Tiếng Hát Đình Lộc
tiêu đề Nhãn
- BIÊN KHẢO
- CÂU ĐỐI
- CỔ THI
- GIA CHÁNH
- GIẢI TRÍ
- HÌNH ẢNH HỘI NGỘ
- HÌNH ẢNH NAY
- HÌNH ẢNH XƯA
- HỘI HỌA
- KHOA HỌC
- LƯU NIỆM
- LỊCH SỬ
- LỜI HAY Ý ĐẸP
- NHẠC
- SƯU TẦM
- SỨC KHOẺ
- THƠ
- THƠ CẢM TÁC
- THƠ DIỄN NGÂM
- THƠ DỊCH
- THƠ NHẠC
- THƠ PHỔ NHẠC
- THƠ SƯU TẦM
- THƠ TRANH
- THƠ TRANH NGHỆ SĨ
- TIN BUỒN
- TIN VUI
- VĂN
- VŨ HỐI THƯ HỌA
- VƯỜN THƠ VIÊN NGOẠI
- XƯỚNG HỌA
- YOUTUBE
Thứ Năm, 5 tháng 11, 2026
Mùa Thu Không Trở Lại - Sáng Tác:Phạm Trọng Cầu - Tiếng Hát Đình Lộc
Sáng Tác:Phạm Trọng Cầu
Tiếng Hát Đình Lộc
Tiếng Hát Đình Lộc
Gọi Tên Em Giữa Vàng Phai

Nắng buông dài cho chiều vàng tư lự
Lòng miên man, trầm mặc thả vào mây
Khắp núi đồi sương khói phủ ngàn cây
để thêm lắng không gian màu tĩnh vật!
Tôi gọi Em giữa muôn trùng trời đất
sao chỉ nghe đồng vọng thuở chia phôi!?
Lúc bão đời xua thân phận xa trôi
là dịu vợi từng dãi dầu mưa, nắng!
Hạc nội lìa trần. Mây ngàn phủ trắng
bến bờ xa trong cùng tận yêu thương
Lối chiêm bao còn chung bước, chung đường
mà nhân ảnh đã nhạt nhòa, xa vắng!
Một thoáng mơ vượt đường mây vạn dặm
mong thấy Em trong bảng lảng thu vàng
Nhớ phố xưa còn hun hút quan san
khi viên tịch đang về trên xứ lạ.
Hồn du tử trên hành trình muôn ngả
vẫn thầm gọi tên Em giữa vàng phai
Em nơi đâu?! Đây một mối tình hoài
thả theo gió, dật dờ trên cây, lá.
50 năm! Nhìn trời xa, đất lạ
nghĩ đến Sài Gòn sáng nắng, chiều mưa
Yên Đổ bây giờ vàng lá thu chưa
và Tân Định...Nhớ sao hồi chuông đổ?!
Xưa rộn rã bên giáo đường hạnh ngộ
Đường lá rơi phơn phớt nắng thu vàng
Chung cuộc đổi đời, san sẻ gian nan
Giờ miên viễn... Thương ơi chiều Đắc Lộ!
Huy Văn
(Để nhớ chiều thu Sài Gòn - 11/1976 và
Marie Thérèse Nguyễn Thị Bạch Yến R.I.P)
Đêm Thu
Đêm buông trăng sáng sân vườn
Gió thu se lạnh vương vương nổi buồn
Thẩn thờ nhìn lá vàng buông
Một trời kỷ niệm nhẹ luồng vào tim
Ngoài xa phiêu bạt cánh chim
Bao giờ mỏi cánh có tìm về chăng!
Thu xưa vằng vặc ánh trăng
Thu nay đối bóng chị Hằng và Ta
(cảm tác từ bài Đêm Buông của thi sĩ Thuy Nguyễn)
Giữ Tâm Bất Biến

thiện ác giả chân thật khó lường
kẻ giảng nghĩa nhân nhưng bá đạo
người rao tín lễ lại vô lương
bạc tiền được mất đừng lưu luyến
danh lợi bại thành chớ vấn vương
giữa vạn biến tâm luôn bất biến
thủy chung ngay thẳng giữ cương thường
nhất hùng
Bút Mực, Sách Vở Của Ngày Xưa - Nguyễn Khôi Việt
Khoảng năm 54-65 học trò cấp Tiểu học miền Nam chép bài ở lớp thường dùng hai loại ngòi viết: lá Mít và lá Tre. Như trong hình "ông" học trò đang viết bằng ngòi bút lá Mít, vì nó lớn, thô hơn ngòi lá Tre, có góc cạnh tam giác hai bên ngòi viết. Ngòi lá Tre nhỏ mảnh, được ưa chuộng hơn ngòi lá Mít vì viết chữ sắc nét, và nét to nhỏ tùy theo người viết đè mạnh hay nhẹ trên ngòi bút. Người Bắc gọi là "quản bút" cho cây bút lúc không có ngòi, người Nam gọi là "cán bút". Còn khi đã có cắm ngòi sẵn sàng. Bắc hay Nam gì cũng gọi là cây bút hoặc cái bút. Lúc có tiền mẹ cho, tôi thường đi kiếm mua những cây "quản bút" đẹp ở tiệm sách gần nhà, có cây được quét véc ni với vài bông hoa nhỏ xíu, cây khác được trang điểm bằng sơn xanh đỏ đủ màu.
Trong cặp tôi lúc nào cũng có ít nhất là 4 cây quản bút và ngòi bút khác nhau. Để phòng khi bút rơi xuống sàn bị "toè" ngòi là chuyện rất thường xảy ra. Cũng không thể quên được ngòi bút "rông" chỉ dùng để viết đầu bài.
Chắc hồi đi học, ai cũng có những thương yêu thân thuộc với những đồ vật lúc tới trường như cặp, sách hoặc tập vở để viết bài, như tập vở có hình Xích lô máy là loại vở viết có phẩm chất rất cao rất được ưa chuộng, nó khác những cuốn sách viết bình thường là được đóng gáy màu đen. Mở cuốn tập ra, nhìn trang giấy trắng muốt và ngửi mùi thơm kỳ lạ bốc lên, là một niềm mê man ngây ngất của tôi lúc có một cuốn vở mới.
Vở Olympic có hình Lực sĩ cũng tốt nhưng vẫn xếp hạng hai sau Xích Lô Máy. Vở có hình con Nai cũng tốt nhưng dù sao vẫn tốt hơn bất cứ loại vở nào sau 1975. Bây giờ tôi nghĩ không có tập vở viết nào ở Việt Nam hiện nay có thể qua mặt được phẩm chất của vở viết mang hiệu "Xích lô máy" ngày xưa. Phần thưởng học sinh xuất sắc những năm Tiểu học của hầu hết các trường miền Nam đều là một bảng đen, hộp phấn, một hộp bút chì và khoảng một chục cuốn "Xich Lô máy". Điều cần nói thêm là mọi cuốn vở viết đều có in Bảng Cửu Chương ở bìa sách đằng sau.
Nói về bút xong phải nói bình mực. Hồi ấy học trò đến trường gần như tay chân quần người nào cũng dính mực, vì mở nắp bình mực ra bị dính vào tay, nên cứ chùi vào quần áo, bàn ghế, bất cứ chỗ nào. Thậm chí còn nghịch ngợm chùi vào áo bạn bè, rồi sau đó lúc ra chơi, thế nào cũng đánh nhau.
Bình mực như trong hình đi kèm, dễ bị rò mực ra ngoài, gây lấm lem quần áo và dễ vỡ vì làm bằng thủy tinh. Đến năm 60 thì bình mực không đổ hiệu Hondo ra đời, thay thế hoàn toàn bình mực cũ vì làm bằng nhựa plastic nhẹ nhàng, cấu tạo của bình mực tuy rất đơn giản nhưng hợp lý để lỡ có nghiêng, hoặc dốc bình mực xuống cũng không đổ mực ra được. Nhớ không lầm tôi là học sinh đầu tiên của lớp vênh váo cầm bình mực Hondo vào lớp, mở ra và biểu diễn dốc ngược bình mực xuống mà không đổ mực ra, trong những cặp mắt thèm thuồng ganh tị của bạn bè.
Lại phải nói đến mực. Chỉ có hai loại mực xanh và mực tím dùng trong lớp. Được đóng thành viên như viên thuốc. Mua về bỏ vào nước lạnh cho tan ra rồi đổ vào bình thôi. Còn một loại mực tím được các cô, và các các chàng có tâm hồn lãng mạn ưa thích vì màu của nó tím "cả chiều hoang biền biệt". Loại này ở trạng thái giống như cát hoặc đôi khi lục cục như những hạt đậu để trong những túi nilon nhỏ. Và mua nó cũng mắc hơn loại mực viên thông thường.
Sau có mực đen của mực Mỹ hiệu Waterman, nhưng mực này chỉ dùng để hút vào bút máy. Thời gian này đã bước vào trung học rồi. Ít có ai mang bút chấm mực đi học. Bây giờ là thời của bút máy Pilot, Parker. Tôi nhận xét thấy bút Pilot được các cô ưa chuộng vì nó nhỏ ốm thanh thanh thường có màu xanh đậm hay tím. Bút Parker được phái nam ưa thích vì hình dáng của nó mạnh mẽ, hào nhoáng hơn bút Pilot. Ngoài ta còn có bút Kaolo, loại này không thịnh hành mấy vì cây bút to không đẹp, nét bút lớn và thô, chắc tại ngòi nó làm bằng thủy tinh. Nhưng loại bút này cũng có cái độc đáo riêng của nó, là khi mở nắp để viết, phải xoay ở cuối cây viết, ngòi của nó sẽ trồi lên, có hình dáng xoáy ốc của một ngọn đuốc. Thứ đến là nó viết rất êm, tuy nét thô cứng nhưng mạnh bạo nghiêm khắc, nên tôi thấy rất nhiều thầy dùng bút đó để ký tên và chấm điểm.
Ngòi bút có ảnh hưởng gì đến chữ viết không? Có chứ, chắc chắn thế. Bất cứ ai trong chúng ta cũng biết điều đó. Cho nên sau này khi loại bút nguyên tử, tức là bút Bic ra đời. Học sinh cấp tiểu học vẫn không được phép dùng, vì nó sẽ làm cho học sinh không thể viết được một dáng chữ đẹp.
● Ngày xưa đẹp đẽ ấy, thể chế thanh bình nhân bản ấy, đã lo lắng đào tạo con người từ những góc cạnh căn bản nhỏ bé nhất.
Nguyễn Khôi Việt
Thứ Tư, 4 tháng 11, 2026
Phải Không Em? - Thơ: Song Châu Diễm Ngọc Nhân - Nhạc: Nguyễn Văn Thành - Tiếng Hát:An Minh
Thơ: Song Châu Diễm Ngọc Nhân
Nhạc: Nguyễn Văn Thành
Tiếng Hát:An Minh
Nhạc: Nguyễn Văn Thành
Tiếng Hát:An Minh
Xin Bình An
Để đêm về nằm mộng thấy trăng sao,
Cho mùa xuân thắm hồng lên tuổi ngọc
Đời trầm luân em còn chút ngọt ngào.
Xin cho em trở về ngày xanh cũ,
Thuở học trò trong ánh mắt chưa lo,
Áo trắng bay thân chẳng lấm bụi mù
Màu nắng hạ sân trường đầy phượng đỏ.
Xin cho em quãng thời gian diệu vợi
Thả con diều bay vút đến chân mây
Chiều hoàng hôn nắng ngả tím cuối trời
Nắng vàng nhẹ trên những hàng bông giấy.
Xin cho em bình yên làm cỏ dại,
Vẫn cho đời màu hương sắc hồn nhiên
Cho em quên khúc nhạc sầu tê tái
Theo dòng sông chảy hết những nỗi niềm.
Đỗ Bình
Gặp Em
Nhưng mà luống cuống rụng rời tay chân
Vân vê đứng lặng tần ngần
Nhìn theo tiếc nuối tâm thần ngẩn ngơ.
Vụng về đêm đến làm thơ,
Những hờn vớ vẩn những ngơ ngẩn buồn
Vu vơ sầu vấn tơ vương
Mênh mang nỗi nhớ khói sương mịt mờ.
Nhìn theo em dáng hững hờ
Đau lòng ôm lấy hư vô cõi sầu
Em đâu em hỡi em đâu
Một mình trống vắng riêng sầu bơ vơ
Bước đi từng bước thẫn thờ
Tự mình chuốc lấy tự vơ vào mình.
Tại ta cái giống đa tình,
Cũng đành chấp nhận một mình đau thương.
Saigòn 1962
Tha Nhận
Giai Thoại Văn Chương: Những Câu Đối Thú Vị Của Các Danh Lam(1)
DANH LAM 名藍 : DANH 名 là Tên, là Nổi Tiếng; Như DANH TÍNH 名姓 là Tên Họ; DANH SƯ 名師 là Thầy giỏi; DANH CA 名歌 là Ca sĩ nổi tiếng... Còn LAM 藍 là do từ GIÀ LAM nói gọn lại. GIÀ LAM 伽藍 là Chùa Phật. § Phiên âm chữ Phạn "samgharama", gọi tắt là “LAM”, nghĩa là nơi thờ “Phật” 佛, là Chùa chiềng. Trong Truyện Kiều thì cụ Nguyễn Du lại gọi là "GIÀ", khi tả Thúy Kiều ở Chiêu Ẩn Am với sư Giác Duyên cụ đã viết:
Gió quang mây tạnh thảnh thơi,
Có người đàn-việt lên chơi cửa GIÀ
Nên...
NHỮNG CÂU ĐỐI THÚ VỊ CỦA CÁC DANH LAM là "Những câu đối thú vị của những ngôi chùa nổi tiếng". Đó là những ngôi chùa nào và những câu đối thú vị ra sao; Ta sẽ lần lượt điểm qua các danh lam và câu đối sau đây:
1. Chùa Dũng Tuyền ở Phúc Châu 福州湧泉寺 PHÚC CHÂU DŨNG TUYỀN TỰ:
Chùa DŨNG TUYỀN trên Cổ Sơn của thành phố Phúc Châu (tỉnh Phúc Kiến), được xưng tụng là "Ngôi chùa hạng nhất của xứ Mân Nam". Chùa được xây dựng từ năm Kiến Trung thứ tư đời Đường Đức Tông (783); Lúc đầu có tên là Hoa Nghiêm Tự, sau được vua Tống Chân Tông (915) đổi tên thành "Dũng Tuyển Thiền Viện 涌泉禪院", đến năm 1699 vua Khang Hy mới ngự ban ba chữ vàng tên DŨNG TUYỀN TỰ 湧泉寺. Trước sơn môn (cổng tam quan) của chùa có một đôi câu đối rất hay như sau :
淨地何須掃; Tịnh địa hà tu tảo;
空門不用關. Không môn bất dụng quan.
Có nghĩa:
Đất Tịnh sao phải quét?
Cửa Không chẳng đóng đâu!
TỊNH ĐỊA 淨地 hay TỊNH THỔ 淨土 chỉ "Đất Phật thanh tịnh". Tiếng Phạn gốc là Buddhakṣetra; Hai chữ "Thanh Tịnh 清淨" đều có 3 chấm Thuỷ 氵bên trái, nên THANH là Trong; TỊNH là Sạch; THANH TỊNH là rất trong sạch yên tĩnh. Còn...
KHÔNG MÔN 空門 là Cửa Không, tiếng Phạn là Śūnyatā-vumukhamsa, có nghĩa là "Cửa giải thoát bằng tính không", là Cửa của Phật Giáo, là Cửa của nhà Chùa.
Câu đối hay và thú vị ở chỗ...
* "淨地何須掃 Tịnh địa hà tu tảo" là đất Phật đã trong sạch lắm rồi, nên sao lại cần phải quét nữa ?
* "空門不用關 Không môn bất dụng quan" Cửa chùa là cửa của Tứ Đại Giai Không, là Không có gì cả rồi nên cũng không cần phải đóng mà chi !
Thực ra thì sau cổng chùa là một con đường lát đá xanh với hai hàng cây rậm rạp, đến mùa thu thì lá vàng rụng đầy, nhưng những trận gió núi của mùa thu rạt rào thổi bay tất cả những lá vàng xuống núi, nên không cần phải quét tước gì cả ! Và vì những trận gió núi rất mạnh đó thường thổi sập các cánh cửa chùa, nên cổng chùa cũng không có làm cửa mà chi. Hơn nữa đã bảo là KHÔNG MÔN rồi mà còn có gì sợ mất nữa đâu !
Vừa nêu được ý thiền và triết lý của nhà Phật, lại vừa hợp với hoàn cảnh thực tế, quả là một câu đối vừa giản dị, vừa sâu xa, vừa thú vị!
2. Chùa Phổ Tế ở Phổ Đà Sơn 普陀普濟寺 PHỔ ĐÀ PHỔ TẾ TỰ:
PHỔ TẾ TỰ 普濟寺 là chùa thờ Quan Thế Âm Bồ Tát lớn nhất ở trên núi Phổ Đà thuộc Thành phố Chu Sơn tỉnh Chiết Giang, là một trong ba chùa lớn nhất trên Phổ Đà Sơn. Chùa được xây dựng từ thời nhà Đường, trải qua các triều Tống, Nguyên, Minh, đến đời vua Khang Hy của triều Thanh mới chính thức có tên là "PHỔ TẾ THIỀN TỰ 普濟禪寺". Trong chùa có đôi câu đối nổi tiếng do môt nhà sư, nhà thơ (thi Tăng) Tô Mạn Thù 蘇曼殊 làm ra. Câu đối như sau :
乾坤容我靜, Càn khôn dung ngã tĩnh,
名利任人忙. Danh lợi nhậm nhân mang.
Có nghĩa :
Trời đất để ta yên,
Danh lợi mặc người bận.
CÀN KHÔN là Âm Dương, là Trời Đất; DUNG là Bao Dung che chở; TĨNH là Yên tịnh. Trời đất bao la luôn dung nạp cho ta được yên tĩnh, không bị dao động bởi thế giới xô bồ xô bộn bên ngoài.
DANH LỢI là Tiếng tăm và sự Giàu có thì mặc cho người đời tất bật bôn ba để mà giành giựt cầu mong, để tranh Danh đoạt Lợi.
Câu đối nhằm khuyên ta đừng qúa xem trọng lợi danh mà phải biết chừng mực giữ cho tâm hồn được thanh tịnh bình ổn; Không phải khuyên ta tiêu cực mà muốn thức tỉnh ta biết dừng đúng lúc, đừng cứ nhắm mắt nhắm mũi mà lao vào vòng danh lợi, rồi đến khi mất tất cả mới van vái cầu xin với Quan Thế Âm Bồ Tát để cứu khổ cứu nạn.
3. Chùa TUỆ TẾ ở Phổ Đà Sơn 普陀山慧濟寺 PHỔ ĐÀ SƠN TUỆ TẾ TỰ:
TUỆ TẾ TỰ 慧濟寺 cũng là một trong ba Đạo tràng thờ Quan Thế Âm Bồ Tát lớn nhất nằm trên Phổ Đà Sơn của tỉnh Chiết Giang. Chùa được khởi xây từ đời nhà Minh bởi tăng nhân Viên Tuệ; Lúc đầu chỉ là một cái am, đến đời Càn Long nhà Thanh (1793) mới phát triển thành tự, và chính thức mở rộng từ đời vua Quang Tự (1907) thành TUỆ TẾ TỰ. Trước điện thờ Phật Mẫu Quan Âm có một đôi câu đối như sau:
自在自觀觀自在; Tự tại tự quan quan tự tại;
如來如見見如來. Như lai như kiến kiến như lai.
QUAN TỰ TẠI BỒ TÁT 觀自在菩薩 và QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT 觀世音菩薩 là cùng một vị Bồ Tát, tên tiếng Phạn là Avalokiteśvara :
- QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT 觀世音菩薩 do Thiền sư người nước Thiên Trúc là Cưu Ma La Thập 鳩摩羅什 (Kumārajīva) dịch từ đời Đông Tấn, khi Phật giáo vừa truyền vào Trung Hoa chẳng bao lâu. QUAN THẾ ÂM có nghĩa : Quan sát và nghe ngóng những tiếng kêu thương khổ nạn của chúng sinh để mà cứu rổi, nên tên vị Bồ Tát nầy còn được gọi là : CỨU KHỔ CỨU NẠN QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT.
- QUAN TỰ TẠI BỒ TÁT 觀自在菩薩 là do sư Trần Huyền Trang pháp danh Tam Tạng đời Đường, căn cứ vào "Câu đầu tiên của Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh 般若波羅蜜多心經" là :"QUAN TỰ TẠI BỒ TÁT hành thâm bát nhã ba la mật đa thì...觀自在菩薩,行深般若波羅蜜多時... là phép tu tập về lục căn thông suốt với nhau, như có thể dùng tai để nhìn và dùng mắt để nghe được... gọi là ĐẠI TỰ TẠI 大自在. QUAN là quan sát, xem xét; TỰ TẠI là Thong dong tự tại, không bị gò bó trói buộc gì cả. Nên...
自在自觀觀自在; Tự tại tự quan quan tự tại;
... là :
Tự do tự tại mà tự thong dong quan sát lấy mình.
- NHƯ LAI 如來 là Như thực nhi lai, bất sanh bất diệt. Chỉ bản tánh vốn có của con người khi đến với thế gian nầy, là Phật tánh đó; Nên NHƯ LAI là Phật Đà, là Phật Như Lai. Khi con người buông bỏ được hết những lục dục thất tình, không còn chìm đắm trong mê muội nữa là sẽ...Kiến Như Lai, sẽ thành Phật đó. Nên...
如來如見見如來. Như lai như kiến kiến như lai.
... là :
Nếu được như lúc mới đến với thế gian nầy, thì là đã thấy Như Lai rồi.
( Nếu thấy được mình như lúc mới sinh ra là đã thành Phật rồi đó !)
Nói theo Nho giáo là : Nhân chi sơ, Tính bản thiện. Cái tính vốn Thiện của Nho gia chính là Phật tính trong Phật giáo đó.
4. Câu đối trước QUAN ÂM ĐỘNG ở Phòng Huyện của tỉnh Hồ Bắc 湖北房縣觀音洞對聯:
QUAN ÂM ĐỘNG ở Phòng Huyện của tỉnh Hồ Bắc nằm cách huyện thành 3km dưới chân núi Phụng Hoàng Sơn. Chùa được xây dựng từ đới Đường Trung Tông (688) trước một động đá thiên nhiên, được trùng tu năm 1995 và được xếp vào Di tích Văn hóa cấp Quốc gia. Trước động chùa có câu đối đầy thiền ý như sau:
見見見,非見非見,見非見; Kiến kiến kiến, phi kiến phi kiến, Kiến phi kiến;
聞聞聞,不聞不聞,聞不聞. Văn văn văn, bất văm bất văn, văn bất văn.
Diễn Nôm:
- Thấy thấy thấy, không thấy không thấy, thấy cái không thấy;
- Nghe nghe nghe, Không nghe không nghe, nghe cái không nghe.
Có nghĩa:
- Thấy tất cả, cũng như không thấy gì cả, chỉ thấy những cái mà không đáng thấy, những cái mà người thường không thấy được : Cái lòng thành và tĩnh lặng, cái bản chất và chân như của sự vật sự việc.
- Nghe tất cả, cũng như không nghe gì cả, chỉ nghe những cái không đáng nghe, những cái mà người thường không nghe được : Những tạp âm và lời sáo rỗng, để buông bỏ và giữ cho nội tâm được thanh thản tĩnh lặng.
5. Chùa LINH ẨN ở Hàng Châu 杭州靈隱寺 Hàng Châu Linh Ẩn Tự:
HÀNG CHÂU LINH ẨN TỰ 杭州靈隱寺 nằm dưới cúi Linh Ẩn sơn của tỉnh Hồ Bắc ở mặt bắc của Tây Hồ, do nhà sư Tuệ Lý người Ấn Độ sáng lập nên từ Hàm Hòa nguyên niên (326) đời Đông Tấn. Đôi câu đối nổi tiếng nhất trong chùa là:
人生哪能多如意; Nhân sinh nả năng đa như ý;
萬事只求半稱心. Vạn sự chỉ cầu bán xứng tâm!
Có nghĩa:
- Người đời sao được đều như ý;
- Muôn việc chỉ cầu được nửa thôi !
Rất thực tế và rất nhân bản, không triết lý cao siêu xa vời mà khuyên răn thẳng với cuộc sống của con người...
Trong cuộc sống của người đời, làm sao có được tất cả mọi điều đều đúng như ý nguyện của mình cả cho được, nên phải biết có chừng mực mà đừng van vái đòi hỏi quá nhiều ở Thần Thánh phù hộ cho có được tất cả...
Muôn việc tính toán mong cầu, nếu tất cả đều được thành công và gặt hái được một nửa kết quả là đã "qúy hóa" lắm rồi. Lòng tham của con người không đáy, đòi hỏi tối đa thì Tiên Phật gì cũng khó mà đáp ứng cho nổi!
6. Chùa Đàm Chá ở Bắc Kinh 北京潭柘寺 BẮC KINH ĐÀM CHÁ TỰ:
ĐÀM CHÁ TỰ 潭柘寺 ở ngoài cửa đông nam của Bắc Kinh dưới chân núi Đàm Chá sơn, là chùa có niên đại kiến trúc lâu đời nhất của kinh thành Bắc Kinh, do Long ĐÀM là Đầm Rồng và CHÁ Thọ là một loại cây dâu tằm ăn ghép lại mà thành tên núi và tên chùa. Chùa Đàm Chá được xây dựng từ năm Vĩnh Gia nguyên niên (397) đời Tây Tấn. Trong chùa có điện thờ Phật Di Lặc, ông Phật mà trên vai luôn vác cái bao vải (Bố Đại Hòa Thượng 布袋和尚 là Hòa Thượng túi vải) và mặt thì luôn luôn có nụ cười toe toét, với đôi câu đối thú vị như sau :
布袋全空容甚物 ? Bố đại toàn không dung thậm vật?
跏趺半坐笑何人 ? Gia phu bán tọa tiếu hà nhân?
Có nghĩa:
- Túi vải trống không chứa thứ gì?
- Xếp chân ngồi nửa cười ai đây?
"Túi Vải trống không" và "Xếp chân ngồi cười" là buông bỏ tất cả, cỏi lòng thanh thản, tứ đại giai không nên lòng không còn vướng bận gì cả luôn nhìn đời với một nụ cười từ bi bác ái... Ta hãy đọc tiếp thêm một đôi câu đối sau để thấy được lòng bao dung hỉ xả của đức Tôn Phật Di Lặc :
大肚能容,容天下難容之事; Đại đổ năng dung, dung thiên hạ nan dung chi sự;
開口便笑,笑世間可笑之人. Khai khẩu tiện tiếu, tiếu thế gian khả tiếu chi nhân.
Có nghĩa :
- Bụng to nên chứa được, chứa được những điều mà thiên hạ không chứa được;
- Mở miệng bèn cười, cười những người đáng được cười trên thế gian nầy.
DUNG 容 là chứa đựng, là chịu đựng, nên cũng có nghĩa là BAO DUNG 包容, là tha thứ cho lỗi lầm của người khác. Bụng to nên chứa được hết những điều mà thiên hạ không thể chứa được, bao dung hết những điều mà thiên hạ không thể bao dung được.
TIẾU 笑 là cười vui, là cười cợt, nên cũng có nghĩa là cười châm biếm, cười mỉa mai, cười xí xóa hết thảy những người đáng "bị" cười trên thế gian nầy.
Ý thiền thật giản dị nhưng lại sâu sắc vô cùng!
7. Chùa Thiên Phật Tự ở Tế Nam 濟南千佛寺 TẾ NAM THIÊN PHẬT TỰ:
THIÊN PHẬT TỰ 千佛寺 còn được gọi là HƯNG QUỐC THIỀN TỰ 興國禪寺 nằm trên triền núi của Thiên Phật Sơn thuộc Thành phố Tế Nam của tỉnh Sơn Đông. Chùa được xây dựng trong những năm Khai Hoàng của đời nhà Tùy (581-600) lúc Phật giáo đang hưng thịnh, nên tín đồ khắc rất nhiều tượng Phật từ chân núi đến cửa chùa, nên mới gọi là Chùa Thiên Phật, là "Chùa có cả ngàn ông Phật", và cũng vì thế mà núi cũng có tên là Thiên Phật Sơn (Núi có hàng ngàn ông Phật).
Trước cổng sơn môn của nhà chùa có đôi câu đối nổi tiếng do Cử nhân Dương Triệu Khánh 楊兆慶 đời nhà Thanh làm ra như sau:
暮鼓晨鐘驚醒世間名利客; Mộ cổ thần chung, kinh tỉnh thế gian danh lợi khách;
經聲佛號喚回苦海夢迷人. Kinh thinh Phật hiệu, hoán hồi khổ hải mộng mê nhân.
Có nghĩa:
- Trống chiều và chuông sớm, làm giật mình thức tỉnh những khách danh lợi trong thế gian nầy;
- Tiếng kinh và tiếng niệm Phật, gọi những người còn mê đắm trong biển khổ hãy quay đầu về.
"MỘ CỔ THẦN CHUNG" ta quen nói thành "Mõ sớm chuông chiều". Tiếng mõ sớm và chuông chiều vang lên như những lời nhắc nhở thức tỉnh chúng sinh buông bỏ vòng lợi danh phiền não, trở về với chân tâm thanh tịnh không màng chen chúc trong danh lợi được thua phiền não nữa. Và...
"KINH THINH PHẬT HIỆU" ta thường nói là "Cầu kinh niệm Phật". Cầu kinh niệm Phật là một hình thức thực hành tâm linh trong Phật giáo nhằm giúp tâm trí an tịnh, chuyển hóa phiền não, cầu bình an cho bản thân và gia đình, đồng thời cũng giúp cho những người còn chìm đắm trong biển khổ sớm quay đầu giác ngộ.
Hai bên điện thờ Tôn Phật Di Lặc còn có một đôi câu đối bất hủ như sau :
笑到幾時方合口 ? Tiếu đáo kỷ thời phương hợp khẩu?
坐來無日不開懷 ! Tọa lai vô nhật bất khai hoài!
Có nghĩa:
Cười đến bao giờ thì mới khép miệng lại ?
Ngồi đây thì không ngày nào là không vui lòng cả!
Phật Di Lặc là Tiếu Phật 笑佛, là ông Phật Cười. Còn KHAI HOÀI 開懷 là "Mở lòng ra", là để lòng rộng mở, cũng có nghĩa là rất "Vui Vẻ, Thoải Mái" nữa.
"Cười đến bao giờ thì mới khép miệng lại ?" Có nghĩa cười mãi không bao giờ khép miệng lại cả, với triết lý là "Nhân sinh thường lạc 人生常樂" Đời sống con người là vui vẻ, nên phải luôn vui vẻ mà sống và luôn luôn mở rộng tấm lòng với tất cả mọi người, mọi hoàn cảnh, mọi tình huống... để mà lạc quan vui sống.
Hẹn bài viết tới!
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức
Thứ Hai, 2 tháng 11, 2026
Tạ Ơn Cha Mẹ

Ơn Dưỡng dục…sông dài biển rộng
Phận bé bỏng…lấy gì đền đáp
Xin dâng lòng, trọn Đạo Hiếu Trung!
Cây có cội, nước có nguồn
Cha, Mẹ…như dòng suối tràn tuôn
Máu trong tim con…còn hơi ấm
Làm sao quên được Tổ Tông!
Mầm yêu thương…Sự sống lòng con
Hơi Trầu cau…diệu mát tâm hồn
Diều con…dòng đời xuôi ngược
Mỗi bước đi…xao xuyến đồi non!
Xin mãi… Tạ ơn đất trời !
Chiếc lá vàng…giữa nắng chiều rơi
Con đã hết lòng… phụng dưỡng
Chu tròn Chữ Hiếu…Đạo làm người
Giờ đây biền biệt cách xa…
Bờ Đại dương…mây trắng là đà
Ngày đêm con luôn thương nhớ
Nén hương lòng…giọt lệ tuôn sa…
Tô Đình Đài
Dòng Sông
Đã quyết ra đi chẳng trở về
Quê nhà, chỉ cách biển bên kia
Mà sao cũng giống bao năm trước
Bến Hải dòng sông lỡ hẹn thể
Một sớm chào nhau giá lạnh sương
Mang theo kỷ niệm ngày thân thương
Thời gian như nước trôi trôi mãi
Nỗi nhớ, tình quê mãi vấn vương
Sống ở quê người mấy mươi xuân
Tình quê, tình nước dẫu nguội dần
Bên lòng canh cánh niềm đau cũ
Tháng bốn ba mươi lúc tàn quân ….
Nơi đây cũng có những dòng sông
Nhưng như cô lái đã theo chồng
Lòng còn vương vấn bóng tình quân
Tôi nhớ quê nhà, nhớ dòng sông…
Sao Khuê
Những Điều Nghịch Lý Của Cuộc Sống Hiện Nay
Có câu truyện về một người cưỡi một con ngựa đang phi như bay trên đường. Khi anh và con ngựa chạy ngang qua một khu phố, có vài người đứng bên đường thấy vậy gọi với theo, "Anh kia có việc gì phải đi đâu mà vội vã thế?" Anh ta ngoái đầu lại và nói lớn, "Tôi cũng không biết nữa, hỏi con ngựa kìa!" Sự tiến bộ trong xả hội của chúng ta ngày nay cũng được ví giống như con ngựa trong câu truyện ấy, chúng ta đang phi như bay nhưng có biết mình đang đi về đâu chăng?
Theo tôi nghĩ thì những phát minh, sáng tạo mới của khoa học giúp cho cuộc đời bớt đi những tật bệnh, làm vơi bớt khổ đau là một điều rất tuyệt vời và vô cùng quý báu cho nhân loại. Nhưng chúng ta cũng đừng quên đi những nguyên nhân sâu xa của khổ đau.
Nếu như những “tiến bộ” ấy lại vô tình khiến ta tách rời xa sự tốt lành tự nhiên, thì ta cũng cần nên phải thận trọng. Ông Bob Moorehead, một tiến sĩ về thần học ở Hoa kỳ có những nhận xét như sau, về những điều nghịch lý của thời đại ngày nay, “Điều nghịch lý của thời đại ngày nay là chúng ta có những toà nhà cao hơn nhưng sự kiên nhẫn lại ngắn hơn, ta có những xa lộ rộng lớn hơn nhưng cái nhìn lại nhỏ hẹp hơn.
Chúng ta tiêu xài nhiều hơn nhưng có được ít hơn, mua sắm nhiều hơn nhưng thưởng thức lại kém hơn. Ta có căn nhà to rộng hơn nhưng gia đình nhỏ bé hơn; có nhiều tiện nghi hơn nhưng thời giờ ít ỏi hơn. Chúng ta có nhiều bằng cấp hơn nhưng hiểu biết lại giảm đi, ta dư thừa kiến thức nhưng lại thiếu sự xét suy; ta có thêm nhiều nhà chuyên môn nhưng cũng thêm biết bao nhiêu là vấn đề, có thêm thuốc men nhưng sự lành mạnh lại càng sụt giảm.
Thời đại ngày nay chúng ta uống rượu và hút thuốc quá nhiều, tiêu pha không tiếc nuối, thiếu vắng tiếng cười, lái xe quá nhanh, nóng giận rất dễ, thức rất khuya, dậy mệt mỏi, đọc sách rất ít, xem ti vi quá nhiều, và hiếm khi ta biết ngồi lại trong tĩnh lặng! Tài sản của ta tăng lên gấp bội phần, nhưng giá trị chúng ta cũng sụt giảm đi. Chúng ta nói quá nhiều, thương yêu quá ít, và hờn giận thì lại quá đỗi.
Chúng ta biết cách kiếm sống, nhưng không mấy ai biết sống. Chúng ta cộng thêm năm tháng vào đời mình, nhưng chỉ là năm tháng mà thôi. Chúng ta đã lên đến mặt trăng và trở về trái đất, nhưng rất khó bước qua bên kia đường để chào người hàng xóm mới. Ta chinh phục được thế giới bên ngoài nhưng không biết gì về thế giới bên trong. Chúng ta đã làm được rất nhiều việc lớn lao, nhưng rất ít việc tốt lành.
Chúng ta làm trong sạch không khí chung quanh, nhưng lại làm ô nhiễm tâm hồn mình. Chúng ta chia cắt được một hạt nguyên tử, nhưng chưa phá được thành kiến của chính mình. Chúng ta chia sẻ nhiều hơn, nhưng học được ít hơn. Chúng ta có nhiều dự án hơn, nhưng hoàn tất ít hơn. Chúng ta biết cách làm việc nhanh chóng, nhưng không biết cách đợi chờ; có nhiều người quen, nhưng ít ai là bè bạn. Chúng ta thiết kế thêm nhiều công nghệ điện toán, chứa thêm nhiều dữ kiện, có thêm thật nhiều tài liệu, nhưng sự truyền thông giữa con người mỗi ngày lại càng ít đi.
Ngày nay là thời đại của mì ăn liền, tiêu hoá chậm, con người cao lớn nhưng chí khí rất nhỏ, lợi nhuận thì rất sâu mà tình người thì rất cạn. Thời đại của hòa bình thế giới, mà nội chiến trong gia đình.
Đây là thời đại của gia đình với hai đầu lương nhưng trăm ngàn ly dị, nhà cửa khang trang nhưng hạnh phúc đổ vỡ. Đây là thời đại của những chuyến đi ngắn vội vàng, đồ xài chỉ một lần, đạo đức vứt bỏ, và những viên thuốc giải quyết cho mọi vấn đề, từ hưng phấn, đến lắng dịu, đến cái chết.
Đây là thời đại của những mặt hàng trưng bày ngoài cửa tiệm thì rất nhiều, nhưng trong nhà kho lại trống không. Đây là thời đại mà công nghệ có thể mang lá thư này đến thẳng với bạn và bạn cũng hoàn toàn tự do để chọn đọc nó hay xoá bỏ đi...
Nhưng xin bạn hãy nhớ bỏ thì giờ ra với người thương, vì họ sẽ không có mặt với ta mãi mãi. Hãy nhớ chọn những lời dễ thương với những ai đang ngước nhìn bạn nhiều ngưỡng phục, vì cô hay cậu bé đó rồi cũng sẽ lớn lên và rời xa ta.
Hãy nhớ ôm chặt người gần bên, vì đó là một món quà vô giá mà ta có thể ban tặng cho người khác, khi nó được xuất phát từ đáy tim mình, mà không tốn một xu nào.
Hãy nhớ nói lời thương yêu với những người thân yêu, và phải hết sức thật lòng mình. Một nụ hôn, một vòng tay ôm, sẽ chữa lành hết mọi vết thương khi nó phát xuất từ chính con tim.
Hãy nhớ nắm tay nhau và trân quý phút giây này, vì biết rằng tất cả sẽ không ở với ta mãi mãi. Hãy có thì giờ để thương nhau, để lắng nghe nhau, và nhất là hãy chia sẻ với nhau những ý tưởng đẹp nhất trong tâm mình.
Và nhất là bạn hãy luôn nhớ rằng, cuộc sống không phải được đo lường bằng con số hơi thở của mình, mà bằng những giây phút kỳ diệu trong cuộc đời đã mang hơi thở ấy bay cao.”
Minh Tánh Nguyễn Duy Nhiên
(Hãn Nguyễn Sưu Tầm)
Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2026
Thu - Thơ: Lê Minh Đức - Nhạc: Võ Tá Hân - Ca Sĩ: Diệu Hiền
Thơ: Lê Minh Đức
Nhạc: Võ Tá Hân
Ca Sĩ: Diệu Hiền
Nhạc: Võ Tá Hân
Ca Sĩ: Diệu Hiền
Paris Lá Vàng

Chiều nghiêng soi bóng nước,
Nghe hồn vương nắng thơ,
Đường phố lá rơi vàng
Trời xanh gió se lạnh, mùa thu trước bay xa,
Dòng sông Seine gợi sầu!
Xa xa chiếc lá gió cuốn bay về đâu ?
Trong sương nắng úa thoáng bóng ngôi tường xưa.
Để hồn ta chợt nhớ công viên xưa,
Những con đường hàng me xanh trút lá,
Chiều biển xanh nhìn lớp sóng nhấp nhô
Dòng thời gian làm mây nước mơ hồ!
Chiều nay trên phố nắng,
Nghe đời dâng ý thơ,
Mà ngỡ như cung đàn
Lòng bỗng nhiên thấy vui,
Paris vàng lối mộng,
Lá bay,em về đâu.
Đỗ Bình
27.10.2026
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)










