Nhạc & Ca Sĩ: SUNO AI
tiêu đề Nhãn
- BIÊN KHẢO
- CÂU ĐỐI
- CỔ THI
- GIA CHÁNH
- GIẢI TRÍ
- HÌNH ẢNH HỘI NGỘ
- HÌNH ẢNH NAY
- HÌNH ẢNH XƯA
- HỘI HỌA
- KHOA HỌC
- LƯU NIỆM
- LỊCH SỬ
- LỜI HAY Ý ĐẸP
- NHẠC
- SƯU TẦM
- SỨC KHOẺ
- THƠ
- THƠ CẢM TÁC
- THƠ DIỄN NGÂM
- THƠ DỊCH
- THƠ NHẠC
- THƠ PHỔ NHẠC
- THƠ SƯU TẦM
- THƠ TRANH
- THƠ TRANH NGHỆ SĨ
- TIN BUỒN
- TIN VUI
- VĂN
- VŨ HỐI THƯ HỌA
- VƯỜN THƠ VIÊN NGOẠI
- XƯỚNG HỌA
- YOUTUBE
Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2026
Mùa Xuân Yến Lạc
sao chim ngơ ngác lạc bầy kêu hoang.
Ngoài song hiên nắng rực vàng
nỡ quên viếng mảnh sân tàn mù tăm.
Thờ ơ lướt qua chỗ nằm
tay không dài đủ níu trăm năm về.
Đành thôi gác lại nguyện thề.
Chân sa một bước. Tứ bề sương giăng.
Mùa xuân. Áo mới. Tình nhân.
Khúc ca gợi nhớ. Trễ tràng dấu yêu.
Soi gương gom nhặt tịch liêu
gởi người trùng dặm dáng kiều vọng phu.
Mùa xuân. Khát vọng lãng du
mồ côi cánh én thiên cư một mình.
Thanh Hà
Lì Xì Anh Nè!

Chắc răng, thơm kẹo cao su
Thảo nào chàng tỏ… trơn tru chữ Tình
Tết rồi! Chẳng lẽ lặng thinh?
Nỗi chàng say đắm, nỗi mình đắm say
Ừ thì cho phép… nắm tay
Ban thêm dễ dãi, từ nay… hẹn hò!
Á Nghi
28.12.2016
Phản Diện Tình Yêu
Ngày xưa yêu quá là yêu
Chỉ nghe giọng nói đã xiêu lòng người
Còn thêm ánh mắt nụ cười
Ngất ngây say đắm một trời thương yêu
Một ngày không gặp buồn hiu
Nguyện thề sống chết nếu yêu không thành
Bên nhau xây đắp mộng lành
Mơ ngày hôn lễ chính danh vợ chồng
Cho nhau ân ái mặn nồng
Bỏ khi thương nhớ ngày mong tháng chờ
Để rồi khi tọai ước mơ
Mới hay thực tế chẳng thơ mộng gì
Sau thời trăng mật mấy khi
Chòang vai âu yếm thầm thì tiếng yêu
Bây giờ vất vả đủ điều
Lại thêm tật xấu khó chìu như xưa
Đôi lúc còn thấy khó ưa
Chanh chua gắt gỏng, người xưa đâu rồi
Bây giờ đành chịu đựng thôi
Bao nhiêu chân tướng lần hồi hiện ra
Thì đây là lúc ngộ ra
Yêu nhau chung sống mới là hiên ngang
Giờ đây biết đá biết vàng
Hôn nhân không chỉ nói càng yêu suông
Hy sinh, thông cảm, nhịn nhường
Mới là nền tảng lót đường trăm năm
Người Phương Nam
Buông - Tập Buông!
Buông
Chong đèn viết lại chữ Buông
Thời gian thấm thoát nỏ luôn đợi người
Xa rồi cái thủa hai mươi
Buông điều ảo vọng…nên lười phấn son
Hờn ghen dạ quá mỏi mòn
Dường như dĩ vãng lon ton ngược về
Buông gìn chuyện cũ lê thê
Tâm đà bất ổn nặng nề xiết bao!
Thầm Buông phiền não chênh chao
Cho dù thế giới muôn màu cũng lơi!
Xả Buông mọi thứ trên đời
Bao mùa xuân trải quý rồi, tìm chi?
Thân Buông sẽ nhẹ nhàng đi
Tâm Buông chợt hiểu lối về chẳng xa
Trí Buông giúp mộng tỉnh ra
Giận Buông ngọn lửa khó mà khởi lên
Sầu Buông gửi lại sau rèm
Ngờ Buông xóa sạch hiểu lầm nặng lo
Danh Buông dạt sóng xô bồ
Lòng Buông đố kỵ hững hờ đôi bên
Đêm Buông tĩnh lặng tham thiền
Ý Buông tỏa sáng hạnh hiền mai sau
Thời gian tựa thể bóng câu
Tham, sân, si hận... vết sâu hẳn mờ?
***
Tập Buông!
Cuộc đời đến lúc Tập Buông
Kẻo không phiền lụy mãi luôn níu người
Không như cái thuở đôi mươi
Nét xuân còn đượm dù lười điểm son
Giờ đây sức lực héo mòn
Càng níu cái khổ lon ton ập về
Buông bỏ tâm sẽ thỏa thê
Thương yêu nhân loại chẳng nề là bao
Dầu cho trí não nghiêng chao
Muôn hình vạn trạng tâm màu chẳng lơi
Dấn thân làm đẹp cho đời
Dặm trường sóng gió đã rồi ngại chi
Buông sân si hận dần đi
Bước đường sỏi đá ngại gì gần xa
Thiện hành mở lối tìm ra
Tiếng chuông thức tĩnh... thế mà vang lên
Hương xuân lan tỏa qua rèm
Buông theo gió quyện êm đềm nhẹ lo
Ta là hạt cát bụi tro
Thiên đường rộng mở dành cho người hiền
Tập Buông lắng đọng tâm thiền
Lễ Nghĩa Trí Tín lưu truyền đời sau
Cuộc đời thoáng chốc vó câu
Nét son Nhân Đức khắc sâu khó mờ!
Thâm tình gửi ít dòng thơ
Dương trần cõi tạm thấy bờ... nhớ Buông!
Như Thu
02/21/2026
***
Dương trần cõi tạm thấy bờ... nhớ Buông!
Như Thu
02/21/2026
***
Cảm Tác:
Tập Buông!
Cuộc đời đến lúc Tập Buông
Kẻo không phiền lụy mãi luôn níu người
Không như cái thuở đôi mươi
Nét xuân còn đượm dù lười điểm son
Giờ đây sức lực héo mòn
Càng níu cái khổ lon ton ập về
Buông bỏ tâm sẽ thỏa thê
Thương yêu nhân loại chẳng nề là bao
Dầu cho trí não nghiêng chao
Muôn hình vạn trạng tâm màu chẳng lơi
Dấn thân làm đẹp cho đời
Dặm trường sóng gió đã rồi ngại chi
Buông sân si hận dần đi
Bước đường sỏi đá ngại gì gần xa
Thiện hành mở lối tìm ra
Tiếng chuông thức tĩnh... thế mà vang lên
Hương xuân lan tỏa qua rèm
Buông theo gió quyện êm đềm nhẹ lo
Ta là hạt cát bụi tro
Thiên đường rộng mở dành cho người hiền
Tập Buông lắng đọng tâm thiền
Lễ Nghĩa Trí Tín lưu truyền đời sau
Cuộc đời thoáng chốc vó câu
Nét son Nhân Đức khắc sâu khó mờ!
***
Đồng cảm xin gửi tâm thơ
Úc Châu, Mỹ Quốc đôi bờ… đừng Buông!
Kim Oanh
25.2.2026
Đồng cảm xin gửi tâm thơ
Úc Châu, Mỹ Quốc đôi bờ… đừng Buông!
Kim Oanh
25.2.2026
Tháng Giêng
Rồi tết qua đi, sầu ở lại
Quê nhà xa huốt một đường bay
Rượu xuân ai ướp mùi quan ải
Mà thấm xa thêm những dặm dài!
Bốn câu hai mươi tám chữ, cụt ngủn. Lỡ có muốn thêm cũng chẳng biết thêm gì. Mà có thiếu gì không, mấy câu gọi là thơ, buổi chiều mùng-ba năm đầu tiên ăn-tết ở xứ người.
Một năm trước đó, ngay bữa ba-mươi-tết, tôi bồng đứa con gái đầu lòng lên năm, đeo xe đò từ một tỉnh ở phía cực tây, về thăm cha mẹ ở một làng quê giữa hai nhánh sông Tiền và sông Hậu. Luôn thể để báo tin một chuyến đi xa. Xa lắm, không biết có tới nơi tới chốn. Mà cũng chẳng biết ... rồi sẽ có một ngày về.
Gia đình đông con, bốn trai năm gái. Nhưng lần ấy, ba anh em trai còn đâu đó trong các trại tù heo hút mấy miệt rừng núi Lào Kai, Yên Bái ... Mấy chị em gái cũng bận đi nuôi chồng trong các trại lán lẩn lút giữa một miền Nam thân quen bỗng sớm chiều trở thành lạ lẫm.
Chỉ còn tôi và đứa cháu gái ngu ngơ hớn hở vì được về thăm nội dù từ khi lọt lòng chưa một lần được nội ẳm bồng.
Đêm ba mươi. Ba tôi thắp ngọn đèn dầu leo lét trên bàn thờ tổ tiên cho tôi lạy từ biệt đất nước ông bà. Ngôi nhà gạch xinh xắn có giàn bông giấy tím ở tỉnh bị cướp trên tay, đổi thành căn nhà lá vách tre đứng chênh vênh trên doi đất vói ra vàm kinh Bình Phụng. Đêm cuối năm, trăng sao trốn biệt. Đêm trừ tịch, gió rền rĩ lẫy hờn. Đêm sinh ly, sóng vổ bờ như vổ vào chính lòng tôi, từng điệu oán.
Lễ xong, tôi xoay qua, mếu máo quỳ lạy sống ba má tôi, lần đầu mà nghĩ là lần cuối. Con gái thấy lạ cười ngặt nghẽo trên tay bà nội.
Sáng hôm sau, bồng con quày trở lại nơi mai mốt sẽ khởi đầu cho chuyến đi vô định.
Mùng chín tết năm đó, tôi rời Việt Nam.
Một năm sau, tôi ăn tết ở một nơi không có bàn thờ ông bà, không cha không mẹ, không anh chị em, không hoa mai cũng chẳng mứt gừng mứt bí... Chung quanh tôi, tuyết trắng, trắng đến mênh mông như một cõi lòng đã lạnh. Trái đất quay, quay theo chiều quay nghiệt ngã. Xuân ở quê nhà, quê người đã quá nửa chừng đông.
Giữa đêm, trời đổ tuyết. Từng nhúm tuyết mịn bân mà nhẹ hửng như bông gòn thổi bay xối xả, nhuộm trắng cả đêm đen. Gió réo, tuyết loay hoay xoay chiều, lắm khi luống cuống như lạc nẻo, quẩy đập vào nhau vật vã như tiếng kêu khổ của mùa. Đêm gượng sáng mà có ngó ra thử tìm hướng cố hương cũng chỉ thấy mù thêm hai con mắt vốn đã thất lạc, từ khi. Nhìn tuyết trắng trời mà cảm thán tới muốn sửa thơ Nguyễn Bính tiếc Huyền Trân. Giờ đây chín vạn bông trời nở / Riêng có lòng ta khép lại thôi. Ông ta tả hoa lá mùa xuân rực rỡ ở đâu không biết. Chớ ở đây, cõi tôi gá thân chỉ có trắng một trời bông tuyết nở ! Lòng người xa xứ, có khép lại, cũng đành.
................................
............................
Vậy mà rồi hơn bốn mươi năm. Bốn mươi năm biệt xứ, không về lại một lần. Tang cha, tang mẹ, trắng xé lòng, mỗi lượt. Ở xa, tôi không đi chùa đi miểu. Mỗi lượt, tôi, mình tôi, chẳng đạo chúa, trốn vô ngôi nhà thờ nhỏ ở góc phố vắng. Trưa im im, lặng ngắt, đèn thờ không sáng nổi mặt tượng. Không gian nhốt kín, cả đến gió thu cũng bị chận lại bên ngoài. Mình tôi, riêng lẻ mình tôi, thu mình trong một góc khuất, nhìn cái trống không giữa những vòm cong thánh đường. Tôi ngồi ở đó, bất động. Rồi thấy lại tôi chín mười tuổi chạy nhảy thênh thang giữa tấm lòng trải rộng đến mênh mông của cha mẹ. Thấy lại tôi trưởng thành vẫn y nguyên một nỗi cưu mang như khi còn đòi bồng ẵm. Thấy lại tôi với lời tự hứa báo hiếu ngày mới ra trường. Thấy lại tôi bỏ cha bỏ mẹ ngay đúng lúc tuổi già xế bóng ... Thấy lại tôi với tội nghiệt tôi ...
Tôi ngồi ở đó, khóc, lặng lẽ mãi đến khi chiều xuống.
Rồi ra về với huyệt mộ chôn kín trong lòng.
Hôm sau, đã ba chân bốn cẳng chạy theo miếng ăn, giữa xứ người rộn rã mà quạnh quẽ tiếng hỏi câu chào.
Mươi năm sau, nghe người về, rủ rê. Sao lòng tôi lạnh tanh. Tôi không yêu quê tôi sao. Không ! Tôi yêu quê tôi lắm chớ. Ở đó còn mồ mã ông bà dù đã lạn. Còn bao nhiêu mồ mã vô danh khác dù đã tan thành cát bụi để tựu hình mảnh đất hình chữ S nằm nghênh ngang một cõi bờ Đông Hải, gần suốt hai mươi thế kỷ. Còn riêng trong một góc nhỏ, hai nấm mộ lạnh tanh. Nơi đó, tôi đã lớn lên, ngoài sự chăm lo đùm bọc của mẹ cha, còn nguyên cả một chiếc nôi đồ sộ mà tổ tiên tôi ... đã chụm tay kết thành bằng mồ hôi, máu, nước mắt và cả một tinh thần nhân bản tuyệt vời. Quê hương tôi đã nuôi tôi lớn lên bằng cơm gạo, cá mắm, thịt thà ... kết tụ từ đất đai sông nước mà người trước tôi đã gầy dựng, giữ gìn. Quê hương tôi đã dạy tôi sự nhẫn nại cùng cực của một dân tộc đã bị đày đọa gần suốt hai ngàn năm dưới sự thống trị của đám giặc phương bắc mà vẫn còn nguyên lành bản chất như nhánh tre già, qua bao nhiêu bão dữ vẫn dẻo dai vươn mình. Quê hương tôi đã cho tôi cả một kho ca dao mà từng câu lục bát ngọt ngào đến độ mẹ ru con thành tiếng ầu ơ. Quê hương tôi đã cho tôi nghìn trùng lời hay ý đẹp trong mỗi câu mỗi chữ mà ngôn từ cấu tứ đẹp như gấm như hoa, của ba ngàn hai trăm năm mươi bốn câu lục bát kể chuyện đoạn trường Thúy Kiều, ba trăm năm mươi sáu câu song thất lục bát than thở nỗi buồn Cung Oán, bốn trăm lẻ tám câu kể lể nỗi chờ mong Chinh Phụ ... Những bài hát nói mà âm tiết nghe reo vui như tiếng cười khúc khích khi đời chưa dâu bể. Những câu thơ 7 chữ 8 chữ ... của những người làm Thơ Mới mà chữ nghĩa được nhã luyện đến thành văn vẻ, được chuốc lọc để trở nên óng ánh như trăng sao ... Quê hương tôi đã dạy tôi ăn ở lễ nghĩa trong gia đình, ân cần ngoài xả hội như chính tấm lòng của kẻ sĩ Nguyễn Trải, ngay khi ở phương tây người ta còn thiêu sống nhau vì ba cái trò ngụy tín. Còn bao nhiêu nữa làm sao kể hết. Làm sao tôi quên. Làm sao tôi không nhớ.
Vậy rồi tới khi bỏ xứ mà đi, coi như phủi sạch nợ nần. Làm sao lòng không lấn cấn.
Xứ người, lạ từng cọng cỏ ngọn cây. Lạ tới tiếng hỏi câu chào. Lắm khi buồn ngẩn buồn ngơ. Dẫu có an thân sao vẫn cứ thấy mình tạm bợ.
Mà biểu về, chẳng lẻ lại cúi gập mặt mà về để khỏi nhìn thấy những thay đổi não lòng. Ở đó, những thằng trọc phú quyền thế ! Ở đó những người nghèo mạt hạng không chút đỡ đần ! Và cả một tinh thần nhân nghĩa từ ngàn đời bị dày đạp chẳng làm xao xuyến được một cái nhíu mày !
..........................
..............................
Rồi tết qua đi, sầu ở lại!
... Lại thêm một cái tết quê người. Mươi năm đầu, còn nguyên một hy vọng, kềm lòng giữ chí như ngày ra đi. Vẫn mơ một ngày về lại cố hương, thắp nén nhang, quỳ xin tội với vong linh người khuất mặt. Rồi dấn mình vào cuộc trùng hưng. Nhưng rồi, từng năm qua, từng cơn mơ bị giựt dậy phũ phàng ...
Tôi đã làm gì đời tôi. Ngoài miếng ăn, từng bữa ... Và quê hương vẫn rền rĩ giọng hờn !
Vậy rồi bốn mươi năm đã qua. Qua ngọt xớt như mới hôm qua hôm kia.
Thời gian lẳng lặng thoát đi như sao xẹt.
Tôi còn ở đây, bên này biển lớn, giữa bãi bờ trắng toát ...
Mấy ngày qua, chiếc độc bình cũ được cắm thêm nhánh mai giả, phủi hoài mà bụi vẫn thâm đen. Săm soi rồi thấy mũi lòng. Hoa giả vô tình mà cũng tàn tạ. Nói gì tới người ...
Năm này sang năm khác, thói thường rồi phải quen. Quen với sự dư thừa cũng như sự thiếu thốn.
Bốn mươi năm rồi. Đủ để quen bao nhiêu thứ lạ mà sao vẫn không quen với cái thói lãng quên. Quen với ngọn thông xanh sừng sững sao không quen với cái trống trải vì vắng bóng bụi tre già. Đã nhẳn mặ̣t với đường lộ phẳng phiu sao còn thắt thỏm hoài lối về làng trầy trật, ngang qua bến nước với chiếc cầu tre lắt lẻo .......................
.........................
Bốn mươi năm rồi, sao còn lấn cấn với ba cái chuyện phải quên. Làm như quá khứ giành giựt hoài với hiện tại, bốn mươi năm rồi vẫn không chịu buông tay ! Cái thói quen hay tục lệ mà mỗi năm tết đến là ai nấy dù bôn ba đâu đó cũng lo thu xếp về quê, mừng tuổi mẹ cha, vung đắp mồ mã, cúng vái ông bà ... làm như nhiểm trong máu huyết hay sao. Vậy mà rồi, bỗng dưng, bít hết mọi đường về !
Bốn mươi cái tết xa quê. Lẽ ra đâu còn lạ cái lạnh cóng người của mùa xuân vọng tưởng. Lẽ ra mọi ấm ức phải dìm sâu, chôn kín dưới mấy tầng huyệt thời gian. Vậy mà cứ mỗi lần nghe nhắc tết, lòng sao lại băng hăng bó hó như lỡ thiếu sót một điều gì. Chút lễ vật, trái cây, nhang đèn ... đã có đó, tàm tạm. Làm sao đòi hỏi hơn nữa, chỗ đất trời lạ lẫm.
Mà dẫu có thiếu rồi cũng có làm sao. Kiểu ăn nhờ ở đậu. Được chừng một hai bữa. Rồi tết nhứt cũng qua. Ai nấy trở lại với nhịp sống mới đã thành nếp. Sao riêng mình, cứ mãi chút băn khoăn ...
Tết tha hương rồi thoáng qua như bóng mây váng vất ...
Còn lại không là chút khói hương lẫn lẫn trong gian nhà kín cửa. Chút khói hương quến lại như chút quà tết ai đó bỏ quên. Khổ nỗi, của bỏ quên mà sao gợi đầy mùi nhớ. Những thề nguyền!
Có phải vẫn mãi là nỗi ân hận của một kẻ trốn chạy, bỏ cuộc ... giữa chừng!
Có phải vẫn mãi là nỗi chua cay của một kẻ bị giựt dậy giữa cơn trường mộng!
Có phải vẫn mãi là sự hổ thẹn của một kẻ đã thất hứa dẫu thệ nguyền chưa bao giờ được khắc đá đề tên!
Trong giờ khắc linh thiêng của một năm, sao lại nhớ, nhớ như mới hôm qua hôm kia, nhớ như từng chữ từng lời đã đục đẽo vào tim ...
Tết qua rồi, nhang đèn đã lạnh. Sao lời thư năm nào, tháng nào, ngày nào đó ... vẫn lắt lay trong trí nảo đã gần như mòn nhẵn
“ Ở xa, con ăn tết ra sao? Tết nhứt ba không chờ quà cáp. Ba chờ tụi con gởi về tin vui chung cho hết thảy mọi người ’’
Mấy dòng chữ mực xanh, nét sắc như dao khắc ... vẫn còn như từng mũi nhọn.
Vậy đó tưởng quên mà vẫn nhớ. Mười năm một giấc mộng không thành. Người chờ cho hết đời cô quạnh. Ta đứng bên trời, lệ chảy nhanh.
Rồi tết qua đi, sầu ở lại !
Cao Vị Khanh
Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026
Mưa Tháng Chạp - Thơ Hà Huyền Chi - Nhạc Phạm Anh Dũng - Suno Hòa Âm Và Hát
Thơ Hà Huyền Chi
Nhạc Phạm Anh Dũng
Hòa Âm Và Hát: Suno
Nhạc Phạm Anh Dũng
Hòa Âm Và Hát: Suno
Chợ Chay Tết Ngọ
( Ảnh: Tác Giả gửi)
Trong mắt của tui, Bà vẫn son
Dù thời tươi trẻ đã không còn.
Tâm tư thuở trước đầy linh hoạt
Vóc dáng ngày nay chút héo hon.
Lúc đó thân thương tình tựa núi
Giờ đây gắn bó nghĩa như non.
Chợ chay Tết Ngọ mình tham dự
Dìu dắt du Xuân, dẫu gối mòn.
Duy Anh
Tết Bính Ngọ 2026
Xuân Này(Huế 1958)
Con biết mẹ buồn lắm
Căn nhà xưa chìm trong ảm đạm,
Ngẩn ngơ sầu, trăng gió lặng yên.
Cây mai vàng trước ngõ dòm nghiêng,
Nhớ con thuở ấy, thường xuyên thăm chừng.
Bướm ong lờ lững trước sân,
Trách con sao tệ! bụi cúc hồng héo queo!
Cảnh nhà sao quá buồn teo,
Nhớ con, mẹ thớ thẩn quạnh hiu ra vào!
Bước đi chân thấp chân cao,
Đồ mới chẳng sắm,tóc hoa râm thêm nhiều.
Không bánh chưng,trà mức đơn sơ,
Lòng thành cầu nguyện đất trời chứng minh.
Lời mẹ cầu, giao cảm thần linh
Ôi thương mẹ quá, hằng đêm nghẹn ngào!
Dù xa quê, con vẫn tưởng ở nhà,
Trái tim của mẹ ngọc ngà bên con.
Quyết tâm học tập để mẹ vui lòng,
Hẹn mùa xuân đến, mẹ con rỡ ràng!
Lỡ Bước Xuân Sang

Em rưc rỡ
Má đỏ môi hồng tươi nhuận sắc
Người về
Trong mắt trong
Vui vô tận dã hoa ngoài đồng
Dấu giày lưu lãng
Tết vòng cỏ dại đội cả mùa xuân
Lòng bâng khuâng câu thơ viết dở
Xưa nay có trọn vẹn bao giờ
Đêm thành đô mờ nhạt ánh đèn vàng
Cuộc vui tiếng hát chưa tan
Quán rượu đêm xuân cuồng nhiệt
Mặc bao khác biệt chẻ chia
Dù mê trong cuộc chơi này
Đâu dễ lãng quên đồng nội
Tháng ngày mang mang thương nhớ
Người đi lỡ bước xuân sang
Lãng Thanh
Ất Lăng thành, 0226
Thiền Xuân

Hoa nhìn ngộ nghĩnh biết khen thế nào?
Hoa mây hòa sắc ngọt ngào
Bức tranh êm ả, thơ vào góp công?
Tại em vấn chiếc khăn hồng
Thổi thêm sức sống bềnh bồng hồn thơ
Rì rào, tre cũng nghi ngờ
Có người tơ tưởng dây Tơ Hồng kìa.
Nhẹ nhàng mềm mại thế kia
Áo dài em động, lụa chia hai tà
Tóc đùa theo nhịp thướt tha
Vuông thành, sắc cạnh Người Ta ngồi đồng.
Mắt thiền, trầu chẳng, cau không
Mà sao sống động cả Mồng Hai xuân?
Dịu dàng khoe nắng vàng sân
Mai thua sắc áo, vờn gần mắt anh.
Chuông chùa chẳng vọng nhịp nhanh
Tim anh sao lạ, nó giành giật chi?
Mây ơi! Đứng mãi đừng đi
Xin em cũng thế! Mình thi nhau… thiền!
Á Nghi,
29.12.2018
Bóng Nguyệt - Trăng, Nước, Lụa Và Em
Xướng:
Bóng Nguyệt
Bóng nguyệt lênh đênh lạc cuối dòng,
Giai nhân tựa cửa tóc mây hong,
Liễu mơ màng đợi cơn sầu mộng,
Sương thẹn thùng say giấc nhớ mong.
Thềm cũ phai tàn cùng tuế nguyệt,
Lối xưa lạnh lẽo với đông phong,
Dấu hài ai vẽ canh hồ lắng,
Tấc nến hư hao giá buốt lòng.
Virginia, Jan 27/2023.
Dương Vân Châu Trúc Ca
***
Họa:
Trăng, Nước, Lụa Và Em
Chênh chếch trăng soi, nước một dòng.
Ai đem dải yếm lụa đào hong.
Giữa đêm lạc bước chìm cơn mộng
Hừng sáng lầm đường lỡ nỗi mong.
Em bóng liêu trai hay bóng nguyệt.
Ta hồn lãng tử dậy cuồng phong
Vút cao rồi bỗng nhiên chìm lắng
Lụa đó, em đâu, chết lịm lòng!
Mùi Quý Bồng
(02/05/2023)
Thuở Học Trò
Hình như từ nhỏ đến lớn tôi chẳng tự quyết định được việc gì quan trọng. Chuyện thi vào đệ thất cũng thế. Sau khi đỗ tiểu học qua kỳ thi với đầy đủ cả phần viết và vấn đáp tại Trường Tiểu Học Chí Hoà Quận 3 Sài Gòn, bố tôi quyết định cho tôi thi vào Trường Trung Học Nguyễn Trãi. Đi thi về là phải trình lại tất cả giấy nháp cho bố xem. Xem xong bố tôi phán: “Rất hy vọng là đỗ được!”
Kết quả là tôi được xếp vào lớp đệ thất B1 niên khoá 1955-1956.
Đường Đến Trường
Bây giờ nghĩ lại thấy ông cụ quyết định cho tôi học trường Nguyễn Trãi là đúng vì nhà ở Chí Hòa chỉ phải đi xe buýt một chuyến thẳng từ chợ Chí Hoà đến chợ Bến Thành rồi đi bộ một khúc từ bùng binh Sài Gòn đến rạp cinê Đại Nam là tới trường ngay. Trường Nguyễn Trãi hồi đó học nhờ trường tiểu học Trương Minh Ký, một mặt giáp với rạp Đại Nam, ba mặt kia nhìn ra ba đường: Trần Hưng Đạo, Nguyễn Thái Học và Hồ Văn Ngà.
Lớp tôi nằm ở góc của trường có cửa sổ nhìn ra đường Hồ Văn Ngà cây cao bóng mát.
Đoạn đường đi bộ từ bến xe buýt đến trường có nhiều điều thú vị. Hôm nào xe đến sớm thì có thể ghé vào một hiệu sách bên kia đường, đối diện bến xe buýt để ngắm các bìa sách thật đẹp. Đi một quãng là đến tiệm bán máy may Sinco. Qua khỏi hiệu Sinco là một loạt các cửa hàng, trong đó có tiệm kem Phi Điệp mà dân học sinh, sinh viên Sài Gòn không ai là không biết. Ngoài ra lại có tiệm hớt tóc Hoa Sinh mà mỗi người khách đến đều được tặng một bản nhạc của các nhà xuất bản như Tinh Hoa, An Phú…
Đến đầu đường Ký Con có một xe nước mía. Rất hiếm khi tôi ăn uống ngoài đường, nhưng có một hôm trời nóng quá, trong túi lại rủng rỉnh ít tiền lẻ nên tôi ghé vào uống một ly. Tuy khát nhưng vừa hớp được một ngụm thì bị khựng lại vì nước mía nhạt nhẽo và có vị lạ. Về sau hỏi ra mới biết rằng xe nước mía ấy của một người Ấn Độ và ông ta luôn luôn pha càri vào nước mía! Đó là lần duy nhất trong đời tôi được thưởng thức nước mía hương vị càri.
Đi một chút nữa là đến vũ trường Văn Cảnh. Chắc là tôi chỉ đi qua đó vào buổi trưa nên chẳng khi nào nghe thấy tiếng nhạc vọng ra. Qua khỏi Văn Cảnh là rạp chiếu bóng Đại Nam. Đi bộ đến đây thì thường là đã hơi mỏi chân rồi nên tôi hay tạt vào rạp Đại Nam để vừa nghỉ chân, vừa tà tà xem các hình ảnh của phim chiếu trong ngày và các kỳ tới. Vì ghé rạp thường xuyên nên tôi thuộc vanh vách tên các tài tử nổi tiếng và sưu tập được cả một tập dày cộm các tờ chương trình chiếu phim của rạp Đại Nam.
Hôm nào xe buýt đến sớm thì thay vì đi thẳng đường Trần Hưng Đạo đến trường, tôi rẽ trái ở vũ trường Văn Cảnh rồi rẽ phải vào đường Hồ Văn Ngà rợp bóng mát. Đặc biệt tại đây có mấy hiệu bán đàn và dụng cụ âm nhạc. Cứ nhìn các cây đàn tuyệt đẹp và nhìn các bản nhạc qua tủ kính là đủ thấy “đã” rồi.
Trước cổng trường Nguyễn Trãi mở ra đường Nguyễn Thái Học là một bãi đất trống. Học sinh Nguyễn Trãi thường tụ tập ở đây, chờ các lớp học sinh tiểu học ra hết mới đến lượt mình vào học. Tại đây có nhiều hàng quà. Từ kem đến bò khô, bò bía, ổi giầm, bánh cuốn, bánh ngọt… Thôi thì đủ thứ, trông ngon lắm! Tuy vậy tôi chưa thưởng thức món nào tại đây vì nhớ lời mẹ dặn rằng mình đã là học sinh trung học rồi, phải đứng đắn, không nên ăn uống linh tinh ngoài đường như các học sinh tiểu học nữa!
Ngu Ngơ Đệ Thất
Trường Nguyễn Trãi trong thời gian còn học nhờ trường khác vẫn có những sinh hoạt văn nghệ đầy hứng thú. Hồi học tiểu học ở trường làng, tôi nào có bao giờ được xem văn nghệ trong trường. Đến khi vào Nguyễn Trãi thì thỉnh thoảng được xem trình diễn ngay trong trường nên thích thú lắm. Những điệu vũ như Trấn Thủ Lưu Đồn gây ấn tượng tốt đẹp trong tôi mãi đến bây giờ.
Có lần trường tổ chức văn nghệ tại rạp Thanh Bình. Lớp tôi cũng họp hành phân chia công việc. Tôi chỉ ngồi im. Cuối giờ anh trưởng lớp chỉ tôi nói: “Tuấn chưa xung phong làm gì hả? Thôi vào ban khánh tiết đi. Ngày mai họp riêng ban khánh tiết.” Tôi gật đầu dù lúc ấy chẳng biết khánh tiết nghĩa là gì. Hôm họp ban khánh tiết tôi đến thật sớm và ngồi ở cuối lớp. Một lúc sau thì có nhiều người vào. Tôi chẳng thấy ai quen. Các anh bàn đủ thứ việc. Một lúc sau anh trưởng ban hướng về phía tôi nói: “Em, nếu em không có việc ở đây thì có thể về.” Tôi ngượng quá. Mình cũng đi họp mà, sao lại vậy! Tuy nhiên thấy ngồi đã chán lại thấy họp hành chẳng có gì hứng thú nên tôi ngượng ngùng, tẽn tò ra cửa đi về. Từ đấy về sau tôi rất ghét chuyện họp hành và luôn tránh né trừ những trường hợp bắt buộc.
Hồi bắt đầu học đệ thất tôi mới 10 tuổi nên còn ngố lắm. Tôi biết có bốn lớp đệ thất nhưng không hề biết rằng trong đó có một lớp nữ. Khi qua đến xứ Mỹ này, khi bị một anh bạn hỏi đùa rằng hồi đó có quen cô nào học cùng thời ở Nguyễn Trãi không. Tôi gân cổ cãi rằng Nguyễn Trãi làm gì có nữ sinh! Mãi đến khi sinh hoạt trong forum của Nguyễn Trãi và trực tiếp email với một chị học cùng thời, tôi mới tin rằng hồi đó Nguyễn Trãi có lớp nữ sinh thật. Tôi gọi điện thoại đến xin lỗi anh bạn. Anh ấy cười hì hì nói rằng: “Đúng là thằng… ngô sắc!”
Tôi thích xem ciné từ lúc còn rất nhỏ nhưng chỉ được xem ở những rạp rẻ tiền, vào rạp là nóng toát mồ hôi vì không có máy lạnh. Ấy là chưa kể nhiều khi còn bị rệp đốt. Chẳng khi nào tôi được xem ở những rạp lớn như Đại Nam mà khi mới vào đến cửa rạp nơi treo các hình tài tử là đã thấy mát mẻ, thoải mái rồi. Một hôm ông anh lớn rất chịu chơi của một bạn tôi hỏi: “Thích xem ciné Đại Nam không? Muốn thì đi với tao!” Tôi đồng ý liền. Khi đến rạp anh ấy dúi vào tay tôi ít tiền lẻ và dặn: “Cứ làm theo tao” .Tôi đứng sớ rớ ở chỗ treo mấy ảnh tài tử và theo dõi anh ấy để bắt chước. Tôi thấy anh ấy thản nhiên đi vào cửa và đưa tay như chìa vé cho người soát vé nhưng thực ra là dúi tiền vào tay người ấy. Một lúc sau tôi làm theo như vậy nhưng khi vừa chui khỏi tấm màn dày ở cuối rạp thì ai đó nắm chặt vai tôi hỏi: “Tiền đâu?” Tôi sợ quá, phản xạ sinh tồn tự nhiên là lẩn ngay vào đám đông. Cũng may là hôm ấy rạp đông quá, số người đứng rất nhiều nên tôi ... an toàn. Tuy nhiên tim tôi đập dữ dội như muốn vỡ tung lồng ngực. Sau lần đi coi cọp hay gần như coi cọp này, tôi rút ra được một bài học quý giá: Không nên làm điều gì ám muội vì nội cái sợ là đủ đứng tim mà chết rồi. Vì thế tôi rất phục những người làm nghề tình báo. Chắc là họ phải có gene đặc biệt, nên mới có can đảm làm những chuyện táo bạo, dễ bị hồi hộp, đứng tim.
“Cúp Cua”
Học xong năm đệ thất thì trường Nguyễn Trãi chuyển sang học nhờ trường tiểu học Lê Văn Duyệt ở đường Phan Đình Phùng khúc giữa Mạc Đĩnh Chi và Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao. Vì vị trí mới của trường không thuận tiện cho việc đi học bằng xe buýt nên tôi được bố mẹ mua cho chiếc xe đạp cũ. Từ nhà đến trường chỉ việc đạp thẳng từ chợ Chí Hoà trên đường Lê Văn Duyệt đến đường Phan Đình Phùng thì rẽ trái, rồi cứ thế đi tiếp là đến trường. Trên đường Lê Văn Duyệt trời nắng chói chang nhưng khi vào đường Phan Đình Phùng rồi thì không khí như dịu lại vì vòm cây cao hai bên đường. Sau khi đi, về nhiều lần và quen đường, tôi bắt đầu rẽ vào các đường khác như Tú Xương, Lê Quí Đôn, Phan Thanh Giản v.v… cuối cùng mới ra Phan Đình Phùng để đến trường.
Có lần tôi đang đi thì xe bị tuột xích. Bình thường chỉ cần xuống xe rồi quay nhẹ bàn đạp đồng thời gắn xích vào líp là lại đi tiếp được ngay. Không hiểu sao hôm ấy xích bị tuột mà không cách nào lắp vào lại được. Tay tôi dính đầy nhớt bẩn và người thì đẫm mồ hôi vì trời nắng nóng và cũng vì lo sợ trễ giờ học. Đang chưa biết làm sao thì chợt nghe tiếng nói ngay bên cạnh: “Chú Tuấn! Để cháu sửa cho.” Thì ra là anh X. hơn tôi đến mấy tuổi nhưng vì vai vế trong họ hàng, tôi là vai chú. Tôi mừng quá và để anh ấy sửa giùm. Cũng không được! Thế là đành phải dắt xe một quãng mới thấy người sửa xe bên vệ đường. Xe được sửa xong thì đã trễ giờ học quá rồi. X. biết ý nên nói với tôi: “Bây giờ trễ rồi, chú không vào trường được đâu. Thôi vào học trường cháu đi. Ở ngay đây thôi.” Tôi chẳng biết tính sao nên đành nghe theo.
Đây là một trường tư thục khá lớn. Học ở Nguyễn Trãi quen rồi nên khi đột ngột vào lớp học ở trường tư này, tôi rất ngỡ ngàng vì lớp ồn ào và mất trật tự quá. Thầy đang giảng bài mà trong lớp nói chuyện ào ào như cái chợ. Học được một lúc thì anh cháu quay qua nói: “Chán quá! Thôi, chú cháu mình đi chơi đi.” Tôi chỉ biết nghe theo và thế là hai xe đạp rong ruổi ra bến Bạch Đằng. Ngồi ngắm sông nước một lúc thì anh ấy đề nghị: “Mình qua Thủ Thiêm đi chú.” Thế là ra bến phà. Phà đông nghẹt người. Tôi là người lên chót, đứng phía sau cùng, nửa bánh xe đạp còn lòi ra ngoài, lòng hồi hộp vì sợ rớt xuống sông. Sau khi lên bờ, anh ấy đưa đi lòng vòng một hồi bên Thủ Thiêm rồi lại lên phà về.
Trước đây nhóm chịu chơi trong lớp thường nói rằng cúp cua đi chơi sướng lắm. Tôi thì ngược lại: Vui đâu chẳng thấy, chỉ thấy lo sợ ngập tràn, không biết lỡ tối về bố hỏi bài trong ngày thì biết trả lời làm sao. May thay, hôm đó về nhà, tôi không bị bố khảo bài, nhưng khi nem nép lên lầu, tôi có cảm giác như mọi người đang nhìn tôi với cặp mắt khinh khi kẻ đã cả gan trốn học. Đó là lần cúp cua đầu tiên và duy nhất trong đời học sinh của tôi. Bây giờ nghĩ lại nếu lúc ấy đã lớn và có bồ rồi thì chắc là cúp cua đi bát phố hoặc đi ciné với người đẹp chắc cũng thú vị lắm!
Lần Bị Phạt Đầu Đời.
Hôm ấy trời đang nắng ráo, chợt mây xám kéo về nhiều và gió hiu hiu mát dịu. Tôi ngồi trong lớp nhìn qua cửa sổ thấy mây trên trời có hình dáng thật lạ trông như một hàng không mẫu hạm đang di chuyển trên biển. Đang mải mê theo dõi chuyển động của hàng không mẫu hạm thì chợt điếng người khi nghe thầy lớn tiếng nói: “Anh kia! Giờ học mà ngắm mây bay làm thơ hả?” Cả lớp đổ dồn về phía tôi khiến tôi ngượng quá. Thầy hỏi tên và ghi ngay đi “công xi” ngày Chủ Nhật. Thật là một hình phạt bất ngờ. Tôi như bị sét đánh ngang tai. Biết làm sao bây giờ!
Mấy đứa bạn thân gần nhà bàn bạc cách cứu bồ. Một bạn sẽ đến nhà tôi ngày Chủ Nhật và xin phép cho tôi đến nhà bạn ấy học chung để chuẩn bị cho kỳ thi lục cá nguyệt. Kế hoạch được thực hiện y như dự định và tôi được nhà cho phép đi học thi. Thế nhưng thay vì đến nhà bạn thì tôi đến trường Nguyễn Trãi. Đang đứng lớ ngớ ở sân trường và chưa biết phải trình diện ở đâu thì chợt nghe tiếng ai nói: “Vào đây đi ông ơi!” Thì ra một tên bạn thuộc lớp khác cũng bị phạt nhưng chắc là bị phạt nhiều lần nên quen rồi.
Khi tôi vào lớp đã thấy hơn chục mạng ở trong đó . Trên bàn giáo sư là một vị giám thị già trông thật hiền lành. Tôi tưởng đi “công xi” là bị phạt ghê gớm lắm. Thì ra cũng chỉ là đến lớp học nhưng thay vì ngồi nghe thầy giảng bài thì phải làm các việc khác. Có bạn phải chép hàng trăm lần một câu gì đó của thầy dạy sinh ngữ. Có bạn cộng điểm giùm cho thầy giám thị.v.v… Có lẽ biết tôi là “lính mới” nên thầy giám thị hỏi tôi tại sao bị phạt. Tôi trả lời đại khái rằng vì trong lớp không nghe lời thầy giảng mà lại ngắm mây bay. Thầy cười hiền từ rồi bảo: “Thôi, con ngồi đó lấy sách ra học đi.”
Đấy là lần đầu và cũng là lần cuối tôi bị phạt ngày Chủ Nhật.
Thầy
Về sau tôi biết rằng một trong những lý do khiến bố tôi cho tôi thi vào trường Nguyễn Trãi, là do bố tôi có một người học trò cũ từ ngoài Bắc, đang dạy ở trường Nguyễn Trãi. Đó là giáo sư Nguyễn Huy Quán. Chắc bố tôi muốn thầy Quán ‘giám sát’ tôi trong thời gian tôi học ở Nguyễn Trãi để được an tâm. Thầy Quán trông rất hiền lành, người gầy yếu và chẳng nói lớn tiếng bao giờ. Học trò ai cũng quý mến thầy. Hàng năm cứ Tết đến thầy đều đến nhà tôi chúc Tết. Còn tôi, sau khi đã lớn và có xe Solex rồi, thì thỉnh thoảng có đèo bố tôi đến nhà thầy ở khu trường đua Phú Thọ để đáp lễ. Thật là một cái duyên: khi tôi lên dạy ở đại học thì con của thầy lại là sinh viên của tôi. Nếu không qua xứ Cờ Hoa này thì có khi con tôi lại là học trò của con thầy không chừng, vì anh ấy là giáo sư trung học.
Hồi xưa tình thầy trò thật là đằm thắm và đẹp quá. Khi học ở đại học, tôi có một bạn cùng lớp có bố là học trò của thầy Vũ Đức Thận, nguyên hiệu trưởng trường Nguyễn Trãi. Tết năm nào anh ấy cũng phải chở bố đi chúc Tết thầy Thận. Anh ấy kể rằng bố anh ấy có chức vụ khá lớn và nghiêm khắc lắm, ở nhà ai cũng sợ. Vậy mà khi đến gặp thầy Thận thì khác hẳn, cung kính, khép nép và quý trọng thầy thấy rõ. Khi trò về, thầy tiễn trò ra tận cổng dù thầy đã già lắm.Thầy trò bịn rịn mãi ở cổng rồi mới chia tay.
Một trong những thầy mà tôi quý mến là thầy Tô Đình Hiền. Thầy thật là hiền như tên của thầy. Thầy khá đẹp trai nhưng có cái lườm rất …phụ nữ! Thầy lái xe Vespa khá nhanh và lượn đẹp lắm. Hình như thầy hay tổ chức văn nghệ và thường phát biểu trong các buổi sinh hoạt toàn trường. Sát năm 75 tôi có dự một đám cưới bên Gia Định. Thông thường các đám cưới được tổ chức ở nhà hàng, nhưng tiệc cưới này được tổ chức tại tư gia. Khi đến tôi thoáng thấy thầy và định ra chào, nhưng sau thấy thầy bận quá, tất bật cắt đặt người này người kia làm việc, nên lại thôi. Thì ra thầy phụ trách đám tiệc này và kiêm đầu bếp luôn! Sau khi rời Nguyễn Trãi, đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối tôi gặp lại thầy. Sau này tôi lại ngạc nhiên hơn khi biết thầy là anh em ruột với nhạc sĩ Tô Hải.
Trong bốn năm học ở Nguyễn Trãi, tôi chỉ biết nhà thầy Quán, vì phải chở bố đến thăm. Ngoài thầy Quán, vị thầy duy nhất tôi đến thăm là thầy Lưu Trung Khảo. Trong lớp tôi có một anh bạn hay đến thăm các thầy lắm. Năm ấy anh bạn rủ tôi đến chúc Tết thầy Khảo. Tôi ngần ngại vì sợ mình lớ ngớ đến mà thầy không tiếp thì xấu hổ chết. Nhưng rồi tôi cũng đi. Nhà thầy ở gần vườn Tao Đàn, trên một con đường rợp bóng mát. Tôi không ngờ được thầy tiếp đãi rất lịch sự. Tôi chẳng nói được câu nào, trong khi anh bạn tôi thì tiá lia. Sau khi rời Nguyễn Trãi tôi không gặp lại thầy lần nào, nhưng gần đây thì được thấy thầy thường xuyên trên các show của các đài truyền hình và rất khâm phục lập trường kiên định của thầy
Giờ đây sau một thời gian dài làm trò rồi làm thầy, tôi nhận ra rằng khi đi học mà không liên lạc và gần gũi với các thầy là một thiệt thòi lớn. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi nghiệm thấy phần lớn các bạn ra đời thành công đều có liên lạc thường xuyên với các thầy. Bản thân tôi khi dạy học cũng dành nhiều ưu tiên cho những học trò hay liên lạc với mình, chẳng hạn như khi chọn sinh viên làm luận văn tốt nghiệp hoặc giới thiệu việc làm sau khi ra trường.
Hồi học năm đệ tứ thầy dạy Pháp văn là thầy Tạ Văn Ru. Thầy người cao lớn nhưng nói năng dịu dàng và có nụ cười rất bao dung. Thầy là tác giả một cuốn sách nghị luận văn chương bằng tiếng Pháp dùng để luyện thi trung học. Tôi hãnh diện vì chuyện này lắm và thường khoe với các bạn trường khác rằng: “Thầy tao oai thế đấy, viết sách cho tụi mày học đây này.” Khi nghe tin thầy mất tôi thấy xót xa, lòng nao nao khó tả và một quá khứ xa xôi lại hiện về.
...và Bạn
Dạo học Nguyễn Trãi, tôi thuộc loại nhỏ tuổi nhất vì khi thi tiểu học đã phải xin miễn tuổi rồi mà! Trong lớp tôi có nhiều bạn học rất giỏi như Vũ Thiện Hân, Lê Duy Cấn, Nguyễn Bá Duy, Lê Mạnh Hùng v.v… Tôi thì thuộc loại xoàng nếu không muốn nói là dốt. Chỉ được cái ai cũng khen là …hiền lành!
Cũng vì cái hiền lành ấy mà hay bị các bạn cùng lớp trêu chọc. Khi đứng xếp hàng chào cờ tôi thường bị các bạn phía sau búng tai, nhiều khi đau điếng. Tôi tức lắm và tìm dịp trả thù. Có lần sau khi bị búng tai, tôi liếc nhìn và biết đích xác là ai, tôi bèn lấy hết sức bình sinh dùng khủy tay thúc mạnh về phía sau. Nhưng trời bất dung gian! Ngay khi húych, tay tôi như bị điện giật, tê dại hết cả cánh tay. Thì ra tôi huých trúng ngay vào cạnh của cái cặp bằng da trâu cứng như đá của thằng đứng phía sau. Tôi cố chịu đau và chợt như nghe có tiếng ai nói trong đầu: “Không được làm tổn hại người khác!” Thế là từ sau kinh nghiệm đau thương ấy, tôi không có tư tưởng làm hại ai bao giờ. Kể cũng may, vì tránh được bao nhiêu nghiệp quả, hệ luỵ.
Khi học năm đệ tứ thì xe đạp được dựng ngay bên hông lớp. Mỗi khi lấy xe tôi hay bị một tay học lớp bên cạnh, cứ lấy cái chổi khua trước mặt chọc tôi chơi. Hắn cười hềnh hệch để lộ mấy cái răng bàn cuốc trắng lắm. Tôi tức nhưng chẳng biết phản ứng ra sao. Được cái là nó chỉ khua mấy cái rồi thôi chứ không đánh. Khi qua Mỹ và liên lạc lại với nó tức nhà văn Hoàng Khởi Phong Nguyễn Vinh Hiển, và được gửi tặng nhiều tác phẩm, tôi nhận ngay ra hắn khi nhìn ảnh ở bìa sách, dù sau mấy chục năm không gặp, nhờ cái cười và hàm răng trắng đẹp của hắn. Có lần tôi nhắc lại qua điện thoại chuyện khua chổi ngày xưa, nó cười, vẫn giọng cười xuề xoà hồi xưa, bảo rằng có nhớ gì đâu... Thì ra kẻ bị nạn bao giờ cũng nhớ dai còn người ở thế thượng phong thì …chẳng nhớ gì, vì chỉ là đùa vui thôi mà…
Lớp học bên cạnh lớp tôi có một tay rất có tài. Đó là Phạm Ngọc Cung mà bạn bè hay gọi là Cung Lùn. Cung có khiếu về nhạc lắm. Dạo ấy khi học về nhạc lý, đa số đều ù ù cạc cạc nhưng Cung thì thông hiểu mọi thứ. Lúc đó tôi ít chơi với Cung nhưng sau khi qua Chu Văn An thì thân hơn, vì hai đứa học chung lớp cùng với Nguyễn Vinh Hiển, tay trống Lưu Trường Tộ, tay đàn Mạnh Xuân Phụng … Sau này khi tập tành viết nhạc thì tôi lại càng thân với Cung hơn nữa, vì viết được bài nào tôi cũng nhờ Cung góp ý, sữa chữa cho. Hồi còn học ở trung học, Cung là trưởng ban nhạc, sau này ra đời Cung cũng làm trưởng ban nhạc và có biệt tài về piano. Ngoài dương cầm, Cung chơi được nhiều thứ đàn khác như vĩ cầm, contre bass, trống, kèn, sáo … và viết được nhiều ca khúc rất hay trong đó có bài Nguyễn Trãi Hành Khúc được viết từ khi Cung còn ngồi trên ghế trường Nguyễn Trãi.
Sau biến cố 30/4 cuộc đời mỗi người chuyển sang một khúc rẽ mới, tôi ít gặp lại bạn bè cũ. Khi qua Mỹ tôi tìm cách liên lạc lại , nhờ thế mới biết có bạn đến năm 75 đã mang cấp bậc trung tá, thiếu tá, còn cấp úy thì nhiều lắm. Các bạn khác được xuất ngoại du học thì khỏi phải nói, ai cũng công thành danh toại. Tại vùng đông bắc Mỹ này thì cả hai vị chủ bút và tổng thư ký của tờ Sóng Thần, là các anh Phạm Bá Vinh và Tạ Quang Trung đều là cựu học sinh Nguyễn Trãi, cùng đệ với tôi nhưng khác lớp.
Nguyễn Tuấn
NT 55-59Tiếng Bom Sa Diện Anh Hùng Phạm Hồng Thái
I- Lược sử: Phạm Hồng Thái (1896 - 1924), tên thật Phạm Thành Tích, có tên Phạm Đài, hiệu Nho - Tư; con Ông Phạm Thành Mỹ (hoạt động Phong Trào Cần Vương) và Bà Trần Thị; ngưới huyện Hưng Nguyên, Nghệ An. Về tên Hồng -Thái,con trai ông PHT là Phạm Minh Nguyệt cho là cha của ông đã lấy ý từ câu: " Nhân cố hữu tử, tử hoặc trọng ư Thái sơn, hoặc khinh ư Hồng mao " ( Là người ai cũng chết, có người coi cái chết nặng như núi Thái, có người xem nhẹ như lông chim Hồng ) trong Sử Ký Tư Mã Thiên.Ông Phạm Thành Tích,lấy 2 chữ " Hồng " và chữ " Thái " ghép lại, rồi tự đặt tên cho chính mình. Và tên ấy đã trở nên lẫm liệt, đồng thời cũng trường cữu với non sông Lạc Hồng.
Trong bài thơ Kết Miệt Tử của Lý Bạch có câu tương tự:
Yên Nam tráng sĩ Ngô Môn hào
Trúc trung trí duyên ngư ẩn đao
Cảm quân ân trọng hứa khinh mệnh
Thái sơn nhất trịch khinh Hồng mao
LÝ BẠCH
Gã Đan Vớ
Yên Nam tráng sĩ Ngô anh hào
Đàn trúc đầy chì, cá giấu dao
Liều chết báo đền ơn chúa nặng
Thái sơn gieo nhẹ tựa Hồng mao
LÊ NGUYỄN LƯU dịch
Và trong Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn cũng có câu:
Trượng phu thiên lý chí mã cách
Thái sơn nhất trịch khinh Hồng mao
Tiện từ khuê khổn tòng chinh chiến
Tây phong minh tiên xuất Vị kiều
ĐẶNG TRẦN CÔN
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái sơn nhẹ tựa Hồng mao
Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vị ào ào gió Thu
ĐOÀN THỊ ĐIẺM dịch
Phạm Hồng Thái: nhà cách mạng VN trong Phong Trào Đông Du và có chân trong Tâm Tâm Xã của cụ Phan Bội Châu.Chiều ngày 18 - 6 -1924,sau khi biết tin viên Toàn Quyền Đông Dương Martial Henri Merlin sẽ dự dạ tiệc ở khách sạn Victoria trên đảo Sa Diện ( Sha Mian ),Quảng Châu, PHT bèn giả dạng làm phóng viên vào được khách sạn và ném bom vào giữa bàn tiệc mông giết tên Merlin. Nhưng may cho hắn, hắn chỉ bị thương và chui trốn xuống gầm bàn. Một số thực khách người Pháp chết ngay tại chỗ, trong đó có tên Lãnh Sự Pháp Quảng Đông là Louis Cordeau. Lập tức, Anh hùng Phạm Hồng Thái bị bọn cảnh binh và mật thám bao vây truy bắt rất ngặt nghèo. Ông chạy đến dòng sông Châu Giang (Pearl River), cùng đường, bèn gieo mình xuống dòng nước đang chảy xiết tự vẫn, để khỏi rơi vào tay giặc. Lúc ấy mới 29 tuổi đời !! Ông để lại vợ trẻ tên Cao Thị Chắc và người con trai duy nhất là Phạm Minh Nguyệt (3 tuổi).Bà Cao Thị Chắc vẫn ở vậy thờ chồng,nuôi con cho đến ngày nhắm mắt !!
Bọn giặc rất tiểu tâm căm thù, khi vớt được thi hài Ông,chúng không cho chôn cất liền, mà để ruồi bâu kiến đậu đến mấy ngày!! Bị cư dân phản đối và nguyền rủa thậm tệ về việc vệ sinh, chúng mới cho nhà cằm quyền Trung Hoa mai táng tại chân đồi Bạch Vân. Đến tháng 3 năm 1925,cảm phục sự hy sinh cao cả của nhà cách mạng trẻ tuổi VN, tỉnh trưởng Quảng Châu là Hồ Hán Dân đã cho cải táng hài cốt anh hùng PHT vào khu Lăng Mộ công viên Hoàng Hoa Cương, trước sự tham dự kính cẩn của những nhà cách mạng Việt Nam. Khi ấy, đích thân cụ Phan Bội Châu đã viết bài "Văn Tế truy điệu liệt sĩ Phạm Hồng Thái!". Năm 1958 do việc mở rộng đường sá, phần mộ anh hùng PHT lại di dời một lần nữa cho đến hôm nay.
Tuy không giết được viên Toàn Quyền Đông Dương Merlin, nhưng Tiếng Bom Sa Diện của Phạm Hồng Thái đã làm cho bọn thực dân Pháp ở VN nao núng rúng động. Thứ nữa,Tiếng Bom Sa Diện còn gióng lên tiếng chuông nhằm thức tỉnh lòng yêu nước của mọi người dân VN và có ảnh hưởng sâu rộng cho công cuộc giành lại Độc Lập Tự Do cho Tổ Quốc VN mãi về sau...!!
Với lòng thành kính ngưỡng vọng anh hùng vị quốc vong thân, người biên soạn có 2 bài thơ tưởng niệm:
TIẾNG BOM SA DIỆN
Chấn động nhân tâm khắp cõi Đông
Tiếng Bom Sa Diện giặc run lòng
Merlin khiếp vía ôm thương tích
Louis tan hồn bị tử vong
Lẫm liệt tấm gương soi bất tận
Lung linh ngọn đuốc sáng vô song
Trăm năm ai chẳng ra thiên cổ
Linh khí hạo - nhiên mãi Phạm - Hồng..!!
NGUYỄN MINH THANH
Anh hùng PHẠM HỒNG THÁI
Đơn thân giết giặc giữa trùng trùng
Mong ước quốc thù sớm cáo chung
Sa Diện bom lòe kinh Pháp tặc
Châu Giang sóng cuộn lụy Nam hùng
Hoàng Hoa tàng cốt nằm heo hút
Thanh Sử phương danh tỏa lẫy lừng
Dân Việt tiếc thương hằng khấn nguyện
Non Bồng mây trắng ngự thung dung..!!
NGUYỄN MINH THANH
II - Vài nét về Hoàng Hoa Cương: là khu Lăng Mộ công viên của thành phố Quảng Châu, thành lập từ năm 1912, để làm nơi an giấc ngàn thu của những anh hùng liệt sĩ Trung Hoa đã hy sinh trong cuộc Cách Mạng Tân Hợi năm 1911 . Qua nhiều lần chỉnh trang, năm 1935 thì hoàn tất như đang thấy ngày nay. Trước công viên là Cổng Tam Quan rất hùng tráng do Tôn Trung Sơn đề 4 chữ Nho, đại tự " Hạo Khí Trường Tồn ". Qua khỏi Cổng Tam Quan, hết con đường lát đá dài 230m, đến Đài Tưởng Niệm với câu chữ Nho khắc trên Bia Tưởng Niệm theo chiều đứng " Thất Thập Nhị Liệt Sĩ chi mộ" ( thực tế có tới 85 mộ, chưa kể mộ PH ). Tiếp theo sau là Hậu Điện, trên nóc Hậu Điện có bức tường hình tháp với bậc thang 2 bên, trên vót đỉnh bậc cao nhất có tượng Nữ Thần Tự Do mô phỏng theo tượng N T T D của nước Mỹ.
Mộ anh hùng PHT nằm phía sau Hậu Điện một khoảng, có Mộ Bia cao lớn ghi " Mộ liệt sĩ Phạm Hồng Thái" bằng chữ quốc ngữ xếp làm 3 dòng ngang từ trên xuống: MỘ -- LIỆT SĨ -- PHẠM HỒNG THÁI. Phía dưới 3 dòng chữ quốc ngữ, theo chiều đứng của Mộ Bia có câu chữ Nho " Việt Nam Phạm Hồng Thái liệt sĩ chi mộ ". Dưới cùng,trên bệ có lư hương ( bát nhang ) để thắp hương tưởng niệm. Bên phải trước Mộ Bia, lại có một Bia Đá lớn bằng cánh cửa có khắc Bài Ký bằng chữ Nho: " Việt Nam Phạm Liệt Sĩ Chi Mộ Ký ".
III - Lời lạm bàn: Có người so sánh dũng sĩ Phạm Hồng Thái với tráng sĩ Kinh Kha nước Yên (Trung Hoa). Sự s/s này có đúng không? Thiển ý, là không đúng. Mà rất ư là khập khiễng, nếu không nói nói là xúc phạm vong linh người anh hùng họ Phạm!! Vì sao? Xin thưa: dù rằng cả hai đều can đảm phi thường,cả hai có cùng mục đích là trừ gian diệt bạo. Nhưng, động cơ của hai người có chỗ khác nhau. Kinh Kha từng làm tân khách nước Yên, nhận rất nhiều ân huệ từ thái tử Yên Đan. Cho nên, ngoài chí cả diệt bạo,Kinh Kha còn hy sinh vì món nợ ân tình cơm áo, rơi vào câu thơ của Lý Bạch:" Cảm quân ân trọng hứa khinh mệnh, Thái sơn nhất trịch khinh Hồng mao ".
Trong khi đó,Phạm Hồng Thái duy nhất chỉ vì lý tưởng Dân -Tộc, vì tương lai đại nghĩa Đồng - Bào, mà một đi không trở lại, và không hề vướng vít một chút mảy may nào món nợ áo cơm.Trong Di thư của PHT trước khi lên đường ám sát tên Merlin,Phạm Minh Nguyệt,con Ông, còn giữ có câu: " Hồng - Thái tôi vâng mệnh toàn thể hy sinh vì 40 triệu Đồng - Bào, chết không hề nuối tiếc, những mong kêu cứu trên toàn thế giới để cho Dân -Tộc Việt - Nam được tồn - tại trên trái đất nầy, thì Hồng - Thái tôi cũng yên lòng nơi chín suối ". Do đó,nếu như ta so đũa bằng đầu, vô hình chung xem nhẹ ý nghĩa cao cả của sự Hy sinh của tiền nhân chăng ?! Và,căn cứ vào Di Thư của người đã khuất, dựa theo câu thơ của Lý Bạch, ta có thể mô tả tinh thần PHT với lời thơ:" Cảm thương dân tộc hứa khinh mệnh, Thái sơn nhất trịch khinh Hồng mao ".Trân trọng.
Ngoài ra, Người xưa đã vậy, người nay thì sao?
Đốt nén tâm hương tưởng niệm Phạm Hồng Tháí, cùng bao nhiêu anh hùng liệt nữ... chợt nghĩ đến hiện trạng đất nước...Thì, ô hay, Nguyện Ước của những vị anh hùng dân tộc hầu như đang nghịch biến! Lãnh thổ:ải Nam Quan, thác Bản Giốc, núi Lão Qua..., Lãnh hải:vịnh Bắc Bộ, Hoàng Sa, Trường Sa... đã dần dần lọt vào tay giặc Bắc, do tập đoàn phản động " Rước voi giầy mả Tổ ". Họ đã, đang nhẫn tâm giầy xéo lên Nguyên Ước thiêng liêng của Tiền Nhân, giầy xéo lên Hồn Thiêng Sông Núi, giầy xéo lên chính đồng bào ruột thịt.Họ đã phản bội Lịch sử,đồng thời cũng nhẫn tâm phản bội ngay cả những đồng chí của họ đã hy sinh, bỏ mình trong công cuộc chiến đấu giữ nước với kẻ thù phương Bắc năm 1979 !! Họ đang say sưa trong chuyện bán nước buôn dân. Họ đang say men Mãi Quốc cầu vinh...!!!
Hỡi phường mãi quốc cầu vinh
Những thây ma thúi trương sình... chưa chôn
Một mai biển sóng dập dồn
Cuốn phăng cả xác lẫn xác hồn tiêu vong..!!
NGUYỄN MINH THANH biên soạn,
Viễn xứ, Đêm không ngủ: 3 - 3 - 11.
-----------------
Nguồn:
Thành - Ngữ Điển - Tích, GS TRỊNH - VÂN -THANH
Danh - Nhân Từ - Điển, của NGUYỄN - HUYỀN - ANH
Trang Web: Luongsonbac.com, Opera.com, Wikipedia.org, BBCVietnamese.com...
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)




