Hiển thị các bài đăng có nhãn Cung Thị Lan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cung Thị Lan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

Vĩnh Biệt Văn Hữu Thi Sĩ Lãm Thuý Mến Yêu Với Muôn Vàn Thương Tiếc - Cung Thị Lan


Maryland ngày 12 tháng 8 năm 2026

Kính thăm quý văn hữu VBVNHN,
Có lẽ quý văn hữu đã biết tin văn hữu thi sĩ Lãm Thuý đã vĩnh viễn ra đi vào ngày 8 tháng 8 năm 2026. Mặc dù Cung Lan đã linh tính những gì sắp xảy ra nên cố gắng liên lạc với chị Lãm Thuý bàn bạc những tác phẩm mà chị thích đăng vào Đặc san VBVNHN 2026. Nhưng, Cung Lan không ngờ chị Lãm Thuý ra đi nhanh đến như vậy. Cung Lan. Những dự định Cung Lan sẽ làm gì cho chị Lãm Thuý trong những ngày tiếp theo …không thể thực hiện khiến Cung Lan cảm thấy đau lòng lẫn ấm ức.
Anh Dương, người bạn đồng nghiệp thi sĩ Lãm Thuý hứa sẽ gửi cho Cung Lan Cáo Phó. Cung Lan sẽ thông báo cùng quý văn hữu ngay sau đó. Sở dĩ Cung Lan chờ cáo phó vì trong e-card chia buồn Cung Lan cần biết chính xác ngày giờ và pháp danh của chị. Mong quý hữu thông cảm cho sự thận trọng này.
Hôm Cung Lan gọi điện thoại bàn với chị Lãm Thúy về hình và các thi phẩm đăng trong đặc san VBVNHN 2026, chị Lãm Thúy có tâm sự với Cung Lan rất nhiều. Một trong những li tâm sự, chị có nhờ Cung Lan nhắn với dịch giả Thái Lan(Thái Nữ Lan )là chị Lãm Thúy đã nhận quà của chị Thái Nữ Lan. Chị Lãm Thúy rất cảm động khi nhận quà của chị Thái Lan. Chị còn nói nhiều điều nữa, kể cả việc chị ủng hộ vị nào đó sẽ trở thành chủ tịch tương lai của VBVNHN. Cung Lan chỉ xin vắn gọn như thế vì ước mơ là một chuyện còn thực tế xảy ra tuỳ thuộc vào thời gian.

Trong lúc chờ cáo phó, Cung Lan âm thầm lưu trữ những lời chia buồn của quý văn hữu vào trang wesite VietPEN. Nếu quý văn hữu có thì giờ theo dõi sẽ biết Cung Lan thường xuyên cập nhật tin, tác phẩm…
Bây giờ, Cung Lan kính mời quý văn hữu xem video Cung Lan mới làm để ghi lại những kỷ niệm cùng thi sĩ Lãm Thuý.

Cung Lan kính chúc quý văn hữu luôn dồi dào sức khỏe, an vui và sáng tác đều đặn

Quý mến,

Cung Thi Lan

Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vô Cùng Thương Tiếc Thi Sĩ Lãm Thúy

 

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2026

Thu Hoài Vọng ( Nguyệt San Kỳ III 2026)

  

(Cung Lan Thực Hiện)

Thu Hoài Vọng

( Đề Thơ tặng chị Cung Lan)

Thu đến chạnh lòng nhớ thuở xưa
Hoài mong tha thiết chợt như vừa...
Vọng về vàng lá hương đưa
Nguyệt San Văn Bút chuyển mùa luyến lưu!

Kim Oanh
Melb.2026

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2026

“Sắp Không? Sắp Về Không?”


“Sắp không? Sắp về không?”

Tiếng nói trong trẻo của M. đánh tan sự im lặng ngột ngạt của căn phòng 740 của bệnh viện nhưng không ai trả lời nó. Thực ra, chị P. đã trả lời “Có!” nhưng tiếng nói quá nhỏ của chị không đủ để thằng bé tin tưởng nên nó lại hỏi tiếp với giọng nài nỉ lẫn cầu khẩn:
“Ông nội sắp về không? Sắp không?”
Lần này chị P. lại khẽ khàng trả lời:
“Có, ông nội sắp về.”
“Ông nội sắp về hả?”
“Ừ, ông nội sắp về!”

Tôi ái ngại nghe hai bà cháu nói chuyện vì tôi hiểu chị P. trả lời qua loa, chiếu lệ cốt làm an lòng M. Thằng bé có lẽ đã vào bệnh viện Idova này thường xuyên và thường thấy chiếc giường của ông nội trong căn phòng 740. Cho nên, hôm nay nó cảm thấy bất an khi không thấy chiếc giường nơi ông nội của nó thường nằm trên ấy.

Chúng tôi cũng cảm thấy bất an như M. Theo lời kể của chị P. và cô em dâu tên T., bác sĩ cho biết ngày hôm nay họ sẽ đưa anh S. đi mổ vào buổi sáng và sẽ đưa anh trở lại phòng sau 2 giờ chiều. Khi đón chị P. cùng em và cháu chị vào bệnh viện, chồng tôi và tôi đề nghị chị đi sớm, trước giờ y tá đưa anh về phòng để anh S. cảm thấy ấm lòng khi được sự chờ đón nồng hậu của những người thân.

Theo dự định, chúng tôi chỉ đến sớm vài phút thế mà chúng tôi đã chờ hơn một tiếng đồng hồ. Chị P. lo lắng, nói tôi hỏi các cô y tá đang trực thêm một lần nữa. Các cô nói anh S. được đưa vào phòng mổ nhưng đến giờ chưa biết tin. Họ gọi cô y tá phụ trách phòng của anh S. Cô đến phòng cho chúng tôi biết là anh S. được đưa vào phòng mổ nhưng kết quả ra sao thì chỉ có bác sĩ mới có thẩm quyền báo cho gia đình bệnh nhân hay.

Sau khi cô y tá này rời phòng, chúng tôi còn lại chơ vơ giữa căn phòng thiếu cái giường bệnh. Một bà Sơ dừng lại trước cửa phòng, hỏi tôi có phải phòng của ông ĐVS. không. Rồi Sơ cầu nguyện cho anh rất lâu. Vài cô y tá đi ngang qua phòng với nụ cười gượng gạo. Họ có vẻ né tránh, ngại chúng tôi đưa ra những thắc mắc mà họ không thể trả lời. Tuy nhiên, thỉnh thoảng họ lại dừng lại, cho M. chiếc bong bóng nho nhỏ hay những viên kẹo và mẩu bánh.

Đến ba giờ (3:00 PM), chị P. sốt ruột, bảo tôi hỏi các cô y tá tại quầy trực tình trạng của anh S. thể nào.

T. khuyên tôi không nên hỏi vì họ chỉ trả lời trong giới hạn cho phép và không thể trả lời thêm những điều họ không chắc chắn. Nếu họ biết, họ tự khắc báo cho mình hay. T. tuy ở Việt Nam mới sang nhưng rất rành về hệ thống y tế. Cô nói rằng: Khi giải phẫu xong, người ta còn phải để trong phòng hồi sức xem tình trạng chắc chắn ổn định mới cho trở lại phòng. Tuy biết những điều T. giải thích có lý nhưng nhìn khuôn mặt đầy lo lắng của chị P., tôi thương cảm nên chiều ý dẫn chị đến quầy các cô y tá hỏi thăm tình trạng giải phẫu của anh. Có lẽ ba cô y tá ngồi tại quầy trực hiểu tâm trạng chúng tôi, ân cần tìm thông tin trong máy computer rồi gọi cô y tá trực và cho chúng tôi biết cô này đang dùng bữa trưa. Cô y tá S. trực phòng anh ĐVS. sẽ đến phòng 740 báo cho chúng tôi tình trạng của anh sau giờ ăn trưa của cô. Chúng tôi hơi ngạc nhiên vì sao giờ ăn trưa của cô y tá khá trễ nhưng không ai nói với ai, lặng lẽ dắt M. về phòng.

M. không hỏi dồn dập như trước nhưng có lẽ nó cũng âm thầm để ý cuộc đối thoại của chúng tôi. Ăn qua loa bánh, kẹo và chơi bóng chỉ trong phút chốc, nó đến bên chị P. nói:
“Muốn coi ông!” , “Muốn xem ông!”
Chị P. thở dài:
“Muốn, mà ông có lên đâu mà xem!”

Rồi chị P. nói với tôi là M. biết nói hai tiếng Việt và Anh rất sõi. Tôi biết là nó không nói nhưng lặng lẽ nghe chúng tôi nói chuyện nên biết rõ là chúng tôi đang lo lắng và chờ đợi như nó. Để xao nhãng sự lo lắng của nó, chồng tôi rủ nó xuống quầy bán thức ăn để mua món ăn mà nó thích.

T. kể cho tôi nghe tình trạng sức khỏe của anh S. đến thời kỳ nguy kịch nhưng bác sĩ cố gắng hết sức dồn cho cuộc giải phẫu hôm nay để cứu sống anh. Họ sẽ dùng thịt của một bên chân lành của anh cho cái chân bị hỏng. Dù cô biết thiện tâm của các vị bác sĩ nhưng cô chẳng an tâm vì linh tính có điềm không lành. Nghe cô nói xong, tôi cảm thấy choáng váng. Tôi không biết mình phản ứng thể nào nếu bác sĩ báo tin xấu. Rồi tôi tự trách mình sao không khéo dọn lịch làm việc bận rộn để có thời gian thăm anh sớm hơn và để không bị cảm giác ân hận như thế này.

Tôi nhớ lời chị P. kể trên đường đi đến bệnh viện, rằng:
“Tối hôm qua chị kể với anh là ngày mai CL ghé đón đưa em vào thăm anh, anh ấy vui lắm. Anh còn hỏi CL thăm anh à?”

Bấy giờ trong lúc ngồi chờ chị còn nhắc lại khiến tôi càng thấy buồn và trách mình nhiều hơn. Tôi không bao giờ quên những email anh S. gửi cho tôi kèm theo những video clip nhạc mà anh và chị P. hát nhưng mà tôi thực sự không có thì giờ để thưởng thức trọn vẹn. Những lần anh chị hát trong những chương trình Văn Nghệ gần đây, tôi chỉ âm thầm đến thưởng thức rồi vội vã ra về trước khi chương trình chấm dứt chứ không có thì giờ để gặp họ và chào tạm biệt.

Chồng tôi và M. trở lại với các gói bánh hamburger và khoai tây chiên. M. không mặn mà gì với chuyện ăn uống. Nó ăn vài miếng rồi bỏ thùng rác. T. đề nghị lần sau không cho nó vào bệnh viện nữa sợ nó lây bệnh. Tôi nghe có lý nhưng lo lắng không hiểu việc này có khả thi không? M. thường đi với bà nội vào thăm ông nội cho thỏa nhớ mong, tự dưng không cho đi theo, liệu nó có chịu không! Rồi T. khuyên chị P. nên lo sức khỏe vì chị không ăn uống gì cả. Chị P. thì than rằng tâm thần chị không ổn định. Vốn có nhiều bệnh nền, kèm theo lo lắng, chị cảm tưởng rằng chị chết trước anh. Cuộc đối thoại của hai chị em đã cho tôi biết tình trạng sức khỏe suy kiệt thể xác lẫn tâm thần của cả anh S. và chị P. Đồng thời, tôi biết rõ tính tình nhân hậu của cô em dâu T. và hành động thiệt thực đầy tình nghĩa của cô đối với anh chị chồng ra sao. Cô đã túc trực trong bệnh viện để chăm anh S. khi chị P. về nhà. Đến tối, cô về nhà anh chị S. ở lại để chăm nom và an ủi chị P. Nói chuyện một lúc, hợp ý nhau về cách giữ gìn sức khỏe, T. và tôi hỏi quê quán mới biết là chúng tôi ở cùng quê Nha Trang và ở rất gần nhà nhau.

Trong khi T. và tôi nói chuyện, chị P. nhận điện thoại của ai đó. Nói chuyện một lúc, chị nói người bên kia đâu giây ngưng và cho tôi biết đó là bác sĩ phụ trách ca phẫu thuật cho anh S. Ông nói gì mà chị không rõ nên nhờ tôi nghe dùm. Lòng mở cờ, tôi nhận vội chiếc điện thoại cầm tay của chị, và chào người bên kia đầu dây bằng tiếng Anh.

Giọng người đàn ông hỏi:
“Cô là ai?”
Tôi đáp:
“Tôi là bạn thân của vợ ông ĐVS.”
Ông nói:
“Tôi muốn báo cho bà ấy biết là ca mổ của ông S. đã xong. Bây giờ chúng tôi để ông nghỉ trong một tiếng. Sau đó, chúng tôi sẽ đưa ông ấy về phòng.”
“Cảm ơn ông đã báo cho chúng tôi biết tin này” Tôi đáp nhưng nói thêm:
“…Nhưng xin ông chờ tôi một chút.”

Liếc nhìn chiếc đồng hồ treo tường, tôi hỏi: “Ông nói một giờ nữa ông S. sẽ được đưa về phòng. Bây giờ là ba giờ ba mươi phút, như vậy bốn giờ ba mươi phút ông S. sẽ được đưa về phòng đúng không?”
“Đúng vậy! Bốn giờ ba mươi phút, chúng tôi sẽ đưa ông ấy về phòng.”

Ngừng cuộc gọi, tôi vui vẻ báo cho chị P. và T. biết tin và cùng chờ đến 4:30 p.m như lời hứa của ông bác sĩ. M. có lẽ cũng biết tin vui nên linh hoạt và lí lắc hơn trước. Nó sờ vật này, chạm vật nọ trong căn phòng khiến U., con gái út của anh chị S. vừa đến thăm cũng chau mày. U. đồng ý với T. là lần sau không cho M. vào bệnh viện nữa.

Trong lúc T. trò chuyện với cháu U., chị P. nói cho tôi biết:
“Lúc nãy chị căng thẳng, muốn xỉu… nhưng bây giờ đã an tâm hơn rồi.”

Tôi cũng cảm thấy an tâm phần nào nhưng trong lòng vẫn chưa hết lo lắng. Ông bác sĩ nói chờ một giờ nhưng không biết có thực sự đúng như thế không. Bởi vì sau khi mổ, vẫn còn có những tình huống bất ngờ xảy ra và người bệnh vẫn còn phải kiểm tra thật kỹ lưỡng.

Khuôn mặt vẫn còn nét lo lắng và căng thẳng của tôi khiến chị P. nói tiếp:
“Mạng của anh S. lớn lắm em! Hồi trước ảnh bị bệnh chết rồi, đưa vào nhà xác rồi. Vậy mà ông bác sĩ vào nhà xác tìm vật dụng quên thấy ngón tay của anh nhúc nhích, thế là ông bác sĩ này nhất định yêu cầu đưa xác anh ra cứu sống.”
“Ồ! Chuyện này trước 1975 hả chị?”
“Đúng vậy em, khi ảnh còn nhỏ khoảng mười mấy tuổi thôi”
Tôi phấn chấn hẳn lên:
“Em nhớ rồi! Cách đây mười năm hay mười một năm gì đó, khi anh S. bị tai biến, em vào bệnh viện thăm, không thấy hy vọng nhưng không dám nói. Nhưng sau đó anh sống vui, lại ca hát như bình thường. Lần này em nghĩ các bác sĩ hết lòng hết dạ cho ca mổ. Họ nhất quyết giúp anh khôi phục sức khỏe đó chị!”

Chị P. hào hứng kể thêm về những câu chuyện đặc biệt về cuộc đời gian truân của anh S. và sự thông minh, tài trí của anh đã khiến anh thành công ra sao. Cha của anh là con trai của hoàng gia Thái Lan, yêu và lấy mẹ anh là người dân bình thường nên bị hoàng gia tức giận đày mẹ anh biệt xứ. Mẹ anh đưa anh sang Việt Nam tìm kế sinh nhai rất khổ sở. Ba của anh ở Thái buồn và mất năm ông chỉ mới ba mươi ba tuổi. Sau này, mẹ anh bước thêm bước nữa. H. chồng T. là em cùng mẹ khác cha của anh S. nhưng hai anh em rất thương yêu thân thiết với nhau. H. chưa lo kịp giấy tờ để sang Mỹ cùng T. để dự đám cưới của con gái nên anh ta không thể thăm người anh duy nhất của anh. Vì thế mà cô em dâu T. đã thay mặt chồng hết lòng chăm sóc cả anh chồng lẫn chị dâu.

Tôi im lặng lắng nghe chị P. tâm sự nhưng không tập trung lắm. Tuy nhiên, cảm giác an tâm tràn ngập trong lòng tôi. Trước khi ông bác sĩ báo tin hoàn thành ca mổ, chị P. không nói chuyện quá khứ và những thành công của anh S., mà luôn đặt tay trên bụng lẩm bẩm hoài với câu hỏi tự đặt:
“Đáng nhẽ mổ trên này mới khó chứ! Họ mổ cái chân không thôi mà sao lại khó?”
Rồi chị tâm sự với tôi về “hữu sự”. Nguyện vọng của anh và cả chị là sau khi mất, sẽ được thiêu và đem tro rải ở sông biển hay bất cứ nơi nào thuận tiện.

Còn bây giờ chị hân hoan nói về những thành công, sự thông minh và tài trí của anh. Chị nói anh rất thông minh. Thuở nhỏ tuy sống trong hoàn cảnh khổ cực nhưng anh vượt qua mọi khó khăn, học rất giỏi và thi đâu đậu đó. Trước năm 1975, anh làm giám đốc của chi nhánh ngân hàng Tín Nghĩa ở Bến Tre do ông Nguyễn Tấn Đời làm chủ. Sau đó, vì đam mê ca hát anh đã nghỉ làm ngân hàng. Sau năm 1975, nhờ sự thông minh và tài trí anh được trọng dụng làm ngân hàng một thời gian rồi theo gia đình chị sang Mỹ.

Những câu chuyện kể của chị đã cho tôi cảm thấy giờ chờ đợi trôi qua nhanh hơn. Thình lình, trước cửa phòng là chiếc giường đẩy có anh S. nằm trên ấy. Khuôn mặt anh tỉnh táo và tươi vui khi nhìn thấy chúng tôi. Các cô y tá với thái độ trầm tĩnh trước đây ở quầy trực giờ đây xôn xao cùng cô S. y tá trực phòng 740 và cô y tá trưởng tìm cách đẩy chiếc giường vào đúng vị trí cũ, gắn dây, điều chỉnh các nút. Chiếc đồng hồ trên tường chỉ số 4:34 p.m. Bốn giờ ba mươi bốn phút! Tôi thầm cảm ơn lời quả quyết về một tiếng đồng hồ chờ đợi của ông bác sĩ.

Hơn bất cứ điều gì, tôi thầm cảm ơn Trời đã cho tôi có cơ hội gặp anh S. bình an sau ca mổ nghìêm trọng. Anh vui khi nhìn thấy vợ chồng tôi trong lúc chị tíu tít kể cho anh nghe thời gian chúng tôi hồi hộp chờ anh như thế nào. Anh nói chân anh đau lắm nhưng than đói. Chị P. vội ngắt vài mẩu bánh mì hamburger cho anh ăn trước khi cô y tá mang thức ăn lên.
M. tí tởn đi quanh giường ông khiến bà T. và cô út U. của nó thi nhau đe rằng không cho nó vô bệnh viện nữa! Nó không đáp lời, cũng không nói gì nhưng tôi biết chắc chắn là nó rất vui và rất an tâm.
Chờ anh S. ăn uống xong, vợ chồng tôi đưa chị P. và M. về nhà. T. và U. ở lại chăm anh và sẽ về sau.

Đó là ngày 15 tháng 6 năm 2026. Một ngày cho tôi nhiều cảm xúc hồi hộp, lo lắng, căng thẳng xen lẫn cảm động và buồn vui.
Đến ngày thứ bảy 20 tháng 6, 2026, tôi hỏi thăm T.: “T. ơi, anh S. đã khỏe chút nào chưa em? Chị gọi chị P. mấy lần mà không thể liên lạc được… Bây giờ không biết nói gì hơn, chị chỉ biết cầu mong anh sớm bình phục.”

9:53 sáng T. hồi âm:
“Anh em hiện giờ đã đi vào thời kỳ nguy hiểm rồi ạ, hôn mê sâu sau mấy lần can thiệp kỹ thuật y tế… Hiện anh đã vào khu hồi sức đặc biệt nằm, vào thuốc cho khỏi đau đớn”

Rồi T. lại báo:
“Trưa nay cả nhà vào bệnh viện. Anh em mệt lắm rồi chị ạ. Không khống chế được vết thương. Nấm đi theo đường máu tới mắt rồi. Nhìn đau đớn quá chị ạ. Bệnh viện thông qua ý kiến gia đình. Chắc lúc chiều họ sẽ rút ống ra… Em báo cho anh chị biết vậy.”

Sáng chủ nhật 21 tháng 6, 2026
T. nhắn tin:
“Anh em mất rồi nghe anh chị.”

Tôi bàng hoàng khi đọc tin nhắn. Mặc dù khi nghe T. báo sức khỏe của anh S. vào thời kỳ nguy hiểm, tôi cầu mong anh ra đi thanh thản để không đau đớn, nhưng tôi vẫn cầu nguyện và hy vọng phép màu của Thượng Đế cứu anh sống khỏe để đền bù tấm lòng nhân hậu và sự tận tâm của các bác sĩ. Tột cùng nhất, tôi mong M. sẽ được gặp lại ông nội như mong ước của nó.

Tôi đọc đi, đọc lại hàng chữ trong tin nhắn của T.: “Trưa nay cả nhà vào bệnh viện…” rồi nghiền ngẫm chữ “Cả nhà” Tôi đoán M. cũng được thăm ông nội lần cuối, nhưng những ngày tiếp theo, nó sẽ không còn được gặp ông nội và nó sẽ nhớ ông nội nhiều lắm. Một đứa trẻ bốn tuổi không thể nào hiểu khái niệm về sự sống và chết. Nhưng diễn biến tâm trạng của M. trong ngày 15 tháng 6 đủ làm tôi cảm thấy xót xa.

Tôi biết những bạn bè thân quen sẽ cùng đến tiễn biệt anh ĐVS., một ca sĩ nổi tiếng trong Hoa Thịnh Đốn, và rồi sự đau buồn của chúng tôi sẽ nguôi ngoai phần nào theo thời gian. Nhưng đối với tôi, những câu hỏi “Sắp về không?” “Ông nội sắp về không?” “Về không?” “Có cho coi ông không?” “Muốn xem ông!” của M. sẽ khó phai trong tâm trí của tôi. Nhất là khi tôi nghĩ đến tình thương nhớ sâu đậm của một đứa cháu bốn tuổi đối với ông nội.

Cung Thị Lan

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2026

Trần Công/Tiền Giang Tử Cảm Ơn

 

Cám ơn bằng hửu ở khắp nơi
Đã gởi điện thơ đến cho tôi
Mừng sinh nhựt tôi trên Trăm tuổi
Ơn nghĩa tôi xin nhớ trọn đời
Tôi cũng cầu mong cho quý bạn
PHƯỚC vào nhà, PHƯỚC như Đông hải
Sống đời đời, THỌ tỷ Nam san.

Trần Công/Tiền Giang Tử

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2026

Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Kính Mừng Sinh Nhật Tiền Giang Tử- Trần Công (Lão Mã Sơn)

Maryland, ngày 1/3/2026

Kính thăm Hội viên Danh Dự/ thi sĩ tiền bối Tiền Giang Tử- Trần Công (Lão Mã Sơn)

Kính thăm quý văn hữu VBVNHN,

Hôm nay chúng ta bước vào ngày đầu của tháng Ba và sắp bước vào mùa Xuân ấm áp, vui tươi.
Ngày 10 tháng 3 là sinh nhật 104 của Hội viên Danh Dự anh Hai kính mến thi sĩ tiền bối Tiền Giang Khách- Trần Công ( Lão Mã Sơn) nhưng ngày mai Cung Lan sắp đi xa không thể nào chúc mừng sinh nhật đúng ngày anh 104 tuổi, nên hôm nay Cung Lan mạn phép chúc mừng sinh nhật sớm.
Anh Hai thi sĩ Tiền Giang Khách- Trần Công ( Lão Mã Sơn) kính mến.

Vì sắp đi xa nên em xin kính chúc sinh nhật sớm. Mong anh thông cảm nha.
Em xin thay mặt BCH VBVNHN kính chúc anh Hai luôn dồi dào sức khỏe, an vui, minh mẫn và mọi sự hanh thông như ý nguyện.

Cung Thị Lan

Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2026

Chim Huyền Thoại Và Thực Tế

 

 Chim được coi là biểu tượng mang nhiều ý nghĩa phong phú trong các tác phẩm văn chương Việt. Trong bài viết này, tôi không đề cập tới chim Lạc là một sinh vật truyền thuyết của người Việt cổ và được xem là vật tổ của cư dân thời kỳ văn hóa Đông Sơn trong buổi đầu hình thành nước Văn Lang-Âu Lạc. Tôi chỉ muốn chia sẻ đôi điều về biểu tượng loài chim được miêu tả và diễn đạt bằng nhiều thể loại khác nhau qua các câu ca dao tục ngữ, thi ca, và văn xuôi.

 Trong ca dao, tục ngữ và thành ngữ, hình ảnh của các loài chim thường được sử dụng qua lối ẩn dụ như sau:
“Chim khôn hót tiếng rảnh rang,
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe” 

hay
“Chim đa đa đậu nhánh đa đa,
Chồng gần không lấy, đi lấy chồng xa.
Mai sau cha yếu mẹ già,
Chén cơm đôi đũa, tách trà ai nâng.”

hay
Chim trời ai dễ đếm lông,
Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày

hay
Chim lạc bầy thương cây nhớ cội,
Xa bạn xa bè, lặn lội tìm nhau.

 hay
Một con chim én không làm nên mùa xuân.

Một số tác giả của những tác phẩm văn xuôi cũng thường dùng lối ẩn dụ, nhân cách hóa hay lồng những hình ảnh chim vào những áng văn để làm sinh động quang cảnh, không gian hay diễn tả  tâm trạng, những ý nghĩ thầm kín và khát vọng của mình.Ví dụ như cảnh chim chuyền cành, bay lượn trên không trung hay hót líu lo, véo von…

 Cho dù sử dụng nghệ thuật diễn đạt ngôn ngữ hay văn phong khác nhau như thế nào, các văn thi sĩ tiền bối Việt Nam đã để lại một kho tàng hết sức quý báu đối với việc lưu lại kinh nghiệm, truyền tải những lời khuyên sâu sắc đối với các thế hệ con cháu. Tuy nhiên, trong nguồn tài nguyên trí tuệ ấy, có những lối ẩn dụ và so sánh về loài chim không hoàn toàn chính xác.

 Ví dụ như mục đích câu tục ngữ: Chim có tổ, người có tông  nhắc nhở mỗi người trong cuộc đời  đều có nguồn gốc, gia đình, dòng họ và tổ tiên, tương tự như chim có tổ là nơi chúng trú ngụ  và được mẹ/cha chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ đến lúc lớn luôn. Đây là một câu nói mang tính khuyên răn, dạy dỗ, nhấn mạnh sự gắn bó giữa con người với cội nguồn, quê hương và  tổ tiên giòng tộc. Nhưng, thực tế khi chim ra ràng rời tổ, chúng không bao giờ quay về tìm lại cái tổ mà chúng từng được cha mẹ chim nuôi nấng. Và chúng cũng không có khả năng nhớ hay nhận biết con chim nào là cha mẹ, ông bà, cô bác hay anh em của chúng. Nếu quan sát kỹ đời sống của chim, ta sẽ nhận thấy là chim chỉ thích đồng hành với con chim “đối ngẫu” để cùng bay đó đây, bất kể cùng trời, cuối đất. Ngoài ra, còn có loại chim thích sống theo đàn. Đàn bay đến đâu chúng theo đến đó. Tuỳ theo thời tiết, chúng theo đàn bay xa ngàn dặm, tránh  xa vùng khí hậu lạnh lẽo, rồi bay trở lại chốn cũ khi mùa Đông trôi qua. Tuy nhiên, có lúc, chúng không trở về chốn cũ mà ở luôn nơi vùng đất mới, tuỳ thuộc vào ý thích của các con chim trong đàn.

Hình ảnh ẩn dụ của chim trong ca dao Việt Nam thường mang nghệ thuật cao khi nói về thân phận con người,  cách ứng xử và kinh nghiệm  trong cuộc sống. Tuy nhiên có những lối so sánh không hợp lý như câu

Chim khôn đậu nóc nhà quan.”  Hình ảnh ẩn dụ chim trong câu này ngụ ý về con người và nhà quan mang hàm ý là nơi an toàn, nơi có chức quyền mà con người có thể tựa vào hay nhờ cậy được. Thực tế, không phải con chim nào cũng có thể đậu nơi an toàn. Tuỳ theo khả năng của nó và môi trường thiên nhiên nơi chúng ở, chúng có thể tìm những nơi an toàn để trú ngụ hay không. Thô thiển hơn, ta có thể nói: chim không có khả năng tìm nơi an toàn, cho dù chúng khôn ngoan đến mức độ nào. Và cũng có thể những nhà quan/ nơi an toàn không tạo cho chúng cơ hội được đậu hay trú ngụ. Cũng như không phải con người thông minh nào cũng có  thể  tựa vào nơi có chức quyền để trông cậy.

 Tương tự câu “Như chim liền cánh như cây liền cành” đề cao sự gắn bó mật thiết, không thể tách rời,  câu ca dao “chim bay về tổ có đôi” mang ý nghĩa đôi uyên ương luôn bên nhau, thường sánh đôi, sánh bước cùng nhau. “Về tổ” mang ý nghĩa về nhà, về nơi trú ngụ; nhưng thực tế, không phải chim có đôi, có bạn mới về tổ. Người hay chim cũng có thể về nhà hay về “tổ” một mình không cứ chi phải có đôi, có cặp.

 Hình ảnh trong câu Chim vàng đậu nhánh mai vàng vẽ nên bức tranh  đẹp của sự tương hợp giữa hoàng yến là chim vàng trên cành hoa mai vàng, một loài hoa thường nở vào mùa xuân. Nhưng thực tế, chim hoàng yến đậu bất cứ loại cây hay loại hoa nào thuận tiện khi chúng di chuyển trong môi trường chúng đang sinh sống chứ không phải chỉ đậu trên cành mai nở hoa vàng trong mùa Xuân.

 Trong văn xuôi cũng có nhiều câu so sánh về hình ảnh đẹp đầy tính nghệ thuật của các loài chim. Tuy nhiên, có những câu so sánh không hoàn toàn đúng với thực tế. Ví dụ như câu: “Ước gì anh có đôi cánh chim, anh sẽ bay đi khắp chốn tìm em…” Thực tế, không phải con chim nào có cánh cũng có thể bay được. Bản thân người viết từng nuôi chim trong mười năm hơn, chứng kiến nhiều con chim Yến Phụng từ lúc sinh ra đời đến lớn không thể bay dù có lông cánh đầy đủ. Những con chim này chỉ có thể dùng chân và mỏ để bám víu các vật gần kề khi muốn  di chuyển lên cao. Không khác loài người chúng ta, có những người có hai chân đầy đủ nhưng không thể đi được vì chứng bệnh bẩm sinh nào đó. Cho nên, nếu dùng hình ảnh đôi cánh của chim để có thể tự do bay khắp chốn chỉ là lối ví von huyễn hoặc. Trong lịch sử Việt Nam, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn từng nhấn mạnh rằng “Chim Hồng hộc muốn bay cao tất phải nhờ ở sáu trụ xương cánh!” Như thế, ngay cả chim Hồng hộc có cánh to rộng cũng phải có trụ xương vững. Chim hay người muốn theo đuổi chí lớn cần phải có điều kiện sức khỏe và ý chí rèn luyện.

Cũng từ vấn đề này mà khi ta thả chim nuôi ra khỏi chuồng cho chúng được tự do không đúng với ý nghĩa của hai chữ “phóng sanh”. Những con chim quen sống trong môi trường được chăm sóc kỹ, chúng rất sợ khi bị đưa ra ngoài trời. Nhất là những con chim bị khuyết tật. Chúng sợ bị chụp bắt ăn thịt bởi những con chim ó hay diều hâu. Và như vậy, thiện ý “Phóng sanh” cho trường hợp này đưa đến kết quả trái ngược, có thể gọi là “Phóng tử”

Khi nhìn những con chim bay trong không trung hay đậu trên những cành cây cao, chúng ta khó xác định giới tính. Ngoại trừ, vài loài chim có màu sắc và đặc điểm riêng biệt giúp ta có thể đoán được là chim trống hay chim mái. Cho nên, hình ảnh “Chim mẹ mớm mồi cho con” nhằm đề cao tình mẫu tử của loài chim trong các đoạn văn xuôi có khi mắc phải sai lầm. Thực tế, không phải chỉ có chim mẹ mớm mồi cho con mà chim cha cũng mớm mồi nuôi con thay vợ. Nếu quan sát kỹ, chúng ta sẽ thấy có những con chim trống thường cư ngụ gần tổ chim để canh chừng, bảo vệ và chăm sóc cho vợ con chúng. Chúng thường kêu to báo động khi phát hiện sự nguy hiểm từ những con thú rình mồi, hay bay về trông tổ chim con khi chim mẹ bay đi kiếm ăn, và cũng thường xuyên thay chim mẹ mớm mồi nuôi con. Khi chim con ra ràng, những con chim trống cũng thường quấn quýt bay theo chim mẹ khi con chim này dạy cho chim con tập bay.

Có những đoạn văn tả tiếng chim hót vui tươi đón chào nắng mới để làm tăng lên sự hân hoan của loài lông vũ trước  vẻ đẹp của bình minh hay của mùa Xuân…Tuy nhiên, nếu có dịp quan sát tường tận loài chim, chúng ta sẽ rõ những tiếng chim kêu to rõ mang âm hưởng đặc biệt  mà ta chưa từng được nghe  không phải là “ tiếng hót hay, tiếng hót vui mang lại điềm may mắn trong mùa nắng ấm!” mà là lời oán trách của con chim trống đối với sự lạnh lùng từ chối của con chim mái mà nó ưa thích hoặc là những tiếng than trách thân phận cô đơn, bị giam cầm trong cái lồng nhỏ bé, thay vì được tung cánh bay lượn trong không gian ấm áp, tươi đẹp ngoài kia.

 “Đôi chim tình tứ, quấn quýt hôn nhau và rỉa cánh cho nhau trên cành.” là câu văn miêu tả hết sức sâu sắc hình ảnh gắn bó của đôi uyên ương. Nhưng thực tế, chim không hề biết hôn môi và  hình ảnh đôi chim quấn quýt bên nhau ấy, có khi không phải là hình ảnh của chim trống với chim mái.

Hình ảnh một con chim kề mỏ vào mỏ một con chim khác chỉ là hình ảnh  tưởng tượng đầy thi vị về đôi chim đang hôn môi nhưng thực tế, đó chỉ là hành động của việc san sẻ thức ăn cho nhau. Sau khi chim ăn hạt hay côn trùng, thực phẩm sẽ chứa vào trong mề. Khi chim muốn tán tỉnh con chim khác giới, chúng sẽ dụ dỗ bằng cách nôn/ ói thức ăn trong diều lên cuống họng rồi truyền thức ăn này vào mỏ con chim kia. Hình thức giống như cách chim mẹ mớm mồi cho chim con. Tuy nhiên, không phải chỉ có chim trống mới hào hiệp tiếp thực phẩm cho chim mái qua cách này. Có những con chim, bất kể là trống hay mái, có tính hào hiệp thường chăm sóc những con chim yếu đuối không thể bay đi kiếm ăn, bằng cách tiếp thức ăn qua cách này để giúp con chim ấy khỏe hơn.

Có thể nói rằng: Nếu chúng ta sử dụng ẩn dụ và so sánh không đúng với thực tế, chúng ta không thể thuyết phục độc giả một cách tuyệt đối.

Sự ví von về các loài chim qua điển tích và truyện cổ được lưu truyền qua những lời kể truyền miệng  hay các văn bản chữ viết đã giúp cho  các thế hệ tiếp nối mặc niệm về biểu tượng của các loài chim như : Chim khách báo hiệu điềm may mắn, vui vẻ, cú là điềm xui xẻo, tang chế, chim bồ câu tượng trưng cho hòa bình, chim cò là hình ảnh lam lũ, tần tảo của phụ nữ, tu hú là loại chim tráo trở, phượng hoàng tượng trưng cho sự cao quý….

Những ý niệm nhân cách hóa về các loài chim được lưu truyền trong dân gian và trong văn chương Việt đã trở thành những biểu tượng về tính chất và thân phận con người. Những ví von này không chỉ làm phong phú ngôn ngữ Việt mà còn là hình thức  mà ông cha ta nhắc nhở con cháu về các giá trị đạo đức và cách đối nhân xử thế. Tuy những ý niệm này giúp chúng ta tự soi chiếu bản thân và  thấu hiểu các giá trị sống qua thế giới loài chim nhưng thế giới điển tích và truyện cổ của ông cha vẫn còn có những giai thoại khiến ta cần phải phân tích kỹ lưỡng sự đúng, sai.  Nếu không, ý niệm về một loài chim qua một giai thoại sẽ dẫn đến sự so sánh sai lầm từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Điển hình là giai thoại   trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi gọi chim sẻ là kẻ tiểu nhân khi ông đi sứ nhà Nguyên năm 1308. Khi vào phủ Tể tướng nhà Nguyên, trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi thấy một bức trướng thêu hình con chim sẻ vàng đậu trên cành trúc. Ông tưởng là chim thật, chạy đến bắt khiến quan quân nhà Nguyên cười ồ chế giễu. Ngay lập tức, Mạc Đĩnh Chi đã giật bức trướng xuống và xé toạc nó. Khi bị chất vấn, ông bình thản giải thích rằng: “Người xưa chỉ vẽ chim sẻ đậu cành mai, chưa thấy vẽ chim sẻ đậu cành trúc bao giờ. Trúc là biểu tượng của quân tử, sẻ là vật mọn của tiểu nhân. Tể tướng treo bức tranh này là để tiểu nhân trên quân tử, tôi sợ đạo của thánh hiền bị suy đồi nên phải trừ đi.”

Câu trả lời của Mạc Đĩnh Chi đã giúp ông thoát khỏi tình huống bị chê cười và còn thể hiện sự am tường sâu sắc về văn hóa đồng thời tỏ rõ sự tôn trọng đối với Nhà Nguyên (triều đình phương Bắc lúc bấy giờ) khiến cho quan quân nhà Nguyên thấy lời của Mạc Đĩnh Chi đúng với đạo lý.

 Nhưng chính sự giải thích có tính cách khẳng định này song song với quan niệm của Á Đông về tính cách “quân Tử” đối lập với “ tiểu nhân” thời ấy đã khiến mọi người mặc định  loài chim sẻ là tiểu nhân tầm thường khi so sánh đối lập hình ảnh loài chim đại bàng uy vũ và dũng cảm, hay loài chim phượng hoàng cao quý và bất tử.

Từ đó, trong quan niệm văn chương cổ điển, chim sẻ thường bị gọi là “kẻ tiểu nhân”. Trong nhiều điển tích, chim sẻ (tước) được đặt cạnh chim én (yến) để minh họa  sự đối lập giữa những người tầm thường với những người có chí lớn. Câu nói của Trần Thắng thời Tần “Yến tước an tri hồng hộc chi chí tai?” (Chim sẻ, chim én sao biết được chí hướng của chim hồng hộc?) đã khẳng định về tính chất thấp kém của loài chim này.

Hơn nữa, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (1272–1346), bậc thánh hiền thông  minh xuất chúng, đạt chức vụ Đại Liêu Tả bộc xạ (tương đương Tể tướng), được vua nhà Nguyên  tán phục phong làm Lưỡng quốc Trạng nguyên (năm 1308) sau khi trổ tài ứng biến qua bài phú “Hoa sen trong giếng ngọc” (Ngọc tỉnh liên phú), thì  tính tiểu nhân của loài chim sẻ qua giai thoại về bức họa chim sẻ đậu cành trúc cứ thế mà lan truyền, được thuộc lòng và trở thành mặc định từ đời này sang đời khác. Điều này khiến cho kiến thức về loài chim sẻ trong các câu chuyện dân gian truyền miệng không có đủ sức để phản biện.  Làm sao những kẻ bé cổ thấp miệng có thể chạm vào những lý lẽ đã được minh định một cách vững chắc?

Thực tế, “chim sẻ” có tính "tiểu nhân" như  trong quan niệm xưa cũ không?

Chúng ta không thể căn cứ vào thân hình nhỏ bé, đầu óc nhỏ bé để kết luận sự thấp kém, thiếu ý chí và tâm địa nhỏ nhen tiểu nhân của loài chim sẻ. Khi khẳng định đặc điểm, tính cách  của một sinh vật, chúng ta chỉ tựa vào thân thể,  hình dáng và thể chất của một sinh vật ấy rồi kết luận qua cảm tính  thôi sao? Hay đơn giản chỉ lập lại những quan niệm của đạo đức xưa cũ? Rồi phớt lờ quá trình quan sát, ghi nhận, và tổng hợp những kết luận xác thực.

 Cho dù  chúng ta đã rõ đặc điểm của loài chim có mỏ quặp như đại bàng/ diều hâu  là loài chim hung dữ và có thể xé tan xác con mồi mà chúng bắt thịt trong khi loài chim sẻ có mỏ nhọn, không quặp là giống chim hiền lành không hề  làm tổn thương con vật khác, chúng ta cũng không thể kết luận rằng chim sẻ hiền hơn đại bàng, hay đại bàng hung ác hơn chim sẻ.  Tương đồng như thế, chúng ta không thể nói những chim sẻ có thân hình nhỏ bé là tầm thường, là không quân tử, không chí lớn như những con chim có thân hình to lớn, hùng dũng như chim đại bàng. Mỗi loài sinh ra trên trái đất có đặc điểm khác nhau và chúng ta không nên so sánh một cách phiến diện và khập khiễng giữa loài này với loài khác, cho dù đồng loại hay khác loài.  Người viết bài này có thể khẳng định rằng: Trong loài chim sẻ, có những con chim sẻ tiểu nhân và cũng có những con chim sẻ quân tử. Trong loài chim đại bàng, có những con chim đại bàng tiểu nhân và những con đại bàng quân tử. Và trong các loài chim khác cũng thế!

 Chúng ta không nên kết luận vội vã rằng: Con chim to lớn có thể bay cao, vượt cuồng phong giữa trời giông bão là uy dũng can đảm, mà chúng ta cần quan sát những con chim sẻ, chỉ dùng chiếc mỏ nhỏ bé của chúng để “khuân/tha” những miếng rơm rạ, vỏ cây, nhành lá to lớn hơn thân thể của chúng gấp đôi ba lần để làm tổ, chúng không dung cảm sao?  Chúng ta cũng cần quan sát cảnh các chú chim sẻ tần tảo bới những đống tuyết cao để kiếm mồi trong mùa đông giá lạnh và sự đoàn tụ quây quần của chúng  khi kiếm ăn hay di chuyển từ nơi này sang nơi khác theo đàn để xóa tan ý nghĩ cho rằng chim sẻ là kẻ tiểu nhân. Gán cho chim sẻ chữ tiểu nhân là cách nhân hóa dựa trên quan điểm đạo đức xưa cũ, và không chính xác.

Trong thực tế, chim sẻ  không phải là  kẻ thiếu ý chí, thích soi mói, chấp nhất những chuyện nhỏ nhặt hay hạ  thấp kẻ khác mà là  loài chim có ích  cho các cánh đồng  nông thôn với hình ảnh nhỏ nhắn, nhanh nhẹn và linh hoạt. Chúng là những con chim chăm chỉ, kiên trì, sống theo đàn một cách hồn nhiên, yêu đời và đoàn kết.

Theo thiển ý của người viết đề tài này là chúng ta cần thấy rõ những điều bất hợp lý trong văn chương Việt để tránh sử dụng lối so sánh khập khiễng, bất hợp lý làm sai ý nghĩa hình ảnh và đời sống của các loài chim.

 Cung Thị Lan
Maryland 17/1/2026

Cung Lan gửi thêm vài hình ảnh và Video Clip



Thứ Tư, 17 tháng 9, 2025

Cung Lan Tường Trình Đại Hội Văn Bút Quốc Tế Lần Thứ 91( 2/9/2025-5/9/2025) Tại Krakow, Ba Lan


Tường trình của chủ tịch Cung Thị Lan về chuyến tham dự Đại Hội Văn Bút Quốc Tế lần thứ 91 2/9/2025-5/9/2025 tại Krakow, Ba LanTham dự Đại Hội Văn Bút Quốc Tế lần thứ 91 tại Ba Lan có tất cả 3 hội viên chính thức của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại(VBVNHN) là:
– Cung Thị Lan – Chủ tịch VBVNHN
– Erlinda Thuỳ Linh – Phó chủ tịch VBVNHN
– Võ Ngọc Hoa – Thủ quỹ của VBVNHN Vùng Tây Nam Hoa Kỳ
Ông Pham Quang Hiệp tháp tùng với đoàn để chụp hình dùm.

Chúng tôi phải ghi danh tham dự trước ngày 1 tháng 8 năm 2025 và liên lạc với nhau để mua vé máy bay đến phi trường Krakow cùng ngày giờ.
Chủ Nhật ngày 31 tháng 8 năm 2025
Hai giờ rưỡi chiều 31 tháng 8, Anh Hiệp và tôi đến phi trường Dulles. Sau khi lấy vé và gửi hành lý xong, tôi gọi văn hữu Erlinda Thuỳ Linh và được biết cô và văn hữu Võ Ngọc Hoa cũng đang gửi hành lý tại phi trường ở California.
Năm giờ bốn mươi lăm chiều chúng tôi lên đường. Máy bay đến Bỉ lúc 7 giờ sáng thứ hai ngày 1 tháng 9, 2025, sớm hơn lịch định 20 phút. Chúng tôi đợi đến chín giờ rưỡi sáng để đáp chuyến máy bay từ Bỉ đến phi trường Krakow.

Thứ hai ngày 1 tháng 9 năm 2025


Chúng tôi đến phi trường Krakow vào lúc mười một giờ bốn mươi phút sáng ngày 1 tháng 9. Tại đây chúng tôi lấy hành lý rồi chờ hai văn hữu Erlinda Thuỳ Linh và văn hữu Võ Ngọc Hoa. Trong khi chờ đợi, tôi đi đổi một ít Mỹ Kim sang tiền Ba Lan nhằm chi trả trong những trường hợp người ta không dùng credit cards hay thưởng tips cho các phục vụ.
Một giờ hai mươi lăm chiều (13:25) máy bay của văn hữu Erlinda Thuỳ Linh và văn hữu Võ Ngọc Hoa đáp xuống phi trường Krakow nhưng cả hai không tìm thấy hành lý của mình. Anh Hiệp đã giúp văn hữu Erlinda Thuỳ Linh vào chỗ thất lạc hành lý làm giấy báo cáo để nhân viên tìm dùm. Nhân viên cho biết hai hành lý vẫn còn ở Frankfurt vì thời gian chuyển máy bay khá gấp rút. Chúng tôi đành ghi lại số phone và email của anh Hiệp để cho họ dễ liên lạc rồi cùng nhau lấy xe taxi về khách sạn Park Inn, nơi đối diện ICE Krakow Congress Centre.
Sau khi lấy phòng ở khách sạn Park Inn, chúng tôi vệ sinh qua loa rồi gọi Uber đến quảng trường chính của thành phố Krakow để đến Potochi Palace (20 Rynek Glowny) để nhận bảng tên và gói thông tin về Đại Hội Văn Bút Quốc Tế (VBQT) lần thứ 91 tại Krakow, Ba Lan.
  
  

Chúng tôi chụp vài tấm hình ở Potochi Palace, nơi ghi rõ thành phố Krakow được Unesco công nhận; đồng thời là thành phố Văn Học của Ba Lan rồi tạt vào một tiệm ăn gần đó. Các món ăn có vị lạ nhưng ngon. Nhất là món bánh mì giòn với bơ. Đặc biệt nhất là món súp lạnh củ cải đỏ. Ai cũng nói lần đầu tiên mới ăn món ăn này.

  


Rời tiệm ăn, chúng tôi dạo quanh quãng trường chụp hình. Chẳng thú vị lắm vì những bộ đồ cũ từ ngày hôm trước. Trở về khách sạn, tâm trạng nặng nề đầy lo lắng, không hiểu hai chiếc va li của hai văn hữu Erlinda Thuỳ Linh và Võ Ngọc Hoa đang chu du nơi nào và làm sao chúng tôi cùng mặc áo dài dự Đại Hội như dự định. May mắn thay, 9 giờ rưỡi nhân viên nơi thất lạc hành lý gửi email báo anh Hiệp sẽ đem vali đến khách sạn và hai văn hữu Erlinda Thuỳ Linh và Võ Ngọc Hoa nhận hai chiếc hành lý trong trạng thái vui mừng khôn xiết.

Thứ ba ngày 2 tháng 9 năm 2025


Sáng nay, thứ ba ngày 2 tháng 9 năm 2025, ba chúng tôi trong ba chiếc áo dài xuống phòng ăn của khách sạn Park Inn để ăn điểm tâm rồi bước sang đường để đến ICE Krakow Congress Centre.

  

Năm (5) Ủy Ban của Văn Bút Quốc Tế ( gồm Ủy Ban Dịch Thuật và Quyền Ngôn Ngữ, Ủy Ban Nhà Văn Vì Hòa Bình, Ủy Ban Nhà Văn Trong Tù, Ủy Ban Nhà Văn Nữ và Uỷ Ban Các Nhà Văn Trẻ) đều có thời gian họp cùng một lúc trong buổi sáng hôm nay từ 9 giờ sáng đến 4 giờ chiều trong lúc hai văn hữu Erlinda Thuỳ Linh và Võ Ngọc Hoa đều muốn cùng tôi dự họp với Ủy ban nhà văn trong tù do chủ tịch Ma Thida đương nhiệm nên tôi đã nhờ anh Hiệp dự cuộc họp của Ủy Ban Nhà Văn Vì Hòa Bình để biết những tin quan trọng. Tôi rất tiếc vì không thể dự cuộc họp của Uỷ Ban Các Nhà Văn Nữ do Judith Hill đương nhiệm và cũng không thể ngưng dự phòng họp này đến phòng họp khác trong lúc chương trình của Uỷ Ban Các Nhà Văn Trong Tù liên tục có nhiều thông tin quan trọng.
Sau phần Chiếc ghế trống Gui Minhai (China), chúng tôi được nghe chủ tịch của Uỷ Ban Các Nhà Văn Trong Tù báo cáo. Tiếp đó là phần phát biểu của các diễn giả về đề tài Các Nhà Văn Lưu Vong do ông Helge Lunde giám đốc của chương trình Mạng Lưới Thành phố Tị nạn Quốc tế ICORN(International Cities of Refuge Network) chủ tọa.

Tôi lấy làm thú vị khi nghe những câu chuyện kể của thi sĩ Kholoud Charaf, hội viên của Văn Bút Đức và nhà văn Rabigul Erkmen, thành viên cûa Mạng Lưới Thành phố Tị nạn Quốc tế ICORN. Cả hai đều kiên cường và quả quyết trong việc diễn đạt tư tưởng qua các tác phẩm văn chương của mình, trốn thoát sự áp bức và phát triển kiến thức
Kholoud Charaf vừa là thi sĩ, vừa là nhà văn, nhà hoạt động người Syria và là thành viên của Văn Bút Đức. Cô đã xuất bản bốn cuốn sách, bao gồm tập thơ “Những tàn tích của con bướm”, viết về chiến tranh và cuộc sống ở Syria. Thơ của cô đã được dịch ra mười thứ tiếng. Cô đã nhận được học bổng văn học từ Ba Lan, Mỹ, Latvia, Thụy Điển và Đức. Cuốn tự truyện “Hành Trình Trở Về Núi” của cô đã nhận được Giải thưởng danh giá Muhammad Ibn Battuta của Maroc vào năm 2019. Cô được nhận học bổng chương trình Mạng Lưới Thành phố Tị nạn Quốc tế ở Krakow từ năm 2018 đến năm 2020

 

Rabigül Erkmen là nhà văn, nhà nghiên cứu, và người ủng hộ quyền con người và quyền phụ nữ, đặc biệt tập trung vào ngôn ngữ, văn hóa Duy Ngô Nhĩ và hoàn cảnh khốn khổ của người Duy Ngô Nhĩ(Uyghur.)ở Trung Quốc. Cô có bằng Tiến sĩ về Thổ Nhĩ Kỳ học tại Đại học Hacettepe ở Ankara. Luận án Tiến sĩ của cô đã phân tích các bản thảo tiếng Duy Ngô Nhĩ(Uyghurs.), một phần của Bộ sưu tập Gunnar Jarring tại Đại học Lund, Thụy Điển.
Rabigül đã hợp tác với các chuyên gia khác tập trung vào các vi phạm nhân quyền mà người Duy Ngô Nhĩ (Uyghurs.) ở Trung Quốc phải đối mặt. Báo cáo năm 2021 của cô ghi lại hàng loạt đàn áp của chính quyền Trung Quốc người Duy Ngô Nhĩ. Erkmen đã phải đối mặt với sự sách nhiễu liên tục từ chính quyền Trung Quốc vì cô vạch trần sự đàn áp cûa họ đối với người Duy Ngô Nhĩ (Uyghurs.)
Vào tháng 9 năm 2024, Rabigül Erkmen đến Warsaw, thủ đô Ba Lan và bắt đầu chương trình lưu trú ICORN đầu tiên tại thành phố này. Cô tiếp tục công việc nghiên cứu và vận động chính sách, đồng thời mong muốn hợp tác với các trường đại học và viện nghiên cứu ở cả Ba Lan và Quốc Tế.

 

Tôi đã có cơ hội chụp hình kỷ niệm với hai người phụ nữ này trong giờ nghỉ dùng cà phê. Cũng cần ghi rõ phần này rằng không ai được phép chụp hình hay quay phim trong các cuộc họp để đảm bảo sự an toàn cho diễn giả. Chúng tôi chỉ có thể chụp hình khi xong các cuộc phát biểu và được đồng ý.
Sau phần nghỉ để dung cà phê và bánh ngọt là phần bàn luận về các giải pháp trong vấn đề tự do diễn đạt tư tưởng tại Hoa Kÿ, báo cáo cập nhật của các Trungtâm Văn Bút.
12:30 chúng tôi ăn trưa cho đến 13:30 P.m
Sau đó là phần báo cáo kết quả của sự vi phạm Nhân Quyền, thảo luận về các vấn đề Nhân Quyền và các giải pháp. Tôi vốn không thích phát biểu mà chỉ muốn nghe để học hỏi nhưng phầnGiải Pháp có nhiều điều cần cho Uỷ Ban nắm rõ như chuyện giúp đỡ gia đình các nhà văn bị tù khiến cho thân nhân của họ không an lòng. Tôi đã nên trường hợp Ban Chấp hành VBVNHN đã giúp đỡ gia đình nhà văn Phạm Đoan Trang và kinh nghiệm sau khi giúp đỡ tài chính. Trong phần thảo luận nhóm, văn hữu Erlinda Thuỳ Linh và tôi cũng tham gia đóng góp ý kiến. Ngoài ra chúng tôi nhận thấy các đại biểu của Đài Loan, và Independent China hết lời phản đối chính quyền Cộng Sản Trung Quốc và thúc giục tìm giải pháp cứu những người bất đồng chính kiến ra khỏi nhà tù.

4 giờ chiều (16:00), các phòng họp của các Uỷ Ban đều chấm dứt. Chúng tôi tập trung trước cửa của Hội Nghị để được xe buýt đưa đến nhà hát Kino Kijow để dự buổi lễ Khai Mạc Đại Hội Văn Bút Quốc Tế Lần Thứ 91


Tại đây chúng tôi được ngắm các trình bày đầy mỹ thuật, các máy quay phim cổ điển, hình tượng giäi Oscar của diễn viên Ba Lan, được chụp hình, rồi nhận máy thông dịch khi bước vào rạp hát.
Ban Chấp Hành Văn Bút Quốc Tế đã khai mạc chào mừng với những lời đơn giản, ngắn gọn nhưng đầy ý nghĩa. Sau đó là cuộc phỏng vấn hết sức thú vị của chủ tịch VBQT Burhan Sonmez và nhà văn nữ Olga Tokarczuk.


Olga Nawoja Tokarczuk là nữ nhà văn người Ba Lan đạt giải Nobel Văn học năm 2018.
Qua đối thoại của họ, tôi muốn mua vài cuốn sách của bà để biết được với những câu chuyện trong tiểu thuyết, hồi ký , truyện ngắn hay truyện thần thoại. Tuy nhiên khi rời rạp hát để đến quầy sách tôi không tìm thấy được cuốn sách tiếng Anh. Những cuốn sách còn lại chỉ là sách Ba Lan.
 

Rời nhà hát Kino Kijow chúng tôi theo định vị của Google tìm đường đi đến Krakow Townhall để dự buổi tiệc Chào Đón do văn phòng thị trưởng Krakow tổ chức. Được biết Krakow là thành phố lớn thứ hai của Ba Lan; đồng thời là thành phố được UNESCO công nhận; cho nên, được đến nơi đây là niềm vinh dự.


Tại đây chúng tôi được nghe những lời phát biểu của thị trưởng và chủ tịch VBQT Burhan Sonmez
phát biểu. Tất cả đều được thông dịch từ tiếng Ba Lan sang tiếng Anh và ngược lại. Chúng tôi được đãi rượu và các món ăn nhẹ. Đặc biệt nhất là chúng tôi được chụp hình với thị trưởng.

  

Chúng tôi về nhà khoảng mười giờ tối. Rất vui vì có một ngày trọn vẹn. Thời tiết ấm nóng đã tạo điều kiện cho chúng tôi mặc áo dài, ba chiếc áo dài với ba màu khác nhau. Điều này khá đặc biệt đến nỗi khách đến nhà hát cốt để nghe và gặpnhà văn nữ Olga Tokarczuk cũng muốn chụp hình với chúng tôi.Vì lẽ này, tôi cùng văn hữu Erlinda Thuỳ Linh và văn hữu Võ Ngọc Hoa đã bàn tính các màu áo khác nhau cho những ngày tới.

Thứ Tư ngày 3 tháng 9 năm 2025


Sáng nay trời mưa nên tôi đã mặc chiếc áo màu cam nhạt thay vì màu xanh lá mạ như bàn tính cũng bởi tôi sẽ che mưa bằng chiếc dù màu đỏ hồng.

 

Ăn sáng xong, chúng tôi đi bộ sang ICE Krakow Congress Centre.
Có thể nói đây là Hội Nghị lần thứ nhất của Đại Hội VBQT lần thứ 91 tại ICE Krakow Congress centre.
Đúng chín giờ sáng (9:00) hội nghị mở đầu bằng lời chào mừng của chủ tịch VBQT Burhan Sonmez và chủ tịch Văn Bút Ba Lan (Văn Bút chủ nhà)
Sau phần Chiếc ghế trống lần thứ nhất là phần tưởng niệm các văn thi sĩ của Văn Bút Quốc Tế quá vãng kể từ sau Đại Hội 90 tại Oxford Anh đến ngày này. Tôi rất xúc động khi thấy tên văn hữu Hoàng Bạch Mai trên bảng Tưởng Niệm. Cuối cùng, sự kiên nhẫn của mình của đã thành công và tôi hy vọng hương linh của văn hữu Hoàng Bạch Mai hài lòng nơi miên viễn.
 

Sau phần Tưởng niệm là phần thông báo cách tiến hành của Đại Hội và lịch làm việc. Tiếp theo là phần tường trình của Giám đốc điều hành VBQT, Thủ quỹ của VBQT, và Quỹ khẩn cấp của VBQT.
Tiếp tục chương trình là phần báo cáo về chương trình Tự Do Diễn Đạt Tư Tưởng của Văn Bút Ba Lan. Sau đó là phần nghỉ để dùng cà phê.
Đúng 11 giờ (11:00) cử tọa bắt đầu phần Bầu Cử với các thuyết trình của các ứng cử viên với các trách vụ sau:
Tổng thư ký VBQT
Các thành viên trong Ban Chấp hành
Ban Bầu Cử Tiến Hành bởi Uỷ Ban Các Nhà Văn Bị Cầm Tù và Uỷ Ban Các Nhà Văn Trẻ.
Thành viên của Uỷ Ban Tra Cứu
Phó chủ tịch VBQT
Các ứng cử viên phát biểu rất hay đặc biệt là bài phát biểu của bà TienChi của văn Bút Independent Chinese PEN, người luôn đề cập đến sự nguy hại của chính quyền Trung Cộng và sự đề cử của chủ tịch VBQT Burhan Sonmez về ứng cử viên Olga Tokarczuk.

  

Theo tôi, khi Olga Tokarczuk giữ trách vụ Phó chủ tịch VBQT sẽ khiến Văn Bút Quốc Tế vẻ vang hơn nữa và khả năng là bà sẽ là chủ tịch VBQT trong tương lai.
Từ 1 giờ đến 2 giờ trưa (13:00- 14:00) là phần Ăn Trưa
Đúng 2 giờ chiều(14: 00) Đại Hội tiến hành Hội Nghị lần thứ hai:
Sau phần chiếc ghế trống lần thứ 2 là phần trình bày về các Tu Chính ( Sửa Đổi Hiến pháp và Điều lệ của Hiệp Hội)
3 giờ 40 chiều(15:40) là phần nghỉ để dùng cà phê cho đến 4 giờ chiều(14:00)
Đúng 4 giờ chiều là là phần thảo luận về đề tài Văn Học biết không Biên Giới. Tiếp đến là phần Ra Mắt Triển Lãm Kỷ Niệm 100 năm của Văn Bút Ba Lan. Vì phần này bắt đầu vào lúc 5 giờ 30 chiều (17:30), thời điểm các văn hữu khá mệt mỏi sau một ngày dự Đại Hội nên cử toạ vắng hơn trước đó. Hơn nữa, sự không chú tâm của cử toạ khiến một diễn giả khá bất bình, đề cập đến điều này. Biết được tâm lý của người tham dự, nôn nóng buổi họp sớm kết thúc để về chuẩn bị cho buổi họp ban tối, cô Magda Heydel người điều hành chương trình vội vã nói nhanh về chương trình tiếp theo của Văn Bút Ba Lan trong buổi tối hôm ấy để chúng tôi có thể rời trung tâm Đại Hội ICE sớm, thì tôi giơ tay xin phát biểu. Tôi đã tri ân các nhiếp ảnh gia và các nhà lưu trữ hình ảnh sinh hoạt của Văn Bút Ba Lan để giờ đây tôi có thể chụp lại những tấm hình quý giá mà họ đã ghi lại những sinh hoạt của trung tâm Văn Bút của họ trong buổi Triển Lãm. Đồng thời, tôi cũng đã cảm ơn Văn Bút Ba Lan từng giúp các nhà văn Việt Nam và nhà đấu tranh của Việt Nam thoát khỏi nhà tù Cộng Sản Việt Nam. Đáng kể nhất là trường hợp của nhà đấu tranh Đoàn Viết Hoạt năm 2018. Sau lời phát biểu của tôi, vài văn hữu của các trung tâm Văn Bút khác cũng phát biểu, và tri ân.

   

Chúng tôi nấn ná một lúc rồi vội quay về khách sạn. Thay đổi y phục xong chúng tôi gọi Uber để đến quảng trường Krakow tìm tiệm ăn tối sau đó đến International Cutural Centre để tham dự Sự Kiện của Văn Bút Ba Lan với đề tài Văn Bút Trong Thời Đại Âu Lo. Chương trình bắt đầu vào lúc 8 giờ tối( 20:00) cho đến 9 giờ 30 tối( 21:30)
Chúng tôi đã được nghe những lời phát biểu đầy ý nhị và thâm thuý của hai diễn giả: Tiến sĩ Volodymyr Yermolenko Chủ tịch Ukraine (Là triết gia, nhà văn tiểu luận, dịch giả, tiến sĩ nghiên cứu chính trị người Ukraine (Trường Nghiên cứu Cao cấp về Khoa học Xã hội: EHESS, Paris), nghiên cứu sinh khoa học triết học (Kiev, 2009), và giảng viên cao cấp tại Học viện Kyiv-Mohyla. Ông là người đoạt Giải thưởng Yurii Sheveliov (2018)[2] và Giải thưởng Petro Mohyla (2021) và nhà vănAdam Michnik ( Là nhà sử học, nhà tiểu luận, cựu nhà bất đồng chính kiến, trí thức người Ba Lan, đồng thời là người đồng sáng lập và tổng biên tập tờ báo Ba Lan Gazeta Wyborcza.


Sinh ra trong gia đình trung thành chủ nghĩa cộng sản, nhưng nhà văn Adam Michnik phản đối chế độ cộng sản Ba Lan vào thời điểm đảng này tiến hành thanh trừng người Do Thái năm 1968. Ông bị cầm tù sau Sự kiện Tháng Ba năm 1968 và một lần nữa sau khi thiết quân luật được áp đặt vào năm 1981. Ông được gọi là “một trong những tù nhân chính trị nổi tiếng nhất Ba Lan”. Ông đóng vai trò quan trọng trong các Cuộc đàm phán Bàn Tròn Ba Lan, kết quả là những người cộng sản đã đồng ý tổ chức bầu cử vào năm 1989, và Công đoàn Đoàn kết đã giành chiến thắng. Ông đã nhận được nhiều giải thưởng và danh hiệu, bao gồm Huân chương Bắc đẩu Bội tinh và Giải thưởng Người Châu Âu của Năm)
Khi người dẫn chương trình tuyên bố buổi họp kết thúc, tôi vội vã đến chụp hình với nhà văn Adam Michnik vì biết ông phải rời ngay để đáp máy bay về Warsaw thủ đô Ba Lan dự họp còn tiến sĩ Volodymyr Yermolenko, chủ tịch Ukraine thường hay ngồi chung bàn với trung btâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại trong Đại Hội thì tôi có thể chụp hình trong những ngày sau đó.


Thứ Năm ngày 4 tháng 9 năm 2025

 
 

Hội Nghị lần thứ ba:

Đúng 9 giờ sáng (9:00) chương trình bắt đầu phần Chiếc Ghế Trống
Kế tiếp là phần giới thiệu các trung tâm Văn Bút mới và phần thay đổi của một số trung tâm Văn Bút. Đây là phần rất quan trong vì một số đại biểu đã bất ngờ khi thấy trung tâm Văn Bút mình có tên trong Danh Sách bị loại. Qua các câu hỏi và trả lời, cử toạ đều rõ nguyên nhân các trung tâm Văn Bút “bị cho đi ngủ” hay “ bị loại” là do các trung tâm ấy không thường xuyên sinh hoạt, không liên lạc với Văn Bút Quốc Tế hay không đóng tiền niên liễm.

 

Tiếp theo là phần đọc của cựu chủ tịch VBQT Jennifer Clement về climate Manifesto rồi đến phần bàn thảo về Imagining Futures: PEN, Liturature and climate Reckoning (Hình dung tương lai: Văn Bút, Văn học và tính toán khí hậu)
12 giờ trưa chúng tôi được nghỉ dung cà phê 15 phút. Sau đó là phần bàn thảo các giải pháp
Từ một giờ rưỡi (13:30) đến 2 giờ rưỡi chiều (14:30) là phần ăn trưa
Buổi chiều được tự do nên chúng tôi đã dạo cung điên và trung tâm mua sắm của Krakow. Chúng tôi đã ghé vào một quán ăn Việt Nam ở đây. Thức ăn khá ngon.

 
B
Vì khá mệt sau một ngày lang thang đi bộ, chúng tôi không dự các chương trình buổi tối do Văn Bút Ba Lan tổ chức nhằm phát triển sự giao tiếp và thân quen ( Social gathering) tại Venue: Hevre ( Bar)


 
 
B
Thứ Sáu ngày 5 tháng 9 năm 2025

Hội Nghị lần thứ tư:

Từ chín giờ sáng đến một giờ trưa (9:00-13:00) chương trình có những mục sau:
Giới thiệu chiếc ghế trống lần thứ tư.
Phần thảo luận về sự Tự Do xuất bản: Sự kháng cự, rủi ro và trí tưởng tượng cấp tiến (The Freedom to Publish: Resistance, Risk, and Radical Imagination)
Phần thảo luận về sự Xóa Bỏ Văn Hóa (Cultural Erasure)
Một giờ trưa các đại biểu họp lại trước bục nói của khan đài để chụp hình chung. Sau khi chụp hình, tôi đã vào trang web của Đại Hội VBQT lần thứ 91 để bầu các trung tâm Văn Bút đang trong tình trạng giải quyết có còn tư cách hoạt động( Pending) và các chức vụ của các ứng cử viên, rồi đi ăn trưa.


Hội Nghị lần thứ năm:

Từ hai giờ rưỡi trưa đến bốn giờ rưỡi chiều (14:30-16:30) chương trình có những mục sau:
Giới thiệu chiếc ghế trống lần thứ năm
Thảo luận về vấn đề Đặt Văn học và Văn hóa Bản địa vào Trung tâm của các Cuộc đối thoại Toàn cầu (Centering Indigenous Literature and Culture in Global Conversations)
Công bố kết quả bầu cử
Bế mạc Hội Nghị
Rời ICE Trung Tâm Hội nghị Krakow, chúng tôi được xe buýt đưa đến Bảo Tàng viện Manggha. Nơi đây, đại diện của Văn Bút Quốc Tế đã trao hoa tặng cho các thành viên trong Ban Tổ chức của Văn Bút Ba Lan . Đồng thời Ban Chấp Hành của Văn Bút Ba Lan cũng trao tặng một số quà cho đại diện VBQT.

Chúng tôi được nghe chủ tịch Văn Bút Ba Lan phát biểu, được thưởng thức giọng ca vàng của ca sĩ Pervin Kaplan, được chiêm ngưỡng các tuyệt phẩm trong viện Bảo Tàng Manggha và được thưởng thức các món ăn nhẹ và rượu rất ngon.

 
 

Tình bạn của chúng tôi (các đại biểu của các trung tâm Văn Bút, khách mời và thiện nguyện viên) được mở rộng hơn qua những tấm ảnh chụp chung, những tiết mục văn nghệ và những câu nói bông đùa.
Buổi tiệc rượu (cocktail) do Villa Decius tổ chức đã chính thức kết thúc chương trình Đại Hội VBQT lần thứ 91.


Trước khi chờ xe buýt đưa về khách sạn, chúng tôi chụp hình với Sabrina người thường xuyên liên lạc email với tôi để thông báo các sinh hoạt của Văn Bút Quốc Tế.

 

Thứ Bảy ngày 6 tháng 9 năm 2025

Chúng tôi hẹn nhau dậy 3 giờ rưỡi sáng để chuẩn bị xe đón lúc 4 giờ đến Khu tưởng niệm và Bảo tàng Auschwitz-Birkenau. Nhưng mới ba giờ sáng mọi người đã thức dậy bởi tiếng mưa khá lớn kèm theo sấm chớp vang dội. Dù đã khá mệt vì lo lắng chuyện tham dự Đại Hội đúng giờ, đi lại khá nhiều từ nơi này đến nơi khác, nhưng tất cả chúng tôi đều muốn đến xem tận mắt những di tích trong Khu tưởng niệm và Bảo tàng Auschwitz-Birkenau. Khu tưởng niệm và Bảo tàng Auschwitz-Birkenau (Memorial and Museum Auschwitz-Birkenau) là trại tập trung và trung tâm diệt chủng lớn nhất của Đức Quốc xã ở Ba Lan sau khi Đức chiếm đóng quốc gia này. Đây là nơi Đức Quốc xã đã tàn sát hơn một triệu người đàn ông, phụ nữ và trẻ em, chủ yếu là người Do Thái.
Xe đưa chúng tôi đi gần hai tiếng mới đến nơi. Sáu giờ sáng đã có một hàng người nằm đứng, ngồi, trong hàng dài để chờ đợi. Không khí đột nhiên lạnh hơn những ngày trước một cách dị kỳ. Chúng tôi đã phải dùng áo khoác dày để giữ ấm. Sau đó, phải mua áo mưa để di chuyển thuận tiện và không bị ướt.


Bảy giờ, nhân viên làm việc bắt đầu cho vào từng đợt. Các hàng người di chuyển khá chậm vì tất cả đều phải trình hộ chiếu. TRước khi đi Ba Lan, anh Hiệp cố gắng vào website để đặt mua vé nhưng bị từ chối vì hết vé. Khi đến quảng trường của thành phố Krakow trong ngày đầu tiên khi ăn chiều, anh hỏi thăm nơi quảng cáo nhận đưa đi tour Khu tưởng niệm và Bảo tàng Auschwitz-Birkenau, tưởng rằng họ đã có vé trước nhưng đến nơi mới biết hướng dẫn viên đưa đi rồi đến xếp hàng cùng mình để mua vé sau. Vì thế, khi lấy vé xong, chúng tôi phải chờ từ tám giờ đến một giờ rưỡi chiều mới có đợt vào tham quan.


Người mà tôi quan tâm lo lắng nhất là văn hữu Võ Ngọc Hoa. Những ngày dự Đại Hội chị đã đi bộ khá nhiều, lại còn có lúc thức khuya, dậy sớm; cho nên, đi một lúc tôi lại hỏi chị có đi được không. Lần nào chị cũng trả lời là đi được. Sau khi đi vòng 28 baracks của trại Tập Trung của Đức Quốc Xã, chúng tôi lại hỏi chị có thể đi tiếp không. Và câu trả lời vẫn là chị đi được. Ngày hôm ấy, chúng đi trong khu trại tập trung này gần 8 cây số. Vậy mà khi về lại thành phố Krakow chúng tôi còn đi lang thang trên những con đường dành cho khách đi bộ quanh thành phố trước khi ghé vào tiệm ăn.


Qua chuyến đi dự Đại Hội VBQT lần này, tôi thật sự nghiêng mình khâm phục sự cố gắng vượt bậc của Thủ quỹ Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Tây Nam Hoa Kỳ (VBVNHN-VTNHK) văn hữu 83 tuổi Võ Ngọc Hoa. Chị đã tham dự đầy đủ các buổi họp và hết sức vui mừng khi biết VBVNHN giữ vai trò khá ổn định trong VBQT. Tôi chân thành cảm ơn Phó chủ tịch VBVNHN văn hữu Erlinda Thuỳ Linh đã giúp đỡ văn hữu Võ Ngọc Hoa tham gia chuyến đi, không cần dịch vụ xe lăn. Tôi chân thành cảm ơn anh Phạm Quang HIệp đã giúp chúng tôi có những bức hình đẹp, nhất là tấm hình chụp toàn thể đại biểu về dự họp Đại Hội Văn Bút Quốc Tế lần thứ 91 tại Ba Lan.

Riêng bản thân tôi, tôi đã thu thập và học hỏi rất nhiều vấn đề trong Đại Hội. Tôi sẽ chia sẻ những kinh nghiệm mà mình thực tế với các văn hữu hội viên trong những bức điện thư mà tôi đề cập vấn đề Bầu Cử Ban Chấp Hành VBVNHN nhiệm kỳ 2027-2029

Cung Thi Lan