Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2026

Tháng Năm Về Tôi Lạc Mất Chiêm Bao - Thơ: Y Thy Võ Phú - Nhạc: Nguyễn Tuấn - AI Siliconband

Thơ: Y Thy Võ Phú
Nhạc: Nguyễn Tuấn
AI Siliconband

Anh Hãy Bay Cùng Mây

 

Thơ & Thơ Tranh: Ý Nga

Lòng Ta Là Những Vàng Thu


Vàng thu cứ thế mỗi chiều chiều
Nhặt lá gom đầy xếp chữ yêu
Chỉ một ô hay sao lắm thế
Bao nhiêu lá rụng ít hay nhiều


Thơ & Ảnh: Kim Phượng

Thăm Con Dâu Mới Sinh


Chỉ còn 15 phút nữa phi cơ sẽ đáp xuống phi trường Salt Lake City. Đây là lần đầu tiên bà Phụng đến Utah thăm gia đình con trai Kent kể từ khi nó kết hôn và dọn về đây . Utah là quê quán của Jade con dâu bà.

Vợ chồng Kent mua nhà sau 3 năm ở thuê Apartment. Con dâu vừa sinh con đầu lòng, bà Phụng đi thăm con cháu, thăm nhà mới luôn thể.
Chiều qua bà Phụng đã sửa soạn vali quần áo và đồ dùng cá nhân cho chuyến đi 3 tuần, đầy đủ cả rồi. Bà chợt nhớ ra vội đi lấy chai dầu gió xanh và lọ dầu cù là nhét thêm vào. Ông Phụng ngạc nhiên:
- Bà dùng gì đến chai dầu gió và cù là mà mang theo?
- Hai chai dầu này chị bạn đi du lịch Thái Lan mua tặng, tôi mang cho con dâu, phụ nữ mới sinh em bé nên có chai dầu bên mình, xoa một chút là ấm người, nhất là nó ở xứ lạnh.
- Con Jade người Mỹ mà bà làm như thời má mình, thời bà ngoại mình ngày xưa, mùi bà đẻ toàn dầu cù là con Hổ, dầu gió Nhị Thiên Đường hay khuynh diệp Bác Sĩ Tín.
Và ông hù dọa:
- Nhân viên kiểm soát an ninh phi trường sẽ tưởng 2 chai dầu của bà là chất nổ, chất độc chỉ thêm phiền phức.

Mặc kệ chồng, bà Phụng vẫn mang theo 2 chai dầu. Đây là món bà cần và thích xài nhưng thân ái nhường cho con dâu, bà nghĩ nó cần hơn bà..

Mỗi phút trôi qua trên máy bay là mỗi phút bà Phụng rộn ràng sắp được gặp con cháu, nghĩ đến thằng cháu nội mới sinh được 2 tuần, chắc giống bố và lai thêm nét Mỹ của mẹ cháu sẽ đẹp trai lắm đây. Ba tuần lễ ở Utah bà sẽ chăm sóc cháu nội cho con dâu kiêng cữ nghỉ ngơi phục hồi sức khỏe sau khi sinh đẻ. Bà Phụng dù chỉ sinh có một thằng Kent nhưng bà có kinh nghiệm đầy mình vì ngày xưa mẹ bà sinh năm một, ngoại bảo mẹ đẻ như gà. Mỗi khi mẹ mang bầu, gần ngày sinh là bà ngoại lo làm thịt chà bông, cô bé Phụng thời đó phải ngồi giã từng cối thịt heo theo chỉ dẫn của ngoại, ngoại nấu nồi thịt kho tiêu cho bà đẻ ăn chắc dạ, ngoại bắt bà đẻ ngồi ăn cơm trên giường có giăng mùng sợ…gió máy dù giường đã được quây một tấm màn gió, thì gió nào mà lọt tới được, chưa hết, bà đẻ phải kiêng cử không được tắm rửa hay đánh răng rửa mặt một tháng trời. Tới lượt bà Phụng lấy chồng sinh con là thằng cu Tèo thì bà Phụng cũng phải theo gương của mẹ kiêng cử đủ thứ, mang thằng cu Tèo sang Mỹ lúc nó 5 tuổi và lớn lên là Kent bây giờ.

Lát về tới nhà bà sẽ bảo Kent chở đi chợ mua thịt thăn heo về để bà làm chà bông và kho tiêu, hai món ăn chưa bao giờ đăng ký nhãn hiệu dành cho bà đẻ nhưng bao lâu nay bà đẻ nào cũng biết đến, nhân dịp này cho con dâu Mỹ tập ăn đồ Việt luôn, hy vọng con dâu sẽ thích, còn vụ chai dầu gió và lọ dầu cù là bà sẽ giải thích cho Jade biết công dụng, hy vọng Jade sẽ vui vẻ đón nhận.

Máy bay đáp xuống, bà Phụng chỉ có 1 vali carry on nên ra ngoài mau lẹ, bà ngó tìm hình bóng Kent, thì kia chẳng những Kent mà có cả Jade nữa. Bà Phụng kinh ngạc kêu lên:
- Ồ Kent, mẹ tưởng một mình con ra đón mẹ thôi chứ.
- Chào mommy.
Bà Phụng ngỡ ngàng nhìn con dâu, nàng ăn mặc thoải mái quần sooc áo thun hở cổ hở nách, bên cạnh Kent tay xách giỏ trong có baby đang nằm ngủ ngon lành. Jade nhào đến bên bà, tươi cười:
- Mommy đưa con xách vali cho.
Cô nắm quai vali thì bà Phụng vội gạt ra:
- Không, không, con phải kiêng cữ không được làm việc nặng.
Và bà quay ra trách con trai:
- Kent, sao lại mang vợ con ra phi trường thế này, sản phụ và em bé mới có 2 tuần, đáng lẽ mẹ con nó phải ở nhà kiêng nắng kiêng gió. Ngày xưa các bà đẻ ngồi trong nhà vẫn phải mặc thêm áo khoác, khăn trùm đầu và nhét bông gòn vào tai đó con.
Kent thản nhiên:
- OK mà mom, sinh con xong là Jade bình thường lại ngay, cô ấy đã tắm rửa trong bệnh viện. Hôm sau về nhà vợ chồng con đã xách baby đi chợ Walmart mua đồ.

Bà Phụng nghe mà thêm ngạc nhiên đến chết lặng. Jade chẳng sợ gió máy gì cả, gió phải sợ Jade thì đúng hơn, nàng ăn mặc kiểu “đón gió” thế kia thì Jade cần gì đến chai dầu gió, đến lọ dầu cù là thoa bóp cho ấm người cơ chứ. Bà xót xa nhìn baby bé bỏng nằm trong giỏ xách như người ta xách một món đồ mà tội nghiệp.

Về đến nhà bà được Kent dẫn đi một vòng thăm các phòng trong nhà rồi ra vườn sau sân trước ngắm hàng xóm xung quanh xong vào ăn cơm chiều Jade đã chuẩn bị sẵn sàng. Bây giờ bà Phụng mới thấy đói bụng, nhưng nhìn bàn ăn bà cụt hứng. Trên bàn là ba đĩa to tổ bố spaghetti. Jade hãnh diện khoe:
- Mommy đây là món spaghetti ngon nhất mà con đã làm. Kent rất thích và con tin mẹ cũng sẽ thích nó.
Kent phụ họa với vợ:
- Món ruột của Jade đó mom. Nghe tin mom đến thăm, Jade nhất định trổ tài món này trước..

Bà Phụng chết dở, chẳng lẽ bà nói không thích ăn đồ Mỹ đồ Tây nào hết, chỉ thích món ăn Việt Nam thôi. Phải chi Jade nấu nồi cơm thì bà sẽ ăn cơm trắng với chút đồ ăn Mỹ nào cũng tạm được, còn đĩa spaghetti đã chan nước sốt cà chua với thịt bò xay phủ đầy bề mặt thì thay đổi sao được. Bà cố gượng cười làm vui:
- Cám ơn Jade món spaghetti.
Jade mở tủ lạnh rót ra 3 ly nước cam, bà Phụng phản ứng tự nhiên, vội cản:
- Jade mới sinh không nên uống đồ lạnh kẻo lạnh bụng con ơi. Sinh con đầu lòng càng phải kiêng cử kỹ lưỡng.
Jade ngạc nhiên:
- Tại sao? ở trong bệnh viện bữa ăn có tráng miệng là trái cây hộp, rau câu và ly nước cam lạnh.

Bà Phụng hết đường giải thích luôn. Hai con ăn đĩa spaghetti của nó một cách ngon lành trong khi bà Phụng ngao ngán nhìn đĩa spaghetti của mình mà nghĩ nếu Kent biết ăn đồ Việt, nếu con dâu là người Việt thì đây là đĩa cơm tấm sườn bì chả với chén nước mắm tỏi ớt bên cạnh rồi và món tráng miệng có thể là chén chè thưng hay chè khoai môn rồi. Tưởng tượng xong bà Phụng cầm thìa cầm nĩa.. …khều những cọng spaghetti và ráng ăn cho no bụng, cho vừa lòng con.

Hồi Kent còn ở với cha mẹ không hiểu sao cha mẹ đều nói tiếng Việt với Kent, nấu cơm Việt cho Kent vậy mà Kent nói tiếng Việt không rành, ăn đồ Việt không thích, thay vì ăn cơm Kent ăn hamburger, bánh mì Subway, pizza…v..v..nên vợ chồng bà Phụng xem Kent như “thằng Mỹ” ở chung nhà với mình. Bây giờ nó lấy vợ Mỹ, đẻ con lai Mỹ dám sau này vợ chồng bà xem gia đình Kent như …người nước ngoài quá.

Mấy ngày đầu ở với con, sáng điểm tâm cereal với sữa tươi hay scrambled egg, pancake …trưa khoai tây nghiền, nui trộn cheese, thịt nguội, xà lách rau củ..… chiều thì món gà chiên đông lạnh đem nướng lại ăn với bắp hộp với chén súp gi đó sệt sệt, hay bánh mì nướng ăn với mấy cục xúc xích mấy cọng măng tây.

Nhìn “tình hình” bà Phụng phát chán muốn bảo Kent chở ra chợ Việt để bà mua chai nước mắm về kho nấu gì đó mặn mà cho dễ nuốt, nhưng bà sợ con dâu giận vì mẹ chồng không thích món của nó, chẳng lẽ bàn ăn chia làm hai “phe”, chủ nhà ăn đồ Mỹ, khách ăn đồ Việt, chẳng khác nào bà mẹ đến đây “gây chiến” với con, rồi mấy tuần ở Utah bà xài không hết chai nước mắm Việt thì nó sẽ lạc lõng vô duyên trong căn bếp Mỹ và sớm bị quăng vào thùng rác thôi. Bà bỏ luôn ý định làm thịt chà bông, thịt kho tiêu cho con dâu, chắc gì nó màng tới món Việt của bà, hơn nữa nơi gia đình Kent ở đến khu chợ Việt Nam phải hơn 1 giờ xe. Thế là 3 tuần lễ ở Utah bà Phụng đành chịu trận ăn đồ Mỹ.
……………
Lúc xách vali lên máy bay đến Utah bà Phụng vui bao nhiêu thì bây giờ xách vali rời Utah trở về nhà bà vui bấy nhiêu.

Ba tuần lễ ở với con cháu bà đã thể hiện đúng vai trò bà mẹ chồng Việt tuyệt vời với con dâu Mỹ, bà nội tận tình với thằng cháu lai Mỹ. Bà thấy mình đã quyết định đúng, “hi sinh” ăn đồ Mỹ để trọn vẹn tình cảm gia đình Việt Mỹ chúng ta. Chai dầu gió và lọ dầu cù là nghĩa tình bà dành cho con dâu không thực hiện được, vẫn …”ế ẩm” nằm trong vali, bà sẽ mang về để dành xài khi trái nắng trở trời.

Về tới phi trường Dallas Fort Worth chồng ra đón. Hai người đi bộ ra bãi xe, bà kể cho chồng nghe 3 tuần lễ ở Utah dù ăn ở nhà hay con đưa đi nhà hàng toàn ăn đồ Mỹ mà nhớ đồ ăn Việt Nam, nhớ mùi vị mắm muối Việt Nam quá trời .
- Tôi tưởng 3 tuần lễ ở Utah bà…nhớ tôi chứ. Hóa ra chỉ nhớ đồ ăn Việt Nam.
Ông Phụng đùa và nói tiếp:
- Bà hào hứng đặt vé ở Utah tới 3 tuần còn than thở gì nữa. May mà con dâu Mỹ ngoan và biết điều vui vẻ chiêu đãi mẹ chồng, chứ người Mỹ ghét nhất là cha mẹ vợ, cha mẹ chồng đến thăm và ở lại nhà, mất riêng tư của họ.
- Lần đầu đi xa thăm con cháu, tôi ở lâu cho đáng chuyến đi chứ.
Tới chỗ đậu xe bà Phụng bảo chồng:
- Ông chở tôi ra ngay khu chợ Việt để tôi ăn một tô phở bò viên tái nạm gầu gân sách nóng hổi với đầy đủ rau húng quế ngò gai giá sống chanh ớt nhé.
Rồi bà lẩm bẩm làm như sợ mình sẽ quên:
- Rồi tôi sẽ order thêm mấy cái gỏi cuốn tôm thịt với nước chấm thơm cay của tương ớt lẫn vị bùi béo của đậu phộng. Ăn cho no bụng, cho đã thèm và cũng là ăn mừng tôi đã có một chuyến đi thăm con dâu Mỹ mới sinh, dù có vài khác biệt kiểu sống nhưng thật vui, thật tràn đầy tình cảm mẹ chồng nàng dâu.

Nguyễn Thị Thanh Dương
(April 15, 2026)

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2026

Kỷ Niệm - Thơ: Quý Linh - Nhạc: Phạm Anh Dũng - Tiếng Hát: Minh Đạt - Hòa Âm: Đỗ Hải

Thơ: Quý Linh
Nhạc: Phạm Anh Dũng
Hòa Âm: Đỗ Hải
Tiếng Hát: Minh Đạt


Mưa Hạ

 

Mưa về rỉ rả lạnh buồn hơn
Từng giọt vấn vương tựa trách hờn
Nắng hạ khó thiêu đời trống vắng
Mưa đêm càng xót cảnh cô đơn
Ta về trường cũ tình luôn giữ
Em đến trời xa nghĩa vội sờn
Lay cánh phượng yêu còn ướt đẫm
Ngỡ mình đang vuốt má ai trơn !... 

 Quên Đi

Gọi Tên Em

 

Áo trắng vu qui em thướt tha
Bạn đời từ thuở em gặp ta
Nay em đã về bên Chúa gọi
Nghẹn ngào ta nhớ tháng ngày qua

Em là ánh sáng ngày tăm tối
Rọi đường đưa lối bước ta đi
Em là mãnh lực ngày mòn mỏi
Bên em ta dựa cánh chim bàng

Em là nguồn sống nơi buồn tẻ
Ban nụ cười tới những thờ ơ
Em là sức mạnh nguồn lưu động
Em truyển hơi ấm sưởi lòng ta

Ta cần em như bướm cần hoa
Như đêm cần sáng bình minh hóng
Như sông cần nước quanh năm chảy
Như thuở thơ ngây cần mẹ cha

Vắng em đời như thôi ý nghĩa
Lòng héo sầu tuy ngát hương hoa
Trước kia khoảng trống em vùi đắp
Nay sống lạc loài trong thế gian

Buổi chiều ta ngồi mơ cảnh cũ
Vẫn ngỡ em về dưới hiên hoa
Bóng em vẫn thoáng trong mộng tưởng
Quay cuồng ta khóc gọi tên em

Diệm Trân
Tháng 6, 2015

Nắng Nhạt Chiều Bâng Khuâng



từng giọt thầm rất nhẹ
nhỏ xuống đời long đong
em một mình gọi khẽ
tên người cách núi sông
người về mang theo gió
thổi mát bờ bãi xa
trưa hạ nồng oi ả
cơn gió nào bay qua
người về mang theo nắng
nắng nhạt chiều bâng khuâng
em ngẩn ngơ ngồi lại
nghe lòng mưa rưng rưng

Thủy-Trang


Lời Của Gió - Thơ: Quý Linh - Đệm Dương Cầm: Hoàng Cường

Thơ: Quý Linh
Đệm Dương Cầm: Hoàng Cường

Những Kỳ Thi Tú Tài Khắc Nghiệt Bao Nhiêu Nước Mắt Đã Rơi - Duy Văn Hà Đình Huy


Một kỷ niệm đặc biệt khó quên 58 năm về trước. Những năm thi Tú Tài là cả một vấn đề đối với học sinh nhất là học sinh Nam. Bởi học sinh Nam rớt kỳ thi Tú Tài Phần Thứ Nhất bắt buộc phải bỏ học nhập ngũ trường Hạ Sĩ Quan, vì không còn giấy hoãn dịch học vấn để tiếp tục lên lớp Đệ Nhất (tức lớp12 sau này).

Năm 1968 (năm Mậu Thân). Năm này, chiến tranh ác liệt CS Miền Bắc phá hiệp ước hưu chiến, nghĩ Tết họ tấn công hầu hết các Tỉnh Thành miền Nam mà nặng nhất là Huế, Họ chiếm Huế và giết đồng bào rất nhiều. Năm này, tôi dự kỳ thi Tú Tài phần thứ nhất, mặc dầu tôi cố gắng học luyện thi suốt cả năm, nhưng trong tâm tôi cứ lo lắng, vì sợ rằng chính quyền tạo sự thi cử khó khăn hơn để đánh rớt học sinh càng nhiều vì cần nhân lực cho cuộc chiến.

Hồi đó, những tỉnh lẻ không có Hội Đồng Thi nên học sinh các tỉnh lẻ phần lớn phải về Thủ Đô Saigon mới được tham dự cuộc thi. Quê tôi Tây Ninh, những năm 1967- 1968 chưa có Hội Đồng Thi nên tôi phải về Thủ Đô Saigon thi. Cái khổ học sinh tỉnh lẻ của chúng tôi là tìm chỗ ở trọ trong mấy ngày thi. Học sinh ngụ ở Thủ Đô Saigon thì quá tốt. Đường xá họ rành rẽ, lại nữa có cha mẹ, bà con lo lắng giúp đở đưa rước trong những ngày thi cử nên tinh thần họ yên ổn hơn. Riêng những học sinh ở tỉnh lẻ như chúng tôi, lo lắng mọi điều. Thứ nhất lo về chỗ ở, từ chỗ ở đến trung tâm thi, phải thức sớm để canh giờ giấc, phải chọn phương tiện di chuyển xem coi loại xe nào đi từ chỗ ở đến trung tâm thi ít bị trở ngại vì phải rước khách.
Tỉnh Tây Ninh là một trong số tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ nên tôi được thi trong những trường thuộc tỉnh Gia định. Dường như tất cả những trường thi trong tỉnh Gia Định trong năm Mậu Thân 1968 đều thuộc Hội Đồng B3. Để tìm chỗ ở trọ cho những ngày thi cử, tôi phải xuống Thủ Đô trước một ngày cùng với một người bạn cùng lớp, vì người bạn có người bà con là Chánh Trị Sự trong Thánh Thất Cao Đài Phú Nhuận. Cả hai chúng tôi đều ngụ tại Thánh Thất Cao Đài này trong suốt thời gian thi cử. Năm 1968, tôi thi Tú Tài Phần Thứ Nhất tại trường trung học Đạt Đức (sau này là Chi Lăng) nằm trên đướng Chi Lăng quận Phú Nhuận. Ở Thánh Thất Phú Nhuận đến trường trung Học Đạt Đức rất gần nên tôi bớt phần lo lắng, nên không suy nghĩ nhiều. Để chuẩn bị cho ngày thi đầu tiên tôi tin vào tâm linh nên cùng người bạn vào đãnh lễ Đức Chí Tôn và các Thần Thánh Tiên Phật thờ nơi chánh điện của Thánh Thất để thêm có sức mạnh vô hình tạo được niềm tin. Ngày thi đầu tiên, chúng tôi đi bộ từ Thánh Thất đến trường thi. Chúng tôi đến sớm để được vào theo luật tìm phòng thi và tìm chỗ ngồi theo phiếu báo danh. Trong thời gian, chưa đầy nửa tiếng đồng hồ tôi đã tìm ra phòng thi và chỗ ngồi theo phiếu báo danh của tôi. Tâm hồn của tôi rất phấn chấn.

Ngày đầu thi văn và các môn phụ. Thi buổi sáng xong,tôi trở về Thánh Thất chuẩn bị cho các môn thi buổi chiều. Sau khi thi các môn ngày đầu xong tôi về Thánh Thất cùng với người bạn. Nghĩ ngơi qua đêm tại đây và chuẩn bị cho ngày thi kế tiếp. Vì là Thánh Thất ít có chỗ cho khách nên chúng tôi ngủ ngoài những hành lang gần trên chánh điện. Chúng tôi ôn bài vở cho các môn thi ngày thứ nhì qua những chiếc đèn neon gắng dọc hành lang.Và cứ như thế suốt trong 3 ngày thi. Tôi chọn ban B cho kỳ thi Tú Tài Phần Thứ Nhất đầu tiên của tôi.
Sau những ngày thi với những đề tài cảm thấy tương đối hóc búa như môn toán và lý hóa và một số môn khác.Tôi trở về Tây Ninh để chờ kết quả. Bạn của tôi còn ở lại Phú Nhuận với người bà con.
Thi đã khó rồi, còn việc dò thi cử xem mình rớt hay đậu cả là một điều khó khăn hơn đối với những học sinh tình lẻ như chúng tôi. Bởi học sinh ở tỉnh lẻ như chúng tôi làm gì mà có báo Trắng Đen, báo Saigon Mới ....đăng danh sách học sinh thi đậu như ở Saigon để mà xem kết quả. Muốn biết kết quả thì học sinh tỉnh lẻ chúng tôi phải lên đường xuống Nha Khảo Thí ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm để biết tin tức sớm. Chứ còn chờ quý Thầy Cô ở trường công bố kết quả thì rất là lâu, những học sinh Nam như chúng tôi rất hồi họp vì giấy hoãn dịch cho một năm đã sắp hết hạn.

Không biết các bạn của tôi xem kết quả bằng cách nào, tôi không thể biết, nhưng theo suy nghĩ của tôi, chắc họ cũng chờ các Thầy Cô lấy danh sách kết quả học sinh thi đậu từ Nha Khảo Thí đem về dán vào trong khung thông báo hàng ngày của trường thì các bạn ấy mới biết được.
Riêng tôi vì không có sự kiên nhẫn nên lại phải ngồi xe đò xuống Nha Khảo Thí để biết kết quả sớm, bởi những ngày thi qua tôi đánh giá sự làm bài của tôi vẫn còn có những môn tôi làm chưa đạt theo mong muốn có khả năng điểm thấp việc thi cử của tôi sẽ không đạt yêu cầu.
Tôi đến Nha Khảo Thí trong một ngày trời nắng tốt. Nhiều học sinh và người thân của họ đã có mặt, đám đông đứng chen chúc trước tấm khung có dán đầy danh sách tên các học sinh của từng Hội Đồng Thi. Tôi cũng cố gắng chen và len lõi đến gần được tấm khung thông báo. Nhìn vào danh sách Hội Đồng B3, tôi thấy ngay tên bạn tôi Nguyễn văn Đông, đậu với hạng Bình Thứ. Tôi tìm tên của tôi mãi hoài không thấy, sau hơn 10 phút tìm không thấy tên của tôi, đầu óc của tôi bổng nhiên tối sầm, mặt mày choáng váng, nhưng tôi kiên nhẫn giữ bình tỉnh và nhờ mấy bạn học sinh xung quanh cùng giúp tìm kiếm tên dùm. Cũng có những người lớn tuổi đi xem kết quả cho con em của họ, tôi cũng nhờ nhóm người này tìm giúp. Thời điểm đó người tôi mệt nhoài, nghĩ lung tung trong đầu. Thi rớt, chắc phải đi lính rồi, chứ còn giấy hoãn dịch đâu mà học tiếp!


Tôi rất buồn và bước lui ra ngoài, bổng tôi gặp thầy Nguyễn Hữu Lương hiệu trưởng trường Đạo Đức Học Đường thời điểm này thầy cũng là Thượng Nghị Sĩ của Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Tôi chào thầy và được biết thầy đến Nha Khảo Thí để lấy kết quả cho người con của thầy. Nhân dịp này, tôi nhờ thầy giúp xem kết quả dùm. Thầy Lương đi thẳng vào trong văn phòng của Nha Khảo Thí, khoảng 10 phút, thầy đi ra trên tay thầy cầm một tấm giấy trong đó có tên các thí sinh đậu. Thầy đến gần tôi hỏi tên của tôi và số báo danh. Tôi nói tên của tôi cho thầy biết. Thầy đưa tờ danh sách cả 2 thầy trò cùng tìm. Tôi thấy tên của tôi nằm theo số tự ở vị trí số 6 sau tên con của Thầy. Tôi mừng tim muốn thoát ra ngoài. Tôi xin thầy một bản copy. Thầy trở vào văn phòng và ra đưa cho tôi bản copy, và chúc mừng tôi đã thi đậu. Tôi đậu hạng Bình Thứ như bạn Nguyễn Văn Đông.

Sỡ dĩ, tôi tìm hoài trong tấm khung ở trước của Nha Khảo Thí không có tên tôi. Theo lời Thầy Nguyễn Hữu Lương nói lại là vì những nhân viên của Nha Khảo Thí niêm yết danh sách còn thiếu sót, nguyên cả tấm danh sách học sinh thi đậu thuộc vần H đến L không có dán lên trên tấm khung. Mà đã không có niêm yết trên khung thì làm sao tôi có thể tìm ra tên của tôi!

Tôi rất mừng và rời Nha Khảo Thí cũng không quên cám ơn thầy Nguyễn Hữu Lương trở về Tây Ninh cho kịp chuyến xe đò trong ngày.
Năm 1969. Tôi thi Tú Tài Toàn Phần. Tôi cũng phải xuống Saigon để thi. Vốn dĩ không có thân nhân hay bà con ở Saigon nên tôi cũng phải ở nhờ vào Thánh Thất Phú Nhuận. Ở đây tôi không còn gặp người Chánh Trị Sự bà con với bạn Nguyễn văn Đông mà tôi gặp vị Đầu Tộc Đạo Lễ Sanh LVV, người gốc Tây Ninh. Ngài giúp đỡ không riêng mình tôi mà còn nhiều học sinh gốc Tây Ninh cùng ngụ trong Thánh Thất để thi cử.Trong số học sinh ngụ trong Thánh Thất Phú Nhuận để chờ ngày thi Tú Tài Toàn Phần, tôi gặp Chị Tuyết cùng đi thi. Dù học cùng lớp với tôi, nhưng chị lớn tuổi hơn tôi nên tôi thường hay gọi Tuyết bằng chị.
Cũng theo cách thức năm 1968 lúc thi Tú tài Phần Thứ Nhất. Chúng tôi ôn bài chuẩn bị cho ngày thi đều dưới ánh đèn neon của hành lang gần Chánh điện Thánh Thất.


Tôi thi Tú tài Phần Hai với Hội Đồng Thi A 3 ở trường Bồ Đề (Nguyễn Khuê) ở Quận Nhì gần Cầu Ông Lãnh và chùa Ông Bổn. Để chuẩn bị cho cuộc thi, một ngày trước ngày thi, chúng tôi đi đến trường trung học Bồ Đề bằng xe lam từ Thành Thất Phú Nhuận.
Sau khi khảo sát xong mọi thứ tôi trở về Thánh Thất Phú Nhuận cũng lại bằng xe lam. Như năm trước, tin vào tâm linh nên tôi và chị Tuyết chiều vào giờ cúng của Thánh Thất đến đãnh lễ Đức Chí Tôn và Thần Thánh Tiên Phật trên chánh điệ.Sau khi đãnh lễ xong tôi trở về hành lang chuẩn bị ôn bài thi cho ngày đầu, bổng nhiên thân thể của tôi mệt lã và cảm thấy nóng ran từ trong cơ thể. Tôi biết mình bị cảm và trong tình huống thế này, tôi không phải giải quyết làm sao để người của tôi khỏe lại ngày mai có thể dự thi.Cơn sốt bắt đầu lan tỏa. Tôi mệt, nhưng tôi cố gắng kêu được chị Tuyết giúp cạo gió cho tôi. Lúc đầu chị Tuyết ngại không muốn giúp tôi.Không biết chị nghĩ điều gì? Nhưng sau đó chị đồng ý cạo gió cho tôi. Theo lời chị nói,tôi bị cảm gió rất nặng, những vết cạo của chị qua đồng tiền,lưng của tôi đã đỏ bầm. Chị cho tôi uống vài viên thuốc cảm chị xin từ văn phòng Lễ Vụ của Thánh Thất. Tôi cám ơn chị. Đêm hôm đó tôi không thể ôn bài thi. Tôi ngủ chập chờn vì cơn cảm sốt.


Sáng hôm sau tôi ráng dậy sớm, mặc dầu người rất mệt, nhưng vì là ngày thi đầu. Tôi bắt xe Lam đến trung tâm thi. Trước cổng trường Bồ Đề tấp nập người đưa con cháu đi thi. Tôi biết chị Tuyết cũng cùng thi chung trung tâm với tôi, nhưng tới giờ thi tôi không thấy chị. Tôi gặp anh Lương Nhị con của thầy Lương Thượng Nghị sĩ thi cùng phòng với tôi. Theo phiếu báo danh anh ngồi trước tôi một dãy bàn.
Phải công nhận các giám thị gác thi rất chuyên nghiệp, chặt chẻ theo dõi từ cử chỉ của các thí sinh, mỏi động tác gì của thí sinh cũng bị theo dõi. Tôi không biết ở trung tâm thi nào khác các giám thị có dễ dãi hay không, chứ ngay trung tâm tôi thi Hội Đồng A 3 ở trường Bồ Đề các giám thị như là một cảnh sát hình sự.

Qua cảm sốt đêm, người của tôi vẫn còn mệt, nhưng phải cố gắng thi ngày đầu. Ngày đầu tiên thi các môn phụ hệ số thấp nên cũng không lo lắng lắm, dù người có mệt. Buổi sáng thi xong một số môn học, các thí sinh là người Saigon đều theo cha mẹ hay thân nhân về nhà nghĩ ngơi để chuẩn bị cho môn thi chiều. Riêng tôi không có chỗ nghĩ trưa để ôn bài. Vì nếu từ trung tâm thi ngồi xe về Thánh Thất Phú Nhuận và rồi trở lại thi sẽ không kịp. Tôi quyết định vào nghĩ trưa ở chùa Ông Bổn. Ở đó tôi được ông sư trụ trì cho ăn cơm trưa, ôn bài cho môn thi buổi chiều.Những ngày thi kế tiếp, trưa tôi cũng lại nghĩ tại chùa ông Bổn, tôi cũng được các sư ở chùa cho ăn và còn cầu chúc cho tôi thi đậu.


Ngày thi cuối cùng xong tôi đến chùa từ giả quý sư và không quên cám ơn đã giúp chỗ nghĩ và ăn trưa.Trở lại Thánh Thất Phú Nhuận bằng chuyến xe lam chiều, nhưng lòng còn vương sự cám ơn các vị sư ở chùa ông Bổn. Song song với sự cám ơn còn vương trong lòng đó là sự cám ơn đối với chị Tuyết. Nếu như đêm hôm đó chị Tuyết không cạo gió cho tôi, chắc gì tôi khỏe để đi thi.Tôi cám ơn chị Tuyết. Tôi đến Thánh Thất để cố tìm gặp chị để có lời cám ơn nghĩa cử của chị đã giúp tôi trong lúc tôi bệnh. Nhưng tôi không tìm thấy chị và người hành đạo ở Thánh Thất nói chị đã về Tây NInh rồi.

Ngày hôm sau, tôi đáp xe đò về Tây Ninh, công việc đầu tiên là tôi đến nơi nhà trọ trước đây chị ngụ trên đường Ngô Tùng Châu thị xã Tây Ninh để theo học lớp Đệ Nhất trường trung học Công Lập Tây Ninh nhưng không gặp chị. Nhà trọ có người khác thuê mướn và người chủ nhà trọ cho biết chị đã về quê. Tuy suốt thời gian học cùng lớp Đệ Nhất với nhau, tôi biết chị là người miền Tây nhưng không biết chị ở tỉnh nào! Tôi và chị bặt tin nhau từ đó. Tôi không rõ chị có thi đậu không. Riêng tôi kỳ thi Tú Tài Toàn Phần tôi cũng đậu hạng Bình Thứ.

Khi vào đại học Sư Phạm và cùng ghi danh vào đại học Luật Khoa Saigon. Người bạn cùng khoa Sư Phạm với tôi là người bà con cùng quê Vĩnh Long với chị Tuyết cho biết chị Tuyết cũng đã đậu Tú Tài Toàn Phần cùng lượt với tôi và hiện chị là theo ngành Y Tá Điều Dưỡng.



Nhân youtube của Người Ngoại Thành nói về kỳ thi Tú Tài Khắc Nghiệt- Bao nhiêu nước mắt đã rơi? Tôi nhớ lại 58 năm trước tôi là người từng đã trải nghiệm về việc thi cử nên phải công nhận trước năm 1975, việc thi cử ở miền nam rất khó khăn. Theo tài liệu hiếm có ghi nhận: mỗi mùa thi Tú Tài Phần Nhất hay Toàn Phần số thí sinh ghi danh thi thật nhiều trên toàn quốc, nhưng tỉ lệ đậu rất ít. Chỉ ước khoảng 40% cho một mùa thi. Vì thế bằng Tú Tài của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa rất có giá trị.

Kỳ thi Tú tài (Tú tài I - Bán phần và Tú tài II - Toàn phần) tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975 được xem là những kỳ thi quốc gia quan trọng, nghiêm túc và tạo nhiều kỷ niệm sâu sắc cho các thế hệ học sinh. Dưới đây là tổng hợp cảm nghĩ và thông tin về các kỳ thi này dựa trên các tài liệu hồi ức và biên khảo:

1. Sự Nghiêm túc và Áp lực "Sinh tử"

- Kỳ thi quốc gia: Tú tài là cột mốc lớn, phân loại học sinh sau 12 năm đèn sách. Đậu Tú tài II (toàn phần) là điều kiện bắt buộc để vào đại học.

- Áp lực thi cử: Với nam giới, hỏng Tú tài I (Tú tài bán phần) đồng nghĩa với việc có thể phải nhập ngũ quân dịch hoặc vào trường hạ sĩ quan. Do đó, kỳ thi mang áp lực tâm lý rất lớn, thường được coi là kỳ thi "sinh tử".

- Tỷ lệ đỗ thấp: Đặc biệt với Tú tài Pháp, tỷ lệ đỗ chỉ khoảng 20-25%. Tú tài Việt giai đoạn đầu cũng rất gay go, rạng danh cả làng xã khi đỗ.

- Tổ chức quy củ: Dù trong hoàn cảnh thời chiến, các kỳ thi được tổ chức tại các Thủ Đô Saigon và từ thập niên 70 ở các tỉnh mới có Hội Đồng Thi. Giám khảo chấm thi kỹ lưỡng, được đánh giá là công bằng và minh bạch.

2. Kỷ niệm về các kỳ thi (1960s - 1974)

- Tú tài I (Bán phần): Thi cuối lớp 11, gồm hai phần viết và vấn đáp (vấn đáp bị bãi bỏ từ năm 1968).
Tú tài II (Toàn phần): Thi cuối lớp 12, thi cử rất nghiêm ngặt, đề thi đòi hỏi sự sáng tạo và kiến thức vững chắc

- Kỳ thi "Tú tài IBM" (1974): Năm 1974 đánh dấu sự cải tổ khi lần đầu tiên Bộ Giáo dục sử dụng máy điện toán IBM để chấm bài trắc nghiệm. Kỳ thi này thường được nhắc đến với cảm giác vừa hiện đại vừa lo ngại về phương pháp mới.

- Sự phân ban: Học sinh được chia ban (Ban A - Khoa học thực nghiệm, Ban B - Toán,.) và nội dung thi phù hợp với chương trình học.

3. Nét Văn hóa Thi cử 

- Trung tâm luyện thi: Có các trung tâm luyện thi nổi tiếng tại Sài Gòn (đường Cao Bá Nhạ,..) dành cho cả chương trình Việt và Pháp.

- Giám khảo chấm rộng: Nhiều hồi ức cho rằng giám khảo miền Nam chấm thi tương đối "rộng" và có tâm, tạo điều kiện cho học sinh nhưng vẫn giữ sự nghiêm minh.

Sự sàng lọc: Học sinh thi Tú tài 2 thường được sàng lọc từ Tú tài1.Tuy vậy tỷ lệ đỗ cao không hơn (thường trên 40% ở giai đoạn những năm 70).

- Về Kỳ thi Tú Tài của miền Nam trước 1975, hiểu hơn phần nào về chương trình giáo dục, cách dạy của chế độ Việt Nam Cộng Hòa.

- Môn Triết là 1 môn được coi trọng khi được dạy ngay từ cấp 1, với những ý niệm cơ bản. Nhìn đề thi Triết tú tài 2 mới thấy được đẳng cấp khác biệt khả năng am hiểu Lịch sử triết học thế giới, sự bao quát của Triết học, các phương pháp luận, thế giới quan...tất tần tật. Bài thi gồm có cả 2 phần: Luận 10đ và Trả lời vắn tắt 10đ.

Các môn tự nhiên: Toán, Lý, Hóa, Vạn vật (Sinh) đều là môn trọng yếu...với 2 ban chính (ban A Vạn vật hệ số 5, ban B Toán hệ số 5). Điều quan trọng là nhìn vào đề thi, sẽ thấy thời đó dạy cho học sinh cách hiểu cách tư duy (từ bản chất) của mọi khái niệm, định lý...chứ không phải cách xài công thức-học vẹt. Ví dụ môn Toán: Ý nghĩa, ứng dụng của Đạo hàm, nguyên hàm...đều được hỏi trong đề (cách thống nhất tên gọi khái niệm cũng đã thể hiện 1 đẳng cấp khác . * Sinh ngữ: được chia làm Tiếng Mẹ đẻ (sinh ngữ 1, hệ số 2) và 1 môn sinh ngữ 2, hệ số1 những đoạn trích bình văn kinh điển và sâu sắc của tiền nhân...

Môn thể dục ko là môn chính thức của kì thi tú tài, nhưng khuyến khích để cộng điểm để thấy được quan niệm giáo dục và phát triển con người của chế độ VNCH thế nào.

Kết Luận

Tóm lại kỳ thi Tú Tài ở chế độ VNCH.Tổ chức chặt chẽ, có phương pháp, có nề nếp trong thi cử là yêu tố quyết định trong thi cử. Cá nhân muốn gian lận cũng khó mà gian được. Chẳng hạn chuyển đổi người địa phương đi nơi khác là yếu tố quan trọng hàng đầu. Phân biệt tổ chức Hội đồng giám thị và Hội đồng giám khảo. Không cho phép bất cứ quan chức địa phương nào, từ Tỉnh trưởng đến người quân cảnh dính dáng xa gần tới Hội đồng giám thị giám khảo. Hai hội đồng ấy từ trung ương gửi xuống biệt lập với quan chức địa phương. Địa phương chỉ có bổn phận bắt buộc cung cấp phương tiện. Chánh chủ khảo đến làm việc là mọi chuyện phải được sắp xếp sẵn sàng cho họ như phương tiện di chuyển như máy bay quân sự, xe cộ, lính canh gác thùng đề thi, an ninh tại các trường thi.Chẳng hạn để tiết lộ thùng đề thi do trách nhiệm ông Tỉnh trưởng thì việc trước tiên là ông tỉnh trưởng phải đổi đi chỗ khác.Tổ chức ấy được tiến hành như sau:Nha Khảo Thí. Nha khảo thí là nơi đầu não làm việc suốt quanh năm nhằm mục đích tổ chức hai kỳ thi trung học Phổ thông và 4 lần thi tú tài 1 và 2. Cơ quan này chia ra nhiều bộ phận riêng rẽ, biệt lập như tổ chức các Hội đồng Giám thị và giám khảo, phân phối điều động các giám khảo, giám thị. Sài Gòn vì là trung tâm nên nơi đây còn chia ra nhiều Hội Đồng như Hội Đồng ban B, ban C và D, Hội Đồng ban A. Các tỉnh thì có các Hội Đồng Giám khảo như Huế, NhaTrang, Cần Thơ, v.v… Hội Đồng Giám Thị thì tổ chức tại các địa phương như các tỉnh Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Hội An, Quảng Trị, v.v… Khi các thí sinh thi xong thì bài thi và hồ sơ của Hội Đồng Giám Thị được chuyển tất cả về Huế.Nhưng bộ phận quan trọng của Nha Khảo Thí là hội đồng ra đề thi. Bộ phận này nằm chót lót trên lầu 3 của Nha Khảo Thí.

· Người ta gọi đùa là một vương quốc thi cử. Nội bất xuất, ngoại bất nhập.

 

Duy Văn Hà Đình Huy

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

Bình Minh Xuân

 
Mưa trút nước trôi buồn viễn xứ
Góc trời xuân rạn ánh bình minh
Sau đông dài… tuyết rơi sương rụng
Ngày buốt lòng đêm buốt lạnh tim!


Thơ & Hình Ảnh: Yên Dạ Thảo

Không Thể Nào Quên

  

Không thể nào quên những ngọn đồi
Đã từng ghi dấu bước chân tôi
Mùa Hè rực lửa mùa chinh chiến
Đồi Gió,Tân Khai tiếng để đời.

Không thể nào quên bao chiến sĩ
Hy sinh vì nước máu xương phơi
Bình Long Hè đỏ, Xuân Xuân Lộc
Nghĩa địa hoang tàn bao lệ rơi.

Không thể nào quên những chiến công
Đã từng vang dội khắp non sông
Anh hùng tuẫn tiết đầy bi hận
Lịch sử phương Nam mãi ngậm ngùi.

Không thể nào quên người vượt biển
Biển Đông vùi xác mất tăm hơi
Sóng cuồng lớp lớp buồn tang chế
Tưởng nhớ linh hồn lạnh biển khơi.

Memorial Day, 2026
Đăng Nguyên

Mưa Tháng Năm

 

Trăng bây giờ vẫn giống trăng xưa
Bóng ngả liêu xiêu dưới gió mưa
Có người lữ thứ buồn viễn xứ
Dõi bóng thời gian lùa song thưa.

Ngắm ánh trăng tà thầm ước mơ
Quê hương vời vợi vẫn mong chờ
Cõi lòng chất chứa bao hoài bão
Trăn trở canh thâu lạc bến bờ.

Tháng năm mưa dầm ngỡ mưa ngâu
Thương quá ngày xưa giấc mộng đầu
Còn lại những gì trong ký ức
Tro tàn dĩ vãng bay về đâu.

Đêm trải hồn thơ thương nguyệt lạnh
Mưa dưới trăng hay trăng dưới mưa
Nhớ câu vọng cổ vùng quê ngoại
Đã mất hết rồi tiếng võng đưa.

25/5/26
Đỗ Minh Giang

Mừng Thi Tập Quê Hương,Tình Yêu & Kỷ Niệm


(Gửi tặng nhạc sĩ Trần Đại Bản)

Quê cũ còn vang tiếng mõ chiều
Hồn thơ còn đượm khói cô liêu
Huế xưa tím nhẹ dòng sông vắng
Kỷ niệm theo người suốt quãng yêu.

Trang sách mở ra tình cố xứ
Lời thơ chở nặng bóng quê nghèo
Xin mừng thi tập đầy tâm cảm
Một tấm lòng son với nước non.

Tế Luân

Tình Xưa

  

Anh đang về lại Phương Đông…
Hương xưa thuở ấy…đã bềnh bồng!
Hồn em vấn vương…trong mây gió
Tơ buồn…mờ ảo khắp núi sông!

Biết tìm đâu…giây phút ấm êm
Đèo cao, thác lủ…gập ghềnh!
Vì tình đời… đang phản bội…
Núi gào, biển thét…não nùng thêm!


Dáng cũ…giờ đây đã đổi thay!
Sơn son, trét phấn…dấu mặt mày…
Trao đổi những con tim rớm máu!
Dối gian, xảo quyệt…lắm chua cay!!

Tình riêng…ngập giữa gió mùa!
Màng đen phương Bắc… đã đong đưa
Chung vun xới…vườn hoa Dân Chủ
Ngọn đuốc Cam Ranh…sẽ khơi ngòi…

Nguyện cầu Thế Giới Bình an
Chân lý… phải thắng bạo tàn…
Xây lại Tình Chung…dang dở…
Lệ mừng…lật sổ…sang trang…

Tô Đình Đài