Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2026

Nhìn Lên Thánh Gía - Sáng Tác: Phạm Trung - Trình Bày: Tâm Đoan

Sáng Tác: Phạm Trung
Trình Bày: Tâm Đoan

Đàng Thánh Giá



Đàng Thánh Giá trong ngôi nhà nguyện
Mười bốn chặng đường chuyện nhân gian
Lối về nước Chúa thiên đàng
Đau thương khổ nhục gian nan phận người

Ẩn trong tiếng khóc cười nhân thế
Thập tự cao nhập thể hy sinh
Thác tuôn nguồn suối ân tình
Trong con Ngài sống hiển linh ngôi trời

Yêu thương tình cao vời Thiên Chúa
Thụ nạn hình nhầy nhụa thương đau
Tình con vời vợi nôn nao
Kiếp người mỗi chặng Chúa vào thọ thân


Kim Phượng
 

Thập Gía Đức Tin


Hành trình của Chúa Giê-su Ki-tô và Mười Bốn Chặng Đường Thánh Giá, một truyền thống vô cùng ý nghĩa trong Kitô giáo.

Đây là suy nghĩ của trong tôi được viết lại thành một câu chuyện ngắn mang tính suy ngẫm:
Trong thời kỳ tăm tối, khi nhân loại lạc lối, đã xuất hiện một tình yêu khác biệt hoàn toàn, tình yêu của Chúa Giê-su Ki-tô. Ngài đã bước đi trên con đường đau khổ, một hành trình được đánh dấu bằng mười bốn chặng gian khổ. Với mỗi bước đi, Ngài đều mang trên mình sức nặng của Thánh Giá, không chỉ là khúc gỗ trên vai, mà còn là gánh nặng và tội lỗi của toàn nhân loại.

Dù được bao quanh bởi nhiều người, nhưng nỗi đau chỉ mình Ngài phải gánh chịu. Ngài vấp ngã, Ngài lại vấp ngã, nhưng Ngài lại đứng dậy, được thúc đẩy bởi một tình yêu cao cả, đến nỗi Ngài chấp nhận sự hy sinh không chút do dự. Bởi vì cho đi là hy sinh, và sự hy sinh càng lớn lao, tình yêu càng sâu sắc.

Ở cuối con đường đau buồn này, trên Thánh Giá, Ngài đã dâng hiến tất cả. Máu của Ngài đã đổ ra như sự cứu chuộc, một món quà cho tất cả mọi người xuyên suốt thời gian. Trong khoảnh khắc đau khổ đó, tình yêu đã trở thành sự cứu rỗi. Qua sự hy sinh của Ngài, nhân loại được ban cho niềm hy vọng, một lời hứa rằng không có lỗi lầm nào là không thể tha thứ, và không có linh hồn nào là ngoài tầm với của ân huệ phúc lành mà Ngài ban cho. Vì vậy, chúng ta tin vào tình yêu vô bờ bến của Chúa. 

Chúng ta nhìn vào Thập tự giá không chỉ với nỗi buồn, mà còn với đức tin và trong lòng, chúng ta khao khát được tha thứ, được đổi mới, và được bước đi một lần nữa trong ánh sáng của tình yêu vĩnh cửu ấy.

Con đường Thập Giá Chúa qua
Cho con hiểu thấu phong ba cuộc đời
Con đường Thập Giá cao vời
Cho con thấy được rạng ngời đức tin
Con đường thập giá hy sinh
Cho con trải nghiệm hành trình nguy nan
Con đường Thập giá hiên ngang
Cho con ân tạ vinh quang tình Ngài

Amen!

Kim Oanh 
Mùa Chay Thánh 3.5.2026



Thứ Năm, 2 tháng 4, 2026

Phố Đêm - Tân Nhạc: Tâm Anh - Cổ Nhạc: Viễn Châu - Trình Bày: Kim Trúc & Ngọc Trắng

Tân Nhạc: Tâm Anh
Cổ Nhạc: Viễn Châu
Trình Bày: Kim Trúc & Ngọc Trắng

Trăng Nước Tầm Dương

 

Trăng trầm đáy nước ánh trăng bơi
Gờn gợn sông đưa bóng gọi mời
Ai khách đa tình xin chớ vội
Đàn xuân nhã khúc cũng vừa khơi
Tầm Dương bến vắng mơ vầng nguyệt
Kỹ Nữ buồn thân xót mảnh đời
Tan hợp bèo mây người mỗi ngã
Tỳ Bà lưu luyến chẳng nên lời.

Quên Đi

Chiều Tàn Trên Vùng Đồi Núi Georgia



Mỗi khi thời tiết sang Thu
Hồn tôi vương vấn nỗi buồn mênh mang
Hoàng hôn đứng lặng mơ màng
Ngắm hàng cây nhuộm nắng vàng-đỏ-hoe

Nắng dần tắt chốn sơn khê
Tấm thân già cỗi chết thêm từng phần
Dường như vọng tiếng chuông ngân
Gọi hồn siêu thoát cõi trần bi ai

Nghiệm xem toàn thể hình hài
Đâu còn dáng nét dẻo dai thuở nào
Buớc chân lảo đảo chênh chao
Bàn tay run rẩy lao đao lịm hồn

Mỗi năm trời sắp sang Đông
Tâm tư trầm lắng vào vùng hư vô
Xa xa có một con đò
Chèo buông đón đợi tôi về cõi âm.

ChinhNguyên/H.N.T. , 
Cumming , Oct.23.25 (708a)


Mùa Thu Nào ở Lại

 

Thương môi nào đã lỡ
người như luôn quanh đây
nụ hôn vừa hôm trước
chỉ còn in dấu tay!

Thương cây màu lá cũ
rơi theo tháng năm dài
có tình nào không cạn
có mây nào không bay?

Em về đâu? Giờ đây
một góc đời bé nhỏ
môi chắc mòn vết đau
tay tình cờ chạm phải

Mùa thu nào ở lại
khi lá đổ sang mùa
thương ai từng nỗi nhớ
vàng ngập phấn hương xưa..!

North Carolina, thu 2025
Nguyễn Vĩnh Long

Chuyện Anh Chàng Hoài Nghi


(Truyện xã hội, tâm linh giả tưởng)

Đại Nghi là một kỹ sư trẻ, chuộng khoa học, luận lý, lại đọc quá nhiều tư tưởng, triết học Đông-Tây, rồi bị tiêm nhiễm cho nên có tật là hoài nghi tất cả mọi chuyện trên đời. Chẳng hạn đối với người đang hăng say hoạt động thì anh cho rằng biết đâu đó chỉ là kẻ háo danh, lấy cớ ”phục vụ cộng đồng” để thủ lợi riêng hoặc chuẩn bị ra “ứng cử”. Còn đối với kẻ nhiệt tâm, nhiệt tình quyên góp tiền bạc của đồng bào cho công tác thiện nguyện, dự án này, chiến dịch nọ, thì chàng lại nghi ngờ cho rằng, tiền quyên góp một nửa sẽ chui vào “túi áo khỉ”. (1) Quan niệm của anh chàng là “Thời buổi bây giờ làm gì có thánh nhân. Tất cả đều vì cơm áo, gạo tiền, danh vọng nhưng che giấu bằng những mỹ từ thánh thiện, cao đẹp”.

Đấy là về mặt con người. Còn về mặt tư tưởng, triết lý thì anh cũng có quan niệm thật quái dị. Chẳng hạn đối với kẻ đang bị mọi người căm ghét thì Đại Nghi lại bảo “Chưa chắc. Biết đâu anh ta chẳng là người dễ thương?” Còn đối với kẻ đang được mọi người thán phục, ngưỡng mộ thì Đại Nghi lại cho rằng “Biết đâu vài ba năm nữa thiên hạ chả lại xúm chửi ông ta như tát nước vào mặt ?” Còn đối với chuyện mà cả thế giới cho là đúng thì anh chàng lại bảo “Coi chừng chỉ vài ba năm nữa thôi bà con mới thấy nó trật lấc!”Chẳng hạn như chuyện cả thế giới đều tin chắc Ông Saddam Hussein cất giấu một kho vũ khí hóa học và hủy diệt hàng loạt khiến nhân loại nguy tới nơi rồi. Thế nhưng sau khi Mỹ đem quân tiến vào phá tan tành đất nước Iraq thì chẳng có gì cả. Với đầu óc hoài nghi và thái độ “ba phải” như vậy cho nên Đại Nghi chẳng bao giờ thương ai hay ghét ai, chẳng bênh phe này chống phe kia, chẳng lao vào những biến động thương-ghét om sòm cả trời đất và dĩ nhiên chẳng hại ai, dù làm rụng một sợi lông chân.

Tuy nhiên trong những lúc vắng lặng tâm tư, Đại Nghi tự hỏi chẳng lẽ trên cõi đời này không có chân lý? Bất cứ chuyện gì trên cõi đời này cũng phải có người đúng người sai chứ? Từ nỗi dằn vặt đó chàng ta quyết tâm tìm cho ra chân lý. Với ý tưởng khá “ngông cuồng” này, Đại Nghi dành dụm một số tiền, xin nghỉ giả hạn không lương một năm rồi trang bị giống như mấy “Ông Tây ba-lô”, lên đường đi tìm chân lý với quyết tâm của một người lên đường “tầm sư học đạo”.

Bắt chước Thiện Tài Đồng Tử trong Kinh Hoa Nghiêm, chàng không dám khinh thị một ai mà lần mò, tìm tòi, vấn hỏi tất cả mọi người vì chàng tin rằng chân lý phải nằm ở khắp mọi nơi. Nếu chân lý nằm ở người này mà không nằm ở người kia, chỉ nằm ở chỗ này mà không phổ cập ở chỗ kia thì chỉ là “chân lý dỏm”, chân lý phải có tính phổ quát.

Trước tiên chàng tìm đến một ông chủ tịch hội đồng quản trị của một hãng chế tạo vũ khí khổng lồ. Sau khi giới thiệu thân thế và khát vọng của mình, chàng lễ phép hỏi:
-Thưa ông chủ tịch, trên đời này có chân lý không và chân lý nằm ở đâu ạ?
Ngồi dựa ngửa ra đằng sau chiếc ghế da, ông chủ tịch mỉm cười đáp:
-Chân lý có chứ. Chân lý nằm ở kẻ nào có nhiều hàng không mẫu hạm, khu trục hạm, tàu ngầm, máy bay không người lái, vũ khí nguyên tử và máy bay ném bom chiến lược tàng hình, chẳng hạn như B-2, B-52. Chính vì muốn nắm giữ chân lý cho nên họ mới tìm đến chúng tôi. Không có chúng tôi thì họ đâu còn chân lý. Cho nên có thể nói các nhà chế tạo vũ khí hay nói nôm na là “các lái súng” sẽ nắm giữ chân lý.

Nghe trả lời thế, Đại Nghi kinh hãi cảm tạ vị chủ tịch rồi hối hả đáp máy bay qua Nữu Ước để xin gặp một ông tỷ phú nổi tiếng khắp thế giới về chứng khoán, tài chính và địa ốc. Sau hơn một tuần lễ thấy chàng kiên trì chờ đợi, có lẽ thấu hiểu khát vọng của người tuổi trẻ, ông chủ tịch cho gặp mặt. Vừa thương vừa ái ngại, ông nhìn người tuổi trẻ, hỏi:
-Cậu tìm tôi có việc gì?
-Dạ thưa, cháu đi tìm chân lý nhưng không biết chân lý có hay không?
-Chân lý có chứ. Nó nằm ở đây này…
Nói xong ông chủ tịch với tay mở chiếc tủ sắt sau lưng. Cánh cửa sắt bật mở, bên trong là những cọc đô-la xếp gọn ghẽ. Mùi tiền mới tỏa ra thơm phức. Lấy một cọc ném lên mặt bàn, ông chủ tịch nhún vai nói:
-Tiền là chân lý! Tiền làm thay đổi tình cảm con người. Tiền có thể phá vỡ mọi giá trị trên cõi đời này. Tiền khiến cha con, anh em, chồng vợ chia lìa. Tiền làm người ta mờ mắt cho nên thấy đúng thành sai, thấy sai thành đúng. Cậu không nghe người ta nói “Tiền vào pháp đình công lý đội nón ra đi” sao? Cả thế giới bây giờ đang bị sai khiến bởi đồng đô-la cho nên có thể nói tiền không những chỉ là chân lý mà nó còn đẻ ra chân lý. Cho nên muốn có chân lý phải có tiền. Không đô-la thì đừng nói tới chân lý.

Nói xong ông dang hai tay ra phía trước, giơ lên cao rồi nhún vai, một cử chỉ rất phổ thông ở Mỹ để diễn tả câu nói“Nó như vậy đó”.

Nghe ông tỷ phú nói thế, Đại Nghi rầu rĩ, nói lời cảm ơn rồi lui ra. Nhân tiện ở cùng một thành phố, chàng chợt nảy ra ý định vào tòa nhà Liên Hiệp Quốc để vấn hỏi, chắc chắn sẽ có lời giải đáp. Người mà chàng xin tiếp kiến là ông cựu tổng thư ký. Mặc dầu đã hết nhiệm kỳ nhưng do uy tín, ông này vẫn được trọng dụng và thỉnh thoảng được cử làm đặc sứ để làm “con thoi” trong những trong những vụ khủng hoảng của thế giới. Chàng nồng nàn đặt câu hỏi:
-Thưa ngài, là nơi đưa ra những quyết định trọng đại ảnh hưởng đến sinh mệnh của loài người, phải chăng đây là lương tâm của nhân loại và là biểu tượng của chân lý cho toàn thế giới? Thưa ngài, chân lý có thực không? Nếu có, phải chăng Liên Hiệp Quốc chính là cơ quan thi hành và thể hiện chân lý đó?

Khẽ thở dài, ông cựu tổng thư ký nói:
-Cậu cũng biết đó, cơ quan này không phải do chúng tôi lập ra, mà do thế giới đóng góp. Nếu mai đây người ta không góp tiền nữa thì Liên Hiệp Quốc đóng cửa và chúng tôi chỉ còn nước về nhà đuổi gà cho vợ. Vì do thế giới đóng góp cho nên nước nào có nhiều tiền thì tiếng nói của họ mạnh. Khi họ mạnh thì chân lý “nghiêng” về phía họ. Đôi khi Liên Hiệp Quốc cũng đưa ra những quyết định có vẻ như “biểu tượng của chân lý”. Sở dĩ có được những quyết định như vậy là vì nó phù hợp với quyền lợi của năm ông ủy viên thường trực của Hội Đồng Bảo An. Chỉ cần một ông phủ quyết là chân lý chết, nếu chân lý sống thì cũng chỉ là tiếng kêu trong sa mạc. Nói tóm lại chân lý “có” khi nó phù hợp với quyền lợi của các đại cường. Chân lý là “không” và nhiều khi trở nên nghịch lý khi nó phản lại quyền lợi của các nước lớn. Do đó chân lý không nằm ở đây. Chúng tôi chỉ là phát ngôn viên, nói đúng ra là đào kép trên sân khấu, còn đạo diễn thì đứng sau hậu trường. Khi không có “tuồng” để diễn thì đào kép thất nghiệp. Cậu không thấy Liên Hiệp Quốc nhiều khi im lặng như tờ, nhân viên rảnh rỗi ngồi đọc báo, tán gẫu, xem truyền hình hoặc vào mạng lưới“chat” (2) cho đỡ buồn sao?

Nghe ông cựu tổng thư ký nói thế Đại Nghi buồn khôn tả. Chàng nói lời từ giã rồi không một chủ định, chàng lang thang trên hè phố rối lạc bước tới Times Square (3) lúc nào không hay. Ngửng đầu lên, chàng thấy tấm bảng hiệu bằng đèn nê-ông của một hãng truyền hình. Đây là một tổ hợp truyền thông khổng lồ, chủ nhân của rất nhiều tờ báo, đài phát thanh, truyền hình địa phương. Tin tức của đài này truyền đi không phải chỉ ở Mỹ mà cả thế giới theo dõi. Có thể nói đây là trung tâm có thể uốn nắn đầu óc, lề thói suy nghĩ của nhân loại. Cũng giống như những lần trước, sau khi điền đơn xin tiếp kiến, chờ đợi cả tuần lễ, chàng được ông tổng biên tập cho gặp mặt. Ông là một nhân vật đầy quyền thế, lương khoảng hai chục triệu đô-la mỗi năm. Dưới ông có cả chục nhân viên phụ tá, cả trăm “producer” đặc trách chương trình, phụ trách quảng cáo, chuyên viên nghiên cứu, văn khố, thu hình, biên tập viên, phóng viên có mặt hầu như khắp nơi trên thế giới. Ông là linh hồn của tập đoàn. Ông toàn quyền quyết định việc cắt xén tin tức, cái nào cho “đi”, cái nào vứt vào thùng rác, chiến thuật loan tin, hình ảnh nào cần đưa lên… hoàn toàn do ông quyết định. Ngồi dựa ngửa ra đằng sau, hai chân gác cả giày lên bàn - lối ngồi của các Sheriff (4) trong các phim cao-bồi, của các “tay tổ” hay của tổng thống Mỹ như Tổng Thống Obama ngồi trong Tòa Bạch Ốc trong các phiên họp với các cố vấn. Nhìn chàng tuổi trẻ mặt mũi cao ráo, dáng vẻ trí thức nhưng lại có vẻ ngây thơ, ông tổng biên tập hỏi:
-Cậu gặp tôi có chuyện gì? Xin việc hả?
- Dạ, cháu không xin việc mà muốn đi tìm chân lý. Theo cháu biết nơi đây là kho chất chứa tài liệu, lịch sử, hình ảnh của toàn thế giới. Tiểu sử, thành tích, kể cả các hành vi bê bối của các lãnh tụ, các chính trị gia đều nằm ở đây. Không một chuyện gì mà ông không biết. Không một bí mật nào - dù bí mật quốc phòng, bí mật ở Toà Bạch Ốc mà ông không biết, biết một cách tường tận và cả “bề trái” của nó nữa. Vậy thì theo ông chân lý có không và chân lý nằm ở đâu?

Sau giây phút ngạc nhiên về người tuổi trẻ, ông phá lên cười ngặt nghẽo, rồi nói:
-Này, nói đùa thôi nhé. Tuổi trẻ không lo xây dựng sự nghiệp, lấy vợ, sinh con đẻ cái mà đi tìm chân lý thì đầu óc hơi có “vấn đề” đấy. Nhưng trông cậu có vẻ thành thật nên tôi thấy cần nói cho cậu rõ. Chân lý là cái gì thì tôi không biết nhưng tất cả mọi Sự Thực, Cái Đúng, Cái Sai, cái gọi là Chính Nghĩa, hoặc Lý Tưởng Cao Cả đều nằm ở ngay đây, ở ngay chúng tôi. Tất cả đều do chúng tôi nhào nặn ra.

Há hốc miệng vì ngạc nhiên, Đại Nghi hỏi:
-Theo cháu biết cơ quan truyền thông chỉ làm công việc thông tin, có nghĩa là thấy sao nói vậy. Vả lại tôn chỉ của ngài là “Fair and Balance” tức “Công Bằng và Quân Bình” tại sao ngài lại nói ngài có thể bóp méo tin tức và chân lý?
Sau một hồi cười ngặt nghẽo, ông tổng biên tập nói:
-Cậu ngây thơ quá! Tất cả những cái đó chỉ là quảng cáo. Cứ thử nhìn vào đời mà xem có công ty, ngân hàng, luật sư nào mà không nói “tận tân, tín nhiệm, bảo vệ quyền lợi của thân chủ”. Có ông ứng cử viên tổng thống nào mà không hứa hẹn trăm điều tốt đẹp? Nhưng cuối cùng thì sao? Chẳng lẽ chúng tôi trương bảng hiệu “Thiên Vị và Bên Trọng Bên Khinh”?
Tới đây thì Đại Nghi ngắt lời ông:
-Thưa ông tổng biên tập. Thế nhưng làm cách nào ngài có thể bóp méo tin tức để nhào nặn chân lý?
- Cái đó dễ lắm. Nó không phải là thủ thuật của riêng chúng tôi mà của bất kỳ cơ quan truyền thông nào khi họ thiên vị. Nguyên tắc là khi chúng tôi bênh ai thì những cái xấu của họ chúng tôi ỉm đi mà chỉ nói về những cái tốt. Nghe tin tức và bình luận mãi như thế quần chúng tin rằng đây là kẻ tốt nhưng sự thực hắn ta là kẻ xấu. Chẳng hạn đối với một cuộc chiến tranh xâm lược, muốn tạo chính nghĩa cho cuộc chiến, chúng tôi tìm cách bôi bẩn kẻ thù, ngụy tạo ra những bằng chứng để rồi cuối cùng quần chúng và dư luận thế giới đứng về phía chúng tôi. Khi đó chúng tôi nắm ngọn cờ đại nghĩa “thế thiên hành đạo”. Chúng tôi có thể nhào nặn cuộc bầu cử tổng thống bằng cách ngụy tạo kết quả của những cuộc thăm dò. Ngoài ra, cậu tưởng chúng tôi sống vì lý tưởng hả? Xin thưa chúng tôi chỉ là một cơ sở thương mại. Chúng tôi sống vì tiền. Không có tiền thì lấy đâu trả lương cho tôi và mấy trăm nhân viên? Chúng tôi phải tìm đủ mọi cách để kiếm tiền. Cậu thử nhìn lại xem cuộc bầu cử tổng thống vừa rồi hai ứng cử viên quyên góp được khoảng hai tỉ đô-la. Tiền ấy chạy đi đâu? Thưa ngài nó chạy vào túi các cơ quan truyền thông ạ. Hễ ông nào có nhiều tiền thì “mua” được truyền thông. Truyền thông mạnh thì làm tổng thống. Truyền thông yếu thì thua. Ở nước Mỹ này truyền thông là vua. Truyền thông nắm cả cán cân công lý!

Nghe ông tổng biên tập nói vậy, Đại Nghi choáng váng cả mặt mày. Chàng không ngờ nghề làm truyền thông giống như thằng Mõ của Việt Nam ngày xưa, cầm cái mõ đi quanh làng, gõ lốc cốc để loan báo tin tức mà quyền thế ghê gớm như vậy. Chỉ tội nghiệp người dân bị xỏ mũi từ thế hệ này sang thế hệ khác mà không hề hay biết.

Vừa buồn vừa chán nản, Đại Nghi nói lời từ giã. Bước ra ngoài, chàng lang thang trên đường phố rồi lạc bước tới khu Brooklyn lúc nào không hay. Đây là khu của người Da Đen và đủ loại sắc dân thiểu số Âu, Á, Ấn Độ, Phi Châu, Nam Mỹ nghèo nhất Nữu Ước, nổi tiếng với những khu ổ chuột ghetto. Tại thành phố này, hầu như không một bức tường nào, không một xe vận tải nào mà không bị vẽ bậy (5) làm thành phố trở nên nhơ bẩn và xám xịt. Dường như để tô điểm thêm vẻ độc đáo - là hình ảnh của những người vô gia cư lang thang, ngủ gà ngủ gật trên hè phố, các trạm xe điện ngầm mà chính quyển chỉ báo động nhưng không sao giải quyết được. Năm nay ông thị trưởng thông báo số lượng người vô gia cư tăng thêm 34%. Theo thống kê, tại New York cứ 2688 người dân là có một người vô gia cư. Nhìn các ông bà vô gia cư Da Trắng và Da Đen sát bên nhau hoặc mơ màng nhìn trời nhìn đất hoặc nhìn vào cõi hư vô một cách yên bình và bất cần đời…Đại Nghi chợt ”ngộ” ra rằng có lẽ ở tận cùng đáy địa ngục con người dễ dàng cảm thông với nhau và không còn phân biệt màu da, chủng tộc, thân thế. Rồi trong đầu chàng lóe lên một ý tưởng: Phải chăng chỗ nào không còn “phân biệt” thì chỗ ấy chân lý hiển lộ? Và rõ ràng các ông bà vô gia cư kia còn có gì để “phân biệt” nữa đâu? Vậy thì chân lý phải nằm trong họ chứ? Chẳng lẽ chân lý không có hoặc không đến với những người hiện đang sống thừa bên lề xã hội? Nghĩ được như thế chàng nảy ra ý định làm quen với một người vô gia cư để tìm hiểu chân lý. Thế nhưng đến với các ông bà vô gia cư không phải chuyện dễ. Với hình dáng bình thường như thế này, các ông bà đó tưởng mình là cảnh sát chìm hoặc nhân viên xã hội tới điều tra thì họ bỏ đi hoặc ngậm miệng không nói gì. Do đó cần phải cải trang.

Đã tới giờ ăn trưa, Đại Nghi ghé tiệm McDonald’s mua hai phần ăn, tìm một bãi tập trung rác cũng gần đó. Chàng bới trong mấy thùng và tìm được một chiếc áo áo khoác đã rách nhưng vẫn còn mặc được. Chàng cởi chiếc áo khoác của mình, gói trọn vào một bao ny-lông rồi khoác chiếc áo đó lên người. Mùi hôi của chiếc áo làm chàng buồn nôn. Bới thùng rác thứ hai, Đại Nghi móc ra được một chiếc mũ nhàu nát và đội lên đầu. Nhìn quần áo và mũ đội thì chàng trông có vẻ như một người vô gia cư nhưng còn bộ mặt và đôi bàn tay sạch sẽ như thế kia thì rõ ràng là một ông vô gia cư giả. Thu hết can đảm, chàng thò tay xuống đất, quét mấy đám bụi đường rồi trét lên mặt và mu bàn tay của mình. Một tay ôm chiếc bọc ny-lông, một tay ôm hai phần ăn trưa, chân cố tình đi lảo đảo, miệng nói năng lảm nhảm, Đại Nghi bước dọc theo Fulton Street là con đường chính của thành phố. Đi một đỗi, chàng thấy trên vỉa hè, chỗ có mái hiên thụt vào bên trong của một cao ốc, có lẽ đã bỏ trống vì làm ăn thua lỗ, một ông vô gia cư đang ngồi đó. Ông ta trông giống như một quái nhân thời cổ hay một thị dân nghèo khổ chui rúc ở những khu ổ chuột của thời Âu Châu bắt đầu công cuộc kỹ nghệ hóa. Râu tóc ông ta để dài và vì không tắm gội, chải chuốt cho nên nhuốm màu đất. Vì khuôn mặt bị phủ khuất bởi mái tóc, qua chòm râu xồm, rất khó đoán tuổi của ông ta. Có thể ông ta ở tuổi bốn mươi, năm mươi, sáu mươi hoặc bảy mươi không biết chừng. 
Ông ta ngồi dựa vào bức tường dưới mái hiên, tay trái tựa trên chiếc ba-lô nhơ bẩn. Chiếc ba-lô căng phồng, không biết trong đó chất chứa những gì. Tay phải ông ta đặt lên lưng một con chó vàng. Đại Nghi đứng cách ông ta khoảng năm, sáu bước, quan sát một hồi rồi ngồi xuống. Có lẽ ông già vô gia cư cũng chẳng để ý chi đến sự xuất hiện của Đại Nghi nhưng người chú ý trước tiên lại là con chó. Con chó vàng nằm úp mặt xuống vỉa hè, chiếc mõm của nó dài theo mặt đất, đôi tai nó cúp xuống. Nó giương đôi mắt buồn bã nhìn Đại Nghi rồi giống như chủ, nó lại cúi xuống nhìn lòng đường. Thỉnh thoảng nó lại giương đôi mắt nhìn Đại Nghi như thế nhưng không phản ứng gì. Khuôn mặt của nó rất buồn. Hình như nó hiểu được thân phận của nó. Cũng như chủ, nó không có một mái nhà để chạy nhảy vui chơi, để vẫy đuôi mừng khi chủ nó về, được ăn những món ăn ngon mà chủ nó mua từ những siêu thị. Nó chỉ là một con chó vô gia cư. Một con chó vô gia cư cũng biết buồn và biết tủi thân. Ngồi như thế khoảng dăm ba phút, Đại Nghi mạnh dạn nhích lại gần, chỉ còn cách ông ta khoảng một thước. Tới đây thì Đại Nghi phân vân không biết phải khởi đầu như thế nào. Ngôn ngữ của giới vô gia cư chắc chắn phải khác ngôn ngữ của người bình thường, thô tục, gắt gỏng, cộc lốc hay thế nào đó… chàng hoàn toàn không rõ. Cuối cùng thì Đại Nghi chìa cái hộp đựng đồ ăn về phía người đàn ông rồi lựa chọn một cách nói có vẻ như của kẻ vô gia cư:
-Ăn không?
Lão già mắt vẫn nhắm nghiền, ngồi bất động, không nói một lời. Lặng ngắm lão già, Đại Nghi nói tiếp với giọng kẻ cả hơn:
-Này, có ăn không thì bảo?

Giây lát sau, lão già từ từ mở mắt, nhìn Đại Nghi không nói gì, rồi chìa tay trái đỡ lấy hộp đồ ăn. Lão cẩn thận mở hộp ra, bẻ phân nửa chiếc Big Mac cho con chó. Còn lão thì ăn phân nửa còn lại và khoai tây chiên. Con chó được chủ cho ăn, nó mừng rỡ nhỏm dậy. Trong khi nhai, thỉnh thoảng nó ngước mắt nhìn Đại Nghi. Lão già ăn rất từ tốn như không có vẻ đói lắm và cũng chẳng thèm đưa mắt nhìn hay nói năng gì với Đại Nghi. Lúc này Đại Nghi có cơ hội ngắm lão. Khuôn mặt lão xương xương chứ không bì bì như những dân vô gia cư nghiện rượu và tỏa ra một cái gì đó thanh thoát, hiểu biết. Ăn xong lão lấy mấy tờ giấy napkin (5) có sẵn trong chiếc hộp, chùi miệng rồi lấy tay vỗ về con chó. Giây lát sau lão cất tiếng:
-Tại sao cho đồ ăn?
Đại Nghi vội vã đáp:
-Vì thấy đằng ấy dễ thương.
-Dễ thương sao được? Một thằng homeless (6) lang thang trên đường phố thì có gì dễ thương đâu? Nói dóc!
Để chiều lòng lão già, Đại Nghi nịnh tiếp:
-Đằng ấy trông có vẻ hiền!
Lão già lại đốp chát:
-Mẹ kiếp! Một thằng vô gia cư không hiền thì dữ với ai?

Nghe lão già nói thế Đại Nghi bí và không biết nói thêm gì nữa. Nhưng may mắn làm sao, giây phút sau lão nói:
-Tại sao mày lại lang thang như tao?
Đại Nghi bịa chuyện:
-Tớ bị vợ đá ra khỏi cửa!
Nghe trả lời thế lão già phá lên cười nhưng tiếng cười vụt tắt rất nhanh. Lão gục đầu xuống một hồi rồi ngửng đầu lên, giọng nghẹn ngào:
-Tao cũng bị vợ đá như mày.
Tới đây thì dường như hố ngăn cách giữa hai người không còn nữa. Đại Nghi thành thực nói:
-Ông kể cho nghe được không?
Bằng giọng vừa mỉa mai, bi thương vừa khôi hài, lão nói như trong cơn mơ:
-Tao là quản lý cho một công ty, lương trăm ngàn một năm. Tao lấy một con vợ mặt mũi cũng khá xinh xắn. Cuộc sống của tao là niềm mơ ước của khá nhiều người. Con vợ tao nói nó yêu tao, nhưng không hiểu sao, có thể do Trời sinh, tính tình nó rất quái dị. Tao làm cái gì nó cũng nói sai, nó làm cái gì cũng đúng. Tao nói cái gì cũng sai, nó nói cái gì cũng đúng. Tao mua cái gì nó cũng chê đắt, nó mua cái gì cũng OK. Quan điểm, sở thích của nó về mọi vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội…đều đúng, còn của tao đều bậy. Tao cố nhịn nhục cho yên cửa yên nhà nhưng cuối cùng sức người có hạn, tức quá tao xáng nó một bạt tai. Thế là nó gọi cảnh sát đến còng tay tao rồi nạp đơn xin ly dị.Cuối cùng tao bước ra khỏi nhà với hai bàn tay trắng. Vì chán ngán, vì hận đời tao tìm lãng quên qua những chai rượu và lang thang trên vỉa hè như thế này đây.

Tới đây, lão già ngưng lại rồi nói tiếp với giọng như muốn khóc:
-Cho mày hay. Đàn bà là Ông Trời! Cãi nó là chết. Nhớ nghe con. Đàn bà là chân lý. Đừng bao giờ cãi lại đàn bà nghe con!
Nghe lão già nói thế, Đại Nghi thất kinh hồn vía. Là người chưa có vợ, chỉ bồ bịch đi chơi, ăn uống, chiều đãi nhau qua lại, Đại Nghi chưa biết sức mạnh của người vợ, người đàn bà. Nay nghe lão già nói “đàn bà là chân lý” chàng chán nản vô cùng. Sau khi đối đáp một vài lời vu vơ, từ giã lão già, chàng tiếp tục lang thang trên hè phố, đầu óc suy nghĩ miên man và rối mù. Cuối cùng chàng suy luận rằng có thể có hai loại chân lý: Chân lý giữa cuộc đời đầy tương tranh đố kỵ, tỵ hiềm này và một thứ chân lý khác vượt lên trên tất cả. Mà vượt lên trên tất cả những thứ ô trược này chỉ có tôn giáo mà thôi. Nghĩ được như thế chàng quyết định mua vé máy bay qua Rome.

Do sự giới thiệu của một vị linh mục, chàng được gặp một Đức Ông quyền cao chức trọng nay đã về hưu đang sống trong viện dưỡng lão của giáo hội. Vì đã về hưu, tối ngày rảnh rỗi, chăm lo cầu nguyện cho nên Đức Ông vui vẻ tiếp chuyện chàng tuổi trẻ. Đức Ông nhẹ nhàng hỏi:
-Con gặp ta có chuyện chi?
-Dạ thưa Đức Ông, con muốn biết trên cõi đời này chân lý có thật không và chân lý nằm ở đâu? Có thể nào chân lý thuộc về đàn bà không?
Chàng vừa nói dứt lời, mở to mắt vì ngạc nhiên, vị Đức Ông nói:
-Sao con lại hỏi thế? Đàn bà tạo ra từ cái xương sườn của đàn ông. Nếu nắm giữ chân lý thì phải là đàn ông chứ sao là đàn bà.
-Thế nhưng ông già vô gia cư nói…
-Cái thằng cha đó nó uất ức nên nói bậy đó. Chân lý nằm ở Thượng Đế. Thượng Đế là chân lý. Thượng Đế sáng tạo ra chân lý. Không có chuyện gì qua khỏi bàn tay của Thượng Đế cả.
-Nhưng…

Đại Nghi ngắt lời vị Đức Ông và định nói thêm về những thứ chân lý mà quý ông chủ tịch hội đồng quản trị hãng chế tạo vũ khí, ông tỷ phú, ông tổng biên tập tổ hợp truyền thông, ông cựu tổng thư ký Liên Hiệp Quốc vừa “dạy bảo” chàng. Nhưng Đức Ông đã chặn ngay:
-Không “nhưng nhị” gì cả. Con cứ về đọc lại Thánh Kinh và cầu nguyện. Cầu nguyện và tin tưởng vào Thượng Đế con sẽ thấy đâu là chân lý.

Đại Nghi hiểu rằng đối với các bậc tu hành trọng vọng như thế này, điều tốt nhất là vâng lời, không nên tranh luận, cãi vã. Chàng mau mắn vái chào vị Đức Ông, nói lời cảm tạ rồi sau đó đáp máy bay đi Mecca xin diện kiến một giáo sĩ Hồi Giáo. Vị này dành cả cuộc đời để nghiên cứu về Kinh Koran đang là giảng sư của một trường giảng dạy Thánh Kinh cho các giáo sĩ trẻ. Thấy chàng là người gốc Á Châu từ Mỹ tới, vị giáo sĩ vui vẻ tiếp chuyện. Sau khi lắng nghe nguyện vọng của người tuổi trẻ, vị giáo sĩ nghiêm trang nói:
-“No God but Alah”. Không có Thượng Đế gì cả. Chỉ có Đấng Allah! Thánh Kinh Koran là lời của Đấng Allah. Đó là chân lý. Không có một thứ chân lý nào khác ngoài Kinh Koran.

Nghe trưởng lão nói thế, cũng giống như lần gặp vị Đức Ông trước đây, chàng kính cần vái chào, nói lời cảm tạ rồi từ giã. Lang thang ở Thánh Địa Mecca một ngày, đầu óc rối bời bởi những gì vị Đức Ông và Giáo Trưởng nói, chàng quyết định đáp máy bay tới Thành Phố Allahabad bên bờ Sông Hằng để tìm gặp các vị Lạt Ma Tây Tạng đang sống lưu vong ở bắc Ấn Độ.

Vào mùa này, khoảng 10 triệu dân Ấn Độ đang quy tụ dọc theo Sông Hằng - con sông linh thiêng - để tắm gội hầu rửa sạch tội lỗi. Nhìn cả rừng người, đông như kiến cỏ, quần áo có, trần truồng có, lao xuống dòng sông với vẻ mặt hân hoan, thánh thiện, Đại Nghi tự hỏi không biết dòng sông này có khả năng gì để rửa những tội mà con người phạm phải như trộm cướp, hiếp dâm, chuyển vận xì ke ma túy, buôn bán nô lệ, tội ác chiến tranh, tội diệt chủng, hủy diệt văn hóa và dân bản địa v.v…Cho dù có rửa được đi nữa thì sử sách nhân loại vẫn còn ghi, làm sao tẩy xóa được? Tại đây có khá đông người dân Tây Tạng cùng các vị Lạt Ma vượt thoát chế độ áp bức của Hoa Lục sinh sống như những người tỵ nạn. Sau khi dò hỏi dân địa phương, chàng được tiếp xúc với một vị Lạt Ma. Sau khi nghe xong khát vọng của người tuổi trẻ, vị Lạt Ma không nói gì mà pha một bình trà. Sau tuần trà đầu, dường như thấy sự im lặng đã vừa đủ để những cảm xúc nồng nàn của Hoài Nghi lắng xuống, vị Lạt Ma nhẹ nhàng hỏi:
-Con muốn tìm hiểu về chân lý hả?
-Dạ.
-Này ta hỏi con, trước khi loài người xuất hiện ở thế gian này, chân lý có không?
-Dạ không có.
Vị Lạt Ma hỏi tiếp:
-Thế sau khi con người biến mất trên cõi đời này, chân lý còn không?
-Dạ, chân lý cũng chết theo.
Vị Lạt Ma nói tiếp:
-Vậy thì chân lý không phải là một chủ thể độc lập có tự tánh mà nó cộng sinh với con người, nó từ cuộc sống này đi lên, nó tùy thuộc vào con người và biến đổi theo tham-dục của con người.

Chậm rãi châm tuần trà thứ hai, đợi cho chàng tuổi trẻ uống xong, vị Lạt Ma nói:
-Con người có thể đạt tới trình độ hiểu biết ngang nhau nhưng khát vọng và tham-dục của con người thì không bao giờ giống nhau. Người ta có thể đồng ý với nhau rằng một kẻ nào đó giết người nhưng tìm cách đối phó với kẻ sát nhân thì hoàn toàn khác biệt. Kẻ thì phong thánh, gắn huy chương, kẻ thì lên án đòi tử hình, kẻ bài bác án tử hình đòi đối xử nhân đạo. Hiện nay kẻ nắm giữ chân lý của loài người chính là kẻ nắm được số đông hoặc sức mạnh quân sự, tài chính hoặc truyền thông. Thế nhưng thế giới không phải cứ như thế mãi. Khi số đông suy giảm hay một siêu cường thứ hai, thứ ba xuất hiện, chân lý cũng sẽ khác đi, loài người lúc đó sẽ sống trong một trật tự mới. Đôi khi chân lý là tương quan lực lượng mà kẻ yếu hoặc thiểu số thường cam chịu.

Nghe vị Lạt Ma nói thế, Hoài Nghi hỏi:
-Thưa Lạt Ma, như vậy con phải quan niệm chân lý như thế nào?
Vị Lạt Ma hiền từ đáp:
-Nhìn trăng đáy nước. Khi nào con nhìn chân lý như nhìn mặt trăng đáy nước thì tâm địa bình ổn và không còn thắc mắc gì nữa. Lát nữa đây, khi con từ giã ta, đến một nơi nào khác, lại có một sự biện giải khác về chân lý. Nhưng tất cả đều như trăng đáy nước mà thôi. Chân lý nằm ở tất cả mọi nơi, đầy khắp vũ trụ và nó không thuộc về ai cả. Người nắm giữ chân lý cũng giống như người giữ nắm cát trong tay. Đôi khi kẻ khăng khăng giữ chân lý, không cho ai chia xẻ một chút chân lý khác…lại là kẻ làm khổ người ta không biết chừng.

Nghe vị Lạt Ma nói thế chàng ngạc nhiên, hỏi:
-Là giáo chủ của một tôn giáo vĩ đại mà Đức Phật không nắm giữ chân lý, cũng như không tạo ra một thứ chân lý cho riêng tôn giáo của mình sao?
-Đúng vậy. Đức Phật không sáng tạo ra chân lý và cũng không nắm giữ chân lý. Lời dạy của Đức Phật chỉ có mục đích giúp chúng sinh vơi bớt khổ giống như ông bác sĩ chữa bệnh. Ông bác sĩ không tạo ra bệnh cũng như không nắm giữ bệnh. Lời biện giải về chân lý nếu có của Phật cũng giống như lời ông bác sĩ giải thích cho con bệnh biết nguyên do của bệnh và phương pháp chữa lành bệnh mà thôi.

Nghe vị Lạt Ma nói thế, Đại Nghi không hỏi thêm gì nữa. Chàng khẽ nhắm mắt lại rồi mở mắt ra rồi chợt thấy nhẹ nhõm trong người. Chàng nói lời cảm tạ rồi bước ra ngoài.

Giờ đây dọc theo bờ Sông Hằng đoàn người đông như kiến cỏ vẫn đang cuồng nhiệt lao xuống dòng sông tắm gội với vẻ hân hoan, thành kính lạ thường. Nhưng khác với khoảnh khắc trước đây, tâm địa chàng trở nên bình ổn, không còn thắc mắc, không còn hoài nghi, tra vấn về chân lý nữa. Dường như tất cả những gì đang diễn ra trước mắt chàng đều “như thị và như thị” và “như trăng đáy nước”. Chàng đưa tay vẫy tay chào đoàn người đông như kiến cỏ đó rồi lặng lẽ bước đi. Ngày mai đây chàng sẽ đáp máy bay về Mỹ và sống một cuộc đời rất bình thường và không còn hoài nghi về bất cứ chuyện gì trên cõi đời này.

Đào Văn Bình
(Trích Phong Thái Thiền sắp xuất bản)
(1) Lừa đảo: Mới đây tại Hoa Kỳ, Quỹ Ung Thư Mỹ (Cancer Fund of America), dịch vụ hỗ trợ ung
Đào Văn Bình
(Trích Kinh Hạnh Phúc Của Tôi sắp xuất bản)
(1) Lừa đảo: Mới đây tại Hoa Kỳ, Quỹ Ung Thư Mỹ (Cancer Fund of America), dịch vụ hỗ trợ ung thư (Cancer Support Services) và người đứng đầu hai tổ chức này – James Reynolds đã lừa đảo các nhà hảo tâm lấy tiền giúp đỡ người bệnh ung thư.
(2) Tán gẫu trên diễn đàn
(3)Khu thương mại, kịch nghệ, giải trí lớn nhất nước Mỹ nằm ở ngã tư Broadway và đường Seventh St. và được coi như ”Giao Lộ Của Thế Giới “ (The Crossroads of the World)
(4) Cảnh sát trưởng Mỹ trong các phim Cao Bồi.
(5) Graffiti : Nạn vẽ bậy lên tường, cửa hiệu, xe cộ đang là thảm họa của các nước văn minh kể cả Việt Nam.
(6) Khăn ăn bằng giấy.

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2026

Công Dụng Mới Của Vitamin D3. Quan Trọng Cho Mọi Lứa Tuổi - Bác Sĩ Phạm Hiếu Liêm

Bác Sĩ Phạm Hiếu Liêm

Rung Lại Những Tàn Phai…!

 

Thật tình cờ, cho ta lại gặp nhau
Ơi, tình đầu của nhiều năm, rất cũ.
Như tờ thư úa vàng nằm ũ rũ
Vẫn còn trong ngăn nhớ, trái tim đau!

Hạnh phúc tàn cơn mưa tạnh đã lâu
Từ những đêm trăng vỡ lạc đời nhau
Vẫn tên người và bài ca năm ấy.
Sao bỗng về khơi tro lạnh, ngùi bay!

Như chưa từng có lần nói chia tay
Tình ngỡ vơi chiều nay bỗng lại đầy
Men rượu nào làm hồn ta say khướt
Hạt bụi nào làm mi mắt nồng cay!

Người bỗng về theo mùa nhuốm heo may
Chút hương thầm xin là gió cứ bay
Theo áng mây về cuối trời xa thẳm
Đừng cho lòng rung lại những tàn phai…!

Tưởng Dung
(Tháng 11, 2021)

Phượng - Bùi Giáng



Lạc về đầu rú khe truông
Vốc năm ngón nhỏ gieo buồn rã riêng
Tuổi xanh nhiếp dẫn sai miền
Đổ xiêu phấn bướm phi tuyền vọng âm
Tuần trăng quảy gánh thương ngầm
Cõi bờ phôi dựng gió nhầm tin hoa
Em về rắc cỏ tháng ba
Xuống trang hồng hạnh thu già in rêu
Sườn non bốn vó ngựa trèo
Sông mờ bóng phượng ai chèo thuyền nan

Bùi Giáng
Kim Phượng Sưu Tầm

Trúng Số

 

Trong chuyến đi Texas thăm gia đình, một buổi tối, vợ chồng tôi lái xe đi vòng quanh thành phố Arlington, ghé vào đổ xăng ở cây xăng bên đường, chồng tôi reo lên:
- Ôi kỳ này Mega Powerball và Mega Millions trúng gần 1 tỷ đô la em ơi!
Tôi hăng hái:
- Vào mua đi anh, mua 2 tờ nha.
Chẳng nghe lời tôi nói, chàng bước vào xe, cười cười:
- Nói vui vậy thôi, mua vé số có bao giờ trúng đâu, vả lại …
Tôi cướp lời:
- Anh lại sắp nói, tỷ lệ trúng số độc đắc ít hơn tỷ lệ người bị sét đánh chớ gì! Nếu ai cũng nghĩ như anh thì còn ai mua vé ủng hộ đất nước …Mỹ. Còn vụ bị sét đánh, hiếm hoi vậy mà xóm em hồi bên Việt Nam có tới …2 vụ bị sét đánh chết đấy. Một bác đi ra ruộng rau muống gặp chiều mưa xối xả, sét đánh chết ngay tại chỗ, còn anh chàng kia leo lên mái nhà lợp tôn, sấm chớp ầm ầm, chưa kịp leo xuống là tiêu luôn đó, mà cái xóm thì nhỏ xíu, anh thấy chưa! Cái gì cũng có thể xảy ra, thôi anh vào mua hai vé đi, ngày mai sổ rồi, bỏ ra vài đồng mà mua được… niềm hy vọng cả đêm nay, cũng xứng đáng mà.

Mua vé số xong, tiếp tục lái xe dạo phố một hồi, chúng tôi trở về nhà anh chị thứ Tư, nơi luôn để sẵn hai phòng mỗi khi vợ chồng con cái qua đây chơi. Tôi đánh răng rửa mặt xong lên giường mở iphone xem mails và tin tức, chồng tôi ngồi nơi bàn computer ngay góc phòng, có lẽ vì hai ly cafe Starbucks nên chúng tôi chưa buồn ngủ, tôi bắt chuyện cho có đề tài:
- Anh ký tên vào hai tờ vé số chưa? Kẻo ngày mai trúng lại rối rít.
Chồng cười lớn:
- Trời ơi, nghĩ đến chuyện có cả tỷ đô trong tay mà chẳng biết sẽ ra sao!
- Ừa! Ở chỗ em làm, cô bạn làm chung thỉnh thoảng rủ mua vé số, cổ nói thật lòng, Loan ơi, tui chỉ mong trúng vài trăm ngàn có tiền trả xong tiền nhà tiền xe, chớ nếu trúng bạc triệu thì thực tình tui hổng biết phải xài như thế nào, sẽ sắp xếp chi tiêu ra sao, phức tạp quá!
- Sao bạn em ngây thơ nhỉ, người ta thì mong trúng nhiều trúng lớn, chứ ai mong trúng vài trăm ngàn, chắc cô ấy không chịu tìm tòi, lên googles hỏi những lời khuyên, cách hành xử khi trúng độc đắc.
- Ủa, có vụ đó nữa hả anh?
- Có chớ, anh đang xem nè, em ra đây xem cho biết …
- Té ra nãy giờ chồng em lo tìm hiểu để phòng hờ …ngày mai lỡ trúng độc đắc hả? Thôi anh cứ đọc cho em nghe.
- Đây, lời khuyên đầu tiên là: Bình tĩnh- im lặng- hít thở thật sâu …
- Đúng thế, bỗng dưng có gần tỷ đô, không “sốc” mới lạ!
- Tiếp theo nè: Không chia sẻ tin vui cho bất cứ ai, ngoại trừ vài người thân thiết trong gia đình, và phải dặn họ giữ bí mật.
- Cái này cũng đúng luôn nha, chớ vội đi khoe tùm lum, dễ bị… hứng sảng. Anh còn nhớ ngay thành phố mình ở cách đây chục năm, gia đình kia trúng mấy chục triệu, rồi tụ tập bạn bè cà phê ăn uống, vì họ là người Huế, nên đã tuyên bố tặng cho mỗi gia đình Huế trong cộng đồng 5 ngàn xài chơi. Nhưng sau đó, chờ hoài chẳng ai nhận được đồng nào, còn chủ nhân thì biến mất tăm.
- Còn đây là lời khuyên rất quan trọng, sau khi bình tĩnh, giữ bí mật xong, liên lạc ngay một luật sư và cố vấn tài chính …
- À, cái vụ này làm em nhớ mới năm ngoái thôi, cũng nơi thành phố mình đó, có ông trúng vài triệu, không biết luật sư hay “quân sư” cố vấn thế nào, (ổng đã ly dị một đời vợ), liền hủy bỏ việc bảo lãnh vợ trẻ mới cưới từ Việt Nam, sau đó ổng cũng biến mất, cô vợ phải viết thư qua cộng đồng bên đây cầu cứu, tìm “chồng thất lạc” vì cổ mới sinh đứa con, vui phết!
- Em bớt tào lao chuyện thiên hạ, tập trung mà nghe tiếp chuyện quan trọng đây: sở dĩ cần luật sư vì mình là người Canada trúng số bên Mỹ nên có nhiều thủ tục dài dòng nhiêu khê. Họ sẽ giúp mình quyết định cách lãnh tiền, đóng thuế, rồi gặp gỡ báo chí truyền thông, chắc chắn sẽ có chuyện đóng góp từ thiện nữa đấy.
- Em đồng ý! Đầu tiên mình sẽ góp từ thiện cho nước Mỹ là nơi mình mua vé, tiếp theo là góp tiền cho đất nước Canada của chúng ta, và cũng sẽ giúp người nghèo khó bệnh tật ở quê nhà nữa nhe. Ngày nào xem trên facebook cũng thấy cảnh tượng người bệnh và người nhà nằm la liệt ngoài hành lang bệnh viện, chầu chực xin cơm từ thiện mà đau lòng. Mà chắc chắn chúng ta sẽ không gửi tiền qua “Mặt Chặn” Tổ Quốc, em sẽ nhờ mấy đứa bạn thân đến tận nơi trao tiền trao quà tận tay cho từng người! À còn nữa, nhóm từ thiện “Bàn Tay Nhân Ái” lớp “Bính Ngọ 1966” của em sẽ rất sung sướng khi được một món tiền lớn, tha hồ nuôi các em nhỏ bị ung thư … Mà ủa, chưa trúng số mà bàn bạc toàn chuyện trên trời dưới đất xa vời, còn những lời khuyên nào nữa không anh, để ngày mai đọc tiếp, giờ em đi ngủ đây anh ơi!
- Thì em đã bảo bỏ ra vài đồng để được … hy vọng và mộng mơ, dù chỉ là một đêm thôi mà.

Ngày hôm sau chúng tôi thức dậy khá muộn, đi ăn uống với mấy anh chị em trong nhà, sau đó kéo nhau đi thăm ông chú đang bệnh, cũng hết một ngày. Chiều tối, hai vợ chồng mới rảnh rỗi vào phòng riêng, tôi chợt nhớ ra giấc mộng “trúng số” liền hỏi chồng:
- Anh đã dò vé số chưa?
Chàng bình tĩnh mỉm cười:
- Rồi! Có tin vui cho em.
Tôi nghi ngờ:
- Mình trúng hả, bao nhiêu?
- Trúng gì mà trúng, chẳng ai trúng độc đắc cả, cho nên tin vui cho em là, nếu tiếp tục mua vé, thì lần tới giải độc đắc tăng lên 1 tỷ 2, em nghe rõ chưa!
- Vô duyên! Đùa chẳng vui tí nào.
Tôi đi vào phòng tắm, hơn nửa tiếng sau bước ra thấy chàng vẫn dán mắt vào computer, chàng quay qua nhìn tôi:
- Bây giờ có một tin vui cho em nữa nè.
- Thôi! Em không đùa nữa đâu, em đi đọc sách đây.
- Anh nói nghiêm túc đó, có tin vui, anh Sơn mới nhắn tin …

Anh Sơn là anh họ của chồng tôi, là “handyman” chuyên nghiệp, giúp vợ chồng tôi trong việc sửa chữa căn nhà cho mướn khi có yêu cầu, và khi chúng tôi đi chơi xa, anh Sơn là người đại diện giải quyết những vấn đề liên quan với người mướn nhà .
Căn nhà cho mướn hơn chục năm, chúng tôi luôn kỹ lưỡng khi chọn cho người thuê, tuy vậy, cũng có người tốt không gây phiền hà, cũng có người khó tính, bất cứ chuyện vặt nào cũng kêu réo, và mới đây, chuyện xảy ra không lường trước được đang làm chúng tôi ăn không ngon ngủ không yên.
Lúc ấy, hai người da màu Nam Mỹ đến xem nhà, chàng tên Tom cỡ hơn tuổi 30, nàng là Linda cũng gần 30 đang mang bầu vài tháng, tôi nói với họ:
- Căn nhà này gồm tầng trệt và một tầng lầu, cộng thêm basement, là có 4 phòng ngủ, 4 phòng tắm, có quá rộng không với hai người và một baby tương lai ?
Tom giải bày:
- Tôi có người bạn thân sẽ đến ở dưới basement, chúng tôi 3 người sẽ cùng ký tên hợp đồng mướn nhà, và tôi có đứa …con riêng với vợ cũ, cháu gái 5 tuổi, mỗi cuối tuần chúng tôi đón cháu về nhà. Đó là lý do tôi chọn nhà này, hơn nữa, rất gần chỗ Linda làm nơi viện dưỡng lão đầu ngã tư …

Nghe “thành phần hộ khẩu” sẽ vào ở nhà khá lộn xộn, không “hợp nhất”, vợ chồng tôi không ưng ý lắm, nhưng ngày hôm sau, Tom mang bạn đến, với đầy đủ giấy tờ, paycheques mới nhất, lời giới thiệu của “sếp” chỗ làm và lời khẩn cầu mong muốn thuê căn nhà, khiến chúng tôi siêu lòng . Vả lại, mùa đông đang đến, sẽ khó có người tìm thuê khi thời tiết khắc nghiệt, thế là chúng tôi đồng ý, chỉ ký hợp đồng một năm, rồi sau đó tính tiếp.

Sau sáu tháng đầu êm đẹp, Tom thông báo thằng bạn thân đã bị thất nghiệp, dọn ra khỏi nhà, nên trong hợp đồng thuê chỉ còn hai người. Tôi bắt đầu lo lắng, Linda làm part-time, nay mai sinh đẻ, còn một mình Tom sao gánh nổi tiền thuê mỗi tháng?

Vài tháng sau đó là chậm trễ trả tiền, chúng tôi phải nhắc nhở, cho đến khi gần hết hạn hợp đồng thì nhắn tin gọi phone đều không được, hai vợ chồng tôi tìm đến tận nhà . Linda mở cửa, ôm đứa con vài tháng tuổi trên tay, khóc nức nở:
- Tụi tui chia tay rồi, Tom đã bỏ đi, nhà cửa trống trơn …
- Trời!
Linda lại khóc nấc:
- Tui chỉ có 1 mình ở đây, không có bà con họ hàng, cũng chẳng biết đi đâu, xin anh chị mở lòng từ bi cho tui tiếp tục ở đây một thời gian.

Đây là lần đầu chúng tôi gặp rắc rối kiểu này, chẳng biết phải làm sao, nhưng nghe nói luật của chính phủ không cho phép chủ nhà đuổi người thuê nhà khi họ “bơ vơ”, và chính lương tâm của chúng tôi nữa, ai nỡ đuổi một bà mẹ trẻ và đứa bé còn ẵm ngửa ra khỏi nhà? Nhưng “một thời gian” là bao lâu? Một vài tháng, hay là …cả năm!? Tôi rầu rĩ, chồng trấn an:
- Chắc không lâu đâu em, vì Linda không trả tiền nhà thì không sao, nhưng tiền điện nước mà trễ nải là bị cúp ngay!

Từ đó, cứ vài ngày, tôi, hoặc chồng, hoặc anh Sơn, thỉnh thoảng tạt ngang nhà. Có khi bấm chuông chờ mãi cũng không thấy Linda mở cửa, và khi hiếm hoi Linda xuất hiện thì đầu bù tóc rối thảm hại. Tôi lại rầu rĩ:
- Em sợ có ngày Linda quẫn trí làm điều dại dột ngay trong nhà mình thì xui lắm.
Bởi vậy, trước khi bay qua Texas chơi, chúng tôi vẫn nhờ anh Sơn, không phải để mắt đến căn nhà (vì nó vẫn còn đấy), mà để mắt đến mẹ con Linda, dù sao cũng tội nghiệp cô ấy.
Nay nghe chồng nói anh Sơn nhắn tin, tôi hy vọng đợi chờ:
- Anh Sơn nhắn gì hả anh?
- Anh đã nói có tin vui cho em mà. Sáng nay anh Sơn đi qua nhà, thấy chiếc xe tải trước cửa, anh Sơn vào hỏi, Linda vui vẻ cho biết, hai bà chị từ Toronto bay qua phụ Linda dọn qua một apartment vì đã được chính phủ trợ cấp Welfare cho hai mẹ con…
- Vậy thì tốt quá, mà Linda có trả tiền nhà ba tháng qua không?
- Cô ấy có hứa sẽ trả khi có tiền, có lẽ chỉ là hứa cho qua, mà thôi, trừ tiền đặt cọc một tháng lúc mới thuê, mình chỉ mất hai tháng, coi như giúp Linda vậy.
- Nhưng còn tiền dọn dẹp?
- Anh Sơn nói, có mấy đứa cháu của Linda cùng dọn nhà cửa, đồ đạc cũng không nhiều, nên mọi thứ cũng tạm ok, anh Sơn sẽ cho người đến lau dọn chút xíu là chúng ta có thể đăng tin “For Rent” được rồi.
Tôi thở phào, nhẹ nhõm:
- Cũng xong! Mong cho Linda mau tìm lại được niềm vui và bình an để nuôi con, cô ấy còn trẻ, tương lai còn nhiều điều tốt đẹp.
Chồng nhìn tôi:
- Vậy khỏi mua vé số trúng 1 tỷ 2 nữa hen?
Tôi chưa hiểu ý chàng, thì chàng tiếp:
- Em đã từng tuyên bố, ngày Linda dọn ra khỏi nhà là ngày em mừng hơn …trúng số, nhớ chưa?
Tôi hiểu ra, gật gù:
- Ừ nhỉ! Mừng hơn … trúng số!

Edmonton, Mar. 2026
Kim Loan

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2026

Lở Chuyến Đò Ngang

 

Anh đứng đây bên bờ sông Mỹ Thuận
Nhìn ghe tàu xuôi ngược Cửu Long Giang
Nhớ bao lần lỗi hẹn em hờn giận!
Chẳng nói rằng, mắt đẹp buồn man man

Bến đò xưa... kế vườn cây liếp rẫy
Dòng sông dài ngăn hai tỉnh liền nhau
Nắng chiều buông lơi trên bờ lau sậy
Tiếng rì rào theo gió vút lên cao...

Chúng mình thân thuở tuổi xanh mộng đẹp
Mỗi sáng sang sông chung một chuyến đò
Học cùng lớp chung trường Tống Phước Hiệp
Bên kia sông là vùng đất Mỹ Tho

Chuyến đò ngang vẫn đông đầy hành khách
Em hôm nào cũng dành chỗ anh ngồi
Cậu học trò xưa biếng lười đáng trách
Vẫn thường ngày hay lỡ chuyến đò xuôi

Xong phần hai, anh chọn nghề lính chiến
Ngày tiễn đưa mắt em rưng lệ sầu...
Anh chợt nghe tâm hồn mình xao xuyến
Có vạn lời, không biết nói từ đâu

Và cứ thế, thư ngọt lời lưu luyến
Để cho em quay quắt nỗi chờ mong
Anh lận đận trên bước đường chinh chiến
Hồn rụng rơi khi nhận cánh thiệp hồng!

Con chim khách bay vụt qua ríu rít
Mừng kẻ về, hay thầm trách người xưa?
Hàng quán đây nhiều ổi, xoài, điều, mít...
Giờ còn chi... chiều phai phái nắng mưa

Cảnh quen thuộc sao tâm tư hụt hẫng
Thuở hồn nhiên bỗng nhớ lại trong lòng
Cây trứng cá cuối sân, ôi thờ thẩn!
Trường mới xây, em tưới nước, anh trồng

Mắt già băn khoăn, giọng buồn ông kể:
“...Anh lính ơi, gian khổ vạn muôn lần...
Những buổi chiều vàng trời nghiêng bóng xế
Nhớ chuyện ngày xưa, anh có bâng khuâng?

Nay cố quốc đà tang thương dâu bể...
Mấy mươi năm qua ai mất ai còn...
Nỗi thống hận đổi đời làm sao kể
Có bao người giữ được tấm lòng son!”

Thuở thanh xuân chuyến đò ngang đà lỡ
Giặc tràn vào anh cũng chẳng có chi
Dầu giải chông gai để rồi tan vỡ...
Thẹn với núi rừng, thẹn với chinh y...

Nhưng nếu kiếp lai sinh còn duyên nợ
Vẫn nguyện cầu làm dân tốt miền Nam
Đạo đức, nghĩa nhân... dù đời đau khổ
Kiên quyết, bền tâm trước chuyện đá, vàng

Hoàng hôn xuống nơi bến đò năm trước
Lòng bồi hồi thương nhớ thuở học trò
Chiếc đò ngang vẫn đông đầy xuôi ngược
Trên bến sông vẫn có kẻ lỡ đò!

Dư Thị Diễm Buồn

Ý Nghĩa "Vô Ưu"


Ưu đúng nghĩa là Ưu phiền.

Vô Ưu là không ưu phiền vì bất cứ điều gì.

Đây là một điểm rất tế nhị và cũng rất dễ bị hiểu lầm. Do đó một số vị Chân Tu, thấu hiểu Phật Đạo đã giảng giải và nhấn mạnh nhiều lần trong các Pháp Thoại.

Có 2 loại Vô Ưu:

- Vô Ưu của tâm Si
- Vô Ưu của tâm có Trí Tuệ.

Vô Ưu của tâm Si là Vô Cảm:

Vô Cảm nên không vui cũng chẳng buồn, không biết Tham cũng không Sân, không có cảm xúc nào cả với niềm vui, nỗi khổ của mình và của người. Đó chính là Vô Ưu của người bị Alzheimer nặng, hay của một trẻ sinh ra đời với thiểu năng trí tuệ, hay cerebral palsy, Liệt Não: ngây ngô, không có nhận thức, không suy nghĩ, không xúc cảm tức không có phản ứng của Tâm. Bị chửi cũng không buồn ( Vô Ưu !), vì có biết gì đâu mà buồn, được khen cũng chẳng vui, cho gì ăn nấy không than phiền, cũng không cám ơn, vì có biết gì đâu.

Đó là điều đáng nói, mà các vị Chân Tu, thấu hiểu Đạo luôn giảng giải và nhắc nhở.
Vì có nhiều người Tu lại có khuynh hướng Tu theo hướng này : trở thành Vô Cảm. Họ bịt tai, bịt mắt, không suy nghĩ gì cả, cố gắng diệt cảm xúc, không phản ứng gì với ngoại cảnh.

Vô Ưu của Tâm có Trí Tuệ:

Vô Ưu này mới chính là kết quả của Tu đúng cách.

Họ biết thế nào là Khổ, thế nào là Lạc, thế nào là Vui ( Hỉ) thế nào là Buồn (Ưu), thế nào là Tham, thế nào là Sân, qua kinh nghiệm trực tiếp của bản thân. Họ có suy nghĩ đúng và thấy ra Sự Thật rằng Tham thì sẽ Khổ Tâm, Ưu Phiền, Sân thì có Khổ Tâm, Ưu Phiền cùng sinh khởi. Vì thấu hiểu Sự Thật đó mà họ không Tham, không Sân, do đó họ không Ưu Phiền: Vô Ưu.

Họ không Tham, nên họ dễ Bố Thí.
Họ không Sân nên họ có tâm Từ.
Họ có cảm xúc nên họ có tâm Bi.

Họ thấy được ai cũng Khổ nên họ phản ứng bằng việc thực hiện Từ Bi một cách bình đẳng với tất cả mọi người, không kỳ thị, without xenophobic discrimination. Nếu họ là Y Sĩ thì họ chữa trị VC và VNCH như nhau.

Không biết đệ trình bày những điều tôi học có đúng theo lời giảng tôi đã nghe hay đọc không ? Xin Quý Tỉ và Quý Bạn góp ý thêm cho. Xin cám ơn rất nhiều.

Thân Kính,

An Vui

Vô Ưu

Đây là một mẩu chuyện mà tôi tình cờ chứng kiến ở một cửa hàng rau quả. Xin ghi lại dưới hình thức một bài thơ.




Trên phố chợ vào một sáng thứ bảy
Tôi tình cờ trông thấy một thanh niên
Đứng ngơ ngơ với nét mặt thật hiền
Cười vu vơ như không bình thường mấy

Cậu trẻ đứng bên cạnh hàng rau quả
Đưa mắt nhìn thiên hạ rộn bán mua
Người qua kẻ lại huyên náo cười đùa
Bỗng buột miệng điềm nhiên cậu gạn hỏi

“Hình như ngày mai này là ngày lễ
Mà lễ gì vậy, lễ lớn không anh?”
Người bán hàng cười diễu cợt đáp nhanh
“Dạ ngày mai là lễ anh sinh nhật”

Nghe qua thật buồn cười lẫn thương hại
Anh bán hàng quả khéo óc khôi hài
Đã biết người không tỉnh còn đùa dai
Nhưng cậu trẻ trơ trơ không phiền ngại

Cậu vẫn cứ cười ngây ngô dễ dãi
Ai nói sao thì nói cậu vẫn cười
Vì thế giới của cậu là vô ưu
Lúc nào cũng thấy vui không phiền tóai

Mẩu đối đáp chuyện trò thật ngắn gọn
Nhưng đã gây một ấn tượng sâu xa
Khiến người nghe bất chợt ngộ ra là
Muốn vô ưu phải học người không tỉnh

Người không tỉnh biết gì mà tính tóan
Không buồn dĩ vãng chẳng sợ tương lai
Chẳng sân si danh vọng hay tiền tài
Chỉ có vô ưu Niết bàn hiện tại

Nhưng Vô Ưu không hẳn là hạnh phúc
Vì thực chất một con người trời sinh
Bản ngã vốn là lục dục thất tình
Nếu chỉ vô ưu đời thành vô vị

Người Phương Nam