Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2026

Ám Ảnh - Sáng Tác: Diệu Hương - Tiếng Ca: Phạm Cao Tùng

Sáng Tác: Diệu Hương
Tiếng Ca: Phạm Cao Tùng

Tìm Người Trong Giấc Chiêm Bao



Hồn xưa phiêu lãng tận phương xa
Lệ thương đau son phấn nhạt nhòa
Khép lại hàng mi tìm chẳng thấy
Quanh mình tang trắng phủ mênh mông

Cuộc hư vô cách một bước đường
Mưa tháng Sáu rơi mờ viễn phương
Phù sinh một kiếp chưa tròn mộng
Ai đem mưa đến lại buồn thêm

Người theo cát bụi cõi mù xa
Vàng lá trên cao chữa lìa cành
Gợi lại cung đàn thời hoa bướm
Thương ca vô tận huyết lệ tràn

Kim Phượng
6.6.2026

Quỳnh Hoa Đêm Rằm

 

Đêm rằm thanh vắng thoảng hương Quỳnh
Dõi mắt chờ hoa, phút lặng thinh
Tỏa sắc một đêm, bừng nở đẹp
Khoe màu nhất dạ, mãn khai xinh
Bông xòe gù gật chào sương mộng
Nhụy xỏa phất phơ đón nguyệt tình
Vương miện trao nàng ngôi diễm tuyệt
Dù là khoảnh khắc, đáng tôn vinh!

Duy Anh
Rằm Tháng Tư 2026

Quần Vợt - Túc Cầu


Hôm nay là thứ sáu, 5/6/2026. Tôi chào thứ sáu đầu tiên của tháng sáu năm (20)26 này!
Ngày xưa, sau lúc ‘’đổi đời’’, không biết tại sao bạn bè thân thiết chúng tôi lại gọi tên nhau với ‘’Sáu’’ bắt đầu? 6 Hậu, 6 Phương, 6 Liêm, 6 Dũng. vv mặc dầu tôi thứ 11, Liêm thứ tư, Dũng anh cả.
Trước 75, thời ông Kỳ ( lúc chưa kỳ … cục như ‘’sau này’’ ) , báo chí Sài Gòn gọi Chuẩn/ Thiếu tướng Không Quân Nguyễn Ngọc Loan là Tướng Sáu Lèo.

Trong một bài viết năm xưa, ông Lô-Răng Phan lạc Phúc đặt câu hỏi: ‘’… Không biết từ này xuất xứ từ đâu, nhưng khi nó đi vào ngôn ngữ dân gian thì nó mang một ý niệm bỉ thử, dèm pha, tiêu cực. Tiền “lèo” là tiền vô giá trị, hay là tiền chỉ có trong tưởng tượng. Hứa “lèo” là hứa suông, hứa hão, hứa mà không thực hiện bao giờ. Vậy “Sáu Lèo” có nghĩa là một ông quan sáu vô giá trị hay là một ông tướng hữu danh vô thực hay sao? …’’. Ông Phúc hỏi, rồi ông tự trả lời: ‘’… Sở dĩ cái danh xưng này đứng vững một phần là vì cái bề ngoài luộm thuộm của ông Loan. Ông rất ít khi mặc quân phục, mũ mãng cân đai, nghênh ngang giàn giá. Ông thường mặc quần áo “trây di” xộc xệch, không đeo lon lá gì, chân đi dép cao su lẹp xẹp. Ra ngoài thì ông ngồi xe Jeep bình thường, không có mang cờ quạt mà cũng không có xe mở đường, mô tô bảo vệ. Ông nhiều khi còn đi xe “mobilet” lạch xạch đi làm. Có khi ông còn một tay cầm chai lade, một tay cầm súng M16 vừa đi vừa ực lade, vừa chửi thề loạn xạ. Bề ngoài của ông tướng Loan đúng là xập xệ, là “lèo”, nhưng việc làm của ông thì lại không “lèo” một chút nào …’’ .

Theo giải thích của ông Phúc, tôi không gọi ông là Tướng Sáu Lèo. Mà là ông tướng ‘’Bình Dân’’, dù ông không là một người dân ‘’bình thường’’. Mà là một ông Tướng ‘’ngon lành’’, đển đổi, viết về ông, không chỉ các thuộc cấp (Đại tá Trần minh Công , Thiếu tá Liên Thành ) ca tụng, mà môt ‘’văn nô’’ CS cũng phải công nhận:
(danviet.vn: TH Thứ ba, ngày 03/01/2023 20:47 GMT+7)

Chị của ông Loan là Bác Sĩ Nguyễn Bích Tuyết, nguyên Giáo Sư Đại Học Y Khoa Sài Gòn ! Anh (?) rể ông là Đại Tá Văn văn Của, nguyên Y Sĩ Trưởng Sư Đoàn Nhảy Dù (1957-1964), nguyên Đô Trưởng Sài Gòn (65-68), cũng là một người rất ‘’sympa.’’ mà tôi có dịp tiếp xúc hai lần. Ghi lại để thấy, một người xuất thân từ một gia đình nề nếp, khoa bảng, một cấp chỉ huy tài giỏi, ‘’có lòng’’, thì khó mà ‘’lèo’’, mà ‘’hữu danh vô thực’’ được.

Từ hai, ba ngày nay, hàn thử biểu nơi tôi ở ghi 15°C ! Trước đó, trong hơn một tuần liền, là 33, 35°C ! Không chỉ ở Pháp, là cả một vùng Tây Âu, cũng lao đao vì nóng bức ! Ngay cả dân ‘’a cup of tea’’ cũng bắt đầu lôi than ra bán, hết còn ‘’phớt tỉnh ăng-lê’’ ! Từ cuối tháng 2, sợ … ‘’nhảy đầm’’ không đẹp, tôi đã bớt phân nửa ‘’bia-ôm’’ ( ie. bỏ bia ) . Cho đến khi ‘’cái nóng nung người nóng nóng ghê’’ (Dương bá Trạc) thì chịu hết nổi, tôi đành phải vi phạm hiệp định Paris, ký ‘’mình ên’’ ! Nhà chỉ có hai người, ‘’máy lạnh mobile’’ để trong phòng ngủ, nên trong ngày, nóng quá, tôi ra vườn, ngồi trong bóng mát cây cerisier, vừa hóng gió (nếu có), vừa chiêu mấy ngụm bia mát lạnh ! ‘’Cuộc đời vẫn đẹp sao’’. Chuyện … ‘’bụng bự’’ tính sau!
Thế mà chỉ một sớm, một chiều, 35 xuống 15. Cách nhau 20°C !!! Cứ như lòng … người. Đổi thay xoành xoạch!
Trưởng giả học làm sang. Không phải ‘’trưởng giả’’ nhưng nghĩ đến lúc còn ở Việt Nam, thì tôi cũng …’’sang’’ lắm 

Ỏ bên nhà tứ thời, như mọi người, mỗi ngày, tôi chỉ hai bộ quần áo: một để ra ngoài (đi học, đi chơi …) và một ở nhà, kể cả đi ngủ . Có nghĩa là một phát quần đùi, một mảnh chemise. Hôm nào nóng quá thì cậu ‘’sexy’’ 50%, chỉ giữ lại Trường Sơn nam! Lại nhớ căn phòng tôi, ở Sài Gòn, từ lầu 2 nhìn ra phía sông cầu chữ Y, mà lúc xây, ông Cụ tôi đã cho lắp nhiều cửa sổ nhỏ (đẩy lên, như ‘’velux’’), để cậu Út có gió sông thổi mát vào, cả ngày, lẫn đêm, năm này sang năm khác. Cứ như mấy câu thơ Nguyễn Bính ‘’ Một nghìn cái cửa sổ . Đều khép vào đêm qua. Một nghìn bàn tay ngà. Đã thò ra cửa sổ …’’. Khác chăng là, ở đây, không có bàn tay ngà, mà chỉ có hai ngón tay vàng khói thuốc (!)’’.

Khi qua Tây, thì ‘’em bé quê’’ mỗi ngày thay 3 bộ quần áo: ra ngoài, trong nhà, đi ngủ. Lúc có nhà riêng thì tăng thêm 1 bộ: làm vườn, sửa đồ vv. Mấy năm sau này, lại thêm 1 bộ làm-sport. Nghĩa là mỗi ngày 5 bộ quần áo!!!! Nhưng với cái nhiệt độ thay đổi (hầu như) mỗi tuần, mấy hôm nay, mới 5 bộ tuần trước, mặc chưa kịp bẩn (trừ bộ ‘’thể thao’’), thì hôm qua, đã thay 5 bộ cho cái nhiệt độ mới này!!! Chưa một tuần đã 10 bộ quần áo! Thay với tốc độ đó thì tôi chưa thấy có ai, dẫu với mấy ông ‘’thay tình như thay áo’’ !!!

Tháng 6 năm nay là một tháng nhiều sôi động thể thao, ở Pháp. Giải quần vợt Roland Garros mỗi năm, thêm giải ‘’túc cầu thế giới’’. Khiến cho dân hâm mộ hai bộ môn này không kiếm đâu ra ngày giờ để vui chơi với bạn bè hay để viết thư … internet!

‘’Roland Garros’’ ( lần thứ 125) bắt đầu từ 24/5 đến 7/6. Năm nay, có một tay vợt người Mỹ gốc Việt Learner Tiên (Tiến?) bị loại ở vòng 3 (30/5) . Hôm nay, là vòng bán kết Nam:


Ngày mai Finale nữ, giữa hai tay vợt Ba Lan (Maja Ewa Chwalińska) và ‘’Nga’’ ( Mirra Andreeva).

Giải túc cầu thế giới năm nay, diễn ra từ 11/6 đến 19/7/2026, ở 3 quốc gia : Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Mễ Tây Cơ, với 48 hội tuyển tham dự ( thay vì 32 như trước đây ). Với 12 ‘’nhóm’’, mỗi nhóm 4 đội, sẽ có 104 trận đấu ( thay vì 64).

Theo ‘’siêu máy tính’’ (super ordinateur) Opta, xác suất 5 hội tuyển sẽ đoạt giải ‘’túc cầu 2026’’: Tây Ban Nha (17%), Pháp (14,1%), Anh (11, 8%), Á Căn Đình (8,7%), Đức (7,10%). Tôi đồng ý với ‘’top 5’’ này nhưng đứng 3 sẽ là Á Căn Đình, rồi Đức, Anh!

Lần ‘’World cup 2026’’ này, tôi không hứng thú gì mấy, lần đầu tiên từ trên 4 thập niên nay. Khi đã ‘’rửa tay gác kiếm ‘’ rồi thì cũng là gác luôn các bữa ăn trưa vui vẻ, các màn cá độ sôi nổi vv với mấy đồng nghiệp!!! Đã thế tối qua,4/5, xem Pháp đá giao hữu với Cote d'Ivoire, tôi lại càng rầu thêm! Sân nhà, khán giả nhà, mà lại thua 2-1. Nhưng đã trót ‘’yêu’’ rồi thì gà Gaulois có nuốt bao nhiêu dây thun, thì vẫn cứ ‘’yêu’’ như thường

Tình yêu mà, làm sao cắt nghĩa được?!!!

05/6/2026
BP

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2026

Sang Mùa

( Ảnh: Tác Giả)

Mưa không trôi hết nỗi buồn
Nắng không đủ ấm sưởi nguồn thơ rơi
Gió quên chở ước mơ đời
Mây lang thang mộng đêm vời vợi đêm
Ta nghe bước hạ vào thềm
Bóng xuân dần khuất sau rèm sương buông
Ngẩn ngơ cánh phượng sân trường
Cánh mai muộn nở rưng buồn vu vơ
Bến xưa người hẹn người chờ
Mùa qua mùa lại sông thơ cạn nguồn
Xuân rơi … chạm nhẹ chữ thương
Hạ đan sợi nắng tơ vương sưởi lòng!

Ảnh & Thơ: Yên Dạ Thảo
30.05.2026

Biển Đông

( Ảnh: Tác Giả)


Tưởng chừng trong mắt trong veo
Nhìn ra thấy được đường eo biển ngời
Lại ngờ mặt thủy tinh phơi
Miên man sóng dợn cuối trời mênh mang
Chiều nghiêng nắng trải lênh loang
Cho lòng biển mặn thêm chan chứa tình
Trong xanh biển nước sẵn dành
Không từ trong mắt biến thành xanh trong
Ngàn xa tiếng gọi Biển Đông
Nơi còn những giọt tim nồng…Chưa tan!

Ảnh & Thơ: Phong Tâm

Tình Lỡ


Ngày đó gặp em mây âm u.
Tiết trời Đà Lạt ướp sương mù.
Rừng thông reo hát mừng tao ngộ.
Có phải thực không hay mộng du?

Anh đến thăm em mỗi buổi chiều.
Mấy lần hò hẹn ngát hương yêu.
Ngoài trời giá lạnh nhưng lòng ấm.
Kề cận bên em hạnh phúc nhiều.

Nghỉ phép thời gian có hạn kỳ.
Anh về đơn vị mang tình si.
Năm sau trở lại mơ duyên thắm.
Trời hỡi! Vì đâu em bỏ đi…

Mưa đêm thổn thức khắp không gian.
Chạnh nhớ tình em duyên lỡ làng.
Hò hẹn làm chi mà luyến nhớ.
Để rồi tình lỡ mộng lìa tan.

Lâm Hoài Vũ

Vài Tiếng Việt Rắc Rối Giữa [D] Và [Gi] - Hà Ngọc Thuần

 

Da-Tô: viết [D] theo Đào Duy Anh. Đồng ý có Cụ Lê Ngọc Trụ, trong Chánh tả Tự Vị. phần đông chúng ta đều viết [Gi]a-Tô. Phiên âm của Jesus (Pháp và Anh).
Nhưng người ta chỉ dùng Gia-tô trong cụm từ Gia-Tô giáo hay Đạo Gia-Tô.
Người Việt học Đạo trực tiếp từ các giáo-sĩ người Tây Âu, nên ít dùng tiếng Hán Việt; Jesus dịch thẳng là Giê-Su. Cruz mới đầu dịch là câu rút, sau mới
dịch lại là thập-tự giá hoặc thánh giá. Sau này việc học giáo lý mở mang nhất là thần học, mới cần nhiều cụm từ Hán Việt.

Dác: viết [D] theo Đào Duy Anh. = sừng động vật = góc. Rhinoceros = tê dác; trigonometry = lượng dác học. Cụ Lê Ngọc Trụ không tán thành ý kiến này, và hầu hết các từ điển đều viết [Gi] như Ngũ Giác Đài = the Pentagone (tiếng Hán-Việt thêm chữ Đài). Ngũ Giác Đài( là một mục tiêu tấn công trong biến cố 11/9, nhưng không thiệt hại gì nhiều)..
Cụ Đào Duy Anh có thể đúng (?) nhưng mãnh hổ nan địch quần hồ (?)

Dái: 
1. "Già dái non hột " có lẽ là già giái (= trái) non hột
2. "Thằng Quỳnh ngồi trên cây cậy dái đỏ hồng hồng" có lẽ là trường hợp tương tự, dái = giái ( = trái)
3. "Khôn cho người ta dái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương chỉ tổ cho người ta ghét"
      chữ dái này có lẽ là một cách đọc của "vái" (?) ( = bái).

Dáng: không phải "dáng" , mà cũng không phải "giáng" mà là Ráng mới đúng, và Cụ Thiều Chửu là người duy nhất chủ trương thuyết này. Ráng là tiếng nôm, tiếng Hán dịch là "hà". Theo Cụ Thiều Chửu [Gi]áng phiên âm với nghĩa màu đỏ là bịa đặt.

Lạc hà dữ cô vụ tề phi
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc
(Vương Bột)

Trong Légendes des Terres Sereines, Histoire de Từ Thức Phạm Duy Khiêm dịch Giáng Hương là l'Encens Vermeil. Vermeil = Giáng = Ráng = Mầu đỏ
Không phải là hương từ trên trời "giáng" xuống hạ giới.

Làn mây hồng pha ráng trời
Sóng Đà Giang thuyền qua xứ người
(Huyền Chi/ Phạm Duy - Thuyền Viễn Xứ)

Rất tiếc là là trong Truyện Tú Uyên, cũng trong sách Legendes, Ông Phạm Duy Khiêm không dịch Giáng Kiều sang tiếng Pháp. (có thể nào dịch là Beauté vermeille ???)

Nhà thơ Pháp Victor Hugo cũng rất thích màu Ráng trời này

Seigneur préservez moi préservez ceux que j'aime
Frères parents amis et mes ennemis même
Dans le mal triomphants
De jamais voir l'été sans fleurs vermeilles
La cage sans oiseaux, la ruche sans abeilles
La maison sans enfants.

Danh: không phải "danh" mà cũng không phải "gianh" mà là "ranh " mới đúng. Đây là giả thuyết của nhà văn Việt Điểu Thái Văn Kiểm, đoán chừng sông Gianh

Đây sông Gianh đây biên cương thống khổ
Đây sa trường đây nấm mộ trời Nam
(Đằng Phương)

Khởi đầu là ranh giới Đàng Trong và Đàng Ngoài nên gọi là Sông Ranh, tiếng Hán dịch là Linh Giang (Linh là tiếng phiên âm gần đúng của Rinh = Ranh). Nguyễn Du có một bài thơ chữ hán nhan đề "Độ Linh Giang".

Với trình độ của tôi thì Cụ Thái văn Kiểm là nhà văn đáng tin cậy, nhưng thuyết Ranh Giang ít người biết hoặc nói đến, và tôi đã nhận được một ý kiến không chấp nhận thuyết này, khá cương quyết.

Dao: 
 1.Quỳnh dao

Hài văn lần bước dặm xanh
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao
Nguyễn Du - Đoạn Trường Tân Thanh 143-144

Vẫn còn những người viết "quỳnh [Gi]ao" là sai (?) chính tả. Trừ trường hợp tên riêng.

2.Dao động: Là hai từ tôi gặp trong sách Vật Lý học lớp Đệt Nhất của Cụ Hoàng Cơ Nghị, dịch từ "oscillation" của Pháp, là chuyển động của một động tử trong mặt phẳng đối xứng
với một trục và giữ một khoảng cách cố định với một điểm gốc. Nôm na là chuyển động của con lắc đồng hồ. Viết [gi]iao động là sai chính tả.
Và không nên dùng lầm với náo động hay xao động., hay chấn động.

 Xin nhờ GS Huỳnh Chiếu Đẳng vốn là giáo-sư toán lý hóa giúp cho một định nghĩa ngắn gọn và đúng hơn, có tính cách khoa học hơn. Xin cảm tạ.

3.Tiêu dao:Tiêu Dao Du là chương đầu của sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử, tiêu cũng đọc là "phiêu" và dao cũng đọc là "diêu". Nói tiêu diêu, tiêu dao, phiêu diêu đều đúng
(nhưng không ai nóí "phiêu dao" ?).

Trong nhiều lời phân ưu chúng ta thường đọc: xin cầu nguyện hương linh được sớm tiêu diêu miền Cực Lạc. Như vậy là kiêm cả Phật giáo và Lão giáo. Theo đạo Phật thì xin cầu nguyện cho hương linh được vãng sanh nơi Cực Lạc. Theo Lão giáo thì xin cầu nguyện cho hương linh được sớm tiêu dao miền Tiên Cảnh. Xin tùy nghi lựa chọn.

Xin tạm ngừng nơi đây và xin mời Anh Em đóng góp những [D] và [Gi] Anh Em đã thấy.

Hà Ngọc Thuần
01/06/2026

Tưởng Nhớ Giáo Sư Nguyễn Văn Canh (1933 –2026)


A. GIÁO SƯ NGUYỄN VĂN CANH MỘT TRÍ THỨC LỖI LẠC.

Trong niềm tiếc thương sâu xa của giới trí thức, cựu sinh viên, các chiến hữu và đồnghương người Việt tị nạn cộng sản tại hải ngoại, Giáo sư Nguyễn Văn Canh đã vĩnh viễn ra đi lúc 2 giờ 30 sáng ngày 13 tháng 05 năm 2026 tại bệnh viện Kaiser,Redwood City, California, hưởng thọ 93 tuổi.

Sự ra đi của Thầy không chỉ là mất mát của gia đình và thân hữu, mà còn là mất mát lớn lao cho cộng đồng người Việt quốc gia, cho nền giáo dục và cho thế hệ hậu sinh từng được thừa hưởng trítuệ, nhân cách và tâm huyết của một bậc đại thụ.

Trước năm 1975, Giáo sư NguyễnVăn Canh là một trong những trí thức lỗi lạc của nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa. Thầy từng giữ chức vụ Thứ Trưởng Bộ Thông Tin - Chiêu Hồi dưới thời Tổng Trưởng Hồ văn Châm, Phụ Tá Khoa Trưởng Đại Học Luật Khoa Sài Gòn — một trung tâm đào tạo tinh hoa của miền Nam tự do. Không những thế, Thầy còn là Thuyết Trình Viên tại Trường Chỉ Huy và Tham Mưu, Trường Cao Đẳng Quốc Phòng,nơi đào luyện những sĩ quan lãnh đạo cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa trong thời chiến.

Song song đó, Thầy còn là Giảng Sư Đại Học Vạn Hạnh và Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, đóng góp công sức đào tạo nhiều thế hệ sinh viên, sĩ quan và cán bộ quốc gia với tinh thần trách nhiệm, đạo đức và lý tưởng phục vụ dân tộc.

Người ta thường nói:
“Người thầy lớn không chỉ truyền kiến thức, mà còn truyền khí phách vànhân cách.”
Giáo sư Nguyễn Văn Canh chínhlà hình ảnh tiêu biểu của mẫu người thầy như thế.

Trong thời kỳ đất nước còn chiến tranh, khi biết bao biến động phủ lên quê hương, Thầy vẫn âm thầm đứng trên bục giảng, lấy tri thức làm ánh đèn soi đường cho tuổi trẻ. Những bài giảng của Thầy không đơn thuần là luật học hay chính trị học, mà còn chứa đựng tinh thần trách nhiệm công dân, lòng yêu nước và ý thức bảo vệ tự do dân chủ.

Sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, phải sống nơi đất khách quê người, Thầy vẫn không ngừng cống hiến cho họct huật và cộng đồng. Thầy trở thành Học Giả của Viện Nghiên Cứu Hoover về Chiến Tranh, Cách Mạng và Hòa Bình — một viện nghiên cứu danh tiếng của Hoa Kỳ. Ở môi trường học thuật quốc tế ấy, Thầy tiếp tục đóng góp tiếng nói của một học giả Việt Nam chân chính về chiến tranh Việt Nam, về hiểm họa cộng sản và về con đườngdân chủ cho quê hương.

Dù tuổi cao, Thầy vẫn luôn quan tâm đến sinh hoạt cộng đồng người Việt quốc gia tại hải ngoại. Với vai trò Cố Vấn Tổng Hội Cảnh Sát Quốc Gia và Hội CSQG VNCH Bắc California, Thầy luôn đượckính trọng như một bậc trưởng thượng đầy uy tín và đạo hạnh. Những lời phát biểu của Thầy lúc nào cũng ôn tồn, sâu sắc nhưng đầy chính khí.
Cả cuộc đời Giáo sư Nguyễn Văn Canh là hành trình phụng sự không ngừng nghỉ: phụng sự giáo dục, phụng sự lý tưởng tự do và phụng sự dân tộc Việt Nam.
Ở Thầy, người ta nhìn thấy sự hòa quyện giữa trí thức và nhân bản, giữa học thuật và trách nhiệm xã hội. Thầy sống thanh cao, giản dị, khiêm cung nhưng kiên định trước mọi nghịch cảnh của thời cuộc.

Ngày hôm nay, khi Thầy đã yên nghỉ, những thế hệ học trò năm xưa chắc hẳn vẫn còn nhớ mãi hình ảnh một người giáo sư với phong thái điềm đạm, lời nói từ tốn, ánh mắt hiền hòa nhưng đầy trí tuệ. Bao lớp sinh viên, sĩ quan và hậu sinh từng được Thầy dìu dắt nay đã trưởng thành khắp nơi trên thế giới. Đó chính là những “trái ngọt” mà cuộc đời người thầy để lại cho hậu thế.
Người đời có thể ra đi, nhưng công đức và trí tuệ của người thầy chân chính sẽ còn sống mãi.

B.GIÁO SƯ NGUYỄN VĂN CANH VÀTÔI CHUNG MỘT CHIẾN TUYỀN ÂM THẦM.


Có những kỷ niệm trong đời người không bao giờ phai nhạt, nhất là những kỷ niệm giữa thầy và trò trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động của quê hương. Đối với tôi, Giáo sư Nguyễn Văn Canh không chỉ là một vị giáo sư khả kính dưới mái trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn,mà còn là một người thầy, một người anh lớn đã dìu dắt tôi trong những năm tháng hoạt động đầy hiểm nguy giữa thời chiến tranh.

Ngày ấy, (1974) Thầy giữ vai trò Phụ Tá Khoa Trưởng Đại Học Luật Khoa, còn tôi — Hà Đình Huy (Duy Văn) — là sinh viên năm cuối Ban Cử Nhân Luật,(Ban Kinh tế) với vai trò là thành viên của Ban Đại Diện Sinh Viên.(TTK sinh viên đoàn) Nhưng phía sau đời sống học đường ấy, Thầy và tôi còn cùng đứng chung trong một chiến tuyến âm thầm: A 17 Phủ Đặc Ủy Tình Báo Trung Ương.

Trong tổ chức đó, Thầy hoạt động ở cấp giáo sư, còn tôi với vai trò sinh viên xâm nhập hoạt động tại Đại Học Luật Khoa để làm công tác tình báo và theo dõi tình hình trong giới sinh viên lúc bấy giờ. Đó là một thời kỳ đầy khó khăn và nguy hiểm, khi cuộc chiến ý thức hệ đang len lỏi vào từng giảng đường đại học.

Chính trong thời gian ấy, ThầyCanh đã tận tình hướng dẫn tôi rất nhiều về kỹ thuật ngoại giao, cách quan sát tình huống, phương pháp làm việc kín đáo nhưng hiệu quả, cũng như luôn nâng đỡ tôi về mặt học vấn. Với tôi, Thầy vừa là người chỉ huy âm thầm, vừa là người thầy đúng nghĩa. Những thành quả và “chiến công” mà tôi đạt được trong thời gian công tác tại trường Luật phần lớn đều nhờ vào sự chỉ dạy và nâng đỡ của Thầy.

Tôi còn nhớ sau mỗi lần hoàn thành công tác, Thầy thường nhìn tôi với ánh mắt đầy trìu mến và nói rằng tôi là “một anh hùng.” Đối với tôi, lời khen ấy từ một người thầy đáng kính có giá trị lớn hơn mọi phần thưởng. Thầy thương tôi như một học trò thân tín và luôn xem tôi là một sinh viên tốt, tận tụy với nhiệm vụ và lý tưởng mình theo đuổi.

Nhiều năm sau, trong một lần các cựu sinh viên đến nhà chúc thọ Thầy, dù tuổi đã cao nhưng trí nhớ Thầy vẫn còn minh mẫn. Thầy nhận ra từng khuôn mặt học trò năm xưa. Và khi nhắc đến tôi, Thầy vẫn xúc động nói với mọi người: “Duy Văn… anh ấy là một anh hùng.”

Hôm nay hay tin Thầy đã vĩnh viễn ra đi, lòng tôi bỗng trào dâng niềm thương tiếc vô hạn. Bao nhiêu kỷ niệm cũ dưới mái trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn lại hiện về như mới hôm qua — những ngày thầy trò cùng đứng chung chiến tuyến để chống lại quân thù ngay trong môi trường đại học giữa thời chiến tranh khốc liệt.

Thầy đã về miền miên viễn,nhưng hình ảnh của một giáo sư uyên bác, một người thầy tận tụy, một người quốcgia đầy chính khí sẽ mãi mãi còn sống trong lòng tôi.

Xin kính nghiêng mình tiễn biệt Giáo sư Nguyễn Văn Canh — một nhà giáo dục khả kính, một học giả uyên bác, một người quốc gia chân chính đã dành trọn đời mình cho dân tộc và cho thế hệ mai sau,suốt đời tôi không bao giờ quên.

Nguyện cầu hương linh Thầy sớm tiêu diêu miền cực lạc.

Thành kính phân ưu cùng tang quyến.

Duy Văn Hà Đình Huy

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2026

Mẹ Ra Đi - Thơ: Nguyễn Thanh Bình - Nhạc: Phạm Anh Dũng & AI Suno - Hòa Âm: Phạm Anh Dũng - Hát: AI Sno

Thơ: Nguyễn Thanh Bình ( Bát Sách)
Nhạc: Phạm Anh Dũng & AI Suno
Hòa Âm: Phạm Anh Dũng
Hát: AI Sno  

Hãy Cho Tôi

  

Hãy cho tôi quyền tự do lựa chọn
Lựa chọn hướng đi của kiếp làm người
Chọn nơi mưu sinh, chọn người tri kỷ
Chọn lấy con đường thiện mỹ, tâm nhân

Hãy cho tôi quyền tự do ý thức
Tích lũy những điều suy nghĩ thâm sâu
Đừng bắt tôi phải kiềm chế tâm hồn
Hay hạn chế những phiêu lưu tư tưởng

Hãy cho tôi quyền tự do diễn đạt
Để nói lên những điều mình muốn nói
Để viết ra, để phơi bày sự thật
Về những bất công khi sống trong đời

Nhân quyền, chính là không mất tự do
Là độc lập khi mưu cầu hạnh phúc
Vì thành công không phải kiếm dễ dàng
Nếu không dựa vào khả năng tự hữu

Hãy cho tôi nhiều đường đi nước bước
Để chọn hướng nào tốt nhất mà đi
Để trưởng thành trong tự do lựa chọn
Để nâng cao giá trị một con người

Hãy cho tôi, Hãy cho tôi người ơi
Một nụ cười luôn hé nở trên môi
Một tự do để yêu tôi, yêu người
Để biết mình đang sống có tình thương

Hồng Vân

Lưu Lạc

 

Người xưa còn có bóng trăng theo
Ta chỉ còn đây chút nắng chiều
Gió bụi xác xơ không quán trọ
Ngựa xe xa vắng nẻo cô liêu

Gắng gượng mà đi hết dặm hồng
Mai sau còn lại dấu chân không
Có loài hoa dại nào thương xót
Xin giữ giùm ta chút nắng trong

Đã mấy lần đi mấy lần sầu
Hẹn hò còn đến tận kiếp sau
Thuyền hoa cập bến không ai đón
Có phải vô duyên tự kiếp nào

Còn chút mây hồng áo tương tư
Để dành mai mốt gửi người xưa
Chân trời góc biển dù lưu lạc
Cũng được nâng niu chút hương thừa

Nếu có qua đây xin khóc giùm
Mưa nào kỷ niệm áo choàng chung
Nắng nào nghiêng nón hôn dòng tóc
Yêu đã thiên thu vẫn thẹn thùng

Rồi cũng biệt ly cũng tiễn đưa
Con đường hò hẹn trả gió mưa
Trăng sao thêu áo mây se tóc
Hoa cỏ ngậm ngùi theo dấu xưa

Nếu chẳng cùng đi chẳng cùng về
Giữ giùm chút kỷ niệm đam mê
Để dành kiếp khác làm mai mối
Mà nhận ra nhau vẹn ước thề….

MD 05/04/02
LuânTâm
(Trích trong TT”HƯƠNG ÁO”,MinhThư xb,MD,USA.2007, tr.37-38)

Những Bước Chân ...


Hai người bạn cũ tình cờ gặp lại nhau tại nơi làm việc, một chỗ rất nên thơ. Sở làm trông ra con sông nhỏ nước chảy êm đềm. Bên bờ sông là công viên xanh mướt, có liễu rủ, có sóc tung tăng, có trăng vàng và có cả hoa vàng li ti thêu thảm cỏ. Khoảng giữa sông có một cồn đất nổi lên, ở đó thấp thoáng một ngôi nhà mái đỏ, núp bóng cây liễu rủ tóc đong đưa... Toàn bộ như một bức tranh.

Họ thường cùng nhau đi dạo lối mòn của công viên khi vạt nắng chiều còn lưu luyến ngọn cây.
... Nhớ một ngày mùa đông, tuyết dày phủ mặt đường, một người bước trước, dấu giày in sâu trong tuyết, người kia nghịch ngợm đặt chân theo những dấu giày. Và tiếng cười ròn vang lên trong không gian lạnh giá.

Thời gian trôi qua trôi qua...
Hư vô thường của tạo hóa, hai người bạn xa nhau và chưa có dịp gặp lại nhau.
...Một ngày trở lại chốn xưa thì thấy cảnh vật dường như không đổi, kỷ niệm xưa ùa về...

Về Thăm Chốn Xưa

Ta đến nơi này mây vẫn trôi
Xa xa cồn tím trổ hoa rồi
Đong đưa liễu rủ ngôi nhà đỏ
Rợn rợn chân trời mát xanh tươi

Ta đến nơi này sóng lăn tăn
Vàng hoa cánh nhỏ ủ ân cần
Thảm xanh cỏ biếc mưa còn ẩm
Sóc nhỏ trên cành thoăn thoắt nhanh

Ta đến nơi này nhớ dáng xưa
Bước chân ai đó khít khao vừa
Dấu giầy ai bước theo từng bước
Tuyết vẫn rơi nhiều dẫu rất thưa

Ta đến nơi này ngắm mây trôi
Hồng, xanh, tím, đỏ, ráng bên trời
Bên khung cửa sổ xưa cùng ngắm
Bao năm, mới đó, thoáng qua rồi ...

Sao Khuê 
3-2016

Morocco Huyền Ảo Và Nỗi Nhớ

Mahia Palace- Marrakesh Morocco

Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích:
-Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.

Tôi ngẩn người lắng nghe Ghislaine giải thích ý nghĩa của những hình vẽ như những ma trận bí hiểm trên mu bàn tay kéo dài lên trên cổ tay của nàng, ngoài ra nàng còn tặng tôi một chai dầu nhỏ, màu vàng đậm của hạt Argan, giải thích:
-Người ta lấy trái argan, tách lấy hạt bên trong, ép hạt này bằng tay trong cỗ máy đá cho ra dầu, dầu này làm tóc mềm, bóng, giúp mọc tóc, còn giúp da dưỡng ẩm, làm biến mất nét nứt nẻ ở da bụng cho phụ nữ mới sanh con vì có vitamin E và chống oxy hóa, ai đến Morocco cũng mua về làm quà cho bạn bè và người thân cả, mình tặng bạn dùng rồi cho mình biết kết quả nhé.

Tôi mở lớn cặp mắt nghe Ghislaine kể về Casablanca, Rabat- Morocco như những điều huyền bí ở một đất nước nằm ở phía Tây Bắc Châu Phi, sát với Đại Tây Dương và biển Địa Trung Hải.

Tôi mơ được đến nơi này để tận mắt nhìn thấy vùng sa mạc rộng lớn với những con lạc đà rảo bước trên nền cát nóng như những câu chuyện thần thoại đã đọc, những ngôi nhà làm bằng lá, đất, vôi và nước để giữ nguồn mát giữa khí nóng lên đến 40 độ C vào mùa hè.
-Tôi sẽ đến thăm đất nước bạn nhé!
-Thật sao!


Morocco là một trong những đất nước đã thôi miên tôi, từ khi quen những người bạn Ả Rập, từ những films như Gladiator, có cảnh sa mạc và đấu trường được quay ở đất nước này; The Mummy (xác ướp) nổi tiếng với đoàn lạc đà, đền cổ Ai Cập, cũng mượn sa mạc Morocco để quay, đặc biệt hơn cả là khu Ait Ben Haddou, của Ouarzazate được gọi là Hollywood của Morocco.

Tôi muốn tận mắt nhìn ngắm thành phố cổ màu đỏ ở Marrakesh, Fes; màu xanh cobalt của Chefchaouen, những con hẻm màu xanh lơ da trời đầy nghệ thuật; màu vàng sa mạc với những cồn cát cháy bỏng của Erfoud, đường đi vào sa mạc Sahara, cưỡi trên lưng những con lạc đà (dromadaire) chỉ có một bướu trên lưng và giỏi chịu sức nóng đổ lửa.

Đã có rất nhiều bài ca ngợi về Casablanca, trái tim hiện đại, nơi của tình yêu và hoài niệm; về Marrakech, Fes, cái nôi của du lịch, nghệ thuật giữa hiện đại và cổ xưa trộn lẫn trong một thành phố; về Chefchaouen đầy thơ mộng vì nằm trong vùng núi Rif, phía Bắc Morocco, gần biển Địa Trung Hải, nhà cửa ở đây được sơn màu xanh lơ của trời, yên tĩnh, nhẹ nhàng như thuộc một thế giới cổ tích!

Về Sahara huyền bí, sa mạc nóng lớn nhất thế giới, rộng lớn vô tận, ban ngày nóng chói chan, bốc lửa, ban đêm lạnh sâu, gió thổi làm cát đổi hình dạng mê hoặc, ánh mặt trời chiếu xuống tưởng chừng bước đi của mình chênh vênh, nhìn xa như có ảo giác, hình bóng ai đó chập chờn rồi biến đi như một bóng nước.
Trong cùng một đất nước Morocco mà mỗi thành phố có đặc điểm riêng, khác biệt nhau rõ nét.

Khi máy bay đáp xuống Casablanca-Morocco vào 7:00 sáng của một ngày tháng năm, tôi đinh ninh trời sẽ mát nhẹ như ở Orange County, nhưng một cơn gió nóng hổi phù vào mặt làm không sao thở nổi, tưởng mình đang ở trong lò nướng bánh mì mà ngọn lửa đang để mức cao nhất.

Đặt chân lên đất nước này, tôi nhớ bộ phim mang cùng tên Casablanca, nói lên sự hy sinh, danh dự, “tình chỉ đẹp khi còn dang dở” một nỗi buồn của hai kẻ yêu nhau mà không đến được với nhau, trái ngược hẳn với một thành phố nhộn nhịp, trung tâm kinh tế và thương mại, đông đúc, sầm uất, mang nét Âu Châu, Bắc Phi.

Bước vào Hassan II mosque, một nhà thờ Hồi giáo đẹp và lớn nhất thế giới, nằm sát bên bờ Đại tây dương, với những ngọn sóng nhẹ nhàng nhấp nhô bên dưới, vừa lãng mạn, hùng vĩ, và tân tiến; xung quanh có những quán café cho mọi người ngồi thưởng thức ngắm cảnh nhất là khi hoàng hôn xuống, ánh sáng từ những tia laser trên đỉnh cao của nhà thờ chiếu xuống thật khó tả hết cái đẹp tận mắt ngắm nhìn.

Rabat, thủ đô của Morocco, yên tĩnh, sạch sẽ, có cơ quan chính phủ, có cung điện hoàng gia với lính canh bên ngoài thay đổi theo giờ, mặc quân phục, ngồi trên ngựa rất oai phong. Nhà cửa xây theo kiểu Châu Âu, trồng nhiều hoa, những cây dừa cao ngất nghệu hai bên đường.

Tangier ngay cửa ngõ của Đại Tây Dương và Địa Trung Hải, thành phố của gió biển, thổi tung mái tóc, không khí mát mẻ, những ngôi nhà sơn bằng màu xanh lơ nhẹ rất nghệ thuật.

Xe đi tiếp đến Chefchaouen, thành phố xanh màu cobalt của bầu trời, nằm giữa lòng núi Rif, rất mát mẻ, lạ lùng và thanh bình làm sao.

Ouazzane hiện ra với những đồi núi xanh rì trồng olive, chà là, nơi yên tĩnh cho tâm linh, những nhà thờ với những chiếc loa treo bốn hướng chuẩn bị cho những buổi cầu nguyện của đạo Hồi, ai cũng che khăn chỉ thấy hai con mắt, nơi này ít khách du lịch. Buổi trưa nóng chói chan, ai cũng rút hết trong nhà, đặc biệt nơi đây rất nhiều mèo con, chó thì hiền khô nằm im phơi nắng, mắt lim dim không buồn sủa khi thấy khách lạ đến.

xưởng làm da thuộc với phân bồ câu.

Ngừng lại đặc biệt ở Fez hai đêm, trong khi những nơi khác chỉ một đêm, mới thấy được thành phố cổ này chưa bao giờ được phát triển với máy móc, tất cả làm bằng thủ công truyền thống, thuộc da bằng phương pháp cổ truyền; mới ở đầu thị trấn đã ngửi thấy mùi hôi thối của nước màu ngâm làm da thuộc; quan sát từ trên gác cao của xưởng, cả trăm thùng to, vuông tròn đầy ắp nước đủ màu, những người thợ làm việc giữa trưa nắng gay gắt, họ xắn quần nhảy vào thùng nước nhuộm màu bốc mùi hôi nồng nặc, chủ xưởng phát cho mỗi người tham quan một nhánh cây rau thơm bạc hà, để xua bớt mùi hôi, ông giải thích:

-Ở đây dùng phân chim bồ câu để thuộc da vì có chứa ammonia và chất kiềm tự nhiên, giúp làm mềm da động vật, loại bỏ lông và mỡ còn sót lại, giúp da dễ xử lý hơn trước khi nhuộm; đầu tiên da được ngâm trong nước và vôi, sau ba ngày họ thuộc da bằng cách dùng tay trộn phân bồ câu với da làm mềm da và tách lông, kế đó phải giặt nhiều lần cho hết phân bồ câu, rồi sẽ đem nhuộm màu, họ cũng dùng màu từ cây và khoáng chất tự nhiên chứ không dùng màu hóa học để nhuộm, cuối cùng là phơi trên mái nhà đầy nắng mà các bạn thấy đó.

Tôi tự nhủ:
-Chỉ mới vào đầu làng đã chịu không nổi mùi hôi thối này, thì làm sao dân sống ở đây có thể chịu đựng nổi mùi này từ ngày này qua ngày khác? Đã thế những người thợ làm việc trong thùng chứa nước màu với phân bồ câu, dưới ánh nắng gắt gao qua bao nhiêu ngày tháng, tôi thật phục họ đã phải ráng chịu đựng với cái mùi khó thở này!

Chủ xưởng da cũng chỉ cho chúng tôi cách phân biệt da thật, giả ra sao, da nào có chất lượng mềm, cứng tùy độ giặt, ngâm với phân bồ câu nhiều hay ít ngày. Công trình làm nên một thành phẩm bằng da tại Chouara Tannery là một giá trị truyền thống thủ công bảo tồn di sản Morocco.

Erfoud, nóng như lò lửa, mồ hôi chảy nhễ nhại khi bước ra khỏi xe có máy điều hòa, nổi bật với sa mạc Sahara, những cồn cát đỏ au, ngút ngàn, tua cưỡi lạc đà và những chiếc xe jeep nhảy cẫng, tung khách du lịch té nhào qua hai bên thành xe, hay đập đầu trên trần, tạo cảm giác mạnh, nên phải cài dây thật kỹ; buổi tối được ngắm bầu trời đầy sao chi chít, buổi sáng với ánh mặt trời với góc nhìn có một không hai.
Ngoài ra, đây là một thành phố hóa thạch cổ xưa, rất nhiều khung đá bằng marbre chứa sinh vật hóa thạch hàng triệu năm; người ta dùng hóa thạch làm bàn đá, đồ trang trí trong nhà, quà lưu niệm.

Tôi ái ngại khi tiếp xúc với những người làm việc trong sa mạc, tôi được biết đời sống họ rất thấp, nghèo đói, có những gia đình sống ở làng bên cạnh gần sa mạc Sahara cả mấy chục năm chưa từng bước chân ra khỏi nơi này, họ không cần thiết phải ra ngoài làng, vả lại cũng không có phương tiện để đi, họ chỉ sống bằng nghề dắt lạc đà, bán những đồ trang sức lặt vặt, nhà không có điện, không đủ ăn, họ chỉ sống nhờ vào tiền tips của du khách, không có lương tháng ổn định.

Đi tiếp nữa, vùng Todgha Gorge, với những hẻm núi sâu, vách đá cao hàng trăm thước, đường đèo uốn lượn thật ngoạn mục, cây cọ xen giữa núi đá, ánh sáng thay đổi tùy những nơi bị vách núi che, lúc tối, lúc sáng đẹp như trong phim, khách du lịch cho đây là Grand Canyon tại Bắc Phi. Hai bên đường bầy bán những khăn quàng cổ, vòng đeo tay bằng hóa thạch, mũ nón bằng da, đồ trang trí… tạo nên một cảnh tượng vui mắt từ thiên nhiên đến đồ làm bằng tay nhiều màu.


Thủ phủ phim sa mạc lớn nhất Châu Phi, được gọi là Hollywood của Morocco là vùng Ouarzazate, nơi đây có Atlas studios, các phim quay tại sa mạc và thành cổ đất đỏ Ait Benhaddou như Games of Thrones, Lawrence of Arabia, Stars Trek… Thành phố cổ này là di sản Unesco. Chúng tôi đứng trên núi cao nhìn xuống một lòng chảo rộng lớn bát ngát vùng đất đỏ, tưởng tượng đến những vó ngựa phi tung bụi đất, những màn đấu súng của nhiều phim đã được quay chiếu nơi đây.

Kết thúc ở Marrakesh, một thế giới sống động kiểu cổ tích sa mạc, với những chợ đêm nhiều màu sắc, người thổi sáo rắn, vẽ bói kiểu henna, nửa thành phố với khu chợ souks cổ, truyền thống, treo đầy đồ da, đèn bằng đồng, quần áo, ồn ào náo nhiệt và nửa thành phố mới hiện đại, kiến trúc màu đất nung đỏ cam khi ánh nắng rọi, nhìn từ trên cao như một thành phố sa mạc cổ đại.

Có ai hỏi tôi vài nét đặc biệt về Morocco, tôi xin tóm tắt như sau:
Nếu Chefchaouen là màu xanh lãng mạn, mộng mơ, Sahara màu vàng cát huyền bí của ngàn lẻ một đêm, Fes cổ xưa truyền thống, Casablanca hiện đại tân thời, Gorges Valleys núi đá hùng vĩ mê hoặc, Ouarzazate thành phố điện ảnh, thì Marrakesh màu cam đỏ của ánh mặt trời sôi động, huyền ảo.

Morocco đã được tôi vén màn bí mật, muôn màu, muôn vẻ, thành phố nơi vua sống thật giàu có sạch đẹp, yên tĩnh, có lính canh, còn nơi người dân đen thì khổ sở tội nghiệp với những nghề tự nghĩ ra để sinh sống qua ngày, không có đủ cơm ăn làm sao nói đến bảo hiểm tương lai cho con người?!


Ghislaine gặp tôi sau chuyến thăm đất nước quê hương của cô ta:
-Cám ơn bạn đã đến thăm đất nước tôi, bạn đã tân mắt nhìn cuộc sống, con người và sinh hoạt của dân tôi rồi đấy! Quê hương tôi đẹp, cổ xưa, tôi hãnh diện đã sanh ra nơi đó, tài nguyên thiên nhiên phong phú lắm, nhưng vẫn nằm im lìm, chưa được khai thác; thật tình mà nói dân tôi khổ và nghèo lắm, chúng tôi phải di cư qua những nước Âu Châu, Bắc Mỹ… chúng tôi chỉ có thể về thăm nhà khi thấy nhớ cha mẹ già, nơi mình sanh ra thôi.

Tôi thông cảm, nắm lấy bàn tay có vẽ những hình Henna của bạn:
-Mình là những người rất may mắn, đang được sống ở đất nước tự do, có công việc và gia đình thật tốt, bạn đừng mặc cảm nhé! Những người di dân cùng mang chung một ý nghĩ: có môi trường sống, an ninh, hệ thống giáo dục, y tế tốt hơn, tìm công việc có bảo hiểm tương lai cho mình và gia đình mà!

Sỏi Ngọc
Montreal, May’26
Đây là link hình ảnh Morocco May’26
https://photos.app.goo.gl/agqG34XPXmgnAEtg9

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2026

Để Trả Lời Một Câu Hỏi - Trúc Phương - Kim Trúc

 

Sáng Tác: Trúc Phương
Trình Bày: Kim Trúc

Tìm Lại Thu Xa

 

Thềm xưa quạnh quẽ dáng thu xa
Dạ khách bâng khuâng nắng sắp tà
Xào xạc âm quen dồn kỷ niệm
Mơ hồ hương nhẹ thoảng vừa qua

Gió ơi giữ lại hãy ngừng im
Lắng tiếng tơ lòng nhịp trái tim
Thơ thẩn vàng sân rơi rụng lá
Hoài trông cảnh cũ vẫn im lìm

Chim chiều lẻ bạn lẫn trong sương
Len lỏi cành cao gửi mộng thường
Nhàn nhạt trăng non màu ủ rũ
Sáng soi trăng hỡi bóng người thương

Kim Phượng

Em Rủ Rỉ Rằng

 

Em rủ rỉ rằng chỉ hôm nay
Gom mây nhột gió để nhốt ngày
Chả cần vịn đến lời bỏng cháy
Mà ánh trăng cuồng líu ríu say.

Em lại thì thầm chỉ đêm nay
Vãi trăng rắc sáng trải làm ngày
Cuộn gió làm mồi nhen lửa cháy
Cho khối kẻ khờ ngất ngư say.

Em lại... Ừ thì, ta đêm nay
Kê nắng làm đêm gió làm ngày
Vì em ta nguyện làm mồi cháy
Đốt cạn đêm cuồng líu qíu say!

Hà Nội, đêm 23 tháng 10/2023
Đặng Xuân Xuyến

Cà Phê Thứ Bảy

  

Em chẳng bao giờ thích uống cà phê,

Nhưng thứ bảy em theo anh ra quán,
Anh muốn bên em phút giây thư giãn,
Giữa ồn ào của phố xá cuối tuần.

Anh đưa em đến la Madeleine,
Chọn một bàn nhỏ mình ngồi bên nhau,
Những bàn ghế nâu, tường nhà màu nâu,
Cà phê nâu bưng ra còn hơi khói.

Ly chocolate nóng cho em. Anh gọi.
Anh và em riêng trong một không gian,
Mời em điểm tâm với bánh Croissant,
Bánh mới nướng thơm giòn mùi bơ Pháp

Anh chiều em mua thêm phần bánh ngọt,
Orange dream Cake màu vàng cam ngon,
Uống chocolate nóng chắc phai môi son
Ăn miếng bánh chắc mùi son bay mất.

Anh vẫn thích cuộc đời là sự thật,
Đâu vì màu son, màu phấn điểm trang,
Chốc nữa hôn em anh sẽ thích hơn,
Vì đôi môi em có mùi vị ngọt.

Thứ bảy có nhiều cuộc tình hò hẹn,
Có ai vào quán cà phê như mình?
Niềm vui đôi khi không tốn nhiều tiền,
Ly cà phê đủ cho tình gần lại.

Anh vẫn thích cuộc đời là thứ bảy,
Một ngày thảnh thơi trọn vẹn cho nhau,
Vào quán cà phê chia từng giọt sầu,
Chung từng giọt vui có em tri kỷ.

Cà phê với em. Tình yêu chỉ thế,
Không xa hoa, không mơ mộng hoang đường,
Em cũng thích đời đơn giản dễ thương,
Thứ bảy sau lại cùng anh ra quán.

Nguyễn Thị Thanh Dương.
( May 4, 2013)

Vị Ân Nhân Của Người Việt Tị Nạn


Tháng tư đen đã qua nhưng dư âm vẫn còn vọng trong lòng người. Mỗi năm một tháng tư, hơn năm mươi năm rồi vết thương tuy liền da nhưng nỗi đau vẫn âm ỉ khôn nguôi. Nước mất nhà tan là nỗi đau lớn nhất của tất cả những người yêu dân tộc, yêu quốc gia. Sài Gòn sụp đổ dẫn đến hàng chục ngàn di tản và tiếp đến là hàng trăm ngàn người vượt biển, vượt biên lao vào cõi chết để tìm sự sống. Đã có nhiều sách, báo, phim ảnh tường thuật lại nỗi kinh hoàng của những người vượt biển: tàu chết máy, hết lương thực, gặp hải tặc, bão tố…theo ước tính của các tổ chức nhân quyền thì có thể lên đến 500.000 người Việt đã bỏ mạng ở biển Đông. Đây là một thảm họa nhân quyền lớn nhất thế kỷ hai mươi, sử thế giới gọi là Boat People – thuyền nhân.

Sài Gòn sụp đổ, hàng triệu gia đình ly tán, mất tài sản, người chết. Hàng trăm ngàn quân dân cán chính miền Nam bị đi tù, đi tập trung cải tạo và hàng chục ngàn người đã chết nơi ngục tù, rừng sâu, núi thẳm…
Trong cơn khốn cùng, điêu đứng và tuyệt vọng như thế này, bỗng nhiên phép lạ đã hiện ra. Thế giới phương Tây có những con người quả cảm, nhân ái đã ra tay hào hiệp cứu vớt người vượt biển chẳng hạn như con tàu Cap Anamur (Đức), Ile De Lumière (Pháp) đã cứu vớt hàng chục ngàn thuyền nhân. Đặc biệt nhất là vị tổng thống thứ 39 của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã trực tiếp ra lệnh cho hải quân Mỹ cứu vớt thuyền nhân trên đại dương. Hạm đội bảy cử 5 tuần dương hạm đi cứu người đang lênh đênh trên biển. Jimmy Carter đã ký đạo luật tị nạn 1980 (The Refugee Act of 1980) để thâu nhận những người tị nạn từ Đông Dương. Jimmy Carter đấu tranh với những thành phần bảo thủ kỳ thị người tị nạn để gia tăng nhanh chóng việc cứu người tị nạn. Ông đã thúc đẩy mạnh mẽ để việc thâu nhận người tị nạn mỗi tháng từ 7000 lên đến 14.000 suốt những năm trong nhiệm kỳ của ông. Đích thân Jimmy Carter còn yêu cầu thủ tướng Bergin của Do Thái cùng ra tay cứu người vượt biên. Ông nhắc nhở thủ tướng Do Thái rằng họ cũng từng là những nạn nhân tị nạn khắp thế giới.


Để đáp lại những thành phần bảo thủ, cực đoan chống lại việc tiếp nhận người tỵ nạn. Jimmy Carter đã tuyên bố: “Cho tôi nhắc quý vị rằng, Mỹ là một quốc gia của những người di dân, quốc gia của những người tị nạn. Những người tị nạn Đông Nam Á từng là đồng minh của chúng ta trong chiến tranh Việt Nam. Họ đang chạy trốn khỏi đất nước, nơi mà họ bị tước hết mọi quyền căn bản”. Những thuyền nhân trên biển, những tù nhân của các trại tù cải tạo…đã đến được bến bờ tự do cũng nhờ đạo luật tị nạn, nhờ tình thương lớn , nhờ sự tranh đấu quyết liệt của vị tổng thống nhân ái đến từ tiểu bang Georgia. Những người tị nạn không chỉ được đến Mỹ mà còn được trợ giúp rất nhiều để làm lại cuộc đời. Tổng thống Jimmy Carter và chính phủ do ông lãnh đạo đã cấp ngân khoản cho sở anh sinh xã hội để giúp người tị nạn học tiếng Anh, dạy nghề, giúp chỗ ở ban đầu, giúp thực phẩm, y tế…Vị tổng thống thứ 39 này đã cứu mấy trăm ngàn người Việt Nam và cả gia đình của họ, để họ có được cuộc sống thanh đạt như ngày hôm nay.

Jimmy Carter sinh ra và lớn lên ở tiểu trấn Plains thuộc vùng Tây Nam của tiểu bang Georgia. Thuở nhỏ ông rất thông minh và thích đọc sách. Lớn lên học đại học kỹ thuật Georgia, Đại học Union, Học viện hải quân Hoa Kỳ. Đã từng là kỹ sư hạt nhân và phục vụ trong tàu ngầm của hải quân Hoa Kỳ. Ông là thống đốc thứ 76 của Georgia và là tổng thống thứ 39 của Hoa Kỳ. Trong cuộc tranh cử tổng thống ông từng tuyên bố: “thời kỳ phân biệt chủng tộc ở đây đã qua rồi”. Đây là một việc làm can đảm và nguy hiểm vì điều này đã từng khiến cho nhiều vị chính khách kết thúc sự nghiệp chính trị của mình.


Jimmy Carter đảm nhận chức vụ tổng thống với một hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Nạn suy thoái kinh tế sau chiến tranh Việt Nam, dư âm của Watergate vẫn âm ỉ nhức nhối, thất nghiệp tăng cao, giá dầu đột biến vì OPEC làm khó…Jimmy Carter đã có những thành tựu lớn trong sự nghiệp ngoại giao trên trường thế giới. Ông đã giúp Ai Cập và Do Thái ký hòa ước David chấm dứt chiến tranh, hòa bình hai nước giữ vững đến tận hôm nay. Jimmy Carter với chủ tịch Liên Xô ký hiệp ước SALT II hạn chế vũ khí. Ông từng muốn hủy bỏ hết vũ khí nguyên tử trên trái đất này.

Jimmy Carter là một vị Tổng Thống nhân ái, yêu chuộng hòa bình. Ông ký đạo luật bảo vệ môi trường, lập khu công viên quốc gia Alaska với một diện tích khổng lồ. Ân xá cho những người trốn quân dịch trong chiến tranh Việt Nam. Jimmy Carter lập ra trung tâm Carter, Habitat for Human để cứu trợ nhân đạo, giúp đỡ người nghèo khổ khốn cùng ở Mỹ cũng như khắp thế giới. Habitat của ông đã cứu nhiều triệu người châu Phi thoát khỏi dịch bệnh, chết chóc, cung cấp thuốc men và chăm sóc sức khỏe… Habitat đã dựng hơn 5000 căn nhà cho người nghèo. Bản thân Jimmy Carter là một thợ mộc lành nghề. Ông xắn tay áo vào làm cùng với các thiện nguyện viên của Habitat. Jimmy Carter được thế giới nhìn nhận như là trung tâm kiến tạo hòa bình, bởi vậy mà năm 2002 ông vinh dự được trao giải thưởng Nobel hòa bình. Jimmy Carter còn là tác giả của 23 quyển sách trong ấy nhiều quyển rất ăn khách, Tiêu biểu như: Why Not The Best?, Talking Peace: A Vision For The Next Generation, An Hour Before Daylight: Memories of a Rural Boyhood, Palestine: Peace Not Apartheid…


Tiểu bang Georgia chúng ta thật vinh hạnh có được một vị Tổng Thống nhân ái, lịch thiệp, nhã nhặn nhưng cũng rất kiên cường trong việc tranh đấu cho những người tị nạn. Ông là một vị tổng thống sống cho mọi người, suốt đời làm việc vì mọi người. Một trăm năm đời người của ông quả thật là một chuỗi ngày vô cùng trân quý. Sau một đời phục vụ tha nhân, ông lại về an nghỉ cùng người vợ thân yêu ở tại tiểu trấn Plains. Ngôi nhà thuở thiếu thời vẫn còn ở đấy. Thư viện và bảo tàng của ông thì ngay tại vùng Metro của Midtown Atlanta.

Một ngày tháng tư tôi đến đây thăm viếng và tưởng nhớ một vị tổng thống nhân ái, một đại ân nhân của người Việt Nam tị nạn tại Hoa Kỳ.

Tiểu Lục Thần Phong
Ất Lăng thành, 0526


Thứ Ba, 2 tháng 6, 2026

Đêm Đông Lạnh Trời Mưa Xuống - Nhạc Và Lời: Phạm Anh Dũng - Hòa Âm:Phú Hùng - Tiếng Hát: Phương Thảo

Nhạc Và Lời: Phạm Anh Dũng
Hòa Âm:Phú Hùng
Tiếng Hát: Phương Thảo

Tìm Nhau Ngày Mưa

 


Vắng người trời cũng sầu mưa
Thiếu người gió buốt cũng vừa chạm qua
Van mưa mau tạnh rời xa
Mang chút nắng ấm chiều tà sưởi em

Đường tình ngày ấy mang tên
Hai chiếc bóng kết ướt mềm lòng tôi
Mưa xưa nồng ấm bờ môi
Mưa nay nhoà nhạt phai rồi hương yêu

Quán cũ hò hẹn tịch liêu
Phố phường lất phất bao chiều áo bay
Tìm lại bóng dáng thơ ngây
Hoài mơ nhung nhớ đong đầy cho nhau

Tim hằn tì vết xót đau
Mưa bão vây bủa úa nhàu không gian
Quạnh hiu phòng vắng thênh thang
Bắt bóng mộng vỡ ngỡ ngàng người xa….

Kim Oanh
28/10/2016
 

Gửi Đêm



Em lại ra ngồi ngóng đợi ai
Để se sợi nhớ thắt thêm dài
Để dìu ánh mắt thêm hoang hoải
Để ríu cười buồn thêm mắt ai

Em lại ra ngồi ngóng đợi ai
Để líu ríu đêm tiếng thở dài
Để ngân ngấn lệ đêm trống trải
Để nhói đêm dài một dáng ai!


Hà Nội, 09:30 ngày 19/04/2023
Đặng Xuân Xuyến

Tình Thu - Ước Mong


 

Tình Thu

Lời xa xôi ấy cõi lòng em
Vàng lá thu rơi nhuộm trước thềm
Ngơ ngẩn hồn xưa quen dáng cũ
Đợi hài trở bước nhẹ từng đêm

Vườn tình ái ý thơ lưu khách
Theo bóng mây ray rứt thẫn thờ
Thu chợt đến khơi sầu tiếc nuối
Người mơ ơi thỏa ước mong chờ

Ôi thương nhớ nỗi buồn vương mãi
Định mệnh nào ly cách biệt nhau
Ôm kỷ niệm vai gầy trĩu nặng
Người đi rồi biết ở nơi đâu

Kim Phượng
***
Cảm Tác:

Ước Mong

Dù xa xôi nhớ mãi tình em
Bao mùa thu lá phủ bên thềm
Khắc khoải hồn đau thương dáng cũ
Hồn anh thao thức nhớ từng đêm!

Đời anh giờ đây là viễn khách
Nhìn áng mây trôi dạ thẫn thờ
Phải được trở về bên xứ cũ
Chúng mình kết họp khỏi mong chờ!

Mãi nhớ em nỗi sầu vương mãi
Biết bao lâu đời thôi xa nhau
Cõi lòng ta thôi sầu tương biệt
Gần bên nhau mình khỏi tìm đâu!?

Hàn Thiên Lương
9-5-2026

Tạp Ghi Và Phiếm Luận:Những Nhạc Khúc Mùa Hè Trước 1975


... Rồi chiều nay Hè trở lại đây
Phượng thắm rơi Phượng thắm rơi đầy
Lại cách xa nhau chín mươi ngày
Hay là một thế kỷ dài
Mà lòng ai đang khóc ai...

Tiếng hát cao vút như réo gọi, như nhắc nhở, như nức nở của ca sĩ Hoàng Oanh với lời ca bản nhạc Mùa Chia Tay của nhạc sĩ Duy Khánh như làm sống lại những mùa hè của năm mươi năm trước. Tội nghiệp cho tuổi trẻ của các thập niên 60-70 của Thế kỷ trước, học hành dang dở vì bị lôi cuốn một cách bất đắc dĩ vào vòng chiến tranh ý thức hệ giữa Nam Bắc Việt Nam. Những mùa hè là những "Mùa Chia Tay" có khi không bao giờ còn gặp lại, vì...

Đời trai chinh chiến ngang trời,
Súng gươm là bạn... và...
Bút nghiên là... cố nhân thôi !

Giọng hát lanh lảnh làm xao xuyến lòng người của nữ ca sĩ Thanh Tuyền lại như réo gọi ta trở về với quá vãng xa xưa:

Người ơi, thắm thoát niên học hết rồi
Chúc đi cạn lời giây phút ly bôi.
Ngày mai tan trường mình không chung lối,
Thương nhau nhiều biết gởi về mô,
Kỷ niệm cũ tan vào hư vô...

"Ba Tháng Tạ Từ" của nhạc sĩ Thanh Sơn đã âm thầm nói lên sự "Tạ Từ" không phải là "Ba Tháng" mà có khi mãi mãi sẽ không còn gặp lại nhau nữa:

Rồi đây có những khi buồn não lòng,
Cố nhân biền biệt có nhớ nhau không ?
Ngoài kia, hoa phượng rụng rơi tơi tả,
Dư âm làm sống lại đời ta...
Dù ngăn cách nhớ hoài ngày qua !...

Nhắc đến nhạc sĩ Thanh Sơn cũng không thể không nhắc đến "Nỗi Buồn Hoa Phượng". Một bài ca nói lên mỗi niềm chung của lứa tuổi học sinh trong ba tháng nghỉ hè, lại vừa là tâm sự thật của nhạc sĩ với cô bạn cùng lớp có tên là "Nguyễn thị HOA PHƯỢNG", là một "Tiểu Thư" con nhà công chức ở chốn thành đô theo cha về học ở vùng lục tỉnh Sóc Trăng xa xôi, làm cho chàng thư sinh tỉnh nhỏ nghe xao xuyến tâm hồn như những vầng thơ rất nên thơ của nhà thơ Huy Cận thời Tiền Chiến:

Vậy đó bỗng nhiên mà họ lớn
Tuổi hai mươi đến có ai ngờ
Một hôm trận gió tình yêu lại
Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư

Đến khi nàng tiểu thư con công chức về lại xứ thành đô hoa lệ, bỏ lại chàng thư sinh nhạc sĩ miền quê, lúc chia tay chàng hỏi "Nếu mình nhớ nhau thì làm cách nào?". Nàng đã trả lời rằng : "Mỗi năm đến mùa hoa phượng nở, anh nhìn hoa phượng anh sẽ nhớ tới em! Bởi tên em là Hoa Phượng mà!". Nhưng từ đó hai người không còn gặp lại nhau nữa.

Mười năm sau ngày chia tay cô gái mang tên Hoa Phượng, vào mùa hè năm 1963 tại Sài Gòn, một lần tình cờ đi ngang qua một ngôi trường học và nhìn thấy hoa phượng nở đỏ rực, ông bỗng nhớ lại người xưa, cảm xúc ùa về để ông hoàn thành ca khúc "Nỗi Buồn Hoa Phượng", trong tên bài hát có tên của người xưa để cho...

Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn !...
Khi biết rằng:

... Ta từ là hết người ơi!
Càng thổn thức hơn với:
... Tiếng ve nức nở buồn hơn tiếng lòng,
Biết ai còn nhớ đến ân tình không ?!...
Đường xưa in bóng hai đứa nay đâu,
Những chiều hẹn nhau lúc đầu...
Giờ như nước trôi qua cầu !...

 

Và nhạc sĩ Thanh Sơn cũng cho biết thêm rằng nhờ sáng tác bản nhạc "Nỗi Buồn Hoa Phượng" mà mỗi tháng ông nhận được sáu ngàn đồng tiền tác quyền (năm 1963 với hối đoái 1 đô-la Mỹ bằng 60 đồng VN lúc bấy giờ) Vừa thoát được cảnh nghèo túng, ông còn mua được nhà, xe để đi lại. Tất cả cuộc sống ấm no sung túc đều nhờ vào "Nỗi Buồn Hoa Phượng" mà có cả ! Nhưng người xưa thì vẫn biền biệt phương trời, để cho...

Màu hoa phượng thắm như máu con tim,
Mỗi lần hè thêm kỷ niệm,
Người xưa biết đâu mà tìm !...

Không tìm được người xưa, nên đến năm 1967 Thanh Sơn lại cùng nhạc sĩ Song Ngọc sáng tác nhạc phẩm "Phượng Buồn" để hoài niệm đến người xưa. Lời ca da diết u buồn trong tiếng hát lanh lảnh cao vút của nữ ca sĩ Thanh Tuyền như xoáy vào lòng người nghe :

Nếu ai một lần trong cuộc vui
Xa vắng người thương nghe mặn môi
Trách gì loài hoa kia còn rơi
Tôi đi người về hai lối
Ngậm ngùi ai nói không nên lời !...

Đến năm 1974, nhạc sĩ Tuấn Hải cũng cho ra đời một bản "Phượng Buồn" rất được giới mộ điệu ưa thích, do nữ ca sĩ Hoàng Oanh thu thanh đầu tiên vào dĩa nhựa nhạc Ngày Xanh. Nhưng trong tất cả các băng nhạc và đĩa nhạc của khoảng thập niên 1990 - 2000, đều ghi tên tác giả của Phượng Buồn là nhạc sĩ Thanh Sơn. Vì sao lại có sự nhầm lẫn trái khoái nầy ? Sau đây là lời giải thích của nhạc sĩ Tuấn Hải được tìm thấy trên mạng :

Bài này tôi viết năm 1974 tại Sài Gòn và đã sắp xếp Hoàng Oanh hát đầu tiên vào dĩa nhựa nhạc Ngày Xanh tại phòng thu của một người Hoa ở số 13 đường Bùi Hữu Nghĩa (trước cửa chợ cá Hòa Bình, quận 5 Chợ Lớn cùng trong năm ấy). Đến năm 2004 tôi về Sài Gòn gặp lại một số bạn cũ trong đó có các nhạc sĩ: Ngọc Sơn, Đài Phương Trang, Dzoãn Bình và Vinh Sử. Rồi chúng tôi có cuộc hẹn đi uống bia tại quán Hội Nghệ Sĩ...
Sau khi tặng Vinh Sử một CD Phượng Buồn thì người bạn này nói liền: "Xin lỗi anh, em có làm một chương trình có bài Phượng Buồn nhưng gặp khó khăn về việc kiểm duyệt tác giả ở nước ngoài nên đã để tên anh Thanh Sơn cho dễ dàng và tiện việc thanh toán bản quyền..." Ngay lúc đó tôi không thấy gì phiền hà vì việc đã rồi. Hơn nữa Thanh Sơn sau này có chút gì vui vui... Thế là vấn đề thông qua.
Sau đó bài Phượng Buồn lần lượt được nhiều trung tâm sử dụng nên việc " tam sao thất bản" càng lan tràn theo tỉ lệ thuận...

Phượng Buồn của Thanh Sơn, Thanh Tuyền hát:

"Phượng Buồn" của nhạc sĩ Tuấn Hải gần đây được rất nhiều ca sĩ hát và được nhiều người yêu thích, với âm điệu du dương và lời ca gợi cảm, chân thật, nhẹ nhàng đánh động lòng người nghe:

Trong tiếng hát ve phượng hồng là hoàng hậu đó
Phượng buồn vì tình ta tan theo sóng biển nổi trôi
Ngàn năm trong tôi, tình này không phai phôi
Xuân qua hè tới ta nhớ nhau luôn phượng ơi !...

Cảm xúc biết bao khi nghe hát câu...
Xuân qua hè tới ta nhớ nhau luôn phượng ơi !...

Dù sao thì sự nhầm lẫn giữa tên của hai tác giả đều có sáng tác bản nhạc "Phượng Buồn" cũng tạo nên một giai thoại trong làng tân nhạc cận đại một cách rất nên thơ và không kém phần thú vị! Điều đáng nói là cả hai bản nhạc đều hay, đều gợi cảm, đều du dương và đều làm cho người nghe không khỏi bâng khuâng nhớ về thời áo trắng với hoa phượng đỏ thắm trong sân trường mỗi độ hè về.

Bây giờ tóc đã bạc, mắt đã mờ, răng đã... giả hết rồi, nhưng "Mỗi năm đến hè, vẫn thấy Lòng man mác buồn", khi nghe lại "Lưu Bút Ngày Xanh" với lời ca réo rắc...

Lòng xao xuyến mỗi khi hoa phượng rơi
Nhắc lại câu chuyện buồn...
Trường còn kia ôi mái đổ tường rêu
Nơi kỷ niệm êm ái...

Lớn lên trong mùa ly loạn, xếp bút xếp nghiên, hổ lều hổ chỏng, học hành dang dở... Kỷ niệm thời tuổi trẻ chỉ còn lại nuối tiếc của những mùa hè với hoa phượng đỏ thắm sân trường; Rồi lại phải lao vào vòng chiến tranh ý thức hệ một cách oan uổng. Chiến tranh chấm dứt thì lại phải làm thân lưu vong nơi xứ lạ quê người. Những "Mùa Chia Tay" cứ mãi tiếp nối nhau, biết đến bao giờ mới tìm lại được "Những Này Xưa Thân Ái" cũ ?! Như lời ca của "Thương Ca Mùa Hạ"...

Một ngày biệt ly trăm ngày nhớ nhau...
Nuối tiếc cuộc vui ân tình phút đầu
Nếu ai đã từng rung cảm
Đôi lần nhặt màu hoa thắm
Lòng bâng khuâng biết mình đã yêu ...

Tuổi trẻ là tình yêu của lứa tuổi học trò, vào đời với tình yêu gia đình, yêu cuộc sống, yêu non sông, yêu Tổ quốc... Giờ lại phải đành gởi thân nơi chân trời góc bể nầy để ngậm ngùi nhớ tiếc cho những tháng ngày hoa mộng đã qua. Cám ơn nhạc sĩ Thanh Sơn với Nỗi Buồn Hoa Phượng, với Ba Tháng Tạ Từ, với Thương Ca Mùa Hạ, với Lưu Bút Ngày Xanh... Cám ơn nhạc sĩ Tuấn Hải với Phượng Buồn, Cám ơn nhạc sĩ Duy Khánh với Mùa Chia Tay...

Nhạc sĩ Thanh Sơn lúc trẻ và khi về già

Những ca khúc bất hủ của mùa hè, sống mãi và theo mãi gót chân lưu vong của người Việt đi khắp năm châu bốn bể...

Hẹn bài viết tới!

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức



Tản Mạn Về Những Tà Áo Dài Việt Nam Và Sự Trùng Phùng Đầy Thú Vị

 

Một nhà văn đàn chị “tầm cỡ” nhưng lại chơi thân với “cây viết tay mơ” tôi đã nói, “Có một ‘món thời trang’ phụ nữ đi qua nhiều năm tháng, thậm chí qua nhiều thế hệ mà vẫn giữ được vẻ xinh đẹp, quyến rũ, và dịu dàng như nụ cười của người con gái Việt Nam. Đó là chiếc áo dài – mảnh lụa hai tà!” Tôi thích quá…vỗ tay liền cho nhận định đầy thú vị đó. Câu nói của chị đã cho tôi cảm hứng viết bài này khi được “rửa mắt”nhiều kiểu áo dài trong lần đến Nam Cali.

Tôi là người tôn sùng “chủ nghĩa áo dài” hơn là khoái cái món “đầm đìa váy vía” như cô bạn Bắc Kỳ 9 nút (54) của tôi thường nói ngày xưa, mặc dù tôi cũng từng thiết kế nhiều chiếc đầm cưới đặc biệt được khách hàng ngợi khen. Trước 1975, tôi có phần hùn với trường Hoa Mỹ, chuyên “Dạy Cắt May Âu Việt Phục Nam Nữ” trước cửa chợ Xóm Mới thành phố Nha Trang. Tôi từng học bổ túc môn áo dài tân thời kiểu “Raglan” tại nhà may Thiết Lập, một nhà may nổi tiếng của Sài Gòn thời ấy. (Sau 1975, nghe ông bà Thiết Lập cũng định cư Mỹ và mở nhà may Áo Dài Thiết Lập Saigon ở Cali. Đáng tiếc tôi không có dịp ghé thăm và nghe đâu Cô đã quy tiên vào năm 2021). Khi ấy cô Kim Hoa phu nhân một Đại úy Bộ Binh QLVNCH là chủ trường Hoa Mỹ, nhưng tôi có phần hùn và là giảng viên chính.

Dù tôi cũng có dạy về Âu Phục nam như quần tây, veston, áo khoác dài, kể cả áo dài chữ Thọ thắt nút vải của các cụ thời xưa, tôi đam mê nghiên cứu về áo dài nữ nhiều hơn. Thật là vui, thời đó tôi còn nhận “may áo dài lấy liền” bằng cách đo cắt vắt sổ xong, tôi chia cho đội ngũ học viên sắp tốt nghiệp, kẻ thì thêu máy những mẫu bông hoa rồng phụng, người lược và luôn tà, người ráp tay, người may cổ… cuối cùng ráp lại chiếc áo dài hoàn hảo chỉ trong vài giờ, làm khách hàng xa rất hài lòng, vì tiện đường đi chợ may lấy luôn. Cái thuở vàng son ấy, mỗi cuối tuần hay những ngày lễ, tôi dẫn cả lớp vài chục học viên, nam thì “đóng bộ” đỉnh đạt, nữ diện áo dài, điệu đà đi chùa Hải Đức, đi nhà thờ Núi, đi ngoạn cảnh chụp hình Tháp Bà, Hòn Chồng, thăm Suối Tiên, hay nghe nhạc, xem phim, rồi về đi ăn ngoài phố đường Độc Lập, cùng với những chàng “Lính Không Quần” bạn chàng xã nhà tôi từ Trung Tâm Huấn Luyện KQ Nha Trang; họ đi theo để tán tỉnh những cô học trò xinh xắn của tôi từ các nơi đổ về thành phố học nghề. Đáng tiếc sau 1975, chiếc áo dài thướt tha ngày trước đã bị “banh xác” một cách vô tội vạ, để sửa lại thành hai cái áo ngắn, kể cả những nhà giáo cũng bị bắt buộc mặc áo cũn cỡn đứng trên bục giảng bài cho học sinh. Cho tới những năm sau này chiếc áo dài mới “sống” lại.


Trước khi miền Nam bị “giải phóng”, hình ảnh phụ nữ Việt Nam với chiếc áo dài đã được nhiều văn thi nhạc sĩ ca tụng. Bài hát về chiếc áo dài Việt Nam. “Áo lụa Hà Đông” của Nguyên Sa được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành bài hát nổi tiếng hầu như ai cũng thuộc lòng:

“Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông...”(Áo lụa Hà Đông – Nguyên Sa)

Áo dài cũng in đậm nét trong những vần thơ nghịch ngợm duyên dáng của Nguyễn Tất Nhiên khi Phạm Duy phổ nhạc:

“Đưa em về dưới mưa
Áo dài sầu hai vạt
Khi chấm bùn lưa thưa... (Em hiền như Ma-soeur)

Sống ở Mỹ, mỗi lần đi đâu chỉ cần nhìn thấy những tà áo dài thướt tha trong gió giữa phố đông người, tôi lập tức nhận ra đó là Việt Nam của tôi, là văn hóa, là ký ức, và là hương sắc của con cháu Hai Bà Trưng Triệu nhà Nam. Đến các tiểu bang có khu phố người Việt, tôi đều ghé vào gian hàng áo dài Việt Nam, và dù mắc dù rẻ khi ra về cũng “vơ” cho được vài cái. Tôi là tác giả đã nhận giải VVNM, nên năm nào cũng được Việt Báo mời tham dự lễ phát giải. Những lần xuống Nam Cali, tôi thường ghé vô khu Phước Lộc Thọ “lùng áo dài rẻ đẹp” trước khi đi đâu.

Vào cuối năm rồi, tôi leo xe Đò Hoàng đi Nam Cali dự Lễ Phát Giải Viết Về Nước Mỹ 2025. Tôi nhờ người bạn đón ghé vào Phước Lộc Thọ một chút cho tôi “ngắm áo dài đỡ ghiền”. Khu hàng quần áo người Việt chiều hôm ấy người lựa đồ chen lấn đông đến nỗi, nói như một người bạn có tính khôi hài của tôi ngày xưa khi đi dự đêm Giáng Sinh tại nhà thờ Núi Nha Trang là, “Nếu ai lỡ đánh rơi nụ cười, chắc cũng có người hứng giùm phía sau vì…không còn chỗ để nó rơi xuống đất”. Người Việt từ đâu kéo về đây đông như trẩy hội. Chắc họ về dự lễ phát giải VVNM như mình, tôi thích thú đoán thầm.

Dọc hai bên lối đi vào Trung Tâm Phước Lộc Thọ là “cánh rừng” áo dài. Áo dài xanh, đỏ, tím, vàng, màu sắc chói chang chen nhau tỏa sáng trước bà con Việt. Những tà áo thướt tha bị gió chiều bên ngoài len lỏi luồn vào bay bay, chiếu lấp lánh. Nhưng hấp dẫn nhất, lại là những mảnh bảng giá “On sale” đong đưa với mức giá mỗi chiếc áo còn thua giá… một trái thanh long! “$9.99/each!

Dạo khu Phước Lộc Thọ, tôi có cảm giác như đang dạo phố Sài Gòn, vì xung quanh tiếng Việt nói cười rộn ràng, bên kia tiếng Bắc lanh lảnh, bên nọ tiếng Nam “đớt đa” nghe đậm đà như đường thốt nốt, bên tê là giọng Huế ngọt ngào, và thỉnh thoảng chen vài câu tiếng Anh “đứt bóng gãy gọng” như tiếng Việt nhưng nghe thân thương vô cùng:
“Tời quơi, cái áo này so cute nha chị! Vô thử đi!”
“Oh my God, màu này hợp da nha!”
“Lấy luôn đi, về mai mốt có dịp thì mặc!” Rồi tiếng giọng Huế hạ thấp xuống thì thầm, “Rẻ chưa tề! Lụm hết đi! Bên mình loại áo ni cũng phải đến mấy chục!”

Tôi thích thú nhìn quanh. Các bà, các cô mắt sáng rỡ, ai cũng hí hửng ôm cả mớ trên tay, vào thử rồi ra vơ thêm, rồi lại thêm nữa. Có cô kia thử xong bước ra ỏng ẹo xoay một vòng như người mẫu, tà áo bay phấp phới, quét trúng mặt ông chồng đang ngồi chờ với vẻ mệt mỏi trên chiếc ghế cạnh chỗ tính tiền. Tôi cố nín cười khi nghe ông nói, “Sáng giờ đã tám cái rồi đó nghe em,” nhưng miệng thì nở ra nụ cười trông méo xệch. Chắc là vì đợi mệt chứ không phải vì “xẹp hầu bao” bởi giá cả ở đây món nào cũng rẻ rề.
Vừa chui vào chiếc áo dài màu xanh cổ tròng, tôi bỗng nghe tiếng người phía sau:
“Ô chị mặc áo này đẹp quá, chị lấy chỗ nào vậy? Mà nè chị ơi, làm ơn kéo giúp em cái áo này xuống chút, hỏng biết bị kẹt gì mà em kéo hoài không được”.

Tôi quay lại và xém chút nữa là bật cười lên thành tiếng. Một cô đầu tóc bờm xờm, đang nhùng nhằng chui nửa chừng vào chiếc áo dài màu đỏ lấp lánh đầy cườm ren trước ngực. Tôi cười trong bụng gần muốn …sặc, vì đang “vật lộn” với chiếc áo của mình chưa xong, tóc tai phủ đầy mặt mũi mà vẫn có thì giờ ngắm và khen áo đẹp của người khác! Cô này chắc cũng là một trong các “tín đồ áo dài” như tôi chứ chẳng chơi.
Vừa giúp cô xong tôi định bước đi thì cô ta kêu lên, tay chỉ vào tôi:
“Chị Hoa! Chị là chị Hoa con bác Hai phải không?

Tôi giật mình nhìn kỹ người trước mặt, và chúng tôi cùng kêu lên rồi ôm nhau rối rít. Đó là Nương, con của người chú họ bên nội hiện đang sống tại New York mà chúng tôi đã mất liên lạc hàng chục năm rồi. Sau khi tốt nghiệp tôi bán shop Nails đi gõ đầu trẻ nơi vùng khác, đã làm mất số điện thoại cô. Không ngờ “nhân duyên áo dài” đưa đẩy chúng tôi gặp lại nhau một cách quá tình cờ. Tôi rất vui và chợt nghĩ, “Hoan hô áo dài!”

Buổi lễ phát giải Viết Về Nước Mỹ của Việt Báo 2025 diễn ra tại Bảo Tàng Bowers Museum, một nơi rộng rãi và trang trọng. Ngay khi bước vào hội trường, tôi đã cảm nhận một bầu không khí thân thiết vô cùng, như thể cả một góc quê hương được mang sang đất Mỹ, vì những tà áo dài tha thướt khắp nơi, mỗi màu mỗi vẻ đang hòa quyện tỏa sáng giữa cái xứ sở hiện đại “đầm váy” này.

Tôi thích thú mỉm cười, nhớ lại những lần tôi tham khảo các tài liệu văn hóa về lịch sử trang phục truyền thống áo dài Việt Nam. Xin phép được tản mạn “ngoài lề” một chút. Các nhà văn hóa đã gọi sự tiến hóa đó là “Một hành trình mềm mại cùng thời gian của chiếc áo dài”.

Từ thuở xa xưa, khi người Việt còn gắn bó với ruộng đồng, sông nước, thì trang phục của phụ nữ mang nét mộc mạc và tiện dụng. Những chiếc áo Giao Lĩnh cổ chéo, váy dài, yếm đào được mặc phổ biến trong xã hội Việt cổ xưa. Chúng không thon thả như áo dài ngày nay, nhưng đã sớm thể hiện tinh thần kín đáo, dịu dàng của cái duyên “rất Việt”.

Bước sang thế kỷ XVII – XVIII, dưới thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, trang phục phụ nữ bắt đầu đưa vào quy củ. Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát ban hành quy định cải cách y phục, khuyến khích phụ nữ mặc áo dài thân kín, quần dài thay cho váy.

Từ đây, áo ngũ thân ra đời, và đó là tiền thân của áo dài hiện đại. Áo có năm thân tượng trưng cho nền văn học của “ngũ thường” - nhân, nghĩa, lễ, trí, tín – chúng vừa mang ý nghĩa đạo lý vừa giữ được vẻ đoan trang cho phụ nữ. Đến đầu thế kỷ XX, khi làn gió phương Tây thổi vào Việt Nam, áo dài bắt đầu một cuộc “lột xác” đầy duyên dáng.


Khoảng những năm 1930, họa sĩ Cát Tường (Lemur) đã cải tiến áo ngũ thân thành kiểu áo ôm dáng, cổ cao, tay hẹp, mang vẻ thanh lịch hiện đại. Lemur Cát Tường cùng với nhóm “Tự Lực Văn Đoàn” khởi xướng cho phong trào cách tân áo ngũ thân truyền thống theo phong cách văn hóa phương Tây để tạo ra áo dài. Ông đề ra phương châm: "Quần áo tuy dùng để che thân, song nó là tấm gương phản chiếu cái trình độ, trí thức của một đất nước”.

Ban đầu, kiểu áo này gây nhiều tranh luận - vì “tân thời” quá - nhưng rồi lại nhanh chóng được phụ nữ thành thị yêu thích. Và rồi áo dài tiếp tục biến hóa qua từng giai đoạn lịch sử. Thập niên 1970, cổ áo dài được hạ thấp hơn, còn chừng 3cm, tay Raglan ra đời giúp áo vừa đẹp vừa thoải mái. Dù đang trong thời chiến, áo dài vẫn ung dung khoe sắc, dù lúc giản dị đời thường, hay khi trang trọng lễ nghi.

Phụ nữ miền Nam trong đó có tôi, mỗi khi ra đường đều mặc áo dài. Bây giờ nhìn lại từ chiếc áo “Giao Lĩnh” mộc mạc thuở ban đầu đến áo dài thướt tha hôm nay, tôi xin “bắt chước” chương trình Việt Báo VVNM mà nói rằng, “Áo dài phụ nữ Việt Nam là một cuốn sử sống bằng vải vóc ghi lại hành trình văn hóa, thẩm mỹ, và tâm hồn của dân tộc Việt”…

Nhìn toàn Ban Phụng Sự Việt Báo năm 2025, tôi thấy họ chọn đồng phục áo dài xanh màu mạ non điểm hoa văn chữ thọ. Các bóng hồng tất bật đi qua lượn lại, tà áo phất phơ xanh ngát cả hội trường nhìn mát mắt vô củng. Mấy chục mùa phát giải trôi qua, mỗi mùa các cô đều điệu đà thướt tha trong những tà áo dài sắc màu khác nhau vô cùng tuyệt mỹ.
Như thủ tục chúng tôi vẫn thường làm mỗi khi đi dự lễ phát giải Việt Báo VVNM, là các tác giả từng đoạt giải trước đây được BTC mời ký tên vào chừng 15 quyển sách đặc biệt VVNM của năm đó, để bán giá cao một chút hoặc bán đấu giá gây quỹ cho chương trình VVNM kế tiếp.
Ký xong hết 15 quyển sách, tôi đi tìm các bạn quen. Những dãy bàn tròn bày biện lịch sự. Bên hông là hai dãy bàn thức ăn Việt được trình bày vô cùng bắt mắt với hàng hàng lớp lớp các món Việt thân quen, bánh mì kẹp, bánh bò, bánh cam, chè thập cẩm…

Khi vào chỗ ngồi đã được sắp xếp, tôi hiếu kỳ nhìn kỹ những chiếc áo dài của Ban Tổ Chức đang mặc. Những năm trước thì các cô mặc áo dài “chít ben” cho vòng eo ôm siết lại, lộ vòng 1 gợi cảm và vòng 3 hấp dẫn. Nhưng kỳ này, các cô “chơi” mốt “thả ben”, thì kìa, nhìn vẫn dáng duyên vô cùng:
Nhấn “ben” lộ rõ đường cong
Thả “ben” mườn mượt ôm vòng số 2!

Nói nào ngay, ngắm các mỹ nhân Việt Báo hôm nay, người chiêm ngưỡng có thể khẳng định rằng, “dù ôm dù thả” ở chỗ vòng 2, chiếc áo dài phụ nữ Việt Nam vẫn giữ được nét duyên bất di bất dịch. Ngay cả “dân tóc dài” là tôi cũng ngưỡng mộ vô cùng.
Và tôi ngồi tẩn mẩn chấm điểm chiếc áo dài xinh nhất, mốt nhất, điệu đà nhất buổi lễ hôm này là của cô MC xinh đẹp Thùy Linh. May quá, vừa đúng lúc Giám đốc Việt Báo Hòa Bình, Thùy Linh, và Anne Khánh Vân - người thắng Giải Nhất Viết Về Nước Mỹ trước tôi 2 năm - đi ngang qua, tôi liền “chộp” lấy các cô và nhờ người chụp tấm hình làm kỷ niệm.

Xong tôi mở điện thoại xem, để chắc ăn là hình không bị… sứt đầu đứt tai. Và tôi giật mình, nhìn xuống chiếc áo dài tôi đang mặc. Chiếc áo “gấm Thái Tuấn” này con dâu trưởng tôi mới vừa tặng khi biết tôi đi dự lễ Việt Báo. Tôi nhớ cháu có nói là “mốt mới” nhưng không để ý, tôi chọn mang đi là vì chiếc áo bị cuộn chặt ém vào vali một thời gian mà chẳng bị nhàu. Không ngờ mốt áo của tôi lại giống hệt mốt áo của các cô Thùy Linh, Hòa Bình, và Khánh Vân – áo thả ben không chít eo. Đó là chiếc áo không chít eo đầu tiên sau hàng chục năm trong tủ áo dài toàn chít eo của tôi mà trước đó tôi nào để ý.

Nhưng điều khiến tôi “dựng chân lông” lại là một chuyện khác. Tối đó về nhà cháu, tôi rảo lên mạng thì bất ngờ tìm thấy một sự trùng hợp ngẫu nhiên đầy thú vị: Kiểu áo dài của tất cả chúng tôi mặc trong lễ phát giải VVNM năm này, lại “giống y chang” kiểu áo dài nhà thiết kế áo dài Việt Nam lịch sử, họa sĩ Cát Tường (Lemur), đã thiết kế cho Tiểu thư Vũ Thị Hòa Vân - con gái quan tri phủ Hà Đông Vũ Ngọc Thuý, vào mùa thu năm 1938!

Quả là một sự “Trùng phùng” độc đáo! Mời các bạn xem hình dưới đây:

Từ trái: Tiểu thư Vũ Thị Hòa Vân – (con gái quan tri phủ Hà Đông Vũ Ngọc Thuý, vào mùa thu năm 1938.), MC Thùy Linh, Phương Hoa, Giám Đốc Việt Báo Hòa Bình, Anna Khánh Vân.

Ôi, gì chứ “đụng” đến áo dài thì tôi có thể “cà kê” hàng giờ không biết mỏi!
Xin quý đức ông độc giả làm ơn bỏ quá cho cái tội này.
Nhưng nếu rủi quý ngài có … bực cái mình, thì làm ơn hãy hỷ xả mà nhớ cho rằng thì là các quý ông cũng từng có thời làm thơ và nằm mơ về một vài tà áo dài nào đó, có đúng hôn nào?

Phương Hoa
Nguồn Họa sĩ Cát Tường (Lemur) – Người tạo ra áo dài Việt Nam:
https://vi.wikipedia.org/wiki/Lemur_C%C3%A1t_T%C6%B0%E1%BB%9Dng