Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Tiến Cảnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Tiến Cảnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

Cách Mạng Mỹ Và Cách Mạng Pháp - Nguyễn Tiến Cảnh


Nhân ngày quốc khánh Hoa Kỳ 4 tháng 7, kỷ niệm 250 năm ngày Hoa Kỳ lập quốc, thử bàn về những cuộc cách mạng Mỹ và Pháp xem có gì khác nhau không. Người ta nói cách mạng Hoa Kỳ mang lại Tự Do nhưng cách mạng Pháp đem lại Bạo Động. Tại sao?

George Washington và Lafayette tại Valley Forge, ảnh John Ward Dunsmore

Quận công Lafayette viết năm 1781 ngay sau chiến thắng Continental của quân đội tại Yorktown: “Nhân loại hiện đang phải lãnh chịu một vụ kiện. Sẽ không bao giờ có Tự Do nếu không có tỵ nạn – Liberty will never more be without an asylum.” Ông tin rằng ông đã từng chứng kiến một biến cố mà cả thế giới sau này sẽ bắt chước và mô phỏng theo: con người sẽ tự co cụm lại để tránh bạo chúa hành hạ vì họ luôn luôn ước mong như vậy.

Trong một thập niên ông Tây này đã bị buộc phải đi lưu đày ra khỏi quê hương mình, nơi mà nó đã xé nát tâm can ông và ngăn cách ông dưới cái danh nghĩa của chính những lý tưởng mà câu ví dụ đã giúp ông có được cảm hứng, để rồi ông có thể sống qua những năm tháng ấy ở một nhà tù tại nước Áo.

Kỷ niệm 250 năm độc lập của Hoa Kỳ là cơ hội để mừng cái tình bạn bè thân hữu lâu dài giữa người Pháp và người Mỹ. Nó cũng là cơ hội để nói đến một vấn nạn mà chúng ta không thấy trong những lễ hội kỷ niệm niệm chính thức này: Những cuộc cách mạng Pháp và Mỹ có thực sự là những biến cố có cùng một bản chất không cho dù xa cách nhau về thời gian và không gian địa chính trị?

Những người đã từng sống trong cả hai không gian và thời gian đó đều biết câu trả lời. Nhiều sĩ quan người Pháp mà vua Louis XVI đã gửi qua Đại Tây Dương/Atlantic để chiến đấu cùng với những quân thuộc địa nổi dậy đã cảm thấy mình đang đứng về phía bên kia của hàng rào giới tuyến ngăn cách khi mà cuộc cách mạng bùng nổ ngay chính nơi quê hương mình (1789-1799) – bị quật ngã, bỏ tù và hành quyết bởi một chế độ đã tự tuyên bố coi mình là con cháu giòng dõi hợp pháp và chính danh của nền tự do mà họ đã chiến đấu ở Hoa Kỳ.

CHÍNH TRỊ VÀ Ý THỨC HỆ

Sử gia Reynald Secher là một trong những học giả của Pháp thuộc phong trào phản cách mạng và là tác giả cuốn sách A French Genocide: The Vendée, đã nói: “Người ta thường sai lầm khi so sánh hai cuộc cách mạng. Cách mạng Hoa Kỳ có chủ đích giải phóng mình khỏi sự kìm kẹp bảo hộ của vua Anh – một thứ đô hộ buộc phải cam kết hoàn thành nhiệm vụ thuế má đất đai và tiền bạc. Về căn bản thì phe nổi dậy và những người làm cách mạng không đi vào căn tính của bản chất xã hội.”

Nước Pháp thì hoàn toàn khác -Secher quả quyết và diễn nghĩa: “Những cuộc cách mạng đã có những chương trình đặc biệt chủ trương hủy bỏ thần quyền và truyền thống cùng trật tự xã hội để thay thế bằng một thế giới mới, trật tự mới, bộ mặt mới với con người mới.”

Ngoài ra ông cho rằng cuộc cách mạng ở Hoa Kỳ thì bản tính là chính trị - nhằm phá vỡ cái triều thiên vương miện ở xa đã từng đạp lên quyền lợi của người dân - trong khi cách mạng Pháp lại hoàn toàn có tính ý thức hệ. Theo cái nhìn của Secher thì đó là kế hoạch biến đổi căn bản nhắm vào tất cả mọi sự vượt quá cả tầm kiểm soát trong đó có vấn đề niềm tin / đức tin của người dân bình thường.

“Hiến pháp dân sự dành cho hàng giáo sĩ, việc bách hại có hệ thống đối với các linh mục luôn luôn kháng cự, và việc cưỡng bức phi Kitô hóa toàn bộ các vùng và miền không chỉ là những hành vi vượt quá của phong trào này, Secher khẳng định, mà là hệ quả tất yếu của nó. Chiến dịch chống lại đức tin Công giáo ấy cũng dẫn đến việc xử tử công khai 16 nữ tu Camêlô ở Compiègne trong thời kỳ Khủng bố năm 1794, vì họ từ chối không chịu từ bỏ ơn gọi tu trì của mình.”

Vua Louis XVI đã tham gia cuộc chiến ở Hoa Kỳ vì những lý do mang tính chiến lược nhiều hơn là triết lý. Chiến tranh Bảy Năm (1756–1763) đã khiến nước Pháp mất đi một đế quốc thuộc địa đầu tiên của mình, và việc hỗ trợ lực lượng nổi dậy là một cách để trả đũa người Anh.

Nhưng những gì các sĩ quan được phái sang bên kia Đại Tây Dương mới được khám phá đã để lại nơi họ một ấn tượng sâu sắc khó quên. Họ bắt gặp một xã hội với con người khao khát tự do dân chủ nhưng không vì thế mà phá bỏ trật tự thế giới trong đó họ đang sống. Các nhà thờ vẫn hoạt động, và các thiết chế địa phương vẫn giữ nguyên được sức sống của mình, thậm chí còn đóng vai trò then chốt trong tiến trình giành độc lập. Chính cái trải nghiệm về một nền tự do có trật tự và bén rễ sâu xa ấy đã là những gì giúp họ có được để mang về quê hương họ. Và chính trong thời gian này, khi thời cơ đến, họ có thể nhận ra được sự đối kháng.

NHỮNG KHÁC BIỆT

Pháp quốc đã chính thức liên minh với người dân Hoa Kỳ nổi dậy vào năm 1778. Trong số những sĩ quan được bố trí cùng với những người Mỹ sau này đã trở thành những nhân vật biểu tượng là những người lãnh đạo quân đội chống lại Cách Mạng Pháp. “Trong thực tế” -Secher ghi nhận- “phần lớn các sĩ quan Hải Quân của Hoàng Gia Pháp đã chối bỏ cuộc cách mạng ở chính quê hương mình, đã đưa đến hàng loạt nhân vật từ chức và nhiều người bị đưa đi lưu đầy xa xứ.

Có lẽ một trong trong những hình ảnh rõ nét nhất về cái nghịch lý này là nhân vật Armand Tuffin de La Rouerie. Một nhà quí phái và là bạn thiết thân với Tướng George Washington, ông nổi bật và xuất sắc khi chiến đấu ở Hoa Kỳ, đã tạo thành một hình ảnh lừng danh là tay chỉ huy can trường đầy quả cảm.

“Là một dân biểu nghị sĩ và là con cháu thuộc giòng giống gia đình nổi tiếng, lại là một tay nổi loạn đã đứng lên chống lại chính cái thế giới của mình -thế giới của truyền thống- nhân danh tự do cá nhân và tập thể,” Sécher cắt nghĩa như vậy. “Quả là hợp lý khi ông đi theo quân nổi loạn Hoa Kỳ.”


Tuy nhiên khi vừa đặt chân lên quê hương nơi chôn rau cắt rốn, một lần nữa thực tế cay đắng lại đổ ập lên đầu ông.

“Ngay lập tức ông hiểu rằng cách mạng đang đi trên đường trái với luật tự nhiên - và chỉ có đấng có uy quyền duy nhất đầy đủ khả năng bảo đảm mọi sự và là vị phù trợ luật tự nhiên này mới là vua chính của một chế độ quân chủ thực sự.”

Ông đã tổ chức đội ngũ kháng chiến ở ngay trong tỉnh thành nơi ông sinh ra và thiết lập phong trào phản cách mạng mà sau này được biết có tên là Chouannerie.

Một cựu chiến binh khác của các chiến dịch tại Mỹ, François‑Athanase de Charette de la Contrie, về sau trở thành nhân vật biểu tượng nhất của cuộc phản cách mạng Vendée. Năm 1793, viên sĩ quan hải quân Pháp này được nông dân Vendée tìm đến, xin ông lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của họ chống lại một nền cộng hòa đang đóng cửa các nhà thờ của họ và bắt con trai họ đi lính. Đạo quân mà ông chỉ huy tự xưng là Đạo quân Công giáo và Hoàng gia.

“Ông không chiến đấu cho chế độ quân chủ vì hoài niệm,” -Sécher nhấn mạnh, “mà đối với ông, vì đó là thể chế phù hợp nhất để bảo vệ các luật lệ & quyền tự nhiên đã được thiết lập bởi Đức Kitô, Thánh Tôma Aquinô, và Tuyên ngôn quốc tế Nhân Quyền. Đây chính là một nghịch lý mà những người chiến đấu đương thời của ông đang cố công vật lộn để hiểu và nắm giữ được vấn đề.”

Theo Hòa ước La Jaunaye năm 1795, những điều khoản ông giành được cho người Vendée hoàn toàn rõ ràng không có gì là mờ ám: tự do thờ phượng và miễn trừ nghĩa vụ quân dịch – tức là bảo vệ các quyền lợi phong tục địa phương và các tự do cá nhân ngược lại cách mạng mà -theo kinh nghiệm của ông- nó đồng nghĩa với việc phi Kitô giáo hóa, tập trung quyền lực một cách độc đoán, và cưỡng bách quân dịch áp đặt lên nông thôn. Ông đã bị bắt và bị xử tử bởi chính quyền cộng hòa vào năm 1796.

Câu chuyện này hiện vẫn còn in hằn trong ký ức một số người. Tại Puy‑du‑Fou, công viên lịch sử nổi tiếng ở Vendée, nơi sử thi / huyền thoại về Charette đã được tái xuất hiện hằng năm trước hàng trăm ngàn du khách, Nicolas de Villiers – người mà cha ông là Philippe, là nhà sáng lập công viên, đã xem mình là hậu duệ của các chiến binh Vendée da Trắng – đã treo trong văn phòng một tờ chứng nhận rằng gia đình ông thuộc về ‘Những Người Con và là hậu duệ của Cuộc Cách mạng Mỹ.’ Điều nghịch lý này, xem ra có vẻ như chưa bao giờ cần được giải thích.

PHÁN QUYẾT CỦA BURKE

Không ai trong thời đại ấy đã thấu hiểu và nắm bắt được chiều sâu thần học và sự quan trọng chính trị của biến cố hơn Edmund Burke, một trong những trí tuệ sáng chói nhất của thế kỷ ông, ngay từ năm 1790. Một nhà tư tưởng, bình luận kiêm triết gia Ái Nhĩ Lan – một người đã hết lòng bênh vực các thuộc địa Mỹ trong Quốc hội Anh, dù ông không tán thành việc họ tách ra khỏi độc lập hoàn toàn – đã bàng hoàng trước những gì ông chứng kiến ở Pháp. Trong mắt ông, cuộc cách mạng ấy không chỉ là một biến động chính trị, mà là một sự đoạn tuyệt với ordo – trật tự luân lý và thiêng liêng vốn đã từng nâng đỡ nền văn minh Kitô giáo. Ông đã vô cùng thất vọng trước những gì ông chứng kiến ở Pháp, xem cuộc cách mạng như một cáo chung của tinh thần hiệp sĩ và sự suy tàn của nền vinh quang Châu Âu.

Ông viết trong tuyển tập những suy luận về Cách mạng ở Pháp / Reflections on the Revolution in France, rằng: “Những người làm cách mạng đang đặt tương lai của mình vào chỗ nguy hiểm vì họ đã không biết bảo vệ và gìn giữ những di sản thiêng liêng của tổ tiên họ, trái ngược với người Mỹ, theo ông họ đã hành sử một cách khôn ngoan và khiêm cung hơn. Burke đã phát biểu rất hùng hồn và dứt khoát bằng lời nói và việc làm mà nhiều nhân vật như La Rouerie và Charette đã thấu hiểu qua những kinh nghiệm thực tế sống giữa lòng dân tộc, rằng tự do không thể tồn tại nếu bị tách khỏi truyền thống đạo đức, khỏi luật tự nhiên, và khỏi trật tự luân lý mà Thiên Chúa đã khắc ghi vào tâm hồn con người.

“Các ông đã khởi đầu quá tệ hại” -ông viết, “bởi vì các ông khi bắt đầu đả tự khinh miệt mọi thứ thuộc về chính mình. Các ông mở thương cuộc mà không có tiền, đi buôn mà không có vốn.” Đối với Burke, tự do không phải phóng túng mà là một ân huệ đòi hỏi có kỷ luật nội tâm, tự do tách rời khỏi khuôn phép đạo đức đương nhiên sẽ suy yếu đi và bị hủy hoại: “Trong trật tự vĩnh cửu của vạn vật, người có tâm trí vô độ thì không tài nào có thể có tự do. Vì chính những đam mê của họ đã rèn luyện thành những xiềng xích trói chặt cổ họ.”

Đây là trực giác sâu sắc mang âm hưởng thánh Augustin: Con người chỉ thật sự tự do khi linh hồn được đặt trong một trật tự đúng, khi các đam mê biết quy phục lý trí, và lý trí được phục tùng Thiên Chúa. Và cũng là tinh thần của Aquinas: tự do không phải là khả năng làm bất cứ điều gì, mà là khả năng hướng về điều thiện.

KẾT

Những suy tư này, sau 250 năm, vẫn còn vang vọng như một lời cảnh tỉnh cho thời đại chúng ta.

Điều khác biệt giữa Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp, trên hết, là quan niệm về một loại tự do mà các xã hội Tây Phương hôm nay buộc phải chiêm nghiệm lại: rằng tự do không có cội rễ, không có di sản, và không có trật tự luân lý – không được bám rễ neo chặt vào luật tự nhiên và sự Thiện tối hậu – thì chỉ là khúc dạo đầu của bạo quyền và thảm khốc.”

Fleming Island, Florida
July 3, 2026
Nguyễn Tiến Cảnh

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2026

Chúa Giêsu Kito, Ngài Là Đấng Toàn Thắng

v
Vào thời gian này của mỗi năm, người Kito giáo hay Công giáo đều suy niệm về những biến cố mà hơn 2,000 năm trước đã làm thay đổi thế giới - Sự đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu thành Nazareth vào ngày lễ Vượt Qua và sau đó là sự Phục Sinh và Lên Trời của Chúa. Những nhà lãnh đạo Do Thái Giáo, khi tuyên bố Chúa Giêsu là kẻ phạm thượng đã buộc đế quốc La Mã kết án Ngài là kẻ phạm trọng tội phản loạn cần phải đánh đập hành hạ sỉ vả và đóng đanh chết trên thập giá.

Trước đó ít ngày, đám đông dân Do Thái đã vui mừng đón chào cái mà người ta gọi là cuộc khải hoàn đi vào thành Jerusalem là ngày Lễ Lá khi con vua David là người đã cứu sống họ - tức đấng Thiên Sai hay Đức Kito. Lúc đó họ đang mong chờ một vị lãnh đạo quân đội để lật đổ quân xâm lược La Mã và ngồi trên ngai của David như một vị vua thống trị điều khiển toàn thể thế giới. Nhưng hy vọng của họ đã bị tan tành. Làm sao con người đó đã chết trong thất bại ô nhục dưới tay của người La Mã lại có thể là đấng Thiên sai được?

Cái ghê sợ nhục nhã đó đối với nhiều người Do Thái thì khó có thể chấp nhận được Chúa Giêsu là đấng thiên sai, ngay cả những tin tức được lan truyền sau này là Chúa đã sống lại mà nhiều người vẫn không muốn tin. Tương tự như vậy trong thế giới Hy-Lap & La Mã, quan niệm một tội nhân bị đóng danh trên thập giá làm sao lại có thể là Thiên Chúa để thờ phượng và noi theo được -quả là phi lý tai tiếng và sỉ nhục. Thánh Phaolo sau này đã tuyên bố: “Nhưng chúng tôi rao giảng Chúa Kito bị đóng đanh -điều mà người Do Thái coi là ô nhục và dân ngoại gọi là điên rồ không thể chấp nhận được” (1Cr 1:23).

Nhưng Thiên Chúa thường làm những điều khác với những cái mà người ta mong đợi: “Vì sứ điệp về Thánh Giá là điên rồ đối với những ai bị suy tàn và hủy hoại, nhưng với chúng ta là những người được cứu rỗi thì đó là quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa...Thật vậy thế gian đã không dùng khôn ngoan để nhận biết Thiên Chúa ở những chỗ Thiên Chúa biểu lộ sự không ngoan của người; cho nên Thiên Chúa đã muốn dùng lời rao giảng điên rồ để cứu những người tin” (c.18, 21).

Điều mà người ta khó có thể nắm bắt và hiểu được là Chúa Giêsu bị đóng đanh chết trên thập giá lại không phải là một thất bại! Thực ra Chúa đã nói với các môn đệ là cuộc sống của Ngài là một hy tế -ngài sinh ra là để hy sinh. “Không ai có thể lấy nó khỏi Ta, nhưng chính Ta tự hy sinh mạng sống mình” (Ga 10:18). Đi đến đau khổ và chết chính là sứ mệnh của Ngài – và hoàn thành nó như Ngài đã làm là một thắng lợi hoàn toàn!

Thực vậy, Ngài đã hướng dẫn mọi sự đi theo đúng hướng của nó. Ngài không phải là một nạn nhân thụ động. Ngài đã đẩy đưa những biến cố về phía trước. Có một vài lần chúa Giêsu có thể được tha bổng -như là những nhân chứng giả tạo đã nói không trùng khớp với nhau. Nhưng Ngài đã muốn làm cho chắc là Ngài không được tha. Ngài đã nói những lời đã khiến những nhà lãnh đạo thi hành án tử cho Ngài. Hoặc Ngài đã không trả lời khi có thể nói để thoát hình phạt chết treo trên thập giá, như lời quan tống trấn Philate gợi ý.

Những người giết Chúa Giêsu lúc đó không phải là người điều khiển dẫn đưa câu chuyện. Chính Chúa là người dẫn dắt câu chuyện -từ đầu đến cuối. Mạng sống của Chúa không bị tước đoạt -mà Chúa tự cho đi. Và khi làm như vậy, Chúa Giêsu đã là người toàn thắng – cùng với Chúa Cha của Ngài là đấng điều khiển mọi sự xẩy ra để hoàn chỉnh kế hoạch của các ngài. Các thánh sử Phúc Âm đã kể lại mọi chi tiết -nhưng không phải là những người sáng tác chế biến ra câu chuyện. Các ngài đã làm chứng những điều đó là do chính Thiên Chúa làm chủ và đứng đằng sau những bức màn đó.

Lãnh đạo Do Thái và đế quốc La Mã đã không thắng ngày Chúa Giêsu chịu chết. Chính Chúa Giêsu mới là kẻ thắng. Quỉ Satan không thắng. Chúa thắng. Satan cố gắng kéo Chúa Giêsu ra khỏi sứ mệnh của Chúa -làm cho Chúa phải bỏ cuộc và bỏ rơi loài người. Nhưng Chúa đã không bỏ cuộc và không thất bại. Chúa đã thành công. Chúa đã ra lệnh cho quỉ Satan qua Juda để thi hành việc phản bội Chúa. Ngài đến để chịu chết vào ngày Lễ Vượt Qua như là Con Chiên Hiến Tế Lễ Vượt Qua – và đó chính là điều mà Chúa muốn làm. Ngài đã chịu đựng xuyên suốt muôn vàn đau khổ cực hình khủng khiếp mà không hề thay đổi. Đó thực sự chính là một chiến thắng sau cùng - một chiến thắng khải hoàn tối hậu.

“Chiến Thắng Tối Hậu” lần theo hành trình Đức Giê-su bước vào cái chết của Ngài, dưới ánh nhìn của vinh quang tối thượng từng được tung hô trong Đế quốc La Mã – lễ khải hoàn, cuộc rước đưa kẻ chiến thắng vào vinh quang hoàng triều mang sắc thái thần linh. Nhưng khi đặt hai hình ảnh ấy cạnh nhau, một sự thật bừng sáng như sấm chớp cuối thời: Đức Giê-su mới là Đấng Chiến Thắng thật sự – và là Đấng Chiến Thắng vĩ đại nhất. Ngài phơi bày sự nhỏ nhoi của những hoàng đế trần gian, làm tiêu tan những ảo tưởng ngông cuồng của họ như tro bụi trước gió. Và những thế lực u tối thúc đẩy họ – cũng bị lột mặt nạ, run rẩy trước ánh sáng của Ngài. Trong chiến thắng của Đức Giê-su là chiến thắng của chúng ta. Chúng ta không phải là những kẻ bị cuốn trôi trong dòng xoáy định mệnh. Nếu Ngài dẫn dắt đời sống chúng ta, không một bóng tối nào có thể nuốt trọn chúng ta, không một thế lực nào có thể định đoạt kết cục của chúng ta.

Chúng ta cũng đào sâu vào lễ hội mùa xuân Kinh Thánh – Lễ Vượt Qua và Bảy Ngày Bánh Không Men – những thực hành không chỉ thuộc về Do Thái giáo, mà còn là những lễ hội Kitô giáo cử hành công trình cứu chuộc và giải thoát của Đức Giê-su Ki-tô. Thế giới Kitô giáo dòng chính đã thay thế các lễ hội này bằng truyền thống Phục Sinh, vốn bắt nguồn từ những hình thức thờ phượng ngoại giáo và những điều sai lạc. Vì thế, điều quan trọng là chúng ta phải trở lại với những gì Thiên Chúa dạy trong Lời của Ngài. Theo tinh thần ấy, chúng ta được mời gọi loại bỏ tội lỗi và sự giả hình khỏi đời sống mình, để thay vào đó là sự chân thành và chân lý theo Thiên Chúa, sự thật không thể bị lay chuyển, như những người đang chuẩn bị cho ngày Ngài tỏ mình ra trong vinh quang.

Một cuốn sách mới đang được nhiều người chú ý nói về ngày Sa-bát của Charlie Kirk. Và trước những tranh luận gần đây trong thế giới Kito Giáo giáo dòng chính về chủ đề lửa hoả ngục đời đời, người viết tìm hiểu xem Kinh Thánh thật sự dạy gì.

Trên hết, chúng tôi hướng về công trình của Thiên Chúa qua Đức Chúa Giê-su Kito – trong những gì Ngài đã làm để bảo đảm cho sự cứu chuộc chúng ta, trong những gì Ngài vẫn đang làm để uốn nắn chúng ta trở nên giống Ngài, và trong những gì Ngài sẽ còn làm khi biến đổi chúng ta trong vinh quang để trở thành một phần trong triều đại vĩ đại sắp đến của Ngài trên khắp thế giới.

Chúa Giê-su là đấng quyền năng, đấng trị vì trong chiến thắng. Xin đón nhận sự trị vì và chiến thắng của Ngài trong đời sống bạn hôm nay!


Fleming Island, Florida
Chúa Nhật Lễ Phục Sinh/Easter Day.
April 4, 2025

Nguyễn Tiến Cảnh

 

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2026

Trầm Lặng Giữa Phong Ba Bão Tố


     Hòa bình không phải là vắng bóng bạo loạn, không có tiếng súng, không có giặc dã chiến tranh, “Hòa bình là sự yên ổn phát sinh khi mọi sự được đặt đúng vị trí, đúng trật tự -giữa con người với nhau, giữa con người với xã hội, và giữa con người với Thiên Chúa. “Peace is the tranquility that results from right order - Pax est tranquillitis ordinis.” (City of God, quyển XIX, ch.13, St. Augustine Th.k IV-V).

     Trật tự đúng - right order tức là khi công lý được thực thi, mỗi người nhận được điều thuộc về mình, và các mối quan hệ được sắp xếp hài hòa.

     Theo nghĩa triết học và thần học thì thánh Âu-Tinh / Augustine không hiểu hòa bình như là sự im lặng hay vắng bóng xung đột. Ngài định nghĩa:

• Hòa bình là sự tĩnh lặng phát sinh khi mọi sự được nằm ở đúng vị trí của nó.

• Trật tự đúng-right order bao gồm:

       -trật tự trong linh hồn (ý chí – lý trí – dục vọng)

       -trật tự trong xã hội (công lý, bổn phận, tương quan)

       -trật tự giữa con người và Thiên Chúa (theo quan điểm Kitô giáo)

Vì vậy, hòa bình không phải là “không có chiến tranh”, mà là sự hài hòa sâu xa của toàn thể đời sống.

Vì sao câu này được diễn giải thành từ “Thứ Tự / right order”?

Trong tiếng Latin, ordinis không chỉ có nghĩa là “thứ tự - order” mà còn hàm nghĩa: 

• trật tự đứng đắn

• trật tự hợp lý

• trật tự theo bản chất của sự vật

Do đó, nhiều học giả Anh ngữ thêm chữ “right” để làm rõ ý của thánh Augustine là trật tự đúng không phải là bất cứ trật tự nào.

     Vậy thì theo ý nghĩa đó và trong hoàn cảnh hiện nay trên thế giới -đặc biệt tại Hoa Kỳ và Việt Nam- hòa bình có không? Với tư cách là người có niềm tin, người Công Giáo chúng ta nghĩ sao và phải ứng xử thế nào về hai chữ hòa bình?


NGƯỜI CÔNG GIÁO HOA KỲ ĐƯỢC KÊU GỌI NÊN GIỮ BÌNH TĨNH


     Tại Hoa Kỳ, trong khung cảnh và bầu khí nặng nề ở Minneapolis còn đang âm vang và lan rộng thì nhiều người Công Giáo trên khắp đất nước Hoa Kỳ đã có cảm giác báo động và lo lắng vì truyền thông báo chí xã hội hình như có vẻ đã quan trọng hóa thời kỳ hỗn loạn này.    

     Cơ quan di trú - ICE đã làm việc để giữ an ninh nhưng bị phản đối. Một vài vụ trở thành bạo động; có vụ gây nguy hiểm làm hai người thiệt mạng, đưa đến xáo trộn  tưởng như không thể ngồi yên.

     Là người Công Giáo, chúng ta được kêu gọi phải bình tĩnh và giữ hòa bình.

     Nhưng trong một thế giới đầy dẫy mâu thuẫn chúng ta phải làm gì?

     Nhiều giám mục như TGM Oklahoma Paul Coakley là chủ tịch HDGMHK, Gm Michael Burbidge của Arlington đã kêu gọi giáo dân làm “Giờ Thánh cho Hòa Bình!”

     Với nhiều hướng dẫn hơn, Gm Burbidge đã nói: “Trong những giây phút thinh lặng trước Mình Thánh Chúa, chúng ta hãy dâng phó quốc gia và vị lãnh đạo của  chúng ta cho Thiên Chúa và xin Ngài biến đổi mọi trái tim để những cơn bão nước lạnh lắng xuống, tất cả mọi chia rẽ không còn, và lòng người cùng cuộc sống của họ sẽ được biến đổi.”

     Đào sâu hơn nữa vào những phương cách để chế ngự nỗi niềm bất ổn, có người không chỉ nhắc đến lời của Gm Burbidge mà còn của Đức ông Charles Pope, cha Joseph Anthony Kress, o.p. và nhiều nhân vật cùng truyền thông báo chí CG khác.

     Tgm Naumann đã nói: “Chúng ta đang sống trong thời kỳ bất ổn và bão tố vì chúng ta đang chứng kiến những âm mưu đang xảy ra hàng ngày trên đường phố.”

     “Một đằng, chúng ta bị hoang mang vì nhân viên công lực bị tấn công trong khi họ tìm hiểu để bắt giữ và trục xuất những thành phần côn đồ và băng đảng ma túy đang gây tội ác. Đồng thời một đằng khác, chúng ta cũng để ý đến những di dân đã chạy trốn khỏi cảnh nghèo khó và bạo động áp bức ở quê hương họ để đi kiếm một đời sống tốt đẹp hơn. Nhiều người bây giờ sống trong lo sợ bị bắt và bị ngăn cách gia đình và bị trục xuất!”

     “Bầu khí chính trị còn chia rẽ hơn nữa. Chúng ta cũng nghe những tiếng nói rất hùng biện gọi kẻ di dân là hiếp dâm, sát nhân và băng đảng. Đồng thời cũng không phải là không có những kết án tương tự khá ác độc đối với  những nhân viên công lực cái nhãn hiệu Nazi, Phát xít. Thay vì đối thoại, người ta đã la ó xúc phạm nhau. Chúng ta phải đáp ứng thế nào với cái văn hóa hỗn loạn không thể kiểm soát được ấy?” Ngồi yên? Đổ thêm dầu?....

     Chúng ta còn nhớ một ngày đen tối ở Rome lúc mà dịp dịch covid đang ở cao độ, Đức Phanxico -giữa công trường thánh Phero vắng lạnh- đã mời gọi người giáo hữu mở Tin Mừng Marco cuối chương 4. “Các tông đồ cùng với Chúa Giêsu trong khi vượt qua biển Galilee thì sóng gió nổi lên khiến các ông sợ hãi, mà lúc đó Chúa lại đang ngủ giấc ngon lành.”

     -Các môn đệ đã đánh thức Chúa dậy và trách Chúa “đã không để ý đến họ vì họ sắp chết đến nơi rồi!..!”

     -Chúa Giêsu truyền cho gió và nói với biển ‘Hãy Yên Lặng’. 

Thánh Marco viết rằng lúc đó gió ngừng thổi và biển hết sóng. Chúa Giêsu lúc đó hỏi các môn đệ: 

     -Tại sao các anh lại hoảng sợ quá như vậy? Các anh không có niềm tin sao?


     Chúng ta phải “vâng theo giáo huấn của Chúa Giêsu nói về biển cả là Đừng nói và Hãy ở yên!” Chúng ta không cần thêm dầu vào lửa, không cần thổi phồng bằng những lời hùng biện dễ gây cảm xúc vì những cơn bão tố văn hóa. Thay vào đó chúng ta cần phải đến với Chúa và xin Ngài mang an tịnh vào tâm hồn chúng ta như lời Tgm Naumann đã khuyên nhủ.

     Ngài nói rõ rằng, “đây không phải là sự bình thản phát sinh từ thái độ dửng dưng trước cơn cuồng phong văn hoá. Đó là sự bình thản được sinh ra từ việc biết rằng chúng ta không đơn độc — rằng Chúa Giêsu ở với chúng ta. Người đang ở trên thuyền. Chúng ta hãy xin ơn đức tin sâu xa hơn khi tiến gần đến Đấng Duy Nhất có thể làm lắng dịu tâm hồn chúng ta. Chỉ một mình Chúa Giêsu mới có thể đem lại bình an, ngay cả giữa cơn bão tố.”

     Cha Kress, một trong các đồng dẫn chương trình của podcast Godsplaining, khuyên các tín hữu cũng hãy tìm kiếm bình an của Đức Kitô, một lần nữa hướng về hình ảnh các tông đồ đang bị nỗi sợ trói chặt giữa biển động dữ dội.

     “Chúng ta chạy đến với Chúa mà thưa rằng: ‘Thầy không lo cho chúng con sao? Thầy ngủ rồi, Thầy chẳng quan tâm đến chúng con sao?’  Nhưng Chúa lại nhẹ nhàng nói với các tông đồ, và luôn nhắc chúng ta rằng điều cốt yếu chính là sự kết hiệp nội tâm của chúng ta với Chúa Giêsu — đó mới là điều sẽ ban cho chúng ta bình an, bình an nội tâm.”

     Và sự bình an này -Ngài nói thêm- “không cần thiết phải lấy đi cái rối loạn hoang mang đang có ở quanh chúng ta, nhưng nó giúp chúng ta có khả năng hồi tưởng nhớ lại là Chúa đang ở gần chúng ta.”

     Việc ở gần với Chúa Kito chính là chìa khóa nằm trong những căng thẳng của cái văn hóa hiện tại.

     “Nó cần thiết để cho chúng ta sống trong những thời gian và khoảnh khắc ồn ào và giận hờn gây cấn,” -Đức ông Pope nói vậy.

     “Cuộc tranh luận công khai thì căng thẳng và liên tục mà đa số bắt nguồn từ những tuyên ngôn để tạo cảm xúc hơn là biện luận trí thức dựa trên những nguyên tắc để cùng nhau chia sẻ. Cái nhìn chung về Kinh Thánh, luật tự nhiên và Hiến pháp từng là nền tảng cho sự đồng thuận về văn hoá. Ngày nay, nguồn mạch của chân lý đã rời xa những nền tảng ấy và rời khỏi lý trí để nghiêng về ý chí. Người ta ‘thắng một cuộc tranh luận’ bằng sự kết hợp giữa tiếng nói lớn  và ồn ào để lấn át, áp lực chính trị và những hình thức quyền lực khác.”

     Không ai phủ nhận rằng có “nhiều vấn đề luân lý quan trọng trong chính sách di trú. Phản đối bằng lời nói, biểu tình và tổ chức chính trị là những quyền được trân trọng trong truyền thống Hoa Kỳ, và đôi khi còn là một bổn phận luân lý. Nhưng bạo lực thể xác và phá hoại tài sản công cũng như tư hầu như không bao giờ được biện minh và được vượt qua những ranh giới đạo đức.”

      Một vị mục tử, cũng là tác giả của sách Hỏa ngục là đây-The Hell There Is, tiếp tục nói: “Trong thời điểm gay gắt và ngôn từ khắc nghiệt, chúng ta cần ôm chặt lấy sự thanh thản và học cách giữ bình tĩnh.”

      Đức Ông Pope đưa ra bốn nguyên tắc để giúp người Công giáo trong thời buổi nhiễu nhương này, bao gồm: giảm bớt việc tiêu thụ tin tức, đừng quá tin vào mạng xã hội, nó giả nhiều lắm mà thật cũng có nhiều, nhưng phải tỉnh thức và khôn ngoan biết đâu là thật đâu là giả.; chấp nhận những điều ta không thể thay đổi; nhận ra rằng con người có những quan điểm khác nhau; và quan trọng nhất là“đừng quỷ hoá người khác.”

    Và đến đây tôi nhớ lại câu nói lừng danh của Reinhold Niebula một vị mục sư Tin Lành thần học gia nổi tiếng: 

    Lạy Chúa! Xin ban cho con

      “Sự Thanh Thản  để con chấp nhận những điều mà con không thể thay đổi, và

      “Sự Can Đảm, để con thay đổi những gì con có thể, và  

     “Sự Khôn Ngoan, để con biết đâu là sự khác biệt.

(God! Grant me  -The serenity to accept the things I cannot change.

                            -Courage to change the things I can, and

                            -Wisdom to know the difference.)

     

     Sự bình tĩnh, thanh thản và tĩnh lặng có thể được nâng đỡ nhờ những phân định cẩn trọng này,” Đức Ông Pope nhấn mạnh. “Nhưng để thật sự đạt đến mục tiêu cần thiết ấy, đó phải là một ân ban của Thiên Chúa và chỉ tìm được trong cầu nguyện và tín thác. Thiên Chúa không bao giờ bị khuất phục, ngay cả trước những điều ác tồi tệ nhất.”


     Sơ Mary Madeline, giảng sư thần học tại Đại học Aquinas ở Nashville, Tennessee, nói rằng chúng ta phải dùng “phán đoán thận trọng và khả năng biện phân chính xác,” và thêm rằng “điều quan trọng là nhớ rằng cảm xúc hay đam mê thường nảy sinh một cách tự phát, nhưng chúng ta có tự do chọn điều làm cho chúng nổi dậy, hoặc chọn cách đáp lại chúng bằng hành động. Trong một thế giới sa ngã, chúng ta không thể kiểm soát được mọi sự; con người đưa ra nhiều chọn lựa gây tổn hại.”

     Sơ Mary cũng chia sẻ: “Một linh mục từng khuyên là chỉ nên tiếp nhận lượng truyền thông tương ứng với thời gian dành cho cầu nguyện. Đó là lời khuyên rất khôn ngoan. Nếu chúng ta khuấy động nỗi sợ hãi hay giận dữ mãnh liệt mà không làm gì để đối diện với những điều xấu mình nhận ra, chúng ta sẽ đánh mất bình an và thậm chí cả hy vọng.”

     Sự bất ổn hiện tại khiến nữ tu Đa Minh nhớ đến lần đầu tiên bà đọc tác phẩm Searching for and Maintaining Peace của Cha Jacques Philippe.

     “Ban đầu tôi rất ngạc nhiên khi ngài nói rằng không có điều gì là lý do chính đáng để đánh mất bình an. Tôi đã suy nghĩ điều này rất lâu. Một trong những định nghĩa yêu thích của tôi về bình an giúp tôi hiểu làm sao một khẳng định như vậy lại có thể đúng.

     “Trong cuốn sách nhan đề Thành của Thiên Chúa -City of God, thánh Âu Tinh định nghĩa bình an là sự tĩnh lặng của trật tự, chứ không phải sự vắng bóng xung đột. Sự tĩnh lặng đến từ một tâm trí và ý chí được sắp đặt ngay thẳng, từ việc biết Thiên Chúa và chọn yêu mến Thiên Chúa và mọi sự trong Thiên Chúa. Đây là chìa khóa của bình an nội tâm và tự do: tìm kiếm Thiên Chúa và tin tưởng rằng ngay giữa những đổ vỡ tất yếu của thế giới này, Người vẫn đang hoạt động để hướng mọi sự về điều thiện hảo sau cùng.”

     Phó tế Burke-Sivers trong The Beacon of Truth cũng triển khai thêm về bình an. “Khi nghe hai tiếng ‘bình an’, tâm trí chúng ta thường hình dung sự chấm dứt chiến tranh và xung đột. Tuy nhiên, bình an không chỉ giới hạn trong việc duy trì thế cân bằng quyền lực giữa các đối thủ”, ông nói.

     Tác giả của Behold the Man kêu gọi các tín hữu đặt trọn niềm tin vào Đức Kitô. “Với đức tin vững vàng và lòng tín thác vào tình yêu thương xót của Thiên Chúa, chúng ta hãy tin tưởng vào lời chúc lành của Đức Kitô: ‘Thầy để lại bình an cho anh em; Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Lòng anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi’ (Ga 14,27).”

     Trong thời điểm biến động văn hoá, Popcak — một nhà tâm lý học Công giáo và đồng dẫn chương trình More2Life — cũng mời gọi các tín hữu tìm đến sự khôn ngoan của thánh Âu Tinh: “Bình an là sự tĩnh lặng phát sinh từ trật tự đúng.”

     Giám đốc của Catholic Counselors nhấn mạnh với The Register: “Bình an là điều khả thi — ngay cả trong những thời điểm khó khăn — nếu các phản ứng của chúng ta bắt nguồn từ cầu nguyện và phản ánh một cách tiếp cận cân xứng, thích hợp và mang lại kết quả trong việc giải quyết vấn đề.”

     Và khi chúng ta học cách lèo lái qua những cơn bão của thời đại, hãy mang lời của Đức Cha Burbidge đến trước Thánh Thể trong giờ Chầu Thánh Thể:

     “Tại đây, trước Mình Thánh Chúa, chúng ta đang ở trong sự hiện diện của Nguồn Mạch Bình An. Hãy xin Người làm lặng yên những làn nước cuồng nộ trong đất nước chúng ta; chữa lành các vết thương của chúng ta; hiệp nhất chúng ta; và giúp chúng ta hôm nay ra đi như khí cụ bình an của Người, để chúng ta thật sự sống với nhau như anh chị em trong Chúa hôm nay và mãi mãi. Amen.”


     BÌNH AN TRONG GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY.

     

     Có nên đem bài học Bình An này vào Giáo Hội CG Việt Nam ở quốc nội không? Người ta nói Việt Nam hiện giờ đâu có chiến tranh. Đúng! Việt Nam không có chiến tranh. Nhưng hòa bình không phải là vắng tiếng súng. Đem những bài học bình an này vào Giáo hội CG Việt nam quốc nội ngày nay quả là rất thích hợp và đúng lúc.

     Giáo Hội Công Giáo VN chúng ta lúc này không có bình an. Người ta xì xào, nói ra nói vào nói nhỏ nói to với nhau. Bất ổn lắm rồi. Không phải người ngoài nói mà chính người trong nhà -người Công Giáo- cũng nhận thấy và nói ra. Không cần kể ra nhưng ai cũng biết. Cứ hỏi Trí Khôn Nhân Tạo-AI là nó nói ra hết cho mà biết. Nó không biết nói dối đâu. Chúng tôi không muốn đổ thêm dầu vào lửa cho dám cháy lớn hơn. 

     Giáo Hội Hoa Kỳ đã khuyên mọi người phải cầu nguyện. Hồi xưa thì các môn đệ vì sợ thuyền bị sóng gió làm đắm đã trách Chúa sao cứ ngủ không cứu các ông. Chúa Giêsu đã trách các môn đệ là thiếu niềm tin vì Chúa vẫn ở bên cạnh ngay trên thuyền với các ông khi sóng gió nổi lên. 

     Chúng ta bây giờ không kêu cầu Chúa mà tự cứu mình bằng luận lý của mình. Anh sai. Tôi đúng. Dĩ nhiên khi lý luận thì ai cũng đúng vì cùng xuất thân từ một lò. Và khi đóng vai trò luật biện hộ để đả kích bên kia là sai thì phải có lý lẽ chính xác. Những câu trích dẩn trong văn chương tục ngữ không ai có thể cho là sai như: Nhà kia lỗi phép con khinh bố, Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng. Nhưng thử hỏi câu nói đó đặt có đúng chỗ hay không. 

      Thánh Au Tinh nói như trích dẫn ở trên: :“Hòa bình là sự yên ổn phát sinh khi mọi sự được đặt đúng vị trí, đúng trật tự -giữa con người với nhau, giữa con người với xã hội, và giữa con người với Thiên Chúa. “Peace is the tranquility that results from right order - Pax est tranquillitis ordinis.” (City of God, quyển XIX, ch.13, St. Augustine Th.k IV-V).

     Trật tự đúng - right order tức là khi công lý được thực thi, mỗi người nhận được điều thuộc về mình, và các mối quan hệ được sắp xếp hài hòa.

     Theo nghĩa triết học và thần học thì thánh Âu-Tinh / Augustine không hiểu hòa bình như là sự im lặng hay vắng bóng xung đột. Ngài định nghĩa:

Hòa bình là sự tĩnh lặng phát sinh khi mọi sự được nằm ở đúng vị trí của nó.

• Trật tự đúng-right order bao gồm:

       -trật tự trong linh hồn (ý chí – lý trí – dục vọng)

       -trật tự trong xã hội (công lý, bổn phận, tương quan)

       -trật tự giữa con người và Thiên Chúa (theo quan điểm Kitô giáo)

Vì vậy, hòa bình không phải là “không có chiến tranh”, mà là sự hài hòa sâu xa của toàn thể đời sống.

Vì sao câu này được diễn giải thành từ “Thứ Tự / right order”?

Trong tiếng Latin, ordinis không chỉ có nghĩa là “thứ tự - order” mà còn hàm nghĩa: 

• trật tự đứng đắn

• trật tự hợp lý

• trật tự theo bản chất của sự vật

Do đó, nhiều học giả Anh ngữ thêm chữ “right” để làm rõ ý của thánh Augustine là trật tự đúng không phải là bất cứ một trật tự nào.

     Người viết xin đặt vấn đề ở đây vì chủ đề đã gây rối GhVN hiện nay là vấn đề giáo sĩ trị và giáo dân trị mà có vị đã nêu ra. Tôi không nói vấn đề này đúng hay sai, bởi lẽ đúng sai thì tự nó với thời gian đã nói lên rồi. Và theo tinh thần thánh Augustine thì đúng là theo cái trật tự đúng của nó, cho dù bề ngoài nói là trật tự nhưng chưa chắc đã là đúng hoàn toàn. Vậy đừng tranh cãi nữa. Hãy cầu nguyện xin Chúa ban ơn soi sáng để biết đâu là đường phải đi.

     Lạy Chúa! Xin ban cho con

      “Sự Thanh Thản  để con chấp nhận những điều mà con không thể thay đổi, và

      “Sự Can Đảm để con thay đổi những gì con có thể; và  

     “Sự Khôn Ngoan, để con biết đâu là sự khác biệt.

     Sự bình tĩnh, thanh thản và tĩnh lặng có thể được nâng đỡ nhờ những phân định cẩn trọng này. Nhưng để thật sự đạt đến mục tiêu cần thiết ấy, đó phải là một ân ban của Thiên Chúa và chỉ tìm được trong cầu nguyện và tín thác. Thiên Chúa không bao giờ bị khuất phục, ngay cả trước những điều ác tồi tệ nhất.

      Cũng nên nhớ “phán đoán phải thận trọng và khả năng biện phân phải chính xác,” và rằng điều quan trọng là “cảm xúc hay đam mê thường nảy sinh một cách tự phát, nhưng chúng ta có tự do chọn điều làm cho chúng nổi dậy, hoặc chọn cách đáp lại chúng bằng hành động. Trong một thế giới sa ngã, chúng ta không thể kiểm soát được mọi sự; con người đưa ra nhiều chọn lựa gây tổn hại.


     Để kết thúc vấn đề xin nêu ý kiến của một mục tử là tác giả sách Hỏa ngục là đây-The Hell There Is, đã nói: “Trong thời điểm gay gắt và ngôn từ khắc nghiệt, chúng ta cần ôm chặt lấy sự thanh thản và học cách giữ bình tĩnh.” Ngoài ra Đức Ông Pope đưa ra bốn nguyên tắc để giúp người Công giáo trong thời buổi nhiễu nhương này, bao gồm: giảm bớt việc tiêu thụ tin tức, đừng quá tin vào mạng xã hội, nó giả nhiều lắm mà thật cũng có nhiều, nhưng phải tỉnh thức và khôn ngoan biết đâu là thật đâu là giả; chấp nhận những điều ta không thể thay đổi; nhận ra rằng con người có những quan điểm khác nhau; và quan trọng nhất là“đừng quỷ hoá người khác.” Chỉ có phán xét ngày sau cùng của Thiên Chúa mới chính xác mà thôi.


Fleming Island, Florida

March 1, 2026/Reviewed March 22, 2026

Nguyễn Tiến Cảnh
 
Có thể coi dưới dạng Video-UTube: https://youtu.be/mErUB5R4l9A

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2026

Thiền Tụng Cho Cộng Đồng

 

(Đọc chậm, đều, có thể tụng theo nhóm)

Nam mô hương Tết trở về…
Chúng con xin nhớ lại
những cơn mưa Sài Gòn
đến rồi đi như hơi thở của đất.
Xin nhớ mái hiên cũ,
nơi ta đứng trú,
nghe tiếng mưa rơi
và thấy lòng mình lặng xuống.
Xin nhớ hơi nóng mặt đường,
bóng cây đổ dài (lả lướt),
và nhịp sống rì rào
của một thành phố chưa bao giờ ngủ.

Hôm nay, nơi đất khách,
Tết đến nhẹ như một làn khói,
nhưng trong tim chúng con
vẫn còn một Sài Gòn ấm sáng.
Nguyện cho Tết này
dù xa quê,
vẫn giữ được hơi mưa cũ,
giữ được nhịp thở của ký ức,
giữ được ánh sáng trong lòng người Việt xa xứ.
Nam mô Tết an lành…Nam mô mưa Sài Gòn còn mãi

Nguyễn Tiến Cảnh

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

Phép Rửa

Đức Leo XIV làm phép rửa cho trẻ em tại nguyện đường Sistine tại Vatican vào lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa ngày 11-1-26. (Ảnh Vatican Meda)

Thánh Phaolo đã cắt nghĩa rõ ràng về phép rửa và cái chết. Chúng ta hãy đọc lại thư ngài gửi cho tín hữu Roma (Rm 6:3-9). Vậy thì Phép Rửa là gì?

Phép rửa là - Cánh cửa bước vào sự chết và sự sống

Phép rửa không chỉ là một nghi thức khởi đầu đời sống Kitô hữu, mà là một sự tham dự thực sự vào cái chết của Đức Kitô. Khi chịu phép rửa, ta không chỉ được rửa sạch tội lỗi, mà còn được “chôn táng” với Người – nghĩa là từ bỏ con người cũ, những đam mê xác thịt, những thói quen ích kỷ. Đây là một cái chết thiêng liêng nhưng rất thật, đòi hỏi ta phải can đảm từ bỏ chính mình mỗi ngày. Sự chết này không phải là kết thúc, mà là khởi đầu cho một đời sống mới – đời sống của người đã được phục sinh với Đức Kitô.

Phép rửa là – Ơn gọi sống đời sống mới

Thánh Phaolô nhấn mạnh: “Chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế.” Sự sống lại của Đức Kitô không chỉ là một biến cố trong quá khứ, mà là một thực tại đang tiếp diễn trong đời sống người tín hữu. Đời sống mới ấy là đời sống trong ân sủng, trong ánh sáng, trong sự tự do của con cái Thiên Chúa. Mỗi ngày, ta được mời gọi sống như Người đã sống lại – không còn bị trói buộc bởi tội lỗi, nhưng biết yêu thương và tha thứ, phải dấn thân phục vụ tha nhân. Đó là dấu chỉ của một người đã thực sự “sống lại” trong Đức Kitô.

Phép rửa kêu gọi hiệp thông trọn vẹn - từ thập giá đến vinh quang

“Liên kết với Chúa Kito trong cùng một cái chết… thì cũng được hợp nhất với Người trong sự sống lại.” Đây là lời hứa và cũng là hành trình đức tin. Không có phục sinh nếu không có thập giá. Không có vinh quang nếu không đi qua đau khổ. Sự hiệp thông với Đức Kitô không chỉ là niềm tin suông, mà là sự kết hợp trọn vẹn – trong đau khổ, trong hy sinh, và trong hy vọng. Mỗi thử thách, mỗi mất mát, mỗi lần ta chết đi cho cái tôi, là một bước tiến gần hơn đến sự sống viên mãn trong Đức Kitô. Khi chúng ta chịu phép rửa là chúng ta phải chết đi và sống lại trong Đức Kito

Phép rửa là chết đi và sống lại trong Đức Kitô

Hỡi người anh em, người chị em,
Hãy dừng lại một chút giữa dòng đời vội vã.
Hãy lắng nghe tiếng nước nhỏ giọt trong lòng mình –
Đó là tiếng kêu của phép rửa,
Đã thấm xâu vào xương tủy,
Đã chôn vùi con người cũ trong mộ nhiệm mầu.
Ta đã chết –
Chết cho kiêu căng, chết cho ích kỷ,
Chết cho những ảo tưởng về một cái tôi bất tử.

Ta đã được mai táng –
Không phải trong đất,
Mà trong lòng Đức Kitô chịu đóng đanh.

Và rồi –
Từ nơi tối tăm ấy,
Ánh sáng đã bừng lên.
Không phải ánh sáng của thế gian,
Mà là ánh sáng của Đấng đã sống lại,
Ánh sáng của sự sống mới,
Anh sáng của lòng Chúa thương xót.
Từ nay,
Ta không còn sống cho mình,
Mà sống cho Đấng đã yêu ta đến cùng.
Mỗi bước chân là một bước đi ra khỏi mồ,
Mỗi lời tha thứ là một dấu chỉ phục sinh,
Mỗi hy sinh nhỏ bé là một hạt mầm sự sống.

Nếu ta đã chết với Người,
Thì ta cũng sẽ sống với Người.
Không phải mai sau, mà là hôm nay.
Không phải ở nơi xa xăm, mà là ngay trong lòng ta,
Trong ánh mắt, trong nụ cười, trong bàn tay mở rộng.

Biểu tượng khải huyền của phép Thanh Tẩy về người được dìm trong cái chết

Người đời thường nói “chết là hết,” nhưng cũng nói “cọp chết dể da, người chết để tiếng”.
Đúng vậy, theo niềm tin Kito Giáo, chết không phải là hết. Người chết sẽ sống lại trong ngày tân cùng khi Chúa Giêsu Kito giáng trần lần thứ hai

Ta sẽ sống lại vào ngày sau hết
như Chúa phục sinh sống lại sau ba ngày đã chết.

Tôi thấy một dòng sông đen chảy qua lòng đất,
Nơi đó, những kẻ được gọi bước xuống,
Mỗi người mang trên trán một dấu ấn vô hình
Là dấu ấn của Đấng đã chết.
Họ không nói, không khóc, chỉ cúi đầu đi vào lòng nước.
Và nước ấy không lạnh, mà rực cháy như lửa,
Lửa của sự chết, lửa của sự thanh luyện.

Tôi thấy họ bị chôn trong nước,
như hạt giống bị vùi trong lòng đất.
Không ai thấy họ nữa.
Chỉ còn tiếng vọng:
“Ngươi đã chết với Ta, ngươi sẽ sống với Ta.”
Rồi một tiếng kèn vang lên từ hướng Đông,
Và mặt trời không mọc,
Nhưng một ánh sáng khác bừng lên từ lòng trái đất.
Tôi thấy những người đã chết bước ra,
mắt họ sáng như lửa,
áo họ trắng như tuyết,
trên môi họ là bài ca không ai dạy.
Họ không còn là họ nữa.
Họ là thân thể của Đấng đã sống lại.
Họ là chi thể của một Thân Thể mới –
Thân Thể vượt khỏi thời gian,
vượt khỏi sự chết,
vượt khỏi mọi quyền lực thống trị.
Và tôi nghe một tiếng phán từ trời cao:
“Kẻ nào đã chết với Con Ta, kẻ ấy sẽ không còn bị quyền lực sự chết thống trị.
“Họ là công dân của Thành Thánh
“Nơi không còn đêm, không còn nước mắt,
"Nơi sự sống là ánh sáng không hề tắt.” Amen

DGH Leo XIV đã làm phép rửa cho 20 trẻ em của công nhân viên Vatican vào lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa tại nguyện đường Sistine theo truyền thống hàng năm được thành lập bởi thánh GH Gioan Phaolo II từ năm 1981.*

Trong bài giảng, ĐTC đã nhắc nhở đến bổn phận của cha mẹ là phải coi niềm tin là chính trong đời sống của con mình, coi đó là căn bản mà không một trẻ sơ sinh nào có thể thiếu. Ngài nói:

-“Khi chúng ta nhận biết được điều gì tốt và cần thì ngay lập tức chúng ta phải đi tìm kiếm nó và mang về cho người mà chúng ta yêu thương. Thực ra, ai trong chúng ta lại không cho con mình khi mới chào đời thức ăn và áo quần mà lại để cho chúng lớn lên tự chọn lấy quần áo và thức ăn?”

-“Nếu thức ăn và áo quần là cần thiết để sống thì niềm tin còn cần thiết hơn thế nữa, vì với Thiên Chúa sự sống đòi hỏi ơn sự cứu chuộc.”-ĐTC nói thêm.

Suy niệm về phép rửa của Chúa Giêsu trong bài tin mừng, đức Leo nói là Chúa chọn nơi nào mà người đời ít mong đợi đó là Chúa nhất. – “đấng Thánh giữa những kẻ tội lỗi” – đến gần mà không giữ khoảng cách. Đức Leo hàm ý nói về câu trả lời của Chúa Giêsu cho thánh Gioan Tiền Hô: “Hãy làm đi vì nó thích hợp với chúng ta để hoàn thành tất cả mọi điều công chính,” nghĩa là “sự công chính của Thiên Chúa” là hành động của Người mà nhờ đó Cha trên trời làm cho nhân loại trở thành công chính qua đức Giêsu Kito.

Đức Thánh Cha diễn tả phép rửa Chúa Giêsu ở sông Jordan như là một dấu chỉ được canh tân với một ý nghĩa sâu đậm hơn -“chết và sống lại, tha thứ và hiệp thông”- là bí tích vui mừng cho con trẻ được bắt rễ từ tình yêu của Thiên Chúa.

“Những đứa trẻ mà cha mẹ đang bồng bế trong cánh tay giờ này đã trở thành những tao vật mới,” -đức Leo nói với những cha me. “Cũng như từ các cha me, chúng đã nhận được đời sống, thì sau khi nhận phép rửa chúng cũng nhận được ý nghĩa để sống trong đức tin.”

Đức Leo cũng nhấn mạnh bổn phận của cha mẹ như là những chứng nhân và nhà giáo dục đầu tiên về đức tin, nghĩa là tình yêu Thiên Chúa quan phòng trở nên hữu hình trên mặt đất qua những người cha và những người mẹ phải đòi hỏi niềm tin/đức tin cho con cháu mình.

Ngài cũng chú ý đến những thay đổi về cuộc sống gia đình: “Với tháng ngày, khi con trẻ sẽ từ từ lớn lên và nặng cân khi ta bồng bế chúng trên tay; và thời gian sẽ đến khi chúng là những người cần phải giúp đỡ cha mẹ.”

Đức Giáo Hoàng đã cầu nguyện, xin bí tích rửa tội thêm sức mạnh cho tình yêu gia đình được lâu bền: “Chớ gì phép Thánh Tẩy liên kết chúng ta lại trong một gia đình duy nhất của Giáo Hôi, luôn luôn và thánh hóa tất cả mọi gia đình, ban sức mạnh và bền bỉ để tình yêu này liên kết tất cả mọi người lại với nhau.”

Nói về những nghi lễ, đức Leo cắt nghĩa về biểu tượng của phép Thánh Tẩy như sau: “Nước chảy là sự rửa trong Chúa Thánh Thần, rửa sạch hết mọi tội lỗi. Áo choàng tráng là áo mới mà Thiên Chúa Cha ban cho chúng ta để mừng lễ đời đời của vương quốc Ngài. Nến cháy sáng từ nến Phục Sinh là ánh sáng của Chúa Kito sống lại, soi đường chỉ lối cho chúng ta.”

Đức thánh cha kết thúc bài giảng: “Cha mong muốn tất cả chúng con tiếp tục thực hành ý nghĩa của Phép Rửa này không ngừng từ năm vừa mới khởi đầu và xuyên suốt cả cuộc sống, thì chắc chắn Chúa sẽ luôn luôn đi theo các con từng bước một và an ủi giúp đỡ các con trên đường đời đặc biệt những lúc nguy nan nếu các con cầu xin Người.”

Fleming Island, Florida
Jan. 20, 2026
Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

*Chú thích: Phép rửa cho trẻ em của nhân viên tòa thánh Vatican là một truyền thống có từ năm 1981 được tạo ra bởi thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II. Lần đầu tiên được thực hiện tại nhà nguyện Pauline, và từ năm 1983 thì hàng năm được thi hành ở nhà nguyện Sistine.