Hiển thị các bài đăng có nhãn Thích Tuệ Sỹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thích Tuệ Sỹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 2 tháng 3, 2024

Thuyền Ngược Bến Không


Dưới hiên mưa vắng hồn khua nước
Thả chiếc thuyền con ngược bến không
Thơ Viên Linh, Thủy mộ quan

Tôi sinh ra thì thế chiến II đang hồi kết thúc. Lớn lên chút nữa, khi biết nghe và hiểu, những chuyện vãn người lớn về việc đánh nhau đâu đó, lúc nào đó, bao giờ cũng hấp dẫn như chuyện cổ tích. Mà hình như đó lại là những chuyện mà tuổi con nít của tôi được nghe nhiều hơn là chuyện cổ tích. Trong gia đình tôi, thỉnh thoảng thấy vắng đi một người lớn. Rồi lại nghe những câu chuyện thì thầm. Mấy chú, mấy anh lớn, đã từng ẳm bồng tôi, bỗng chốc họ trở thành nhân vật trong truyện cổ tích. Cách mà người lớn kể chuyện, lại làm cho không khí của chuyện cổ tích ấy càng trở thành huyền bí.

Cho đến khi lai rai đọc được tiếng nước ngoài, chuyện kể về chiến tranh bỗng thành hoài niệm; hay chỉ hình như là hoài niệm thôi, vì đấy là quá khứ mà mình không thấy, không nghe. Có điều, hoài niệm ấy không làm sao mờ đi được. Vì nó đã trộn lẫn quá khứ với hiện tại. Quá khứ ấy, khi chợt biết, nó đã có quá nhiều mất mát. Vì những người đã đi, chưa thấy ai trở lại. Rồi cả những người cùng trang lứa cũng lần lượt ra đi. Mình thì may mắn được ở lại. Nhìn quanh, bảng đen, lớp học, sân trường. Sự sống vẫn băng băng lôi người đi tới, với những cạnh tranh vất vả.

Chiến tranh, thù hận, và đâu đó, từ sâu thẳm của khát khao, tình yêu và sự chết là nỗi ám ảnh, và như chất liệu cho ý thức sinh tồn. Có một cõi thi ca riêng biệt như vậy. Dành cho những tâm hồn nhạy cảm. Nhìn con chim giãy chết trong tranh mà ngơ ngẩn, bàng hoàng. Nhưng ngôn ngữ của nó cũng biến hình. Tình yêu, thất vọng, đam mê, như những con sóng nồng nhiệt trên mặt nước, mà dưới đáy sâu ai biết ẩn chứa những gì.

Nước xa cuồn cuộn ra khơi
Sâu trong tâm thể có đôi giọt gần
(Dư tập, Thủy mộ quan)

Những câu thơ như vậy thật hiếm hoi cho một đời bận rộn. Không bận rộn sao được, khi quanh mình những bạn bèn trang lứa lần lượt ra đi. Một số người vượt suối, vô rừng. Đi theo tiếng gọi của hận thù, máu lửa, trong trái tim đang bốc cháy bởi chủ nghĩa anh hùng. Để lại cho thành phố khúc hát “Người đã đi, đi trên non cao…” Một số khác ra đi, để lại tiếng khóc nghẹn ngào, điên loạn: “Ngày mai đi nhận xác chồng. Say đi để thấy mình không là mình.” Tình yêu, thù hận, bỗng trở thành mâu thuẫn biện chứng.

Mấy chục năm sau, một thế hệ đang lớn, như nắng trưa xích đạo che lu ánh đuốc quá khứ lập lòe của mình; thỉnh thoảng tôi đi tìm lại một vài câu thơ đâu đó, mà cũng không dễ gì tìm được, để cho hoài niệm quay lại một thời, trong đó mình đã sống, đã suy nghĩ, ưu phiền, và cả đến những dại dột ngông cuồng của tuổi trẻ. Trong tình trạng mà người cũ lánh xa, vì hiểm nguy rình rập mơ hồ, thì chuyện biển rộng sông dài chỉ có trong tranh, và trong trí nhớ. Lại vẫn điệp khúc hoài niệm bâng quơ.

Tôi không đoán được bạn trẻ yêu thơ ngày nay, nếu tình cờ đọc được bốn câu thơ dưới đây sẽ gợi lên ấn tượng gì. Nhưng người đã sinh ra và lớn lên trong chiến tranh, mà tình yêu và thù hận là những xung đột, khắc khoải trong lòng, những câu thơ ấy gợi nhớ một thời, hay đúng hơn là một ấn tượng, có thể thoáng qua chốc lát:

Chiều về trên một nhánh sông
Bên tôi con nước đỏ lòng quanh co
Nước loang dưới đáy trời dò
Buồn tôi thánh thót trên lò nhân sinh
(Một Nhánh Sông, Dư Tập, Thủy Mộ Quan)

Đó là một chút hơi thở tàn sinh, như bóng nắng là đà trên mặt nước, không có những trầm mặc thăm thẳm trong lòng đại dương. Một nhúm cỏ xanh nhởn nhơ trên cánh đồng khô cháy. Nhưng ai có thể phê bình nhúm cỏ vô tình? Ấn tượng của một người đọc thơ từ trong hủy diệt bạo tàn của chiến tranh là như thế.

Rồi đất nước hòa bình, dân tộc đang trở mình từ trong khói lửa, để cho hận thù hóa thân thành tình yêu. Và cũng là lúc bắt đầu một thế hệ cầm bút bị khước từ. Vì đã không thể nhận thức tình yêu theo định nghĩa của biện chứng. Trong đó, tình yêu chỉ có thể trưởng thành bằng hận thù và hủy diệt. “Máu của người đem lại tình thương.”

Ngồi trên đỉnh đồi Trại thủy, giữa thành phố Nha trang, nhìn xuống bên dưới, từ trong làng kéo ra một đoàn thiếu nhi Tiểu học, hô vang khẩu hiệu chào mừng cách mạng, đả đảo văn hóa giáo dục phản động, đồi trụy. Tôi biết mình đang bị chối bỏ. Và bị chối bỏ thật. Từ chỗ là thành phần ăn bám, rồi trở thành phần tử nguy hiểm, và được liệt xuống hàng cặn bã xã hội, tạm tha tội chết để được ân huệ khoan hồng sống hết kiếp sống thừa. Lại một lần nữa, những người cũ của tôi theo nhau lần lượt ra đi. Thời chiến tranh, một lớp bạn lên rừng. Thời hòa bình, một lớp bạn xuống biển. Dân tộc chợt quay trở lại với huyền thoại mở nước. Những người con theo Mẹ, đã có lúc khinh ghét anh em mình, bỏ lên rừng. Một thời gian sau, những người con theo Mẹ lên rừng nay quay trở về đô thị. Lại những người anh em khác sợ hãi, vội bỏ trốn theo, tìm về biển:

Vua gặp Âu Cơ lúc thủy du
Cùng nàng rung động nước thiên thu
Duyên tan nàng bắt con về núi
Những đứa theo cha khổ đến giờ
(Thủy Mộ Quan)

Ba chục năm, một nửa theo Cha, một nữa theo Mẹ. Nhưng huyền thoại của nhà thơ này vẫn còn quên một số anh em trở thành côi cút. Cha thì ở đâu không thấy, mà tự thân thì bị ruồng rẫy bởi chính anh em mình ngay trên đất Mẹ. Không Cha, cũng không Mẹ, ta đi tìm dấu tích Trường sơn, “Quê người trên đỉnh Trường sơn. Cho ta gởi một nỗi hờn thiên thu.”(Thơ Tuệ Sỹ).

Tôi không nói đến hận thù. Nhưng một nỗi oan khiên nào đó, khiến cho lời nói của mình như trong cơn mê sảng. Bạn cũ ở quanh đây thôi, vẫn gần như những ngày nào, một thời buồn vui. Có lẽ bạn cũ ngại ngùng, ngại nghe những điều được giả thiết là tôi sẽ nói. Thật sự, tôi chẳng được phép nói gì cả. Vẫn được chỉ định phải đứng bên lề xã hội đang hội nhập văn minh. Còn những bạn khác, hãy gọi là cố nhân, bấy giờ mỗi kẻ một phương trời. Tôi chẳng biết họ đang làm gì, đang nghĩ gì. Mỗi người một phong cách, trong một thế giới mở rộng, đa văn hóa. Tôi nghe nói như vậy.

Dù ở phương này hay phương kia, dù có hay không có hai trận tuyến văn chương cùng chung loại hình ngôn ngữ của Mẹ, vẫn còn hàng vạn nắm xương dưới lòng biển:

Lưu vực điêu tàn ở Biển Đông
Xương bầy như thú cháy rừng hoang
Nhưng rừng không cháy nào đâu thú
Người chết thân chìm Thủy Mộ Quan.
Viên Linh, Thủy mộ quan

Hận thù có thể xóa được dễ dàng thôi, nhưng u uẩn của những hồn oan đáy biển vẫn ám ảnh tâm tư. Người sỗng vẫn mang mãi ân tình của người đã chết, dù trên rừng hay dưới biển, vì oan nghiệt riêng tư hay vì tình chung dân tộc. Xưa Nguyễn Du đã làm “Văn tế thập loại chúng sinh”; không chỉ là món nợ văn chương cho người đã chết, mà đó còn là tình tự thiết tha từ cõi chết vọng về. Tôi đọc bài “Gọi hồn” trong Thủy mộ quan cũng với tâm trạng tương tợ:

Trên Huyết Hải thuyền trồi về một chiếc
Chiều bầm đen trời rực rỡ đau thương
Thân chìm xuống băng tuyền giờ tận biệt
Sóng bạc đầu hối hả phủ trùng dương.
(…)
Trong rêu xanh ngân ngật bóng sơn hà
Lướt hải phận về dưới trời cố quốc.
(…)

Bài thơ không mang tiết nhịp gây cảm xúc bàng hoàng tức khắc, nhưng những ấn tượng rải rác trong cả tập Thủy mộ quan làm cho bài thơ phảng phất nỗi kinh sợ, rùng mình:

Trinh nữ trầm oan nổi giữa dòng
Thân băng ngàn hải lý về sông
Xung quanh không một người than khóc
Chỉ cá trùng dương theo hộ tang.

Dù sao thì đất nước cũng đang hồi sinh. Những người ra đi, lần lượt kéo nhau về. Ấy thế, hờn giận giữa anh em vẫn còn là vết thương nhức nhối. Văn chương bây giờ vẫn là một lựa chọn, hoặc một nhân cách. Thi ngôn chí. Thiên cổ văn chương thiên địa tâm. Trong tận đáy sâu tâm khảm, mỗi nhà thơ vẫn chung một tình tự nghìn đời, dù biểu hiện có hận thù cay nghiệt. Tôi mong được như lời Viên Linh nói:

Sinh ở đâu mà giạt bốn phương
Trăm con cười nói tiếng trăm giòng
Ngày mai nếu trở về quê cũ
Hy vọng ta còn tiếng khóc chung.

Tuệ Sỹ
Saigon, đông 2004

Chủ Nhật, 25 tháng 2, 2024

Thầy Tuệ Sỹ Tại Như Thị Thất

Nhạc Sĩ Võ Tá Hân - Thầy Thích Tuệ Sỹ

Cách nay khoảng 15 năm, tôi có ghé đến chùa Già Lam thăm Thầy Tuệ Sỹ nhưng không gặp và sau đó thì gặp Thầy tại Như Thị Thất.  Xin gửi tặng Dũng mấy tấm ảnh chụp kỷ niệm với Thầy Tuệ Sỹ. 

Lần ấy thì Thầy nói chuyện về âm nhạc (Thầy cũng đàn guitar cổ điển) và khuyên tôi viết về Kinh tế Phật giáo...

Hình Ảnh: Võ Tá Hân

Thứ Hai, 27 tháng 11, 2023

Bình Minh - Thơ: Tuệ Sỹ - Phổ Nhạc:Tôn Thất Minh - Hòa Âm: Tuấn Khanh - Trình Bày: Nguyễn Quang


Thơ: Tuệ Sỹ
Phổ Nhạc:Tôn Thất Minh
Hòa Âm: Tuấn Khanh
Trình Bày: Nguyễn Quang

Tạ Ơn Hòa Thượng Thich Tuệ Sỹ

  

Tiếc-thương Thầy Tuệ Sỹ
Đã về cõi Niết-Bàn
Đau-khổ chốn trần-gian
Vì hi-sinh đạo pháp!
Thầy chịu nhiều bão-táp
Bị quản-thúc tử-hình!
Nhờ thế-giới công-minh
Phật từ-bi cứu-độ!
Được thoát qua nạn khổ
Thầy nghiên-cứu giảng kinh
Trí-tuệ sáng thông-minh
Từ-bi và buông-xả!
Thầy hi-sinh cao-cả
Xuất-bản nhiều sách kinh
Nguyện cứu-độ chúng sinh!
Thoát luân-hồi sinh tử.
Thầy hoàn-thành Phật sự
Giải-thoát khỏi trần-gian
An-lạc cõi Niết-Bàn
Tạ ơn Phật cứu-độ.

Minh Lương 
Cali, ngày 24/11/2023

Khóc Thương Thầy Tuệ Sỹ


Người đã đi về phương trời xa thẳm
Thịt da người máu đỏ thấm chân đi
Tư tưởng người trái tim còn nóng bỏng
Vì tha nhân còn ảo vọng sân si.

Ánh hào quang chiếu sáng thời hiện tại
Tuyệt tác văn chương chứng tỏ nhân tài
Đức khiêm nhường tự cho mình nhỏ bé
Lúc đêm khuya vằng vặc ánh sao mai.

Để một thoáng nơi trần gian tạm trú
Cánh hạc bay rồi đến tận chân mây
Thầy Tuệ Sỹ vĩnh hằng nơi chín suối
Lòng bồi hồi chưa kịp nói chia tay.

Tiếng kinh cầu âm vang nơi cửa Phật
Mái chùa cong bóng dáng vị sư già
Thích Tuệ Sỹ người hiền từ chân chính
Xác thân này xin phủ áo cà sa.

Tế Luân
Thành kính phân ưu Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ
Tháng 11-24-23

Kính Tiễn Hòa Thượng Tuệ Sỹ

 

Gió lạnh thu sầu lá ngập hiên
Tin buồn Hòa Thượng đã nằm yên
Nhà thơ đạo pháp ban lời ngọc
Tu sĩ kinh từ khỏa bút nghiên.

Cốt cách oai nghi ngài đạt diệt
Tâm tư vững chãi bậc tham thiền
Nhân quyền giải thưởng tùy duyên hợp
Phật quốc cao đăng đấng thánh hiền.

Minh Thúy Thành Nội
Tháng 11/24/2023

Thầy Tuệ Sỹ Đã Viên Tịch!




(Bài Hát Nói mộc mạc, đơn sơ như một nén nhang viếng Hương Linh Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ đã vừa viên tịch!)

Tám mươi năm tại thế!
Tấm thân gầy Tứ Diệu Đế dứt nghiệp duyên!
“Ai biết mình tóc trắng? Vì yêu ngọn nến tàn” trong Rừng Vạn Giả thâm xuyên!
Mình Quảng Bình tay trắng! Mình Tuệ Sỹ không tàn! Mình thiền trong cô quạnh!

Tuệ nhãn thênh thang hoài chẳng tạnh!
Sỹ tâm khoảng khoát mãi còn xanh!
Cao Tăng, Học Giả, Văn Thi Sĩ, Nhạc Sĩ! Thiên tài dấu trong hình dáng thanh thanh!
“Rừng khuya bên bếp lạnh. Ngồi đợi gió sang canh!” Muối tiêu một hạt!

Đệ Tử không bi lụy khóc thương vì Thầy đã về với chư Phật!
Nhẹ nhàng mà đến! Thanh thản mà đi. Thật Sắc Sắc Không Không!
“Sa mù đá vách rơi hồng”!
Thầy đà viên tịch! Non Bồng hào quang!
Thơ Thầy! Con họa mênh mang!
Bóng Thầy in đậm Kim Cang truyền thừa!
Ngoài trời bỗng nặng cơn mưa!

Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 26/11/2023
14 Tháng 10 Âm Lịch Năm Quý Mão, Ngày Mậu Tý. Hành Hỏa, Trực Trừ, Sao Hư. Cát Thần: Quan Nhật, Thiên Mã, Cát Kỳ.

Tuệ Sỹ Nhà Thơ - Đỗ Quý Toàn


Hãy tưởng tượng có mình, người nói, và có thế giới chung quanh, trong đó có người nghe mình nói. Đó là giả thuyết đầu tiên khi làm thơ –bất cứ khi nào mở miệng cất nên lời.

Nhưng người làm thơ có nhất thiết muốn nói cho một người nào đó nghe mình hay không? Các thi sĩ vẫn tự đặt câu hỏi này. Luis Cernuda khi kể kinh nghiệm làm thơ, đã thú nhận: “Đây là lần đầu tiên trong đời tôi dám nói trực tiếp với mọi người. Cảm giác thật lạ lùng, vì người làm thơ thường không giả thiết có một công chúng đang nghe mình ...”
Ít nhất, Cernuda giả thiết có mình và có công chúng ở thế giới bên ngoài – Do giả thuyết ngã, pháp. Nếu không thì ở đâu ra thơ?

Nhưng Cernuda không cần giả thiết một đối tượng đang nghe mình nói. Những người làm thơ khác có nghĩ mình nói cho người nào nghe hay không?
Trong bốn câu thơ này Tuệ Sỹ nói cho ai nghe?

“Một thời thân đá cuội
Nắng chảy dọc theo suối
Cọng lau già trầm ngâm
Hỏi người bao nhiêu tuổi”
(Bài số 10 trong Thiên Lý Độc Hành)

Nhà thơ nói với ai? Viên đá cuội? Nói với chính mình, với mình trong viên đá cuội? Mình là viên đá cuội, “Bởi ta hồn đá phơi mầu nắng – Ôm trọn bờ lau kín nỗi buồn.” (Bài số 4)
Hay nhà thơ nói với dòng suối và ánh nắng chảy theo dòng suối? Hay với cọng lau già trầm ngâm? Nhà thơ đang thủ thỉ với suối, nắng, viên đá, cọng lau, hay nói một mình?
Tại sao bỗng bật lên câu “hỏi người bao nhiêu tuổi?” Người đặt câu hỏi tuổi tác vì đang trải qua kinh nghiệm sống trong một dòng thời gian. Những hình ảnh trước mắt khuấy cho một niệm vụt qua chạy dài vô lượng kiếp. Có phải vì hình ảnh viên đá cuội trong dòng nước chảy? Viên đá cuội nằm yên bất động dưới ánh sáng lung linh của mặt trời. Nắng theo suối tuôn chảy không bao giờ ngừng; những mảnh sáng lấp lánh lớp lớp dạt dào vừa cuốn đi lại một cơn sáng lấp lánh khác nhào tới. Nước cuốn nắng trôi, trôi mãi mãi, sâu, xa, tít tắp, sinh sinh diệt diệt bất tận không biết sẽ tới bến, bờ, sông, biển, đại dương nào ào, “hằng chuyển như bộc lưu” hay tới những thái dương hệ, những tinh hà nào khác?

Viên đá cuội hầu như bất động. Dòng suối đổ dốc từ cao xuống thấp hầu như không ngừng nghỉ. Tự nhiên trong các tế bào não “nơ rôn” trong óc nảy ra khái niệm thời gian tiếp nối trôi chảy. Bật lên như một câu hỏi: Hỏi người bao nhiêu tuổi?
Nhưng ai hỏi ai bao nhiêu tuổi? Cọng lau già hỏi con người hay con người hỏi cọng lau già? Anh đã trầm ngâm đã bao nhiêu năm tháng rồi? Anh đã thấy gì chưa?
Hay con người đặt câu hỏi với viên đá sỏi – Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt!
Hay người hỏi tuổi dòng nước? Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ!
Hỏi người bao nhiêu tuổi. Đây thật sự là một câu hỏi hay chỉ là những lời nói trống trơn? Cọng lau, dòng suối, ánh nắng, viên đá cuội, lần lượt hiện ra, Hay tất cả có mặt cùng một lúc? Ở bên ngoài hay bên trong người làm thơ?

Người làm thơ bước chân đi,

“Bước đi nghe cỏ động
Đi mãi thành tâm không
Hun hút rừng như mộng
Chập chùng mây khói trông”
(Bài 11)

Người bước đi và nghe dù không cố ý lắng nghe. Có tiếng cỏ động sột soạt trong đầu. Bước đi. Nghe. Bước nữa, Vẫn nghe. Chân bước, tai nghe, trong đầu dần dần phẳng lặng, tĩnh mịch, bình an, trống rỗng. Đi mãi thành tâm không.

Nhưng mắt vẫn thấy rừng. Ai đã lang thang trong rừng đều biết mỗi lần nhìn một thân cây lại thấy cây cối như đang ngó lại mình. Chào cây, cây chỉ nhìn nhưng im lặng. Rừng lặng lẽ không lời, chập chùng, hun hút, như cảm giác của Boris Pasternak: Và rừng nhìn bạn, và bạn nhìn rừng. Chập chùng mây khói trông.

Nhà thơ có ý định nói cho ai nghe không? Có lẽ không cố ý nói cho ai nghe, khi tự nói với mình:

“Trầm luân từ thủa ban sơ
Thân sau ta vẫn bơ vơ bụi đường.”
(Bài số 7)

Những người làm thơ cuối cùng đều nói với chính mình, trước hết nói cho mình nghe, dù bài thơ có dụng ý thảo một bản tuyên ngôn. Nếu không biết nói cho một mình nghe thì khó truyền đạt được điều gì cho người khác.

Câu thơ chót bài số 2 trong Thiên Lý Độc Hành thổ lộ: “Nghìn năm ta mãi đứng chờ đỉnh cao.” Chúng ta có thể đọc Thiên Lý Độc Hành của Tuệ Sỹ như vậy. Người đọc và người viết chia sẻ một cái nghiệp chung. Một ngôn ngữ. Một dân tộc. Một đất nước. Một lịch sử. Một nền giáo dục. Và bao nhiêu thứ khác ràng buộc trùng trùng.

Những câu thơ xuất hiện, vì nghiệp đã chín mùi. Tiếng nói bật ra, tuôn trào vì cơn thôi thúc tự bên trong không kiềm chế được! Nhà thơ không dùng tiếng nói. Chính ngôn ngữ đã sử dụng một con người để biểu hiện. Người, tiếng nói, câu thơ, cùng trong vũ điệu của một nghiệp dĩ, không ai là tác giả. “Tùy kỳ sở hành nghiệp – như thị quả báo sanh – tác giả vô sở hữu – chư Phật chi sở thuyết” (Hoa Nghiêm, Phẩm số 10) 隨其所行業  如是果報生   作者無所有  諸佛之所說

Tuệ Sỹ mở đầu Thiên Lý Độc Hành với câu thơ “Ta về một cõi tâm không.” Và kết thúc: “Mưa lạnh đèo cao không cõi người.” Cứ như thế. Đi một mình. Ngàn dậm. Chưa hết.

Đỗ Quý Toàn
---------------
Chú Thích Luis Cernuda sanh năm 1902 ở Seville, Tây Ban Nha, mất năm 1963 ở Mexico. Đoạn trích trong bài này lấy từ một tiểu luận Cernuda viết trong tuyển tập “Công Việc của Nhà Thơ” (The Poet’s Work) do Riginald Gibbons chọn và dịch, NXB Houghton Mifflin, Boston, Mass. USA,1979.

(Hoàng Yến Sưu Tầm)

Thứ Bảy, 25 tháng 11, 2023

Kính Tiễn Người Đi

 

(Tin Thầy viên tịch.)

Bóng Người khuất nẽo tà dương
Bóng ta còn lại bên đường thế nhân.
Mây về đâu,
Nẽo phù vân!

Ngàn sương rụng xuống xao tầng biển xa.
Ngỗn ngang nhịp bước ta bà
Ngỗn ngang sự thế, tình hoa cỏ nầy.
Gió về lạnh dấu chân mây,
Trăng nghiêng bóng núi, sương cài dấu xưa.

Người đi giữa tiết giao mùa
Thanh âm còn vọng gió đưa điệu đàn.
Khung trời cũ, mộng quan san,
Nẽo phù vân đã khuất ngàn sao xa.

New Orleans, ngày 24/11/2023.
Mặc Phương Tử

Khung Trời Cũ


Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối chưa tan
Cười với nắng sao một ngày chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách thường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn

Thích Tuệ Sỹ
( Trích thơ tưởng nhớ )

Thứ Năm, 29 tháng 9, 2022

Trầm Mặc - Hư Vô

 

Bài Xướng

Trầm Mặc

Anh ôm chồng sách cũ
Trầm mặc những đêm dài
Xót xa đời lữ khách
Mệnh yểu thế mà hay

Hoà Thượng Thích Tuệ Sỹ
Trích từ Giấc Mơ Trường Sơn. 
Viết tại Nhà Tù ở rừng Vạn Giả năm 1977

***
Bài Họa:

(Kính tặng Nhà Thơ Kim Oanh, Nhà Thơ Sương Lam, 
Nhà Thơ kiêm Giáo Sư Thỉnh Giảng Phật Học Thực Hành Trần Việt Long và Quý Độc Giả)

Hư Vô

Mỹ Nhân
Tây Thi về bến cũ
Áo lụa thướt tha dài
Nhẩy múa mừng! Chim Khách
Tình yêu ấy! Không hay?

Tri Kỷ

Đàn xưa lên giây cũ
Thấm thoát tháng ngày dài
Tử Kỳ ơi! Có khách!
Bá Nha này! Có hay?

Hàn Tín

Thương danh tài ngày cũ
Đuổi ngàn địch thua dài
Côn đồ cười khanh khách!
Lòn trôn thế mà hay!

Bối Thuỷ

Hai ngàn năm chẳng cũ
Quân Sử mãi khen dài
Tỉnh Hình kìa! Đón khách!
Dàn Bối Thuỷ thật hay!

Vạn Lý

Soi trường thành bóng cũ
Thăm thẳm tháng năm dài
Không đủ tay đếm khách!
Kỳ quan mãi còn hay!

Tư Hãn

Đế Quốc Mông Cổ cũ
Nối liến Á, Âu dài
Chết quê người, đất khách
Thua tại Việt có hay?

Nam Kha

Gốc cây Hòe xưa cũ
Cả một cuộc đời dài
Đỗ, quan, giàu, chủ, khách . . .
Kê chưa chín không hay!

Viên Viên

Giá đừng xa quê cũ
Vương, tướng chẳng theo dài
Đừng vén màn đón khách
Đep quá! Có gì hay!

Thuý Kiều

Chuyện xưa nhưng chẳng cũ
Tài, Mệnh ngẫm đêm dài
Phải bao lần tiếp khách?
Tâm nhân hậu mà hay!

Caesar

Danh tướng La Mã cũ
Câu Nói để lâu dài
Dáng oai hùng kiếm khách
Bị đâm chết không hay?

Ức Trai

Lệ chi Viên ngày cũ
Tựa một giấc mơ dài
Chiếu gon đây! Mời khách!
Họa chi? Để không hay!

Hư Vô

Có ai nhìn đời cũ?
Đi qua mọi ngắn dài?
Chủ bao lần tiễn khách?
Đừng sinh! Thế mà hay!

Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 08/09/2022

Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2022

Tĩnh Thất

 

Bài Xướng:
Tĩnh Thất

Nghe luyến tiếc như sao trời mơ ngủ
Đêm mênh mông để lạc lối phù sinh
Ánh điện đường vẫn nhìn trơ cửa sổ
Ngày mai đi, ta vẽ lại bình minh

Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ
Viết tại Trại Giam X4, Sài Gòn 1979
***
Bài Cảm Tác:

Tỉnh Thức

Có những Người Nam không hề có ngủ!
Là hồn thiêng Tử Sĩ! Chẳng còn sinh!
Vẫn lặng nhìn những kẻ thù! Tính sổ!
Phù hộ đem nước Việt đến quang minh!

Có những Người Nam thấy dân say ngủ!
Gào thét cho thây chết được hồi sinh!
Lòng thiết tha như vạch ngang nét sổ!
Đem ánh dương tiêu diệt bóng minh minh!

Có những Người Nam khóc trong giấc ngủ!
Mơ thấy quê hương vươn dậy quyết sinh!
Hàng đoàn Chiến Binh giơ tay vào sổ!
Quyết noi gương bao Tiền Bối Thánh Minh!

Có những Người Nam cười khi đang ngủ!
Thấy toàn dân lòng ái quốc tương sinh!
Lập chiến công, tiếp chiến công! Cộng sổ!
Hùng Vương, Minh Quân, Văn Thánh hiển minh!

Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 08/09/2022
(Kính tặng Nhà Thơ Kim Oanh, Nhà Thơ Sương Lam, Nhà Thơ Trần Việt Long và Quý Độc Giả)