Thứ Năm, 9 tháng 7, 2026

Vàng Phai Mấy Lá - Nhạc: Đoàn Chuẩn & Từ Linh - Trình Bày: Thu Vàng

Nhạc: Đoàn Chuẩn & Từ Linh
Trình Bày: Thu Vàng
Thực Hiện: Hoàng Khai Nhan

Phật Tại Tâm

 
 
Thơ & Tranh Thơ: Minh Lương


Không Có Anh

 

Mùa xuân không có anh
Lá vẫn xanh
Chim vẫn hót trên cành
Nhưng em nghe lành lạnh
Như thể mùa đông
Vẫn còn đâu đó….

Mùa hạ không có anh
Hoa impatient
Không còn kiên nhẫn
Đã nở đầy bông
Những đóa hoa hồng
Tỏa hương thơm ngát
Mà em nghe như mất mát
Một chút gì…..

Mùa thu không có anh
Thung lũng buồn ngơ ngác
Đón những chiếc lá vàng
Hoa thược dược hé nụ
Nhớ mùa thu cũ
Có anh…….

Mùa đông không có anh
Trời rất lạnh
Nhìn qua cửa sổ
Chỉ thấy trắng xóa
Màu sương
Màu tuyết
Hồn vỡ ra
Từng mànhSao quá mong manh...

Sao Khuê

Đường Dâu


Những con đường nhỏ quanh nhà, khu vực vòng quanh một công viên nhỏ, đâu đâu cũng mọc đầy những cây dâu tằm – mulberry - xanh mướt. Buổi sáng đi bộ trong công viên, nắng đầu mùa hạ lấp lánh trên những cây dâu chi chít quả hồng chưa chín, quả đen bóng sắp rụng và dưới lòng đường in những vệt đen của trái chín rụng đầy.

Dân chúng ở đây hình như không ai biết ăn trái dâu tằm. Trẻ em chơi đùa chạy nhảy trong công viên không hề nhìn đến những cây dâu đầy trái. Các bà mẹ cũng không hề chỉ trỏ, giải thích cho các em biết “đây là cây dâu tằm, lá dâu là thức ăn cho hằng triệu triệu con tằm sẽ nhả những sợi tơ để dệt ra những tấm lụa, thành phẩm đẹp nhất trong các loại vải vóc của nhân loại”

Tháng sáu, đi trên những con đường nhỏ dưới bóng mát của những cây dâu tằm mà chị đặt tên “Đường Dâu”, lúc nào cũng làm chị nhớ về ngôi làng bên nội, làng Phú Xuân, thành phố Huế. Ở đó những lần về thăm làng mấy chị em được mẹ dẫn đến nhà bác Tú, người bà con chuyên nuôi tằm dệt lụa. Lần đầu tiên khi bước xuống nhà ngang thấy những chiếc nong thật lớn với vô số sinh vật bò lúc nhúc trên lớp lá xanh, mấy chị em vừa sợ hãi thụt lùi ra xa vì sợ những con sâu trắng trẻo, béo tròn nung núc đó có thể búng mình nhảy lên tay chân quần áo của mình, lại vừa tò mò mở thật to những đôi mắt lấm lét nhìn bầy sâu đang nhai rào rạo những sợi lá xanh đã được thái mỏng. Mẹ giải thích đó là những con tằm người ta đang nuôi bằng lá dâu để chúng lớn lên nhả những cái kén mà người ta sẽ kéo ra thành sợi tơ và dùng những sợi tơ tằm để dệt ra những tấm lụa.

Rồi mẹ dẫn mấy chị em tiếp qua gian bên cạnh, nơi có những cái kén đang được luộc trong những nồi nước lớn, và phía bên ngoài trên thềm nhà rất rộng, rất dài của bác Tú là các cô thôn nữ đang làm công việc kéo kén với khung cửi có bàn đạp bằng chân kêu lách cách suốt ngày. Và những con thoi quay tròn cuốn vòng vòng những sợi tơ vàng óng ả. Thời đó, dù còn bé, chị đã say mê đứng nhìn không chớp mắt những bàn chân đạp lên khung cửi, những bàn tay quay con thoi ôm vòng những sợi tơ màu vàng mơ mịn màng bóng loáng. Những hình ảnh thật đẹp mà mỗi lúc nhớ lại chị vẫn cảm thấy trong công việc lao động tay chân này hình như phảng phất một cái gì thật dịu dàng thơ mộng.

Những buổi sáng đầu mùa hạ, bầu trời xanh cao vời vợi, những đám mây trắng nhẹ nhàng thong thả trôi, những tia nắng vàng ấm áp rực rỡ, đi bộ trên Đường Dâu, dưới những tàng lá xanh luôn làm chị quay quắt nhớ về quê nhà, nhớ cha mẹ, nhớ những con thoi quay nhanh, quay nhanh như nhịp sống của những con tim lành mạnh ... thuở xa xưa ấy.

Thời gian trôi thật nhanh. Ngày nào từ phố dọn về khu vực ngoại ô này anh chị còn khỏe mạnh, chị mới nghỉ hưu, thời gian thư thả. Khi vừa hết mùa đông, tuyết tan, sân bóng chuyền của công viên vừa chớm cỏ xanh khô ráo, mỗi sáng anh chị đều đi bộ vài chục vòng quanh sân, rồi anh ngồi phơi nắng, chị đi lòng vòng dưới những cây dâu tằm mẹ - cây dâu cái – hái những trái thật chín, thật mọng. Hái cho vui vậy thôi có khi cũng không ăn đến. Hái cho tới khi mỏi cổ thì thôi.

Bây giờ, 15 năm sau, anh chị là hình ảnh hai ông bà già, ông bước đi nhờ vào 4 bánh xe lăn, bà cũng phải vịn vào thành xe cùng bước. Công viên với những con đường nhỏ, dày đặc những hàng cây dâu tằm vẫn mỗi năm rụng đầy trái chín nhưng chị đã không còn đủ sức ngửa cổ lựa những trái chín đen. Anh chị vẫn mỗi sáng ra công viên, dù không còn đi bộ chỉ ngồi trên băng ghế nhìn trẻ em nô đùa bên những ông bố, những bà mẹ trẻ. Chúng chạy nhảy hò reo, rượt đuổi nhau, leo trèo trên những cầu tuột, cởi ngựa gỗ, tòn ten trên xích đu ... nhưng chớ có em nào nhìn đến những cây dâu tằm đầy trái của chị.

Có khi chị những muốn rủ các em nhỏ đến dưới tàng dâu, chỉ cho chúng xem những trái dâu be bé thật xinh ẩn mình trong lá, những trái non màu xanh nhạt, chuyển sang màu hồng, rồi hồng đậm sang màu đỏ, rồi khi chín sẽ là một màu đen tuyền lấp lánh như những con mắt bé thơ. Chị muốn nói với các em nhỏ này về những trái dâu chín mọng sẽ được chế biến thành món kẹo dâu tằm thơm ngọt, ngon lành ở thành phố Đà Lạt, quê hương Việt Nam của chị. Và những lá dâu xanh là thức ăn bổ dưỡng để nuôi tằm, để tằm nhả tơ, để tơ được dệt thành những tấm lụa mịn màng, quý phái.

Bây giờ thì sau khi ngồi phơi nắng, trên những con đường nhỏ chậm chạp trở về nhà chị chỉ còn đủ sức hái chừng chục lá dâu non mọc là đà ngang tầm tay, từ những cây dâu đực, không cho trái nên lá dâu của những cây này to bằng bàn tay chị. Chị sẽ dùng lá dâu tằm thay lá lốt, thứ không bao giờ tìm được ở siêu thị gần nhà, chị sẽ cuốn thịt nạc băm trộn thêm cà rốt, nấm mèo vào lá dâu non, cho vào lò nướng cho bữa cơm chiều. Chị nghĩ tằm ăn lá dâu ngon lành, mập tròn vo và lớn như thổi, người cũng đã từng ăn nhộng tằm ngon lành thì mình trực tiếp ăn lá dâu cũng không có gì đáng ngại. Vậy là chị khỏi phải đi chợ Tàu, chợ Việt xa xôi để tìm lá lốt cho món thịt cuốn, và thay vì món “bò lá lốt” chị có món đặc biệt “bò, heo lá dâu tằm”.

Cũng nhiều khi chị vẫn vơ suy nghĩ, tên “Đường Dâu” chỉ hiện diện trong lòng chị, một mai khi chị không còn liệu có người Việt nào khác đến sinh sống trong khu vực cũng sẽ đi qua những con đường nhỏ này, cũng sẽ nhớ về quê hương và tiếp tục đặt tên “Đường Dâu” cho những con đường nho nhỏ, xinh xắn, xanh mướt bóng dâu tằm trên một đất nước xa quê hương ngàn vạn dặm.

Sông-Hương

Người Đưa Thư Đã Đi Qua


Nhà tôi ở lưng chừng một con dốc. Con dốc là cái rướn mình nấn níu của dãy núi chạy đùa xuống từ hướng bắc, tới giữa đảo bỗng khựng ngang, rồi cố trườn về phía con sông nước chảy xiết sau mấy dặm rừng thưa. Những ngày trở gió, hơi nước ẩm luồn qua các rặng cây cổ thụ, thổi thốc vô mặt mũi cái mùi thảo dã của đồng cỏ phía bắc. Những cơn gió thổi chừng không biết mệt, kéo ghịt người đi bộ lại từng bước. Áo choàng thả lỏng kêu phần phật, người đi lầm lũi giành từng thước đường lên. Cái hoạt cảnh đó diễn ra hằng ngày trước mắt tôi, sớm trưa chiều tối, từ hạ sang đông. Không vậy mà nhiều người vẫn cố tránh. Dễ chừng nếu không có gì hệ trọng, hẵn họ đã rẽ sang ngõ khác. Nhưng có một người không thể tránh, nắng mưa kể cả tuyết giá, ông ta vẫn lầm lì lội bộ lên cái đoạn đường quái ác đó. Người đưa thư của xóm tôi. Bộ đồng phục màu xanh biển và chiếc túi xách trì một bên vai vẫn là cái nét quen thuộc duy nhất của một khu gia cư mà những căn nhà thường đóng cửa im ỉm vốn không gợi được chút nào niềm thân mật.

Mỗi buổi sáng, khoảng 10g, người đưa thư đi qua…

Ở mấy cái xứ tân tiến này, nghề đưa thư không hẵn là một nghề hạ bạc. Mà không chừng với tổ chức nghiệp đoàn, họ còn sướng hơn nhiều lần những nghề khác. Không phải là cái hình ảnh gầy còm, hốc hác, thui thủi …Không. Ở đâu không biết, chớ ở đây, họ hồng hào, tươi tắn, khỏe mạnh …

Vậy mà sao, trong tôi, hình ảnh người đưa thư vẫn phảng phất một vẻ gì đó lãng đãng rất phong sương.Có phải vì trong cái túi đeo vai của họ đang căng phồng gió bụi của đường xa còn bám đầy những phong thư kín chữ, gói ghém những thao thức nhớ, những nỗi niềm mong. Những người đưa thư đó đang làm cái việc nối lại những khoảng không vốn vẫn hay chia cách những tấm lòng.

Ðã lâu, khi mà người ta còn tụm năm tụm ba thành những chòm xóm tản mác xa xôi, cách núi ngăn sông, người đưa thư đã là những cánh tay nối dài, dài lắm.. từ một góc bàn viết, một khung cửa sổ hay cạnh một góc giường đơn chiếc … đến một góc bàn viết khác, một khung cửa sổ khác hay một cạnh giường đơn chiếc khác … từ một sườn núi nối tới một vực biển, từ một bờ sông nối qua một vàm rạch … Rồi từ xóm làng lan dần ra đường phố. Họ tẳn mẳn tỉ mỉ nhìn soi một số nhà, len lỏi một hóc hẻm, băng qua một đại lộ hay trèo lên một nấc thang. Họ biết hết, ông triệu phú trong ngôi biệt thự lộng lẫy, anh thư ký quèn trên căn gác lợp tôn, bà giáo già có đứa con trai đi trận, cô gái điếm còn bà mẹ ở quê … Họ biết mặt từng người, họ còn biết luôn cả tâm trạng của người đối diện. Họ đong lường được cái chờ mong, cái sốt ruột, cái hân hoan cũng như cả cái hững hờ.

Có một thời, những tờ giấy, những ngòi bút và những dòng chữ… ờ những dòng chữ. Những dòng chữ với nét chấm phá gọn và sắc như có lá trúc xen ngang. Những dòng chữ ngoằn nghèo như phù phép bùa chú. Những dòng chữ thẳng đứng trượng phu. Những dòng chữ nghiêng nghiêng điệu cò bay lả cánh. Những ngòi bút lá tre chấm mực xanh xanh tim tím, những đầu bút tròn vo như viên bi … Còn những tờ giấy, ờ những tờ giấy trắng tinh thơm phức mùi nhựa thông đầu núi, những tờ giấy hồng phơn phớt chút hương hoa… Có một thời, mọi thứ đó đã là vật tối cần thiết cho đời sống tinh thần và tình cảm của con người.

Lướt thướt trên mặt giấy lặng thinh, người ta cân nhắc một nét phẩy, một dấu chấm. Người ta nghĩ ngợi, người ta so đo. Nhớ thương vui buồn oán hận trách móc. Thăm hỏi hứa hẹn… Ðủ thứ, kể cả đôi khi chỉ vơ vẩn thứ chuyện mưa xuân với nắng hè…Trong sự yên lắng cùng cực của mặt giấy mênh mông, người ta nói chuyện với một người. Thầm thì hay rạo rực. Xốc nổi hay điềm đạm. Người ta nói, nói miên man, nói thay cho những đêm tỉnh mịch, nói thay cho những ngày vật vã. Những lá thư. Ờ, những lá thư. Những lá thư thay cho một tiếng kêu vui, những lá thư thay cho một tiếng khóc nghẹn. Khi những khoảng cách còn là những dặm trường. Những sông ngăn núi trở. Những yêu-em-anh-cũng-muốn-vô sợ-truông-nhà-Hồ-sợ-phá-Tam-Giang. Khi những khoảng cách mãi là những bức tường thành được dựng lên bằng lề thói xả hội, bằng tôn giáo, bằng giai cấp, bằng giàu nghèo sang hèn. Khi những khoảng cách giữa người và người được rào chắn bằng mọi kiểu, mọi cách, mọi thứ vô lý vô nghĩa vô nhân vô tình nhất.

Bất chấp cái đầu và con tim của con người chẳng có gì ngăn cách được.

Roméo và Juliette. Thử tưởng đến những dòng chữ ân tình đã lén lút viết gởi cho nhau bằng mực và nước mắt qua mấy bức vách đá lầm lì và những tấm lòng thù hận sân si. Những bức thư mà tiếng Việt còn gọi là những cánh thư dù những bức thư không có cánh. Phải chăng đó là một dụng ý rất tế nhị để gọi thứ phương tiện truyền đạt khi người ta không thể gặp nhau vì bất cứ một thứ trở ngại nào đó. Cánh, cánh chim, cánh thư ! Có còn một ẩn dụ nào kỳ diệu hơn nữa !

Ờ, những lá thư không mang cánh chim bằng mà bay qua vạn dặm để nối kết hai đầu của một nỗi nhớ mênh mông. Những cánh thư mỏng dánh mà xóa nhòa hết mọi biên giới trần gian để làm sum họp những đoạn lìa tức tưởi.

Đã có một thời, những cánh thư ...

Ờ đã có một thời, từ hai bên bờ một đại dương ngăn ngắt, những cánh thư bay qua bay lại để gởi nỗi héo hon của người ở lại tới người vừa bỏ ra đi. Và mang trả về bên bển, con mắt trao tráo của khuya hôm mất ngủ vì chợt đâu có một bóng trăng rơi xuống đầu giường. Những cánh thư mang theo từng cơn thắc thẻo của cha mẹ già khi bị bứt lìa xa từng núm ruột. Những cánh thư vàng vọt dấu thời gian, chui lách qua chằng chịt những cặp mắt cú vọ của đám giặc bất nhân, rồi bay chập chờn qua mù mịt biển...

Những ngày đó, sau cơn đột tử của quê hương đến nỗi phải bỏ nước ra đi làm kẻ lưu vong, từ sau cửa sổ, dòm chừng con dốc cao, khi bóng người đưa thư vừa trờ tới, đã có bao nhiêu lần trái tim còn trẻ bỗng như đập hụt một nhịp. Và một ý nghĩ thoáng qua. Cha mẹ mõi mòn bên đó. Trông thư. Mà lại cứ sợ một lá thư... ! Bởi vậy thuở đó cứ vừa trông vừa sợ người đưa thư ghé lại nhà !

Thư tới chậm quằn đôi cánh mõi. Giấy võ vàng héo muộn đường xa. Dấu chấm nặng như từng viên sỏi. Ném vào tim ngàn trận phong ba ...
Dẫu vậy, những lá thư đâu chỉ để làm buồn. Những lá thư còn là những cánh én mang dấu hiệu của mùa xuân mới. Của thứ tình cảm dễ hiểu và cũng khó hiểu nhất của con người. Kiểu những Lá Thư dập dìu sóng nhạc của Đoàn Chuẩn Từ Linh viết đâu từ một thời tiền chiến

Nhớ tới mùa thu năm xưa gửi nhau
phong thư ngào ngạt hương
nét bút đa tình lả lơi
nhớ phút ngập ngừng lòng giấy viết rằng
chờ đến kiếp nào
tình đầu trong gió mùa (*)

Ờ những lá thư - giấy trắng mực đen hay giấy hồng mực tím - chứng tích của tình vui tình buồn tình thương tình nhớ tình sầu tình đau tình hận... hầm bà lằn xắn cấu tình, tình nào cũng có, đã được ép giấu như xác bướm khô trong những tập sách hay được xếp cất cẩn thận trong hộp sắt hộp gỗ như đồ gia bảo hay đã bị... phóng hỏa cho hả cơn... thất tình.

Thử nhớ lại một thời mới lớn, giữa lúc mà lễ giáo nho phong còn là cái khung kềm giữ mọi động tịnh xả hội, gái trai thì muôn đời vẫn là ong bướm đương xuân, thì làm sao mà kềm giữ cho đành. Vậy rồi lỡ có mắt liếc mày ưa thì làm sao mà tỏ dạ. Những lá thư, ờ những lá thư. Những trang giấy xé ra từ tập vở học trò, mực tím mực xanh, chép vụng về một câu thơ bóng gió của ai đó, hay khá hơn, cắn bút, cặm cụi tả trời trăng mây nước để vụng ý một tâm tình, rồi cẩn thận xếp đôi xếp ba, nhét vào phong bì rồi nắn nót đề tên địa chỉ “ ai đó “ rồi len lén ghé một trạm bưu điện, rồi ngó trước ngó sau nhét đại vào thùng thơ rồi vội vã quay lưng bỏ đi như vừa làm một việc tày trời cứ sợ người quen bắt gặp. Mà cũng phải, ở cái tuổi mới nứt mắt thì có chuyện gì trọng đại mà phải thư với từ ngoài cái chuyện gởi thư với tình, thứ chuyện động trời thời đó. Thư đó. Thư tình mới lớn.

Lớn lên chút nữa. Anh tiền tuyến em hậu phương. Giữa cái thời nhộn nhạo lửa đạn thì ôi thôi hẵn không biết đã có bao nhiêu trang thư viết tay đã bay tới bay lui để kéo lại gần nhau một thành phố và một góc rừng, để nối lại một môi hôn còn lở dở. Thời đó, những người lính quân bưu đã vác những bọc thư với những địa chỉ KBC lạ hoắc theo những chiếc trực thăng bay tuốt lên những đồn binh treo lắt lẻo trên những chỏm núi vắt mây hay lún chân trong những bãi sình lầy để trao tận tay người ở đó mấy lời hỏi han lo lắng cầu nguyện... của người ở nhà. Rồi len lách qua những ngõ hẻm, lặn lội qua những làng xóm... người đưa thư ở thành phố lại đem về một lời trấn an, một câu dặn dò, một ước hẹn... của người đi xa. Vậy đó, những lá thư và những người đưa thư thời đó đã cầm giữ, níu chặt từng mối thâm tình đang bị gió bão lung lay. Cho đến giờ, dẫu có cứng lòng cách mấy, mà có dịp nghe hay đọc lại một đoạn nhạc và lời của ông Trần Thiện Thanh trong cái thời lửa đạn đó mà không xúc động

Thư của lính, ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay
Nhưng thư của lính ghi giữa rừng cây khi nhớ em thật đầy (**)

Ờ những lá thư viết từ một góc núi, ở một bìa rừng, kê giấy lên ba-lô, lên một tảng đá mà viết mà tâm tình mà hẹn hò... dù năm bảy phút sau, lá thư đã bị bỏ dở nửa chừng vì một viên đạn quái ác. Ờ những lá thư, nét chữ run rẩy như những câu tâm kinh đứt khúc của bà mẹ xa con, của người vợ sinh con đầu lòng mà không thấy mặt chồng, của người tình trẻ nhớ một người lính trẻ ...

Thương hông, làm sao không xúc động. Đã có một thời, người ta viết thư cho nhau bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào vì sống và chết đã không còn ranh giới, vì sum họp và chia lìa không ai hẹn được. Chỉ còn những lá thư, với người đưa thư như những chiếc phao cuối cùng nấn níu cho những tâm tình sắp đuối.

Tình sử còn đầy những trang thư kín chữ mà mỗi dấu phẩy dấu chấm là những thao thức dằng dặc, mà mỗi tái bút là một ước mơ trăn trở, mà mỗi đợi chờ đã hiển hiện ngay từ khi vừa gác bút. Những lá thư tình của Napoléon và Joséphine mà chữ nghĩa quến đặc như mật ngọt dậy men.. Những lá thư của George Sands và Alfred de Musset mà tình ý đắm đuối ẩn tàng trong từng lớp vỏ chữ bọc ngoài (***). Gần với chúng ta hơn, 55 năm sau ngày mất, người con gái của Albert Camus đã cho phổ biến Correspondance 1944-1959, gồm 1255 ( một ngàn hai trăm năm mươi lăm ) trang thư chi chít chữ nghĩa say đắm như hoa với bướm, được trao qua đổi lại giữa nhà văn và người nhân tình giấu mặt, nữ kịch sĩ Maria Casarès. Một ngàn hai trăm năm mươi lăm trang kể lể nhớ thương, kêu rêu cách trở, và nồng nàn hơi hướm tình nhân... của một nhà văn mà mỗi tác phẩm đều là một tra vấn sắc lạnh về bản thể của cuộc đời, mà tha-nhân-là-địa-ngục, mà mọi tương giao chỉ là ngộ nhận, mà mỗi người trong chúng ta từ sinh ra đã chịu chung lời nguyền Sisyphe ...

Dưới ngòi bút của một văn nhân, tình yêu hiện ra lóng lánh muôn màu muôn sắc. Chữ và nghĩa không còn là những ký hiệu vô tình, mà ngược lại được vỗ về bằng chính sự chân thành, nỗi thiết tha, niềm đam mê, lòng trân trọng... chữ nghĩa đó đã bay tung lên như đàn bướm lượn để tụng ca tình yêu. Và ngược lại, nhờ vậy tình yêu cũng trở nên tươi thắm như lá hoa được tắm mát mưa nguồn. Người ta yêu nhau. Và hạnh phúc trần gian là một cái gì có thật. Kể cả đến khi mất nhau vì định mệnh, niềm luyến ái giữa hai người vẫn không chút lạt phai. Maria Casarès. Quand on a aimé quelqu’un, on l’aime toujours. Lorsqu’une fois, on n’a plus été seule, on ne l’est plus jamais. (****)

Làm sao kể ra hết được những lá thư tình giấu mặt, bay lẫn lút trong cõi thế gian vô tình, bay chấp chới trong cõi không gian vô tận. Vậy đó mà những cánh thư bay qua bay lại, mà nối kết những chia lìa, mà xóa mất những ranh giới nhân tạo ngăn cách những tấm lòng.

Đã có một thời, những người đưa thư ...

Thử tưởng đến những kỵ sĩ phóng ngựa trong đêm, qua đèo qua suối, để trao cho kịp một phong thư, nối cho kịp hai đầu một nỗi nhớ. Nắng lửa, mưa dầm, gió cuốn, sương sa... đã có bao giờ làm chùn bước... những người đưa thư ! Không. Tự như thời xưa họ đã gò mình trên lưng ngựa, qua truông qua ải, đến thời sau họ vẫn lầm lũi xuôi ngược khắp phố phường, qua ngã năm ngã bảy, len lỏi những hóc hẻm, leo trèo những bậc thang để giao tận tay một nỗi vui, một niềm buồn, một trách móc hay một chờ trông ... kể cả thắp lại cho những kẻ lỡ đường lạc bước từng chút niềm hy vọng. Làm sao quên được câu chuyện đẹp như một bài thơ của anh phát thư Mario mù chữ, mỗi ngày còng mình trên chiếc xe đạp cũ mèm, bánh lăn lao xao qua triền núi quanh co, trên một hòn đảo nhỏ ngoài khơi Địa Trung Hải để tận tay giao cho Pablo Neruda từng lá thư quê nhà khi nhà thơ bị kết án lưu vong, phải bỏ xứ ra đi. Từ đó nẩy sinh một mối giao cảm lạ lùng. Anh đưa thư chữ-nghĩa-i-tờ, lặn lội từng ngày để trao tận tay người thi sĩ hơi hướm của quê hương từ ngàn trùng cách biệt, qua những cánh thư. Đổi lại, người thi hào đã từng đoạt giải Nobel văn chương chuyển lại cho chàng trai quê mùa và dốt nát những ẩn dụ thi ca tuyệt tác. Chuyện phim dù là tưởng tượng nhưng sáng ngời tính nhân bản trong mối liên hệ giữa người và người. (*****)

Những lá thư và những người đưa thư đã có một thời dính liền nhau như một. Và quí giá và cần thiết không kém gì cơm gạo, bánh mì, nước lọc ...
Vâng đã có một thời, những lá thư -không hạn định số câu số chữ mà chỉ bị giới hạn bằng chính xúc cảm của người viết, nghĩa là bằng chính một phần đời sống thật, lửng lơ hay cuồn cuộn, rạo rực hay rã rời... Và người đưa thư, những bước chân không mỏi đi nối lại những dặm trường ...
Vậy mà cái thời đó đã mất, hay sắp mất. Mà đã hay sắp thì cũng là đang mất.
Những lá thư chưa bao giờ có giới hạn vì lòng con người có gì để giới hạn đâu. Người ta vui, làm sao tính được vui mấy chữ mấy hàng. Người ta buồn, làm sao tính được buồn mấy câu mấy đoạn. Vậy mà đã tới lúc phải tính.

Cái thời đại tin học coi vậy mà ác nghiệt. Chẳng cấm chẳng cản mà rồi đến một lúc dưng không người ta quên mất những câu viết ân tình. Dường như đã đến lúc mọi chuyện, hỏi han, hẹn hò, nhắc nhở, than thở, trần tình... ngay cả giữa những tình nhân còn đang lúc mặn nồng cũng đâm ra tiết kiệm từng chữ... từng lời. Mấy cái «ấp » ( app ) trên mấy cái điện thoại cầm tay ( hay còn được gọi là điện thoại tinh khôn ) đã được tính toán sao cho gọn cho nhanh cho kịp... tới nỗi rồi ra chỉ còn từng mẫu đối thoại cụt ngủn cụt ngẳn, cắt đầu ngắt đuôi... Dĩ nhiên chưa đến nỗi như có “ấp” còn hạn chế hỉ-nộ-ái-ố-ai-lạc-dục vỏn vẹn vào 140 chữ. Do tính chất và điều kiện xử dụng, tự ban đầu có mục đích là để nhắn tin, riết rồi thành thứ phương tiện thông tin, truyền bá, bày tỏ, thăm hỏi, rủ rê, mời gọi... kể cả tự tình... phổ biến phổ thông phổ cập nhất đời. Đôi khi để nhanh gọn hơn nữa, óc sáng tạo của con người sáng tới tạo ra những hình tượng gọi là “emoji” để thay cho chữ viết, thứ ký hiệu ngoằn nghoèo mà lắm khi vì vội vã bấm sai bấm lộn lại phải bấm lại, dấu hỏi hay dấu ngã, có “g” hay không có “g”, nghĩa là thay luôn cái giọng điệu ngọt ngào âu yếm nũng nịu vui mừng... hay ngún ngẩy giận hờn của cái thời lãng mạn giờ xưa còn hơn trái đất xưa. Một trái tim là yêu. Hai trái tim là hai lần yêu hơn. Ba trái tim là yêu gấp ba. Và cứ vậy mà yêu thương thả dàn, cứ đếm số trái tim mà đo lường nồng độ của tình cảm. Tình phụ thì trái tim bị chẻ đôi. Dễ ợt và chính xác như một cộng một là hai. Vui ( thích, khoái, chịu... ) thì hình vẽ cái mặt tròn quay với cái miệng toe toét hai khóe cong lên như cái dấu á “ v ” , còn buồn ( quạo, giận, hờn... ) thì cong xuống như cái dấu ớ “^”. Hay thì ngón cái giơ lên. Dỡ thì ngón cái chúc xuống. Rủ uống cà-phê thì có hình tách cà-phê bốc khói. Mời rượu thì có ly rượu nho đỏ hỏn. Hù dọa thì có sọ người. Dụ dỗ thì sẵn cây kẹo ngọt. V.v... và v.v... Đủ hình đủ kiểu đủ ý đủ nghĩa. Nhanh, gọn và khỏe re khỏi phải ỉ ôi dông dài dai dẳng dằng dai... Những hình vẽ với dụng ý khôi hài, giễu cợt, ấn tượng, siêu hình, tượng trưng, tả thực... tả-pín-lù thập cẩm vậy mà ăn khách vô cùng, vậy mà trám vừa đủ chỗ cho cái kho tàng ngôn ngữ và chữ viết của mọi giống người đủ mọi gốc gác. Cái tháp Babel có cơ may được dựng lại. Ở hai đầu một mối thân sơ, hai bên đều thoả mãn cái lối nói dấm dẳn, vụt vặt, vu vơ... Thời đại kỷ-thuật-số, gom lại chỉ còn cái số-không và số-một.

What’s ap, Messenger, Viber, SMS... ôi thôi kể ra mà lẹo lưỡi, cái nào cũng hay cũng nhanh như sao xẹt. Chớp nhoáng. Tức thì. Nghĩ cũng phải. Khách đường xa sắp sửa đăng trình bằng những đoàn tàu Hyperloop với tốc độ cả ngàn cây số một giờ thì tiếc chi ba cái lời nhắn nhủ hay dặn dò kể lể lê th ... Mặt đất ai nói mênh mông phút chốc gần hơn Kẻ Chợ. Kể ra tiện lợi thì không có gì tiện lời cho bằng. Lại thêm không thể không gật gù thán phục. Nhìn những người trẻ hôm nay trao đổi với nhau trên bàn phím ảo -nhỏ hơn lòng bàn tay con gái- chỉ bằng hai ngón tay cái mà thiên biến vạn hóa. Chữ nghĩa ở đâu mà hiện ra cứ vùn vụt như gió cuốn mây bay. Cho dù xa vạn dặm, mới hắt mủi là đối tượng hay liền. Thiên lý nhản với thuận phong nhỉ trong truyện Tàu ngày xưa cũng chỉ thiên biến vạn hóa tới vậy là cùng. Được vậy người ta lại càng thấy gần gũi nhau đến không còn một ly cách trở. Có điều, nếu thuyết tiến hóa của Darwin mà đúng trăm phần, hổng chừng thêm năm ba thế hệ nữa, hai bàn tay sẽ chỉ có hai ngón cái là to, chắc và dẻo nhẹo, tám ngón còn lại có thể teo tóp đến nỗi chỉ còn dùng để ... phe phẩy.

Nhất là hết nghĩ xuôi rồi lại nghĩ ngược, nghĩ tới nghĩ lui rồi đâm ra cũng thấy ngẩn ngơ đôi chút.

Mai mốt còn đâu những tâm tình ẩn mật mà viết rồi lại xóa, xóa rồi lại viết, trang này sang trang khác, tờ trước nối tờ sau, thư-viết-đừng-xong-thuyền-trôi-chớ-đỗ, cho-nghìn-sau-lơ-lửng-với-nghìn-xưa... Mai mốt còn đâu những tâm sự tỉ tê kiểu rủ rỉ rù rì không đầu không đuôi mà lê thê không muốn dứt -dĩ nhiên rất mất thì giờ, nhưng lắm khi người ta lại muốn mất thì giờ hơn là có thì giờ để ngồi ngắm cái bóng chiếc trong cái phòng không. Mai mốt còn đâu những trông những ngóng, những chờ những đợi một hồi âm... Hổng nhớ sao, hồi đó ông Châu Kỳ ổng viết bài Sao không thấy hồi âm rồi cô Hoàng Oanh cổ hát nghe mà đứt ruột. Nhưng dẫu đứt ruột mà nghe ra đã làm sao. Hổng đã sao được. Có chỗ để mình trang trải tâm sự rồi nuôi nấng một đợi chờ. Hổng hơn cái lòng trống rổng, cái đầu trống trơn mà thời gian thì trống hoác sao ?

Mai mốt còn gì để lại cho đời kiểu ông Lôi Tam những năm 60-70 “... nếu em trách tôi sao hờ hững, tôi chỉ mỉm cười mà chẳng dám thanh minh. Em đâu biết tôi đã thức suốt năm canh viết lên bóng tối muôn vạn bức thư tình chẳng bao giờ chấm dứt “

Muôn vạn bức thư tình chẳng bao giờ chấm dứt. Còn gì đẹp cho bằng những bức thư tình viết hoài viết hủy, viết như lên cơn đồng thiếp, mà mỗi lời mỗi chữ là mỗi khai phá những trầm tích của lòng, không đường nét không màu mè mà lại lồng lộng bóng sắc, như hương của hoa và tơ nhện của tình mà người ta đem tặng cho nhau để xoa dịu bớt những sắc mắc của đời vốn dĩ không lấy gì làm êm ả.

Từ những năm 50, nhạc sĩ Trịnh Văn Ngân đã viết một bài nhạc có tựa là Người đưa thư đã đi qua. Không biết ông ta có linh cảm điều gì không mà cho người đưa thư lẳng lặng đi qua, qua luôn không ghé lại.

Vô tâm tiếng chân đều đều vang theo ai bước đi
Xa xa cứ xa dần dần trong khi tim ta muốn lắng ... (******)

Ờ đã tới thời những lá thư bị cắt cụt cánh. Và người đưa thư, người bạn trung thành của không biết bao nhiêu tình nhớ tình mong tình chờ tình đợi ... đã đi qua, đi qua luôn.

Và hổng chừng không còn quày trở lại nữa!

Cao Vị khanh

(*) Tựa bài nhạc của Trịnh văn Ngân xuất bản năm 1953
(*)Lá thư - Đoàn Chuẩn Từ Linh
(**)Thư tình của lính – Trần Thiện Thanh
(***)Lettre d’amour de George Sand pour Alfred de Musset

En apparence il s'agit d'une simple lettre d’amour. Pourtant, si vous lisez seulement une ligne sur deux, vous découvrez un texte caché.

Lettre de George Sand à Alfred de Musset :
Je suis très émue de vous dire que j'ai
bien compris l'autre soir que vous aviez
toujours une envie folle de me faire
danser. Je garde le souvenir de votre
baiser et je voudrais bien que ce soit
là une preuve que je puisse être aimée
par vous. Je suis prête à vous montrer mon
affection toute désintéressée et sans cal-
... et si vous voulez me voir aussi
vous dévoiler sans artifice mon âme
toute nue, venez me faire une visite.
......................................................................
.........................................................
........................................
( tự ý đục bỏ )

La réponse d'Alfred de Musset :
(Lire le premier mot de chaque ligne)

Quand je mets à vos pieds un éternel hommage
Voulez-vous qu'un instant je change de visage ?
Vous avez capturé les sentiments d'un cour
Que pour vous adorer forma le Créateur.
Je vous chéris, amour, et ma plume en délire
Couche sur le papier ce que je n'ose dire.
Avec soin, de mes vers lisez les premiers mots
Vous saurez quel remède apporter à mes maux.

Et la réponse de George Sand :
(Lire le premier mot de chaque ligne)

Cette insigne faveur que votre cour réclame
Nuit à ma renommée et répugne mon âme.

(***́*) Tạm dịch: "Khi bạn yêu ai đó, bạn sẽ luôn yêu họ", Maria Casarès đã tâm sự như vậy rất lâu sau cái chết của Albert Camus; "Một khi bạn đã cô đơn, bạn sẽ không bao giờ cô đơn nữa."
(*****) Il Postino
(******)Người đưa thư đã đi qua – Trịnh Văn Ngân

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2026

Em Cũng Là Hoa: Cúc Vàng

 

Sầu đong ướm nụ cúc vàng
Thì thôi xây mộng lỡ làng bên hoa


Thơ & Ảnh: Kim Phượng

Biển Sầu Trong Mắt Đợi

 

Em ngồi đó, biển sầu trong mắt đợi
Thuyền trăng xưa biền biệt cõi sương mù
Bao năm tháng vì đời nhau:- khắc khoải
Lời hẹn thề vương vấn đến thiên thu.

Phương trời xa người đi còn lận đận
Thêm niềm đau cho kẻ ở nơi nầy
Trong đáy mắt tình xưa luôn rõ dấu
Nỗi chờ trông dáng vóc cũng hao gầy

Tình một thuở hồng tươi trên bến mộng
Đàn thơ say ngây ngất vị hương nồng
Bản tình ca trao lòng nhau tha thiết
Thuyền yêu thương êm ả giữa dòng trong!

Nhưng mưa gió bão bùng gây tang hải
Bến mộng điêu tàn, tan tác thuyền hoa
Cõi nhân sinh nắng trời thêm dầu dãi
Cuộc phân ly mắt biếc lệ rơi nhoà!

Đàn vắng tiếng dư âm càng não nuột
Đọng vào hồn cô phụ nhớ người xa
Trong u tịch nàng cúi đầu thầm nguyện:
Cuộc tương phùng dạo lại khúc hoan ca.

Nhưng cuộc đời vẫn còn nhiều mưa gió
Bóng người đi mãi khuất cuối chân trời
Em cam chịu cô đơn buồn chinh phụ
Tím hoàng hôn lặng lẻ ngắm mây trôi!


Hàn Thiên Lương

 

Nhớ



Ai chờ mòn mỏi để chờ ai
Dài vắn thở than tiếng vắn dài
Nhớ mãi bao năm còn mãi nhớ
Phai mờ kỷ niệm khó mờ phai.
Ai nhớ đến giờ mãi nhớ ai
Dài canh thao thức suốt canh dài
Bóng hình tim lỡ ghi hình bóng
Phai nhạt tình đâu dễ nhạt phai.

Quên Đi


Mùa Hè Vĩ Đại 2026


Ngay từ đầu tháng 6- 2026 các cửa hàng và online đã bày bán những sản phẩm như huy hiệu , cờ Mỹ, áo thun mang dấu ấn chào mừng 250 năm độc lập nước Mỹ. Tháng 6 các cửa hàng, chợ búa trong đó có Walmart, Kroger hai ngôi chợ tôi đi hàng tuần cũng đã rạo rực chào đón World Cup với những poster quảng cáo và bán áo thun của các đội bóng Mỹ, Canada và Mexico.

Đứng ở chợ Kroger tôi lật xem từng cái áo giá $19.99. Tôi hào hứng rủ chồng:
- Mình mua mỗi “đứa” một cái áo thun và mua vé đi xem bất cứ trận bóng nào tại sân nhà AT& T Stadium cho có khí thế mùa World Cup đi anh.
- FIFA tạm thời đổi tên AT&T Stadium thành “Dallas Stadium” trong thời gian World Cup rồi. Có lẽ họ không muốn quảng cáo không công cho AT&T ấy mà.
- Thế thì FIFA …ích kỷ ghê. Ừ thì Dallas Stadium. Chúng ta sẽ đến đó gặp các cầu thủ trong mơ.
- Nghe bà nói, tôi tưởng chúng mình đang ở lứa tuổi thanh xuân, yêu thích các trận đá banh, yêu các cầu thủ trên sân cỏ nồng nhiệt điên cuồng.
- Tinh thần thể thao mà anh. Xong mùa World Cup thì tình yêu này cũng xẹp xuống dần, những chàng cầu thủ đã ra khỏi cơn mơ của em, có chăng, em xem tin tức chàng yêu ai, vợ chàng, người yêu của chàng đẹp cỡ nào, chàng đá cho câu lạc bộ nào, đã ký hợp đồng này, hợp đồng kia và đếm giùm gia tài chàng bao nhiêu triệu cho thỏa chí tò mò.
Chồng ngần ngừ:
- Không biết giá vé bao nhiêu nhỉ?
Tôi hăng hái:
- Bao nhiêu cũng đi. Tiền để dành làm gì?
- Ấy chết, giữa chợ búa bà nói khẽ chứ kẻo kẻ gian nghe thấy chúng theo dõi vì tưởng vợ chồng mình triệu phú.

Tôi hạ giọng giải thích:
- Em đọc báo nói tuổi già thích gì thì cứ làm, cứ tận hưởng cho vui. Mình mua vé giá thường thôi, vé khủng mấy chục ngàn một vé để cho các đại gia. Bao nhiêu năm nay vợ chồng mình đều yêu thích bóng đá World Cup, chỉ xem qua màn hình ti vi, nay nó đến tận thành phố mình ở, lại gần nhà mình chỉ 1 mile mà không đi xem thì không còn cơ hội nào nữa đâu, trong khi người ta trên thế giới phải tốn thời gian, tốn tiền bay đến đây.
Chồng gật gù:
- Chứ còn gì nữa. Lần đầu nước Mỹ tổ chức World Cup năm 1994 bây giở 32 năm sau mới lần thứ hai. Đời người được bao mùa World Cup.
World Cup tại Mỹ năm 1994 ấy, gia đình tôi mới đến Mỹ định cư được 3 năm, có bao nhiêu thứ để lo cho cuộc sống mới, thì giờ đâu, tâm hồn đâu mà mơ chuyện cao xa mua vé xem World Cup.
Bây giờ thì tôi có thể mua vé và hào hứng sẽ được bước vào trong sân vận động của Cowboy với vai trò khán giả, xem đá bóng ngay trên sân, nhìn những cầu thủ tinh hoa của thế giới biểu diễn. Nước Mỹ đã cho chúng ta nhiều cơ hội trong cuộc sống.
Chồng tươi rói:
- Chúng ta đang có một mùa hè tràn ngập niềm vui . Này nhé, Lễ Độc Lập July 4 nhưng khác mọi năm, năm nay 2026 nước Mỹ mừng 250 năm ngày Đôc Lập. World Cup nhưng khác mọi World Cup trước, năm nay 2026 lần đầu sẽ có 48 đội tranh tài với 104 trân đấu. Tha hồ cho bà mất ăn mất ngủ.
Tôi sung sướng phụ họa với chồng:
- Em cũng đang rối lên đây, không biết sẽ ăn mừng thế nào cho xứng với mùa Hè trọng đại và rực rỡ này

Hai vợ chồng tôi còn đang chới với ngất ngây bàn tính. Sân Dallas Stadium sẽ có 9 trận đá, nên xem trận nào và cách thức mua vé ra sao thì buổi tối con trai từ Utah gọi điện thoại tới. Tôi chưa kịp khoe với con ý định đi xem đá banh ở Dallas Stadium thì con trai đã nói:
- Gia đình con sẽ về Texas vào mùa hè này.
Tôi bất ngờ và ngạc nhiên vì con cháu thường về thăm chúng tôi vào dịp Giáng Sinh ít khi về Texas vào mùa hè, các cháu sợ cái nóng của Hè Texas: Con trai hào hứng:
- Mùa hè năm 2026 thật đặc biệt, mừng 250 năm nước Mỹ và.…
Tôi ngắt lời:
- Mẹ biết rồi “và World Cup với sự đổi mới chứ gì….”
- Vâng, con cũng định nói thế. Nhân dịp hai sự kiện trọng đại này gia đình con về Texas vui đón July 4 và xem bóng đá, con mời bố mẹ cùng gia đình con tham dự một trận bóng đá trên sân nhà Arlington của mẹ luôn.

( Tác giả & con gái)

Chẳng lẽ có thần giao cách cảm, bỗng dưng con cháu cùng những cảm xúc, cùng ý nghĩ như mình. Tôi hỏi lại:
- Bố mẹ cũng rộn ràng như con, dự tính sẽ mua vé xem ở sân Dallas Stadium đây. Nhưng mẹ không nghĩ là cả nhà con sẽ về đây đi xem bóng đá, vì 2 cháu nội của mẹ biết gì về bóng đá chứ? Mua vé cho chúng xem uổng phí cả tiền bạc.
- Hồi tiểu học Holden xem trên net đã thích thú ngưỡng mộ Cowboy Stadium và nó thường khoe với bạn bè nhà bà nội gần sân vận động nổi tiếng này..
Tôi cũng thường khoe với bạn bè phương xa mỗi khi họ đến thăm tôi, thế nào cũng có màn tôi đưa bạn đến sân vận động Cowboy để chụp hình kỷ niệm, chúng tôi đứng chụp hình phía trước, phía sau, bên phải bên trái sân vận động không sót chỗ nào, chỉ mỗi chỗ…bên trong sân vận động thì chưa vào.
Con trai kể :
- Thằng cháu nội Holden của mẹ thích football, nhưng nó có chân trong đội bóng soccer của trường nên thích cả soccer, còn biết cả Messi và Ronaldo nữa cơ. Mua vé cho Holden xem đá bóng ở Dallas Stadium rất xứng đáng, nó được xem đá bóng trong sân vận động mà nó yêu thích
- Mẹ cũng yêu thích nói chi Holden. Dù giá vé đi tour bên trong AT&T Stadium chỉ vài chục đồng nhưng mẹ chỉ mơ được vào trong sân tham dự một event nào đó mà mẹ yêu thích, thì may có dịp World Cup 2026.
Tôi thắc mắc tiếp:
- Thế con Betsy, chả lẽ nó cũng có chân trong đội bóng soccer của trường à?
- Betsy không biết gì về bóng đá, không hề thích bóng đá, nhưng nó đồng ý đi xem…cho biết soccer là cái gì mà triệu triệu người trên hành tinh đều mê, trong đó có cả ông bà nội già của chúng nó. Con nhớ ngày xưa còn bé đã chứng kiến mẹ mê xem World Cup, bắt con đi ngủ sớm để mẹ rảnh tay xem trực tiếp những trận bóng đá lúc nửa đêm về sáng.
Tôi cười cười thú nhận:
- Ngày xưa ở Việt Nam mẹ bỏ ngủ xem World Cup, ngày nay ở Mỹ mẹ bỏ bê bếp núc, bỏ ăn để xem World Cup con ơi.

Sau cùng chúng tôi cùng quyết định sẽ xem trận đá giữa Japan và Sweden ngày June 25 tại sân Dallas Stadium.
Buổi tối thấy tôi mở computer, chồng liếc qua:
- Bà lại vào mấy kênh you tube nấu ăn tìm món đãi con cháu sắp đến Texas hả?
Tôi chưa kịp nói gì thì chồng cao giọng:
- Mấy món ăn từ you tube của bà nấu hãy để một mình tôi ‘lãnh đủ” thôi nhé, đừng mang ra mời con cháu…tội nghiệp.
Chồng nói đúng nên tôi..…không dám nổi giận:
- Em biết rồi, tay nghề em chỉ đủ để đãi một mình anh. Em lên net tìm nơi nào diễn hành, nơi nào bắn pháo bông ngày July 4 th và những nhà hàng nào có món ngon thích hợp cho con cho cháu ..
Chồng hài lòng:
- Hoan hô người mẹ “đảm đang” không cần vào bếp, chỉ cần lựa chọn nhà hàng là có món ngon đãi con cháu.
Tôi kiêu hãnh:
- Chắc chắn tất cả những nhà hàng Tây hay ta dịp này đều đông người, giá cả mắc mỏ. Nhưng đại gia đình chúng ta sẽ hòa nhập vào cho đông càng thêm đông, vui càng thêm vui, để chào mừng World Cup và nhất là chào mừng nước Mỹ 250 năm ngày ký tuyên ngôn độc lập July 4- 1776- July 4 - 2026. Sẽ là một mùa hè vĩ đại, mùa hè đẹp nhất mà gia đình chúng ta được hưởng.

Nguyễn Thị Thanh Dương
( July 4th và World Cup 2026)

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2026

Ngoại Không Màng


(Viết cho Nhỏ Con Rồng Tháng 7 năm 2015)

Ngoại không màng trời nắng gắt gay
Disney tháng bảy đi chơi cùng con cháu
Ngoại không màng phải đợi chờ lâu
Khi cảnh thần tiên sẽ là phần thưởng
Ngoại không màng những buổi thức khuya
Khi nhạc vang và trời đất bỗng sáng ngời bông pháo
Ngoại không màng bỏ buổi điểm tâm
Khi bữa ăn chiều như linh đình dạ tiệc
Ngoại không màng đi nhanh như gió
Khi biết sẽ thưởng thức thêm cuộc vui
Ngoại không màng một giấc ngủ trưa
Khi ở ngoài trời sẽ phải tắm mồ hôi
Ngoại không màng dậy sớm ban mai
Khi ngái ngủ nhưng trong lòng háo hức đi chơi
Ngoại không màng ngồi tuốt hàng trên
Coi biểu diễn The Lion King Đại Hội
Khi cháu được lên sân khấu giúp vui
Đi một vòng tròn lắc chuỗi hạt thật oai
Ngoại không màng đi thêm lần nữa
Khi It’s a Small World cháu mê man
Ngoại không màng ngồi cùng với cháu
Khi bà cháu mình thật nhiều thú vui
Nào dự bị đi chơi xa trong hư tưởng của tương lai
Hay bắn đạn trong khi quay vòng vòng chong chóng
Ngoại không màng ôm cháu trong lòng
Để cháu biết ngoại vẫn kế bên
Khi sấm đánh sét gào làm cháu sợ
Hay Barnstormer Roller Coaster làm cháu khóc
Ngoại không màng xin nghỉ vài hôm
Tuy bận rộn nhưng cháu vẫn là nhất
Nếu tương lai cháu hỏi Ngoại ơi Ngoại có nhớ ngày nào…
Thì Ngoại trả lời những ngày tháng bảy Ngoại chẳng hề quên



Thơ & Hình Ảnh: Diệm Trân




Thăm Bạn Cũ 1958

 

( Tặng TƯ,BBQĐ1, người Bạn đã tử trận)

Mùa hè phượng vỹ đỏ đường,
Xác xơ rơi rụng, não lòng bi ai!
Sau mùa thi… bè bạn lạc loài,
“Học tài thi phận”, mỉa mai tình đời!

Tranh buồn, vách lá tả tơi
Ve sầu rỉ rả báo mùa THU sang.
Đạn bom khói lửa lan tràn,
Kiếp người như thể hoa tàn xác xơ!

Nhớ thương anh bạn một thời,
Tìm về thăm viếng,” tre già khóc măng!”
Đàn rơi, sách đổ… tứ tung,
Độ nào chung gánh, nay đành gãy ngang!

Đàn em rơi lệ ngỡ ngàng,
Chiều thu tê lạnh, bẽ bàng hồn ai!
Xót thương thế hệ lạc loài,
Mùa ĐÔNG lại đến, đất trời tái tê!


(Người Bạn cũ sau khi thi rớt...Anh Đi Lính...Tôi về thăm
thì Anh đã tử trận )

Tô Đình Đài

Xóm Lò Tương Cầu Lộ - Vĩnh Long

(Cổng nhà chị Tám Huỳnh Thiếu Khanh, chủ Lò Tương lâu đời nhất ở Xóm Lò Tương vùng Cầu Lộ, Vĩnh Long, ảnh Lê Ngọc Sương 31 tháng 5 năm 2024.)
(Quang cảnh đường trong Xóm Lò Tương ở Cầu Lộ năm 1968.)

Xóm lò tương là tên gọi quen thuộc vẫn còn trong ký ức của rất nhiều thế hệ người dân Vĩnh Long nói riêng, người Miền Tây nói chung. Kêu là Xóm Lò Tương vì trong vùng đó đã từng có ít nhất vài lò làm tương hột, với những khạp, những lu xếp đầy trong khoảng sân trống trải với ánh nắng chói chang.

Trong dân gian Việt Nam, nghề làm tương đã có từ rất lâu đời. Riêng trên vùng Đất Phương Nam, nhất là tại Miền Tây, theo lời ông ngoại của người viết bài nầy kể lại, nghề làm tương được phát triển mạnh lên từ thời quan Tổng Binh Long Môn Dương Ngạn Địch được Chúa Nguyễn cho phép về Miền Tây khai khẩn và phát triển Mỹ Tho Đại Phố hồi hậu bán thế kỷ thứ XVI. Tại Vĩnh Long, có nhiều lò làm tương, trong đó Lò Tương của dòng họ Huỳnh ở Cầu Lộ rất nổi tiếng từ hơn 100 năm nay. 

Theo truyền thống, tương hột được làm từ đậu nành lên men, được sản xuất nhiều trong khoảng tháng 6 đến tháng 8, vì đây là thời điểm có nhiều nắng nhất trong năm, với độ ẩm không cao, rất thuận tiện cho việc ủ men làm tương. Thật tình mà nói, trong ký ức của những người dân miền Tây thì ngay cả những người không ăn chay, mâm cơm thường nhật trong gia đình của họ ít khi nào không có chén tương hột kho, hay những món ăn được chế biến từ tương hột. Phải nói ngày đó ăn cơm mà thiếu tương hột thì bữa ăn không được mặn mòi, ăn không ngon miệng. Hồi những thập niên 1950s, 1960s và 1970s của thế kỷ trước, tương hột không chỉ được nấu chay, mà tương hột còn xuất hiện trong nồi tàu hủ kho khổ qua, cá chưng tương nấu với bún tàu…

Năm 2015, người viết tập sách này có dịp ghé thăm chị Huỳnh Thiếu Khanh, chủ một lò làm tương và tàu hủ ky lớn nhất ở Vĩnh Long hồi thập niên 1970s. Theo chị Tám Huỳnh Thiếu Khanh, cách làm tương hột nghe nói thì tưởng khó mà kỳ thật lại khá dễ dàng. Theo chị, mình chỉ cần biết cách nấu chín và hầm mềm đậu nành, rồi vô muối, sau đó khoảng 2 tháng, đã có thể cho ra lò những mẻ tương theo đúng hương vị truyền thống. 

Dầu ngày nay gia đình chị không còn làm tương và tàu hủ ky nữa nhưng lò tương vẫn còn được chị giữ nguyên ở phần sân sau nhà. Lò tương của chị chủ yếu chỉ làm tương, nhưng thỉnh thoảng cũng làm thêm tàu hủ ky. Chị cho biết công việc làm của lò tương và tàu hủ ky rất cực nhọc, nhất là làm tàu hủ ky. Trong đó, công đoạn đốt lò nấu đậu(1) được xem là quan trọng nhất, vì nó quyết định chuyện thành hay không thành mẻ tàu hủ ky sắp tới, nên thường thì chủ lò tự tay chuẩn bị than củi cho việc đốt lò hay giao phó công việc này cho một người thợ đã có nhiều năm kinh nghiệm. Tùy theo lò lớn hay lò nhỏ mà sử dụng chảo nhỏ hay chảo lớn để dùng để nấu tàu hủ ky.

Riêng tại lò tương của chị, chị có cả mấy trăm lu hủ lớn nhỏ để ủ tương. Bên cạnh đó vào khoảng năm 1910, ba chị cũng xây lò đốt bằng gạch, dùng để nấu nước đậu nành để làm tàu hủ ky. Chị nói ngày đó người ta không dùng xi măng mà dùng ô dước nên lò rất bền chắc và có khả năng chịu đựng rất lâu. Lò được xây từ 2 đến 6 dãy dài, mỗi dãy có đến trên mười chảo. Chảo nấu tàu hủ ky là loại chảo lớn, còn gọi là chảo quai vạc, thường được làm bằng gang, mỗi chảo có thể nấu được tới 60 lít sửa đậu nành(2). 

Tuy nhiên, nhà chị chỉ chủ yếu làm tương nên ba chị chỉ xây một lò 6 dãy. Theo lời chị Tám, chỉ khi nào có mối đặt tương và tàu hủ ky từ Chợ Lớn thì mới sử dụng đến lò, hồi đó bình thường gia đình chị mỗi ngày có thể nấu được khoảng 4 ngàn lít sữa đậu nành. Theo chị, Vĩnh Long thời đó còn ít người nên chỉ riêng một lò của chị cũng có thể cung cấp tương và tàu hủ cũng như tàu hủ ky(3) cho cả vùng chợ Vĩnh Long. 

Riêng về tương hột thì lò tương của chị có thể nói là lớn nhất của tỉnh Vĩnh Long thời đó, vì nó có thể cung cấp tương hột cho cả chợ Vĩnh Long. Chính vì vậy mà thời đó người ta đặt tên cho xóm chị ở là xóm lò tương.

Người Long Hồ -Thiện Phúc -Trần Ngọc

( Hình 3)
Hình 3-4: Đậu nành vừa luộc xong chờ được cho ra xây cho ráo trước khi ủ muối để làm tương hột. Theo lời chị Tám Huỳnh Thiếu Khanh thì đậu nành phải được lựa ra cho thiệt kỹ lưỡng, rồi luộc cho mềm khoảng 4 tiếng đồng hồ, nhưng hạt đậu vẫn còn nguyên chứ không bị nát, ảnh internet (Google).

Đậu nành luộc được cho ra xây hay thúng cho nguội và ráo hết nước để cho ráo, rồi trộn với bột mì và meo giống trước khi ủ muối để làm tương hột, ảnh internet (Google).

(Đậu nành sau khi ủ muối trong các hủ lớn được phơi ngoài trời, có nắp đậy (nắp đậy thường là kiếng trong), vừa chống ánh nắng quá gắt, vừa chống mưa, mà cũng chống bụi bặm, đồng thời hứng đủ ánh sáng mặt trời. Theo chị Tám Huỳnh Thiếu Khanh, sau khi ủ muối nước nhất khoảng 25 ngày là phải rút nước ra bỏ và thay vào nước muối mới, sau khoảng 10 ngày thì rút lớp nước muối nầy ra bỏ để cho vào nước đường. Tiếp tục phơi nắng khoảng 30 ngày nữa là sẽ được tương hột ngon, ảnh internet (Google).

(Sau hai tháng ủ tương, ngày xưa tương hột thường được cho ra những hủ nhỏ và được khằn kín lại, nhưng ngày nay người ta cho vô keo có dán nhãn. Những sản phẩm nầy sẵn sàng đến tay người tiêu thụ, ảnh internet (Google)

-----------------

Chú Thích:
(1)​Thời trước người ta dùng rơm để đốt lò, nên ngay sau mùa gặt các chủ lò tương và tàu hủ ky thường đặt mua hết rơm của cả một khu vực, đem về chất thành nhiều cây rơm ở sân sau để dùng quanh năm. Về sau này người ta đốt lò bằng trấu hoặc than hay củi.
(2)​Đậu nành là nguyên liệu chính yếu để nấu ra sữa đậu nành và làm tàu hủ ky. Trước tiên, người ta ngâm đậu khoảng 1 tiếng đồng hồ, sau đó tuột bỏ vỏ rồi xay lấy nước, còn xác đậu hay bã đậu được dùng làm thức ăn cho heo.
(3)​Nấu nước đậu nành trong chảo khoảng 1 ngày, sau đó người canh chảo dùng loại đủa bếp thật lớn để vớt lấy lớp váng trên mặt chảo có màu vàng sậm, rồi vắt ngang lớp váng ấy trên một cây sào bằng tầm vong để ngay trên miệng chảo. Chính hơi nóng bốc lên từ chảo sữa nóng hòa với cức nóng của lò sẽ sấy khô những váng tàu hủ ky được vắt ngang trên sào. Trung bình mỗi chảo 60 lít nước đậu nành sẽ cho ra khoảng từ 40 đến 45 lớp váng tàu hủ ky. 15 lớp váng đầu được gọi là tàu hủ ky nhứt, 15 lớp kế gọi là tàu hủ ky nhì​, và 15 lớp vàng thứ ba được gọi là tàu hủ ky ba..

Hình 8: 

Thứ Hai, 6 tháng 7, 2026

Ai Lên Xứ Lạnh Hoa Đào or Back In The Land Of Plum Blossoms - Thơ: Trần Đại Bản - Nhạc: Magnolia Cao Tran

Thơ: Trần Đại Bản
Nhạc: Magnolia Cao Tran

Thế Sự

 

Buồn vui lẫn lộn một đời người
Thế sự nhân tình cũng thế thôi
Lắm lúc lâm nguy thân khốn khổ
Nào khi hoạn nạn phận tả tơi
Gian nan mới biết trời cao thấp
Khổ nạn cho ta nghĩa cuộc đời...
Vận rủi... thời may... nào biết được ...?
Tâm bình khí tịnh sống thảnh thơi...!


Ngư Sĩ

Không Bến

  

Xác bướm tàn theo chuyện nắng mưa

Hồn còn vương vấn lưới nhện xưa
Tha hương cát bụi lòng rau đắng
Xe ngựa dập dìu khói đón đưa

Ngậm đắng nuốt cay cũng không yên
Bạc đầu say sóng bóng đau thuyền
Lang thang trên những vùng oan trái
Nhạc trẻ thơ già họa múa điên

Xin trả trăng sao hết nợ nần
Dấu vui dấu khổ dấu tủi thân
Chung đường chung lối không chung mộng
Thì giữ làm sao được tuổi xuân

Lá đã quên cây người quên người
Đám tang sao lại lắm tiếng cười
Hình như người chết nuôi người sống
Ấm lạnh trở cờ gió ngược xuôi

Màu áo thơ ngây cũng mất rồi
Ngày trôi tháng nổi tội nắm xôi
Quê hương bong bóng tình bèo bọt
Không đói không no chỉ rã rời

Mùa đến mùa đi lá đổi màu
Mà lòng không đổi được thương đau
Mai kia còn lại cành không lá
Và giọt nắng tàn trong mắt nhau

Thay nhà thay áo thay thức ăn
Vẫn không tìm được chút bình an
Lỡ lầm hờn dỗi quên hò hẹn
Để đắm thuyền tình thơ hết trăng

Đã hết đường rồi xin lỗi chi
Dù sao cũng không thể cùng đi
Biển sầu lận đận thuyền không bến
Hết đợi hết chờ hết mê si....

MD.09/28/02
LuânTâm