Nhạc& Dịch: Magnolia Cao Tran
tiêu đề Nhãn
- BIÊN KHẢO
- CÂU ĐỐI
- CỔ THI
- GIA CHÁNH
- GIẢI TRÍ
- HÌNH ẢNH HỘI NGỘ
- HÌNH ẢNH NAY
- HÌNH ẢNH XƯA
- HỘI HỌA
- KHOA HỌC
- LƯU NIỆM
- LỊCH SỬ
- LỜI HAY Ý ĐẸP
- NHẠC
- SƯU TẦM
- SỨC KHOẺ
- THƠ
- THƠ CẢM TÁC
- THƠ DIỄN NGÂM
- THƠ DỊCH
- THƠ NHẠC
- THƠ PHỔ NHẠC
- THƠ SƯU TẦM
- THƠ TRANH
- THƠ TRANH NGHỆ SĨ
- TIN BUỒN
- TIN VUI
- VĂN
- VŨ HỐI THƯ HỌA
- VƯỜN THƠ VIÊN NGOẠI
- XƯỚNG HỌA
- YOUTUBE
Thứ Năm, 25 tháng 6, 2026
Biển Cả (The Great Ocean) Thơ: Nga Thị Le - Nhạc: Magnolia Cao Tran Epics
Thơ: Nga Thị Le
Nhạc& Dịch: Magnolia Cao Tran
Nhạc& Dịch: Magnolia Cao Tran
Nên Sầu Khổ Dịu Dàng - Nguyễn Tất Nhiên

Những kỷ niệm đời xin hãy còn xanh
(Có một ngày mình bỏ trường bỏ lớp
Anh cũng đi như luật định trời dành
Em cũng đi như luật định trời dành)
Nắng bờ sông như màu trang vở cũ
Thuở học trò em làm khổ ai chưa?
Anh muốn khóc trong buổi đầu niên học
Bàn tay xương cầm hờ hẫng văn bằng
Em hãy đứng trước gương làm dáng
Tự khen mình đẹp quá đi em
(Lỡ mai kia mốt nọ theo chồng
Còn đôi chút luyến lưu thời con gái)
Em hãy ra bờ sông nhìn nắng trải
Nhớ cho mình dáng dấp người yêu
(Lỡ dòng đời tóc điểm muối tiêu
Còn giây phút chạnh lòng như ... mới lớn)
Mình hãy trách đời nhau nhiều hư hỏng
Rồi giận hờn cho kỷ niệm đầu tay
Thu miên man không thấy lá vàng bay
Anh phải nói: buồn chúng ta màu trắng
Tình cứ đuổi theo người như chiếc bóng
Người thì không bắt bóng được bao giờ
Anh muốn khóc trong buổi đầu niên học
Bởi yêu em nên sầu khổ dịu dàng
Nguyễn Tất Nhiên
(1970 - Trích tập Thiên Tai)
Trời Vào Đông
Nỗi cô đơn, khi gió chuyển cuối mùa
Ngoài hiên nhà, lá vàng đỏ sang Thu.
Không gian lạnh, hòa thêm bao nỗi nhớ
Quên sao được, một mối tình dang dở
Kỷ niệm xưa quanh quẩn mãi bên lòng
Nhớ vô cùng, khi trời chuyển sang Đông
Ta muốn gửi, một tâm tư theo gió.
Mùa Đông ơi ! Mùa Đông đừng đến nữa!
Đến rồi đi, ta sầu vướng trong lòng
Mối tình đẹp, sao cứ mãi trong Tâm
Ta cố quên, nhưng vẫn còn lưu luyến!
Trời vào Đông, Tâm ta còn xao xuyến!
Cảnh thiên nhiên, trời mây nước tuyệt vời
Lá rụng rơi, cây trơ trụi trên đồi
Tâm tĩnh lặng, mong vơi đi sầu nhớ.
Hoàng Thục Uyên
Cảm xúc từ Tùy Bút của Kim Oanh: Mùa Đông Chạm Cửa
Happy Time With Hand Made Gifts From Granddaughter
Happy 250 th anniversary America
250 years more to come
God bless America
250 years more to come
God bless America
Ngô Trọng Vĩnh QYHD
Florida
Songkhla Dậy Sóng
Tại Quán Biển Xanh của Thị Trấn Songkhla, Thi Thi một mình đứng dựa vào lan can, mắt dõi nhìn ra phía biển xa xa. Bán Ðảo Malay nhô dài ra phía biển, xanh rợp những hàng dừa trông tựa như mũi của một con cá sấu. Buổi chiều, từng đoàn ghe, tàu ra vô làm cho cửa biển thật chộn rộn nhưng Thi Thi thì cứ vẫn đứng yên như thể tâm hồn phiêu bạt nơi đâu. Với kiến thức và suy tính của nàng, nàng nghĩ rằng việc tìm kiếm tông tích mẹ dù khó khăn nhưng không phải không hy vọng. Nhưng đến nay thì nàng cảm thấy tình thế hầu như tuyệt vọng cho nên hai giọt lệ tự nhiên lăn dài trên khóe mắt. Xót xa nghĩ đến mẹ, nàng nhắm nghiền đôi mắt và… ký ức kinh hoàng của chín năm về trước một lần nữa lại hiện về.
…..Năm 1978, Thi Thi còn là một cô bé mười hai tuổi theo cha mẹ vượt biên ở cửa biển Vũng Tàu – Bà Rịa. Sau ba ngày lênh đênh trên biển, tàu của Thi Thi gặp hải tặc Thái Lan và một màn cướp bóc dã man diễn ra. Mẹ Thi Thi bị hải tặc dẫn đi cùng với mấy cô gái khác. Sau khi ăn hàng xong, bọn hải tặc bỏ đi và thuyền của Thi Thi mấy ngày sau may mắn tắp vào được Đảo Bi Ðông. Vì quá nhớ thương vợ, hơn thế nữa ông bị kiệt lực vì chuyến vượt biển đầy gian nan, sóng gió, hãi hùng, ba của Thi Thi lâm bệnh và qua đời trên đảo. Ông được đồng bào chôn ông ở trên một mỏm núi đá nhìn xuống bãi biển. Thi Thi trơ trọi một mình, hằng tuần đều đến thăm mộ ba. Thi Thi lượm lặt những hòn sỏi, những vỏ ốc nằm chơ vơ trên cát về dát lên trên mộ thành hình những đóa hoa rồi thì thầm nói chuyện với ba như những lúc ba còn sống. Thi Thi không bao giờ nghĩ rằng ba đã chết… mà ông chỉ nằm yên nghỉ ở đây để chờ một ngày gặp lại mẹ Thi Thi – người yêu quý nhất đời ông.
Trong thời gian Thi Thi còn tá túc ở trại chuyển tiếp Sungei Besi – Mã Lai thì tại một khu ngoại ô của thành phố Los Angeles – California, ông bà Brown đang chăm chú đọc một bản tin của cơ quan USCC kêu gọi các nhà hảo tâm Hoa Kỳ đứng ra bảo trợ các gia đình tị nạn Ðông Dương mệnh danh là Boat People. Ông Brown là kỹ sư trưởng của một hãng điện tử, còn bà Brown là giáo sư tại một Ðại Học Cộng Ðồng. Năm ấy ông bà khoảng bốn mươi tuổi. Ông bà rất chú ý đến trường hợp của Thi Thi bởi hai lý do: Ông bà lấy nhau đã mười năm nay mà không có con cái gì. Ngoài ra ông còn là một cựu chiến binh trước phục vụ tại Việt Nam. Năm 1967 phi cơ của ông bị bắn rớt ở Bình Long nhưng ông được một bé gái trạc tuổi Thi Thi chỉ đường cho ông chạy trốn ra quốc lộ cho nên ông còn sống sót tới ngày nay. Nhìn hình ảnh Thi Thi trong bản tin của cơ quan USCC, ông nhớ lại kỷ niệm xưa và có ý muốn nhận nuôi Thi Thi để đền ơn một cô bé Việt Nam nào đó mà ông không bao giờ biết tên tuổi.
Vừa nhận bảo trợ, vừa nhận làm cha mẹ nuôi Thi Thi, hai ông bà lại có hai quan niệm khác nhau về cách xây dựng cuộc đời cho Thi Thi. Bà Brown thì muốn Thi Thi sớm quên đi quá khứ đau buồn để hội nhập vào xã hội mới và dĩ nhiên tạo lập cuộc đời mới trên quê hương mới cho nên bà muốn Thi Thi trở thành một bác sĩ. Còn ông, ông lại có quan niệm và một chủ đích khác. Ông muốn Thi Thi đừng đánh mất bản sắc của mình vì Việt Nam cũng là mảnh đời khó quên của ông. Vả lại, mẹ Thi Thi dù bị hải tặc bắt đi nhưng chưa chắc đã chết… may đâu? Cho nên khi Thi Thi tốt nghiệp trung học ông đã thuyết phục bà cho Thi Thi học ngành báo chí tại U.C.LA. Khi Thi Thi được hai mươi mốt tuổi và cũng là lúc nàng tốt nghiệp bằng Cử Nhân, do sự quen biết ông xin cho Thi Thi làm phóng viên của tờ Los Angeles Tribune. Năm sau, đích thân hai ông bà đến gặp ông tổng biên tập, trình bày về trường hợp của Thi Thi, cái gì xảy đến cách đây chín năm và xin tờ Los Angeles Tribune đứng ra bảo trợ cho một cuộc tìm kiếm người đàn bà xấu số… tức mẹ của Thi Thi. Sự việc được trình lên Hội Ðồng Quản Trị và Ban Quản Trị nhận thấy đây vừa là vấn đề nhân đạo vừa là dịp điều tra sâu rộng về những hành vi tàn bạo của cướp biển Thái Lan nên đã đồng ý bảo trợ.
Tuy nhiên sắp xếp cho chuyến đi không phải chuyện dễ dàng. Nếu sơ hở, sinh mạng người đi điều tra lâm nguy đã đành mà cướp biển có thể thủ tiêu người đàn bà để phi tang. Cuối cùng thì người ta đã đồng ý với nhau về một kế hoạch. Tờ Los Angeles Tribune loan tin bảo trợ cho một cuộc khảo cứu sinh vật học dưới biển ở Thái Lan và cần tuyển một người cho công tác này. Bài báo loan đi được nửa tháng thì một thanh niên tới trình diện. Chàng tên Peter, tốt nghiệp Hải Dương Học và đang phục vụ tại Ðại Học Stanford. Năm nay chàng hai mươi bốn tuổi, đẹp trai, thông minh, khoẻ mạnh, hoạt bát, thích phiêu lưu mạo hiểm nhưng chưa có dịp. Sau cuộc phỏng vấn, Peter được gặp Thi Thi để nghe nàng nhớ lại, kể lại tất cả những gì đã xảy ra cho gia đình mình cách đây chín năm. Sau hơn một tháng tập lái tàu, nghiên cứu phong tục tập quán, bờ biển các khu vực đánh cá trong Vịnh Thái Lan nhất là khu vực Songkhla. Ðể an toàn cho chuyến đi, Peter và Thi Thi được đưa qua Sydney rồi mới đáp máy bay đi Bangkok như thể một cặp tình nhân đến từ Úc Châu.
Tại Bangkok, Peter có người cậu làm tùy viên văn hóa của Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan. Peter đến thăm cậu và nói rõ mục tiêu của chuyến đi. Nghe xong câu chuyện ông cậu rất xúc động nhưng cũng khuyên cháu nên hết sức cẩn thận vì hành tung của cướp biển Thái Lan lúc ẩn lúc hiện và khi bọn chúng đã ra tay thì hết sức tàn bạo. Ông giới thiệu cho Peter một một thám tử tư người Thái Lan tên Surat trước đây vốn sinh trưởng ở vùng Songkhla cho nên không một ngõ ngách nào của Songkhla mà Surat không biết. Sau khi nghe trình bày sự thể, Surat vui vẻ nhận lời cộng tác vì theo anh bản tính dân Thái Lan vốn hiền hòa, cướp biển chỉ là thiểu số đi ngược lại bản tính đó và làm hoen ố danh dự của dân tộc Thái Lan. Surat năm nay ngoài ba mươi tuổi nói tiếng Anh rất lưu loát. Surat da nâu nâu, thân hình khỏe mạnh có bộ râu mép giống Clark Gable và lúc nào cũng vậy – do méo mó nghề nghiệp anh ta luôn luôn mang kính đen và khẩu súng lục trong người. Do tính chất nguy hiểm của chuyến đi, Surat khuyên Peter nên đem theo súng và anh ta đã dùng giấy phép của hãng thám tử tư của chính anh để cấp giấy đeo súng cho Peter.
Là người kinh nghiệm, tế nhị và cũng để thử tài Peter trong chuyến “hành hiệp”, trước tiên Surat để Peter quyết định về kế hoạch hành động. Peter bàn với Thi Thi và Surat là nên đến Hội Ngư Phủ Songkhla để dò la tin tức. Qua sự thông dịch, Surat giới thiệu với ông Chủ Tịch Hội Ngư Phủ, Peter và Thi Thi là hai nhà nghiên cứu Hải Dương Học muốn tìm hiểu về tiềm năng đánh cá của vùng Songkhla, nhất là những con tầu thường đánh cá ở Vịnh Thái Lan. Peter lý luận rằng theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc thì các con tàu tham dự vào các chuyến cướp biển đều là tàu gỗ, có khả năng đánh cá xa bờ khoảng 100 hải lý, làm ăn theo lối gia đình, ít mướn nhân công bên ngoài. Nếu nắm được danh sách này thì ít ra cũng có tài liệu để lần ra manh mối. Còn Surat thì giới thiệu mình là thông dịch viên trước có du học ở Úc Châu. Là người hiếu khách, ngay tình, ông chủ tịch đưa ra một danh sách dài dằng dặc bao gồm tên chủ tàu và các con tàu hiện gia nhập hội của ông. Cầm bảng danh sách này trên tay Peter hỏi làm sao phân biệt được tàu gỗ hay tàu sắt? Ông chủ tịch nói cái đó cũng dễ thôi vì mỗi loại tàu đều có số mã riêng. Ðêm đó Peter ngồi một mình với bản danh sách trong phòng riêng.
Sáng hôm sau chàng thú nhận với Thi Thi rằng cái danh sách này tựa như một đám rừng chỉ làm chàng đau đầu thêm cho nên chàng đề nghị một kế hoạch khác. Theo Peter thì khi hải tặc bắt được đàn bà, con gái nếu không bán đi để làm gái điếm thì chúng cũng dấu trên các hoang đảo để làm “áp trại phu nhân”. Do đó nếu dò thám các hoang đảo may đâu chẳng tìm ra manh mối? Theo đúng đề nghị của Peter, cả ba đến gặp ông Giám Ðốc Hàng Hải Songkhla để hỏi thăm tin tức, sưu tập bản đồ của những hòn đảo nằm quanh khu vực. Ba người có lúc đi chung, có lúc đi riêng để dò la các hòn đảo, mệt nhoài cả người nhưng cũng chẳng thêm chút ánh sáng nào.
Thấy hai kế hoạch của Peter không đem lại kết quả – cảm thấy đã đến lúc trổ tài, Surat lý luận: Mục tiêu của đám cướp biển là cướp vàng bạc vì chúng biết rằng người tỵ nạn Việt Nam khi vượt biên đều mang theo tài sản vì họ cho rằng không bao giờ họ còn có cơ hội quay lại Tổ Quốc nữa. Một khi tóm được vàng bạc, có khi là vàng lá, kim cương, nhẫn vàng, khuyên vàng… bọn chúng có thể đem bán cho các tiệm vàng ở Thị Trấn Songkhla để lấy tiền chi dùng, ăn nhậu hoặc để bao gái nhất là để đánh bạc. Do đó Surat đề nghị hai người tạm nghỉ ở nhà để Surat đi xuống khu Trung Tâm của Songkhla. Tại đây Surat tìm đến một người bạn tên Sok, sau khi cha về hưu, anh ta hiện nối nghiệp cha làm chủ một tiệm vàng. Sau khi tốt nghiệp trung học tính ra có đến mười mấy năm hai người không gặp nhau. Tối đó Sok rủ Surat đi nhà hàng để hai bên ăn nhậu, hàn huyên cho thỏa thích. Trong lúc rượu đã ngà ngà, Surat hỏi Sok xem cách đây khoảng chín, mười năm Sok còn nhớ tên chủ tàu nào đến đổi chác vàng bạc ở tiệm không? Sok cho biết đám dân chài lưới mỗi lần trúng mùa họ thường mua sắm vàng bạc, nữ trang, ăn nhậu dữ lắm còn chuyện đem vàng bạc đi bán là chuyện bất thường, chỉ khi nào họ liên tiếp thất bại một, hai mùa cá. Tuy nhiên, theo Sok thì có một trường hợp mà anh ta nhớ mãi là cách đây khoảng chín, mười năm, chủ tàu Lươn Biển đã bán cho cha anh một mớ nữ trang rất lớn mà theo anh không phải là loại làm ở Thái Lan. Bắt được tin này, Surat hí hửng về thông báo cho Peter và Thi Thi hay. Sau đó Surat quyết định để ra một tuần lễ liền, dùng ống nhòm quan sát cùng la cà khắp bến cảng nhưng chẳng thấy bóng dáng con tàu Lươn Biển đâu cả. Như thế là sau hai tuần lễ vất vả, cả ba vẫn chưa phăng ra một chút manh mối nào về hải tặc và dĩ nhiên sự việc đó đã gieo vào lòng Thi Thi nỗi niềm chua xót, hoang mang lẫn thất vọng.
* * *
Trong khi Thi Thi đang thả hồn mình về với quá khứ bi thương như thế thì Peter từ trong quán bước ra. Nhìn thấy Thi Thi, chàng dừng lại. Chàng không muốn làm kinh động, vừa để tôn trọng những giây phút riêng tư của nàng… mà cũng để ngắm nhìn. Sau gần một tháng đi chung, ăn uống chung và làm việc chung chưa bao giờ Peter thấy Thi Thi đẹp như vậy. Chưa bao giờ hình ảnh của Thi Thi lại thu hút tâm hồn chàng đến như vậy. Nắng và gió biển làm da Thi Thi đậm hơn một chút. Chiếc áo sơ-mi tay dài và chiếc quần Jean càng làm tăng thêm vẻ đẹp khỏe mạnh của nàng. Mái tóc dài bay lòa xòa trước gió bao phủ lấy khuôn mặt Ðông Phương nhưng thanh thoát làm Peter liên tưởng đến sự thủy chung – nền tảng của hạnh phúc gia đình mà chàng đọc được nơi sách vở. Chính sự ngưỡng mộ và khát khao đó lại là động cơ thúc dục chàng nhích chân đi tới. Nghe tiếng động ở sau lưng, Thi Thi giật mình ra khỏi vùng hồi ức. Nàng quay lại và không ngạc nhiên khi thấy Peter. Tuy nhiên nàng vẫn đứng bất động và mắt như nhìn vào cõi xa xăm. Peter chầm chậm tiến đến gần, đứng yên một hồi lâu rồi mạnh dạn nắm lấy tay Thi Thi. Chàng nói:
- Anh hiểu nỗi khổ đau của em. Nhưng anh linh cảm rằng chúng ta sẽ thành công. Em sẽ gặp lại mẹ em trong chuyến đi này. Ðừng để tình cảm làm suy yếu nghị lực của chúng ta. Nói xong chàng kéo tay Thi Thi và hai bước tản bộ dọc theo bến cá.
Trong khi hai người đang sánh bước bên nhau thì Surat ngồi rầu rĩ bên ly bia đã cạn. Anh toan lên tiếng gọi thêm chai nữa thì từ ngoài cửa hai thanh niên bước vào. Nhìn vóc dáng, cách ăn mặc, cách nói năng ai cũng phải nhận ra họ là dân chài lưới. Sau khi lớn tiếng gọi rượu và đồ nhậu, họ ăn uống rất dữ tợn. Phút chốc họ đã ngà ngà và đúng là… rượu vào lời ra. Một gã trong bọn nói:
- Mày có biết không trên đời này nhiều khi bố con giết nhau cũng chỉ vì một con đàn bà! Một con đàn bà… Việt Nam mới tức cười chứ!
Gã kia, sau khi dằn ly bia xuống bàn, lè nhè hỏi:
- Mày nói lại tao nghe. Cha con giết nhau hả? Ðứa nào ngu vậy cà? Ð.M. có nói dóc không mày?
Sau khi cầm ly bia uống ực một hơi, gã lên tiếng đầu tiên nói tiếp:
- Thì cha con thằng cha chủ tàu… chủ tàu Lươn Biển chứ ai!
Nghe đến đây thì Surat như bị điện giật. Anh ta vội vã kêu thêm một chai bia nữa uống để câu giờ và vểnh tai nghe. Khi hai gã đã dứt tiệc nhậu, lảo đảo bước ra ngoài và chia tay ở trước quán thì Surat theo bén gót gã lên tiếng đầu tiên mà sau này y xưng tên là Thom. Surat theo chân Thom đến tận nhà và mua chuộc Thom bằng hai lạng vàng để được biết tung tích con trai lão chủ tàu Lươn Biển.
Theo tin tức của Thom thì Uthai – con lão chủ tàu Lươn Biển, hiện y đang chỉ huy con tàu Sóng Thần. Tàu của y thường lênh đênh nửa tháng trời ngoài biển và có lẽ vài ngày nữa sẽ trở lại bến Songkhla để xuống cá. Sau khi xuống cá y có thói quen ăn nhậu và kiếm gái ở Quán Giang Hồ. Sau khi thu lượm được tin tức bằng vàng này, Surat hối hả quay trở lại khách sạn để cùng Peter và Thi Thi lập kế hoạch bắt cóc Uthai vào lúc chạng vạng tối.
Theo đúng dự trù. Thi Thi ăn mặc giả làm “cô gái bán hoa” quanh quẩn ở quán Giang Hồ. Khi Uthai mặt đỏ gay, lảo đảo bước ra ngoài thì Thi Thi bước tới… liếc mắt đưa tình. Chính Uthai cũng hết sức ngạc nhiên không hiểu tại sao bến Songkhla hôm nay lại có một đóa hoa tươi đẹp như vậy cho nên y mê mẩn cả tâm thần và đưa tay ôm đại lấy Thi Thi. Mặc dù giận căm gan và nhiều lúc muốn nôn oẹ vì mùi rượu nồng nặc từ miệng Uthai thở ra. Thi Thi cũng phải cắn răng chịu đựng cho gã ôm ấp rồi dìu gã vào một ngõ tối là nơi mà Peter và Surat đã phục sẵn. Khi gã còn đang lảm nhảm mấy tiếng Thái có lẽ là “Anh anh…, em em” thì bằng quả đấm thôi sơn ngay cằm, Peter quất gã quay lơ trong khi đó Surat nhanh tay chụp lên mặt gã một chiếc khăn tẩm thuốc mê rồi hai người dìu nách gã xuống tàu như thể hai người đang đưa một người bạn ăn nhậu say về nhà.
Dưới con tàu sắt mà ba người đã thuê, có trang bị đầy đủ Radar lẫn hệ thống thông tin với Sở Cảnh Sát và Lực Lượng Duyên Phòng Songkhla, Uthai bị trói gô vào một chiếc ghế sắt. Y khoảng ngoài ba mươi tuổi có khuôn mặt vều lên như cái mâm, da mặt sần sùi như vỏ quýt. Uthai mặc một bộ đồ jean, cánh tay xâm trổ. Cả con người y tỏa ra một cái gì đó hết sức thô lỗ, hiếu sắc và tục tằn. Khi tỉnh dậy, Uthai ngạc nhiên khi thấy y bị trói thúc ké. Vài giây sau, có lẽ đã nhớ lại những gì xảy ra tại Quán Giang Hồ, y trở nên vô cùng tức giận. Y quắc mắt hỏi:
- Các người là ai? Tại sao lại bắt ta?
Nói xong y gầm gầm, gừ gừ khiến bộ mặt sần sùi đen đủi của y càng thêm hung dữ. Như một tay thẩm vấn nhà nghề cần ra tay trước để thị uy, Surat xáng cho y một quả đấm ngay sống mũi khiến phải mất vài giây sau mới có thể hoàn hồn. Ðợi cho y đã tỉnh táo, Surat chìa ra trước mặt y một tấm hình bán thân cỡ 8×10 rồi gằn giọng hỏi:
- Mày có biết người này là ai không?
Uthai rõ ràng sửng sốt khi nhìn thấy tấm hình nhưng vẫn lắc đầu:
- Tôi không biết!
Tấm hình mà Surat đưa ra trước mắt Uthai không gì khác hơn là tấm ảnh bán thân được rọi lớn của mẹ Thi Thi – một kỷ vật mà Thi Thi lưu giữ chín năm qua. Trước cử chỉ ngang bướng của Uthai, Surat đưa mắt nhìn Peter như để xin chỉ thị. Peter khẽ gật đầu. Một chiếc thùng nước được lôi ra và Surat nhanh tay nắm lấy tóc Uthai nhận xuống. Chỉ ít giây sau thì cái đầu của Uthai quậy lên dữ dội nhưng bàn tay cứng như sắt của Surat vẫn cứ ấn xuống cho đến khi Uthai gần ngất xỉu thì Surat giật ngược đầu của y lên, quắc mắt hỏi lần nữa:
- Bây giờ mày có biết người này là ai không?
Tới mức này thì bộ mặt thiểu não của Uthai khẽ gật gật. Thấy vậy Peter hỏi và Surat thông dịch ra tiếng Thái:
- Mày có biết cha mày hiện giờ ở đâu không?
Uthai dư sức thông minh để hiểu rằng nếu y nói “không” thì chắc chắn y sẽ được cho “đi tàu thủy” một lần nữa cho nên lặng lẽ gật đầu. Thấy vậy Peter liền nói:
- Bọn tao kỳ hẹn cho mày trong hai ngày. Nếu không tìm thấy tàu của cha mày thì mày sẽ được gửi đi “thăm Hà Bá” biết chưa?
Nói xong Peter chỉ vào quả tạ bằng sắt thật lớn có sợi dây xích nằm ở một góc. Sau đó con tàu được nổ máy tiến ra cửa. Khi tàu đã ra khỏi cửa biển thì Uthai được điệu lên boong và bị trói chặt vào cột tàu. Theo lời khai của Uthai thì cha y hiện đang đánh cá tại toạ độ X. Ðánh cá xong tàu của cha y mới quay trở về bến Songkhla cho nên đó cũng là lý do tại sao Surat dò xét khắp nơi mà cũng chẳng thấy con tàu Lươn Biển đâu cả.
Kể từ khi nhúng tay vào những vụ cướp biển và bắt được mẹ Thi Thi thì Kamphaeng – cha của y đổi kế hoạch với mục đích giữ kín tung tích mẹ Thi Thi. Thay vì cùng đánh cá chung rồi cùng về, Kamphaeng đổi sang lối đánh cá xen kẽ. Khi con tàu của y sắp vào cửa thì con tàu của Uthai được lệnh ra khơi. Khi hai tàu gặp nhau ở ngoài cửa thì mẹ của Thi Thi được chuyển qua tàu của Uthai. Do đó khi tàu cặp bến với số người đông đảo lên xuống cá, hoặc nếu có thanh tra kiểm tra tàu thì cũng chẳng có ai nhìn thấy bóng dáng người đàn bà Việt Nam ấy cả. Do đó mà Kamphaeng đã sống an toàn với mẹ Thi Thi suốt chín năm qua. Kamphaeng năm nay khoảng ngoài năm mươi tuổi. Mặt mày y đen đủi, tóc quăn cháy, thân hình to lớn và tỏa ra một cái gì rất man rợ. Y thường xuyên cửi trần, quấn chiếc xà-rông màu đỏ và đeo lủng lẳng bên mình dao quắm cho nên trông y dữ tợn như một hung thần.
Nhưng cũng chính vì cách dấu người như thế cho nên Uthai đã có cơ hội gần gũi người đàn bà và dần dần trở nên say mê bà vì tính ra tới năm nay bà mới khoảng bốn mươi lăm tuổi và bà trở nên một vương hậu giữa đám thổ dân đánh cá đen đúa, xấu xí. Mới đầu thì lão hải tặc không biết. Nhưng sau thì người của lão báo cáo là “đứa con bất hiếu” đã gian díu với “phu nhân” của lão cho nên lão giận điên người và đã có lần rút dao chém Uthai đúng như câu chuyện mà Surat đã nghe lén được ở Quán Giang Hồ. Kể từ đó đến nay hai cha con trở thành hai kẻ tử thù và đều muốn tránh mặt nhau.
Cũng theo lời khai của Uthai thì đã nhiều lần mẹ Thi Thi tìm cánh trốn lên boong để lao mình xuống biển tự tử để sớm dứt cuộc sống nhục nhã nhưng đều bất thành. Kể từ đó lão già hải tặc cấm không cho bà rời khoang tàu. Và cứ như thế cuộc sống khổ đau của bà – khi thì phải “làm vợ” lão hải tặc, khi thì phải “làm vợ” Uthai kéo dài đã chín năm trời qua. Nghe Uthai kể đến đây thì Thi Thi khóc như mưa gió vì thương mẹ. Còn Peter và Surat thì nghiến răng trèo trẹo vì căm giận loài cướp biển.
Theo đúng lời khai của Uthai, con tàu ra khơi đã được một ngày và một đêm nhưng không thấy bóng dáng của con tàu đánh cá nào lảng vảng chung quanh. Ðã có lúc Surat nóng nảy đề nghị quăng tên quỷ sứ này xuống biển cho rồi nhưng Peter khuyên Surat nên kiên nhẫn thêm chút nữa.
Bây giờ thì trời đã hừng đông và mặt biển đẹp tuyệt trần. Tàu chạy khoảng hai tiếng đồng hồ nữa thì một chấm đen xuất hiện ở hướng Ðông Bắc. Uthai nói:
- Có thể đó là con tàu của cha tôi. Nếu đúng thì nó sơn màu đỏ đen và trên có lá cờ hình con lươn biển.
Nghe nói vậy tất cả đều nai nịt và ở tư thế sẵn sàng. Thi Thi trao ống nhòm cho Peter. Duới sự điều khiển của Peter, Surat gia tăng tốc độ hướng mũi tàu về phía con tàu Lươn Biển. Trong đầu Peter lúc này nảy ra một kế hoạch thật táo bạo: Uthai được chụp lên đầu một tấm vải do đó khi hai con tàu tiến đến gần nhau thì phía bên kia sẽ không nghi ngờ gì cả. Khi hai con tàu đã áp sát vào nhau thì Thi Thi có bổn phận giữ tay lái, còn Surat lanh lẹ giật giây trói và đẩy Uthai qua phía bên kia. Kế hoạch diễn ra đúng như dự liệu. Trong khi đám người trên con tàu Lươn Biển còn đang reo hò, vẫy gọi vì tưởng đó là con tàu thân thiện thì tàu của Peter áp nhanh vào cạnh sườn. Sau khi giật dây trói cho Uthai, Surat quát lớn:
- Nếu mày không chạy qua tao bắn nát óc ngay!
Trước tình thế nguy nan đó Uthai nghĩ nhảy qua con tàu Lươn Biển may đâu y còn có cơ hội sống sót vì cha y có thể không nỡ xuống tay cho nên y phóng mình qua như một con chim. Khi thấy một bóng người bất thần nhảy qua, định thần nhìn kỹ lại thì lão hải tặc nhận ra đây là “đứa con quý tử” của lão. Vả lại trong lúc sự việc xảy ra quá nhanh, lão nghĩ rằng thằng con phản phúc đã rước cảnh sát đến đây bắt lão cho nên lão gầm lên một tiếng:
- Ðồ thằng con bất hiếu!
Và lão vung con dao quắm chém xuống. Từ bên thành tàu nhảy qua, chưa kịp giữ thăng bằng thì Uthai lãnh đủ nhát dao chém vào bả vai và y gục xuống trên vũng máu.
Trong khi đó thì Peter và Surat đã phóng qua với hai khẩu súng lăm lăm trên tay và một khung cảnh hỗn loạn diễn ra trên boong. Thấy tình thế nguy cấp lão hải tặc tháo chạy xuống khoang và Peter bám sát theo lão. Vì không quen đường lối xuống khoang tàu cho nên khi Peter xuống tới bậc thang cuối cùng thì lão hải tặc đã biến mất ở cuối buồng cho nên chàng phải dừng lại, dò từng bước, súng chĩa thẳng phía trước. Nhưng khi Peter vừa mới tiến được vài bước thì một tiếng quát dữ dội vang lên:
- Bỏ súng xuống nếu không tao cắt cổ con mụ này!
Cùng với tiếng quát lão hung thần xuất hiện, một tay ôm ghì lấy người đàn bà để làm khiên che đạn, còn tay kia lăm lăm chiếc dao quắm kề sát cổ. Người đàn bà đang bị kiềm chế đó không ai khác hơn là mẹ Thi Thi. Khi Peter còn đang lưỡng lự thì một tiếng quát thứ hai vang lên. Peter hiểu rằng nếu còn chần chừ thì sinh mạng của người đàn bà có thể lâm nguy cho nên chàng đành làm theo lời lão hải tặc. Khi thấy chàng đã quăng khẩu súng, lão hải tặc kéo sền sệt người đàn bà tiến về phía đó. Nhưng vì lão chỉ có hai tay, một tay đã cầm dao quắm, một tay bận níu chặt người đàn bà cho nên khi cúi xuống nhặt khẩu súng lão buộc lòng phải chuyển con dao qua cánh tay kia. Giữa giây phút tử sinh quyết định này – có lẽ mẹ Thi Thi quyết liều thân với tên cướp biển cho nên bà bật tung cánh tay của y ra để chạy về phía Peter. Do bản năng, lão già nhoài người ra để túm lấy mẹ Thi Thi. Quả đây là cơ hội bằng vàng cho nên Peter nhào tới đá văng khẩu súng sang một bên. Thấy tình thế bất lợi, lão già chém đại một nhát rồi phóng vội lên boong tàu. Khi Peter lượm lại được khẩu súng, leo được lên boong thì Surat đang vật lộn với một tên cướp biển còn Thi Thi cũng đã leo qua được thành tàu bên này. Nhưng khi nàng vừa đứng yên trên hai chân thì lão hải tặc đã từ xa phóng tới. Thấy lão, nàng kinh hãi rú lên một tiếng rồi lao mình phóng chạy. Nhưng khi chạy tới đuôi con tàu thì nàng hoàn toàn tuyệt lộ. Thi Thi không còn đường nào khác hơn là hai tay ôm lấy mặt để chờ đợi lưỡi dao chém xuống. Nhưng khi lưỡi dao vừa dơ lên thì Peter đã xuất hiện ở sau lưng lão hải tặc. Chàng đưa súng lên và bóp cò. Người ta chỉ thấy lão kêu rú lên một tiếng, quăng con dao quắm lên trời rồi lảo đảo ôm lấy bả vai nhưng vẫn hung hãn lao về phía Thi Thi đang ngồi co rúm, lưng dựa vào thành tàu. Rồi do đà hụt hẫng và cũng do tình cờ một con sóng mạnh ào tới làm đuôi tàu hơi tròng trành cho nên lão già té nhào xuống biển. Khi Peter chạy tới thì Thi Thi như người chết đi sống lại, nàng ôm chầm lấy Peter. Giây phút sau nàng vừa thở hổn hển vừa hỏi:
- Có gặp mẹ em không? Mẹ em có sao không?
Peter gật đầu và lấy tay chỉ về phía cầu thang. Khi hai người chạy tới thì Surat cũng đã hàng phục được tên cướp biển và từ dưới khoang tàu một người đàn bà nhô lên. Ðó là một khuôn mặt Việt Nam nhưng lại quấn một chiếc xà-rông và mái tóc đã phai màu sương khói. Vừa đặt chân lên tới boong tàu bà hít một hơi dài rồi quỳ xuống, ôm mặt kêu rống lên:
- Trời Phật ôi! Bao năm qua con mới được nhìn thấy ánh mặt trời!
Trong khi người đàn bà còn đang quỳ lạy như thế thì Thi Thi nhào tới ôm chặt lấy bà rồi nghẹn ngào thốt lên:
- Mẹ ơi! Con là Thi Thi! Thi Thi là con đây!
Dường như hai tiếng Thi Thi là hai tiếng quá thân thương với bà cho nên sau vài giây ngơ ngác bà ôm chầm lấy Thi Thi rồi khóc nức nở như một đứa trẻ. Rồi bà vừa khóc vừa nói:
- Con là Thi Thi của mẹ đó hả? Tôi mơ hay tôi tỉnh đây? Thi Thi! Mẹ là mẹ của con đây! Ba của con đâu rồi Thi Thi?
Nói vừa dứt câu đó, vì quá xúc động bà ngã ra bất tỉnh.
* * *
Sau khi Surat liên lạc vô tuyến với Sở Cảnh Sát và Duyên Phòng Songkhla đến để nhận con tàu Lươn Biển và còng tay đám cướp biển đã bị hai người hàng phục, con tàu sắt trên đó có chở theo mẹ của Thi Thi rẽ sóng quay trở lại bến cảng Songkhla. Ngày hôm sau bốn người đáp máy bay trở về Bangkok và được xe của Tòa Ðại Sứ Mỹ đón tận phi trường. Ðêm đó Peter và Thi Thi gọi điện thoại báo cho ông Tổng Biên Tập tờ Los Angeles Tribune là chuyến công tác đã thành công.
Tuần lễ sau, do lời yêu cầu của mẹ Thi Thi, dưới sự giúp đỡ của Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ, ba người giã từ Surat rồi đáp máy bay đi Kuala Lumpur. Rồi từ Kuala Lumpur ba người lại đáp máy bay đi thị trấn Terengganu nằm ở đông bộ Mã Lai. Chờ đợi ở đây một ngày, ba người được một giới chức Mã Lai hướng dẫn xuống con tàu Blue Dart là con tàu duy nhất chở thực phẩm, tiếp tế cho đồng bào tỵ nạn trên Đảo Bi Ðong.
Trên đường trở về đảo cũ, Thi Thi không nén được xúc động. Nàng luôn miệng kể cho mẹ và Peter nghe đoạn đường luân lạc mà nàng đã trải qua. Khi ba người đặt chân lên đảo thì trời đã về chiều, cơn nóng nhiệt đới đã giảm dần và bầu không khí dìu dịu. Nhìn những em bé gái mười một, mười hai tuổi tức tuổi của Thi Thi cách đây chín năm đang xếp hàng lấy nước, đang đứng ngơ ngác hoặc lấy tay vẫy khi có phái đoàn lạ viếng thăm đảo, Thi Thi không cầm được nước mắt vì biết đâu trong số này chẳng có những em mà cha mẹ đã bị hải tặc bắt đi. Cứ từng chặng, nàng lại chạy tới ôm hôn mấy em bé và cho các em kẹo. Sau chín năm nhà cửa trên đảo Bi Ðông đã tiều tụy đi nhiều nhưng Thi Thi vẫn còn nhớ con đường dẫn ra nghĩa trang nằm trên một mỏm núi nhìn xuống bãi biển. Khi tiến tới trước một nấm mồ, sau khi quan sát kỹ Thi Thi nói với mẹ:
- Ðây là mộ ba!
Khi Thi Thi vừa nói dứt câu thì Peter lanh lẹ đặt lên đó một bó hoa mà ba người đã mua ở chợ Terengganu, còn mẹ của Thi Thi thì quỳ xuống và bà gục mặt khóc trước nấm mồ. Không sao kiềm chế được xúc động, Thi Thi cũng vừa ôm chặt lấy mẹ vừa bật khóc. Trước giờ phút linh thiêng này Peter cũng lặng lẽ quỳ xuống bên cạnh hai người.
Không hiểu thời gian qua đi đã bao lâu. Khi cơn xúc động đã dịu dần, Thi Thi dìu mẹ đứng dậy. Giờ đây đảo Bi Ðông đã về chiều và những cơn gió mát rượi từ ngoài khơi lồng lộng thổi về. Trong khi mẹ Thi Thi đang lo nhổ mấy ngọn cỏ dại và đắp lại mấy vỏ ốc đắp trên nấm mồ đã bị mưa gió làm trôi đi, Thi Thi sau một ít phút tư lự, nàng nhìn vào đôi mắt Peter nói:
- Giờ đây bao nhiêu hiểm nguy đã qua. Anh có muốn cùng em về để phụng dưỡng mẹ già không?
Trước đề nghị quá bất ngờ của Thi Thi, mặt Peter từ từ sáng rỡ lên như một đứa trẻ rồi chàng nắm chặt lấy tay Thi Thi nói:
- Ðó là niềm khao khát, là giấc mơ của anh. Em đã làm tròn bổn phận với cha mẹ. Anh rất sung sướng được sống suốt đời bên người con gái hiếu thảo như em!
Nói xong chàng ôm chặt lấy Thi Thi. Giây lát sau chàng xoay người Thi Thi ra mé biển rồi xúc động nói tiếp:
- Anh xin cám ơn em! Qua chuyến đi này anh đã học được một bài học mà không một sách vở nào có thể nói hết đó là: chính khổ đau chứ không phải hạnh phúc đã làm cho tình cảm con người lớn lên. Chính thảm kịch Biển Ðông kia đã là một thử thách về nhân cách của con người. Cuối cùng thì nhân cách của con người đã thắng Thi Thi ạ!
* * *
Trên con đường từ khu nghĩa trang quay trở về, mẹ Thi Thi đi trước rồi Thi Thi và Peter theo sau. Gió chiều vẫn thổi lồng lộng và mặt biển lấp lánh như một hồ nước đẹp tuyệt trần. Nó trông tựa như một vòm sân khấu diễm lệ mà tất cả mọi vở kịch vui buồn có thể trình diễn trên đó. Xa xa một vài con thuyền nhỏ nổi bật trên mặt nước xanh thẳm. Có thể đó là chiếc du thuyền chở một cặp tình nhân trong thời kỳ trăng mật. Ðó cũng có thể là một con tàu đang chộn rộn đánh cá để mưu sinh. Và sau hết nó cũng có thể là con tàu tỵ nạn đang liều chết tiến vào đây để tìm nơi nương náu, để tìm chút tình thương nơi hòn đảo nhỏ bé này.
Đào Văn Bình
(Trích trong tuyển tập truyện ngắn Hương Xót Xa xb năm 1998)
Thứ Tư, 24 tháng 6, 2026
Tháng 6 Trời Mưa -Sáng Tác: Hoàng Thanh Tâm - Ca Sĩ: Y Phương
Sáng Tác: Hoàng Thanh Tâm
Ca Sĩ: Y Phương
Ca Sĩ: Y Phương
Tháng Sáu
Nhớ cơn mưa mùa hạ
Cành hoa ép trong vở
Ngày chúng mình cách xa
Người chung trường khác lớp
Cho tôi biết mộng mơ
Buổi học cuối man mác
Giã từ tuổi ngây thơ
Nhìn nhau một lần nữa
Ve sầu kêu bơ vơ
Sân trường buồn nức nở
Giờ biệt ly, ai ngờ!
Màu phượng đỏ tươi thắm
Mênh mông một góc trời
Cành rung rinh trong nắng
Để tim ai rối bời
Cô bé tôi đang khóc
Thương nhớ tuổi học trò
Bạn bè và sách vở
Những khuôn mặt Thầy, Cô
Và ánh mắt người nữa
Nụ cười hiền chơi vơi
Những buổi chiều tan học
Theo bước tôi, lá rơi
Hạt mưa bay nhè nhẹ
Vương vấn cả con đường
Lòng tôi thầm van khẽ
Đừng ướt áo người thương
Xin đường về dài mãi
Xao xuyến với bâng khuâng
Có ai mong hè đến
Có ai buồn lắm không?
Phút chia tay lưu luyến
Kỷ niệm bao ngày qua
Mây lưng trời giăng kín
Che mắt buồn thiết tha
Mình xa nhau từ đấy
Trách chi thuở dại khờ
Nghìn trùng xa biết mấy
Thời gian trôi hững hờ
Để hôm nay tôi nhớ
Tháng Sáu về trời mưa
Hoa phượng xưa rực rỡ
Tôi chép vội bài Thơ!
Kim Loan
(Trời không mưa, anh có lạy trời mưa??)
Tháng Sáu...

Tháng Sáu...(1)
Trời ngả sang tháng sáu
Mà mưa cứ mưa hoài
Cái lạnh khe khẽ ru
Vào hồn người cô phụ
Tình ca chiếc lá buồn
Rụng rơi giữa mưa bay
Chơi vơi nằm im lặng
Dưới chân tượng Chúa Trời...
Xin làm người có tội ...
Tháng Sáu...(2)
Trời tháng sáu
Mà nghe lành lạnh
Hình như ai...
Đã gom hết nắng vàng đi
Để chiều ni...
Ta lặng buồn chi
Giữa đất trời ...
Chợt quay vòng hiu quạnh ...
Tuyết Phan
Hai Quê

Bài Xướng:
Hai Quê
VĨNH biệt Quê ấy, LONG đong Xứ người...
Quê xưa ấy... đã xa rồi
Xứ người Quê kế..đón mời an nhiên
Vô Nhiễm
02.06.2026)\
Hai Quê
Long Hồ nhắc nhớ đau lòng
Vĩnh Long cách biệt long đong phận người
Ly hương lận đận... qua rồi..
Melbourne hạnh phúc gọi mời... yên nhiên!
Kim Oanh
2.6.2026
***
Bài Họa:
Bài Họa:
Hai Quê
Long Hồ nhắc nhớ đau lòng
Vĩnh Long cách biệt long đong phận người
Ly hương lận đận... qua rồi..
Melbourne hạnh phúc gọi mời... yên nhiên!
Kim Oanh
2.6.2026
Chiếc Ghế Của Thầy Tôi!
(Nhà Văn Nguyễn Xuân Hoàng -1970)
Sáng nay, qua email bạn chuyển, tôi đọc được một bài viết cũ của thầy tôi, nhà văn Nguyễn xuân Hoàng, trên web-site VOA (https://www.voatiengviet.com/a/nhung-chiec-ghe-bo-trong-tran-kieu-bac-03-18-11-118263639/916785.html) . Tôi học Triết với thầy Hoàng năm cuối trung học.
Thầy Hoàng viết về những cảm nghĩ của Thầy sau khi đọc tuyệt tác ( theo tôi ) “ Những chiếc ghế còn bỏ trống “ của Trần Kiêu Bạc. Thầy viết bài này hôm 18/3/2011.
Ngày 18/3/2011 là ngày thứ sáu : một ngày như mọi ngày . Nhưng , những ngày-tháng-ba trước đó , với thầy tôi , lại là “ những ngày không như mọi ngày “ . Bắt đầu từ ngày người bạn của Thầy , nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang , vào " coma ." Sau đó , lại là một người bạn khác , triết gia Phạm công Thiện , qua đời ! 4 hôm sau , Thầy nhận được tin , thầy Phạm ngọc Đảnh , người bạn đồng nghiệp ở Petrus , cũng vừa “ ra đi “ ! 3 hung tin , trong vòng mấy ngày , đã làm thầy tôi “ choáng váng , mất hồn “ ! Cùng thời gian đó , Thầy đọc được một bài thơ của Trần phiêu Bạc : “ Những chiếc ghế bỏ trống “ . Bài thơ mà , tôi rất đồng ý với thầy tôi , khi Thầy mang hai câu thơ thay cho đoạn kết bài viết của mình : “ Chỉ thương chiếc ghế còn bỏ trống / Bạn không về nữa biết ai ngồi ? “ . Đó cũng là nội dung bài thơ .
” Trong đời người bất ngờ một hôm thấy mình đang ngồi bên Những chiếc ghế bỏ trống… “ . Vâng , thưa Thầy , cái cảm giác hụt hẩng đó , cũng đã bất ngờ đến với em , không phải trong những hoàng -hôn- tuổi này , mà đã từ lâu , từ những ngày “ sân trường học … đại “ sau 75 . Những ngày mà , có lần em thấy Thầy chở Cô , trên chiếc lambretta thời Petrus, phóng vội dưới cơn mưa , đoạn Nguyễn Trãi , qua khỏi cổng vào ( trường ) Bác Ái một tí , trước pharmacie “ Nguyễn Trãi “ (? ) . Em muốn vẫy tay , cúi đầu chào Thầy nhưng nhìn lớp mưa dầy đặc , nên thôi !
Những năm 77 , 78 đó là những năm “ phong trần đến cả sơn khê / tang thương đến cả hoa kia cỏ này “ ! Bạn bè em theo nhau, từ từ …. “ mất tích “ : đứa vượt biên , đứa về quê không trở lại , đứa " kinh tế mới " , đứa nông trường xa … Cho đến một buổi tối , một mình ngồi trong cái quán bên đường quen thuôc ( quán “ cô Vân “ ) , trước ly cà phê nhỏ giọt và khói thuốc “ Tam Đảo “ , em thảng thốt nhận ra : chỉ còn mình em ngồi ở cái bàn “ này “ , chờ cà phê một mình , thả khói một mình : những chiếc ghế đẩu quanh bàn bị bỏ trống ! Lòng em chợt bùi ngùi , mắt em chợt cay cay , những con chữ , vần điệu từ đâu bật ra ( ? ) và , dưới ánh đèn mờ , em ghi vội vàng trên bao thuốc lá:
Bây giờ , ở quán cô Vân
Những lúc tôi ngồi uống cà phê
Là những lần tôi nhớ bạn bè
Tôi ngồi một mình trong bóng tối
Tôi ngồi một mình đau sắt se
Bạn bè có lúc sống xa nhau
Có lúc gần như những toa tàu
Tàu chạy bằng thương yêu thắm thiết
Còi kéo dài “ mày -tao -mày -tao “
Tôi cháy trong đêm rất .. lập lòe
Khói không nhiều nhưng mắt cay se !
Chợt ước mình như là điếu thuốc
Đỏ rực đầu tay giữa bạn bè
Hôm qua ồn đến động trời xanh
Bây giờ là vắng lặng vây quanh
Tôi ngồi lẩm nhẩm tên từng đứa
( Cô quán cười chi có một mình ? )
1978
Mỗi một người rời nước ra đi đều mang theo một góc quê hương , trong đó , chiếm nhiều chỗ nhất là gia đình , rồi bè bạn … . Riêng « miền Nam « sau 75 , trừ những người « chắp cánh bay cao « đi « chính thức « ( « hồi hương » / quốc tịch Pháp , Đức .. ; đoàn tụ , HO.) , trước khi lên đường , còn có thể « cạn chén ly bôi « , còn được thân nhân ra tận phi trường đưa tiễn ( người sang bên ấy sao mà lạnh / nhjp trúc ta về lạnh mấy mươi / Nguyễn Bính ) … . Khác với những chuyến vượt biển , băng rừng lén lút , đều phải được « bảo mật « tối đa. Có người chồng ra đi mà chưa kịp hôn vợ , ôm con , có đứa con ra đi mà không dịp chào bố mẹ ..vv
Những năm Sài Gòn khốn khổ , bạn bè chúng tôi « phê , pháo « hầu như mỗi ngày . « Giải « được mớ « nhu yếu phẩm « thì một thằng 1 ly đen , chật vật thì 1 ly đen 3 thằng ( nước trà cho không , biếu không ) , rỗng túi thì gãy gãy đầu , cười cười xin « dì Ba « ghi sổ . Cứ như thế nên , nếu một tuần không thấy mặt , đến nhà hỏi thăm thì bà Cụ bảo « nó về quê thăm bà Ngoại … « thì biết ngay là thằng con « chui « rồi . Bên chiếc bàn con , bắt đầu , một ghế đẩu bỏ trống ! Rồi thêm một ghế , một ghế nữa …. , trong đó , có một chiếc , hơi hướm còn vương mà người ngồi đã ngồi sâu đáy …. biển : « Nh .- răng- vàng « !
Sang xứ lạ , như hầu hết mọi người , tôi « đi lại từ đầu « , « đi » cả phần bè bạn , bạn Tây lẫn bạn Ta . Lúc đầu chỉ có bạn Tây : người bảo trợ , bạn sinh viên , bạn đồng nghiệp … Bạn Việt thân nhất chỉ có ông đồ « 6.1 « chữ-nghĩa -bề- bề ở tận miền tây , thời tôi từ tỉnh tôi qua tỉnh ông học , sáng đi chiều về ( ! ) . Tình cờ gặp ở « R.U « ( căng - tin sinh viên ) , thấy một chàng mặt mày trí thức khôi ngô , lại chịu nối tếu , hai đài phát thanh , chung một làn sóng bèn thân ngay « một cái rụp « ( như thế mà đã 39 năm ) . Cùng một lứa bên trời lận đận , đi ghe qua đây , thương thằng bạn mới quen « ốm yếu ho hen « mà phải ngồi mấy tiếng xe lửa mỗi ngày , thầy -đồ kêu tôi ngủ lại phòng thầy ; một căn phòng dành cho học sinh nội trú nhưng các « sư huynh « ( frères ) trường dạy nghề ( ? ) thuận cho vài người Việt tị nạn độc thân vào ở ; sáng hai thằng đi học chung .
“ Bán anh em xe mua láng giềng gần “ . Những thằng bạn Tây giúp tôi nhiều lắm : dọn nhà , đóng kệ , sửa xe ,… vv Lao động Tây không là « vinh quang « , không cần « quang vinh « , chỉ … phở , chả giò , thịt nướng … , sau đó , là đủ . Người nhờ ( là vợ chồng tôi ) lại được người giúp cám ơn ra rít ! Nhưng , theo thời gian , những chiếc ghế quanh bàn tiệc , ngày càng bị bỏ trống , do chuyện việc ( đổi hãng , đổi nghề ) , chuyện nhà (ly dị) …
Sau này, càng lúc tôi càng quen nhiều bạn Việt Nam : bạn cũ thời sinh viên liên lạc lại được , bạn mới kiểu « bạn của bạn ta là bạn-ta « , bạn văn nghệ , bạn dancing …vv Tiệc tùng mời nhau qua lại . Ghế bàn tiệc bắt đầu chêm vào . Một bàn không đủ tranh thủ .. nối thêm . Quanh bàn đầy ghế . Trên ghế là những chuỗi cười liên tục . Từ sáng đến khuya . Đàn khoan thai ôm tiếng bỗng trầm . Và những bước madison , rock , chachacha … Khách tới phải nhờ mang thêm ghế . Giao thừa 2007, 5 bàn dài, hơn 60 cái ghế có chủ, trong căn phòng khách nhà tôi ! Cho đến những ngày -phải- tới ….
Cái ngày- phải -tới trong mỗi một đời người , bằng cách này hay cách khác: những « đôi ngã chia ly «, những giã từ rất sớm: vài chiếc ghế quanh bàn bị bỏ trống . Bắt đầu là Kha , người bạn văn nghệ thời KH , mới bắt liên lạc lại , hát nhau nghe chưa đầy 2 năm, thì bạn ta đã « cho ( nghe ) lần cuối « , cuối thập niên 80s . 20 năm sau, giữa thập niên 2000 , đã lấp lánh khăn tang trên đầu những người bạn gái chúng tôi , khi người-yêu- dấu của các bạn ấy , những bạn- ta của tôi , ra đi .
Tôi thích câu này của ông Lô Răng Phan lạc Phúc nên xin nhắc lại ( nữa ) « : Càng già thì càng cần có bạn . Mà bạn thì càng ngày càng rơi dần như lá mùa thu « . Quanh bàn tiệc nhà tôi bây giờ , nhiều chiếc ghế bỏ trống đã được kéo ra vì không có người ( mới ) ngồi vào !
Như thầy Hoàng . Bài của ông được viết ngày 18/3/2011 , trong đó , ông đã dự đoán về chiếc ghế bỏ trống của chính ông : « .. … Và tôi chợt nghĩ ra các bạn tôi rồi một hôm cũng sẽ chợt khám phá ra chiếc ghế dành cho tôi trong buổi hẹn bên ly rượu ở một nơi nào đó sẽ không có tôi… Những chiếc ghế bỏ trống của bạn bè và một chiếc ghế bỏ trống cho chính mình! .. » . 3 năm rưởi sau đó , ngày 13/9/2014 , đến phiên ông bỏ hẹn " lên đường "!
Từ đó đến nay , trong bếp nhà thầy cô Hoàng , bên chiếc ghế cô Vy ngồi là một chiếc ghế bỏ trống : chiếc ghế của thầy tôi !
Đến một tuổi nào , sợ nhất là những : chiếc ghế bỏ trống , chỗ nằm bỏ trống , cái bát bỏ trống , cái tách bỏ trống , đôi dép bỏ trống , ngăn tủ bỏ trống, .. vv Những cái " bỏ trống " khủng khiếp đó tuy trống không mà rộng lớn vô cùng !!!
BP
===========
Nhân đọc bài thơ Những Chiếc Ghế Bỏ Trống của Trần Kiêu Bạc
18/03/2011
Nguyễn Xuân Hoàng
Tôi đã đọc Những Chiếc Ghế Còn Bỏ Trống của Trần Kiêu Bạc vào những ngày tháng Ba 2011, những ngày “không như mọi ngày”. Bạn tôi, nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang, vừa hôm trước còn gọi điện thoại hẹn tôi sẽ lên San Jose, nhưng hôm sau đã vào bệnh viện ở Quận Cam, hoàn toàn hôn mê không nhận ra người quen, không nói được lời nào. Tuần sau, ngày 8 tháng Ba, Giáo sư - thi sĩ Phạm Công Thiện vừa qua đời ở Houston, Texas. Ông ra đi nhẹ nhàng, nhưng đầy bất ngờ. Tôi chưa kịp hoàn hồn trước hai tin trong màu trời “mùa động xám” của tháng Ba thì ngay liền bốn hôm sau, 12 tháng Ba, một tin khác đến với tôi từ Úc châu, bạn tôi giáo sư môn Triết và Đức văn ở trường Petrus Ký, Phạm Ngọc Đảnh cũng vừa ra đi… Đó là những người bạn mà chúng tôi mới vừa hẹn nhau qua điện thoại sẽ gặp nhau trong một quán cà phê ở San Jose [NĐQ], ở Houston [PCT], ở Bolsa hay ở Đức [PNĐ]… Trước sau gì tôi sẽ đến nơi đã hẹn, nhưng những chiếc ghế bên tôi giờ đã bỏ trống…Phạm Công Thiện, Phạm Ngọc Đãnh đã ra đi, Nguyễn Đức Quang còn trên giường bệnh…
Những chiếc ghế con còn bỏ trống
Xích lại gần nhau cũng lạnh thôi
Trong đời người bất ngờ một hôm thấy mình đang ngồi bên Những chiếc ghế bỏ trống… Và tôi chợt nghĩ ra các bạn tôi rồi một hôm cũng sẽ chợt khám phá ra chiếc ghế dành cho tôi trong buổi hẹn bên ly rượu ở một nơi nào đó sẽ không có tôi… Những chiếc ghế bỏ trống của bạn bè và một chiếc ghế bỏ trống cho chính mình!
Bài thơ của Trần Kiêu Bạc đến với tôi không chỉ là cái tựa, nó là những dòng chữ của một thi sĩ, khi anh nhìn ra cái khoảng trống của một người mà mình biết rõ và đang chờ đợi, một người mà không có họ, mình vẫn có thể hình dung ra đôi mắt và nụ cười, có thể thấy màu tóc và giọng nói, có thể…
Đối với tôi, Trần Kiêu Bạc còn quá trẻ, nhưng thơ anh đã bước vào thế giới của thi ca bằng những bước đi vững chải của người đồng điệu. Thơ không có tuổi và người làm thơ Trần Kiêu Bạc đã cho thấy tiếng nói của một thi sĩ nhìn ra được kiếp người.
Tuổi cũng chưa cao, chân chưa mỏi
Tình bạn còn nguyên chẳng bốc hơi
Sương sớm chưa tan trời buổi sáng
Đã chiều ớn lạnh tái vành môi
Đọc thơ Trần Kiêu Bạc trong một buổi chiều lạnh ở bắc California, giữa những tin bạn bè đứa vừa nằm bệnh viện, đứa vừa ra đi, giữa những breaking news về trận động đất và tsunami ở Nhật, về lửa và nước, về tan hoang, đổ nát và chết chóc, tôi thấy Những chiếc ghế còn bỏ trống không chỉ là một tiếng nói, mà còn là một thông điệp cho những người sống. Bài thơ không chỉ viết cho một người mà cho nhiều người…
Trong khi Trần Kiêu Bạc viết:
Đưa tay vớt tuổi non xanh biếc
Còn tôi thì
Thấy lá vàng khô sắp rụng rồi
Cám ơn Trần Kiêu Bạc. Cám ơn những dòng chữ trong bài thơ của anh.
Tôi muốn chép lại hai câu thơ này gửi đến các bạn tôi: Phạm Công Thiện, Phạm Ngọc Đãnh đã ra đi. Và làm sao đọc cho Nguyễn Đức Quang nghe được những câu thơ này khi anh còn nằm trên giường bệnh?
Chỉ thương chiếc ghế còn bỏ trống
Bạn không về nữa biết ai ngồi?
=========================
NHỮNG CHIẾC GHẾ CÒN BỎ TRỐNG
Gặp nhau, đêm gió đẩy ngược xuôi
Ngồi xa một chút cũng thấy vui
Nhìn nét thân quen từng khuôn mặt
Đã thấy đổi thay giữa cuộc đời
Bạn của năm xưa không về được
Bạn của ngày nay cũng vắng rồi
Những chiếc ghế con còn bỏ trống
Xích lại gần nhau cũng lạnh thôi
Ly rượu mừng nhau vơi phân nửa
Chìm tận đáy ly những khóc cười
Thủy tinh trong suốt qua tầm mắt
Rượu một dòng lại chảy nhiều nơi
Tuổi cũng chưa cao, chân chưa mỏi
Tình bạn còn nguyên chẳng bốc hơi
Sương sớm chưa tan trời buổi sáng
Đã chiều ớn lạnh tái vành môi
Rót rượu cho nhau lòng đau buốt
Bưng ly rượu nhớ mắt ai cười
Gởi đến bạn xa tình chưa gởi
Chỉ còn hương rượu đã phai phôi
Có tiếc có thương dù ngắn ngủi
Cũng đành cho gió cuốn mây trôi
Đưa tay vớt tuổi non xanh biếc
Thấy lá vàng khô sắp rụng rồi
Ngợp trời muà Hạ hoa rung nắng
Lại chớm mây Thu xám đất trời
Biết đâu sẽ ập muà Đông đến
Để lá bay theo những ngậm ngùi
Dẫu biết ngàn năm sông vẫn chảy
Một bờ sông lở, một bên bồi
Vẫn nghe trong đám phù sa ấy
Một dây thân ái đã đâm chồi
Gặp nhau siết mạnh tay một chút
Thiêng liêng tình bạn đã lên ngôi
Giá như chưa hết bao nuớc mắt
Chắc ngàn giọt lệ vội tuôn rơi
Chỉ thương chiếc ghế còn bỏ trống
Bạn không về nữa biết ai ngồi
Biết đến khi nao mà hò hẹn
Hay là tay trắng sẽ buông xuôi?
Tôi viết bài thơ buồn độc vận
Như một mình giữa bóng trăng soi
Tôi nhặt miếng trăng rơi xuống cỏ
Kết nên tình bạn sáng muôn đời.
TRẦN KIÊU BẠC
Thứ Ba, 23 tháng 6, 2026
Nhìn Nhau - Nhạc & Lời: Nguyên Bích - Piano: Lê Minh Trí - Violin: Lê Duy - Ca Sĩ: Lê Quốc Phú ời:
Nhạc & Lời:Nguyên Bích
Piano: Lê Minh Trí
Violin: Lê Duy
Ca Sĩ: Lê Quốc Phú
Nhạc & Lời:Nguyên Bích
Piano: Lê Minh Trí
Violin: Lê Duy
Ca Sĩ: Lê Quốc Phú
Dấu Tình Buồn
Nhớ lại ngày xưa ta yêu nhau.
Nhưng vì tôn giáo đành tan vỡ.
Để lại trong tim thấm nỗi sầu.
Rồi bỗng cuồng phong dậy đất trời.
Anh theo lốc xoáy cuốn chơi vơi.
Mấy năm tù ngục mơ hình bóng.
Mơ thấy người tình thương nhớ ơi!
Khi được thả về mong gặp em.
Cho vơi niềm nhớ bao giờ quên.
Người nhà cho biết em đã thoát.
Cùng với chồng con sống ấm êm.
Mấy chục năm rồi sống viễn phương.
Mỗi độ Hè về nhớ dáng thương.
Làm sao quên được người trong mộng.
Dù tóc giờ đây đã điểm sương.
Lâm Hoài Vũ
Cọng Rau Chén Thuốc
Cọng rau chén thuốc cây xanh
Gió mai phe phảy mây lành lững lơ
Xuân tình như một bài thơ
Khúc ca hội ngộ đợi chờ bốn phương
Cuộc đời gói nghĩa tình thương
Chúc nhau sống trọn không vương giọt sầu
Dẫu bao mưa nắng dãi dầu
Qua truông hoạn nạn cơ cầu có nhau
Thời gian nước chảy qua cầu
Đời người còn lại trước sau vẫn bền
Đoạn đường còn lại chênh vệnh
Đau gân mõi gối... gập ghềnh bước chân
Thương anh chúc chị xa gần
Niềm vui xanh lá tình thân không rời.....!
Ngư Sĩ
Khi Đá Nở Hoa - Cõi Mực Thong Dong
(Cung Lan)
Khi Đá Nở Hoa
Lời mừng Thi Văn Sĩ Phương Hoa
Đạt giải Vă Bút VNHK 2026
Từ trong vách đá vươn ra
Thiên thu chồi mộng nở hoa thiên tài
Từ trong nguồn cội thiên tai
Muôn năm quý trọng trang đài văn chương
Từ trong ngôn ngữ vô thường
Tâm châu ý ngọc lời thương yêu người
Từ trong vạn sự ở đời
Có riêng một vẻ tuyệt vời an nhiên
Đôi vai nhật nguyệt bình yên
Gánh thân qua nghiệp tới miền thong dong
Từ Văn tới Bút trập trùng
Sáng trong một cõi mênh mông thái hòa …
Rancho Palos Verdes. 15 - 6 - 2026
Cao Mỵ Nhân
***
Cõi Mực Thong Dong
Hồn thơ rạch lối bước ra,
Trải bao dâu bể kết hoa thi tài.
Vượt qua giông bão họa tai,
Trọn đời dâng hiến xây đài cung chương.
Tình thơ thắp sáng tâm thường,
Gieo mầm nhân nghĩa chuyền thương bao người.
Dù cho vật đổi sao dời,
Giữ nguồn minh bạch ngời ngời như nhiên.
Thuyền thơ cập bến đà yên,
Xả buông đa sự thoát miền long đong.
Đường Văn lối Bút trùng trùng,
Lòng trong dạ sáng khai thông yên hòa.
Phương Hoa
Từ trong vách đá vươn ra
Thiên thu chồi mộng nở hoa thiên tài
Từ trong nguồn cội thiên tai
Muôn năm quý trọng trang đài văn chương
Từ trong ngôn ngữ vô thường
Tâm châu ý ngọc lời thương yêu người
Từ trong vạn sự ở đời
Có riêng một vẻ tuyệt vời an nhiên
Đôi vai nhật nguyệt bình yên
Gánh thân qua nghiệp tới miền thong dong
Từ Văn tới Bút trập trùng
Sáng trong một cõi mênh mông thái hòa …
Rancho Palos Verdes. 15 - 6 - 2026
Cao Mỵ Nhân
***
Cảm Tác:
Cõi Mực Thong Dong
Hồn thơ rạch lối bước ra,
Trải bao dâu bể kết hoa thi tài.
Vượt qua giông bão họa tai,
Trọn đời dâng hiến xây đài cung chương.
Tình thơ thắp sáng tâm thường,
Gieo mầm nhân nghĩa chuyền thương bao người.
Dù cho vật đổi sao dời,
Giữ nguồn minh bạch ngời ngời như nhiên.
Thuyền thơ cập bến đà yên,
Xả buông đa sự thoát miền long đong.
Đường Văn lối Bút trùng trùng,
Lòng trong dạ sáng khai thông yên hòa.
Phương Hoa
JUN 18, 2026
Email Của Học Trò Cũ

(Thầy Trò gặp nhau ở Sài Gòn ,Việt Nam và San José, CA)
Email Của Học Trò Cũ
Thầy Thương Kính
Dạ! Con Kính chào Thầy! Con rất mừng vì đọc mail của Thầy, và cảm nhận được Thầy vẫn còn khoẻ, Thầy vẫn nhớ rõ những lần Thầy Trò mình gặp nhau.
Ba Má con hiện đang ở chung với con tại Việt Nam. Năm nay Ba Má con cũng 90 tuổi hết rồi, nên già yếu nhiều.
Hiện con vẫn còn đóng phim, nhưng con vẫn dành thời gian gần gũi và chăm sóc Ba Má nhiều hơn trước.
Dạ! Còn về bài viết của Thầy về con. Con xin cảm ơn Thầy thật nhiều. Con chỉ xin phép được edit lại hai chỗ.
1- Con chưa lấy bằng tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật vì con nợ kỳ Bảo vệ Luận Văn Tốt Nghiệp.
Dù các môn học khác con đã pass 100%.
2- Phim Tình Yêu Ven Sông 2026 là phim gì con không biết luôn ạ!
Vì có khi đây là phim con từng đóng lâu rồi, nhưng đã bị các youtuber họ copy và post lên, nhưng họ lại đặt một cái tựa phim khác. Để khán giả tưởng là phim mới, mà click vào xem.
Các phim của con đóng trước đây đã thường xuyên bị như vậy đó Thầy!
Con cảm ơn Thầy thật nhiều. Mỗi lần đi ngang khu nhà cũ Thầy ở cuối Đường Trần Quang Khải, nằm đối diện Đình Nam Chơn, con vẫn luôn nhớ đến Thầy.
Con Kính chúc và mong Thầy luôn dồi dào sức khoẻ, cuộc sống luôn bình an và hạnh phúc ạ!
Con Kính chào Thầy
Trương Minh Quốc Thái
***
Trên đây là Email của một học sinh cũ của tôi cách đây hơn
40 năm viết cho tôi. Đó là Em Trương Minh Quốc Thái. Hiện nay, em là một Nam
Tài Tử Điện Ảnh nổi tiếng của Việt Nam đã đóng nhiều phim, và được nhiều giải
thưởng về Điện Ảnh. Ngoài ra, Trương Minh Quốc Thái cũng còn là một Ca Sĩ, một
Kịch Sĩ xuất hiện trên các sân khấu Ca, Nhạc Kịch trong nước rất thành công.
Một phim do Trương Minh Quốc Thái đóng vai chính cách đây gần 20 năm, được khán
giả sau khi xem rất thích và ngợi khen. Đó là “HƯƠNG PHÙ SA”
Phim có nội dung tình cảm nhẹ nhàng, hình ảnh sông nước, ghe thuyền tấp nập,
các rặng dừa, các bè lục bình trôi bềnh bồng rất hữu tình và phong cảnh làng
quê Việt Nam thân yêu rất đẹp, khiến những ai yêu quê hương, xa đất nước, khi
xem xong trong lòng cũng cảm thấy một thoáng rung động và bồi hồi.
Trương Minh Quốc Thái định cư ở Mỹ đã lâu, đã lập gia đình, nhưng hiện nay dành
nhiều thời gian sống ở Sài Gòn để có cơ hội chăm sóc, báo hiếu và phụng dưỡng
cha mẹ già đã lớn tuổi và đau yếu thường xuyên.
So với nhiều đồng nghiệp dạy cùng Trường Phổ Thông Cơ Sở Cách Mạng Tháng 8 (tên cũ Trường Trung Học Tinh Thần do Linh Mục Phan Phát Huồn làm Hiệu Trưởng, số 289 Đường Lê Văn Duyệt, nằm giữa Biệt Khu Thủ Đô và Quân Vụ Thị Trần Sải Gòn). Tôi may mắn được nhiều học sinh cũ vẫn còn giữ một lòng tôn sư trọng đạo, nhớ đến công ơn Thây Giáo cũ dạy dỗ minh, dù thời gian trôi qua đã gần nửa Thế Kỷ.
Các học trò cũ được tôi trực tiếp làm Giáo Viên Hướng Dẫn (Chủ
Nhiệm) vẫn thường xuyên Email thăm hỏi và chúc sức khoẻ tôi vào dịp Tết đến, Lễ
lớn, và vào ngày Nhà Giáo Việt Nam 20 Tháng Mười Một.
Mỗi khi tôi có dịp về Sài Gòn thăm gia đình, các em đều tổ chức
gặp Thầy Giáo cũ và bạn cùng lớp để hàn huyên tâm sự, nhắc lại những kỷ niệm
thuở học trò hồn nhiên, thơ mộng. Nhớ lại giờ sinh hoạt cuối tuần được nghe
Thầy kể chuyện, Thầy hát, tham gia các trò chơi, tập hát các bài ca ngắn Hướng
Đạo. Thầy có kinh nghiệm nhiều năm là một Trưởng Hướng Đạo, nên không khí sinh
hoạt rất sôi động, hấp dẫn, vui và bổ ích. Đặc biệt, Thầy lúc nào cũng vui vẻ,
không lớn tiếng, không bao giờ áp dụng biện pháp kỷ luật với học sinh. Em nào
phạm lỗi. Thầy kiên nhẫn giải thích, khuyên nhủ, và yêu cầu các em hứa không
được tái phạm. Các em cho biết, trong đời học sinh của các em trải qua nhiều Thầy
Cô Hướng Dẫn lớp, nhưng lớp các em do tôi là Giáo Viên Hướng dẫn mang lại cho
các em nhiều hình ảnh và kỷ niệm đẹp thuở học trò không thể nào quên.
Giờ đây, các em đã ngoài 50 tuổi, may mắn thành công trên đường
học vấn, có công ăn việc làm ổn định và một mái ấm gia đình hạnh phúc.
Phần tôi, ở tuổi ngoài Thất Thập Cổ Lai Hy định cư ở xứ người hơn
ba mươi năm. Nhớ lại những tháng ngày vừa mới đặt chân tới vùng đất mới hoàn
toàn xa lạ với bao nhiêu bỡ ngỡ, khó khăn tưởng chừng như bỏ cuộc. May mắn, nhờ
gia đình Niên Trưởng bảo trợ, nhờ bạn bè cùng Khoá, cùng đơn vị, nhờ các ân
nhân không hề quen biết giúp đỡ lúc ban đầu, cùng với vợ con hết lòng thương
yêu, đùm bọc và cố gắng phấn đấu không ngừng nghỉ. Nên cuối cùng vượt qua hết
những chặng đường nhiều vất vả, chông gai.
Hiện nay, gia đình tôi sống trong một căn nhà nhỏ, có mảnh vườn
xinh xắn, được tô điểm một số cây cảnh, nằm ở phía Bắc Thành Phố San José, mệnh
danh là Thung Lũng Hoa Vàng. Nơi đây, thời tiết quanh năm hiền hòa, cây cối và
hoa lá xanh tươi, đi đến bất cứ đâu cũng gặp bà con người Việt.
Thành phố có nhiều chùa chiền, nhà thờ, chợ búa, lễ lạc, sinh hoạt
cộng đồng quanh năm, nên tinh thần cũng phần nào thanh thản, thoải mái, và nhẹ
nhàng.
Tôi cảm thấy những tháng ngày còn lại của tôi thật bình yên, không
phải lo toan đối phó với những phức tạp, phiền toái đời thường.
Tôi cho là một Ơn Phước lớn được Thượng Đế ban tặng, dù tôi có
tiền muôn, bạc bể cũng không thể mua được.
Ước vọng duy nhất cuối đời của tôi là xin Ơn Trên ban cho có sức
khỏe, được sống hạnh phúc, vui vẻ bên vợ con và các cháu. Thỉnh thoảng được gặp
lại các học trò cũ, Anh Chị Em Hướng Đạo Việt Nam đã một thời sôi nổi trong
việc Xây Dựng Phong Trào, Phát Triển, Bảo Tồn, Duy Trì Truyền Thống Văn Hoá
Việt Nam, và bạn bè ngày xưa để hàn huyên là đủ mãn nguyện.
Trần Đình Phước
(San José , California -17/06/2026)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

