Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2026

Con Đường Nào Đến Thiên Đường (Nguyễn Duy An) - Tưởng Niệm 25 Năm Vụ Khủng Bố 11.9 - Lâm Nhật Tiến

Sáng Tác:Nguyễn Duy An
Ca Sĩ: Lâm Nhật Tiến

Khơi Lại Tàn Tro

 

Bốn mùa thay sắc áo
Nỗi đau hẳn còn đây
Thân người nào phiến lá
Vội rơi giữa phố ngày

Vết hoang tàn thinh lặng
Những mãi năm hằn in
Phù sinh kiếp như mộng
Ẩn khuất bày hiển linh

Gót phù vân phiêu dạt
Khơi đổ nát tàn tro
Âm u lời khổ nhục
Trêu ngươi khéo lắm trò

Kim Phượng

 Tưởng niệm biến cố  9.11.2026

Ngày Mười Một - Dấu Mãi Hằn Sâu


(Kỷ niệm 25 năm ngày 11 tháng 9, 2001)

Hoang tàn đổ nát – cảnh ngày nào
Cờ Mỹ hiên ngang vẫn đứng cao
Lặng lẽ giữa kêu gào thảm thiết
Người người chết thảm - bởi vì sao?

Vong linh vất vưởng không siêu thoát
Tiếng khóc, kêu than, vọng thét gào
Không tặc giết người - không nhân tính
Lạy trời thương xót những khổ đau.

Ngày này tưởng niệm cảnh binh đao
Tổng thống trang nghiêm mặc niệm chào
Nhớ mãi từng tên người đã khuất
Bao giờ nhân thế hết thù nhau.

Không hờn, báo oán, tâm buông thả
Khắc mãi trong tim tháng Chín qua
Để thấy mình không quên dĩ vãng
Ngày mười một – đậm nét trong ta!

Nguyễn Phương Thúy
(Ngày 11 tháng 9 năm 2026)

Hai Mươi Lăm Năm - Vẫn Nhớ



(Tưởng niệm 25 năm biến cố 11 tháng 9, 2001–2026 )

Hai lăm năm, một trời thu trở lại
Nắng tháng Chín còn soi bóng cờ bay
Mà trong tim nước Mỹ đến hôm nay
Vẫn khắc mãi một ngày đau thế kỷ

Trời New York buổi bình minh tuyệt mỹ
Bỗng kinh hoàng trong khói lửa mịt mù
Hai tòa tháp chìm khuất giữa trời thu
Bao sinh mạng phút giây thành vĩnh biệt

Có những người biết hiểm nguy, vẫn tiến
Ngược dòng người, lao thẳng giữa lửa thiêu
Chẳng kịp hỏi đời còn lại bao nhiêu
Chỉ biết cứu một người đang mắc kẹt

Có những tiếng cuối cùng trong ly biệt:
“Con yêu Người…” “Xin Mẹ hãy bình an…”
Một lời thương giữa khoảnh khắc kinh hoàng
Thành di nguyện gửi người còn ở lại

Từ Lầu Năm Góc đến đồng xanh Pennsylvania
Đất lặng thầm ôm những trái tim son
Có những người khi sự sống chẳng còn
Vẫn đứng dậy chọn hy sinh, chống trả

Ngày hôm ấy, nước Mỹ đau nghiệt ngã
Nhưng từ đau thương, nước Mỹ đứng lên
Triệu bàn tay không phân biệt tuổi tên
Cùng nắm chặt dưới màu cờ Tổ quốc

Hai lăm năm - thời gian trôi từng bước
Những vết thương rồi cũng phủ rêu mờ
Nhưng người đi vẫn sống giữa câu thơ
Trong ký ức, trong tim người ở lại

Xin cúi xuống trước anh hùng thuở ấy
Trước bao người vô tội đã ra đi
Trước những người mang thương tích xuân thì
Và những kẻ suốt đời còn thương nhớ

Chuông tưởng niệm ngân trong trời lộng gió
Lá quốc kỳ vẫn rực đỏ, trắng, xanh
Một dân tộc từng tan nát mong manh
Càng đau đớn càng kiên cường đứng dậy

Hai lăm năm xin một lần nhắc mãi
Tự do nào cũng có những hy sinh
Xin nguyện cầu cho thế giới thanh bình
Không còn nữa những ngày đau như thế

Ngày tháng Chín, giữa trời thu lặng lẽ
Ta nghiêng mình tưởng niệm những người đi
Nước Mỹ ơi, dù năm tháng qua đi
Ta vẫn nhớ. Và muôn đời vẫn nhớ

phamphanlang
9/11/2026
In remembrance of the lives lost, the heroes who sacrificed,
and the enduring spirit of America.

Khóc Bạn - Lộc Bắc


Cám ơn Lữ đã báo tin buồn về người bạn thân thiết của tôi Ds Lê quý Đông (D70, 13 TTD).
Xin mời quý anh chị đọc bài văn tế bạn Đông.
Kính

Lộc Bắc 
***
Khóc bạn.

Sinh tử vô thường, hợp tan khó liệu
Âm dương cách trở, thương nhớ khôn nguôi
Giờ đây bạn đã đi rồi
Dăm câu thơ thẩn nhớ thời hàn vi

Nhớ khi xưa.

Năm 65, Dược phòng Vườn Chuối
Gặp Quý Đông, Xuân Lữ, Trọng Hoàng
Thêm Long, Phẩm, Nhuận kết thành
Một nhóm bạn hữu mang danh Thất Hiền.

Riêng với Đông có nhiều kỷ niệm
Ta không xe: S50 Honda đưa đi học.
Ta ít tiền: bao bọc ăn, chơi
Vũng Tàu, Mỹ Tho, Biên Hòa, Long Khánh một thời lãng du.

Hồng Ngự, miền tây, mưa phùn bùn ngập
Thanh Điền, miền đông, nắng đổ bụi tuôn
Thiên tai, cứu trợ cáp duồn
Học thi bỏ mặc đi luôn tháng trời!

Tôi Quy Nhơn bạn đèo heo Phú Bổn
Năm 73 biệt phái dạy Quy Nhơn
Cuối cuộc chiến, tan hàng mạnh ai nấy chạy
Biệt tăm hơi, sau mới biết: bạn nổi trôi tận xứ Cờ Hoa.

Than ôi


Được tin dữ Bạn xuôi tay về đất
Bỏ gia đình, bè bạn với thương đau
Xa xôi vẫn nhớ tới nhau
Tuổi già bệnh hoạn xe tầu khó kham.

Điếu bạn

Như thời chinh chiến, việc trăm năm
Lên trực thăng, bạn đi trước
Dọn bãi quang, lần lượt đón nhau về!

Thắp nén tâm hương vài dòng thơ thẩn
Nén ngậm ngùi, thương lắm bạn hiền ơi.
Quý Đông vĩnh biệt cuối trời!

Lộc Bắc
Sept26

Nhớ Ơn Đời Nhớ Ơn Người



Tám tám ' xuân xanh ' đã tới rồi,
Đêm nằm ngẫm nghĩ cái thằng tôi.
Đền ơn Thấy, Bạn: chưa đầy đủ
Báo hiếu Mẹ Cha: mới nửa vời!
Hỉ xả, từ bi: còn thiếu sót;
Sân, si, ái, ố : vẫn chưa vơi!
An bần lạc đạo, vui duyên nghiệp,
Gắng mãi tu thân tạ đất Trời

Nguyễn Tích Lai


Tưởng Nhớ Nạn Nhân Của Ngày 11. 9. 2001 - Sưu tầm & Biên Soạn: Thái Lan - AI Google Dịch

Lá cờ Mỹ là hình ảnh nổi bật ngay tại trung tâm nơi từng là khu phức hợp Trung tâm Thương mại Thế giới ở Thành phố New York, ngày 15 tháng 9 năm 2001. Ảnh của Hải quân Hoa Kỳ do Phóng viên Hạng nhất Preston Keres thực hiện.

Lời Tác Giả:

Chào quý anh chi

Xin gởi một vài mẫu chuyện THẬT đau lòng về ngày KHÔNG BAO GIỜ QUÊN --Tháng 9 - 2001
Còn RẤT nhiều câu chuyện THƯƠNG TÂM về những hành khách trên các chuyến bay, về các nhân viên ở các tòa nhà bị tấn công, về những vị anh hùng LÍNH CỨU HỎA . . .
- Bao nhiêu Thảm Cảnh của hàng ngàn gia đình nạn nhân-
QUÁ ĐỖI THƯƠNG ĐAU!

Bài này đề cập đến một vài vị anh hùng của Thế chiến thứ II, rồi bây giờ đến ngày ĐAU THƯƠNG của nước Mỹ, họ cũng không tránh khỏi...
Định Mệnh sao Quá Oái Oăm???!!!
Quý anh chị đã đọc rất nhiều câu chuyện, xin mời bổ túc cùng L nha
Cảm ơn anh chị
Xin chúc gia đình quý anh chị thật Bình An
(𝓽𝓷𝓵 -phannữlan)
--o0o--
 Lá cờ Mỹ là hình ảnh nổi bật ngay tại trung tâm nơi từng là khu phức hợp Trung tâm Thương mại Thế giới ở Thành phố New York, ngày 15 tháng 9 năm 2001. Ảnh của Hải quân Hoa Kỳ do Phóng viên Hạng nhất Preston Keres thực hiện.

Tưởng nhớ các cựu chiến binh Thế chiến II

trong số những nạn nhân của sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001
Tại Bảo tàng Quốc gia về Thế chiến II, việc tưởng niệm ngày 11 tháng 9 đồng nghĩa với việc tưởng nhớ tất cả những người đã thiệt mạng vào ngày hôm đó, cũng như ghi nhận vô vàn câu chuyện riêng biệt mà họ mang theo bên mình.

September 10, 2026

Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, người dân Mỹ đã chứng kiến đất nước mình bị tấn công. Bốn chiếc máy bay thương mại đã bị không tặc khống chế chỉ trong vòng vài giờ. Hai chiếc đâm vào Trung tâm Thương mại Thế giới, một chiếc lao vào Lầu Năm Góc và chiếc thứ tư rơi xuống một cánh đồng gần Shanksville, Pennsylvania. Đến cuối ngày hôm đó, 2.977 người đã thiệt mạng.

Ngày 7 tháng 12 năm 1941 và ngày 11 tháng 9 năm 2001 là những cột mốc mang tính bước ngoặt trong lịch sử Hoa Kỳ. Cả hai sự kiện đều bắt đầu bằng các cuộc tấn công nhắm vào nước Mỹ và đều làm thay đổi vận mệnh quốc gia trong những năm tháng tiếp theo. Sự kiện Trân Châu Cảng đã đưa Hoa Kỳ bước vào Thế chiến II và huy động cả một thế hệ người Mỹ tham gia phục vụ quân đội cũng như đất nước. Sự kiện ngày 11 tháng 9 lại đưa một thế hệ khác bước vào kỷ nguyên mới của chiến tranh và nghĩa vụ quốc gia.

Bảo tàng Quốc gia về Thế Chiến II (The National WWII Museum) kể lại câu chuyện về thế hệ đã đáp lại lời kêu gọi sau sự kiện Trân Châu Cảng. Trong số những người thiệt mạng vào ngày 11 tháng 9, có những cá nhân thuộc chính thế hệ từng tham gia Thế chiến II ấy. Họ đã phục vụ đất nước, trở về quê hương, xây dựng gia đình, phát triển sự nghiệp và sống qua hơn nửa thế kỷ lịch sử nước Mỹ trước khi một cuộc tấn công khác lại làm thay đổi đất nước một lần nữa. Câu chuyện về họ phần lớn vẫn chưa được nhiều người biết đến.

Robert Grant Norton và Francis Edward Grogan từng phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ thời Thế chiến II.
Norman O. Wahlstrom từng thực hiện các phi vụ chiến đấu bằng máy bay B-24 tại Thái Bình Dương.
John Talignani từng phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ trong giai đoạn chiếm đóng và tái thiết Nhật Bản sau chiến tranh.

Gần sáu thập kỷ sau, cuộc đời họ đã gắn liền với sự kiện ngày 11 tháng 9 theo những cách rất khác nhau.
Ba trong số các cựu chiến binh này đã thiệt mạng trên ba chuyến bay khác nhau vào ngày 11 tháng 9, còn người thứ tư thì đau đớn mất đi vợ và con gái.

1/- Robert Grant Norton
Ảnh trong hồ sơ quân nhân chính thức của Robert Norton. Cục Lưu trữ và Hồ sơ Quốc gia.

Sinh ra tại Lubec, bang Maine, Robert Grant Norton từng làm thợ cơ khí bảo trì cho Công ty American Can trong 5 năm trước khi nhập ngũ vào Hải quân ngày 20 tháng 5 năm 1943. Khi đó ông 27 tuổi và đã lập gia đình; ông gác lại công việc và tạm biệt người thân để lên đường phục vụ đất nước. Ông trở thành một thành viên của lực lượng Seabee (Công binh Hải quân).

Hải quân đã đào tạo Norton trở thành thợ mộc trước khi điều động ông đến Tiểu đoàn Xây dựng Hải quân số 103 để được huấn luyện thêm về kỹ năng vẽ kỹ thuật. Sau đó, ông gia nhập Đơn vị Bảo trì thuộc Tiểu đoàn Xây dựng Hải quân số 539, trở thành một trong những thành viên của lực lượng Seabee – những người đã xây dựng và duy trì cơ sở hạ tầng giúp quân đội Mỹ hoạt động trên khắp Thái Bình Dương. Vào ngày 28 tháng 12 năm 1943, Norton rời Gulfport, Mississippi, để bắt đầu hành trình dài đến Thái Bình Dương. Ông đã vượt qua đường Xích đạo và Đường đổi ngày quốc tế trước khi đặt chân đến Ebon – một đảo san hô nhỏ thuộc quần đảo Marshall – vào ngày 7 tháng 2 năm 1944.

Norton cùng các đồng đội Seabee đã lập tức bắt tay vào công việc xây dựng và bảo trì các sân bay, đường sá, cảng biển cùng những cơ sở vật chất khác nhằm hỗ trợ các hoạt động hậu cần và đổ bộ của quân đội Mỹ. Ông đã ở lại Ebon khoảng 21 tháng trước khi thực hiện hành trình dài trở về quê nhà vào tháng 10 năm 1945. Sau khi được Hải quân giải ngũ trong danh dự, ông trở về Maine cùng với Dải băng Chiến dịch Châu Á - Thái Bình Dương, Dải băng Khu vực Châu Mỹ, Huy chương Chiến thắng Thế chiến II và quyền được mang phù hiệu chính thức của lực lượng Seabee.

Các thành viên đơn vị Seabee hạ thuốc nổ Hercules xuống từ mạn tàu LCVP trong quá trình xây dựng sân bay tại đảo san hô Eniwetok, tháng 2 năm 1944. Bảo tàng Seabee của Hải quân Hoa Kỳ.

Sau chiến tranh, Norton đã tận dụng chính sách hỗ trợ cựu chiến binh (GI Bill) để theo học tại Viện Kỹ thuật Franklin ở Boston và lấy bằng kỹ sư. Ông làm việc tại Massachusetts trong vài năm trước khi trở về Lubec vào đầu thập niên 1980. Tại đây, ông tích cực tham gia các hoạt động của Nhà thờ Congregational Christian địa phương và đảm nhiệm vai trò chấp sự. Bạn bè và hàng xóm nhớ đến ông như một người đàn ông trầm tính, hào phóng, luôn sẵn lòng dành thời gian và tài năng của mình để giúp đỡ người khác.

Robert Grant Norton. Ảnh: Bangor Daily News -- FindAGrave.com

Vào tháng 9 năm 2001, Norton đã 85 tuổi và là nạn nhân lớn tuổi nhất trong các vụ tấn công khủng bố. Ông cùng vợ, bà Jacqueline, đang trên đường đến California để dự một đám cưới của gia đình. Họ đã bay từ Bangor đến Boston vào ngày 10 tháng 9 trước khi lên chuyến bay số hiệu 11 của hãng American Airlines tại Sân bay Quốc tế Logan vào sáng hôm sau. Chiếc Boeing 767 cất cánh lúc 7:59 sáng, hướng tới Los Angeles. Lúc 8:46 sáng, những kẻ không tặc đã điều khiển máy bay đâm vào Tháp Bắc của Trung tâm Thương mại Thế giới.

Gần sáu thập kỷ đã trôi qua kể từ khi Norton rời Maine để đến vùng Thái Bình Dương. Trong khoảng thời gian đó, ông đã trở về nhà sau chiến tranh, xây dựng sự nghiệp, vun đắp gia đình, cống hiến cho cộng đồng và tận hưởng cuộc sống mà chính ông đã chiến đấu để bảo vệ. Vào ngày 11 tháng 9, ông chỉ đơn thuần là một người chồng đang cùng vợ đi xa để sum họp ăn mừng cùng gia đình. Cuộc đời đầy dấu ấn của ông đã khép lại vào sáng hôm ấy trên chuyến bay số hiệu 11.

2/-Francis Edward Grogan

Francis Edward Grogan
Ảnh trong hồ sơ quân nhân chính thức của Francis Edward Grogan. Cục Lưu trữ và Hồ sơ Quốc gia.

Francis Edward Grogan mới chỉ 18 tuổi khi gia nhập Hải quân trong Thế chiến thứ hai. Vào ngày 30 tháng 8 năm 1943, Hải quân tiếp nhận Grogan
với cấp bậc thủy thủ tập sự và cử ông đến Trường Huấn luyện Tác chiến Âm thanh Hạm đội (Fleet Sound School) tại Key West, Florida, nơi ông được đào tạo để trở thành nhân viên vận
hành thiết bị định vị bằng âm thanh (sonar). Sau khi hoàn tất khóa huấn luyện, Hải quân đã điều động ông phục vụ trên tàu khu trục USS Barney (DD-149).

Nhiệm vụ mới đã đưa Grogan trực tiếp tham gia vào Trận chiến Đại Tây Dương. Trong khoảng thời gian từ ngày 14 tháng 1 đến ngày 11 tháng 5 năm 1944, tàu Barney đã hoàn thành hai chuyến hộ tống đoàn tàu vận tải đến Bắc Phi. Một trong những chuyến đi đó đã đưa Grogan và các đồng đội vào tình thế giao tranh thực sự. Barney tham gia hộ tống Đoàn tàu UGS-37 — một nhóm gồm 37 tàu có lực lượng bảo vệ vũ trang — đi từ Vịnh Chesapeake, qua Eo biển Gibraltar để tiến vào Địa Trung Hải. Vào khoảng nửa đêm ngày 11 rạng sáng ngày 12 tháng 4, khi đang ở vị trí cách Algiers khoảng 35 dặm về phía đông, đoàn tàu đã bị máy bay địch tấn công.

Các con tàu đồng loạt khai hỏa khi lực lượng tấn công áp sát. Hỏa lực phòng không dữ dội bao trùm bầu trời đêm trong nỗ lực tự vệ của đoàn tàu. Grogan cùng thủy thủ đoàn trên tàu Barney đã may mắn thoát khỏi các quả ngư lôi và bom của địch, trong khi một số tàu khác phải chịu thiệt hại nhẹ và có thương vong. Sau đó, Hải quân đã trao tặng tàu Barney danh hiệu "ngôi sao chiến trận" (battle star) để ghi nhận vai trò hộ tống Đoàn tàu UGS-37. Các con tàu đồ

Grogan tiếp tục phục vụ trong quân ngũ cho đến khi chiến tranh kết thúc. Ông được Hải quân trao tặng Huy chương Chiến thắng Thế chiến II, Huy chương Chiến dịch Hoa Kỳ và Huy chương Chiến dịch Châu Âu - Châu Phi - Trung Đông (kèm một ngôi sao chiến dịch). Ông xuất ngũ trong danh dự vào ngày 2 tháng 4 năm 1946.

Cuộc đời ông sau khi rời Hải quân đã rẽ sang một hướng hoàn toàn khác. Grogan sau đó trở thành một linh mục Công giáo và dành nhiều thập kỷ để giảng dạy, làm tuyên úy cũng như công tác tại Dòng Thánh Giá (Congregation of Holy Cross) ở North Dartmouth, Massachusetts.

Cha Francis Grogan, C.S.C. Ảnh: Congregation of Holy Cross

Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, Cha Grogan – khi đó 76 tuổi – đã lên chuyến bay số hiệu 175 của hãng United Airlines tại Sân bay Quốc tế Logan ở Boston để đến California thăm em gái. Ông đã không bao giờ đến được nơi này. Máy bay cất cánh lúc 8 giờ 14 phút sáng để bay tới Los Angeles. Lúc 9 giờ 03 phút sáng, những kẻ không tặc đã điều khiển chuyến bay 175 đâm vào Tháp Nam của Trung tâm Thương mại Thế giới.

Cuộc đời đã đưa ông đi một chặng đường dài, từ hình ảnh chàng thủy thủ trẻ đứng gác trên tàu Barney giữa lòng Đại Tây Dương năm nào. Các cựu học sinh và giáo dân luôn nhớ về ông như một người có ảnh hưởng tích cực và trầm lặng, người vẫn luôn tự hào về quãng thời gian phục vụ trong Hải quân Mỹ suốt Thế chiến II.

3/-Norman O. Wahlstrom 

Câu chuyện của Norman O. Wahlstrom kết nối Thế chiến II với sự kiện ngày 11 tháng 9 theo một cách khác. Ông không thiệt mạng trong các cuộc tấn công, nhưng vợ và con gái ông lại nằm trong số những người đã khuất vào ngày hôm đó.

Wahlstrom tốt nghiệp Đại học Bang Utah vào năm 1939 và gia nhập lực lượng hàng không quân đội với tư cách là học viên phi công vào tháng 12 năm 1940. Ông đã hoàn thành khóa huấn luyện bay cơ bản tại Randolph Field và khóa huấn luyện bay nâng cao tại Kelly Field, bang Texas. Quá trình huấn luyện đòi hỏi nhiều giờ bay theo đội hình cũng như thực hành kỹ năng dẫn đường cả ngày lẫn đêm. Vào tháng 2 năm 1942, Wahlstrom chính thức nhận huy hiệu phi công và bắt đầu sự nghiệp của mình trong ngành hàng không quân đội.

  Norman O. Wahlstrom. Bức ảnh được cho là chụp vào tháng 6 năm 1945 tại Borneo. Ảnh qua Fold3, FindAGrave.com.
Wahlstrom tiếp tục thực hiện các phi vụ tác chiến trên máy bay B-24 Liberator tại chiến trường Thái Bình Dương. Sau đó, ông đảm nhận vai trò chỉ huy Phi đội Ném bom số 72 thuộc Nhóm Ném bom số 5, Không quân số 13. Trong thời gian phục vụ quân ngũ, ông đã được trao tặng Huy chương Không quân kèm theo biểu tượng "Oak Leaf Cluster" (nhánh sồi), ghi nhận việc ông được trao tặng huân chương này lần thứ hai. Ông sống sót qua chiến tranh và tiếp tục phục vụ đất nước trong những năm sau đó. Sự nghiệp quân sự của ông trải dài qua Thế chiến II, Chiến dịch Tiếp vận Hàng không Berlin và Chiến tranh Triều Tiên.

Sau Thế chiến II, Wahlstrom xây dựng gia đình và phát triển sự nghiệp, đưa ông rời xa khu vực Thái Bình Dương. Ông kết hôn với bà Mary Alice Sheehan vào năm 1950 và cùng nhau vun đắp tổ ấm gia đình. Ông giải ngũ khỏi Không quân với cấp bậc Đại tá vào năm 1968, sau đó quay lại Đại học Utah State; tại đây, ông lấy bằng cử nhân kinh doanh ở tuổi 50 và đảm nhiệm vị trí Giám đốc phụ trách các vấn đề Cựu chiến binh của trường. Là một thành viên tích cực của cộng đồng, ông đã phục vụ hai nhiệm kỳ tại Hạ viện bang Utah và sáu năm trong Hội đồng Thành phố Logan, Utah.

Mary Alice Sheehan Wahlstrom (left). Photo via FindAGrave.com. Carolyn Anne Beug (right). Photo via FindAGrave.com

Vợ ông, bà Mary Alice, đã 78 tuổi khi cùng con gái Carolyn Beug bước lên chuyến bay số hiệu 11 của hãng American Airlines. Carolyn, 48 tuổi, từng làm việc trong ngành giải trí và là mẹ của ba người con. Hai người phụ nữ đã đến miền Đông để giúp cặp con gái sinh đôi của Carolyn ổn định cuộc sống khi bắt đầu theo học tại Trường Thiết kế Rhode Island (Rhode Island School of Design). Họ đang trên đường trở về California khi lên chuyến bay số 11 tại Sân bay Quốc tế Logan ở Boston.

Lúc 8 giờ 46 phút sáng, chuyến bay số 11 đã đâm vào Tháp Bắc. Người đàn ông từng thực hiện các phi vụ chiến đấu trên khắp Thái Bình Dương trong Thế chiến II giờ đây phải đối mặt với nỗi đau mất vợ và con gái trong một cuộc tấn công nhắm vào nước Mỹ, gần sáu thập kỷ sau khi ông lần đầu ra trận.

Bia mộ tưởng niệm Norman Oliver Wahlstrom, Mary Alice Wahlstrom và Carolyn Beug. Ảnh qua Pershelle Rohrer, FindAGr


Ông Wahlstrom cùng những người con còn lại vẫn luôn tưởng nhớ Mary Alice và Carolyn. Năm 2002, con trai ông đã rước đuốc Olympic tại Utah để tri ân họ. Trong một buổi lễ vinh danh tại Quốc hội cùng năm đó, Mary Alice được nhắc đến như một thành viên tích cực của cộng đồng; bà là người đam mê du lịch, biết chơi đàn piano và từng tham gia hoạt động tình nguyện tại Temple Square ở thành phố Salt Lake, bang Utah. Ông Wahlstrom qua đời năm 2006 ở tuổi 88 và được an táng với đầy đủ nghi thức quân sự, nằm cạnh Mary Alice và Carolyn.



4/- John Talignani 

John Talignani đã sống một cuộc đời gắn bó sâu sắc với gia đình và cộng đồng tại New York – nơi ông dành phần lớn quãng đời trưởng thành của mình. Sinh ra tại Ý, ông lớn lên ở Brooklyn và trở thành một người đàn ông hết lòng vì gia đình, dành trọn tình cảm cho người vợ quá cố cùng ba người con riêng của bà. Ông từng làm chủ một chiếc xe taxi và một tiệm bánh pizza, trước khi dành 20 năm làm nhân viên pha chế và phục vụ tại chuỗi nhà hàng Palm ở Manhattan. Sau khi nghỉ hưu, ông chuyển đến sống tại Staten Island; tại đây, ông tận hưởng khoảng thời gian bên gia đình và dành sự quan tâm đặc biệt cho đội bóng chày yêu thích của mình – New York Mets.

John Talignani. Photo via U.S. National Park Service
Thẻ đăng ký nghĩa vụ quân sự John Talignani.Chiến tranh Thế giới II

Talignani cũng là một cựu quân nhân Lục quân từng phục vụ trong thời kỳ Thế chiến II. Ông thực hiện nghĩa vụ quân sự vào giai đoạn quân đội Mỹ chiếm đóng Nhật Bản sau chiến tranh, thay vì tham gia trực tiếp vào các hoạt động tác chiến trong cuộc chiến. Ông thuộc thế hệ nhập ngũ vào những năm quanh thời điểm diễn ra chiến tranh và đã phục vụ tại nước ngoài khi lực lượng Mỹ thực hiện việc chiếm đóng và tái thiết Nhật Bản sau khi giao tranh kết thúc.

Ở tuổi 74, Talignani vẫn luôn dành trọn tình cảm và sự quan tâm cho gia đình. Ông lên chuyến bay số hiệu 93 của hãng United Airlines tại Sân bay Quốc tế Newark vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 để đến California. Con trai riêng của vợ ông đã thiệt mạng trong một vụ tai nạn ô tô khi đang đi hưởng tuần trăng mật, còn con dâu ông thì bị thương nặng. Talignani thực hiện chuyến đi này để ở bên gia đình trong khoảng thời gian vô cùng khó khăn đó.

Chuyến bay 93 khởi hành từ Newark lúc 8:42 sáng để đến San Francisco. Đến 9:28 sáng, những kẻ không tặc đã chiếm quyền kiểm soát máy bay. Hành khách và phi hành đoàn bắt đầu biết tin về các vụ tấn công thông qua các cuộc gọi điện thoại. Khi nhận ra những kẻ không tặc định biến chiếc máy bay của họ thành một vũ khí khác, các hành khách đã quyết định chống trả. Vào khoảng 9:57 sáng, họ bắt đầu nỗ lực giành lại quyền kiểm soát máy bay; sáu phút sau, chuyến bay 93 rơi xuống một cánh đồng gần Shanksville, Pennsylvania. Talignani là một trong số 40 hành khách và thành viên phi hành đoàn thiệt mạng trên chuyến bay này.

Talignani đã dành những năm tháng nghỉ hưu bên những người thân yêu, tận hưởng thời gian cùng gia đình và theo dõi đội bóng chày New York Mets. Vào ngày 11 tháng 9, ông lên chuyến bay 93 đến California để thực hiện thêm một hành động thể hiện tình cảm dành cho gia đình. Ông đã không bao giờ đến được nơi đó.

TƯỞNG NHỚ HỌ

Những người đàn ông này đã sống những cuộc đời rất khác nhau sau Thế chiến II, nhưng mỗi người đều mang theo những trải nghiệm của thời kỳ đó vào các thập kỷ tiếp theo. Đến tháng 9 năm 2001, họ không còn là những quân nhân trẻ tuổi nữa. Họ là những người chồng, người cha, linh mục, chuyên gia, người đã nghỉ hưu và là thành viên tích cực trong cộng đồng của mình. Cuộc đời họ vẫn tiếp diễn rất lâu sau khi chiến tranh kết thúc.

Hai mươi lăm năm sau, câu chuyện của họ mang đến một góc nhìn khác để tưởng nhớ ngày 11 tháng 9. 2.977 người thiệt mạng vào ngày hôm đó không chỉ đơn thuần là những cái tên hay những con số. Họ là những cá nhân có gia đình, sự nghiệp, ký ức và những câu chuyện cuộc đời bắt đầu từ rất lâu trước khi các vụ tấn công xảy ra. Với một số người, lịch sử đó bao gồm cả việc đáp lại lời kêu gọi phục vụ đất nước trong Thế chiến II.

Nhiều người Mỹ trẻ tuổi khác cũng sẽ đáp lại lời kêu gọi phục vụ trong những năm và thập kỷ sau các vụ tấn công này.
 
World War II draft card for John Talignani. Photo from Fold3, via National Archives

 
World War II draft card for John Tal

 Những lá cờ Mỹ được đặt tại hồ nước thuộc Tháp Nam (South Tower Pool) – gần Khu tưởng niệm và Bảo tàng 9/11 – để tưởng nhớ các nạn nhân của vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9, trong khuôn khổ sự kiện Duyệt binh Hải quân Quốc tế 250 tại Thành phố New York vào ngày 6 tháng 7 năm 2026. Ảnh của Hải quân Hoa Kỳ do Chuyên gia Truyền thông Đại chúng (Cấp bậc Thủy thủ) thực hiện -

Tại Bảo tàng Chiến tranh Thế giới thứ hai Quốc gia, việc tưởng niệm ngày kỷ niệm 11 tháng 9 có nghĩa là tưởng nhớ tất cả những người đã thiệt mạng vào ngày hôm đó và ghi nhận những câu chuyện khác nhau mà họ mang theo.
Bằng cách kể lại câu chuyện của những người đã sống sót qua một khoảnh khắc định mệnh trong lịch sử nước Mỹ và bị mất đi trong một khoảnh khắc khác, chúng ta giúp bảo tồn những trải nghiệm cá nhân đằng sau những sự kiện đã thay đổi quốc gia.


Trách nhiệm của chúng ta không chỉ là ghi nhớ cách họ đã hy sinh, mà còn là ghi nhớ họ là ai.
Mong rằng chúng ta sẽ không bao giờ quên.

Google Dịch
Sưu tầm & Biên Soạn: Thái Lan


Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2026

Tình Xưa – Sáng Tác: Nguyễn Thanh Cảnh - AI Cover by BariaMusic

Sáng Tác: Nguyễn Thanh Cảnh
AI Cover by BariaMusic

Lời Cuối Cho Người

 

Tình yêu đó anh mang về cõi khác
Nén hương buồn bia đá khóc rưng rưng
Ngày yêu nhau ôi tha thiết vô cùng
Giờ tất cả…trả về năm tháng cũ
Anh nằm đây nghìn đời yên giấc ngủ
Với tình mình một thuở ấm vòng tay
Kỷ niệm còn đây, nỗi nhớ giăng đầy
Xin quên lãng một thời yêu dấu đó
Anh ra đi để làm người thiên cổ
Thiên thu sầu em khóc để ai nghe
Bóng cây xưa chim tình ái không về
Hương khói toả ngát mùi thơm vĩnh biệt!
Anh vô tình có bao giờ hay biết
Em cúi đầu tưởng niệm bóng hình xưa
Lời thơ yêu như kinh cầu vang vọng
Vòng hoa buồn kết lại những nhung tơ
Chân dung xưa em sẽ mãi phụng thờ
Thôi anh nhé ! Xin muôn đời yên nghỉ

Nguyễn Phan Ngọc An
2026

Nhớ Huế - Thơ: Trần Quốc Bảo - Nhạc: Lê Xuân Mai - Ca Sĩ: Hà Thanh

 

Bao năm xa cách Miền Trung,
Nhớ thương chi lạ!... vô cùng Huế ơi!
Ngự Bình lờ lững mây trôi,
Hương Giang lồng bóng trăng soi đôi bờ.
Nhớ tà áo trắng phất phơ,
Trường Tiền nghiêng nón bài thơ qua cầu.
Ai chờ ai, dốc Nam Giao?
Thuyền ai khoan nhặt đôi câu Nam Bình?
Gió trăng Bến Ngự hữu tình,
Hàng cau Vỹ Dạ lung linh nắng vàng.
Răng chừ, trở lại Phú Cam,
Về thăm Gia Hội, ghé sang Nguyệt Biều…
Chuông chùa Thiên Mụ phiêu diêu,
Thời kinh Diệu Đế, mõ chiều âm vang.
Huế ơi! Những buổi Thu tan
Dòng sông An Cựu mịt mù sương đêm.
Huế mộng mơ, Huế êm đềm,
Càng xa, nỗi nhớ càng thêm đậm đà!
Một thời, Huế những xót xa,
Mậu Thân, máu đổ chan hòa Cố Đô!
Thuở chừ, Huế chít khăn sô!
Đau thương Huế đến dại khờ! … Huế ơi!

Trần Quốc Bảo

Cuộc Chiến Giữa Hải Đô (Kaidu) và Hốt Tất Liệt(Kublai)


Chương này xin kể riêng đi một chút, chuyện kể vào thời kỳ mà Hốt Tất Liệt lấy lại ngôi Đại Hãn và quyết định đưa Mông Cố vào thế giới văn minh của Trung Quốc, tách rời hay từ bỏ lối sống du mục . Nói cho công bằng, các Hãn quốc khác cũng bị đô thị hóa cùng lúc với Hãn quốc của Hốt tất Liệt tức là nhà Nguyên. Họ hòa nhập vào đời sống người dân xứ đó cho nên có Hãn quốc theo đạo Hồi và văn hóa Trung Đông, cũng có Hãn Quốc theo Đạo Phật. Họ bị phân cực và hàu như đông hóa với nền văn minh của dân bản địa.

Ở Trung Á và Ấn Độ, Dân Mông Cổ được đề cập trong bài viết” Mông Cổ Thời Phân Cực “ vừa qua.. Và tại Trung Hoa, Triều đinh Mông Cổ được gọi tên mới là nhà Nguyên..

Nhưng còn ở Thảo Nguyên thì sao? Đây là vùng nảy sanh ra Đế Quốc Mông Cổ oai hùng,Còn sót lại nhiều người, nhiều chiến binh bất mãn vì không ưng chịu sự thay đổi đô thị hóa này. Họ muốn giữ truyền thống quân sự, cách sống Du mục, cách mà người Mông Cổ chinh phục và điều hành thế giới. Họ chiến đấu giử lại đặt thù Chiến binh Mông Cổ. Tiêu biểu là cuộc chiến hàng mấy chục năm giũa HẢI ĐÔ (Kaidu) và Hốt Tất Liệt (Kublai)
Như đã trình bày trong những tập trước vào thời kỳ Hốt Tất Liệt mưu định dời đô về Đại Đô ( Bắc Kinh) sau cuộc tranh giành ngôi Đại Hãn với người em ruột. Từ Karakorum (Hòa Lâm - kinh đô cũ), các dòng tộc con cháu của Thành Cát Tư Hãn khác bất phục Hốt Tất Liệt .Họ thống trị giang san riêng mà Thành Cát Tư Hãn để lại:

Thành Cát Tư Hãn có bốn người con: Triết Biệt , Sát hợp Đài, Oa khoát Đài, và Đà Lôi
Sau Thành Cát Tư Hãn mất đi. lãnh thổ được phân chia như sau:

- Con Trưởng Triết Biệt : quản thủ Hãn quốc Kim Trướng
- Con Thứ hai Sát Hợp Đài: quản thủ Hãn quốc Sát hợp Đài ở Trung Tâm Mông cổ:
- Con Thứ ba: Oa khát Đài được phong làm Đại Hãn kế nghiệp cha
- Con thứ 4: Đà Lôi (Phụ tá ) Trung Tâm Mông cổ , cố vấn tối cao của Đại Hãn

Khi Oa khoát Đài mất, truyền ngôi Đại Hãn cho con là Quý Đô
Quý Đô mất sớm Hội Đồng phế dòng Oa khắc Đài lập dòng Đà Lôi con là Mông Kha làm Đại Hãn
Mông Kha mất, một cuộc chiến tương tàn giữa Hốt tất Liệt và người em ruột là A lý bất Ca (Arig Boke) tranh giành ngôi Đại Hãn và sau cùng Hốt Tất Liệt chiến thắng trở thành Đại Hãn , Khởi đầu xâm chiếm Trung Quốc lập Nhà Nguyên

Thời Gian này, Hốt Tất Liệt ban cho em là Húc liệt Ngột cai trị một Hãn quốc mới: Hãn quốc Ý Nhi
Khi Hốt Tất Liệt tóm thâu nhà Nam Tống lập nhà Nguyên ở Trung Quốc, bị đồng hóa bởi văn minh đô thị thì tại Thảo Nguyên có một nhánh bất phục tùng. Họ nổi loạn và gây chiến với nhà Nguyên hàng chục năm trong số đó có Khả Hãn Hải Đô (Kaido)


Đến năm 1270 các Hãn quốc trở thành độc lập với nhau tách rời ảnh hưởng của Đại Hãn Trung Tâm Hốt Tất Liệt

Ở Thảo Nguyên: Hải Đô lúc này là Hãn thống lảnh địa giới Sát Hợp Đài. Ông đã từng giao chiến với lực lượng của Hốt Tất Liệt dai dẵng nhiều năm

Anh chị sẽ hỏi tại sao tôi đề cập mối quan hệ giữa Hứa Đô và Hốt Tất Liệt có vài nguyên nhân:

1. Huyết thống: Hứa Đô là cháu của Oa Khác Đài. dòng chánh Đại Hãn

Hốt Tất Liệt là dòng phụ từ người em của Oa khắc Đài là Đà Lôi

2. Hứa Đô cho là Hốt Tất Liệt phản bội dân tộc, từ bỏ cuộc chiến du muc, xa rời cuộc sống nguyên thủy của tổ tiên

Đặc biệt Công Chúa Hốt Thốc Luân( Khutulun) chính con gái của Hãn Hải Đô mà tôi dành riêng một bài giới thiệu với Anh chi ở chương tới
Bây giờ mình bàn đến

CUỘC CHIẾN GIỮA HẢI ĐÔ VÀ HỐT TẤT LIỆT

Cha của công chúa Khutulun chính là Hải Đô (Kaidu), một nhân vật cực kỳ đặc biệt trong lịch sử Mông Cổ. Nếu Hốt Tất Liệt là người đại diện cho sự "Hán hóa" và định cư, thì Hải Đô chính là ngọn cờ đầu bảo vệ lối sống du mục truyền thống của Thành Cát Tư Hãn.

Dưới đây là tình trạng của Mông Cổ ở Thảo nguyên (Quan ngoại) giai đoạn đó:

1. Hải Đô (Kaidu) – "Kẻ thù truyền kiếp" của Hốt Tất Liệt

Hải Đô (tiếng Anh: Kaidu; 1236 - 1301) là một vị thủ lĩnh quyền lực của người Mông Cổ thuộc dòng dõi Borjigin. Ông là cháu nội của Đại Hãn Oa Khoát Đài (Ögedei Khan) và là người cai trị thực tế của Hãn quốc Sát Hợp Đài (Chagatai Khanate) ở khu vực Trung Á

Hải Đô là cháu nội của Oa Khoát Đài (con trai thứ 3 của Thành Cát Tư Hãn). Ông không bao giờ công nhận ngôi vị Đại Hãn của Hốt Tất Liệt ( thuộc dòng Đà lôi).
Lý do: Hải Đô cho rằng Hốt Tất Liệt đã phản bội tổ tiên khi dời đô về Bắc Kinh, mặc Long Bào, và áp dụng thể chế cai trị kiểu Trung Hoa.

Minh họa Hải Đô

Căn cứ địa: Hải Đô xây dựng một "đế quốc trong đế quốc" tại vùng Trung Á (nay thuộc Tân Cương và Kazakhstan), lấy Thảo nguyên làm gốc. một phần lảnh thổ của Sát hơp Đài Hãn Quôc ( xem bản đô)

2. Tình trạng Thảo nguyên: Một "Bắc triều" đối lập

Trong khi Hốt Tất Liệt bận rộn chiêu hàng nhà Nam Tống và xây dựng cung điện nguy nga ở Đại Đô (Bắc Kinh ngày nay) thì tại vùng Thảo nguyên Quan ngoại rơi vào tình trạng nội chiến kéo dài hơn 30 năm:

Minh Họa Hốt Tất Liệt

Sự chia rẽ sâu sắc: Thế giới Mông Cổ bị xẻ đôi. Một bên là nhà Nguyên (Hốt Tất Liệt) giàu có nhưng đang dần mất đi bản sắc chiến binh; một bên là phe Hải Đô nghèo khó hơn nhưng cực kỳ thiện chiến và giữ vững truyền thống du mục.

Chiến trường khốc liệt: Vùng đất Mông Cổ và Trung Á trở thành bãi chiến trường. Hải Đô liên tục tổ chức các cuộc viễn chinh quây phá, đánh vào biên giới phía Bắc của nhà Nguyên.


Khutulun – Biểu tượng của Thảo nguyên: Con gái của Hải Đô, công chúa Khutulun, chính là minh chứng cho sức mạnh của người Mông Cổ "gốc". Bà không thêu thùa may vá trong cung điện mà cưỡi ngựa, bắn cung và đấu vật giỏi hơn bất kỳ nam nhân nào. Bà là cánh tay phải của cha trong các trận chiến chống lại quân đội nhà Nguyên của Hốt Tất Liệt.


3. Đời sống của người Mông Cổ ở Quan ngoại

Khác với sự xa hoa ở Trung Hoa, người Mông Cổ theo phe Hải Đô ở Thảo nguyên vẫn giữ nếp sống cũ:

Kinh tế: Dựa hoàn toàn vào chăn nuôi gia súc và cướp bóc chiến lợi phẩm từ các đoàn thương nhân trên Con đường Tơ lụa.

Chính trị: Họ duy trì hội nghị Khuraltai (Hội đồng các bộ lạc) để quyết định các việc lớn, thay vì nghe theo mệnh lệnh từ một hoàng đế ngồi trên ngai vàng kiểu Trung Hoa.

Tư tưởng: Họ coi những người Mông Cổ ở Trung Hoa là "những kẻ suy đồi", đã bị biến chất bởi lụa là và rượu ngon của người Hán.

Kết cục của cuộc đối đầu
Cuộc chiến giữa Thảo nguyên (Hải Đô) và Trung Hoa (Hốt Tất Liệt) chỉ thực sự hạ nhiệt sau khi Hải Đô qua đời vào năm 1301. Khutulun cũng mất không lâu sau đó.
Cuối cùng, phe Thảo nguyên suy yếu dần và phải chấp nhận thần phục nhà Nguyên về mặt danh nghĩa, nhưng ngọn lửa phản kháng và lối sống du mục chưa bao giờ tắt hẳn.


Chính nhờ sự kiên trì ở lại Quan ngoại của những người như Hải Đô và Khutulun mà bản sắc Mông Cổ không bị tan biến hoàn toàn vào văn hóa Trung Hoa trong suốt triều đại nhà Nguyên.

3. Bức tranh toàn diện về sự rạn nứt của Đế chế Mông Cổ

Khi nhìn vào phả hệ này, bạn sẽ thấy mâu thuẫn bùng nổ vì hai lý do chính:

Tranh giành chính thống: Theo di chúc của Thành Cát Tư Hãn, ngôi vị Đại Hãn phải thuộc về dòng dõi Oa Khoát Đài. Tuy nhiên, sau đó quyền lực bị dòng dõi Đà Lôi (Mông Kha và Hốt Tất Liệt) đoạt lấy.
Hải Đô (cháu nội Oa Khoát Đài) chiến đấu cả đời để đòi lại "công lý" cho chi tộc mình.

Xung đột văn hóa:

Phe Hốt Tất Liệt (Trung Hoa): Muốn cai trị theo lối định cư, dùng luật pháp, thu thuế và xây dựng thành quách.

Phe Hải Đô & Khutulun (Thảo nguyên): Coi thành thị là "mồ chôn" của chiến binh. Họ muốn giữ lối sống di động, lấy trời làm màn, lấy đất làm chiếu.

Kết luận:

Đế chế Mông Cổ thời Hốt Tất Liệt thực chất đã không còn là một khối thống nhất. Nó giống như một "Liên bang" của các Hãn quốc mà trong đó, sự thù địch giữa Hốt Tất Liệt và Hải Đô là minh chứng cho sự rạn nứt không thể hàn gắn giữa văn minh định cư và truyền thống du mục.


Hình dung rõ hơn về cuộc đối đầu "nồi da xáo thịt" nhưng đầy bi tráng này, chúng ta hãy nhìn vào những trận quyết chiến giữa Hải Đô (Thảo nguyên) và Hốt Tất Liệt (Trung Hoa).

Đây không chỉ là cuộc chiến giành ngôi vị, mà là cuộc chiến giữa Cung tên & Ngựa hoang đối đầu với Thành quách & Thuốc súng.

1. Chiến lược của hai phía

Phe Hải Đô (với sự trợ thủ của Khutulun): Sử dụng lối đánh "phi đối xứng". Họ không cần chiếm thành, họ chỉ đánh phá các tuyến tiếp tế, làm tiêu hao sinh lực quân nhà Nguyên rồi rút lui vào vùng sa mạc mênh mông nơi quân đội định cư không thể đuổi theo.

Phe Hốt Tất Liệt: Dùng ưu thế kinh tế. Ông xây dựng các đồn binh dọc biên giới phía Bắc (vùng Nội Mông ngày nay), dùng lương thực và tơ lụa để mua chuộc các bộ lạc nhỏ lẻ, dần dần cô lập Hải Đô.

Minh họa Hốt Tất Liệt

2. Trận chiến sông Orkhon (1289)

Đây là một trong những lần hiếm hoi Hốt Tất Liệt – lúc này đã già – phải thân chinh cầm quân lên phía Bắc.
Hải Đô và quân đội Thảo nguyên đã tiến sâu vào vùng đất tổ Mông Cổ, đe dọa Karakorum (Hòa Lâm - kinh đô cũ).

Trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt. Dù quân nhà Nguyên đông hơn và có vũ khí hạng nặng, nhưng sự thiện chiến của kỵ binh Thảo nguyên (với sự hiện diện của Khutulun trên chiến trường) đã khiến quân Nguyên khốn đốn.


Kết cục: Hốt Tất Liệt đẩy lùi được Hải Đô nhưng không thể tiêu diệt tận gốc. Thảo nguyên vẫn nằm trong tay phe truyền thống. Vì lý do này mà Hốt Tất Liệt từng treo thưởng '10 vạn lượng vàng và 1000 ngựa chiến' cho cho bất kỳ sát thủ nào lấy được đầu Khutulun.

3. Cái chết của Hải Đô và sự cô độc của Khutulun

Năm 1301, Hải Đô tổ chức cuộc viễn chinh lớn nhất đời mình nhắm vào vùng Nội Mông. Sau một trận chiến đẫm máu gần Karakorum (thủ đô truyền thống của Đế quốc Mông Cổ), ông bị trọng thương và qua đời trên đường rút quân.

Bà Khutulun lúc này mất đi điểm tựa lớn nhất. Các anh em trai của bà bắt đầu tranh giành quyền lực giành ngôi khả hản của Hứa Đô.

Thay vì khuất phục nhà Nguyên, bà chọn rút lui về vùng núi Altai, tiếp tục bảo vệ lăng mộ của cha và duy trì lối sống du mục cho đến khi qua đời (khoảng năm 1306) trong một hoàn cảnh còn nhiều bí ẩn.

Tầm vóc lịch sử: Tại sao câu chuyện này quan trọng?

Nếu Hốt Tất Liệt thắng tuyệt đối và đồng hóa toàn bộ người Mông Cổ vào văn hóa Trung Hoa, có lẽ ngày nay chúng ta không còn thấy một quốc gia Mông Cổ độc lập với bản sắc riêng biệt.

Chính nhờ Hải Đô và Khutulun:

Bảo tồn gen chiến binh: Họ giữ cho dòng máu du mục không bị "mềm yếu" đi bởi sự xa hoa của cung đình.

Duy trì địa danh: Vùng Quan ngoại (Outer Mongolia) vẫn là đất của người Mông Cổ, không bị sáp nhập hoàn toàn vào địa giới hành chính kiểu Trung Hoa.

Cảm hứng nghệ thuật: Hình tượng Khutulun mạnh mẽ đã trở thành nguyên mẫu cho vở nhạc kịch nổi tiếng Turandot (dù phiên bản này đã hư cấu đi rất nhiều).

KẾT LUẬN

Cái hay của lịch sử là ở chỗ: Người thắng trận (Hốt Tất Liệt) có được vinh quang nhất thời, nhưng người giữ vững đức tin (Hải Đô, Khutulun) lại để lại linh hồn cho một dân tộc.

Đặc điểm: Nhà Nguyên Phe Thảo Nguyên
Lãnh tụ: Hốt Tất Liệt Hải đô , Khutulum
Lý Tưởng Hòa nhập để cai Trị Giử gìn Truyền Thống Bản sắc
Thủ Phủ Đế Đô ( Bắc Kinh) Karakorum & Thảo Nguyên
Sức Mạnh: Tiền bạc, Nhân Lực Kỷ nghệ Kỷ năng kỵ xạ, ý chí sắt đá
Bị hủy diệt : nhà Minh Chu Nguyên Chương Gìn giử dòng huyết thống Mông Cổ
Đây là bài viết để hướng dẩn anh chị biết đến một nữ Hào Kiệt và một Chiến Thần mà sử sách khép lại với bà

Lê Minh Đức (YK6774) 
Sưu tầm và biên soạn

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2026

Vũ Điệu Dưới Mưa - Nhiếp Ảnh Gia Vũ Ngọc Hiến


Thưa quý anh chị em, xin được gửi tới quý anh chị em bộ hình "Vũ điệu dưới mưa" (Dancing under rain) chụp hôm qua nhân ngày Brazilla Day được tổ chức ở Parc La Fontaine. 

Xin được trình bày sơ về vụ chụp hình này. Theo dự báo thời tiết thì mưa giông sẽ đổ xuống từ sau 4 giờ chiều. Có mặt tại nơi tổ chức lúc 1PM30, trời nằng, chụp được khá hình ưng ý, nhưng mục đích chính là màn “Sampa” được trình diễn lúc 17H00. Khoàng 4Pm15, trời đổ giông, mưa như trú nước, khá giả bỏ chạy tứ tán, tôi mặc áo mưa vào và tìm đến một lều triển lãm trú tạm... 

Tưởng chương trình này giải tán, nhưng không ngờ đoàn vũ công vẫn ở lại trình diễn, lúc đó mới thấy tinh thần trách nhiệm của đoàn cao, nên mình là dân "Bất Khuất" mà... sợ sao, nên vác máy xông ra chụp những tấm này...

Kính


Vũ Ngọc Hiến