Hiển thị các bài đăng có nhãn BIÊN KHẢO. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BIÊN KHẢO. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2026

Tạp Ghi Và Phiếm Luận: Đông Là Mùa Đông


ĐÔNG 冬 là mùa Đông, mùa cuối cùng trong năm sau mùa Thu và trước mùa Xuân của năm sau. Tính theo Âm lịch thì mùa Đông là các tháng Mười, Mười Một và tháng Chạp trong năm, nhưng nếu tính theo Dương lịch thì là các tháng Mười Hai, tháng Giêng và tháng Hai. Còn nếu ở Nam Bán cầu như các nước Úc, nước Tạn Tây Lan thì mùa Đông là các tháng Sáu, tháng Bảy và tháng Tám.
Theo Âm lịch thì trong mùa đông, có tất cả 6 KHÍ TIẾT 氣節 (Khí hậu về Thời tiết) được phân bố như sau:
* Tháng Mười có 2 Khí tiết là:
- Lập Đông 立冬 thường lọt vào ngày 7-8 tháng 11 Dương lịch.
- Tiểu Tuyết 小雪 thường lọt vào ngày 21-23 tháng 11 Dương lịch.
* Tháng Mười Một có 2 Khí Tiết là :
- Đại Tuyết 大雪 thường lọt vào ngày 6-8 tháng 12 Dương lịch.
- Đông Chí 冬至 thường lọt vào ngày 21-23 tháng 12 Dương lịch.
* Tháng Mười Hai có 2 Khí Tiết là :
- Tiểu Hàn 小寒 thường lọt vào ngày 5-7 tháng Giêng Dương lịch.
- Đại Hàn 大寒 thường lọt vào ngày 19-21 tháng Giêng Dương lịch.

Đặc biệt ĐÔNG CHÍ là ngày có thời gian ban đêm dài nhất trong năm ở Bắc bán cầu, trái với HẠ CHÍ là ngày có thời gian ban ngày dài nhất trong năm, như câu tục ngữ mà ông bà ta vẫn thường truyền tụng là:

Tháng Năm chưa nằm đã sáng, và...
Tháng Mười chưa cười đã tối.

Theo nghĩa mặt chữ thì ĐÔNG CHÍ 冬至 có nghĩa là "Mùa Đông đã đến rồi" và cũng có nghĩa là ngày tháng của năm cũ sắp hết, năm đã sắp tàn rồi; Nên Tiết Đông Chí 冬至節 cũng là một cái Tiết lớn ở cuối năm, mọi người có dịp gặp nhau để hàn huyên những chuyện của năm qua, cùng đoàn viên và cùng ăn chè ỷ, chè trôi nước (người Hoa gọi là Thang Viên 湯圓) nấu để cúng tế ông bà tổ tiên mừng cho một năm đã đi qua trong bội thu và bình an viên mãn. Cúng tế mừng Tiết Đông Chí cũng có nghĩa là mừng cho gia đình được đoàn viên để cùng đón mừng tuổi mới. Ăn chè ỷ của Tiết Đông Chí rồi là đã thêm được một tuổi mới rồi đó, nếu có qua đời thì cũng được đếm thêm một tuổi thọ nữa...


Nhớ hồi còn nhỏ, khi cô tôi giúp mẹ nấu một nồi chè ỷ, chè trôi nước thật lớn để mừng Tiết Đông Chí, cô đã nói với tôi là :"Năm nay cháu đã mười tuổi rồi, vậy là mừng tuổi năm mới cháu phải ăn 11 viên chè trôi nước". Tôi bèn cười nói với cô rằng :"Nếu cô ăn nổi 20 viên, thì cháu cũng sẽ ăn 11 viên cho cô xem". Anh tôi bèn chen vào nói :"Anh thì ăn nổi 15 viên rồi đó, còn ba má làm sao ăn nổi 50 viên, đừng nói chi đến ông nội tới 70 tuổi lận !" Trong niềm vui cuối năm cả nhà sum họp để cùng nấu cùng cúng và cùng ăn những viên chè tròn tượng trưng cho sự đoàn viên tròn trịa của cuối năm, thì cũng có người vì công danh, vì sinh kế mà phải tha phương cầu thực... Tiết Đông Chí mà chưa được về quê, một mình một bóng cô thân nơi xứ lạ quê người như bài thất ngôn tứ tuyệt "Hàm Đan Đông Chí dạ tư gia 邯鄲冬至夜思家" (Ở xứ Hàm Đan đêm Đông Chí nhớ nhà) của Thi Bá Bạch Cư Dị sau đây :

邯鄲驛裡逢冬至, Hàm Đan dịch lý phùng Đông Chí,
抱膝燈前影伴身。 Bão tất đăng tiền ảnh bạn thân.
想得家中夜深坐, Tưởng đắc gia trung dạ thâm tọa,
還應說著遠行人。 Hoàn ưng thuyết trước viễn hành nhân !

Có nghĩa:
Ở nơi dịch quán của đất Hàm Đan nầy lại nhằm lúc Tiết Đông Chí đến, ta cũng đành ngồi bó gối trước ánh đèn mà bầu bạn với cái bóng của mình mà thôi. Nhớ về quê nhà giờ nầy chắc mọi người đang quây quần đoàn tụ ngồi với nhau trong đêm... và chắc cũng đang nhắc đến ta, một kẻ đi xa không về nhà được trong lễ tiết cuối năm nầy.
Trông người lại ngẫm đến ta, nếu Tiết Đông Chí nầy ta có về lại được quê nhà thì cũng không tìm đâu ra người xưa cảnh cũ; Thời gian nửa thế kỷ biết bao là tang thương biến đổi, đã xóa hết những hình ảnh kỷ niệm của "Những ngày xưa thân ái" đi rồi !

Dịch quán Hàm Đan Đông Chí rồi,
Trước đèn bó gối bóng đơn côi.
Quê nhà sum họp ngồi tâm sự,
Chắc cũng xa vời nhớ đến tôi !

Lục bát:
Hàm Đan Đông Chí đến rồi,
Bên đèn bó gối đơn côi bóng mình.
Nhớ nhà đoàn tụ đêm thanh,
Chắc đang nhắc đến những thành viên xa!...

Nếu mùa thu làm cho cỏ cây hoa lá héo hon vàng úa, thì mùa đông lạnh lẽo khắc nghiệt vùi chôn tất cả hoa lá cỏ cây, tạo nên cảnh tiêu điều lạnh lùng tang tóc khắp nơi với ngập trời tuyết trắng, với bầu trời u ám buồn thương... như Jean. Leiba đã viết :

Xuân tàn, hạ cỗi, cảnh thu sầu,
Mờ mịt hơi đông ám ngọn lau...

và cụ thể hơn như trong bài thơ "Bốn mùa yêu thương" của ông:

Nhưng một ngày đông nhiều mộng héo,
Đầy trời mưa lạnh, lá vàng gieo.
Em buồn, chẳng nỡ nhìn ta nữa,
Ta thấy trời đông bỗng lạnh nhiều!

Mùa Thu là mùa của tình buồn, thì mùa đông là tình của những mối tình tan vỡ, xót xa... như trong thơ của Huyền Kiêu:

Đông xám lại chàng tới hỏi:
Em thơ, chị đẹp em đâu ?
Chị tôi hoa phủ đầy đầu,
Đã ngủ trong lòng mộ tối!...

Gió thu xạc xào hiu hắt, còn gió đông thì se sắt lạnh lùng. Gió mùa đông là gió từ phương bắc thổi xuống. Bắc phương Nhâm Qúy thuộc Thủy, nên gió từ miền Bắc cực thổi xuống mang theo hơi nước giá lạnh của vùng tuyết băng khô khan lạnh lẽo. Hướng Bắc còn được gọi là hướng Sóc, nên Bắc Phong 北風 còn được gọi là SÓC PHONG 朔風 như trong bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt "Tòng Quân Hành 從軍行 (kỳ 4)" của Lệnh Hồ Sở 令狐楚 đời Đường:

SÓC PHONG thiên lý kinh, 朔風千里驚,
Hán nguyệt ngũ canh minh. 漢月五更明。
Túng hữu hoàn gia mộng, 縱有還家夢,
Do văn xuất tái thinh ! 猶聞出塞聲。

Có nghĩa:
Ngàn dặm gió bấc thổi,
Năm canh trăng quê nhà.
Dẫu có mộng hoàn gia,
Còn nghe lời xuất tái!

Song thất Lục bát:
Gió bấc thổi làm kinh lính thú,
Trăng Hán gia vằng vặc canh tà.
Dẫu cho mơ được về nhà,
Bên tai còn vẳng tiếng ra ải ngoài!

Gió Bắc khô khan lạnh lẽo của mùa đông, còn được bà con ta gọi trại thành GIÓ BẤC, nên mới có những câu Ca Dao trong dân gian Nam Bộ như sau :

Gió Bấc non thổi lòn hang chuột,
Thấy chị hai mầy tao đứt ruột đứt gan !
và...
Gió Bấc non thổi lòn hang dế,
Thấy chị hai mầy tao bế hế băng hăng !

Còn chàng thi sĩ Nguyễn Bính đa tình của thời Tiền Chiến, trong bài thơ "Mùa Đông Gửi cố nhân" đã rên rỉ:

Mưa phùn Gió Bấc, cố nhân ơi,
Áo rét nàng đan lỡ hẹn rồi.
Sông lạnh khi nàng ra giũ lụa,
Với dùm trong nước lấy hồn tôi.

và trong bài "Mùa Đông Nhớ Cố Nhân" thì Nguyễn Bính lại nhắn gửi :

Mưa phùn đầy cữ chửa cho thôi,
Gió Bấc đêm nay buốt suốt giời.
Giường mộng con thoi còn chạy lẻ,
Hay là nàng đã dệt thoi đôi ?

Trong văn học cổ có một thành ngữ về mùa Đông là THU THÂU ĐÔNG TÀNG 秋收冬藏, có nghĩa là: Mùa Thu là mùa của thu hoạch nông phẩm ngày xưa, còn mùa Đông là mùa phải cất giữ lại những nông phẩm thu hoạch đó để chi dùng trong những tháng mùa đông lạnh lẽo giá buốt. Thành ngữ nầy có xuất xứ từ sách《Sử Ký, Sử Thái Công Tự Tự 史记·太史公自序》với cả câu như sau : "Phù xuân sanh hạ trưởng, thu thâu đông tàng, thị thiên đạo chi đại kinh 夫春生夏长,秋收冬藏,是天道之大经" Có nghĩa : Phàm (vạn vật) mùa xuân thì sanh sôi nẩy nở, mùa hè thì phát triển trưởng thành, mùa thu thì thâu hoạch thành quả, mùa đông cất giữ (để chi dùng và để làm hạt giống cho năm sau), đó là cái lý lẽ lớn của đạo trời (chỉ sự tuần hoàn của vũ trụ và hoạt động trong đời sống con người). Các nông phẩm mang chữ ĐÔNG mà ta thường thấy thường dùng là :
- ĐÔNG QUA 冬瓜 (東瓜) là trái Bí Đao (tên khoa học là Benincasa pruriens), thường dùng để nấu canh và làm mức bí trong ngày Tết Nguyên Đán.
- ĐÔNG THÁI 冬菜 là Cải Hủ, dân Chợ Lớn gọi theo tiếng Tiều Châu là "Cải Tan-xại" dùng để chưng thịt cá hoăc làm gia vị cho Hủ tiếu Mì khi ăn.
- ĐÔNG TRÙNG THẢO 冬蟲草 còn gọi là Đông Trùng Hạ Thảo 冬蟲夏草 là một loại đông dược quý , được sử dụng từ lâu trong y học cổ truyền Trung Hoa và y học cổ truyền Tây Tạng; Hiện đang là dược thảo thịnh hành khắp thế giới.
- ĐÔNG DUẪN 冬筍(笋)là Măng Tre mọc vào mùa đông, có tên là MĂNG MẠNH TÔNG 孟宗筍, có vị ngọt dòn ngon nhất trong các loại măng, có xuất xứ từ Truyện thứ 17 của "Nhị Thập Tứ Hiếu 二十四孝" do Quách Cư Nghiệp 郭居業 (có sách ghi là Quách Cư Kính 郭居敬) vào thời nhà Nguyên biên soạn. Câu truyện như sau :
MẠNH TÔNG 孟宗(?—271)tự là Cung Vũ, người đất Giang Hạ thuộc nước Ngô thời Tam Quốc. Lúc nhỏ cha mất, mẹ thì thường hay đau yếu, khi bệnh mẹ trở nặng, thầy thuốc bảo ăn canh măng non thì bệnh sẽ khỏi, nên mẹ thường ao ước được ăn canh nấu bằng măng non. Khổ nỗi lại nhằm lúc mùa đông, măng non chưa mọc, Mạnh Tông bèn chạy ra rừng tre ôm những cây tre mà khóc, rồi mệt lả mà thiếp đi. Khi tỉnh dậy thì đã thấy chỗ nước mắt rơi xuống có mấy mụt măng trổ đất mọc lên. Mạnh Tông cả mừng bèn bứng lấy đem về nấu canh măng dâng lên cho mẹ ăn. Quả nhiên hôm sau bà mẹ đã mạnh khoẻ trở lại. Vì có tiếng là hiếu thảo, nên chúa Đông Ngô vời ông ra làm quan đến chức Tư Không. Người đời sau có thơ khen rằng:

泪滴朔風寒 Lệ trích sóc phong hàn,
蕭蕭竹數竿。 Tiêu tiêu trúc sổ can.
須臾冬笋出, Tu vu Đông Duẩn xuất,
天意報平安。 Thiên ý báo bình an.

Có nghĩa:
Lệ rơi gió bấc lạnh lùng,
Lưa thưa vài khóm trúc rừng héo hon.
Phút đâu vài mụt măng non,
Chui ra từ đất trời còn thương nhau.

Về sau vào mùa đông có một loại tre cho loại măng màu xám giống y như vậy, ăn rất ngon, được gọi là măng Mạnh Tông.
Trong chương trình cổ văn của lớp Đệ Thất (nay là lớp 6) ngày xưa, học sinh phải học hai tác phẩm "Lục Súc Tranh Công" và "Nhị Thập Tứ Hiếu" của Cử Nhân Lý Văn Phức (1785-1849) diễn Nôm bằng thể Song thất Lục bát. Bài "MẠNH TÔNG KHÓC MĂNG" được diễn Nôm như sau :

Ngô Mạnh Tông phụ thân sớm khuất,
Thờ mẫu thân lòng thực khăn khăn.
Tuổi già trằn trọc băn khoăn,
Khi đau nhớ bát canh măng những thèm.

Trời đông tuyết biết đâu tìm được,
Chốn trúc lâm phải bước chân đi.
Một thân ngồi dựa gốc tre,
Ôm cây kêu khóc nằn nì với cây.

Giữa bình địa phút giây bỗng nứt,
Mấy giò măng mặt đất nẩy sanh.
Đem về nấu một bữa canh,
Ăn rồi bệnh mẹ lại lành như xưa.

Măng mùa lạnh bây giờ mới thấy,
Để về sau nhớ lấy cỏ cây.
Cho hay hiếu động cao dày,
Tình sâu cũng khiến cỏ cây cũng tình.


Đầu mùa Đông ta có Tiết Lập Đông 立冬 là thời điểm giao mùa giữa thu và đông, khi trời tàn thu bắt đầu chuyển lạnh để sang mùa đông rét mướt. Thi nhân cũng chuyển vận từ gió heo may hiu hắt sang gió tuyết lạnh lùng, tiêu biểu như bài lục ngôn thi LẬP ĐÔNG, là bài thơ 6 chữ hiếm hoi rất độc đáo của Thi Tiên Lý Bạch như sau đây :

凍筆新詩懶寫, Đống bút tân thi lãn tả,
寒爐美酒時温。 Hàn lô mỹ tửu thời ôn.
醉看梅花月白, Túy khan mai hoa nguyệt bạch,
恍疑雪落前村。 Hoảng nghi tuyết lạc tiền thôn !

Có nghĩa :
Bút cóng câu thơ biếng viết,
Lò lạnh rượu tốt thường hâm.
Say nhìn hoa mai trăng sáng,
Ngỡ rằng tuyết phủ đầu thôn.

Lục bát :
Bút lạnh biếng viết câu thơ,
Lò tàn lửa tắt hững hờ rượu hâm.
Say nhìn mai trắng trăng ngân,
Chập chờn như tuyết trắng ngần xóm xa !

Bài thơ của Thi Tiên làm cho ta nhớ đến hai câu thơ tả Hoa Mai Nở Sớm (Tảo Mai 早梅) của nhà sư Tề Kỷ 齊己 ở cuối đời Đường là :

Tiền thôn thâm tuyết lý, 前村深雪裏
Tạc dạ nhất chi khai. 昨夜一枝開。

Có nghĩa:
Xóm xa trong tuyết đêm qua,
Một cành mai sớm nở ra trắng ngần.

Và hai câu thơ trên lại làm cho ta nhớ đến hai câu cuối trong bài kệ "Cáo Tật Thị Chúng 告疾示眾" của Mãn Giác Thiền Sư 滿覺禪師 của Việt Nam ta là :

莫謂春殘花落尽, Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
庭前昨夜一枝梅! Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Có nghĩa :
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Ngoài sân, đêm trước, nở cành mai!

Năm Hội Xương thứ hai đời Đường Vũ Tông (842) Đỗ Mục 杜牧 đã 40 tuổi, vì tính cương trực nên bị Tể Tướng Lý Đức Dũ tâu với vua biếm đến đất Hoàng Châu, Trì Châu rồi Mục Châu... Khi bị đày đến làm Thứ Sử Mục Châu lại nhằm lúc vào đông, năm hàn tháng lạnh tha hương một thân một bóng, đêm đông lạnh lẽo ngồi uống rượu một mình đã cảm tác nên bài "SƠ ĐÔNG DẠ ẨM 初冬夜飲" (Đầu đông đêm uống rượu một mình) như sau :

淮陽多病偶求歡, Hoài Dương đa bệnh ngẫu cầu hoan,
客袖侵霜與燭盤。 Khách tụ xâm sương dữ chúc bàn.
砌下梨花一堆雪, Thế hạ lê hoa nhất đôi tuyết,
明年誰此憑闌干。 Minh niên thùy thử bằng lan can.

Thân ta nhiều bệnh tật như là Cấp Ảm 汲黯 Thái Thú của quận Hoài Dương vậy, nên đôi khi cũng tìm vui trong chén rượu. Người khách tha hương hai tay áo nhuốm đầy phong sương chỉ làm bạn với cái giá nến cô độc nầy mà thôi. Dưới thềm tuyết đã đùn lên trắng xóa như hoa lê; không biết là sang năm còn có ai ngồi tựa lan can nầy (để uống rượu một mình như ta nữa không ?)

Hoài Dương nhiều bệnh chợt tìm vui,
Tay áo phong sương bên nến côi.
Trắng xóa dưới thềm hoa lê tuyết,
Sang năm ai biết có ai ngồi !?


Cũng uống rượu trong đêm đông, nhưng Bạch Cư Dị 白居易 lại uống một cách thư thái nhàn nhã, với một vò rượu mới ủ, với một bếp than hồng nho nhỏ, trong khi ngoài trời tuyết lại sắp rơi, dám hỏi bạn rằng : Bạn có thể đến cùng tôi để chúng ta cùng uống với nhau một chén rượu trong đêm đông lạnh lẽo nầy hay chăng ? Thật nên thơ và thật nhẹ nhàng thi vị biết bao ! Ta cùng đọc bài ngũ ngôn tuyệt cú "VẤN LƯU THẬP CỬU 問劉十九" (Hỏi chàng Lưu Thập Cửu) của Bạch Cư Dị sau đây nhé !

綠螘新醅酒, Lục nghĩ tân phôi tửu,
紅泥小火爐。 Hồng nê tiểu hỏa lô.
晚來天欲雪, Vãn lai thiên dục tuyết,
能飲一杯無? Năng ẩm nhất bôi vô ?

Có nghĩa:
Rượu vừa mới ủ xanh xanh,
Lò đất nho nhỏ cháy quanh lửa hồng.
Trời như muốn tuyết đêm đông,
Gặp nhau uống chén rượu nồng được chăng ?

Đọc bốn câu thơ trên lại làm cho ta nhớ đến bản nhạc "Về Dưới Mái Nhà" của nhạc sĩ Xuân Tiên với các câu...
... Người ơi ! Mau về đây,
Về bên bếp hồng tay cầm tay...

Mùa đông luôn rét mướt với cảnh vắng lặng của núi rừng không một bóng chim chóc vãng lai; Trên các nẻo đường cũng vắng bóng người qua kẻ lại; Hoạ hoằn lắm mới thấy được một ông câu khoát chiếc áo tơi buông câu trên dòng sông tuyết băng lạnh lẽo... như trong bài "GIANG TUYẾT 江雪" của Liễu Tông Nguyên 柳宗元, một trong "Đường Tống Bát Đại Gia" như sau :

千山鳥飛絕, Thiên sơn điểu phi tuyệt,
萬徑人蹤滅。 Vạn kính nhân tông diệt.
孤舟蓑笠翁, Cô chu toa lạp ông,
獨釣寒江雪。 Độc điếu hàn giang tuyết !

Có nghĩa:
Ngàn núi chim bay hết,
Muôn nẻo bóng người tuyệt.
Áo tơi một lão ông,
Buông cần trên sông tuyết!

Câu "Vạn kính nhân tông diệt" làm ta nhớ đến câu "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo" của cụ Tam Ngyên Nguyễn Khuyến nhà ta ...

Nói đến mùa đông là nói đến hoa mai và tuyết trắng. Trong cảnh đông hàn lạnh lẽo, khi các cỏ cây hoa lá khác đã héo tàn thì hoa mai lại ngạo nghễ vươn lên trong tuyết lạnh với màu trắng tinh khiết và hương thơm nhẹ thoảng một cách cao nhã chẳng khuất phục trước thiên nhiên khắc nghiệt của thời tiết. Thôi Đạo Dung 崔道融 một thi nhân ở cuối đời Đường, mặc dù chỉ là một viên Huyện lệnh nhỏ nhoi nhưng lại tự hào với nhân cách cao khiết của mình qua bài ngũ ngôn luật thi MAI HOA 梅花 như sau :

數萼初含雪, Sổ ngạc sơ hàm tuyết,
孤標畫本難。 Cô tiêu họa bổn nan.
香中別有韻, Hương trung biệt hữu vận,
清極不知寒。 Thanh cực bất tri hàn.
橫笛和愁聽, Hoành địch hòa sầu thính,
斜枝倚病看。 Ta chi ỷ bệnh khan.
朔風如解意, Sóc phong như giải ý,
容易莫摧殘。 Dung dị mạc thôi tàn !

* Có nghĩa :
- Mấy đài hoa xanh còn đọng tuyết ôm ấp lấy mấy cánh hoa vừa mới nở...
- Cô đơn ngạo nghễ vươn lên, khó mà vẽ nên được cái thần thái vốn có kia
- Trong mùi thơm thoang thoảng có cái phong vận đăc biệt riêng,
- Vẻ thanh tân đến cùng cực nên không xem cái lạnh vào đâu cả.
- Khúc sáo "Mai hoa lạc" hòa vào sự buồn thương của người nghe,
- Với cành nhánh nghiêng chao trong tuyết giá trông như đang bệnh.
- Gió bấc kia nếu như hiểu được cái ý tình của hoa mai, thì xin...
- Chớ dễ dàng mà nổi cơn cuồng nộ làm cho hoa mai phải tàn tạ tả tơi !

* Diễn Nôm:
Mai Hoa

Đài hoa điểm tuyết trắng ngần,
Thanh cao ngạo nghễ khó phần vẽ nên.
Trong hương phong vận không tên,
Thanh tân hết mực nên quên lạnh hàn.
Sáo ai sầu khúc mai tàn,
Nghiêng chao cành nhánh nhẹ nhàng tợ đau.
Bắc phong điêu nghệ chút nào,
Chớ đem buốt giá lao đao nhánh cành !

Còn Tể Tướng Vương An Thạch đời Tống thì nhẹ nhàng, bình dân và đơn giản gãy gọn hơn với bài ngũ ngôn tuyệt cú sau đây :

牆角數枝梅, Tường giốc sổ chi mai,
凌寒獨自開。 Lăng hàn độc tự khai.
遙知不是雪, Dao tri bất thị tuyết,
為有暗香來。 Vị hữu ám hương lai !

Có nghĩa :
Gốc tường mấy cành mai,
Lạnh lẽo vẫn nở hoài.
Xa trông nào phải tuyết,
Vì hương thoảng mũi ai !

Lục bát :
Góc tường nọ mấy cành mai,
Lạnh tràn vẫn cứ nở hoài không thôi.
Xa trông chẳng phải tuyết rơi
Vì làn hương nhẹ khắp nơi thoảng mùi !


Có MAI có TUYẾT rồi còn phải có THƠ nữa thì mới đủ "Bộ Ba" nhã hứng của thi nhân ngày xưa. TUYẾT MAI Nhị Thủ 雪梅二首 là hai bài thơ thất ngôn tứ tuyệt nói về MAI TUYẾT và THƠ của thi nhân Lư Mai Pha 盧梅坡 đời Nam Tống. Hai bài thơ đã nói lên sự gắn bó không thể tách rời giữa Hoa mai, Tuyết trắng và Thơ ca; một sự kết hợp tuyệt vời của "Ba trong Một" mà nếu thiếu mất Một thì sẽ không thể tạo nên cái không gian và cảnh trí đẹp đẽ đặc sắc của buổi đông hàn giá buốt. Mời tất cả cùng đọc và thưởng thức...

其一 Kỳ Nhất
梅雪爭春未肯降, Mai Tuyết tranh xuân vị khẳng hàng,
騷人擱筆費評章。 Tao nhân các bút phí bình chương.
梅須遜雪三分白, Mai tu tốn tuyết tam phân bạch,
雪却輸梅一段香。 Tuyết khước thâu mai nhất đoạn hương.

* Chú thích :
- Hàng 降 : là đầu hàng, là Chịu thua. VỊ KHẲNG HÀNG là Chẳng chịu thua.
- Tao Nhân 騷人 : là Tao nhân mặc khách chỉ khách văn chương, văn nhân thi sĩ.
- Các Bút 擱筆: là Gác bút, không viết được.
- Bình Chương 評章 : là bình phẩm về văn chương thi ca.
- Tốn 遜 : là Khiêm tốn; là nhường nhịn, là Sút kém.
- Thâu 輸 : là Thua, là Sút kém.

* Nghĩa bài thơ :
- Mai và Tuyết cùng tranh nhau mùa xuân mà chẳng ai chịu nhường ai cả.
- Các tao nhân mặc khách cũng đành gác bút không muốn phí lời bình phẩm.
- Bạch Mai thì sút kém hơn Tuyết ba phần về sắc trắng. Còn...
- Tuyết thì thua Mai vì Mai còn có một làn hương thơm thoang thoảng.

* Diễn Nôm :
Mai tuyết tranh xuân chẳng chịu nhường,
Thi nhân gát viết phí lời suông.
Mai thì nhường tuyết ba phần trắng,
Tuyết lại thua mai một thoáng hương !

Lục bát :
Tranh xuân Mai Tuyết chẳng nhường,
Thi nhân gác bút hết đường cân phân.
Mai thua Tuyết trắng ba phần,
Tuyết thì lại chịu mai gần thoáng hương !


其二 Kỳ Nhị
有梅無雪不精神, Hữu Mai vô Tuyết bất tinh thần,
有雪無詩俗了人。 Hữu Tuyết vô Thi tục liễu nhân.
日暮詩成天又雪, Nhật mộ Thi thành thiên hựu Tuyết,
與梅並作十分春。 Dữ Mai tịnh tác thập phân Xuân !

* Chú thích :
- Bất Tinh Thần 不精神 : Chỉ Không có cái thần thái cao nhã thanh khiết.
- Tục Liễu nhân 俗了人 : Chỉ Con người trở nên phàm tục, tầm thường.
- Tịnh Tác 並作 : là Cùng tương tác để tạo nên...
- Thập Phân Xuân 十分春 : là Mười phần xuân, chỉ mùa xuân trọn vẹn đầy đủ.

* Nghĩa bài thơ:
- Có Mai mà không có Tuyết thì sẽ như thiếu đi cái thần thái cao nhã.
- Đã có Tuyết rồi nếu không có Thơ thì như quá phàm tục tầm thường.
- Trong cảnh trời chiều khi Thơ mới làm xong thì trời lại đổ Tuyết...
- Hợp cùng với hoa Mai nữa là mùa Xuân đã trọn vẹn cả mười phân vẹn mười rồi !

* Diễn Nôm :
Có Mai không Tuyết chẳng tinh thần,
Có Tuyết không Thơ phàm tục nhân.
Chiều xuống thơ thành trời lại tuyết,
Hợp cùng Mai nở cả mùa Xuân !...

Lục bát :
Có Mai không Tuyết tầm thường,
Không thơ có Tuyết tầm thường càng nhanh.
Trời chiều Tuyết đổ Thơ thành,
Hợp cùng Mai nở xuân xanh vẹn mười !

Ta thấy...
Trong khi hoa mai nở sớm trong làn tuyết trắng bay bay là đã báo hiệu cho mùa xuân đã đến. Mai nở trong tuyết, tuyết vờn quanh mai tạo nên một bức tranh cao nhã đầy thi vị của xuân tươi, nên cần có thơ để thăng hoa nâng cảnh trí nên thơ của buổi tàn đông và đầu xuân lên tuyệt đĩnh. Tác giả đã ngắm tuyết rơi, thưởng thức hoa mai nở và ngâm thơ xuân MAI TUYẾT trong tinh thần thẩm mỹ cao độ giữa MAI TUYẾT và THƠ một cách vô cùng nên thơ thi vị. Cụ Nguyễn Du cũng đã mượn cái cao nhã tinh khiết của Mai, của Tuyết của hai bài thơ nầy để tả vẻ đẹp thuần khiết trong trắng và cao quý của chị em Thúy Kiều và Thúy Vân :

MAI cốt cách TUYẾT tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười !

Không phải chỉ có Hoa Mai là nở trong mùa đông, ở Việt Nam ta còn có HOA CÚC nữa. Mặc dù hoa Cúc là loài hoa tiêu biểu tượng trưng cho mùa thu, nhưng vào đông Cúc vẫn cứ nở rộ rực rở như đang tranh đẹp với hoa Mai vậy. Ta hãy đọc bài thất ngôn tứ tuyệt "ĐÔNG CÚC 冬菊" sau đây của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thì sẽ rõ:

一種延年館裡栽, Nhất chủng diên niên quán lý tài,
晚香獨向雪中開。 Vãn hương độc hướng tuyết trung khai.
莫笑爭芳時太晚, Mạc tiếu tranh phương thời thái vãn,
先春肯讓一枝梅。 Tiên xuân khẳng nhượng nhất chi mai ?!

Có nghĩa :
- Có một loài hoa được trồng quanh năm trong nhà trong quán;
- Có một mùi hương độc đáo về đêm thường hướng vào trong tuyết mà nở.
- Chớ cười là cùng tranh thơm một cách qúa muộn màng.
- Trước khi mùa xuân đến, há chịu nhường cho một cành mai hay sao ?!
(Có nghĩa là trong mùa đông nầy hoa cúc ta vẫn còn đẹp còn thơm lắm, chẳng có thua gì hoa mai kia chút nào cả !)

Loài hoa trồng tỉa suốt năm dài,
Đêm xuống hương thơm dựa tuyết khai.
Chớ bảo tranh thơm đà qúa muộn,
Trước xuân há dễ chịu nhường mai!

Lục bát :
Suốt năm trồng tỉa quanh nhà,
Đêm đông tuyết xuống hương xa dịu dàng.
Tranh thơm chớ bảo muôn màng,
Trước xuân há chịu nhượng nàng mai kia!


Nhân nhắc đến CÚC và MAI lại nhớ đến bốn câu cuối trong bài THẦN ĐỒNG THI 神童詩 của Uông Thù 汪洙 đời Tống là:

春游芳草地, Xuân du phương thảo địa,
夏賞绿荷池。 Ha thưởng lục hà trì.
秋飲黄花酒, Thu ẩm hoàng hoa tửu,
冬吟白雪詩。 Đông ngâm bạch tuyết thi.

Có nghĩa :
Xuân du trên thảm cỏ non,
Hè thì thưởng ngoạn sen tròn trên ao.
Thu nhâm nhi rượu cúc đào,
Đông ngâm thơ tuyết thú nào hơn ta !

Lại nhớ đến năm xưa, khi theo học lớp Đồng Ấu, thầy giáo đã cho học bài Học Thuộc Lòng (trong "Quốc Văn Giáo Khoa Thư"?) như sau :

Mùa xuân ấm áp khỏe người,
Hè thời nóng bức lửa trời nấu nung.
Mùa Thu gió mát trăng trong,
Mùa Đông rét mướt cho lòng xót xa.
Kẻ giàu mớ bảy mớ ba,
Người nghèo biết lấy chi mà che thân !

"Mớ bảy mớ ba" vì nằm trong nệm ấm chăn êm, còn trong đêm đông vẫn lang thang không nhà sống đời cô lữ, thì làm sao mà "mớ bảy mớ ba" cho được ! Để kết thúc bài viết "ĐÔNG là Mùa Đông" nầy, xin mời tất cả cùng lắng lòng với lời hát trong bản nhạc Thời Tiền Chiến "ĐÊM ĐÔNG" rất nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sáng tác vào năm 1939 của thế kỷ trước qua tiếng hát độc đáo của nữ ca sĩ Thanh Lam :
Mời bấm vào link dưới đây để nghe nhạc :

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2026

Kỳ Thị Trong Ngôn Ngữ

Trong

Một khuynh hướng rất lạ trong quần chúng ở hải ngoại, là khi họ nghe hay đọc một chữ nào trước đây chưa biết thì a-lê-hấp, phán ngay “đó là chữ Việt Cộng.” Mới đây có vài vị hỏi chúng tôi về những chữ mà họ chỉ nghe trên báo chí, đài truyền hình, truyền thanh ở Việt Nam từ sau 1975. Đó là các chữ như ‘qui hoạch, qui trình, đề xuất, đột xuất, hộ khẩu, hộ chiếu’

Trước đây, bản thân chúng tôi cũng từng có suy nghĩ kỳ thị như thế với nhiều chữ, mà sau đó - khi bắt đầu vào công việc soạn thảo cuốn Chuyện Dài Chữ Nghĩa - mới có dịp tìm tòi và học hỏi thêm. Chúng tôi nhận ra kiến thức của mình còn hạn hẹp và mang nặng cảm tính, để quan điểm chính trị chi phối nên nhận thức sai lạc khá nhiều. Vì thế, trong bài mở đầu của cuốn sách, chúng tôi đã nhấn mạnh rằng “... bất cứ những lời nào, chữ nào nói ra từ miệng người Việt đều là ngôn, từ chung của Việt Nam. Những người có thẩm quyền trong chế độ Cộng Sản không sáng chế thêm chữ mà chỉ sử dụng sai chữ, do sự thiếu hiểu biết và cẩu thả của họ.”

Đúng thế, chúng ta đã nghe, đọc rất nhiều chữ mà người Việt trong nước gán ghép cách kỳ quặc, hay sử dụng nghèo nàn một loại từ, một tĩnh từ, một động từ cho bất cứ chủ từ nào, trong bất cứ trường hợp nào. Nhất là chữ viết dựa theo cách nói ngọng của các vùng mà cũng thấy ngay trong sách giáo khoa, tài liệu chính thức của nhà nước.

Một điều mâu thuẫn khá buồn cười, là trong lúc bác bỏ thẳng tay những chữ Việt mà họ cho là chữ Việt Cộng; chê bai, lên án bất kỳ ai sử dụng chúng; thì có người lại hùa theo, viết theo những chữ ghép sai cách kỳ quặc hay dùng sai nghĩa xuất phát từ nước Việt Nam Cộng Sản. Sự hiểu biết lưng chừng thật tai hại! Những chữ ghép chướng tai nhất là ‘cặp đôi, cụm từ, chùm ảnh...” vẫn thấy vài nhà văn, nhà báo, hoạt động cộng đồng, truyền thông hải ngoại dùng đấy!

Hôm nay, chúng tôi xin chứng minh những chữ hiện nay bị gán là ‘chữ Việt Cộng,” mà thực tế, là những chữ từng có trong ngôn từ Việt Nam ít nhất cũng hàng trăm năm nay. Chúng được ghi trong các cuốn tự điển ra đời trước khi có Đảng Cộng Sản Việt Nam. Như cuốn Việt Nam Tự Điển của hội Khai Trí Tín Đức phát hành từ năm 1931 ở Hà Nội, Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh cũng ra đời từ năm 1931 ở Hà Nội, Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ ra đời ở Sài Gòn, Việt Hán Tự Điển của Huỳnh Minh Xuân - tái bản ở Sài Gòn năm 1963. Những tài liệu này thì không ai có thể gán là xuất xứ từ nước Việt Nam Cộng Sản được.

1. - Qui Hoạch 規 畫 là trù liệu, vạch ra kế hoạch - Qui Trình 規 程 là diễn trình được trù liệu.

Quy là (1) khuôn phép. Như quy tắc 規則, khuôn xử, lấy phép khuôn xử cho người khỏi sai lạc gọi là quy. (2) như quy gián 規諫 khuyên can, (3) cái lệ đã thành rồi, như lậu quy 陋規 cái lệ hủ lậu. Những chữ quen thuộc như ‘qui định, qui ước, qui tắc, lập qui, nội qui...’

Hoạch là (1) vẽ; vạch ra cho biết đến đâu là một khu một cõi gọi là hoạch; (2) mưu kế, như mưu hoạch 謀畫, kế hoạch 計畫.
Trình 程 cũng là khuôn phép. Như chương trình 章程, trình thức 程式 đều nghĩa là cái khuôn phép để làm việc cả. Trình còn nghĩa là kỳ hẹn, việc làm hàng ngày, đặt ra các lệ nhất định, tất phải làm đủ mới thôi gọi là định trình 定程 hay khóa trình 課程.

Chúng tôi xin mượn các định nghĩa trong các tự điển như sau:

· Tự điển Thiều Chửu định nghĩa Qui hoạch là vẽ mưu vạch kế.
· Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức định nghĩa Quy hoạch là trù tính cách thức. Ví dụ: Trước khi làm, nên quy hoạch đường lối (trang 1207).
· Việt Nam Tự Điển Tín Đức (trang 459) định nghĩa Qui hoạch là trù tính mưu kế. Ví dụ: Nhờ có người giỏi qui hoạch giúp.
· Việt Hán TĐ của Huỳnh Minh Xuân có cả hai chữ: Qui hoạch như qui hoạch thủy lợi; Qui trình như qui trình điều khiển (trang 661).
· Hán Việt TĐ của Đào Duy Anh (trang 612) ghi Qui hoạch là trù tính. Qui trình như chữ qui tắc (trang 613) là ‘chương trình và phạm vi để làm việc (regle, loi).

2.- Hộ khẩu 戶口 là số người trong nhà, Hộ Chiếu 護照 là giấy Thông hành.

Chữ Hộ 戶 là nhà cửa, là nơi ở, cũng là dân cư. Khẩu 口, có nghĩa đen là cái miệng; nhưng cũng còn dùng để tính dân số. Một người là nhất khẩu, một nhà là nhất hộ. Vì thế, Hộ gần với chữ ‘home’ hơn chữ “house” vì đó là nhà trong đó có những người cư trú.
Hộ 護 trong Hộ Chiếu có nghĩa là bảo vệ; Chiếu 照 là tờ giấy, văn bằng.

· Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Hùinh Tịnh Của trang 425 có định nghĩa Hộ khầu là đầu người, miệng ăn trong nhà.
· Việt Nam TĐ của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ định nghĩa Hộ Khẩu là ‘dân số, số người và nhà trong một thành phố, một tỉnh, một xã, vân vân. ” (trang 663)
· Hán Việt TĐ của Đào Duy Anh định nghĩa Hộ khẩu là số nhà và số người. (trang 312)
· Cũng Hán Việt TĐ của Đào Duy Anh định nghĩa Hộ chiếu là “giấy vi bằng để bảo hộ cho kẻ lữ khách hoặc hàng hóa di chuyển (laisser-passer, passe-port). Trang 312.
· Việt Hán TĐ của Huỳnh Minh Xuân (trang 371) có chữ Hộ khẩu với thí dụ: đăng ký hộ khẩu; Hộ chiếu, ví dụ: hộ chiếu công vụ, hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu thường.
· Việt Nam Tự Điển của Tín Đức (trang 245) định nghĩa Hộ chiếu là giấy thông hành.” Hộ khẩu là số nhà, số người, dùng để nói chung dân số: ví dụ: “Số hộ khẩu ở Hà Nội mỗi ngày một tăng.”
· Việt Nam TĐ của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ định nghĩa Hộ Chiếu là giấy thông hành (trang 633),

3.- Đề Xuất 提 出 là nêu ra – Đột Xuất 突 出 là hiện ra đột ngột

Đề 提 là nâng lên, nâng đỡ, phàm dắt cho lên trên, kéo cho tiến lên đều gọi là đề, đề huề 提攜 dắt díu, đề bạt 提拔 cất nhắc. Đề cũng là đưa ra, nêu lên.

Đột 突 là bất ngờ, thình lình, đột ngột.
Xuất 出 là ra ngoài; trái nghĩa với nhập là vào.
· Việt Hán TĐ của Huỳnh Minh Xuân có chữ Đề xuất ở trang 256 và Đột xuất ở trang 284.
· Việt Nam TĐ của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ định nghĩa Đề xuất là xuất trình một đề nghị, đưa ra, nêu lên ví dụ: Đề xuất một chủ trương. (trang 438). Ở trang 490, có chữ Đột xuất với định nghĩa “ra, chảy ra thình lình.” Thí dụ: Mồ hôi đột xuất.
· Hán Việt TĐ của Đào Duy Anh trang 217 có chữ ‘nghị án đề xuất’ (motion, preposition); và trang 253 có chữ ‘Đột nhập đột xuất’ với ví dụ: vào thình lình, ra thình lình.

Với những định nghĩa, phân tích, và chứng minh đầy đủ bằng những tài liệu khả tín, có giá trị; chúng tôi tha thiết mong quí vị bỏ đi cái thành kiến nặng tính phân biệt chính trị, mà không gán cho chúng nhãn hiệu ‘chữ Việt Cộng.’ Có một lần trên FaceBook, chúng tôi bị ném đá, bị gọi là tay sai bào chữa cho VC khi tôi chứng minh hai chữ Bức Xúc là có từ xa xưa. Thậm chí, sau khi trưng ra trang tự điển, họ còn nói: “Đã chắc gì tự điển là đúng!” Đến mức đó thì phải chào thua cho đỡ mất thì giờ tranh cãi. Dĩ nhiên, chúng ta là người Việt Quốc Gia, chúng ta phải dựa trên tài liệu, sách giáo khoa trước 1975 ở miền Nam làm tiêu chuẩn. Người hiện nay ở Việt Nam chỉ biết tài liệu mới của CS; thì lạ gì khi họ cho rằng con ‘rơi,’ thùng ‘giác,’ ‘rụng’ cụ... là đúng hơn con dơi, thùng rác, dụng cụ (những chữ này tìm thấy trong sách giáo khoa đấy!).

Như thế, thay cho qui hoạch, chúng ta có thể nói lập kế hoạch, chương trình, dự án; thay vì qui trình, chúng ta có thể nói: diễn trình, trình tự, chương trình, (đúng) cách, (theo) bài bản...

Thay cho hộ khẩu, chúng ta có thể nói gia cư; thay vì hộ chiếu, chúng ta có thể nói: thông hành.

Thay cho đề xuất, chúng ta có thể nói nêu ra, đề nghị; thay vì đột xuất, chúng ta có thể nói: bất ngờ, thình lình, đột nhiên...

Khi quí vị có thấy chữ nào lạ tai mà chưa có thì giờ tìm hiểu chính xác, thì có thể tìm những chữ khác quen thuộc đồng nghĩa mà sử dụng thay thế. Nhưng làm như thế, có phải là làm nghèo ngôn ngữ Việt Nam không?

Miền Nam ngày xưa không nói ‘đăng ký,’ mà dùng chữ ‘ghi danh, ký danh, đăng bạ, đăng bộ.’ Nhưng trong ví dụ của Tự Điển Huỳnh Minh Xuân, có chữ “Đăng ký Hộ khẩu” đấy; vậy xin chớ nói chữ này là của VC.

Quan trọng nhất là viết hay nói cho thật đúng với ý nghĩa của nó. Chữ thì nhiều, vấn đề là biết chữ nào trong trường hợp nào. Trong bài này, quí vị thấy có một chỗ tôi viết Quy với ‘y’ vì đó là chữ có sẵn trong tự điển Thiều Chửu. Các tự điển khác dùng ‘i’.

Đỗ Văn Phúc

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

Di Hoa Chủng Trúc Nguyễn Triều* -( 移花種竹-阮朝 )


Nguyên tác: Hán bản:

Di Hoa Chủng Trúc – Nguyễn Triều* 移花種竹-阮朝

Di hoa chủng trúc cận quan thân 移花種竹近觀身
Lộ nhập thương đài vị hữu trần 路入蒼苔未有塵
Hàn khuyển lệ nhân song hạ thệ 寒犬唳人窗下逝
Thành quân quy thạnh ảnh trì tân 成君歸盛影池津

*Triều đại nhà Nguyễn Việt Nam

Đây là một bài thất ngôn tứ tuyệt hoàn chỉnh, luật bằng, vần bằng, đúng niêm vận, và tiết tấu 2/2/3.

Giải nghĩa các từ khó:

- Di hoa: dời hoa, bứng hoa từ chỗ này sang chỗ khác để thưởng lãm.
- Chủng trúc: trồng trúc (tre), biểu tượng của bậc quân tử, sự kiên cường và thanh khiết.
-Di hoa chủng trúc: dời hoa, trồng trúc. Đây là những thú vui thanh tao của người xưa để tu tâm dưỡng tính.
-Cận quan thân: gần gũi để quan sát chính bản thân mình (tự tỉnh, hướng nội).
-Thương đàit: rêu xanh. Hình ảnh tượng trưng cho sự tĩnh lặng, cũ kỹ hoặc nơi ít người qua lại.
-Vị hữu trần: chưa có bụi bặm (bụi trần). Ý chỉ sự thanh sạch, thoát tục.
-Hàn khuyển: con chó lạnh (trong đêm lạnh).
-Lệ nhân: tiếng sủa/hú gọi người (thường dùng chữ "lệ" cho tiếng chim kêu bi thương, ở đây tả tiếng sủa vang trong đêm vắng).
-Song hạ thệ: chạy lướt qua dưới cửa sổ.
-Thành quân quy thạnh: thường được hiểu là người về trong tư thế ung dung, khiến cả không gian (mặt nước, bờ ao) như bừng sáng theo.
-Trì tân: bến ao, bờ nước.

Dịch nghĩa và bình luận:

Di hoa chủng trúc cận quan thân Dời hoa trồng trúc để được gần gũi mà quán chiếu thân mình, Hình ảnh "hoa" và "trúc" tượng trưng cho lối sống thanh cao, tao nhã. Việc chăm sóc hoa trúc không chỉ là thú vui mà là cách để để người ta sống gần gũi với thiên nhiên và qua đó soi xét nội tâm. tu dưỡng bản thân mình. Nó gợi lên hình ảnh một tâm hồn thư thái, tìm thấy sự an nhiên và bài học đạo lý thông qua việc chăm sóc cây cảnh.

Lộ nhập thương đài vị hữu trần Lối vào đầy rêu xanh, chưa vướng chút bụi trần. Câu này gợi tả một không gian biệt lập, tinh khiết, chưa bị sự xô bồ của thế gian làm ô nhiễm.

Hàn khuyển lệ nhân song hạ thệ Con chó trong đêm lạnh sủa vang rồi chạy vụt qua dưới cửa sổ, Sự xuất hiện của âm thanh (tiếng chó sủa) và chuyển động (chạy vụt qua) phá tan và làm nổi bật cái khung cảnh tĩnh mịch. Đây là một nét chấm phá cực kỳ độc đáo, tạo nên cái "thần" cho bài thơ này. Thông thường, thơ cung đình chuộng những linh vật cao sang như long, lân, quy, phụng, nhưng ở đây tác giả lại đưa vào một hình ảnh rất đời thường, một tư duy nghệ thuật rất cởi mở của các vua triều Nguyễn. Đó là sự giao thoa giữa nghệ thuật bác học và đời sống thực tại, biến cung điện không chỉ là nơi quyền uy mà còn là một "khu vườn tâm hồn" gần gũi, sống động, làm bài thơ trở nên gần gũi và thực tế hơn.

Thành quân quy thạnh ảnh trì tân Khiến bóng dáng người trở về thêm phần rạng rỡ in trên bến nước ao xưa. Đón người trở về trong cảnh rực rỡ, bóng hình in xuống bờ nước, gợi lên sự viên mãn tự tại của một tâm hồn đã tìm thấy sự an nhiên sau những phút giây tĩnh lặng.
  
Dịch thơ:

Thể thất ngôn: 

Dời hoa trồng trúc xét soi thân,
Rêu biếc đường vào chẳng bụi trần.
Chó lạnh sủa vang ngoài cửa sổ,
Người về rạng rỡ bến ao xuân.

Dời hoa trồng trúc cạnh am mây,
Đường lót rêu xanh bụi chẳng bay.
Chó sủa bóng ai ngoài cửa sổ,
Về mang theo giỏ ánh chiều hây.

Dời hoa trồng trúc xét thân mình,
Lối cỏ rêu xanh sạch bụi vinh.
Chó lạnh sủa vang bên cửa sổ,
Bờ ao rực rỡ bóng người in.

Thể lục bát: 

Dời hoa trồng trúc quanh nhà,
Xét soi tâm tánh mới là thanh bai.
Lối rêu sạch bụi trần ai,
Chó lạnh sủa bóng gió bay qua mành.
Người về rạng rỡ hồ xanh,
Bến ao nước biếc vẽ thành tranh thơ.

Thể song thất lục bát: 

Soi tâm tánh chăm hoa dưỡng trúc,
Lối rêu xanh sạch bụi trần ai.
Bên song chó lạnh sủa dài,
Người vể rạng rỡ ao đầy bóng đêm.

Translation:

The Zen like poem emphasize the "unpolluted" nature of a life dedicated to simple pleasures of planting flowers and bamboo.

Di Hoa Chủng Trúc 移花種竹 Moving Flowers To Plant Bamboos

Di hoa chủng trúc cận quan than 移花種竹近觀: Moving flowers, planting bamboo, observing oneself closely, This suggests that gardening is a form of self-reflection and cultivation of character.

Lộ nhập thương đài vị hữu trần 路入蒼苔未有塵: The path is covered in green moss, untouched by the dust of the mundane world. It signifies a place of purity and seclusion.

Hàn khuyển lệ nhân song hạ thệ 寒犬唳人窗下逝: A cold dog barks at people and passes beneath the window. This adds a layer of quiet, rural life.

Thành quân quy thạnh ảnh trì tân 成君歸盛影池津: You return in glory, your shadow reflecting in the pond's. This line often refers to a successful return to one's roots or a peaceful retirement after a career.

Nguồn gốc bài thơ:

Bài thơ -mang phong cách thiền vị thanh tao thoát tục- là một trong khoảng 1500 bài thơ đặc sắc được tuyển chọn từ tác phẩm của các vua nhà Nguyễn trong hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế. Xuất phát từ đặc trưng của hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình, bài thơ có 2 đặc điểm khác biệt với hầu hết các bài thơ khác:

không tựa đề
không tên tác giả.

Bản thân bài thơ không có tựa đề riêng biệt vì:

Tính chất trang trí: Các bài thơ được tuyển chọn từ các tập thơ của các vua triều Nguyễn (như Ngự chế thi) để chạm khắc lên các ô hộc theo lối "nhất thi nhất họa" (một bài thơ, một bức tranh) .

Định danh theo vị trí: Trong các tài liệu nghiên cứu của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, người ta thường gọi tên bài thơ bằng cách dẫn câu đầu tiên hoặc định danh theo vị trí ô hộc cụ thể trên công trình (ví dụ: bài số xxx, liên ba phía Đông, điện Thái Hòa).

Chủ đề chung: Nếu phải xếp vào một nhóm, bài thơ này thuộc chủ đề "Nhàn đàm/Thanh ngã" – ca ngợi lối sống thanh cao, ẩn dật và sự tĩnh lặng của tâm hồn giữa cảnh sắc thiên nhiên.

Bài thơ không có đặc điểm tác giả: trong hệ thống di sản Huế, các bài thơ này thường được coi là "tác phẩm của hoàng đế" nói chung vì:

Sự chuẩn y tối cao: Ngay cả khi có sự tham gia soạn thảo của các đại thần trong Nội các, mỗi chữ khắc lên cung điện đều phải được đích thân nhà vua xem xét và phê duyệt.

Tính biểu tượng: Tác giả không chỉ là một cá nhân mà là đại diện cho vẻ đẹp trí tuệ và đạo đức của một triều đại. Việc nhà vua viết về những điều bình dị như trồng trúc, rêu phong hay tiếng chó sủa chính là để khẳng định thái độ sống hòa hợp với thiên nhiên và sự tự tại trong tâm hồn.

Các vị vua nhà Nguyễn vốn là những tâm hồn thi sĩ, họ trực tiếp sáng tác hoặc chuẩn y các bài thơ tuyển chọn để chạm khắc lên các cung điện, lăng tẩm Cố đô Huế.

Bài Di Hoa Chủng Trúc được trưng bày tại Điện Long An (nay là Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế).

Vị trí: Bài thơ được khảm xà cừ trên các dải liên ba (phần gỗ ngăn cách giữa các hàng cột và mái) của Điện Long An. Đây là ngôi điện được xây dựng năm 1845 dưới thời vua Hiến Tổ (niên hiệu Thiệu Trị).

Chủ đề: Bài thơ thuộc chủ đề "Nhàn đàm/Thanh ngã". Nội dung miêu tả cảnh sắc thanh tĩnh của cung đình với hoa, trúc, rêu xanh và hình ảnh con vật (chó lạnh), qua đó thể hiện tâm thế tự tại, xa rời bụi trần của nhà vua.

Tập thơ: Bài thơ thuộc tập Ngự chế thi của vua Thiệu Trị (Hiến Tổ Chương Hoàng đế). Vua Thiệu Trị là vị hoàng đế nổi tiếng với việc để lại hàng nghìn bài thơ ngự chế được chạm khắc trực tiếp trên các công trình kiến trúc tại cố đô Huế, tạo nên một "bảo tàng thơ" độc đáo.

Hệ thống hình chạm khắc tại Điện Long An kết hợp cùng tập Ngự chế thi của vua Thiệu Trị tạo nên một "bảo tàng thơ" vô giá, được công nhận là Di sản Tư liệu thế giới thuộc chương trình Ký ức Thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

Dưới đây là các đặc trưng nổi bật của nghệ thuật này:

Hình thức "Nhất thi nhất họa": Đây là phong cách trang trí đặc trưng với một ô thơ đi kèm một ô hình vẽ hoặc chạm khắc. Tại Điện Long An, các bài thơ được khảm xà cừ, chạm nổi thếp vàng hoặc chạm trực tiếp lên các dải liên ba, đố bản bằng gỗ lim.

Chất liệu và kỹ thuật: Các nghệ nhân sử dụng kỹ thuật chạm trổ tinh xảo, kết hợp khảm cẩn các loại vật liệu quý như ngà voi, xương, xà cừ và gỗ quý. Hình ảnh chạm khắc thường là các đề tài truyền thống như "bát bửu", "tứ thời" (mai, lan, cúc, trúc), hoa lá uốn lượn và các đồ án hình kỹ hà.


Tập thơ Ngự chế: Vua Thiệu Trị có nhiều tập thơ được khắc lên kiến trúc, tiêu biểu là tập Thần Kinh Nhị Thập Cảnh (ca ngợi 20 cảnh đẹp đất Thần kinh) và các bài thơ trong bộ "Ngự đề đồ hội". Bài thơ Di Hoa Chủng Trúc nằm trong số hàng trăm bài thơ ngự chế được tuyển chọn để trang trí, biến ngôi điện thành một tác phẩm nghệ thuật tổng hòa giữa kiến trúc, hội họa và văn chương.Giá trị nghệ thuật: Điện Long An được đánh giá là công trình có nghệ thuật chạm khắc gỗ đẹp nhất và còn lại gần như nguyên vẹn trong quần thể di tích cố đô Huế. Mỗi tấm bản gỗ không chỉ là vật liệu xây dựng mà còn là một bức tranh, một trang sách ghi lại tâm hồn của vị vua thi sĩ.

Hình chạm khắc trong Điện Long An, tập Ngự chế thi của vua Thiệu Trị

Bài hồi văn: Vũ Trung Sơn Thủy 雨中山水

Trong điện còn có hai bài thơ Vũ Trung Sơn Thủy 雨中山水 (Cảnh sông núi trong mưa) và Phúc Viên Văn Hội Lương Dạ Mạn Ngâm 福園文會良夜漫吟 (Buổi gặp gỡ văn học ỏ Phước Viên - Một đêm ngâm thơ an lành) rất đặc biệt được làm theo kiểu "hồi văn liên hoàn" gồm 56 chữ Hán đủ cho một bài thơ luật thất ngôn bát cú. Theo ghi chú của tác giả, từ các vần chính có thể biến hóa thành các bài thơ thất ngôn hoặc ngũ ngôn, tổng cộng có 64 cách đọc.

Tuy nhiên, người ta khám phá ra rằng thơ có thể đọc xuôi, đọc ngược, đổi chiều, xuyên tâm, nhảy chữ và nhiều cách khác…làm thành 64 bài thơ thất ngôn bát chú khác nhau. Mỗi bài thơ thất ngôn lại có thể làm thành một bài thơ ngũ ngôn, mỗi bài thơ bát cú có thể làm thành 2 bài thơ tứ tuyệt, và với nhiều cách đọc khác, 56 chữ có thể viết thành hàng trăm bài thơ khác nhau. Cho đến nay việc giải mã riêng hai tác phẩm này của vị vua thi sĩ Thiệu Trị vẫn còn chưa tìm ra hết các đáp án.


Bài hồi văn Phúc Viên Văn Hội Lương Dạ Mạn Ngâm
福園文會良夜漫吟

Tham chiếu:

Điện Long An, một tuyệt phẩm kiến trúc Việt thời Nguyễn - ASEAN News
Hai bài thơ có hàng trăm cách đọc của vua Thiệu Trị - Tạp chí Đáng Nhớ

Phí Minh Tâm
21-5-2026

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2026

Vài Tiếng Việt Rắc Rối Giữa [D] Và [Gi] - Hà Ngọc Thuần

 

Da-Tô: viết [D] theo Đào Duy Anh. Đồng ý có Cụ Lê Ngọc Trụ, trong Chánh tả Tự Vị. phần đông chúng ta đều viết [Gi]a-Tô. Phiên âm của Jesus (Pháp và Anh).
Nhưng người ta chỉ dùng Gia-tô trong cụm từ Gia-Tô giáo hay Đạo Gia-Tô.
Người Việt học Đạo trực tiếp từ các giáo-sĩ người Tây Âu, nên ít dùng tiếng Hán Việt; Jesus dịch thẳng là Giê-Su. Cruz mới đầu dịch là câu rút, sau mới
dịch lại là thập-tự giá hoặc thánh giá. Sau này việc học giáo lý mở mang nhất là thần học, mới cần nhiều cụm từ Hán Việt.

Dác: viết [D] theo Đào Duy Anh. = sừng động vật = góc. Rhinoceros = tê dác; trigonometry = lượng dác học. Cụ Lê Ngọc Trụ không tán thành ý kiến này, và hầu hết các từ điển đều viết [Gi] như Ngũ Giác Đài = the Pentagone (tiếng Hán-Việt thêm chữ Đài). Ngũ Giác Đài( là một mục tiêu tấn công trong biến cố 11/9, nhưng không thiệt hại gì nhiều)..
Cụ Đào Duy Anh có thể đúng (?) nhưng mãnh hổ nan địch quần hồ (?)

Dái: 
1. "Già dái non hột " có lẽ là già giái (= trái) non hột
2. "Thằng Quỳnh ngồi trên cây cậy dái đỏ hồng hồng" có lẽ là trường hợp tương tự, dái = giái ( = trái)
3. "Khôn cho người ta dái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương chỉ tổ cho người ta ghét"
      chữ dái này có lẽ là một cách đọc của "vái" (?) ( = bái).

Dáng: không phải "dáng" , mà cũng không phải "giáng" mà là Ráng mới đúng, và Cụ Thiều Chửu là người duy nhất chủ trương thuyết này. Ráng là tiếng nôm, tiếng Hán dịch là "hà". Theo Cụ Thiều Chửu [Gi]áng phiên âm với nghĩa màu đỏ là bịa đặt.

Lạc hà dữ cô vụ tề phi
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc
(Vương Bột)

Trong Légendes des Terres Sereines, Histoire de Từ Thức Phạm Duy Khiêm dịch Giáng Hương là l'Encens Vermeil. Vermeil = Giáng = Ráng = Mầu đỏ
Không phải là hương từ trên trời "giáng" xuống hạ giới.

Làn mây hồng pha ráng trời
Sóng Đà Giang thuyền qua xứ người
(Huyền Chi/ Phạm Duy - Thuyền Viễn Xứ)

Rất tiếc là là trong Truyện Tú Uyên, cũng trong sách Legendes, Ông Phạm Duy Khiêm không dịch Giáng Kiều sang tiếng Pháp. (có thể nào dịch là Beauté vermeille ???)

Nhà thơ Pháp Victor Hugo cũng rất thích màu Ráng trời này

Seigneur préservez moi préservez ceux que j'aime
Frères parents amis et mes ennemis même
Dans le mal triomphants
De jamais voir l'été sans fleurs vermeilles
La cage sans oiseaux, la ruche sans abeilles
La maison sans enfants.

Danh: không phải "danh" mà cũng không phải "gianh" mà là "ranh " mới đúng. Đây là giả thuyết của nhà văn Việt Điểu Thái Văn Kiểm, đoán chừng sông Gianh

Đây sông Gianh đây biên cương thống khổ
Đây sa trường đây nấm mộ trời Nam
(Đằng Phương)

Khởi đầu là ranh giới Đàng Trong và Đàng Ngoài nên gọi là Sông Ranh, tiếng Hán dịch là Linh Giang (Linh là tiếng phiên âm gần đúng của Rinh = Ranh). Nguyễn Du có một bài thơ chữ hán nhan đề "Độ Linh Giang".

Với trình độ của tôi thì Cụ Thái văn Kiểm là nhà văn đáng tin cậy, nhưng thuyết Ranh Giang ít người biết hoặc nói đến, và tôi đã nhận được một ý kiến không chấp nhận thuyết này, khá cương quyết.

Dao: 
 1.Quỳnh dao

Hài văn lần bước dặm xanh
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao
Nguyễn Du - Đoạn Trường Tân Thanh 143-144

Vẫn còn những người viết "quỳnh [Gi]ao" là sai (?) chính tả. Trừ trường hợp tên riêng.

2.Dao động: Là hai từ tôi gặp trong sách Vật Lý học lớp Đệt Nhất của Cụ Hoàng Cơ Nghị, dịch từ "oscillation" của Pháp, là chuyển động của một động tử trong mặt phẳng đối xứng
với một trục và giữ một khoảng cách cố định với một điểm gốc. Nôm na là chuyển động của con lắc đồng hồ. Viết [gi]iao động là sai chính tả.
Và không nên dùng lầm với náo động hay xao động., hay chấn động.

 Xin nhờ GS Huỳnh Chiếu Đẳng vốn là giáo-sư toán lý hóa giúp cho một định nghĩa ngắn gọn và đúng hơn, có tính cách khoa học hơn. Xin cảm tạ.

3.Tiêu dao:Tiêu Dao Du là chương đầu của sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử, tiêu cũng đọc là "phiêu" và dao cũng đọc là "diêu". Nói tiêu diêu, tiêu dao, phiêu diêu đều đúng
(nhưng không ai nóí "phiêu dao" ?).

Trong nhiều lời phân ưu chúng ta thường đọc: xin cầu nguyện hương linh được sớm tiêu diêu miền Cực Lạc. Như vậy là kiêm cả Phật giáo và Lão giáo. Theo đạo Phật thì xin cầu nguyện cho hương linh được vãng sanh nơi Cực Lạc. Theo Lão giáo thì xin cầu nguyện cho hương linh được sớm tiêu dao miền Tiên Cảnh. Xin tùy nghi lựa chọn.

Xin tạm ngừng nơi đây và xin mời Anh Em đóng góp những [D] và [Gi] Anh Em đã thấy.

Hà Ngọc Thuần
01/06/2026

Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2026

Diễu Hành Hay Diễn Hành? - Đỗ Văn Phúc

 

Diễu hành hay Diễn hành?

Từ rất lâu, nhiều vị cho rằng chữ Diễu Hành, Diễu Binh là chữ của VC, vì chỉ thấy do người miền Bắc sử dụng, còn ở miền Nam phải là Diễn Hành, Diễn Binh. Chúng tôi cũng từng có phản ứng khó chịu khi lần đầu thấy những chữ Diễu Binh. Diễu Hành này.

Trước khi đi vào phân tích, chúng tôi xin nói sơ về vài chữ có liên quan:

Duyệt binh,閱兵, hay duyệt hàng quân (review the troops), là hành vi của cấp chí huy đi duyệt qua hàng quân đang đứng nghiêm chỉnh theo đội hình. Duyệt hàng quân có thể đi xe hay đi bộ; tùy theo mức độ đông hay ít, lớn hay nhỏ, Ví dụ trong buổi lễ Quốc Khánh của VNCH trước đây, các đơn vị quân đội sắp hàng tề chỉnh ở vị trí ấn định dọc Đại Lộ Cường Để, Thống Nhất. Buổi lễ bắt đầu bằng cuộc duyệt binh; vị nguyên thủ quốc gia sẽ cùng vị tướng chỉ huy buổi lễ đứng trên xe mui trần chạy chậm dọc theo hàng quân rồi mới trở về an vị ở khán đài. Trong những lần tiếp đón quốc khách, vị chủ nhà cùng ngang cấp sẽ đứng ở chân cầu thang máy bay, đón vị quốc khách rồi cùng bước theo vị chỉ huy quân lễ, duyệt hàng cờ và đội quân danh dự dàn chào.

Diễn hành 演 行 (parade): là hành vi của nhiều đoàn người tuần tự đi trên đường với mục đích biểu dương hay vui chơi. Diễn hành có thể trong cuộc lễ hội như diễn hàng Mardi Gras ở New Orlean, Carnival ở Sao Paulo, Brazil, Văn Hóa Á Châu ở New York; Rose Parade ở Pasadena, California. 

Diễn binh   (military parade): Nhưng khi cuộc diễn hành do những đoàn quân, thì được gọi là Diễn Binh nhằm mục đích phô trương lực lượng.

Trong tự điển Việt Nam trước đây có cả chữ Diễn Binh và Diễu Binh.

DIỄU: Chữ Diễu  này thấy trong Tự điển của Linh mục Antôn Trần Văn Kiệm nghĩa là lượn một vòng, đi diễu phố, diễu hành, diễu binh; và Diễu (𠰉𠴕có nghĩa diễu cợtHán Việt Tự Điển của ông Huỳnh Minh Xuân trang 211, do cơ sở Đại Nam xuất bản từ thời VNCH định nghĩa: Chạy chung quanh: Sự diễu đàn, diễu phố, diễu binh.  

DIỄU: Trong Việt Nam Tự Điển của Lê Ngọc Trụ, ở trang 373 có chữ Diễu định nghĩa là: Rễulượn quanh, qua lại, đi nhởn nhơ. Chạy diễu. Chữ Diễu Binh được định nghĩa là “Diễn binh, điều khiển binh lính mang súng đi biểu diễn (ví dụ: Đi coi diễu binh).”

Như thế, ông Lê Ngọc Trụ đã đồng nghĩa chữ Diễu Binh và Diễn Binh (Động từ: Diễn binh, điều khiển binh lính mang súng đi biểu diễn. Đồng thời ở trang 371 có chữ Diễn Binh với định nghĩa phô bày lực lượng binh bị và vũ khí trong một cuộc lễ.

DIỄU : Chạy xung quanh, Sự diễu đàn, diễu quân (Tự Điển Việt Nam của Tín Đức Thư Xã, trang 153).

Như thế, có thể xác định rằng chữ Diễu không chỉ giới hạn trong nghĩa đi vòng vòng vui chơi, mà còn có thể dùng trong trường hợp Diễu Binh. Diễu Binh, Diễu Hành, hay Diễn Binh, Diễn Hành đều có thể sử dụng, tùy theo ý thích và thói quen.

Khách quan mà nói, khi nghe chữ Diễu, ai cũng nghĩ rằng nó là sự đùa cợt (theo Tự Điển Tín Đức trang 221), không mang tính chất nghiêm trang. Vì thế, chúng tôi đề nghị dùng chữ Diễn Binh cho trang trọng. Còn ai sính dùng chữ diễu binh, diễu hành, thì nên tôi trọng sự lựa chọn của họ, vì hai chữ này cũng không sai.

Đã có thời người ta ngại dùng các chữ ‘giải phóng, cải tạo...’ Bài hát “Cờ bay” trong đó có câu “Quảng Trị ơi, chào quê hương giải phóng đã bị đồi lời thành “chào quê hương đổi mới...” Rồi hiện nay, ở hải ngoại người ta cũng tự ý sửa câu đầu của bài Quốc ca, từ “Này công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng” thành “này công dân ơn, đứng lên đáp lời sông núi.” Theo chúng tôi, cả hai trường hợp đều sai. Không ai có quyền sửa lời ca của một nhạc sĩ, và càng không thể sửa lời bài quốc ca mà Hiến Pháp đã ấn định, từng được sử dụng chính thức trong hơn hai thập niên ở miền Nam.

Cũng như gần đây, khi tôi dùng hai chữ ĐỒNG CHÍ khi nói về một người bạn cùng hoạt động chính trị, đã có một anh bạn mỉa mai rằng tôi cũng dùng chữ VC. Nếu cứ né tránh những chữ VC đang sử dụng, thì e rằng chúng ta không còn chữ nào để viết và nói với nhau. Chúng ta chỉ tránh những chữ mà VC dùng sai nghĩa hay cắt xén, lắp ghép bừa bãi để khó nghe mà thôi. Chữ của cha ông, không riêng gì của VC hay VNCH. Tùy trình độ và quan điểm mà mỗi bên dùng khác nhau, Chúng ta nên khách quan, sáng suốt. cứ mạnh dạn dùng theo cách chúng ta. Vì không phải chữ nào bên VC dùng thì chúng ta né đi. Riết rồi chúng ta còn chữ nào mà nói, viết nữa. 

Sơ Tán, Di Tản

Tán:   Tán, là giãn ra, như vân tán (mây tan), tán muộn (giải buồn). Một âm khác của   còn đọc là Tản có nghĩa rời rạc  (tản mác). Khác với Tán  có nghĩa là tụ lại.

:  là mới, là trước. Cái gì xảy ra lúc ban đầu đều gọi là sơ (sơ giao là mới quen, sơ khởi là mới bắt đầu, sơ học là học ở bước khởi đầu).

Di là dời,  cũng là di, dời đi, chuyển đi.

Tán hay Tản thì cũng từ một chữ Hán, có cùng một nghĩa. Với các định nghĩa từng chữ như trên, chúng ta có thể nói 

Di Tản  : là hành vi phân tán và di chuyển đi nơi khác. 

Ví dụ: Hàng ngàn dân quê phải di tản ra khỏi vùng chiến sự

Di tản chỉ mang tính chất tạm thời; nếu ra đi vĩnh viễn thì gọi là di cư 移居. Nhưng trong cuộc chiến Việt Nam, ở nhiều vùng dân chúng di tản từ vùng nông thôn đến các thị xã và coi như không mong có ngày trở về.

Sơ Tán   là hành vi phân tán ban đầu khi có biến cố xảy ra. 

Ví dụ: để tránh thiệt hại nhân mạng trong các cuộc không kích của Mỹ, dân chúng Hà Nội phải sơ tán ra các vùng ngoại ô

Những cuộc di chuyển xảy ra về sau không thể gọi là sơ tán nữa.

Có người thắc mắc về hai chữ “di dời, vụ việc;” đã di còn thêm dời, đã vụ lại còn thêm việc? Như thế có phải thừa không!

Những cách ghép chữ cho câu nói nghe xuôi tai cũng không có gì lạ. Những chữ ghép bởi hai chữ cùng nghĩa hay một chữ có nghĩa, một chữ không nghĩa; hoặc một chữ gốc Hán, một thuần Việt, là để cho câu văn không bị thô thiển, nghe êm tai theo vần điệu, miễn không sai nghĩa hay kỳ quặc như mấy chữ cặp đôi, cụm từ.... Những chữ chúng ta thường nghe: tĩnh lặng, buồn rầu, đùa cợt, in ấn, bến cảng, che đậy, chen lấn, xô đẩy, thúc dục, ca hát, phẫn nộ, ... Nhiều lắm.

Còn hai chữ Vụ Việc thì có khác nhau đấy. Một vụ nói đến cách bao quát, việc chỉ một hành vi. Vụ giết người có nhiều yếu tố từ âm , dàn dựng, rình mò, theo dõi, hành vi giết, phi tang, tẩu thoát...  nhưng việc giết người chỉ là một hành vi dùng vũ khí hay tay không để làm chết người. Người ta nói: một vụ án thì trong đó có nhiều tình tiết; điều tra một vụ tham nhũng trong đó có việc sưu tầm tài liệu, hỏi cung, kết luận... 

Đỗ Văn Phúc