước, hay trong một con ốc nhiều màu.

Thỉnh thoảng Dũng lại đem đến lớp một cái búa và mấy cái đinh để sửa lại những bàn ghế quá ọp ẹp, mà bọn học trò nhỏ của tôi thường vin vào đó để lấy cớ cãi nhau.

Dần dần bọn học trò tôi cũng khám phá ra cái tính sốt sắng của Dũng và bắt đầu lợi dụng nó. Chúng giao cho thằng Dũng đủ các việc lặt vặt, nhất là những việc có liên can đến mục vệ sinh của lớp. Dũng nhận làm hết. Ðứa nào có đồ chơi hay một vật dụng gì hư hỏng đều có thể nhờ đến bàn tay sửa sang của thằng Dũng. Có lần nó sửa được cả bộ máy của một chiếc xe hơi nhỏ chạy dây cót, khá rắc rối mà nó mới được mở xem lần đầu. Chủ nhân của chiếc xe khoái quá thưởng công Dũng bằng cách cho nó mượn về chơi hẳn một ngày.

Nhờ cái tài khéo tay này mà Dũng vẫn đứng đầu về môn thủ công. Trong kỳ chấm bài lũ trẻ thường hồi hộp chờ xem tác phẩm của nó. Ðể cho những món nó làm ra thêm phần giá trị, Dũng thường có một lối giấu giếm và pha trò rất khôn khéo. Một lần nó nặn được một quả chuối, tô màu giống hệt như quả chuối thật, nó gói kỹ trong một tờ giấy, và mặc cho mấy đứa trẻ khác chạy theo gạ gẫm, năn nỉ, nó không cho đứa nào xem cả. Gần tới giờ thủ công Dũng mới giở quả chuối ra giơ lên rồi, miệng há tròn, nó giả vờ như sắp đớp quả chuối làm cho những đứa khác cùng ồ lên, phục lăn.

Vì học hành thất thường nên Dũng chỉ đứng hạng trung bình trong lớp, nhưng nó khá thông minh và chăm nên không mấy khi tôi phải trách nó về tội lười. Vẻ tha thiết với việc học của nó hiện rõ nhất khi nó làm một bài làm chậm hơn các bạn, nó cuống quít lên và dù hay dù dở nó cũng cố gắng xin tôi cho điểm. Nếu chỉ vì chậm chân mà nó không được phê điểm thì nó tỏ ra khổ sở, bực bội lắm. Vào những ngày trả bài luận, Dũng có vẻ hồi hộp, lo lắng của một con bạc trước khi biết kết quả tiếng bạc của mình. Cầm cuốn vở luận trong tay, Dũng ngửa mặt lên, đôi mắt nhắm nghiền, miệng lẩm bẩm như khấn khứa, rồi thình lình nó mở bung quyển vở ra để xem điểm. Nếu thấy được điểm khá nụ cười liền cũng bật tung ra, tràn lan trên khuôn mặt đen xạm của nó, làm cho đôi mắt long lanh sáng. Nhấp nhổm trên chỗ ngồi, hai tay nó hích phải hích trái, nó có vẻ muốn cười phá lên, vỗ tay mà rồi không dám. Nó cười với đứa bên phải, khẽ “hì hì” vào tận tai đứa bên trái, và kéo cả cổ áo của đứa ngồi trước mặt để cho thằng kia rõ sự thành công của nó. Có lần tôi phải mắng nó về cái tội đã dám đóng khung, tô màu và vẽ hoa lá xung quanh con số mười điểm mà nó kiếm được nhờ một bài chính tả không có lỗi.

Ðiều đáng tiếc nhất là Dũng làm luận rất dở, bao giờ nó cũng ba hoa đến độ thành lạc đề và chẳng mấy khi được điểm cao. Trong suốt năm học nó chỉ có mỗi một bài thật khá mà lại không được điểm, đó là bài tả một đám cãi nhau. Nó viết kín ba trang giấy, nhắc lại rất trung thành lời nói của hai địch thủ tặng cho nhau. Tuy nó cũng biết loại bỏ những câu quá đáng, nhưng bài ấy vẫn bị tôi kiểm duyệt, giống như những bài văn tả chân thường gặp bước không may.

Quả thực, chưa bao giờ tôi thấy trò Dũng nói chuyện trong lúc tôi giảng bài. Mỗi lần tôi lên tiếng là nó khoanh tay, chăm chú ngước nhìn, chờ đợi. Những lần có một con heo hay con chó nhào vào phá đám giữa lúc tôi đang nói thì Dũng thường nổi giận, nó kêu với vẻ vừa thất vọng vừa tức tối:
– Trời đất ơi!…
Và nó tự động nhảy ra khỏi chỗ, vừa hò hét vừa đuổi theo con vật cho đến cuối sân trường.
Vì là đứa lớn tuổi nhất lớp nên nó cũng thường tỏ ra khôn ngoan, dễ biết ý tôi hơn các trẻ khác. Khi ở các nhà bên cạnh trường có những vụ cãi vả, những vụ đánh nhau, trong lúc những đứa khác đứng dậy, nhìn qua cửa sổ thì thằng Dũng cau có xin phép tôi cho đóng các cửa sổ lại. Nó đã biết những lời thô tục làm vẩn đục cả không khí của học đường. Nó mến thầy, mến bạn, mến lớp học và lúc nào cũng chỉ muốn bảo vệ, che chở cho cái lớp học của nó.

Nhưng học đều đặn được chừng ba tháng thì thằng Dũng bắt đầu đến lớp thất thường, bỏ bê việc học hành. Tôi đã quen với những vụ nghỉ học trường kỳ của lũ học trò. Vào những ngày cuối năm, khi một người Tàu già đội chiếc mũ cói rộng vành bắt đầu bón nhiều phân lên một vườn rau cải nhỏ của ông ta ở gần trường, thì lớp học của tôi bắt đầu thưa thớt. Chẳng phải lũ trẻ không chịu đựng nổi mùi phân bón bốc lên nồng nặc, làm chúng phải vừa bịt mũi vừa học, mà chính vì trong thời gian này, chúng phải đem cái sức nhỏ bé ra để giúp đỡ cha mẹ chúng. Có đứa vừa phải coi nhà vừa giữ em cho cha chúng đem hoa đi bán. Có đứa phải phụ với cha mẹ trong công việc gánh hàng ra chợ. Có đứa phải gạt hết sách vở để suốt ngày cưa sừng làm lược, hay cặm cụi đánh từng con suốt chỉ cho bà mẹ dệt vải. Buổi tối, trong lúc ngồi hóng gió trước nhà, tôi thường thấy hai đứa học trò ngoan nhất của tôi đi bán bánh trên con đường dài, không có ánh đèn, dẫn vào các xóm nhà nghèo. Chúng là con một người đàn bà gốc Trung Hoa sống bằng nghề bán hoa quả lặt vặt. Ðồ đạc của hai đứa trẻ này là một cái thúng có đựng những miếng bánh bò màu trắng, hoặc vàng úa đã cắt sẵn, để thành từng lớp có thứ tự. Mỗi đứa khiêng một đầu đòn gánh, lồng qua quang gánh mang cái thúng. Thằng em đi trước cầm chiếc đèn bão soi đường thỉnh thoảng lại cất tiếng rao. Thằng anh đi sau giữ tiền. Hai đứa giống nhau từ mái tóc, nét mặt đến bộ quần áo. Khi có người gọi lại, chúng vội vàng đặt gánh xuống. Thằng em nhấc ngay cái lồng bàn che bánh lên, thằng anh ngồi thụp xuống, dùng một cái xiên sắt lấy bánh ra, gói vào giấy, trao hàng và nhận tiền. Chúng đã chia nhau từng cử chỉ lặt vặt ấy. Ánh đèn bão mập mờ soi hai nét mặt trẻ lúc nào cũng bình thản, không còn dấu vết tinh quái, nghịch ngợm của những đứa trẻ bình thường.

Có khi lên giường nằm rồi tôi còn nghe tiếng rao của chúng vang lên đột ngột, cô đơn như một tiếng động vừa rơi lơ lửng vào giữa bầu trời mênh mông của miền ngoại ô. Ánh đèn của chúng hắt qua khe cửa nhà tôi tạo thành những vệt sáng dài, vừa run rẩy vừa di chuyển chậm chạp trên tường. Nếu trong buổi học ngày hôm sau đó chúng có không thuộc bài tôi cũng gắng cho chúng điểm trung bình.
Nhưng bọn trẻ này nghỉ học bận việc có định kỳ, một năm chúng chỉ nghỉ một lần thật lâu rồi lại đi học đều đặn. Trái lại, trò Dũng nghỉ vài ngày rồi lại đi, rồi lại nghỉ vài ngày. Mỗi lần đến trường nó vẫn tỏ ra sung sướng, vui vẻ say mê với việc học. Cuối buổi học, trong giờ hoạt động thanh niên nó vẫn hăng hái cộng tác với các bạn để làm vui cho cả lớp. Hoặc nó ca vài câu, kể một câu chuyện, hoặc nó xắn quần ống cao ống thấp, bôi phấn vào mặt, vẽ râu để làm anh hề trong một kịch vui, làm cho cả lớp cười bò. Từ sau bảng bước ra, nó mới nheo mắt, nhe răng, đi khệnh khạng, chưa kịp nói câu gì, là lũ bạn nhỏ của nó đã không nín cười được. Thành ra, những hôm vắng thằng Dũng tự nhiên lũ trẻ mất vui, cảm thấy nhớ. Có đứa tức quá đứng lên tố cáo:
– Thưa thầy, anh Dũng bỏ học đi chơi đấy ạ.
Vài đứa khác lại nhao lên bênh vực:
– Thưa thầy anh ấy ở nhà bế em cho má anh ấy đi chợ.
– Anh ấy phải trông nhà.

Dũng cũng nêu những lý do đó để xin nghỉ học. Tôi đành phải tin nó vì cha mẹ nó chẳng bao giờ chịu đến trường xin phép nghỉ cho con. Một lần gặp thằng Dũng đang loay hoay phụ giúp với một người đàn ông sửa một chiếc xe trong một căn nhà nhỏ, mái tranh, lập chênh vênh ven bờ ruộng, trên con đường vào thành phố, tôi mới biết người đàn ông đó chính là cha Dũng. Ông ta làm nghề sửa xe đạp, xe gắn máy chứ không phải “buôn bán” như ông ta đã ghi trong lý lịch của con. Hai cha con đều mặc những bộ quần áo ka-ki đen đặc dầu mỡ, chắc trước kia màu vàng. Thấy tôi, thằng Dũng vội vàng vứt cả kìm, búa đứng dậy khoanh tay chào, nét mặt hân hoan. Cha Dũng cũng gật đầu chào tôi, mấy sợi tóc uốn quăn xõa xuống cái trán cao có một vết sẹo ngang của ông ta làm cho khuôn mặt ông ta vừa có vẻ dày dạn lại vừa có vẻ phong lưu của một công tử giàu tiền. Ông ta trẻ hơn tôi tưởng. Ông nói với tôi:
– Nhà tôi độ này bận quá, thành ra phải xin thầy cho cháu Dũng nghỉ ít bữa.

Tôi chỉ gặp ông ta một lần ấy thôi. Từ đấy về sau mỗi lần đi qua đây tôi chỉ thấy một mình thằng Dũng đang loay hoay làm việc. Thằng bé khéo léo này đã có thể thay thế cha nó trong công việc sửa xe, vá những lỗ thủng trên ruột xe. Hỏi thăm về cha nó thì nó cho tôi biết là ông ta đi vắng.

Càng ngày nó càng đến trường ít hơn, và mỗi lần đến là một lần nó cuống quít đi mượn vở chép bài. Sách vở của nó bắt đầu mất cả sự sạch sẽ, quần áo của nó cũng không còn gọn gàng như trước. Nhưng nó vẫn vui vẻ, sốt sắng, vẫn ca hát và làm hề cho cả lớp cười, vẫn nhảy nhót khi được điểm cao. Ngoài giờ học, nó lại mặc bộ quần áo đầy dầu mỡ, làm bạn với kìm, búa, với những chiếc xe hỏng.


Buổi trưa, thỉnh thoảng có dịp đi qua căn lều nhỏ của gia đình Dũng, tôi thường thấy nó ngồi trên chiếc chiếu nhỏ, dựa lưng vào một chân cột, dáng điệu nửa thức nửa ngủ. Ðồ đạc, dụng cụ sửa xe xếp ngổn ngang quanh nó. Nó không nhìn thấy tôi vì ngồi quay lưng về phía con đường nhựa mềm ánh nắng buổi trưa, có lẽ nó đang thả tầm mắt mơ hồ qua cánh đồng không, tới những ống khói cao ngất trong thành phố. Những luồng gió nóng như hơi nước trong một nồi nước sôi thổi phần phật vào mái lá, hoặc xoay tròn, bốc cát bụi mù trên con đường đất đỏ chạy ngang cánh đồng. Tôi tưởng như thằng bé ngồi bất động, cô đơn kia không thể nào là thằng Dũng, một đứa trẻ láu táu, vui tính nhất lớp tôi. Bầu không khí, phong cảnh cằn cỗi ở vùng ngoại ô này có thể nung khô tất cả những tâm hồn dịu dàng, vui tươi, và đốt cháy những nguồn hy vọng nhỏ bé. Quả thực tôi không như những người dạy học khác, mong mỏi nhìn thấy sự thành công trong tương lai của đám học trò mình, tôi chỉ muốn lũ trẻ được ngồi học yên ổn và đều đặn trong lớp tôi cho đến cuối năm.

Tôi không đoán nổi trong lúc ngồi cô đơn như thế bé Dũng đã nghĩ gì, mơ đến những điều gì. Nhưng một trong những sự mơ ước của nó, đột nhiên hiện ra trước mắt tôi vào một buổi học, khi nó bị tôi phạt về tội nói chuyện trong lớp. Và ngay sau đó tôi nhìn thấy tất cả nỗi tuyệt vọng của nó. Sự vùng vẫy, phấn đấu, để thoát ra khỏi ngõ bí của nó đầy tính cách mong manh, khờ dại khiến ta xúc động, xao xuyến như khi ta nhìn thấy một con chim non lạc tổ sắp chết vì một trận mưa.
Dũng để một vật gì dưới ngăn bàn, hai đứa bên cạnh nó cùng chụm đầu lại để nhìn. Vừa nói, Dũng vừa cười có vẻ thích thú và hai đứa bên cạnh nó cũng cười theo. Bị gọi tên thình lình, Dũng giật mình đứng dậy, luống cuống khoanh tay. Nó chưa kịp trả lời câu hỏi của tôi thì một trong hai đứa bên cạnh nó đã nói:
– Thưa thầy, anh Dũng khoe cái xổ số anh ấy mới mua.
Rồi nó cố nín cười để giữ giọng tự nhiên:
– Anh ấy nói nếu trúng độc đắc anh ấy sẽ mua cái xe hơi chở cả thầy và hết cả lớp đi chơi và đi coi hát bóng.
Cả lớp cười, vài đứa xì xào:
– Xe hơi nào mà chở được cả lớp…

Dũng có vẻ ngượng, nó mỉm cười và cúi đầu. Nhìn vẻ tiều tụy của nó tôi không nỡ mắng, bao giờ cũng thế, khi biết sắp bị mắng nó thường buồn rầu và lo sợ. Tôi bảo:
– Thôi cất xổ số đi… bao giờ trúng hãy đem khoe.
Dũng tươi tỉnh hẳn lại, đôi mắt nó long lanh tin tưởng, nó đã trở lại vẻ nhanh nhẩu bình thường:
– Thưa thầy, mấy người nghèo hết tiền mua giấy số hay trúng lắm thầy.
– Vậy hả. Ờ, thầy cũng hy vọng sẽ được đi xe hơi của trò Dũng. Bao giờ mở số đấy?
– Chiều nay ạ.

Nó ngồi xuống, trịnh trọng nhét tấm xổ số vào cặp. Tôi vội giảng bài tiếp để chặn đứng cuộc bàn về xổ số đang lan tràn trong lớp. Hình như có tấm vé xổ số trong cặp, Dũng vững tin ở cuộc đời hơn. Suốt giờ học tôi không nhận thấy vẻ buồn rầu thoáng qua mặt nó như mấy buổi học trước. Nó chịu đặt cả hai tay lên bàn nhưng không ngồi yên, thỉnh thoảng lại quay nhìn phải, nhìn trái, môi lúc nào cũng hé như sẵn sàng cười thật to. Cuối giờ, trước khi về học nó còn đi quanh lớp để ngắt lá úa trên những dây vạn niên thanh và siết lại những đầu dây thép gắn vài con ốc vào đầu đinh trên tường. Niềm vui, sự hân hoan của trẻ con thường tràn ra thành các cử chỉ như thế.

Buổi chiều, khi nghe máy thu thanh, tôi nhớ đến tấm xổ số của trò Dũng và ý nghĩ của tôi, tôi mỉm cười như những lần tôi nhớ đến một kỷ niệm ngộ nghĩnh về đám học trò.

Sáng hôm sau, bầu không khí có vẻ oi bức khiến tôi cảm thấy khó chịu. Những đám mây đen mờ che khuất mặt trời báo hiệu một ngày không có nắng. Vùng ngoại ô quá rộng để ta có thể cảm thấy tất cả sự khó chịu của một bầu trời nặng nề. Sức nóng không tỏa từ ánh nắng một cách tự nhiên mà như xuất hiện bất cứ chỗ nào. Sự bình thản, vui vẻ trong tâm hồn tôi hình như bị sự oi bức làm rạn nứt và đã trở thành một cái gì mong manh dễ vỡ.

Buổi học lại bắt đầu bằng vài chuyện lộn xộn. Hai đứa nhỏ ở cạnh nhau, đến lớp còn cãi vả om sòm vì một chuyện đã xảy ra giữa hai gia đình trong ngày hôm trước. Ðứa này bảo bố đứa kia là đồ ăn cắp gỗ và đứa kia tố cáo việc anh đứa này bị người ta đánh vì dám cướp tiền một đám bạc. Một thằng học trò khác thì đem lên bàn tôi một quyển vở chỉ còn độ bốn năm tờ giấy trắng, nó kêu rằng nó không hề xé vở mà chính ba nó đã lấy giấy gói hàng. Tôi không thể nén sự bực mình, tôi đã gửi một bức thư cho ông ta về việc này và ông ta chưa trả lời. Tôi thở dài nhìn đứa trẻ, nó chớp mắt sợ hãi, cả nó và tôi đều lọt vào cái thế đáng chán. Tôi vừa lấy giấy ra định biên thêm cho ba đứa trẻ mấy dòng thì cuối lớp, một đứa đứng dậy báo cáo:
– Thưa thầy, hôm nay anh Dũng lại nghỉ.
– Lại nghỉ. Nó học hành thế thì còn ra làm sao…
Ðứa bé cọ bàn tay phải vào cạnh bàn rồi nói rất nhanh, có vẻ kiêu hãnh vì những điều nó biết:
– Con thấy mấy người lối xóm nói: ba trò Dũng bị tù rồi. Hồi trước ổng mua vỏ ruột xe hơi của mấy người ăn cắp, bị tù mười lăm ngày mới được tha ra. Giờ không biết sao lại bị bắt nữa…
Một đứa khác đứng phắt dậy, vừa xếch lại quần vừa nói như sợ đứa khác nói tranh mất:
– Ba trò Dũng ăn cắp xe gắn máy, thầy. Cả những người khác cũng bị bắt hết, mấy bữa nay rồi thầy.

Sự bất ngờ làm tôi bất động, chỉ biết chăm nhìn vào mắt những đứa trẻ vừa đứng lên nói, những lời nói vừa mở tung bức màn che giấu một thảm kịch. Lớp học hình như không bị xao động một chút nào. Vài đứa định đứng lên nói thêm nhưng tôi ra hiệu bắt chúng ngồi xuống. Chúng yên lặng, khoanh tay, mở mắt chăm chú nhìn tôi, hình như chờ đợi tôi nói một điều gì về việc ba trò Dũng. Tôi nói gì được? Cái sự làm tôi khó chịu, bực bội nhất là nét thản nhiên trên mặt lũ học trò. Chúng đã quen với những sự này đến thế cơ ư?

Ðưa tờ giấy viết thư lên ngang tầm mắt, tôi nhìn chăm chú vào đó để tránh những đôi mắt ngây thơ, khờ dại và bình thản. Tờ giấy chưa có một chữ nào, đang mở dần thành một khoảng trời trắng, rỗng và xa vời. Tôi lấy lại sự thản nhiên bằng một ý nghĩ tàn nhẫn.

Giữa buổi học thì trò Dũng đến. Nó lững thững đi qua cổng trường, hai vai co lên một chút như bị lạnh. Nó không đá chân vào đám cỏ hoang cho những con châu chấu bay vụt lên như mọi lần, trong bộ quần áo đẹp nhất của nó, Dũng có vẻ trịnh trọng. Nó bước vào lớp và nói với tôi:
– Thưa thầy, con xin thôi học.
Dũng đưa ra một cái đơn, chữ viết nghiêng ngả.
– Con phải về tỉnh ở với bà nội.
– Ở đó có trường công không mà về?
– Dạ, thưa thầy, khỏi cần. Con không đi học nữa. Bà nội con ở làng, trồng khoai với bắp.

Tôi cúi xuống đọc lại tờ đơn, phân vân. Dũng nhìn tôi thật lâu rồi chợt quay xuống với các bạn nó, nó đi qua các dãy bàn để thanh toán mọi việc. Trả đứa này món nợ một đồng, cho đứa kia mấy viên bi, trao lại đứa khác chiếc xe hơi hỏng nhờ nó chữa. Công việc đó diễn ra không gây một tiếng ồn nhỏ nào. Lũ trẻ đã giữ được một sự yên lặng lạ lùng.
Dũng trở lại bàn cúi đầu thật thấp chào tôi rồi đi ra, lên phòng hiệu trưởng. Suýt nữa thì tôi mở miệng khuyên nó nên cố gắng chăm học.
Mười phút sau nó trở lại đứng ở cửa lớp học, hai tay nắm vào một bên khung cửa, tần ngần nhìn lũ bạn đang ngồi học, những ngón tay nhỏ của nó cong lại, vuốt nhẹ lên mặt gỗ.
Tôi hỏi:
– Lấy hồ sơ rồi chưa?
– Thưa thầy, lấy rồi, con chờ thầy trả bài thi.
– Bài thi?… à, bài thi toán ấy hả.

Tôi ra hiệu cho nó vào lớp và giở tập bài thi ra. Dũng hớn hở đứng cạnh tôi, chăm chú chờ đợi.
– Thưa thầy, hôm đó con làm đúng hết…
Và chợt nó reo khẽ:
– Ðây rồi… trời! mười tám điểm!
Bài thi nó làm hoàn toàn, chỉ hơi bẩn một chút.
Dũng nắm tờ giấy trong hai tay, nhìn chăm chú vào con số mười tám màu đỏ. Miệng nó, đôi má nó, đôi mắt nó đều chan hòa một nụ cười. Nó giương đôi mắt long lanh nhìn tôi rồi lại nhìn vào bài thi của mình. Rồi chợt nó nghiêng tờ giấy và nháy mắt với mấy đứa bạn ngồi ở bàn cuối cùng, kiêu hãnh mỉm cười với chúng. Nó cứ đứng lặng như thế để tỏ lộ tất cả sự hân hoan của mình. Tôi buột miệng nói:
– Bài này trò làm khá lắm.
Có lẽ chính câu khen của tôi đã làm cho trò Dũng phập phồng muốn khóc khi nó chậm chạp để bài thi xuống bàn. Tôi không đủ can đảm để nói một lời thân mến với nó.

Khi chào tôi lần cuối, Dũng cúi đầu thật thấp như muốn giấu tất cả sự thê thảm trên mặt nó vào đôi tay khoanh lại. Nó trở ra rất nhanh, đá bung mấy viên gạch trên sân trường, nhìn mấy cây nhỏ, mới được trồng ở đầu sân để cho lũ trẻ có bóng mát sau này. Rồi nó cúi đầu, ra khỏi cổng trường.

Dũng là đứa học trò độc nhất mà tôi mong cho nó chóng quên thầy, quên bạn…

Lê Tất Điều