Hiển thị các bài đăng có nhãn Đỗ Bình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đỗ Bình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2026

Nhà Văn Hồ Trường An Và Câu Chuyện Vui Văn Chương: Những Bài Tâm Khúc

Cách nay hơn hai mươi năm trước có một thiếu phụ nhan sắc, giàu có, làm chủ một cửa tiệm ở Paris, bà rất yêu thơ và đã làm thơ. Bà đã gởi một tập bản thảo khoảng 200 bài thơ để nhờ tôi viết bài giới thiệu cho tập thơ sắp in. Tôi đọc xong tập bản thảo mà lòng len chút buồn man mác vì trong đó có nhiều giọt lệ của một cuộc tình chia ly của một gia đình đổ vỡ! 

Những tâm tình được giấu kín từ lâu trong đáy lòng nay trỗi dậy, hiện lên con chữ phơi bày trên trang giấy như một đoạn phim cũ được chiếu lại. Những bài thơ tuy chứa đầy cảm xúc của tiếng lòng, nhưng nghệ thuật của thơ vẫn cần phải có thời gian chăm sóc cho ý thơ sâu lắng, ngôn ngữ thơ có màu sắc hơn rồi mới in sau, chắc thơ Bà sẽ có một chỗ đứng riêng trong lòng đọc giả. Nhưng bà muốn có tác phẩm ngay, do đó Bà hẹn tôi ở khu Á châu Paris 13. Hôm đó bà đến cùng hai người bạn rất nghệ sĩ tính ở Paris là BS Nguyễn Trọng Kỳ và KS Vũ Quốc Hùng. BS Nguyễn Trọng Kỳ chuyên gia trị liệu về da, đa số bệnh nhân của ông là những minh tinh tài tử nổi tiếng thế giới, do đó tiền khám bệnh rất đắt nên có một thời rất giàu. Ông có viết một vài tác phẩm ngoại ngữ, ngoài ra còn có hơn 1000 trang bản thảo viết tay và đánh máy toàn là thơ Pháp và Thơ Anh, ông trao cho tôi cất giữ trước khi mất. KS Vũ Quốc Hùng có bút hiệu Vũ Nguyên Bích sáng tác rất nhiều thơ Pháp và Việt, người viết lời cho ca khúc Mưa Chiều Kỷ Niệm, nhạc của Duy Yên.

Trong câu chuyện thân mật và cởi mở Bà tâm sự lúc còn là nữ sinh Gia long rất thích đi xem phim cinê, và mê say hào quang sáng chói của điện ảnh và tài tử. Do duyên nợ kếp hợp bà đã trở thành vợ của một tài tử nổi tiếng nhất miền Nam thuở đó. Dù đã có chung nhau mấy người con nhưng hai người không thể bước chung đường đến cuối đời, tình yêu đã vuột khỏi vòng tay làm lỡ hạnh phúc trăm năm! Nay tóc sắp điểm sương bà lại muốn bước vào con đường của nghệ sĩ để khám phá thế giới đầy mộng ảo kỳ diệu trong thi ca, hay Bà chỉ muốn nương náu vào cõi thơ để niềm đau có chỗ trú ngụ?
Bà thấy tôi sinh hoạt với nhiều tạp chí văn học hải ngoại nên muốn nhờ tôi giới thiệu thơ. Tôi chỉ là người làm thơ nên yêu thơ và trân trọng những người làm thơ. Do đó không dám giới thiệu bừa một thi phẩm đầu tay của một tác giả, vì đối với nhà thơ rất quan trọng. Theo tôi thơ bắt nguồn từ cảm xúc tâm hồn, thơ hiện thành con chữ qua nhiều hình thức, thể loại, không bắt buộc nhất định ở một thể loại nào. Đọc bài thơ, người đọc thích hay không thích, nhưng hiểu được cái hay cái đẹp giá trị của thơ ất khó, nhất là thơ tâm linh về lẽ đạo, ngôn ngữ thơ rất trừu tượng, siêu hình mà tôi không hiểu nhiều! Vì ý thức được điều đó nên tôi khuyên bà hãy nhờ những thi sĩ lão thành trong hội Thơ thì tốt hơn. Bà gạt phăng đi nói:
«Các ông bà đó đời nào thèm đọc thơ của tôi, thì làm sao hiểu được tâm hồn tôi mà nhờ viết!»
Lòng tôi thoáng bùi ngùi xúc động, và chân thành nói:
«Thơ của chị có hồn sao không nhờ anh Nguyễn Trọng Kỳ hay anh Vũ Quốc Hùng giúp cho?»
. Nhà thơ Vũ Nguyên Bích từ chối ngay, anh bảo:
«Tôi làm thơ Pháp thì tàm tạm, chứ thơ Việt chỉ làm chơi, đâu có đủ ngôn ngữ mà giúp!».
BS Nguyễn Trọng Kỳ nói:
«Tôi cũng thế, qua Pháp từ đầu tập niên 50 đến nay còn nói và viết được tiếng Việt là may, nên đâu dám viết lời giới thiệu!"

Câu chuyện chấm dứt vì tôi còn có hẹn với người bạn văn ở quán Đào Viên nên từ giã đi. Nghe đến tên Hồ Trường An bà chủ tiệm thẩm mỹ mắt sáng lên liền đề nghị cho bà đi chung.


Chúng tôi đến quán Đào Viên nhà văn Hồ Trường An đã ngồi chờ ở đó. Tất cả đều quen thân nhau, riêng bà thẩm mỹ khuôn mặt rất vui khi gặp HồTrường An, vì bà quen biết nhà văn từ lâu. Trước năm 1975 Hồ Trường An làm ký giả kịch trường nên đã từng quen biết chồng cũ của bà. Hai người nói chuyện với nhau rất vui vẻ, bà hẹn sẽ xuống thăm nhà văn Hồ Trường An ở dưới Troyes. Tuần sau bà và nữ văn sĩ Việt Dương Nhân xuống thăm nhà văn Hồ Trường An, anh An vui vẻ đón tiếp. Trong câu chuyện bà đem tập bản thảo ra và nhờ Hồ Trường An viết lời giới thiệu tập thơ , bà còn muốn Hồ Trường An viết một bài báo khen thơ của bà, chi phí bao nhiêu tiền cũng trả. Bà vốn là nhà buôn nên thích trao đổi sòng phẳng. Tính thương trường đã nhiễm vào câu chuyện văn nghệ khiến anh Hồ Trường An giận tím mặt, anh rất ghét những ai nói đến tiền bạc dính vào văn nghệ. Nhà văn Hồ trường An từ ngày qua Pháp đến khi lìa đời chỉ sống bằng nghề viết sách nên rất nghèo nhưng thanh bạch. Khi nghe bà nói đến lấy tiền để thuê anh viết, khiến anh nổi điên lên chửi bà như tát nước vào mặt, và đuổi ra khỏi nhà. Thế là cuộc khẩu chiến long trời lở đất giữa bà và nhà văn Hồ Trường An. Trong lúc hăng máu tranh cãi khiến bà đã quên mất là anh Hồ Trường An là lưỡng tính, cũng có một nửa là đàn bà nên đủ ngôn ngữ trầm bổng sắc bén để đáp trả. Nữ chủ nhân giàu có đành phải chịu thua trong tức tưởi trở về Paris. Về đến Paris bà gọi phôn cho tôi kể lể rằng:
«Hồ Trường An nghèo mà còn phách chó! Tôi muốn giúp cho ổng một ít tiền mà hắn nổi điên lên xỉ vả tui! Tôi sống từng trải giữa trời Paris suốt mấy chục năm, phải vững tay và sừng xỏ lắm mới đứng vững làm chủ được một cơ sở kinh doanh có tầm vóc ở khu Á Châu. Từ đó đến giờ tôi chưa thua ai, thế mà hôm nay tôi chịu thua cái mồm cay độc của Hồ Trường An! Tức quá đi!».
Tôi nói:
«Chị mà tức giận sẽ mất hết cảm xúc, làm thơ sẽ hết hay đó!.»

Bà nghe thế dịu giọng, nhưng nỗi ấm ức vì tự ái vẫn âm ỉ. Để giằng mặt những ai coi thường thơ của bà. Có người giới thiệu cho bà một nguyệt san ở Paris, bà đã bỏ tiền ủng hộ mua nhiều báo và mướn luôn 4 trang báo đăng hàng loạt thơ của bà, và đăng luôn nhiều kỳ. Nhưng sau vài tháng chủ báo sợ dư luận đàm tiếu nên đã kiếm cách từ chối khéo, không đăng thơ bà nữa. Sự yêu thơ và thích làm thi sĩ đã làm mờ mắt bà, điều đó đã thúc đẩy bà trở về Việt Nam nhờ tìm những nhạc sĩ nghèo phổ nhạc. Vì thơ của bà có hồn, lại gặp nhạc sĩ có tài và có lòng nên đã chăm sóc kỹ từng nốt nhạc lời ca, chau chuốt từng câu nhạc, cắt xén, ráp nối lời thơ cho hợp với giai điệu, ý nhạc, do đó trong số trăm bài thơ của bà có mấy bài phổ nhạc thật hay và giá trị. Bà đã thực hiện được mấy CD phổ nhạc có tặng tôi và bằng hữu.

Không dừng ở đó, bà còn nhờ một số tờ báo và tạp chí văn nghệ trong nước viết bài ca ngợi mình. Những bài báo đăng nhiều ảnh màu thời còn trẻ đẹp của bà năm xưa với những bài viết đưa bà lên tuốt trời xanh:«Nhà thơ Trữ Tình tuyệt vời, Nữ đại gia tài sắc của vùng trời Paris, phu nhân một đại tài tử sài Gòn năm xưa».

Nhân dịp ngày đại hội Nhà Văn Việt Nam, bà theo nhóm văn sĩ đi họp đại hội Thơ ở Hà Nội, họ đưa bà đi theo chi tiền, nhưng vì không phải hội viên nên bà không được vào tham dự Hội! Là nhà thơ, có tác phẩm in trong nước, nay bị bỏ rơi nên bà buồn quá đi lang thang trên các công viên Hà Nội cố tìm cảm hứng sáng tác nhưng nghe lòng chua chát. Khi trở về Paris bà kể cho chúng tôi nghe những hậm hực của nỗi lòng nhà thơ.

Nhiều năm sau khi Bà làm thơ đã điêu luyện, và đã trải qua những chìm nổi trong giới văn nghệ bà mới hiểu được giá trị đích thực của nhà thơ, là giữ cho tâm hồn thanh cao, chứ không phải danh hiệu hay lời khen hão phù phiếm, từ đó bà ít đến dự những nơi sinh hoạt văn nghệ, và cũng không còn khoe mình nữa, mà ở nhà làm thơ cho mình, cho tha nhân. Nhà văn Hồ Trường An, nhà thơ Nguyễn Trọng Kỳ, nhà thơ Vũ Nguyên Bích đã về thiên cổ. Người đời có lẽ cũng quên bà là một nhà thơ. Riêng tôi vẫn trân trọng tâm hồn thi sĩ của bà, vẫn mong bà sẽ sáng tác những bài thơ hay, độc đáo vì cuộc đời bà là những vần thơ buồn chứa những niềm đau chưa nói hết ./.

Đỗ Bình


Thứ Ba, 16 tháng 6, 2026

Nhạc Sĩ Anh Việt Thanh - Vùng Lá Me Bay


Gió vu vu trên đồi, tiếng sóng vỗ bờ hay rừng cây xao xác lá, thoảng nghe chỉ là những tạp âm, nhưng những thanh âm đó nếu cùng hòa quyện với nhau phải chăng lại là bản giao hưởng tuyệt vời của tạo hóa? Người nghệ sĩ, nhờ có cảm xúc rất bén nhạy, đã vận dụng những âm thanh hòa phối thành nghệ thuật, gọi là âm nhạc. Tâm hồn nghệ sĩ rung động tùy theo tâm cảnh và ngoại cảnh mà sự cảm nhận của mỗi người khác nhau dù vẫn hòa chung cuộc sống. Do đó, âm nhạc đến với người thưởng thức cũng rất đa dạng, tùy vào tâm trạng và cái gu thẩm mỹ của từng người. Ngay từ buổi ban đầu của nền tân nhạc, dòng nhạc trữ tình tiền chiến cho những giai điệu mượt mà đã dệt nên những ca khúc vàng êm dịu lãng mạn: Valse, Slow, Tango, Blues, Boston nhẹ nhàng phảng phất chút âm hưởng bán cổ điển Tây phương làm rung động bao con tim.

Tình yêu và Quê hương vẫn là nhũng đề tài muôn thuở vì đó là nguồn sáng tác vô tận của nghệ sĩ. Khi đất nước bước vào giai đoạn Nam Bắc phân đôi, dòng nhạc đó dần dần bị loãng, lắng sâu vào hồn khách mộ điệu, nhường chỗ cho một thể loại khác được gọi là dòng nhạc Thời trang nổi bật là thể điệu Boléro nhằm diễn tả cái thực trạng của xã hội và thân phận con người trong một đất nước có chiến tranh. Chính ở thời đìểm khốc liệt này làng tân nhạc miền Nam xuất hiện nhiều ca khúc quê hương trữ tình đượm chất lãng mạn pha chút chiến chinh. Dòng nhạc Boléro trở nên thịnh hành vì cung bậc chất chứa những đau thương làn điệu mềm mại ai oán, diễn tả nỗi u uất thân phận người mà những người Gitan hát rong Tây Ban Nha sáng tạo ra vào cuối thế kỷ 18 để diễn tả nỗi niềm về thân phận trôi giạt của mình bằng tiếng hát và đàn guitare. Làn điệu Boléro Rumba dịu dàng tha thiết vọng theo nhịp sóng vỗ từ những hải đảo Cap Vert, Cuba xa xăm bên kia bờ đại dương kết thành cung bậc gần gũi với dân ca Việt Nam để diễn tả về thân phận con người trong chiến tranh qua giai đìệu trầm bổng ngũ cung mà lời ca tiếng nhạc đã đi vào lòng người, bàng bạc khắp mọi nơi, từ hang cùng ngõ hẻm nơi phố thị đến những thôn làng hẻo lánh nơi rừng sâu núi thẳm.
Trên quê hương Việt Nam, những nhạc sĩ miền Nam đã từng trải trong chiến tranh chứng kiến những mất mát, chia ly của đất nước, nên từ trong sâu thẳm của nỗi buồn của vết hằn quê hương đã bật lên những hình nốt, tiết tấu gieo thành bản hòa tấu thời chiến mà giai điệu còn vàng hơn thời tiền chiến, đó là: «Tiếng nấc nghẹn của tâm hồn!». Dòng nhạc thời trang đã làm rực sáng cho một số nghệ sĩ, trong đó có nhạc sĩ Anh Việt Thanh.

Miên Du, Mây Thu, Nguyễn Thùy, Anh Việt Thanh

Ông tên thật là Đặng Văn Quang sinh năm 1936 tại Làng An Hữu, Quận Giáo Đức, Tỉnh Định Tường. Ông vốn xuất thân từ gia đình nhạc sĩ có chú và anh trong nhóm nhạc Đức Quỳnh, Mạnh Phát, Châu Kỳ và Hoàng Bửu. Nhờ sự hấp thụ một nền nhạc lý vững vàng của gia đình, ông học hòa âm sáng tác của nhạc sĩ Lê Văn Tài và ngón đàn độc đáo do những nhạc sĩ Nam Huyền, Văn Khánh, Hoàng Bửu truyền dạy. Anh Việt Thanh bắt đầu sáng tác năm 1958, sau đó dạy đàn và dạy nhạc lý. Ông là một nhạc sĩ trong nhóm sáng tác của Cục Chính Huấn của quân đội, những thời gian rảnh rỗi ông đi dạy nhạc nhiều nơi thuộc các tỉnh Đà Lạt, Định Tường, Đà Nẵng, Sài Gòn từ năm 1960 đến 1975. Ông được hai giải thưởng về văn học nghệ thuật: 1966 với nhạc phẩm Phật Tử Kết Đoàn, do Viện Hóa Đạo tổ chức tại Sài Gòn và 1970 Đón Xuân Trên Đồng do Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị tổ chức tại Sài Gòn. Ngoài ra, ông là một phụ tá giám đốc cho hãng băng nhạc Nhã Ca.

Năm 1980, ông và gia định định cư tại Pháp và tiếp tục sáng tác. Năm 1990 ông chuyển lối sáng tác, bắt đầu viết nhạc phổ thơ, và đã chọn phổ nhiều bài thơ của tôi. Từ đó tôi đã giới thiệu ông với nhiều văn nghệ sĩ hải ngoại, trong đó có nhà thơ Phạm Ngọc, lúc đó đang làm chủ biên tạp chí Văn Tuyển ở San Jose, Cali. Năm 2001 ông cho ra đời CD Tương Tư, với 10 Tình Khúc Anh Việt Thanh phổ thơ Phạm Ngọc. Sau đó, ông phổ hàng loạt thơ của nhiều nhà thơ hải ngoại. Năm 2005 nhạc sĩ Anh Việt Thanh gia nhập hội Âm Nhạc Pháp (SACEM) và phát hành một số CD. Anh Việt Thanh đã cống hiến cho đời những nhạc phẩm trữ tình đầy nét thơ; có những nhạc phẩm từng vang bóng một thời trước năm 1975: Vùng Lá Me Bay, Lính (Thích) 33, (Hùng Cường trình bày) Tình Khúc Cho Người Cô Đơn, Yêu Thầm (Mai Lệ Huyền trình bày), Bụi Đời (Hùng Cường trình bày), Cho Nhau Chiều Thứ Bảy (Thanh Hùng trình bày), Đời Con Gái (Trang Mỹ Dung, Khánh Ly trình bày) Một Thuở Xa Người (Khánh Ly, Phương Dung trình bày), Hẹn Em Ngày Về (trình bày Thanh Tuyền), Ngày Xưa Em Nói (Trình bày Phương Dung), Ngày Tháng Cho Người…

Những Sáng Tác Chung:

Bụi Đời 2, 3 (Anh Việt Phương), Phố Cũ Người Xưa (Anh Việt Phương), Tình Mùa Ly Biệt (Trúc Minh), Ngày Xưa Em Nói (Anh Việt Linh, Phương Dung trình bày), Chuyện Tình Thiên Nga (Huy Thanh, Hoàng Oanh trình bày), Chuyện Mưa Mây (Phạm Chinh Đông, Trúc Mai trình bày), Tình Mùa Ly Biệt (Trúc Minh, trình bày Trúc Mai) ...
Nhạc sĩ Anh Việt Thanh tính tình hiền hòa đôn hậu, đối xử với bằng hữu chân tình. Ông ít lên Paris, thường quanh quẩn ở Troyes, thỉnh thoảng có sinh hoạt văn học nghệ thuật tôi lại mời ông về Paris. Là một nhạc sĩ chuyên nghiệp, và sống bằng nghề dựa vào âm nhạc nên những năm mới đến Pháp, ông rất trân trọng và hãnh diện mình là một nhạc sĩ, và làm nghề dạy nhạc. Nhưng những năm cuối đời ông đã chạy theo số lượng, viết vội cho có nhiều bài nhạc theo yêu cầu!

Bút danh Anh Việt Thanh của ông thường bị lẫn với bút danh của cố nhạc sĩ Anh Việt Thu, một tác giả sáng chói trong làng âm nhạc miền Nam với nhiều nhạc phẩm nổi tiếng trước năm 1975: Giòng An Giang, Hai Vì Sao Lạc, 8 Điệp Khúc, Đa Tạ… Riêng nhạc phẩm Giòng An Giang tác phẩm đầu tay viết năm 1957 giai điệu Valse lãng mạn trữ tình được nhiều danh ca trình bày, nhạc phẩm còn được đưa vào học đường, lễ hội vì đã diễn tả nét quê hương rất độc đáo, mà thuở đó ít có nhạc sĩ nào viết, mà nếu có viết cũng không thể lột tả được nét duyên quê, chất phù sa của dòng sông miền Nam. Vì rất thân với nhạc sĩ Anh Việt Thanh do đó tôi đã mời được ông lên Paris ở chơi nhà tôi nhiều lần, có lần tôi hỏi ông:
«Tại sao khi sáng tác anh lại lấy bút danh Anh Việt Thanh, anh không sợ người đời nhầm với nhạc sĩ Anh Việt Thu quá nổi tiếng?».

Anh Việt Thanh trả lời:
«Sở dĩ tôi lấy tên Anh Việt Thanh là vì tôi và Anh Việt Thu ở cùng làng, có bà con xa bên mẹ, hơn nữa tôi rất phục tài của Anh Việt Thu, nên ước muốn nơi chúng tôi sinh ra có nhiều nhạc sĩ.».

Quen biết ông rất lâu nhưng chưa bao giờ nghe ông nhắc đến nhạc phẩm sáng tác đầu tiên của ông dù rằng khuynh hướng sáng tác của ông vào thập niên 60, 70 của thế kỷ trước thiên về thể nhạc Boléro, Slowrock, Twist, Agogo... Bản nhạc Bụi Đời thể điệu Blues ra đời từ năm 1962 được hãng dĩa Việt nam phát hành tại Sài Gòn, do danh ca Hùng Cường trình bày. Không biết nhạc sĩ Anh Việt Thanh có biết trước đó có nhạc phẩm mang tên Bụi Đời đã được nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên viết ngày 06. 9.1957 cho nhạc phim do Trường Sơn Công Ty Điện Ảnh phát hành, đạo diễn Lê Mộng Hoàng thực hiện. Khoảng năm 1965 lại xuất hiện thêm hai nhạc phẩm Bụi Đời 2 và Bụi Đời 3, vì quá lâu ngày tôi nhớ lầm tên tác giả! Trong cuộc điện đàm vào đầu tháng 11 năm 2014 nhạc sĩ Anh Việt Thanh phone cho tôi cáo lỗi việc ông không lên Paris tham dự sinh hoạt ngày văn học nghệ thuật do Câu Lạc Bộ văn Hóa Paris tổ chức hôm 26 tháng 10 năm 2014 vì ông bị bệnh khá nặng, đó là lần cuối cùng tôi được nghe giọng nói ông. Trong câu chuyện tôi hỏi nhạc sĩ Anh Việt Thanh về nhạc phẩm Bụi Đời, ông cho biết không phải là tác giả hai bản đó nhưng đã có người cho ông biết tìm thấy trên internet. Tập nhạc cuối cùng của ông gởi tặng tôi: Em Nhớ Hay Quên cũng chỉ ghi bài Bụi Đời 1, thiếu nhạc phẩm Cho Nhau Chiều Thứ Bảy. Nhưng may thay nhạc sĩ Phan Anh Dũng, chủ biên tạ p chí văn học ở Virginie đã biết những nhạc phẩm đó và gởi cho tôi xem hình bìa của nhạc phẩm, trên đó ghi tác giả 3 bản nhạc Bụi Đời là sự hợp tác của hai nhạc sĩ: Anh Việt Thanh và Anh Việt Phương (là em trai của nhạc sĩ Anh Việt Thanh).

Vào thời nhạc tiền chiến thể điệu Blues đã được nhiều nhạc sĩ viết, ca khúc Bụi Đời 1, ý nhạc buồn, nhưng tiết tấu giai điệu thiên về Slow, hành âm Andante diễn tả sự lãng mạn nhẹ nhàng trữ tình như: Ngày Về của Hoàng Giác, Dư âm của Nguyễn Văn Tý, Anh Đến Thăm Em Một Chiều Mưa của Tô Vũ, Ai Về Sông Tương của Thông Đạt, Em Tôi của Lê Trạch Lựu v.v… Điệu Blues Jazz ngoài cấu trúc phức tạp, tiết tấu giai điệu trầm bổng lãng mạn, buồn tê tái như lời than chứa đầy những giọt nước mắt của những người da đen nô lệ xa xưa đã sáng tạo ra dòng nhạc này được diễn tả qua tiếng kèn đồng vút cao rồi trầm xuống âm thanh nức nở hòa với chất giọng nghe não nuột, u uất đã thực sự chinh phục giới thưởng lãm âm nhạc miền Nam. Giữa chốn phồn hoa đô thị đầy ánh đèn màu rất yên bình có một lớp người đang sống thụ hưởng trong men rượu, khói thuốc, vũ trường mà quên đi hiện trạng của đất nước đang mịt mù khói lửa, Phần đất tự do đang bấp bênh giữa cái mất còn!

Vào giữa thập niên 60 nền tân nhạc đã đi một bước khá dài nhưng vẫn chưa hòa nhập với dòng nhạc thế giới, giới nhạc sĩ vẫn nặng tính dân nhạc, chưa dám xa rời chất ngũ cung để tìm những mới lạ trong âm nhạc, nhưng lại khéo léo xử dụng thể ngũ cung, biến các thể điệu tây phương gần gũi với tinh thần Việt Nam nên các thể điệu Boléro, Tango, Habanera, Blues đã nhập vào lời ca để diễn tả nỗi lòng, do đó những giai điệu nhạc trở nên Vàng hơn tạo thành nhạc sóng vàng. Sau nhạc tiền chiến những ca khúc mang thể điệu Blues vang bóng một thời: Thuở Ấy Có Em của Huỳnh Anh, Đời Tôi Chỉ Một Người của Huỳnh Anh, Loan Mắt Nhung của Huỳnh Anh, Những Chiều Không Có Em của Trường Hải, Đêm Nguyện Cầu của Lê Minh Bằng, Điệu Ru Nước Mắt của Vũ Lai, Anh Sơn, Linh Hồn Tượng Đá của Mai Bích Dung, Thương Hận của Tú Nhi & Hồ Đình Phương, Thúy Đã Đi Rồi của Y Vân,… Nhạc phẩm Lòng Mẹ của Y Vân cũng thể điệu Blues nhưng vì bản nhạc ca ngợi về tình Mẹ, đượm tính thiêng liêng nên được trân trọng do đó các nhạc sĩ hòa âm phối khí diễn tả theo cách riêng phù hợp với người hát. Nhạc phẩm Sao Đêm của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn có thể xem là nhạc phẩm đầu tiên mang tính Blues Jazz đặc sắc nhất ở giai đoạn đó. Thể điệu Blues: 2/4, 4/4 hay C thường dùng cho những loại nhạc nhẹ nhàng, lãng mạn có âm hưởng buồn bã nên giữa thập nên 60 nhạc sĩ Anh Việt Thanh lại cho ra nhạc phẩm Cho Nhau Chiều Thứ Bảy mang thể điệu Blues do danh ca Thanh Hùng trình bày. Cách nay nhiều năm, lúc danh ca Thanh Hùng còn tại thế, rất nhiều lần nhạc sĩ Anh Việt Thanh lên Paris đều gặp gỡ Thanh Hùng tại nhà tôi. Trong câu chuyện chúng tôi có đề cập đến bài: Cho Nhau Chiều Thứ Bảy, nhạc sĩ Anh Việt Thanh cho biết đã quên lời, ông hỏi chúng tôi còn nhớ? Tôi còn nhớ lõm bõm giai điệu với ít lời, anh Thanh Hùng cũng chỉ nhớ rất ít ca từ trong bài.

Cuối năm 2010 ông từ tỉnh Troyes lên Paris ở với chúng tôi một tuần để sinh hoạt văn học nghệ thuật với chủ đề Tác Phẩm và Tác Giả do câu lạc Bộ Văn Hóa VN Paris tổ chức được 200 người tham dự. Trong dịp này có hai nhà thơ Miên Du Đà Lạt và Chúc Anh từ Mỹ sang Paris ra mắt tác phẩm. Đặc biệt là chuyến du ngoạn Paris, cứ mỗi lần dừng chân nơi công viên hay trong quán cà phê đều là dịp trao đổi với nhau trên lãnh vực âm nhạc và thơ văn. Nhạc sĩ Anh Việt Thanh tuy ít nói nhưng cũng tranh luận sôi nổi với Miên Du Đà Lạt, GS Nguyễn Thùy, nhà biên khảo Mỹ Phước Nguyễn Thanh, nhà thơ Nguyễn Mây Thu, nhà báo Kim Long và tôi.
 

(GS Minh Cầm, GS TS Phạm Đình Liên, GSTS Lê Mộng Nguyên, BS Nguyễn Bá Hậu, GS Nguyễn Thùy, Nhà thơ Miên Du, Nhà Giáo Kiều Hạnh, Nhà thơ Mây Thu (Đại diện tạp chí Cỏ Thơm), Nhà thơ Chúc Anh.
Hàng sau: Đỗ Bình, Nhà Biên Khảo Mỹ Phước Nguyễn Thanh và Họa sĩ Nguyễn Đức Tăng. Bạch Sương (Đại diện tạp chí Nguồn), Nghệ sĩ Thúy Hằng, Nhà Giáo Quang Tuyển, BS Phan Khắc Tường)

Lần cuối cùng là năm 2013 chúng tôi: nhà biên khảo Mỹ Phước Nguyễn Thanh, nhà thơ Mây Thu, nhà thơ Trịnh Cơ và tôi đến Troyes thăm ông. Hôm đó chúng tôi ghé thăm nhà văn Hồ Trường An, trên đường đưa ông trở lại nhà ông nói rất e ngại cho sức khỏe của nhà văn Hồ Trường An, lúc đó trông Hồ Trường An rất yếu và họa sĩ, nhạc sĩ Vũ Thái Hòa thì vừa mới mất! Tôi còn nhớ trong lần tổ chức Thu Đất Khách, nhà thơ Hoàng Xuyên Anh từ Cali sang ra mắt tác phẩm, Nữ sĩ Nguyễn Thị Vinh thành viên cuối cùng của Nhóm Tự Lực Văn Đoàn sang Paris nói chuyện đề tài: Người Phụ Nữ Hôm Nay. Nhà thơ, Họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật từ Na Uy sang Paris cùng Họa sĩ Nguyễn Đức Tăng trang trí sân khấu, Nhà văn Nguyễn Thùy từ Thụy Sĩ sang Paris. Tất cả các bạn đều ngụ tại nhà tôi thật vui vẻ dù rằng nhà không lớn. Chúng tôi kéo ra thương xá uống café, 4 người: Nguyễn Thùy, Nguyễn Hữu Nhật, Anh Việt Thanh và tôi; chúng tôi vui quá bá vai nhau bước trước cặp mắt ngạc nhiên của nhiều người Pháp. Tôi chợt nhận ra và nói:
"Các ông ơi họ đang nhìn mình và ngỡ mình đồng tính! "
Mọi người cười ồ vui vẻ buông nhau ra. Nay Nguyễn Hữu Nhật, Nguyễn Thị Vinh, Thanh Hùng, Hoàng Xuyên Anh, Diệu Khánh, Hà Lan Phương, và Anh Việt Thanh đã thật sự buông bỏ cõi đời để tìm về một cõi xa không vương tục lụy. Các bạn tôi không còn lo âu sự đời miếng cơm manh áo và không phải cầm bút cưỡng lòng.

Trời viễn xứ thời gian nhanh như gió thoảng, nhìn hạ đến thu đi đông tàn tuyết rơi xuân về hoa lá nẩy mầm... mà nghĩ về thân phận con người chợt thấy những mất còn quanh ta. Khói lửa chiến chinh hôm nào nay đã thành cổ tích, Chuyện quê hương đầy huyền thoại vẫn trong mơ dù vị đắng cay đã thành kỷ niệm. Nhiều lúc đọc lại quyển sách cũ, nghe lại cuộn băng xưa cả khung trời quê hương thơ mộng hiện về nhập vào trang sách, theo tiếng hát thật êm đềm.

Paris 26/03/2015
Đỗ Bình

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2026

Những Nhạc Sĩ Từng Cống Hiến Cho Nghệ Thuật Ca Nhạc Việt Ở Paris

Xuân Vinh Người Nghệ Sĩ Cô Đơn

Nhạc sĩ Xuân Vinh (1943 - 2009) sinh năm 1943 tại Ninh Bình, di cư vào Nam 1954, theo học tại trường La San Đức Minh và La San Taberd. Ông học nhạc ở dòng Chúa Cứu Thế và các lớp nhạc khác Trường Bach. Trường Suối Nhạc. Ông thuộc gia đình khá giả ở Sài Gòn, đến tuổi quân dịch, nhờ giỏi âm nhạc nên ông đã thi vào ban nhạc nhẹ của Hải Quân Việt Nam. (Espana Cani) và làm tại Cục Tâm Lý Chiến, đài phát thanh quân đội. Ở đây ông được theo học khóa sáng tác 9 tháng và tốt nghiệp sau nhạc sĩ Nhật Trường một năm. Thời gian phục vụ trong quân đội VNCH, ông đã theo ban nhạc trình diễn khắp nơi trong miền Nam, ra tận Đồng Hới và làm cộng tác cứu trợ Tết Mậu Thân. Sau 4 năm thi hành quân dịch ông được giải ngũ và mở khoá học nhạc cấp tốc cho các học sinh sắp đi du học.
Ngày 1 tháng 5 năm 1975 ông cùng với mẹ xuống Rạch Giá vượt biên đến Thái Lan, sau đó định cư tại Pháp. Hành trang mang theo là một áo mưa, một chiếc đồng hồ. Ở Paris ông vào trường Beuscher học thêm nhạc Jazz.

Nhạc sĩ Xuân Vinh tính hiền hòa, khiêm nhường và ít nói nhưng rất khó tính về âm nhạc. Từ ngày ra hải ngoại ông ngừng sáng tác, nhưng vào ngày 22 tháng 5 năm 1999 ông mời tôi ra quán cà phê Paris và trao tặng tôi ca khúc Hạ Buồn mà ông mới phổ thơ tôi. Đây là một tặng phẩm tinh thần quý giá. Ông trao tôi bản viết tay còn dấu sửa chữa. Ông nói:
«Tôi muốn để nguyên bản viết thế này tặng anh mới chân thành, vì đã chăm chú vào từng lời thơ hợp với từng nốt nhạc. Còn chép lại sạch thì dễ đọc hơn, nhưng anh không thấy sự chăm chú đó! »
Tôi xúc động nắm tay ông nói lời cảm ơn. Đó là ca khúc cuối cùng của đời ông.
Những nhạc sĩ đệm dương cầm hàng đầu trong các ban nhạc ở Paris: Nhạc sĩ Jules Tambicannou, nhạc sĩ Xuân Vinh, nhạc sĩ Nguyễn Duy Thiện và nhạc sĩ Nam Anh, Trang Bá Tùng, Xuân Giao... Đó là những người nhạc sĩ chuyên nghiệp.
Trong lãnh vực âm nhạc, hai nhạc sĩ Xuân Vinh và Tambicannou đều khó tính nhất Paris, cả hai đều không chịu đệm nhạc cho ca sĩ hát nếu ca sĩ đó không chịu dợt nhạc trước. Đã nhiều lần hai nhạc sĩ đó bỏ ngang chương trình ca nhạc sách đàn ra về vì không chịu đệm nhạc cho những ca sĩ hát những ca khúc không có ghi trong chương trình. Hai nhạc sĩ đều dành cả đời cho âm nhạc và sống bằng nghề âm nhạc.
Riêng với tôi, nhạc sĩ Xuân Vinh và nhạc sĩ Jules Tambicannou rất quý. Mỗi lần chúng tôi mời hai anh tham gia những sinh hoạt văn học nghệ thuật, những chiều nhạc thính phòng hai anh đều nhận lời. Chúng tôi phụng sự văn hóa nên bỏ tiền túi ra tổ chức mà không bán vé, mục đích giới thiệu những tác phẩm hay trong dòng âm nhạc Việt Nam, và những tác phẩm văn thơ giá trị, do đó tôi nói với nhạc sĩ 

Xuân Vinh:
«Anh là nghệ sĩ, xin đến giúp chúng tôi một tay. Những danh ca góp mặt trong phần văn nghệ đều không có thù lao, các anh chị chỉ muốn anh hoặc anh Jules Tambicannou chơi nhạc. Hôm nay có mặt cả hai anh, tôi mong chương trình được tốt đẹp.»

Nhạc sĩ Xuân Vinh:
« Được anh mời là tôi vui rồi, có anh Jules nữa thì phần nhạc thêm đặc sắc, tôi sẽ chọn một số ít ca khúc để đệm nhạc, phần còn lại là của anh Jules. Tuy nhiên tôi tham dự là phần nghệ sĩ góp mặt, nhưng tiền chuyên chở các dụng cụ nhạc và tiền bảo hiểm dàn âm thanh xin anh chi phí cho».

Tôi hiểu ông, nhưng tôi muốn thương lượng một giá chi phí tượng trưng, nhưng ông lại muốn nâng giá lên cao, cuối cùng chúng tôi chấp nhận cái giá mà ông đề nghị. Cứ mỗi lần như thế nhạc sĩ lại mang theo bốn chai rượu đỏ đắt tiền đến tặng chúng tôi để bù vào khoảng nâng giá.
Ông nói: «Biết anh không uống rượu nhưng tôi tặng cho các bạn uống lúc nghỉ giải lao.»
Dù tài hoa nhưng nhạc sĩ Xuân Vinh vẫn thích sống độc thân, có lẽ vì ông chán ngán cảnh vợ chồng. Thuở còn trẻ ông có yêu một người, nhưng người đó theo lệnh gia đình đi lấy chồng làm ông thất tình để ôm mãi trong lòng mối tình si, nên ông cho ra đời ca khúc Cuộc Tình Đã Mất, có giai điệu buồn, ca từ ray rứt, tiếc nuối. Ca khúc được nhiều ca sĩ trình bày: Khánh Ly, Thiên Trang, Elvis Phương, Cẩm Ly, Ngọc Lan, Dạ hương, Uyên Phương, Ái Vân, Tuấn Anh...

«Một người quen, đã đi lấy chồng. Một người yêu, thôi đã sang sông. Tình ngày xưa, gió cuốn lâng lâng, thương những chiều, nắng đến bâng khuâng. Một hạt sương, thoáng… »

Mang một tâm trạng bị tình phụ nên ông chán ngán những lời yêu đương mật ngọt, dù lòng vẫn lưu luyến mối tình xưa. Thời gian đó, gia đình ông lại muốn ông sớm thành hôn nên đã hỏi cho ông một nữ sinh viên còn đang du học ở Bỉ. Ông nghe lời mẹ nên đã thành hồn với người nữ sinh viên ở trời Tây đó, nhưng duyên nợ của hai người không được lâu, cuộc hôn nhân bị đổ vỡ sau khi có chung một người con trai. Sau năm 1975 ông vượt biên cùng mẹ già, sau khi mẹ qua đời ông sống cô độc một mình. Suốt mấy chục năm ở Paris nhạc sĩ Xuân Vinh không hề nói về người vợ, ông dấu kín trong lòng về nguyên nhân đổ vỡ. Ngày nhạc sĩ Xuân Vinh mất, các bằng hữu văn nghệ sĩ và người ái mộ đến với ông lần cuối rất đông. Họ đồng ca, hát những ca khúc của ông để thương tiếc ông. Ngày đó có cả vợ ông từ Bỉ sang, con trai ông và người em trai ở Paris đến tiễn đưa ông lần cuối.

Những sáng tác của nhạc sĩ Xuân Vinh:

Nhớ Về Em(1965). Bài Ca Thánh Giu Se (1965). Cuộc Tình Đã Mất (69-70).
Huế (thơ Kiều Mộng Thu). Chiều Xuân Này Em Lấy Chồng (Xuân Vinh, Mộng Đạt). Âm Thầm (Xuân Vinh, Triều Dương). Chiến Tranh Và Tuổi Trẻ(Xuân Vinh, Mộng Đạt).
Thương Nhớ Người Xưa (A Time For Us Roméo et Juliette, Lời Việt Xuân Vinh. Người Yêu Tôi Đâu (Some Where My Love) Lời Việt Xuân Vinh. Một Chuyện Tình (Love Story) Lời Việt Xuân Vinh. Ta Belle Rose Lời Việt Xuân Vinh, Tình Thi Ca, Lời Việt Xuân Vinh (1994). Hạ Buồn, thơ Đỗ Bình Nhạc Xuân Vinh 1999. 

Lê Phương Người Nghệ Sĩ Thầm lặng


Viện Pháp Á Paris 197: Nhạc sĩ Lê Phương, nhạc sĩ Trịnh Hưng, nhạc sĩ Đào Tuấn Ngọc, Điêu khắc gia Vương Thu Thủy, nhà thơ Song Thái, nhà thơ Trọng Lễ, GS Quỳnh Hạnh…

Nhạc sĩ Lê Phương sinh năm 1961 tại Sài Gòn và mất tại Paris năm 2017. Ông theo học Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, và trường Nghệ Thuật Sân Khấu 2, tốt nghiệp ngành đạo diễn sân khấu. Sang Pháp định cư năm 1989 và bắt đầu sáng tác nhạc năm 1990. Thuở ấy trong trong các phòng trà ca nhạc thính phòng và các sân khấu cộng đồng có rất ít nhạc sĩ chuyên nghiệp, Lê Phương là một trong số ít nhạc sĩ chơi nhạc cổ điển Tây phương. Trong sáng tác ông dùng bút hiệu Lê Phương, Lê Nguyễn Việt Phương.

Nhạc sĩ Lê Phương tính tình hiền hòa, rất khiêm tốn và ít nói. Trong một vài năm đầu thỉnh thoảng ông tham gia trong những sinh hoạt văn nghệ đệm nhạc cho ca sĩ hát nhạc thính phòng, nhưng sau đó hơn hai mươi năm ông chọn lối sống ẩn dật không còn muốn trình diễn trước đám đông, mặc dù ông vẫn chơi đàn một mình và sáng tác thơ nhạc.

Tôi hỏi ông:
  “Em đánh đàn hay quá, tại sao lại không đem tài năng đó cho công chúng thưởng lãm?“
Lê Phương:
“ Ở Paris rất nhiều người có tài, có những người đã tốt nghiệp nhạc viện môn guitare cổ điển nhưng họ cũng đâu có đến chỗ đám đông trình diễn. Cái gu nhạc của mấy người đến phòng trà là chỉ muốn khiêu vũ. Em không chơi được loại nhạc đó!“

Tôi hỏi: 
“Em không chơi ở các phòng trà thì chơi nhạc ở sinh hoạt cộng đồng, tại sao em cũng không tham dự?“

Lê Phương: 
“Thưa anh, sở dĩ em không chơi nhạc ở chỗ cộng đồng là vì em độc tấu guitare nên rất cần sự im lặng, mà sân khấu cộng đồng thì quá ồn ào, người ta nói chuyện át cả tiếng đàn thì đàn làm gì!“
Tôi hỏi: “Em sáng tác nhạc và phổ thơ được bao nhiêu bài? Đề tài sáng tác là gì? Đã ra CD chưa? Em chọn những bài thơ nào để phổ? “

Lê Phương: 
“ Em sáng tác và phổ thơ khoảng 50 ca khúc và chưa ra CD nào. Những đề tài em sáng tác là Quê Hương Tình Yêu và Mẹ. Còn về thơ phổ nhạc, em chỉ chọn những bài thơ có ngôn ngữ hình tượng giàu tính nhạc, và có ý tưởng sâu sắc Do đó em phổ thơ không nhiều, khoảng 20 ca khúc của một số ít nhà thơ mà em đọc thơ họ thấy cảm hứng nhạc, trong đó có 5 bài thơ của anh.“

Năm 1990 Nhạc sĩ Lê Phương phổ tặng tôi hai bài thơ, bài Tìm Nhau và Bên Em Chiều Mơ với bút danh Lê Phương và Phạm Đăng Thủy. Bài Bên Em Chiều Mơ đổi tựa là Hổ Thẹn, cả hai ca khúc này được tôi in trong tập thơ Buồn Viễn Xứ. Bài thơ Bên Em Chiều Mơ tôi viết để nhớ về một khung trời kỷ niệm của Sài Gòn năm xưa. Sở dĩ tôi bằng lòng cho Lê Phương đổi tựa bài thơ vì ông cho biết khi ra đi đã bỏ lại một cuộc tình, người ấy sau đó đã lấy chồng! Cũng vì lý do đó ông sống độc thân đến cuối đời, và lấy sự cô đơn làm nguồn cảm hứng sáng tác thơ nhạc. Bài thơ sau này được hai nhạc sĩ Minh Sơn và Văn Tấn Phước phổ thành ca khúc.

Bên Em Chiều Mơ

“Ta ngắt hoa cài mái tóc em,
Tìm dư hương cũ thuở êm đềm.
Gọi mùa xuân đến ôi xa quá!
Vạt nắng hanh chiều theo gió lên.
Ta thích xuân về trong mắt em,
Ngăn ngày tháng úa rụng bên thềm,
Cho ta dừng bước chân luân lạc,
Trả gánh phong trần bên dáng em.
Ta muốn tìm quên trong mắt em,
Ru đời say đắm nụ môi mềm,
Buông xuôi dĩ vãng thành mây khói,
Mặc ánh sao trời đua bóng đêm!
Ta cố tìm vui trong ý thơ,
Nhặt sầu quăng xuống đáy mong chờ,
Bỏ rơi ảo mộng vào quên lãng,
Rồi tự ôm tim khóc chiều mơ.”

Về chủ đề tình yêu lứa đôi, trong thơ nhạc của Lê Phương là những lời tiếc nuối những kỷ niệm đẹp của mối tình dang dở nhưng không oán trách. Làm sao lý giải được sự tha thiết trong tình yêu, dù đó là cuộc tình buồn khiến nhạc sĩ vẫn ôm mãi đến cuối đời!
Nhạc sĩ đã rung cảm thơ của những thi nhân nên phổ thành những ca khúc buồn, Phải chăng để diễn tả nỗi lòng mình cho vơi bớt cô đơn trong bước đường tha hương.
. Nhạc sĩ Lê Phương chơi với bạn rất chân thành nên khi ông bị bệnh, rất nhiều bằng hữu vào nhà thương thăm. Vào những giờ cuối cùng của đời ông, tôi hỏi:
“Em có muốn phôn cho cô ấy không?“
Lê Phương trả lời:
“Bây giờ em không còn vấn vương tơ tình, đừng cho cô ấy biết em sắp mất“.
Tình yêu là một đề tài muôn thuở không bao giờ dứt. Từ thuở xa xưa trong văn học Việt Nam truyện Kiều của Đại Thi hào Nguyễn Du đã viết:

“Nợ tình biết trả cho ai,
khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan”

Ngày nhạc sĩ Lê Phương lìa cõi đời, nghe nói người đàn bà đó ở Sài Gòn dù đã có chồng khác nhưng vẫn để tang. Hoàn cảnh đã chia cắt họ ngàn trùng, hay duyên nợ cũng chỉ là hợp rồi tan. Làm sao hiểu thấu được tình yêu? Xin gởi tấm lòng tiễn nhạc sĩ Lê Phương.
Cõi Tạm
“Theo hương khói người về nơi xa lắm
Đời vinh hoa phiền muộn cũng trăm năm.
Rũ sạch bụi trần cho hồn thanh thản
Làm mây bay tỏa như ánh trăng rằm.”
Paris 25.01.2017

Jules Tambicannou nhạc sĩ Jazz


Nhạc sĩ Jules Tambicannou Sinh 15 tháng 10 năm 1942, mất 23 tháng 12 năm 2017. Ông bước vào làng nhạc Sài Gòn vào đầu thập niên 60 và là một cây đàn chính chơi trong các ban nhạc Rock cho Câu Lạc Bộ Mỹ. Sau năm 1975 ông sang Paris học thêm nhạc Jazz, trở thành một nhạc sĩ dương cầm chơi nhạc Jazz xuất sắc ở Paris. Ngày trước nhạc sĩ Jules Tambicannou là trưởng nhóm của một số ban nhạc chuyên nghiệp chơi các phòng trà ở Paris.

Có một lần họp bạn văn nghệ quy tụ những nhạc sĩ có ngón đàn điêu luyện tại tư gia của anh chị nhạc sĩ Phạm Đăng & Minh Châu như nhạc sĩ Jules Tambicannou, Lê Khắc Thanh Hoài, Đào Tuấn Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Linh Chi, Văn Tấn Phước…, tôi được mời đến để thưởng thức các tác phẩm mới Nhạc sĩ Lê Khắc Thanh Hoài trình bày một sáng tác mới soạn theo loại bán cổ điển Tây phương, ca khúc: Đời Em Là Một Dòng Sông, Lê Khắc Thanh Hoài đệm piano, Phạm Đăng trình bày rất hay. Nhạc sĩ Đào Tuấn Ngọc trình bày ca khúc Đồi Mơ, soạn theo loại bán cổ điển Tây phương, Đào Tuấn Ngọc đệm dương cầm và Ngọc Ánh trình bày rất hay, tiếp theo là những sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Minh Châu, nhạc sĩ Phạm Đăng, Văn Tấn Phước..
.
Đến phần nhạc sĩ Jules Tambicannou trình diễn, hôm đó theo lời đề nghị của các bạn ông chơi bản Con Thuyền Không Bến của nhạc sĩ Đặng Thế Phong, là một danh thủ đệm dương cầm ở Paris nhưng nhạc sĩ Tambicannou từ chối và ông trình tấu một bản ngoại quốc khác. Lúc ra về tôi hỏi ông:
“Tại sao Toi không chơi bản Con Thuyền Không Bến? "

Nhạc sĩ Tambicannou trả lời:
“Nhiều năm sau này Moi toàn chơi nhạc Jazz, bản Con Thuyền Không Bến không có soạn hòa âm trước, sợ lúc trình tấu, hứng quá pha nhạc Jazz vào làm hỏng hồn nhạc!"

Lần khác tôi và nhạc sĩ Trịnh Hưng được nhạc sĩ Anh Huy tác giả một số ca khúc nổi tiếng trước năm 1975 và có thời dạy nhạc ở Sài Gòn mời đến nhà dùng cơm. Trong câu chuyện, nhạc sĩ Anh Huy và Trịnh Hưng tranh luận về âm nhạc, nhạc sĩ Anh Huy thách thức nhạc sĩ Trịnh Hưng sáng tác một bản nhạc, xem ai viết nhanh. Nhạc sĩ Trịnh Hưng từ chối. Ra về tôi hỏi ông tại sao không viết. Ông trả lời: “Anh Huy là lớp đàn em còn trẻ nên viết nhanh là lẽ thường, và nếu tôi viết có nhanh hơn Anh Huy thì cũng chẳng sao, nhưng nếu chậm hơn thì bẽ mặt, không viết tức là chịu thua giữ được tình anh em”

Nhạc sĩ Tam Bicannou và nhạc sĩ tiền chiến Trịnh Hưng chỉ muốn phụng sự nghệ thuật mà không màng đến sự tranh đua hơn kém.

Nhạc sĩ Minh Sơn


Nhạc sĩ Minh Sơn tên thật là Nguyễn Tịnh Trí, sinh quán ở Biên Hòa, học và lớn lên ở Sài Gòn đầu thập niên 50, sau đó sang Pháp định cư vào cuối thập niên 60 của thế kỷ trước.

Nhạc sĩ Minh Sơn tính tình rất hiền hòa và khiêm nhường. Ông rất ít nói và thích đời sống ẩn dật vui với gia đình nên ít tham dự những buổi sinh hoạt nghệ thuật tổ chức tại các hội trường lớn; Tuy nhiên thỉnh thoảng ông vẫn họp mặt thân hữu tại tư gia của ông hoặc của vài người bạn. Nhạc sĩ Minh Sơn học nhạc từ lúc còn nhỏ, ông chơi điêu luyện đàn mandoline, và viết nhạc dựa trên cây đàn này. Cách nay ba mươi năm tôi hân hạnh được quen ông trong một buổi họp mặt văn nghệ sĩ tại tư gia ông bà nhà thơ Trọng Lễ & Linh Chi (nghệ sĩ diễn ngâm). Sau đó ông đã phổ cho tôi mấy chục bài thơ thành ca khúc, trong số đó có nhiều ca khúc được đưa vào những CD của ông. Hai ca khúc được phổ biến rộng rãi ở hải ngoại và được đưa vào những CD tuyển của của nhiều nhạc sĩ hải ngoại: ca khúc Tình Muôn Thuở, Cô Đơn. Riêng ca khúc Cô Đơn của Minh Sơn đã đưa vào tập thơ Bóng Quê của tôi, do Nắng Mới, Na Uy xuất bản năm 1989.

Nhạc sĩ Minh Sơn đã chọn những bài thơ của tôi để phổ, mở đầu cho nhiều bài thơ phổ nhạc của ông về sau. Tiếng thơm đồn xa, một số nhà thơ ở Mỹ đã nghe danh ông nên gởi thơ đến nhờ ông phổ. Ông mê thơ hay, và nguồn cảm hứng sáng tác dâng trào vào lúc tuổi đời của ông đã ngoài bảy mươi, nhưng vẫn phổ hàng trăm bài thơ thành ca khúc.

Nhạc sĩ Minh Sơn viết nhạc rất dễ, những ca từ khổ độc rất khó đặt nốt đúng âm, nhưng với ông rất dễ dàng, ông đưa ca từ theo tiết tấu câu nhạc để diễn tả rõ những dấu của chữ. Điểm đặc biệt là ông viết theo lối nhạc hiện đại, câu nhạc dài và tiết tấu nhanh nhưng vẫn diễn tả rõ ý nghĩa câu chữ. Những ca khúc ông viết lời và nhạc rất hay, ca từ được trau chuốt, lời ca tha thiết tình quê hương. Ở tuổi 90 ông vẫn còn cảm hứng viết nhạc nhưng ông ngưng viết vì đã sáng tác hàng trăm ca khúc, và 15 CD. 
Ông tâm sự: “Những ca khúc của tôi là một chút tâm tình với đời, mong rằng sau này vẫn còn có người nhớ một vài ca khúc là vui.

Nhạc sĩ Nguyễn Minh Châu


Sinh quán tỉnh Sóc Trăng, sang Pháp du học vào thập niên 60 của thế kỷ trước, đỗ kỹ sư, có một vị trí trong xã hội.
Nhạc sĩ Nguyễn Minh Châu tính tình rất hiền hòa và khiêm nhường. Chúng tôi thường gặp nhau trong những buổi sinh hoạt văn nghệ ở tư gia, hay những buổi ra mắt sách ở các hội trường.

Trong lãnh vực âm nhạc:

Ngay từ lúc còn trẻ ông đã thích nhạc nhưng lại bắt đầu vào con đường âm nhạc lúc 52 tuổi. Từ một người chưa biết những nốt trên dương cầm, và biết hết những cấu trúc hình nốt trên bản nhạc nhưng bỗng trở thành một người đam mê âm nhạc nên trong nhiều năm đã đi học dương cầm, những lớp dạy hòa âm sau khi hết giờ làm việc, do đó ngón đàn đã tiến vượt bực và trở nên điêu luyện. Ông thành lập nhóm The Siliconband quy tụ nhiều nhạc sĩ và người yêu nhạc. Những năm sau này ông chơi dương cầm điêu luyện, trình tấu được một số bản nhạc cổ điển của Frédéric Chopin, Franz Schubert, Robert Schumann, Ludwig van Beethoven…

Cách nay hơn mười năm nhạc sĩ Minh Châu đã phổ cho tôi bài thơ Màu Mắt thành ca khúc trữ tình, giai điệu đặc sắc. Khi nhận được CD do ca sĩ Quỳnh Dao trình bày tôi rất xúc động vì ông đã đặt tâm hồn của mình vào lời thơ ý nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Minh Châu và người bạn đời là nhà thơ Hoàng Yến đều ăn chay trường nhưng vẫn ngồi chung bàn mặn với các bạn. Hôm cuối năm 2022, ông bà nhạc sĩ Phạm Đăng & Minh Châu có mời một số văn nghệ sĩ đến tư gia họp mặt văn nghệ cuối năm đón năm mới. Sau khi nghe những nhạc sĩ, ca sĩ trình bày tác phẩm, nhân dịp đó tôi hỏi nhạc Nguyễn Minh Châu:
“Anh sáng tác được bao nhiều ca khúc"

Nhạc sĩ Nguyễn Minh Châu:
“Tôi viết rất nhiều, khoảng trên 800 ca khúc"

Tôi hỏi:
“ Trong số những ca khúc đó có bao nhiêu bài anh phổ thơ?"

Nguyễn Minh Châu:
“Khoảng 600 bài"
Tôi hỏi:
“Làm sao anh quen biết hết số nhà thơ mà phổ cho họ?"

Nguyễn Minh Châu:
“ Ồ, tôi quen nhà thơ ở ngoài đời rất ít, nhưng quen biết trong internet thì rất nhiều, họ biết tôi rồi gởi những bài thơ của họ cho tôi, và tôi thấy có thơ là phổ."

Tôi hỏi:
“Thơ là bộ môn nghệ thuật dùng nhiều ẩn dụ ý ẩn sâu trong lời, có khi lời và ý khác nhau rất khó hiểu, có bài nào anh không hiểu mà vẫn phổ không ?"

Nguyễn Minh Châu:
“Rất nhiều, thời gian đầu tôi không hiểu lời thơ nhưng vẫn phổ vì tôi làm theo cảm hứng nhạc để phổ. Nhưng sau này tôi chỉ cảm nhận hết ý thơ của thi sĩ mới phổ".

Tôi hỏi:
“Trong những ca khúc anh viết lời và nhạc cấu trúc nhạc rất nặng tính bán cổ điển Tây phương, trong đó có những bài thật hay và giá trị. Vậy phần lời do anh nghĩ ra hay có sự tiếp tay của người khác?"

Nguyễn Minh Châu:
“Tôi tự viết lời, anh thử nghĩ tôi đọc hàng ngàn bài thơ của hàng trăm nhà thơ với thời gian dài làm sao tôi không rút tỉa được những lời hay trong thơ. Do đó ca từ trong nhạc tự nó rung cảm thoát ra trong tâm hồn tôi".

Tôi hỏi:
“Anh viết nhạc trước, hay viết lời trước, hoặc vừa viết nhạc vừa đặt lời?"

Nguyễn Minh Châu:
“Cái đó còn tùy hứng, nhạc và lời cái nào đến trước thì làm trước, thường thì đến cả lời lẫn nhạc."

Tôi hỏi:
“Anh nay ngoài tuổi thất thập, cảm hứng sáng tác còn nhiều không?"

Nguyễn Minh Châu:
“ Vài năm trở lại đây tôi ít sáng tác, gần như ngưng rồi. Không phải tôi không còn cảm hứng sáng tác, mà tôi dành thì giờ để dạy Khí Công cho học trò, và ít thời gian luyện đàn."

Tôi nói:
“Thể nào anh đánh đàn còn lả lướt lắm! ."

Nhạc sĩ Nguyễn Minh Châu dù xa quê hương hơn 60 năm nhưng ông vẫn giữ chất phù sa nơi Miền Hậu giang trái ngọt trong tâm hồn.

Nhạc sĩ Phạm Đăng


Phạm Đăng Thiện sinh năm 1945 tại Huế, bút danh Phặm Đăng.Trước năm 1975: Học và trưởng thành tại Huế, tốt nghiệp Bác sĩ Y Khoa năm 1969, động viên vào Quân Y Không Quân, tu nghiệp Aerospace Medicine, USA, B.S. Phi Hành đến 30/4/1975. Sau năm 1975 bị ba năm tù cải tạo, 7 năm làm việc tại Bệnh Viện Nhi Đồng, Sài Gòn. Ông sang Pháp cùng gia đình năm 1985 học lại Y khoa, nội trú các bệnh viện ở Pháp, và hành nghề tư từ năm 1994.
Trong lãnh vực âm nhạc, nhờ có năng khiếu và học nhạc từ thuở còn nhỏ nên Phạm Đăng rất đam mê âm nhạc, đeo đuổi âm nhạc không ngừng nghỉ, ngay cả lúc ở tù ông cũng sáng tác, ghi lại giai điệu và lời ca và sau này ở hải ngoại đã viết lại hoàn chỉnh ca khúc. Ở Pháp, trong khi hành nghề bác sĩ Phạm Đăng vẫn dành nhiều năm theo học thêm đàn dương cầm nên sử dụng dương cầm điêu luyện. Ông được những người yêu âm nhạc ở Paris và hải ngoại biết nhiều qua chất giọng thiên phú Ténor, một chất giọng rất hiếm trong giới ca sĩ Việt ở Paris, ngoài hai danh ca lão thành là Cao Thái, và Thanh Hùng từng vang bóng một thời ở Sài Gòn vào đầu thập niên 60 của thế kỷ trước. Phạm Đăng khiêm nhường tâm sự :«Tôi không có may mắn được đào tạo «chính quy» về âm nhạc, nên không có tham vọng trở thành nhạc sĩ sáng tác. Từ thuở niên thiếu, tôi yêu thích đàn hát, và từ niềm say mê đó, tôi tìm tòi học hỏi chút kiến thức âm nhạc và sử dụng đôi nhạc khí. Trong những lúc ngẫu hứng đàn ca, tôi bỗng có ý định ghi lại đôi giai điệu ngẫu hứng đó thành ca khúc, nói lên niềm rung cảm của mình. Với suốt một đời yêu thích âm nhạc và thi ca, tôi chỉ xem sự đóng góp của mình cho nền văn học nghệ thuật nước nhà thật là quá nhỏ bé so với rất nhiều tài danh khác.»

Sinh hoạt Văn học Nghệ thuật:

Năm 1992 tôi ra thi phẩm Buồn Viễn Xứ, và năm 1998 thi phẩm Bóng Quê đều tại Hội trường Quốc Tế Paris, khách tham dự là những người yêu thích văn học nghệ thuật. Ngày đó rất nhiều khuôn mặt văn nghệ sĩ nổi tiếng ở Paris đến giúp tôi thực hiện chương trình thơ nhạc chủ đề: Nhà thơ Phương Du, nhà thơ Hồ trọng Khôi, nhà thơ Hoài Việt, nhà văn Từ Nguyên, nhạc sĩ Xuân Lôi, nhạc sĩ Anh Việt Thanh, nhạc sĩ Xuân Vinh, nhạc sĩ Jules Tambicannou, nhạc sĩ Xuân Giao, nhạc sĩ Đào Tuấn Ngọc, nhạc sĩ Bửu Phôi, nhạc sĩ Lê Khắc Thanh Hoài, nhạc sĩ Lê Phương, nhạc sĩ Nguyễn Đình Tuấn, nhạc sĩ nguyễn Thiện, nhạc sĩ Đoàn Văn Linh, nhạc sĩ Quỳnh Hạnh, nhạc sĩ Minh Nhật, nhạc sĩ Lê Như Quốc Khánh. Danh ca Thanh Hùng, Danh ca Kim Nga, danh ca Họa Mi, danh ca, Mỹ Hòa, danh ca Thiên Nga, ca sĩ Kim Thu, nghệ sĩ Diệu Khánh, nghệ sĩ Thụy Hương, nghệ sĩ Thúy Hằng, nghệ sĩ Trần Tam Nguyên, nghệ sĩ Ngân Đoài, và Phạm Đăng. Những nhạc sĩ đã cảm thơ tôi phổ thành ca khúc: Anh Việt Thanh, Đào Tuấn Ngọc, Lê Phương, Nguyễn Đình Tuấn, Xuân Vinh, Trịnh Hưng, Lê Khắc Thanh Hoài, Nguyễn Minh Mạch, Minh Sơn, Quách Vĩnh Thiện, Trần Văn Toàn, Anh Huy, Bửu Phôi, Nguyễn Minh Châu, Văn Tấn Phước và Phạm Đăng..

Tuyển tập Ca Khúc Phạm Đăng gồm 19 ca khúc hay và đặc sắc. Về mặt cấu trúc nhạc:

Hầu hết những ca khúc Phạm Đăng viết ra đều dựa trên dương cầm nên giai điệu sang, có âm hưởng theo lối bán cổ điển Tây phương. Những ca từ do chính Phạm Đăng viết rất chọn lọc, lời đẹp như thơ. Những ca từ viết lời cho những bản nhạc cổ điển rất hay, như thơ hòa nhạc. Trong số những bài thơ được phổ thành ca khúc đó có hai bài thơ của tôi. bài thơ Khách Quê, Phạm Đăng đã phổ và do tác giả đệm dương cầm, ca sĩ Tuyết Dung trình bày trong buổi họp mặt văn nghệ sĩ tại tư gia của anh. Ca khúc có lời buồn sâu lắng, hòa vào giai điệu buồn làm xao xuyến tâm hồn những người có một thời ghi dấu chân trên miền cao nguyên xứ lạnh Đà Lạt... "Đứng giữa trời quê mà thấy lạ. Phải chăng hồn nước đã bay xa. Người quen lối cũ bao kỷ niệm. Chẳng lẽ thời gian cũng xóa nhòa. Tháng chín bên này hoa tím nụ. Nhụy tàn ta cảm kiếp phù du. Cửu Long bến nhạc màu nhung nhớ. Viễn khách đò xưa bóng khuất mù.". Bài Tuyết Trắng Chiều Đông là bài thơ 5 chữ mang tính kể lể một câu truyện. Thơ năm chữ cũng như thơ lục bát dễ phổ nhưng khó hay và đặc sắc, vì thanh bằng trắc trong thơ sẽ làm giai điệu của ca khúc dễ giống với những bài thơ năm chữ nổi tiếng khác.

Ca khúc Khách Quê làm người nghe bùi ngùi, lưu luyến nhớ quê, thì ca khúc Tuyết Trắng Chiều Đông có giai điệu đặc sắc, trữ tình, dìu dặt êm dịu như một bản dương cầm.
Trong suốt mấy chục năm liên tục, Phạm Đăng là người tích cực tham gia rất nhiều sinh hoạt văn hóa văn nghệ ở Paris, và thường tổ chức những buổi họp mặt văn nghệ sĩ tại tư gia. Phạm Đăng và phu nhân là cựu Luật sư Dương Minh Châu luôn là nhịp cầu thân thiện để đón những tâm hồn nghệ sĩ tìm đến nhau tạo thành một khoảnh không gian nhỏ để hơ ấm tình tha hương. Ngoài những lần sinh hoạt với các hội đoàn phụng sự văn học nghệ thuật. 

Nhạc sĩ Phạm Đăng và tôi còn có những sinh hoạt chung. Chiều 04/10/2015 tại sân khấu Nhạc Kịch Studio Raspail số 216 đường Raspail, Paris quận 14 tổ chức một chương trình văn học nghệ thuật: Chiều Thơ - Nhạc Đỗ Bình & Phạm Đăng với chủ đề Tác Phẩm và Tác Giả.

Đỗ Bình, GS Quỳnh Hạnh, Họa sĩ Nguyễn Đức Tăng, GS Nguyễn Thanh Vân

Hôm đó khán phòng đầy người, khoảng trên 200 người tham dự, khách mời chọn lọc là những khuôn mặt quen thuộc trong giới trí thức văn nghệ sĩ Paris. 
Bên trong khán phòng trang trí rất đẹp, những hàng ghế đỏ, bờ tường với kỹ thuật âm thanh tuyệt hảo của một phòng nghe nhạc, không có tiếng dội. Trên sân khấu cánh màn nhung đỏ thắm với giàn đèn thay màu theo bối cảnh. Âm thanh được chuyên viên phụ trách do đó rất lý tưởng cho một buổi trình tấu nhạc. Điều khiển chương trình là LS Dương Minh Châu, Bà đã quá quen thuộc vai trò MC trong các chương trình liên quan đến văn học nghệ thuật. Chương trình bắt đầu vào lúc 14 giờ. Trưởng ban tổ chức, nhà thơ Đỗ Bình ngỏ lời cám ơn cùng quan khách:"Sự hiện diện của quý vị là một niềm khích lệ lớn lao cho sinh hoạt văn học nghệ thuật của chúng ta", đồng thời nhạc sĩ Phạm Đăng cũng phát biểu:" Chúng tôi xin cám ơn sự hiện diện của CLBVHVN Paris cùng các văn nghệ sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ, bạn bè thân hữu và các chuyên viên kỹ thuật đã vui lòng tham gia, đồng tâm góp sức để cho buổi sinh hoạt hôm nay được hoàn thành. Có những vị đến từ xa như đôi bạn nhạc sĩ Hoàng Hoa đến từ Venise (Ý), và ca sĩ Thụy Uyển đến từ Hannover (Đức).v.v."

Nhạc sĩ đã sáng tác nhiều ca khúc và phổ nhiều thơ. Tiêu biểu là Tuyển tập Ca Khúc Phạm Đăng:

Nhạc & Lời:
Chiếc Lá Cuối Mùa, Cõi Nhớ, Dòng Thời Gian, Một Đời Phiêu Lãng, Một Thoáng Hương Phai, Nhạc Chiều.
Nhạc Phổ Thơ:
Cảm Ơn Đời, thơ Trần Đan Hà - Đò Vọng, thơ Minh Đức Triều Tâm Ảnh - Giục Giã, thơ Xuân Diệu - Khách Quê, thơ Đỗ Bình - Nhòa Vơi, thơ Lưu Nguyễn Đạt - Tuyết Trắng Chiều Đông, thơ Đỗ Bình.
Nhạc: Hồng Anh, Lời: Phạm Đăng:
Dáng Mẹ, Tiếng Hát Trong Chiều.
Nhạc cổ điển Tây phương, Phạm Đăng soạn thành ca khúc và viết lời Việt:
Chiều Mơ (Serenata – Toselli)
Chiều Nhớ (Sérénade Schubert).
Mộng Mơ (Rêverie- Schumann).
Tiếng Đàn Đêm ( Nocturne En Bb - Chopin).
Trăng Đêm ( Clair de Lune-Debussy).
Những Sáng tác mới:
- Hương chiều thu, Nhạc và lời Phạm Đăng
- Gửi nắng cho anh - phổ thơ Hà xuân Tế
-Cung buồn (Tristesse - Chopin ) Lời Việt PĐ
-Đêm nghe đàn Chopin ( Nocturne en C#m - Chopin )
-Ơn mẹ ( Ave Maria - Gounod sur Prélude de Bach ) -Trăng mơ (Moonlight Sonata - Beethoven).

Nhạc sĩ Văn Tấn Phước


Ông là Người Việt nhưng sinh trưởng tại Lào và sang định cư ở Paris trước năm 1975. Ông là anh trưởng trong một gia đình toàn là nghệ sĩ nổi tiếng ở Paris vào thập niên 90 của thế kỷ trước trong đó có Văn Tấn Phát, Văn Tấn Sỹ. Anh em ông được công chúng người Việt Paris và hải ngoại biết đến qua CD nhạc với chất giọng đặc biệt của Văn Tấn Phát, Văn Tấn Phước, nhất là Văn Tấn Phát với ca khúc quê hương thời đó và làm tài tử đóng phim.

Ca nhạc sĩ Văn Tấn Phước tính tình hiền hòa, rất khiêm nhường. Ông rất đa tài ngoài trời phú cho chất giọng đặc biệt, ông còn có khoa tay viết thư họa rất đẹp. Ông sáng tác nhạc rất ít nhưng những ca khúc đều hay và giá trị. Ông rất quý tôi nên vẽ tặng tôi bức thư họa như rồng bay phượng múa. Năm 2000 ông phổ thơ của Hoàng Yến bài Trở về thành ca khúc. Sau đó là bài thơ Bên Em Chiều Mơ của tôi được ông phổ thành ca khúc và trình bày trong CD. Bài thơ đã chứa chất sầu, được ông phổ giai điệu buồn cùng chất giọng Huế âm hưởng thể điệu Nam Ai của ông làm ca khúc càng tăng thêm nỗi niềm xa xứ. Ca khúc Pais Paris điệu Valse mang sắc thái và âm điuệ tây phương đậm chất Paris đã đưa tên tuổi ông đến công chúng. Ca khúc Paris Paris, nhạc và lời của ông còn được phổ biến trên đài phát thanh RFI và đài phát thanh Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Pháp.

Các bài thơ phổ nhạc: Buồn Đêm Mưa, thơ Huy Cận; Tình Quê, thơ Hàn Mặc Tử; Ngập Ngừng, thơ Hồ Dzếnh, Chân Quê, thơ Nguyễn Bính.

 

Nhạc sĩ Đình Đại


Ca Nhạc sĩ Đình Đại thuộc thế hệ trẻ, là khuôn mặt nổi tiếng ở Paris trong lãnh vực ca, nhạc, kịch. Ông sử dụng quen thuộc đàn dương cầm và guitare, tự đàn cho mình hát. Đình Đại là một trong số Nam ca sĩ có chất giọng hay nhất Paris hiện thời. Nhạc sĩ Đình Đại bắt đầu sáng tác nhạc Việt những năm sau này, đã ra được 2 CD nhạc của mình, và một CD nhạc tuyển cùng với các nhạc sĩ ở hải ngoại. Ngoài ra ông còn phổ nhiều bài thơ của các nhà thơ hải ngoại. Những ca khúc sáng tác của Đình Đại rất hay, nặng tình với Quê hương nên mang giai điệu độc đáo, sắc thái riêng. Những năm gần đây ông bước thêm sang lãnh vực nhà tổ chức, báo hình, youtube, làm những phóng sự từ văn hóa, thời cuộc đến xã hội. Dù ở lãnh vực nào chất nghệ sĩ trong con người Đình Đại vẫn tỏa sáng nghệ thuật.

Nhạc Sĩ Trang Bá Tùng


Trang Bá Tùng là một nhạc sĩ có tài nhưng rất khiêm nhường, tính đôn hậu, hay giúp tổ chức những sinh hoạt văn hóa, văn nghệ cộng đồng nhưng không bao giờ phát biểu. Ông có năng khiếu về âm nhạc từ thuở nhỏ nên sử dụng điêu luyện nhiều loại đàn. Thời mới lớn, ông gia nhập vào làng báo Paris, và là một trong Ban biên tập Báo Ngày Mới, một tạp chí chuyên về văn học nghệ thuật, gồm những nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo nổi tiếng ở Paris. Ông cũng là thành viên trong những người chủ trương Báo Ngày Mới, cùng với nhà văn Diễm Thy và nhà báo Lê Trân. Nhạc sĩ Trang Bá Tùng nổi tiếng ở Paris trước năm 2000. Là một nhạc sĩ chuyên nghiệp thường xuyên chơi nhạc trong các phòng trà, những tụ điểm nhạc Việt ở paris. Trên 30 năm sinh hoạt văn học nghệ thuật, Trang Bá Tùng đã góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc ở hải ngoại.

Đỗ Bình

Nhà thơ Đỗ Bình, Thúy Hằng



Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2026

Những Vì Sao Băng

Câu chuyện văn học

Paris là thủ đô ánh sáng, từ xa xưa đã được mệnh danh là cái nôi của văn hóa  thế giới, vì nơi đây ngoài sự quy tụ những tài năng của thế giới, trong viện bảo tàng quốc gia còn cất giữ những bộ sách, tranh , ảnh và những phẩm vật mang giá trị văn hóa của nhân loại. Một số viện bảo tàng Pháp trưng bày một số bộ sách Việt Nam đủ các thể loại, từ lịch sử, nghiên cứu, những sách về văn học nghệ thuật đến các tranh, ảnh, điêu khắc và  các loại đàn dân tộc.
Trong sinh hoạt văn học nghệ thuật ở Paris có rất nhiều giai thoại hay, nhưng ít được phổ biến.
Cách nay gần 40 năm, thuở đó sinh hoạt văn hóa văn nghệ của người Việt ở Paris nở rộ như vườn hoa muôn sắc, chẳng có tuần lễ nào mà không có những tổ chức lễ hội, trình diễn văn nghệ, hoặc ra mắt tác phẩm, tất cả những nơi tổ chức đều rất đông người tham dự.

Lãnh vực Truyền Thông:
Đài Radio Sài Gòn, do BS Trần Duy Tâm phụ trách. Ban biên tập: TS Trần Bình Tịnh, Nhạc sĩ Trần Văn Trạch, GS Nguyễn Vô Kỷ, Nhà văn Đỗ Bình. Nhà biên khảo Nguyễn Đức Tăng. Đài Radio Á Châu, do Nhà báo Tô Vũ phụ trách. Ban biên tập: GS Nguyễn Ngọc Chân, Nhà báo Nguyễn Thừa Thính. Và Đài Radio International của Pháp, Ban Việt ngữ do Nhà báo Bạch Thái Quốc Phụ trách: Ban biên tập Việt ngữ quy tụ nhiều phóng viên, ký giả giỏi nghề như KS Võ Long Triều, GS Nguyễn Vô Kỷ, GS Nguyễn Bảo Hưng, GS Quản Mỹ Lan, Nhà phê bình văn học Thụy Khuê, Nhạc sĩ Thanh Phương, (KS Võ Long Triều và GS Nguyễn Vô Kỷ chỉ làm một thời gian ngắn bị loại vì đưa quá nhiều tin tức chống cộng)….
Thuở đó báo chí Việt ngữ ở hải ngoại lên ngôi, nhất  là ở Mỹ, tuy nhiên ở Paris rất ít tờ báo Việt ngữ phát hành, vì thiếu người làm báo. (Làm nghề riêng, lấy tiền nuôi báo)
Báo chí:
Tạp chí Tự Do, tạp chí Quê Mẹ, tạp chí Văn Nghệ, Tạp chí Ngày Mới, tạp chí Đường Mới, tạp chí Chuyên đề : Định Hướng, tạp chí Vùng Dậy, tạp chí Văn Lang, tạp chí Diễn Đàn Người Việt, tạp, tạp chí Chiến Hữu, tạp chí Thông Luận, tạp chí Viễn Tượng, tạp chí Diễn Đàn, tạp chí Âu Du, tạp chí Lính, Đặc san Ái hữu Petrus Ký, Đặc san Ái hữu Gia Long Paris, Đặc san Lê Ngọc Hân & Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho, Báo Nhân Bản, Báo Ái Hữu, Báo Khánh Anh, báo Giáo xứ, Báo Y Sĩ, Báo Bạn Đường, Báo Ép Phê… Báo Pháp ngữ Nhân Quyền, nhật báo song ngữ Tin tức….
Người làm báo và ký giả:
 Người làm báo và viết báo không nhiều, đa số người viết báo là những nhà trí thức khoa bảng viết những bài biên khảo mang tính nghiên cứu về văn hóa. Những người làm phóng sự viết tin và viết chính luận cũng rất ít. Có thể kể tên những người nổi tiếng làm báo và viết báo:
Nhà báo và làm báo An Khê, Nhà báo và làm báo  Trần Văn Ân, Nhà báo và làm báo Phạm Việt Tuyền, nhà báo và làm báo Trần Tam Tiệp, Nhà báo và làm báo  Trần Văn Ngô, Nhà báo và làm báo Võ Văn Ái,  Nhà báo và làm báo Trần Trung Quân, Nhà báo Nguyễn Trần, Nhà báo Thế Huy, Nhà làm báo Hứa Vạng Thọ, Nhà báo và làm báo  Ngô Quốc Dũng, Nhà báo và làm báo Phạm Hữu, Nhà làm báo Đỗ Việt, Nhà báo và làm báo Từ Ngọc Lê, Nhà báo và làm báo Dương Văn Lợi, Nhà báo Phan Ngọc Khuê, Nhà báo Từ Thức, Nhà báo Bùi Tín, Nhà báo và làm báo Nguyễn Văn Huy, Nhà báo và làm báo Huỳnh Tâm, Nhà báo và làm báo Lê Trân, Nhà báo và làm báo Tô Vũ, Nhà báo và làm báo  Nguyễn Đình Nhân, nhà báo và làm báo Trần Minh( Luật gia Đoàn Trần Thiều), nhà báo và làm báo Kim Long, nhà báo và làm báo Lê Đình Điểu, nhà làm báo Phạm Xuân Hy, nhà làm báo, viết báo Thiên Ân (cựu Trung tướngTrần Văn Trung), nhà làm báo Nguyễn Vân Xuyên, nhà làm báo Hoàng Thụy Long, nhà làm báo Nguyễn Đưc Tăng,  nhà làm báo Đỗ Bình(tôi làm chủ bút tạp chí Vùng Dậy, chủ nhiệm là cựu Trung tướng Trần Văn Trung và nhà văn NguyễnVân Xuyên), nhà làm báo Phạm Văn Đức,  Nhà báo và làm báo Võ Long Triều, Linh mục làm báo Trần Thanh Giản, Nhà báo và làm báo Đặng Phương Nghi, Nhà báo Từ An, Nhà báo và làm báo Diễm Thy, Nhà báo và làm báo Ỷ Lan, Nhà báo Hà Lan Phương,  nhà báo Việt Dương Nhân, , Phương Mai, nhà báo Ca Dao…
*
Trong tinh thần văn hóa Việt dâng cao đó, có một người rất tài năng, nhưng thầm lặng vì bản tính khiêm nhường. Ông luôn sát cánh trong sinh hoạt văn hóa, báo chí với bằng hữu, đó là Dịch giả, nhà nhiên cứu Hán Nôm Phạm Xuân Hy, bút hiệu Bạch Phát Tú Tài.

Vài Nét về  Nhà nghiên cứu văn hóa Phạm Xuân Hy:

Dịch giả Phạm Xuân Hy sinh ở Bắc Việt, di cư vào Sài gòn năm 1954, sống ở khu Chợ Vườn Chuối, quận 3. Ông là cựu học sinh Chu Văn An , và Đại học Văn Khoa Sài gòn. Trước năm 1975 ở Sài gòn ông viết truyện ngắn liêu trai, và dịch những truyện ngôn tình của Trung Hoa sang Việt ngữ với bút danh Bạch Phát Tú tài.. Đa số truyện dịch của ông là truyện phổ thông của Trung Hoa qua ngôn ngữ Bạch văn, đọc là hiểu ngay, ông còn dịch những truyện ngắn mang tính Hàn lâm ngôn ngữ bác học nhiều điển tích và ẩn ý khó hiểu, các tác phẩm của ông được đăng trên các báo văn nghệ ở Sài Gòn và các tạp chí văn học ở hải ngoại sau này.
Trong suốt mấy chục năm ông sinh hoạt trong lãnh vực văn hóa, có mặt trong nhiều buổi hội luận về văn học, nhưng ông chưa hề phát biểu một câu. Ông thầm lặng như chiếc bóng trong đám đông. Tôi có hỏi ông: «Tại sao anh không phát biểu góp ý ? ». Ông chỉ cười nhẹ nhàng trả lời: «Các Cụ ấy nói hay quá, tôi đến để nghe và học hỏi thêm  những điều mình chưa biết.». Bạch Phát Tú Tài luôn luôn khiêm tốn, ngay cả cái bút danh của anh có nhiều người đã quên, hoặc chưa bao giờ nghe nhắc đến. Ở Paris có rất nhiều người như thế, rất tài năng nhưng họ chỉ muốn được thầm lặng để hòa đồng trong đám đông người đồng hương, để tìm cái không gian văn hóa của quê hương.

Trong sinh hoạt văn học nghệ thuật của CLB Văn Hóa VN Paris năm xưa, giáo, sư nữ sĩ Minh Châu Thái Hạc Oanh có lần phát biểu: «Một bài thơ được gọi là hay phải đạt được cả Ý lẫn Lời. Những cái đẹp của bài thơ có thể nhìn thấy được như : Niêm luật, ngôn ngữ, hình tượng hội họa, nhạc thơ trong thanh bằng trắc và tính nhạc trong thơ, nhưng đó chỉ là phần mỹ học ; Còn phần tư tưởng nằm trong tứ thơ, đây là phần để chúng ta  đánh giá về sự sâu sắc của một bài thơ.»
Nhà văn Hồ Trường An phát biểu: «Đọc một cuốn truyện ngoại ngữ, nếu chỉ để hiểu cốt truyện theo cảm xúc thì dễ, nhưng đọc để tìm ra những cái tinh hoa và tư tưởng ẩn trong truyện thì rất khó, người đọc phải chăm chú đọc kỹ hơn mới thấy được giá trị thực của tác phẩm.»
Nhà nghiên cứu văn hóa Hán Nôm Phạm Xuân Hy làm trong tạp chí Diễn Đàn Paris, phụ trách phát hành. Tờ báo quy tụ những khuôn mặt văn nghệ ở Paris như Nhà báo Lê Đình Điểu, họa sĩ Nguyễn Cầm, họa sĩ Lê Tài Điển, nhà thơ Đỗ Bình, nhà báo Từ Ngọc Lê, dịch giả Bạch Phát Tú Tài.. Tạp chí do nhà báo Lê Đình Điểu chủ trương thuần về văn học nghệ thuật.
Về Mặt Kiến Thức:
Dịch giả Phạm Xuân Hy là người uyên bác, kiến thức sâu rộng. Có thể nói ông là một trong số rất ít người Việt ở Paris giỏi chữ Nôm. Những vị khác ở Paris giỏi Chữ Nôm như: Giáo sư Đoàn Đức Nhân, ông là cựu giáo sư Đại học ở Hồng Kông, Đài Loan và Paris. Chính GS Nhân đã chỉ dạy thêm chữ Nôm cho Phạm Xuân Hy. Những người giỏi chữ Hán như GS Hoàng Xuân Hãn, GS Trần Văn Bảng, bút hiệu Bằng Vân, nhà thơ  Phượng Linh Đỗ Quang Trị, BS Nguyễn Đương Tịnh, bút hiệu Trúc Cư, Linh mục Đinh Đồng Thượng Sách, nhà văn Trần Đại Sỹ…
Có lần Học giả Trần Văn Tích ở Đức quốc, được chúng tôi mời sang Paris để thuyết trình về một đề tài văn hóa. BS Tích đã hết lời khen ngợi kiến thức sâu rộng và sự tìm tòi, nghiên cứu về chữ Nôm của dịch giả Phạm Xuân Hy. Một lần khác chúng tôi sinh hoạt CLB, đã mời giáo sư  Lê Hữu Mục, cựu giáo sư Hán Nôm của Đại học Văn Khoa Sài gòn trước năm 1975, đang định cư ở Canada qua Paris diễn thuyết về đề tài văn hóa, lần đó giáo sư Mục đã khen ngợi ông Phạm Xuân Hy là nhà văn hóa Việt. Khi chúng tôi thực hiện cuốn Những Khuôn Mặt Văn Hóa VN Hải Ngoại, dày 1500 trang, quy tụ hơn 400 nhà văn hóa Việt ở hải ngoại, chúng tôi có đến nhà của dịch giả Phạm Xuân Hy để mời góp tiểu sử và thành quả vào sách, nhưng ông đã khiêm nhường, từ chối. Ông nói :«Xin để số trang sách dành cho những người đã đóng góp tích cực cho văn hóa dân tộc hơn ông."

Vào mùa hè năm 2024 chúng tôi có tổ chức một buổi diễn thuyết về đề tài Chữ Nôm,  chúng tôi mời diễn giả là giáo sư Nguyễn Văn Sâm từ Cali sang. GS Sâm, giảng dạy về Hán Nôm, là cựu giáo sư của trường Đại học Văn Khoa Sài gòn trước năm 1975, và sau này ở hải ngoại.
Nhà văn hóa Phạm Xuân Hy dù sức khỏe kém nhưng vẫn đến tham dự. Để đáp lễ, chúng tôi gồm nhà biên khảo Nguyễn Đức Tăng, BS Nguyễn Bá Linh, giáo sư Nguyễn Văn Sâm và Tôi cùng đến nhà thăm nhà văn hóa Phạm Xuân Hy. GS Nguyễn Văn Sâm rất vui khi thấy hơn 100 bộ sách bằng Chữ Nôm. Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau về chuyện văn học, riêng GS Sâm thì mải mê đọc sách. Đây là những bộ sách hiếm qúy của gia đình mà nhà văn hóa Phạm Xuân Hy khi rời Việt Nam mang theo và còn cất giữ. Có thể nói ở Paris, kể cả viện bảo tàng,  nhà của ông Phạm Xuân Hy có nhiều bộ sách chữ Nôm nhất.

Tôi lấy một cuốn sách trong tủ sách rồi yêu cầu nhà văn hóa Phạm Xuân hy đọc lớn và giải nghĩa cho chúng tôi nghe. Ông Hy cầm sách vaà đọc làu làu như đang diễn thuyết. GS Nguyễn Văn Sâm ngưng đọc sách và nói : « Chữ Nôm viết đã khó, còn đọc rõ ràng và nhanh như ông Hy lại càng khó hơn. Phải giỏi lắm mới được như thế. »
Những năm tháng cuối đời, nhà văn hóa Phạm Xuân Hy thường hay phôn nói chuyện với tôi, ông nhắc về nhà thơ Du Tử Lê, nhạc sĩ Vũ Thành An, nhà báo Lê Đình Điểu và những người bạn văn nghệ người còn người mất. Ông thích Du Tử Lê, Lê Đình Điểu vì những người này dù ở đỉnh danh vọng nhưng vẫn không quên ông là người bạn thời thanh xuân. Mỗi lần Du Tử Lê qua Paris ra mắt tác phẩm tôi đều giới thiệu tác phẩm của ông. Những lần đó Nhà thơ Du Tử Lê đều ở nhà Phạm Xuân Hy.
*
Paris đã vào xuân, tiết trời đang ấm áp bỗng dưng đổ lạnh, mưa, gió cả tuần làm Paris ướt sũng! Tôi thương cảm cho một bạn làm báo khi xưa nay tuổi già, mắt bị lòa sống trơ trọi một mình nơi một làng nhỏ ven biển ở Perpignan. Anh không còn nhìn thấy số để bấm điện thoại.
Một người bạn văn khác, ông có một thời vang bóng hải ngoại, nay sống một mình không người đồng hương trong viện dưỡng lão của một thành phố nhỏ thuộc miền Nam nước Pháp. Tôi gọi phôn thăm anh, anh cầm điện thoại, mãi 15 phút sau anh mới nói được! Tôi xúc động, một nhà phê bình văn học,  một triết gia, một diễn giả được mọi người sủng ái khắp nơi. Đã từng được mời đến Paris, Cali, và Úc diễn thuyết, nay ông mở miệng nói không ra lời! Sau khi lấy lại được tinh thần tôi hỏi ông :  «Anh bị đau cuống họng sao nói không được ?». Anh trả lời : Có đau gì đâu, lâu quá không nói chuyện nên quên nói !»  
Tôi hỏi : Anh nói tiếng Pháp rất giỏi, sao không nói chuyện với các người bạn Pháp ?»
Ông trả lời:« Họ già rồi, nói chuyện chán lắm, không hợp!"
Tôi im lặng, vì biết người bạn cao niên của tôi năm nay đã 94 tuổi không tìm được người đồng điệu. Cả đời ông đi tìm cho mình một triết thuyết, đó là Lẽ Đạo, nhưng,  có lẽ con đường đó còn xa lắm, nó chỉ hiện hữu trong tâm tư của ông.»
Ông hỏi đến vài người bạn văn ở Paris làm tôi bùi ngùi!
  • Những người yêu thơ văn, trân trọng với văn học nghệ thuật lần lượt ra đi làm cho không gian văn nghệ ngày càng nhạt màu sắc quê hương. Những tác phẩm văn học được trúng giải, những buổi triển lãm tranh, ảnh theo những chiếc cúp lịm vào thời gian. Những người nhạc sĩ lừng danh thời tiền chiến đã vào thiên cổ, những bàn tay lướt trên dương cầm tạo cho Paris  màu sắc quê hương, nay người mất, người còn, mười ngón tay trở nên lạc lõng, cứng vì thiếu vắng người tri âm. Những buổi diễn thuyết vẫn đông người nhưng không cần nói bằng tiếng Việt, vì người tham dự đã hòa điệu văn hóa người, hiểu tiếp Pháp hơn tiếng Việt. Thời huy hoàng văn nghệ đã tắt như ánh sao băng, cho dù mảnh tinh tú vĩ đại đó có to lớn nhưng vẫn chẳng để lại trên vòm trời vệt sáng mờ !
Mới hôm nào BS Hoàng Cơ Lân giã từ cõi đời về nơi an lạc, nay nhà văn hóa Phạm Xuân Hy cũng bỏ chốn văn chương trần thế, hồn bay về tìm sự an bình nơi nước Chúa.
Xin cầu chúc hương hồn những người đã khuất được trọn đời an nghỉ, và những người còn tại thế một sự bình an.
Đỗ Bình
19.05.2026

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2026

Trăn Trở

 

Tháng tư gió lạnh phương này
Bỗng dưng ta muốn thật say quên đời
Rượu chưa nhấp, lòng chơi vơi!
Đã nghe tiềm thức vọng thời tóc xanh.
Chiến trường sinh tử mong manh
Mịt mù khói lửa vây quanh lối về!
Bạn bè bỏ lại cõi mê
Hồn phiêu rũ sạch lời thề năm xưa.
Còn ta ngơ ngẩn bốn mùa
Ngồi đây gẫm cuộc được thua tháng ngày
Xót đàn chim hạc chân mây
Bờ quê biển đảo đổi thay chia lìa!
Bãi hoang vùi dấu mộ bia
Đồi xưa cỏ mọc buồn kia lưng trời!
Đời như con sóng ngàn khơi,
Nâng tay ôm mặt khóc cười thế nhân,
Tháng tư buông súng nhục nhằn,
Về đây thao thức... chùm chăn mấy lần
Tha hương nghìn dặm gian truân,
Đời như sóng rẽ cũng phần lanh quanh!
Bao năm thiên hạ tranh giành
Riêng ta làm gã tốt xanh hững hờ…
Mê thơ hồn vẫn ngu ngơ
Ở đây lắm kẻ trở cờ rất nhanh!
Mùa xưa câm nín đã đành
Thời nay lại gặp cá con rối đời!
Xuân sang nhảy nhót vui chơi
Hạ về ca hát quên thời xa xăm
Tháng tư đốt nén hương trầm
Trong tim để khóc âm thầm cố hương.
 


Đỗ Bình