Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2025

Chiều Bên Giáo Đường - Nhạc: Lê Trọng Nguyễn(1970) - Ca Sĩ: Hà Thanh

(Ảnh do Carl Mydans chụp tại Saigon, 1950)

Hoàng Yến mời quý anh chị QuánNhạcXưa bước vào nhạc điệu dịu buồn với hình ảnh Chiều Bên Giáo Đường & Lê Trọng Nguyễn, vàng rơi, nắng nghiêng, hồi chuông, gót son, hoa ướt...
Lời hát vang đưa cô liêu bên giáo đường yêu. 

Hoàng Yến


 (Hà Thanh ghi âm với hòa âm Ngọc Chánh cho băng nhạc Shotguns 10 - Giáng Sinh và Truyện Ca)

Nhạc: Lê Trọng Nguyễn
Ca Sĩ: Hà Thanh

 

Chủ Nhật, 17 tháng 12, 2023

Lê Trọng Nguyễn, Nắng Chiều & Phố Cổ Hội An


Phố cổ Hội An nằm bên dòng sông Hoài (sông Thu Bồn chảy qua) hình thành từ thế kỷ 16 với diện tích khoảng 2.5 km² nhưng lúc đó dân cư còn thưa thớt. Vào thế kỷ 17, nhà Mãn Thanh đàn áp dân chúng nhà Minh nên họ tìm đường trốn về phương Nam, trong đó có Hội An và cùng lúc thương nhân người Nhật sang buôn bán nên trở thành trung tâm thương mại và hầu hết là người Minh Hương...

Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã sáng tác nhiều ca khúc: Ca khúc đầu tay Ngày Mai Trời Lại Sáng năm 1946, Bến Giang Đầu (Nắng Chiều 2), Cánh Nhạn Bay Qua, Bài Luân Vũ Trong Đêm, Chiều Giang Hồ, Chim Chiều Không Tổ, Chim Hót Về Đêm, Cung Điệu Buồn, Đêm Mưa Bão, Đừng Quên Nhau, Gió Bão, Hương Một Đêm Trăng, Khi Bóng Đêm Về, Lời Việt Nữ, Màu Tím Hoàng Hôn, Màu Tím Cuộc Đời, Mùa Hoa Nở, Một Nét Tô Châu, Nguyện Cầu, Nhìn Biển Bơ Vơ, Nhớ Thu Hà Nội, Niềm Tin Vui, Quê Em Miền Biển Cả, Sau Mùa Chinh Chiến, Sầu Thế Hệ, Sóng Đà Giang, Sóng Hờn, Sóng Nước Viễn Phương (lời Thẩm Oánh), Thuyền Lãng Tử, Tím Cả Cuộc Đời, Tìm Nơi Em, Tình Vui Thôn Trang, Trăng Lại Sáng, Vác Đàn Đi Đâu, Vầng Trán Đau Buồn… Trong đó có nhiều ca khúc nổi tiếng, quen thuộc trải qua nhiều thập niên như: Chiều Bên Giáo Đường, Bến Giang Đầu, Lá Rơi Bên Thềm (lời Nguyễn Hiền), Dạ Khúc, Sao Đêm, Cát Biển (viết chung với Y Vân)…

Khi nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn qua đời, với sự cảm mến con người và tài hoa, nhiều bài viết về ông nên trong bài nầy chỉ đề cập nơi cố hương tham gia trong âm nhạc và ca khúc Nắng Chiều với hình ảnh người tình đầu đời và cũng là nhạc phẩm Rumba Boléro đầu tiên của nền tân nhạc Việt Nam. Tên tuổi ông gắn liền với ca khúc nầy từ trong nước đến hải ngoại.

Cái nôi âm nhạc phố cổ khởi thủy từ người Minh Hương, nhạc sĩ La Hối (1920-1945) tên thật là La Doãn Chánh, con thứ 10 của gia đình La Thiên Thái, hiệu buôn nổi tiếng tại Hội An thời bấy giờ. Vào thời điểm tân nhạc bắt đầu phát triển tại Việt Nam, năm 1936-1938, La Hối vào Sài Gòn học tiếp văn hóa Trung Hoa bậc Cao Trung và đồng thời trau dồi thêm âm nhạc cổ điển Tây phương và sáng tác, là người tài hoa sử dụng thành thạo guitare, accordeon và piano.

Với năng khiếu về âm nhạc, ông học hỏi thêm về lý thuyết nhạc cổ điển Tây phương đang thịnh hành tại đây. Sau khi trở về Hội An, với ý tưởng muốn phát triển tân nhạc, La Hối đã chiêu mộ những thân hữu yêu thích và có khả năng trình tấu âm nhạc thành lập Hội Ái Hữu Âm Nhạc Faifoo (Societe philharmonique de FaiFoo) tại Hội An năm 1942.

Hội thuê ngôi nhà tọa lạc tại đường Rue de Gia Long (sau năm 1954 đổi thành Lý Thường Kiệt) làm trụ sở. Khởi thủy hội gồm các thành viên: La Hối sử dụng piano; Vương Quốc Mỹ, Vương Quang, La Gin, Trần Can sử dụng violon; Lâm Cự sử dụng banjo alto, accordion; La Xuân, Thái Chí Hải sử dụng bagnio; Ghibli sử dụng saxophone alto, trompette; Lê Văn Miêng, La Thiều sử dụng trống; Duy Liễu sử dụng saxophone tenor.

Nhạc sĩ La Hối cũng dùng trụ sở này mở lớp dạy ký âm, hướng dẫn lý thuyết và thực hành cho thanh niên yêu âm nhạc ở địa phương theo học. Nhiều thanh niên yêu âm nhạc tại Hội An đã theo học và tham gia vào hội như: Dương Minh Ninh, Dương Minh Hòa, Lê Trọng Nguyễn, Lê Khuê, Hoàng Tú Mỹ, Trương Đình Quang,… hầu hết họ sau này đều trở thành nhạc sĩ. Có thể gọi trụ sở hội Hội Ái Hữu Âm Nhạc Faifoo là lớp dạy tân nhạc đầu tiên tại Hội An.

Năm 1944, La Hối sáng tác bản nhạc Le Printemps et la Jeunesse. Thoạt đầu đây chỉ là bản nhạc hòa tấu, một thời gian sau một người bạn của ông là Diệp Truyền Hoa mới viết lời Hoa với tựa đề Thanh Niên Dữ Xuân Thiên. Năm 1946, khi đoàn kịch nói Anh Vũ vào Nam biểu diễn, Thế Lữ rất thích bản nhạc này nên đặt lời Việt cho bản nhạc với tựa đề Xuân & Tuổi Trẻ. Lời Việt đã chắp cánh cho bản nhạc này được lan truyền rộng rãi hơn và nổi tiếng cho đến tận ngày nay. Nhạc sĩ La Hối gia nhập hàng ngũ Trung Hoa Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới thạch để chông Nhật. Ông bị Nhật bắt giam và xử bắn cùng 9 “nghĩa quân” vào tháng 5, 1945!

Tiếp nối Hội Ái Hữu Âm Nhạc Faifoo, giới trẻ thành lập những nhóm nhạc gia đình, vừa biểu diễn vừa sáng tác nhạc Việt trên nền nhạc lý phương Tây. Gia đình nhà nhiếp ảnh Huỳnh Sau, gồm các thành viên trong gia đình: Huỳnh Bá sử dụng banjo, mandolin; Huỳnh Phụng sử dụng piano; Huỳnh Đồng sử dụng kèn saxophone; Huỳnh Cầm, Huỳnh Sỏ, Huỳnh Liên sử dụng violon.

Các gia tộc La, Vương, Thái, Trương, Dương cũng có những nhóm riêng. Tuy nhiên, phố cổ nhỏ hẹp mọi người đều quen biết nhau nên nhiều khi những nhóm khác nhau thỉnh thoảng chơi chung với nhau trong chương trình âm nhạc.

Từ năm 1949 đến 1952, giới trẻ thành lập nhóm nhạc Học Sinh Hội An biểu diễn tại các chương trình văn nghệ học đường, những thành viên của nhóm nhạc này về sau đều là những trụ cột của những nhóm nhạc được thành lập trong giai đoạn kế tiếp.

Nhạc sĩ Hoàng Tú Mỹ cùng các nhạc sĩ Lan Đài, Dương Minh Ninh, Trương Đình Quang, Lê Trọng Nguyễn… là những thành viên đầu tiên tham gia Hội Ái Hữu Âm Nhạc Hội An (Societe philharmonique de FaiFoo) do nhạc sĩ La Hối khởi xướng năm 1942. Chính hội âm nhạc này và các thành viên của họ đã đặt nền móng vững chắc cho văn nghệ phố cổ Hội An ngay từ thời kỳ đầu tân nhạc và lan tỏa rất rộng rãi… tóm tắt bài viết của Lê Trọng Nguyễn về Tân Nhạc Việt Nam (1920-1950) từ Hà Nội đến Hội An, Quảng Ngãi, Nha Trang, Đà Lạt…


Theo hồi tưởng của nhạc sĩ Trương Đình Quang (chú nhạc sĩ Trương Duy Cường): “Ở đây hầu như ít có gia đình nào không có nhạc cụ dân tộc”, thiết nghĩ riêng điều này cũng đã thể hiện được phần nào tinh thần yêu âm nhạc của người dân Hội An. Cũng vào thời điểm này, giới thanh niên theo Tây học tại đây cũng đã bắt đầu mày mò sử dụng các nhạc cụ từ phương Tây du nhập vào Hội An. Họ cũng đã hình thành những nhóm hòa tấu các tác phẩm âm nhạc phương Tây.

Trong ký ức của nhạc sĩ Hoàng Tú Mỹ, nhạc sĩ Phạm Duy đã từng đến và tá túc tại Hội An trong trụ sở của Hội Ái Hữu Âm Nhạc Faifoo, ghi lại trong hồi ký “Khi gánh hát vào Faifoo tôi còn thấy thanh niên ở đây yêu âm nhạc hơn tất cả thanh niên ở những nơi tôi đã đi qua”.

Hội An không chỉ có mỗi một mình nhạc sĩ La Hối sáng tác các nhạc phẩm Xuân & Tuổi Trẻ, còn có nhiều các tác giả khác vừa chơi nhạc vừa sáng tác ca khúc như: La Xuân với Hội An Ngày Về (lời Hoa của Diệp Truyền Hoa). Doãn Chánh với Mộng (lời Hoa của Diệp Truyền Hoa, lời Việt của Đằng Vân). Dương Minh Ninh với Bài Ca Tự Túc (lời Lưu Trùng Dương), Vọng Sơn Hà (lời Duy Liễu). Thái Trữ với Đường Chiều, Trai Đất Việt, Tiếng Đàn Xe Nước… những ca khúc nầy không hay nên bị mai một theo thời gian!

Lợi dụng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Huỳnh Bá kéo theo Hoàng Tú Mỹ tham gia cùng với nhiều nhạc sĩ đồng hương như Lê Trọng Nguyễn, Lan Đài, Dương Minh Ninh, Phan Huỳnh Điểu… họ cùng nhau thành lập Ban Văn Nghệ mang tên Xung Phong tham gia chương trình nghệ thuật thường niên tổ chức ở Quảng Ngãi, Bồng Sơn, Tam Quan (Bình Định), nòng cốt của ban nhạc đều là những nghệ sĩ phố Hội.

Sau năm 1954, một số văn nghệ sĩ ở Liên Khu 5 ra Bắc; những nhạc sĩ còn lại: Hoàng Tú Mỹ cùng các nhạc sĩ thành lập ban nhạc vào năm 1958: La Gia Quảng sử dụng piano, Võ Văn Thọ (cậu họ tôi) sử dụng mandolin, Huỳnh Nhâm sử dụng accordeon, Lê Khuê, Hoàng Tú Mỹ sử dụng violon, Trần Thanh sử dụng trống, Thái Xuân Đình sử dụng contrabass… Nhạc sĩ Dương Minh Ninh về Huế, dạy nhạc ở trường Bồ Đề, Sư Phạm Quy Nhơn. Nhạc sĩ Lan Đài (Nguyễn Kim Đài) vào dạy nhạc ở Phan Thiết, Sài Gòn nổi tiếng Chương Trình Lan Đài về âm nhạc. Các nhạc sĩ Lan Đài, Lê Trọng Nguyễn, Nguyễn Hiền, Hoàng Nguyên, Anh Việt (Đại Tá Trần Văn Trọng) in chung tuyển tập Nhạc Ru Tuổi Hồng. Các quyển nhạc lý của Lan Đài là của ông coi như thầy dạy nhạc của tôi. Tôi có viết bài Nhạc Sĩ Lan Đài & Nỗi Nhớ Xa Xôi còn lưu trữ trên các trang websites…

Sau đó có thêm La Vĩnh Châu, sử dụng violon (anh rể tôi, cháu nhạc sĩ La Hối, cháu nhạc sĩ La Gia Quảng, danh cầm thủ, nhạc sĩ La Gia Quảng có 4 người con trai và các cháu nội của ông đều là nhạc sĩ trình diễn ở Hội An qua 3 thế hệ), anh Trầm Thế Liệu, Radio Tường Quang, bán nhiều dụng cụ âm nhạc duy nhất ở Hội An cũng tham gia… Vào thời điểm đó Bảo An Đoàn thành lập, nhạc sĩ Võ Văn Thọ cùng vài thành viên thành lập ban nhạc phục vụ trong đơn vị nầy, người chị thứ sáu của tôi hát ở trong ban văn nghệ một thời gian. Người bám trụ Hội An lâu nhất là nhạc sĩ Hoàng Tú Mỹ (1927-2023).

Nhạc sĩ Huỳnh Nhâm, dạy nhạc từ năm 1952 khi trường trung học Trần Quý Cáp thành lập (ca khúc Trần Quý Cáp Hành Khúc, nhạc Huỳnh Nhâm, lời Phan Khôi) khi sáng tác nhiều ca khúc, trong đó có Mãi Mãi Bên Nhau, Mộng Tình Đầu, Nhớ Cố Hương, Xuân Mơ Về Quê Mẹ, Đoản Khúc Cho Sài Gòn (thơ Nguyên Hạ)… với tiếng hát ca sĩ Kim Tước. Chờ Đợi, Yêu Em Vô Lượng (thơ Thái Tú Hạp), Buồn Cả Một Chiều Mưa (thơ Phan Nhật Nam)… với tiếng hát Mai Hương… Tương Tư với tiếng hát Quỳnh Giao…

Nhạc sĩ Huỳnh Nhâm bị động viên vào Trường Bộ Binh Thủ Đức, cập bậc Thiếu Tá, phục vụ tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I, sau nhiều năm lao tù, định cư tại Little Saigon, tiếp tục theo học, Cử Nhân Âm Nhạc, ấn hành nhiều tác phẩm hòa âm và sáng tác.

Năm 1958, trường trung học bán công Nguyễn Duy Hiệu thành lập ở Vĩnh Điện, Điện Bàn, quê hương của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn nên ông dạy nhạc ở đó cùng với Trương Duy Cường nên thân nhau. Anh Trương Duy Cường (người Minh Hương), động viên vào Khóa 16 Trường Bộ Binh Thủ Đức, Hồi Ký Đồi 30 Hạ Lào khi anh là Đại Úy Pháo Đội Trưởng được giải Văn Học Nghệ Thuật năm 1972.

Với thế hệ chúng tôi vào giữa thập niên 1950s & và 1960s, vẫn còn nhớ ban nhạc gia đình Phi Anh, cụ Trương Đình Hoanh, đời thứ 6, có rạp hát và tiệm buôn Phi Anh nên thường gọi là ông Phi Anh với các người con như nhạc sĩ đầu đàn là Trương Duy Cường, sáng tác từ khi đi học ở Huế, bút hiệu Phương Duy (cùng tuổi với người chị thứ sáu của tôi) với mấy người em Trương Duy Mãnh, Trương Duy Trực (chơi đàn guitare, thuận tay trái, cũng là ca sĩ), ba anh em đều sáng tác nhiều ca khúc. Trương Duy Hào, Khóa I Chính Trị Kinh Doanh, phục vụ cùng quân trường với tôi… Mỗi tối cuối tuần thường chơi nhạc trước nhà trên đường Nguyễn Thái Học, gần chợ Hội An, tạo bầu không khí vui nhộn nơi phố cổ. Buổi tối nơi phố cổ nầy chẳng có gì giải trí nên chỉ có chơi nhạc góp vui.

Theo nhạc sĩ Trương Duy Cường: “Thập niên 40 khi tôi còn nhỏ, sinh hoạt trong đoàn thể Hướng Đạo Việt Nam, tôi thích âm nhạc nên thường đi nghe các buổi hòa nhạc của hội Âm Nhạc Hội An và bản Le Printemps et la Jeunesse vẫn là nhạc phẩm được hòa tấu để mở màn cho các buổi hòa nhạc hoặc nhạc ca kịch tại địa phương.

Năm 1946, đoàn ca vũ nhạc Anh Vũ từ thủ đô Hà Nội đi lưu diễn các tỉnh Trung, Nam Việt Nam. Sau khi trình diễn tại Huế, đoàn trực chỉ Hội An. Mặc dù lúc đó Hội An đang bị mưa to gió lớn ngập lụt dâng cao quốc lộ số 1 từ Đà Nẵng vào Hội An. Đoàn Anh Vũ được sự giúp đỡ tận tình của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn và một số thanh niên tại Hội An nên đoàn văn nghệ vẫn đến được Hội An để trình diễn… Ông Võ Đức Diên là trường đoàn và trong đoàn có thi sĩ Thế Lữ, nhạc sĩ Văn Chung, nhạc sĩ Bùi Công Kỳ, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát và một số ca kịch sĩ nữa tháp tùng.

Khi đến thành phố Hội An, các nhạc sĩ đồng hành với nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát muốn liên lạc với nhạc sĩ La Hối. Đến nơi mới biết La Hối không còn nữa, mất trước đó vài tháng…”. (TGD)

Trong bài viết Một Vài Kỷ Niệm Với Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn của Trương Duy Cường, trích đăng:

“Trước năm 1945, gia đình tôi sống ở một thị xã nhỏ bé miền Trung nước Việt gọi là Ville de Faifoo, thuộc tỉnh Quảng Nam. Nhà tôi ở phía bên trái của tiệm thuốc tây Đức Phú trên đường Rue de Hội An (sau này đổi thành đường Lê Lợi). Nhà song thân của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn ở trong một con hẻm nhỏ đối diện với ngôi nhà cha mẹ tôi nên anh Lê Trọng Nguyễn đã quen biết tôi, người hàng xóm.

Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, tên theo khai sinh là Lê Trọng nên bà cụ của anh có tiệm buôn bán nhỏ, được người dân phố Hội gọi là tiệm bà Trọng (gọi theo tên con). Sau anh lấy bút hiệu và trở thành tên hiện nay là Lê Trọng Nguyễn: Lê (họ cha) Trọng (tên) và Nguyễn (họ mẹ). Những người quen biết anh trước 1945 đều thân mật gọi tên anh là Trọng hơn là Nguyễn như anh đã đổi lại.

Năm 1946-1952, khi đi tản cư ở Liên Khu 5, Tam Quan và Bồng Sơn tỉnh Bình Định, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đặc trách âm nhạc toàn Liên Khu (các tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú) thường hay đến nhà của chú tôi là nhạc sĩ Trương Đình Quang để đàn hát vui chơi. Trong thời gian này (đầu thập niên 50), Lê Trọng Nguyễn gặp thiếu nữ trẻ đẹp và anh đã ghi lại mối tình này qua lời ca của nhạc phẩm Nắng Chiều...

Năm 1952 anh đã “dinh tê” (về thành) sống ở vùng quốc gia ở tỉnh Quảng Nam (khi thì Đà Nẵng, lúc ở Hội An). Năm 1953 anh ra làm việc ở thành phố Huế và cho in bản nhạc Nắng Chiều (ca sĩ Minh Trang hát lần đầu tiên trên đài phát thanh Huế). Bản nhạc Nắng Chiều không phải là nhạc phẩm sáng tác đầu tay của anh vì anh có nhiều nhạc phẩm được hát trong những năm trước đó ở chiến khu…

Anh Lê Trọng Nguyễn thường hay tâm sự với tôi: “Các ông chủ xuất bản nhạc bảo mỗi lần in là 3.000 bản thật ra các ông ấy đã in nhiều hơn, nhưng tác giả chỉ hưởng bản quyền một số tiền giới hạn trong mỗi đợt in ấn hoặc tái bản theo con số các ông ấy cho biết!”

Tôi gặp lại anh Lê Trọng Nguyễn tại Huế năm 1954 khi tôi theo học trung học đệ nhị cấp tại trường Quốc Học. Thời kỳ này, học sinh trung học chúng tôi phải theo học lớp huấn luyện Cao Đẳng Quân Sự (Préparation Militaire Supérieure) song song với giờ học văn hóa…

Từ khi tôi gặp anh Lê Trọng Nguyễn tại Huế, thường đi uống cà phê với anh tại tiệm Lạc Sơn, đi ăn chè Ga Huế, đi ăn bánh bèo Vỹ Dạ, đi ăn cơm Âm Phủ, đi lên núi Ngự ăn bánh bèo, đi đến đài phát thanh Huế nghe nhạc nhưng tôi chưa biết nhà anh Lê Trọng Nguyễn ở “mô” trong thành phố cổ kính này. Thì ra anh Lê Trọng Nguyễn ở trong An Định Cung. Vì lúc đó anh đang cộng tác với đài phát thanh Huế và rất thân quen anh Vũ Đức Duy (cháu Đức Từ Cung) đang trú ngụ trong cung điện ở An Cựu này. Tại nơi này, gặp người đẹp, anh Lê Trọng Nguyễn sáng tác nhạc phẩm Cung Điện Buồn, khá “romantique”, nhưng anh Lê Trọng Nguyễn chỉ chép tay để tặng các bạn nhạc sĩ thân quen chứ không đưa hát ở đài phát thanh, hay cho in ấn. Mặc dù lúc đó anh đang cộng tác với đài phát thanh Huế và đã có nhạc phẩm do nhà xuất bản Tinh Hoa (Huế) do ông Tăng Duyệt xuất bản rồi.

Cũng trong gời gian sống ở Huế này, tôi ghi danh học hàm thụ âm nhạc với École Univers. Đến giữa năm 1959, sau một thời gian dài phục vụ trong quân đội (ngành Quân Cụ), nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn được giải ngũ, về thăm phố cổ Hội An, nên tôi đã đề nghị ông Hiệu Trưởng mời nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn làm giáo sư âm nhạc thay tôi, vì tôi không thể phụ trách quá nhiều giờ phụ. Thế là tôi và anh Lê Trọng Nguyễn lại có dịp tiếp tục thảo luận với nhau về âm nhạc, nghệ thuật.

Mỗi cuối tuần, từ chiều Thứ Sáu tôi tháp tùng với anh Lê Trọng Nguyễn ra Đà Nẵng vui chơi vì ở Hội An, thành phố nhỏ chẳng có gì giải trí, họa may chỉ mang đàn xuống biển Cửa Đại gào với sóng biển! Ra Đà Nẵng, chúng tôi thường hay đến các quán cà phê có nhạc (nhạc dĩa 76 tours hay tapes) như quán Thạch Thảo, café Thanh Bình… để ngồi uống trà tàu Đài Loan, uống cà phê Tây nghe nhạc Việt như đa số thanh niên, học sinh, giáo sư, quân nhân lúc bấy giờ. Lúc đó, ở quán café Thanh Bình, có cô Hiếu, tiếp viên nói giọng Bắc rất ngọt ngào và rất xinh. Tôi là một trong những người “trồng cây si” ở quán café này…


Cũng năm 1960, một đoàn ca múa nhạc của Trung Hoa Dân Quốc từ Đài Loan sang trình diễn tại Việt Nam. Có một nữ ca sĩ Kỷ Lộ Hà hát bài Nắng Chiều bằng lời ca tiếng Hoa. Tác giả Lê Trọng Nguyễn được mời ra Đà Nẵng để tham dự buổi trình diễn đó và cho phép phổ biến lời ca mới này. Nhạc phẩm Nắng Chiều lời tiếng Hoa được phát hành bằng dĩa nhựa 33 tours và là một trong những nhạc phẩm ngoại quốc được yêu thích ở Đài Loan và Hong Kong trong nhiều thập niên. Ca sĩ Kỷ Lộ Hà trình bày bản nhạc này rất xuất sắc, kèm theo phần hòa âm rất phong phú của ban nhạc Trung Hoa, khi cô gặp tác giả Lê Trọng Nguyễn (lúc đó Lê Trọng Nguyễn khá đẹp trai) cô đã dành nhiều “tình cảm đặc biệt” và khi đoàn hát Trung Hoa này về lại Sài Gòn, anh Lê Trọng Nguyễn đã xin phép nghỉ dạy một thời gian để tháp tùng đoàn văn nghệ về Sài Gòn vui chơi với đoàn.

Sau đó, một đoàn văn nghệ Nhật Bản từ Tokyo sang trình diễn ở Việt Nam. Nữ ca sĩ Mitdori Satsuki hát bản Nắng Chiều bằng lời Việt (sau nầy dịch sang tiếng Nhật)…
Có một lần, tôi được anh Lê Trọng Nguyễn đưa xem lá thư gửi từ Nhật sang. Ngoài bì để người gửi là Mitdori Satsuki, nhưng bên trong là một tờ giấy lụa bạch rất trang nhã, không có ghi một chữ gì hay một dấu hiệu nào.
Anh Lê Trọng Nguyễn hỏi tôi: “Cậu có biết Mitdori muốn nói gì không?”
Tôi suy nghĩ, trả lời ngay: “Yêu anh vô cùng và lòng em như tờ giấy lụa mầu trắng mềm mại và chờ mong…”

Nghe xong, anh Lê Trọng Nguyễn cười và không giải thích gì thêm. Một thời gian ngắn sau đó, tôi được anh Lê Trọng Nguyễn báo tin Satsuki Midori vừa bị tai nạn nghề nghiệp. Trong một buổi quay phim ca nhạc, cô thụt lùi và bị ngã, chấn thương sọ não và không còn liên lạc với anh nữa. Anh LTN mến tiếc một tài năng còn trẻ đẹp và giọng hát đang lên.

Năm 1962, anh Lê Trọng Nguyễn trở về sống ở Sài Gòn. Năm 1963, tôi nhập ngũ, thụ huấn khóa 16 sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Mỗi cuối tuần, khi tôi chưa được gắn Alpha (nên chưa được đi phép Sàigòn), anh Lê Trọng Nguyễn tuần nào cũng lên trường SQTB Thủ Đức thăm tôi. Đến khi được đi phép, tuần nào tôi cũng đến nhà anh Lê Trọng Nguyễn ở Phú Nhuận, gần quán ăn Bò Bảy Món nổi tiếng. Từ lâu, anh Lê Trọng Nguyễn rất mê khiêu vũ nên buổi tối tôi cũng tháp tùng anh đi nhảy ở các vũ trường Sài Gòn, Chợ Lớn…

Anh Lê Trọng Nguyễn cho tôi biết, trong thời kỳ còn ở Liên Khu 5, anh dạy học ở trường trung học Gia Hựu (phía bắc tỉnh Bình Định) do các linh mục Công Giáo mở dạy nên anh có dịp vào thư viện của nhà trường đọc các sách nhạc lý bằng tiếng Pháp. Anh không là tín hữu đạo Công Giáo nhưng thời gian sống với các linh mục khá lâu, anh có nhiều cảm tình với đạo này. Anh đã viết bản Chiều Bên Giáo Đường khá hay.

Vì theo học các cours nhạc châu Âu, nên các sáng tác của anh chịu ảnh hưởng của loại nhạc cổ điển Tây phương. Anh viết nhạc theo loại bán cổ điển (Semi-classique) tương đối khó hát với các ca sĩ trung bình…” (TDC).

Cũng như nhiều nhạc sĩ đã tham gia trong thời kỳ kháng chiến ở miền Bắc, nhiều người đã “dinh tê” về Hà Nội. một số đã di cư vào Nam trong năm 1954. Cuộc hành trình của họ không nguy hiểm như trường hợp Lê Trọng Nguyễn. Ông viết các bài (hồi ký) về âm nhạc thời đó và thời kỳ tham gia trong kháng chiến, có nhiều vài viết (ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ) dựa vào đó ghi lại, không ghi xuất xứ rồi “tự biên tự diễn, vẻ rắn thêm chân”!. Ngay cả bản thân tôi, vào thập niên 1990s, tôi viết các bài văn nghệ, âm nhạc cho báo rồi phổ biến lúc đó trên website Xứ Quảng của La Lương (dân Hội An) và Quán Gió của cựu học sinh Chu Văn An ở Úc, hai thập niên sau, có những bài viết bị chôm gần nguyên cả bài làm của riêng!

Trong bài viết Một Chuyến “Dinh Tê” của Lê Trọng Nguyễn. Trích đoạn:

“Năm 1952, tôi rời Bồng Sơn (Bình Định) ra Tam Kỳ (Quảng Nam) cùng với một người bạn dựng một trại mộc làm đàn mandoline và guitare. Vào khoảng tháng 6, tôi gặp một số học sinh có ý định về thành để tiếp tục con đường học vấn. Có bốn cậu: Tạ Ký, Nguyễn Sum, Nguyễn Viết Tường và một cậu nữa mà tôi quên mất tên, cùng với tôi hẹn sẽ thực hiện ý đồ về thành.

Rồi đến một đêm tối trời, chúng tôi lặng lẽ gặp nhau tại sân vận động Tam Kỳ, thì thầm bàn tính đường đi nước bước. Tạ Ký và Nguyễn Sum đề nghị sẽ đi về nhà Tạ Ký ở Trung Phước thuộc huyện Quế Sơn, nghỉ đêm tại đó đến mờ sáng ngày hôm sau sẽ đi xuống ngã Phường Rạch và tiếp tục đi đến Xuân Đài. Tôi không biết đường xá gì cả nên cùng với tất cả đồng ý. (Tạ Ký dạy Việt Văn các trường trung học nổi tiếng ở Sài Gòn)

Sáng hôm đó chúng tôi đi xuống đến Gò Nổi, qua khúc sông cạn, vào đồn Xuân Đài, Quảng Nam. Trước tôi cứ tưởng sẽ gặp lính Pháp nhưng lại toàn là lính Việt. Một vị sĩ quan tên là Triệu, đồn trưởng bảo chúng tôi lên xe và đưa chúng tôi đến căn cứ Phòng 2 đóng ở Vĩnh Điện. Khi còn ở trong vùng kháng chiến, tôi đã nghe nói về căn cứ này. “Khó thoát khỏi bị tra khảo”. Tôi nhận xét các cậu học sinh rất thản nhiên, còn có vẻ vui.

Riêng tôi, thật tình mà nói, sợ quá. Qua vị sĩ quan Triệu, tôi được biết đồn Xuân Đài chỉ chờ đón mấy cậu học sinh, không ngờ có một người cầm đàn, cán bộ văn nghệ, là tôi. Như vậy, tôi nghi có thể có một sự liên lạc nào trước đấy. Vừa xuống xe, tôi gặp ngay họa sĩ Duy Liêm…

Gặp Duy Liêm tôi mừng thầm, tưởng rằng anh ta là nhân viên Phòng 2, hy vọng được giúp đỡ. Nhưng thật ra anh ta chỉ bị giữ lại đó từ mấy tháng nay. Sau một vài giờ khai thác, mấy cậu học sinh được thả, tự do ra bến xe Vĩnh Điện đi Đà Nẵng. Nguyễn Viết Tường có cho Phòng 2 biết họ sẽ về tại địa chỉ của người chị ở Đà Nẵng. Còn tôi phải ở lại…”.

Ông viết những đắng cay, nguy hiểm trong lúc “dinh tê” từ vùng Việt Minh ở thôn quê về Điện Bàn, Đà Nẵng, Hội An, vùng Quốc Gia do Phòng 2 của Pháp kiểm soát, suýt bỏ mạng.
“Ông đưa tôi bản Pháp văn, trong đó có bút phê của sĩ quan Phòng 2 Vĩnh Điện: gạch đít chữ nagé và ngoài lề có viết avec sa guitare có dấu hỏi, cuối bản khai có phê faux rallté (hồi chính giả). Tôi bình tĩnh nói: - Thưa Trung úy, bản khai của tôi bằng Việt Văn. Có lẽ bản dịch ra Pháp văn làm cho Phòng 2 Vĩnh Điện nghi ngờ. Tôi khai là lội qua sông chứ không phải là bơi qua sông. Người dịch có thể nghĩ bơi lội qua sông nên dùng chữ nager. Đáng lẽ tôi phải thêm chữ cạn vào sau mấy chữ lội qua sông thì người dịch sẽ dùng chữ traverser à gué…

Đến ngày 12 tháng 7 tôi nhận được giấy gọi của Phòng 2 Vĩnh Điện. Không biết chuyến này sẽ ra sao đây. Chuẩn bị ăn đòn, chắc chết quá. Tôi đến Vĩnh Điện, có một Trung sĩ Pháp đón tôi tại bến xe. Tôi hỏi ông ta:
- Có việc gì mà ông phải ra tận bến xe đón tôi?
- Tao không biết, tao chỉ được lệnh tìm mày ở bến xe.
Ông Trung sĩ đưa thẳng tôi lên văn phòng. Ông Đại úy bước ra đưa tay bắt tay tôi và hỏi:
- Có mất tinh thần không? Đà Nẵng có gì lạ? Đã gặp được người bà con chưa?
Tôi chưa trả lời thì ông ta nói tiếp.
- Đừng lo, lão Hans có y muốn giúp anh về sách âm nhạc. Tôi gọi anh về đây chỉ có một chuyện vui là nhờ anh đệm đàn trong ban nhạc có mấy cây kèn và một vài giọng hát để giúp vui trong ngày lễ 14/7 của chúng tôi…

Tôi về lại Đà Nẵng, không gặp lại mấy cậu học sinh. Họ đã đi, chẳng biết họ đi đâu. Tôi đến nhà Bác Lý, người bà con ở đường Thành Thái. Ở đó gần một tuần thì một buổi sáng ông bạn Hà Thúc Cần đến thăm. Chúng tôi đang chuyện trò, công an đến bắt tôi đi. Họ đưa tôi về Ty Công An Đà Nẵng, không có ai cho biết về lý do bắt tôi, liền tống tôi vào lao Con Gà. Ở đó mấy hôm cũng không có ai đến khai thác. Hằng ngày, cứ buổi sáng bị cắt đi quét đường phố. Đến một buổi sáng tôi nhìn thấy mẹ tôi đứng khóc bên kia lề đường, cùng với bà Lý cũng khóc. Mẹ tôi nói vọng qua: Mẹ và em con về bình an và đang ở Hội An...

Sau này tôi quen Trung úy Độ (làm việc ở Phòng 2 Đà Nẵng), ông ta đã giải ngũ, và được biết ông là nhà thơ Anh Độ. Ông ta nói không biết vì sao hồ sơ về tôi của Phòng 2 Vĩnh Điện mà công an quốc gia lại có. Có lẽ vì mấy chữ faux rallté mà phải vào lao Con Gà”.

Sau khi về vùng Quốc Gia, ở Hội An thời gian nơi phố cổ, cuộc tình của ông với cô gái Trần Thị Chanh rồi chia tay. Khi ra Huế, ông sáng tác ca khúc Nắng Chiều, ca sĩ Minh Trang trình bày đầu tiên trên đài phát thanh Huế, được phổ biến và tên tuổi ông được quan tâm từ đó.

Sau thời gian ở Huế, Hội An, Đà Nẵng, ông vào Sài Gòn lập nghiệp, gặp nhạc sĩ Nguyễn Hiền tại Bộ Công Dân Vụ (sau nầy là Bộ Thông Tin). Theo nhạc sĩ Nguyễn Hiền: “Lần đầu tôi gặp Lê Trọng Nguyễn vào khoảng giữa năm 1961. Khi được giới thiệu tác giả của bài Nắng Chiều, tôi đã nhận thấy ở anh một nghệ sĩ có nhiều nét rất đặc biệt về kiến thức tổng quát cũng như âm nhạc. Từ đấy anh hay đến nhà tôi chơi cùng với Lan Đài, Anh Việt, Y Vân và Hoàng Nguyên… Anh em trò chuyện rất tương đắc như anh em một nhà” (Về nhạc sĩ Hoàng Nguyên, tôi viết bài Hoàng Nguyên, Dòng Nhạc Dòng Đời, ấn hành trong quyển Văn Nhân & Tình Sử năm 2015. Năm 1971 khi học chung với nhau Khóa III Trung Cấp CTCT trong 3 tháng, anh là người hướng dẫn tôi hiểu biết thêm về nhạc cổ điển Tây phương). Về công danh, âm nhạc với Lê Trọng Nguyễn chỉ là thú đam mê, tay trái, ông được may mắn, năm 1965, đại diện điều hành cho công ty xuất nhập cảng Centraco của Pháp. Năm 1968, ông làm việc cho công ty Hoa Kỳ Sealand ngoài Đà Nẵng nên thường gặp cô nhân viên bán vé ở Hàng Không Việt Nam (Nguyễn Thị Nga, nhỏ hơn 17 tuổi, cựu nữ sinh trung học Trưng Vương). Năm 1970, đám cưới Lê Trọng Nguyễn - Nguyễn Thị Nga do nhạc sĩ Nguyễn Hiền chủ hôn. Theo lời hiền thê của ông: “Tôi cũng không ngờ tình duyên đến như sự sắp sẵn của tạo hóa. Trước đó tôi không biết về anh nên khi anh có ý định xây dựng với tôi, tôi lại lo sợ vì nghe đồn về giới nghệ sĩ rất tài hoa và bay bướm. Tuy nhiên khi ý anh đã quyết đi đến hôn nhân thì tôi không chạy đi đâu được nữa và cuối cùng đã chấp thuận”.

Theo nhạc sĩ Nguyễn Hiền: “Rồi ngày ấy đã đến, khi anh đến báo tin sẽ thành hôn và nhờ tôi thay lời, cùng thân mẫu đi rước dâu trong đám cưới anh được tổ chức tại nhà hàng Continental, chỉ mời nhóm bạn bè thân rất hạn chế…”.

Năm 1973, ông giữ chức Giám Đốc của Nhà Máy Dầu Hỏa Cửu Long. Trước tháng Tư năm 1975 ông có cơ hội ra đi nhưng vì lý do gia đình của người con hiếu thảo nên bỏ lỡ cơ hội!

Tháng Ba năm 1983, gia đình bên vợ bảo lãnh sang Mỹ. Ông kẹt mẹ già (cô em gái qua đời, con cái sống với bà ngoại) nhưng vì tương lai của hai con nên định cư tại miền Nam California. Vợ chồng ông có nhiều dịp sang Pháp và các nơi khác, hạnh phúc bên nhau, ông bị bệnh ung thư phổi, cho đến ngày 9 tháng 1 năm 2004, ông về cõi vĩnh hằng.

Lễ Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn được tổ chức nhiều nơi, ngay cả Pháp vì nhiều nhạc sĩ cùng thời với ông định cư ở đó.

Đêm Tưởng Niệm & Vinh Danh Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn được tổ chức trang trọng tại phòng sinh hoạt nhật báo Viễn Đông, thành phố Westminster, tối Chủ Nhật, ngày 17 tháng 4, 2005… Sở dĩ Đêm Tưởng Niệm sau ngày giỗ một năm vì gia đình thực hiện tuyển tập nhạc Lê Trọng Nguyễn vừa xong. Đêm Tưởng Niệm trở thành đêm nhạc tuyệt vời với sự đóng góp các ca sĩ thành danh như Thái Thanh, Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao… cùng với ban nhạc The Star Band… Trong Đêm Tưởng Niệm nầy tôi chụp nhiều hình lưu niệm và viết bài tường thuật còn phổ biến trên website.

***

Đầu năm 2018, nhà văn Việt Hải email cho tôi đang thực hiện tuyển tập về nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn (1926-2004) nhân ngày sinh vào tháng 5, 2018. Tôi có “món nợ ân tình” với người bạn nầy… nên cùng Việt Hải góp bàn tay trong tuyển tập.

Đúng Ngày Sinh Nhật, Tuyển Tập Lê Trọng Nguyễn, Âm Nhạc & Bạn Hữu được ra mắt tại Little Saigon. Lại một lần nữa những ca khúc tuyệt vời của Lê Trọng Nguyễn qua các ca sĩ đã nổi danh đóng góp.

Với những nhạc sĩ nơi phố cổ Hội An ngày xa xưa ấy, ở Mỹ chỉ còn nhạc sĩ Huỳnh Nhâm, nhạc sĩ Trương Duy Cường.

Đôi lần tôi gọi điện thoại về thăm người chị thứ tư (vợ anh La Vĩnh Châu), sinh năm 1930, tuổi già nhưng còn minh mẫn, phụ giúp đứa con trông nom tiệm thuốc Bắc, cạnh chợ Hội An. Tôi nghĩ người tình trong Nắng Chiều nên dọ hỏi. Chị trả lời “Chuyện văn nghệ văn gừng của các ông làm sao biết được!”. (Có nguồn tin cho rằng nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn và cô Trần Thị Chanh, cùng tuổi với nhau) có một người con gái tên là Lê Thị Thanh Uyển, với tôi chỉ là nghi vấn vì ở phố cổ nhỏ xíu nầy, chỉ có mối tình thầm kín còn che giấu được nhưng mang bầu đẻ con thì cả phố đều biết).

Thuở học trò, tôi có nhiều cơ hội thụ giáo các nhạc sĩ và thầy dạy nhạc nhưng vì ham chơi nên “lỡ cung đàn”…! “Nơi ấy giờ đây âm thầm. Chiều chiều mơ nơi đầm ấm. Vương khói trầm luân cay nồng. Se tơ tằm cho nát lòng” (Hoàng Giác). Được vài lần, anh rể dạy violon, tình cờ chị tôi nghe được, lại phán “Gớm, đàn như thọc tiết heo”, quê quá, bỏ ngang. Thích âm nhạc nên học piano, guitrae và vài nhạc cụ khác, nhưng “dở dở, ương ương” chưa bá tri, trở thành bá láp! Cuối thập niên 1950s, lúc đó, chưa tới tuổi “cặp kê” với cô nữ sinh nào nên vỡ mộng “Anh đàn em hát níu xuân xanh” (Tình Cầm - Phạm Duy). Đạp xe ra Cửa Đại, nằm trên bãi cát, dưới bóng thùy dương, nghe sóng biển rì rào thú vị hơn. Khi biết yêu để “anh đàn em hát” thì sống lang bạt!

Thời gian hai năm ở quân trường trên Đà Lạt, thư viện có nhiều sách về âm nhạc cổ điển Tây phương, vì hiếu kỳ, tôi đọc, tìm hiểu và rất thích nhưng sau đó bị nhà văn Kim Dung mê hoặc với những mối tình xuất chiêu, tung chưởng nơi chốn võ lâm ở núi rừng làm lu mờ những nhạc sĩ lừng danh như J.S Bach, W.A Mozart, L.V Beethoven, Richard Wagner, Franz Schubert, Robert Schumann, Franz Liszt, Frédéric Chopin, Franz Schubert… Thay vào đó hình ảnh các đại mỹ nhân Hoàng Dung, Tiểu Long Nữ, Vương Ngọc Yến, Triệu Minh, Nhậm Doanh Doanh, A Châu, Chu Chỉ Nhược, Trần Viên Viên… làm hồn tiêu phách tán! Thời đó, muốn thưởng thức nhạc giao hưởng (symphonie, suymphony) rất nhiêu khê, sưu tầm, có không gian ở nhà… trong khi đó thuê mấy quyển sách chưởng lận lưng đọc bất cứ lúc nào, nơi nào.

Nơi phố cổ Hội An, với cái nôi âm nhạc, mang lại niềm hãnh diện trong tôi, tiêu biểu như nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn. Qua nhiều thập niên, tôi thích nhất ca khúc Cát Biển với ban tam ca Mộc Lan, Châu Hà, Kim Tước trước năm 1975 và ở hải ngoại với Mai Hương, Quỳnh Giao, Kim Tước quá tuyệt! Tôi cũng có vài kỷ niệm vui buồn với ca khúc nầy thời quân ngũ, nhưng rồi: “Dã tràng ngoài biển cát. Hồn mộng vẫn se hoài…” dù có xin trời một lối, nhưng không có em và tôi!

Nhìn lại tuổi đời, thời gian tôi sống nơi phố cổ ít hơn ở Đà Lạt, Mỹ nhưng “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm hồ dễ đã ai quên!” (Thế Lữ). Cũng may, đọc nhiều sách, báo đến tuổi già vẫn còn nhớ, thời học trò tuy ham chơi nhưng vẫn còn nhớ ở lớp nào, thầy cô dạy môn gì… hầu hết nay đã ra người thiên cổ!

Tôi thích âm nhạc từ nhỏ, coi như người bạn đồng hành trong suốt quãng đời. Tôi có “duyên” được tiếp xúc, thân quen với nhiều nhạc sĩ thành danh nhưng không có “duyên” với “sự nghiệp sáng tác”, đôi lúc nguồn cảm hứng chợt đến, thử “xem con tạo” với cùng đàn ra sao, nhưng câu nói ngày xưa của người chị còn ám ảnh, sợ rằng “Nhạc gì mà nghe như thọc tiết heo”. Hơn nữa, nhiều ca khúc của các nhạc sĩ quen biết hay quá, ngại rằng khi xem qua, xướng âm xong lại phán thích hợp cho “lò sát sanh” thì bỏ mạng.

Nay như chiếc lá: “Lá rơi cho lòng hoài cố nhân. Tìm trong lá thu vàng bao phút xưa đầm ấm” (Lá Rơi Bên Thềm – Lê Trọng Nguyễn & Nguyễn Hiền). Hai chiếc lá đã rơi! Và ngày nào đó chiếc lá vàng cũng rơi theo.

Vương Trùng Dương
(Trích trong tác phẩm Âm Nhạc & Người Muôn Năm Cũ)

Thứ Sáu, 28 tháng 9, 2018

Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn


Những giai điệu ngọt ngào, những lời ca tha thiết hợp với chất giọng làm say đắm lòng người. Những ca khúc quen thuộc khơi dậy kỷ niệm như khúc phim cũ vọng từ ký ức đưa ta trở về quá khứ kéo thời gian và không gian lùi lại. Viết về một người đã khuất rất khó, người đó còn nổi tiếng có những nhạc phẩm vang bóng một thời lại càng khó hơn! 

Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn lấy tên thật làm bút hiệu, ông sinh 01 tháng 5 năm 1926 tại Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Bắt đầu viết nhạc từ năm 1946, những tác phẩm đầu đời: Đừng Quên Nhau, Trăng Lại Sáng, Thuyền Lãng Tử, Lời Việt Nữ, Ngày Mai Trời Lại Sáng, Nắng Chiều…vv….Ông có năng khiếu âm nhạc từ nhỏ nên tự học nhạc, sau đó xin học hàm thụ tại một trường dạy âm nhạc tại Pháp. Ông là hội viên của Nhạc Sĩ Pháp (S.A.C.E.M), từng dạy âm nhạc tại trường học Nguyễn Duy Hiệu. Nhờ thông minh và giỏi ngoại ngữ, lại biết phương pháp quản trị nên vào năm 1965 ông được nhiệm điều hành một số Công ty thương mại ngoại quốc của Pháp và Mỹ tại Đà Nẵng, Công ty Mekong của VN ở Khánh Hội. Năm 1970 ông lập gia đình. Sau biến cố 1975 ông mở lớp nhạc tại tư gia và làm đàn để sinh sống. 

Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn sáng tác nhạc vì nghệ thuật không sáng tác vì thương mại, ngay những lúc còn cơ hàn ông cũng không chạy theo theo phong trào nhạc thời trang để sáng tác bán nhạc. Dù bận rộn công việc làm ảnh hưởng đến sáng tác nhưng nhạc sĩ vẫn mê viết nhạc nên đã hợp tác với nhạc sĩ Nguyễn Hiền viết chung ca khúc Lá Rơi Bên Thềm. Đây là một chuyển hướng trong sáng tác của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn. Ca khúc Lá Rơi Bên Thềm rất hay giai điệu lạ. nhưng mùa thu của Lê Trọng Nguyễn là mùa thu xứ Quảng, thu Đà Lạt và thu Sài Gòn, còn mùa thu của Nguyễn Hiền là mùà thu xứ Bắc, mùa thu Hà Nội. 

( Lá Rơi Bên Thềm – Ca Sĩ Mỹ Thể, Thu Âm Trước 1975)

Ngày đó nhạc sĩ Nguyễn Hiền rất nổi danh qua những ca khúc Gởi Người Em Nhỏ viết 1945 phổ thơ Thiệu Giang, ca khúc Tìm Đâu 1961, ca khúc Anh Cho Em Mùa Xuân 1962 phổ thơ Kim Tuấn, ca khúc Mái Tóc Dạ Hương phổ thơ Đinh Hùng… Từng đảm nhiệm Chủ sự phòng Chương trình Đài Phát thanh Sài Gòn, Phụ tá giám đốc Đài Truyền Hình VN. Trong khi nhạc sĩ Lê trọng Nguyễn viết nhiều ca khúc hay và gía trị nhưng ít phổ biến, nhất là ông không sống trong giới âm nhạc vì phải đảm nhiệm các công ty thương mại, do đó công chúng thuộc bài Nắng Chiều nhưng quên tên tác giả! Thuở đó một số người trong công chúng còn lầm giữa nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn với nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên tác giả ca khúc tiền chiến Trăng Mờ Bên Suối, ca khúc được phát thanh hàng tuần trên các Đài phát thanh Sài Gòn và Quân Đội trong những chương trình nhạc chủ đề, nhạc thính phòng…

(Trăng Mờ Bên Suối - Ca Sĩ Thanh Thúy)

Từ năm 1965 dòng nhạc Boléro được nhiều nhạc sĩ tài danh của Miền Nam viết nên đã đưa dòng nhạc này lên đến đỉnh cao kéo dài cho đến 30 tháng tư năm 1975 mới bị chính quyền CS nghiêm cấm và mới được hồi sinh rực rỡ vài năm gần đây. Ca khúc Nắng Chiều điệu Boléro năm xưa vẫn có một chỗ đứng riêng trong lòng công chúng mãi đến nay.

Người ta bảo “Thơ là Người“, nhưng đôi khi tác phẩm và tác giả có khác nhau, nhưng tác giả vẫn phải sống thật với chính mình mới có cảm xúc thật để có được tác phẩm hay. Lê Trọng Nguyễn là nhạc sĩ có tài, tâm hồn đầy lãng mạn nhưng cuộc sống của ông lại ngăn nắp cần cù chí thú làm ăn xa cách thế giới thăng trầm của nghệ sĩ! 
Những cái hay cái đẹp về con người và tác phẩm của ông đã có nhiều người viết làm tôi chẳng biết viết gì thêm! Ở Paris trong giới văn nghệ sĩ có nhiều người quen biết anh chị Lê Trọng Nguyễn từ lâu, nay có người còn kẻ mất, tôi đã liên lạc muốn các vị đó thay mặt các bạn viết những cảm tưởng về nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn nhưng tuổi đời của họ quá cao nên ngại cầm bút! Tôi xin có đôi dòng cảm nghĩ về nhạc Lê Trọng Nguyễn: 
Vào mùa thu, ngày 23 tháng 10 năm 2005 chị Nguyễn Thị Nga có sang Paris và muốn thăm một số bạn văn nghệ quen biết với người bạn đời của chị là nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn. Tình yêu của chị đối với chồng thật là son sắt làm chúng tôi cảm động. Do đó CLB Văn Hóa VN Paris đã tổ chức một buổi vinh danh nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, ra mắt 2 tác phẩm: Tuyển Tâp Nhạc Lê Trọng Nguyễn và CD “Lá Rơi Bên Thềm“. 
Hôm đó quy tụ nhiều khuôn mặt nổi tiếng trong giới văn học nghệ thuật: Nhạc sĩ Xuân Lôi, Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên, Nhạc sĩ Trịnh Hưng, Nhạc sĩ Phạm Đình Liên, Nhạc sĩ, Nhạc sĩ Minh Nhật,Thi sĩ Phương Du, Thi sĩ Kim Thành Xuân, Thi sĩ Quyện Tâm…Nhà thơ nữ Như Ninh, Nghệ sĩ Bích Thuận, Nghệ sĩ, Nghệ sĩ Thúy Hằng, nghệ sĩ Thy Như, nghệ sĩ Minh Cầm, Nhiếp ảnh gia Hùynh Tâm, Nhiếp ảnh gia người Pháp Bernard, Lan Phương, Đỗ Bình ….vv... 


Hôm đó rất nhiều người lên phát biểu cảm tưởng và tâm tình. Có người trình bày những ca khúc của Lê Trọng Nguyễn, có người làm thơ tặng. Thi sĩ Phương Du, BS Nguyễn Bá Hậu sau khi nghe hát bài Nắng Chiều của Lê Trọng Nguyễn đã lên nhận xét về ca khúc. BS Nguyễn Bá Hậu tác giả nhiều thi tập, tuổi đời cao hơn nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn và cũng là một nhạc sĩ chuyên viết Thánh Ca. BS Nguyễn Bá Hậu phát biểu:“Không phải ca từ trong Nắng Chiều tất cả đều hoàn hảo, lời lẽ sau đây trong ca khúc chưa được hoa mỹ: giọng hát câu hò thôi hết đưa , hình dáng yêu kiều kề hoa tím biết đâu mà tìm…nhưng những câu khác thì thật rung cảm. Từ cái đẹp trong ca khúc đã gợi cho tôi có cảm hứng đồng thanh đồng tình với tác giả làm bài thơ để họa ý nhạc lời ca:

«Lạnh lùng trong nắng lưa thưa
Tới nơi thôn cũ chân đưa không hồn
Nhớ em màu má tươi hồng
Tóc thề vương nhẹ dáng trông gầy gầy
Long lanh cặp mắt thơ ngây
Qua sân chạnh nhớ phút giây em thề
Tim anh hầu quá tái tê
Duyên em chẳng biết ghé về nơi đâu
Nay thời lá úa nương dâu
Giọng hò điệu hát đưa sầu chia phôi
Mây chiều lướt thướt vương đồi
Nắng chiều nhạt chiếu ngừng trôi gợi buồn.»
( Phương Du) 

Có thể nói từ trước đến nay thông thường người ta phổ thơ thành nhạc, đây là lần đầu tiên Nhạc được họa từ Thơ, bài thơ rất hay lấy từ ý nhạc và lời ca . Thi sĩ Phương Du phải yêu bài ca lắm chất nhạc mới thẩm thấu vào tâm hồn bằng âm thanh mà cảm được cái vô hình chuyển thành hữu hình thành con chữ tỏa hồn trên mặt giấy. Về nghệ thuật nhạc sĩ chú trọng nhiều đến giai điệu cốt cho âm thanh véo von trầm bổng, còn thi sĩ thì chú trọng về vần điệu, ngôn ngữ mạch lạc giản dị v.v…
Nhạc sĩ có thể ngắt danh từ kép lướt thướt thành hai nhịp như: mây lướt // thướt trôi // nhưng thi sĩ thì không viết như thế được: mây chiều // lướt thướt // vương đồi...

Hôm đó Chị Nguyễn Thị Nga xúc động mắt rưng lệ vì vui, làm sao mà không vui khi gặp lại một số nghệ sĩ đã từng có những tác phẩm vang bóng một thời. Thơ là tiếng lòng, chẳng có lời phát biểu nào hơn là chị đọc một bài thơ của mình mới làm để tưởng nhớ những năm tháng cùng chồng trải qua bao ngọt bùi gian khổ mà tâm hồn vẫn đẹp. Trong số người có mặt hôm ấy có nhiều người bạn thời con gái, có người là bạn đồng nghiệp của chị. Đó là kỷ niệm đẹp, một món quà tinh thần đầy tình nghĩa mà anh chị em Paris tặng chị mang theo khi trở về Mỹ.

Mang một tâm hồn đa cảm, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn sáng tác không nhiều, “cầu tinh bất cầu đa,“ nhưng lại có một số ca khúc hay và giá trị, mỗi nhạc phẩm mang một nét riêng, độc đáo. Cấu trúc, giai điệu và ca từ đều chăm sóc chọn lựa từng hình nốt, cung bậc. Nhạc phẩm Nắng Chiều đưa tên tuổi Lê Trọng Nguyễn ra khỏi đất nước hòa chung dòng nhạc các nước để giới thiệu nét đẹp văn hóa Việt Nam với thế giới. Nắng Chiều cung Sol trưởng có chút âm hưởng dân ca Nhật, chất Á Đông trầm lắng được phối với thể điệu Rumba Boléro của vùng trời xa xăm Nam Mỹ. Chất nhạc lãng mạn trữ tình mềm mại réo rắc buồn man mác làm lâng lâng người nghe. Vào đầu thập niên 50 điệu nhạc Rumba Boléro mới du nhập vào nước ta rất ít nhạc sĩ sáng tác thể điệu này. Những ca khúc Bolero, Rumba được phổ biến ở các phòng trà Hà Nội như ca khúc Trăng Sơn Cước của nhạc sĩ Văn Phụng, Cô Hàng Nước của nhạc sĩ Vũ Huyến, Gió Mùa Xuân Tới của Hoàng Trọng, Hoa Soan Bên Thềm Cũ của nhạc sĩ Tuấn Khanh. Làn điệu Rumba vui tươi lãng mạn, chưa buồn bã da diết như dòng Boléro sau này trong thời chiến.


Về ca khúc Nắng Chiều tôi được GS, Học giả Võ Thu Tịnh kể cho tôi và GS Nguyễn Thùy nghe tại nhà ông, anh Nguyễn Thùy quê quán Quảng Nam, là nhà nghiên cứu văn học, tác giả trên 20 bộ sách, hiện còn sống và đang ở Marseille, tôi xin thuật lại:“ GS Võ Thu Tịnh, tác giả nhiều bộ sách viết về văn hóa VN, ông Sanh ngày: 2 07 1920, tại làng Long Phước, phủ Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Cử nhân giáo khoa Việt Hán, tốt nghiệp khoa chính trị Đại học Indiana, Hoa Kỳ. Nguyên Giám Đốc Thông tin Trung phần (Huế 1955-56), rồi Nam phần (Sài Gòn 1955- 1961). 
Trong thời gian ấy, làm trưởng phái đoàn Báo chí Cộng Hòa Miền Nam VN dự hội nghị Ban Dung (Nam Dương 1955) với tư cách quan sát viên. Năm 1961 từ chức Giám đốc, làm giáo sư các tư thục Sàigòn (Hưng Đạo, Nguyễn Bá Tòng, Nguyễn Công Trứ, Thăng Long...). Giáo sư Võ Thu Tịnh và Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn cùng quê Quảng Nam, nhưng lớn tuổi hơn và ở chung trong Liên khu 5, sau đó cùng bỏ về thành. Trong một lần đến thăm nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn ở Sài Gòn, nhạc sĩ muốn nhờ GS Võ Thu Tịnh phổ biến bài Nắng Chiều. 

Nhân dịp đó có phái đoàn Nhật Bản sắp sang thăm hữu nghị trao đổi văn hóa với VN, GS Tịnh liên lạc với LS Trần Thanh Hiệp lúc đó đang ở trong nhóm có nhiệm vụ đón phái đoàn Nhật Bản. Có lần chúng tôi đến thăm LS Trần Thanh Hiệp, ông là cựu bộ trưởng Lao Động thời chính phủ Phan Huy Quát. Trong câu chuyện văn học nói về nhóm Sáng Tạo mà ông và nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, nhà văn Mai Thảo là những người đồng sáng lập. Câu chuyện chuyển sang âm nhạc và có nhắc đến Ca khúc Nắng Chiều, ông cho biết lúc còn là sinh viên ở Hà Nội thường chơi đàn cho ban nhạc, có lúc chơi đàn ban nhạc với nhạc sĩ Nguyễn Hiền, ông đã kể cho chúng tôi nghe ,gồm: BS Nguyễn Bá Linh, Nhà văn Từ Thức và tôi: 
“ Năm 1958, để tỏ tình hữu nghị với VN trong phái đoàn Nhật có Đoàn Ca Vũ Nhạc Nhật Bản Toho Geino sang trình diễn suốt hai tuần lễ tại hội chợ Thị Nghè, họ muốn trình bày một nhạc phẩm VN. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền lúc đó là người điều hợp viên chương trình văn nghệ của hội chợ Thị Nghè, trong đoàn có nữ danh ca trẻ Satsuki Midori người Nhật Bản, Nhạc sĩ Nguyễn Hiền đã chọn Ca khúc Nắng Chiều và tập cho cô ấy hát. Từ đó Ca khúc chấp cánh bay xa“.

(Nắng Chiều - Ca sĩ Nhật Bản Midori Satsuki)

Kể từ sau năm 1945 văn hóa Nhật du nhập nước ta ngày càng nhiều vì lý do trong đó có tính chất Á đông gần gũi với Việt Nam, hơn nữa văn hóa Nhật mới lạ, khoa học tiến bộ cũng như Tây phương. Sau năm 1954 ở Miền Nam, Sài Gòn một số rạp cinê chiếu toàn phim Nhật, ở một số tụ điểm ca nhạc đã mời được các đoàn vũ công Nhật Bản sang trình diễn. Thời điểm đó có một số Ca khúc, bài hát Dân ca Nhật phổ biến trong công chúng. Ca khúc Nắng Chiều xuất hiện trong thời điểm này lại do nữ danh ca Nhật trình bày nên được ưa chuộng. Sau năm 1954 trong số nững người từ Bắc di cư vào Nam có nhiều nhạc sĩ có tài, viết những ca khúc hay và giá trị nhưng không có dịp phổ biến nên không đến được với công chúng!

Vài Cảm Nhận Về Một Số Nét Trong Nhạc của Lê Trọng Nguyễn:
Ca khúc “Khi Bóng Đêm Về“ viết năm 1958, Cung Sol Trưởng, điệu Valse lente như một lời thỏ thẻ, thể hiện một tình khúc dang dở đầy lãng mạn. Đặt ở Cung Sol Trưởng nhạc sĩ muốn nâng hồn mình bồng bềnh theo nốt nhạc du dương để lướt qua niềm đau, rồi buông thả nỗi buồn. Nhạc sĩ giải bầy ở đoạn cuốn ca khúc:“…Làn tóc thanh xuân qua mất, Biết em vào lúc này. Tưởng có yêu nhau ngây ngất , sống qua ngày tháng gầy. Mà rượu ôi sao mặn chát, Lại còn đắng như cuộc đời. Gục đầu vào ly ta quên mất thời gian.“

Ca khúc Bến Giang Đầu viết năm 1959, Cung Rê Trưởng theo điệu Boléro, cấu trúc nhạc cầu kỳ hơn Nắng Chiều, giai điệu âm hưởng Trung Hoa. Ca từ lãng mạn hoa mỹ, tác giả quá đãi lọc làm đẹp văn chương nhưng xa dời thực tế nên kén người nghe, do đó không phổ biến rộng như ca khúc Nắng Chiều.


Ca khúc Chiều Bên Giáo Đường viết 1962 Cung Mi giáng Trưởng, hành âm Andante, đây là ca khúc hay, âm hưởng bán cổ điển Tây phương, những ca khúc theo thể loại này cho đến ngay nay vẫn khó hợp với sở thích nhiều người, nhưng lại giúp cho nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn chỗ đứng vững chắc trong làng âm nhạc về giá trị nghệ thuật, chứng tỏ khả năng lãnh hội âm nhạc của mình. 

Ca Khúc Cát Biển viết 1964, Cung Sol Trưởng theo điệu Swing có nguồn gốc Mỹ Quốc. Nhạc và lời hay, đối với ca khúc Việt Nam thời bấy giờ đây là ca khúc mang thể điệu mới và ít người viết. 
Ca khúc Cung Điệu Buồn viết năm 1965, Cung Mi Thứ, điệu Bolero lent. Đây là ca khúc rất hiếm của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn viết ở Cung thứ.

Ca khúc Lá Rơi Bên Thềm viết 1966 chung với nhạc sĩ Nguyễn Hiền Cung Mi giáng Trưởng, điệu Slowly. Cấu trúc nhạc cầu kỳ, ca từ chọn lọc. Hình ảnh mùa thu trong nhạc là mùa thu Hà Nội, hương thu mang sương mù Đà Lạt mà người Sài Gòn chưa cảm được hương thu! Lê Trọng Nguyễn có viết một ca khúc Nhớ Thu Hà Nội 1965 rất hay, ca khúc vẫn Cung Mi giáng trưởng điệu Blues:“ …Trời thu Hà Nội quá xa vời, Lòng ta vời vợi nhớ, Dáng thơ em khuất rồi. Nào xác lá sấu úa, Hồ Gươm con tim ơi! “
Em trong ca từ được nhân cách hóa là Hà Nội, nhạc sĩ ví như người tình.

Ca khúc Bóng Nước Viễn Phương viết năm 1980, nhịp ¾ Cung Mi giáng Trưởng điệu Andente moderato, lời của nhạc sĩ Thẩm Oánh. Nhạc và lời diễn tả thân phận con người tìm tự do bềnh bồng trên sóng nước đại dương, bóng quê nhà mờ khuất! Một ca khúc buồn có giá trị. 
Khi ca khúc Sao Đêm ra đời tình hình chính trị của Miền Nam lúc đó có nhiều biến động, một số phòng trà đóng cửa, khiêu vũ bị cấm, lãnh vực âm nhạc cũng bị những xáo trộn chính trị làm ảnh hưởng nên bị giới hạn!

Ca khúc Sao Đêm viết năm 1963, Cung Mi giáng Trưởng điệu Slowly, ca khúc này thật độc đáo, có thể nói là một ca khúc tuyệt vời.diễn tả câu truyện tình lãng mạn nhưng ẩn bên trong ca từ có tính cách giáo dục. Cấu trúc nhạc không viết theo thể điệu Jazz nhưng “air“nhạc có chất Blues Jazz. Trong sáng tác Nhạc sĩ có thể để thả hồn theo tiếng kèn đồng trầm bổng đẩy tiết tấu theo cung bậc ngẫu hứng nhập vào từng ca từ toát ra chất nhạc Blues Jazz thể điệu chưa quen thuộc ở VN thời đó. Cái độc đáo của nhạc phẩm là tả được trạng thái của con người trong trong đắm say, trong lạc thú.

Trong thi ca, văn chương Việt Nam có nhiều bài viết về chốn ăn chơi phòng trà, cô đầu, á phiện…như một lời cảnh giác, nhưng chất ma túy được các nhà thơ thời xưa ví von ngôn từ:“ nàng thơ“, Yến sĩ phi lý thuần (inspiration), có người mượn nó làm chất liệu gợi cảm hứng sáng tác, trong số đó có một số nghệ sĩ trình diễn cũng như sáng tác. Dù cảm hứng bắt nguồn từ nội tâm, ngoại cảnh, đôi khi bắt nguồn từ những câu chuyện kể bạn bè. 
Để hòa mình vào những cảm xúc của tha nhân, của ngoại cảnh kẻ sáng tác phải hóa thân thành người đam mê chạy theo những lạc thú để hoàn thành tác phẩm. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn cũng thế, tâm hồn ông phong phú giàu tưởng tượng để có thể hóa thân vào những ngõ tối, xóm nghèo để nhìn thấy th ảm cảnh của sa đọa, hoặc vào những chỗ sang trọng hhộp đêm ở Sài Gòn, New York, Paris nơi ánh đèn màu, âm thanh của tiếng nhạc hòa trong khói thuốc trở nên huyền ảo mà Lê Trọng Nguyễn chưa bao giờ đặt chân đến. 

Lời Ca của ca khúc Sao Đêm được đãi lọc rất lãng mạn, thật hay được danh ca Lệ Thu trình bày trước năm 1975 ở Sài Gòn. Lời ca đầy ẩn dụ. Em, Sao Đêm trong ca từ là ẩn dụ. Đôi mắt tiên nâu, trạng thái đang thả hồn vào cõi huyền hoặc. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn quả thực có thực tài, trí tưởng tượng thật phong phú nhậy bén nên ca từ giai điệu đã vẽ được con người trong cảnh đắm say, do đó ca khúc Sao Đêm trở thành độc đáo chưa có một nhạc sĩ khác viết về "tiên nâu ".


(Sao Đêm - Ca Sĩ Quỳnh Giao)

Xin chép phần ca từ 1 và 2 đẹp như một bài thơ của ca khúc Sao Đêm:

"Còn gì nữa? Mà ôi! Thương đau gieo mãi không thôi. Thân xác héo mòn. Đời ta lạnh trống, đôi mắt tiên nâu chờ ta giữa trời sao….Còn gì nữa? Bầu trời rạn nứt rồi. Mà ôi! Tâm tư đen tối chơi vơi. Đâm nát phím ngà người yêu tàn phá. Chờ qua năm tháng rủ áo trần gian…Em, ánh sao đẹp xa cuối trời đi về đâu ? Đêm quá sâu hồn ta rã rời trong trời nâu. Tìm em không gian hồ đổ vỡ theo tinh cầu bay. Hằng đêm gối sách mơ trăng sao…Vội vàng hái cả trời sao chín mọng. Mà ôi! Thiên thai aao tắt mây vương. Lạc bước thiếu tàinhạc lôi rượu cuốn, người yêu xa mãi tìm gió ngàn phương…"

Lời 2: 

"Vời vợi sáng 
Một trời hương gió vàng 
Ngàn sao bâng khuâng trên bên sông Ngân 
Lời suối réo đàn 
Lệ hoen tà áo 
Đôi mắt giai nhân tìm đâu giữa trời sao. 
Đồi lạnh vắng 
Lạc loài ta với đàn 
Hồn thơ lâng lâng theo áng mây hoang 
Lời gió hú buồn 
Biển sao gợn sóng 
Thuyền trăng đưa khách lạc giữa đại dương. 
Ôi cánh sao đẹp xa cuối trời di về đâu 
Đêm quá sâu hồn ta rã rời trong trời nâu 
Tìm em không gian hồ đồ vỡ theo tinh cầu bay 
Thời gian tím ngắt như đêm nay. 
Vội vàng hái cả trời sao chín mọng 
Mà ôi thiên thai sao tắt mây vương 
Lạc bước thiếu tài nhạc lôi rượu cuốn 
Người yêu xa mãi tìm gió ngàn phương. "

Một tác phẩm vượt thời gian khi tác phẩm đó sống bằng chất liệu thật, thay đổi lời ca để được hoa mỹ hơn như thế cái hồn ca khúc sẽ biến hóa thành một phiên bản khác! Tâm hồn nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn luôn trong sáng, lạc quan yêu đời nên từ những ca khúc ban đầu cho đến lúc cuối đời ông vẫn thích viết ở cung trưởng hướng về tương lai, dù ca từ đôi khi có buồn thì cũng chĩ man mác rồi qua đi nên rất ít bài ở cung thứ. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã về cõi vĩnh hằng nhng vẫn để lại cho đời những ca khúc giá trị của dòng nhạc bán cổ điển Tây phương. Những ca khúc của ông dù đã qua bao thời gian vẫn còn được công chúng yêu mến qua nhiều thế hệ mãi hôm nay.

Paris 21.11.2017 
Đỗ Bình