Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Hoài Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Hoài Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 20 tháng 7, 2022

Haiku - 102 bis



Hoa dại ven đường
Ghé tay hái vội
Thơ

***

Bờ vai người đợi
Chiều nay mưa rơi
Môi

***

Thịt da gửi lại
Hương người mang theo
Yêu

***

Một phút nâng niu
Một đời đắp mộ
Buông

Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam

Thứ Tư, 29 tháng 9, 2021

Mùa Hoa Mận Trắng


Tháng mấy mùa hoa mận nở
Nhớ không anh phía trước sân nhà
Và con đường hai buổi ngày qua
Che bóng mát em về khi nắng

Hoa mận trắng như lòng giấy trắng
Em viết gì khi nhớ người ta
Cũng một lần ánh mắt trông xa
Như khẽ nói, ừ thì thương quá!

Ngày với tháng thay mùa theo lá
Ta theo nhau mấy biển mấy ngàn
Như hoa nở mấy lần đơm trái
Trước sân nhà nay vắng người sang...

Hoa vẫn trắng bao mùa thương nhớ
Có hôm về ghé lại vườn xưa
Cây vẫn xanh đời lá thay mùa
Em như lá mấy mùa ngóng đợi

Bến sông nhỏ bóng chiều vời vợi
Chuyến đò đưa khách một mùa xa
Hoa mận rơi trắng dưới sân nhà
Lòng em vẫn ngày xưa giấy trắng..!

Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam


Thứ Tư, 25 tháng 8, 2021

Mùa Vu Lan Năm Nay

 

Mùa Vu Lan Mẹ cúi đầu xuống thấp
Bên xác chồng trong nỗi lặng thinh
Mùa Vu Lan Mẹ không còn nước mắt
Khóc cho con trong câm nín tội tình!

Cuối tháng Tám, 2021
Nguyễn Hoài Nam


Thứ Sáu, 13 tháng 8, 2021

Linh Hồn Ngôn Ngữ

1. Nhà văn Cao Hành Kiện:

Nhà văn Cao Hành Kiện

    Giải Nobel Văn Chương thường được trao cho các nhà văn đã đem lại "một hình ảnh rõ rệt về cuộc sống của con người cũng như một lý tưởng cao đẹp". Năm 2000 khi trao giải thưởng Nobel Văn Chương cho Cao Hành Kiện (Gao Xingjian), một nhà văn Trung Hoa lưu vong hiện có quốc tịch Pháp. Viện Hàn Lâm Thụy Điển đã đưa ra nhận định rằng "tác phẩm của ông có tầm ảnh hưởng quốc tế, ghi đậm nét một nhận thức chua chát và một bút pháp tài tình, vạch ra những con đường mới cho nghệ thuật tiểu thuyết và kịch nghệ Trung Hoa". 

    Đã có vài nhà văn Á châu đoạt giải Nobel văn chương như Rabindranath Tagore (1913), Yasunari Kawabata (1968), Kenzaburo Oe (1994), nhưng đây là lần đầu tiên Hàn Lâm Viện Thụy Điển trao giải cho một người Trung Hoa, mà lại là một người Trung Hoa đã từ bỏ đảng Cộng Sản, sống nương náu tại Paris, viết cả tiếng Trung Hoa lẫn tiếng Pháp.

    Ông sinh tại Cống Châu, Giang Tây vào năm 1940, năm của một nước Trung Hoa loạn lạc trong khung cảnh cuộc chiến Trung Nhật. Có lẽ giống nhiều đứa trẻ Á châu sau này, ông đã chào đời, như lời mẹ ông nói với ông, " ngay trong lúc máy bay đang thả bom". Cuộc sống của ông bắt đầu trong bom đạn và tiếp diễn trong xáo trộn, chống đối, đàn áp, trốn chạy... Đúng, hầu như lúc nào cũng trốn, cũng chạy...như tựa đề của cuốn sách "Kẻ Trốn Chạy" của ông. Ông nói : " Tôi là kẻ tị nạn từ thuở lọt lòng mẹ.".

Hình ảnh lịch sử tại quảng trường Thiên An Môn năm 1989

    Ông ly khai đảng cộng sản Trung Hoa năm 1989 khi cộng sản Trung Quốc mang xe tăng đàn áp những người biểu tình ở quảng trường Thiên An Môn. Ông sống lưu vong tại Pháp và tiếp tục sự nghiệp văn chương của ông với những tác phẩm viết cả bằng tiếng Trung Hoa lẫn tiếng Pháp. Năm 1992, ông lãnh Huân Chương Nghệ Thuật và Văn Chương và năm 1994 ông đoạt Giải Cộng Đồng Pháp của Vương Quốc Bỉ với tác phẩm "Kẻ Miên Hành" và Giải Tân Niên của cộng đồng Trung Hoa năm 1997 với tác phẩm "Linh Sơn" (Soul Mountain). Ông lấy quốc tịch Pháp vào năm 1998 và sống tại một căn phòng tầng thứ 18 của một chung cư tại Paris, thành phố mà ông cho là nơi trú thân lý tưởng nhất cho những tâm hồn nghệ sĩ khát vọng tự do và sáng tạo. Từ căn phòng của ông, như lời ông nói, ông có thể nhìn ngắm tháp Eiffel với cảnh hoàng hôn tắt nắng, và Paris chầm chậm đi vào màn đêm thơ mộng, êm ái, nhưng cũng đầy rạo rực, nồng ấm.

    Tác phẩm quan trọng nhất của ông, cuốn tiểu thuyết " Linh Sơn" (Soul Mountain) được ông khởi sự viết từ năm 1982. Đây là một hành trình của một tâm hồn qua thời gian và không gian, trong khung cảnh của các đồi núi, đồng cỏ, làng mạc Trung Hoa, để tìm lại cội rễ, sự an bình và tự do của nội tâm. Chuyến đi xa vào năm 1986 chắc chắn đã giúp ông nhiều ý tưởng, hình ảnh, tài liệu cho cuốn tiểu thuyết nổi tiếng này mà mãi đến năm 1995 mới được xuất bản tại Pháp. Tờ báo Le Monde của Pháp đã dành một bài viết đặc sắc để giới thiệu cuốn tiểu thuyết quan trọng này ngay sau khi Cao Hành Kiện đoạt giải Nobel văn chương. Tác giả bài viết này, tên viết tắt là J.L.D, giới thiệu tác phẩm " Linh Sơn " của Cao Hành Kiện, xin được thoáng dịch một đoạn như sau:

    "Trong tác phẩm 'Linh Sơn' này, một người với túi sắc trên vai, đã ngược xuôi, khi thì chân đất, khi thì trên yên xe đạp hay lắc lư theo nhịp một chiếc xe thồ, để đi tìm một ngọn núi bí mật, tượng trưng cho một nơi lý tưởng để con người có thể 'rũ bụi trần ai'. Theo chân các di tích của Trung Hoa cổ xưa, một Phương Đông huyền bí và ma quái, với khoa học của Lão Tử, gã ta đã đi kiếm một nơi nương náu, trú thân với bao nhiêu những kỳ tích hoang đường tưởng chừng như đã biến với thuở hoang sơ: những đồng lúa chín vàng và rừng tre xanh biếc, những vị phù thủy hét ra lửa, những con khỉ gào thét, rú lên từng hồi, những con rắn chọc phá, cướp bóc mồ mả; gã ta nói đến sự bảo vệ giống gấu mèo cũng như sự tàn phá môi trường trong vùng sông Dương Tử. Cao Hành Kiện đã trở về với những chiến công của các nữ hiệp sĩ trong các truyện kiếm hiệp, những lễ hội tưng bừng với những lồng đèn rồng, những con kỳ nhông khổng lồ hay những con chim vĩ đại khao khát mật ngọt của cây lệ quyên... những kinh kệ ê a bên cửa chùa, những thuyền mành mỏng manh, những chiếc dù xinh xắn, những thiếu nữ đùa nghịch, chạy trốn và khẽ kêu một tiếng đầy hoan lạc khi ngón chân vừa chạm vào làn nước sông trong xanh."

     Khi nhận xét Cao Hành Kiện là " một kẻ quan sát đầy ngờ vực nhưng sáng suốt không nhằm giải thích thế giới" và trao giải thưởng Nobel văn chương cho ông, Hàn Lâm Viện Thụy Điển đã không chỉ trao giải thưởng cho một tài năng văn chương, mà còn cho một tấm lòng kiên trì của một nghệ sĩ đã dùng nghệ thuật của mình để chống lại tất cả sức mạnh của bạo quyền và hận thù để nói lên tiếng nói của cuộc sống đích thực, tiếng nói muôn đời của tự do và hạnh phúc. Ông là một "Kẻ Miên Hành", nhưng là một kẻ miên hành vẫn đủ tỉnh táo để trình bày, phê phán và tìm kiếm chân lý của cái đẹp.

2. Nhà văn Kim Thúy:

Nhà văn Kim Thúy và tác phẩm “Ru”

    Một tên tuổi xa lạ, là một phụ nữ trẻ gốc Việt, hiện sống ở Canada. Cũng như bao nhiêu người Việt sau biến cố 30/04/1975 đã bỏ nước ra đi, gia đình cô bé Kim Thúy cũng đã tìm cách vượt biên bằng thuyền đến Mã Lai, được đưa vào trại tị nạn, sống ở đấy chờ đợi cho đến khi được nhận vào đệ tam quốc gia là Canada.

    Kim Thúy sinh tại Sài Gòn trong một gia đình thuộc giai cấp trưởng giả, nhiều thành viên trong gia đình là công chức cao cấp hay ít ra cũng sống một cuộc sống thong thả mà với xã hội Sài Gòn hồi ấy, nếu cô chịu tiết lộ một số tên tuổi thì có lẽ chúng ta sẽ có thể nhận ra cô là ai, thân phụ cô hoặc những bà con xa gần của cô là những người nào; tiếc thay cô đủ kín đáo và kiêu hãnh để không nói rõ hơn. Kim Thúy sinh đúng vào Tết Mậu Thân, một biến cố lịch sử mà không một người dân miền nam nào có thể quên được cho dù họ thuộc phe nào, khuynh hướng chính trị nào. Cô lên mười tuổi khi gia đình cô lên thuyền vượt biển trốn khỏi Việt Nam. 

    Cuốn truyện kể mang tựa đề là "RU" vừa có nghĩa tiếng Việt vừa có nghĩa Pháp. Trong Pháp ngữ : giòng suối nhỏ, theo nghĩa đen, và sự chảy (chảy nước mắt, chảy máu) nghĩa bóng. Trong tiếng Việt RU có nghĩa là bài hát để ru trẻ con vào giấc ngủ an lành. Tác giả cho biết là cô từng là chủ một quán ăn ở một thị trấn nào đó thuộc xứ Canada, mang tên là "Ru de Nam". Khi lấy tên ấy làm tên tác phẩm đầu của mình hẳn tác giả có một dụng ý. 

    "... Trước khi tàu chúng tôi nhổ neo giữa đêm bên bờ biển Rạch Giá, đa phần các hành khách chỉ có một nỗi sợ, sợ cộng sản, nguyên do khiến họ bỏ trốn. Nhưng ngay khi bao quanh con tàu, bủa vây con tàu chỉ còn độc một chân trời xanh lơ đồng nhất, nỗi sợ bèn biến thành một con quỷ trăm mặt, cưa chân chúng tôi, khiến chúng tôi không cảm nhận được những cơ bắp bất động của mình đang tê cứng. Chúng tôi chết sững trong sợ hãi, vì sợ hãi. Chúng tôi không chợp nổi mắt nữa khi nước tiểu của đứa bé có cái đầu ghẻ lở bắn lên người chúng tôi. Chúng tôi không còn bịt mũi nữa khi nhìn những người xung quanh nôn mửa. Chúng tôi tê cứng, bị kẹt giữa những bờ vai người này, những chân cẳng người kia và nỗi sợ của tất cả. Chúng tôi tê liệt.

    Câu chuyện về một cô bé bị biển khơi nuốt chửng khi bước hụt chân lên tàu lan khắp lòng tàu bốc mùi như một thứ khí gây mê, hoặc gây đê mê, thứ khí ấy biến cái bóng đèn duy nhất thành ngôi sao Bắc cực còn những chiếc bánh bít cốt đầy dầu máy thành bánh quy bơ. Cái mùi dầu máy trong họng, trên lưỡi và trong tâm trí đưa chúng tôi thiếp đi theo nhịp bài hát ru của người phụ nữ ngồi bên." (dịch một trích đoạn trong tác phẩm RU).

    Cuốn truyện vừa in ra là được đón tiếp nồng nhiệt, được dịch và in trên nhiều nước. Ở Pháp truyện được chọn nhận giải Lire-RTL (Lire là tên của một tạp chí văn chương chuyên ngành và RTL là hãng truyền thanh và truyền hình). Vào chiều ngày 10 tháng 5, 2010 nhân buổi lễ khai mạc tuần lễ sách tại Paris (Salon du Livre) người phụ nữ nhỏ bé mảnh mai ấy đứng giữa hai ông hộ pháp François Busnel chủ bút tờ Lire và Philippe Labro giám đốc đài RTL, cả hai đều là những nhà văn nổi tiếng, trịnh trọng trao giải thưởng cho Kim Thúy và giải thích lý do sự chọn lựa tác phẩm của cô. Sau khi "RU" ra mắt tại Pháp thì nghe rằng ở Canada sách cô không còn tìm thấy trên kệ nữa. Số sách in đã lên đến 25,000 cuốn.

3. Nhà văn Lan Cao:


Tác phẩm “Cầu Khỉ” (Monkey Bridge) và nhà văn Lan Cao

    Nói đến những văn sĩ người Mỹ gốc Việt, người ta không thể quên Lan Cao. Lan Cao, Cao Thị Phương Lan, là ái nữ của cố Đại Tướng Cao Văn Viên. Bà sinh năm 1961, cùng gia đình di tản đến Hoa Kỳ lúc 13 tuổi. Năm 1983, Lan Cao tốt nghiệp cử nhân ngành Khoa Học Chính Trị tại Đại Học Mount Holyoken, và Tiến Sĩ Luật tại Đại Học Yale. Lan Cao là một trong số những người Mỹ gốc Việt viết sách tiếng Anh hiếm hoi được những nhà xuất bản có tiếng của Hoa Kỳ chọn in. Tác phẩm đầu tay “Monkey Bridge” (Cầu Khỉ) của Lan Cao là tiểu thuyết viết theo thể loại tự truyện, kể lại cuộc đời của hai mẹ con người Việt di tản cư ngụ tại Little Sài Gòn từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. “Cầu Khỉ ” đưa người đọc cùng với Mai trở về xã hội miền nam Việt Nam thời Đệ Nhị Cộng Hòa, để tìm thân nhân và nếm trải nỗi buồn niềm vui với họ. 

    Tác giả Lan Cao cũng được Viking Penguin phát hành cuốn sách thứ hai, có tên "The Lotus and the Storm" (Hoa Sen và Bão Tố) sau khi xuất bản cuốn "Monkey Bridge" (Cầu Khỉ) rất thành công vào năm 1997. Tuy là một nhà văn, Lan Cao lại theo đuổi ngành luật. Bà hiện là giáo sư giảng dạy môn luật kinh tế quốc tế tại Chapman University.

    “Cầu Khỉ” của Lan Cao viết về chiến tranh, và những hệ lụy còn rơi rớt lại trong đời của một số người Việt lưu vong. Tâm sự và cuộc đời của họ ở chừng mực nào đó cũng chơi vơi, cũng chênh vênh như những nhịp cầu tre bắc ngang dòng sông chảy xiết. Một độc giả đọc “Cầu Khỉ” rồi đã ghi lại cảm nhận: "Một mai cố quận tìm về / Qua sông cầu khỉ vọng hề tiếng xưa / Con đường đi vội quá trưa / Bến ni bờ nọ cũng vừa thiên thu".

    Ngôn ngữ, trong “Monkey Bridge” (Cầu Khỉ) đã được nhìn ngắm ở hai phía trái ngược. Một là ngăn cách trở ngại của ngôn ngữ. Và hai là, sức mạnh của ngôn ngữ. Trong lá thư bí mật mà bà Thanh gửi lại cho con, bà đã viết rằng Mai đã xấu hổ vì bà nói tiếng Anh không đúng “accent” mặc dù bà nói tiếng Việt và tiếng Pháp rất chuẩn. Và ở một phía khác, Mai đã nhìn thấy được uy lực của “tặng phẩm của ngôn ngữ”:
     "Ở trong thanh âm mới của tôi, thanh âm mà tôi thực sự phát ra từ cổ họng, là một uy lực kinh ngạc mới mẻ. Đối với mẹ tôi và những người láng giềng, tôi bắt đầu nắm giữ cả thế giới, một độc nhất với thế giới tiến bộ xán lạn. Giống như ông Adam, tôi đã như được Thượng Đế ban cho quyền năng chỉ danh tất cả các loài chim chóc ở trên trời và các loài thú vật trên cánh đồng. Quyền được chỉ danh, tôi nhanh chóng tìm kiếm được quyền giữ gìn ngôn ngữ và quyền thỉnh cầu thẩm quyền tiếng nói của thuần khiết không giả tạo" (trích đoạn "Cầu Khỉ").

    Cả ba nhà văn đều viết các tác phẩm ở ngoài quê hương của họ, bằng ngôn ngữ không phải tiếng “mẹ đẻ” của mình. Nhưng không ai có thể phủ nhận trong từng câu, từng chữ mang đậm nét văn hóa, tính dân tộc và linh hồn của quê hương dù ngàn dặm cách xa. Tự tình dân tộc quyện lẫn, khắc sâu trong mỗi trang lịch sử của đất nước, dân tộc được trân trọng và nâng cao đến một tầm cao của nhân loại. Hình ảnh đất nước và con người của quê hương họ, như những chuỗi sao kết nối, soi sáng trên mỗi thân phận và hơi thở của từng nhân vật trong tác phẩm.    

    Đã có hàng triệu người Việt nói, đọc và viết tiếng Việt như ngôn ngữ “mẹ đẻ” nhưng lại mang tinh thần lai căng, vọng ngoại. Giá trị của ngôn ngữ không phải chỉ là việc lặp lại như một "con chim biết nói" mà sử dụng và biểu hiện như linh hồn của tiếng nói từ trái tim của chúng ta. Đó chính là linh hồn của ngôn ngữ, sâu thẳm bên trong tâm hồn, nhân cách chứ không phải chỉ là thứ phương tiện của tiếng nói và chữ viết trong cuộc sống giao tiếp vô hồn.

Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam 


Thứ Tư, 4 tháng 8, 2021

Covid-19 Delta: Biến Chủng Mới


Mặc dù đã có thuốc chủng ngừa (vaccine) cho đến nay, sau gần 2 năm cơn đại dịch coronavirus từ Vũ Hán (Trung Quốc) vẫn chưa có dấu hiệu "đứng lại". Bản thống kê Covid 19 trên toàn cầu của đại học Johns Hopkins cho thấy con số lây nhiễm gần 200 triệu, số tử vong trên 4 triêu người và vẫn tiếp tục gia tăng. Hoa Kỳ vẫn là quốc gia dẫn đầu với trên 34 triêu ca nhiễm và số tử vong trên 600 ngàn người. Sau Hoa Kỳ là Ấn Độ, Brazil, Nga và Pháp. Những tuần lễ gần đây, các đợt dịch đợt 3, 4 đang gia tăng với những con số đáng lo ngại. Thêm nữa đây lại là coronavirus biến chủng mới: Covid-19 Delta Variant có sức lây lan nhanh và nguy hiểm trong cộng đồng.

Có khá nhiều nghịch lý trong việc lây nhiễm cộng đồng tại Hoa Kỳ, đất nước có dư thừa vaccine cho toàn dân. "Nhân quyền" là nguyên tắc căn bản và có giá trị hiến pháp cao nhất tại quốc gia này! Theo Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Chống Dịch Bệnh (CDC) Hoa Kỳ hơn 90% các ca lây nhiễm mới trong thời gian vừa qua là những nạn nhân không tiêm chủng ngừa Covid 19. Có thể đây là những người từ chối tiêm chủng ngừa Covid 19 và họ có quyền làm như vậy theo hiến pháp Hoa Kỳ (?)! Và con số người dân Hoa Kỳ từ chối tiêm chủng ngừa Covid-19 không phải là nhỏ. Nên những cố gắng của chính phủ tiểu bang, liên bang trong việc ngăn chận sự lây lan của coronavirus đã gặp nhiều khó khăn, sau thời gian có nhiều dấu hiệu chậm lại do hiệu quả của thuốc chủng ngừa Covid-19 vaccine.

Thậm chí có gia đình người Mỹ, vợ tình nguyện tiêm vaccine còn chồng thì nhất định từ chối không chủng ngừa. Kết quả là: người chồng nhiễm Covid-19 và lây cả cho vợ. Người chồng phải nhập viện điều trị, còn vợ thì điều trị tại nhà do các triệu chứng nhẹ hơn! Nhưng nói gì thì cả hai đều bị nhiễm Covid-19 do việc từ chối tiêm chủng của một thành viên trong gia đình! Không phải chỉ có Hoa Kỳ, mà một số dân chúng Pháp đã xuống đường biểu tình chống lại chính sách đòi hỏi tiêm chủng ngừa Covid-19.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, đã ra thông báo trong đó gồm tiêm vaccine bắt buộc với nhân viên y tế và yêu cầu người dân trình giấy chứng nhận âm tính Covid-19 để vào những địa điểm như nhà hàng và rạp chiếu phim. Người biểu tình cho rằng điều này đã xâm phạm quyền tự do của những người không muốn tiêm vaccine. Nhiều cuộc biểu tình đã diễn ra trên khắp nước Pháp từ đầu tuần, buộc cảnh sát phải bắn đạn hơi cay để giải tán đám đông.

Covid-19 Delta Variant:

Biến thể Covid-19 Delta (còn được gọi là B.1.617.2) là tên của biến thể Coronavirus chủng mới được phát hiện lần đầu tiên tại Ấn Độ. Biến chủng này được coi là biến thể nguy hiểm nhất trong số 4 biến thể Coronavirus mới được phát hiện. Hiện đã có hơn 80 quốc gia ghi nhận sự xuất hiện của biến chủng này và nó đang lây lan với tốc độ vượt ngoài dự đoán của nhiều chuyên gia vi trùng học.

Đáng chú ý, những triệu chứng do biến chủng Delta Ấn Độ gây ra rất dễ nhầm lẫn với bệnh cảm cúm thông thường, khiến nhiều người chủ quan bỏ qua, làm tăng nguy cơ biến chứng hoặc tử vong ở người bệnh (theo Tổ chức Y tế Thế giới - WHO).

***
Trong những tuần lễ vừa qua, tình hình lây nhiễm Covid-19 tại Việt Nam có nhiều dấu hiệu gia tăng đáng lo ngại, nhất là tại thành phố Sài Gòn. Phần lớn những ca nhiễm tại các tỉnh thành Việt Nam đều mang dấu hiệu của Covid-19 loại chủng mới. Cho đến hôm nay ngày 26 tháng 7, 2021 con số lây nhiễm mới trong cộng đồng đã lên tới con số gần 8 ngàn cho mỗi ngày. Dưới đây là bảng số liệu được VnExpress online đưa tin:

Nhiều biện pháp ngăn ngừa, phòng chống sự lây nhiễm trong cộng đồng đã được áp dụng tại Việt Nam, nhất là trong các tỉnh thành có mức lây nhiễm cao như thành phố Sài Gòn và hầu hết 19 tỉnh miền tây nam bộ. Hình ảnh những trạm phong tỏa, cách ly y tế được thành lập khi khám phá có người bị nhiễm Covid-19 ( F1) trong khu phố, con hẽm, ấp phường... đã trở nên khá quen thuộc.

Trái ngược với hình ảnh biểu tình phản đối ở Pháp, thì ở Việt Nam người dân phải xếp hàng tràn ngập, "rồng rắn" để được tiêm ngừa Covid-19! Làm sao không xót xa và thương cảm cho người dân trong nước, mong được tiêm chủng ngừa, mong được thoát qua cơn đại dịch để trở lại cuộc sống bình thường ngày xưa. Nhất là đối với hàng quán ven đường, những mãnh đời mưu sinh bằng đường phố, buôn gánh bán bưng phổ biến... đời sống của họ ra sao trong tình trạng phong tỏa, giãn cách xã hội để phòng chống dịch bệnh.

Không riêng một đất nước nào, mà toàn thể nhân loại đang đương đầu với cơn đại dịch Covid-19 của thế kỷ. Tổn hại về kinh tế, khủng hoảng về xã hội và nhiều tiềm năng thương tổn trong quan hệ tình người... là những hậu quả không thể tránh khỏi hiện tại và mai này. Trước mắt là việc cung cấp đầy đủ thuốc chủng ngừa (Covid-19 vaccine) cho toàn thể nhân dân của các nước, cho tất cả con người trên toàn cầu. Chúng ta có thể kiểm soát, ngăn chận cơn đại dịch, nhưng có thể loại "cúm gây ra bởi Coronavirus" sẽ chung sống với con người như bao loại cảm cúm khác? Cách sống, mọi giao tiếp xã hội và nhân sinh quan mới cũng phải hình thành sau cơn đại dịch này chăng? Chúng ta gần gũi nhau hơn hay ngày càng càng ngại ngần, xa cách? Con người có cảm nhận được lẽ vô thường hay ngày càng quá khích, dễ nổi loạn nhiều hơn? Có quá nhiều câu hỏi hơn câu trả lời, phải không các bạn!

Cho dù câu trả lời cho tương lai thế nào, nhân loại phải trước hết vượt qua cơn đại dịch. Xin cùng nguyện cầu và mong tất cả chúng ta sẽ cùng nhau có được nhiều an lành, đầy nghị lực để vượt qua cơn đại dịch biến dạng khó lường của thế kỷ!

Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam


Thứ Sáu, 18 tháng 6, 2021

Covid - 19 Và Vấn Đề Xã Hội

1) Chủng ngừa Covid-19:

Tính đến hôm nay tôi đã được chủng ngừa Covid-19 và hệ miễn dịch bắt đầu có hiệu quả. Hiện nay có ba loại thuốc chủng ngừa Covid-19 được nhắc tới và sử dụng ở Hoa Kỳ. Pfizer: được tiêm làm 2 đợt cách nhau 13 tuần lễ; Moderna: được tiêm làm 2 đợt cách nhau 14 tuần lễ; và Johnson & Johnson: chỉ tiêm một lần. Và gần đây bộ y tế Mỹ thử nghiệm thêm loại chủng ngừa Covid-19 nữa là AstraZeneca. Moderna là loại chủng ngừa coronavirus mà tôi được tiêm, chia làm 2 đợt cách nhau 4 tuần lễ. Đợt tiêm đầu (ngày 11 tháng 2) không có nhiều phản ứng phụ, chỉ đau "rêm rêm" cánh tay vài ngày. Đến đợt 2 (ngày 12 tháng 3) thì cơ thể có nhiều phản ứng và "bị hành" dữ dội. Hôm chích ngừa đợt hai, tôi bị nóng sốt cao và cơ thể khó chịu không ngủ được cả đêm hôm đó. Ngày hôm sau, thân thể mệt mỏi rã rời và lúc nào cũng cảm giác ớn lạnh, đầu óc trĩu nặng. Thường thì tôi hay tắm vào lúc sáng sớm, nhưng hôm đó thì chỉ "trùm mềm" không dám bước xuống khỏi giường ngủ. Theo lời dặn của nhân viên y tế, tôi uống Tylenol liên tục, cách nhau mỗi 6 giờ. Cổ họng khô và đau nên cũng không màng ăn buổi sáng và cả buổi trưa. Nằm liệt giường và ngủ chập chờn đến khoảng gần 5 giờ chiều, thì tôi cảm thấy dễ chịu hơn, cơ thể đổ mồ hôi và bớt ớn lạnh. Bằng mọi cố gắng tốc mềm ngồi dậy, tôi quyết đi tắm bằng nước nóng. Quả thật như vậy, sau khi tắm trong bồn bằng nước nóng tôi thấy tinh thần "phấn chấn" hơn rất nhiều, mặc dù cơ thể vẫn còn mệt mỏi. Buổi chiều cố ăn một chén cháo trắng với thịt kho khô và tiếp tục uống Tylenol. Đêm thứ hai bớt nóng sốt và ngủ yên giấc hơn. Đến ngày thứ ba thức dậy sớm, thấy dễ chịu và chỉ cánh tay là còn đau nhức thêm vài ngày nữa mà thôi.

Moderna vaccine / Pfizer vaccine / J&J vaccine

Như vậy là đợt chích ngừa lần 2 của Moderna Covid-19 đã "hành" tôi gần đúng 2 ngày! Tuy nhiên nói theo phương thức y học thì đây là điều rất tốt. Vài ngày "nóng lạnh" cho thấy cơ thể đã phản kháng, chống lại chủng ngừa coronavirus xâm nhập vào cơ thể. Như một cuộc tập trận, cơ thể bạn "làm quen" với chiến trường, nâng cao hệ miễn dịch đối với Covid-19. Nếu các bạn đã được chủng ngừa coronavirus tôi tin rằng các bạn cũng trải qua những phản ứng như vậy? Hay nếu các bạn chưa được chủng ngừa, thì đây cũng xem như là kinh nghiệm của người đi trước, để các bạn yên tâm và chuẩn bị tinh thần! Và phải 2 tuần (14 ngày) sau khi chủng ngừa Covid-19 (đợt 2) thì hệ miễn nhiễm của các bạn mới bắt đầu có hiệu lực! Trong giai đoạn hiện nay chủng ngừa chỉ giúp sức đề kháng, hệ miễn dịch cá thể nên tôi vẫn phải tiếp tục đeo khẩu trang nơi công cộng, để bảo vệ việc lây nhiễm xã hội cho đến khi toàn thể nước Mỹ được chủng ngừa Covid-19.
Những ngày nằm "co ro", liệt giường vì bị hành tôi mới thấy cuộc đời thật đáng sống và cũng thật vô thường. Đáng sống vì giá trị nhân bản, sự kỳ diệu của sáng tạo không ngừng của con người nhằm khắc phục và giải cứu nhân loại trong kiếp nhân sinh. Vô thường vì sinh mạng của chúng ta thật mong manh, nhỏ bé biết chừng nào so với những biến động không ngừng và vô chừng của vũ trụ. Có hay không, buông hay nắm, may hay rủi, vui hay buồn, hạnh phúc hay đau khổ, yêu thương hay thù hận, may mắn hay bất hạnh,... tất cả chỉ là cuộc sống, chỉ là một kiếp người.
2) Covid-19 và vấn đề xã hội:



Vụ nổ súng nhắm vào 3 tiệm massage tại Atlanta tiểu bang Georgia, Mỹ ngày 16 tháng 3 vừa qua khiến 8 người thiệt mạng trong đó có 6 người phụ nữ gốc Á châu. Cuộc thảm sát đã gây chấn động cả nước Mỹ và thế giới trước vấn nạn kỳ thị chủng tộc gia tăng mạnh mẽ. Theo tin của đài Việt ngữ BBC: các vụ kỳ thị mang tính thù hằn nhắm chống người châu Á tăng gần 150% vào năm 2020, hầu hết ở New York, San Francisco và Los Angeles.
Kỳ thị màu da là vấn nạn xã hội vốn đã có từ lâu trong lịch sử của nước Mỹ. Nhưng kỳ thị nhắm vào người gốc Á châu, chừng như bắt đầu xảy ra từ cơn đại dịch coronavirus phát xuất từ Vũ Hán, Trung Quốc. Và gần đây các từ ngữ được gọi như: Dịch Cúm Tàu (China Virus) hay Dịch Cúm Vũ Hán (Wuhan virus) đã tạo nên những ngộ nhận tai hại trong vấn đề kỳ thị người gốc châu Á. Người Mỹ không thể nào phân biệt người Trung Quốc, người Nhật Bản, người Hàn Quốc, người Việt Nam, người Philippine, người Lào, người Thái Lan,... nhìn từ hình dáng bên ngoài. Những cuộc tấn công gây thương tích tại San Francisco, Oakland, New York... cho thấy nạn nhân gốc Á bao gồm nhiều quốc gia khác nhau. Nhưng cho dù thế nào, chúng ta cũng không khỏi những lo ngại vấn nạn kỳ thị người gốc Á châu phát xuất từ cơn đại dịch coronavirus đã và đang xảy ra ở nước Mỹ và cả một số quốc gia Âu châu như Pháp, Anh, Đức...
Không như cơn đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918, con số người nhiễm bệnh và tử vong chỉ nói lên vấn đề y học của thời đại, không mang màu sắc chính trị và xã hội. Cơn đại dịch coronavirus trong thế kỷ mà nền khoa học hiện đại, công nghệ thông tin toàn cầu đã dẫn đến nạn kỳ thị chủng tộc người Á châu đáng lo ngại. Những thế hệ người di dân, người tị nạn gốc Á tại nhiều quốc gia trên toàn cầu đã và đang đối mặt với những nghi kỵ và phong trào gây thù ghét trong cộng đồng người bản xứ.
Hình ảnh hành hung người gốc Á châu tại Hoa Kỳ

Vào ngày thứ Sáu 19 tháng 3, Tổng thống Joe Biden và Phó Tổng thống Kamala Harris đã kêu gọi người dân Hoa Kỳ đoàn kết chống lại nạn kỳ thị chủng tộc, đồng thời lên tiếng chống lại bạo lực nhắm vào người Mỹ gốc Á. Những tuyên bố được đưa ra sau khi Tổng thống và Phó Tổng thống gặp gỡ các nhà lãnh đạo người Mỹ gốc Á tại tiểu bang Georgia sau khi xảy ra vụ nổ súng ở khu vực Atlanta giết chết 8 người, trong đó có 6 phụ nữ gốc Á, đã nói tầm mức quan trọng và khẩn cấp của vấn đề.
Nhiều tổ chức đoàn thể người gốc Á châu đã lên tiếng bằng những cuộc biểu tình trên các thành phố tại Hoa Kỳ để lên án và kêu gọi chấm dứt hành động thù ghét và kỳ thị này. Tuy đây có thể là hành động của một thiểu số người bản xứ quá khích, nhưng để ngăn chặn và xóa bỏ tư tưởng kỳ thị chủng tộc cũng không phải là "chuyện một sớm một chiều". Tất cả đòi hỏi thời gian và tinh thần đoàn kết trong tập thể của các thế hệ người gốc Á châu tại Hoa Kỳ và các quốc gia cùng khắp thế giới.


Chúng ta đang sống trong thời đại của nền kỹ thuật công nghệ toàn cầu, mong rằng sự phát triển của thuốc chủng ngừa Covid-19 sẽ đẩy lui cơn đại dịch và chấm dứt vấn nạn kỳ thị chủng tộc trong những ngày tháng tới. Đây không phải chỉ cho thế hệ chúng ta mà còn cho thế hệ của con, cháu chúng ta những người gốc Á châu đang sinh sống và đóng góp sức lực, tài năng và trí tuệ vào sự phát triển chung của nhiều quốc gia trên toàn thế giới.

Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam

Thứ Bảy, 1 tháng 5, 2021

Tháng Tư Và Những...

Tháng Tư và những cơn mưa cũ
Thắm giọt buồn rơi một cuối trời
Bốn mươi năm lẻ chừng như đã
Theo nhánh sông đời lặng lẽ trôi

Tháng Tư và những bàn tay mỏi
Tiễn biệt người đi ngón vẫy mòn
Sắc nhạt bờ môi sầu gương hỏi
Đâu hởi mùa em hương phấn soi?

Tháng Tư và những ngày hiu hắt
Đứng dựa bờ tây nhớ cội nguồn
Ngóng theo bóng nhạn về bên ấy
Chắc đẫm mùa trăng tiếng gọi sương?

Tháng Tư và những buồn vui lẫn
Mấy ai còn nhắc chuyện hoang đường
Một thời cây trút từng thân phận
Như lá trên rừng phủ vết thương…

Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam


Thứ Năm, 31 tháng 12, 2020

Tách Cà Phê Cuối Năm


Chợt hôm bên tách cà phê
Có hình bóng cũ thoáng về quanh đây
Nửa môi đắng vị những ngày
Nửa môi mật ngọt đong đầy nhớ thương

Hương xưa tỏa những con đường
Bên lề phố cạn phủ hàng me bay
Gió nghiêng hôn sợi tóc dài
Tay nghiêng trĩu nặng bờ vai nghìn trùng

Chạnh lòng mắt bỗng rưng rưng
Thương cây lá trụi thương rừng bơ vơ
Thương con chim nhỏ tình cờ
Về đây hát khúc "ầu ơ..." rất buồn!

Ngụm cà phê chút dư hương
Có người chắc cũng môi thường nhắc tên?
Hay là năm tháng đã quên
Có gì để nhớ những phiền muộn qua?

Như mùa rồi cũng trôi xa...

Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam

Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2020

Dạ Cổ Hoài Lang

Nhạc sĩ Cao Văn Lầu

"Dưới trăng, dòng sông trôi rất dịu dàng
"Như dải lụa vàng xuôi về phương Đông
"Gành Hào ơi
"Nửa đêm ai hát lên câu hoài lang
"Vầng trăng nghiêng xuống trên vạt rừng tràm
"Xề u xế u liu phạn
"Dây tơ đàn kìm buông thiết tha
"Xề u xề u liu phạn
"Đưa cung đàn về trên bến xa...
 
"Đêm Gành Hào Nghe Điệu Hoài Lang" là ca khúc nổi tiếng của cố nhac sĩ Vũ Đức Sao Biển (1947 - 2020) mang đậm nét âm hưởng của dân ca Nam bộ. Bài hát như ghi lại những cảm xúc dạt dào của tác giả khi tình cờ nghe được khúc Dạ Cổ Hoài Lang trong đêm trên dòng sông Gành Hào, Bạc Liêu. 

“Trong cổ nhạc Việt Nam, chưa có bài bản nào được như Dạ Cổ Hoài Lang biến thành vọng cổ. Từ một sáng tác cá nhân đã biến thành sáng tác tập thể, sanh từ đầu thể kỷ, lớn lên sống mạnh, biến hóa thiên hình vạn trạng và sẽ còn sống mãi trong lòng người Việt khắp năm châu bốn bể” (Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê).

Quả thật vậy, Dạ Cổ Hoài Lang là tiền đề cho bao đoạn vọng cổ đã đi vào lòng người trong các tuyệt tác cải lương, tuồng cổ. Hầu hết những cuộc tham gia biểu diễn nghệ thuật của Việt Nam trên toàn thế giới, Dạ Cổ Hoài Lang là tác phẩm tiêu biểu luôn có mặt và chiếm trọn tình cảm khán thính giả khắp nơi. Tác giả của tác phẩm bất hủ "Dạ Cổ Hoài Lang” đó chính là nhạc sĩ Cao Văn Lầu.

Cao Văn Lầu sinh ngày 22 tháng 12, năm 1890 tại xã Thuận Mỹ, huyện Vàm Cỏ tỉnh Long An trong một gia đình nghèo. Cha ông là Cao Văn Giỏi, có 6 người con. Cao Văn Lầu là người con thứ năm trong gia đình nên thường gọi là Sáu Lầu. Năm lên 6 tuổi, cha ông đã đưa ông và gia đình xuống ghe thuyền để đi tìm nơi sinh sống. Ban đầu gia đình ông đến Gia Hội (Bạc Liêu) làm ăn sinh sống nhưng không trụ được ở đây, 9 tháng sau gia đình ông dời sang Xà Phiên (nay thuộc Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang), khẩn hoang làm ruộng. 
Sau hơn 1 năm, gia đình ông đã khai hoang được 40 công đất, nhưng bị địa chủ chiếm lấy. Sau đó, gia đình ông chuyển về Họng Chàng Bè (Giá Rai, Bạc Liêu) khẩn hoang, nhưng cuối cùng đất cũng bị chiếm mất. Gia đình ông may mắn được nhà sư dạy chữ Nho thương tình cho cất một căn chòi lá ở trên đất công điền gần chùa Vĩnh Phước An (nay thuộc phường 2, thị xã Bạc Liêu). Năm 8 tuổi, Cao Văn Lầu được Hòa thượng Minh Bảo (trụ trì chùa Vĩnh Phước An) đón lên chùa. Từ đó, Cao văn Lầu vừa được học kinh phật, vừa được nhà sư dạy chữ Nho.

Năm 1903, ông Cao Văn Giỏi đến xin trụ trì cho Cao Văn Lầu về học chữ Quốc Ngữ. Nhưng ông chỉ học đến lớp nhì năm thứ hai thì phải nghỉ học vì gia đình rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Năm 1907, người cha già yếu nên Cao Văn Lầu phải gánh trách nhiệm chăm lo cho gia đình. Năm 1908, nghe làng bên có một ông thầy đàn giỏi nhưng bị mù và có tật ở chân, đó chính là ông Nhạc Khị. Cao Văn Lầu liền nhờ cha đưa sang xin học đàn. Vì yêu thích âm nhạc và có năng khiếu nên Cao Văn Lầu tiếp thu rất nhanh, ông nhanh chóng thông thạo các loại nhạc cụ như đàn tranh, cò, kìm, trống lễ; và trở thành một nhạc sĩ nồng cốt trong ban cổ nhạc của ông Nhạc Khị. Năm 1912, ông bắt đầu đi hát, làm nhạc công trong gánh hát cải lương của Ba Xú (Bạc Liêu). 

Năm 23 tuổi, ông kết hôn với Trần Thị Tấn, một cô gái nết na ở điền Tư Ô (Chung Bá Khánh). Nhưng chung sống với nhau 3 năm mà vợ ông chưa có dấu hiệu thai nghén. Theo tục lệ ngày xưa “tam niên vô tử bất thành thê”, ông phải trả vợ về bên nhà cha mẹ vợ. Từ khi vợ chồng chia cắt, ông lúc nào cũng nhớ thương vợ, có khi ông còn trốn cha mẹ để ghé thăm vợ. Trong thời gian vợ chồng chia cách, chàng nhạc sĩ Sáu Lầu tâm tư nặng trĩu u sầu, đêm đêm nhớ vợ mượn tiếng đàn câu hát cho bớt muộn phiền. Bản “Dạ Cổ Hoài Lang” ra đời trong bối cảnh như vậy. Rất nhiều nghi vấn, tại sao lại là “Dạ Cổ Hoài Lang” (đêm nghe tiếng trống nhớ chồng) mà không là “Dạ Cổ Hoài Nương” (đêm nghe tiếng trống nhớ vợ) mới thật sự đúng với hoàn cảnh? Nhạc sĩ Cao Văn Lầu tâm sự, nếu như ông nhớ vợ một thì người vợ sẽ nhớ chồng đến 10 lần hơn. Chính vì lẽ đó, ông dùng hình ảnh và tâm trạng của người vợ nhớ thương chồng cho tác phẩm của mình. Nỗi bi ai trong tác phẩm ngay cả đất trời cũng cảm thương, nên sau này vợ ông có thai và lần lượt sinh cho ông 7 người con (5 trai, 2 gái). Vợ chồng ông lại được đoàn tụ bên nhau.

Hình chụp thẻ căn cước của ông Cao Văn Lầu thời Việt Nam Cộng Hòa

Dạ Cổ Hoài Lang khởi điểm từ nhịp 2. Nhưng khi hòa nhập vào sân khấu cải lương, bản được chuyển dần thành nhiều nhịp. Năm 1924, tăng lên nhịp bốn. Từ khoảng 1934 đến 1944, tăng lên nhịp tám. Từ khoảng 1944 đến 1954, vọng cổ tăng lên nhịp 16. Từ 1955 đến 1964, tăng lên nhịp 32 rồi nhịp 64 từ năm 1965 đến nay. Dạ Cổ Hoài Lang của nhac sĩ Cao Văn Lầu đóng góp rất lớn cho phong trào đờn ca tài tử phát triển rộng khắp miền tây nam bộ. Năm 2013 tổ chức UNESCO chính thức vinh danh nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.


Sinh hoạt đờn ca tài tử Nam Bộ

Lời ca gốc của Dạ Cổ Hoài Lang:

1. Từ từ phu tướng.
2. Báu kiếm sắc phán lên đàng.
3. Vào ra luống trông thơ nhạn.
4. Năm canh mơ màng.
5. Trông tin chàng.
6. Gan vàng càng lại thêm đau.
7. Lòng dầu say ong bướm.
8. Xin cũng đừng phụ nghĩa tào khang.
9. Đêm luống trông tin bạn.
10. Ngày mõi mòn như đá vọng phu.
11. Vọng phu vọng luống trông tin chàng.
12. Xin đó chớ phụ phàng.
13. Chàng chàng có hay.
14. Đêm thiếp nằm luống những sầu tây.
15. Bao thuở đó đây sum vầy.
16. Duyên sắc cầm tình thương với nhau.
17. Nguyện cho chàng.
18. Đặng chữ bình an.
19. Trở lại gia đàng.
20. Cho én nhạn hiệp đôi với đó đây.

Ký âm cổ nhạc:
(theo loại đàn dây Bắc)

1. Hò lìu xang xê cống
2. Líu cống líu cống xê xang
3. Xừ xang xê hò líu cống xê xang hò
4. Liu xế xang xự xề xang lìu hò
5. Xừ liu xáng ũ liu cống xề
6. Liu xáng xàng xề liu xề xáng ú liu
7. Hò lìu xang xang xế cống
8. Xê xê líu xừ, líu lĩu xừ xang
9. Xừ xang xế, líu xê xang xư’'
10. Xê líu xừ, líu lĩu xừ xang
11. Xừ, xê líu xừ, líu cống xê, líu hò
12. Liu xề xang xự cống xê xang lìu hò
13. Xừ xang xừ cống xế
14. Xê líu xừ, líu lĩu xừ xang
15. Xừ xang xề hò líu cống xế xang hò
16. Lưu xáng xàng, xề liu xề xáng ú liu
17. Hò xự cống xê xang hò
18. Xê líu xừ, líu lĩu xừ xang
19. Xừ xang xế, hò líu cống xê xang hò
20. Liu xáng xàng xề liu xề xáng ú liu

Do tính quần chúng rộng lớn, Dạ Cổ Hoài Lang có nhiều dị bản nhưng luôn giữ được nội dung và âm điệu chính. Dưới đây là một dị bản tiêu biểu được mọi người biết đến nhiều nhất hiện tại:

1. Từ từ phu tướng.
2. Bảo kiếm sắc phong lên đàng.
3. Vào ra luống trông tin nhạn.
4. Năm canh mơ màng.
5. Em luống trông tin chàng.
6. Cho gan vàng quặng đau í i.
7. Đường dù xa ong bướm.
8. Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang.
9. Đêm luống trông tin bạn.
10. Ngày mõi mòn như đá vọng phu.
11. Vọng phu vọng luống trông tin chàng.
12. Sao nở phụ phàng.
13. Chàng chàng có hay.
14. Đêm thiếp nằm luống những sầu tây.
15. Biết bao thuở đó đây sum vầy.
16. Duyên sắc cầm nhạt phai í i.
17. Thiếp nguyện cho chàng.
18. Nguyện cho chàng đặng chữ bình an.
19. Mau trở lại gia đàng.
20. Cho én nhạn hiệp đôi í i.

Trong sự nghiệp của nhạc sĩ Cao Văn Lầu, ông sáng tác rất ít. "Dạ Cổ Hoài Lang" chính là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông và được lan truyền cùng khắp mọi miền đất nước. Vì vậy “Dạ Cổ Hoài Lang” đã không dừng lại ở nguyên dạng như các bản nhạc cổ khác mà dần dần biến đổi hình thức, phát triển thành bản vọng cổ, làm thay đổi một phần lớn bộ mặt cải lương Nam Bộ. Ngoài tác phẩm "Dạ Cổ Hoài Lang", nhạc sĩ Cao Văn Lầu còn sáng tác thêm 10 tác phẩm khác nhưng chủ yếu chỉ lưu truyền ở Bạc Liêu. 

Khu lưu niệm của nhạc sĩ Cao Văn Lầu ở Bạc Liêu

Nhạc sĩ Cao Văn Lầu mất lúc 13 giờ ngày 13 tháng 8 năm 1976 tại thành phố Sài Gòn, thọ 86 tuổi.


Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2020

Sợi Tóc Màu Trăm Năm

Thoáng đó mà mặt đời đã phẳng
Dung nhan soi lại chiếc gương buồn
Ánh mắt bâng khuâng chừng trĩu nặng
Còn gì sau khung cửa thời gian?

Em đếm bàn tay hoài năm ngón
Ngón gần theo đường chỉ chia ngang
May mắn ta hẹn nhau lần nữa
Kiếp này thôi nợ những gian nan!

Như sợi tóc mai ngày mới gặp
Nói rằng sẽ buột chặc đời nhau
Rồi em buông sợi lơi trong gió
Mấy ngả đời tóc hởi, về đâu?

Hôm qua nhận được thư người gửi
Sợi tóc ngày xưa dáng lụa trầm
Hương của một thời em vẫn giữ
Một thời tóc sợi màu trăm năm...

Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam


Thứ Tư, 21 tháng 10, 2020

Gió Những Mùa Sau



1.
    Buổi sáng vừa ra cửa đi làm, chợt nghe thoáng lạnh, tôi vội quay vào khoắc chiếc áo choàng loại nhẹ. Trời lại bắt đầu vào thu. Thoáng chốc, trôi nhanh “trăm năm là mấy, một ngày dài ghê”. Những chiếc lá khô vàng đã bắt đầu rụng rải rác phía sau nhà.Thời gian chợt như trêu ghẹo, đùa cợt với chúng ta. Nhiều lúc soi gương, tôi cứ tưởng mình đang nhìn một người khác. Một tôi phía bên ngoài đang nhìn chăm chăm một tôi bên trong mặt gương soi thật xa lạ với thời gian. Con người của hôm qua chưa kịp nhận diện con người của hôm nay..? Trên con đường đến chỗ làm, chạy thẳng, quẹo trái quẹo phải, tất cả đều là những phản ứng tự nhiên của thói quen (đôi lúc không cần đến cả ý thức). Chừng như tuổi càng cao chúng ta càng có nhiều thói quen và chi phối bởi thói quen, từ thể chất đến tinh thần. Mọi sai lệch trong sinh hoạt hằng ngày đều khiến chúng ta dễ bực dọc, khó chịu và ngay cả tức giận, nhiều khi rất vô lý. Khả năng thích nghi với hoàn cảnh chung quanh đã không còn nhiều… Tôi cho đèn hiệu quẹo vào tiệm thức ăn nhanh phổ biến của cả nước Mỹ “McDonald’s”, như một thói quen! Và cũng như mọi khi, tôi gọi một biscuit với trứng, thịt bằm và phô-mát qua cửa sổ mà không phải ra khỏi xe. Đây là món ăn sáng “gần gũi” nhất của tôi nhiều năm nay. Cà phê và nước uống thì chỗ làm tôi lúc nào cũng có sẵn, “miễn phí” cho nhân viên ngày lẫn đêm. Bà xã thường gọi tôi là “hai lúa” vì thói quen ăn uống của mình: ngày ba cữ, sáng trưa chiều, không hề biết ăn vặt và không thể sống thiếu cơm! Những lần đi công tác xa, nếu may tìm thấy được quán phở của người Việt mình, mỗi chiều ăn phở tôi đều gọi thêm một chén cơm trắng. Bà chủ tiệm thấy vậy hỏi tôi, phở không đủ ăn hay sao ông phải kêu thêm cơm? Tôi cười lắc đầu, không phải phở ít mà tôi thèm cơm! Mà thật vậy, ăn phở bao giờ tôi cũng kết thúc bằng một chén cơm trộn phở, ngon đến muỗng cuối cùng. 

2. 

    Nghĩ ngợi lan man tôi chợt nhìn thấy bên lề đường, dọc theo một góc phố ba mẹ con người da trắng đang ngồi cầm hai tấm bảng viết tay nguệch ngoặc. Hình như đứa nhỏ nhất vẫn còn ẵm trên tay. Trời đang vào thu, gió trở mùa và se sắt lạnh. Tôi cho xe chạy chậm lại, sát hơn vào lề đường. Đó là hình ảnh một người phụ nữ da trắng trẻ ngồi bệt dưới vỉa hè với đứa con trai chừng 4, 5 tuổi và một cháu bé trong lòng. “Vô Gia Cư – Xin vui lòng giúp đỡ”, bằng mực màu viết trên hai miếng bìa cứng xé ra từ chiếc thùng giấy. Đây cũng không phải lần đầu hay 


hình ảnh xa lạ gì nơi thành phố tôi đang ở. Nhưng thường thấy là người lớn và không có con nít mang theo. Nhìn kỷ cả ba mẹ con đều xinh đẹp, dễ thương. Chưa kịp phản ứng gì, thì tôi bắt gặp nụ cười thật vô tư, hồn nhiên của cháu trai nhỏ. Chừng như cậu bé chưa nhận thức được hết những gì đang xảy ra cho ba mẹ con. Hoặc cậu bé đã quá quen thuộc với hoàn cảnh lang thang “không nhà cửa” này. Buổi sáng trong giờ cao điểm, xe cộ tấp nập từ mọi phía của đường phố. Không thể gây phiền phức, cản trở giao thông tôi móc vội phần tiền còn lại trong túi và phần bánh biscuit vừa mua vẫn còn nóng. Tôi bấm đèn hiệu dừng xe “khẩn cấp” và ra dấu cho ba mẹ con ra nhận. Đứa bé trai buông tấm bảng giấy, cười tươi chạy về phía tôi. Đôi mắt mệt mỏi, mất ngủ của người phụ nữ da trắng thoáng lên chút hân hoan rồi chìm vào ánh nhìn xa xăm, tĩnh lặng. “Thank you…”, tiếng cảm ơn trong trẻo của cậu bé chạm đáy lòng một buổi sáng đầu thu. Chiếc xe tôi trờ vội đi, để lại phía sau góc phố hình ảnh của ba mẹ con người da trắng không nhà, đang chờ những tấm lòng thương cảm. Cho dù số phận con người thế nào, ra sao đi nữa, cuộc sống vẫn mãi trôi qua giữa lòng đời và lòng người không dứt… Giấc mơ bao giờ cũng ngắt khoảng, lẫn lộn. Có khi nằm trong tiềm thức hay trong ký ức của chúng ta một lần thoáng hiện. Hoặc đôi khi hoàn toàn xa lạ mà người mơ thấy, tưởng như không hề có thật. Đất nước Mỹ, phải chăng là giấc mơ của biết nhiêu con người trên mặt địa cầu? Nhưng đôi khi các bạn biết không, giấc mơ chỉ hiện hữu trong giấc ngủ lúc nhắm nghiền đôi mắt và bước ra khỏi cuộc sống đời thường. 

   Tôi tin rằng sẽ không có bất cứ đất nước nào trên cõi đời này sẽ đem lại giấc mơ cho chúng ta, nếu chúng ta không mang nó theo sẵn trong lòng. Hình ảnh ba mẹ con người da trắng chừng như nhắc nhở tôi, thiên đường nào cũng có sự may mắn và nỗi bất hạnh gần bên. Ánh mắt hồn nhiên của cậu bé “vô gia cư” da trắng chỉ khiến tôi thoáng chút thương cảm tình người. Thế thôi. Nhưng ánh mắt thơ ngây ấy lại xô đẩy tôi về với một xót xa khác, một hình ảnh trong tận cùng ký ức của trái tim. 

3. 

    Buổi chiều trên bờ biển Phú Quốc thật yên bình và thật đẹp. Xa xa là Dinh Cậu nằm trên một doi đá cơi ra phía ngoài khơi. Mặt trời như trái banh lửa khổng lồ đang lăn và chìm dần vào lòng biển xa. Đây là lần đầu tiên tôi viếng thăm hòn đảo ngọc Phú Quốc. Nhiều nơi trên đảo vẫn còn giữ được vẻ đẹp hoang sơ, chưa bị bàn tay con người xâm lấn, cưỡng chiếm. Nhưng xa gần đã bắt đầu có dấu hiệu của sự phát triển thương mại, những khu nghỉ dưỡng và các khách sạn 5 sao đang đẩy thiên nhiên vào bờ vực nguy cơ của ô nhiễm môi trường… Tôi đi dọc theo khu 


“Chợ Đêm Phú Quốc” mà mọi người đang chuẩn bị bày biện, chất hàng cho buổi tối. Những tiếng bàn ghế và mùi bếp lửa cũng bắt đầu vang vọng, tỏa lan. Chỉ vài giờ nữa khu phố chợ thưa thớt này sẽ tấp nập những người và tràn ngập quán ăn đêm. Gió hanh hanh thổi theo hơi biển mặn và mùi cá phơi khô như một đặc sản không gian của quê hương Rạch Giá, từ đất liền đến đảo xa. Mùi vị quê nhà thấm sâu vào mọi giác quan của mỗi người con đất biển. Buổi chiều đang rơi nhè nhẹ theo từng giọt nắng vàng treo lơ lững hai bên mặt đường. Chợt thoang thoảng đâu đây mùi thơm quen thuộc của tuổi thơ tôi. Mùi thơm của sữa. Mùi thơm của sữa đậu nành đây mà! Tôi thấy khát và thèm vô cùng một ly sữa đâu nành nóng! “Trà sữa – Sữa đậu nành – Chè các loại”, trước mặt tôi là chiếc xe che kiếng với vài chiếc bàn nhỏ và tấm bảng ghi bắt mắt. Ngồi xuống ghế, tôi gọi một ly sữa đậu nành nóng. “Bác có bỏ thêm đường hông?”, cô gái bán hàng hỏi. Tôi cười, gật đầu. Ly sữa đậu nành bốc khói, thơm phức. Khuấy vài muỗng thì tôi thấy mấy con kiến đen nổi lên, có lẽ ở trong đường. Thường thì chẳng hề hấn gì, nhưng tôi đang ho mấy hôm nay vì chưa thích nghi lắm với thời tiết chung quanh. Còn đang phân vân thì có tiếng: “Mua dùm con vài tấm vé số đi bác”! Đó là cô bé gái khoảng 11, 12 tuổi cầm trên tay xấp vé số quen thuộc mời mọc. Định cười lắc đầu, “Mua giúp con đi bác. Độc đắc mấy chục tỷ lận, con thấy bác có số may mắn đó”. Dưới chiếc nón rộng vành,khuôn mặt xinh xắn là đôi mắt thơ ngây trong sáng của cô bé (lẽ ra phải đang cùng gia đình ngồi ăn buổi cơm chiều). Ánh mắt cô bé không hiểu sao, có cái gì đó khiến tôi khó xử, khó chối từ. “Bao nhiêu một tấm con”? “Dạ 10 ngàn”. Nhớ ra trong túi tôi chỉ còn chừng ba trăm ngàn, mà lúc nãy tôi quên nhắc bà xã đưa thêm tiền dằn túi. “Bác mua cho con 10 tấm thôi nghen”. “Dạ 100 ngàn, bác lựa đi”. Tôi lấy vội và đưa cô bé tờ giấy 100 ngàn màu xanh. Cất tiền xong, cô bé vẫn còn nhìn tôi ngập ngừng: 

    -“Bác có uống ly đậu nành có mấy con kiến đó hông bác”? Bây giờ tôi mới nhớ ly sữa đậu nành mà tôi đẩy sang một bên, phân vân vì mấy con kiến đen. 

    -“Con muốn uống sữa đậu nành, bác kêu cho con một ly khác”. 

   -“Hổng phải con uống đâu bác… Bỏ mấy con kiến ra, con xin đem dzề cho đứa em nhỏ con uống…”, cô bé vừa nói vừa lấy trong cái túi vải khoắc vai, một chiếc bình bằng nhựa màu xanh. Cử chỉ và lời nói tự nhiên của cô bé làm tôi xúc động vô cùng. Tuổi thơ tôi trong chiến tranh đã “lớn trước tuổi”, đất nước hòa bình phát triển giàu mạnh cũng mang theo những lớp tuổi thơ “già trước tuổi” biết chừng nào! Tôi giúp cô bé vớt bỏ mấy con kiến đen “vô tội vạ” ra khỏi ly sữa đậu nành và gọi thêm một ly nữa mang đi. Tôi đưa cô bé thêm ly mang đi kèm theo tờ giấy 100 ngàn còn lại. 

    -“Má con dặn hổng được lấy tiền người lạ. Con lấy sữa đậu nành thôi”, cô bé trả tôi lại tờ giấy bạc. Hơi bất ngờ, nhưng tôi cũng vội kiềm chế cảm xúc: “Hay con lựa cho bác thêm 10 tờ vé số nữa đi…”. Cô bé đếm vé số cho tôi và cất giữ lại tờ giấy bạc 100 ngàn. 

    -“Con ngoan lắm. Ba má con đâu, mà con phải đi bán vé số”? 

    -“Má con bệnh… Con hổng có ba…”, cô bé trả lời nhỏ giọng, đượm buồn. 

Tôi nghèn nghẹn ở cổ, không dám hỏi hay nói lời gì thêm, lặng nhìn cô bé bán vé số với chiếc túi đựng hai ly sữa đậu nành bước đi vào giữa những sợi nắng vàng vọt, mong manh của buổi chiều… Nhiều người “than phiền” người Việt không có thói quen nói tiếng “cám ơn”! Nhưng trong giây phút nầy, mọi tiếng cám ơn chừng như đều “thừa thải”, đải bôi và vô nghĩa như nhau. Ánh mắt, tấm lòng của cô bé bán vé số ở khu chợ Phú Quốc là cả môt tấm gương soi cho những kiếp đời này. Chợt đâu đó có tiếng hát phát ra từ chiếc loa của một hàng quán bên đường: “Cuộc đời vẫn đẹp sao / Tình yêu vẫn đẹp sao…”, nghe thật bùi ngùi, mai mỉa. Khu chợ bắt đầu nhộn nhịp tiếng người như xô dạt bóng dáng cô bé trong từng cơn gió mùa biển mặn. 

4. 

    Trên đường về buổi chiều hôm đó, tôi không còn nhìn thấy ba mẹ con người phụ nữ da trắng nữa. Rồi những ngày sau cũng không. Góc lề đường nhỏ trở lại bình thường như không hề có chuyện gì xảy ra. Chắc họ đã về một nơi nào đó, một khu tạm trú dành cho những người vô gia cư? Gió đầu thu cũng bắt đầu trở lạnh, kéo theo ngày “tháng Mười chưa cười đã tối”. Hình ảnh ba mẹ con vô gia cư người da trắng khiến tôi nhớ vô cùng cô bé bán vé số và ly sữa đậu nành ở khu chợ đêm Phú Quốc năm nào. Cũng 8 năm rồi, cô bé ngày nay chắc đã trở thành một thiếu nữ 19, 20 xinh đẹp? Cô thiếu nữ ấy bây giờ ra sao, hay vẫn còn giúp mẹ nuôi em bằng những tờ vé số cầm tay? Mong rằng không phải vậy. Mong rằng những may mắn sẽ đáp xuống cuộc đời cô bé để ánh mắt thơ ngây thoát khỏi bao nét nhọc nhằn, bất hạnh. Mong rằng cô bé sẽ quên tôi và ly sữa đậu nành, như quên đi những ký ức buồn trong mênh mông dòng đời nghiệt ngã trôi xa? 

    Bên ngoài trời đang mùa gió trở. Gió vào thu heo hắt lạnh mặt người. Gió mùa này sẽ thổi về đâu, cho mùa sau nối tiếp? Cô bé ơi, xin hãy đi trọn kiếp người với một tấm lòng trong sáng cưu mang, như những cơn gió mùa thơm ngát của hôm qua… 

        “… Em ở nơi nào, có còn mùa xuân không em? 
        “Rừng ngàn lá gió, từng đêm nhắc nhở, thì thầm 
        “Mai lỡ không về, chắc anh buồn biết mấy 
        “Dáng nhỏ xuân xưa cũng nhớ đêm ngày… (*) 

Durham, North Carolina 
Nguyễn Hoài Nam 

(*) Nhớ Nhau Hoài – Anh Việt Thu & Thiên Hà


Thứ Tư, 23 tháng 9, 2020

Giao Mùa



Tháng mấy mà sao ngày chợt ngắn
Đêm mênh mông trong gió rủ nhau về
Nhốt chút nắng vào lòng tay xứ lạ
Tiếng ve ngừng theo cánh rụng buồn ghê

Vài con đường rất quen trong ký ức
Vài môi cười nheo đuôi mắt ngày xưa
Nay chắc cũng nhăn theo chiều năm tháng
Nhớ thương tàn bong bóng vỡ chiều mưa

Tháng mấy mà heo may chớm lạnh
Một dòng sông trong trí nhớ hao gầy
Con nước còn bịn rịn khóc bàn tay
Qua bến vắng bóng người nghiêng tóc xõa

Em yêu dấu nụ giao mùa hương lá
Vẫn về thơm từng vết cắn môi lành
Nếu biết sẽ đời này không gặp lại
Xin nợ người mây trắng khoảng trời xanh...


Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2020

Lời Hứa 50 Năm



Những ngày cuối tháng 8 năm 2019, ông Ken Ressing, ở quận Medina, tiểu bang Ohio, Mỹ, vừa bận rộn với việc nhà cửa vừa lo chuẩn bị mọi thứ cho chuyến thăm Việt Nam trong tâm trạng khó tả. 
-"Tôi không ngủ được, cũng không muốn ăn", người đàn ông 71 tuổi chia sẻ về nỗi háo hức, "Thật tuyệt vời! Chỉ ít ngày nữa tôi sẽ có mặt ở Việt Nam để hoàn thành lời hứa của mình?".

Chuyến đi này sẽ là lần trở lại Việt Nam đầu tiên của ông Ken sau 50 năm kể từ ngày về Mỹ. Nhưng nó còn có một ý nghĩa đặc biệt hơn nữa, bởi đó là chuyến đi để ông thực hiện lời hứa với mối tình đầu của mình với Thúy Lan, rằng sẽ quay lại Việt Nam để gặp bà. 

Tháng 12, 1968 hai năm sau khi nhập ngũ, ông Ken được điều tới Việt Nam làm việc ở trung tâm dịch vụ dữ liệu của quân đội Mỹ đóng tại căn cứ Long Bình, Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Tối đến, ông thường đi bộ tới quán bar EM Club (Enlisted Men’s Club) trong khuôn viên doanh trại, nơi có phòng trò chơi, quầy nước và một sân khấu nhỏ để thư giãn. Đó là nơi chàng lính Mỹ 22 tuổi đã gặp cô Thúy Lan vào một ngày cận Tết năm 1969 và say mê cô ngay từ cái nhìn đầu tiên.

 (Thúy Lan khi còn là nhân viên tại EM Club ở Đồng Nai năm 1969)


Nhắm mắt lại, ông Ken vẫn nhớ rõ ngày ấy như mới hôm qua. "Tôi chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ gì giống như cô ấy. Mái tóc đen dài óng ả, nét mặt với nước da ngăm tuyệt đẹp và một nụ cười quyến rũ nhất mà bạn có thể tưởng tượng được", ông kể. 

Thúy Lan phục vụ đồ uống ở một quầy nhỏ trong góc quán bar và sau khi phát hiện ra cô, ông không thể rời mắt khỏi người con gái này, nhưng luôn cố gắng để không bị cô bắt gặp đang nhìn trộm. Sau đêm ấy, Ken ngồi sát hơn chỗ Lan, dù đây là vị trí cách xa sân khấu và chẳng ai thích ngồi. Từ đó, ông chỉ cần đánh mắt sang trái một chút là thấy cô, với nụ cười luôn nở trên môi. Thỉnh thoảng, Ken ngắm Lan khá lâu và cô cũng nhìn lại rồi cười. Hai người dần dần bắt chuyện và trở thành một đôi bạn. 

Giữa những chàng trai luôn cố gắng thu hút sự chú ý của cô gái người Việt, Ken cảm thấy may mắn khi ông được cô để mắt tới. Tình yêu của họ là những cuộc hẹn hò vào cuối tuần ở gần doanh trại của Ken, sau khi Lan đi nhà thờ hay nấu bữa trưa cùng bạn bè. Ken không thể ra khỏi doanh trại buổi tối và Lan cũng không được phép vào bên trong khu vực quân đội, vì thế họ chỉ tìm cách làm thế nào để ở bên nhau thật nhiều. 

Ken và Lan thậm chí không biết sinh nhật của người kia là ngày nào, gia cảnh ra sao. Đôi khi họ chỉ gặp nhau và chẳng nói gì nhưng vẫn cảm nhận được một thứ cảm xúc ngọt ngào đang tan chảy bên trong mình. Ken cứ nghĩ rằng hai người còn nhiều thời gian để trò chuyện, cho đến khi ông nhận được lệnh rời quân ngũ sớm để quay lại trường đại học.
"Theo kế hoạch, tôi sẽ rời Việt Nam về Mỹ vào tháng 9 năm 1969, sớm trước thời hạn 3 tháng", ông nói. "Vì Lan mà khi tháng 9 càng cận kề, tôi càng ước mình không phải làm điều đó", ông tiếc nuối. 

Những ngày chủ nhật trôi qua căng thẳng hơn, hai người trở nên kiệm lời và dành thời gian cho những cái ôm. Ken cố gắng quan tâm Lan nhiều hơn và họ đều hy vọng sẽ sớm gặp lại nhau. Có một ngày, Ken đã hỏi bạn gái rằng cô có muốn rời Việt Nam hay không. Cô lắc đầu, đó là lần duy nhất ông hỏi câu này. 
"Tôi nghĩ những cuộc trò chuyện cuối cùng của chúng tôi sẽ khác nếu cô ấy trả lời là 'muốn' ", Ken nói. "Tôi đã nghĩ đến việc sẽ tuyệt vời như thế nào nếu mình cưới cô ấy, nhưng tôi đã không hỏi. Tôi cứ nghĩ rằng sẽ không phải chờ quá lâu để gặp lại nhau".
Một ngày trước cuộc gặp cuối cùng của đôi tình nhân, Ken đến bưu điện mua một hộp bì thư có dán tem sẵn và đánh số từ 1-50 ở góc trái bên dưới, sau đó cất chúng lại vào hộp. Ông trao nó cho Lan và bảo rằng khi nào cô gửi cho ông lá thư cuối cùng trong số này, đó là lúc ông trên đường trở lại gặp cô.

"Tôi đã hứa", Ken nói. "Ngày hôm ấy thật đau khổ đối với tôi. Tôi nhớ mình đã ôm cô ấy chặt nhất có thể. Tôi hôn cô ấy, sau đó lại cố ôm cô ấy chặt hơn nữa. Tôi nghe thấy tiếng cô ấy thì thầm vào tai mình bằng tiếng Việt. Đến bây giờ nhắm mắt lại, tôi vẫn có thể nghe thấy những lời thì thầm ấy".

Khoảnh khắc đó in sâu vào tâm trí của Ken suốt 50 năm qua, dù ông chưa bao giờ hiểu Lan nói gì. Cho tới cách đây vài tháng, Ken mới biết đến công cụ dịch lời nói của Google và kinh ngạc khi biết ngày ấy, cô gái Việt Nam đã thì thầm gì với mình. Tuy nhiên, ông từ chối tiết lộ điều này, vì muốn giữ riêng cho mình mãi mãi.

Những lá thư trở thành cầu nối duy nhất giữa hai người yêu nhau cách nửa vòng trái đất suốt một năm sau đó. Khi mua 50 bì thư, Ken đã nghĩ rằng Lan sẽ viết thư khoảng một tuần một lần nhưng hóa ra, ngày nào cô cũng viết. Trước khi năm 1969 kết thúc, số bì thư đã không còn cái nào, nhưng Lan vẫn tiếp tục viết. 

Mỗi cuối tuần, từ trường trở về nhà, Ken lại nhận những lá thư được gửi từ phương xa thông qua một người bạn đóng quân ở Việt Nam. "Khoảng thời gian ấy đối với tôi vừa hạnh phúc lại vừa lo lắng", ông nói.

Ken Reesing sau khi trở về Mỹ năm 1969

Ken đã cân nhắc đến việc tái nhập ngũ nhưng không có gì đảm bảo rằng ông sẽ được quay lại Việt Nam trong bối cảnh quân đội Mỹ đang rục rịch rút quân. Ông muốn kể cho mọi người nghe về Lan nhưng không ai muốn biết gì thêm về Việt Nam nữa. Báo chí Mỹ liên tục đưa tin về cuộc chiến và đều là những thông tin đáng buồn. 
"Không ai muốn tôi trở lại, nhất là cha tôi. Mọi người ở Mỹ phản đối gay gắt cuộc chiến này và họ thù ghét những người lính trở về từ Việt Nam", Ken kể. "Lời hứa với Lan đè nặng lên tâm trí tôi nhưng việc quay trở lại vô cùng khó khăn".

Khi cuộc chiến tranh dần đi đến hồi kết, quân đội Mỹ vội vã rút khỏi miền nam Việt Nam, căn cứ Long Bình cũng biến mất và hai người không còn liên lạc với nhau nữa. Ken đã gửi vài bức thư trực tiếp tới EM Club nhưng không nhận được phản hồi.
"Tôi đã thất hứa và việc này gần như khiến trái tim tôi tan nát. Tôi thật ngu ngốc. Không còn cách nào khác cả", Ken nói trong niềm hối hận.

Từ năm 1973 đến nay, Ken vẫn không ngừng lo lắng về Lan. Ông thực sự không dám nghĩ cô sống sót qua cuộc chiến tranh nhưng luôn giữ chút hy vọng nhỏ nhoi bởi "cô ấy còn trẻ, xinh đẹp, chăm chỉ và đầy sức sống". Ken vẫn cố gắng tìm hỏi thông tin về Lan cho đến sau năm 2000, khi mạng Internet phát triển mạnh, ông mới thực sự đẩy mạnh cuộc tìm kiếm. Ken từng thuê các công ty, trong đó có một công ty quốc tế với chi nhánh tại Sài Gòn, tìm kiếm Lan. Trong quá trình này, Ken cũng vô tình quen một người sống ở Biên Hoà qua mạng và được người này giúp đỡ tìm kiếm Lan suốt hai năm bằng các cuộc điện thoại, thậm chí những chuyến đi tới Long Bình, nhưng không có kết quả. 

Việc tìm kiếm diễn ra trong bí mật bởi Ken không muốn gây ảnh hưởng đến cuộc sống riêng của Lan. "Tôi chỉ muốn an tâm rằng người bạn gái năm nào vẫn mạnh khỏe và an toàn", ông nói. 

Ken luôn hối hận khi ngày đó đã không hỏi bất cứ thông tin gì để sau này có thể tìm ra Lan dễ dàng hơn, như địa chỉ cụ thể của cô ở Biên Hòa. Ông cũng không rõ họ của cô chính xác là Võ Thị hay Vũ Thị. Một ngày đầu tháng 6, Robert, một người con lai đang sống ở TP HCM, bất ngờ liên lạc với ông Ken qua một nhóm cựu binh Mỹ trên mạng, sau khi biết ông đang tìm kiếm một phụ nữ Việt Nam thất lạc trong chiến tranh. Sau một lúc trò chuyện và tìm hiểu thông tin giữa hai bên, ông Ken đồng ý gửi những bức ảnh của Lan cho Robert. Chỉ hai ngày sau, ông và Lan lần đầu trò chuyện với nhau qua điện thoại.

"Khi nghe Robert nói rằng cậu ấy đã tìm thấy Lan, tôi không thể tin nổi", ông Ken kể. "Robert đã làm việc ấy quá nhanh và hiệu quả". Robert cho hay để tìm kiếm người phụ nữ tên là Thúy Lan, anh đã đăng thông tin mà ông Ken cung cấp kèm ảnh lên một nhóm người Đồng Nai trên Facebook và nhờ sức lan truyền của mạng xã hội, chỉ trong chưa đầy một ngày, họ đã giúp tìm ra người con gái năm xưa.

Bà Vũ Thị Vinh (Thúy Lan) hiện nay.

Bà Thúy Lan, tên khai sinh là Vũ Thị Vinh, hiện sống tại căn nhà cấp bốn thuộc con hẻm nhỏ ở đường Phan Đình Phùng, phường Thanh Bình, Biên Hòa, Đồng Nai. Hằng ngày, bà cùng con gái mưu sinh bằng nghề bán cháo trắng.

Bố mẹ bà sinh 7 người con nên kinh tế khó khăn. Bà chỉ học đến lớp 5 là nghỉ. 15 tuổi, bà vào căn cứ quân sự Long Bình làm tạp vụ. Hai năm sau, bà làm tiếp viên cho EM Club của căn cứ. Ông Ken khi đó 22 tuổi, mới sang Việt Nam nhập ngũ được một thời gian. Những lần đến EM Club chơi, ông để ý cô gái người Việt có mái tóc đen, đôi mắt to, làm việc chăm chỉ và lém lỉnh. ‘Lúc đó, tôi được nhiều người để ý, nhưng tôi chỉ thích ông ấy. Thích, nhưng chúng tôi chỉ ‘liếc nhìn nhau’ khi gặp chứ chưa có gì cả’, người phụ nữ sinh năm 1952 hồi tưởng về quá khứ và cho biết, ông Ken là mối tình đầu của bà.

Khi Mỹ rút quân khỏi căn cứ Long Bình, ông bà không thể viết thư cho nhau nữa. Mẹ bà Lan mang những lá thư và hình ảnh của ông Ken gửi cho con gái đốt hết. Từ đó, bà không còn nhớ gì về mối tình đầu của mình nữa.

Năm 1984, bà lấy chồng. Hai năm sau, bà sinh con gái. Vì hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng bà chia tay. ‘Tôi với ông ấy quen rồi về sống chung chứ không làm đám cưới, đăng ký kết hôn’, người mẹ một con nói. Sau đó, bà ở vậy nuôi con bằng nghề bán cháo trắng từ năm 1993 đến nay".
"Lúc chia sẻ câu chuyện về Lan, tôi đã từ bỏ ý nghĩ rằng cô ấy còn sống và dự định sẽ quay lại Long Bình một mình để hoàn thành lời hứa. Tôi nghĩ mình sẽ về thăm một ngôi mộ", cựu binh Mỹ Ken Reesing nói, "Thế nhưng cô ấy vẫn còn sống và đến bây giờ vẫn giữ nụ cười tuyệt vời ấy".

Sau tất cả những cung bậc cảm xúc đã trải qua trong đời, Ken muốn mượn lời một bài hát "Loving her was easier than anything I'll ever do again" ...của ca sĩ người Mỹ Kris Kristofferson, bài hát luôn gợi nhắc ông về mối tình 50 năm trước. "Yêu Lan dễ dàng hơn bất cứ điều gì tôi từng làm", ông Ken nói.

Ông Ken và bà Lan tại sân bay Tân Sơn Nhất, Việt Nam ngày 12/9 sau 50 năm xa cách. 

Năm mươi năm dẫu muộn màng, nhưng ông vẫn giữ lời hứa cho cuộc hội ngộ với người xưa tại sân bay Tân Sơn Nhất, Việt Nam ngày 12 tháng 9, 2019: như thể họ chưa hề có cuộc chia ly!


Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam

Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2020

Cung Bậc Tình Yêu Có Thật

Có bao giờ bạn tự hỏi: mình đã thật sự yêu một người nào chưa? Mình đã có một tình yêu chân thật trong đời? Tình yêu có thật hay chỉ là sự tưởng tượng, hư cấu trong những câu truyện tiểu thuyết? Đừng vội trả lời các bạn nhé! Xin hãy đọc hết câu chuyện sau đây và chắc chắn các bạn sẽ tìm được câu trả lời cho chính mình. Mời các bạn hãy bước chân cùng tôi, với những cung bậc của một tình yêu tuyệt vời, có thật…

6000 bậc thang mà ông Lưu Quốc Giang bỏ cả cuộc đời ra để xây cho vợ mình.

Năm 2001, một đoàn du lịch thám hiểm vô tình phát hiện hơn 6000 bậc thang kỳ lạ dẫn lên ngọn núi cao hẻo lánh do một người đàn ông đục đẽo để giúp vợ lên xuống núi an toàn dù chẳng mấy khi bà xuống núi. Suốt 57 năm liền, ngày nào ông cũng lần mò bên những bậc thang và lau dọn sạch sẽ để bà không bị trơn trượt chân khi đi lại. Họ sống hơn nửa thế kỷ mà chưa từng rời nhau trên một đỉnh núi hẻo lánh, hoang vu không người trú ngụ. Họ là ai và người đàn ông đó là ai đã sống hết cuộc đời mình cho tình yêu và trọn vẹn cho người mình yêu dấu?

Vào khoảng năm 1956 trong thôn Cao Than, huyện Giang Tân, tỉnh Trùng Khánh, Trung Quốc có chàng trai tên Lưu Quốc Giang, 19 tuổi đã tỏ lòng yêu tha thiết một góa phụ lớn hơn mình 10 tuổi. Người góa phụ tên Từ Triều Thanh, 29 tuổi chồng chết sớm và đã có bốn đứa con. Trong giai đoạn lịch sử này của Trung Quốc, thì tình yêu của chàng trai họ Lưu được coi là một hành vi làm xấu hổ người thân, gia tộc. Và thậm chí, thanh niên yêu bà góa là “đại nghịch bất đạo”, là có tội với cả thôn cả huyện. Bị cả dòng họ phản đối, xã hội lên án kỳ thị, nhưng những cản trở ấy đã không thể nào chia lìa được mối tình của họ. Tình yêu chân thật của Lưu Quốc Giang đã bước qua những lời nguyền bao hà khắc của tập quán, ích kỷ xã hội và sự sợ hãi búa rìu, kỳ thị của dư luận… Rồi một buổi sớm tháng 8, 1956 người trong thôn Cao Than phát hiện người góa phụ Từ Triều Thanh cùng bốn đứa con nhỏ bổng mất tích. Và cả chàng trai trẻ 19 tuổi Lưu Quốc Giang, cũng bỏ thôn ra đi không một lời từ biệt gia đình, người thân. Họ đã cùng nhau vượt lên ngọn núi cao hơn 1500 mét so với mặt biển và sống ẩn dật trên đó hơn nửa thế kỷ sau, đến hết cuộc đời.

Bên trong căn nhà đơn sơ và thiếu thốn của họ.

Giữa núi cao rừng thẳm, cuộc sống ban đầu của gia đình họ Lưu-Từ vô cùng khó khăn gian khổ. Không có nhà, không có điện nước và kể cả thực phẩm. Họ phải ăn hoa cỏ, bất cứ trái rừng nào kiếm được và đôi lúc kể cả rễ cây. Bằng chính sức mạnh tình yêu chân thật, bằng lòng hy sinh, tận tụy cùng đôi bàn tay họ đã vượt qua mọi nỗi sợ hãi, gian truân để xây dựng cuộc sống ngày một tốt hơn. Một căn chòi đơn sơ được dựng, che mưa che gió của đỉnh núi cao và khu rừng già hoang vắng. Nước khe, trái cây dại và lắm lúc là thịt loài thú rừng săn được bằng đôi bàn tay không, họ dần dà hình thành cuộc sống với tình yêu có sẵn. Nhìn thấy sự hy sinh lẫn mất mát quá lớn của chồng, nhiều lần Từ Triều Thanh hỏi: “Anh có ân hận không?”. Lần nào nàng cũng được câu trả lời của Lưu Quốc Giang: “Không. Mãi mãi sẽ không! Anh chỉ hối hận là đã chưa đưa đến cho em nhiều tốt đẹp hơn trong cuộc sống”.

Ở trên độ cao, họ Lưu luôn lo sợ sự nguy hiểm cho vợ khi đi ra ngoài, xuống chung quanh dốc núi trong công việc hằng ngày. Nên ngay từ năm thứ nhì, anh đã bắt đầu dùng tay không và dụng cụ thô sơ sau này, đắp các bậc thang để người yêu đi đứng dễ dàng mỗi lần nàng ra ngoài hoặc xuống núi. Công việc đắp các bậc thang an toàn cho vợ, kéo dài hơn 50 năm để hoàn tất 6000 nấc, cho đến cuối đời mình. Mặc dù vậy, họ Lưu vẫn luôn nắm tay vợ mỗi khi người yêu mình xuống núi để tránh mọi hiểm nguy có thể xảy ra.

Lưu Quốc Giang luôn nắm tay vợ mỗi khi xuống núi.

Ngoài việc đục, đắp họ Lưu còn luôn lau chùi những bậc thang cho khỏi bị rêu xanh bám phủ, tránh cho vợ bị trợt chân vất ngả. Và trong suốt hơn 50 năm, mỗi ngày ông đều sửa chữa, bảo quản các bậc thang đảm bảo cho vợ đi đươc an toàn. Nếu thật sự không bằng tình yêu chân thật mãnh liệt và dũng cảm tuyệt mỹ chàng trai trẻ Lưu Quốc Giang đã không thể hoàn thành 6000 nấc thang suốt hơn 50 năm đời người.

Trong suốt cuộc đời, ông vẫn luôn nhìn vợ bằng ánh mắt trìu mến, đầy thâm tình.

          Năm 2007 Lưu Quốc Giang qua đời, bà Từ Triều Thanh suốt ngày bên quan tài chồng lảm nhảm những câu đau xé lòng: “Anh hứa sẽ chăm sóc em, anh hứa sẽ ở mãi bên cạnh em, cho đến khi em lìa đời. Bây giờ anh bỏ đi trước, làm sao em có thể sống hết quãng đời còn lại cô đơn không có anh!”. Không còn nước mắt để khóc chồng, nhưng trên khuôn mặt bà đã nói lên hết nỗi u buồn, đau khổ thấm sâu.


Ảnh trên đây chụp bà Từ Triều Thanh ở những ngày tháng cuối của cuộc đời, trên môi bà luôn nở nụ cười mãn nguyện khi đã có được một tình yêu chân thành, tuyệt mỹ.
                                               
Năm năm sau, ngày 30 tháng 10, 2012 cụ bà Từ Triều Thanh cũng theo chồng tiếp tục một cuộc tình vĩnh hằng ở bên kia thế giới. Câu chuyện tình yêu khép lại, nhưng hương vị của nó để lại cho nhân gian không bao giờ tan biến. Nhân loại ngày nay qua đó, có thêm hy vọng về một tình yêu chân thành có thật, luôn hiện hữu quanh ta vĩnh cửu. Thế giới với bao đau thương, lòng người với bao đổ vỡ niềm tin, sẽ mãi mãi ghi lại hình ảnh của chàng thanh niên trẻ Lưu Quốc Giang và mối tình vượt mọi thời gian với người góa phụ Từ Triều Thanh, phải không các bạn?
Cảm động về câu chuyện này nhóm nhạc C-Allstar của thành phố Hồng Kông đã sáng tác ra bài hát có tên là "Nấc Thang Thiên Đường", mới được công bố đã đứng "top" nhiều tuần lễ, giành được rất nhiều giải thưởng. Câu chuyện này cũng được dựng thành phim năm 2010, đài truyền hình TVB công chiếu suốt một thời gian khiến cho hàng triệu khán giả cảm động rơi lệ. 

Cả bốn người con đều khôn lớn và có gia đình con cái, sống dưới chân núi. Khi người con trai lớn được báo chí, truyền thông hỏi: “Có lẽ mẹ anh là người hạnh phúc nhất cõi đời vì có được tình yêu của cha anh?”. Anh cười, nhìn lên đỉnh núi: “Sự thật không phải như thế. Cha tôi mới là người đàn ông hạnh phúc nhất thế gian này, vì ông đã cho mẹ tôi tất cả tình yêu tuyệt đối và đẹp nhất đời người. Trong tình yêu, người cho luôn nhận hạnh phúc nhiều hơn người nhận. Mẹ tôi thường nói với các con như vậy!”, anh ngậm ngùi nhớ lại…

Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam


Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2020

Hỡi Thế Gian Tình Là Chi (*)

            Nhà Văn Kim Dung (1924 - 2018)                       

Chiều ngày 30 tháng 10, 2018 truyền thông Trung Quốc đồng loạt đưa tin, tiểu thuyết gia võ hiệp huyền thoại Kim Dung qua đời ở tuổi 94. 

Kim Dung tên thật là Tra Lương Dung, sinh năm 1924 tại Chiết Giang (Trung Quốc). Trong sự nghiệp cầm bút của mình, ông nhận được vô số giải thưởng, danh hiệu danh giá, phải kể đến Huân chương Tử kinh (2000), Thành tựu trọn đời cho nghệ sĩ người Hoa có tầm ảnh hưởng thế giới (2008), có tên trong danh sách các bậc tông sư văn học vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Quốc. Ông là một trong những nhà văn Trung Quốc có tác phẩm bán chạy nhất mọi thời đại. Sách của ông đã được in hơn 300 triệu bản và được bán khắp nơi trên thế giới. 
“Đế chế” tiểu thuyết võ hiệp của ông lớn mạnh tới mức, người ta còn xưng tụng ông là “Võ lâm minh chủ”. Không chỉ viết văn, ông còn là người sáng lập tờ Minh Báo nổi tiếng tại Hồng Kông. Các cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp nổi tiếng nhất của ông có "Anh Hùng Xạ Điêu", "Thần Điêu Đại Hiệp", "Ỷ Thiên Đồ Long Ký", "Lộc Đỉnh Ký", "Tiếu Ngạo Giang Hồ", "Thiên Long Bát Bộ"... Những tác phẩm điện ảnh kinh điển được chuyển thể từ các phẩm này cũng "làm mưa làm gió" trong nhiều năm qua. Kim Dung trải qua 3 đời vợ và có bốn người con (hai trai hai gái) nhưng không ai trong số họ theo nghiệp của cha. 

Tình yêu là đề tài chính, xuyên suốt trong toàn bộ tác phẩm của Kim Dung. Như viên ngọc quý nhiều góc cạnh, tình yêu trong tiểu thuyết ông muôn màu muôn vẻ, thể hiện qua mọi từng lớp con người trong xã hội, giá trị đạo đức, phạm trù mâu thuẩn, luật nhân quả và hoàn cảnh lịch sử... Đã có quá nhiều phim ảnh kinh điển thể hiện trọn vẹn quan điểm, ý niệm tình yêu qua những nhân vật chính trong truyện được chuyển thể từ các tác phẩm của Kim Dung. Ở đây trong phạm vi nhỏ hẹp, thô thiểm của bài viết tôi xin được ghi lại khía cạnh tình yêu như những "chiếc bóng" bên cạnh nhân vật chính của ông. 

Tiểu Chiêu 


Trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký của Kim Dung, Tiểu Chiêu là cô gái xinh đẹp nhất và cũng là người có số phận đau khổ nhất. Là con gái của Hàn Thiên Diệp và Thánh nữ Minh giáo Ba Tư, Tiểu Chiêu mang trong mình nét đẹp và tinh túy của cả hai dân tộc. Cô gái này đến Trung Nguyên qua con đường tơ lụa để hoàn thành sứ mệnh mà mẹ cô còn dang dở - đánh cắp bộ Càn Khôn Đại Nã Di tâm pháp. Mang ơn Trương Vô Kỵ, Tiểu Chiêu chăm sóc, phục vụ anh tận tình với tư cách “người hầu”. Nhưng “người hầu” ấy chính là người đã có công bảo vệ Minh Giáo trước cuộc tấn công của quân Nguyên. 

Tiểu Chiêu cũng là người con gái thông minh, kiến thức võ học uyên thâm và rất có bản lĩnh. Nhưng quan trọng hơn tất cả, Tiểu Chiêu có một tấm lòng nhân hậu thật đáng quý. Để cứu mẹ - Kim Hoa bà bà - và Trương Vô Kỵ, Tiểu Chiêu đã buộc phải tiết lộ thân phận thực sự của mình. Nàng đã cắn răng hy sinh tình yêu đầu đời với Trương Vô Kỵ, tình yêu mà cô chôn chặt trong lòng bấy lâu, để trở về Ba Tư làm Thánh Nữ. 

Kết cục của Tiểu Chiêu phải làm Thánh Nữ, mãi mãi không thể yêu ai được cho là quá tàn nhẫn với nàng? Nếu Triệu Mẫn dám liều thân mình hy sinh vì Trương Vô Kỵ thì Tiểu Chiêu cũng không hề thua kém. Số phận của một Thánh Nữ, lần nữa đã thật sự tôn vinh tình yêu cao quý vô bờ bến của nàng; đã thật sự một đời Tiểu Chiêu dành trọn tình yêu mình cho Trương Vô Kỵ. 

Quách Tương 


Là con gái út của Quách Tĩnh – Hoàng Dung trong “Thần Điêu Đại Hiệp”, Quách Tương có sự hào hiệp của cha và sự thông minh, tinh quái của mẹ. Hâm mộ "thần điêu đại hiệp" nên cô vô tình bị cuốn vào cuộc phiêu lưu với anh từ khi cô được Kim Dung cho xuất hiện. Tình yêu dành cho Dương Quá ngày càng gia tăng, nhưng Quách Tương lại để trong lòng bởi biết anh chỉ một lòng yêu "sư phụ" của mình, Tiểu Long Nữ. Trong đoạn kết, cô đã bỏ đi tìm Dương Quá và nhận tin gia đình mình đã tử nạn vì bảo vệ thành Tương Dương. Quá đau khổ, Quách Tương đã xuất gia và sáng lập phái Nga Mi và từ bỏ mối tình thầm lặng với Dương Quá. 

Được xem là “Tiểu Hoàng Dung” nên nhân vật Quách Tương mang nét đáng yêu, dễ thương, được lòng chúng ta nhiều nhất. Mối tình đầu và cũng là duy nhất của cô dành cho Dương Quá đã khiến cho người đời cảm thương rơi lệ và ngưỡng mộ. 

Nghi Lâm 


Trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, Nghi Lâm là một tiểu ni cô tu hành, đệ tử của Định Dật sư Thái phái Hằng Sơn. Cô có mối tình đơn phương câm lặng với chàng lãng tử Lệnh Hồ Xung. Nghi Lâm luôn dõi theo và quan tâm tới Lệnh Hồ Xung. Tình yêu của cô dành cho Lệnh Hồ Xung là sự hy sinh thoát thần, không cần đền đáp lại. Cô chỉ mong chàng sẽ luôn gặp những điều tốt đẹp. 

Năm 18 tuổi, Nghi Lâm trở thành một nữ ni xinh đẹp nhất của phái Hằng Sơn. Trong lớp áo nâu sồng của đời, ni cô vẫn có một khuôn mặt trái xoan sáng như trăng rằm, một đôi mắt xanh như nước hồ thu. Nghi Lâm chỉ biết cha mình là một hoà thượng - Bất Giới đại sư; còn mẹ mình là ai thì điều đó cô không hề biết. Thật sự, mẹ cô vẫn hằng ngày sống bên cạnh cô. Giận cha cô khen một người khác xinh đẹp, mẹ cô lặng lẽ bỏ đi, vào chùa Hằng Sơn làm một Á bà bà (bà già câm điếc), chuyên lau tượng quét chùa. Bà vẫn theo dõi những bước tiến của Nghi Lâm trên con đường Phật học cũng như đời sống nhưng bà không hề mở miệng nói với Nghi Lâm một lời. Nghi Lâm lớn lên trong chùa Hằng Sơn, thuộc làu kinh điển, cô chưa hề gặp một người đàn ông, chưa biết mùi phấn son, chưa nhìn thấy màu áo đẹp và chưa hề có một nụ cười... 

Cả tai hoạ và hạnh phúc đến với cô nữ ni xinh đẹp ấy trong một lần cô xuống núi Hằng Sơn, cùng sư phụ và các bạn đồng môn đi dự lễ rửa tay gác kiếm của Lưu Chính Phong phái Hành Sơn. Sau một lần trượt chân vì đường trơn, Nghi Lâm dừng lại bên suối rửa tay. Cô đã bị tên dâm tặc Điền Bá Quang bắt giữ và đưa vào hang động định giở trò cưỡng bức. Lệnh Hồ Xung, đại sư huynh của phái Hoa Sơn, xuất hiện cứu Nghi Lâm. Kiếm pháp của Lệnh Hồ Xung hoàn toàn không địch nổi phép khoái đao của Điền Bá Quang. Lệnh Hồ Xung bị đâm cả một chục vết thương, người không còn một chút huyết sắc. Nhưng vốn là người mau chân lẹ miệng, hắn đã đánh võ miệng với Điền Bá Quang và cuối cùng đạt được chiến thắng, buộc Điền Bá Quang nhục nhã bỏ đi; Lệnh Hồ Xung bị bọn La Nhân Kiệt phái Thanh Thành đâm một nhát kiếm chí mạng. Nghi Lâm lạc mất Lệnh Hồ Xung từ đó. 

Cuộc sống lần nữa đã đưa đẩy ni cô Nghi Lâm dấn thân vào bụi trần gian để nàng giải cứu được ân nhân Lệnh Hồ Xung. Với thân hình bé nhỏ, ni cô Nghi Lâm đã cõng Lệnh Hồ Xung ra giữa vùng hoang vu sơn dã không có một vết chân người, chăm sóc cho anh và chữa lành vết thương. Qua câu chuyện Lệnh Hồ Xung, Nghi Lâm biết rằng anh đang quyến luyến cô tiểu sư muội Nhạc Linh San. Thế nhưng, trong tâm hồn cô nữ ni 18 tuổi này đã nảy sinh một tình cảm mới lạ, vừa có vẻ tội lỗi với Đức Bồ Tát, lại vừa gây cho cô những xúc cảm dịu dàng. Nghi Lâm hoảng sợ trước tình cảm mới lạ ấy.Tình yêu đã làm cho nàng biết buồn, biết vui, biết nhìn mình trong gương và biết cả niềm vui của nụ cười. Trong đêm sao sáng, nhìn những ánh sao băng, cô cởi dải áo ra và cột lại dải áo để mong hoàn thành ước nguyện để rồi sợ hãi ngay chính lời ước nguyện của mình. 

Trọn đời Nghi Lâm chưa hề ăn cắp của ai một vật gì. Thế nhưng, vì tính mạng của Lệnh Hồ Xung, cô đã hai lần đi ăn cắp dưa và mỗi lần như vậy, trong cô lại nổi lên trận bão lòng dữ dội. Cô biết rằng vì Lệnh Hồ Xung, cô có thể làm tất cả mọi sự trên đời. Cô đã yêu Lệnh Hồ Xung, một tình yêu ban đầu nồng nàn đau đớn, một tình yêu không nói được lên lời vì lời khấn trọn đời hiến dâng cho đường tu, một tình yêu vô vọng. 

Tiểu sư muội Nghi Lâm với mối tình đơn phương rạt rào như sóng trường giang chẳng được ai nhắc đến nữa. Nhưng những giọt nước mắt lặng lẽ ấy của người ni cô thánh thiện Nghi Lâm đêm đêm vẫn rơi trên gối trong căn phòng nhỏ của chùa Hằng Sơn. Những giọt nước mắt thắm đượm tính vô ngã, vô thường dành trọn cho tình yêu thuần khiết mà Nghi Lâm để lại trong lòng của người đời vĩnh viễn khôn nguôi… 

Mộc Uyển Thanh 


Mộc Uyển Thanh chính là con gái của Đoàn Chính Thuần và Tần Hồng Miên trong Thiên Long Bát Bộ. Mộc Uyển Thanh có một mối tình trái ngang với Đoàn Dự. Nàng bị sư phụ ép phải lấy bất kỳ người đàn ông nào nếu người đó nhìn thấy khuôn mặt của nàng. Vì vậy, Mộc Uyển Thanh thường bịt mặt để che giấu gương mặt xinh đẹp của mình.Một lần, nàng bị Nam Hải Ngạc Thần truy đuổi, Đoàn Dự là người liên đới và cùng bị bắt. 

Vì không muốn để Nam Hải Ngạc Thần nhìn thấy mặt mình, Mộc Uyển Thanh đã tiết lộ gương mặt nàng cho công tử nước Đại Lý, đồng thời buộc chàng phải kết hôn hoặc cả hai cùng chết. Tuy nhiên, sau khi hai người được giải cứu, Uyển Thanh mới hay biết, Đoàn Dự hóa ra là anh cùng cha khác mẹ của nàng. Nàng đành phải rời bỏ Đoàn Dự trong đau đớn, xót xa. Mặc dù trên đường tới Tây Hạ, trong lòng nàng khôn nguôi nhớ đến Đoàn Dự nhưng khi thấy tình yêu si mê Đoàn Dự dành cho Vương Ngữ Yên, nàng đã chọn cách một mình rời xa Đại Lý. Cuộc tình ngang trái của Mộc Uyển Thanh dành cho Đoàn Dự như hạt sương mai lóng lánh trên suốt khoảng đường đời còn lại của nàng. 

Công Tôn Lục Ngạn 


Là con gái của Cốc chủ Tuyệt Tình Cốc – Công Tôn Chỉ - trong “Thần Điêu Đại Hiệp”, Công Tôn Lục Ngạc là tiểu thư đài các dịu dàng, hiền hậu và thầm yêu Dương Quá. Khác với người cha gian xảo và người mẹ Cừu Thiên Xích độc ác, Công Tôn Lục Ngạc như đóa hoa sen mong manh, gần bùn mà không hề vấy bẩn. Sự hy sinh của cô dành cho Dương Quá không kém gì Tiểu Long Nữ, Trình Anh, Lục Vô Song. Chỉ là nếu những người con gái kia mạnh mẽ thì Lục Ngạc chỉ là một nữ nhi yếu mềm. Nên cô nguyện hy sinh bản thân, chết dưới tay người cha độc ác, chỉ để cứu Dương Quá, kết thúc kiếp người đầy đau khổ của mình. 

Đây được xem là nhân vật phụ mang lại sự day dứt, đau buồn cho người đời, bởi số phận quá khắc khổ với Lục Ngạc. Nếu không gặp Dương Quá, liệu cô có hạnh phúc hơn? Hay chính sự hy sinh vì Dương Quá đã làm cuộc đời ngắn ngủi của cô có được hạnh phúc tròn vẹn nhất của kiếp người có được: tình yêu chân thật. 

Mục Niệm Từ 


Mục Niệm Từ là con nuôi của Dương Thiết Tâm, ngoài đời cô còn là đệ tử của Hồng Thất Công - chưởng môn của Cái Bang. Trong một lần tỷ võ chiêu quân, cô tình cờ giao đấu với chàng trai trẻ tuấn tú Dương Khang. Anh này là người duy nhất đã đánh bại được cô trong số những người muốn thử sức lấy cô làm vợ. Đó cũng là lúc bắt đầu cho mối tình giữa họ. Trớ trêu thay, cha nuôi của Dương Khang là Hoàn Nhan Hồng Liệt lại là người đã ép cha nuôi Mục Niệm Từ (Dương Thiết Tâm, cũng là cha ruột của Dương Khang) phải chết. 

Trong lòng cô tuy hận mà yêu, cô nhiều lần mong Dương Khang có thể quay đầu với cha nuôi mình mà về với cô. Nhưng dù sao, Hoàn Nhan Hồng Liệt đã có ơn dưỡng dục với Dương Khang suốt mấy năm trời, ông thật sự coi Dương Khang là con đẻ của mình. Vì lẽ đó, Dương Khang đã rất lúng túng không biết làm thế nào cho phải. Đến cuối cùng Dương Khang cũng chưa thật sự đưa ra được quyết định thì đã bị giết bởi chính mình - khi anh cố ý ám hại Hoàng Dung, đã chạm chưởng vào tấm nhuyễn vị giáp mà Hoàng Dung mặc có dính máu độc của loài mãng xà. 

Có thể nói Mục Niệm Từ là một cô gái có tâm hồn trong sáng, cao thượng, giàu lòng hy sinh, trắc ẩn. Tuy là một phụ nữ nhưng Mục Niệm Từ cũng rất giàu lòng yêu nước, biết rõ đúng sai. Khi biết Dương Khang theo giặc, Mục Niệm Từ đã vô cùng đau khổ. 

Sau khi Dương Khang chết, Mục Niệm Từ đã bỏ đi một mình. Cô chẳng còn thiết tha gì với cuộc đời nữa, mà dành hết tâm sức ra để mà nuôi giọt máu trong bụng, đứa con của cô với Dương Khang. Cuối cùng Niệm Từ nghĩ đến ngày mai của mình, tương lai của con nàng đã vượt qua mọi nỗi đau, giao lại cho Quách Tĩnh – Hoàng Dung nuôi dưỡng và đặt tên là Dương Quá. 

Hoàn toàn khác với cha, Dương Quá trở thành một anh hùng đại hiệp trong tác phẩm Thần Điêu Đại Hiệp, được giới võ lâm tôn vinh vào nhóm võ lâm ngũ tuyệt, mang danh hiệu Tây Cuồng Dương Quá. Để rồi cuộc tình tuyệt đẹp đầy bi kịch của Dương Quá và Tiểu Long Nữ đã khai hoa nở nhụy cô con gái huyền thoại chuẩn bị cho tác phẩm lừng lẫy khác, Ỷ Thiên Đồ Long Ký (hay Cô Gái Đồ Long) của Kim Dung. 

Lý Mạc Sầu 


Lý Mạc Sầu là đệ tử chân truyền của phái Cổ Mộ, như bao nữ nhân phái Cổ Mộ khác, Lý Mạc Sầu cũng phải lập một lời thề: “Không bao giờ rời khỏi Cổ Mộ đài, trừ phi đã phải lòng một trang nam tử”. Nhưng nàng cũng chỉ là một nữ nhi thường tình, hiền dịu và yếu đuối,muốn yêu và được yêu. Và nàng đã phạm vào lời thề nghiệt ngã ấy, nàng cam tâm chịu tiếng phản bội sư môn, phụ bạc sư phụ, vứt bỏ cả lễ tiết của người theo đạo, trở thành kẻ thân khoác áo đạo mà tâm không có đạo… tất cả chỉ để được sống bên người nàng yêu say đắm là Lục Triển Nguyên. Nàng cùng Lục Triển Nguyên thề non hẹn biển cùng nhau,ước định mãi mãi có nhau. Lý Mạc Sầu đã từ bỏ tất cả để theo tiếng gọi trong sâu thẳm trái tim và nàng đang rất hạnh phúc,ngỡ rằng những hy sinh của nàng âu cũng là xứng đáng. 

Nhưng ông trời thật khéo trêu người. Một Hà Cán Quân ngây thơ duyên dáng xuất hiện, đã lấy đi trái tim của Lục Triển Nguyên vĩnh viễn, cũng là lấy đi tình yêu duy nhất của Lý Mạc Sầu mãi mãi… 

Lý Mạc Sầu chơi vơi giữa cuộc đời, nàng không có sự lựa chọn nào cho bản thân khi giờ đây nàng đã mất đi tất cả. Nỗi đau quá lớn khiến Lý Mạc Sầu khoác lên mình bộ mặt lạnh lùng, oan nghiệt, mang đầy hơi thở gấp gáp của lòng tự tôn và thói ích kỷ. Nàng đi khắp thế gian gây thù chuốc oán, đôi tay nhỏ bé của nàng nhuốm đầy máu tươi của biết bao anh hùng nữ hiệp trên giang hồ. Lý Mạc Sầu trở thành một ma đầu giết người không gớm tay, bị tất cả mọi người khinh ghét và căm hận. Nhưng nàng vẫn ngẩng đầu bước tiếp con đường ấy để đứng trên cao khinh thị mọi thứ, để ve vuốt lòng kiêu hãnh đang bị tổn thương. Và chính lòng căm thù của Lý Mạc Sầu đạt đến đỉnh khi nàng giết cả nhà Lục Triển Nguyên, mang đến cho người mình yêu một kết cục vô cùng bi thảm. 

Người ta nói yêu là phải biết hy sinh cho người mình yêu, yêu là hạnh phúc khi thấy người mình yêu hạnh phúc. Nhưng Lý Mạc Sầu đã chối bỏ những luân lý đạo đức về sự hy sinh và lòng cao thượng đó, đối với nàng yêu là hận, yêu là muốn chiếm đoạt. Nhưng dù cố che giấu nỗi lòng của mình thì ẩn sâu trong con người Lý Mạc Sầu vẫn là một tình yêu sâu nặng với Lục Triển Nguyên và một khao khát có được tình yêu, có được hạnh phúc…Lý Mạc Sầu từng tha mạng cho Lục Vô Song và Trình Anh, cháu của Lục Triển Nguyên khi nhìn thấy chiếc khăn kỷ vật năm xưa nàng trao cho chàng Lục. Lý Mạc Sầu từng che chở cho Quách Tương, ái nữ của Hoàng Dung và Quách Tĩnh, đứa trẻ mà nàng tưởng là nghiệt chủng của một mối tình phi lễ giáo giữa Dương Quá và Tiểu Long Nữ. Tuy luôn miệng dọa giết đứa bé nhưng Lý Mạc Sầu lại chăm sóc , yêu thương và nâng niu nó. Phải chăng bên một Quách Tương bé nhỏ ngây thơ, Lý Mạc Sầu đã trở về bản ngã của con người mình? Lý Mạc Sầu từng vì vẻ bề ngoài của Công Tôn Chỉ, cốc chủ Tuyệt Tình cốc, giống với Lục Triển Nguyên mà nghe theo những lời đường mật của hắn để cuối cùng chết giữa biển lửa Tuyệt Tình. 

Lý Mạc Sầu biết yêu, biết hận nên nàng vẫn là một người có tình trên thế gian (chứ không phải một ma đầu tàn độc chỉ biết dùng “Băng phách ngâm chăm” và “Ngũ độc thần chưởng” làm bao đại cao thủ phải bỏ mạng dưới tay mình. Và đến những giây phút cuối cùng trên cuộc đời, trong đầu Lý Mạc Sầu vẫn chỉ có một hình bóng Lục Triển Nguyên. Thương thay cho Lý Mạc Sầu, yêu một đời hận một đời mà kết thúc lại không được gì ngoài một cái chết đầy bi thảm và câu than oán xót xa để lại cho người đời sau: "Hỡi thế gian tình là chi, mà đôi lứa hẹn thề sống chết"… (*) 

Durham, North Carolina 
Nguyễn Hoài Nam 

(*) "Hỡi thế gian tình là chi, mà đôi lứa hẹn thề sống chết" thường gợi đến câu nói nhân vật Lý Mạc Sầu trong tiểu thuyết Thần Điệu Đại Hiệp, mà chúng ta lầm tưởng là của nhà văn Kim Dung. Thật ra câu này trong bài từ tác phẩm Mô ngư nhi - nhạn khâu của nhà văn Nguyên Hiếu Vấn (1190-1257) ở cuối nhà Kim đầu nhà Nguyên: 

“Hỡi thế gian tình là chi? 
Mà đôi lứa hẹn thề sống chết? 
Trời Nam đất Bắc đôi nơi, 
Cánh chim rũ mỏi mấy hồi hàn ôn? 
Vui ân oán, biệt ly buồn, 
Si tình nhi nữ, khởi nguồn bi hoan. 
Tiếng xưa xa khuất mây ngàn, 
Về đâu lẻ bóng Thiên San tuyết chiều.”