Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

Anh Lính Năm Xưa

 

Thơ & Trình Bày: Tạ Quang Tuấn



Tạc Dạ Nghìn Sau...

  

Anh vẫn đứng đó giữa ngàn mây gió
Nơi non cao hun hút bóng trăng gầy
Tôi em gái nhỏ của ngày xưa ấy
Nợ một tiếng chào theo gió xa bay

Lời chưa ngỏ đã hóa thành hương nhẹ
Gửi tâm tình vào thăm thẳm ngàn sao
Dẫu bụi đời có nhuốm bạc mái đầu
Ký ức cũ vẫn dạt dào như mới

Mảnh áo chinh nhân sờn vai bạc lối
Màu gió sương in dấu vết thời gian
Nhưng tình em giữa thế sự ngỗng ngang
Vẫn son sắt chưa một lần phai nhạt

Khoảng cách xa xôi trùng dương bát ngát
Chẳng ngăn được lòng hướng phía non cao
Mãi mãi là người yêu lính năm nào
Vẫn trọn một đời ...tạc dạ nghìn sau...!

Kim Oanh
28.4.2026

Ngàn Dặm Ra Đi

 

Nước non ngàn dặm ra đi
Quê hương đâu nỗi biệt ly mấy bờ
Giang sơn dải núi mịt mờ
Dòng thơ suối nhạc lặng lờ nơi nao
Một mùa âm hưởng lên cao
Xa đưa tiếng quốc gọi vào đêm sương
Tình nào tấu khúc ly hương
Hồn hoa chia biệt còn vương cõi lòng
Bên đèn nỗi nhớ mông lung
Chông gai sờn gấu áo hường tiểu thơ
Gót son rạn nứt niềm mơ
Bôn ba lệ nhỏ xót bờ bến xưa.

Lê Mỹ Hoàn
10/05/1989

Từ Phượng Mười Năm

 


Quê hương tôi có một loài hoa phượng
Cứ hè về hoa nhuộm đỏ hàng cây
Gợi trong ai những kỷ niệm tháng ngày
Thời thơ ấu đã cùng ai sánh bước

Nắng Chiều
***
Cảm Tác

Hồng trên một cõi bao lời kỳ bí
Nức nở tiếng ve trong ánh nắng chiều
Linh hồn sắc sảo trải cánh phượng yêu
Lắng lòng tìm giấc mơ thời thơ ấu

Kim Phượng


Đêm Trăng Ở San Francisco


Chợt tỉnh giấc, Linh vội nhìn đồng hồ, sáu giờ sáng. Linh quay sang lay vai chồng:
-Anh, dậy lẹ lên sửa soạn ra phi trường không thôi trễ giờ đó.
Hữu hỏi giọng ngái ngủ:
-Mấy giờ rồi em?
-Sáu giờ.
-Dậy sửa soạn còn uống cà phê, ăn sáng. Đi sớm cho khỏi kẹt đường, anh mà ngủ thêm nữa trễ máy bay cho mà xem.
-Không trễ đâu mà, đây ra phi trường có ba mươi phút làm sao mà trễ được.
-Anh mà ngủ thêm là thế nào cũng trễ, em nói không sai đâu, dậy lẹ đi.
Hữu hơi bực nhưng cố nhỏ nhẹ:
-Đêm qua thức khuya anh mệt quá, cho anh ngủ thêm một chút nữa.
Linh khó chịu nói hơi lớn tiếng:
-Anh như trẻ con ấy, dậy sớm một chút thì chết chóc gì. Ngủ thêm lại ngủ quên luôn, lát nữa lại quýnh lên cho mà xem.
Lần này Hữu không dằn được nữa, chàng cũng lớn tiếng lại:
-Khổ quá! Anh 50 tuổi đầu rồi, anh là chồng em chứ có phải là con em đâu. Anh biết lo công việc của anh mà, sao em thích chỉ huy anh quá vậy? Anh đã để đồng hồ báo thức rồi.
Nói xong, Hữu kéo chăn trùm kín đầu, tiếp tục ngủ. Linh bực mình vùng vằng bỏ đi xuống dưới nhà.
Nửa giờ sau đồng hồ reo, Hữu vội nhỏm ngay dậy chạy vào buồng tắm vặn nước nóng tắm thật nhanh cho tỉnh ngủ.

Linh đang ngồi đọc báo và uống cà phê ở bàn ăn trong nhà bếp, nghe tiếng giầy của Hữu bước tới sau lưng, Linh vẫn lờ đi ngồi chăm chú đọc báo.
-Ủa em chưa sửa soạn để đưa anh ra phi trường à?
-Đây ra phi trường có gì đâu mà phải sửa soạn.
Giọng Linh lạnh và nhạt nhẽo một cách cố ý. Nói xong Linh đứng dậy đi lên lầu lấy cái bóp và cái áo len mỏng khoác vội vào người. Nàng xuống nhà lấy xâu chìa khóa rồi mở cửa đi thẳng ra garage, rồ máy xe ngồi chờ. Hữu nhìn theo vợ, lắc đầu chán nản;
-Lại chiến tranh lạnh rồi. 
Trên đường ra phi trường, nhìn khuôn mặt lạnh lùng của vợ, Hữu xuống giọng làm lành:
-Anh xin lỗi em, sáng nay anh thèm ngủ quá mà em cứ bắt dậy nên anh hơi bực.
Giọng Linh như tảng nước đá:
-Có gì đâu mà lỗi với phải. Anh nói đúng, việc của anh để anh lo, mắc mớ gì tới em mà em xía vào để mang tiếng là thích chỉ huy.
Hữu cố năn nỉ:
-Thôi mà, anh xin lỗi rồi mà. Anh sắp xa em một tuần lễ, đừng giận anh tội nghiệp.
Linh quay lườm chống:
-Ai bảo la người ta cho cố, rồi bây giờ làm bộ xuống nước.
Linh lượn xe đậu sát cửa ra vào của hãng hàng không American Airlines rồi dặn dò chồng:
-Anh nhớ đừng uống rượu nhiều, đừng thấy vắng mặt vợ rồi hút thuốc xả ga, đừng thức khuya, đến nơi nhớ gọi điện thoại về.
-Ủa em không vào tiễn anh à?
-Em mặc bê bối thế này đi vào coi kỳ lắm. Thôi anh đi lẹ lên không có xe đằng sau họ có vẻ sốt ruột lắm rồi đó, chỗ này không đậu lâu được.
Hữu nghiêng đầu sang hôn nhẹ vào má vợ rồi bước xuống xe, chạy vội ra đàng sau lấy hành lý. Nhìn theo chiếc Jaguar của vợ chạy khuất đi, Hữu mới thong thả xách hành lý đi vào phi trường. Vừa đi, Hữu vừa suy nghĩ “không biết mình đi cả một tuần Linh có nhớ không mà có vẻ tỉnh bơ như vậy.”

Đến Gate 21, nhìn đúng Flight # 58 đi San Francisco khởi hành 9 giờ sáng. Hữu nhìn đồng hồ, còn 20 phút nữa mới tới giờ lên máy bay. Chàng kiếm một ghế trống ngồi chờ. Trước mặt Hữu là hai người đang bịn rịn chia tay. Người vợ âu yếm nắm chặt tay người chồng, thỉnh thoảng họ lại nhìn nhau thật tình tứ. Trước khi người chồng lên máy bay, hai người hôn nhau quấn quít như không muốn rời xa. Hữu ngạc nhiên thấy mình thầm mơ ước, sao Linh không vào đây tiễn mình và bịn rịn như người vợ kia có phải Hữu sung sướng biết mấy không. Hữu biết họ là vợ chồng vì bàn tay trái của hai người đều đeo nhẫn cưới.

Lên máy bay, Hữu vẫn còn vương vấn mãi về cảnh chia tay tình tứ tha thiết của cặp vợ chồng kia. Có lẽ mình “hồi xuân,” Hữu nghĩ thầm, cho nên mới nghĩ ngợi vẩn vơ như vậy.
Thực ra Hữu là người rất mơ mộng ướt át. Chả vậy mà hồi còn đi học, Hữu mê thơ Xuân Diệu, Quang Dũng, Nguyên Sa, Tô Thùy Yên vô cùng. Chàng thuộc lòng không biết bao nhiêu bài thơ. Từ ngày lấy Linh, tính nàng thực tế, khô khan, lâu dần Hữu cũng thay đổi theo. Hữu nghĩ tình cảm phải có qua có lại. Mình cho phải có người biết nhận, biết giá trị của sự cho đó thì mình mới còn có hứng thú để cho. Cho mà người ta không biết nhận, hoặc hững hờ, tự nhiên mình cụt hứng và không còn muốn cho nữa. Hữu lấy Linh do một sự tình cờ. Linh là sinh viên du học, nàng rời Việt Nam từ năm 1970. Sau 1975, Hữu còn kẹt lại Việt Nam. Mãi tới năm 1978, Hữu mới vượt biên qua được Thái Lan. Trong thời gian ở trại tị nạn, Hữu đã gặp Linh, lúc đó Linh vừa tốt nghiệp y khoa và đang thực tập ở nhà thương. Vào dịp Hè, Linh và một số bạn đã tình nguyện qua Thái Lan để săn sóc sức khỏe cho đồng bào tị nạn và Hữu là bệnh nhân đầu tiên của Linh. Sau chuyến vượt biên, sức khỏe của Hữu bị giảm sút đi nhiều. Nhờ sự săn sóc tận tình của Linh, Hữu đã bình phục nhanh chóng.

Hai người đã bị tiếng sét ái tình ngay từ giây phút đầu gặp gỡ. Sau đó Linh đã nhờ người bảo lãnh cho Hữu được định cư ở Mỹ. Ít lâu sau hai người quyết định kết hôn, dù rằng cả hai chưa được biết rõ tính tình của nhau lắm, nhưng cả hai đều tin vào tình yêu thắm thiết họ dành cho nhau chắc chắn sẽ san bằng được mọi khác biệt. Thuở ban đầu thì quả thật là như vậy: “Yêu nhau trái ấu cũng tròn.”

Một năm sau, trái ấu đã trở thành nguyên hình, chứ không tròn như trước nữa. Bởi những làn sóng đam mê cuồng điên của thuở mới cưới đã lắng dần xuống, đến lúc chỉ còn là mặt hồ phẳng lặng hai người mới thấy rõ những khác biệt của nhau. Cũng may, đời sống bận rộn của một Y sĩ và một viên chức cao cấp của ngân hàng đã làm cho hai vợ chồng không có nhiều thì giờ cho cuộc sống riêng tư, để mà thấy sự khác biệt về tính tình là trở ngại lớn cho cuộc sống chung của hai người. Đứa con ra đời đúng lúc đã làm cho cuộc sống đang lạnh lẽo bỗng rộn ràng ấm cúng hẳn lên.

Thời gian trôi thật nhanh, mới đó mà con gái cưng của hai người, Bảo Châu, đã học lớp chín của một trường trung học tư thục Công giáo. Nghĩ tới con, Hữu thấy lòng ấm lại. Con bé thông minh xinh đẹp như mẹ. Nhưng tâm hồn lại ướt át giống bố. Ngay từ bé, Bảo Châu đã được bố dạy thuộc lòng những vần thơ. Những ca dao, nói về tình tự quê hương, nơi đã hun đúc tâm hồn lãng mạn mơ mộng của Hữu, khi chàng còn là sinh viên của trường Đại Học Chính trị Kinh doanh Đà Lạt. Ở Việt Nam, Hữu đã tốt nghiệp ưu hạng bằng cao học CTKD. Do đó, sang tới Mỹ, học để lấy bằng MBA là một chuuyện dễ dàng đối với Hữu. Học xong, Hữu được một ngân hàng nổi tiếng ở New York mượn, và chỉ sau một thời gian ngắn Hữu đã được đề cử một chức vụ quan trọng. Với chức vụ này, Hữu thường phải đi hội họp ở các nơi xa.

Vừa từ máy bay bước xuống, Hữu đã thấy tên mình được viết trên một tấm bìa lớn đang được giơ cao bởi hai tay của một người đàn ông đứng chờ sẵn ở cửa ra vào. Hữu bước tới tự giới thiệu tên mình. Chiếc Limousine mầu đen bóng, dài thậm thượt đưa Hữu về một khách sạn sang trọng của thành phố San Francisco. Từ cửa sổ phòng của khách sạn, Hữu có thể nhìn thấy cả một vùng biển mênh mông với cây cầu Golden Gate mờ sương ở đằng xa. Điện thoại reo, cô thư ký của khách sạn nhắc Hữu chiều nay ở Ballroom của khách sạn, có buổi tiếp tân chào mừng các nhân viên của ngân hàng từ các nơi tới dự đại hội.

Thay quần áo xong, Hữu định ngả lưng xuống giường ngủ một giấc cho khỏe vì mấy đêm nay Hữu phải thức khuya làm cho xong mấy bài thuyết trình. Chợt nhớ tới vợ, Hữu vội nhỏm dậy bấm điện thoại, Hữu mỉm cười với ý nghĩ sẽ kể cho Linh nghe cảm giác của chàng sáng nay, khi thấy cặp vợ chồng bịn rịn tình tứ chia tay nhau ở phi trường. Chàng đã thầm mơ ước cặp vợ chồng đó là Linh và chàng. Tiếng trả lời của cô thư ký ở bệnh viện làm Hữu cụt hứng. Cô cho biết, Linh đang bận trong phòng đỡ đẻ. Chàng nhắn lại mấy câu vắn tắt và không quên dặn Linh gọi lại cho chàng. Nghĩ tới công việc bận rộn của vợ, Hữu phục nàng vô cùng. Linh là một bác sĩ rất giỏi và can đảm. Nàng luôn luôn bình tĩnh trong mọi trường hợp khẩn cấp nguy hiểm. Nàng có cái cứng cỏi của một người đàn ông trước mọi vấn đề. Đôi khi cả những chuyện khúc mắc của tình cảm, nàng cũng dùng lý trí để giải quyết. Với Linh không có gì đáng để chảy nước mắt. Sau bao nhiêu năm chung sống, chưa một lúc nào Hữu thấy sự mềm yếu hay xúc động quá đáng ở Linh.

Ngược lại Hữu rất dễ bị xúc động và mềm lòng. Ngay cả việc giáo dục Bảo Châu, Linh luôn luôn cứng cỏi và Hữu thường mềm yếu với con. Do đó Bảo Châu gần gũi với bố hơn là với mẹ. Vả lại công việc của Linh cũng quá bận rộn, nên nàng cũng không có nhiều thì giờ dành cho con gái.

Cho tới chiều , lúc Hữu sửa soạn xuống nhà để dự tiếp tân, Linh cũng chưa gọi lại cho chàng. Trước khi rời phòng, Hữu gọi cho vợ một lần nữa. Giọng Linh trả lời ở đầu dây có vẻ mệt mỏi:
-Nhận được “message” của anh, nhưng bận và mệt quá, nên em định tối về nhà sẽ gọi anh.
-Anh sắp phải đi dự tiếp tân ở dưới nhà.
-Vậy à, tới giờ đi chưa, coi chừng trễ. Anh nhớ đừng uống rượu và hút thuốc nhiều nhé.

Hữu trêu vợ:
-Thưa bác sĩ, em xin nghe lời.
-Tốt, “Have fun.”
-Chỉ có thế thôi à, em không có gì nói thêm sao?
-Nói thêm gì à? Giọng Linh có vẻ hơi ngạc nhiên.
-Anh muốn em nói chẳng hạn như “tối nay ngủ một mình em sẽ nhớ anh lắm.”
-Linh cười thành tiếng. “Cải lương quá đi, không có anh em sẽ ngủ ngon hơn vì không có ai dành đắp hết phần chăn của em.”
-Em vô tình như một tên đàn ông khô khan.
-Anh lẩm cẩm giống như con gái mới lớn.

Muốn nói một câu thật tình tứ với vợ, nhưng bị nàng chặn họng như vậy nên Hữu cụt hứng luôn.
-Thôi, bye em!
-Bye anh!

Bỏ điện thoại xuống, Hữu còn đứng tần ngần một lát, Hữu thấy mình hơi lẩm cẩm thật. Không hiểu sao, bỗng dưng hôm nay tự nhiên Hữu thèm một chút âu yếm, một chút tình tứ của vợ. Có lẽ vì thấy cặp vợ chồng âu yếm nhau ở phi trường, mà những tình cảm vẫn ẩn kín trong lòng chàng bỗng dưng sống lại.

Đời sống vợ chồng Hữu mấy năm sau này, ngoài những liên hệ gối chăn, Linh đối với chàng như một người bạn, ít có khi nào như một người tình. Những phút du dương hầu như không bao giờ có nữa. Đôi khi Hữu tự hỏi lấy nhau vì tình mà chán thế này sao.

Mải nghĩ ngợi lan man, Hữu quên mất cả thời gian. Nhìn đồng hồ, Hữu giật mình, đã trễ gần nửa tiếng. Chàng lật đật rời phòng xuống dưới nhà.

Bước vào cửa ballroom, một hình ảnh đập ngay vào mắt Hữu. Mái tóc đen được bới cao, để lộ cái gáy trắng ngần của người đàn bà đang đứng quay lưng lại phía chàng. Nàng có cái dáng thật đẹïp, thật sang. Mái tóc đen và thân hình mảnh mai đó, chắc chắn phải là người Á đông. Không biết tại sao Hữu lại nghĩ như vậy.

Một vài người quen nhận ra Hữu, chạy lại vồn vã bắt tay. Mải nói chuyện, Hữu quên luôn hình ảnh đặc biệt vừa qua. Lúc được mời vào bàn để ăn cơm tối, tình cờ Hữu lại được xếp ngồi đối diện với nàng. Nhìn cái bảng tên, Quyên Lệ Trần dán trên áo, Hữu mới biết nàng là người đồng hương.

Chàng hỏi ngay một câu bằng tiếng Việt.
-Bà ở vùng nào đến?

Nàng khoảng ngoài bốn mươi tuổi, khuôn mặt thật dễ thương. Không đẹp lắm nhưng rất có duyên.

Nàng cười để lộ hàm răng trắng bóng:
-Tôi là dân địa phương. Ông không có bảng tên, nên tôi không biết ông là người Việt Nam.
-Tôi đến hơi trễ, thành không kịp lấy bảng tên. Tôi là Phạm Nguyên Hữu, đến từ New York.
-Hân hạnh được gặp ông, một người tôi đã nghe tiếng từ lâu, bây giờ mới được gặp mặt. Ông xếp lớn của tôi ca tụng ông lắm.

Hữu đỏ mặt sung sướng vì lời khen của nàng. Tuy vậy chàng vẫn khiêm tốn:
-Thiếu gì người tài giỏi hơn tôi, nhưng chắc họ muốn khuyến khích dân da mầu, nên mới nhắc tới tôi như vậy.
-Ông đừng nhún mình, ông không giỏi làm sao họ gửi ông đến đây thuyết trình và huấn luyện chúng tôi.

Sau bữa cơm, mọi người được mời lên lầu bảy để uống rượu và nghe nhạc. Phải công nhận người Mỹ họ uống rượu kinh thật. Họ uống như hũ chìm mà vẫn chưa say, trong khi chỉ uống có một ly mà Hữu đã thấy người lâng lâng rồi. Ban nhạc chơi thật điêu luyện. Họ trình bày toàn những bản nhạc nổi tiếng của thập niên năm mươi như “Smoke Gets in Your Eyes”, “Love is a Splendored Thing”, “When I Fall in Love” v. v… Những bài hát xưa cũ đưa Hữu trở về những ngày tháng mộng mơ của Đà Lạt mù sương. Cầm ly rượu trong tay Hữu lại gần cửa sổ. Qua khung cửa kính, cây cầu Golden Gate rực rỡ đằng xa với hàng vạn ngọn đèn sáng lấp lánh giống như hội hoa đăng
-Ông thấy thành phố San Francisco ban đêm có đẹp không?

Hữu giật mình quay lại, Quyên đứng ngay sau lưng chàng, gần đến độ chàng ngửi thấy mùi nước hoa thoang thoảng thơm như mùi phấn của nàng.
Dưới ánh đèn mờ ảo, trông Quyên đẹp hẳn lên. Chàng trả lời, giọng thoáng xúc động:
-Đẹp, đẹp vô cùng.

Hữu không biết mình khen thành phố ban đêm đẹp hay khen Quyên đẹp. Một lúc sau, lấy lại bình tĩnh, Hữu nói tiếp:
-Tôi mê San Francisco từ hồi học tiểu học Ngày đó theo bà chị đi xem ciné có một phim tả một chuyện tình thật đẹp lồng trong khung cảnh động đất ở San Francisco năm 1906. Tôi nhớ mãi hai câu quảng cáo trên báo về cuốn phim đó:
“San Francisco lửa cháy ngợp trời
Trong cơn nguy biến chẳng quên lời ước xưa.”

Bây giờ nghe nó hơi cải lương, nhưng sao hồi đó tôi thích hai câu thơ này quá. Mê từ ngày nhỏ mà bây giờ mới được đặt chân tới.
-Lần đầu tiên ông tới đây à? Như vậy tôi xin tình nguyện làm ‘’tour guide’’ đưa ông đi thăm thành phố.
-Ngay bây giờ có được không?
Quyên ngạc nhiên:
-Ngay bây giờ à? Cũng được, nếu ông không ngại thức khuya. Tôi sẽ đưa ông đi một vòng coi thành phố ban đêm.
Hữu nghe náo nức một cách kỳ lạ.
-Vậy mình đi ngay nhé.
Vừa lái xe, Quyên vừa giới thiệu các nơi chốn đi qua như một ‘’tour guide ‘’ chính hiệu:
-Đây là Union Square, trung tâm của Downtown, gồm những tiệm bách hóa thật sang. Ở đây có một tiệm ăn rất nổi tiếng về đồ biển từ mấy chục năm qua, tên là tiệm Tadich Grill. Bữa nào tôi sẽ mời ông đi ăn cho biết. Bây giờ tôi đưa ông sang Marin County, đến một khu phố ngoài ven biển. Chắc ông sẽ thích lắm, đó là khu Sausalito.

Nói rồi, Quyên vòng xe lại và phóng vút đi qua những con phố lên dốc xuống đèo giống như Đà Lạt. Quyên lái xe hơi nhanh khiến Hữu phải lên tiếng:
-Trông Quyên tưởng hiền lắm, không ngờ lái xe liều ghê quá! Tôi xin phép gọi bằng tên giống như người Mỹ cho thân mật.
-Không sao, ông cứ tự nhiên, ông nhìn bề ngoài mà xét đoán người là lầm chết đó
-Cho tôi xin chữ ‘’ông” được không?
-Cũng được, với điều kiện ông mời tôi một chầu cà phê. Quyên trả lời với giọng hơi diễu cợt.
-Đó là điều tôi mong ước, tôi cũng đang thèm một ly cà phê thật ngon.
-Để tôi đưa anh đến tiệm Casa Madrona trên đường Bridge Way ở Sausalito. Đó là một nơi nổi tiếng nhất của thành phố này vì có cái ‘’view’’ rất đẹp.

Xe đã bắt đầu đi vào cầu Golden Gate, Quyên bấm nút cho cái ‘’Sun roof’’ mở ra, gió biển thật mát ùa vào trong xe. Hữu ngả đầu ra phía sau, ngước nhìn lên cao, bầu trời trong vắt đầy sao lấp lánh.
Tự nhiên Hữu nhớ tới lá thư tình đầu tiên chàng viết cho cô hàng xóm thuở còn ở trung học. Chàng đã cóp một câu của một nhà văn nào đó chàng không nhớ.
“Em hãy đếm trên trời có bao nhiêu vì sao, thì anh yêu em nhiều hơn thế nữa.”

Lãng mạn làm sao cái thuở học trò. Tiếng Quyên đưa Hữu về thực tại:
-Anh có biết năm 1987 nhân ngày kỷ niệm 50 năm thành lập cây cầu này có 800 ngàn người chen chúc đi bộ qua cầu mà cây cầu vẫn chịu đựng được không?
-Tôi có đọc tin ấy ở trên báo, tôi còn nghe nói có nhiều người thích đến đây để tự tử lắm có phải không?
-Năm nào cũng có vài người từ xa đến đây để tự tử.
-Tôi không hiểu tại sao đã chán đời đến độ muốn chết mà còn phải kén chọn cây cầu đẹp nhất nước Mỹ để đứng nhẩy xuống mà tìm cái chết.
-Có lẽ những người đó họ có kỷ niệm với cây cầu này chăng.

Xe đã qua khỏi cầu và bắt đầu đi vào Marin County. Chẳng mấy chốc Sausalito đã hiện ra thrước mặt. Khu phố này dựa vào sườn núi và chạy dọc theo ven biển đẹp và thơ mộng vô cùng.

Hai người ngồi uống cà phê ở nhà hàng trên sườn núi. Họ ngồi ở cái bàn sát cửa sổ, nhìn ra biển. Ánh trăng vàng đổ tràn xuống mặt nước lung linh làm Hữu nhớ tới hai câu:
“Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.”
Chàng hỏi Quyên:
– Quyên có bao giờ được nhìn thấy các cô gái quê tát nước bằng gầu dây những đêm sáng trăng ở Việt Nam chưa?
– Có chứ, hồi nhỏ về quê nghỉ hè tôi đã được nhìn thấy hết những hình ảnh đẹp của thôn quê Việt Nam. Câu hỏi của anh làm tôi nhớ lại hai câu ca dao tôi rất thích:
“Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.”
Hồi còn là sinh viên hai câu này đã cho tôi nguồn cảm hứng viết một bài phiếm vui nói về những nét đẹp gợi cảm của ngưới con gái Việt Nam ở thôn quê.
Hữu cười thích thú:
-Chẳng hạn như?
-Chẳng hạn như hình ảnh một đêm trăng, hai người con gái mặc yếm để lộ nguyên hai cánh tay, vai và cái lưng trần, mặc váy quá đầu gối, người đu đưa làm những động tác ngả người ra sau để tát nước, anh không thấy hình ảnh đó rất đẹp và gợi cảm hay sao?
-Nghe nhà văn Lệ Quyên tả, tôi muốn bay về Việt Nam ngay để ngắm cảnh tát nước dưới ánh trăng.
Câu nói đùa của Hữu làm hai người cùng cười vui vẻ. Chàng nói tiếp:
-Quyên có biết thoạt nhìn ánh trăng chan hòa trên mặt biển, tôi đã nhớ ngay đến hai câu ca dao đó nên mới hỏi Quyên đã được nhìn cảnh tát nước đêm trăng ở quê nhà chưa đấy chứ.
Quyên đùa:
-Vậy là “tư tưởng lớn gặp nhau,” và nàng tiếp, tôi mê thơ lắm, mê từ ngày còn đi học.
Một làn gió lạnh từ ngoài biển thổi vào làm bay tung chiếc khăn quàng mỏng vắt hờ hững quanh vai Quyên, nàng hơi rùng mình. Hữu vội hỏi:
-Quyên lạnh phải không?

Không chờ nàng trả lời, chàng đứng ngay dậy cởi áo vest ngoài khoác nhẹ lên vai nàng. Nàng đưa tay đỡ cái áo, vô tình tay hai người chạm nhẹ vào nhau làm nàng bối rối:
-Cảm ơn anh, thường nếu đi chơi tối ở đây thế nào tôi cũng mang theo áo lạnh, hôm nay bất ngờ quá nên không chuẩn bị gì cả.
-Quyên có thường ra đây chơi không?
-Thỉnh thoảng khi nào có bạn ở xa tới. Với tôi, đây là nơi đẹp nhất và tôi thích nhất. Hồi còn nhà tôi, cuối tuần nào tụi tôi cũng lang thang ở đây. Từ ngày anh ấy mất, tôi không còn ra đây chơi thường nữa.
-Anh nhà mất lâu chưa?

Nét mặt đang vui của Quyên bỗng thay đổi hẳn, nàng nói giọng đầy xúc động:
-Ba năm rồi anh ạ. Nhà tôi chết vì tai nạn xe hơi, thật bất ngờ. Cho tới bây giờ tôi vẫn không thể tưởng tượng được là chuyện đó có thể xảy ra. Buốn lắm anh ơi!
Nói xong nàng đứng dậy:
-Khuya rồi, mình nên về đi ngủ. Ngày mai sau giờ họp tôi lại tiếp tục làm “tour guide” đưa anh đi thăm thành phố.

Trên đường về, ngồi lái xe Quyên không nói năng gì cả. Hữu phải lên tiếng trước:
-Xin lỗi Quyên, tự nhiên tôi lại hỏi thăm chuyện anh nhà làm Quyên buồn.
-Không phải tại anh đâu, anh không hỏi tới, tôi cũng không tài nào quên được. Chuyện nhà tôi mất, không những tôi chỉ đau khổ mà còn ân hận nữa. Vợ chồng tôi rất thương nhau nhưng hay khắc khẩu. Nhiều khi chuyện thiên hạ mà hai vợ chồng cũng bất đồng ý kiến rồi cãi nhau. Tính nhà tôi lại nóng, cơn lên hay nói nặng và nói dai. Một hôm, hai vợ chồng cãi nhau, tôi giận xách gối sang phòng khác ngủ. Sáng hôm sau, trước khi đi làm, nhà tôi xin lỗi, tôi vẫn làm ngơ không trả lời. Trên đường đến sở, anh ấy bị tai nạn xe hơi, chở vào nhà thương mấy tiếng đồng hồ sau thì anh ấy chết. Lúc bị thương anh ấy hôn mê nên tôi không nói được lời nào với anh ấy cả.

Kể tới đây, giọng Quyên nghẹn lại:
-Bây giờ tôi có muốn nói một ngàn lời tha thứ cho anh ấy vui, cũng không nói được nữa. Đó là điều làm tôi cảm thấy ân hận vô cùng.
-Quyên không nên tự trách mình như vậy. Vợ chồng giận nhau là chuyện quá thường, sống chết là do số mệnh hết, không ai biết trước được.

Xe đã về đến khách sạn. Trước khi xuống xe, Hữu dặn Quyên:
-Lát nữa về nhà, Quyên nhớ gọi cho tôi biết để tôi yên tâm là Quyên về tới nhà bình yên. Đàn bà lái xe một mình về khuya tôi ngại quá. Đây là số điện thoại ở phòng tôi.
-Cảm ơn anh đã quá lo cho tôi. Bây giờ tôi chả biết sợ là gì cả. Sống một mình quen rồi anh ạ. Nhiều khi tôi có cảm tưởng tôi giống như đàn ông.

Hữu quay sang Quyên, dí dỏm:
-Thưa bà, dù bà có can đảm cỡ nào, dù bà có lái xe phóng như bay nhưng với dáng dấp thừa nữ tính của bà, tôi cũng không thể nào chấp nhận coi bà như một người đàn ông được.
Quyên nhìn Hữu cười rồi lắc đầu thật nhẹ.

Ra khỏi xe, Hữu đi vòng sang phía Quyên ngồi, cúi xuống nhìn nàng:
-Cảm ơn Quyên đã cho tôi một buổi tối thật vui.

Xe Quyên đi rồi Hữu còn đứng nhìn theo. Về phòng, Hữu không sao ngủ được. Chàng nghĩ tới Quyên và thấy nàng tội nghiệp vô cùng. Khổ nhất là con người phải sống với niềm ân hận, nhất là người đó lại nhiều tình cảm như Quyên. Qua cách nói chuyện, Hữu biết Quyên là người đa sầu đa cảm, mơ mộng và sống nhiều về nội tâm. Tự nhiên Hữu so sánh Quyên với Linh. Linh hoàn toàn trái ngược. Nàng thích đọc sách về khoa học hơn là thơ văn. Tính nàng cứng cỏi, thích thể thao, khiêu vũ và những chỗ ồn ào vui vẻ. Chẳng bao giờ Linh có cái thú ngồi uống cà phê, ngắm trời, trăng, mây, nước như chàng và Quyên buổi tối hôm nay. Nói chuyện với Quyên thật thích thú. Nàng duyên dáng, thông minh và có nhiều ý tưởng thật giống chàng. Nghĩ tới đây Hữu giật mình, “chết thật, sao mình nghĩ về Quyên nhiều như vậy.” Chàng như người sắp đi ra biển, sợ chết đuối nên cố gắng đi kiếm chiếc phao để đề phòng.
Chàng gọi điện thoại cho vợ.

Chuông reo một lúc lâu Linh mới nhấc máy, giọng nàng có vẻ ngái ngủ:
-Anh hả? Sao gọi khuya vậy.
-Nhớ em quá nên muốn gọi em. Mọi khi giờ này em còn thức đọc sách mà.
-Hôm nay bệnh nhân nhiều, mệt quá` nên đọc sách không nổi thành đi ngủ sớm.
-Ngủ dễ vậy, không nhớ anh à?
-Anh mới đi từ sáng đến giờ, lâu lắc gì mà nhớ.
-Vậy mà ngồi trên máy bay, anh đã nghĩ và nhớ em rồi đó. Anh hỏi thật nhé, có bao giờ em sợ mất anh không?

Giọng Linh diễu cợt
-Sao tự nhiên hỏi lẩm cẩm vậy. Nếu có, thì anh là người phải sợ mất em, chứ sao em lại phải sợ mất anh? Có một người vợ như em là phúc cho anh rồi mà anh còn lang bang nữa thì em cho anh đi luôn, chứ có gì mà phải sợ mất? Thôi để em ngủ, đừng nói chuyện vớ vẩn nữa, good night anh.

Bỏ điện thoại xuống, Hữõu nghe nản một cách lạ lùng. Cái phao Hữu muốn bám vào cho khỏi bị chết đuối lại là cái phao xì hơi đã bẹp dí. Bám vào, nó lại càng nặng và làm cho chàng dễ bị chết đuối hơn. Chàng nói thầm với Linh trong ý nghĩ:

‘’Em cứ tưởng em có nhiều điều kiện lắm. Sắc đẹp, tiền bạc, bằng cấp, thằng nào lấy được em là phúc tổ. Em có biết đâu, những điều đó đối với anh thật vô nghĩa. Những điều kiện anh cần ở người vợ là sự tế nhị, thông cảm và yêu thương. Cái khổ là tâm hồn chúng mình lại quá khác biệt. Cần gì em phải cho anh đi luôn là em mới mất anh. Có lẽ chúng mình sẽ vẫn phải sống bên nhau vì Bảo Châu nhưng hồn anh thì đã không còn là của em nữa. Mình đã mất nhau từ lâu rồi, em có biết không? Ở với nhau bao nhiêu lâu mà em không hề hiểu anh một chút nào hết.’’

Điện thoại reo, giọng Quyên ở đầu giây thật dịu dàng:
-A lô! anh Hữu phải không ạ?
Hữu nghe giọng mình reo vui khác thường:
-Vâng, tôi đây, đang mong thì Quyên gọi.
-Hồi nãy tôi có gọi nhưng điện thoại bận. Tôi phải cố thức để gọi lại kẻo anh lo.
-Xin lỗi Quyên, tại tôi gọi về NewYork nên đường dây bị bận. Cám ơn Quyên đã cố thức để gọi lại. Nếu không chắc chắn tôi sẽ mất ngủ vì lo đấy.
Quyên cảm động:
-Tôi phải cám ơn anh chứ. Sự lo lắng của anh cho tôi cái cảm giác tôi vẫn là người đàn bà yếu đuối thuở nào. Đã lâu rồi có ai thắc mắc lo lắng gì cho tôi đâu, dù đôi khi tôi vẫn phải lái xe về khuya một mình.
Như biết mình vô ý lộ ra quá rõ tình cảm đặc biệt dành cho Hữu, Quyên vội đổi giọng vui vẻ tự nhiên:
-Khuya rồi để anh ngủ kẻo mệt, tôi cũng buồn ngủ quá. Chúc anh ngủ ngon, hẹn mai gặp anh.

Quyên đã gác máy rồi, Hữu vẫn bần thần cầm cái điện thoại. Cuối cùng, chàng cũng phải bỏ máy xuống. Hữu mở Radio ở đầu giường để vặn đồng hồ báo thức vì ngày mai chàng phải dậy sớm đi họp. Giọng ca sĩ Tony Bennett thật ấm vang lên…
I left my heart in San Francisco….

Hồng Thủy
------------

Tiếc Cho Một Cuộc Tình - Thơ: Hồng Thủy - Nhạc: Văn Sơn Trường - Tiếng Hát: Đèo Văn Sách  


Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

Phượng Buồn Tháng Tư

  

Thơ: Kim Phượng
Thơ Tranh: Kim Oanh


Tháng Tư Sầu Nghẹn Đong Đầy


Việt Nam từ thuở lìa xa
Cháu con Hồng Lạc bôn ba xứ người
Năm mốt năm, lắm đổi dời
Lòng người tị nạn bời bời nhớ thương

Làm thân tằm gửi ly hương
Từng đêm khắc khoải hồn vương khổ sầu
Ai làm bể cả ruộng dâu
Hải âu phi xứ còn đâu lối về

Tháng Tư trời đất ủ ê
Thương về quê Mẹ muôn bề xót xa
Đàn nâng phím trải cung ngà
Tơ ươm nốt ngọc hương xa tìm về

Quắt quay tìm ánh trăng thề
Nhớ xưa bóng phượng đam mê tình nồng
Trưa nào bước dạo đồi thông
Đò ngang tách bến ánh hồng lung linh

Vườn xưa chung bóng đôi mình
Giờ đây lạc bước đăng trình lãng du
Vật vờ ai oán Tháng Tư
Hồn ai như thể sa mù phủ vây

Tháng Tư sầu nghẹn đong đầy
Nhìn mưa giăng lối buồn vây ngập hồn
Thơ gào lời trải vô ngôn
Bình minh rồi đến hoàng hôn não nùng

Đêm sang nghe tiếng côn trùng
Nỉ non từ chốn mịt mùng nơi nao
Rèm hoa vương vất ánh sao
Lòng đau tâm nhói phận nào tha phương

Chờ ngày trở lại quê hương
Cùng nhau xây dựng bốn phương thanh bình
Nhà Nam đất Việt dân mình
Châu về hiệp phố thỏa tình hoan ca.

Phương Hoa
Tháng Tư, 2026




Tháng Tư Và Tự Do

 

Tháng Tư than thở phận
Phù du một kiếp người
Đời bao lần lở vận
Nên dở khóc dở cười

Nước tan rồi nhà mất
Vì bỏ nhà ra đi
Cũng chỉ vì vật chất
Giờ đây được những gì?

Tự do là hay nhất
Ai cũng thích tự do
Với cái giá đắt nhất
Mà xứ Mỹ ban cho

Tự do giờ đã có
Chịu khó thì có ăn
Có việc làm đầy đủ
Không còn phải lo âu

Làm việc gì mình thích
Đó chính là tự do
Mà bao người mong muốn
Xin cám ơn Hoa Kỳ

Hồng Vân

Khiển Bi Hoài Kỳ 1 遣悲懷其一 - Nguyên Chẩn (Trung Đường)


Nguyên Chẩn 元稹 (779-831) tự Vi Chi 微之, người Lạc Dương, Hà Nam, gia đình quan lại, làm Thượng thư Tả thừa, có quan điểm chính trị và văn học gần gũi với Bạch Cư Dị, chủ trương tác phẩm phải giàu tính hiện thực, nên người đương thời gọi là Nguyên-Bạch. Tác phẩm có Nguyên thị Trường Khánh tập. Ông còn là tác giả của truyện Hội chân ký về sau được Vương Thực Phủ đời Nguyên dựa vào để viết vở kịch Tây sương (14 bài).

Nguyên Chẩn

Đây là một trong những bài thơ của Nguyên Chẩn điếu tang vợ.
Nguyên tác Dịch âm

遣悲懷其一 Khiển Bi Hoài kỳ 1

謝公最小偏憐女 Tạ công tối tiểu thiên liên nữ,
自嫁黔婁百事乖 Tự giá Kiềm Lâu bách sự quai.
顧我無衣搜藎篋 Cố ngã vô y sưu tẫn khiếp,
泥他沽酒拔金釵 Nê tha cô tửu bạt kim thoa.
野蔬充膳甘長藿 Dã sơ sung thiện cam trường hoắc,
落葉添薪仰古槐 Lạc diệp thiêm tân ngưỡng cổ hoè.
今日俸錢過十萬 Kim nhật bổng tiền quá thập vạn,
與君營奠復營齋 Dữ quân doanh điện phục doanh trai.

Dịch nghĩa
Giải nỗi sầu nhớ kỳ 1

Con gái yêu bé bỏng nhà ông họ Tạ,
Gả cho chàng Kiềm Lâu trăm sự đều khó khăn!
Nhìn ta không áo, nàng mở rương lục tìm,
Biết ta thèm rượu nàng gỡ thoa bán đổi.
Sẵn rau đồng, bữa ăn thêm vị hoắc ngọt ngào,
Lá rụng thay củi, ngửa trông cây hòe cằn cỗi.
Ngày nay, tiền lương có hơn mười vạn,
Chỉ còn vì nàng bày cỗ chay cúng tế!

Chú giải:
*Tạ công: Tức Tạ An đời Tấn. Ở đời Đường họ Tạ là một trong những họ quý phái, nhiều người muốn làm rể nhà họ Tạ nên thường dùng từ "Tạ công" để chỉ nhạc phụ, dùng từ Tạ gia để chỉ gia đình và nhà ở của ý trung nhân hoặc của vợ.
**Kiềm Lâu: Cao sĩ nước Tề thời Xuân Thu, nhà nghèo. Đây, Nguyên Chẩn tự ví.

Dịch thơ
Giải Nỗi Sầu Nhớ kỳ 1

Gái yêu bé bỏng nhà ông Tạ*,
Lấy gã Kiềm Lâu** gặp khó khăn.
Thấy hắn không quần tìm mọi chỗ...
Nghe chồng thèm rượu bán thoa vàng.
Rau đồng đến bữa hăng thành ngọt,
Lá úa đun cơm ngó củi hoang.
Lương bổng ngày nay hơn chục vạn,
Cúng em cũng chỉ bát cơm xoàng.


Lời bàn

Đây là một bài thơ điệu vong (điếu người chết). Vợ Nguyên Chẩn là Vi Tùng, con cưng của nhà quan, lấy Nguyên Chẩn khi ông còn hàn vi. Vi Tùng mất khi Nguyên Chẩn mới 30 tuổi và còn làm chức quan nhỏ; mười mấy năm sau ông làm đến chức tể tướng, nhớ người vợ tao khang đã mất sớm mà làm bài thơ này, cùng với nhiều bài thơ điệu vong khác. .
2 câu mở đề:
Nàng là con quan mà lấy nhầm anh trò kiết nên khổ.
2 câu 3, 4:
Thấy chồng mặc quần áo rách thì lục rương kiếm đồ lành để thay cho chồng. Thấy chồng thèm rượu thi bán thoa vàng để có tiền mua rượu.
2 câu 5, 6:
(bữa ăn cho riêng mình thì) rau mọc hoang ngoài đồng cũng lấy hăng làm ngọt. Đun bếp không có củi phải dùng lá úa lượm ngoài đường.
2 câu cuối:
Cực kỳ thấm thía: Em vất vả thiếu thốn suốt cả tuổi thanh xuân, lúc ta vinh hiển thì em chết. Bây giờ cúng em sang trọng nhất cũng chỉ là bát cơm chay.

Con Cò
***

Khiển Bi Hoài Kỳ 1

Thấy đầu đề quen, tưởng đã post rồi, nhưng đọc phớt qua thì lạ hoắc. Bên dưới lại thấy góp ý của mình mà không nhớ ở bài nào, đọc cũng vui, chắc lúc đó đã tra cứu lung tung … Bài có lý luận nhiều về năm chết của Vi Tùng, và những liên hệ của Nguyên Chẩn với Tiết Đào và Lưu Thái Xuân cũng liên quan nên xin giữ lại. Nhờ LB gắn đâu đó giùm.

Đọc bài kỳ này thì thấy nhiều chữ khó, và thơ không có vần, lấy làm lạ. Lại có 2 điển tích, BS rất thích nên tra cứu thêm để anh chị em đọc chơi.
Chữ áp chót trong câu đầu, viết với bộ tâm, có thể phiên âm là liên hoặc lân, là buồn thương, yêu thương.
Hai chữ chót của câu 3, bản của ÔC phiên âm là MẪN HIỆP. Bản của Thi Viện phiên âm đúng là TẪN KHIẾP. Tẫn là một loại cỏ, Khiếp là cái rương. Chắc LB phải sửa lại bản của ÔC. (thư ký đã sửa)
Tạ công, là Tạ An, gọi công để tỏ lòng kính trọng. Tạ An là một danh gia đời Tấn, giầu sang rất mực, có 2 người cháu nổi tiếng là Tạ Huyền, võ tướng, đánh tan quân của Phù Kiên (nước Tần trong Ngũ Hồ) và Tạ Đạo Uẩn, là người có văn tài (nàng Ban ả Tạ trong Kiều), vợ của Vương Ngưng Chi, thường phải gà ý tứ cho em chồng là Vương Hiến Chi để đối đáp với các danh sĩ. Họ Vương này là con cháu của Vương Hi Chi với thiếp Lan Đình, chuyên về thư pháp và văn chương. Họ Vương có quyền thế và gia sản vạn hộ là Vương Đạo.
Họ Tạ và họ Vương này, để phân biệt với thiên hạ, toàn mặc quần áo đen, ở gần nhau, gọi là Ô Y Hạng, mà Lưu Vũ Tích có làm bài thơ cùng tên.
Kiềm Lâu, theo “ Thành Ngữ, Điển Tích, Danh Nhân Tự Điển của Trịnh Vân Thanh thì có 2 người:
- Du Kiềm Lâu, một trong Nhị Thập Tứ Hiếu, nếm phân của cha để đoán bệnh: phân đắng thì sống, phân ngọt thì chết. Người cha có phân ngọt nên qua đời, nhưng Kiềm Lâu được ghi trong 24 người con hiếu, cùng Lão Lai, Mẫn Tử Khiên, Lục Tích...
- Kiềm Lâu, người nước Tề, nghèo tới nỗi, khi chết chỉ có cái mền nhỏ, che không kín thân, che đầu hở chân, che chân hở đầu. Đây chính là Kiềm Lâu trong bài thơ, mà Nguyên Chẩn dùng để ví với mình, và họ Tạ để ví với gia đình vợ.
Một số chữ khó khác:

- Nê : bùn, mềm yếu, cố ép.

- Cô tửu là mua rượu.

- Bạt là nhổ ra, lấy ra, dời chuyển, cầm, nắm, giữ.

Câu 4, nê tha cô tửu bạt kim thoa, tự điển của Nguyễn Tôn Nhan đã dùng làm thí dụ, và dịch là ép người mua rượu rút thoa vàng.

- Dã : cánh đồng, chốn quê mùa, hoang dại.
- Sơ là rau cỏ. Dã Sơ là rau dại, cỏ hoang.
-Sung: đầy đủ, chuẩn bị.
- Thiện là bữa ăn
- Hoắc: mau, tên nước. Với bộ thảo, là một loại rau tầm thường.
- Tân : cỏ, củi, lương
- Điện là tế lễ.
- Trai : Ăn chay.

Giải Sầu Nhớ

Gái xinh bé út nhà ông Tạ,
Lấy Kiềm Lâu trăm sự trái ngang,
Thấy thiếu áo quần, nàng lục tủ,
Ép ta mua rượu rút thoa vàng,
Rau đồng lo bữa thêm hoắc ngọt,
Lá khô thay củi, ngóng hoè sang,
Lương bổng ngày nay hơn chục vạn,
Nhớ em trong trại cúng cơm xoàng.

Bát Sách.(Ngày 13/04/2026)

Góp ý cũ của Bát Sách:

Ngày xưa, Mai Thảo mê Thái Thanh, viết truyện Giàn Bông Giấy Trước Nhà, rất thơ mộng, lãng mạn. Hồi trẻ, BS thích lắm, mà sau này, không sao tìm lại được….

A- Trích từ bài 215 Nỗi Nhớ:
1/… Ở đây (Montréal), Bát Sách biết ít nhất là 3 người, khi vợ mất, khóc lóc rất thảm, có người đi đâu, kể cả đi ăn, cũng vác theo hũ tro của vợ, nhưng chỉ một thời gian sau, cả 3 đều vui duyên mới... Có người còn tuyên bố "bây giờ mới thật sự tìm được tình yêu" làm mấy đứa con thấy chướng tai, phải quyết liệt phản đối. Nhưng mà đời là vậy, Bát Sách chỉ mô tả mà không dám bình luận……
2/… Về Nguyên Chẩn:
Nguyên Hoà năm thứ 6, đời Đường Hiến Tông là năm 814 tây lịch.
Theo sử sách, thì Nguyên Chẩn sinh năm 779, mất năm 831, được 52 tuổi.
Nguyên Chẩn mồ côi cha, học giỏi, thi đậu sớm, và lấy vợ sớm. Vợ chàng tên Vi Tùng, mất khi Nguyên 30 tuổi, khi nhà còn nghèo, tức là vào năm 809. Nguyên đã làm 3 bài thơ khóc vợ, như bài Khiển Bi Hoài, kỳ hai, có mấy câu:
Y thường dĩ thí hành khan tận,
Châm tuyến do tồn vị nhẫn khai.
Quần áo đem cho dần đã hết,
Kim chỉ hãy còn không nỡ mở ra..

Đó là năm 809. Bài thơ anh Bảo dẫn là năm Nguyên Hoà thứ 6, tức năm 814, như vậy Bát Sách nghi rằng Nguyên Chẩn khóc bà vợ khác, lẽ đâu chàng thi sĩ chung tình tới mức, 5 năm sau mà khi ngủ còn mơ thấy vợ, nói lời yêu đương trong giấc mơ. Tuy nhiên, hai câu kết thật cảm động, những lời nói trong mơ mà làm cho bạn khóc thì đáng cảm phục lắm chứ. Anh Bảo nói rằng, Nguyên Chẩn thương vợ hồn nhiên, nồng nàn, dai dẳng, chỉ đúng khi nhà thơ khóc bà vợ tên Vi Tùng….

B- Lần này, vì BS có viết một bài về Tiết Đào và mối tình của nàng với Nguyên Chẩn 
1) Theo sử thì Nguyên Chẩn sinh năm 779. Nhà nghèo, mồ côi cha, nhưng học giỏi lại có chí nên thi đậu sớm.
- Năm 807, bị giáng chức, nên khổ lắm, nhờ vợ là Vi Tùng tần tảo giúp đỡ nên mới qua cơn hoạn nạn..
- Năm 809, Vi Tùng qua đời, lúc 27 tuổi, và Nguyên 30.
- Hai năm sau, Nguyên Hoà thứ 6, là năm 811, Nguyên làm bài Lục Niên Xuân Truy Hoài Kỳ 5. (Hồi đó BS có đoán rằng cái tựa có lẽ thiếu hai chữ Nguyên Hoà, và BS nghi nhầm là năm 814, thay vì 811.)
- Nguyên Chẩn cũng làm mấy bài thơ khóc vợ, có tựa là Khiển Bi Hoài. Bài kỳ nhị có câu chót là "Bần tiện phu thê bách sự ai" nghe rất thảm, chắc nhớ lại thời Nguyên Chẩn bị cách chức, gia cảnh quá bần hàn.
- Bài Ly Tư kỳ tứ, cũng nói đến lòng yêu vợ của Nguyên:

Tằng kinh thương hải nan vi thủy
Trừ khước Vu Sơn bất thị vân,
Thủ thứ hoa tùng lãn hồi cố,
Bán duyên tu đạo, bán duyên quân.
(Từng ngắm biển xanh, khó còn gì đáng gọi là nước.
Trừ phi đã tới Vu Sơn thì coi như chưa thấy mây,
Gặp người đẹp, cũng lười quay lại nhìn,
Nửa phần vì tu đạo, nửa phần vì đã kết duyên với nàng)

2) Tuy yêu vợ và làm nhiều thơ khóc vợ, nhưng bản chất của Nguyên là nghệ sĩ, lãng mạn, nên có thơ gửi Lưu Thái Xuân, Tiết Đào.

Theo sử thì Tiết Đào hơn Nguyên Chẩn 11 tuổi (Tiết sinh năm 768, Nguyên sinh năm 779). Khi Nguyên được vua sai vào Thục là năm Nguyên Hoà thứ 4, tức năm 809, thì Vi Tùng vừa qua đời, vậy mà gặp Tiết Đào, Nguyên đã rơi vào lưới tình mấy năm, khi trở về kinh còn làm bài thơ tặng Tiết Đào, hai câu chót cũng tình tứ lắm:

Biệt hậu tương tư cách yên thuỷ,
Xương Bồ hoa phát ngũ vân cao.
Tương tư khói nước xa nhau,
Hoa Xương Bồ nở năm mầu như mây.

(Bát Sách dịch)

3) Đọc bài Lục Niên Xuân Truy Hoài kỳ 5 thì thật hay và cảm động, nhưng nếu đem đối chiếu với thời gian thì BS thấy hơi kỳ, vì bài thơ làm năm 811, 2 năm sau khi Vi Tùng mất, mà ngay năm vợ qua đời, 809, Nguyên đã chung sống với Tiết Đào ở Thục rồi... Vậy ta có nên tin thi nhân đa tình này không?

Bát Sách

***

Giải Nỗi Sầu Nhớ kỳ 1.

Gái nhỏ Tạ Công rất mến yêu,
Chồng nghèo nên phải thiệt trăm điều.
Ta không áo mở rương tìm kiếm,
Rượu cạn bình thoa bán vẫn chiều.
Rau hoắc ngon cơm mùi đạm bạc,
Lá hòe làm củi đợi rơi nhiều.
Bây giờ lương bổng trên mười vạn,
Đáp lại tình nàng thiết điện siêu.


Song Thất Lục Bát:

Con gái nhỏ Tạ công yêu mến,
Lấy chồng nghèo trăm chuyện đáng thương.
Ta không áo, nàng lục rương,
Chiều chồng mua rượu bán luôn trâm cài.
Cơm rau hoắc sơ sài đạm bạc,
Củi lá hòe rơi lạc lượm đun.
Nay mười vạn lộc ung dung,
Chay đàn cúng tế tình chung cùng nàng.


Mỹ Ngọc.
Apr. 11/2026.
***
Giải Nỗi Nhớ Thương (Kỳ 1)

Con gái nhà giàu được quý yêu
Lấy ta nàng khổ đủ trăm chiều
Lục rương tìm vải may cho áo
Cầm cố trâm vàng mua rượu tiêu
Rau dại đỡ lòng trong đạm bạc
Đun cơm nhặt lá lửa thiêu đều
Ngày nay lương bổng ta mười vạn
Nàng đã qua đời lễ cúng chiêu


Thanh Vân

***

Giải Sầu Nhớ Kỳ 1 


Út cưng bé bỏng nhà ông Tạ
Lấy gã nghèo sơ thảy đổi thay
Nhìn mỗ áo sờn rương lục kiếm
Chiều ta mua rượu rút trâm cài
Rau đồng thêm bữa càng thanh đạm
Hòe lá củi thay khô khốc cây
Bổng lộc bây giờ hơn chục vạn
Vì nàng cúng tế một đàn chay


Song thất lục bát:

Cô Út rượu xinh xinh nhà Tạ
Mọi đổi thay lấy gã tầm thường
Chồng không áo, lục tìm rương
Chiều ta mua rượu, khiêm nhường rút trâm
Cơm rau đồng nhủ thầm ngon miệng
Lá hòe rơi quét giếng, củi đun
Nay bổng lộc, đã chục muôn
Đàn chay cúng tế vong hồn dấu yêu!

Lộc Bắc
Avr26
***

Nguyên tác: Phiên âm:

遣悲懷三首其一-元稹 Khiển Bi Hoài Tam Thủ Kỳ 1 - Nguyên Chẩn

謝公最小偏憐女 Tạ công tối tiểu thiên liên nữ
自嫁黔婁百事乖 Tự giá Kiềm Lâu bách sự quai
顧我無衣搜藎篋 Cố ngã vô y sưu tẫn khiếp
泥他沽酒拔金釵 Nê tha cô tửu bạt kim sai
野蔬充膳甘長藿 Dã sơ sung thiện cam trường hoắc
落葉添薪仰古槐 Lạc diệp thiêm tân ngưỡng cổ hoè
今日俸錢過十萬 Kim nhật bổng tiền quá thập vạn
與君營奠復營齋 Dữ quân doanh điện phục doanh trai

Nguyên tác được chép từ sách của Nguyên Chẩn:
Nguyên Thị Trường Khánh Tập - Đường - Nguyên Chẩn 元氏长庆集-唐-元禛
Cổ Thi Kính - Minh - Lục Thì Ung 古诗镜-明-陆时雍
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 诗-清-圣祖玄烨

Đây là bài thơ số 1 trong 3 bài Khiển Bi Hoài 遣悲懷 của nhà thơ Nguyên Chẩn thời Đường, sáng tác để tưởng nhớ người vợ quá cố là Vi Huệ Tùng.

Giải nghĩa điển cố:

Tạ Công 謝公: Tức Tạ An tể tướng đời Đông Tấn, Tạ An rất tâm đắc và yêu quý cô con gái tài hoa Tạ Đạo Uẩn. Một lần trời tuyết, Tạ An hỏi con tuyết rơi giống cái gì, Tạ Đạo Uẩn đáp: Vị nhược liễu nhứ nhân phong khởi (Chẳng bằng như bông liễu bay theo gió).

Ở đây Nguyên Chẩn dùng điển tích Tạ An để chỉ nhạc phụ của mình và gọi vợ Vi Huệ Tùng là Tạ công tiểu nữ để ví nàng như Tạ Đạo Uẩn, một tiểu thư khuê các, vừa có xuất thân quyền quý, vừa có tài năng và đức hạnh.

Kiềm Lâu 黔婁: Một hiền sĩ thời Chiến Quốc, nhà rất nghèo nhưng thanh cao. Theo Đào Tiềm đời Tấn, Kiềm Lâu thời cổ đại là người sống trong thanh bần, nghèo mà không tham lam. Khi ông mất, tấm chăn đắp xác ngắn đến mức hễ che kín đầu thì hở chân, che kín chân thì hở đầu. Có người bảo đắp chéo chăn lại cho vừa, nhưng vợ ông khóc mà rằng: Thà ngay mà ngắn, còn hơn xéo mà dài.

Nguyên Chẩn tự ví mình như Kiềm Lâu để nói về cảnh ngộ nghèo túng của mình khi mới lấy vợ. Câu thơ Tự giá Kiềm Lâu bách sự quai ý nói: Từ khi nàng lấy kẻ nghèo hèn, mọi chuyện trong đời nàng đều trở nên khó khăn, vất vả, chẳng được hưởng chút phú quý vinh hoa nào.

Dịch nghĩa:
Khiển Bi Hoài Kỳ 1 Giải Nỗi Nhớ Thương Kỳ 1

Tạ công tối tiểu thiên liên nữ
Nàng là con gái nhỏ được cha yêu quý nhất,
Tự giá Kiềm Lâu bách sự quai
Kể từ khi lấy kẻ nghèo hèn như ta, trăm việc đều gian nan vất vả.
Cố ngã vô y sưu tẫn khiếp
Thấy ta thiếu áo mặc, nàng lục lọi trong rương cũ tìm vải may,
Nê tha cô tửu bạt kim sai
Ta nài nỉ mua rượu, nàng không ngần ngại rút chiếc trâm vàng đi cầm cố.
Dã sơ sung thiện cam trường hoắc
Thức ăn chỉ có rau dại, nàng cũng vui lòng ăn lá đậu già cho qua bữa,
Lạc diệp thiêm tân ngưỡng cổ hoè
Đốt lửa nấu cơm, nàng phải nhặt lá rụng dưới gốc hòe già làm củi.
Kim nhật bổng tiền quá thập vạn
Ngày nay lương bổng của ta đã hơn mười vạn tiền,
Dữ quân doanh điện phục doanh trai
Mà nàng không còn nữa, ta chỉ biết cúng lễ trai tăng để tưởng nhớ nàng.

Bình luận:

Bài thơ được đánh giá là một trong những tác phẩm cảm động nhất trong dòng thơ khóc vợ của văn học Trung Hoa nhờ sự chân thực và giản dị.
Bài thơ được làm sau khi Vi Huệ Tùng qua đời vài năm. Lúc này, Nguyên Chẩn đã thăng tiến, có địa vị trong triều đình và bổng lộc dư dả. Chính sự tương phản giữa quá khứ nghèo khổ có nhau và hiện tại giàu sang lẻ bóng đã thúc giục ông viết nên những dòng thơ buồn khổ này.
Vi Huệ Tùng là con gái út của Vi Hạ Khanh, một quan đại thần quyền quý. Dù xuất thân từ gia đình danh giá, nàng vẫn chấp nhận lấy Nguyên Chẩn khi ông còn là một người nghèo khó, chưa có sự nghiệp.

Thay vì dùng những từ ngữ hoa mỹ, tác giả chọn liệt kê những chi tiết rất đời thường: vợ lục hòm cũ tìm vải may áo cho chồng, rút trâm vàng đi cầm để chồng có tiền mua rượu, hay nhặt lá hòe rụng làm củi. Những hình ảnh này khắc họa sâu sắc đức hy sinh và lòng tận tụy của người vợ.

Hai câu kết là bi kịch của sự thành đạt muộn màng. Khi ông có thập vạn tiền bổng lộc, người vợ từng cùng ông ăn rau dại, lá đậu đã không còn để chia sẻ. Tiền bạc giờ đây chỉ có thể dùng để làm lễ cúng tế, càng nhấn mạnh nỗi ân hận và xót xa của người ở lại.

Dịch Thơ:

Nỗi Nhớ Thương Kỳ 1

Gái út Tạ ông dễ mến thương,
Lấy Kiềm Lâu khốn khó trăm đường.
Biết chồng thèm rượu cởi thoa bán,
Kiếm áo cho chồng lục đáy rương.
Cam khổ cơm rau ngào ngạt vị,
Lá khô thay củi hòe vô phương.
Nay lương bổng lộc hơn mười vạn,
Trai cỗ cúng nàng với nén hương.


An Elegy for Wei Cong Part 1 by Yuan Zhen

You were like the youngest daughter, the one Lord Xie loved best,
Since marrying this poor Qian Lou, everything has gone awry.
Seeing me without clothes, you searched through old hampers,
I coaxed you for wine, and you pulled out your gold hairpin to pay.
Wild greens filled our meals; you were content with bitter bean leaves,
To add fuel to the fire, you looked to the fallen leaves of the old scholar tree.
Today, my official salary exceeds a hundred thousand coins,
But I can only prepare vegetarian offerings and hold fasting rituals for you.

Phí Minh Tâm

***

Góp ý:

Kiềm Lâu (黔婁) là một đạo sĩ ở ẩn thời Xuân Thu Chiến Quốc, người nước Lỗ (hay Tề?) tương truyền sống cùng vợ trong động Kiềm Lâu (黔婁) ở Thiên Phật Sơn (千 佛山, Tế Nam, Sơn Đông) [dĩ nhiên đây chỉ là huyền thoại vì Phật chưa được biết ở Hoa Lục cho tới thời Hán]. Truyền thuyết cũng nói rằng Lỗ Cung Công (魯共公, hậu bán tk 4 TCN) và Tề Uy Vương (齊威王) mời Kiềm giữ chức khanh, tướng nhưng Kiềm từ chối. Đa số giai thoại về tính khí của Kiềm đến từ miệng vợ, kể cả chuyện ông chết không có đủ áo quần để che thân và thụy của ông là Khang (康) vì lý do ông sống bình an trong cảnh nghèo hèn, không màng làm quan. Về sau, thành ngữ Kiềm Lâu được dùng để chỉ bần sĩ (贫士). Các người dựng những giai thoại về Kiềm Lâu không hề phân vân tại sao một người hình như được các vương công biết vì tài tề gia trị quốc lại không thể tạo một cuộc sống đầy đủ hơn cho chính mình và cho vợ; nếu không hề trổ tài thì làm sao người khác biết ta có tài? Kiềm Lâu có thể là nhân vật tương đối tân thời tạo nên huyền thoại Hứa Do (许由, thời Nghiêu, 25 thế kỷ trước) xuống suối rửa tai. Người ni được một bạn đồng môn gọi là quái nhân cũng vì y đã thắc mắc về điển tích Hứa Do từ thuở còn bé tí tẹo.

Hiểu điển tích Kiềm Lâu như thế thì người ni phân vân làm sao Nguyên Chẩn có thể ví mình với Kiềm Lâu. Nguyên sống trong cảnh nghèo thuở thiếu thời vì cha mất sớm nhưng có thật nghèo đến độ vợ phải lục rương tìm áo cũ cho chồng mặc? Gia đình nào chịu cho ông làm rể? Vợ chính của họ Nguyên là Vi Tùng (妻妾), con gái út của tả phó xạ Vi Hạ Khanh (仆射韋夏卿), và ta cũng cần biết rằng họ Nguyên thành công trong đường hoạn lộ tương đối sớm, đậu minh kinh (明經) năm 14 tuổi và được giữ chức giáo thư lang (校书郎) sau đó. Đời hoạn lộ của Nguyên nhiều trắc trở vì ông ta đụng độ hoài với triều thần và hoạn quan khi giữ những chức tương đương với ngự sử và chuyên vạch lá tìm sâu, trong khi chính ông ta cũng đã được biết là không hoàn toàn thanh liêm. Những dữ kiện từ sử liệu này cho ta thấy rằng họ Nguyên, cho dù có tính chuyện đi ở ẩn với Bạch Cư Dị, ông chỉ muốn làm thế sau khi đã có tài sản và đó không phải là mối hành xử của huyền thoại Kiềm Lâu!

Nếu bài điệu vong đầu không tin được về dữ kiện và làm người đọc thắc mắc về thành ý của thi nhân thì giá trị của hai điệu vong tiếp sẽ như thế nào? Câu chót của Khiển Bi Hoài kỳ ba đọc: 報答平生未展眉=Báo đáp bình sanh vị triển mi có thể để lộ rằng hiền thê Vi Tùng đã không có hạnh phúc hôn nhân nhưng không phải vì chồng nghèo.

Huỳnh Kim Giám



Cuối Bờ Tình Ca

 

Một ngày sông bể cạn khô
Em ru anh ngủ cuối bờ tình ca
Anh ru em ngủ khô hoa
Hết đau hết khổ hết ta hết mình

Hết hát rong hết ăn xin
Hết bồng hết ẵm hết nhìn hết cưng
Hết thương hết nhớ hết mừng
Hết mơ hết mộng trăng gần gió xa

Hết hương hết thịt hết da
Hết hồn hết xác hết nhà hết quê
Hết ăn uống hết hôn mê
Hết khen ngon ngọt hết chê bóng đè

Hết mưa xuân hết nắng hè
Hết hờn hết giận hết khoe trắng hồng
Hết môi thu hết mắt đông
Hết cười hết khóc hết sông hết đò

Hết sống đói hết chết no
Hết trăng hết mật hết cho hết đòi
Hết đỉa đói hết chung đôi
Hết cam hết bưởi hết xôi hết chè

Hết bông gòn hết lá me
Hết chim hồng gió cây mê giật mình
Hết sôi nổi hết lặng thinh
Hết bùa yêu hết chân tình tay tiên

Hết lời lạ hết hơi quen
Hết hằng nga tắm hoa sen không bằng
Hết cong môi hứng thơ văn
Hết chờ hết đợi hết căng hết chào

Hết rừng trầm hết núi sao
Hết hương hết lửa hết đau hết hồn
Hết bình minh hết hoàng hôn
Hết ru hết dỗ hết nôn nóng lòng....

MD.12/14/07
LuânTâm

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

Tinh Thần Văn Bút Miền Đông (VBVNHN VĐBHK)


Thơ: Dương Việt Chỉnh
ThơTranh: Kim Oanh

Giỗ Tổ Hùng Vương



Ngày Giỗ Hùng Vương Việt tộc ta
Hàm ân Ngài đã dựng sơn hà.
Chinh Nam ngạo nghễ, hưng bờ cõi
Chiến Bắc oai hùng, vững nước nhà.
Bảo quốc, tiền nhân gìn trọn vẹn
Thương dân, hậu thế giữ an hòa.
Vì đâu nội chiến đau lòng Tổ?
Ý thức hệ nào...lệ máu pha!


Duy Anh
Tháng Ba Mùng Mười Âm Lịch
26/4/2026


Về Cõi Hư Không

 

"Xin biển và rừng hãy lặng tiếng
Cho môi tôi chạm khẽ hư không"

(Chạm Vào Hư Không / DP-hn)

Rồi ta phiêu dạt cõi hư không
Luyến tiếc làm chi chốn bụi hồng
Bỏ lại trần gian kho của cải
Mang lên thiên giới mảnh linh hồn
Xác thân tan nát như tro bụi
Trí tuệ tơi bời tựa pháo bông
Hy vọng nơi về sau cái chết
Thiên-đàng, Cực-lạc với Non Bồng.

CN-HNT,
Mùa Vu-Lan 2020(423)


Chiều Tháng Tư Trên Sông Sài Gòn

 

Chiều trên sông Sài Gòn gió thổi ngang trời
Tiếng sóng vỗ nghe như lời chưa kịp nói
Anh đứng lặng giữa hai bờ ký ức
Một bờ em… một bờ chiến tranh.

Ngày đó
Cư xá còn đẹp như giấc mơ
chúng mình còn hẹn nhau đầu ngõ
chỉ một buổi chiều thôi
mà tưởng như đời chưa hề rạn vỡ.

Giờ này
gió vẫn thổi
nhưng không còn ai đứng đợi
bóng tối phủ xuống
che mất nửa đời người.

Cây tre vẫn nghiêng mình trong gió
như chuyện xưa chưa chịu rời đi
còn giọng em
đã tan vào khoảng lặng
chỉ còn vang
trong một chiều không có lối quay về.


Tế Luân
Túy bút viết cho thàng Tư
04-23-26

Tôi Lại Thở Dài, Ngó Xa Xăm...

 

Tôi xa làng Đá đã nhiều năm 

Từ độ người ta tuổi chớm Rằm 

Cái tuổi xúi người say má thắm 

Thả hồn mơ mộng mãi xa xăm 


Tôi nhớ, người ta một cuối năm

Giữa chiều mưa ấy rét căm căm

Mặc tôi thảng thốt chặt tay nắm

Vẫn nhẹ lắc đầu ngó xa xăm.


Tôi biết người ta với làng Chằm

Ân tình riêng nặng đã nhiều năm 

Người ta lại giỏi cam chịu lắm 

Mặc kẻ làng Chằm biệt biệt tăm.


Tôi về làng Đá mỗi cuối năm

Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm

Tuổi xuân tự lấp sâu vạn dặm

Tôi lại thở dài, ngó xa xăm...


Hà Nội, 26 tháng 01 năm 2026

Đặng Xuân Xuyến