Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

Về Thăm Mộ Chàng - Thơ: Tâm Tiễn - Phổ Nhạc: Liên Bình Định - Hòa Âm: Quang Đạt -Tiếng Hát: Diệu Hiền

Thơ: Tâm Tiễn
Phổ Nhạc: Liên Bình Định
Hòa Âm: Quang Đạt
Tiếng Hát: Diệu Hiền

Vàng Võ Thơ

 

Bây giờ chỉ có mình em
Ngó mây đang phủ trái tim phương trời
Mây buồn lặng lẽ lên khơi
Trái tim thương cảm ủ lời nhớ nhung
Bâng khuâng hẹn với vô cùng
Rằng mai đây lỡ không chung kiếp này
Riêng tư chẳng được tỏ bày
Chứ ai phụ bạc, ai đầy đoạ đâu
Bây giờ hay tới muôn sau
Vẫn anh trong trái tim sầu miên man
Từ đi vàng đá phai tàn
Giờ về tình tự cũng vàng võ thơ
Buồn ơi tháng với năm chờ
Giấc xuân chưa vẹn mộng mơ an lành
Thầm thì gọi mãi tên anh
Thời gian nào cũng phải đành chia ly ...

Cao Mỵ Nhân
(HNPD)
6 -2 - 2026

Một Buổi Chiều Xanh

 

Một buổi chiều xanh với nắng hồng
Hoa vàng hoa trắng nở ven sông
Nhớ em tôi mãi theo dòng nước
Mong một ngày về thỏa đợi mong.

Quảng Trị tình tôi vẫn mặn nồng
Xa người xa xứ xa mênh mông
Gửi người em gái tình tri kỷ
Ước hẹn bao năm vẫn mặn nồng,

Xa xôi trằn trọc đêm không ngủ
Mãi miết theo đời sợ gió Đông
Đừng để tóc em màu bạc trắng
Mà thêm ngà ngọc sắc phiêu bồng.

Chiều nay có gió xanh màu nhớ
Thương cảm sao đời lắm sắc không?
Thương em ngày tháng còn cô quạnh
Đời lỡ xuân xanh lỡ rượu nồng.

Đăng Nguyên

Ngọt Ngào

 

Thơ & Trình Bày: Ý Nga

Mê Làm Vườn, Trồng Rau…


Mỗi người trong đời đều có một,hay nhiều hơn một,niềm đam mê để theo đuổi. Có người mênhững thú vui sang trọng, rất “quý tộc,”như ngồi nhâm nhi càphê Ý trong những quán nhỏ thơm nức mùi espresso,mê sưu tập đồng hồ Thụy Sĩ với những bộ máy tinh vi chạy chính xác từng giây, mê chơi golf giữa những sân cỏ xanh mướt, hay mê những chuyến cruise vòng quanh thế giới để mỗi sáng thức dậy ở một bến cảng/phố biển khác nhau. Những niềm đam mê ấy thường gắn với sự dư dả, mà nhìn vào người ta dễ nghĩ ngay: “Dân có điều kiện.”

Nhưng bên cạnh những cái mê sang trọng đó, cũng có những niềm vui rất bình dị, rất quê mùa, thậm chí còn… dính đầy bùn đất. Vậy mà một khi đã dính vào rồi, người ta lại khó lòng dứt ra được. Một trong những cái mê dễ “nghiện” nhất chính là mê làm vườn, trồng rau, trồng hoa…

Nghe qua thì tưởng đơn giản lắm. Chỉ là vài luống rau xanh, mấy gốc cà chua, vài dây khổ qua bò quanh hàng rào hay vài chậu hoa nho nhỏ trước hiên nhà. Nhưng lạ ở chỗ, người mê làm vườn có thể bỏ hàng giờ ngoài sân mà không biết chán. Sáng vừa thức dậy, chưa kịp uống hết ly cà phê đã bước ra xem cây bầu hôm qua có thêm bông mới không, dây đậu đũa có leo cao thêm chút nào chưa. Chiều đi làm về mệt rã rời, chưa kịp thay quần áo đã vội xách vòi nước ra tưới từng chậu cây, lom khom nhổ cỏ, bắt sâu như chăm sóc những đứa con nhỏ của mình.

Tôi cũng không biết cái thú làm vườn bắt đầu với mình từ lúc nào.
Có thể từ ngày nhìn bó rau muống ngoài chợ bán với cái giá khiến người ta giật mình rồi buột miệng nghĩ: “Ủa, sao mình không tự trồng?” Cũng có thể từ lần ăn tô canh chua mà cọng bạc hà mềm nhũn, nhạt nhẽo như miếng khăn giấy ngâm nước, làm mình nhớ quay quắt mùi rau vườn ngày xưa ở quê nhà.

Nhưng có lẽ sâu xa hơn, cái mê đó đến từ lúc con người bắt đầu muốn sống chậm lại.

Khi tuổi đời không còn quá trẻ, người ta tự nhiên bớt thích chen chúc, bớt thấy niềm vui trong những thứ ồn ào náo nhiệt. Điều mình cần đôi khi chỉ là một khoảng sân nhỏ có màu xanh của lá, buổi sáng bưng ly cà phê bước ra hiên nhìn những giọt sương còn đọng trên lá non mà thấy lòng nhẹ tênh. Cảm giác ấy khó giải thích lắm.


Một chiếc lá mới nhú cũng đủ làm vui cả ngày. Một trái ớt đầu mùa đỏ lên giữa đám lá xanh khiến mình hân hoan như vừa nhận được món quà bất ngờ. Có những buổi chiều mưa nhẹ, chỉ đứng dưới mái hiên nhìn nước nhỏ xuống mấy luống rau thôi mà lòng đã thấy bình yên kỳ lạ. Bao nhiêu mệt mỏi, bao nhiêu chuyện nhức đầu ngoài đời sống bỗng nhiên dịu xuống hết. Người ta thường nói đùa:“Giàu chơi xe, nghèo trồng rau.” Nghe qua tưởngchỉ để cười, nhưng nghĩ kỹ cũng có phần đúng. Người mê xe bỏ hàng giờ lau chùi, chăm sóc chiếc xe bóng loáng của mình. Còn người mê trồng rau thì nâng niu từng cọng hành, từng lá húng quế như báu vật. Nhưng theo tôi, người trồng rau chưa chắc nghèo.

Nhiều người nhà cao cửa rộng, xe sang, công việc thành đạt vẫn mê làm vườn như thường. Sau những giờ họp hành căng thẳng, họ thay quần áo, bước ra sân cuốc đất, tưới cây. Không phải vì thiếu rau để ăn, mà vì thiếu cảm giác bình yên mà cây cối mang lại. Chỉ có điều, người mê làm vườn chắc chắn là… siêng. Và đôi khi hơi khùng một chút.

Bởi ai từng trồng rau rồi sẽ hiểu, đây không phải thú vui nhẹ nhàng như người ngoài tưởng tượng. Mùa đông ngồi trong nhà coi Youtube học cách trồng cà chua hữu cơ, cách ủ compost, cách trị sâu mà không dùng thuốc. Mùa xuân hí hửng đi mua hạt giống như chuẩn bị mở nông trại. Mùa hè ngày nào cũng lom khom ngoài sân, tay chân đầy đất cát, mặt mũi đẫm mồ hôi nhưng lòng vẫn vui. Đến mùa thu lại ngồi tiếc mấy dây bí chưa kịp ra trái vì trời bắt đầu trở lạnh.

Có người đi vacation mà lòng cứ nhớ mấy chậu rau ở nhà. Có người nửa đêm bật dậy chỉ vì sực nhớ quên đem cây vào khi trời sương giá. Có người đi ăn phở mà mắt cứ nhìn chăm chăm dĩa rau thơm để coi người ta dùng giống húng gì, rau quế gì. Nói thật, người mê trồng rau đôi khi hơi… kỳ (một cục), nhưng đó là cái kỳ rất dễ thương.

Giữa một cuộc sống quá nhanh, quá bận rộn và đầy áp lực, con người ta vẫn còn giữ được niềm vui giản dị khi nhìn một hạt giống nảy mầm, một chiếc lá non lớn lên từng ngày… Và có lẽ, đó cũng là một cách để giữ cho lòng mình xanh lại.

Cái “mê” làm vườn nó giống như một thứ bệnh lây lan trong cộng đồng người Việt ở Mỹ. Hễ tháng Tư, tháng Năm vừa tới là thiên hạ bắt đầu hỏi nhau:
- Năm nay trồng gì chưa?
- Có giống bầu da ếch không?
- Chỗ nào bán phân rẻ?
Và rồi, từ những niềm vui rất nhỏ đó, người ta tìm thấy nhau.

Những người cùng mê làm vườn, trồng rau, trồng hoa dần dần tụ lại thành những cộng đồng riêng trên Facebook hay các diễn đàn mạng để chia sẻ kinh nghiệm, khoe thành quả và giúp nhau học hỏi cách trồng trọt. Người này chỉ người kia cách ươm hạt, pha đất, bón phân, trị sâu. Có khi chỉ một trái khổ qua đầu mùa hay một luống rau cải xanh mướt cũng đủ làm cả nhóm xôn xao, vui lây như chuyện nhà mình.

Điều dễ thương là trong những diễn đàn đó, người ta không chỉ chia sẻ cây trái mà còn chia sẻ cả sự gần gũi, tình đồng hương và những niềm vui rất đời thường giữa cuộc sống xa quê. Như chị bạn văn Thơ Thơ Cẩm Tú, người chúng tôi quen biết từ thuở internet còn rất sơ khai, thời của tạp chí liên mạng Suối Nguồn ngày ấy. Hồi đó, chị nổi tiếng với những bài viết nhẹ nhàng, đầy cảm xúc. Vậy mà theo thời gian, chị cũng “bẻ bút” để quay về với đất đai, vườn tược và niềm vui chăm cây trồng rau.

Từ niềm đam mê đó, chị lập ra nhóm “Vườn Texas” trên Facebook, quy tụ hàng ngàn người Việt cùng sở thích làm vườn khắp nơi. Trong nhóm, mỗi ngày người ta chia sẻ với nhau từ chuyện hạt giống, mùa trồng, cách trị sâu cho tới những hình ảnh giản dị như một giàn mướp trĩu trái hay một luống rau thơm xanh mướt sau nhà.

Có lẽ vì vậy mà những nhóm làm vườn lúc nào cũng đầy không khí thân tình. Người ta vào đó không chỉ để học cách trồng cây, mà còn để tìm lại chút bình yên, chút hương vị quê nhà và cảm giác mình vẫn còn thuộc về một cộng đồng có chung niềm vui rất mộc mạc ấy.

Tôi có biết ông bà chủ tiệm tạp hóa Phước Hưng ở Springfield, Virginia. Hai ông bà quanh năm bán buôn, khách ra vô nườm nượp. Nhưng hễ tới tháng Sáu là bắt đầu mất tập trung. Khách còn đang lựa nước mắm thì ông chủ đã đứng ngó đồng hồ.

Có lần tôi đang tính tiền, ông hấp tấp nói:
- Mua lẹ đi Nị, hôm nay Ngộ phải về trồng rau.
Nói xong ông cười hề hề như người vừa thú nhận một bí mật lớn lao.
Tôi tưởng ông nói chơi, ai dè vài hôm sau ghé lại, bà chủ cũng than:
- Ổng mê làm vườn dữ lắm. Từ sáng tới tối cứ nghĩ tới mấy luống cải.
Rồi bà cũng thú thật:
- Mà tui cũng vậy.

Thế là cả hai vợ chồng cùng “bệnh”. Ban ngày buôn bán ở chợ, chiều về thay đồ làm nông dân. Nhà bên hông tiệm có mấy thùng xốp xếp dài, nào cải xanh, tần ô, húng quế, cà chua, khổ qua leo giàn nhìn mát cả mắt.
Ông chủ còn khoe:
- Rau nhà trồng ăn ngọt hơn rau chợ nhiều.

Người mê trồng rau thường có niềm vui rất lạ. Một trái ớt đầu mùa cũng đủ làm họ sung sướng như trúng số. Một dây bí ra bông là chụp hình gửi khắp nơi. Có người còn nói chuyện với cây. Tôi biết điều này vì… tôi cũng vậy.

Hơn mười năm nay, cứ tới mùa xuân là lòng tôi bồn chồn. Trong khi người ta lo vacation, tôi lo coi Home Depot có sale đất chưa.
Ba tôi thì khỏi nói, mới đầu tháng Ba thôi là đã bắt đầu nhắc:
- Nhớ canh Costco coi khi nào họ đem đất trồng rau ra bán nghen!
Cái giọng nhắc nghe còn sốt ruột hơn chờ Black Friday sale.

Mà đúng thiệt, dân mê làm vườn ai cũng hiểu “mùa đất” ở Costco quan trọng cỡ nào. Chỉ cần thấy mấy pallet đất trồng cây bắt đầu xuất hiện ngoài sân là trong lòng nao nao như báo hiệu mùa xuân đã thật sự tới.



Năm nào cũng vậy, cứ tới mùa là tôi lái chiếc pickup truck ra Costco “canh me.” Hễ thấy đất và phân vừa chưng ra là chất đầy một xe bán tải đem về. Bao nào bao nấy nặng muốn gãy lưng, vậy mà lúc chất lên xe thì hăng hái lạ thường. Rồi đem về chia cho hai nhà (nhà ba tôi và nhà tôi).

Có khi sân garage chất đầy bao đất, nhìn không khác gì kho vật liệu xây dựng. Ba tôi thì đứng chống nạnh ngó đống đất với vẻ hài lòng như vừa mua được của quý. Còn tôi thì vừa khuân vừa tự hỏi không hiểu sao mỗi năm đã nói “trồng ít thôi,” cuối cùng vẫn mua cả núi đất như chuẩn bị mở nông trại.

Cái vui của người mê làm vườn nhiều khi chỉ đơn giản là cảm giác đầu mùa xuân chở những bao đất mới về nhà. Là mùi đất thơm ngai ngái khi vừa mở bao ra. Là hai cha con đứng bàn chuyện năm nay trồng thêm bí dứa giống của Nhật Bổn, cà chua hay khổ qua, nên làm giàn bầu ở đâu, trồng rau muống chỗ nào cho nhiều nắng. Ðó là những chuyện rất nhỏ, rất bình thường. Mà sau này nghĩ lại, đôi khi đó lại là những ký ức ấm áp nhất.

Có năm tuyết chưa tan hết, tôi đã lái xe đi mua đất trồng rau. Nhân viên Costco chắc tưởng tôi mở nông trại vì mỗi lần mua cả chục bao đất. Ðôi khi tôi còn phải “ăn gian” một chút. Costco giới hạn mỗi membership chỉ được mua mười bao đất hay phân, mà mười bao thì nhằm nhò gì với dân mê làm vườn.

Thế là tôi chất đủ mười bao lên xe trước, chạy ra parking lot bỏ xuống, rồi tỉnh bơ đẩy xe quay ngược trở vô mua thêm đợt nữa. Có hôm làm tới hai, ba vòng như đang tiếp tế vật tư cho nông trại.
Mấy anh nhân viên Costco chắc nhìn riết cũng quen mặt. Thấy tôi xuất hiện ở khu garden là biết mùa trồng rau đã tới. Có người còn cười hỏi:
- Trồng rau hay mở farm vậy?
Tôi cũng cười trừ. Chứ nói thật, lúc đó trong đầu chỉ nghĩ tới mấy luống rau chua, rau muống, giàn khổ qua với đám rau má đang chờ đất mới ở nhà.

Cái vui của dân mê làm vườn đôi khi kỳ cục vậy đó. Người khác đi Costco mê coi TV, laptop hay đồ điện tử sale. Còn mình thì đứng ngắm pallet đất, bao phân với ánh mắt đầy xúc động. Thấy bảng “Garden Soil” là tim rung động hơn thấy hàng hiệu giảm giá.

Đi ngang quầy TV 85 inch không thèm nhìn. Nhưng thấy bảng sale “Garden Soil” là mắt sáng rỡ. Home Depot, Lowes đối với người mê làm vườn giống như Disneyland. Bước vô đó là quên giờ quên giấc. Người bình thường đi mua một món rồi về. Còn dân mê trồng rau đi một vòng rồi tự nhiên ôm thêm sáu chậu ớt, cả trăm bao mulch, với cái vòi nước mới.
Trong đầu lúc nào cũng có suy nghĩ rất lạc quan:
-“Trồng thêm chút nữa chắc không sao.”
Nhưng kết quả thường là sân sau biến thành nông trại mini.
Có năm tôi trồng nhiều quá, ăn không kịp phải đem cho hàng xóm, đem vào sở làm. Một bà hàng xóm nói:
- Please… no more lettuce…
Nhưng người trồng rau có tật rất dễ thương là thích cho. Hễ cây ra trái nhiều là đem biếu. Cho rau giống như chia sẻ niềm vui. Một bó rau muống mới hái thơm mùi đất làm người ta thấy gần nhau hơn.

Tôi nhớ thời bà Michelle Obama còn ở Bạch Cung, bà cho trồng rau ngay trong khu vườn nổi tiếng phía Nam. Chuyện đó lúc đầu làm nhiều người ngạc nhiên. Giữa nơi quyền lực nhất nước Mỹ mà lại có luống cải, luống cà chua, rau thơm. Nhưng nghĩ kỹ thì rất hay.
Bà muốn khuyến khích người dân ăn uống lành mạnh, sống gần thiên nhiên hơn. Khu vườn đó không chỉ cung cấp rau sạch cho nhà bếp Bạch Cung mà còn mang ý nghĩa giáo dục trẻ em về dinh dưỡng.
Tôi coi hình thấy bà mặc áo giản dị, tay cầm xẻng, cúi xuống trồng rau. Tự nhiên thấy việc làm vườn trở nên thân thiện và gần gũi vô cùng.

Hóa ra từ người bình dân tới Đệ Nhất Phu Nhân cũng có chung niềm vui nhìn một cây cà chua lớn lên mỗi ngày. Làm vườn thật ra có nhiều lợi ích hơn người ta tưởng. Trước hết là khỏe người. Ai từng cuốc đất, bưng bê bao phân, kéo vòi nước sẽ hiểu làm vườn là một môn thể thao trá hình. Mồ hôi chảy ròng ròng nhưng lòng vui. Không cần gym mà ngày nào cũng vận động.

Rồi khỏe tinh thần. Có những hôm mệt mỏi, chỉ cần ra sân nhổ cỏ một chút là đầu óc nhẹ hẳn. Nhìn mấy chiếc lá rung trong gió thấy lòng bình an kỳ lạ. Cây cối không nói gì nhưng lại chữa lành rất giỏi.
Nhiều người về hưu sau một thời gian buồn chán, nhờ làm vườn mà vui trở lại. Sáng thức dậy có cái để mong. Hôm nay coi bầu ra trái chưa. Mai coi rau cải lớn tới đâu. Mỗi ngày đều có chuyện để hy vọng. Mà hy vọng là thứ rất quan trọng cho đời sống con người.

Rồi cuối cùng, sau bao nhiêu ngày tưới tắm, bắt sâu, hồi hộp chờ đợi, cũng tới lúc có rau sạch cho cả gia đình ăn. Đó có lẽ là phần thưởng vui nhất của người mê làm vườn. Vào mùa hè, hầu như ngày nào trong bữa cơm của hai vợ chồng tôi cũng có một rổ rau tươi mới hái ngoài vườn. Rau còn thơm mùi đất, lá còn đọng chút nước sau khi vừa rửa xong, nhìn thôi cũng thấy ngon miệng.

Khi thì hái một rổ  xà lách, rau thơm, tía tô để cuốn bánh xèo, ăn với cá nướng hay mực hấp. Khi thì cắt
mớ rau quế, húng lủi, cải non ăn kèm mì Quảng hay thịt heo luộc. Có hôm chỉ cần hái vài cọng mồng tơi, ít rau đay, thêm trái mướp non là đã có nồi canh ngọt lịm cho bữa cơm chiều.
Những món ăn vốn 
rất bình thường bỗng ngon hơn hẳn khi biết rau đó do chính tay mình trồng. Cái ngon không chỉ nằm ở vị tươi sạch, mà còn ở cảm giác vui vui trong lòng. Mỗi cọng rau trên mâm cơm đều có công sức mình trong đó (từ ngày ngâm hạt, trộn đất, tưới nước cho tới lúc hái xuống).

Nhiều khi ngồi ăn, hai vợ chồng còn nói đùa với nhau:
- Rau này non mướt. Mua ở đâu mà ngon quá...
- Ở 6614 đó!

Những câu chuyện nhỏ xíu vậy thôi mà làm bữa cơm gia đình thấy ấm áp hơn nhiều. Có lẽ vì thế mà người mê trồng rau không chỉ trồng để ăn. Họ trồng để vui, để nhớ quê nhà, để thấy mình gần với thiên nhiên hơn. Và đôi khi, chỉ để mỗi chiều bước ra vườn hái một rổ rau xanh mang vào bếp mà nghe lòng bình yên lạ thường.

Tôi còn nhận ra người mê trồng rau thường hiền hơn. Có lẽ vì họ học được tính kiên nhẫn từ cây cối. Gieo hạt không thể bắt cây lớn ngay ngày mai. Phải chờ. Phải chăm. Phải chịu khó. Đôi khi trồng thất bại nữa.

Có năm tôi trồng dưa leo rất hăng hái. Kết quả sâu ăn sạch. Tôi tức muốn khóc. Nhưng vài tuần sau lại hí hửng mua cây mới về trồng tiếp. Như năm nay chẳng hạn, thời tiết cứ thất thường lúc nóng lúc lạnh làm dân mê trồng rau tụi tôi khổ sở không ít. Mới thấy vài hôm nắng ấm là hí hửng đem hột rau muống, bí đao ra ngâm rồi gieo xuống đất. Cây vừa nhú lên được vài ba lá non, nhìn xanh mướt mà lòng mừng rơn, thì đùng một cái, cơn lạnh lại bất ngờ ập tới.

Sáng bước ra vườn thấy mấy cây con rũ xuống mà xót như nhìn công sức mình teo theo thời tiết. Thế là lại phải bắt đầu từ đầu. Lại lục hộp hạt giống, lại ngâm hột qua đêm, lại chờ từng mầm non nhú lên như chưa từng có cuộc “sương giá” nào xảy ra.

Nhưng lạ lắm, người mê làm vườn dù bị thời tiết “đánh” hoài vẫn không nản. Cây chết thì trồng lại. Hột hư thì gieo đợt khác. Buồn chút rồi thôi, vài hôm sau lại hí hửng như chưa từng thất vọng lần nào.
Có lẽ vì người trồng rau lúc nào cũng tin vào mùa tới, vào những mầm xanh sẽ mọc lên trở lại.
Người làm vườn rất lạ. Bị cây phản bội vẫn tha thứ dễ dàng. Rồi cái thú làm vườn còn kéo người ta gần nhau hơn. Bạn thử tưởng tượng một buổi chiều mùa hè, vài người bạn đứng quanh giàn khổ qua, vừa hái rau vừa nói chuyện quê hương. Có người kể chuyện thời nhỏ tưới rau bằng gàu nước giếng. Có người nhớ luống cải sau nhà mẹ trồng ngày xưa.
Chỉ vài cọng rau thôi mà kéo cả tuổi thơ trở lại. Có lẽ vì thế nên người Việt xa quê rất mê trồng rau. Trong mấy luống rau đó có mùi quê hương. Có ký ức. Có cảm giác mình vẫn giữ được một phần đời cũ.

Mỗi lần thấy rau răm, tía tô hay mồng tơi mọc xanh, tôi lại nhớ những bữa cơm nghèo ngày xưa. Nhớ tiếng dao thớt trong bếp. Nhớ tiếng mẹ gọi ăn cơm giữa trưa hè… Làm vườn không chỉ để có rau ăn. Đó còn là cách giữ lại những điều thân thuộc trong đời sống quá nhiều đổi thay này. Dĩ nhiên, người mê trồng rau cũng có vài “triệu chứng” khá buồn cười là đi đâu cũng nhìn đất. Tới nhà người ta trước tiên ngó sân sau. Thấy khoảng đất trống là tiếc giùm.

Ði ăn phở thấy cọng húng quế già, lấy giấy bọc lại đem về giâm. Tôi từng thức dậy lúc sáu giờ sáng chỉ để coi cây bầu tối qua có nở bông không. Và cảm giác sung sướng khi thấy trái bí non đầu tiên thật khó giải thích với người không mê làm vườn. Nhưng thôi, cuộc đời ai mà chẳng cần một cái mê vô hại để vui sống?

Có người mê câu cá. Có người mê đánh golf. Có người mê shopping… Còn chúng tôi mê nhìn hột nảy mầm, nhìn bông kết trái; một niềm vui rất nhỏ. Và biết đâu, trong thời đại mọi thứ đều vội vã, cái thú chăm một cái cây mỗi ngày lại là cách giúp con người sống chậm hơn, tử tế hơn và bình an hơn.
Cho nên nếu một ngày nào đó bạn ghé tiệm Phước Hưng ở Springfield vào tháng Sáu mà thấy ông chủ giục:
- Mua lẹ đi Nị, Ngộ phải về trồng rau!

Thì xin đừng ngạc nhiên. Bởi mùa hè tới rồi. Mà với những người “mê” làm vườn như chúng tôi, đó là mùa hạnh phúc nhất trong năm.

Võ Phú

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026

Thuở Ấy Yêu Nhau - Sáng Tác: Hoàng Nguyên - Ca Sĩ: Thái Thanh

Sáng Tác: Hoàng Nguyên
Ca Sĩ: Thái Thanh

Bản Luân Vũ Cuối Cùng



(Viết cho chuyện ngắn U Tình
 trong tập truyện ngắn Sôi Nổi - Nguyễn Lân)


Em không biết mình mơ hay tỉnh
Theo anh lòng xao xuyến đê mê
Rạo rực lửa tình trong tia mắt
Vòng tay anh xiết chặt vai mềm

Nụ hôn rát bỏng bên đầu lưỡi
Chiếm trọn tâm hồn chốn u mê
Ánh đèn huyền ảo mờ trong khói
Thoang thoảng hương bay cõi dương trần

Nhắm mắt thả lòng vào mộng ảo
Giải yếm rơi ngang cuối chăn hồng
Rung động tâm hồn em ngộp thở
Quay cuồng đầu óc gọi tên anh

U tình như sóng chuyển đến nhanh
Trong hơi men em đáp trả tình nồng
Như thiêu thân bay vào ánh sáng
Em hiến mình trong ngọn lửa tình yêu

Tiếng nhạc vang khi tỉnh khi say
Như mê hoặc em quay tròn điệu vũ
Giọng anh trầm ai oán bên tai
Đêm nay em quả đẹp não nùng

Bản luân vũ cuối cùng anh xin tặng
Thân xác ta đã quyện hòa đồng
Đêm nay đôi ta theo nhịp nhạc hòa
Thiên thu ta sẽ đời đời bên nhau

Diệm Trân

2016


 

Trong Văn Bút, có Văn Thi Sĩ đặc biệt
Võ Phú, tuổi trẻ tài cao, rất nhiệt tình
Văn chương hay, luôn đối xử ân cần
Giúp mọi người không chút gì e ngại.

Võ Phú, luôn luôn khích lệ, hăng hái
Hạnh phúc thay, khi giúp đỡ bạn mình
Như người thân, quyến thuôc, anh chị em.
Không thắc mắc, không ngại ngần, tính toán

Những ngày đầu, tôi mới vào Văn Bút,
Rất ngại ngùng mỗi lúc gửi bài thơ
Biết tìm ai, để thăm hỏi bây gìờ !
Hội Viên mới, chưa ai từng gặp mặt.

Tôi phân vân và vô cùng dè dặt
Vì lạ xa, chưa quen biết một ai
Nhưng linh cảm, ở đâu cũng có người
Luôn giúp đỡ, ân cần vô điều kiện.

Ngày tháng qua, trên Email Văn Bút
Về đăng bài trên Tạp Chí Miền Đông
Được Võ Phú, khích lệ nhắn đôi dòng
Qua văn chương, quý trọng nhau đối đáp

Võ Phú giúp tôi và nhiều Văn Hữu khác,
In Sách Thơ Văn, Viết Giới Thiệu chân tình
Phú chững chạc, tâm tốt rất thông minh.
Hạnh Phúc thay! Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại

Tôi rất vui, mỗi khi có được dịp
Qua văn thơ, hỏi đáp rất thật lòng
Võ Phú, người đạo đức, rất ân cần,
Khiến trong Tâm, tôi vô cùng mến mộ.

Ở nơi đâu, cũng có Người Tâm Tốt
Mang niềm vui, và đối xử công bình,
Chỉ lời nói cũng đủ vui trong Tâm
Trong cuộc sống, ai cũng đều mong ước.

Cảm ơn đời, cảm ơn Người Tâm Tốt
Cũng nơi đây, tôi học hỏi rất nhiều
Việc làm tốt, chẳng hề mất đi đâu
Luôn để lại cho đời Nhiều Hạnh Phúc./.


Hoàng Thục Uyên
Tháng 6/2026
----------
Sơ Lược Tiểu Sử Y Thy Võ Phú

Bút hiệu: Võ Phú (văn) & Y Thy/i (thơ).
Võ Phú sinh ngày 10 tháng 11. Sinh quán Nha Trang – Việt Nam; định cư tại Virginia, Mỹ tháng 9 năm 1994. Tốt nghiệp cử nhân Hóa và làm việc tại Virginia Commonwealth University.

• Chủ nhiệm và chủ bút tạp chí Kết Ðoàn 2002-2008.
• Ðiều hành nhà xuất bản Kết Ðoàn 2002-2004.
• Góp mặt trong các báo, đặc san, tạp chí, thi đàn, như: Suối Nguồn, Hồn Quê, Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng, Kỷ Nguyên Mới, Văn Hữu, Cỏ Thơm, Ngôn Ngữ…
• Góp mặt trong các tuyển tập thơ Cụm Hoa Tình Yêu, Tình Thơ Mùa Xuân, Tình Thơ Mùa Thu, Tình Thơ Quê Hương, 44 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (1975-2019)…
Sách đã in:
Văn:
– Xóm Chài – Lotus Media – 2022
– Nước Mỹ: Những Mảnh Ghép Rời – Nhân Ảnh – 2020
– Vấn Vương (viết chung với Mai Ngọc Lan) – Kết Ðoàn – 2004
– Tưởng Như Ðã Mất – Suối Nguồn – 2003
Thơ:
– Lạc Vào Cõi Thu – Nhân Ảnh – 2021
– Ngày Tháng Có Nhau – Văn Học Mới – 2018
– Những Phương Trời Nhớ (thơ 10 tác giả) – Kết Ðoàn – 2004
– Ðời Chia Trăm Nhánh Sông (thơ 6 tác giả) – Suối Nguồn – 2002
– Rằng Ta Ðang Yêu – Suối Nguồn – 2001
– Cung Ngữ (thơ 10 tác giả) – Suối Nguồn – 2001
Giải thưởng văn học:
– Giải Viết Về Nước Mỹ: 2021, 2019, 2017, 2005
– Giải nhất thơ văn – University of Maryland – 2001

Phế Trạch 廢宅 - Ngô Dung (Vãn Đường)


(Ngô Dung 吳融 tự Tử Hoa 子華, người Sơn Âm, Việt Châu, đỗ tiến sĩ năm Long Kỷ thời vãn Đường)

Ngô Dung không tả cái nhà hoang mà chỉ muốn tả nhà Đường đang suy sụp và nước Tàu đang rơi vào móng vuốt của Rợ Hồ. Bài này cùng một tiêu đề với bài Kim Kiều Cảm Sự.

Ngô Dung

Nguyên tác Dịch âm

廢宅 Phế trạch

風飄碧瓦雨摧垣 Phong phiêu bích ngoã vũ tồi viên,
卻有鄰人與鎖門 Khước hữu lân nhân dữ toả môn.
幾樹好花閑白晝 Kỷ thụ hảo hoa nhàn bạch trú,
滿庭荒草易黃昏 Mãn đình hoang thảo dị hoàng hôn.
放魚池涸蛙爭聚 Phóng ngư trì hạc oa tranh tụ,
棲燕梁空雀自喧 Thê yến lương không tước tự huyên.
不獨淒涼眼前事 Bất độc thê lương nhãn tiền sự,
咸陽一火便成原 Hàm Dương nhất hoả tiện thành nguyên.

Dịch nghĩa

Nhà Hoang

Gió thổi bay ngói xanh mưa làm sụp tường
Nhờ có người hàng xóm khép cửa giùm
Mấy cây hoa đẹp đứng nhàn nhã suốt ngày
Cỏ thơm đầy sân giống như trời tối
Ao thả cá đã cạn, ếch nhái tranh nhau tụ lại
Xà nhà nơi én ở trống không, chim sẻ kêu ồn ào
Không phải cảnh trước mắt mới thê lương
Thành Hàm Dương chỉ một mồi lửa cũng biến thành cánh đồng lạnh


Dịch thơ

Nhà Hoang

Gió bay ngói biếc mưa hư tường,
Hàng xóm thương tình khóa cửa giùm.
Mấy khóm hoa tươi lười biếng đứng,
Ngập sân cỏ úa tợ hoàng hôn.
Ếch kêu inh ỏi ao không cá,
Vắng yến xà nhà sẻ véo von.
Chẳng những thê lương ngay trước mắt,
Hàm Dương một mối lửa tiêu luôn.

Lời bàn: 
Ngô Dung dùng thể tỷ, mượn cảnh nhà hoang để nói về nhà Đường đang suy xụp (6 câu đầu). Hai câu kết dùng nửa thể tỷ nửa thể phú để kết luận rằng chỉ một mồi lửa cũng đốt 

Con Cò
***
Nhà Hoang.

Ngói xanh gió rập, vách mưa pha,
Lối xóm thương giùm khép cửa nhà.
Mấy khóm hoa thơm nhàn nhã đứng,
Đầy sân cỏ héo nắng chiều tà.
Cá không ao cạn ếch tranh tụ,
Yến vắng xà nhà sẻ náo la.
Chẳng những thê lương ngay trước mắt,
Hàm Dương đốm lửa cũng tiêu ma.

Mỹ Ngọc.
Jul. 18/2026.
***
Ngôi Nhà Sang Trọng Bỏ Hoang

Gió mưa đổ ngói quý, tường nhà
Hàng xóm đóng giùm khóa cửa ra
Hoa đẹp nở chi ngày vắng lặng
Cỏ hoang hiu hắt ánh chiều tà
Ao khô cá chết giờ nhiều nhái
Chim yến bỏ đi sẻ hót ca
Không chỉ nơi đây buồn áo não
Hàm Dương một lửa hóa tha ma

Thanh Vân
***
Nhà Hoang

Gió bay ngói biếc bão xiêu tường
Nhờ có xóm giềng khép cổng xuông
Dăm cội hoa xinh ngày lặng lẽ
Đầy sân cỏ dại sớm chiều buông
Cá đi ao cạn ếch tranh chỗ
Én tổ xà không sẻ réo cuồng
Đâu chỉ thê lương bày trước mắt
Hàm Dương một lửa hóa thành nương

Song thất lục bát:

Mưa đổ tường, gió bay ngói biếc
Nhờ xóm giềng hờ khép cổng thay
Hoa dăm cội, lặng lẽ ngày
Đầy sân cỏ dại sớm bày hoàng hôn
Ao cá cạn ếch luôn sống khỏe
Xà én không lũ sẻ réo cuồng
Cảnh trước mắt gợi thê lương
Chỉ một mồi lửa, Hàm Dương hóa đồng!

Lộc Bắc
Jul26
***
Nhà Hoang

Mái đổ tường nghiêng mưa gió bay
Cậy nhờ hàng xóm khép cửa thay
Hoa xinh chi lặng lẽ ngày
Đầy sân cỏ héo nắng phai chiều tà
Ao cạn cá đi nhái tụ lại
Xà hoang én lặng sẻ inh tai
Cảnh buồn trước mắt riêng ai
Hàm Dương một lửa thiên tai hóa đồng.

Kim Oanh
***
Cám ơn anh Bảo chọn bài hay, và hai anh Giám, Tâm đã góp ý rất sớm. Bài của anh Tâm thật đầy đủ, giải thích rõ ràng làm BS học hỏi được rất nhiều, và không còn chỗ để ba hoa…
Bài thơ rất hay, câu thứ 3 làm BS nhớ tới hai câu trong bài Sơn Phòng Xuân Sự của Sầm Tham:
Đình thụ bất tri nhân khứ tận,
Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa.
Cây cỏ vô tình, đâu hiểu được những tang thương của nhân thế.

Nhà Hoang

Mưa gió xiêu tường, ngói biếc tuôn,
Đóng cửa nhờ hàng xóm trông nom,
Mấy cây hoa đẹp nhàn nhã sống,
Khắp sân cỏ dại ẩn hoàng hôn,
Ếch tranh nhau tới, ao không cá,
Xà nhà hết én, sẻ kêu om,
Chẳng phải thê lương ngay trước mắt,
Hàm Dương mồi lửa đốt tiêu luôn.

Bát Sách.
(Ngày 23/07/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm:

廢宅-吳融 Phế Trạch - Ngô Dung

風飄碧瓦雨摧垣 Phong phiêu bích ngõa vũ tồi viên
却有鄰人與鎖門 Tức hữu lân nhân dữ tỏa môn
幾樹好花閑白晝 Kỷ thụ hảo hoa nhàn bạch trú
滿庭荒草易黃昏 Mãn đình hoang thảo dị hoàng hôn
放魚池涸蛙爭聚 Phóng ngư trì hạc oa tranh tụ
棲燕梁空雀自喧 Tê yến lương không tước tự huyên
不獨淒涼眼前事 Bất độc thê lương nhãn tiền sự
鹹陽一火便成原 Hàm Dương nhất hỏa tiện thành nguyên

Bài thơ luật thất ngôn bát cú có mộc bản trong các sách:

- Đường Anh Ca Thi - Đường - Ngô Dung 唐英歌诗-唐-吴融
- Hậu Thôn Thi Thoại - Tống - Lưu Khắc Trang 后村诗话-宋-刘克庄
- Doanh Khuê Luật Tủy - Nguyên - Phương Hồi 瀛奎律髓-元-方回
- Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石仓历 代诗选-明-曹学佺
- Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 诗-清-圣祖玄烨
- Sách Ngô Dung cũng như các sách chữ Hán khác viết chữ 却tức. Thời Đường không có chữ giản thể nên tức không phải là giản thể của 卻khước vào thời đó.
- Sách của Huyền Diệp cho 4 dị bản trong các câu 2, 4, 5 và 8 cho các chữ: 與dữ/為vi, 易dị/自tự, 聚tụ/鬧náo, 便成tiện thành/變寒biện hàn.
Chữ 棲 trong câu 6 có thể phiên âm là tê hay thê. tê sẽ không trùng với thê trong câu 7

Giải nghĩa chữ khó:

- Bích ngõa: Ngói tráng men màu xanh lá cây thường được sử dụng trên mái của các tòa nhà sang trọng của vương công đại thần hoặc nhà quyền quý ngày xưa như: cung điện, đền thờ…với những cánh cổng màu đỏ son và gạch xanh, rực rỡ và lộng lẫy. Màu sắc tươi sáng của chúng làm nổi bật sự hùng vĩ của kiến trúc.
- Tồi viên: Bức tường thành hoặc tường bao bị đập phá, làm sụp đổ, đổ nát.
- Lân nhân: Những người sống gần đó, hàng xóm.
- Tỏa môn: Đóng và khóa kín cửa.
- Hảo hoa: Những bông hoa đẹp, nhiều màu sắc, một phép ẩn dụ cho việc không tận tụy với cảm xúc của một người.
- Bạch trú: Ban ngày, khoảng thời gian từ bình minh (sau khi mặt trời mọc) đến hoàng hôn (trước khi mặt trời lặn).
- Nhàn bạch trú: Nở ra một cách uổng phí vì ban ngày vắng vẻ, nhàn rỗi, không người qua lại thưởng thức.
- Hoàng hôn: thời gian sau khi mặt trời lặn, trước khi trời tối hoàn toàn; một ẩn dụ cho tuổi già hoặc những năm chạng vạng, đại diện cho các giai đoạn sau của cuộc đời; một phép ẩn dụ cho một thời kỳ suy tàn, thường được sử dụng để mô tả sự kết thúc của một chế độ, tổ chức hoặc sự vật.
- Dị hoàng hôn: Dễ chìm vào cảnh chiều tà bóng xế; hoàng hôn như buông xuống nhanh hơn khi đối diện với bãi cỏ hoang tàn.
- Phóng ngư trì hạc: Ao thả cá cạn khô nước.
- Oa tranh tụ: ếch tụ tập lại với nhau (một loại náo loạn)
- Lương không: Xà nhà trống rỗng, không còn người ở, không còn tổ yến.
- Tước tự huyên: Chim sẻ tự kêu ồn ào.
- Bất độc: Không chỉ riêng, không chỉ đơn thuần
- Thê lương: Nỗi buồn, một môi trường hoặc phong cảnh cô đơn hoang vắng, môt trạng thái tinh thần, cô đơn và buồn phiền của một người, một bối cảnh bi thảm và khó khăn, gợi lên sự đồng cảm.
- Nhãn tiền: Trước mắt, không gian trước mặt, khoảng thời gian hiện tại
- Hàm Dương nhất hỏa: một trận lửa ở Hàm Dương. Điển cố lịch sử, khi Tây Sở Bá Vương Hạng Võ đánh vào kinh đô Hàm Dương của nhà Tần, ông đã phóng hỏa đốt cung A Phòng, ngọn lửa cháy suốt ba tháng trời không tắt.

- Tiện thành nguyên: Liền biến thành bãi hoang, thành đồng trống.

Dịch nghĩa bài thơ:

Phế Trạch Ngôi Nhà Bỏ Hoang

Phong phiêu bích ngõa vũ tồi viên
Gió thổi bay những viên ngói xanh, mưa làm sụp đổ bức tường bao quanh,

Tức hữu lân nhân dữ tỏa môn
Thế nhưng vẫn có người hàng xóm tốt bụng đến khóa hộ cánh cửa lại.

Kỷ thụ hảo hoa nhàn bạch trú
Mấy cây hoa đẹp đẽ nở ra một cách uổng phí giữa ban ngày,

Mãn đình hoang thảo dị hoàng hôn
Cả sân đầy cỏ hoang làm cho cảnh chiều tà càng dễ gợi vẻ sầu muộn.

Phóng ngư trì hạc oa tranh tụ
Ao thả cá đã cạn khô, lũ ếch nhái tụ tập tranh nhau,

Tê yến lương không tước tự huyên
Xà nhà nơi chim yến từng đậu nay trống rỗng, chỉ còn lũ chim sẻ tự ríu rít ồn ào.

Bất độc thê lương nhãn tiền sự
Nào phải chỉ riêng chuyện trước mắt này mới đáng buồn thương u sầu,

Hàm Dương nhất hỏa tiện thành nguyên
Hãy nhìn xem kinh thành Hàm Dương năm xưa, chỉ một mồi lửa của Hạng Võ cũng biến thành đồng cỏ hoang vu.

Bình luận:

Nhà thơ Ngô Dung (850–903) sống vào giai đoạn Vãn Đường – thời kỳ triều đình thối nát, khởi nghĩa nông dân Hoàng Sào nổ ra, và các phiên trấn đánh giết lẫn nhau làm cho đất nước tan hoang. Bản thân Ngô Dung từng giữ chức quan (Hàn lâm học sĩ, Hộ bộ thị lang) nhưng liên tục phải sống trong cảnh lưu vong, chứng kiến kinh thành Trường An bị tàn phá nhiều lần. Bài thơ này được sáng tác khi ông nhìn thấy dinh thự của một đại thần quyền quý trước đây nay chỉ còn là một đống đổ nát hoang tàn. Bài thơ dùng phế cảnh để gợi phế vận. Ngô Dung không than trực tiếp, mà để cảnh vật tự nói.

phế trạch = nhà hoang = xã hội mục nát.
hảo hoa nhàn bạch trú = hoa đẹp nở trong ngày vắng = cái đẹp lẻ loi giữa thời loạn.
trì hạc – lương không = ao cạn – xà trống = sinh khí tiêu tán.

Dịch thơ:

Thể thất ngôn luật thi:

Ngôi Nhà Hoang Phế

Gió cuốn ngói xanh, mưa phá tường,
Khóa nhà hàng xóm đầy tình thương.
Vài cây hoa nở ngày thanh vắng,
Cỏ dại đầy sân dục tối buông.
Ao cạn cá đi, nhái tụ tập,
Xà trơ yến vắng, sẻ nhiễu nhương.
Cảnh buồn trước mắt nào riêng xót,
Một lửa phế tiêu thành Hàm Dương

Ruined/Abandoned House by Wu Rong

Wind blows the emerald blue tiles away and rain destroys the crumbling surrounding walls,
Yet some kind neighbor still comes to lock the broken door.
A few beautiful flowers bloom in vain during the empty daylight,
While wild weeds fill the courtyard, hastening the gloomy dusk.
The fish pond has dried up, where frogs now gather and fight,
The rafters are bare; no swallows roost, only noisy sparrows cry,
Not only these desolate sights before my eyesthat brings sadness,
For even great Hanyang, once set aflame, turned wholly into barren wasteland.

Phụ đính:

Hàm Dương nhất hỏa 咸陽一火 là một điển cố văn học bắt nguồn từ một sự kiện biến cố trong lịch sử Trung Hoa: Tây Sở Bá Vương Hạng Võ phóng hỏa thiêu rụi kinh đô Hàm Dương của nhà Tần vào năm 206 TCN.

Nguồn gốc lịch sử: Mồi lửa của Hạng Võ

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước chư hầu, ông đã dốc tài lực, nhân lực của cả giang sơn để xây dựng kinh đô Hàm Dương (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) thành một siêu đô thị tráng lệ bậc nhất. Nơi đây không chỉ có cung Hàm Dương bề thế, mà còn tập hợp các kiến trúc tinh hoa của lục quốc, nổi bật nhất là cung A Phòng – một công trình vĩ đại với quy mô có thể chứa hàng chục vạn người. Năm 206 TCN, vương triều Tần sụp đổ. Lưu Bang là người tiến quân vào Hàm Dương trước, nhưng vì nể sợ thế lực của Hạng Võ nên đã rút quân ra đóng ở Bá Thượng. Khi Hạng Võ dẫn đại quân Tây Sở tràn vào kinh thành, sự phẫn nộ tích tụ của một quý tộc nước Sở bị diệt vong đã biến thành một cuộc thảm sát và hủy diệt tàn khốc:

Hạng Võ hạ lệnh giết vua Tần hàng phục là Tử Anh.
Ông cho quân lính vơ vét toàn bộ vàng bạc, châu báu và bắt các cung nữ nước Tần đem về phương Nam.

Để nhổ tận gốc biểu tượng quyền lực của triều Tần, Hạng Võ đã cho phóng hỏa đốt toàn bộ cung điện tại Hàm Dương. Theo sử sách ghi lại (đặc biệt là trong Sử ký của Tư Mã Thiên), ngọn lửa hung tàn ấy cháy rực trời suốt ba tháng trời mới tắt hẳn, biến kinh thành nguy nga bậc nhất thành một đống tro tàn, một bình nguyên trống trải hoang vu.

Quy mô "Nhất hỏa" và tranh luận khảo cổ ngày nay:

Trong văn học, "nhất hỏa" (một mồi lửa) nghe có vẻ nhanh chóng, nhưng trên thực tế, đó là một đợt hủy diệt có hệ thống.
Tuy nhiên, các cuộc khai quật khảo cổ hiện đại tại di tích kinh đô Hàm Dương cũ đem lại góc nhìn rất thú vị:
Cung Hàm Dương thực sự bị cháy: Các nhà khảo cổ tìm thấy lớp tro than dày và dấu vết gạch ngói bị nung chảy tại khu vực trung tâm triều đình nhà Tần, chứng thực cho ghi chép của sử sách.

Bí ẩn cung A Phòng: Trái với truyền thuyết văn học cho rằng cung A Phòng bị Hạng Võ thiêu rụi, các cuộc dò tìm khảo cổ cho thấy phần nền móng của cung A Phòng chưa hề có lớp tro cháy. Điều này chứng minh cung A Phòng thực chất chưa bao giờ được xây dựng hoàn thiện dưới thời Tần, nên Hạng Võ chủ yếu là đốt cung điện Hàm Dương và các kiến trúc xung quanh. Dù vậy, quy mô tàn phá của ngọn lửa năm đó vẫn là một thảm họa văn hóa khủng khiếp, thiêu rụi vô số sách vở, tư liệu lịch sử quý giá mà nhà Tần lưu giữ.

Ý nghĩa văn học và triết lý của điển cố:

Khi đi vào thơ văn, "Hàm Dương nhất hỏa" không còn đơn thuần là một sự kiện quân sự, mà nó trở thành một biểu tượng đa tầng nghĩa:

Biểu tượng của quy luật Thịnh – Suy và "Vô thường" Trong bài thơ Phế trạch của Ngô Dung, điển cố này được dùng ở câu kết để đẩy cảm xúc lên đỉnh cao. Từ một ngôi nhà hoang nát trước mắt, nhà thơ nhìn rộng ra cả một triều đại. Nhà Tần từng dùng bạo lực dẫm đạp lên lục quốc, xây điện đài nguy nga tưởng như "vạn thế" (muôn đời), nhưng cuối cùng tất cả vinh hoa ấy cũng chỉ cần "một mồi lửa" là trở về cát bụi. Nó nhắc nhở con người về sự ngắn ngủi, mỏng manh của quyền lực và vật chất.

Tiếng thở dài trước sự tàn phá của chiến tranh Mỗi khi các nhà thơ Trung Hoa hay Việt Nam đi qua những kinh đô cũ đổ nát (như Trường An, Lạc Dương, Thăng Long, Huế), họ thường mượn ngọn lửa Hàm Dương để ám chỉ sức tàn phá khủng khiếp của binh đao loạn lạc. Của cải, công sức của hàng triệu người trong hàng chục năm có thể bị xóa sổ chỉ trong vài ngày bởi lòng thù hận và tham vọng của các thế lực phong kiến.

Bài học về lòng dân và sự cai trị Ngọn lửa của Hạng Võ bùng cháy dữ dội như vậy là do nó được tiếp tay bởi sự oán hận ngút trời của trăm họ đối với chính sách bạo ngược của nhà Tần. Biến Hàm Dương thành đống tro tàn vừa là tội ác của Hạng Võ, nhưng cũng là quả báo của nhà Tần. Do đó, điển cố này còn mang tính răn đe chính trị sâu sắc đối với các tầng lớp thống trị đời sau: "Mất lòng dân thì vương triều dù kiên cố đến đâu cũng sẽ bị thiêu rụi".
Cháy rụi cả thành Hàm Dương (chỉ một bọn giặc cỏ cũng cướp nổi ngôi nhà Đường).

Phí Minh Tâm
***
Góp ý của Huỳnh Kim Giám:

Ngoài các trang chữ Hán cho một số phương ngôn, chỉ có thêm hai trang Wikipedia tiếng Nhật và Pháp cho Ngô Dung. Sử liệu không ghi rõ năm sinh, tử của Ngô Dung nhưng các nhà nghiên cứu suy rằng ông sinh năm 850, đi thi lần đầu năm 15 tuổi thời Hy Tông nhưng chỉ đỗ tiến sĩ 24 năm sau thời Chiêu Tông, khi đã gần 40 tuổi. Vì tính tình chính trực, triều chính thối nát, và vì việc Chiêu Tông bị hoạn quan Hoàn Tán Hối (韓全誨) bắt cóc, hoạn lộ của Ngô trắc trở; ông qua đời trong khoảng năm 903 khi đang giữ chức hàn lâm thừa chỉ (翰林承旨). Ba năm sau thì nhà Đường chấm dứt.

咸陽一火便成原=Hàm Dương nhất hỏa tiện thành nguyên

Câu cuối của bài thất ngôn bát cú này là câu then chốt giúp người đọc hiểu rằng đây không phải là một bài thơ tả cảnh nhà hoang (废宅=phế trạch) mà là thơ tả cảnh Tràng An thời Đường mạt vì điển tích Hàm Dương nhất hỏa nhắc đến việc Hạng Vũ dẫn quân vào kinh đô Hàm Dương năm 206, tàn sát gia đình vua Tần và phóng hỏa đốt cung A Phòng (阿房宫). Nhà Tần chấm dứt từ đó.

Nhà hoang (廢宅=phế trạch) có nghĩa là nhà không còn người ở và vì thế mà láng giềng qua đóng cửa giùm (鄰人與鎖門=lân nhân dữ tỏa môn), vườn đầy cỏ dại (荒草=hoang thảo) và suốt ngày không ai hái hoa (好花閑白晝=hảo hoa nhàn bạch trú), hồ cá cạn nước (放魚池涸=phóng ngư trì hạc) và ếch nhái tụ tập dành nhau chiếm chỗ (蛙爭聚=oa tranh tụ), và chim sẻ thay chim én sống ồn ào trên xà nhà (放魚池涸蛙爭聚=thê yến lương không tước tự huyên). Các câu mở đầu này cho ta biết rằng bài thơ ra đời năm 901 sau khi Chu Toàn Trung (朱全忠) tiến quân đến Tràng An và các hoạn quan ép Chiêu Tông dời đô qua Phượng Tường (鳳翔).

Ta có thể xem bài thơ này như lời tiên tri của Ngô Dụng về số phận nhà Đường.

@ ý kiến của Phí Minh Tâm:

1. Rất đồng ý với nhận xét của anh Giám. Bài Phế Trạch của Ngô Dung mượn cảnh một ngôi nhà hoang phế để phản ánh sự suy tàn của vương triều Đường vào giai đoạn cuối. Bài thơ là một kiệt tác thất ngôn luật thi, dùng phế cảnh để gợi phế vận, nói lên quy luật thịnh suy của lịch sử và giáo lý duyên sinh “Sinh trụ hoại diệt” của Phật giáo.

2. Mộc bản trong sách của Ngô Dung, cũng như các sách chữ Hán khác, xài chữ 却 tức=tức là trong câu 2, không phải chữ 卻khước=từ giã, lùi về... Không phải giản thể của chữ 卻 khước ngày nay (Thời Đường chỉ có chữ phồn thể, đâu có chữ giản thể).

3. Chữ 棲 trong câu 6 có thể phiên âm là tê hay thê. tê sẽ không trùng với thê trong câu 7.

@ mirordor trả lời:

Theo 卻 vs. 却 - 異體字字典 (từ điển cho dị thể của bộ giáo dục Đài Loan):

「却」為「卻」之異體字。tức vi khước dị thể; [tức là dị thể của khước] và trang này giải thích rằng lối viết của 卻 đã thay đổi theo thời gian, từ dạng 却 trong tiểu triện qua dạng 卻 trong lệ thư nhưng chữ viết trên các bia đá thì là 却. Các nghĩa 'rồi', 'được', 'đang', 'vẫn' của 卻=khước hợp với câu thơ hơn các nghĩa của 却=tức (thì, liền).

Huỳng Kim Giám

Trưởng Hướng Đạo Việt Nam Nguyễn Minh Triết - Cựu Đạo Trưởng Đạo Phiên An - Châu Gia Định (Trần Đình Phước)


(Kính tặng Trưởng Nguyễn Minh Triết và các Cựu Hướng Đạo Sinh Đạo Phiên An,) 

Trưởng Nguyễn Minh Triết và tôi biết nhau từ những năm còn rất trẻ. Trưởng Triết lúc đó là Đạo Trưởng Đạo Phiên An, còn tôi là một Trưởng của một đơn vị trực thuộc Đạo Phiên An. 

Đạo là tên gọi một đơn vị trong tổ chức của Hội Hướng Đạo Việt Nam (HĐVN) gồm nhiều Liên Đoàn và Đoàn, một Đạo thường có từ vài trăm đoàn viên trở lên. Thiết tưởng cũng nên biết qua Phong Trào Hướng đạo là một Phong Trào Giáo Dục Thanh Thiếu Niên có phạm vi toàn cầu với mục đích góp phần phát triển thanh thiếu niên có được thân thể cường tráng, đạt được tiềm năng về trí tuệ, về xã hội và về tâm linh cho chính bản thân cũng như trở thành các công dân có trách nhiệm, trở thành các thành viên của cộng đồng địa phương, của quốc gia và của quốc tế". 

Phong trào dùng ‘Phương Pháp Hướng đạo’ là một chương trình giáo dục chú ý đặc biệt vào các hoạt động thực hành ngoài trời, bao gồm cắm trại trong rừng và các trò chơi do Huân Tước Baden Powell sáng lập năm 1906 tại Anh quốc, rồi sau đó lan tỏa ra toàn cầu. 


Đạo Phiên An, thuộc Châu Gia Định thành lập vào năm 1965, được tách ra từ Đạo Bến Nghé do Trưởng Nguyễn Minh Triết có Tên Rừng là Sói Trầm Ngâm được Trưởng Tổng Uỷ Viên Hội Hướng Đạo Việt Nam Nguyễn Hữu Mưu ký quyết định giao trách nhiệm làm Đạo Trưởng.
Lúc ban đầu, Đạo Phiên An có 3 Liên đoàn và 3 đơn vị Đoàn, nhưng sau đó không lâu đã phát triển thành một trong vài Đạo có nhiều đoàn sinh trong vùng Sài Gòn và Gia Định. 
Địa bàn sinh hoạt của Đạo Phiên An gồm ba nơi là: Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt, Vườn Tao Đàn, và Thảo Cầm Viên Sài Gòn. Dưới sự dẫn dắt của Đạo Trưởng Nguyễn Minh Triết.

Đạo Phiên An đã tích cực tham gia mọi sinh hoạt do Hội HĐVN khởi xướng, đặc biệt là sinh hoạt ở Châu Gia Định. Trưởng Nguyễn Minh Triết là một Trưởng có nhiều khả năng trong việc ứng dụng phương pháp giáo dục Hướng Đạo, vì đã trải qua mọi khóa trại huấn luyện ở mọi cấp từ trong nước và ngoại quốc như: các khóa trại huấn luyện Bạch Mã, Bằng Rừng ở đồi Tùng Nguyên, cạnh hồ Than Thở, Đà-lạt và khóa huấn luyện ITTC ở Seoul, Đại Hàn. Nhờ khả năng và thành tích trong việc phát triển sinh hoạt Hướng Đạo trong giới thanh thiếu niên nên Trưởng Nguyễn Minh Triết đã được Hội Hướng Đạo Việt Nam đề cử các công tác sau: 
 - Năm 1967 là. Đại Diện Hướng Đạo Việt Nam tham dự trại Họp Bạn Hướng Đạo Quốc Tế tổ chức tại Jindalee, Brisbane, Queensland (Australia,) từ 28 Tháng 12, 1967 tới 06 Tháng 01, năm 1968. 
 - Năm 1969 tham dự trại Huấn Luyện ITTC (International Training The Team Course) tại Seoul, Đại Hàn và sau đó là thành viên trong phái đoàn Hướng Đạo Việt Nam do Hội Trưởng Phan Thành Hy và Tổng Ủy Viên Huỳnh Văn Diệp hướng dẫn tham dự Hội Nghị Trưởng Hướng Đạo Quốc Tế cũng tổ chức ở Séoul (Đại Hàn). Trên đường về nước phái đoàn ghé thăm hữu nghị Hướng Đạo Đài Loan và Hong Kong.


 - Năm 1970, Trưởng Nguyễn Minh Triết lại được tham gia vào Ban Tổ Chức Trại Họp Bạn Hướng Đạo Việt Nam toàn quốc tổ chức tại Suối Tiên (Thủ Đức) từ ngày 26/12/1970 đến ngày 30/12/1970. 

Trại Trưởng là Trưởng Tổng Uỷ Viên HĐVN Trần Văn Luợc, tên Rừng là Bò Lém. Trại mang tên Giữ Vững để kỷ niệm 40 năm thành lập Phong Trào HĐVN.Trong lễ khai mạc trại, Trưởng Nguyễn Minh Triết đã đại diện Ban Quản Trại hướng dẫn Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đi thăm toàn trại.

 Ngoài, ra, giữa tháng 06 năm 1969, khi đang thụ huấn tại Trường Bộ Binh Thủ Đức, Trưởng Nguyễn Minh Triết đã được Trưởng Nguyễn Tuyên Thùy, nguyên Thiếu Tá Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến, cũng là một Trưởng Hướng Đạo kỷ cựu biết Trưởng Nguyễn Minh Triết có nhiều khả năng về hướng đạo do được đào tạo có bài bản và nhiều kinh nghiệm về tổ chức, nên tin tưởng giao trách nhiệm tổ chức ra mắt Đoàn Thiếu Nhi Quân Đội Trường Bộ Binh Thủ Đức gồm tất cả con em quân nhân thuộc Trường Bộ Binh và Trại Gia Binh. Buổi lễ ra mắt thành công mỹ mãn dưới sự chủ toạ của Chuẩn Tướng Chỉ Huy Trưởng Trường Bộ Binh Thủ Đức Trong lãnh vực sinh hoạt cộng đồng và hoạt động xã hội,


Trưởng Nguyễn Minh Triết được hai phụ tá đắc lực của Đạo Phó Trưởng Huỳnh Văn Nhì và Trưởng Phụ Tá Trang Thế Phương đã dẫn dắt Đạo Phiên An tham gia các công tác như: - Mùa Hè năm 1966, Kha Đoàn Nguyễn Huệ tham gia giúp ban tổ chức cuộc thi Săn Bắn dưới đáy biển do Bộ Thanh Niên tổ chức tại Hòn Yến, Nha Trang. - Sau Tết Mậu Thân năm 1968, Đạo Phiên An gồm Thiếu Đoàn Trương Cộng Định và Kha Đoàn Nguyễn Huệ giúp Ty Xã Hội Gia Định tiếp đón đồng bào chiến nạn tại Trường Chi Lăng 2, Gia Định. Các Trưởng và Đoàn sinh giúp Ty Xã Hội phân phát thực phẩm, quần áo, thuốc men và hướng dẫn sinh hoạt hướng đạo cho các thiếu nhi là con em của đồng bào chiến nạn. - Giúp Tỷ Thanh Niên Thể Thao Gia Định tổ chức cho các em mồ côi du ngoạn và tắm biển Vũng Tàu. - Hợp tác với các đoàn thể bạn xây dựng các Trại Tạm Cư chung quanh khu vực Trường Pétrus Ký, Quận 5, Sài Gòn cho đồng bào chiến nạn Mậu Thân và Việt Kiều bị cáp duồng (Cap Youn) ở Nam Vang (Kampuchea)) chạy lánh nạn về. - Tổ chức lạc quyên vật chất, thuốc men, quần áo khi có Thiên Tai, Bão Lụt xảy ra. Đạo Phiên An đã hoạt động và phát triển rất mạnh với hơn 500 đoàn sinh và Trưởng phụ trách. Lệnh Tổng Động Viên của chính phủ sau Tết mậu Thân 1968 và Mùa Hè Lửa Đỏ 1972, khiến một số Trưởng phải nhập ngũ. Cũng trong năm này, Trưởng Nguyễn Minh Triết đã tốt nghiệp Cao Học tại Học viện Quốc Gia Hành Chánh được trường cấp học bổng đi du học Hoa Kỳ theo chương trình đào tạo Tiến Sĩ để tăng cường cho Ban Giảng Huấn của trường. Do đó, sinh hoạt của Đạo Phiên An bị ảnh hưởng rất nhiều, vì thiếu Trưởng hướng dẫn. 

Đạo Phiên An tham dự Trại Họp Bạn HĐVN Toàn Quốc cuối cùng là Trại Tự Lực từ ngày 21/12/1974 đến ngày 25/12/1974. Trại nằm trên một khu đất rộng, bên cạnh Dòng Đồng Công, thuộc Xã Tam Bình, Huyện Thủ Đức, Tỉnh Gia Định. Sau ngày 30 Tháng 04, năm 1975, chính quyền mới cấm mọi sinh hoạt Hướng Đạo, trụ sở Hội HĐVN tại số 18 Đường Bùi Chu bị tịch thu. Đạo Phiên An, các Đạo khác và Phong Trào Hướng Đạo VN coi như không còn nữa!
Hiện nay, tại một số công viên ở Sài Gòn và tỉnh thành trong nước, vào cuối tuần xuất hiện sinh hoạt giống như hướng đạo ngày trước do các Cựu Trưởng HĐVN hướng dẫn. Chính quyền không ra lệnh cấm vả cũng không chính thức cho phép hoạt động. 


Hy vọng, trong tương lai không xa, Phong Trào Hướng Đạo sẽ được chính quyền xem lại và cho phép tái hoạt động. Cá nhân tôi, may mắn có dịp gặp Trưởng Nguyễn Minh Triết hai lần:
 - Lần thứ nhất tại Virginia vào Tháng 05, năm 2007, khi gia đình tôi tình nguyện giúp Ban Quản Lý Trại Truyền Thống 7 tổ chức tại đây, trùng hợp với Trưởng Nguyễn Minh Triết đi dự họp mặt Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành. Trước đó, gia đình tôi gồm: con trai, vợ tôi và tôi đã tham dự Trại Truyền Thống 4 tổ chức tại Orange County, Nam Cali vào dịp Lễ Giáng Sinh năm 2003 
 - Lần thứ hai, khi gia đình tôi tham dự Trại Họp Bạn Hướng Đạo Việt Nam toàn Thế Giới, Thẳng Tiến 10 tổ chức từ 27 Tháng 06, năm 2014 đến 03 Tháng 07, năm 2014 tại Trại Strake, Thành Phố Houston (Texas). Trưởng Nguyễn Minh Triết đã đến đầt trại thăm. Sau đó, khi trại bế mạc Trưởng Nguyễn Minh Triết đã đến đón gia đình tôi về nhà ở một ngày, chở đi thăm các thắng cảnh ở Thành Phố Houston và dùng cơm tối tại một nhà hàng trong vùng. Hai anh em có dịp cùng ngồi ôn lại những kỷ niệm Hướng Đạo ngày xưa, sau nhiều năm xa cách, tưởng chừng không bao giờ có thể gặp lại. 


Giờ đây! Anh Chị Em Đạo Phiên An tứ tán khắp nơi, kẻ còn, người đã giã từ cuộc chơi. Hầu hết đã ngoài tuổi Thất Thập Cổ Lai Hy, có người sắp sửa 90 tuổi, nhưng một số vẫn còn giữ mối dây liên lạc Hướng Đạo, và hẹn sẽ gặp lại các Trường Hướng Đạo đi trước để cùng nhau đưa hai tay lên hông “ Nhảy Lửa” và hát bài “ Giữ Chặt Mối Dây.” Theo tôi, trong bất cứ hoàn cảnh nào.Tinh Thần và Tinh Huynh Đệ Hướng Đạo vẫn luôn luôn bền vững. Đúng như câu châm ngôn của Hướng Đạo. "Hướng Đạo một ngày là Hướng Đạo Mãi Mãi - Once a Scout, always a Scout." 

 Trần Đình Phước 
 (Voi Chăm Chỉ - Đạo Phiên An)

Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2026

Bàn Tay Em, Bàn Tay Anh - Thơ: Nguyễn Thị Thanh Dương - Nhạc: Nguyễn Văn Thành - Trình Bày: An Minh

Thơ: Nguyễn Thị Thanh Dương
Nhạc: Nguyễn Văn Thành
Trình Bày: An Minh

Chờ Ai Mãi



Cớ chi cứ chờ ai mãi
Giờ nầy người ở phương nào
Sao cứ nghìn trùng xa cách
Tháng năm dài biền biệt nhau!

Thương hoài dù không duyên phận
Đời nầy hay mãi ngàn sau
Lòng tôi còn nguyên kỷ niệm
Sắt son mãi không phai nhoà!

Nay vẫn nghìn trùng xa cách
Nhưng lòng không chút tàn phai
Mong người như thời mới gặp
Trinh nguyên không chút hao gầy!

Cớ chi cứ chờ ai mãi!

Hàn Thiên Lương
14-7-2026

Kham Nhẫn Của Tứ Đại



Đất có nói gì đâu dù người ta khạc nhổ
Nước có nói gì đâu dù cống rãnh tràn ra
Gió không chê nghèo khó, vẫn ghé qua
Lửa bị dập vẫn tồn tại bảo tồn sự sống.
Người hãy học làm thinh đừng đối chống
Hãy “Lục hoà” như nước của đại dương
Từ bi như gió mát thổi muôn phương.
Không vướng bụi vì chính mình cát bụi.

*Lục hoà: lời Phật dậy 6 thứ hòa là thân, khẩu, ý, giới, kiến, lợi
hoà hợp với mọi người

Sao Khuê 
21 /9 /2023


Vọng Cố Hương


Xướng:

Vọng Cố Hương 

Hoàng hôn khuất nẻo cuối chân mây
Ngắm bóng tà dương dạ ngất ngây
Hồi tưởng làng quê mùa lúa chín
Cánh đồng gió thoảng tỏa hương bay
Thương anh ngày tháng chăm nương rẫy
Nhớ chị quanh năm bận cấy cày
Vọng cố hương lòng đành thất hứa
Hẹn tương phùng chẳng dứt trời Tây.

Tuyến Lê Sydney
***
Họa:

Hên Tương Phùng

Hẹn tương phùng chẳng dứt trời Tây.
Ba vạn sáu ngàn ngày có mấy?
Tóc bạc, răng long đã đến ngày.
Lưng còng, gối mỏi nay đà thấy.
Thời gian kết chuỗi xác hao gầy.
Năm mốt năm qua hồn ước vọng.
Mơ mộng cuối đời vẫn nguyện xây.
Bao giờ trở lại cố hương đây?

Lâm Hoài Vũ
22/7/2026
 

Số 19 Kỳ Đồng


Năm 1972, Thắng rủ tôi tới 19 Kỳ Đồng, quận 3, nằm đối diện hơi xéo về phía trái nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế. Lúc bấy giờ nơi này đang được sử dụng làm Văn Phòng Liên Lạc Sinh Viên Quốc Nội và Hải Ngoại. Đây là một tòa biệt thự cổ của Pháp, bước vào là một khoảng sân khá rộng, rồi bước tới phòng khách có thể sinh hoạt chung năm bảy chục người, trong nữa là ba phòng dùng làm văn phòng, phòng họp và phòng văn thư. Chỗ này là nơi gặp gỡ và sinh hoạt cho sinh viên đang đi du học nước ngoài khi về nước có chỗ tìm đến nhau, làm quen, kết bạn và tham dự các sinh hoạt cùng sinh viên trong nước. Điều hành chung là anh Đỗ Ngọc Yến. Anh Yến là Huynh trưởng của phong trào Du Ca nên đây là nơi các Huynh trưởng nhạc sĩ của Du Ca thường ghé chơi như các anh Ngô Mạnh Thu, Nguyễn Đức Quang, Trần Văn Bùi và các trưởng trẻ của Du Ca như Đặng Mục Tử, Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn Hữu Nghĩa, Bùi Công Bằng...

Trong số các sinh viên làm việc thường xuyên tại văn phòng, tôi quen với Lương Văn Tự, Nguyễn Ngọc Linh, Đinh Việt Hùng, Nguyễn Văn Thanh. Ở địa điểm này, mỗi cuối tuần có những buổi sinh hoạt trình diễn âm nhạc truyền thống, và một đơn vị Du Ca hoạt động thường xuyên là Ca Đoàn Trung Ương của Phong trào Du Ca.

Hôm đó, Nguyễn Quyết Thắng đưa tôi tới để xem Thắng trình diễn một số ca khúc trong chương trình cuối tuần. Trước phần trình diễn của Thắng là một màn độc tấu đàn tranh. Người nữ thướt tha trong áo dài gấm vàng, đội khăn hoàng hậu. Cô ta ngồi xuống, cây đàn để trên đùi và ngón tay thoăn thoắt lướt trên 16 sợi dây đàn, tỏa mênh mông suốt khán phòng một làn hương dân ca dìu dặt. Tôi nghe và thấy lòng dào dạt thương yêu. Đôi mắt cô ta tròn xoe, lúc nhìn xuống đàn, lúc ngước lên nhìn bao quát, tôi nhìn được một cái gì đó mơ màng như mắt nai, và dịu dàng như người em gái nhỏ. Hết phần trình diễn này là tới phần Thắng hát. Tôi ngơ ngác nhìn theo cô bước vào hậu trường. Không cần ai giới thiệu tôi bước theo cô và làm quen.

- Lúc nãy tôi vào trễ nên không nghe được người ta giới thiệu cô tên gì. Vậy cô tên gì?
Cô ta quay lại nhìn tôi, vẫn cặp mắt mơ màng đó nhìn từ trên xuống dưới rồi trả lời nghiêm chỉnh:
- Tuần sau, anh tới sớm hơn sẽ nghe được người ta giới thiệu tên người trình diễn mà.
- Ồ… Nguyễn Văn Thanh, người điều khiển chương trình, là bạn tôi, tôi có thể hỏi anh ta.
- Thế sao anh không hỏi anh ta mà hỏi tôi?
- Trời ạ, tôi tưởng hỏi cô thì nhanh hơn chứ.
- Anh lầm rồi đó.
Nói xong cô mỉm cười có vẻ hài lòng và quay mình bước vào phòng.

Tôi đành thở dài quay lại hội trường ngồi nghe Thắng hát và chờ cuối chương trình sẽ hỏi lại. Nguyễn Văn Thanh mà sau này trở thành một đạo diễn kịch nghệ với tên Phương Cửu cho biết cô ta tên Ngọc Trai, sinh viên Khoa Học, thành viên ca đoàn Trung Ương. Khi chương trình chấm dứt, tôi không về ngay mà chờ cô ta ra là bước tới hỏi chuyện:
- Ngọc Trai về một mình mà tay cầm đàn có vướng không? Hay tôi đưa Ngọc Trai về nhe?

Cô ta khựng lại, nhìn tôi, bây giờ thì cô ta đeo cặp kính trắng to. Cặp mắt không còn mơ màng nữa, mà sắc như dao lướt qua tôi. Nhưng cô lại cười tươi tắn:
- Được chứ. Anh đến đây bằng gì?
- Bạn tôi chở.
- Vậy anh định đưa tôi về bằng gì?
- Ơ.., tôi… tôi…
May quá, Thắng chạy tới cứu bồ, Thắng nói tôi chở Nữu cầm đàn cho Ngọc Trai và chạy theo Ngọc Trai về nhà như vậy an toàn hơn.
Ngọc Trai trả lời:
- Tôi nghĩ rằng tôi đi một mình an toàn hơn.
Cô ta ngừng một chút rồi nói:
“Nhưng nếu hai anh chạy theo bảo vệ thì cũng vui mà...”

Từ lúc quen Ngọc Trai, tôi tới chơi với Văn Phòng Liên Lạc nhiều hơn, từ đó kết thân với Nguyễn Ngọc Linh và Đinh Việt Hùng. Cả hai đều là Du Ca, và là nhân viên thường trực tại văn phòng. Đinh Việt Hùng hát hay, vừa đoạt giải Khôi Nguyên Tiếng Hát Sinh Viên, còn Nguyễn Ngọc Linh thì phụ trách về Kỹ Thuật, là toán trưởng một toán Du Ca.

Đầu tiên là hẹn Ngọc Trai ở văn phòng liên lạc. Thuở ấy, phương tiện liên lạc với nhau chỉ là viết thư, không có phone, không có fax, cho nên gặp lần này là hẹn lần sau, hoặc tới sớm nhìn lên bảng nhắn tin coi có mẩu nhắn tin nào gắn lên đó.

Văn phòng 19 Kỳ Đồng là nơi gặp gỡ của sinh viên các trường Đại Học trong và ngoài nước. Tôi là một người đặc biệt, cũng là sinh viên, nhưng là sinh viên Sĩ quan Thủ Đức. Mỗi chiều thứ sáu, đi phép về là đi thẳng tới văn phòng, vẫn mặc trên người quân phục đi phép. Thường thì sau giờ sinh hoạt chung, khoảng hơn 8 giờ tối, Ngọc Trai và tôi đi về trên chiếc xe Yamaha nữ màu xanh nước biển của Ngọc Trai. Một lần, vừa tới nơi, tôi thấy Ngọc Trai vẫn còn ngồi trên xe ở sân trước. Cô ngoắt tôi chỉ ra ngoài. Đi theo ra ngoài, ngồi phía sau cho Ngọc Trai chở, tôi vẫn nghĩ là sẽ chạy lăng quăng đâu đó như mọi lần, rồi ghé quán cà phê Phấn Thông Vàng trên đường Nguyễn Thông nghe nhạc tình hoặc ghé hội quán Cây Tre ở Đinh Tiên Hoàng nghe nhạc thân phận, nhưng khi chạy ra tới Ngã Sáu, Ngọc Trai quay lại hỏi tôi nhà ở đâu.
- Nhà... nhà ai?
- Nhà bạn chứ ai.
- Để làm gì?
- Về thay đồ dân sự đi.


Tôi chỉ đường cho cô chạy về cầu chữ Y, vào nhà thay vội bộ quần áo dân sự rồi lại leo lên xe cho cô chở đi, chẳng hỏi là đi đâu. Ngọc Trai chạy về phía quận 6, rẽ vào khu cư xá Phú Lâm B, và ghé vào một căn nhà lớn như một cái biệt thự. Bên trong có khoảng mười mấy thanh niên nam nữ ngồi quanh nhau, mọi người chào hỏi vui vẻ và bày biện ra bánh kẹo trái cây nói rằng hôm nay là sinh nhật ai đó. Lát sau có một người tới nữa, lớn tuổi hơn chúng tôi, người này mọi người gọi là anh Huỳnh.

Anh Huỳnh thấp người, khuôn mặt vuông vức nhưng xanh lét như người bệnh sốt rét. Ngọc Trai nói với tôi anh Huỳnh trước học ở Khoa Học, ra trường lâu rồi, tới đây chơi như một người anh. Khi vòng tròn ăn uống tạm vơi, anh Huỳnh có nói gì đó về trách nhiệm thanh niên, về dân tộc, sau đó hướng dẫn mọi người cùng vỗ tay hát chung một số bài ca sinh hoạt thanh niên. Trong đó có bài tôi biết, có bài tôi không biết. Anh Huỳnh liếc qua tôi và lục trong túi xách mang theo một xấp giấy đưa cho tôi, giọng thân mật, nhắc tôi nhìn vào giấy này và hát theo mọi người.

Tôi gật đầu, lật phớt phớt vài trang xấp giấy quay ronéo đó, đọc và giật mình khi thấy thoáng qua là những lời ca mang nặng tính đấu tranh và hận thù. Tôi chợt hiểu lý do Ngọc Trai muốn tôi thay quần áo dân sự trước khi đến đây. Tôi ngồi im suốt buổi, cho tới khuya mới về.

Ngọc Trai chở tôi về nhà cô ta. Nhà nằm trong đường hẻm đối diện trường Quốc Gia Hành Chánh ở đường Trần Quốc Toản. Căn nhà rộng bề ngang và khá sâu, bên ngoài là phòng khách, rồi tới một phòng lớn có cầu thang lên lầu, phía sau là xưởng ép đế giày bằng mủ cao su. Tôi gặp mẹ của Ngọc Trai. Cụ bảo khuya quá đi đường không tiện, cháu cứ ngủ lại trong xưởng với mấy anh công nhân cũng được. Tối đó, tôi lấy cái ghế bố ngủ lại ở cái phòng có cầu thang lên lầu. Gia đình Ngọc Trai ở trên lầu, cửa khóa lại.

Tôi học ở Thủ Đức xong, ra trường về đơn vị ở tiểu khu Định Tường. Đôi mắt cận thị nặng không phù hợp cho những đêm di chuyển giữa bùn lầy sình nhão, nên tôi xin đi khám mắt và sau đó được giải ngũ vào cuối năm 1974. Những ngày còn quanh quẩn ở Saigon, Ngọc Trai thường đưa tôi đi gặp nhiều nhóm bạn khác lạ. Dù dị ứng với chính trị, nhưng tôi cũng mường tượng ra một cái gì không bình thường ở những nhóm sinh hoạt này.

Tôi thường từ chối đến với các sinh hoạt thanh niên theo từng nhóm, viện lý do không phù hợp để đưa Ngọc Trai rong chơi trong thành phố. Trên chiếc xe hai bánh màu xanh nước biển, tôi chạy dọc bến sông, từ bến Bạch Đằng, qua bến Hàm Tử, qua bến Lê Quang Liêm vào tuốt gần Bình Chánh, rồi ngược ra, chạy theo xa lộ Đại Hàn, chạy ven phía nam thành phố, qua đến Bình Dương, vòng xuống Gò Vấp để về lại Hàng Xanh… Có khi chúng tôi dừng lại ven đường, ghé vào một quán cóc gọi ly cà phê đen đá, thong thả nhìn đời sống kham khổ nhưng yên bình của người dân, có khi trời còn nắng, chúng tôi chạy vào rừng cao su ven xa lộ, ngồi nghỉ ngơi dưới tàn lá rậm, rì rào con gió mùa hè và nghe Ngọc Trai khao khát một đời sống bình yên khi đất nước hòa bình…

Ngọc Trai nằm thoải mái xoải chân trên nền lá vàng, hát mê say: Nếu là chim tôi sẽ làm loài bồ câu trắng, nếu là hoa tôi sẽ là một đóa hướng dương (Tự Nguyện - nhạc Trương Quốc Khánh).

Còn tôi, tôi hát cho Ngọc Trai nghe Bài Hương Ca Vô Tận của Trầm Tử Thiêng: Hát nữa đi Hương hát điệu nhạc buồn, điệu nhạc quê hương. Hát nữa đi Hương hát lại bài ca tiễn anh lên đường. Ngày đao binh chưa biết còn bao lâu, cuộc phân ly may lắm thì qua mau. Hát nữa đi Hương hát để đợi chờ…

Những lúc không đi đâu, tôi cùng Ngọc Trai thường đứng ở lầu một biệt thự 19 Kỳ Đồng. Khung cửa sổ lớn nhìn ra khoảng sân rộng bên dưới, ngoài đường tiếng xe chạy vọng vào xa xa, chiều về chầm chậm, tiếng chuông nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế thánh thót báo lễ chiều và thả hồn mình vào những khao khát hòa bình dù chưa biết cuộc tương tàn sẽ chấm dứt bằng cách nào. Hiệp định Paris đã ký kết cả ba năm rồi mà có ngày nào trên đất nước không có tiếng súng đâu.

Buổi sáng ngày 30/4/1975, tôi đứng trên đường Nguyễn Biểu, nhìn dòng người táo tác, mặt mày thất sắc, ôm đồ đạc chạy từ quận 8 qua, rồi lát sau, một toán bộ đội súng cầm tay đi tới. Cái cảm giác bàng hoàng, buồn vui lẫn lộn. Vậy là hòa bình rồi hả? Vậy là chấm dứt chiến tranh rồi hả? Cái chết không còn là sự đe dọa nữa nhưng rồi cuộc sống sẽ như thế nào đây…

Bất ngờ nhìn thấy chiếc xe Yamaha chạy vào hẻm, tôi vội về nhà, và sửng sốt nhìn Ngọc Trai.
Là Ngọc Trai đó sao? Vẫn trên chiếc xe gắn máy quen thuộc, nhưng hôm nay Ngọc Trai mặc đồ xanh của bộ đội miền bắc, sau lưng đeo một khẩu súng dài, chiếc mũ tai bèo cột chặt dưới cằm thật xa lạ trong mắt tôi.
Cô ta ngoắt tay, kêu tôi ngồi lên xe. Đi đâu? – Đi, làm việc. – Làm việc gì? Tôi biết gì mà làm? – Lên xe đi, lát nữa rồi biết.


Ngọc Trai chạy về phía Chợ Lớn, chạy qua Nguyễn Tri Phương, bùng binh An Dương Vương, rồi ghé vào Đại Học Xá Minh Mạng. Ngoài cổng Đại Học Xá có người gác cửa, họ quen thuộc với Ngọc Trai nên mở cổng cho cô chạy vào. Bên trong, không có một sinh viên nào mà thấp thoáng từng toán bộ đội ngồi đứng xa xa… Ngọc Trai đưa tôi vào một dãy nhà đang có đông người lố nhố, có thường phục, có áo bộ đội, có nón cối, có dép râu, có mũ tai bèo. Chợt một người quay ra nhìn tôi cười, khuôn mặt xanh xám, hai tay lỏng khỏng trong cái áo bộ đội quá khổ. Người này nói ông rất vui khi gặp lại tôi… Tôi khựng lại và nhớ ra… anh Huỳnh. Ngọc Trai nhanh chóng giới thiệu, Huỳnh là họ thôi, anh Tư đây nguyên là Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn đó. Tôi bật lên, à…

Mấy ngày sau đó, tôi hiểu ra. Cái mặt ngoài là mồ côi cha của Ngọc Trai chỉ là cái vỏ bọc. Cô ta là con gái của một cán bộ nằm vùng. Căn nhà mà tôi đã từng tới, đã từng ngủ lại là một cơ sở bí mật tàng trữ vũ khí. Công việc sản xuất đế giày cao su cũng là mặt nổi để họ vận chuyển vũ khí vào thành phố gói kín trong những bành cao su to đùng chuyển từ Tây Ninh về. Tôi còn biết thêm cái ghế bố mà tôi đã từng nằm được kê trên nắp hầm bí mật chứa vũ khí bên dưới. Sau này, người ta giữ lại căn nhà Ngọc Trai ở như một di tích, vì đó là nơi duy nhất ở Saigon cất giấu vũ khí đạn dược mà không bị phát hiện.

Ngọc Trai tạo điều kiện để tôi tới nhà và gặp người Cha bí mật của mình. Thân phụ của cô người cao lớn, nói tiếng Bắc vùng Nam Định, câu chuyện không dài nhưng cởi mở. Ông nói:
“Tôi nghe bà nhà nói về chuyện cậu với con Ngọc Trai nhà tôi. Tôi biết cậu là Sĩ quan, muốn tính chuyện lâu dài, cần phải ổn định cuộc sống. Muốn ổn định thì cậu cần phải học tập. Tôi có thể giúp cậu bằng cách đưa cậu ra phường trình diện và đi học tập ngay. Học xong sớm rồi về mà xây dựng lại cuộc sống gia đình.

Tôi hoãn binh bằng cách nói rằng sẽ bàn lại với gia đình. Nhưng thực sự trong tinh thần hoang mang bất định lúc đó, tôi có cảm giác mọi chuyện không đơn giản như lời nói, và xã hội đang vận hành bằng những bước đi phức tạp và khá buồn. Tôi về, và bắt đầu tránh né những lần đi chung với Ngọc Trai. Rõ ràng vẫn là cô gái ấy, vẫn là những săn sóc chăm lo cho nhau, nhưng giờ đây một cái gì đó không tả ra được làm con người mình dường như không là mình nữa.

Lúc thân phụ Ngọc Trai (về sau tôi biết bí danh là Ba Mủ) đề nghị tôi đi học tập thì chưa có lệnh tập trung sĩ quan công chức miền Nam đi học tập, nghĩa là lúc đó chẳng ai biết học tập cải tạo là gì, ra sao... Và sau này, khi hồi tưởng lại, tôi cũng tin chắc rằng ngay cả người nằm vùng như bác Ba Mủ cũng không biết thế nào là tập trung cải tạo.
Ngọc Trai ghé nhà nhiều lần không gặp, để lại thư nhắn tôi lên số 4 Duy Tân buổi sáng để gặp bạn bè.

Khi tôi lên, gặp lại Bằng, Hùng, Linh, Linh đầu bạc, Hùng hí và Ngọc Trai. Ngọc Trai đề nghị chúng tôi lập lại một nhóm giống như Du Ca, lấy tên là Thanh Ca Tác Động. Nhóm này khi sinh hoạt tại số 4 Duy Tân đã tập trung lên đến hàng trăm thanh niên sinh viên tới chơi chung. Nhóm được đưa vào hội trường chính để nghe hát và dạy hát bài ca mới, rồi đưa đi các trường Đại Học dạy lại cho sinh viên… Dường như chỉ khoảng vài tháng, một buổi sáng, đang tập họp thành vòng tròn, một cán bộ thành đoàn xuống phổ biến một thông báo, thông báo rằng giải tán tổ chức Thanh Ca Tác Động, và cấm các thành viên của nhóm tự ý tụ tập sinh hoạt bất cứ nơi đâu.
Chúng tôi chia tay nhau, ai về nhà nấy.
Không gặp lại Ngọc Trai.

Tháng 9 năm 1975, đợt đổi tiền đầu tiên ở miền Nam là một cú đấm trực diện vào kinh tế xã hội miền Nam. Thiếu thốn, kham khổ từ trước, nay nặng nề hơn thành đói kém, thê lương. Mọi gia đình đều cố gắng thu vén, bán được cái gì thì bán bớt bổ sung vào miếng ăn. Những gia đình họ hàng mà tôi quen biết, gia đình nào cũng có nỗi đau xót riêng, tựu trung là mất mát, chia ly, thiếu hụt và cái chung nhất là hoang mang không biết sẽ ra sao. Mấy anh chị trong gia đình tôi thì hai người anh đi học tập cải tạo chưa biết bao giờ về, một gia đình người chị đi nước ngoài, một gia đình người chị ở lại đi dạy học và thường xuyên lên lớp với cái bụng trống không. Tôi không tìm được việc làm, kể cả công việc nặng nhọc như lao động.

Giữa lúc đó, Ngọc Trai tìm đến. Cô ta hỏi thăm về người anh kế tôi, đang học tập cải tạo ở Đà Lạt. Mẹ tôi thở dài, không có tin tức gì, về con dâu và bốn đứa cháu nội. Ngọc Trai hỏi Bác có muốn con đưa N. lên Đà Lạt thăm anh Diễm và gia đình không? Tôi lắc đầu liền, không đi đâu, xe cộ khó khăn và tiền bạc không có. Nhưng mẹ tôi thì nghĩ đến con trai, con dâu và các cháu nên bị lung lạc. Để làm mẹ yên lòng, tôi theo Ngọc Trai lên Đà Lạt tìm thăm anh Diễm.

Khi xe chạy ra khỏi thành phố, chúng tôi ngồi bên nhau trong im lặng. Tôi đưa mắt nhìn mông lung những hàng cây xa tít tắp, những mảnh vườn, mái nhà hiu quạnh bên đường. Tôi thoáng có ý nghĩ tìm một miếng đất làm vườn làm rẫy sống qua ngày… Khi xe gần đến Bảo Lộc để chuẩn bị dừng cho khách ghé ăn trưa, Ngọc Trai giúi vào tay tôi tờ giấy 50 đồng, nói cầm lấy để chi phí lặt vặt cho chuyến đi. Ăn trưa xong, tôi rút tiền ra trả nhưng nhân viên tiệm ăn từ chối. Tờ giấy 50 đồng quá lớn khi ăn hai đĩa cơm chưa tới 3 đồng. Tờ 50 đó tôi giữ lại cho tới khi về lại Saigon trả lại cho Ngọc Trai.


Những ngày ở Đà Lạt, Ngọc Trai trở về như cô gái ngày xưa, đằm thắm, dịu dàng, sắc sảo và rất thông minh. Chúng tôi vào tận trại cải tạo ở Trại Mát thăm anh Diễm, rồi sau đó đi thăm chợ Đà Lạt, thác Prenn, Cam Ly, tản bộ trên sân Cù, đi bộ dọc theo hồ Xuân Hương. Cả hai không đề cập hay nhắc tới chuyện tôi đến gặp bác Ba Mủ, hay chuyện tình cảm giữa hai người. Tôi biết chắc đó không phải là tình yêu, chúng tôi chưa bao giờ nói với nhau những lời tình tứ riêng tư. Có lần, Ngọc Trai nói dường như tôi đã thay đổi nhiều lắm, cái sôi nổi, hào hứng ngày xưa có vẻ như đã chìm vào đâu đó.
- Không phải vậy. Ngày xưa khi tôi nói là tôi tin rằng những điều mình nói là đúng, nên đủ tự tin để giãi bày ra và hăng say bảo vệ nó.
- Còn bây giờ?
- Bây giờ? Bây giờ tôi nghi ngờ cả sự có mặt của tôi trên mặt đất này, không chừng cũng là điều không thực.
- Bạn không cảm thấy vui khi mình đi bên nhau sao?
- Ngọc Trai vẫn là một người nữ nhiều cá tính và thú vị. Bên cạnh Ngọc Trai là bên cạnh những đợt cuồng phong, cạnh những làn sóng lớn, những chuyển dịch bất ngờ… và đôi khi từ đó vẫn nảy sinh những ước mơ nóng bỏng nhưng...
- Nhưng sao?
- Nhưng đời sống vẫn phải có sự bình ổn về tinh thần. Sự bình an và thư thái nhẹ nhàng...
- Bạn thấy bất an khi mình ở bên nhau?
- Không nói thế được, sự bất an trong tôi bấy lâu nay là thường trực, dù có Ngọc Trai bên cạnh hay không.

Chúng tôi cùng im lặng và giữ gìn tránh tranh luận cho tới lúc về lại Saigon. Tôi buồn. Và buồn hơn khi tôi biết tôi làm Ngọc Trai buồn. Ngọc Trai dành cho tôi rất nhiều sự quan tâm, và có thể nói là chiều chuộng, ngoại trừ những lúc tranh luận, còn không thì Ngọc Trai chiều chuộng tôi như chiều chuộng một đứa em. Bên cạnh Ngọc Trai tôi thấy mình nhỏ bé và thiếu tự tin. Tôi quý Ngọc Trai nhiều lắm, nhưng cái tình cảm đó có vẻ như tình bạn, một tình bạn không bình đẳng mà tôi thuộc về phía yếu kém.

Khi xe về đến bến ở đường Nguyễn Tri Phương, chúng tôi đi bộ về nhà Ngọc Trai, sau đó cô ta lấy xe chở tôi đi. Chúng tôi chạy loanh quanh và ghé ngang qua 19 Kỳ Đồng. Ngôi biệt thự bây giờ bỏ hoang, không người cư trú. Cây hoa sứ lớn giữa sân trong bóng đêm như tỏa ra một vòm tối ám, âm u, nhìn lên trên lầu, cái cửa sổ rộng mở toang, nhìn vào bên trong một khoảng nhờ nhờ trắng, hoang tịch. Ngọc Trai hỏi tôi có muốn ghé vào thăm một chút không. Tôi lắc đầu. Ngọc Trai đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ gấp tư và bảo lát về nhà hãy đọc, rồi rồ ga chạy.

Khi Ngọc Trai chở tôi về nhà ở cầu chữ Y, trời đã tối, chuyến đi bốn ngày làm cơ thể tôi nhão ra như mất sức, những suy nghĩ dằn vặt làm tôi chóng mặt và có cảm giác như đang sốt. Tôi lăn ra ngủ. Sáng hôm sau, thức dậy, chợt nhớ tới tờ giấy Ngọc Trai đưa hôm qua, tôi ngồi dậy lục tìm và mở ra. Trong đó chỉ một dòng chữ ngắn:

“Philippe ơi, đọc nhật ký của Isabelle nhé.”
Philippe là nhân vật nam, còn Isabelle là nhân vật nữ trong tác phẩm Climats (Mặc Đỗ dịch với tựa là Tâm Cảnh) của André Maurois. Cuốn sách Ngọc Trai tặng tôi hồi hai đứa mới quen nhau, tôi tìm trong nhà, không còn cuốn đó, nhưng vì là sách được dạy trong chương trình giáo khoa lớp Đệ Nhị, nên tôi nhớ đại khái là khi Philippe chết vì bệnh phổi, vợ ông, Isabelle, viết trong nhật ký hồi tưởng, câu kết thúc nhật ký và cũng là kết thúc tác phẩm là: “Em tin rằng nếu em giữ được anh, em sẽ biết cách đem vui sướng đến cho anh, nhưng định mệnh và lý trí chúng ta thường lỗi điệu”.

Virginia, tháng 5/2018
Nguyễn Minh Nữu