Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2026

Gặp Mẹ Trong Mơ - Thơ: Sa Chi Lệ - Diễn Ngâm: Thuyền Thu

Thơ: Sa Chi Lệ
Diễn Ngâm: Thuyền Thu

Đóng Cửa Tiếp Nàng Thơ

 
 

(Tiep theo Mở Cửa Tiễn Nàng Xuân)

Hân hạnh Nàng Thơ viếng Lão-gia
Mời an ngôi vị tiền sảnh nhà
Phân chia chủ khách cùng trao đổi
Ngọn bút thiên thần Xướng Hoạ ca
Mong ước Nàng Thơ sống với ta
Giúp cho vần điệu mãi thăng hoa
Tình yêu trong trắng và cao thựơng
Trăm năm sẽ trẻ mãi không già

CN-HNT , Mar.24.26 (100.101c)

Về Thăm Đà Nẵng - Chốn Cũ ...



Về Thăm Đà Nẵng

Ta về thăm lại dáng xưa
Dáng xưa không thấy-thấy mưa rơi nhiều
Ta về góc phố buồn hiu
Người thân không gặp -thấy người không quen-
Ta về đường cũ mất tên
Trường Phan* mất dạng-bạn hiền biệt tăm-
Ta về thăm lại dòng sông
Bến phà năm trước -bây chừ còn đâu?-
Ta về dừng lại bên cầu
Nhớ người em gái qua cầu năm nao
Em ơi em ở phương nào?
Còn trên dương thế hay vào hư vô?
Ta về thăm lại hàng sao
Trên đường Thống Nhất -dẫn sang cầu vồng
Cầu vồng nay đã hết vồng
Thành đường thẳng tăp -đi vào ngoại ô-
Ta về như giấc chiêm bao
Như chuyện Từ Thức ngày xưa về trần

Hoàng Long
*trường Phan Châu Trinh
***
Cảm Tác:

Chốn Cũ ...

Đà Thành xưa đã phai màu
Còn chăng ký ức con tàu năm xưa
Cầu Đỏ , kẻ tiễn người đưa
Uốn dòng Cẩm Lệ đò trưa khua chèo
Về đây anh , xóm mình nghèo
Đọt lang chấm mắm lèo tèo dăm con
\ Tay dằm miếng ớt xanh non
Vẫn mong đưa được miếng ngon vào lòng
Năm cách năm lúa đòng đòng
Có ai chăm chút thỏa công Mẹ trồng
Quê mình heo hút - Miếu Bông
Lơ thơ Thanh Quýt , đất nồng Cẩm Sa
Đôi lần về lại trường ta
Đưa chân khẽ bước lòng sa giọt ....buồn !

Thiên Phương


Trạng Nguyên Mạc Đỉnh Chi (1280 - 1346)


Mạc Đỉnh Chi

Đời Trần có Mạc Đỉnh Chi
Vóc người nhỏ bé dị kỳ hơn ai
Xấu tướng mà có biệt tài
Nói năng hoạt bát biện bài càng hay
Mấy phen đi sứ cõi ngoài
Lưỡng Trạng nổi tiếng danh bay nước Tàu
Ngài còn liêm khiết thanh cao
Của tiền phi nghĩa khôn xao lòng vàng
Gương trong ngọc trắng huy hòang
Làu làu kinh sử vẻ vang giống nòi...
(Khuyết Danh)

Trên đây là bài thơ mà người viết học trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư từ hồi còn để chỏm. Do đó không nhớ tên tác giả. Tuy nhiên, qua nội dung bài thơ, tg rất mực ngợi ca ông Mạc Đỉnh Chi.
Và cũng chính bài thơ trên đã gợi cảm hứng cho người viết biên soạn Danh Nhân tiểu truyện này.

Tiểu sử: Mạc Đỉnh Chi ( M Đ C )Tự là Tiết Phu, người tỉnh Hải Dương, giòng dõi Mạc Hiển Tích đời Nhà Lý, mồ côi cha từ nhỏ, nhân dạng tuy xấu, nhưng cực kỳ thông minh. Ông theo học với Hoàng đệ Trần Ích Tắc, và đỗ Tiến sĩ năm 1304 đời vua Trần Anh Tông. Đỗ đầu khoa, nên gọi: Trạng Nguyên.

Nhưng nhà vua không trọng dụng do ngoại hình . Biết bụng vua, Ô. làm bài phú "Ngọc Tỉnh Liên" dâng lên vua. Nội dung ví mình như hoa Sen quí trong Giếng Ngọc. Nhà vua xem xong, cả đẹp, phong chức dần lên tới Tả Bộc Xạ (Thượng Thư), hai lần đi sứ sang Nhà Nguyên, và ứng đối rất tài tình.
Ông đã cùng vua Nguyên xướng hoạ thơ văn rất tương đắc, được vua Nguyên chính tay chấp bút phong tặng"Lưỡng quốc Trạng Nguyên".

Mạc Đỉnh Chi người cương trực, thanh liêm, hết lòng vì dân vì nước. Ông làm quan qua ba đời vua: Anh Tôn, Minh Tôn, Hiến Tôn. Đời vua Trần Minh Tôn được phong Hành Khiển Nhập Nội (Thủ tướng)

Những giai thoại nói về MĐC:

1 - Ứng Đối: Khi vào bệ kiến vua Nguyên, nhà vua có câu đối:

NHẬT HỎA, VÂN YÊN BẠCH ĐÁN THIÊU TÀN NGỌC THỐ ( Mặt trời là lửa, mây là khói ban ngày đốt cháy vầng trăng )

Hiểu ý kiêu ngạo trịch thượng của vua Nguyên, để tỏ rõ khí phách của dân Việt, MĐC đối lại:
NGUYỆT CUNG, TINH ĐẠN HOÀNG HÔN XẠ LẠC KIM Ô ( Trăng là cung, sao là tên chiều tối bắn rơi mặt trời )
Rất là tuyệt, nói theo Kim Dung rất là độc chiêu, ăn miếng trả miếng, vua Nguyên nghe qua hậm hực nhưng cũng rất kiêng dè..!!

Cũng qua câu đối của MĐC, người Tàu " Mao Tôn Cương" rằng: theo ý câu đối, về sau cháu Ô. ắt có người làm việc thoán đoạt. Và đã ứng vào Mạc đăng Dung cháu 7 đời, đã soán ngôi nhà Hậu Lê (Lê Lợi....) đồng thời truy tôn Ô. MĐC là KIẾN THUỶ KHÂM NINH VĂN HOÀNG ĐẾ. Hiện nay nơi quê hương Lũng Động, Chí Linh, Hải Dương có đền thờ Ô. MĐC rất trọng thể..!!

2 - Văn Tế Công Chúa Nguyên

Thời gian đi Sứ ở Yên Kinh ( Bắc Kinh ), có một công chúa nhà Nguyên chết, Mạc Đĩnh Chi được cử đọc văn tế. Để thử tài Sứ Thần nước Nam, quan Lễ Bộ trao cho Ông tờ giấy chỉ có 4 chữ " Nhất ". Bình tĩnh, tài trí MĐC ứng khẩu đọc:

Thanh thiên nhất đóa vân,
Hồng lô nhất điểm tuyết,
Thượng uyển nhất chi hoa,
Dao trì nhất phiến nguyệt.
Y hi! Vân tán, tuyết tan, hoa tàn, nguyệt khuyết !

Dịch nghĩa:

Một đám mây trên trời
Một bông tuyết trong bầu trời
Một nhành hoa trong vườn Thượng
Một mặt trăng trong ao tiên
Ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!

Ý rằng: trên trời có một đám mây, trong bầu trời có một bông tuyết, nơi Thượng uyển có một nhành hoa, trong ao tiên có một mặt trăng!
Nhưng than ôi! mây tan tác, tuyết tiêu tan, hoa tàn tạ, trăng mờ khuyết!
Đại ý là tiếc thương Công Chuá lá ngọc cành vàng đã mệnh chung, thương thay tiếc thay!!

3 - Liêm Chính: 

Vua nghe nói MĐC người rất liêm chính, ngay thẳng. Để thử lòng Ông, vua cho người đem vàng bỏ rơi trước nhà. MĐC lượm được vào chầu tâu với Vua. Vua bảo, nếu không có ai nhận, thì khanh hãy lấy mà chi dụng...

Hậu duệ ở Triều Tiên

Thời gian đi sứ Tàu, sứ thần nước Nam và Cao Ly giao tình rất trọng. Do hoàn cảnh của hai nước trước cường quốc Trung Hoa, với lại tài ba của M Đ C làm sứ thần Cao Ly rất mến mộ. Vị sứ đã mời MĐC sang Cao Ly chơi và gả cháu gái cho ông. Người thiếp này sinh được 1 nữ, và 1 nam, do đó có một dòng họ Mạc ở Cao Ly.

Câu chuyện dân gian: tương truyền, gia đình Mạc Đỉnh Chi ở gần bìa rừng. Nhà nghèo. Mẹ Ông thường vô rừng kíếm củi. Một hôm, Bà bị con vượn hiếp... Về, Bà kể lại với Cha Ông. Cha Ông bèn hoá trang phụ nữ, trong lưng lận theo cái mác thật bén nhọn, vào rừng. Ăn quen, con vượn xáp lại đè Cha Ông. Cha Ông luị cho nó một mác. Xong vất xác bên lùm cây.

Mấy hôm sau có dịp đi ngang, Cha Ông thấy chỗ vất xác con vượn, nay do mối đã đụn thành gò. Cha Ông cho đây là cuộc đất tốt, theo phong thủy. Bèn dặn Bà, khi nào ông ấy mất, hãy chôn ngay nơi gò mộ của con vượn. Bà y lời.
Nhờ cuộc đất kết, sau nầy, lớn lên, Mạc Đinh Chi thông minh xuất chúng, học hành thành đạt. và phát đạt gần tới tột đỉnh vinh quang...

Phần kết: Qua truyện Mạc Đỉnh Chi, người viết liên tưởng đến Án Anh đời Xuân Thu bên Tàu, tác giả chuyện cây quít trồng ở phía Bắc sông Hoài thì ngọt. Và ngược lại thì chua. Án Anh sống trước quan Trạng MĐC cả ngàn năm. Vóc dáng cũng nhỏ nhắn, nhưng cái đầu rất to, đối ứng bén nhạy, chính xác, tài cao đức trọng giúp vua Tề làm nên nghiệp Bá.
Vớ́i lòng ngưỡng vọng tiền nhân tài đức cao vợi như Thiên Cẩm sơn của Quan Trạng Mạc Đỉnh Chi, hậu sinh có bài thơ nhỏ để trân trọng người xưa:

Ông Mạc Đỉnh Chi
(1280 - 1346)

Biện thuyết tài tình Mạc Đỉnh Chi
Dáng người nhỏ bé thật là kỳ 
Tay buông lỏng thỏng trông như vượn
Lưng uốn lom khom ngó tợ qui
Đi sứ bao phen tiền hậu khoáng
Làm quan hai nước cổ lai hi
Văn chương uyên bác thông kinh sử
Liêm khiết trăng cao mấy kẻ bì..!!
                                    
Cảm Thán

Đọc Cổ Sử người xưa ngời lẫm liệt
Ngẫm lại mình chi xiết nỗi than ôi
Sông núi đó đang từng hồi... vong diệt
Mà anh hùng hào kiệt vẫn xa xôi...!!

Nguyễn Minh Thanh biên soạn - hiệu chỉnh
(GA 14 - 4 - 2026)

Tham khảo: trang web Mạc Đỉnh Chi
Danh Nhân Từ Điển cuả Nguyễn Huyền Anh
Thành Ngữ Điển Tích của Trịnh Vân Thanh
* Rất tiếc đã tìm nhiều nơi,nhưng không thấy tên cha, mẹ của quan Trạng Mạc Đỉnh Chi!!

Bềnh Bồng Như Mây


Tiếng chuông đồng hồ báo thức reo vang. Sáu giờ sáng, trời mùa đông Cali tối đen. Hôm nay tôi phải có mặt tại nhà thương Stanford trước tám giờ để làm thử nghiệm. Bác sĩ sẽ luồn một ống thật nhỏ qua tĩnh mạch chính ở chân, ống sẽ theo dòng máu dẫn lên để thông tim, khám phổi. Trời thật lạnh, mặc áo len, khoác áo ngoài mà vẫn không đủ ấm. Hai vợ chồng tôi ra xe, im lặng, không nói một lời và hình như cả hai cùng trĩu nặng âu lo. Trong lòng xe được sưởi ấm, tiếng hát Ý Lan vang lên nhẹ nhàng tha thiết: “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên…”

Đầu óc tôi bềnh bồng trở về những ngày tháng cũ xám xịt, thê lương. Những nhục nhằn, khổ đau của những người đàn bà còn ở lại, phải đối phó với những kẻ đang vênh vang thắng thế, phải đương đầu với những hoàn cảnh khắt khe.

Căn nhà mẹ tôi mua ở Long Thành để có nơi chốn hồi hương cho khỏi bị lùa đi kinh tế mới. Ao rau muống nước đục ngầu mà thằng bé con rơi tòm xuống tưởng chết. Những luống khoai mì ốm yếu xiêu vẹo vì không người bón tưới thường xuyên. Căn nhà thấp lè tè, tối om chỉ nhỏ như một cái buồng, mái tranh, vách lá, nền đất nện… Mẹ tôi ở đó một mình, như bị đầy đọa, ra vào im lìm như cái bóng.
– Mẹ ơi, Mẹ lấy sẵn cho Bố tiền qua cầu!
Tiếng nói của nhà tôi lôi tôi về thực tại. Bầu trời đã loãng ra, trắng nhờ nhờ và mưa lất phất.
– Mẹ đừng lo, chỉ mấy tiếng đồng hồ là xong ngay mà. (Chúng tôi quen xưng hô với nhau như thế sau khi sanh thằng bé út).
Thấy tôi ngồi yên lặng, chắc lòng anh cũng đang hoang mang, lo lắng. Anh nói trấn an vợ hay để tự làm yên lòng mình.
Sau thủ tục nhập viện, đường đến nơi thử nghiệm hơi xa nên nhà tôi lấy xe lăn cho tôi. Mọi khi ngồi trên chiếc “wheelchair” cho chồng đẩy tôi luôn miệng đùa cợt, trêu chọc bác phu xe:
– Thiên bất dung gian nhé! Lấy vợ trẻ để mong về già được hầu, bây giờ phải đẩy xe cho vợ… hihihi…
– Hà hà…có anh giáo gian tưởng được vợ đấm lưng ai dè phải đấm lưng cho vợ!

Hôm nay tôi cười không nổi. Nhìn bóng in vào những cửa kính khi đi ngang, anh đã mang nét lụ khụ, lưng hơi còng xuống chứ không phưỡn ngực như thời trai trẻ, như những ngày chúng tôi mới quen nhau.

Ngày ấy cô nữ sinh mười tám tuổi cắp sách đi thi Tú Tài hai. Ông bố đã sửa soạn sẵn cho con gái chiếc áo dài trắng nội hóa sạch sẽ, thơm tho, phẳng phiu và buổi sáng đã hò hét bảo con em sửa soạn xe sẵn để đưa chị. Cô thí sinh cả đêm không ngủ, đọc nguyên cuốn Luận Lý Học dày cộm như đọc tiểu thuyết, không dám nói một lời, chỉ sợ những chữ mới nhét vào đầu sẽ rớt ra. Đến trường Gia Long, lần theo bản đồ chỉ dẫn, lần theo số báo danh, cô thí sinh đi tìm chỗ. Giờ đầu tiên là giờ thi Triết. Chỗ ngồi thi ngay đầu bàn nhất, phía bàn giáo sư, y như chỗ ngồi của cô trong lớp nhất A1 ở Trưng Vương. Đề thi vừa được viết trên bảng, con nhỏ thiếu điều rú lên vì… trúng tủ. Giở gói ô mai để ngay trước mặt và con nhỏ bắt đầu phóng bút.
– Thưa Thầy cho con xin thêm tờ giấy!

Con nhỏ đã viết lấp đầy tờ giấy thứ nhất. Thầy giáo coi thi đưa thêm tờ thứ hai, vuốt thẳng và trịnh trọng để trên bàn. Thỉnh thoảng con nhỏ nhón cục ô mai cắn một miếng rồi lại cắm cúi viết, đâu biết rằng người thầy giáo coi thi ấy đang chăm chú nhìn và cứ tủm tỉm cười.
Cái thuở ban đầu, cái buổi gặp gỡ đầu tiên chỉ giản dị như thế.
– Bà Nguyễn, mời bà theo tôi vào đây! Người y tá trẻ vui vẻ ra đón.

Sau khi thay y phục nhà thương, tôi lên giường nằm, bịch thuốc treo trên cao nhỏ từng giọt vào mạch máu, mũi được cắm ống Oxygen. Từng đợt y tá đến, đo máu, lấy máu, gắn máy đo nhịp tim. Nhà tôi vẫn được phép ngồi cạnh tôi, chưa phải ly cách.

Bác sĩ Z, người vẫn săn sóc tôi đến cùng hai bác sĩ trẻ, một nam một nữ. Cả hai đều chưa đến ba mươi. Cô gái xinh xắn, người tầm thước, tóc vàng, da trắng nõn, cặp mắt mở to trong veo màu hạt dẻ. Cô ta tự giới thiệu tên M, giải thích tiến trình và cho biết cô sẽ là người trực tiếp thực hiện cuộc thử nghiệm này. Một thoáng ngần ngừ, tôi nhớ lời dặn dò của một người bạn: “Mổ xẻ hay thử nghiệm quan trọng mi phải yêu cầu bác sĩ chính làm, mi đừng để sinh viên thực tập. Có chuyện gì là hối không kịp đó”. Bác sĩ Z người Ấn Độ, trưởng phân khoa phổi. Mặt ông thật tươi, hai tai dài, đẹp. Mỗi lần đến khám bệnh tôi thường gọi đùa ông là Ông Phật, ông chỉ mỉm cười. Nếu tôi từ chối, cô bác sĩ trẻ này sẽ buồn và nếu ai cũng từ chối thì làm sao sinh viên có cơ hội thực tập. Ý nghĩ lướt nhanh trong đầu và tôi vui vẻ trả lời là tôi rất hân hạnh được cô lo cho tôi. Như đọc được tư tưởng tôi bác sĩ Z nói:
– Bà Nguyễn, tôi sẽ có mặt trong suốt tiến trình này. Bà sẵn sàng chưa?
– Dạ sẵn sàng, thưa bác sĩ.
Nhà tôi nắm nhẹ tay tôi, cúi xuống nói nhỏ, giọng bùi ngùi:
– Bố ngồi ở phòng đợi, họ đưa Mẹ ra là Bố vào ngay.
Khẽ gật đầu, mắt tôi cũng cay cay.

Người y tá đẩy tôi qua một hành lang dài hun hút. Tôi thật sự cô đơn. Như mấy lần thử nghiệm trước, tôi sẽ được chích thuốc mê, tôi sẽ được đưa vào cơn chết tạm và khi tôi tỉnh dậy thì mọi sự đã xong. Nếu lần này tôi không dậy nữa… hình ảnh các người thân của tôi hiện ra, mặt mẹ tôi rõ nét, rồi đến chồng tôi, mấy đứa con, mấy đứa cháu bé bỏng, chị em, bạn bè… Tự nhiên nước mắt tôi ứa ra. Và như phản xạ từ tiềm thức, tôi niệm Phật.

Hai người y tá nhẹ nhàng chuyển tôi sang chiếc bàn dài phủ giấy trắng dưới chụp đèn trắng sáng, màu trắng sáng chói lòa. Căn phòng trắng lạnh lẽo. Mấy người xúm lại làm những sửa soạn cuối cùng, lại đo máu, đo nhiệt độ, đo Oxygen, lại lằng nhằng những dây cùng nhợ. Bác sĩ Z và hai bác sĩ trẻ đến, họ đã đội mũ và mang khẩu trang, chỉ còn hở cặp mắt. Tiếng dụng cụ khua chạm lanh canh. Tôi yên lặng tập trung tinh thần niệm Quan Thế Âm Bồ Tát.

Một y tá đưa tôi ly nước và viên thuốc:
– Bà Nguyễn, thuốc này sẽ làm bà thanh thản, thuốc làm bà thoải mái thôi, không phải thuốc mê.
– Tôi không bị mê, tôi vẫn tỉnh à?
– Đây là loại thuốc an thần, bà sẽ cảm thấy êm dịu, nhẹ nhàng, không phải thuốc mê. Nào, bà sẵn sàng chưa, chúng ta bắt đầu nhé!
Tiếng bác sĩ Z dịu dàng giải thích.
Bác sĩ M đến bên nói tiếp:
– Chúng tôi sẽ làm tê ngay chỗ đưa ống thử vào người, bà sẽ không cảm thấy đau đớn gì đâu.
Bấy giờ tôi mới quan sát quanh phòng, ngoài chiếc màn hình ghi nhịp tim và nồng độ oxygen trong máu ngay đầu giường còn một màn hình to bằng chiếc TV 52 inches treo trên tường.
Uống viên thuốc được một lát người tôi lâng lâng, chơi vơi như những cụm mây trắng và tôi chìm dần trong vùng mây trắng bềnh bồng trôi.

Mây bay, mây cứ bay… một thảm cỏ xanh hiện ra rồi đến khu vườn đầy hoa trước biệt thự nằm trên đường Cộng Hòa Đà Lạt. Một đám trẻ nô đùa, hái hoa, bắt bướm, chạy đuổi nhau, những tiếng cười khanh khách, giòn tan. Bồn hoa Quỳ, Hướng Dương đầy hoa vàng tươi đang chào nắng, những cánh Pensée mỏng manh rung rinh và những vạt hoa cúc vàng, cúc trắng nở rộ như reo cười. Hàng rào song sắt bao quanh biệt thự như được bọc bằng những khóm hoa hồng đủ màu sắc… Hình ảnh chị em tôi thời thơ ấu, mỗi năm được lên nhà bác ở Đà lạt nghỉ hè. Rồi như khúc phim được chuyển cảnh, tôi như đang nhìn thấy tôi với chàng tay trong tay trong khu rừng thông ven Hồ Than Thở, những cội thông già vươn cao, thẳng tắp. Tiếng lá reo vi vu. Khung cảnh thật tịch lặng. Nắng hanh hanh, gió se lạnh, tôi như đắm chìm trong hạnh phúc êm đềm và như quyện mình trong hơi ấm mới quen của người chồng mới cưới.
Chợt đau nhói, tôi vùng mình ú ớ.
– Bà Nguyễn, bà có sao không?
Tiếng bác sĩ Z.
Tôi nhẹ lắc đầu trở về thực tại. Tôi đang nằm trên chiếc bàn trắng trong bệnh viện, đang ở trong trạng thái chập choạng mơ màng, nửa mê, nửa tỉnh và tôi đã được trở về một quá khứ đẹp đẽ xa xưa.

Ngước nhìn lên màn hình, quả tim tôi đang đập phập phồng và hai lá phổi hiện ra với những đường chằng chịt như rễ cây. Tôi không phải soi vào nội tâm mà tôi đang nhìn vào bên trong thân xác và tôi thấy thật rõ một đường nhỏ giống như sợi chỉ đang luồn lách.

Tôi lại chìm đắm… tôi nhìn thấy người thiếu phụ trẻ trong bộ đồ đen bế thằng bé con chưa đầy một tuổi. Tôi lại nhìn thấy tôi trong Sài Gòn sau ngày mất nước. Tôi bế thằng bé đến một căn nhà ở đường Gia Long, căn nhà được tiếp thu để làm văn phòng ban cải tạo phường thuộc quận một. Tầng dưới kê một bàn giấy, mấy người ngồi làm việc. Tôi được chỉ lên tầng trên. Một căn phòng trống trơn, mắc độc một chiếc võng. Một người đàn ông khoảng năm mươi, cởi trần mặc chiếc quần dài bộ đội đang nằm toòng teng, một chân trên võng, một chân thả xuống đất để đu đưa. Tôi dợm mình quay xuống cầu thang.
– Chị kia, phải chị tới khiếu nại không? Chị vào đây!

Nhận ra ông ta là người đã lên lớp giảng chính sách của nhà nước về kinh doanh bữa trước tại thương xá Tam Đa, tôi bồng con quay lại, rón rén ngồi xuống ngay ngạch cửa. Cũng may khi được gọi đi, mẹ tôi đã cẩn thận dặn bế thằng bé theo để nếu có bề gì người ta phải trả thằng bé về nhà và mẹ tôi biết đường mà đi kiếm.
– Đâu, có chuyện gì chị nói đi!
– Thưa ông…
– Khỏi, chị khỏi gọi tôi bằng ông.
Tôi ngập ngừng:
– Thưa bác… Thưa chú…
Thấy ông ta yên lặng tôi nói tiếp:
– Thưa chú, cháu làm thợ may ở thương xá Tam Đa.
– Chị là chủ hay chị làm công?
– Dạ, cháu mướn tiệm, nhận may gia công.
– Rồi sao?
– Cán bộ đến nhà kiểm kê tịch thu của cháu cái máy may, máy vắt sổ và mấy xấp vải của khách đưa may.
– Chị là chủ tiệm, họ tịch thu là đúng rồi, mai mốt các cửa tiệm vào quốc doanh hết, các chị sẽ vào tập thể, nếu làm thợ may chị có máy của cơ quan, chị đâu cần máy riêng.
Nỗi uất dâng lên tới đỉnh đầu, tôi ráng dằn lòng nhỏ nhẹ:
– Thưa chú, nhà nước nói rõ là chỉ tịch thu những tư liệu kinh doanh, không tịch thu tư liệu sản xuất. Máy để cháu may mướn. Cháu đâu có bán máy may!
Ông ta gườm gườm nhìn tôi:
– Ai nói chị điều đó?
Tôi điềm tĩnh trả lời:
– Chú! Chính chú đã giảng điều đó. Cháu nhớ rất rõ. Cháu đã chăm chú nghe vì chú giảng hay lắm. Chú nói hay lắm.
Ông ta châm một điếu thuốc và rít một hơi dài nhìn tôi đăm đăm. Tôi lạnh cả gáy đợi phán quyết.
– Được rồi, chị để giấy tờ đây, chị về đi tôi sẽ cứu xét trường hợp của chị.
Đặt thằng bé vào chiếc ghế con gắn sau ghi đông chiếc xe đạp mini. Tôi đạp xe đi mà muốn òa lên khóc. Khóc cho vơi đi những ấm ức, những tủi nhục phẫn uất. Những con đường Sài Gòn che phủ bởi những hàng cây sao cao vời vợi, tiếp đến những con đường ngợp lá me xanh… Tôi chẳng còn thấy gì thơ mộng, nghĩ đến chồng đang trong trại tù cải tạo, tôi nhớ quay quắt và cùng cực trong nỗi cô đơn.

(Galang)

Màu trắng của mây lại bềnh bồng và tôi lại thấy tôi đang ngụp lặn trong màu xanh bát ngát của biển, từng đợt sóng nhấp nhô, nhấp nhô tung bọt trắng xóa vào bờ. Tôi đang ở bãi biển Galang. Tôi đang thở hít không khí tự do. Đầu óc thật thanh thản và hân hoan nghĩ đến tương lai tốt đẹp ở vùng đất hứa. Tôi dẫm chân lên cát ấm và chạy tung tăng trong gió. Gió quấn quít quanh tôi. Tôi ưỡn ngực hít một hơi thật dài.
Choàng tỉnh giấc, tôi mở mắt ra, chạm vào khuôn mặt bác sĩ M đang cúi xuống:
– Bà Nguyễn, bà tỉnh dậy nào. Mọi việc xong rồi. Bà là bệnh nhân thật tốt. Chúc bà mau bình phục.
Mấy người y tá xúm lại tháo dây, lau chùi và mặc áo lại cho tôi. Ba bác sĩ chào tôi và hẹn sẽ cho biết kết quả vào kỳ khám bệnh tới.

Họ lại chuyển tôi sang chiếc giường khi nãy và đẩy tôi về phòng hồi sức. Tôi phải nằm yên trong một tư thế, cứ một lát lại có người đến khám vết thương và ấn thật mạnh để khỏi tụ máu bầm. Sau ba giờ, chiếc nệm cứng dưới lưng khiến tôi mỏi mệt rã rời, người anh ách nước, miệng khô đắng và bụng thì đói meo.

Hai người khán hộ đến giúp tôi làm những vệ sinh cá nhân, nâng đầu tôi dậy cho uống nước, bón tôi từng thìa canh, tôi cảm thấy yếu đuối như trẻ con. Tôi mệt mỏi ngủ thiếp một giấc dài không mộng mị. Thức dậy, cô y tá đẩy tôi sang phòng cũ nơi tôi nằm chờ khi sáng và tôi lại nhìn thấy khuôn mặt thật thân quen.

Đỗ Dung

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2026

Nếu Mai Anh Về - Ý Thơ: Vô Danh - Nhạc Phạm Anh Dũng - Hòa Âm: Quốc Dũng - Tiếng Hát: Mỹ Lệ

 

Ý Thơ: Vô Danh
Nhạc Phạm Anh Dũng
Hòa Âm: Quốc Dũng
Tiếng Hát: Mỹ Lệ

Trên Đồng Lúa Vàng

 
(Ảnh: Thanh Hà)

Lúa vàng trải khắp cánh đồng
Năm cô thôn nữ má hồng cười tươi
Áo bà ba đẹp rạng ngời
Đủ màu duyên dáng rụng rời tim ai
Cầu khỉ cô bước khoang thai
Nghiêng nghiêng nón lá nhẹ tay cầm hờ
Lúa vàng còn thấy ngẩn ngơ
Lả lơi theo gió nh​ã thơ rộn ràng
Hôm nay trên cánh đồng vàng
Hình như sáng rực bởi (mấy ) nàng về thăm
Hương thơm lúa trổ đòng đòng
Ngọt nghào sữa dưỡng từ dòng phù sa

Kim Trúc

Một Thuở Sài Gòn


(Đường Duy Tân )

Bây giờ sống nơi xứ sở thanh bình
Có ai nhớ về Saigon ngày cũ
Đường Duy Tân với hàng me xanh quyến rũ
Đôi lứa lượn lờ trên chiếc vespa trắng chiều cuối tuần

Bây giờ sống hơn nửa kiếp phù vân
Có ai nhớ buổi sáng cúp cua vào Rex xem Love Story
Ngồi Brodard ngắm phố phường, ăn kem chung một ly
Ghé Thư Viện Quốc Gia ôn bài dưới tàng cây che mát

Đêm sáng trăng, tiếng đàn guitar hòa cùng giọng trầm ai hát
Giữa lặng im triệu giấc ngủ say mềm
“Mặc áo the đi guốc mộc, Về Đây Nghe Em*
Câu mời gọi luồn cơn rung da thịt

Bây giờ–Ngày ấy–Hai bờ sông cách biệt
Một đoạn đời sang trang đã từ lâu
Nhìn cánh lan rơi nhắc nhớ dấu yêu đầu
Đâu ai tắm hai lần trong cùng dòng nước**

*Về đây mặc áo the đi guốc mộc , nhạc Trần Quang Lộc
**Triết gia Heraclite: ”Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”

Thanh Hà
 

Thăn Anh Lần Cuối



Em đến thăm Anh một chiều cấm trại
Tháng Tư đen, Trời mưa gió sụt sùi
Đôi môi Em đã tắt mất nụ cười
Buồn dâng khoé mắt, bờ mi đẫm ướt.
Em thương Anh và buồn cho vận nước

Ngoài ven biên, giặc tiến sát Đô thành
Em đang lo cho số phận của Anh
Sài Gòn mất, Anh sẽ còn hay mất?
Cầm lấy tay nhau, lệ trào khoé mắt
Anh nhìn Em, mà tan nát cõi lòng.
Cơn mưa chiều còn lác đác ngoài song

Chào tạm biệt , Em ân cần căn dặn:
“Bảo trọng lấy thân, chúc Anh may mắn”.
Tiễn chân Em, tâm hồn Anh hoang vắng
Tan nát lòng, theo từng bước Em đi
Gặp hôm nay, Em Thăm Anh Lần Cuối..
Nhìn bóng Em khuất dần trong mưa bụi
Anh khó cầm hai giòng lệ tuôn rơi

Kể từ nay, Ta đã mất nhau rồi
Cái cảnh chia tay buổi chiều hôm ấy
Theo bước chân anh suốt cả cuộc đời.
Anh mong Em sớm quên người năm cũ
Đừng nhớ nhau chi, buồn lắm Em ơi !

Hoa Đô ( Lockwood House-116)
Trần Công/ Tiền Giang Tử
 

Chuyện Ngày Xưa



Lớp tôi, Quân Y Hiện Dịch 10, có anh Bác Sĩ Nguyễn Đức Liên học Tú Tài trường Chu Văn An chương trình Việt, đậu PCB khóa đầu với Mention, bạn bè ai cũng phục (niên khóa PCB 1956-1957). Hồi đó đậu xong Tú Tài, chúng tôi đều phải thi vào Quân Y. Tôi nhớ kỳ chúng tôi đi thi có Bác Sĩ Trần Anh, đeo lon Thiếu Tá làm Chánh Chủ Khảo. Khoảng thời gian ấy Bác Sĩ  Trần Quang Diệu là Đại Tá Giám Đốc Nha Quân Y (nhiều năm sau này mởi đổi tên thành Cục Quân Y). Năm đầu, học PCB, chúng tôi được phát quân trang, đeo lon Thượng Sĩ trên cổ áo là cái nút tròn trắng, nhẵn bóng, mạ kền. Lãnh lương hơn 2300 đồng một tháng, ăn tiêu rất rộng rãi vì một tô phở Hiền Vương chỉ khoảng 5 đồng. 
Chỉ mỗi sáng thứ Hai đi chào cờ hay cuối tháng đi lãnh lương mới phải mang quân phục. Nghỉ Hè, ai đậu khóa đầu thì phải đi thực tâp một tháng tại một Quân Y Viện như tại Mỹ Tho, Cần Thơ, Đà Nẵng... Và khóa lớp tôi đi học Quân Sự một tháng tại trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang. Hè 1957. Anh Liên và chúng tôi còn mang lon Thượng sĩ, đi học Quân sự tại Đồng Đế Nha Trang có các đàn anh cùng học quân sự như các anh Nguyễn Khắc Minh, Đào Hữu Anh... đã là Trung Úy Nội Trú các Bệnh Viện, đã học xong năm thư tư Y Khoa. Chúng tôi nhìn lên, ngưỡng mộ vô cùng.

Cám ơn anh Bác Sĩ Nguyễn Thanh Bình kể chuyện Sinh viên Y Khoa chơi bài, đánh bạc. Hồi tôi làm Nội Trú thí cái Building ngay gần cổng ra vào Bệnh Viện Chợ Rẫy tầng lầu là phòng của các Nội Trú như Trần Tín Cơ, Trịnh Nghĩa Trinh, Lê Thanh Cảnh, chúng tôi và vài Nội Trú khác. Tầng dưới là phòng nhận bệnh, cấp cứu, và một phòng lớn dành cho sinh viện trực. Chúng tôi lúc đó là Nội Trú Khu Giải Phẫu A, có sự chỉ dạy của các anh chị Nội Trú lâu năm như Đinh Viết Hằng, Bội Ngọc, Lê Thái... Một hôm trong phiên trực sau nhiều cuộc giải phẫu ban đêm, mệt nhoài, đang được nghĩ ít phút, thì một Y Tá lên mời "ông thầy" xuống nhận bệnh, vì các sinh viên trực đang mải mê đánh bài, không ai ra nhận bệnh. Trên nguyên tắc, thủ tục khám và làm hồ sơ nhận bệnh là trách nhiệm của các sinh viên trực hay sinh viên ngoại trú. Chúng tôi đành xuống nhận bệnh và sáng hôm sau than phiền với ông Thầy trực tiếp là Bác Sĩ  Đặng Văn Chiếu, lúc đó còn là Giảng Sư, và chúng tôi được phép kêu bằng "Anh" và xưng "em".Bác Sĩ  Chiếu nói "Em cứ làm một báo cáo đi". Quả thật cần có báo cáo bằng giấy tờ thì cấp trên mới giải quyết được. Chúng tôi suy nghĩ, không báo cáo, và nhẫn nhịn, vì sợ bị mang oán và có khi sẽ bị đánh đòn "bề hội đồng". Nay nghĩ lại thấy may, "một sự nhịn là chín sự lành", tránh được việc bị một số các bạn khinh ghét.

Thưa quý anh, có người nói càng về già càng nhớ tiếc "chuyện ngày xưa". Quá khứ nhiều khi có khó khăn, vất vả mà sao nghĩ lại vẫn thấy những kỷ niệm đẹp. Nghĩ về Tương lai thì đôi khi lo lắng vì không biết "ngày sau sẽ ra sao". Ít khi biết hưởng thụ giây phút "Hiện tại". Cửa hàng âm nhạc của chúng tôi đang ế hàng, xin phép mời quý thân hữu thưởng thức hay nghe / xem lại ca khúc Bây Giờ và Ở Đây. Đa tạ anh Nhạc Sĩ Nguyễn Minh Châu đã giúp thực hiện Music Video ca khúc này.

Trần Văn Khang


Thứ Năm, 16 tháng 4, 2026

Vọng Cổ: Xuân Đất Khách - Soạn Giả; Viễn Châu - Cố Nghệ Sĩ: Hà Bửu Tân


Soạn Giả: Viễn Châu
Cố Nghệ Sĩ: Hà Bửu Tân

 


Ta Nhìn Lại Ta

 

Giờ đây. Ta như nửa tờ giấy rách
Đứng trước lề thóc mách của dân gian
Thấy thiên hạ vui. Lệ nhỏ đôi hàng
Cười nức nở. Những chuyện buồn nhân thế
Cuộc đời của ta. Có gì đáng kể
Mê trăng sao. Ôm dâu bể vào đời
Lấy núi rừng bày trận thế cuộc chơi
Dùng bom đạn làm thời trang quà tặng
Những chuyện buồn vui chìm vào thinh lặng
Ơn núi sông chưa trả. Nặng đôi vai
Cát bụi thời gian biến đổi hình hài
Soi gương cũ. Tìm tai ương trong mộng
Đời chẳng có chi để mà trông ngóng
Ngày sắp tàn theo chiếc bóng thời gian
Ta nhìn lại ta. Nửa cuộc hoang đàng
Còn nửa cuộc. Xin vội vàng sám hối
Ta nhìn lại ta muôn vàn tội lỗi
Xa tắp quê hương. Mù lối quay về
Những áng mây mờ khuất nẻo sơn khê
Ở phía trời nam bốn bề biển động…

Phong Châu
Tết Bính Ngọ

Tháng Tư Nhớ Về Quê Hương

(Trường Nữ TH Gia Long Sàigon.
Trước 1975)
Tuổi học trò, đầy mộng mơ ngày ấy.
Nhìn cuộc đời bằng ánh mắt màu xanh.

*** 
Quê Hương tôi, biển ngàn năm xanh ngát,
Ải Nam Quan cho tới mũi Cà Mau,
Hoàng Liên Sơn núi hùng vĩ xanh màu,
Cửu Long Giang dưỡng nuôi bao thế hệ.

Bắc Trung Nam cùng chung giòng giống Việt,
Bao anh hùng trên quê mẹ Việt Nam,
Chống giặc Tàu, bọn gian ác tham tàn,
Dân bao phen đập tan quân xâm lược.

ĐẤT THĂNG LONG, từ khi xây dựng nước. Trải bao Đời : Đinh, Lê, Lý, Nguyễn,Trần. Hai Bà Trưng đuổi giặc Hán xâm lăng, Rạng vang danh nữ anh hùng Dân Việt.
ĐẤT MIỀN TRUNG tạo anh hùng hào kiệt, Đất nơi đây, sỏi đá ruộng khô cằn! Khi lũ lên, nước tràn khắp thôn trang! Thương miền Trung, vẫn hùng anh bất khuất . ĐẤT PHƯƠNG NAM, gạo thơm vựa lúa thóc, Cây xanh tươi, trái ngọt, đất hiền hòa, Biển, sông hồ, đầy ắp cá tôm cua, Người dân lành sống an vui hạnh phúc.
Bắc Trung Nam cùng chung một Tổ Quốc Cảnh phân ly, ngày đó quá điêu tàn ! Chiến tranh từng dày xéo Bắc-Trung-Nam. Mẹ Việt nam đã bao lần rơi lệ !
Song Thân tôi từ Thăng Long quê mẹ, Tôi được nuôi, khôn lớn tại Saigon. Sống thanh bình, hạnh phúc đất Phương Nam, Khi lớn khôn mang nặng ơn đất nước.

Sau 75, tôi rời xa Cố Quốc, Nhớ quê hương và thân quyến từng ngày! Nhớ SàiGòn, tan học, áo trắng bay. Thương hè sang, ve sầu, phượng thắm đỏ, Thương mùa thu, đường chiều nghiêng nắng đổ, Nhớ Giáo Đường, chuông thánh đổ ngân vang, Nhớ sân Chùa, chuông tỉnh thức nhẹ nhàng, Nhớ anh hùng, Đền Linh Trần Hưng Đạo.
Bao kỷ niệm thương yêu thời thơ ấu, Ơn Song Thân nuôi dưỡng khổ nhọc nhằn, Công ơn Thầy, dạy dỗ trí tuệ sanh, Dư âm của thời vàng son niên thiếu...

Đất Hà Nội, Thăng Long, Chùa, Đền, Miếu, Núi Ngự Bình, Huế đẹp, nón bài thơ, Đà Lạt xinh, Cam Ly, Hồ Than Thở, Nhớ Nha Trang cát trắng biển yên bình. Xa Quê Hương ngàn trùng xa..xa lắm ! Nhìn cuộc đời, như giấc mộng qua mau Thời gian trôi, lặng lẽ sạch nỗi sầu Ngày 30 tháng 4, tạm yên trong ký ức.

Giòng sông êm ái nhẹ ra khơi, Lặng lẽ cuốn theo bụi trần đời, Dạt dào sóng vỗ tan vào biển, Tất cả quay về Đại Dương thôi.

Hoàng Thục Uyên 
9/4/2026

Văn Địch 聞笛 - 趙嘏 Triệu Hỗ (Trung Đường)


Triệu Hỗ 趙嘏 (810-856) tự Thừa Hựu 承祐, sinh quán ở huyện Sơn Dương, thuộc Sơn Ðông ngày nay. Tên ông cũng có khi đọc là Giả. Ngay khi còn bé, ông đã tỏ ra có biệt tài, từng làm khách Nguyên Chẩn lúc bấy giờ đang là Quan sát sứ tỉnh Chiết Ðông, rồi làm Tòng sự cho bạn của Ðỗ Mục là Thẩm Truyền Sư. Ðược Thẩm Truyền Sư mến mộ tài năng, năm mới 17 tuổi ông đã được cử làm Hương cống lên cư ngụ Trường An. Ở đây ông kết du rộng rãi với các văn nhân đương thời, thường chỉ suốt ngày “nghêu ngao vui thú yên hà”. Sau cũng đậu tiến sĩ nhưng đường công danh của Triệu rất lận đận, mãi đến năm 42 tuổi, tức là 10 năm sau khi thi đậu, mới được bổ làm một chức quan nhỏ ở Vị Nam. Ông mất không lâu sau đó.

Thơ Triệu phần lớn có nội dung nhớ nhung quê hương, buồn bã đường công danh, hoặc để thù tiếp với bạn bè. Ðỗ Mục đọc bài Trường An Thu Vọng của ông rất thích hai câu “Tàn tinh kỷ điểm nhạn hoành tái, Trường địch nhất thanh nhân ỷ lâu” cứ ngâm nga mãi và gọi luôn Triệu là Triệu Ỷ Lâu. (Trích Thi Viện)

(Triệu Hỗ)

Nguyên tác          Dịch âm

聞笛                     Văn địch

誰家吹笛畫樓中 Thuỳ gia xuy địch hoạ lâu trung,
斷續聲隨斷續風 Đoạn tục thanh tuỳ đoạn tục phong.
響遏行雲橫碧落 Hưởng át hành vân hoành bích lạc,
清和冷月到簾櫳 Thanh hoà lãnh nguyệt đáo liêm long.
興來三弄有桓子 Hứng lai tam lộng hữu Hoàn Tử,
賦就一篇懷馬融 Phú tựu nhất thiên hoài Mã Dung.
曲罷不知人在否 Khúc bãi bất tri nhân tại phủ,
餘音嘹喨尚飄空 Dư âm liệu lượng thượng phiêu không.

Chú giải

畫樓 họa lâu: lầu họa, lầu để vẽ, lầu lộng lẫy. Dịch là lầu hồng (không phải lầu xanh).
斷續 đoạn, tục: đứt, nối. 斷續聲 đoạn tục thanh: tiếng (sáo) đứt rồi lại nối. 斷續風 đoạn tục phong: gió ngừng rồi lại thổi.
碧落 bích lạc: bầu trời, trời xanh biếc.
Hoàn Tử tên một người thổi sáo hay.
Mã Dung: tên một người làm phú giỏi.

Dịch nghĩa

Nghe sáo

Nhà ai thổi sáo trong lầu vẽ (lầu lộng lẫy),
Tiếng sáo lúc nghe lúc không tuỳ theo có gió hay không có gió.
Âm hưởng theo mây trôi ngang qua bầu trời,
Tiếng sáo hoà vào ánh trăng lạnh bay qua rèm cửa sổ.
Hứng thú nên thổi luôn ba bài như Hoàn Tử,
Nghe sáo (ta) làm được bài phú nhớ Mã Dung.
Khúc nhạc thổi xong, không biết ai đó còn ở trên lầu hay không,
Nhưng dư âm của bài sáo vẫn còn văng vẳng trong không gian.

Dịch thơ

Nghe sáo

Nhà ai chơi sáo tận lầu hồng,
Tiếng sáo tùy theo gió có, không.
Âm hưởng theo mây ngang trời biếc,
Hòa cùng trăng lạnh lọt vô phòng.
Hứng chơi ba khúc như Hoàn Tử,
Tặng phú một thiên tợ Mã Dung.
Khúc dứt chẳng hay người vẫn đó?
Dư âm văng vẳng mãi không trung.

Lời bàn

Một bài thất ngôn bát cú rất phức tạp nhưng rất tuyệt vời, làm lu mờ cái nét khô khan cố hữu của thể thơ này:
- Câu 1 nói: Một mỹ nhân không quen biết đang thổi sáo trên một căn gác màu hồng.
- Câu 2 nói: Tiếng sáo lúc nghe lúc không tùy theo gió lúc thổi lúc ngừng. Câu này gợi ý rằng nhà Triệu ở cách nhà nàng khá xa nên khi có gió mới nghe rõ tiếng sáo.
- Câu 3 & 4: Triệu vẫn cảm nhận được âm hưởng của tiếng sáo luồn trong mây, bay xuyên qua trời xanh rồi hòa với trăng lạnh chui vô rèm cửa của Triệu (mặc dù Triệu chỉ nghe lõm bõm khi có gió).
- Câu 5 & 6: Triệu còn biết cô chơi luôn 3 bài hay như Hoàn Tử từng chơi; để cho Triệu làm được bài phú đáp lễ hay như phú của Mã Dung.
- Câu 7 & 8: Tiếng sáo đã chấm dứt mà Triệu vẫn còn nghe văng vẳng bên tai; chả biết cô em còn ngồi ở lầu hồng hay không!

Triệu không quen nàng (ngay câu đầu ông đã hỏi thùy gia? nhà ai?); Nhưng ông cảm thấy nàng đẹp lắm, đẹp lây sang cả tiếng sáo (người đẹp thì thổi sáo hay, ông tin như vậy). Lối suy nghĩ này thường thấy trong Đường thi: mê tiếng sáo thì mê luôn người thổi sáo; hoặc ngược lại, mê người đẹp thì mê luôn tiếng sáo của người đẹp. Ông đã để tặng nàng một bài phú (mà ông ví với phú của Mã Dung); không phải ông tự khen mình, ông chỉ nghĩ rằng nàng là tiên nữ đã thổi sáo thần vào phú của ông.

Con Cò
***
Nghe Tiếng Sáo.

Nhà ai lầu vẽ sáo vang xa,
Lúc bặt khi nghe quyện gió qua.
Điệu vút mây cao ngang cõi biếc,
Âm hòa trăng lạnh lọt rèm hoa.
Hứng như Hoàn Tử ba tiêu khúc,
Hay tựa Mã Dung một phú ca.
Nhạc dứt, người còn hay đã khuất?
Dư âm khắp chốn vẫn ngân nga.

Lục bát.

Nhà ai sáo vọng lầu son,
Gió đưa tiếng mất tiếng còn theo nhau.
Vút mây ngang cõi trời cao,
Qua song lẫn ánh trăng thâu lạnh lùng.
Hứng như Hoàn Tử ba cung,
Viết hay tựa phú Mã Dung toàn bài.
Nhạc ngưng người ở đâu đây?
Dư âm ngơ ngẩn vẫn đầy không gian.

Mỹ Ngọc.
Apr. 6/2026
***
Nghe Tiếng Địch

Nhà ai tiếng địch chốn lầu hoa,
Tiếng mất tiếng còn, gió thoảng qua,
Âm hưởng ngăn mây ngang trời biếc,
Hoà cùng trăng lạnh tới màn la.
Hứng như Hoàn Tử chơi ba khúc,
Phú được Mã Dung đã giúp ta.
Địch dứt chẳng hay người đâu tá,
Dư âm mãi vẳng giữa trời xa.

Bát Sách.
(Ngày 06/01/2026)
***
Nghe Sáo

Nhà ai sáo thổi tự lầu hồng
Đứt nối tùy theo gió có/không
Mạnh chặn mây trôi về chốn thẳm
Êm hòa trăng lạnh lọt rèm song
Hứng tình ba bản như Hoàn Tử
Phú được một bài nhớ Mã Dung
Khúc hết chẳng hay người vẫn đó?
Dư âm còn vẳng giữa trời không

Song thất lục bát:

Ai thổi sáo lầu hoa đâu đó?
Đứt nối tùy có gió hay không
Mạnh mây chặn, trời biếc trong
Êm hòa trăng lạnh lọt phòng rèm thưa
Như Hoàn Tử hứng hòa ba khúc
Nhớ Mã Dung phú được một bài
Sáo ngưng người vẫn còn đây?
Dư âm vọng đến mãi hoài thiên không!

Lộc Bắc
Avr26
***

Vẳng nghe tiếng sáo

Tiếng sáo véo von lầu vọng sang
Âm thanh đứt quãng gió truyền lan
Mây xanh lơ lửng như ngừng đọng
Trăng chiếu qua rèm cửa bỏ hoang
Hứng thú khúc Hoàn Y réo rắt
Tuyệt vời phú Mã Dung mơ màng
Sáo ngừng người ấy còn lưu lại?
Văng vẳng đâu đây điệu dịu dàng

Thanh Vân
***
Trong cuốn “Thông Dụng Thành Ngữ Cố Sự “của Vương An, do Nguyễn Quốc Hùng dịch, có thành ngữ PHAO CHUYÊN DẪN NGỌC, liên quan đến Triệu Hỗ, nhưng sách in là Triệu Hổ, Bát Sách tưởng là người khác nên bỏ qua. Kỳ này, nhân có thì giờ, bèn tra cứu lại cho chắc, thì đúng là Triệu Hỗ. Hỗ, có sách ghi Giã, tự Thừa Cát, người Hà Bắc, thơ hay, đến nỗi Đỗ Mục cũng thích, nhất là câu “trường địch nhất thành nhân ỷ lâu” trong bài Trường An Thu Vọng, và gọi ông là Triệu Ỷ Lâu. Câu này cho ta thấy Triệu rất mê tiếng địch.

Một người nữa cũng hâm mộ ông là Thường Kiến. Một lần, Triệu sắp tới đất Ngô, Thường Kiến đoán là ông sẽ đến chùa Linh Nham nên tới trước đề 2 câu thơ trên vách. Quả nhiên Triệu tới chùa ngoạn cảnh, thấy 2 câu thơ, bèn thêm 2 câu cho thành bài tứ tuyệt. Tất nhiên thơ của Triệu hay, tựa như Ngọc, thơ của Thường thì kém hơn, chỉ như viên Gạch nên mới có thành ngữ Phao chuyên dẫn ngọc, tức là ném gạch kéo ngọc.

Cuộc đời Triệu Hỗ cũng không may mắn. Dù đã đỗ Tiến Sĩ, nhưng vì bài thơ Đề Tần Hoàng, khen Thuỷ Hoàng anh hùng làm Đường Tuyên Tông bất mãn, không trọng dụng. Bị Tiết Độ Sứ Chiết Tây chiếm mất nàng ca kỹ, người yêu của Triệu, đến khi Triệu đậu Tiến Sĩ mới đem trả, nhưng vừa gặp nhau là nàng chết khiến Triệu tan nát cõi lòng.

- Át là ngăn chặn, đuổi bắt, im bặt.
- Mã Dung là người viết phú rất hay.
- Tam Lộng, Hoàn Y, thì Bát Sách xin bổ túc một chút cho giải thích của anh Giám và anh Tâm. Hoàn Y là võ tướng đời Đông Tấn, từng giúp Hoàn Ôn và Tạ Huyền (cháu Tạ An) lập được nhiều công trận. Giỏi âm nhạc, nhất là thổi địch, được khen là Giang Tả Đệ Nhất, thường dùng cây địch Kha Đinh do Thái Ung chế tác. (Thái Ung là danh sĩ thời Đông Hán, giỏi kinh thuật, từ chương, thiên văn và âm luật, cha của nữ sĩ Thái Diễm, rất nổi tiếng). Vương Huy Chi, (con của Vương Hi Chi, nhà Thư Pháp nổi danh với thiếp Lan Đình,) khi gặp Hoàn Y ở bến Thanh Khê, biết tiếng, sai người nhờ Hoàn thổi địch. Hoàn thổi liền 3 khúc rồi lên xe bỏ đi. Vì vậy trong bài thơ mới có câu tam lộng hữu Hoàn Tử.

Bát Sách

***

Nguyên Tác: Phiên Âm:

聞笛-趙嘏 Văn Địch- Triệu Hỗ

誰家吹笛畫樓中 Thùy gia xuy địch hoạ lâu trung
斷送聲隨斷續風 Đoạn tống thanh tùy đoạn tục phong
響遏行雲橫碧落 Hưởng át hành vân hoành bích lạc
清和冷月到簾櫳 Thanh hòa lãnh nguyệt đáo liêm long
興來三弄有桓子 Hưng lai tam lộng hữu Hoàn Tử
賦就一篇懷馬融 Phú tựu nhất thiên hoài Mã Dung
曲罷不知人在否 Khúc bãi bất tri nhân tại phủ
餘音嘹喨尚飄空 Dư âm liệu lượng thượng phiêu không.


Bài thơ không có trong Toàn Đường Thi. Sách có đăng bài thơ:
Huệ Phong Từ Thoại - Thanh - Huống Chu Di 蕙風詞話-清-況周頤
Thiên Gia Thi 千家诗

Ghi Chú:

Họa lâu: một gian nhà được chạm khắc lộng lẫy, trang hoàng đẹp đẽ
Đoạn tục: không liên tục, bị gián đoạn
Át: dừng lại
Hưởng át hành vân: thanh âm cao ngất sáo to, trong trẻo, vút thẳng lên trời, chắn hết mây trôi.
Hoành: bay qua
Bích lạc: bầu trời. Đạo gia cho rằng ở phương đông cao nhất trên trời có ráng xanh (bích hà 碧霞) bủa khắp. Trong bài Trường hận ca 長恨歌 Bạch Cư Dị 白居易 viết:
Thượng cùng bích lạc hạ hoàng tuyền 上窮碧落下黃泉
Trên cùng đến trời xanh, dưới tận suối vàng,
Lưỡng xứ mang mang giai bất kiến 兩處茫茫皆不見
Cả hai nơi mênh mông, đều không thấy (nàng) đâu cả.
Thanh hòa: yên tĩnh và hòa bình
Lãnh nguyệt: ánh trăng mang lại cho người ta cảm giác trong vắng lạnh lẽo
Liêm long: màn cửa và lưới cửa sổ
Tam Lộng: bài hát cổ Mai Hoa Tam Lộng, là nhạc khúc nằm trong 10 ”đại danh khúc” của Trung Hoa. Bản nhạc được ví như lời tự tình của bậc quân tử, như hoa mai hiên ngang đẹp đẽ tinh khôi, là nhạc khúc mượn vẻ đẹp của hoa mai tinh khiết, thơm ngát và sự bền bỉ kiên cường trong giá lạnh mà ngợi ca cho những người tiết tháo cao thượng, hoa mai thơm như lòng người quân tử.

Hoàn Tử: tên Hoàn Y 桓伊 sống đời nhà Tấn giỏi thổi sáo. Ngày nọ, Hoàn Y cởi ngựa gần sông, một thuyền nhân tên Vương Huy yêu cầu Hoàn Y thổi một bài sáo. Hoàn Y xuống ngựa, thổi bài Mai Hoa Tam Lộng, rồi lên ngựa đi.
Mã Dung: người đời Đông Hán, giỏi về soạn nhạc cho sáo
Nhất thiên: toàn bộ bài viết. Văn tự thời xưa được viết trên thẻ trúc, dùng da trâu xâu chuỗi như sách. Sau đó ngưởi ta gọi văn bản đầu đuôi đầy đủ là một thiên.
Khúc bãi: đoạn cuối của một bài hát.
Liệu lượng: véo von, tiếng trong trẻo mà đi xa

Dịch Nghĩa:

Văn Địch Nghe Thổi Sáo

Thùy gia xuy địch hoạ lâu trung
Ai đang thổi sáo từ trên lầu ngôi nhà xinh đẹp.
Đoạn tống thanh tùy đoạn tục phong
Sáo vi vu tiếng mất tiếng còn theo làn gió đứt quãng truyền đến.
Hưởng át hành vân hoành bích lạc
Âm hưởng vang vọng như ngăn chận áng mây lơ lửng trên bần trời xanh.
Thanh hòa lãnh nguyệt đáo liêm long
Tiếng sáo trong trẻo như ánh trăng lạnh lẽo chiếu vào rèm cửa sổ.
Hưng lai tam lộng hữu Hoàn Tử
Khi hứng thú, tiếng sáo thổi khúc Mai Hoa Tam Lộng của Hoàn Y.
Phú tựu nhất thiên hoài Mã Dung
Mà giai điệu tao nhã làm nhớ tới Mã Dung, người đã làm ra được một ngàn bài phú.
Khúc bãi bất tri nhân tại phủ
Một khúc sáo đã hết, không biết người có còn ở trên lầu hay không?
Dư âm liệu lượng thượng phiêu không
Mà dư âm tiếng sáo vẫn như còn văng vẳng trong không trung.

Dịch Thơ:

Nghe Sáo

Tiếng sáo nhà ai thật véo von
Nương theo nhịp gió tiếng vơi tròn
Thanh vang ngăn chận mây trôi dạt
Lạnh lẽo theo trăng đến cửa son.
Khúc sáo Hoàn Y cao hứng thú
Mã Dung ngàn phú chất đầy non
Sáo ngưng, người thổi có còn đó
Lơ lửng dư âm như vẫn còn.

Translation: Listening to the Flute by Zhao Gu

Who is playing the flute on the upper floor of this family building
The melodious flute sound, clear or diffuse, follows the off and
on of the wind blowing.
When the flute sound is loud it is like holding back the moving clouds that stand horizontally in the blue sky.
When the sound is clear it is like the cold moon that shines into the window curtain.
In a happy mood the flute sound is like the music of "The three teasing of the plum blossoms" which was played by Huan Yi
Then I recall the piece of flute verse composed by Ma Rong
The music has ended, however I wonder if the person playing the flute is still on the floor.
I feel the flute sound still rising and falling in the empty space.

 Phí Minh Tâm
***
Góp ý 

興來三弄有桓子 hứng lai tam lộng hữu Hoàn Tử
Hoàn Tử là Hoàn Y (桓伊) thời Đông Tấn, có tài thổi sáo, có thể là tác giả của ba bài cổ cầm Mai Hoa Tam Lộng, và được gọi là địch thánh (笛聖) nhưng trang zh.Wikipedia chỉ nói về thành quả binh nghiệp.

[Hoàn Y thổi sáo, Tào Hữu Quang vẽ]

賦就一篇懷馬融 phú tựu nhất thiên hoài Mã Dung

Mã Dung (70-166, Đông Hán), cháu chắt của Mã Viện và Mã Nghiêm. Ông sáng tác bài Trường Địch Phú (長笛賦) dài 1717 chữ nói về lịch sử và công dụng, ảnh hưởng của trường địch, đoạn chót đại khái nói sáo do người Khương dùng tre sáng chế, xoi bốn lỗ để thổi rồi Dịch Kinh Quân xoi thêm một lỗ nữa cho hợp với âm luật nhà Thương.

Triệu Hỗ nghe tiếng sáo vọng lại từ một họa lâu (lầu trang trí sặc sỡ) đàng xa, không biết người thổi là ai và liên tưởng tới địch thánh Hoàn Y và học giả Mã Dung, hai người lưu danh trong sử Tàu về binh nghiệp và học thức, ngoài những hoạt động liên hệ tới sáo. Ấn tượng bài thơ tạo ra nơi người đọc cũng mơ hồ như tiếng sáo thoảng trong gió y như thể thi nhân đang nuối tiếc thời còn có cơ hội thành danh.

Viết thêm về sáo (địch):

Sáo căn bản xưa nay chỉ là một ống trúc dài, trên thân sáo có một hàng lỗ. Tôi không biết cách thổi với một lỗ ở gần cuối hay với đầu ống cách nào tới trước nhưng đoán là là lối thổi ngang với lỗ gần đầu thân sáo. Cần phân biệt 笛=địch và 簫=tiêu vì cả hai đều là sáo trong tiếng Việt; địch thổi ngang, tiêu thổi dọc. Thuyết Văn bảo rằng địch là cái ống có bảy lỗ và đó cũng là địch thời Triệu Hỗ, nhưng từ điển này ra đời đầu thế kỷ 2 nên không phản ảnh địch nguyên thủy. Địch của người Khương chỉ có ba lỗ.

Một lý thuyết về nguồn gốc của sáo là thân cây trúc bị côn trùng, kiến hay ong, đục lỗ rồi gió thổi qua các lỗ đó tạo nên âm thanh êm tai rồi người xưa suy ra là có thể tạo ra sáo và nhạc thay vì chờ côn trùng và gió làm.

Theo tôi nghĩ, thơ khởi đầu là lời để hát với nhạc ngũ âm; hát được thì dễ nhớ và được truyền đời thành ca dao, và hát không được thì thành các bài thơ sai vần luật. Các vần điệu trong thơ phải hơp với các nốt ngũ cung trầm bổng và từ đó có các luật bằng trắc của nhạc phủ, từ, tứ tuyệt, bát cú, v.v...

Huỳnh Kim Giám

Đôi Mắt Mùa Xuân



Nếu không nhờ đôi mắt ấy có lẽ tôi không bao giờ nhận ra vợ chồng người bạn trẻ, từng là ân nhân đã giúp tôi giữ được mạng sống của nhiều đồng đội và của cả chính mình, thời tôi còn lăn lộn trên chiến trường, khi lằn ranh sống chết nhiều khi còn mỏng hơn sợi tóc.

Cuối năm 1966, vừa rút quân ra khỏi Mật Khu Lê Hồng Phong, Phan Thiết, tôi dắt đại đội theo toàn bộ tiểu đoàn di chuyển lên Quảng Đức, tham dự một cuộc hành quân dài hạn nhằm truy lùng một đơn vị địch mới xâm nhập từ biên giới Miên-Việt. Cuộc hành quân kết thúc vài ngày trước Tết Nguyên Đán, nhưng tiểu đoàn có lệnh phải tiếp tục ở lại, biệt phái dài hạn cho Tiểu Khu Quảng Đức. Tiểu đoàn (-) về nghỉ quân tại Đạo Nghĩa, một khu dinh điền do Tổng Thống Ngô Đình Diệm sáng lập nhằm định cư di dân từ miền Bắc sau Hiệp Định Genève, và cũng để tạo thành một vòng đai chiến lược. Riêng đại đội tôi được “solo” xuống tăng cường cho Chi Khu Kiến Đức, một quận hầu hết dân cư là người Thượng và tương đối mất an ninh. Quận trưởng lúc ấy là một sĩ quan lớn tuổi gốc Lực Lượng Đặc Biệt, người Kinh, tuy chỉ mang cấp bậc trung úy nhưng khá dày dạn, nhiều kinh nghiệm chiến trường. Các sĩ quan còn lại trong Chi khu phần đông là người Thượng, gốc Bảo An đồng hóa.

Sau một cuộc hành quân tảo thanh chung quanh khu vực, đại đội tôi về đóng quân bên cạnh Chi khu để binh sĩ ăn Tết. Nói vậy thôi, chứ lính đánh giặc thì có cái gì để mà ăn Tết, ngoại trừ được ăn cơm nóng thay vì gạo sấy lương khô. Riêng tôi, được ông quận trưởng biếu cho mấy lon bia và một gói đậu xanh với đường đen để nấu chè đón giao thừa. Tôi cho ban chỉ huy đại đội và trung đội vũ khí nặng đóng quân trên ngọn đồi thấp giữa một vườn cà phê khá lớn, nằm không xa quận lỵ. Ngọn đồi chỉ là một cái chấm rất nhỏ giữa trùng điệp những vòng cao độ trên tấm bản đồ quân sự đang có trên tay tôi, nhưng đây là một vị trí có xạ trường tốt và tầm quan sát bao quát chung quanh. Mặc dù chỉ còn hai ngày nữa là Tết, tôi vẫn lệnh cho đại đội luôn trong tư thế tác chiến. Ban ngày các trung đội tảo thanh chung quanh, tối tổ chức các toán tiền đồn và phục kích theo tin tình báo của Chi Khu.

Phía dưới chân đồi là con đường đất và bên kia đường là ngôi trường tiểu học. Trường chỉ gồm một dãy nhà cũ kỹ, mái tôn gỉ sét phủ đầy bụi đỏ. Đang mùa mưa, cả sân trường và các con đường chung quanh đều đầy bùn đỏ, nhão nhoẹt, nên bọn tôi cũng không muốn bước vào.

Buổi chiều ba mươi Tết, khi đang nằm trên võng mơ màng, hồi tưởng đến những cái Tết ngày xưa, thời còn thơ ấu ở quê nhà, bỗng tôi nghe văng vẳng tiếng đàn và tiếng hát khá hay, đặc biệt giọng hát không có chút âm hưởng gì của một người sắc tộc, tôi tò mò rủ thêm hai chú lính rảo bước xuống chân đồi, đi vào trường, tìm đến nơi phát ra tiếng hát. Khi thấy bọn tôi lấp ló ngoài cửa, một thanh niên cầm đàn bước ra cười chào mừng rỡ, mời vào phòng. Trông anh còn rất trẻ như một thư sinh, nên tôi khá ngạc nhiên khi nghe anh tự giới thiệu mình là hiệu trưởng, và căn phòng lớn nguyên là một lớp học được sửa sang lại làm chỗ ở cho anh. Trong phòng đang có một đám học trò, toàn là người Thượng, cả nam lẫn nữ. Bọn tôi đưa tay chào và mời thầy trò cứ tiếp tục cuộc vui. Anh hiệu trưởng yêu cầu tôi hát tặng thầy trò anh một bài, nêu lý do đám học trò hồi giờ chỉ nghe có mỗi giọng hát của anh nên cũng chán. Tôi khó từ chối, nên gật đầu nhờ anh dạo đàn rồi đứng lên hát bài “ Con Đường Mang Tên Em” , bài ruột của tôi khi ấy, vì cứ mỗi lần nghỉ quân, lính tráng thường năn nỉ “ông thầy hát bài rất tình này cho tụi em nghe để thấy đời còn lên hương một chút.” Trong những ánh mắt của các cô cậu học trò chăm chú nhìn lên, tôi bỗng lưu ý tới một đôi mắt đẹp, mở to, xanh biếc. Cô bé khoảng 14 – 15, có khuôn mặt khá xinh, mái tóc rối, màu nâu đỏ, mang nét hoang dại của núi rừng. Tiếc rằng ngày ấy không có máy ảnh, và tôi lại dốt về vẽ, nên chẳng giữ lại được hình ảnh đặc biệt của đôi mắt này, nhưng rồi nó vẫn ở mãi cùng tôi trong ký ức.

Ông thầy giáo trẻ luôn tỏ ra mừng rỡ, vồn vã. Có lẽ từ khá lâu rồi anh mới gặp lại những người Kinh. Anh ngưng hát, bảo đám học trò phụ anh làm thịt một con gà, nấu cháo đãi bọn tôi. Tôi xin cho bọn tôi được góp phần. Tôi nhờ chú lính chạy về lấy mấy ký gạo, một xâu bia, và gói đậu xanh cùng những thỏi đường đen của ông quận mới cho. Một buổi tiệc dã chiến xem như mừng giao thừa sớm, cũng vui và cảm động. Kể từ hôm ấy, tôi trở thành bạn của anh thầy giáo hiệu trưởng, có tâm hồn nghệ sĩ và rất dễ thương này. Quê anh ở Bảo Lộc, Lâm Đồng. Sau khi đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp anh thi vào một Khóa Sư Phạm Cấp Tốc và chỉ học một năm thì tốt nghiệp. Chờ khá lâu mà chưa tìm được chỗ dạy, hơn nữa nhà nghèo, cần phải phụ giúp mẹ già lo cho hai đứa em nhỏ đang tuổi học hành, anh tình nguyện lên “vùng cao” nhận ngôi trường này, một nơi mà ai cũng chê. Vài người được chỉ định nhưng tìm cách chạy chọt để được ở lại hay chuyển về nơi khác. Nhưng bù lại, trong cùng khóa sư phạm mới ra trường, anh là người đầu tiên được nhận chức danh hiệu trưởng, ngoài ra còn được phụ cấp thêm một số tiền “đắt đỏ, vùng cao”. Anh ở đây đã tròn một năm. Tháng ngày gần như chỉ ở trong trường, làm bạn với đám học trò, hầu hết nói tiếng Việt chưa thông và hoàn toàn khác phong tục, tập quán. Nhưng cũng nhờ cuộc sống hiu quạnh giữa núi rừng này, lương tháng nào anh cũng còn nguyên để gởi về phụ mẹ, giúp các em ăn học. Học sinh không nhiều, có khi hai lớp khác trình độ phải dồn lại học chung. Ngoài công việc hiệu trưởng, anh còn phải dạy thêm lớp Nhì và lớp Nhất, nhưng cũng chỉ gần hai mươi học sinh được gộp lại thành một lớp. Có đứa đi học trễ, nên dù cùng lớp nhưng tuổi tác khá chênh lệch nhau.

Từ khi quen biết anh, lúc nào không bận hành quân, đặc biệt những dịp cuối tuần tôi đều ghé lại trường ca hát, ăn uống với anh. Dù vậy, tôi cũng cẩn trọng, không dám cho anh vào gặp tôi trong khu vực đóng quân.

Điều vui là lần nào ghé lại, tôi cũng gặp vài cô học trò xúm xít bên anh, giúp anh dọn phòng, nấu nướng. Trong số này có cô bé mang nét đẹp hoang dại với đôi mắt to, xanh biếc, từng làm tôi bất ngờ xao xuyến. Nhờ có thầy trò anh mà những ngày sống giữa núi rừng đất đỏ buồn hiu này trở nên thú vị. Tôi còn học được một số tiếng Ê-đê và vài tập quán khá lạ lẫm của họ. Đặc biệt khi sống gần họ, những con người hiền lành chân chất ấy, tôi cảm thấy tâm hồn mình trở nên nhẹ nhàng yên ả, tạm quên phía trước đang có nhiều trận chiến đẫm máu đang chờ.

Một hôm, khi trời sắp tối, anh thầy giáo nhờ một người lính nhắn tôi ra gặp anh gấp. Thấy anh có vẽ bồn chồn, lo lắng, trên môi không còn nụ cười vui vẻ như trước đây, tôi ưu tư, không biết có chuyện gì. Anh kéo tôi vào trong phòng, đóng kín cửa lại, bảo nhỏ cho tôi biết là một đám Thượng cộng sẽ tổ chức pháo kích và tấn công vào khu vực đóng quân của tôi, có thể ngay trong tối hôm nay. Anh bảo chính cô bé học trò có đôi mắt đẹp ấy, vừa chạy vào cho anh biết để báo tin gấp cho tôi. Cô bé cũng tỏ ra lo lắng lắm. Một người bạn của cô có cha mẹ quen biết, dính dáng đến đám Thượng cộng này. Tôi bắt tay cảm ơn rồi vội vàng trở về đại đội, lệnh cho im lặng vô tuyến và âm thầm rời khỏi vị trí, di chuyển đến đóng quân tạm tại một địa điểm khác cách đó không xa, báo cho ông Chi khu trưởng biết, để có kế hoạch đề phòng, và cho Pháo Binh một số tọa độ tiên liệu để yểm trợ khi cần thiết. Và đúng như vậy, vào khoảng một giờ khuya hôm ấy Cộng quân đã pháo kích vào ngay vị trí Ban Chỉ Huy Đại Đội của tôi trên đỉnh đồi trong vườn cà phê, nơi tôi vừa rời khỏi, bằng hai khẩu súng cối 82 ly, bắn đi từ hai hướng.Tôi đã may mắn, kịp thay đổi phòng tuyến để đánh lừa, và có kế hoạch bao vây chúng, nhưng không hiểu vì sao chúng không tổ chức tấn công, nên đại đội tôi đã mất một dịp lập chiến công. Pháo Binh của Chi Khu phản pháo kịp thời, nhưng không hiệu quả, có lẽ không biết chính xác vị trí hai khẩu pháo của địch. Sáng hôm sau, trở lại vị trí, tôi giật mình khi thấy đạn pháo đã cày nát vị trí đóng quân của mình. Ngay chỗ tôi nằm, bây giờ trở thành mấy cái hố sâu, cỏ cây tung tóe.

Tôi kể cho ông quận trưởng biết sự tình. Ông cho mời anh thầy giáo vào quận khen thưởng và đãi anh cùng bọn tôi một chầu. Nhưng anh bảo, công này không phải của anh, mà là của cô học trò người Thượng. Hôm sau, chính tôi đã mang quà của ông Quận đến kín đáo trao cho cô bé, nói nhỏ lời cảm ơn, và cùng ăn uống hát hò với thầy trò suốt ngày hôm ấy.

Khoảng năm tháng sau, đại đội tôi có lệnh rời khỏi Kiến Đức. đến phi trường Nhơn Cơ, sáp nhập với tiểu đoàn, để được không vận về Di Linh tiếp viện cho một đơn vị Biệt Động Quân bị địch quân phục kích và đang tăng cường vây hãm. Tôi chỉ kịp ghé lại trường vài phút để vội vã chia tay anh. Tôi mang tặng anh tấm poncho-light (loại chăn đắp rất mỏng và nhẹ) của một anh Cố vấn Mỹ đã tặng tôi trước khi về nước. Anh bảo sẽ rủ đám học trò ra ngã ba, nơi đoàn xe đang chờ, để tiễn tôi đi, nhưng tôi ngăn lại, không cho, bảo là không còn nhiều thời gian và tôi cũng rất bận với đồng đội của mình.

Tiểu Khu cho biết đã có một đại đội Bảo An mở đường, an ninh lộ trình, nhưng khi đoàn xe đến một ngã ba thì bị Cộng quân phục kích. Chiếc xe phía trước tôi bị giật mìn ngay chỗ đoạn đường đang sửa chữa. Tôi nhảy xuống khỏi xe vừa điều động phản công vừa gọi Pháo Binh yểm trợ và xin L-19 bao vùng. Mặc dù bất ngờ, và khoảng phân nửa một trung đội trên chiếc xe đầu bị giật mìn, bất khiển dụng, nhưng nhờ những người lính thiện chiến, can đảm, giàu kinh nghiệm, nên đại đội tôi kịp làm chủ tình hình. Khi đang đứng liên lạc tìm chiếc L-19 để hướng dẫn đến vị trí, một quả đạn súng cối rơi xuống cách tôi khoảng mấy mét, mảnh đạn đâm vào chân trái làm tôi có cảm giác tê buốt. Sau khi được anh y tá chich thuốc cầm máu, sát trùng và băng bó, tôi giao đại đội lại cho anh đại đội phó, và thay vì đi đến phi trường Nhơn Cơ, tôi được tản thương cùng các thương binh khác về bệnh viện tỉnh Quảng Đức ở Gia Nghĩa. Trưa hôm sau, Ông Chi Khu Trưởng Kiến Đức đến thăm, chở theo anh thầy giáo và cô học trò người Thượng đã từng giúp tôi một lần thoát chết trước đây. Cả hai người đã ôm chầm lấy tôi mà khóc, làm tôi cũng chạnh lòng.

Sau vài ngày, tôi được chuyển tiếp xuống QYV Nguyễn Huệ, Nha Trang, ngay quê tôi, bằng loại máy bay Caribou của Úc Đại Lợi. An ủi phần nào vì được gặp lại cha tôi mỗi ngày và một số bạn bè thường xuyên đến thăm. Cái chân trái của tôi bị thương khá nặng, nhưng may mắn là không bị cưa. Tôi phải điều trị ở đây hơn ba tháng. Những ngày nằm treo cái chân băng bột cứng đơ lên thành giường, nghe những đồng đội thương binh bên cạnh rên xiết, tôi càng nhận ra mình chỉ là một thằng lính mạt hạng, năm tháng chỉ còn biết có đồng đội, súng đạn, chiến trường, lằn ranh sống chết còn mỏng hơn sợi tóc, thì đâu dám mơ gì đến chuyện tương lai hay công hầu khanh tướng! Đôi lúc, nhớ tới tiếng đàn giọng hát của anh thầy giáo trẻ và nhất là đôi mắt của cô bé học trò người Thượng, tôi cũng có chút xao xuyến, chạnh lòng. Đôi mắt hồn nhiên yên ả như mặt nước hồ thu giữa núi rừng tĩnh mịch mà sao cứ làm tôi gợn sóng mãi trong lòng.Tôi viết thư thăm và báo tin về cái chân ngày một phục hồi, nhưng mãi đến khi sắp xuất viện tôi mới nhận được tấm carte-postale, chỉ viết mấy dòng, với nét chữ của hai người. Tôi bỗng nhớ tới lần cuối cùng, khi hai thầy trò đến thăm tôi tại Bệnh viện Gia Nghĩa, và đã nhỏ những giọt nước mắt ân tình xuống giường bệnh của tôi.

Sau khi xuất viện, được nghỉ hai tuần phép, tôi về quê sống bên cạnh cha tôi. Từ ngày đi lính, ngoại trừ lần về phép ra trường, đây là dịp lâu nhất tôi được ở bên cạnh cha tôi, trong gió nội hương đồng nơi tôi đã ra đời và những năm tháng lớn lên không có mẹ. Về trình diện hậu cứ ở Ban Mê Thuột, tôi lại nhận sự vụ lệnh theo học khóa tham mưu đặc biệt một tháng tại Bộ Tổng Tham Mưu. Trở về đơn vị, vì cái chân còn yếu tôi không được về lại đại đội mà sang nắm Ban 3 Tiểu Đoàn (đặc trách hành quân & huấn luyện, một phần vụ có liên quan ít nhiều tới khóa học vừa qua.)

Tháng 6 năm 1970, lúc này tôi đã được điều động về Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn giữ một chức vụ khác , cả trung đoàn di chuyển lên Quảng Đức, để được tăng cường một tiểu đoàn Biệt Động Quân, và một Chi đoàn Thiết Quân Vận, thành lập Chiến Đoàn , mở cuộc hành quân khá qui mô sang địa phận Cam-Bốt. Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn đặt bên cạnh Phi trường Nhơn Cơ. Cuộc hành quân mang tên “ Bình-Tây III” này kết thúc sau hơn một tháng với nhiều thắng lợi. Các đơn vị thống thuộc được về nghỉ quân chung quanh khu vực, chờ phương tiện triệt thoái. Một tiểu đoàn đóng quân tại Kiến Đức, anh tiểu đoàn trưởng lại là ông anh rất thân, trước kia là đại đội trưởng đầu tiên của tôi khi tôi mới ra trường. Lính bắn được con nai, anh gọi máy bảo tôi lên nhậu với anh, nhân anh cố vấn tiểu đoàn mới nhận tiếp tế, biếu lại mấy chai whisky. Tôi mừng thầm, tuy thèm lắm. nhưng nghĩ đến rượu với thịt nai thì ít mà nhớ đến đôi mắt cô bé người Thượng lúc trước thì nhiều, tôi xin phép ông Trung Đoàn Trưởng rồi hú theo mấy chú lính hộ tống chạy lên Kiến Đức. Nhai mấy miếng thịt nai và uống vội mấy hớp rượu, tôi chạy sang ngôi trường tiểu học. Rất vui khi bất ngờ được gặp lại anh thầy giáo và có cả cô học trò thuở trước. Nhưng điều làm tôi bất ngờ hơn là hai người bây giờ đã là vợ chồng. Một tấm ảnh cưới thật đẹp được phóng lớn treo trên vách, Căn phòng ngày xưa giờ đã được nới rộng, sửa sang và trang hoàng khá ấm cúng. Tôi ngạc nhiên reo lên mừng rỡ và ôm lấy hai người. Anh còn cho biết, bây giờ cô cũng đang là cô giáo phụ trách lớp mẫu giáo của trường.

Tôi đùa, bảo “cô học trò cưới ông thầy làm chồng mà không cho tôi biết để có quà mừng”, rồi đưa cái nón sắt tôi đang cầm trên tay bảo cô ôm trước bụng, như một ví von khi chúc cho cô sớm có bầu, “bắt được cái con” để tôi gởi bù quà. Anh chồng đưa tay chỉ cái poncho-light trên giường, bảo “bọn em vẫn đắp chung cái mền quí mà anh cho đấy chứ!” Khi chia tay, tôi ôm vai hai người và nói với anh: “Chắc bây giờ anh đã chịu nhận nơi này làm quê hương rồi phải không?” Hai vợ chồng cười. Khi nói lời chia tay, cô vợ khệ nệ cầm cái nón sắt trả lại, ngước nhìn tôi với nét xúc động, đôi mắt đẹp của ngày xưa lại khuấy động trái tim tôi. Tôi cười mà thấy lòng man mác!

Trong nhiều năm bị tù tội từ Nam ra Bắc, dù cuộc sống tăm tối khốn cùng, nhưng hình ảnh của anh thầy giáo và đặc biệt đôi mắt của cô bé người Thượng thỉnh thoảng vẫn thấp thoáng từ ký ức. Tôi nghĩ chắc chắn sẽ không bao giờ còn gặp lại họ. Hơn nữa lúc ấy, dường như tôi cũng chẳng còn tha thiết tới điều gì.

Ra tù một thời gian ngắn, tôi cùng ông anh và một số bạn bè cùng tù tổ chức vượt biển. Tất cả quá khứ đành bỏ lại phía sau lưng, có còn chăng chỉ thấp thoáng đâu đó ở trong lòng.

Mới đây tôi bất ngờ đọc được bản tin trên Facebook của một người nào đó ở trong nước, có kèm theo một clip ngắn. Bản tin với cái tựa “Người đàn bà khí khái của Đắk-Nông đã vĩnh viễn ra đi”. Đó là người đàn bà từng viết đơn gởi đi các nơi để phản đối việc chính quyền CS cho Trung Cộng khai thác bauxite và thiết lập nhà máy Aluminum ở Đắk-Nông (Tình Quảng Đức cũ). Bà cũng là người kịch liệt phản kháng khi chính quyền cưỡng chế, cướp đất đai canh tác của người Thượng, truy bức xô đuổi họ ra khỏi nương rẫy, bản làng, nơi mà họ đã từng bao đời khai phá và sống chết ở đây. Bà cùng người chồng đã từng bị đàn áp, bắt bớ, tù đày rất nhiều lần. Đặc biệt cái clip đã ghi lại hình ảnh bà cùng chồng tổ chức biểu tình vào tháng 7 năm 2016, khi đường ống từ nhà máy Alumin Nhơn Cơ của nhà thầu Chalieco Trung Quốc bị vỡ khiến 9,63 mét khối chất kiềm chảy ra ngoài, làm nhiễm độc trầm trọng nguồn nước và hủy hoại môi trường sống của dân chúng trong vùng. Đứng trước một rừng công an với đủ loại vũ khí trên tay, ông bà không hề nao núng, dang tay bảo vệ những người dân khốn khổ. Khi một đám công an lên đạn chĩa súng thị uy, bà bước tới, mở to đôi mắt sáng quắc đầy uất hận, thách thức. Tôi bỗng giật mình. Đôi mắt đập mạnh vào tâm não làm tim tôi đau buốt. Tôi vừa nhận ra đó chính là đôi mắt đẹp hiền lành của cô bé học trò người Thượng ngày xưa, sau này là vợ anh thầy giáo mà tôi hằng quí mến. Họ đã từng cứu tôi cùng đồng đội của tôi một lần thoát chết. Và cũng chính từ đôi mắt đẹp này đã nhỏ những giọt nước mắt ân tình xuống giường bệnh tôi nằm, sau một lần tôi bị thương ở Quảng Đức, đúng 55 năm về trước. Zoom lớn cái clip trên màn ảnh computer, tôi xem thật kỹ lại một vài lần nữa để nhận rõ khuôn mặt và nhất là đôi mắt của cô nàng, mặc dù bây giờ ánh mắt ấy đã không còn hồn nhiên như mặt nước hồ thu thuở trước. Sau đó tôi cũng nhận ra người chồng, anh hiệu trưởng trẻ tuổi, dễ thương, đàn và hát rất hay ngày trước. Bây giờ cả hai đều già đi nhiều, tóc đã hoa râm và gầy gò hơn trước. Người viết bản tin cũng cho biết anh chồng đã chết trước đó gần hai năm, sau nhiều ngày bị đày ải, tra tấn trong tù. Giờ thì hai người đã gặp lại nhau ở chốn bình an vĩnh cửu.

Từ nay, tôi sẽ mãi mãi không bao giờ còn nhìn thấy hai người trên thế gian này, nhưng bóng dáng của họ và nhất là đôi mắt của cô bé người Thượng năm nào sẽ không bao giờ rời khỏi ký ức và trái tim tôi. Đôi mắt đã để lại trong tôi biết bao tiếc thương, cùng cả niềm tin yêu và hy vọng. Đôi mắt của mùa Xuân.

Phạm Tín An Ninh