Thứ Ba, 3 tháng 3, 2026

Dấu Chân Trên Cát - Thơ: Hồ Triều Lam - Nhạc: Vĩnh Điện - Trình Bày: Phạm Cao Tùng

Thơ: Hồ Triều Lam
Nhạc: Vĩnh Điện
Trình Bày: Phạm Cao Tùng

Áo Không Màu

 

Tết đến rồi sao, buồn hay vui?
Ta chọn áo màu, xanh mây trời
Màu thời gian, chất chồng ký vãng
Màu nhan sắc phai tàn, lứa đôi?

Anh thích màu gì, tình thủy chung?
Hay màu ngất ngây, màu trăng rừng?
Màu mực tím buồn như lệ đắng
Màu mắt em ngàu cùng gió đông?

Hay để em mặc áo màu vàng
Điểm tươi màu thục nữ hiền ngoan
Cho anh ngắm mãi màu mê đắm
Nét em, khờ khạo, mà đài trang

Tết xưa em mặc áo không màu
Cùng theo năm tháng trốn mùa đau
Gởi anh tình muộn trong màu nhớ
Và những ngày xa, sầu thêm sầu.

Mỹ trí tử

Hương Xuân - Nhớ Xuân Xưa

 

Xướng:

Hương Xuân
 
Mùi Tết hương thơm tỏa khắp nhà
Ngoài vườn ríu rít tiếng chim ca
Ba Mươi thao thức mơ về bạn
Mùng Một ước thể đến với ta
Xúc cảm lời thơ hòa ý nhạc
Chạnh niềm khúc hát thắm tình hoa
Xuân xưa còn mãi trong tiềm thức
Cách biệt phương trời cũng chẳng xa

Kim Oanh
***

Nhớ Xuân Xưa

Quê người Tết đến nhớ thương nhà.
Một thuở thanh bình vui hát ca.
Chén rượu mừng Xuân cùng đón khách,
Ly trà tiếp bạn hiệp quanh ta.
Lồng đèn giăng mắc lung linh đẹp,
Thơ phú hòa ngâm thưởng thức hoa.
Còn đó trong tôi bao kỷ niệm,
Giờ đây tiếc nuối tận phương xa.


Hoàng Dũng

Xuân Mới 2


Miệt vườn sông nước mới ban mai
Tấp nập ghe xuồng, khách vãng lai
Nhộn nhịp chùa chiền người hái lộc
Dập dìu đền miếu khách cầu tài
Ghế gia tiên dán hai câu đối
Bàn tổ nghiệp chưng một đĩa xoài
"Dạ cổ hoài lang" đàn réo rắt…
Áo bà ba đẹp giấc mơ dài

Vinh Hồ


Chiêm Bao Vòng Đời

 

Vòng đời tựa giấc chiêm bao
Buồn bay vui đậu kiếp nào tình thân
Thuyền thương bến nhớ ân cần
Ngày xa xót nắng phong trần tối mưa

Tóc xanh mắt biếc hồn xưa
Quê hương áo mộng sầu đưa đi về
Trăng tàn sao rụng sơn khê
Gót chân như thật bốn bề khói mây

Xuân hồng kỷ niệm ngất ngây
Chưa hoa đã bướm đông đầy tuyết sương
Dư âm dư điệu dư hương
Cầu hồn chung thủy thiên đường tình ca

Chữ nhân nghĩa bóng hình ta
Vai kề má tựa câu ca dao nào
Khát khao nắng hạn mưa rào
Nghìn năm trăng mật kiếp nào đẹp hơn

Nhịp tim đồng cảm sạch trơn
Ân tình chữ nghĩa keo sơn nghìn đời
Hẹn hò đưa đón rong chơi
Vô cùng vô tận trọn lời vô ưu...


MD.02/20/26
Luân Tâm
 

Ca Vọng Cổ

Trong một email thầy Huỳnh Chiếu Đẳng viết như sau:

“Đây là trích đoạn vở tuồng Hạng Võ biệt Ngu Cơ (Thanh Sang- Lệ Thủy đóng) trong đó có nhiều thể điệu ngắn tiêu biểu rất hay. rất “văn chương thơ mộng” Những bạn ghét cải lương cứ nghe thử 5 phút coi sao, xin cho ý kiến.

"Thiếp sẽ chết thây phơi bờ cát trắng (khởi đi từ 7’34”)
Máu đào rơi nhuộm thắm dải bình sa
Để Chúa Công rảnh tay nối bước quan hà
Hãy chôn lấp tình ta trong chiến địa."

Bèn nhớ lại chuyện cũ nơi quê nhà, xin kể lại.

Sau Giáng Sinh năm 1981, Lộc Bắc vượt biên hụt và bị bắt tại cửa biển Gò Công Đông, sau chuyển về khám lớn Mỹ Tho, ‘chấp pháp’ (lấy cung) xong, bị đưa đi lao động tại trại giam Mỹ Phước Tây, Ngã ba Long Định, Cai Lậy, Tĩnh Mỹ Tho. Trại giam nằm trong một cánh đồng nước mênh mông được bồi đắp bằng cách đào kinh. Tôi được chia vào đội lao động nặng, trong đội gồm đủ thành phần hình sự, chính trị và vượt biên cũng được liệt vào tù chinh trị. 
Ngày lao động nặng đào kinh, móc đất đắp nền, làm nhà, làm ao nuôi cá tra, trồng khóm, nhổ bàng làm chiếu… chiều học tập, phổ biến nội quy, tối mới được nghỉ ngơi nghe vọng cổ; trước năm 75 tôi không thích cải lương vì nhiều lẽ, nay ở đây vừa buồn phiền vì lao động nặng vừa lo lắng ngày về do không có án ghi thời hạn. Nhưng cũng may, khoảng một năm sau, được anh thư ký đội (đội trưởng) ưu ái dành cho công việc nhẹ nên cũng đỡ khổ. Anh đội trưởng ca vọng cổ rất hay. Một lần anh ca bản Hạng Võ biệt Ngu Cơ thấy hay tôi hỏi anh về bài này. Anh nói của soạn giả Viễn Châu. Anh hết lời ca ngợi soạn giả Viễn Châu và cho biết trong bài vọng cổ Viễn Châu có dịch một bài thơ viết bằng chữ Nho bốn câu của Nguyễn Du có tên là Lời của Ngu Cơ, có nội dung gần giống như bài phía trên.

Từ bài dịch 4 câu mà Viễn Châu dùng làm lời ca nói trên tôi nhờ Chat GPT tìm hộ bài thơ của Nguyễn Du thì được trả lời như sau:
- Bài thơ không chắc là của Nguyễn Du nhưng thường được truyền tụng, ký danh Nguyễn Du
- Bài thơ có tựa là Ngu Cơ Từ như phía dưới

虞姬辭

白沙暴骨妾甘當,
碧血流紅染戰場。
願使君王無後顧,
埋情一死在沙岡。

Ngu Cơ Từ

Bạch sa phơi cốt thiếp cam đương,
Bích huyết thành ngân nhiễm chiến trường.
Nguyện sử quân vương vô hậu cố,
Mai tình nhất tử tại sa cương.

Dịch nghĩa:

Xương phơi trên cát trắng, thiếp cam lòng chịu.
Máu đào chảy đỏ, nhuộm khắp chiến trường.
Nguyện khiến quân vương không còn phải ngoái lại.
Chôn vùi tình cảm, một chết nơi gò cát.

Lời bài ca của soạn giả Viễn Châu

"Thiếp sẽ chết thây phơi bờ cát trắng
Máu đào rơi nhuộm thắm dải bình sa
Để Chúa Công rảnh tay nối bước quan hà
Hãy chôn lấp tình ta trong chiến địa."

Lời theo điệu của bài ca

(Phỏng dịch của Lộc Bắc theo Đường luật)

Lời Ngu Cơ

Xương phơi cát trắng thiếp coi thường
Máu thắm đỏ trôi nhuộm chiến trường
Chỉ nguyện Chúa Công đừng ngoái cổ
Vùi nông một nấm chốn biên cương

Tại Montréal Lộc Bắc được làm quen soạn giả cải lương Nguyễn Phương, ông có kiến thức uyên bác về cải lương, văn hoc, nghệ thuật. Tính tình vui vẻ hòa nhã được nhiều người hâm mộ. Cuộc đời sáng tác của ông được tóm tắt trong link sau:

Lộc Bắc 

Chuột Vào Nhà!



Năm Ngọ đến, không nghe tiếng hý lồng lộng vang rền trước ngõ mà lại nghe “chút chít chút chít “sau bức tường, rõ chán! Lũ chuột con không biết từ đâu kéo đến “mần ăn” tự nhiên trong nhà mình không khai báo hộ khẩu. Khổ thật! Một hôm có một chú bị phát hiện cả gan bò gần tủ lạnh, gặp phải tiếng hét chói chang của bà chủ vội lĩnh mất. Nó nhanh chân “biến” ngay lập tức, chứ nó không cút xéo thì thì bà chủ cũng “biến “ ngay không chần chờ. Giữa chú chuột bé tí hon và bà chủ nhà to lớn bệ vệ, khó biết ai hoảng loạn hơn ai. Giời ơi Đất hỡi! Giời đã sinh ra bà sao còn… sinh ra chuột! Nhà này dư ăn dư để, nhưng không có nghĩa các con có thể nhảy vào sinh sống như chuột sa chĩnh gạo được đâu con nhé!

Nói cũng tội nghiệp. Cả người cả thú nào ai chọn cửa sinh ra đời được đâu. Mà chú chuột bé tí hon, nói một cách công bằng thì cũng không có gì gớm ghiếc lắm, phải nói là hơi xinh xinh đấy chứ. Thế nhưng gián, chuột, nhền nhện có số phận truyền kiếp bị con người, nhất là phái yếu, ghét cay ghét đắng vì chúng quả thật trông… gớm ghiếc làm sao! Chỉ hơi dị tộc một tí mà con sóc nhảy nhót trên cây thì được chiêm ngưỡng một cách bao dung, xem chúng làm phong phú cho quan cảnh chung quanh. Con chuột gerbil hay hamster được bố mẹ mua về cho các các bé nuôi như thú cưng, ngày cho ăn 2 bữa, lại còn mua lồng xích đu cho mấy anh chị chạy vòng vòng kêu leng keng cho vui cửa vui nhà. Thế mà chú chuột nhắt trong xó nhà thì loài người nhất định không đội trời chung, tìm mọi cách diệt sạch cho bằng được.

Diệt chuột

Diệt sạch là sao? Người ta bảo nếu thấy một đứa thò chân mặt đặt chân trái rón rén vào bếp là y như rằng sẽ có nguyên cả làng cả xóm nấp đằng sau. Quý vị ai đã xem phim hoạt họa Ratatouille thì biết. Bà lão chủ nhà cầm súng tỉa đẹt đẹt là cả dòng họ anh Ratatouille từ lớn đến bé cuống cuồng nhảy lên thuyền chạy như bay như biến, nhưng rồi cũng tề tựu lại tại một nơi khác cưu mang đùm bọc lẫn nhau. Đặt bẫy nơi chúng thường xuyên qua lại may ra túm được một hay hai anh, nhưng mà chuột sinh sản nhanh như thổi, ít lâu sau dân số lại lấp đầy đâu vào đó. Con người mắn đẻ thì sinh sòn sòn năm một, còn chuột thì sòn sòn…tháng một, có khiếp không cơ chứ!

Cách đây ít lâu một cô bạn của tôi phát hiện trong nhà có khách « không mời mà đến ». Cô rầm rĩ vấn kế cộng đồng. Một kẻ gặp nạn là một lũ một lỹ quân sư quạt mo nhảy vào bày mưu góp kế. Có người bảo gọi công ty trừ gián chuột đến. Họ ra giá mấy nghìn đồng, ngoài khả năng ngân quỹ gia đình của cô bạn. Có người bảo đặt tìm nơi chúng để lại dấu vết là những hòn phân bé tí như hạt gạo đen mà đặt bả. Có người mách mang về nhà một con miu. Tiếng kêu « meo meo » hay cái « mùi mèo » sẽ khiến bọn chuột bỏ chạy ba chân bốn cẳng. Nhà con trai cô ở gần đó có nuôi hai con mèo mun. Cô hỏi « mượn tạm » chúng về thì con từ chối phắt, sợ mấy babies đến nhà lạ nhà rồi sinh ra trầm cảm ! Ôi, thế hệ Gen Z ngày nay thật là…un-Vietnamese ! Sao chúng không lo cho bố mẹ đang hoảng loạn vì chuột rồi biết đâu chẳng chóng thì chầy cũng sinh ra trầm cảm đấy ư! Mình theo dõi lời bàn ra tán vào của các quân sư cùng khổ chủ mà cứ cười tủm tỉm một mình. Ở đời nhiều chuyện rắc rối thật !

Cho đến khi chính mình lâm vào nạn chuột vào nhà ! Khổ to rồi ! Hàng ngày chẳng thấy bóng dáng một anh nào, nhưng biết chúng lập « tổng hành dinh » giữa các bức tường. Ban đêm là lúc chúng mần ăn. Cứ nghe tiếng gặm nhấm vang dội như một tổng công trình ra sức hoàn thành kế hoạch trước Tết để lĩnh thưởng. Trời ơi, mấy chục hàm răng cạp vào tường, vào cột vang rền liên tục cả đêm thế thì còn gì là cột kèo nhà cửa nữa đây ! Mình ngồi trên giường đau xót lắng nghe mà không làm được gì. Lấy cây đập đập vào tường thì tiếng động im bặt được 5 phút, sau đó lại tiếp tục tỉnh bơ. Chúng biết bà chỉ dọa từ xa, làm sao bà có phép tàng hình xuyên tường vào thộp chúng. Năm canh dài thức đủ năm canh ! Thế này thì có mà tổn thọ chết sớm.

Quân ta hại quân mình

Nhà không có mèo. Có chị cún mồm sủa oăng oẳng đuổi hết mọi người làng trên xóm dưới, từ ông phát thơ đến anh giao hàng, đến bè bạn của chủ nhà đến chơi. Vậy mà ả hoàn toàn vô hiệu đối với lũ chuột. Chúng xem chị như « nơ pa ». Đặt bẫy keo gần tủ lạnh chỉ thấy bụi bám ngày qua ngày. Rồi một hôm đang ngồi ôm máy bỗng nghe tiếng « rột rẹt » thật to. Dính rồi ! Dính bẫy rồi ! Vội vàng bỏ máy chạy ra bắt kẻ gian thì ôi thôi, thấy chị cún nhà mình đang vùng vẫy lia lịa, phất chân qua lại cố hất cho bẫy tuột ra! Chết chưa con! Sao lại sa chân vào bẫy thế! May mà có Mommy đến kịp thời giải cứu, không thì cắt cụt hết móng chân hay cả cưa luôn cái chân ấy chứ!

 

Bệnh quỷ có thuốc tiên!

Bèn lên mạng nghiên cứu tiếp. Đặt bẫy tỉa từng con thì đến bao giờ mới dẹp hết bọn thảo khấu này được. May thay ! Bệnh quỷ đã có thuốc tiên. Thời a còng này người ta có nhiều phương pháp mới lạ. Không bẫy, không thuốc độc, không để « địch » bỏ xác trong ngõ ngách dậy mùi xú uế. Họ bán máy phát ra những tia sóng người không nghe được, nhưng lũ chuột hay gián nghe phải sẽ bị đinh tai nhức óc phải cuốn gói tếch đi nơi khác ngay. Họ bảo đảm anh cún chị miu trong nhà sẽ không bị quấy nhiễu vì tiếng phát sóng. Thế thì còn gì bằng ! Bèn hăm hở đặt mua ngay một bộ 6 cái, mang về gắn khắp nhà. Chúng be bé cầm gọn trong tay, giống như bộ phận chuông cửa, phát tín hiệu đèn đỏ, khoảng vài ba giây đèn lại lóe sáng và kêu « tít » một tiếng thật nhỏ, phải lắng tai mới nghe được, không gây tiếng động ầm ĩ chi cả. Đến bước đường cùng đành áp dụng, phó mặc hên xui may rủi. Nếu lỡ tiền mất tật mang thì đành chịu vậy.

Dăm ba ngày trôi qua ! Ban đêm không còn nghe tiếng cạp gỗ ầm ĩ nữa. Tín hiệu tốt ! Đôi khi cũng hơi thắc mắc xem chúng còn đấy không. Còn hay không làm sao biết chắc được. Biện pháp này chỉ đánh đuổi chứ không đánh chết nên không thể đếm xác quân thù mà tuyên bố chiến thắng.

Tinh thần công dân

Vài tuần lễ trôi qua! Mặt trận bên trong bức tường vẫn yên tĩnh ! Chắc là công ty chế tạo máy phát sóng nói đúng, lũ chuột bọ nghe tín hiệu đã tếch ra khỏi cửa rồi. Mừng quá ! Thế rồi một hôm tôi đi sinh hoạt trong làng già, gặp bà hàng xóm sát cạnh nhà. Bà ghé tai thì thầm : « Tôi có tin này phải báo cho bà biết đây. Nhà tôi có chuột ! » Úi Trời ! Trời tối nhá nhem nên bà không nhìn thấy mặt mình đỏ bừng vì xấu hổ ! Thì chính tôi đuổi chuột của tôi sang nhà nhà bà đấy chứ đâu ! Bà là công dân Mỹ gương mẫu nên có bad news là phải báo cho mình biết để đề phòng, cũng như khi người Mỹ bị cảm cúm hay vướng Covid đều lên tiếng báo động cho những người họ đã tiếp xúc để cách ly hay thử nghiệm xem mình có bị lây từ họ không. Bà nào biết được chính nhà này là nơi đẩy phiền não sang cho bà mà vẫn im thít bấy lâu nay. Nghĩ lại tự trách mình tệ thật ! Thật chẳng khác nào hàng xóm ở Việt Nam ngày xưa chơi xấu nhau, cứ đợi giờ đêm hôm khuya khoắt lấy chổi quét rác đẩy sang nhà hàng xóm ! Thật ra là mình vụn nghĩ chứ không phải có tính xấu. Ừ nhỉ ! Tống cố chúng ra khỏi nhà thì chúng đi đâu ? Chúng không thể nào tự nhiên biến mất khỏi mặt hành tinh này được. Tam thập lục kế, tếch sang nhà sát cạnh là thượng sách rồi.

Thôi thì phải cùng ông bà hàng xóm cạnh nhà hợp đồng tác chiến vậy. Ông bà cũng dùng biện pháp bẫy keo, túm được hai chú. Bà còn nhăn mặt kể khi hỏi ông định xử lý tù binh cách nào thì ông bảo quẳng nó uống máy xay rác xay cho nhừ. Ông nói đùa để trêu bà mà mình nghe lạnh tóc gáy. Eo ui ! Ghê khiếp ! Đừng làm thế ! Mình mách bà mẹo dùng máy phát sóng của mình. Nếu ông bà lập cùng quy trình thì chúng có chạy trở lại bên này biên cương ? Nào ai biết được. May ra chúng băng đường vào tá túc nhà ông tổ trưởng dân phố ? Mong vậy thay !

Who Pays?

Tiếp tục công trình khảo cứu thì thấy trong góc tủ có quyển cẩm nang chỉ dẫn cho dân trong xóm. Nếu gặp nạn chuột bọ thì gọi số này, số này… May quá ! Người dân không phải lo, để nhà nước lo cho ! Họ cũng có một quyển hướng dẫn khác mang tên « Who Pays ? » ghi rõ việc gì thì người dân « ma rốc », việc gì thì tổ dân phố chi trả. Chẳng hạn như nhà dột cột xiêu thì tổ dân phố trả tiền sửa chữa. Tủ lạnh, máy giặt, máy sấy hư hỏng thì chủ nhà tự chi. Tóm lại là bên ngoài nhà thì công quỹ lo, bên trong nhà thì tư nhân lo. Thế còn gián chuột ? Đây là vấn đề ngoại viên hay nội thất ? May quá, quyển « Who Pays ? » bảo tổ dân phố sẽ chi trả. Thế là thở phào nhẹ nhõm ! Vào làng già cũng hưởng được nhiều phúc lợi. Ngày còn ở « ngoài kia » thì những việc đau đầu này mình lãnh đủ chứ đâu có nhờ vả được ai.

No free lunch!

Tiếng Anh có câu « There’s no such thing as a free lunch”, có nghĩa là việc gì cũng phải bỏ tiền ra mà lo chứ chẳng ai cho không. Đúng vậy, tiền HOA hàng tháng cao ngất ngưởng. Ngoài trả chi phí cho điện nước, TV, internet, cắt cỏ, xúc tuyết, rạp hát, thư viện, hồ bơi, sân tennis, v.v., họ còn thu thêm để tu bổ sửa chữa hàng ngày và gây quỹ dự trữ, dùng vào những việc lâu dài như sơn phết, lợp mái nhà, thay cửa sổ, v.v.. Năm tôi mới dọn vào họ phát giấy cho biết tất cả nhà trong xóm sẽ được sơn mới lại và bảo mình chọn màu sơn trong các mẩu họ cho sẵn. Tôi nghĩ thầm : « Sơn còn tốt quá mà, sơn lại chi ?” Như nhà tôi ở “ngoài kia” thì tôi sẽ đợi 5-7 năm nữa mới bỏ tiền sơn lại nhà. Năm sau họ lại bắt đầu đợt lợp lại mái nhà. Ủa, khi nào mái dột nát, nước chảy tong tỏng qua trần thì mới lợp lại chứ nhỉ ? Thôi kệ, lênh quan đã truyền thì ta cứ tuân theo. Tiền do quỹ dự trữ chi trả, mình có bỏ ra thêm đồng nào đâu mà kêu ca than phiền. Lần này với lũ chuột bọ quấy phá thì tôi hoan hỷ để « quan lớn » xử giùm cho. Cuộc đời quá ngắn ngủi, hơi đâu hao tâm tổn sức lo lắng những chuyện nhỏ như con thỏ, hay lặt vặt như…con chuột nhắt!

Thúy Messegee

2/26

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2026

Mùa Xuân Và Tình Yêu - Sáng Tác: Nguyễn Tuấn - Trình Bày: Quốc Duy

Sáng Tác: Nguyễn Tuấn
Trình Bày: Quốc Duy

Riêng Góc Trời Xuân

  


Riêng một góc trời mình ta thả nhớ 
Theo gió bay về miền ngẩn ngơ sầu
Môi say nắng, nắng ấm trốn nơi đâu
Mưa rơi nhầu ... hắt hiu tàu lá úa

Đời như sương khói vòng tay một thủa
Dáng âm thầm trong bóng tối bủa vây
Người vui bên ấy thương nhớ chốn này
Người yêu dấu! Riêng đây một góc đợi

Riêng một góc trời gọi tên người mãi
Nắng Hạ về uể oải trên lối xưa
Rụng lá sầu Thu lạc bước trong mưa
Lòng buốt lạnh mùa Đông vừa chạm ngõ

Riêng một góc trời! Xuân ta vò võ
Quẩn quanh tìm một lối ngõ xuân xưa
Mùa về chưa sao mai vàng nhàu úa
Đêm giao thừa qua song cửa đìu hiu

Kim Oanh
Xuân 2026


Tháng Ba


 
Tháng Ba về sớm Xuân chưa trổ
nắng ngủ trong mây rỗ bóng ngày
mầm ủ chồi non trong thớ gỗ
lá hoa mùa trước ngỡ phôi phai
vậy mà thơ khoái xum xoe chữ
chờ chực khoe lời thắm biếc xanh
vừa khi tâm cảm tình giao mộng
rủ cánh môi cười chung sắc âm
Tháng Ba nhờ thế lòng nhiên ấm
dẫu nắng còn ngái ngủ trong mây
lá hoa mùa trước nhờ thương thấm
đã nở trong tim đóa nhớ đầy
gợi gió xôn xao vờn đỉnh bút
thổi đám thơ hồng phất phới bay
không gian tình thoảng hương tâm thức
dào dạt thời gian Xuân đắm say 

Cao Nguyên
 

Tháng Ba Hoa Vàng

 

Kali cuối tháng ba Tây
Rừng hoa anh túc bên này đại dương
Tóc anh pha lẫn khói sương
ChaPa một thủa sắc hương tìm về
Từ đi gió nổi mây thề
Đã tan theo nỗi hoang mê tuyệt vời
Tháng ba hoa nở khắp trời
Thương bông điên điển xót đời mộng mơ
Mấy mươi năm sống với thơ
Mai A nguyên vẹn tóc tơ thủa nào
Anh còn lạc giữa chiêm bao
Vẫn em ôm ấp nỗi sầu xa xôi
Hai mươi lăm tháng ba rồi
Nửa phần thế kỷ chia đôi lòng mình
Mông lung, bàng bạc, u tình
Đóa hồng vàng nhắc hành trình dở dang…

Rancho Palos Verdes 25 - 3 - 2025
Cao Mỵ Nhân (HNPD)


 




Xuân Tha Phương



(Nhị thủ)

Quê người dịp Tết nhớ mênh mông
Huệ, Cúc, Đào, Mai, Vạn Thọ, Hồng
Gói bánh dì lau tàu chuối hột
Làm nem ngoại hái lá cây vông
Hương hoa bưởi trắng chan chè ngọt
Vại nếp than đen cất rượu nồng
Chuẩn bị Giao Thừa châm pháo nổ
Đi chùa khẩn Phật ước hanh thông
---
Cố thổ ngàn trùng cách biển Đông
Cháu con Lạc Việt giống Tiên Rồng
Nhìn Mai búp nõn bâng khuâng nhớ
Ngắm Thọ hoa vàng khắc khoải trông
Bầu rượu mâm cơm hương bát ngát
Đèn nhang ngũ quả sắc tươi hồng
Tha hương tháng Chạp buồn hiu hắt
Ngóng nhạn chân trời vọng núi sông

ThanhSong ntkp
 (2026) CA. 11/02 (Bính Ngọ-ÂL)



Mưa Trên Phố Vắng

 

 

Mưa từ đâu đến hỡi mưa ?
Mưa trên đường phố phất phơ sợi buồn
Nhớ tình thơ thuở mưa tuôn
Mưa mát rượi trái tim buồn hồi xuân
Mưa làm hoa lá xanh tươi
Mưa đem sức sống tưới cành mùa xuân
Mưa đem nguồn nước trong lành
Tưới lên vùng đất khô cằn hắt hiu
Chạnh lòng em nhớ người yêu
Nhớ mưa xưa sánh bước chiều ái ân
Quyện vào nhau dưới mưa Xuân
Mưa rơi lất phất hạt gần , hạt xa
Giữ tình chung tháng ngày qua
Mà sao lạnh giá hồn ta ngậm ngùi
Phố đông đầy ắp bao người
Tìm đâu cho thấy bóng người yêu thương
Mưa và em. Kiếp cô đơn
Một đời thương tiếc buồn hơn bao giờ!

Feb 20 2026
Hoàng Phượng

Ăn Và Ăn Tết


(Phiếm Võ Phú)

Con người muốn tồn tại thì trước hết phải ăn. Theo tháp nhu cầu của Abraham Maslow ((Sanh ngày 1 tháng 4 năm 1908, mất ngày 8 tháng 6 năm 1970) là một nhà tâm lý học người Mỹ có ảnh hưởng tiên phong và là một trong những người sáng lập trường phái tâm lý học nhân văn. Ông được biết đến nhiều nhất với việc phát triển thuyết “Tháp nhu cầu” (Hierarchy of Needs)). , ăn uống thuộc nhu cầu sinh lý cơ bản nhất nhưng cũng là nền tảng quan trọng nhất. Khi những nhu cầu này chưa được đáp ứng, con người khó có thể nghĩ đến các nhu cầu cao hơn như an toàn, tình cảm hay khẳng định bản thân. Vì vậy, trong quan niệm dân gian, “ăn” thường được xếp đứng đầu trong “tứ khoái”; ăn, ngủ, ấy (tình dục) và ị (bài tiết). Bởi đó là điều kiện tiên quyết của sự sống.

Dưới góc nhìn khoa học, ăn còn mang lại khoái cảm tự nhiên cho con người. Khi thưởng thức món ăn ngon, cơ thể tiết ra dopamine và endorphin, những chất dẫn truyền thần kinh tạo cảm giác hạnh phúc và thoải mái. Do đó, ăn không chỉ để duy trì sự sống mà còn để thỏa mãn cảm xúc, giảm căng thẳng và tạo niềm vui.
Trong văn hóa Việt Nam và nhiều nước Á Đông, ăn uống không đơn thuần là hành vi cá nhân mà còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Bữa cơm là nơi sum họp gia đình, gắn kết bạn bè, thể hiện tình thân và sự hiếu khách. Các dịp lễ, Tết, giỗ chạp hay cưới hỏi đều gắn liền với mâm cỗ và nghi thức ẩm thực. Câu tục ngữ “Có thực mới vực được đạo” đã khẳng định vai trò nền tảng của ăn uống đối với đời sống tinh thần và đạo lý.
So với những “khoái” khác, ăn là niềm vui dễ đạt được, có thể lặp lại hằng ngày và ít rủi ro hơn. Chính vì vừa thiết yếu, vừa mang lại khoái cảm sinh học, lại vừa có giá trị văn hóa xã hội sâu sắc, nên ăn được xem là một trong những niềm vui căn bản và quan trọng nhất của con người.

Hôm nay là ngày mùng 9 tháng Giêng, dư âm của những ngày Tết vẫn còn đọng lại, nên tôi viết bài phiếm này để góp vui cùng bạn đọc. Người Việt gọi là “ăn Tết” vì trong tiếng Việt cổ, “ăn” không chỉ có nghĩa là ăn uống mà còn mang nghĩa rộng là tham dự và hưởng một dịp lễ như ăn cưới, ăn giỗ….
Tết, đặc biệt là Tết Nguyên Đán, gắn liền với mâm cỗ, cúng tổ tiên và sum họp gia đình, nên yếu tố ăn uống trở thành trung tâm của ngày lễ. “Ăn Tết” vì thế vừa là hưởng thành quả sau một năm lao động, vừa là hưởng phúc, đón lộc đầu năm.
Nghĩ cho cùng, cả năm người ta ăn để sống, còn mấy ngày Tết dường như sống để ăn. Trước Tết lo ăn; gói bánh, làm mứt, kho thịt, ngâm dưa. Trong Tết bận ăn; ăn tất niên, ăn giao thừa, ăn mồng Một, mồng Hai, mồng Ba. Sau Tết lại… ráng ăn cho hết. Cái vòng quay ấy nghe có vẻ buồn cười, nhưng ẩn trong đó là niềm mong mỏi rất người. Mong một năm mới đủ đầy, không đói kém, không thiếu thốn.
Bởi vậy, nghĩ đến chuyện “ăn” là một trong tứ khoái, tôi lại có lúc… bực mình. Không phải bực chuyện ăn, mà bực cái không khí “ăn Tết” lúc nào cũng rình rang quá mức cần thiết.


Năm nào cũng vậy, cứ độ chừng hai tuần trước Tết là vợ tôi bắt đầu tất tả. Tiền bạc không phải vấn đề. Vấn đề là nàng muốn mọi thứ phải đủ đầy, trọn vẹn, để “nguyên năm không thiếu thứ chi”. Mâm ngũ quả phải có “Cầu – Dừa – Đủ – Xoài”. Bánh trái, mứt gừng, mứt dừa, mứt bí… năm nào cũng từng khay từng hộp xếp ngay ngắn. Tôi nhìn mà vừa thương vừa… lo cho cái bụng và cái chỉ số đường huyết của mình.
Năm nay chúng tôi sắp chạm ngưỡng năm mươi. Cái tuổi bắt đầu nghe bác sĩ nhắc nhiều hơn đến tiểu đường, mỡ trong máu, huyết áp. Vì vậy, nàng cũng "cắt bớt" thực đơn Tết. Không còn cả chục loại bánh mứt như xưa, chỉ giữ lại vài món thật sự thích. Bánh tét vẫn gói, nhưng thịt ba rọi, nàng lựa những miếng ít mỡ hơn. Tuy sống ở Mỹ, chúng tôi vẫn thích cảm giác canh nồi bánh những ngày giáp Tết. Thế là hai vợ chồng hí hoáy gói bánh tét kiểu cổ truyền, nhóm bếp củi sau vườn. Khói bay cay mắt mà lòng lại ấm lạ thường. Giữa xứ người, mùi lá chuối và nếp chín thơm như kéo cả quê nhà về trước hiên.
Rồi đến thứ Bảy, 25 Tết, nàng năn nỉ tôi chở đi chợ “mua cho đủ ba ngày Tết”. Một vòng Costco, rồi chợ Hàn, chợ Việt, ghé thêm chợ Ấn Độ cho đủ gia vị. Xe đẩy chất đầy mà tôi cứ lẩm bẩm:
-Nhà có ba người ăn thôi mà…
Nàng cười:
-Tết mà!

Chủ Nhật, mới năm giờ sáng nàng đã dậy. Trong khi tôi còn định ngủ nướng, dưới bếp đã leng keng nồi niêu. Trước 12 giờ trưa phải xong mâm cơm cúng. Đến 11:30, bàn thờ đã tươm tất: hoa quả, nhang đèn, món mặn món ngọt bày biện chỉnh tề.
Nhà năm nay chỉ có ba người (cậu con trai bận học ở xa nhà, không về được). Tôi mời mẹ và vài người bạn đến ăn tất niên, nhưng cuối năm ai cũng bận. Ba tôi ăn chay trường, không thích rời nhà. Cuối cùng chỉ có mẹ sang. Bốn người ngồi quanh mâm cơm gia đình, nói chuyện năm cũ, nhắc vài kỷ niệm cũ. Mâm “chỉ để cúng” ấy, vậy mà ăn mấy ngày sau vẫn chưa hết. Tủ lạnh đầy ắp hộp lớn hộp nhỏ. Tôi mở ra là thấy Tết nhìn lại mình.

Nhiều lúc tôi tự hỏi: ta ăn Tết hay Tết ăn ta? Bao nhiêu công sức, bao nhiêu chuẩn bị, rốt cuộc cũng quy về mấy bữa cơm no. Nhưng rồi, khi ngồi nhìn vợ lúi húi sắp xếp lại bàn thờ, cẩn thận chia phần gửi mẹ mang về, tôi chợt hiểu: nàng không chỉ đang nấu ăn. Nàng đang giữ một nếp nhà.
“Ăn Tết” có thể bắt đầu từ chuyện ăn, nhưng rốt cuộc không dừng ở chuyện ăn. Đó là cách ta chứng minh với tổ tiên rằng mình vẫn còn nhớ nguồn cội. Là cách người phụ nữ trong nhà thể hiện sự vun vén. Là cách những đứa con, dù ở Mỹ hay ở đâu, vẫn tìm lại mùi vị quê hương qua đòn bánh tét khói bay nghi ngút.
Có thể tuổi năm mươi sẽ khiến chúng tôi bớt ăn lại. Có thể mâm cỗ mỗi năm sẽ gọn hơn, ít đường, ít mỡ hơn. Nhưng tôi biết, chừng nào vợ tôi còn tất bật trước Tết, còn năn nỉ tôi chở đi chợ “cho đủ ba ngày”, chừng đó trong nhà vẫn còn Tết.
Và có lẽ, cái bực mình của tôi thực ra chỉ là do tôi lười và không muốn vợ cực nhọc. Nhưng nếu một năm nào đó không còn ai tất tả lo “ăn Tết” nữa, chắc tôi lại thấy thiếu. Không phải thiếu miếng ăn, mà thiếu cái không khí ấm áp khiến mình biết rằng: gia đình vẫn còn đây, và mùa xuân vẫn trở về.

-oOo-

Ngày xưa, khi cuộc sống còn khó khăn, Tết là dịp hiếm hoi trong năm có miếng thịt ngon, nồi bánh chưng xanh, đĩa xôi thơm. Trẻ con háo hức vì được “ăn trên ngồi trước”, người lớn vui vì mâm cỗ tươm tất chứng tỏ một năm làm ăn không đến nỗi nào. Ăn khi ấy không chỉ là nhai và nuốt, mà là một cách khẳng định: “Nhà ta vẫn đong đầy. Năm cũ ta đã vượt qua.”
Những năm 80–90, gia đình tôi nghèo đến mức thiếu ăn thật sự. Cái nghèo khi ấy không phải là thiếu món ngon, mà là thiếu cái để lấp đầy bụng. Những củ sắn còn dính vỏ, gọt chưa sạch, được cắt lát, phơi khô, (thường dùng cho heo ăn) ghé cùng với hạt gạo (mốc) cho “đỡ hao”. Cơm ít, sắn nhiều. Ăn riết thành quen.

Anh kế tôi khi ấy đang tuổi lớn, lại ham ăn. Nhà thiếu thốn, nên hễ có gì là anh ăn cho “đã”. Có lần ăn quá nhiều sắn đến say, ói mửa cả ngày. Mẹ vừa xót con vừa sợ hãi. Cái đói ngày đó không chỉ làm bụng trống rỗng, mà còn gieo vào lòng người một nỗi ám ảnh âm thầm… Sợ thiếu!
Có lẽ vì vậy mà bây giờ, khi cuộc sống đã ổn định nơi xứ người, mẹ tôi và cả anh tôi vẫn giữ nguyên thói quen tích trữ thức ăn như để phòng một cơn đói có thể quay lại bất cứ lúc nào. Tủ lạnh lúc nào cũng đầy ắp. Mà không chỉ một cái, ba cái trong nhà đều chật kín. Nhà anh tôi chỉ có hai vợ chồng thôi, vậy mà có đến bốn tủ lạnh và tủ đông. Nhìn vào cứ ngỡ như một cửa hàng thực phẩm thu nhỏ. Thức ăn chất đầy đến mức tôi nghĩ chắc ăn nửa năm cũng chưa hết.
Tôi đã nhiều lần nói rằng ở đây siêu thị mở cửa quanh năm, thực phẩm lúc nào cũng sẵn, không còn cảnh xếp hàng mua từng ký gạo như thời trước nữa. Nhưng mẹ tôi chỉ cười hiền; “Biết đâu lỡ…” Cái chữ “lỡ” ấy nghe nhẹ tênh, mà nặng như cả một thời quá khứ. Cái “lỡ” ấy không nằm ở thực tại, mà nằm sâu trong tiềm thức của một thời đói kém.

Mỗi lần tôi ghé thăm, câu đầu tiên mẹ hỏi bao giờ cũng là: “Con ăn gì chưa?” Không phải “Con khỏe không?”, cũng không phải “Công việc sao rồi?”, mà là “Con ăn chưa?” Với mẹ, hỏi ăn là hỏi thương. Bà lục đục dưới bếp, hâm lại món này, dọn thêm món kia, ép tôi ăn bằng được. Bà tin rằng con mình ăn nhiều là con mình khỏe, là mình làm tròn bổn phận.
Hồi trước, tôi còn cả nể. Sợ mẹ buồn, tôi ráng ăn cho bà vui. Ăn dù đã no, ăn dù bụng bắt đầu phản đối. Nhưng càng lớn tuổi, tôi càng không thể chiều theo cách đó nữa. Vợ tôi ở nhà đã “nuôi” khá kỹ, thực đơn tính toán vừa đủ. Bác sĩ thì dặn dò chỉ số đường, mỡ máu phải kiểm soát. Ở cái tuổi sắp năm mươi, thêm một chén cơm hay một miếng thịt kho đôi khi không chỉ là thêm calorie, mà là thêm nguy cơ. Tôi đùa rằng nếu cứ ăn như mẹ ép, chỉ số đường và mỡ máu của tôi chắc phóng lên như tên hỏa tiễn.
Vậy nên dạo gần đây, tôi từ chối. Từ chối nhẹ nhàng nhưng dứt khoát. Tôi nói: “Con no rồi, con ăn vậy đủ rồi.” Mẹ có buồn. Tôi nhìn thấy chút hụt hẫng trong ánh mắt bà. Cái buồn ấy không phải vì tôi chê đồ ăn, mà vì bà không còn được chăm con theo cách bà quen nhất.

Nghĩ kỹ, tôi hiểu thế hệ của mẹ tôi yêu bằng thức ăn. Trải qua những năm tháng thiếu thốn, họ tin rằng đầy đủ nghĩa là có cái ăn. Cho con ăn no là cách chắc chắn nhất để bảo đảm con không khổ như mình ngày trước. Còn thế hệ chúng tôi, lớn lên trong thời dư dả hơn, lại học cách yêu bằng lời nói, bằng không gian riêng, bằng sự tôn trọng lựa chọn của nhau.
Giữa hai cách yêu ấy đôi khi có va chạm. Tôi bực mình vì bị ép ăn. Mẹ buồn vì con từ chối. Nhưng sâu bên trong, đó chỉ là hai nỗi sợ khác nhau… Mẹ sợ con đói, còn tôi sợ bệnh tật.
Có lẽ điều tôi cần học không phải là ăn thêm cho mẹ vui, mà là nói với mẹ theo một cách khác rằng tôi đủ ăn, đủ khỏe, đủ đầy. Rằng cái thời sắn trộn cơm đã qua rồi. Và rằng tình thương của mẹ, dù không được đo bằng số món trên bàn, vẫn luôn dư dả hơn bất kỳ tủ lạnh nào.
Bởi rốt cuộc, sau tất cả những năm tháng thiếu ăn, điều còn lại không phải là cơn đói mà là ký ức về nó. Và ký ức ấy, đôi khi, vẫn âm thầm chi phối cách người ta yêu thương nhau suốt cả một đời.

-oOo-

Ngày nay, vật chất đầy đủ hơn, thức ăn không còn là nỗi chờ mong hiếm hoi. Nhưng “ăn” vẫn còn đó như một thói quen văn hóa. Ta có thể bớt ăn đi một chút cho khỏe, nhưng không thể thiếu bữa cơm đoàn viên. Vì điều làm nên ý nghĩa của ăn không nằm ở cao lương mỹ vị, mà ở chỗ quanh mâm cơm ấy có đủ mặt những người ta thương.
Cuối cùng, “ăn”, "ăn Tết", không chỉ là hành vi sinh lý mà là cách con người gắn kết với đời sống, với gia đình và với ký ức. Cả năm chúng ta ăn để sống, nhưng những ngày Tết, ta dường như sống để ăn, không chỉ ăn thức ăn, mà còn ăn niềm vui, tình thân và hy vọng cho một năm mới đủ đầy. Những mâm cỗ, những nồi bánh tét, những câu chuyện quanh bữa cơm không chỉ nuôi cơ thể mà còn nuôi lòng người, giữ gìn nếp nhà, giữ lại hồn cốt văn hóa.
Và có lẽ, sau tất cả những phân tích về sinh học hay văn hóa, “ăn” vẫn đơn giản là cách con người cảm nhận sự sống rõ ràng nhất. Một miếng ngon làm ta ấm lòng. Một bữa cơm sum họp làm ta thấy mình thuộc về. Một cái Tết đủ đầy làm ta thêm tin vào ngày mai.

Cho nên, nếu ai hỏi vì sao người Việt cứ nói “ăn Tết”, tôi sẽ mỉm cười: bởi chúng ta không chỉ ăn thức ăn, chúng ta ăn cả ký ức, ăn cả tình thân, ăn cả niềm hy vọng cho một năm mới an lành.

Võ Phú
RIC-022526
(Hình Ảnh: Tác Gỉa gửi)