Hiển thị các bài đăng có nhãn BIÊN KHẢO. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BIÊN KHẢO. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2026

Xin Phép Nhắc Lại Đừng Dùng "Từ" Thay "Chữ"


Sau nhiều bài viết về chữ “từ (đơn lẻ) bị VC dùng sai và lai căng để chỉ “chữ”, trong phần bình luận của các thành viên nhóm BTTV thỉnh thoảng vẫn thấy có người dùng “từ(đơn lẻ) để thay cho “chữ”.

Đó là điều đáng buồn. Mong rằng sau bài này, những ai đã lỡ quên mà dùng như thế, xin đừng tiếp tục dùng sai nữa nhé.

Xin phép nhắc lại:

“Từ” (Hán-Việt) có gốc tiếng Hán 词 có nghĩa là lời, tiếng, nhưng đã bị VC và người trong nước cũng như ngay trên mạng, dùng đơn lẻ để chỉ “chữ” là sai bét.
Không ai điên rồ để viết hay nói “viết từ đẹp” mà người bình thường chỉ viết/nói “viết chữ đẹp”.

Ngoài ra, từ 2 thế kỷ trước (khoảng 1814-1820), đại thi hào Nguyễn Du cũng đã không dùng “từ” (đơn lẻ) sai bét như thế trong tác phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh” (truyện Kiều):

Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau” (câu 2)

Hay:

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài (câu 3252).

Sau năm 1975, VC và người trong nước chẳng những đã dùng “từ” sai như thế mà còn ghép chữ này thành “cụm từ” để chỉ “nhóm chữ” nên càng sai thêm nữa vì “cụm” thường dành cho thực vật (thí dụ: cụm hoa) hay thiên nhiên (thí dụ: cụm mây), chứ tuyệt đối trước kia chưa có ai dùng cho chữ nghĩa cả.

Sau này, có người hiểu lầm khi cho rằng nhiều “chữ” hợp lại thành “từ” (thí dụ: từ “mây” là gồm các chữ “m”, “â” và “y”), nhưng “chữ” mà họ hiểu lầm thực ra là “mẫu tự” hay “chữ cái”.

Lại cũng có người lầm tưởng là phải thay tất cả “từ” dù là trong chữ kép (chẳng hạn như “danh từ”, “từ ngữ”…). Xin xem lại kỹ là chúng ta chỉ thay “từ” được dùng đơn lẻ thôi.

Tóm lại, một lần nữa, xin tha thiết yêu cầu quý vị nào lỡ quên mà dùng sai như thế, hãy vui lòng đừng tiếp tục dùng “từ” (đơn lẻ)“cụm từ” nữa để góp phần bảo tồn tiếng Việt trong sáng của chúng ta trước năm 1975.

Đỗ Hồng Anh

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2026

Giai Thoại Văn Chương: Tự Quân Chi Xuất Hĩ!

TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ 自君之出矣

"TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ 自君之出矣" là một câu thường thấy dùng để mở đầu trong một bài thơ ca cổ; Sau mới diễn biến thành "tựa đề" của "thơ Nhạc phủ", là một loại thơ có thể phổ nhạc và hát được. TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ thường dùng để diễn tả nỗi biệt ly và lòng tưởng nhớ của một người vợ có chồng đi xa. Có xuất xứ như sau :
Cuối đời Đông Hán, một trong "Kiến An Thất Tử 建安七子", Bảy người giỏi nhất thời Kiến An là Từ Cán 徐幹, tự Vĩ Trường 偉長 làm một bài thơ trường thiên tựa là "Thất Tứ 室思"; Có vế thứ ba như sau:

其三 KỲ TAM


浮雲何洋洋, Phù vân hà dương dương ?
願因通我辭。 Nguyện nhân thông ngã từ.
飄颻不可寄, Phiêu diêu bất khả ký!
徙倚徒相思。 Tỉ ỷ đồ tương tư.
人離皆復會, Nhân ly giai phục hội,
君獨無返期。 Quân độc vô phản kỳ.
自君之出矣, TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ,
明鏡暗不治。 Minh kính ám bất trị,
思君如流水, Tư quân như lưu thủy,
何有窮已時。 Hà hữu cùng dĩ thì ?!

* Chú thích:
- Thất Tứ 室思 : là Những suy nghĩ tơ tưởng của người ở lại nhà.
- Dương Dương 洋洋 : chỉ trôi nổi lang thang vô định.
- Thông Ngã Từ 通我辭 : là Truyền đạt lời muốn nói của ta.
- Tỉ Ỷ 徙倚 : là "Đổi chỗ tựa"; Ý chỉ "Thẩn thơ, ngơ ngẩn".
- Đồ Tương Tư 徒相思 : ĐỒ là Trống không, Vô ích. Nên ĐỒ TƯƠNG TƯ là Nhớ nhau một cách vô ích; là Thương nhớ khơi nhơi, không có tác dụng.
- Phục Hội 復會 : là Hội ngộ trở lại; là Gặp lại nhau.
- Phản Kỳ 返期 : là Kỳ hạn phản hồi; là Ngày quay trở lại.
- Bất Trị 不治 : Không lo lắng, không màng đến; Trong bài có nghĩa là Không lau chùi.

* Nghĩa bài thơ:
NỔI NHỚ Ở NHÀ (bài 3)

Đám phù vân sao mà ung dung trôi nổi bay về đâu thế kia? Ta muốn nhờ nó truyền đạt dùm những lời nói trong lòng của ta. Nhưng nó cứ trôi nổi phiêu bạt thế kia thì làm sao mà gởi gắm cho được ! Nên ta đành thơ thẩn mà tương tư một cách vô ích mà thôi. Những người ra đi đều đã trở lại, riêng chỉ có chàng là không hẹn được ngày về. TỪ CHÀNG RA ĐI RỒI thì chiếc gương sáng cũng phai mờ vì không ai lau chùi. Thiếp nhớ chàng như dòng nước cứ chảy xuôi chảy mãi, làm sao có thể có lúc nào ngưng chảy được chứ ?!

* Diễn Nôm:
THẤT TỨ (Kỳ tam)

Mây nổi sao thảnh thơi,
Có cho ta nhắn lời.
Trôi nổi làm sao gởi,
Đành thương nhớ suông thôi.
Người đi còn trở lại,
Chỉ chàng biệt chân trời!

Từ ngày chàng đi rồi,
Gương sáng cũng mờ thôi.
Nhớ chàng như dòng nước,
Chảy mãi chẳng ngừng trôi!

Lục bát:

Phù vân sao lại thảnh thơi,
Cho ta nhắn nhủ đôi lời nhớ thương.
Nổi trôi khó gửi lòng buồn,
Thẩn thờ chiếc bóng vấn vương tơ lòng.
Người đi đều trở lại trông,
Riêng chàng biền biệt khó mong ngày về!

Từ Ngày Chàng Bước Chân Đi,
Gương trong mờ nhạt biếng khi lau chùi.
Nhớ chàng như nước sông trôi,
Nước trôi trôi mãi chẳng thôi chẳng dừng!


Bốn câu cuối của vế thơ trên là "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ, 自君之出矣,Minh kính ám bất trị, 明鏡暗不治。Tư quân như lưu thủy, 思君如流水,Hà hữu cùng dĩ thì ?!何有窮已時?!" nói lên mối tình thắm thiết của người vợ luôn tưởng nhớ đến người chồng đi xa của mình, đã là niềm cảm hứng vô tận cho các thi nhân sau nầy; Mọi người đều cùng nhau lấy câu "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ, 自君之出矣" để làm tựa và để mở đầu bài thơ với muôn màu muôn vẻ, nói lên lắm nỗi trăm nhớ ngàn thương của người khuê phụ ở chốn phòng không với trên hai trăm bài ngũ ngôn tứ tuyệt và ngũ ngôn bát cú sau nầy.

Thực ra thì Từ Cán chỉ nổi tiếng về văn thời Đông Hán (25-220) chớ không phải về thơ, bài thơ trên lúc đó cũng không mấy ai để ý, thậm chí hơn hai trăm năm sau cũng không mấy người biết đến, mãi cho đến thời Nam Bắc Triều(420—589) thì Nam Triều Tống Hiếu Võ Đế Lưu Tuấn 劉駿 (430-464) mới nhại khổ thơ trên mà viết một bài ngũ ngôn tứ tuyệt như sau:


自君之出矣, Tự quân chi xuất hỉ,
金翠暗無精。 Kim thúy ám vô tinh.
思君如日月, Tư quân như nhật nguyệt,
迴環晝夜生。 Hồi hoàn trú dạ sinh!

* Chú thích:
- Kim Thúy 金翠 : chỉ vàng ròng và ngọc phỉ thúy làm thành đồ trang sức.
- Tinh 精 : là Tinh minh, sáng sủa, rực rỡ.
- Hồi Hoàn 迴環 : là quay vòng, là lần lượt tuần tự theo quy trình.
- Trú Dạ 晝夜 : Trú là ngày, Dạ là đêm.

* Nghĩa bài thơ:
Từ ngày chàng ra đi rồi, thì đồ trang sức vòng vàng phỉ thúy của thiếp cũng không còn rực rỡ nữa. Nhớ chàng như là mặt trăng mặt trời vậy, cứ lần lượt mọc rồi lại lặn hết ngày rồi lại tới đêm (và cứ tuần tự như thế mãi!).

* Diễn Nôm:
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

Từ ngày chàng đi rồi,
Vàng ngọc cũng mờ thôi.
Nhớ chàng như nhật nguyệt,
Mọc lặn đêm ngày trôi!

Luc bát:

Từ ngày chàng bước chân đi,
Trâm vàng phỉ thúy cũng mờ nhạt thôi.
Nhớ chàng nhật nguyệt dần trôi,
Ngày đêm mọc lặn không thôi nhớ chàng!

Kết cấu của bài thơ hoàn toàn giống như là vế thơ của Từ Cán: Ngoài việc lặp lại câu đầu, câu thứ hai cũng ở dạng phủ định, câu thứ ba cũng ở dạng so sánh với từ "NHƯ" và kết bằng ý chính ở câu thứ tư. Được ông vua tài hoa nhắc lại như là được một quảng cáo siêu cấp, nên mọi người đều đổ xô nhau dùng "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ" để làm thơ, để mô phỏng, để tiếp tục... không ngừng về thể thơ nầy khiến NÓ trở thành một "Tựa đề" trong Nhạc phủ; cũng có những bài thơ đột phá khỏi cách thức nầy, nhưng tất cả đều cùng dùng câu "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ" để mở đầu bài thơ. Sau đây là diễn tiến của "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ" qua các thời đại... Bắt đầu từ bài thơ của Vương Dung 王融 nước Tề của Nam Triều:


自君之出矣, Tự quân chi xuất hĩ,
金爐香不燃。 Kim lô hương bất nhiên.
思君如明燭, Tư quân như minh chúc,
中宵空自煎。 Trung tiêu không tự tiên.

* Chú thích:
- Kim Lô 金爐 : là cái lò được dát vàng dùng để đốt trầm hương cho thơm phòng.
- Nhiên 燃 : có bộ HỎA 火 là Lửa ở bên trái, nên có nghĩa là Đốt.
- Minh Chúc 明燭 : Ngọn đuốc sáng; Trong bài chỉ ngọn đèn sáp được thắp sáng hằng đêm.
- Trung Tiêu 中宵 : là Giữa đêm, là nửa đêm về sáng; Trong bài chỉ suốt đêm.

* Nghĩa bài thơ:
Từ ngày chàng ra đi rồi; Lò vàng trầm hương cũng không còn đốt nữa. Nhớ chàng như ngọn đuốc nến đang cháy sáng; Suốt đêm cứ tự mình thiêu đốt mình một cách ngẩn ngơ mà không người biết đến.

* Diễn Nôm:
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

Từ ngày chàng đi rồi,
Lò hương biếng đốt thôi.
Nhớ chàng như đuốc nến,
Đêm tự đốt mình thôi!

Lục bát:

Từ ngày chàng bước chân đi,
Lò vàng thiếp cũng biếng vì đốt hương.
Nhớ chàng như nến đêm trường,
Đêm đêm tự đốt tự thương thân mình!

Tể Tướng Nam Đường là Trần Thúc Đạt 陳叔達, là em khác mẹ của Trần Hậu Chúa Trần Thúc Bảo thì có thơ như sau:


自君之出矣, Tự quân chi xuất hĩ,
紅顏轉憔悴。 Hồng nhan chuyển tiều tụy.
思君如明燭, Tư quân như minh chúc,
煎心且銜淚。 Tiễn tâm thả hàm lệ !

自君之出矣, Tự quân chi xuất hĩ,
明鏡罷紅妝。 Minh kính bãi hồng trang.
思君如夜燭, Tư quân như dạ chúc,
煎淚幾千行。 Tiễn lệ kỷ thiên hàng!

* Nghĩa bài thơ:
Từ ngày chàng ra đi rồi, thì nhan sắc hồng hào của thiếp cũng chuyển sang tiều tụy võ vàng; Nhớ chàng như là ngọn nến đang đốt sáng; Vừa đốt tim nến của mình lại vừa phải ngậm những giọt lệ nến chung quanh (Vừa đau lòng vừa nuốt lệ!).
Từ ngày chàng ra đi rồi, thì gương sáng đã không còn soi được dung nhan đẹp đẽ của thiếp nữa. Nhớ chàng như là ngọn nến trong đêm; cứ đốt mãi thân mình cho lệ nến rơi đến mấy ngàn hàng!

* Diễn Nôm:
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

Từ ngày chàng ra đi,
Dung nhan thiếp tiều tụy.
Nhớ chàng như nến sáng,
Đốt lòng còn nuốt lệ!

Từ ngày chàng đi rồi,
Gương sáng cũng biếng soi.
Nhớ chàng như ngọn nến,
Ngàn hàng lệ tuôn rơi!

Lục bát:

Từ ngày chàng bước chân đi,
Hồng nhan tiều tụy còn gì đẹp xinh.
Nhớ chàng như nến năm canh,
Đốt tim đốt dạ nuốt dòng lệ rơi!

Từ ngày chàng ra đi rồi,
Thẩn thờ gương sáng ngậm ngùi biếng soi.
Nhớ chàng như nến đơn côi,
Ngàn hàng lệ nhỏ ngậm ngùi đêm đêm!

... Và sau đây là 2 trong 6 bài TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ của Trần Hậu Chúa Trần Thúc Bảo 陳叔寶 của Nam Triều:


自君之出矣, Tự quân chi xuất hĩ,
綠草遍堦生。 Lục thảo biến giai sinh.
思君如夜燭, Tư quân như dạ chúc,
垂淚著雞鳴。 Thùy lệ chước kê minh.

自君之出矣, Tự quân chi xuất hĩ,
愁颜难复睹。 Sầu nhan nan phục đổ.
思君如蘗條, Tư quân như bách điều,
夜夜只交苦。 Dạ dạ chỉ giao khổ !

* Chú thích:
- Biến Giai 遍堦 : BIẾN là Khắp cùng; GIAI là Bậc thềm; nên BIẾN GIAI là Khắp cả bậc thêm, là Đầy thềm.
- Thuỳ Lệ 垂淚 : là Nhỏ hai hàng nước mắt.
- Kê Minh 雞鳴 : là Gà gáy, chỉ trời rựng sáng.
- Phục Đổ 复睹 : là Nhìn rồi, nhìn lại một lần nữa.
- Bách Điều 蘗條 : BÁCH là Cây Hoàng Bách 黃蘗, còn được đọc là Huỳnh Bách 黃蘗 hay Huỳnh Bá 黃柏, có vị đắng dùng làm thuốc giải nhiệt. Trong truyện "Lục Vân Tiên" của cụ Đồ Chiểu, thầy thuốc Triệu Ngang khi trị bịnh cho Lục Vân Tiên đã nói câu :
Huỳnh liên Huỳnh Bá huỳnh cầm,
Gia vào cho bội nhiệt tâm mới bình.
Còn trong ca dao dân ca thì nói:
Huỳnh Cầm, Huỳnh Bá, Huỳnh Liên,
Ba Huỳnh hiệp lại thì khiêng ra đồng
Hay:
Huỳnh Liên, Huỳnh Bá, Huỳnh Cầm,
Uống vào một miếng thì nằm ngay đơ !
- Giao Khổ 交苦 : Chỉ những cây Huỳnh bá mới mọc giao nhau cái vị đắng của cây; (Mượn vị đắng để chỉ cái khổ sở đang dày xéo trong lòng).

* Nghĩa bài thơ:
Từ ngày chàng bước chân đi rồi, thì cỏ xanh cũng mọc đầy khắp cả bậc thềm (vì không còn ai đi lên xuống cả). Nhớ chàng như cây nến thắp ban đêm; cứ nhỏ lệ mãi cho đến lúc gà gáy sáng.
Từ ngày chàng bước chân ra đi rồi, thì thiếp buồn rầu đến nỗi khó thấy lại được dung nhan của ngày xưa. Nhớ chàng như là những cây huỳnh bách mới mọc, cứ đêm đêm lại đắng thêm ra.

* Diễn Nôm:
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

Từ ngày chàng ra đi,
Đầy thềm cỏ xanh rì.
Nhớ chàng như lệ nến,
Gà gáy vẫn nhỏ lì !

Từ ngày chàng đi rồi,
Mặt buồn gương chẳng soi.
Nhớ chàng như huỳnh bá,
Đêm đêm ngậm đắng thôi !

Lục bát:

Từ ngày chàng bước chân đi,
Thềm hoang cỏ dại xanh rì khắp nơi.
Nhớ chàng như lệ nến rơi,
Lệ rơi rơi mãi gà thời gáy vang!

Từ ngày chàng ra đi rồi,
Mặt buồn nên chẳng buồn soi gương vàng.
khổ như huỳnh bá nhớ chàng,
Đêm đêm ngậm đắng khổ càng khổ hơn!

Đến đời Đường thì có Ung Dụ Chi 雍裕之 (765-813) với bốn câu thơ sau:


自君之出矣, Tự quân chi xuất hĩ,
寶鏡為誰明? Bảo kính vị thùy minh?
思君如隴水, Tư quân như Lũng thủy,
長聞嗚咽聲。 Trường văn ô yết thinh.

* Chú thích:
- Lũng Thủy 隴水 : Tên một con sông ở vùng Cam Túc, Thiểm Tây. Vì phát nguyên từ trong núi đá quanh co chảy ra, nên tiếng nước chảy nghe róc rách như oán như than.
- Trường Văn 長聞 : VĂN 聞 nầy có bộ NHĨ 耳 là Lổ Tai ở bên trong chữ MÔN 門 là cửa : Chỏ lổ tai ra ngoài cửa, nên VĂN có nghĩa là Nghe Ngóng. Vì thế TRƯỜNG VĂN có nghĩa là : Nghe dài dài, là Nghe mãi...
- Ô Yết 嗚咽 : Tiếng nấc tức tưởi nghẹn ngào từ trong cổ họng vang lên.

* Nghĩa bài thơ:
Từ ngày chàng ra đi rồi, thì gương báu còn biết sáng vì ai đây ? Nhớ chàng như dòng sông Lũng Thủy, cứ nghe róc rách như nghẹn ngào tức tưởi mãi không thôi !

* Diễn Nôm:
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

Từ ngày chàng đi rồi,
Gương báu vì ai soi ?
Nhớ chàng như sông Lũng,
Róc rách mãi không thôi!

Lục bát:

Từ ngày chàng bước chân đi,
Bỏ mặc gương báu sáng vì ai đây ?
Nhớ chàng như nước Lũng đầy,
Róc rách tức tưởi nghe hoài đêm đêm !

Trong rừng thơ mô phỏng TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ, có ý mới và xuất sắc nhất là của Tễ Tướng Trương Cửu Linh 宰相張九齡 mà ta đã biết:


自君之出矣, Tự quân chi xuất hĩ,
不復理殘機。 Bất phục lý tàn ki (cơ).
思君如滿月, Tư quân như mãn nguyệt,
夜夜減清輝。 Dạ dạ giảm thanh huy !

* Chú thích:
- Phục Lý 復理 : LÝ là xử lý, là Sữa chữa; Nên PHỤC LÝ là Sữa chữa lại.
- Tàn Cơ 殘機 : CƠ là Khung cửi; Nên TÀN CƠ là Khung vửi đà tàn tạ, hư hao. Vì muốn cho ĂN VẬN với từ HUY ở câu 4 nên CƠ mới đọc là KI.
- Mãn Nguyệt 滿月 : là Vầng trăng đầy đặn trong sáng của ngày rằm.
- Thanh Huy 清輝 : THANH 清 có ba chấm THỦY 氵bên trái, nên có nghĩa là Trong trẻo; nên THANH HUY là Ánh sáng trong trẻo dịu dàng của ánh trăng ban đêm.

* Nghĩa bài thơ:
Từ ngày chàng buớc chân ra đi, thiếp cũng đã chẳng thèm ngó ngàng sửa chửa gì đến cái khung cửi đã tàn tạ kia nữa. Thiếp nhớ chàng như ánh trăng rằm đầy đặn, rồi đêm đêm cứ giảm dần giảm dần ánh sáng trong trẻo một cách mõi mòn !

* Diễn Nôm:
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

Từ ngày chàng đi rồi,
Khung cửi chẳng sửa thôi,
Nhớ chàng như mãn nguyệt,
Đêm đêm bớt sáng rồi!

Lục bát:

Từ ngày chàng bước chân đi,
Cửi khung bỏ mặc cần gì sửa sang.
Nhớ chàng tựa ánh trăng vàng,
Đêm đêm bớt sáng võ vàng đêm đêm !

Bài thơ của Trương Cửu Linh đã được nhạc sĩ Đàm Tiểu Lân 譚小麟 (1912-1948) phổ nhạc. Bấm vào link dưới đây để nghe nhạc:
https://www.youtube.com/watch?v=JZfvOgYg3Uk

Nữ thi nhân nước Tống thời Nam Triều là Bào Lệnh Huy 鮑令暉 thì viết hẵn thành một bài Ngũ ngôn Cổ phong với nhiều tình tiết nhớ thương và mong đợi... như sau: 


自君之出矣, Tự quân chi xuất hĩ,
臨軒不解顏。 Lâm hiên bất giải nhan.
砧杵夜不發, Châm chữ dạ bất phát,
高門晝恆關。 Cao môn trú hằng quan.
帳中流熠耀, Trướng trung lưu tập diệu,
庭前華紫蘭。 Đình tiền hoa tử lan.
物枯識節異, Vật khô thức tiết dị,
鴻來知客寒。 Hồng lai tri khách hàn.
游用暮冬盡, Du dụng mộ đông tận,
除春待君還。 Trừ xuân đãi quân hoàn !

* Chú thích:
- Lâm Hiên 臨軒 : là đến trước mái hiên nhà.
- Giải Nhan 解顏 : là Mở mày mở mặt, chỉ vui vẻ. Nên Bất Giải Nhan là mặt mày không vui chút nào cả.
- Châm Chữ 砧杵 : CHÂM 砧 có bộ THẠCH 石 bên trái, là cái Chày bằng đá, mà cũng có nghĩa là tấm thớt nữa. CHỮ 杵 có bộ MỘC 木 bên trái, là Chày bằng cây. Nói chung CHÂM CHỮ là dụng cụ dùng để giặt giũ ngày xưa. Vì vải thô và dầy nên thường phải đập bằng chày.
- Hằng Quan 恆關 : HẰNG là Thường; QUAN (động từ) có nghĩa là Đóng; nên HẰNG QUAN là Thường đóng kín lại.
- Tập Diệu 熠耀 : TÂP là Sáng lắp lánh; DIỆU là Sáng choang, sáng chói. Nên Tập Diệu là Sáng lắp lánh rực rỡ. Lưu Tập Diệu 流熠耀 là chỉ những con đom đóm bay nhấp nháy trong màn.
- Tử Lan 紫蘭 :là một loại hoa lan, có màu tím, trắng, lam, vàng...
- Tiết Dị 節異 : là Thời tiết đã khác đi.
- Hồng Lai 鴻來 : là Chim hồng nhạn bay đến.
- Du Dụng 游用 : Chỉ người du tử dạo chơi khắp chốn.
- Trừ Xuân 除春 : Chỉ cuối đông đầu xuân.

* Nghĩa bài thơ:
Từ ngày chàng ra đi rồi, thiếp thường ra đứng ở mái hiên để trông ngóng chàng một cách buồn bã vì chẳng thấy chàng đâu.
Thớt chày đêm đêm cũng không còn vang lên tiếng giặt giũ; và cửa nhà luôn được đóng kín lúc ban ngày.
Trong trướng thì mỗi đêm đều có đom đóm bay chập chờn lắp lánh; Trong sân nhà thì các loại hoa tử lan lại nở đầy.
Vạn vật cứ khô héo dần nên thiếp biết là thời tiết đã thay đổi khác đi rồi; và chim hồng nhạn bay đến nên thiếp biết là ở nơi đất khách trời đã trở lạnh rồi.
Chàng dạo chơi khắp chốn nhưng cũng nên biết là mùa đông đã sắp tàn rồi, và đầu xuân nầy thiếp sẽ mong đợi chàng về (để đôi ta được đoàn tụ).

* Diễn Nôm:
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

 

Từ ngày chàng đi xa,
Buồn ngóng mái hiên nhà.
Tiếng chày đêm hết giặt,
Cửa ngày chẳng mở ra.
Trong trướng đóm bay lượn,
Ngoài sân lan nở hoa.
Vật khô thời tiết đổi,
Nhạn về lạnh khách xa.
ngao du đông đà hết,
Đầu xuân đợi về nhà!

Lục bát:

Từ ngày chàng bước chân đi,
Bên hiên buồn ngóng vui chi sao đành.
Chày giặt im tiếng đêm thanh,
Cửa nhà đóng chặc không đành mở ra.
Trong màn đóm lượn lấp la,
Ngoài sân lan đã nở hoa khắp cùng.
Sao vời vật đổi mông lung,
Nhạn về đất khách lạnh cùng khắp nơi.
Ngao du đông đã hết rồi,
Đầu xuân thiếp đợi, chàng ơi hãy về!

Sau đây là bài thơ của Ngu Hi 虞羲, môt thi nhân của buổi Tề Lương, khi thơ ngũ ngôn bát cú vừa mới manh nha thành hình:


自君之出矣, Tự quân chi xuất hỉ,
楊柳正依依。 Dương liễu chính y y.
君去無消息, Quân khứ vô tiêu tức,
唯見黃鶴飛。 Duy kiến hoàng hạc phi.
關山多險阻, Quan sơn đa hiễm trở,
士馬少光輝。 Sĩ mã thiểu quang huy.
流年無止極, Lưu niên vô chỉ cực,
君去何時歸。 Quân khứ hà thời quy ?!

* Chú thích:
- 依依 Y Y : Y là dựa dẵm. Y Y là Lưu luyến, nắm níu không nở rời nhau.
- Tiêu Tức 消息 : là Tin tức; những việc xảy ra mà mình muốn biết.
- Quan Sơn 關山 : QUAN là Cửa ải; Sơn là Núi non. Nên QUAN SƠN là nơi quan ải với núi non hiểm trở.
- Sĩ Mã 士馬 : Lính và Ngựa; chỉ quân đội ngày xưa.
- Quang Huy 光輝 : là Sáng sủa. Trong bài là THIỂU QUANG HUY 少光輝 Không phải là "Thiếu sáng sủa"; mà chỉ "Rất vất vả, lao nhọc".
- Lưu Niên 流年 : là Suốt năm, cũng có nghĩa là "Hết năm nầy qua năm khác".
- Chỉ Cực 止極 : CHỈ là ngừng; CỰC là Hết mức. Nên CHỈ CỰC là Hết mức rồi nên dừng lại. VÔ CHỈ CỰC 無止極 là "Không có điểm để dừng lại", có nghĩa là "Cứ tiếp tục mãi như thế".
- Hà Thời 何時 : là Chừng nào, lúc nào, khi nào...

* Nghĩa bài thơ:
Từ ngày chàng bước chân ra đi rồi, thì cũng chính là lúc thiếp như nhành dương liễu cứ nắm níu lưu luyến mãi không nở rời xa.
Chàng ra đi rồi thì bặt tin bặt tức (không có chim nhạn đưa thư gì cả!) chỉ thấy có những con hạc vàng bay vút tận chân trời.
Trên con đường quan ải núi non trùng điệp nhiều hiễm trở khó đi; Chắc binh sĩ và ngựa chiến cũng rất là gian nan vất vả.
Suốt năm nầy qua năm kia đều không có điểm dừng chân ngừng nghỉ; Thế thì chàng ra đi biết đến khi nào mới được trở lại đây ?!

* Diễn Nôm :
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

 

Từ ngày chàng lên đường,
Liễu rũ cũng vấn vương.
Tin nhạn đâu không thấy,
Hạc vàng bay tứ phương.
Ải núi nhiều hiễm trở,
Binh mã cũng thê lương.
Hết năm nầy năm khác,
Khi nào về quê hương ?!

Lục bát:

Từ ngày chàng bước lên đường,
Thiếp như liễu rũ vấn vương khác nào...
Chàng đi biệt tích âm hao,
Trông trời chỉ thấy bay cao hạc vàng.
Quan sơn hiễm trở muôn vàng,
Lính ngựa vất vả ngổn ngang núi rừng.
Năm nầy năm, nữa chẳng dừng...
Ngày nào chàng mới trùng phùng hồi quê ?!

Đột phá nhất là Tể Tướng Vương An Thạch 王安石 đời Tống, ông làm thơ TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ theo vần Trắc để tưởng nhớ bạn bè chớ không phải tình yêu của người cô phụ trông chồng. Ta cùng đọc bài "Hoài Nguyên Độ 懷元度"(Nhớ đến nhà sư Nguyên Độ) sau đây:


自君之出矣, Tự quân chi xuất hĩ,
何其掛懷抱。 Hà kỳ quải hoài bão.
孤坐屢窮辰, Cô tọa lũ cùng thần,
山林跡如掃。 Sơn lâm tích như tảo.
數枝石榴發, Sổ chi thạch lựu phát,
豈無一時好。 Khởi vô nhất thời hảo ?
不可持寄君, Bất khả trì ký quân,
思君令人老。 Tư quân lệnh nhân lão !

* Chú thích:
- Hà Kỳ 何其 : là Cái gì đó, Cái nào đó...
- Hoài Bão 懷抱 : Cái mà người ta ôm ấp, ấp ủ ở trong lòng.
- Cùng Thần 窮辰 : là Hết giờ giấc; có nghĩa là suốt ngày suốt buổi.
- Thạch Lựu 石榴 : là cây lựu, trái lựu.
- Khởi Vô 豈無 : Chả lẽ không...
- Trì 持 : là Cầm, nắm, níu.
- Lệnh 令 : là Làm cho, Khiến cho...

* Nghĩa bài thơ:
Từ ngày bạn ra đi rồi, thì như có cái gì đó cứ vương vấn mãi ở trong lòng tôi.
Tôi ngồi một mình suốt cả mấy ngày liền, trong rừng núi sạch sẽ như được quét dọn đến không một vết tích nào cả.
Có mấy cây lựu đang trổ hoa kết trái; Chả lẽ không có một đôi lúc nào tốt hay sao ?
Không thể đem được cái nỗi lòng nầy của tôi để gởi đến bạn; Nhớ đến bạn lại làm cho con nguời ta cảm thấy như già hơn ra.
Vì là thơ nhớ đến một nhà sư (Nguyên Độ) nên có vẻ cao siêu, như có một ý Thiền ẩn hiện đâu đây trong bài thơ...

* Diễn Nôm :
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

 

Từ ngày bạn ra đi,
Như có vấn vương gì.
Mấy ngày ngồi ngơ ngẩn,
Rừng núi được quét đi.
Mấy cành hoa lựu nở,
Tốt lành cũng có khi ?
Không thể gởi gan ruột,
Nhớ bạn người già đi !

Lục bát:

Từ ngày bạn rời chân đi,
Lòng tôi như có chút gì vấn vương.
Một mình ngồi suốt mấy hôm,
Núi rừng được quét sạch trơn ai ngờ.
Mấy cành lựu trổ hoa mơ,
Tốt lành đâu hẵn phải chờ có khi ?
Khó đem gan ruột gởi đi,
Nhớ bạn lại khiến người thì già thêm !

Đến Lư Long Vân 盧龍雲 đời Minh thì phá cách hẵn; Chẳng còn lối phủ định ở câu 2 và lối Tỉ giảo với từ NHƯ 如 ở câu 3 nữa. Ta đọc bài thơ sau đây của ông:


自君之出矣, Tự quân chi xuất hĩ,
時序速如梭。 Thời tự tốc như thoa.
雪裡春將動, Tuyết lý xuân tương động,
流光一歲過。 Lưu quang nhất tuế qua!

* Chú thích:
- Thời Tự 時序 : là sự Tuần tự của thời gian; là Thời gian lần lượt...
- Tốc Như Thoa 速如梭 : là Nhanh như con thoi (trong khung cưởi).
- Tương 將 : là Sắp, là Sẽ...
- Lưu Quang 流光 : là Thiều quang qua đi như nước chảy; Ý chỉ Thời gian qua nhanh.

* Nghĩa bài thơ:
Từ ngày chàng bước chân ra đi rồi; thì thời gian cũng tuần tự qua nhanh như là thoi đưa vậy. Trong cảnh tuyết rơi, thì mùa xuân cũng đã khởi động rồi; và thời gian nhanh đến nỗi môt năm cũng sắp qua đi rồi !

* Diễn Nôm :
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

Từ ngày chàng đi rồi,
Thời gian tựa như thoi.
Trong tuyết xuân đà bén,
Một năm sắp qua rồi !

Lục bát:

Từ ngày chàng bước chân đi,
Thời gian tuần tự thua gì con thoi.
Tuyết rơi xuân cũng đến nơi,
Một năm một tuổi qua rồi một năm !

Cuối cùng là chủ nhân của "Tài Tử Đa Cùng Phú" của ta là Cao Bá Quát cũng góp phần "TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ" với một bài Ngũ ngôn Luật thi hẵn hoi, như sau:


自君之出矣, Tự quân chi xuất hỹ,
夜夜守空床. Dạ dạ thủ không sàng.
海月照孤夢, Hải nguyệt chiếu cô mộng,
江風生暮涼. Giang phong sinh mộ lương.
小鏡寄遠篋, Tiểu kính ký viễn khiếp,
寒衣留故房. Hàn y lưu cố phòng.
持此各自慰, Trì thử các tự ủy,
不遣兩相忘! Bất khiển lưỡng tương vong!

* Chú thích:
- Cô Mộng 孤夢 : là Giấc mộng cô đơn, lẻ loi chỉ có một mình.
- Mộ Lương 暮涼 : Cái lạnh lẽo khi chiều xuống đêm về.
- Viễn Khiếp 遠篋 : KHIẾP là cái Rương, cái Tráp, cái "Va-ly" nhỏ. Nên VIỄN KHIẾP là "Cái tráp của người đi xa".
- Cố Phòng 故房 : là "Cái phòng cố hữu", là cái phòng xưa nay vẫn ở đó.
- Trì Thử 持此 : TRÌ là Cầm, là nắm; Nên TRÌ THỬ là "Giữ những thứ nầy".
- Tự Ủy 自慰 : là Tự mình an ủi mình.
- Bất Khiển 不遣 : là "Chẳng khiến cho...; Chẳng làm cho...".
- Lưỡng Tương Vong 兩相忘 : là "Cả hai cùng quên nhau".

* Nghĩa bài thơ :
Từ ngày chàng bước chân đi rồi, đêm đêm em vẫn giữ lấy chiếc giường trống không nầy.
Ánh trăng trên biển đêm đêm vẫn chiếu vào giấc mộng cô đơn lẻ loi của em; và gió trên sông thổi đến làm tăng thêm cái lạnh lẽo khi chiều xuống đêm về.
Chiếc gương nhỏ thì đã gởi vào cái tráp của người đi xa rồi, còn chiếc áo lạnh thì vẫn hãy còn ở phòng cũ đây.
Giữ những thứ nầy để hai ta tự an ủi nhau khi nhìn thấy nó; và để "chẳng làm cho hai ta cùng quên nhau được!"(có nghĩa là : Sẽ mãi mãi nhớ nhau !).

* Diễn Nôm:
TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

 

Từ ngày chàng đi rồi,
Đêm đêm giường không thôi.
Trăng biển soi mộng lẻ,
Gió sông thổi lạnh người.
Gương nhỏ theo tráp mất,
Áo lạnh giữ phòng côi.
Cùng giữ để yên ủi,
Cùng không quên bạn đời !

Lục bát:

Từ ngày chàng bước chân đi,
Giường không thiếp giữ xá gì đêm đêm.
Trăng soi bể vắng cô miên,
Gió sông thổi lạnh màn đêm xuống rồi.
Gương nhỏ theo tráp xa xôi,
Hàn y giữ lại phòng côi một mình.
Cùng giữ để cùng ngắm nhìn,
Cùng yên ủy chẳng quên tình đôi ta !

Đó là tất cả xuất xứ và lịch sử của quá trình diễn tiến hình thành của thể Nhạc phủ có tên rất nên thơ và đượm chút u buồn là TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ 自君之出矣, có nghĩa là: Từ ngày chàng bước chân ra đi rồi !...

Hẹn bài viết tới !

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức


Thứ Tư, 5 tháng 8, 2026

Góc Việt Thi: Trệ Khách 滯客 - Nguyễn Du


Năm Canh Tý (1780), Nguyễn Khản là anh cả của Nguyễn Du đang làm Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn trong Vụ án năm Canh Tý, bị bãi chức và bị giam ở nhà Châu Quận công. Lúc này Nguyễn Du được một người thân của Nguyễn Nghiễm là Đoàn Nguyễn Tuấn đón về Sơn Nam Hạ nuôi ăn học. Năm Quý Mão (1783), Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam trường (Tú tài). Ông lấy vợ là em gái Đoàn Nguyễn Tuấn và là con gái quan ngự sử Đoàn Nguyễn Thục. Ông cũng được tập ấm chức Chánh thủ hiệu hiệu quân Hùng hậu của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên.

Đến năm 1786, khi Tây Sơn Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ nhất dẹp chúa Trịnh, hai anh lớn là Nguyễn Khản và Nguyễn Điều bị bệnh chết, Nguyễn Du về Quỳnh Côi lánh nạn, ở đó suốt mười năm, thời gian này được gọi là thời kỳ "Mười năm gió bụi (1786-1796)". Năm 1791, một đại hoạ xảy ra: Nguyễn Quýnh, anh cùng cha khác mẹ của ông, người đồng chí rất thân yêu, nổi lên chống nhà Tây Sơn, đã bị bắt, bị giết, và làng Tiên Điền bị tàn phá, dinh thự nhà họ Nguyễn bị đốt hết. Năm 1795, vợ ông sinh được Nguyễn Tứ con thứ tư, người con duy nhất sống sót, thì bà qua đời. Nguyễn Du quá đau khổ vì vợ mất, lại ôm trên tay một đứa con mất mẹ còn rất nhỏ. 

Ông thực sự đã đến bước đường cùng  Ở lại, nương nhờ anh vợ thì không còn lý do, về quê mình thì dù anh Nguyễn Đề cũng làm quan cho Tây Sơn, nhưng đang đi sứ Trung Quốc chưa biết bao giờ về (đi sứ lần thứ 2, 1795). Nguyễn Du nấn ná ở lại Quỳnh Côi chưa đi ngay vì đợi cho con cứng cáp hơn, và có ý chờ Nguyễn Đề về để có chỗ dựa, trong tình thế quân Tây Sơn săn đuổi rất ráo riết những người chống đối (Vào năm 1796, Nguyễn Du dự định đi Nam, bị quận công Nguyễn Thận bắt giam ở Nghệ An, chính Nguyễn Đề đi sứ về kịp, đã cứu được em). Khi sắp rời hẳn Quỳnh Côi, trong khung cảnh êm ả của đồng bằng sông Hồng, nhưng cõi lòng tràn đầy bão tố, Nguyễn Du viết bài thơ TRỆ KHÁCH 滯客, bài thơ cuối cùng của thời kỳ Mười năm gió bụi. (Theo: Thi Viên được gởi bởi PH@ vào 10/06/2017).


滯客                         TRỆ KHÁCH

滯客淹留南海中, Trệ khách yêm lưu Nam Hải trung,
寂寥良夜與誰同。 Tịch liêu lương dạ dữ thuỳ đồng ?
歸鴻悲動天河水, Quy hồng bi động thiên hà thuỷ,
戍鼓寒侵夏夜風。 Thú cổ hàn xâm hạ dạ phong.
人到窮途無好夢, Nhân đáo cùng đồ vô hảo mộng,
天回苦海促浮蹤。 Thiên hồi khổ hải xúc phù tung.
風塵隊裡留皮骨, Phong trần đội lý lưu bì cốt,
客枕蕭蕭兩鬢蓬。 Khách chẩm tiêu tiêu lưỡng mấn bồng.

* Chú thích:

- TRỆ KHÁCH 滯客 : Người khách còn trì trệ, nấn ná chưa chịu rời đi; Nguyễn Du tự ví mình khi vợ mất mà còn nấn ná ở lại nhà bên vợ.
- YÊM LƯU 淹留 : YÊM 淹 là Ngâm, là Ngập chìm trong nước. Nên YÊM LƯU 淹留 là "Cố lưu lại thêm một thời gian nữa".
- TỊCH LIÊU 寂寥 : là Tịch Mịch 寂寞 và Cô Liêu 孤寥; Có nghĩa : Yên lặng vắng vẻ và Cô đơn chỉ có một mình.
- THIÊN HÀ 天河 : là Dòng sông trên trời, chỉ dãy Ngân Hà.
- THÚ CỔ 戍鼓 : Tiếng trống điểm sang canh của những người lính thú.
- CÙNG ĐỒ 窮途 : là Con đường cùng, là Bước đường cùng.
- XÚC PHÙ TUNG 促浮蹤 : XÚC là Thôi thúc; PHÙ là Trôi nổi; TUNG là Tung tích, là dấu chân; Nên XÚC PHÙ TUNG là "Thôi thúc những bước chân phiêu bồng trôi nổi còn chưa biết phải đi về đâu!".
- PHONG TRẦN ĐỘI LÝ 風塵隊裡 : là Trong hàng ngũ (trong đám) của những người phong trần chìm nổi trong gió bụi cuộc đời.
- TIÊU TIÊU 蕭蕭 : Ở đây chỉ (hai bên tóc mai) đã hoa râm, lốm đốm bạc.

* Nghĩa bài thơ:

NGƯỜI KHÁCH CÒN NẤN NÁ CHƯA RỜI

Người khách trì trệ vẫn còn nấn ná mãi ở vùng đất Nam hải nầy; Trong đêm thanh cô đơn vắng vẻ chỉ một thân một mình không người cùng bầu bạn. Tiếng con chim nhạn bi thương bay về làm kinh động cả nước trên sông Ngân hà. Tiếng trống điểm canh của những người lính thú như thấm đậm thêm cái gió lạnh của đêm hè. Con người đã đến bước đường cùng thì không còn gì là mộng đẹp nữa; Trời đã xoay bể khổ trở lại nên lại thôi thúc bước chân trôi nổi của kẻ phiêu bồng. Trong đám của những kẻ lăn lóc phong trần gió bụi chỉ còn lại có da bọc xương và lòa xòa bên gối khách là hai làn tóc mai đà lốm đốm bạc mà thôi!

* Diễn Nôm:

TRỆ KHÁCH

Một khách biển Nam trì trệ mãi,
Đêm thanh vắng lặng biết ai cùng ?
Nhạn về khuấy động sông Ngân chảy,
Trống giục lao xao gió lạnh lồng.
Người đến đường cùng không mộng đẹp,
Trời xoay biển khổ chẳng đường trông.
Phong trần một kẻ xương da bọc,
Bên gối tóc mai đã trắng ngần!

Lục bát:

Biển Nam trì trệ khách xa,
Đêm thanh vắng lặng ai là cảm thông?
Nhạn về lay động sông Ngân,
Trống canh đêm hạ gió lành lạnh đưa.
Người cùng mộng đẹp dần thưa,
Trời xoay biển khổ chân đưa phiêu bồng.
Xương da trong bước phong trần,
Lơ thơ bên gối trắng ngần tóc ma!
(Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm)

Qủa là tâm sự buồn thương yếm thế của một kẻ sĩ trong bước phong trần khi còn nổi chìm chưa đắc chí ở chốn quê người đất khách. Tâm tình của Nguyễn Du đã lắng đọng đến mức thấp nhất trong khoảng thời gian "Mười năm gió bụi" nầy. Nhưng rồi, sau cơn mưa trời lại sáng, bước đường tương lai sau nầy sẽ rộng mở hơn!...

Hẹn bài dịch tới!

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2026

Tạp Ghi Và Phiếm Luận: Đông Là Mùa Đông


ĐÔNG 冬 là mùa Đông, mùa cuối cùng trong năm sau mùa Thu và trước mùa Xuân của năm sau. Tính theo Âm lịch thì mùa Đông là các tháng Mười, Mười Một và tháng Chạp trong năm, nhưng nếu tính theo Dương lịch thì là các tháng Mười Hai, tháng Giêng và tháng Hai. Còn nếu ở Nam Bán cầu như các nước Úc, nước Tạn Tây Lan thì mùa Đông là các tháng Sáu, tháng Bảy và tháng Tám.
Theo Âm lịch thì trong mùa đông, có tất cả 6 KHÍ TIẾT 氣節 (Khí hậu về Thời tiết) được phân bố như sau:
* Tháng Mười có 2 Khí tiết là:
- Lập Đông 立冬 thường lọt vào ngày 7-8 tháng 11 Dương lịch.
- Tiểu Tuyết 小雪 thường lọt vào ngày 21-23 tháng 11 Dương lịch.
* Tháng Mười Một có 2 Khí Tiết là :
- Đại Tuyết 大雪 thường lọt vào ngày 6-8 tháng 12 Dương lịch.
- Đông Chí 冬至 thường lọt vào ngày 21-23 tháng 12 Dương lịch.
* Tháng Mười Hai có 2 Khí Tiết là :
- Tiểu Hàn 小寒 thường lọt vào ngày 5-7 tháng Giêng Dương lịch.
- Đại Hàn 大寒 thường lọt vào ngày 19-21 tháng Giêng Dương lịch.

Đặc biệt ĐÔNG CHÍ là ngày có thời gian ban đêm dài nhất trong năm ở Bắc bán cầu, trái với HẠ CHÍ là ngày có thời gian ban ngày dài nhất trong năm, như câu tục ngữ mà ông bà ta vẫn thường truyền tụng là:

Tháng Năm chưa nằm đã sáng, và...
Tháng Mười chưa cười đã tối.

Theo nghĩa mặt chữ thì ĐÔNG CHÍ 冬至 có nghĩa là "Mùa Đông đã đến rồi" và cũng có nghĩa là ngày tháng của năm cũ sắp hết, năm đã sắp tàn rồi; Nên Tiết Đông Chí 冬至節 cũng là một cái Tiết lớn ở cuối năm, mọi người có dịp gặp nhau để hàn huyên những chuyện của năm qua, cùng đoàn viên và cùng ăn chè ỷ, chè trôi nước (người Hoa gọi là Thang Viên 湯圓) nấu để cúng tế ông bà tổ tiên mừng cho một năm đã đi qua trong bội thu và bình an viên mãn. Cúng tế mừng Tiết Đông Chí cũng có nghĩa là mừng cho gia đình được đoàn viên để cùng đón mừng tuổi mới. Ăn chè ỷ của Tiết Đông Chí rồi là đã thêm được một tuổi mới rồi đó, nếu có qua đời thì cũng được đếm thêm một tuổi thọ nữa...


Nhớ hồi còn nhỏ, khi cô tôi giúp mẹ nấu một nồi chè ỷ, chè trôi nước thật lớn để mừng Tiết Đông Chí, cô đã nói với tôi là :"Năm nay cháu đã mười tuổi rồi, vậy là mừng tuổi năm mới cháu phải ăn 11 viên chè trôi nước". Tôi bèn cười nói với cô rằng :"Nếu cô ăn nổi 20 viên, thì cháu cũng sẽ ăn 11 viên cho cô xem". Anh tôi bèn chen vào nói :"Anh thì ăn nổi 15 viên rồi đó, còn ba má làm sao ăn nổi 50 viên, đừng nói chi đến ông nội tới 70 tuổi lận !" Trong niềm vui cuối năm cả nhà sum họp để cùng nấu cùng cúng và cùng ăn những viên chè tròn tượng trưng cho sự đoàn viên tròn trịa của cuối năm, thì cũng có người vì công danh, vì sinh kế mà phải tha phương cầu thực... Tiết Đông Chí mà chưa được về quê, một mình một bóng cô thân nơi xứ lạ quê người như bài thất ngôn tứ tuyệt "Hàm Đan Đông Chí dạ tư gia 邯鄲冬至夜思家" (Ở xứ Hàm Đan đêm Đông Chí nhớ nhà) của Thi Bá Bạch Cư Dị sau đây :

邯鄲驛裡逢冬至, Hàm Đan dịch lý phùng Đông Chí,
抱膝燈前影伴身。 Bão tất đăng tiền ảnh bạn thân.
想得家中夜深坐, Tưởng đắc gia trung dạ thâm tọa,
還應說著遠行人。 Hoàn ưng thuyết trước viễn hành nhân !

Có nghĩa:
Ở nơi dịch quán của đất Hàm Đan nầy lại nhằm lúc Tiết Đông Chí đến, ta cũng đành ngồi bó gối trước ánh đèn mà bầu bạn với cái bóng của mình mà thôi. Nhớ về quê nhà giờ nầy chắc mọi người đang quây quần đoàn tụ ngồi với nhau trong đêm... và chắc cũng đang nhắc đến ta, một kẻ đi xa không về nhà được trong lễ tiết cuối năm nầy.
Trông người lại ngẫm đến ta, nếu Tiết Đông Chí nầy ta có về lại được quê nhà thì cũng không tìm đâu ra người xưa cảnh cũ; Thời gian nửa thế kỷ biết bao là tang thương biến đổi, đã xóa hết những hình ảnh kỷ niệm của "Những ngày xưa thân ái" đi rồi !

Dịch quán Hàm Đan Đông Chí rồi,
Trước đèn bó gối bóng đơn côi.
Quê nhà sum họp ngồi tâm sự,
Chắc cũng xa vời nhớ đến tôi !

Lục bát:
Hàm Đan Đông Chí đến rồi,
Bên đèn bó gối đơn côi bóng mình.
Nhớ nhà đoàn tụ đêm thanh,
Chắc đang nhắc đến những thành viên xa!...

Nếu mùa thu làm cho cỏ cây hoa lá héo hon vàng úa, thì mùa đông lạnh lẽo khắc nghiệt vùi chôn tất cả hoa lá cỏ cây, tạo nên cảnh tiêu điều lạnh lùng tang tóc khắp nơi với ngập trời tuyết trắng, với bầu trời u ám buồn thương... như Jean. Leiba đã viết :

Xuân tàn, hạ cỗi, cảnh thu sầu,
Mờ mịt hơi đông ám ngọn lau...

và cụ thể hơn như trong bài thơ "Bốn mùa yêu thương" của ông:

Nhưng một ngày đông nhiều mộng héo,
Đầy trời mưa lạnh, lá vàng gieo.
Em buồn, chẳng nỡ nhìn ta nữa,
Ta thấy trời đông bỗng lạnh nhiều!

Mùa Thu là mùa của tình buồn, thì mùa đông là tình của những mối tình tan vỡ, xót xa... như trong thơ của Huyền Kiêu:

Đông xám lại chàng tới hỏi:
Em thơ, chị đẹp em đâu ?
Chị tôi hoa phủ đầy đầu,
Đã ngủ trong lòng mộ tối!...

Gió thu xạc xào hiu hắt, còn gió đông thì se sắt lạnh lùng. Gió mùa đông là gió từ phương bắc thổi xuống. Bắc phương Nhâm Qúy thuộc Thủy, nên gió từ miền Bắc cực thổi xuống mang theo hơi nước giá lạnh của vùng tuyết băng khô khan lạnh lẽo. Hướng Bắc còn được gọi là hướng Sóc, nên Bắc Phong 北風 còn được gọi là SÓC PHONG 朔風 như trong bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt "Tòng Quân Hành 從軍行 (kỳ 4)" của Lệnh Hồ Sở 令狐楚 đời Đường:

SÓC PHONG thiên lý kinh, 朔風千里驚,
Hán nguyệt ngũ canh minh. 漢月五更明。
Túng hữu hoàn gia mộng, 縱有還家夢,
Do văn xuất tái thinh ! 猶聞出塞聲。

Có nghĩa:
Ngàn dặm gió bấc thổi,
Năm canh trăng quê nhà.
Dẫu có mộng hoàn gia,
Còn nghe lời xuất tái!

Song thất Lục bát:
Gió bấc thổi làm kinh lính thú,
Trăng Hán gia vằng vặc canh tà.
Dẫu cho mơ được về nhà,
Bên tai còn vẳng tiếng ra ải ngoài!

Gió Bắc khô khan lạnh lẽo của mùa đông, còn được bà con ta gọi trại thành GIÓ BẤC, nên mới có những câu Ca Dao trong dân gian Nam Bộ như sau :

Gió Bấc non thổi lòn hang chuột,
Thấy chị hai mầy tao đứt ruột đứt gan !
và...
Gió Bấc non thổi lòn hang dế,
Thấy chị hai mầy tao bế hế băng hăng !

Còn chàng thi sĩ Nguyễn Bính đa tình của thời Tiền Chiến, trong bài thơ "Mùa Đông Gửi cố nhân" đã rên rỉ:

Mưa phùn Gió Bấc, cố nhân ơi,
Áo rét nàng đan lỡ hẹn rồi.
Sông lạnh khi nàng ra giũ lụa,
Với dùm trong nước lấy hồn tôi.

và trong bài "Mùa Đông Nhớ Cố Nhân" thì Nguyễn Bính lại nhắn gửi :

Mưa phùn đầy cữ chửa cho thôi,
Gió Bấc đêm nay buốt suốt giời.
Giường mộng con thoi còn chạy lẻ,
Hay là nàng đã dệt thoi đôi ?

Trong văn học cổ có một thành ngữ về mùa Đông là THU THÂU ĐÔNG TÀNG 秋收冬藏, có nghĩa là: Mùa Thu là mùa của thu hoạch nông phẩm ngày xưa, còn mùa Đông là mùa phải cất giữ lại những nông phẩm thu hoạch đó để chi dùng trong những tháng mùa đông lạnh lẽo giá buốt. Thành ngữ nầy có xuất xứ từ sách《Sử Ký, Sử Thái Công Tự Tự 史记·太史公自序》với cả câu như sau : "Phù xuân sanh hạ trưởng, thu thâu đông tàng, thị thiên đạo chi đại kinh 夫春生夏长,秋收冬藏,是天道之大经" Có nghĩa : Phàm (vạn vật) mùa xuân thì sanh sôi nẩy nở, mùa hè thì phát triển trưởng thành, mùa thu thì thâu hoạch thành quả, mùa đông cất giữ (để chi dùng và để làm hạt giống cho năm sau), đó là cái lý lẽ lớn của đạo trời (chỉ sự tuần hoàn của vũ trụ và hoạt động trong đời sống con người). Các nông phẩm mang chữ ĐÔNG mà ta thường thấy thường dùng là :
- ĐÔNG QUA 冬瓜 (東瓜) là trái Bí Đao (tên khoa học là Benincasa pruriens), thường dùng để nấu canh và làm mức bí trong ngày Tết Nguyên Đán.
- ĐÔNG THÁI 冬菜 là Cải Hủ, dân Chợ Lớn gọi theo tiếng Tiều Châu là "Cải Tan-xại" dùng để chưng thịt cá hoăc làm gia vị cho Hủ tiếu Mì khi ăn.
- ĐÔNG TRÙNG THẢO 冬蟲草 còn gọi là Đông Trùng Hạ Thảo 冬蟲夏草 là một loại đông dược quý , được sử dụng từ lâu trong y học cổ truyền Trung Hoa và y học cổ truyền Tây Tạng; Hiện đang là dược thảo thịnh hành khắp thế giới.
- ĐÔNG DUẪN 冬筍(笋)là Măng Tre mọc vào mùa đông, có tên là MĂNG MẠNH TÔNG 孟宗筍, có vị ngọt dòn ngon nhất trong các loại măng, có xuất xứ từ Truyện thứ 17 của "Nhị Thập Tứ Hiếu 二十四孝" do Quách Cư Nghiệp 郭居業 (có sách ghi là Quách Cư Kính 郭居敬) vào thời nhà Nguyên biên soạn. Câu truyện như sau :
MẠNH TÔNG 孟宗(?—271)tự là Cung Vũ, người đất Giang Hạ thuộc nước Ngô thời Tam Quốc. Lúc nhỏ cha mất, mẹ thì thường hay đau yếu, khi bệnh mẹ trở nặng, thầy thuốc bảo ăn canh măng non thì bệnh sẽ khỏi, nên mẹ thường ao ước được ăn canh nấu bằng măng non. Khổ nỗi lại nhằm lúc mùa đông, măng non chưa mọc, Mạnh Tông bèn chạy ra rừng tre ôm những cây tre mà khóc, rồi mệt lả mà thiếp đi. Khi tỉnh dậy thì đã thấy chỗ nước mắt rơi xuống có mấy mụt măng trổ đất mọc lên. Mạnh Tông cả mừng bèn bứng lấy đem về nấu canh măng dâng lên cho mẹ ăn. Quả nhiên hôm sau bà mẹ đã mạnh khoẻ trở lại. Vì có tiếng là hiếu thảo, nên chúa Đông Ngô vời ông ra làm quan đến chức Tư Không. Người đời sau có thơ khen rằng:

泪滴朔風寒 Lệ trích sóc phong hàn,
蕭蕭竹數竿。 Tiêu tiêu trúc sổ can.
須臾冬笋出, Tu vu Đông Duẩn xuất,
天意報平安。 Thiên ý báo bình an.

Có nghĩa:
Lệ rơi gió bấc lạnh lùng,
Lưa thưa vài khóm trúc rừng héo hon.
Phút đâu vài mụt măng non,
Chui ra từ đất trời còn thương nhau.

Về sau vào mùa đông có một loại tre cho loại măng màu xám giống y như vậy, ăn rất ngon, được gọi là măng Mạnh Tông.
Trong chương trình cổ văn của lớp Đệ Thất (nay là lớp 6) ngày xưa, học sinh phải học hai tác phẩm "Lục Súc Tranh Công" và "Nhị Thập Tứ Hiếu" của Cử Nhân Lý Văn Phức (1785-1849) diễn Nôm bằng thể Song thất Lục bát. Bài "MẠNH TÔNG KHÓC MĂNG" được diễn Nôm như sau :

Ngô Mạnh Tông phụ thân sớm khuất,
Thờ mẫu thân lòng thực khăn khăn.
Tuổi già trằn trọc băn khoăn,
Khi đau nhớ bát canh măng những thèm.

Trời đông tuyết biết đâu tìm được,
Chốn trúc lâm phải bước chân đi.
Một thân ngồi dựa gốc tre,
Ôm cây kêu khóc nằn nì với cây.

Giữa bình địa phút giây bỗng nứt,
Mấy giò măng mặt đất nẩy sanh.
Đem về nấu một bữa canh,
Ăn rồi bệnh mẹ lại lành như xưa.

Măng mùa lạnh bây giờ mới thấy,
Để về sau nhớ lấy cỏ cây.
Cho hay hiếu động cao dày,
Tình sâu cũng khiến cỏ cây cũng tình.


Đầu mùa Đông ta có Tiết Lập Đông 立冬 là thời điểm giao mùa giữa thu và đông, khi trời tàn thu bắt đầu chuyển lạnh để sang mùa đông rét mướt. Thi nhân cũng chuyển vận từ gió heo may hiu hắt sang gió tuyết lạnh lùng, tiêu biểu như bài lục ngôn thi LẬP ĐÔNG, là bài thơ 6 chữ hiếm hoi rất độc đáo của Thi Tiên Lý Bạch như sau đây :

凍筆新詩懶寫, Đống bút tân thi lãn tả,
寒爐美酒時温。 Hàn lô mỹ tửu thời ôn.
醉看梅花月白, Túy khan mai hoa nguyệt bạch,
恍疑雪落前村。 Hoảng nghi tuyết lạc tiền thôn !

Có nghĩa :
Bút cóng câu thơ biếng viết,
Lò lạnh rượu tốt thường hâm.
Say nhìn hoa mai trăng sáng,
Ngỡ rằng tuyết phủ đầu thôn.

Lục bát :
Bút lạnh biếng viết câu thơ,
Lò tàn lửa tắt hững hờ rượu hâm.
Say nhìn mai trắng trăng ngân,
Chập chờn như tuyết trắng ngần xóm xa !

Bài thơ của Thi Tiên làm cho ta nhớ đến hai câu thơ tả Hoa Mai Nở Sớm (Tảo Mai 早梅) của nhà sư Tề Kỷ 齊己 ở cuối đời Đường là :

Tiền thôn thâm tuyết lý, 前村深雪裏
Tạc dạ nhất chi khai. 昨夜一枝開。

Có nghĩa:
Xóm xa trong tuyết đêm qua,
Một cành mai sớm nở ra trắng ngần.

Và hai câu thơ trên lại làm cho ta nhớ đến hai câu cuối trong bài kệ "Cáo Tật Thị Chúng 告疾示眾" của Mãn Giác Thiền Sư 滿覺禪師 của Việt Nam ta là :

莫謂春殘花落尽, Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
庭前昨夜一枝梅! Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Có nghĩa :
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Ngoài sân, đêm trước, nở cành mai!

Năm Hội Xương thứ hai đời Đường Vũ Tông (842) Đỗ Mục 杜牧 đã 40 tuổi, vì tính cương trực nên bị Tể Tướng Lý Đức Dũ tâu với vua biếm đến đất Hoàng Châu, Trì Châu rồi Mục Châu... Khi bị đày đến làm Thứ Sử Mục Châu lại nhằm lúc vào đông, năm hàn tháng lạnh tha hương một thân một bóng, đêm đông lạnh lẽo ngồi uống rượu một mình đã cảm tác nên bài "SƠ ĐÔNG DẠ ẨM 初冬夜飲" (Đầu đông đêm uống rượu một mình) như sau :

淮陽多病偶求歡, Hoài Dương đa bệnh ngẫu cầu hoan,
客袖侵霜與燭盤。 Khách tụ xâm sương dữ chúc bàn.
砌下梨花一堆雪, Thế hạ lê hoa nhất đôi tuyết,
明年誰此憑闌干。 Minh niên thùy thử bằng lan can.

Thân ta nhiều bệnh tật như là Cấp Ảm 汲黯 Thái Thú của quận Hoài Dương vậy, nên đôi khi cũng tìm vui trong chén rượu. Người khách tha hương hai tay áo nhuốm đầy phong sương chỉ làm bạn với cái giá nến cô độc nầy mà thôi. Dưới thềm tuyết đã đùn lên trắng xóa như hoa lê; không biết là sang năm còn có ai ngồi tựa lan can nầy (để uống rượu một mình như ta nữa không ?)

Hoài Dương nhiều bệnh chợt tìm vui,
Tay áo phong sương bên nến côi.
Trắng xóa dưới thềm hoa lê tuyết,
Sang năm ai biết có ai ngồi !?


Cũng uống rượu trong đêm đông, nhưng Bạch Cư Dị 白居易 lại uống một cách thư thái nhàn nhã, với một vò rượu mới ủ, với một bếp than hồng nho nhỏ, trong khi ngoài trời tuyết lại sắp rơi, dám hỏi bạn rằng : Bạn có thể đến cùng tôi để chúng ta cùng uống với nhau một chén rượu trong đêm đông lạnh lẽo nầy hay chăng ? Thật nên thơ và thật nhẹ nhàng thi vị biết bao ! Ta cùng đọc bài ngũ ngôn tuyệt cú "VẤN LƯU THẬP CỬU 問劉十九" (Hỏi chàng Lưu Thập Cửu) của Bạch Cư Dị sau đây nhé !

綠螘新醅酒, Lục nghĩ tân phôi tửu,
紅泥小火爐。 Hồng nê tiểu hỏa lô.
晚來天欲雪, Vãn lai thiên dục tuyết,
能飲一杯無? Năng ẩm nhất bôi vô ?

Có nghĩa:
Rượu vừa mới ủ xanh xanh,
Lò đất nho nhỏ cháy quanh lửa hồng.
Trời như muốn tuyết đêm đông,
Gặp nhau uống chén rượu nồng được chăng ?

Đọc bốn câu thơ trên lại làm cho ta nhớ đến bản nhạc "Về Dưới Mái Nhà" của nhạc sĩ Xuân Tiên với các câu...
... Người ơi ! Mau về đây,
Về bên bếp hồng tay cầm tay...

Mùa đông luôn rét mướt với cảnh vắng lặng của núi rừng không một bóng chim chóc vãng lai; Trên các nẻo đường cũng vắng bóng người qua kẻ lại; Hoạ hoằn lắm mới thấy được một ông câu khoát chiếc áo tơi buông câu trên dòng sông tuyết băng lạnh lẽo... như trong bài "GIANG TUYẾT 江雪" của Liễu Tông Nguyên 柳宗元, một trong "Đường Tống Bát Đại Gia" như sau :

千山鳥飛絕, Thiên sơn điểu phi tuyệt,
萬徑人蹤滅。 Vạn kính nhân tông diệt.
孤舟蓑笠翁, Cô chu toa lạp ông,
獨釣寒江雪。 Độc điếu hàn giang tuyết !

Có nghĩa:
Ngàn núi chim bay hết,
Muôn nẻo bóng người tuyệt.
Áo tơi một lão ông,
Buông cần trên sông tuyết!

Câu "Vạn kính nhân tông diệt" làm ta nhớ đến câu "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo" của cụ Tam Ngyên Nguyễn Khuyến nhà ta ...

Nói đến mùa đông là nói đến hoa mai và tuyết trắng. Trong cảnh đông hàn lạnh lẽo, khi các cỏ cây hoa lá khác đã héo tàn thì hoa mai lại ngạo nghễ vươn lên trong tuyết lạnh với màu trắng tinh khiết và hương thơm nhẹ thoảng một cách cao nhã chẳng khuất phục trước thiên nhiên khắc nghiệt của thời tiết. Thôi Đạo Dung 崔道融 một thi nhân ở cuối đời Đường, mặc dù chỉ là một viên Huyện lệnh nhỏ nhoi nhưng lại tự hào với nhân cách cao khiết của mình qua bài ngũ ngôn luật thi MAI HOA 梅花 như sau :

數萼初含雪, Sổ ngạc sơ hàm tuyết,
孤標畫本難。 Cô tiêu họa bổn nan.
香中別有韻, Hương trung biệt hữu vận,
清極不知寒。 Thanh cực bất tri hàn.
橫笛和愁聽, Hoành địch hòa sầu thính,
斜枝倚病看。 Ta chi ỷ bệnh khan.
朔風如解意, Sóc phong như giải ý,
容易莫摧殘。 Dung dị mạc thôi tàn !

* Có nghĩa :
- Mấy đài hoa xanh còn đọng tuyết ôm ấp lấy mấy cánh hoa vừa mới nở...
- Cô đơn ngạo nghễ vươn lên, khó mà vẽ nên được cái thần thái vốn có kia
- Trong mùi thơm thoang thoảng có cái phong vận đăc biệt riêng,
- Vẻ thanh tân đến cùng cực nên không xem cái lạnh vào đâu cả.
- Khúc sáo "Mai hoa lạc" hòa vào sự buồn thương của người nghe,
- Với cành nhánh nghiêng chao trong tuyết giá trông như đang bệnh.
- Gió bấc kia nếu như hiểu được cái ý tình của hoa mai, thì xin...
- Chớ dễ dàng mà nổi cơn cuồng nộ làm cho hoa mai phải tàn tạ tả tơi !

* Diễn Nôm:
Mai Hoa

Đài hoa điểm tuyết trắng ngần,
Thanh cao ngạo nghễ khó phần vẽ nên.
Trong hương phong vận không tên,
Thanh tân hết mực nên quên lạnh hàn.
Sáo ai sầu khúc mai tàn,
Nghiêng chao cành nhánh nhẹ nhàng tợ đau.
Bắc phong điêu nghệ chút nào,
Chớ đem buốt giá lao đao nhánh cành !

Còn Tể Tướng Vương An Thạch đời Tống thì nhẹ nhàng, bình dân và đơn giản gãy gọn hơn với bài ngũ ngôn tuyệt cú sau đây :

牆角數枝梅, Tường giốc sổ chi mai,
凌寒獨自開。 Lăng hàn độc tự khai.
遙知不是雪, Dao tri bất thị tuyết,
為有暗香來。 Vị hữu ám hương lai !

Có nghĩa :
Gốc tường mấy cành mai,
Lạnh lẽo vẫn nở hoài.
Xa trông nào phải tuyết,
Vì hương thoảng mũi ai !

Lục bát :
Góc tường nọ mấy cành mai,
Lạnh tràn vẫn cứ nở hoài không thôi.
Xa trông chẳng phải tuyết rơi
Vì làn hương nhẹ khắp nơi thoảng mùi !


Có MAI có TUYẾT rồi còn phải có THƠ nữa thì mới đủ "Bộ Ba" nhã hứng của thi nhân ngày xưa. TUYẾT MAI Nhị Thủ 雪梅二首 là hai bài thơ thất ngôn tứ tuyệt nói về MAI TUYẾT và THƠ của thi nhân Lư Mai Pha 盧梅坡 đời Nam Tống. Hai bài thơ đã nói lên sự gắn bó không thể tách rời giữa Hoa mai, Tuyết trắng và Thơ ca; một sự kết hợp tuyệt vời của "Ba trong Một" mà nếu thiếu mất Một thì sẽ không thể tạo nên cái không gian và cảnh trí đẹp đẽ đặc sắc của buổi đông hàn giá buốt. Mời tất cả cùng đọc và thưởng thức...

其一 Kỳ Nhất
梅雪爭春未肯降, Mai Tuyết tranh xuân vị khẳng hàng,
騷人擱筆費評章。 Tao nhân các bút phí bình chương.
梅須遜雪三分白, Mai tu tốn tuyết tam phân bạch,
雪却輸梅一段香。 Tuyết khước thâu mai nhất đoạn hương.

* Chú thích :
- Hàng 降 : là đầu hàng, là Chịu thua. VỊ KHẲNG HÀNG là Chẳng chịu thua.
- Tao Nhân 騷人 : là Tao nhân mặc khách chỉ khách văn chương, văn nhân thi sĩ.
- Các Bút 擱筆: là Gác bút, không viết được.
- Bình Chương 評章 : là bình phẩm về văn chương thi ca.
- Tốn 遜 : là Khiêm tốn; là nhường nhịn, là Sút kém.
- Thâu 輸 : là Thua, là Sút kém.

* Nghĩa bài thơ :
- Mai và Tuyết cùng tranh nhau mùa xuân mà chẳng ai chịu nhường ai cả.
- Các tao nhân mặc khách cũng đành gác bút không muốn phí lời bình phẩm.
- Bạch Mai thì sút kém hơn Tuyết ba phần về sắc trắng. Còn...
- Tuyết thì thua Mai vì Mai còn có một làn hương thơm thoang thoảng.

* Diễn Nôm :
Mai tuyết tranh xuân chẳng chịu nhường,
Thi nhân gát viết phí lời suông.
Mai thì nhường tuyết ba phần trắng,
Tuyết lại thua mai một thoáng hương !

Lục bát :
Tranh xuân Mai Tuyết chẳng nhường,
Thi nhân gác bút hết đường cân phân.
Mai thua Tuyết trắng ba phần,
Tuyết thì lại chịu mai gần thoáng hương !


其二 Kỳ Nhị
有梅無雪不精神, Hữu Mai vô Tuyết bất tinh thần,
有雪無詩俗了人。 Hữu Tuyết vô Thi tục liễu nhân.
日暮詩成天又雪, Nhật mộ Thi thành thiên hựu Tuyết,
與梅並作十分春。 Dữ Mai tịnh tác thập phân Xuân !

* Chú thích :
- Bất Tinh Thần 不精神 : Chỉ Không có cái thần thái cao nhã thanh khiết.
- Tục Liễu nhân 俗了人 : Chỉ Con người trở nên phàm tục, tầm thường.
- Tịnh Tác 並作 : là Cùng tương tác để tạo nên...
- Thập Phân Xuân 十分春 : là Mười phần xuân, chỉ mùa xuân trọn vẹn đầy đủ.

* Nghĩa bài thơ:
- Có Mai mà không có Tuyết thì sẽ như thiếu đi cái thần thái cao nhã.
- Đã có Tuyết rồi nếu không có Thơ thì như quá phàm tục tầm thường.
- Trong cảnh trời chiều khi Thơ mới làm xong thì trời lại đổ Tuyết...
- Hợp cùng với hoa Mai nữa là mùa Xuân đã trọn vẹn cả mười phân vẹn mười rồi !

* Diễn Nôm :
Có Mai không Tuyết chẳng tinh thần,
Có Tuyết không Thơ phàm tục nhân.
Chiều xuống thơ thành trời lại tuyết,
Hợp cùng Mai nở cả mùa Xuân !...

Lục bát :
Có Mai không Tuyết tầm thường,
Không thơ có Tuyết tầm thường càng nhanh.
Trời chiều Tuyết đổ Thơ thành,
Hợp cùng Mai nở xuân xanh vẹn mười !

Ta thấy...
Trong khi hoa mai nở sớm trong làn tuyết trắng bay bay là đã báo hiệu cho mùa xuân đã đến. Mai nở trong tuyết, tuyết vờn quanh mai tạo nên một bức tranh cao nhã đầy thi vị của xuân tươi, nên cần có thơ để thăng hoa nâng cảnh trí nên thơ của buổi tàn đông và đầu xuân lên tuyệt đĩnh. Tác giả đã ngắm tuyết rơi, thưởng thức hoa mai nở và ngâm thơ xuân MAI TUYẾT trong tinh thần thẩm mỹ cao độ giữa MAI TUYẾT và THƠ một cách vô cùng nên thơ thi vị. Cụ Nguyễn Du cũng đã mượn cái cao nhã tinh khiết của Mai, của Tuyết của hai bài thơ nầy để tả vẻ đẹp thuần khiết trong trắng và cao quý của chị em Thúy Kiều và Thúy Vân :

MAI cốt cách TUYẾT tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười !

Không phải chỉ có Hoa Mai là nở trong mùa đông, ở Việt Nam ta còn có HOA CÚC nữa. Mặc dù hoa Cúc là loài hoa tiêu biểu tượng trưng cho mùa thu, nhưng vào đông Cúc vẫn cứ nở rộ rực rở như đang tranh đẹp với hoa Mai vậy. Ta hãy đọc bài thất ngôn tứ tuyệt "ĐÔNG CÚC 冬菊" sau đây của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thì sẽ rõ:

一種延年館裡栽, Nhất chủng diên niên quán lý tài,
晚香獨向雪中開。 Vãn hương độc hướng tuyết trung khai.
莫笑爭芳時太晚, Mạc tiếu tranh phương thời thái vãn,
先春肯讓一枝梅。 Tiên xuân khẳng nhượng nhất chi mai ?!

Có nghĩa :
- Có một loài hoa được trồng quanh năm trong nhà trong quán;
- Có một mùi hương độc đáo về đêm thường hướng vào trong tuyết mà nở.
- Chớ cười là cùng tranh thơm một cách qúa muộn màng.
- Trước khi mùa xuân đến, há chịu nhường cho một cành mai hay sao ?!
(Có nghĩa là trong mùa đông nầy hoa cúc ta vẫn còn đẹp còn thơm lắm, chẳng có thua gì hoa mai kia chút nào cả !)

Loài hoa trồng tỉa suốt năm dài,
Đêm xuống hương thơm dựa tuyết khai.
Chớ bảo tranh thơm đà qúa muộn,
Trước xuân há dễ chịu nhường mai!

Lục bát :
Suốt năm trồng tỉa quanh nhà,
Đêm đông tuyết xuống hương xa dịu dàng.
Tranh thơm chớ bảo muôn màng,
Trước xuân há chịu nhượng nàng mai kia!


Nhân nhắc đến CÚC và MAI lại nhớ đến bốn câu cuối trong bài THẦN ĐỒNG THI 神童詩 của Uông Thù 汪洙 đời Tống là:

春游芳草地, Xuân du phương thảo địa,
夏賞绿荷池。 Ha thưởng lục hà trì.
秋飲黄花酒, Thu ẩm hoàng hoa tửu,
冬吟白雪詩。 Đông ngâm bạch tuyết thi.

Có nghĩa :
Xuân du trên thảm cỏ non,
Hè thì thưởng ngoạn sen tròn trên ao.
Thu nhâm nhi rượu cúc đào,
Đông ngâm thơ tuyết thú nào hơn ta !

Lại nhớ đến năm xưa, khi theo học lớp Đồng Ấu, thầy giáo đã cho học bài Học Thuộc Lòng (trong "Quốc Văn Giáo Khoa Thư"?) như sau :

Mùa xuân ấm áp khỏe người,
Hè thời nóng bức lửa trời nấu nung.
Mùa Thu gió mát trăng trong,
Mùa Đông rét mướt cho lòng xót xa.
Kẻ giàu mớ bảy mớ ba,
Người nghèo biết lấy chi mà che thân !

"Mớ bảy mớ ba" vì nằm trong nệm ấm chăn êm, còn trong đêm đông vẫn lang thang không nhà sống đời cô lữ, thì làm sao mà "mớ bảy mớ ba" cho được ! Để kết thúc bài viết "ĐÔNG là Mùa Đông" nầy, xin mời tất cả cùng lắng lòng với lời hát trong bản nhạc Thời Tiền Chiến "ĐÊM ĐÔNG" rất nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sáng tác vào năm 1939 của thế kỷ trước qua tiếng hát độc đáo của nữ ca sĩ Thanh Lam :
Mời bấm vào link dưới đây để nghe nhạc :

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức