Hiển thị các bài đăng có nhãn Hương Lệ Oanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hương Lệ Oanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 12 tháng 8, 2020

Đọc Thơ Dạ Vũ Của Trần Minh Tông - Thu Vũ Của Hồ Xuân Hương - Thính Vũ Của Nguyễn Trãi


Xin giới thiệu cùng độc giả ba bài thơ nói về MƯA là MƯA ĐÊM, MƯA THU, NGHE MƯA của ba thi nhân Việt Nam thuộc ba thế hệ khác nhau mà trong đó tâm sự của ba người có những điểm giống và khác nhau.

Cả ba bài thơ đều nói về “Mưa” và bày tỏ tâm sự của mình. Người thứ nhất là vua Trần Minh Tông (陳 明 宗) tên húy là Trần Mạnh (陳奣), sinh năm 1300, mất 1357. Người thứ hai là bà Hồ Xuân Hương (chữ Hán:胡春香, 1772 – 1822) là một nữ sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, mà tiểu sử của bà, tới nay, vẫn còn nhiều tranh cãi. Tác phẩm để lại hoàn toàn là thơ, trong đó phần chữ Nôm mà phẩm chất tốt đẹp cần nghiên cứu kỹ.

Bài thơ thứ nhất có tựa là Dạ Vũ (Mưa Đêm) của vua Trần Minh Tông , là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, được sáng tác, 30 năm sau nghi án giết oan cha vợ là Trần Quốc Chẩn. Thời điểm sáng tác vào khoảng năm 1356 nhân dịp ngài về thăm đền thờ Trần Quốc Chẩn, huyện Chí Linh, lúc nầy ngài đã trở thành Thái thượng hoàng. Năm sau ngài mất, từ đó nhà Trần bắt đầu suy vi.
“Dạ Vũ” (Mưa Đêm) là bài thơ trữ tình, mang đậm nét suy tư trầm buồn của một vị vua trong cảnh đêm mưa thu sắp tàn.

Bài thứ hai có tựa là Thu Vũ (秋 雨): Mưa Thu của Hồ Xuân Hương (胡春香, 1772–1822) là một thi sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, Hồ Xuân Hương sáng tác bài nầy khi nghe tin Nguyễn Du bị bệnh nặng hơn 3 tháng (Tam xuân tích bệnh bần vô dược/ Táp tải phù sinh hoạn hữu thân) mà không thang thuốc vì nghèo không tiền! Nàng động lòng trắc ẩn mến thương, viết bài thơ để đáp lại bài “Thu Dạ” của Nguyễn Du. Bài thơ nguyên tác bằng chữ Hán, làm theo thể thơ Đường gồm 7 chữ, 8 câu nhưng được “cách tân” cho phù hợp với phong cách thơ văn Việt Nam. Trong sự nghiệp văn chương đồ sộ của bà, sáng tác hầu hết bằng chữ nôm, còn thơ chữ Hán rất ít chỉ độ 10 bài. Mặc dù thơ chữ Nôm nhưng hình thức thì theo thể thơ Đường như đã trình bày ở trên.
Trời thu ảm đạm, mây trời bao la khói sương mù mịt, mưa thu tí tách trên sân vắng, rơi nhặt thưa trên tàu lá chuối nghe buồn làm sao! Nàng (HXH) ngồi một mình trong phòng vắng nghe tiếng mưa rơi lòng buồn ảo não, nhớ người yêu Nguyễn Du , giờ nầy không biết ra sao, tình xa vạn dậm biết bao giờ gặp lại? Ngâm xong bài thơ “Thu Dạ”nàng bàng hoàng ngẩn ngơ, nhớ ơi là nhớ!

Bài thứ ba Thính Vũ của Nguyễn Trãi 阮廌 (1380-1442) hiệu Ức Trai là một nhà thơ nổi tiếng cũng là một nhà chính trị. Thơ Nguyễn Trãi có phong thái của một bậc anh hùng có chí khí bản chất thoát vòng danh lợi. Những bài thơ chữ Hán của ông điêu luyện về ngôn ngữ và thể hiện tinh thần Nho giáo.
“Thính Vũ” là một bài thơ chữ Hán đầy tình cảm bộc lộ tâm tư của tác giả bắt đầu là cảnh trời mưa, trong gian phòng u tối tịch mịch, thi nhân là khách trọ đã thức thâu đêm một mình trong căn phòng vắng vẻ u tối nghe tiếng mưa rơi tâm trạng bồn chồn, như chưa thực hiện một hoài bão lớn, một trách nhiệm nam nhi nợ nước thù nhà, tiếng trúc khua tiếng chuông chùa hoà âm điệu làm cho nỗi buồn càng chất ngất thức thâu đêm, ngoài trời mưa rỉ rả lúc to lúc nhỏ, ngâm thơ vẫn không sao ngủ được đến sớm mai ( Hương Lệ Oanh)
***
Bài thứ nhứt: Dạ Vũ


Nguyên tác:
夜雨

秋氣和燈失曙明
碧蕉窗外遞殘更
自知三十年前錯
肯把閒愁對雨聲

(陳 明 宗)
***
Phiên âm Hán Việt:
Dạ vũ

Thu khí hòa đăng thất thự minh,
Bích tiêu song ngoại đệ tàn canh.
Tự tri tam thập niên tiền thác,
Khẳng bả nhàn sầu đối vũ thanh.

Trần Minh Tông
***
Dịch nghĩa:
Mưa đêm

Hơi thu hòa cùng ánh đèn làm mờ đi ánh sáng ban mai.
(Giọt mưa rơi) trên tàu chuối xanh ngoài song cửa (tí tách) tiễn canh tàn.
Tự biết ba mươi năm trước ta đã lầm lỗi,
Nay đành ôm hận mối sầu mà nghe tiếng mưa rơi.

Dịch thơ:
Mưa Đêm

Thu nhạt trăng mờ,buổi sớm mai
Bên song tàu chuối tiễn canh dài
Ba mươi năm trước,ta lầm lỡ
Ôm hận nghe mưa, đếm giọt rơi.

Nguyễn Cang
***
Bài thứ hai, Thu Vũ


Nguyên tác:

秋雨

天隔雲陰慘不明
蕭蕭秋雨落閒庭
短長枯樹枝頭淚
舒急黃蕉葉上聲
吟斷低迷千里夢
愁牽寥落五更情
深閨最苦如花面
一片愁容畫不成.
(胡春香)
***
Phiên âm Hán Việt:
Thu Vũ

Thiên cách vân âm thảm bất minh,
Tiêu tiêu thu vũ lạc nhàn đình.
Đoản trường khô thụ chi đầu lệ,
Thư cấp hoàng tiêu diệp thượng thanh.
Ngâm đoạn đê mê thiên lý mộng,
Sầu khiên liêu lạc ngũ canh tình.
Thâm khuê tối khổ như hoa diện,
Nhất phiến sầu dung hoạ bất thành.

Hồ Xuân Hương
***
Dịch thơ:
Bản 1: Ngân Triều diễn thơ, Mưa Thu:
Mưa Thu

Mây mù ảm đạm, mây mông mênh
Tí tách mưa thu, sân vắng tanh.
Cây chết đầu cành, rơi những lệ,
Mưa khua tiếng chuối, tiếng trầm thanh.
Đọc thư thờ thẩn người xa cách,
Quạnh vắng sầu giăng suốt ngũ canh.
Đắng lắm khuê phòng hoa héo hắt,
Nỗi buồn se thắt vẽ không thành.

Ngân Triều
***
Bản 2: Nguyễn Cang dịch thơ, Mưa Thu:
Mưa Thu

Trời mây sầu thảm ngập mông mênh
Tí tách mưa thu, sân vắng tanh
Cây chết, vắn dài cành nhỏ lệ
Mưa rơi tàu chuối tiếng trầm, thanh
Thơ ngâm dứt đoạn, sầu ly biệt
Khắc khoải u hoài thức trắng canh
Vò võ khuê phòng hoa héo úa
Sầu riêng một mảnh mộng không thành!

Nguyễn Cang (15/10/2017)
***
Bản 3: Hương Lệ Oanh dịch thơ:
Mưa Thu

Mây trời buồn thảm ngập chiều hoang,
Sân vắng mưa thu rớt nhẹ nhàng.
Cây chết cành khô rơi giọt lệ,
Mưa trên tàu chuối dội âm vang.
Thơ ngâm đứt đoạn sầu hiu quạnh,
Thức suốt canh trường lệ chứa chan!
Khắc khoải khuê phòng hoa héo hắt,
Sầu tư nặng trĩu vẽ không an!

Kim Oanh - Hương Lệ Oanh
***
Bài thứ ba, "Thính Vũ" của Nguyễn Trãi


Nguyên tác và phiên âm:

聽雨 Thính Vũ

寂寞幽齋裏 Tịch mịch u trai lý
終宵聽雨聲 Chung tiêu thính vũ thanh
蕭騷驚客枕 Tiêu tao kinh khách chẩm
點滴數殘更 Điểm trích sổ tàn canh
隔竹敲窗密 Cách trúc xao song mật
和鐘入夢清 Hòa chung nhập mộng thanh
吟餘渾不寐 Ngâm dư hồn bất mị
斷續到天明. Đoạn tục đáo thiên minh

阮廌              Nguyễn Trãi
***
Dịch nghĩa:
Nghe Mưa

Trong thư phòng, vắng vẻ tối tăm,
Suốt đêm nghe tiếng mưa rơi
Buồn áo não, làm kinh động gối khách,
Giọt mưa tí tách suốt mấy canh tàn.
Cách bụi trúc, tiếng khua nhặt đập vào cửa sổ,
Hòa lẫn với tiếng chuông vẳng vào trong giấc mộng.
Ngâm vịnh mãi rồi vẫn không ngủ được,
Nghe đứt nối cho đến trời bình minh.

Dịch thơ:
Bản 1: Nguyễn Cang

Nghe Mưa

Tối tăm phòng vắng, lặng êm đềm
Mưa suốt năm canh chạnh ngóng thêm
Buồn bã giật mình, lay gối khách
Eo sèo mưa thấm, lạnh trời đêm
Gió khua bụi trúc vang khung cửa
Hòa tiếng chuông chùa khuấy mộng êm
Ngâm vịnh trở trăn thao thức mãi
Mưa đêm khoan nhặt sáng dần im!!!

Nguyễn Cang
***
Bản 2: Hương Lệ Oanh
Nghe Mưa

Thư phòng vắng vẻ càng u-tịch,
Thao thức nghe mưa tí tách ngoài.
Phơn phớt gió lùa lay gối khách,
Mưa rơi rả rích suốt đêm dài.
Mở lòng tiếng trúc khua cùng gió,
Hoà nhịp chuông ngân giấc mộng lay.
Ngâm vịnh vẫn không sao ngủ được,
Tiếng mưa thưa nhặt đến ban mai.

Hương Lệ Oanh
Virginia

Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2020

Ngày Về



Bài Xướng:
Ngày Về

Đường xưa lối cũ sáng hừng đông
Ngõ trúc quanh co lúa ngát nồng
Chim sáo véo von, mùa tết đến
Chào mào lách cách, bạn tình trông
Ngập ngừng tìm lại con đường nhỏ
Ngơ ngác hỏi thăm chợ cuối đồng
Xa cách bao năm giờ trở lại
Xuân nầy mẹ có ngóng chờ mong?!

Nguyễn Cang
***

Bài Họa:

Xuân Xưa

Bảng lảng mây chiều lạnh cuối đông
Được mùa lúa chín ngát hương nồng
Người đi phiêu lãng chưa lần gặp
Kẻ ở mỏi mòn dõi mắt trông
Hàng trúc vươn mình phơi nắng mới
Cò bay xoải cánh lướt qua đồng
Xuân xưa kỷ niệm đầy lưu luyến
Ký ức xa vời vẩn đợi mong.

Hương Lệ Oanh VA
***

Về Thăm Quê Cũ

Trời chớm sang mùa, lạnh gió đông,
Chiều quê khói bếp thoảng thơm nồng.
Sắp thêm tuổi nữa, già ngao ngán,
Lại đón xuân về, trẻ ngóng trông.
Đã thấy nắng vàng ươm khóm trúc,
Thèm nghe lúa chin ngát hương đồng.
Còn đây cuống rún ngày xưa ấy,
Năm tháng đong đầy nỗi nhớ mong

Minh Tâm
***
Mãi Đợi!!!


Đà Lạt đêm về gió buốt đông
Xe qua các nẻo toả hương nồng
Cảnh phong muôn vẻ mừng xuân đến
Thành phố ngàn hoa thoả mắt trông
Nhớ mảnh trăng vàng đan lối mộng
Vin cành dương biếc dệt tâm đồng
Không gian còn đó người đâu nhỉ?
Mãi đợi tao phùng... lắm ước mong!

Kim Trân
***

Một Chút Tình Xuân

Én liệng lưng trời đón gió đông
Ngàn hoa hàm tiếu nhụy khoe nồng
Non xanh nước biếc âm thầm dõi
Biển rộng sông dài lặng lẽ trông
Vẫn nhớ lửa rơm lùi cá lóc?
Còn thương khói rạ gói hương đồng?
Nhiều năm xa vắng phai màu mắt
Người cũ xuân nầy có đợi mong?

Nguyên Triêu Dương

Thứ Ba, 17 tháng 12, 2019

Ngỏ Ý



Xướng
Ngỏ Ý


Ngỏ ý cùng ai nói mấy lời,
Quyết liều theo đuổi chẳng buông trôi.
Thương thầm người ấy từ lâu lắm,
Bày tỏ lòng mình chẳng chịu thôi.
Tình cảm ngọt ngào như đã rõ,
Êm đềm lý trí mãi nào vơi.
Thôi thì đã thốt lời yêu dấu,
Giữ vững keo sơn dạ chẳng dời.

Hương Lệ Oanh (VA)
***
Họa: 

Yêu Là Khổ

Ngóng đợi bao năm chẳng ngỏ lời,
Tình yêu đơn độc tợ bèo trôi.
Khi buồn đứng đón mây kêu gởi,
Lúc nhớ ngồi trông gió gọi thôi.
Sao bỗng người đâu in dáng hiện,
Thì ra ai đó khiến hồn vơi.
Tim run lập cập như ai kéo,
Mới biết yêu chi khó đổi dời!

Hồ Nguyễn
(02-12-2019)
***
Tiếc Thầm

Cháy bỏng yêu em, cứ ngượng lời,
Lần lần, lữa lữa, vụt xuân trôi...
Toan liều mấy bận,...sang...còn ngại,
Định ngỏ đôi lần,...ướm...lại thôi...
Sớm sớm nôn nao lòng thổn thức,
Đêm đêm thắc thỏm dạ đầy vơi...
Giá ngày ấy nói câu...gì nhỉ,
Chắc hẳn lương duyên phận khó dời!

Nguyễn Huy Khôi 
(29-11-2019)

Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2019

Thính Vũ 聽雨 - Nguyễn Trãi


(Nguyễn Trãi)

Nguyên tác  Phiên âm: 

聽雨            Thính Vũ

寂寞幽齋裏 Tịch mịch u trai lý 
終宵聽雨聲 Chung tiêu thính vũ thanh
蕭騷驚客枕 Tiêu tao kinh khách chẩm
點滴數殘更 Điểm trích sổ tàn canh
隔竹敲窗密 Cách trúc xao song mật
和鐘入夢清 Hòa chung nhập mộng thanh
吟餘渾不寐 Ngâm dư hồn bất mị
斷續到天明. Đoạn tục đáo thiên minh .
阮廌              Nguyễn Trãi 

Thể thơ: ngũ ngôn bát cú, trong Ức Trai thi tập. Thơ làm trong khi chưa thành đạt. 
Chú thích từ ngữ: 

Tịch mịch (寂寞): yên lặng. 
U (幽): vắng vẻ, tối tăm, sâu kín // cửu u 九幽: nơi âm phủ. 
U cư: 幽居: ở ẩn. U trai (幽齋): thư phòng vắng lặng, tối tăm. 
Lý (裏): phía trong 
Tiêu (宵): đêm. Trung tiêu: nửa đêm. Chung tiêu(終宵): suốt đêm, từ tối cho tới sáng. 
Thính (聽): nghe 
Tiêu tao (蕭騷): buồn bã, sầu não, tiêu điều. 
Chẩm (枕): gối nằm 
Trích (滴):dt là giọt nước, quyên trích 涓滴 : giọt nước tí tẹo// đt là nhỏ giọt. 
Sổ ( 數): số đếm, vài ba. 
Sổ nhật: vài ba ngày. 
Xao (敲): gõ, đập. Xao môn: 敲門 gõ cửa. 
Mật (密): kín, dày, đầy, rậm rạp, liền kín. Mật mật tằng tằng 密密層層: chập chồng liền kín. 
Ngâm dư (吟餘): sau khi ngâm xong. 
Mị (寐): ngủ 
Đoạn tục (斷續): đứt nối, mưa ngưng rồi tiếp tục lại. 

Dịch nghĩa: 
Nghe Mưa

Trong thư phòng, vắng vẻ tối tăm, 
Suốt đêm nghe tiếng mưa rơi 
Buồn áo não, làm kinh động gối khách,
Giọt mưa tí tách suốt mấy canh tàn.
Cách bụi trúc, tiếng khua nhặt đập vào cửa sổ,
Hòa lẫn với tiếng chuông vẳng vào trong giấc mộng.
Ngâm vịnh mãi rồi vẫn không ngủ được,
Nghe đứt nối cho đến trời bình minh. 

Lời bàn: 

Nguyễn Trãi 阮廌 (1380-1442) hiệu Ức Trai là một nhà thơ nổi tiếng cũng là một nhà chính trị tài ba. Ông là một đại công thần của nhà Lê ( Lê Lợi tức Lê Thái Tổ). Ông có công trong việc giúp Lê Lợi kháng chiến chống quân Minh từ 1418 cho tới lúc thành công 1428. Ông là một nhà chính trị tài ba giúp Lê Lợi đưa ra kế sách, vận động toàn dân đứng lên chống xăm lăng. Sau khi giành được độc lập (1428) ông viết bài Bình Ngô đại cáo ( 平吳大誥), thay lời Bình Định Vương Lê Lợi để tuyên cáo về việc giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, khẳng định sự độc lập của nước Đại Việt. Đây được coi là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam. Bình Ngô Đại Cáo là tác phẩm văn học với chức năng hành chính quan trọng đối với lịch sử dân tộc Việt Nam và là tác phẩm có chất lượng văn học cao. Thơ Nguyễn Trãi chủ yếu nằm trong Ức Trai Thi Tập, gồm 105 bài thơ chữ Hán, là một trong các tập thơ chữ Hán đặc sắc của Nguyễn Trãi, trong đó có 17 bài tồn nghi. Đa số các bài trong tập này là thơ thất ngôn bát cú; thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn, chỉ có 2 bài theo thể trường thiên là "Côn Sơn ca" và "Đề Hoàng ngự sử Mai tuyết hiên". Về sau thêm vào 234 bài thơ chữ Nôm, làm thành Quốc Ăm Thi Tập còn truyền tụng và lưu giữ cho tới ngày nay. 

“Thính vũ” là một bài thơ trữ tình được sáng tác trước khi cuộc kháng chiến thành công. Như vậy có thể nói bài nầy được sáng tác trước 1428. Bài thơ bộc lộ tâm trạng một cách sâu sắc. 

Cha của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh làm quan dưới triều nhà Hồ ( Hồ Hán Thương) giữ những chức vụ quan trọng. Năm 1407 quân Minh xăm lược nước ta, bắt Hồ Quý Ly giải về Tàu, Nguyễn Phi Khanh cũng cùng chung số phận. Khi đó Nguyễn Trãi chạy theo cha khóc lóc thảm thiết, đến Ải Nam Quan thì cha bảo Nguyễn Trãi hãy quay về Thăng Long tìm cách diệt giặc trả thù cho cha rữa hận cho nước, chứ theo khóc lóc mà làm gì? Ông nghe lời cha quay về lo chuyện phục thù. "Khi Bình Định Vương Lê Lợi về đánh ở Lỗi Giang Nguyễn Trãi xin đến yết kiến và lên bài sách Bình Ngô. Bình Định Vưng xem xong khen hay, dùng ông làm tham mưu. Ông giúp Bình Định Vương bày mưu định kế để lo sự bình định (Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim). 

Chính trong thời gian làm tham mưu cho Bình Định Vương mà Nguyễn Trãi đã sáng tác bài thơ "Thính Vũ" nầy. Bắt đầu là cảnh trời mưa, chàng trai trẻ Nguyễn Trãi hồi đó đã thức thâu đêm một mình trong phòng vắng, ở một lữ quán nào đó trên đường đi công tác bí mật, tránh sự dòm ngó của quân thù. Ông lắng nghe tiếng mưa rơi mà lòng rầu rỉ lo âu chuyện đời, việc nước. Trong thư phòng nhỏ lạnh lẽo, vắng lặng, tối tăm, nói lên nỗi cô đơn trống vắng giữa không gian u tịch mênh mông. Cảnh tượng mưa đêm, có tiếng gió lay xào xạc, tiếng tí tách trên tàu lá, trên mái tranh, trên khóm trúc là những hình ảnh rất thật có tác dụng xoáy vào tâm tư Nguyễn Trãi, một con người đang ôm ấp một hoài bão lớn. Tiếng mưa rơi cũng là tiếng lòng của tác giả đã chạm vào chốn sâu thẳm trong tim chứa đựng một ước mơ. 
Ta thấy cảm xúc trong ông thật đậm đà nhưng nóng bỏng tình yêu quê hương đất nước tưởng như tới cực độ, dồn nén trong lòng, vượt quá sự ức chế. Ông trằn trọc, lo âu, day dứt mong cho dứt cơn mưa nhưng sao mưa cứ mưa mãi mưa hoài suốt năm canh cho tới sáng hôm sau! Tiếng động của mưa gió làm ông giật mình không ngủ, phải chăng ông đang lo nghĩ tới ngày mai, biết bao giờ cuộc kháng chiến mới thành công? Ông lo lắng tự hỏi sao cơn mưa cứ kéo dài mãi, chẳng khác nào cuộc kháng chiến hiện tại đã trải qua gần 10 năm rồi ! Ông mong cho mưa chấm dứt tức cuộc kháng chiến thành công. 

Trong tiếng mưa, dường như có cả tiếng chuông chùa từ xa vọng lại. Tiếng chuông như động vào giấc mơ, làm nhà thơ bừng tỉnh. Một giấc mơ dấu kín trong lòng, của người đang thao thức, mong cho trời mau sáng. Tác giả tả tâm trạng của một người có chí khí lớn qua hình ảnh và âm thanh thật đặc sắc vừa gợi hình, gợi cảm vừa ẩn dụ sâu xa. Quả thật là một bài thơ hay, cô đọng ! 


Dịch thơ: 
1. Diễn dịch bằng thơ lục ngôn: 

Nghe Mưa

Trời tối thư phòng vắng lặng 
Suốt đêm nghe tiếng mưa rơi 
Áo não kinh hồn gối khách 
Giọt mưa tí tách chưa thôi 
Khóm trúc xạt xào cửa sổ 
Chuông ngân hòa mộng chơi vơi 
Ngâm vịnh không tròn giấc ngủ 
Mưa hoài tới sáng nào ngơi! 

Nguyễn Cang 

2. Diễn dịch bằng thơ thất ngôn: 

Nghe Mưa

Tối tăm phòng vắng, lặng êm đềm 
Mưa suốt năm canh chạnh ngóng thêm 
Buồn bã giật mình, lay gối khách 
Eo sèo mưa thấm, lạnh trời đêm 
Gió khua bụi trúc vang khung cửa 
Hòa tiếng chuông chùa khuấy mộng êm 
Ngâm vịnh trở trăn thao thức mãi 
Mưa đêm khoan nhặt sáng dần im!!! 

Nguyễn Cang 

3. Bản dịch:  
Nghe Mưa

Thư phòng vắng vẻ càng u-tịch, 
Thao thức nghe mưa tí tách ngoài. 
Phơn phớt gió lùa lay gối khách, 
Mưa rơi rả rích suốt đêm dài. 
Mở lòng tiếng trúc khua cùng gió, 
Hoà nhịp chuông ngân giấc mộng lay. 
Ngâm vịnh vẫn không sao ngủ được, 
Tiếng mưa thưa nhặt đến ban mai. 

Hương Lệ Oanh

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2019

Độc Ẩm Ngắm Hoa



Bài xướng:
Độc Ẩm Ngắm Hoa


Khói tỏa hương sen quyện tách trà
Mai vàng mấy độ trải sương pha
Nâng ly bạch cúc lòng xao xuyến
Uống chén hồng đào dạ xót xa
Nhớ quá làn môi bừng sức sống
Thương hoài kỷ niệm tiếc ngày qua
Thủy tiên sắc thắm sầu ly biệt
Màu trắng thơ ngây đậm thiết tha!

Nguyễn Cang
***
Tự Thán: Suy Nghĩ Lẩn Thẩn Khi Độc Ẩm

Khói bay nghi ngút, đậm hương trà,
Thoang thoảng thơm mùi hoa cúc pha.
Nâng tách, nhớ về quê hương cũ;
Cạn bình, nghĩ lại xóm làng xa.
Buâng quơ, chẳng đợi tương lai tới;
Lẩn thẩn, không màng dĩ vãng qua.
Ly xứ bao năm còn luyến tiếc;
Trách trời đày ải, chẳng dung tha .

Thảo Chương TQV

06-11-2019
***
1/ Độc Ẩm

Bên hiên độc ẩm mấy tuần trà
Cuối nẽo chân trời khói trắng pha
Tiếng quốc kêu sương buồn áo não
Canh gà gọi sáng vẳng xa xa
Người xưa sẩy nghé không lui tới
Bạn cũ tan đàn chẳng lại qua
Tuế nguyệt dần trôi đầu đã bạc
Diêm đình sắp gọi dẫu “quan” tha!
2/ Lấy Chồng Xứ Xa

Chén cơm đôi đũa bộ đồ trà
Cha yếu mẹ già tóc bạc pha
Cất bước theo chồng về đất lạ
Lìa quê biệt xứ đến trời xa
Mai vàng trước ngõ bao lần nở
Lá úa bên đường mấy lượt qua
Bổn phận làm con không trọn hiếu
Luân thường lỗi đạo khó mà tha
Đinh Tường

***
Thưởng Trà Buổi Sáng

Sáng ngồi hiên vắng nhấp chung trà,
Sen trắng cúc vàng tơ nắng pha.
Lấp lánh sương mai phô ngọc biếc,
Dịu dàng mây lụa trải trời xa.
Hoa vừa hé nhụy chào ong đến,
Bướm cũng ngây tình đón gió qua.
Mấy đóa hồng nhung đương trổ nụ,
Sâu xanh vài đứa chẳng buông tha.

Minh Tâm

***
Thưởng Hoa

Mừng nhau thiết bạn mấy chung trà
Thưởng ngoạn hoa vườn gió nắng pha
Sen đỏ vườn cao thuần tính khiết
Lan vàng mời gọi ẩn tình xa
Thời xuân thơ mộng tìm ôn lại
Én bướm vờn du thoảng vụt qua
Ngơ ngẩn làn môi hương vị đắng
Chia tay còn luyến vọng lời tha!

Kim Trân
***
Đối Ẩm Chờ Trăng

Vượt đỉnh Tuyết Sơn hái ngọn trà
Đem về sông Cửu chọn sen pha
Phơi sương ĐồngTháp e sương mọn
Hong nắng Tây Thành ngại nắng xa
Đợi khách phong trần từ dạo ấy
Mong người lữ thứ suốt mùa qua
Hàn huyên tâm sự chờ trăng sáng
Đối ẩm cho đời biết vị tha.

Nguyên Triêu Dương
***

Trà Thoát Tục

Tịnh tâm đối diện tách thiền trà
Ngào ngạt hương thơm lúc mới pha
Sáng dậy thong dong ngồi thưởng thức
Chiều về lặng lẽ đứng trông xa
Gởi hồn theo gió lời chưa ngỏ
Nhắn giúp mây ơi chuyện đã qua
Ngẫm lại nhân sinh đâu là mấy!?
Muôn loài thức tỉnh cảnh vui tha

Hương Lê Oanh


Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2019

Cảnh Nhàn



Bài Xướng:
Cảnh Nhàn


Quê nghèo mộc mạc chẳng ganh đua
Cá tép rau xanh đủ bốn mùa
Sáng cháo tôm càng nêm bột ngọt
Chiều cơm cá hú nấu canh chua
Thanh nhàn đọc sách nghe chim hót
Rảnh rỗi làm thơ đón gió lùa
Chén rượu chung trà vui xướng hoạ
Ngoài tai gác bỏ chuyện hơn thua.

Đinh Tường
***

Ưa Nhàn

Mòn mỏi một đời gắng sức đua,
Giờ đây già lão, gió sang mùa.
Sắc hồng đã nhạt thêm vàng úa
Vị đắng hòa cay lẫn chát chua.
Thuyền vẫn ước ao sông phẳng lặng,
Thân đành phó mặc sóng xô lùa.
Ưa nhàn, mượn bút dăm vần họa,
Thây kệ trần gian chuyện thắng thua…

Minh Tâm
***

Hưởng Nhàn

Hoàng hôn tuổi hạc hết tranh đua
Man mác tàn thu lá đổi mùa
Trời lạnh nghe thèm tô mắm thái
Mưa rào bỗng nhớ lẫu me chua
An nhàn dạo chợ tìm mua sắm
Hứng khởi dang tay hứng nắng lùa
Bưổi sáng thảnh thơi đưa cháu học
Bỏ bên đời đời chuyện thắng hay thua.

Nguyễn Cang
***

Thanh Nhàn

Ngày tháng trôi dần lắm cuộc đua
Trời thu lành lạnh gió giao mùa
Đời người trải nghiệm đầy cay đắng
Khoảnh khắc qua rồi nếm vị chua
Tự tại ung dung tâm tỉnh thức
An nhiên thanh thản gió giông lùa
Tiêu dao xướng họa cùng bằng hữu
Tận hưởng thanh nhàn bỏ thiệt thua.

Hương Lệ Oanh
***

Tự Trào Về Hưu

Rửa tay gác kiếm, nghỉ tranh đua
Nhậu nhẹt vui chơi, bất kể mùa
Nhắm mắt, kệ bà hay õng ẹo
Bịt tai, mặc mụ cứ chanh chua
Bầu đầy rượu mạnh, tha hồ nhắp
Chén ngập mồi ngon, cứ việc lùa
Còn chẳng bao ngày sao chẳng hưởng
Can chi đến việc thắng hay thua?

Thảo Chương TQV
***

Thú Nhàn

Nghiệt ngả đường đời cứ mãi đua
Sông lam núi bạc chuyển sang mùa
Hàn vi nếm đủ màu cay đắng
Vượt khó dư đầy nỗi chát chua
Thuyền lộng cập bờ qua sóng dữ
Rèm buông thả giấc tránh đông lùa
Ngắm trăng dạo cảnh-thơ cùng bạn
Vui thú thanh nhàn gác được thua.

Kim Tran
***

Ngàn Mây Rộng Gió

Người đời lão luyện mặc tình đua
Ta với ngàn mây rộng gió mùa
Gởi nắng trên cành vì khế ngọt
Trao lời trong lá bởi bòng chua
Chiều nghiêng ngoạn cảnh e sương bủa
Bóng ngã nhìn hoa ngại khói lùa
Thơ rượu giao hòa thư thả sống
Quan trường chợ búa đã chào thua.

Nguyên Triêu Dương

Thứ Ba, 29 tháng 10, 2019

Hồi Hương Ngẫu Thư 回鄉偶書 - Hạ Tri Chương  

Tình cờ đọc bài Hồi Hương Ngẫu Thư Biến Cải  của Trần-Lâm Phát, tôi tìm bài Hồi Hương Ngẫu thư của Hạ Tri Chương.  


回鄉偶書 變改                 Hồi Hương Ngẫu Thư Biến Cải 

三 十 離 鄉 六 十 回        Tam thập ly hương lục thập hồi 
鄉 音 無 改 鬢 毛 衰         Hương âm vô cải tấn mao suy
同 門 相 見 不 相 識         Đồng môn tương kiến bất tương thức  
笑 問 客 君 尋 找 誰         Tiếu vấn khách quân tầm trảo thùy  

Diễn dịch: 

Biến chế Bài Ngẫu nhiên viết khi về quê 
Ba mươi đi sáu mươi về lại 
Giọng nói quê mùa rụng tóc mai 
Bạn học nhìn nhau nhưng chẳng nhận 
Vừa cười vừa hỏi ông tìm ai 

Trần-Lâm Phát 
Sài gòn 2011 
(Phỏng bài Hồi Hương Ngầu Thư của Hạ Tri Chương) 
***
Bài thơ Hồi Hương Ngẫu Thư là bài thơ thứ 261 trong quyển "Đường Thi tam Bách Thủ" lưu trữ trong thư viện Trường Đại Học Virginia và trong trang web 300 Tang shi: 

回鄉偶書                Hồi Hương Ngẫu Thư  

少小離家老大回     Thiểu tiểu ly gia lão đại hồi 
鄉音無改鬢毛衰      Hương âm vô cải tấn mao suy 
兒童相見不相識      Nhi đồng tương kiến bất tương thức 
笑問客從何處來      Tiếu vấn khách tòng hà xử lai 

賀知章                      Hạ Tri Chương 
***
Dịch nghĩa: 

Tuổi trẻ ra đi, già mới về,
Giọng nhà quê vẫn không đổi, râu tóc đã rụng hết.
Trẻ con trong thấy, không nhận ra,
Cười hỏi, khách từ phương nào đến? 

Đây là 1 trong 20 bài thơ của Hạ Tri Chương (659-744). Ông là một nhà thơ nổitiếng thời Đường, người Quảng đông, tự là Quý Chân. Ngoài thơ ra, ông còn viết truyện. Ông đậu tiến sĩ năm 695, làm Thái tử tân khách rồi đến Bíthư giám. Đầu đời Thiên Bảo, ông từ quan về làng tự xưng là Tứ Minh cuồng khách. 
Bài thơ mang tâm trạng ngậm ngùi của tác giả khi từ quan về quê cũ sau hơn 50 năm xa cách và trẻ em ngỡ là khách lạ mới đến. 
Nhiều người đã dịch và biến cải bài thơ trên. 

Ngẫu Nhiên Viết Khi Về Quê 
Lúc trẻ ra đi già trở lại 
Tóc râu đã bạc giọng chưa thay 
Trẻ con thấy mặt không quen biết 
Cười cợt hỏi đùa ông là ai.
 
Phí Minh Tâm
***
Diễn Dịch: 

Tuổi trẻ ra đi biệt cố hương 
Khi già trở lại luống bi thương 
Người xưa tiếng nói nghe còn rõ 
Trẻ nhỏ ngỡ rằng khách bốn phương 

Hương Lệ Oanh 
***
Diễn dịch qua thất ngôn bát cú: 

Chạnh Lòng Hồi Hương

Xa quê biền biệt biết bao năm 
Cuộc sống công danh lúc lại trầm 
Khi nhỏ ra đi cầu sự nghiệp 
Về già trở lại chẳng ai thăm 
Giọng quê rành rõ người nơi cũ 
Tóc bạc thưa dần chẳng tiếng tăm 
Trẻ nhỏ trông qua ngờ khách lạ 
Quay về thoáng chốc đã nhiều năm 

Hương Lệ Oanh 
***
Hoài Hương

Biền biệt tha phương hai mấy năm 
Chạnh nghe ngao ngán những thăng trầm 
Bồi hồi ngoảnh lại dòng sông nhớ 
Ngơ ngác trông về ngọn núi thăm. 
Vẫn đấy trường xưa thêm rạng rỡ, 
Mà sao bạn cũ lại mù tăm? 
Tuổi già, tóc bạc, lòng đâu bạc 
Ôm nỗi hoài hương suốt tháng năm. 

Minh Tâm 
***
Tự Thán: Tấm Thân Lưu Lạc 

Thấm thoái ly hương mấy chục năm; 
Thân ta trôi dạt, đủ thăng trầm. 
Nhớ thời oanh liệt, bao người viếng; 
Gẫm lúc suy tàn, hiếm khách thăm. 
Núi chắn làng xưa... xa mút chỉ ; 
Biển ngăn quê cũ...cách mù tăm. 
Cuối đời lưu lạc, buồn hiu quạnh, 
Mơ ước ngày về, đếm tháng...năm. 

Thảo Chương TQV 
17-10-2019 
***
 Vọng Cố Hương (I) 

Tha hương tị nạn mới mười năm 
Ngẫm lại đời như nốt nhạc trầm 
Mộ mẹ bìm leo chưa buổi viếng 
Mồ cha cỏ mọc chẳng lần thăm 
Người nơi đất khách còn xa dạng 
Kẻ chốn phương trời vẫn vắng tăm 
Nhớ lúc ra đi thầm ước nguyện 
Cầu xin cách biệt chỉ vài năm. 

 Vọng Cố Hương (II) 

Ngày đi những tưởng chỉ đôi năm 
Đâu biết đời đang bỗng lại trầm 
Tuế nguyệt xoay vần quê chửa viếng 
Tang thương biến đổi xứ chưa thăm 
Người xưa nhớ mãi mơ hình bóng 
Bạn cũ đi dần vắng dạng tăm 
Thất quốc vong gia sầu lữ khách 
Thời gian lặng lẽ tháng rồi năm. 

Đinh Tường 
***
Ngày Về

Xa cách quê nhà mấy chục năm 
Cuộc đời trôi nổi bước thăng trầm 
Ra đi xứ khác không ai biết
Bỏ lại mẹ già chẳng kẻ thăm...
Nay nhớ quay về tìm quá khứ
Trẻ con thấy lạ chạy mù tăm
Lòng buồn lặng lẽ quay chân bước
Lạc lõng quê người mấy chục năm! 

Nguyễn Cang 
***
Trở Lại Quê Nhà

Biệt bóng quê nhà ngần ấy năm 
Trải bao gian khó bước thăng trầm 
Ngày đi trai trẻ xây đời mộng 
Giờ đến làng xưa nhã ý thăm 
Cảnh đổi bạn đâu tìm chẳng thấy 
Đò trôi bến vắng mịt mờ tăm 
Bé con tưởng khách nhìn ngơ ngác 
Mái tóc nhoà sương bởi tháng năm. 

Kim Trân 
***
Vọng Cố Hương

Tuổi đời xót lại đếm hằng năm 
Sự thế tang thương bỗng hóa trầm 
Mấy thuở nhà xa chưa trở lại 
Bây giờ quê cũ đã về thăm 
Đâu vì núi thẫm chim vang bóng 
Hay bởi sông dài cá biệt tăm 
Khách lạ chiều nay tìm dĩ vãng 
Vỡ òa kỷ niệm nén hằng năm. 

Nguyên Triêu Dương