Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2026

Cáo Phó Từ Gia Đình Cựu Giáo Sư (Vĩnh Long) Nguyễn Thành Sơn

 



Tóm Tắt Tiểu Sử Của Ông Nguyễn Thành Sơn

Nguyễn Thành Sơn (1940- 2026)

Ông Nguyễn Thành Sơn sinh ngày 10 tháng 4 năm 1940 tại xã Phú Quới, tỉnh Vĩnh Long, trong một gia đình có 11 anh chị em.

Từ năm 1959 đến năm 1966, ông là giáo viên tiểu học và giáo sư trung học. Trong thời gian ấy, ông hoàn tất chương trình Cử nhân Việt văn tại Viện Đại học Cần Thơ.

Năm 1966, theo lệnh tổng động viên, ông nhập ngũ, tốt nghiệp Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khóa 23, và phục vụ trong binh chủng Pháo binh với cấp bậc Trung úy.

Sau khi giải ngũ, ông trở lại với nghề giáo, giảng dạy tại các trường Trung học Thủ Khoa Huân, Tống Phước Hiệp, Đại học Sư phạm Vĩnh Long và đồng thời giữ chức Giám học Trường Trung Học Bán Công Nguyễn Thông.

Ngoài sự nghiệp giáo dục, ông cùng gia đình xây dựng trại chăn nuôi gà. Bạn bè và thân hữu thường trìu mến gọi ông là: "Sơn Gà."

Sau biến cố năm 1975, ông bị đưa đi cải tạo. Sau khi được trả tự do, ông tiếp tục tham gia các hoạt động phục quốc. Đến năm 1980, trong lần bị bắt thứ hai, ông đã vượt ngục thành công.

Cuối năm 1981, ông đưa cả gia đình vượt biên đến bến bờ tự do.

Định cư tại Hoa Kỳ, ông làm nhiều công việc để nuôi các con ăn học nên người, đồng thời tiếp tục theo học tại City College of San Francisco để trau dồi kiến thức và hòa nhập với cuộc sống mới.

Năm 2009, do di chứng của vết thương từ thời chiến tranh, ông buộc phải cắt bỏ một chân.

Thế nhưng, ông chưa bao giờ đầu hàng số phận. Với nghị lực phi thường, ông bắt đầu viết truyện ngắn, ký sự và hồi ký về nghề giáo, đời quân ngũ và những sinh hoạt bình dị nơi làng quê, được đăng trên các nguyệt san của trường Trung học Thủ Khoa Huân và Đại học Sư phạm Vĩnh Long. Trang nhà Long Hồ Vĩnh Long. Những trang viết ấy không chỉ lưu giữ ký ức của một đời người mà còn gửi gắm những bài học quý báu cho thế hệ mai sau.

Người xưa có câu: "Sống gửi, thác về."

Sau một cuộc đời với biết bao thăng trầm, cống hiến và hy sinh, ông đã thanh thản từ biệt cõi trần vào ngày 20 tháng 6 năm 2026, hưởng thọ 86 tuổi.

Dẫu biết sinh, lão, bệnh, tử là quy luật muôn đời của tạo hóa, nhưng sự ra đi của ông vẫn để lại niềm tiếc thương vô hạn trong lòng gia đình, thân bằng quyến thuộc, bạn bè và tất cả những người từng biết và quý mến ông.

Hôm nay, trong giờ phút tiễn biệt này, chúng con xin cúi đầu kính tiễn Ba về nơi an nghỉ cuối cùng.

Vĩnh biệt Ba. Chúng con mãi mãi thương nhớ và biết ơn Ba


Điếu Văn Tưởng Niệm Ông Nội – Nguyễn Thành Sơn

 

Kính thưa quý cô bác, anh chị em, cùng toàn thể gia đình và bạn bè có mặt hôm nay.

Đối với những cô chú, bác và anh chị em mà hôm nay con chưa có dịp gặp, con tên là Nhi, và Nguyễn Thành Sơn là ông nội của con.


Trước hết, con xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tất cả mọi người đã không quản đường xa gần đến đây hôm nay để tiễn biệt Ông Nội và cùng tưởng nhớ cuộc đời của ông. Con cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến các cô, các chú – những người con của Ông Nội. Mọi người đã dành biết bao tình yêu thương, công sức và sự tận tụy để chuẩn bị buổi lễ trang trọng và đầy ý nghĩa này.

Con biết những tuần vừa qua là khoảng thời gian vô cùng khó khăn đối với cả gia đình. Mỗi người đều đối diện với nỗi đau theo một cách riêng. Vì vậy, chúng con càng biết ơn hơn khi hôm nay tất cả có thể cùng quây quần bên nhau, để chia sẻ tình yêu dành cho Ông Nội và cùng nhau tưởng nhớ một cuộc đời thật đẹp.

Ông Nội sinh năm 1940 và là người đã trải qua những năm tháng chiến tranh đầy khốc liệt. Ông lớn lên giữa những mất mát mà có lẽ nhiều người trong chúng ta sẽ không bao giờ có thể hình dung hết được. Ông mất cha mẹ và một người em ruột trong một trận bom thảm khốc. Chiến tranh Việt Nam đã buộc ông phải bước vào những trận chiến mà không một người trẻ nào đáng phải trải qua. Sau chiến tranh, ông còn phải chịu những năm tháng tù đày vì là một người lính.

Con có thể dành rất nhiều thời gian để kể về những gian khổ mà Ông Nội đã trải qua. Nhưng con nhắc đến những điều đó không phải để nói về đau thương, mà để mọi người hiểu rõ hơn về con người mà con mong tất cả chúng ta sẽ luôn ghi nhớ.

Ông không chỉ là một người đã chịu đựng quá nhiều mất mát.
Ông là một người luôn chọn hy vọng.
Ông luôn tin rằng ngày mai sẽ tốt đẹp hơn, không chỉ cho chính mình mà còn cho những người ông yêu thương.

Chính niềm hy vọng ấy đã thôi thúc ông rời bỏ quê hương để trốn chạy khỏi sự đàn áp chính trị. Cùng với các con của mình – ba con, các cô và các chú – ông đã chấp nhận một hành trình vượt biển vô cùng hiểm nguy để đi tìm tự do. Sau tất cả, ông đã tìm được một mái nhà mới trên một vùng đất hoàn toàn xa lạ.

Nếu không có quyết định đầy can đảm ấy của Ông Nội, sẽ không có chúng con của ngày hôm nay.

Cuộc sống mà chúng con đang có, những cơ hội mà chúng con được trao, và tương lai mà chúng con được quyền xây dựng đều có được, một phần nhờ vào lòng kiên cường, sự hy sinh và niềm hy vọng chưa bao giờ tắt của ông.

Đó là điều cả gia đình sẽ mãi mãi biết ơn.
Mọi người sẽ luôn nhớ đến Ông Nội vì con đường mà ông đã mở ra cho cả gia đình. Nhưng với riêng con, con sẽ luôn nhớ đến người ông mà con có may mắn được lớn lên bên cạnh.

Ông là người rất thích pha trò, đôi khi còn là những câu đùa khá 'đen'. Ông luôn biết cách làm mọi người bật cười.

Ông cũng là người yêu thương các cháu bằng tất cả sự dịu dàng và bao dung. Ông luôn chiều chuộng chúng con theo cách rất riêng của mình.

Ông thích ngồi trò chuyện với những người bạn già, cười thật sảng khoái khi nhắc lại những kỷ niệm cũ. Ông cũng tìm thấy niềm vui trong việc viết lại những câu chuyện của cuộc đời mình. Và biết đâu đấy, có lẽ Ông Nội đã nổi tiếng trên mạng rồi cũng nên, dù đến giờ gia đình vẫn chưa thể chính thức xác nhận.

Nhưng có lẽ điều con sẽ nhớ nhất về ông là hình ảnh rất quen thuộc: Ông lặng lẽ ngồi đó, trên tay là một ly rượu, mỉm cười nhìn các con và các cháu cùng ăn uống, trò chuyện và cười đùa trong cùng một căn phòng.

Ông không cần điều gì lớn lao. Chỉ cần nhìn thấy gia đình đông đủ, bình an và hạnh phúc, như vậy cũng đã đủ làm ông vui.

Ngay cả trong những ngày cuối đời, Ông Nội vẫn để lại cho gia đình chúng con một món quà vô giá: thêm một cơ hội để cả đại gia đình được ở bên nhau.

Chúng con cùng xem lại những bức ảnh của các chuyến đi năm xưa. Cùng tập thể dục trong phòng khách. Cùng nấu món canh chua mà ông yêu thích. Và đơn giản nhất là được ngồi bên cạnh ông.

Đó sẽ mãi là những ký ức quý giá nhất mà gia đình chúng con mang theo suốt cuộc đời.

Con tin rằng, nếu có một điều Ông Nội muốn tất cả chúng con luôn ghi nhớ, thì đó là:

Hãy tha thứ nhanh hơn.
Hãy yêu thương nhiều hơn.
Và hãy cười nhiều hơn.

Khi nhớ về Ông Nội, con mong tất cả chúng ta không chỉ nhớ đến những gian khổ mà ông đã vượt qua, mà còn hãy cùng nhau trân trọng món quà vô giá là 86 năm cuộc đời mà ông đã sống và những ký ức đẹp đẽ ông đã để lại cho tất cả chúng ta.


Ông Nội ơi,

Con biết hôm nay bài điếu văn này được đọc hoàn toàn bằng tiếng Anh.
Nhưng con hy vọng trên đó có sẵn Google Dịch trực tiếp, vì con biết Ông ghét nhất là khi tụi con không nói tiếng Việt.
Nhưng dù bằng ngôn ngữ nào đi nữa, điều con muốn nói vẫn luôn như nhau.
Được làm cháu nội của Ông là niềm vinh dự lớn nhất trong cuộc đời con.
Và nếu có thêm bất kỳ một kiếp nào nữa, con vẫn sẽ luôn chọn Ông làm Ông Nội của con.

Con cảm ơn Ông.

Tưởng Niệm Và Tiễn Biệt Ba Nguyễn Thành Sơn


Hôm nay, trong giờ phút tiễn biệt ba, lòng chúng con nghẹn ngào thương tiếc, bởi từ đây gia đình đã mất đi người cha kính yêu. Dù đã chuẩn bị tinh thần từ những ngày ba lâm bệnh, nhưng đến hôm nay chúng con vẫn chưa thể chấp nhận được sự thật rằng ba đã rời xa chúng con mãi mãi.

Tuổi thơ của ba không được đầy đủ như nhiều người. Ba đã lớn lên trong sự nghèo khó, sớm nếm trải những vất vả của cuộc đời. Chính những tháng năm ấy đã rèn cho ba ý chí mạnh mẽ, sức chịu đựng, chịu khó và đức hy sinh vì gia đình.

Suốt cuộc đời, chúng con hiếm khi nghe ba nói những lời yêu thương, cũng không có nhiều cái ôm hay sự vỗ về. Ba là người cha nghiêm khắc, ít nói, đôi khi khiến chúng con sợ hơn là gần gũi. Nhưng càng lớn lên, chúng con càng hiểu: ba không cần thể hiện tình cảm bằng lời nói, vì ba đã chọn cách yêu thương bằng hành động, bằng đôi vai gầy gánh vác, bằng những ngày làm việc không nghỉ ngơi và bằng sự hy sinh mà chính ba cũng không bao giờ nhắc đến.

Những năm tháng cuối đời, bệnh tật đã lấy đi sức khỏe của ba. Nhìn ba từng ngày chống chọi với đau đớn, lòng chúng con xót xa vô hạn. Chúng con thương ba vì đã chịu đựng quá nhiều mà không một lời than trách. Ba hãy yên nghỉ. Từ nay không còn những đêm mất ngủ vì đau nhức, không còn những ngày tháng mệt mỏi vì bệnh tật. Ba hãy thanh thản ra đi, buông bỏ mọi lo âu và phiền muộn của kiếp người.

Dù biết cuộc đời là cõi vô thường, có đến rồi có đi, có hợp rồi có tan, nhưng sự ra đi của ba vẫn khiến lòng chúng con quặn thắt và tiếc thương.

Ba đã dành cả cuộc đời cho gia đình, còn chúng con sẽ dành phần đời còn lại để nhớ về ba, lưu giữ những kỷ niệm và tiếp tục sống tốt, như điều ba luôn mong muốn. Ba hãy thanh thản an nghỉ. Chúng con vĩnh biệt ba!

Nguyện cầu hương linh ba nương nhờ Phật lực tiếp dẫn, an nhiên vãng sinh về cõi Cực Lạc.


Chúng con kính tiễn ba.
Nam mô A Di Đà Phật.

The Master Gardener’s Legacy By Stacey Brown - Di Sản Của Người Làm Vườn Nguyễn Thành Sơn


They say that love requires spoken words.
What if English failed or Vietnamese blurred?

But Ba, our language grew inside the soil.
We spoke in love of plants, patience, and toil.

Most visits to Ma and Ba’s started the same:
Excited smiles, warm hugs, a playful poke of his cane.

Then off to the garden we together would go,
Pride beaming for the vegetables and roses you’d grow.

Weeding and pruning, lessons from your gentle hand,
That life returns blessings from the seeds that we plant.

You planted Honor,

With quiet strength time simply cannot erase.
It grows in every branch, every flower,
With dignity and grace.

Honor bloomed in the loving care from Anh Quỳnh, cousin Minh Đức, Chị Nguyệt.
Honor and courage held you through your last breath.

You planted Character,
Its roots spread far and wide,
Long before your peach tree and the flowering Mai.

You never saw an "in-law," but welcomed us as your own,
Shaping the family you grew, with character carved in stone.
You planted Determination,
A resilient garden in the droughts and the rains.

By Stacey Brown



Eulogy For Ông Nội - Nguyễn Thành Sơn


Hello everyone. For those of you I haven't had the privilege of meeting yet, my name is Nhi, and Nguyễn Thành Sơn was my grandfather—my ông nội.

Before I begin, I’d like to take a brief moment to thank each and every one of you for traveling from near and far to honor Ông Nội and celebrate the life he lived. I also want to express my deepest gratitude to his children—my aunts and uncles. You have poured so much love, care, and effort into planning and preparing this beautiful service to honor Ông Nội. I know how difficult these past few weeks have been as each person grieves in different ways, and our entire family is so grateful we can come together once more to share our love for him and remember him.

Ông Nội was born in 1940, and he was no stranger to war. He grew up witnessing immense tragedies some of us in this room will never begin to understand—this includes losing his parents and a sibling to a mass bombing. The Vietnam War, in particular, forced him to fight in battles no young person should ever have to experience, and in the midst of this, he was also incarcerated as a soldier.

I could speak at length about the hardships he faced, but I bring this up to shed light on how I hope Ông Nội will be remembered. He wasn’t just someone who faced tremendous heartache, but someone who fiercely embraced hope and the possibilities of a better life for himself and the people he loved. This hope led him to escape political persecution. Alongside his children—my dad, uncles, and aunts—he took the immense risk to flee by boat, eventually finding refuge in a new, foreign country. Without Ông Nội, none of us would be here today. We are able to pursue the lives that we lead, in part, because of his unwavering hope in the midst of so much loss.

Ông Nội will be remembered for the path he paved for our family, but as his granddaughter, I will also hold tightly to the person I got to witness and grow up with. A man who allowed himself to make jokes—at times even dark ones. A person who learned how to love deeply and be soft with his grandchildren. A man who chuckled often when catching up with old friends. Someone who didn’t speak much, but found solace in writing his stories – he might even be internet famous, though we can’t confirm. And most importantly, he was a grandfather and a dad who found quiet comfort simply watching his children and grandchildren eat, play, and laugh in one room—of course, with a glass of wine in his hand.

Even during his final days, he gifted us a moment to come together as a family to be with him—laughing at old vacation photos, doing exercises in the living room, cooking canh chua together, and spending precious time together with him as a family.

I’d like to believe that if there’s anything Ông Nội would want us to remember, it is this: forgive faster, love fiercely, and laugh often. When we think about Ông Nội, let’s continue to laugh and embrace the gift of the [86] years of life and memories he offered us.

Ông Nội, I know this was all in English, but I hope there’s a live Google Translator up there since I know how much you hate it when we don’t speak Vietnamese. Still, I want you to know — it has been an honor to be your cháu nội, and I would gladly choose you to be my Ông Nội again in every single lifetime. Thank you.




Trang Nhà Long Hồ Vĩnh Long Thành Kính Phân Ưu Cùng Gia Đình Cựu Giáo Sư Nguyễn Thành Sơn

 

 

 

Bài Thơ Tiễn Biệt Bác Nguyễn Thành Sơn

 
 

Thân Bằng Quyến Thuộc Kính Tưởng Nhớ Bác Nguyễn Thành Sơn

 


KÍNH TƯỞNG NHỚ
BÁC NGUYỄN THÀNH SƠN
1940 – 2026

“Có những cuộc chia ly không phải là kết thúc, mà là sự khởi đầu của những ký ức sẽ mãi được nâng niu.”

Dẫu biết sinh tử là quy luật của cuộc đời, sự ra đi của Bác Nguyễn Thành Sơn vẫn để lại niềm thương tiếc và nỗi nhớ khôn nguôi trong lòng gia đình, họ hàng, bạn bè và tất cả những người từng quý mến Bác.

Lời Phân Ưu

Quý bác, cô, dì, dượng, chú, thím, cậu, mợ, Các bạn Phù Đổng và thân hữu, Các bạn học cấp II, Các em tại Việt Nam & Germany: Xin thành kính phân ưu cùng anh Linh, chị Phi Phương và toàn thể gia đình. Nguyện hương linh Bác Nguyễn Thành Sơn sớm an nghỉ nơi miền Cực Lạc.

 
 

Phạm Hữu Châu Thành Kính Phân Ưu Gia Đình Nguyễn Thành Sơn

 
 

Tang Gia Ông Nguyễn Thành Sơn Cảm Tạ

 

LỜI CẢM TẠ

Gia đình chúng tôi xin chân thành cảm tạ quý thân bằng quyến thuộc, quý bạn bè gần xa đã gửi lời phân ưu, lời cầu nguyện, đến thăm viếng và tiễn đưa Bác Nguyễn Thành Sơn về nơi an nghỉ cuối cùng. Sự hiện diện, tình cảm và những lời động viên của quý vị là niềm an ủi to lớn đối với gia đình chúng tôi trong những ngày đau buồn và mất mát.

Đặc biệt, gia đình xin chân thành tri ân Cô Lê Thị Kim Oanh đã tận tình giúp đỡ trong việc đăng cáo phó, lời phân ưu cùng các bài viết tưởng niệm trên trang nhà Long Hồ – Vĩnh Long.

Một lần nữa, gia đình xin thành kính tri ân tất cả quý vị.

Tang quyến Nguyễn Thành Sơn


Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2026

Mùa Hoa Học Trò - Chí Tâm - Nhật Trường - Phương Dung

 


Sáng Tác: Chí Tâm
Ca Sĩ: Nhật Trường & Phương Dung
Thực Hiện: MH Phan

Tóc Mây



Nhớ xưa...tóc Em dài theo cánh gió
Nắng phản quang lóng lánh những hạt mềm
Tóc dịu dàng theo từng bước nhẹ, êm
thả như suối trên bờ vai ...óng mượt!

Từng sợi bay như mây trời nhẹ lướt
Chiều Lâm Viên đồi núi vẽ tranh thơ
Là nhân duyên hay gặp gỡ tình cờ
sao rộn rã trong tim lời dấu ái?!

Như dáng liễu soi hồ gương... mềm mại
Tóc nhẹ lay mấy nhánh rất...liêu trai!
Thả tự nhiên, không trâm giắt, hoa cài
mà vẫn đẹp nét đoan trang, thùy mị.

Tóc Em là khói mây vương mạc thủy
Lững lơ bay...cứ thế gọi chiều buông
Thoáng tơ vương nhè nhẹ lắng vào hồn
Lời giao cảm gửi gió lùa qua tóc.

Tôi mơ thành thông xanh ôm dáng ngọc
Ứơc được làm gương, lược trải hương nồng
và mỗi ngày cùng Em tựa bên song
cho nắng ấm đến mơn man, ve vuốt.

Em đâu biết thuở tan trường...đếm bước
có tôi thầm gọi gió lướt tóc mây
Đẹp làm sao mái tóc ủ tình đầy
e ấp xỏa dịu dàng trên vai nhỏ!

Đời tán, tụ. Người nổi, trôi, đây, đó
Dài tay nâng kỷ niệm nói lời yêu
Chốn tha phương dù nắng sớm, mưa chiều
Tôi vẫn nhớ tóc Em ...mùa trọ học!

Huy Văn


Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn

 

Oằn nặng đôi vai cuộc chiến tranh
Trận tiền hiển lộ nét tinh anh
Vào sanh lẫm liệt đời trai tráng
Ra tử hào hùng mái tóc xanh
Bảo Quốc núi sông cơn khói lửa
An Dân làng xóm thuở đao binh
Tang thương dồn dập đè sông núi
Trước giặc thản nhiên… tỏ bất bình…!!


Nguyễn Minh Thanh kính bút
----------
* Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn sinh năm 1938 tại xã Vĩnh Thanh Vân, Rạch giá, Kiên Giang. Thân phụ là hạ sĩ quan trong Quân đội Quốc gia Việt Nam.
Năm 1945, HNC bắt đầu đi học Tiểu học.
Năm 1951, Ông nhập học trường Thiếu sinh quân. Năm 1956, Ông chính thức gia nhập Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cấp bậc Binh nhì.
Năm 1959, HNC được thăng cấp Trung sĩ I. Năm 1961 HNC nhập học khóa 2 Nhân Vị ở trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế, Nha Trang.
Năm 1962 mãn khóa tốt nghiệp Chuẩn úy hiện dịch. Trong quân ngũ, Hồ Ngọc Cẩn can trường và thao lược. Ông lần lượt được vinh thăng đến cấp Đại Tá năm 1972. Và làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Chương Thiện Nhiệm kỳ 11/1973 – 30/4/1975.

Ông có:
– Bảo quốc Huân chương đệ tứ đẳng
– Hai mươi lăm Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu
– Ba Chiến thương Bội tinh
– Hai Huy chương Hoa Kỳ.

* Ngày 14.8.1975, tại sân Vận Động Cần Thơ, dân Cần Thơ đã chứng kiến giây phút lìa đời cao cả của anh hùng Hồ Ngọc Cẩn. Đại Tá Cẩn. 

Phần phụ:
Phu nhân Đại Tá  Hồ Ngọc Cẩn:

Nhũ danh: Nguyễn Thị Cảnh sinh năm 1941 (?) tại Thủ Đức, Tôn giáo: Công giáo, sinh sống tại Thủ Đức. Bà kết hôn với ông Hồ Ngọc Cẩn vào mùa xuân năm 1959 trong một lễ cưới bình thường tại họ đạo Thủ Đức. Khi đó Bà 18 tuổi, Ông Cẩn là trung sĩ huấn luyện viên Trường Bộ binh Thủ Đức. Bà được cho là phụ nữ hiền lành, đạo đức, đảm đang, mỗi tuần đi giúp lễ và làm công tác thiện nguyện trong Nhà Thờ.

– Cuộc đời Bà sau 1975
Sau khi Đại tá Hồ Ngọc Cẩn bị xử bắn ngày 14/8/1975, Bà trở thành người góa phụ trung kiên. Bà đã tìm cách đem tro cốt của phu quân Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn sang Hoa Kỳ. Bà được cộng đồng Việt Nam hải ngoại nhắc đến với sự kính trọng .Bà sống tại Hoa Kỳ trong những năm cuối đời.

Bà qua đời ngày 30/8/2024 tại Stevenson Ranch, Nam California. Nhiều bài viết từ cựu quân nhân VNCH tiếc thương và tưởng niệm Bà.
Phần Kết: với lòng kính mến sâu sắc ÔNG – BÀ HỒ NGỌC CẨN, hậu sinh có câu đối trân trọng tưởng niệm:

– Kiên Giang xuất hào kiệt thao lược dốc tâm nghiệp binh nhung tròn ân Tổ Quốc.
– Thủ Đức sinh thuyền quyên hiền thục cật lực phần gia đạo trọn nghĩa phu thê.

Nguyễn Minh Thanh bái bút
(GA tháng 2 ngày 9 năm 2026 – biên soạn và hiệu đính)


Ẩn Ý Của Nhà Văn Khái-Hưng Trong Truyện Hồn Bướm Mơ Tiên


Khái-Hưng là bút hiệu của nhà văn Trần Khánh Giư (1896-1947). Ông viết nhiều truyện và kịch, là cây bút cột trụ của báo Phong Hóa (1932-1936) và Ngày Nay (1935-1940), thành viên của văn phái Tự Lực Văn Đoàn. Thân phụ ông là tuần-phủ Trần Mỹ có cử nhân Nho học nên ông theo nếp nhà được dạy chữ Nho khi còn nhỏ. Khi ông lớn lên mới đổi sang học chữ Pháp và chữ Việt. Ngoài 20 tuổi ông mới đậu tú tài Pháp. Có một thời gian ông đi dạy học và viết bản thảo Hồn Bướm Mơ Tiên vào lúc này.

Từ thập niên 1920, văn chương Việt-Nam đã bắt đầu chuyển mình với đủ mọi thể loại từ khảo cứu, ký sự, phê bình đến tiểu thuyết, thi ca, kịch, v.v… và rất phong phú về nội dung: phong tục, luân lý, tả chân, truyền kỳ, xã hội, hoạt kê, … Riêng trong lĩnh vực tiểu thuyết, trào lưu lãng mạn đã xuất hiện và nổi bật là những tiểu thuyết của các nhà văn trong văn phái Tự Lực Văn Đoàn mà Hồn Bướm Mơ Tiên (1933) là một tiêu biểu.

Theo lời giới thiệu của nhà văn Nhất-Linh trong Lời Tựa của sách, “quyển Hồn Bướm Mơ Tiên là quyển truyện thứ nhất của Tự-Lực Văn-Đoàn và lại là quyển truyện thứ nhất của ông Khái-Hưng.”

Tình tiết của truyện xảy ra ở “chùa Long-Giáng” mà Khái Hưng đã tài tình tả như là thật có “một ngôi danh lam ở vùng Bắc”. Sự tích về sự thành lập của chùa ly kỳ như truyện Quán-Âm Nam-Hải Diễn-ca.

Sự tích về chùa Long-Giáng được chú tiểu Lan kể cho nhân vật Ngọc, sinh viên trường Canh-Nông, cháu của sư cụ chùa Long-Giáng như sau: Vua Lý Nhân-tông bận đi đánh Chiêm-Thành và đối phó với Trung-Hoa nên không phát triển đạo Phật như các triều vua trước. Thượng-Đế bèn sai một nàng tiên xuống thế gian đầu thai làm công-chúa Văn-Khôi để nhắc nhở nhà vua. Công-chúa Văn-Khôi lớn lên xinh đẹp nhưng trong lòng chỉ nghĩ đến việc tu hành. Khi vua cha định kén phò-mã cho nàng thì công-chúa đang đêm lẻn trốn ra khỏi cung điện và nhờ có thần tiên dẫn đường đưa đến một ngôi chùa. Công-chúa xin thụ pháp Hòa-thượng Cao-Huyền trụ trì chùa.

Nhà vua biết được, đòi công-chúa về triều. Nhưng công-chúa nhất quyết ở lại tu tại chùa. Vua cha nổi giận, cho quan quân phóng hỏa đốt chùa. Bỗng một con rồng vàng hiện lên dập tắt ngọn lửa. Nhà vua lấy làm sợ, nghĩ rằng bao lâu nay mình đã quên thi hành Phật sự và Trời Phật đã cho công-chúa xuống nhắc nhở mình. Vua bèn cho sửa sang chùa để công-chúa ở lại tu hành. Từ đó, chùa có tên là Long-Giáng.


Bối cảnh của truyện được chọn là Bắc-Ninh, nơi phát khởi ngôi chùa đầu tiên: chùa Dâu, đất phát tích của nhà Lý, cùng với bao nhiêu truyện xưa tích cũ về các thiền-sư, với các liền anh liền chị nam thanh nữ tú nổi tiếng với lối hát quan họ. Mở đầu truyện, chúng ta đọc thấy lời hát ví của cô con gái vùng Kinh-Bắc, vừa bó lúa trên thửa ruộng vừa hát ghẹo người lữ hành.

Hỡi anh đi đường cái quan,
Dừng chân đứng lại em than vài lời.
Đi đâu vội mấy anh ôi,
Công việc đã có chị tôi ở nhà.

Những lời hát ví hãy còn văng vẳng bên tai, Ngọc, tên người lữ hành, đã mệt mà chùa chưa thấy đâu.Qua khỏi cánh đồng lúa, đến chân đồi, Ngọc gặp một chú tiểu. May thay chú tiểu tu ở chùa Long-Giáng và nhận ra Ngọc là cháu của Sư Cụ vì Sư Cụ vẫn thường hay nhắc đến Ngọc. Nhờ có chú tiểu cùng đi mà đoạn đường đến chùa dường như ngắn lại. Cảnh buổi chiều trên đường đến chùa Long-Giáng tả qua ngòi bút của nhà văn Khái Hưng đã khiến cho một người thị thành như Ngọc muốn dời bỏ nơi phồn hoa đô hội để về tu nơi “hư không tịch mịch”.

Gió chiều hây hẩy đã mát, mùi lúa chín bốc lên thơm phức, khiến Ngọc ngắm cảnh nơi thôn dã êm đềm, trong lòng biết bao tình cảm.
“Trong làn không khí yên tĩnh êm đềm, tiếng chuông thong thả, ngân nga … như đem mùi thiền làm tăng vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên. Lá cây rung động, ngọn khói thướt tha, bông lúa sột soạt, như cảm tiếng gọi của Mầu-Ni muốn theo về nơi hư không tịch mịch.”

Suốt bao nhiêu năm sống nơi thành thị, sinh ra và lớn lên ở đấy, có lẽ Ngọc chẳng bao giờ bước chân về nhà quê. Bây giờ, chính cái cảnh yên lặng thanh tịnh ấy lại khiến cho một người như Ngọc cũng muốn đi tu. Ngọc tưởng tượng ra: “Thế thì đi tu sướng lắm, chú ạ, có cảnh đẹp … lại có sách kinh Phật để mà quên cuộc đời náo nhiệt, phiền phức …

Đi mãi, rồi cũng đến nơi. Từ xa người ta đã có thể nhìn thấy chùa. Chùa Long-Giáng có những nét kiến trúc như nhiều chùa khác ở ngoài Bắc. Chùa được xây trên một ngọn đồi. Có cái giếng ở chân đồi, nằm trên con đường dẫn lên chùa. Khi gần đến nơi, người ta nhìn thấy tam-quan của chùa, kiến trúc sơ sài, có ba gian hẹp, xây đứng thẳng như bức tường trên sườn đồi. Trên mái làm nhô lên một cái mái nhỏ giống như cái miếu.

Vào bên trong, cảnh nhà chùa thanh đạm giản dị, hợp với lòng tâm nguyện tu đạo của những người xuất gia theo Đức Phật. “Ngọc theo chú tiểu đi vào một tòa nhà gỗ thấp, lợp ngói, bên trong bài trí rất sơ sài. Ở gian giữa, sau cái bệ đất trên giải chiếc chiếu đã cũ là bàn thờ Tổ đặt trong một cái hậu cung xây thùng ra như cái miếu. Ngọc vén bức màn vải tây đỏ lên thì thấy lờ mờ đến hai chục pho tượng (…)”.

Nhà trai bài trí theo như những nhà trai các chùa.

“Ngọc đứng lên xin phép sư cụ rồi theo chú đi qua sân, tới một nếp nhà ngang dài đến gần mười gian, nhưng chỉ để ba gian làm nhà tiếp khách thập phương, còn thì ngăn ra từng buồng làm phòng ngủ. Ở đấy bài trí có phần lịch sự hơn nhà Tổ, gian giữa giáp bộ sập gỗ mít, kê một cái bàn, và đôi tràng-kỷ gỗ lim, lâu ngày đã đen bóng.

Trên xà treo một cái đèn ba dây, có chụp bằng thủy tinh men trắng. Hai bên kê sát từ tường ra tới ngưỡng cửa ba bộ ghế ngựa quang dầu ghép liền với nhau.”

Bữa ăn chay ở chùa còn giản dị hơn nơi ở. “…trên chiếc mâm gỗ vuông, chỉ thấy lỏng chỏng đĩa dưa, đĩa cà và đĩa muối vừng” và món đậu phụ kho tương. Chính sự giản dị thanh đạm này lại làm cho người trần muốn xuất gia. “Ngọc phần thì đói, phần thì cơm chay lạ miệng nên ăn ngon lắm, nghĩ bụng: cứ bảo ở chùa ăn kham khổ nhưng, dầu vừng cùng dưa, cà thì cũng chẳng kém gì thịt cá. Tự nhiên trong trí Ngọc nảy ra cái ý tưởng muốn xa lánh chốn phồn hoa.” Ở đây, Ngọc mới biết là “ở chùa chỉ ăn có hai bữa mà thôi, một bữa năm giờ sáng, và một bữa đúng ngọ.” Chú Mộc trong chùa còn nói thêm với Ngọc rằng “Chính phép nhà chùa thì chỉ dùng được một bữa cơm trưa mà thôi.” Trong một tháng nghỉ hè ở chùa, Ngọc được biết về sinh hoạt của những người xuất-gia trong chùa Long-Giáng.

“Sư Cụ, trước kia ngoài giờ tụng kinh, niệm Phật thường chỉ tĩnh tọa để trầm tư mặc tưởng đến những vấn-đề giải thoát linh hồn. Chú Mộc ngoài việc dọn dẹp, quét tước, rót nước, bưng cơm, chỉ ngồi lỳ ở nhà ngang chuyện trò cùng ông Thiện và bà Hộ. Còn chú Lan thì ngày đêm chỉ biết chăm nom mọi việc trên chùa, thắp nhang, đốt đèn, thỉnh chuông và học tập kinh kệ.”

Ngọc lại còn biết về những danh từ và những cách xưng hô ở chùa, chẳng hạn như khi nói “sư Tổ thụ trai nghĩa là xơi cơm”. Khi sư cụ gõ mõ không phải trong lúc tụng kinh thì đó là hiệu lệnh gọi đệ tử. “Nếu nghe hiệu lệnh không thưa khiến cụ đánh đến tiếng thứ tư thì chúng tôi phải ra ngay sân quì để chịu tội.” Khi trong nhà có người xuất gia thì không được nhận họ, xưng bác cháu nữa mà phải gọi bác là Cụ (Sư Cụ). Ngọc lại biết thêm về tục lệ ở chùa là người đi tu không ngồi ăn cùng mâm với người không tu hành. Khách thập-phương thì xơi cơm nước ở nhà trai, nhà trai xem như là nhà tiếp khách. Nhà Tổ thì thờ các sư Tổ, còn nhà hậu là để thờ những người không có thừa tự, ký hậu (mua hậu) ở chùa thì nhà chùa cúng cho.

Trong thời gian ở chùa Long-Giáng, Ngọc được chứng kiến một buổi đàn chay. Buổi đàn chay được nhà văn Khái Hưng mô tả rất kỹ lưỡng.

“Sáng hôm sau trong chùa Long-Giáng, kẻ tới, người lui có vẻ tấp nập rộn rịp.
Dưới nhà ngang đối diện với nhà trai, ông Hộ cùng ba, bốn người làng đến giúp việc đứng bên chiếc bàn dài, kẻ lau lá mít, kẻ đóng oản, tiếng kêu chí chát. Chốc chốc lại thấy có người đội voi giấy, ngựa giấy cúng những hình nhân tới. (…)

“Lên trên chùa chàng gặp chú Lan đương cầm phất trần phẩy bụi ở các pho tượng, còn chú Mộc thì lúi húi lau các cây đèn nến cùng bình hương, ống hoa. Ngọc lại gần hỏi:
Chùa ta sắp có việc gì mà có vẻ náo nhiệt thế?
Chú Mộc quay lại trả lời:
Hôm nay bắt đầu làm chay cho vong linh ông Hàn. (…)
“Luôn hai tối, các nhà sư ở những chùa lân cận nhận được giấy mời của Sư Cụ Long-Giáng tề tựu đến dự lễ rất đông.

Ngoài sân chùa, ở giữa bày ba từng án-thư chồng lên nhau theo hình bậc thang. Hai bên cũng đều có án-thư. Nến thắp linh tinh, ánh sáng phản chiếu vào những mặt kính tròn ở các mũ giấy bày la liệt kín cả mấy hàng án-thư trông lấp lánh như các ngôi sao trên trời.

Tối nào các nhà sư cũng cắt lượt nhau tụng kinh đến tận hai, ba giờ sáng, hoặc ngồi ở chiếu giữa, hoặc đứng sát các án-thư bên. Cứ xong một lần tụng niệm lại có đánh trống lớn, trống con, thanh la, não bạt, nghe rất là inh ỏi.

Đến tối thứ ba thì vào đàn giải kết.

Sư Cụ chùa Long-Giáng vì già yếu, mà việc đàn chay lại khó nhọc, nên một đồ đệ Cụ là sư ông chùa Long-Vân đứng chủ trương. Sư Ông ngồi ở chiếu giữa tụng kinh một lúc lại chạy vòng quanh đàn, nghĩa là đi lượn khắp các hàng án-thư, theo nhịp nhanh hay chậm của tiếng trống và tiếng thanh la. Sau lưng sư ông gần hai chục người chạy theo, nào tiểu, nào vãi, nào thiện-nam tín-nữ cùng là những người nhà sự chủ. (…)

Chạy xong một tuần, sư ông lại vào chiếu giữa múa mênh quyết ấn trông rất dẻo tay, rồi cầm kéo cắt những đồng tiền kết giấy thành hình người và treo lủng lẳng ở ba hàng dây chung quanh bàn. Cứ mỗi lần lại cắt bốn, năm đồng kỳ cho hết là tan đàn.
Trong khi ấy thì những người tùy tòng hoặc vào ngồi lễ ở sau lưng sư, hoặc đứng sang một bên, lẫn vào chỗ người đi xem.
Ngọc đứng chờ một xó, hễ thấy chạy xong một lần lại gọi chú Lan đến để nhờ giảng nghĩa hộ. Đến lần thứ ba, thứ tư thì hễ thấy Ngọc gật sẽ một cái, Lan đã chạy vội đến ngay.

Ngọc cười hỏi Lan:
Này chú sao lại có hai người kia chạy đàn?
Hai người nào?

Một người gánh một gánh cỏ, và một người buộc con ngựa giấy vào mình trông như cưỡi ngựa vậy, nhất là nghe tiếng nhạc kêu lại càng như hệt lắm.
Đấy là người giữ ngựa và người cắt cỏ cho ngựa ăn, đi theo hầu thầy Đường-Tăng đi sang Tây-Tạng lấy kinh, đàn này tức là ôn những sự tích đi lấy kinh.”

Tuy nhiên, đối với người xuất-gia vào cửa Phật và tu hành đã lâu năm như Sư Cụ chùa Long-Giáng thì đàn chay không phải là một phần trong sự tu hành của người xuất-gia. Sư Cụ giảng giải cho Ngọc: “Cháu cũng nên biết rằng đạo Phật huyền bí lắm, chứ những điều cháu trông thấy ở trước mắt không phải là điều cốt yếu của đạo Phật đâu. Cho chí những việc lễ bái, đàn chay cũng là phải có để khuyên đàn bà và những kẻ vô học làm điều thiện đó thôi.”

Sau buổi đàn chay, chùa trở về với khung cảnh vắng lặng yên tĩnh thường ngày.

Buổi sáng mai ở chùa, với “Tiếng kinh du dương, mùi trầm ngào ngạt, Ngọc tưởng tượng sống trong một thế giới khác, thế giới mộng ảo … thần tiên …”
Trong cảnh thanh tĩnh, thần tiên ấy của chùa Long-Giáng, chàng sinh viên trường Canh-nông tình cờ khám phá chú tiểu Lan là gái trong một buổi cùng đi sang chùa Long-Vân do sư cụ nhờ mang bánh và chè sang tạ sư ông đã giúp buổi đàn chay. Ngọc thú nhận với Lan tình cảm Ngọc có với Lan từ khi mới gặp và thầm yêu “chú tiểu Lan”, một thiếu nữ cải nam trang để đi tu như trong truyện Quan-Âm Thị-Kính. Đây là tình tiết chính của truyện Hồn Bướm Mơ Tiên.

“Cặp linh hồn ta như một điệu âm nhạc, không cảm động nhau sao được.”

Nhưng cũng như công-chúa Văn-Khôi của chùa Long-Giáng, chú tiểu Lan nhất định giữ vững lời phát tâm qui-y. “Vì tôi đã thề trước Phật-tổ, thì đến chết tôi cũng giữ lời thề.” Trong ý nghĩ của Lan, “ái-tình” chỉ là “một sự cỏn con … nhỏ nhen.”
“Nhỏ nhen, nếu đem ví với lòng bác-ái. Vì lòng bác-ái mà Phật-tổ xa vợ, xa con, xa cha, xa mẹ, lang thang khắp bốn phương giời để tìm phương giải thoát cho nhân-loại.”

Khi biết Ngọc đem lòng yêu thương mình, Lan bị giằng co giữa “ái-tình và tôn-giáo”.

“Ngọc lắc đầu thở dài: - Tôi thương hại chú quá. Tôi cũng đáng thương nhưng chú còn đáng thương gấp trăm, gấp nghìn lần. Linh hồn chú bị ái-tình và tôn-giáo, hai bên lôi kéo, mà lạy Trời, lạy Phật, hai cái mãnh lực ấy lại tương đương nên tâm trí chú càng bị thắt chặt vào hai tròng.”

Trong tâm trạng ấy của Lan, cảnh vật lại càng làm cho lòng thêm buồn thảm.
“Mặt trời đã lặn sau dãy đồi tây. Vạn vật nhuộm màu ảm đạm.
Lá rụng!”

Nhưng sau cùng, tôn-giáo đã thắng ái-tình, lý tưởng cao thượng của Phật-tổ đã cảm hóa được Ngọc. Ngọc chấp nhận để yên cho Lan tiếp tục việc tu hành và chấp nhận “tiểu gia-đình tôi là … hai linh hồn của đôi ta, ẩn núp dưới bóng từ-bi Phật-tổ.”

Cảnh vật chung quanh dường như cảm thông với mối tình thanh cao ấy.
“Bây giờ sắc trời dìu dịu, vạn vật như theo tiếng chuông chiều thong thả sắp rơi vào quãng êm đềm tịch mịch.
Lan đứng chắp tay tụng niệm, con mắt lờ đờ nhìn xuống con đường đất quanh co lượn khúc dưới chân đồi.
Gió chiều hiu hiu …
Lá rụng!”


Trong Hồn Bướm Mơ Tiên, thiên nhiên được nhân cách hóa, đi theo cảm xúc của nhân vật như bóng với hình: lá cây rung động, ngọn gió thướt tha, cây đại ẻo lả, vạn vật dịu dàng, gió chiều hiu hắt, bóng trăng rọi đầu cành, đặc biệt hình ảnh lá rụng để nói về thời gian đang trôi qua, … Thiên nhiên cũng cảm hóa cả nhân vật. Chỉ nhìn thấy “mấy nóc nhà rêu mốc chen lẫn trong đám cây rậm rạp, bốn góc bốn gác chuông vượt lên trên từng lá xanh um”, vậy mà Ngọc cũng thốt lên khen rằng: “Chùa đẹp quá.” Cảnh vật thanh tịnh chốn sơn-môn đưa lòng người về gần với cửa Phật: “Mái chùa rêu phong đã lẫn màu cùng đất, cùng cây, cùng cỏ.”; “không khí yên tĩnh êm đềm, tiếng chuông thong thả, ngân nga … như đem mùi thiền làm tăng vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên”.

Những chi tiết về sự sinh hoạt ở chùa Long-Giáng, dù ngôi chùa chỉ do sự tưởng tượng của nhà văn Khái Hưng, có lẽ cũng giống nhiều ngôi chùa nhỏ ở miền Bắc Việt Nam. Truyện Hồn Bướm Mơ Tiên đã để lại cho người đời sau một bức tranh văn vẻ về cảnh quan và sinh hoạt của một ngôi chùa về tiền bán thế kỷ thứ 20.

Thế giới thần-tiên lãng-mạn của truyện Hồn Bướm Mơ Tiên trong khung cảnh chùa Long Giáng là thế giới của cái đẹp nhưng phù-du, vô-thường. Cả đến “ái-tình” đẹp bao nhiêu chăng nữa cũng sẽ thua “đạo từ-bi”, đạo giải-thoát, vì đời là huyễn mộng, ái-tình cũng là huyễn mộng. Tất cả những sự phản trái giữa tình cảm và lý trí, sự giằng co giữa tình yêu và niềm tin, đời sống giữa thực và mộng, sự cảm nhận của cái đẹp và sự phù du của tình cảm trong truyện làm cho người đọc thấm thía rõ rệt hơn chân lý của nhà Phật.

Ngô Thị Quý Linh


Thứ Năm, 9 tháng 7, 2026

Vàng Phai Mấy Lá - Nhạc: Đoàn Chuẩn & Từ Linh - Trình Bày: Thu Vàng

Nhạc: Đoàn Chuẩn & Từ Linh
Trình Bày: Thu Vàng
Thực Hiện: Hoàng Khai Nhan

Phật Tại Tâm

 
 
Thơ & Tranh Thơ: Minh Lương


Không Có Anh

 

Mùa xuân không có anh
Lá vẫn xanh
Chim vẫn hót trên cành
Nhưng em nghe lành lạnh
Như thể mùa đông
Vẫn còn đâu đó….

Mùa hạ không có anh
Hoa impatient
Không còn kiên nhẫn
Đã nở đầy bông
Những đóa hoa hồng
Tỏa hương thơm ngát
Mà em nghe như mất mát
Một chút gì…..

Mùa thu không có anh
Thung lũng buồn ngơ ngác
Đón những chiếc lá vàng
Hoa thược dược hé nụ
Nhớ mùa thu cũ
Có anh…….

Mùa đông không có anh
Trời rất lạnh
Nhìn qua cửa sổ
Chỉ thấy trắng xóa
Màu sương
Màu tuyết
Hồn vỡ ra
Từng mànhSao quá mong manh...

Sao Khuê

Đường Dâu


Những con đường nhỏ quanh nhà, khu vực vòng quanh một công viên nhỏ, đâu đâu cũng mọc đầy những cây dâu tằm – mulberry - xanh mướt. Buổi sáng đi bộ trong công viên, nắng đầu mùa hạ lấp lánh trên những cây dâu chi chít quả hồng chưa chín, quả đen bóng sắp rụng và dưới lòng đường in những vệt đen của trái chín rụng đầy.

Dân chúng ở đây hình như không ai biết ăn trái dâu tằm. Trẻ em chơi đùa chạy nhảy trong công viên không hề nhìn đến những cây dâu đầy trái. Các bà mẹ cũng không hề chỉ trỏ, giải thích cho các em biết “đây là cây dâu tằm, lá dâu là thức ăn cho hằng triệu triệu con tằm sẽ nhả những sợi tơ để dệt ra những tấm lụa, thành phẩm đẹp nhất trong các loại vải vóc của nhân loại”

Tháng sáu, đi trên những con đường nhỏ dưới bóng mát của những cây dâu tằm mà chị đặt tên “Đường Dâu”, lúc nào cũng làm chị nhớ về ngôi làng bên nội, làng Phú Xuân, thành phố Huế. Ở đó những lần về thăm làng mấy chị em được mẹ dẫn đến nhà bác Tú, người bà con chuyên nuôi tằm dệt lụa. Lần đầu tiên khi bước xuống nhà ngang thấy những chiếc nong thật lớn với vô số sinh vật bò lúc nhúc trên lớp lá xanh, mấy chị em vừa sợ hãi thụt lùi ra xa vì sợ những con sâu trắng trẻo, béo tròn nung núc đó có thể búng mình nhảy lên tay chân quần áo của mình, lại vừa tò mò mở thật to những đôi mắt lấm lét nhìn bầy sâu đang nhai rào rạo những sợi lá xanh đã được thái mỏng. Mẹ giải thích đó là những con tằm người ta đang nuôi bằng lá dâu để chúng lớn lên nhả những cái kén mà người ta sẽ kéo ra thành sợi tơ và dùng những sợi tơ tằm để dệt ra những tấm lụa.

Rồi mẹ dẫn mấy chị em tiếp qua gian bên cạnh, nơi có những cái kén đang được luộc trong những nồi nước lớn, và phía bên ngoài trên thềm nhà rất rộng, rất dài của bác Tú là các cô thôn nữ đang làm công việc kéo kén với khung cửi có bàn đạp bằng chân kêu lách cách suốt ngày. Và những con thoi quay tròn cuốn vòng vòng những sợi tơ vàng óng ả. Thời đó, dù còn bé, chị đã say mê đứng nhìn không chớp mắt những bàn chân đạp lên khung cửi, những bàn tay quay con thoi ôm vòng những sợi tơ màu vàng mơ mịn màng bóng loáng. Những hình ảnh thật đẹp mà mỗi lúc nhớ lại chị vẫn cảm thấy trong công việc lao động tay chân này hình như phảng phất một cái gì thật dịu dàng thơ mộng.

Những buổi sáng đầu mùa hạ, bầu trời xanh cao vời vợi, những đám mây trắng nhẹ nhàng thong thả trôi, những tia nắng vàng ấm áp rực rỡ, đi bộ trên Đường Dâu, dưới những tàng lá xanh luôn làm chị quay quắt nhớ về quê nhà, nhớ cha mẹ, nhớ những con thoi quay nhanh, quay nhanh như nhịp sống của những con tim lành mạnh ... thuở xa xưa ấy.

Thời gian trôi thật nhanh. Ngày nào từ phố dọn về khu vực ngoại ô này anh chị còn khỏe mạnh, chị mới nghỉ hưu, thời gian thư thả. Khi vừa hết mùa đông, tuyết tan, sân bóng chuyền của công viên vừa chớm cỏ xanh khô ráo, mỗi sáng anh chị đều đi bộ vài chục vòng quanh sân, rồi anh ngồi phơi nắng, chị đi lòng vòng dưới những cây dâu tằm mẹ - cây dâu cái – hái những trái thật chín, thật mọng. Hái cho vui vậy thôi có khi cũng không ăn đến. Hái cho tới khi mỏi cổ thì thôi.

Bây giờ, 15 năm sau, anh chị là hình ảnh hai ông bà già, ông bước đi nhờ vào 4 bánh xe lăn, bà cũng phải vịn vào thành xe cùng bước. Công viên với những con đường nhỏ, dày đặc những hàng cây dâu tằm vẫn mỗi năm rụng đầy trái chín nhưng chị đã không còn đủ sức ngửa cổ lựa những trái chín đen. Anh chị vẫn mỗi sáng ra công viên, dù không còn đi bộ chỉ ngồi trên băng ghế nhìn trẻ em nô đùa bên những ông bố, những bà mẹ trẻ. Chúng chạy nhảy hò reo, rượt đuổi nhau, leo trèo trên những cầu tuột, cởi ngựa gỗ, tòn ten trên xích đu ... nhưng chớ có em nào nhìn đến những cây dâu tằm đầy trái của chị.

Có khi chị những muốn rủ các em nhỏ đến dưới tàng dâu, chỉ cho chúng xem những trái dâu be bé thật xinh ẩn mình trong lá, những trái non màu xanh nhạt, chuyển sang màu hồng, rồi hồng đậm sang màu đỏ, rồi khi chín sẽ là một màu đen tuyền lấp lánh như những con mắt bé thơ. Chị muốn nói với các em nhỏ này về những trái dâu chín mọng sẽ được chế biến thành món kẹo dâu tằm thơm ngọt, ngon lành ở thành phố Đà Lạt, quê hương Việt Nam của chị. Và những lá dâu xanh là thức ăn bổ dưỡng để nuôi tằm, để tằm nhả tơ, để tơ được dệt thành những tấm lụa mịn màng, quý phái.

Bây giờ thì sau khi ngồi phơi nắng, trên những con đường nhỏ chậm chạp trở về nhà chị chỉ còn đủ sức hái chừng chục lá dâu non mọc là đà ngang tầm tay, từ những cây dâu đực, không cho trái nên lá dâu của những cây này to bằng bàn tay chị. Chị sẽ dùng lá dâu tằm thay lá lốt, thứ không bao giờ tìm được ở siêu thị gần nhà, chị sẽ cuốn thịt nạc băm trộn thêm cà rốt, nấm mèo vào lá dâu non, cho vào lò nướng cho bữa cơm chiều. Chị nghĩ tằm ăn lá dâu ngon lành, mập tròn vo và lớn như thổi, người cũng đã từng ăn nhộng tằm ngon lành thì mình trực tiếp ăn lá dâu cũng không có gì đáng ngại. Vậy là chị khỏi phải đi chợ Tàu, chợ Việt xa xôi để tìm lá lốt cho món thịt cuốn, và thay vì món “bò lá lốt” chị có món đặc biệt “bò, heo lá dâu tằm”.

Cũng nhiều khi chị vẫn vơ suy nghĩ, tên “Đường Dâu” chỉ hiện diện trong lòng chị, một mai khi chị không còn liệu có người Việt nào khác đến sinh sống trong khu vực cũng sẽ đi qua những con đường nhỏ này, cũng sẽ nhớ về quê hương và tiếp tục đặt tên “Đường Dâu” cho những con đường nho nhỏ, xinh xắn, xanh mướt bóng dâu tằm trên một đất nước xa quê hương ngàn vạn dặm.

Sông-Hương

Người Đưa Thư Đã Đi Qua


Nhà tôi ở lưng chừng một con dốc. Con dốc là cái rướn mình nấn níu của dãy núi chạy đùa xuống từ hướng bắc, tới giữa đảo bỗng khựng ngang, rồi cố trườn về phía con sông nước chảy xiết sau mấy dặm rừng thưa. Những ngày trở gió, hơi nước ẩm luồn qua các rặng cây cổ thụ, thổi thốc vô mặt mũi cái mùi thảo dã của đồng cỏ phía bắc. Những cơn gió thổi chừng không biết mệt, kéo ghịt người đi bộ lại từng bước. Áo choàng thả lỏng kêu phần phật, người đi lầm lũi giành từng thước đường lên. Cái hoạt cảnh đó diễn ra hằng ngày trước mắt tôi, sớm trưa chiều tối, từ hạ sang đông. Không vậy mà nhiều người vẫn cố tránh. Dễ chừng nếu không có gì hệ trọng, hẵn họ đã rẽ sang ngõ khác. Nhưng có một người không thể tránh, nắng mưa kể cả tuyết giá, ông ta vẫn lầm lì lội bộ lên cái đoạn đường quái ác đó. Người đưa thư của xóm tôi. Bộ đồng phục màu xanh biển và chiếc túi xách trì một bên vai vẫn là cái nét quen thuộc duy nhất của một khu gia cư mà những căn nhà thường đóng cửa im ỉm vốn không gợi được chút nào niềm thân mật.

Mỗi buổi sáng, khoảng 10g, người đưa thư đi qua…

Ở mấy cái xứ tân tiến này, nghề đưa thư không hẵn là một nghề hạ bạc. Mà không chừng với tổ chức nghiệp đoàn, họ còn sướng hơn nhiều lần những nghề khác. Không phải là cái hình ảnh gầy còm, hốc hác, thui thủi …Không. Ở đâu không biết, chớ ở đây, họ hồng hào, tươi tắn, khỏe mạnh …

Vậy mà sao, trong tôi, hình ảnh người đưa thư vẫn phảng phất một vẻ gì đó lãng đãng rất phong sương.Có phải vì trong cái túi đeo vai của họ đang căng phồng gió bụi của đường xa còn bám đầy những phong thư kín chữ, gói ghém những thao thức nhớ, những nỗi niềm mong. Những người đưa thư đó đang làm cái việc nối lại những khoảng không vốn vẫn hay chia cách những tấm lòng.

Ðã lâu, khi mà người ta còn tụm năm tụm ba thành những chòm xóm tản mác xa xôi, cách núi ngăn sông, người đưa thư đã là những cánh tay nối dài, dài lắm.. từ một góc bàn viết, một khung cửa sổ hay cạnh một góc giường đơn chiếc … đến một góc bàn viết khác, một khung cửa sổ khác hay một cạnh giường đơn chiếc khác … từ một sườn núi nối tới một vực biển, từ một bờ sông nối qua một vàm rạch … Rồi từ xóm làng lan dần ra đường phố. Họ tẳn mẳn tỉ mỉ nhìn soi một số nhà, len lỏi một hóc hẻm, băng qua một đại lộ hay trèo lên một nấc thang. Họ biết hết, ông triệu phú trong ngôi biệt thự lộng lẫy, anh thư ký quèn trên căn gác lợp tôn, bà giáo già có đứa con trai đi trận, cô gái điếm còn bà mẹ ở quê … Họ biết mặt từng người, họ còn biết luôn cả tâm trạng của người đối diện. Họ đong lường được cái chờ mong, cái sốt ruột, cái hân hoan cũng như cả cái hững hờ.

Có một thời, những tờ giấy, những ngòi bút và những dòng chữ… ờ những dòng chữ. Những dòng chữ với nét chấm phá gọn và sắc như có lá trúc xen ngang. Những dòng chữ ngoằn nghèo như phù phép bùa chú. Những dòng chữ thẳng đứng trượng phu. Những dòng chữ nghiêng nghiêng điệu cò bay lả cánh. Những ngòi bút lá tre chấm mực xanh xanh tim tím, những đầu bút tròn vo như viên bi … Còn những tờ giấy, ờ những tờ giấy trắng tinh thơm phức mùi nhựa thông đầu núi, những tờ giấy hồng phơn phớt chút hương hoa… Có một thời, mọi thứ đó đã là vật tối cần thiết cho đời sống tinh thần và tình cảm của con người.

Lướt thướt trên mặt giấy lặng thinh, người ta cân nhắc một nét phẩy, một dấu chấm. Người ta nghĩ ngợi, người ta so đo. Nhớ thương vui buồn oán hận trách móc. Thăm hỏi hứa hẹn… Ðủ thứ, kể cả đôi khi chỉ vơ vẩn thứ chuyện mưa xuân với nắng hè…Trong sự yên lắng cùng cực của mặt giấy mênh mông, người ta nói chuyện với một người. Thầm thì hay rạo rực. Xốc nổi hay điềm đạm. Người ta nói, nói miên man, nói thay cho những đêm tỉnh mịch, nói thay cho những ngày vật vã. Những lá thư. Ờ, những lá thư. Những lá thư thay cho một tiếng kêu vui, những lá thư thay cho một tiếng khóc nghẹn. Khi những khoảng cách còn là những dặm trường. Những sông ngăn núi trở. Những yêu-em-anh-cũng-muốn-vô sợ-truông-nhà-Hồ-sợ-phá-Tam-Giang. Khi những khoảng cách mãi là những bức tường thành được dựng lên bằng lề thói xả hội, bằng tôn giáo, bằng giai cấp, bằng giàu nghèo sang hèn. Khi những khoảng cách giữa người và người được rào chắn bằng mọi kiểu, mọi cách, mọi thứ vô lý vô nghĩa vô nhân vô tình nhất.

Bất chấp cái đầu và con tim của con người chẳng có gì ngăn cách được.

Roméo và Juliette. Thử tưởng đến những dòng chữ ân tình đã lén lút viết gởi cho nhau bằng mực và nước mắt qua mấy bức vách đá lầm lì và những tấm lòng thù hận sân si. Những bức thư mà tiếng Việt còn gọi là những cánh thư dù những bức thư không có cánh. Phải chăng đó là một dụng ý rất tế nhị để gọi thứ phương tiện truyền đạt khi người ta không thể gặp nhau vì bất cứ một thứ trở ngại nào đó. Cánh, cánh chim, cánh thư ! Có còn một ẩn dụ nào kỳ diệu hơn nữa !

Ờ, những lá thư không mang cánh chim bằng mà bay qua vạn dặm để nối kết hai đầu của một nỗi nhớ mênh mông. Những cánh thư mỏng dánh mà xóa nhòa hết mọi biên giới trần gian để làm sum họp những đoạn lìa tức tưởi.

Đã có một thời, những cánh thư ...

Ờ đã có một thời, từ hai bên bờ một đại dương ngăn ngắt, những cánh thư bay qua bay lại để gởi nỗi héo hon của người ở lại tới người vừa bỏ ra đi. Và mang trả về bên bển, con mắt trao tráo của khuya hôm mất ngủ vì chợt đâu có một bóng trăng rơi xuống đầu giường. Những cánh thư mang theo từng cơn thắc thẻo của cha mẹ già khi bị bứt lìa xa từng núm ruột. Những cánh thư vàng vọt dấu thời gian, chui lách qua chằng chịt những cặp mắt cú vọ của đám giặc bất nhân, rồi bay chập chờn qua mù mịt biển...

Những ngày đó, sau cơn đột tử của quê hương đến nỗi phải bỏ nước ra đi làm kẻ lưu vong, từ sau cửa sổ, dòm chừng con dốc cao, khi bóng người đưa thư vừa trờ tới, đã có bao nhiêu lần trái tim còn trẻ bỗng như đập hụt một nhịp. Và một ý nghĩ thoáng qua. Cha mẹ mõi mòn bên đó. Trông thư. Mà lại cứ sợ một lá thư... ! Bởi vậy thuở đó cứ vừa trông vừa sợ người đưa thư ghé lại nhà !

Thư tới chậm quằn đôi cánh mõi. Giấy võ vàng héo muộn đường xa. Dấu chấm nặng như từng viên sỏi. Ném vào tim ngàn trận phong ba ...
Dẫu vậy, những lá thư đâu chỉ để làm buồn. Những lá thư còn là những cánh én mang dấu hiệu của mùa xuân mới. Của thứ tình cảm dễ hiểu và cũng khó hiểu nhất của con người. Kiểu những Lá Thư dập dìu sóng nhạc của Đoàn Chuẩn Từ Linh viết đâu từ một thời tiền chiến

Nhớ tới mùa thu năm xưa gửi nhau
phong thư ngào ngạt hương
nét bút đa tình lả lơi
nhớ phút ngập ngừng lòng giấy viết rằng
chờ đến kiếp nào
tình đầu trong gió mùa (*)

Ờ những lá thư - giấy trắng mực đen hay giấy hồng mực tím - chứng tích của tình vui tình buồn tình thương tình nhớ tình sầu tình đau tình hận... hầm bà lằn xắn cấu tình, tình nào cũng có, đã được ép giấu như xác bướm khô trong những tập sách hay được xếp cất cẩn thận trong hộp sắt hộp gỗ như đồ gia bảo hay đã bị... phóng hỏa cho hả cơn... thất tình.

Thử nhớ lại một thời mới lớn, giữa lúc mà lễ giáo nho phong còn là cái khung kềm giữ mọi động tịnh xả hội, gái trai thì muôn đời vẫn là ong bướm đương xuân, thì làm sao mà kềm giữ cho đành. Vậy rồi lỡ có mắt liếc mày ưa thì làm sao mà tỏ dạ. Những lá thư, ờ những lá thư. Những trang giấy xé ra từ tập vở học trò, mực tím mực xanh, chép vụng về một câu thơ bóng gió của ai đó, hay khá hơn, cắn bút, cặm cụi tả trời trăng mây nước để vụng ý một tâm tình, rồi cẩn thận xếp đôi xếp ba, nhét vào phong bì rồi nắn nót đề tên địa chỉ “ ai đó “ rồi len lén ghé một trạm bưu điện, rồi ngó trước ngó sau nhét đại vào thùng thơ rồi vội vã quay lưng bỏ đi như vừa làm một việc tày trời cứ sợ người quen bắt gặp. Mà cũng phải, ở cái tuổi mới nứt mắt thì có chuyện gì trọng đại mà phải thư với từ ngoài cái chuyện gởi thư với tình, thứ chuyện động trời thời đó. Thư đó. Thư tình mới lớn.

Lớn lên chút nữa. Anh tiền tuyến em hậu phương. Giữa cái thời nhộn nhạo lửa đạn thì ôi thôi hẵn không biết đã có bao nhiêu trang thư viết tay đã bay tới bay lui để kéo lại gần nhau một thành phố và một góc rừng, để nối lại một môi hôn còn lở dở. Thời đó, những người lính quân bưu đã vác những bọc thư với những địa chỉ KBC lạ hoắc theo những chiếc trực thăng bay tuốt lên những đồn binh treo lắt lẻo trên những chỏm núi vắt mây hay lún chân trong những bãi sình lầy để trao tận tay người ở đó mấy lời hỏi han lo lắng cầu nguyện... của người ở nhà. Rồi len lách qua những ngõ hẻm, lặn lội qua những làng xóm... người đưa thư ở thành phố lại đem về một lời trấn an, một câu dặn dò, một ước hẹn... của người đi xa. Vậy đó, những lá thư và những người đưa thư thời đó đã cầm giữ, níu chặt từng mối thâm tình đang bị gió bão lung lay. Cho đến giờ, dẫu có cứng lòng cách mấy, mà có dịp nghe hay đọc lại một đoạn nhạc và lời của ông Trần Thiện Thanh trong cái thời lửa đạn đó mà không xúc động

Thư của lính, ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay
Nhưng thư của lính ghi giữa rừng cây khi nhớ em thật đầy (**)

Ờ những lá thư viết từ một góc núi, ở một bìa rừng, kê giấy lên ba-lô, lên một tảng đá mà viết mà tâm tình mà hẹn hò... dù năm bảy phút sau, lá thư đã bị bỏ dở nửa chừng vì một viên đạn quái ác. Ờ những lá thư, nét chữ run rẩy như những câu tâm kinh đứt khúc của bà mẹ xa con, của người vợ sinh con đầu lòng mà không thấy mặt chồng, của người tình trẻ nhớ một người lính trẻ ...

Thương hông, làm sao không xúc động. Đã có một thời, người ta viết thư cho nhau bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào vì sống và chết đã không còn ranh giới, vì sum họp và chia lìa không ai hẹn được. Chỉ còn những lá thư, với người đưa thư như những chiếc phao cuối cùng nấn níu cho những tâm tình sắp đuối.

Tình sử còn đầy những trang thư kín chữ mà mỗi dấu phẩy dấu chấm là những thao thức dằng dặc, mà mỗi tái bút là một ước mơ trăn trở, mà mỗi đợi chờ đã hiển hiện ngay từ khi vừa gác bút. Những lá thư tình của Napoléon và Joséphine mà chữ nghĩa quến đặc như mật ngọt dậy men.. Những lá thư của George Sands và Alfred de Musset mà tình ý đắm đuối ẩn tàng trong từng lớp vỏ chữ bọc ngoài (***). Gần với chúng ta hơn, 55 năm sau ngày mất, người con gái của Albert Camus đã cho phổ biến Correspondance 1944-1959, gồm 1255 ( một ngàn hai trăm năm mươi lăm ) trang thư chi chít chữ nghĩa say đắm như hoa với bướm, được trao qua đổi lại giữa nhà văn và người nhân tình giấu mặt, nữ kịch sĩ Maria Casarès. Một ngàn hai trăm năm mươi lăm trang kể lể nhớ thương, kêu rêu cách trở, và nồng nàn hơi hướm tình nhân... của một nhà văn mà mỗi tác phẩm đều là một tra vấn sắc lạnh về bản thể của cuộc đời, mà tha-nhân-là-địa-ngục, mà mọi tương giao chỉ là ngộ nhận, mà mỗi người trong chúng ta từ sinh ra đã chịu chung lời nguyền Sisyphe ...

Dưới ngòi bút của một văn nhân, tình yêu hiện ra lóng lánh muôn màu muôn sắc. Chữ và nghĩa không còn là những ký hiệu vô tình, mà ngược lại được vỗ về bằng chính sự chân thành, nỗi thiết tha, niềm đam mê, lòng trân trọng... chữ nghĩa đó đã bay tung lên như đàn bướm lượn để tụng ca tình yêu. Và ngược lại, nhờ vậy tình yêu cũng trở nên tươi thắm như lá hoa được tắm mát mưa nguồn. Người ta yêu nhau. Và hạnh phúc trần gian là một cái gì có thật. Kể cả đến khi mất nhau vì định mệnh, niềm luyến ái giữa hai người vẫn không chút lạt phai. Maria Casarès. Quand on a aimé quelqu’un, on l’aime toujours. Lorsqu’une fois, on n’a plus été seule, on ne l’est plus jamais. (****)

Làm sao kể ra hết được những lá thư tình giấu mặt, bay lẫn lút trong cõi thế gian vô tình, bay chấp chới trong cõi không gian vô tận. Vậy đó mà những cánh thư bay qua bay lại, mà nối kết những chia lìa, mà xóa mất những ranh giới nhân tạo ngăn cách những tấm lòng.

Đã có một thời, những người đưa thư ...

Thử tưởng đến những kỵ sĩ phóng ngựa trong đêm, qua đèo qua suối, để trao cho kịp một phong thư, nối cho kịp hai đầu một nỗi nhớ. Nắng lửa, mưa dầm, gió cuốn, sương sa... đã có bao giờ làm chùn bước... những người đưa thư ! Không. Tự như thời xưa họ đã gò mình trên lưng ngựa, qua truông qua ải, đến thời sau họ vẫn lầm lũi xuôi ngược khắp phố phường, qua ngã năm ngã bảy, len lỏi những hóc hẻm, leo trèo những bậc thang để giao tận tay một nỗi vui, một niềm buồn, một trách móc hay một chờ trông ... kể cả thắp lại cho những kẻ lỡ đường lạc bước từng chút niềm hy vọng. Làm sao quên được câu chuyện đẹp như một bài thơ của anh phát thư Mario mù chữ, mỗi ngày còng mình trên chiếc xe đạp cũ mèm, bánh lăn lao xao qua triền núi quanh co, trên một hòn đảo nhỏ ngoài khơi Địa Trung Hải để tận tay giao cho Pablo Neruda từng lá thư quê nhà khi nhà thơ bị kết án lưu vong, phải bỏ xứ ra đi. Từ đó nẩy sinh một mối giao cảm lạ lùng. Anh đưa thư chữ-nghĩa-i-tờ, lặn lội từng ngày để trao tận tay người thi sĩ hơi hướm của quê hương từ ngàn trùng cách biệt, qua những cánh thư. Đổi lại, người thi hào đã từng đoạt giải Nobel văn chương chuyển lại cho chàng trai quê mùa và dốt nát những ẩn dụ thi ca tuyệt tác. Chuyện phim dù là tưởng tượng nhưng sáng ngời tính nhân bản trong mối liên hệ giữa người và người. (*****)

Những lá thư và những người đưa thư đã có một thời dính liền nhau như một. Và quí giá và cần thiết không kém gì cơm gạo, bánh mì, nước lọc ...
Vâng đã có một thời, những lá thư -không hạn định số câu số chữ mà chỉ bị giới hạn bằng chính xúc cảm của người viết, nghĩa là bằng chính một phần đời sống thật, lửng lơ hay cuồn cuộn, rạo rực hay rã rời... Và người đưa thư, những bước chân không mỏi đi nối lại những dặm trường ...
Vậy mà cái thời đó đã mất, hay sắp mất. Mà đã hay sắp thì cũng là đang mất.
Những lá thư chưa bao giờ có giới hạn vì lòng con người có gì để giới hạn đâu. Người ta vui, làm sao tính được vui mấy chữ mấy hàng. Người ta buồn, làm sao tính được buồn mấy câu mấy đoạn. Vậy mà đã tới lúc phải tính.

Cái thời đại tin học coi vậy mà ác nghiệt. Chẳng cấm chẳng cản mà rồi đến một lúc dưng không người ta quên mất những câu viết ân tình. Dường như đã đến lúc mọi chuyện, hỏi han, hẹn hò, nhắc nhở, than thở, trần tình... ngay cả giữa những tình nhân còn đang lúc mặn nồng cũng đâm ra tiết kiệm từng chữ... từng lời. Mấy cái «ấp » ( app ) trên mấy cái điện thoại cầm tay ( hay còn được gọi là điện thoại tinh khôn ) đã được tính toán sao cho gọn cho nhanh cho kịp... tới nỗi rồi ra chỉ còn từng mẫu đối thoại cụt ngủn cụt ngẳn, cắt đầu ngắt đuôi... Dĩ nhiên chưa đến nỗi như có “ấp” còn hạn chế hỉ-nộ-ái-ố-ai-lạc-dục vỏn vẹn vào 140 chữ. Do tính chất và điều kiện xử dụng, tự ban đầu có mục đích là để nhắn tin, riết rồi thành thứ phương tiện thông tin, truyền bá, bày tỏ, thăm hỏi, rủ rê, mời gọi... kể cả tự tình... phổ biến phổ thông phổ cập nhất đời. Đôi khi để nhanh gọn hơn nữa, óc sáng tạo của con người sáng tới tạo ra những hình tượng gọi là “emoji” để thay cho chữ viết, thứ ký hiệu ngoằn nghoèo mà lắm khi vì vội vã bấm sai bấm lộn lại phải bấm lại, dấu hỏi hay dấu ngã, có “g” hay không có “g”, nghĩa là thay luôn cái giọng điệu ngọt ngào âu yếm nũng nịu vui mừng... hay ngún ngẩy giận hờn của cái thời lãng mạn giờ xưa còn hơn trái đất xưa. Một trái tim là yêu. Hai trái tim là hai lần yêu hơn. Ba trái tim là yêu gấp ba. Và cứ vậy mà yêu thương thả dàn, cứ đếm số trái tim mà đo lường nồng độ của tình cảm. Tình phụ thì trái tim bị chẻ đôi. Dễ ợt và chính xác như một cộng một là hai. Vui ( thích, khoái, chịu... ) thì hình vẽ cái mặt tròn quay với cái miệng toe toét hai khóe cong lên như cái dấu á “ v ” , còn buồn ( quạo, giận, hờn... ) thì cong xuống như cái dấu ớ “^”. Hay thì ngón cái giơ lên. Dỡ thì ngón cái chúc xuống. Rủ uống cà-phê thì có hình tách cà-phê bốc khói. Mời rượu thì có ly rượu nho đỏ hỏn. Hù dọa thì có sọ người. Dụ dỗ thì sẵn cây kẹo ngọt. V.v... và v.v... Đủ hình đủ kiểu đủ ý đủ nghĩa. Nhanh, gọn và khỏe re khỏi phải ỉ ôi dông dài dai dẳng dằng dai... Những hình vẽ với dụng ý khôi hài, giễu cợt, ấn tượng, siêu hình, tượng trưng, tả thực... tả-pín-lù thập cẩm vậy mà ăn khách vô cùng, vậy mà trám vừa đủ chỗ cho cái kho tàng ngôn ngữ và chữ viết của mọi giống người đủ mọi gốc gác. Cái tháp Babel có cơ may được dựng lại. Ở hai đầu một mối thân sơ, hai bên đều thoả mãn cái lối nói dấm dẳn, vụt vặt, vu vơ... Thời đại kỷ-thuật-số, gom lại chỉ còn cái số-không và số-một.

What’s ap, Messenger, Viber, SMS... ôi thôi kể ra mà lẹo lưỡi, cái nào cũng hay cũng nhanh như sao xẹt. Chớp nhoáng. Tức thì. Nghĩ cũng phải. Khách đường xa sắp sửa đăng trình bằng những đoàn tàu Hyperloop với tốc độ cả ngàn cây số một giờ thì tiếc chi ba cái lời nhắn nhủ hay dặn dò kể lể lê th ... Mặt đất ai nói mênh mông phút chốc gần hơn Kẻ Chợ. Kể ra tiện lợi thì không có gì tiện lời cho bằng. Lại thêm không thể không gật gù thán phục. Nhìn những người trẻ hôm nay trao đổi với nhau trên bàn phím ảo -nhỏ hơn lòng bàn tay con gái- chỉ bằng hai ngón tay cái mà thiên biến vạn hóa. Chữ nghĩa ở đâu mà hiện ra cứ vùn vụt như gió cuốn mây bay. Cho dù xa vạn dặm, mới hắt mủi là đối tượng hay liền. Thiên lý nhản với thuận phong nhỉ trong truyện Tàu ngày xưa cũng chỉ thiên biến vạn hóa tới vậy là cùng. Được vậy người ta lại càng thấy gần gũi nhau đến không còn một ly cách trở. Có điều, nếu thuyết tiến hóa của Darwin mà đúng trăm phần, hổng chừng thêm năm ba thế hệ nữa, hai bàn tay sẽ chỉ có hai ngón cái là to, chắc và dẻo nhẹo, tám ngón còn lại có thể teo tóp đến nỗi chỉ còn dùng để ... phe phẩy.

Nhất là hết nghĩ xuôi rồi lại nghĩ ngược, nghĩ tới nghĩ lui rồi đâm ra cũng thấy ngẩn ngơ đôi chút.

Mai mốt còn đâu những tâm tình ẩn mật mà viết rồi lại xóa, xóa rồi lại viết, trang này sang trang khác, tờ trước nối tờ sau, thư-viết-đừng-xong-thuyền-trôi-chớ-đỗ, cho-nghìn-sau-lơ-lửng-với-nghìn-xưa... Mai mốt còn đâu những tâm sự tỉ tê kiểu rủ rỉ rù rì không đầu không đuôi mà lê thê không muốn dứt -dĩ nhiên rất mất thì giờ, nhưng lắm khi người ta lại muốn mất thì giờ hơn là có thì giờ để ngồi ngắm cái bóng chiếc trong cái phòng không. Mai mốt còn đâu những trông những ngóng, những chờ những đợi một hồi âm... Hổng nhớ sao, hồi đó ông Châu Kỳ ổng viết bài Sao không thấy hồi âm rồi cô Hoàng Oanh cổ hát nghe mà đứt ruột. Nhưng dẫu đứt ruột mà nghe ra đã làm sao. Hổng đã sao được. Có chỗ để mình trang trải tâm sự rồi nuôi nấng một đợi chờ. Hổng hơn cái lòng trống rổng, cái đầu trống trơn mà thời gian thì trống hoác sao ?

Mai mốt còn gì để lại cho đời kiểu ông Lôi Tam những năm 60-70 “... nếu em trách tôi sao hờ hững, tôi chỉ mỉm cười mà chẳng dám thanh minh. Em đâu biết tôi đã thức suốt năm canh viết lên bóng tối muôn vạn bức thư tình chẳng bao giờ chấm dứt “

Muôn vạn bức thư tình chẳng bao giờ chấm dứt. Còn gì đẹp cho bằng những bức thư tình viết hoài viết hủy, viết như lên cơn đồng thiếp, mà mỗi lời mỗi chữ là mỗi khai phá những trầm tích của lòng, không đường nét không màu mè mà lại lồng lộng bóng sắc, như hương của hoa và tơ nhện của tình mà người ta đem tặng cho nhau để xoa dịu bớt những sắc mắc của đời vốn dĩ không lấy gì làm êm ả.

Từ những năm 50, nhạc sĩ Trịnh Văn Ngân đã viết một bài nhạc có tựa là Người đưa thư đã đi qua. Không biết ông ta có linh cảm điều gì không mà cho người đưa thư lẳng lặng đi qua, qua luôn không ghé lại.

Vô tâm tiếng chân đều đều vang theo ai bước đi
Xa xa cứ xa dần dần trong khi tim ta muốn lắng ... (******)

Ờ đã tới thời những lá thư bị cắt cụt cánh. Và người đưa thư, người bạn trung thành của không biết bao nhiêu tình nhớ tình mong tình chờ tình đợi ... đã đi qua, đi qua luôn.

Và hổng chừng không còn quày trở lại nữa!

Cao Vị khanh

(*) Tựa bài nhạc của Trịnh văn Ngân xuất bản năm 1953
(*)Lá thư - Đoàn Chuẩn Từ Linh
(**)Thư tình của lính – Trần Thiện Thanh
(***)Lettre d’amour de George Sand pour Alfred de Musset

En apparence il s'agit d'une simple lettre d’amour. Pourtant, si vous lisez seulement une ligne sur deux, vous découvrez un texte caché.

Lettre de George Sand à Alfred de Musset :
Je suis très émue de vous dire que j'ai
bien compris l'autre soir que vous aviez
toujours une envie folle de me faire
danser. Je garde le souvenir de votre
baiser et je voudrais bien que ce soit
là une preuve que je puisse être aimée
par vous. Je suis prête à vous montrer mon
affection toute désintéressée et sans cal-
... et si vous voulez me voir aussi
vous dévoiler sans artifice mon âme
toute nue, venez me faire une visite.
......................................................................
.........................................................
........................................
( tự ý đục bỏ )

La réponse d'Alfred de Musset :
(Lire le premier mot de chaque ligne)

Quand je mets à vos pieds un éternel hommage
Voulez-vous qu'un instant je change de visage ?
Vous avez capturé les sentiments d'un cour
Que pour vous adorer forma le Créateur.
Je vous chéris, amour, et ma plume en délire
Couche sur le papier ce que je n'ose dire.
Avec soin, de mes vers lisez les premiers mots
Vous saurez quel remède apporter à mes maux.

Et la réponse de George Sand :
(Lire le premier mot de chaque ligne)

Cette insigne faveur que votre cour réclame
Nuit à ma renommée et répugne mon âme.

(***́*) Tạm dịch: "Khi bạn yêu ai đó, bạn sẽ luôn yêu họ", Maria Casarès đã tâm sự như vậy rất lâu sau cái chết của Albert Camus; "Một khi bạn đã cô đơn, bạn sẽ không bao giờ cô đơn nữa."
(*****) Il Postino
(******)Người đưa thư đã đi qua – Trịnh Văn Ngân

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2026