Thứ Tư, 6 tháng 5, 2026

Hương Thu - Sáng Tác: Nguyễn Thanh Cảnh - Hòa Âm: Dương Hoàng Phúc - Ca Sĩ: Thái Hòa

Sáng Tác: Nguyễn Thanh Cảnh
Hòa Âm: Dương Hoàng Phúc
Ca Sĩ: Thái Hòa

Chỉ Là Mơ…

  


Dòng sông dĩ vãng đã trôi xa...
Một cánh chim bay biệt quê nhà
Phương người thu muộn vàng nỗi nhớ
Phương này xuân cạn úa tàn hoa.

Sông xưa dĩ vãng chảy ngược dòng
Mang về chốn cũ mỏi mòn trông
Bến cũ đò neo đêm trăng tỏ
Hạnh phúc giao hòa thỏa ước mong.

Sông này dĩ vãng chỉ là mơ...
Bến vẫn kiên tâm mỗi khắc chờ
Tình mãi trơ gan cùng tuế nguyệt
Chẳng thể lòng thuyền ngoảnh làm ngơ.

Kim Oanh

Tang Thương

 

Chiều vội xuống
Sương giăng mờ phố núi.
Đường quanh đây
Sỏi đá ngại chân qua.
Đã tàn binh
Sao hiu quạnh quá!
-Mẹ già tôi
Khuất bóng bên trời
Còn người yêu tôi
Lặng im trong mộ cỏ!
Mỗi thu về
Vàng ngập lá tàn rơi!
Tôi nhẹ bước vào vườn
Đâu thấy gì?!
Tràn ngập nỗi tang thương!

22-4-2026
Hàn Thiên Lương

Bữa Cơm Có Cá Thời Bao Cấp


Tối qua tôi nghe được “tin mật” nóng sốt là cửa hàng hải sản tươi sống hôm nay sẽ bán cá Thu. May quá hôm nay là thứ Năm nhỏ em gái không có lớp học buổi sáng nó sẽ trông giùm tôi thằng Bí để tôi rảnh rang đi chợ sớm xếp hàng mua cá Thu cho bằng được. Thời buổi bao cấp con cá miếng thịt quan trọng lắm, những thứ này không thường xuyên có trên mâm cơm.

Tôi quen với Dung, Dung là cháu của dì Năm nhân viên bán cá ở cửa hàng hải sản. Trước 1975 Dì Năm là một bà nhà quê bán cá trong chợ Hạnh Thông Tây, sau nhà nước dẹp buôn bán tư nhân, nhận dì Năm vào làm nhân viên bán cá của hợp tác xã địa phương nhờ lý lịch “trong sạch” con nhà nghèo bần cố nông, không dính dáng gì đến chế độ “Mỹ Ngụy”..

“Cửa hàng hải sản tươi sống” mà chẳng khi nào bán hàng tươi sống, toàn bán đồ ôi đồ ươn, quanh quẩn các loại cá rẻ tiền như cá mòi, cá hường, cá nục, cá mối, cá bạc má đã lòi bụng lòi mật hay có khi là cả một đống cá vụn tạp nhạp không tên. Người ta đồn rằng những con cá tươi thì đã bán ngầm cho nhau trong nội bộ, mà có còn chút cá tươi nào bán cho dân thì những ai lanh lợi nhanh chân lẹ tay đã mua hết rồi.

Cửa hàng cá này bên cạnh hàng rau củ thật… xứng đôi vừa lứa. Có hôm bán rau củ Đà Lạt mới về, nghe sang thế. Nhưng bông cải còn nguyên cuống dài và lá vàng úa, bên trong là bông cải đã có nhiều vết nám vàng nám đen, cà rốt thì bám đầy đất …chưa kịp rửa, mấy quả su su gai tua tủa già khú. Hàng hợp tác xã nhà nước khỏi cần mẫu mã sạch đẹp và nhất là khỏi cần mời chào người ta vẫn phải mua vì giá rẻ hơn ngoài chợ đen. Đống cá vụn tạp nhạp và đống rau củ Đà Lạt này chỉ đáng bán cho… heo ăn.
Mới hơn 6 giờ sáng tôi vén màn gọi nhỏ em đang ngủ:
– Thoa, dậy trông cháu chị đi chợ..
Thoa dụi mắt chưa tỉnh ngủ nhưng vẫn ngạc nhiên:
– Sao hôm nay chị đi chợ sớm?
Tôi xách giỏ sẵn sàng và dặn dò em gái 12 tuổi:
– Lát nữa thằng Bí dậy hai dì cháu ăn gói xôi trên bàn nhé.
Rồi tôi nói nhỏ làm như… sợ hàng xóm nghe thấy họ sẽ mua hết phần của mình:
– Hôm nay cửa hàng bán cá Thu, chị đi sớm xếp hàng. Lâu lắm nhà mình chưa được ăn cá Thu.

Tôi đi chợ thường đi bộ từ nhà đến chợ Hạnh Thông Tây chừng nửa cây số, nhưng sáng nay tôi đi xe đạp, chịu tốn vài đồng gởi xe cho nhanh cốt là “tranh thủ” mua được cá Thu ngon “cải thiện” bữa ăn gia đình. Gia đình tôi đông người, chồng đi “học tập cải tạo” ba mẹ con tôi ở chung với bên ngoại, mẹ tôi đã mất, còn bố và các em đang tuổi ăn học. Tôi quán xuyến việc nhà.

Tôi đạp xe vèo vèo đến chợ, hấp tấp gởi xe xong bước te te đến cửa hàng hải sản đã thấy một hàng dài người rồi. Quái lạ, tôi tưởng chỉ mình tôi biết “tin mật” thôi, hóa ra nhiều người cũng biết. À, cửa hàng hải sản có nhiều nhân viên chứ có phải chỉ mình dì Năm của Dung đâu, nên các nhân viên kia cũng rò rỉ “tin mật” hôm nay có cá Thu cho người thân quen của họ.

Dù thế nào tôi vẫn hào hứng xếp hàng và hy vọng đợi chờ. Đến hơn 7 giờ sáng nhân viên cửa hàng hải sản mới khệnh khạng kéo cửa lên. Một bà xếp hàng sốt ruột lớn tiếng:
– Cửa hàng mở cửa trễ 15 phút, lẹ lẹ lên cho bà con nhờ.
Một nhân viên cửa hàng cũng lớn tiếng đáp trả ngay:
– Chúng tôi đang sửa soạn nãy giờ, không rảnh đâu nghe bà con.
Cả một bàn cá đầy ụ đã được bày ra, những người đứng sau cố nghiêng người ra, rướn người, rướn cổ lên cao hơn người đứng trước nhìn vào quầy cá và bàn tán:
– Hình như toàn là cá con..
– Nghe… đồn là hôm nay có cá Thu. Chắc cá Thu sẽ bày lên sau..?
Một bà mơ ước:
– Cá Thu tươi về chiên sơ, sốt cà chua nhỉ…
Tôi giữ cuốn sổ mua hàng trong tay, thành thật hơn bao giờ:
– Cá Thu không tươi, lòi gan lòi phèo tôi cũng mua. Có còn hơn không.
Người đầu tiên mua được cá, chen ra khỏi đám đông để… trả lời nhiều câu hỏi:
– Cá gì vậy chị? Cá có tươi không?
– Có cá Thu không?
Bà vừa mua được cá hớn hở:
– Một đống cá lộn xộn con to con nhỏ, cá nục, cá bạc má, cá phèn hầm bà lằng về nhà chịu khó lựa ra. Tui nhà nghèo con đông cá nào cũng ngon. Đừng mơ tới chuyện cá Thu nghe bà con.
Rồi những bà kế tiếp chẳng thấy bà nào khoe mua được cá Thu cả. Đến lượt tôi, đứng đối diện với phản cá, tôi… e dè hỏi người bán hàng:
– Có cá Thu không chị?
Chị ta cong cớn hất hàm nhìn vào bàn cá và ra lệnh:
– Có thì đã bày ra đây. Thế chị có mua cá này không thì bảo?
Tôi nhìn đống cá chán nản và thò tay vào định chọn con cá nào đỡ bèo nhèo thì bị chị nhân viên… mắng:– Tiêu chuẩn mỗi hộ một ký. Chị mua bao nhiêu tôi cân, thì giờ đâu mà đợi chị chọn từng con cá.
Tôi mua một ký cá lộn xộn, thầm trách Dung thông tin sai làm tôi phải dậy sớm đi chợ sớm để mua mớ cá ôi này.
Về đến nhà Thoa hỏi ngay:
– Chị mua được cá Thu không?
Tôi vẫn bực mình từ chợ chưa thèm trả lời thì Thoa khoe:
– Nãy cu Bí ăn hết gói xôi rồi.
Tôi nhìn đầu tóc Thoa và gắt em:
– Con gái ngủ dậy đầu tóc không chải rối bù lên như ổ quạ thế kia.
Đã không được khen công bế cháu chăm cháu còn bị chị mắng Thoa xụ mặt:
– Từ lúc ngủ dậy thằng Bí chỉ khóc đòi mẹ, em phải bế dỗ nó đấy chứ.
Tôi biết mình cáu kỉnh vô lý, chỉ vì bị hố không có cá Thu, không mua được cá Thu nên tôi giận “cá” chém thớt, lây sang nhỏ em. Tôi dịu giọng lại để chuộc lỗi:
– Không có cá Thu, chị mua cá linh tinh nhưng chị sẽ kho kiểu này ngon lắm. Trông cháu tiếp để chị nấu cơm.

Thế là “bà dì” 12 tuổi biết bổn phận mình phải làm gì với thằng cháu lên 3 hay nghịch phá và hay khóc nhè. Chốc nữa dì lại “vác” cháu đi chơi quanh xóm.
Sau khi mua mớ cá tôi đến quầy thịt heo kiên nhẫn xếp hàng chờ đợi chen lấn thêm một lần nữa để mua bằng được mấy lạng thịt ba rọi về kho mặn với cá để đỡ hoang phí một buổi sáng dậy sớm đi chợ.

Bữa cơm trưa tôi cho con và mấy đứa em nhỏ ăn trước, ai về sau thì ăn sau. Thoa lấy một tô cơm với cá kho vừa ăn vừa đút cho thắng Bí con tôi.

Lúc ấy con Linh hàng xóm cách nhà tôi vài căn cũng bế em cùng với tô cơm sang nhà tôi. Linh bằng tuổi Thoa, học cùng lớp, hai đứa chơi thân với nhau, có vài điểm giống nhau, Thoa trông cháu còn Linh trông em.

Linh thường xuyên mang tô cơm sang nhà tôi vừa ăn vừa nói chuyện với Thoa. Hôm nay cũng thế. Hai đứa cùng khoe:
– Hôm nay nhà tao ăn cơm với cá
– Hôm nay nhà tao cũng ăn cơm với cá, mẹ tao kho cá Thu ngon lắm..
Thoa không tin, nhìn vào tô cơm của Linh và ngạc nhiên:
– Nhà mày mua cá Thu cửa hàng hợp tác xã hả, sao chị tao đi xếp hàng từ sớm mua không có….
– Mẹ tao nhờ bác Thà trưởng cửa hàng hải sản mua giùm, bác mang cá đến nhà cho mẹ.
Linh ăn xong tô cơm dắt em về nhà thì Thoa “mét” tôi:
– Nhà con Linh mua được cá Thu đó chị, em thấy tô cơm của nó có một khoanh cá Thu..– Chị nghe hai đứa nói chuyện rồi. Chị hiểu rồi vì mẹ nó là trưởng ban nhà đất ở phường quen biết nhiều lắm, mua thịt mua cá chỉ “nhờ” một tiếng là có ngay.
Thoa thèm thuồng:
– Em thấy nhà Linh ăn toàn đồ ngon, mẹ nó nấu cháo cá này, thịt kho trứng này…
Tôi hứa hẹn với Thoa:
– Hôm nào có cá Thu tươi ngon bán chợ đen, đắt bao nhiêu chị nhất định cũng mua về rim kho cả nhà ăn một bữa cho sướng, khỏi cần chầu chực ở cái cửa hàng hải sản… cà chớn ấy nữa.
Mấy hôm sau tôi gặp Dung và kể cửa hàng hải sản của Dì Năm nó không hề có cá Thu như Dung đã báo cho tôi thì Dung không hề ngạc nhiên:
– Làm gì có… dư mà bán ra ngoài chứ, dì Năm kể hôm ấy cửa hàng nhận về 4 cần xé cá, 2 cần xé cá Thu và 2 cần xé cá lộn xộn. Tưởng bán “nội bộ” một ít còn bán ra ngoài cho dân, ai dè ông nọ bà kia nhắn gởi để dành cho họ người một ký người hai ký… hết sạch luôn.

Nói tới đây Dung im luôn có vẻ ngại ngùng. Tôi đoán nhà Dung cũng nhờ có dì Năm, chân trong cửa hàng hải sản thế nào chẳng mua được ít nhiều cá Thu. Tôi nói đùa cho vui và cho Dung bớt ngại ngùng:
– Không có cá Thu nhà mình mua cá lộn xộn. Bữa cơm cũng có cá như ai.

Nguyễn Thị Thanh Dương
(Jan. 17- 2026)

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2026

Mơ Em Chiều Nay - Nhạc Và Lời: Nguyễn Tuấn - AI Cover by Siliconband

Nhạc Và Lời: Nguyễn Tuấn
Thực Hiện: Minh Châu Nguyễn
AI Cover by Siliconband


Lá Vàng



Gió rét trời thu rãi lá vàng
Để lòng vương vấn mỗi thu sang
Mây trời bàng bạc trôi lơ lững
Nắng nhạt nhuộm sầu nỗi chứa chan
Mãi đợi xuân sang buồn chất ngất
Trông mòn cánh nhạn trãi mênh mang
Thu đi thu đến bao hoài cảm
Mộng đẹp thời xuân cảnh bẽ bàng...!

Ngư Sĩ


Thành Phố Buồn

  

Gió lạnh mây giăng ánh nguyệt chùng
Đêm buồn văng vẳng điệu trầm rung
Tình yêu Than Thở đàn sai nhịp
Thơ mộng Tuyền Lâm khói ẩn rừng
Bảo Đại dinh hoàng danh mãi vọng
Langbiang đỉnh núi lệ còn rưng
Phố buồn Đà Lạt bao hương sắc
Lữ khách vấn vương chẳng lạ lùng

Quên Đi

Chân Tâm Biển Lặng

 

Cõi trần gian, cuộc đời là mộng mị
Kiếp Nhân sinh, như thuyền lạc giữa dòng
Nổi trôi trên, ngàn cơn sóng đại dương
Tay vững lái thuyền sẽ vào bờ bến

Đời có lúc, giận, vui, buồn, lẫn lộn
Như đại dương, có lúc sóng hiền hòa
Có những ngày, biển bão tố phong ba !
Ta lênh đênh, như con thuyền lạc hướng

Hãy bình tĩnh cho Tâm hồn yên ổn
Chân Tâm là biển lặng giữa đại dương
Dòng Đời như sóng vỗ thủy triều lên
Thân Ta như thuyền nan vượt ngàn sóng

Mặc dù cho trần gian đầy biến động
Nhìn cuộc đời bằng tâm ý bình thường
Tâm không còn, ô nhiễm, giận, sầu, vương
Khổ vui buồn, phiền não tan theo gió...

Hoàng Thục Uyên

Nhàn Thuyết 閒說 - Vương Kiến (Vãn Đường)

 
Vương Kiến 王建 (751-835) tự là Trọng Sơ 仲初, người Khoản Châu, Dĩnh Xuyên (nay là Hứa Xương, Hà Nam, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Đại Lịch thứ 10 (775), từng làm quan Tư mã Thiểm Châu. Ông trước tác "Nhạc phủ cung từ" rất được người ta khen ngợi, nổi danh ngang với Trương Tịch. Tác phẩm có "Vương tư mã tập".

Lời phi lộ

Đầu đề của bài thơ là Nói lúc nhàn, nhưng độc giả lại hiểu là Ta Nói Cho Mà Nghe. Vậy thì hãy lắng nghe ông nói từng câu cho thấm thía.

Nguyên tác Dịch âm

閒說 Nhàn Thuyết

桃花百葉不成春 Đào hoa bách diệp bất thành xuân
鶴壽千年也未神 Hạc thọ thiên niên dã vị thần
秦隴州緣鸚鵡貴 Tần Lũng châu duyên anh vũ qúi
王侯家為牡丹貧 Vương Hầu gia vi mẫu đơn bần
歌頭舞遍回回別 Ca đầu vũ biến hồi hồi biệt
鬢樣眉心日日新 Mấn dạng mi tâm nhật nhật tân
鼓動六街騎馬出 Cổ động lục nhai kỵ mã xuất
相逢總是學狂人 Tương phùng tổng thị học cuồng nhân

Chú giải:

Châu: cồn, bãi sông.
Duyên: cơ duyên, nhân vì.
Vi: làm
Đầu: hàng đầu.
Biến: khắp cả.
Mấn: tóc mai.
Phân: chia ra.
Cổ động: khua động, nhộn nhịp.
Nhai: đường phố chính.
Thị: ấy là.
Câu 3: châu Tần Lũng chỉ quí vì có chim anh vũ.
Câu 4: Vương Hầu nghèo vì ham mê hoa mẫu đơn.

Dịch thơ

Nói lúc nhàn

Hoa đào vạn lá chẳng thành xuân.
Hạc sống ngàn năm cũng chửa thần.
Tần Lũng xưa vì anh vũ qúi.
Vương Hầu nay do mẫu đơn bần.
Bài ca điệu múa thay từng lúc.
Mái tóc chân mày đổi mỗi lần.
Diễu ngựa chật đường qúa nhộn nhịp,*
Gặp nhau một lũ học ngông cuồng

* Một câu (nguyên bản và câu dịch) có 6 chữ vần trắc để tả bọn ngông cuồng cỡi ngựa quần thảo ở giữa đường.

Lời bàn:

Theo đầu đề (Nói lúc nhàn) thì có vẻ một bài thuật chuyện nhưng thân bài (tất cả 8 câu) rõ ràng là châm biếm. Thử duyệt lại toàn bài xem sao nhé:
- Dù cây đào có trổ vạn lá cũng chưa làm nên mùa xuân.
- Dù con hạc có sống ngàn năm cũng chưa được gọi là thần.
- Đất Lũng Châu sở dĩ qúy vì có chim anh vũ (con vẹt).
- Nhà Vương Hầu chỉ vì mê hoa mẫu đơn nên trở thành nghèo.
- Bài ca điệu múa (muốn hay thì phải) thay đổi từng lúc.
- Mái tóc (tuy xanh), chân mày (tuy đẹp) nhưng sẽ xấu đi mỗi lần.
- Hỡi bọn cuồng ngông kia! Chúng bay diễu ngựa nhộn nhịp ở đây (học ngông cuồng) có biết những lẽ đó hay không?

Con Cò
***
Tán Gẫu

Trăm cánh hoa đào chẳng hóa xuân
Ngàn năm hạc nôi chửa nên thần
Bãi Tần quý bởi chim anh vũ
Dinh chúa nghèo vì đám mẫu đơn
Điệu múa, giọng ca thay lúc lúc
Nét mi kiểu tóc mới lần lần
Trống rung sáu nẻo ngựa phi xuất
Gặp gỡ học đòi thói ngạo nhân

Lộc Bắc
Fev26
***
Nhàn phiếm


Xuân thắm nào cần đào trổ bông
Uy nghiêm mặc kệ hạc nghìn hồng
Nhiễu nhương Tần Lũng vì chim quý
Vương tước thành nghèo bởi mẫu đơn
Ca hát múa may thay đổi chán
Tóc tai mặt mũi kiểu khoa trương
Trống vang kỵ mã từ muôn hướng
Tụ họp vui chơi thói sống cuồng


Thanh Vân
***
Đồng ý với anh Tâm là bài chữ Hán của anh Bảo sai từ cái đầu đề. Chữ đầu tiên là NHÀN, không phải VĂN.
Chữ thứ tư, câu 4 là VỊ, không phải VI.
Chữ thư tư, câu 6 là Tâm, không phải PHÂN.
Cám ơn anh Tâm đã cho biết Bách Diệp là loài hoa có nhiều cánh, không đẹp, không đại diện cho mùa xuân.
Còn hoa Mẫu Đơn là hoa gì thì anh Tâm và anh Giám cũng đã giải thích.

Theo truyền thuyết, thì vào mùa đông, Vũ Tắc Thiên đi dạo vườn thượng uyển, ra lệnh ngày hôm sau, các loài hoa phải nở. Quả nhiên, trăm hoa đua nở, trừ Mẫu Đơn, nên nữ hoàng ra lệnh đầy hoa này tới Lạc Dương. Năm sau, Mẫu đơn nở rất đẹp, bà giận quá ra lệnh đốt hết. Ngờ đâu, hoa không chết mà năm sau lại nở đẹp vô vàn. Theo Google, thì Mẫu đơn là Peony, là loài mà mình gọi là Phù Dung, bông lớn, nhiều màu tươi thắm.

Ngoài ra, còn vài chữ khó:
- Duyên là nguyên cớ, vòng quanh.
- Anh vũ là con vẹt. (phương thảo thê thê anh vũ châu)
- Nhai là con đường.
- Cổ là cái trống.

Tác giả Vương Kiến GIẢNG NHÀN mà sao vất vả, khổ sở quá, chẳng thấy nhàn đâu cả: Hoa chẳng thành xuân, hạc chửa thành thần, Tần Lũng đẹp vì vẹt, người giàu ham chơi hoa sang mà thành nghèo, ca vũ phải đổi luôn, trang điểm khác mỗi ngày cho thêm đẹp, tụi trẻ khua trống, cưỡi ngựa túa ra đường, toàn bắt chước vẻ điên cuồng, hợm hĩnh..

Giảng Nhàn

Đào hoa trăm cánh chẳng thành xuân,
Hạc sống nghìn năm chửa biến thần,
Tần Lũng quý vì chim anh vũ,
Mẫu đơn thích quá khiến nghèo dần,
Giọng ca, điệu múa thường đổi khác,
Kiểu tóc, làn mi sửa mỗi lần,
Trống động sáu đường phi ngựa tới,
Thấy toàn một bọn học cuồng nhân.


Bát Sách.
(Ngày 05/03/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm:

閑說-王建 Nhàn Thuyết - Vương Kiến

桃花百葉不成春 Đào hoa bách diệp bất thành xuân
鶴壽千年也未神 Hạc thọ thiên niên dã vị thần
秦隴州緣鸚鵡貴 Tần Lũng châu duyên anh vũ quý
王侯家為牡丹貧 Vương hầu gia vị mẫu đơn bần
歌頭舞遍回回別 Ca đầu vũ biến hồi hồi biệt
鬢樣眉心日日新 Mấn dạng my tâm nhật nhật tân
鼓動六街騎馬出 Cổ động lục nhai kỵ mã xuất
相逢總是學狂人 Tương phùng tổng thị học cuồng nhân

Bài thơ có mộc bản trong các sách:

Vương Tư Mã Tập - Đường - Vương Kiến 王司马集-唐-王建
Doanh Khuê Luật Tủy - Nguyên - Phương 瀛奎律髓-元-方回
Hồi Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石仓历代诗选-明-曹学佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐诗-清-圣祖玄烨

Dị bản:

Hán bản bên trên là nguyên tác chép từ sách Vương Tư Mã Tập của Vương Kiến. NĐTĐT đời Thanh cho 2 dị bản:
tựa là Văn Thuyết 聞說 thay vì Nhàn Thuyết 閑說
câu 6: phân 分 thay vì tâm 心

Giải nghĩa:

Nhàn thuyết: chỉ những cuộc nói chuyện bình thường, những lời nói vô nghĩa, và những từ không liên quan.

Bách diệp: loại hoa đào có nhiều lớp cánh (đào bích). Tác giả cho rằng loại hoa biến dị, phô trương này không đại diện cho cái thần thực sự của mùa xuân.
Vị thần: chưa phải là thần diệu, chưa đạt đến cảnh giới linh thiêng.
Tần, Lũng: một vùng địa lý, chỉ khu vực bao gồm các tỉnh Thiểm Tây và Cam Túc ngày nay. Tần chỉ lãnh thổ nước Tần cổ đại và khu vực tập trung quanh Thiểm Tây trong các thế hệ sau, trong khi Lũng chỉ vùng phía tây dãy núi Lũng Sơn (nay là phía đông Cam Túc và các khu vực khác). Hai vùng này liền kề nhau và thường được gọi chung là Tần Lũng, một thuật ngữ thường thấy trong các tài liệu lịch sử và văn bản địa lý.
Tần Lũng: các vùng đất phía Tây (nay thuộc Thiểm Tây, Cam Túc) là nơi có nhiều chim vẹt quý.
Anh vũ: chim vẹt. Ý nói vì vẹt quý mà vùng đất này bị chú ý và khai thác quá mức.
Mẫu đơn bần: nghèo vì chơi hoa mẫu đơn rất tốn kém. Theo anh Hoàng Xuân Thảo, hoa mẫu đơn chỉ được đem vào Trung Hoa vào cuối nhà Chu, tới nhà Đường mới chỉ được trồng trong các vườn ngự uyển nên rất quý giá, chỉ các bậc vương hầu mới đủ tiền mà chơi và trồng hoa này. Hoa mẫu đơn thời đó được coi là hoa vương giả.
Ca đầu: phần mở đầu của toàn bộ bài hát, có vai trò thiết lập giai điệu và dẫn dắt toàn bộ bài hát, và chủ yếu được nhìn thấy trong các tác phẩm cổ của Nhạc Phủ

Ca đầu vũ biến: các điệu nhạc, điệu múa trong cung đình hoặc phủ.
Hồi hồi biệt: mỗi lần mỗi khác, thay đổi xoành xoạch để chạy theo cái mới.
My tâm: giữa hai lông mày.
Mấn dạng my tâm: cách búi tóc và kẻ chân mày.
Lục nhai: sáu con đường chính ở kinh thành Trường An.
Học cuồng nhân: bắt chước những kẻ ngông cuồng, phóng đãng.

Dịch nghĩa:

Nhàn Thuyết Phiếm Bàn (Lời Nói Khi Nhàn Rỗi)
Đào hoa bách diệp bất thành xuân
Đào nhiều cánh không tạo ra vẻ đẹp tự nhiên của mùa xuân,
Hạc thọ thiên niên dã vị thần
Hạc sống ngàn năm nhưng cũng chưa hẳn đã có thần khí.
Tần Lũng châu duyên anh vũ quý
Vùng Tần, Lũng vì có giống vẹt quý mà trở nên nhiễu nhương,
Vương hầu gia vị mẫu đơn bần
Nhà vương hầu vì chơi hoa mẫu đơn mà hóa ra nghèo khó.
Ca đầu vũ biến hồi hồi biệt
Điệu hát khúc múa thay đổi liên tục chẳng lần nào giống lần nào,
Mấn dạng my tâm nhật nhật tân

Kiểu tóc, dáng mày ngày ngày lại thay đổi theo mốt.
Cổ động lục nhai kỵ mã xuất
Tiếng trống vang lên, người cưỡi ngựa từ sáu ngả đường tuôn ra,
Tương phùng tổng thị học cuồng nhân
Gặp nhau toàn là những kẻ đua đòi theo thói ngông cuồng.

Bình luận:

Bài Nhàn Thuyết của Vương Kiến là một bức tranh trào phúng, phê phán sự xa hoa phù phiếm và thói hư tật xấu của tầng lớp thượng lưu thời bấy giờ.

Trong bài thơ Nhàn Thuyết, phong cách trào phúng của Vương Kiến không trực diện, ồn ào mà mang tính châm biếm ngầm, sâu cay qua việc quan sát những nghịch lý trong đời sống. Tóm lại, trào phúng của Vương Kiến trong bài này là kiểu trào phúng phong hóa (châm biếm thói đời). Ông không dùng những từ ngữ thô tục hay gay gắt, mà dùng sự đối lập giữa "cái danh" và "cái thực" để lột trần sự suy đồi của xã hội thời vãn Đường. Ông phê phán qua quan sát và nhận xét thói đời hơn là áp đặt các giá trị luân lý thông thường.

Bài thất ngôn bát cú luật thi, hoàn chỉnh về hình thức, đặc sắt là phần đối xứng trong luật thi về từ, thanh và ý:
Cặp câu 3 và 4:` Tần Lũng châu duyên anh vũ quý đối với:
Vương hầu gia vị mẫu đơn bần
Cặp câu 5 và 6: Ca đầu vũ biến hồi hồi biệt đối với:
Mấn dạng my tâm nhật nhật tân

Dịch thơ:

Nhàn Phiếm

Hoa đào nhiều cánh chẳng thành xuân,
Hạc sống ngàn năm không hóa thần.
Tần Lũng vẹt khôn nên khổ lụy,
Vương hầu thích mẫu phải đơn bần.
Điệu múa câu ca luôn đổi mới,
Chân mày búi tóc kẻ bao lần.
Sáu ngã trống dồn người ngựa ruổi,
Gặp nhau một lũ học cuồng nhân.

Việc dịch mẫu đơn bần thành mẫu…đơn bần, nhằm nhấn mạnh nghịch lý giữa sự sang trọng của hoa và sự khánh kiệt của chủ nhân.
Cụm từ học cuồng nhân được giữ nguyên trong bài dịch thất ngôn vì đây là linh hồn của bài thơ - mỉa mai sự đua đòi, bắt chước một cách mù quáng.

Translation:

Idle Talk by Wang Jian is a sharp social satire from the Tang Dynasty. The poet was famous for his "Palace Ballads," and here he uses his observant eyes to mock the superficiality of the elite.

A hundred-petaled peach bloom does not make a spring,
A thousand-year-old crane is not yet divine
The Qin and Long regions suffer because parrots are prized,
Princely houses grow poor from a love of peonies.
Song leads and dance steps change every single time,
Hair styles and eyebrow shapes are refreshed day by day.
As drums stir the six streets, they gallop out on horseback,
Only to meet others who are all busy acting like madmen.
Commentary on Satirical Style

Wang Jian's satire is observational rather than moralistic. He doesn't tell the reader that these people are "evil"; he simply shows the absurdity of their actions.

The phrase Learning from madmen (Học cuồng nhân) is the most biting part of the poem. In Chinese tradition, "madness" was often associated with genuine, unbridled genius (like the poet Li Bai). By saying people are "learning" it, Wang Jian exposes them as phonies—they are performing a role rather than living a truth. It is a timeless critique of "clout-chasing" that feels remarkably modern.

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

Bài ca điệu múa muốn hay phải thay đổi luôn luôn, cũng vậy dung nhan muốn đẹp thì bới tóc, kẻ lông mày cũng phải làm mỗi ngày.

Tần Lĩnh nằm giữa lưu vực hai sông Hoàng Hà và Dương Tử nổi tiếng vì có loài chim anh vũ, bây giờ thì nổi tiếng vì có loài gấu trúc. Hoa mẫu đơn chỉ được đem sang Trung quốc từ cuối nhà Chu, tới nhà Đường mới chỉ được trồng trong các vườn ngự uyển nên rất qúy giá, chỉ các bậc vương hầu mới đủ tiền mà chơi và trồng hoa này thôi. Hoa mẫu đơn thời đó được coi là hoa vương giả, tượng trưng cho phú qúy và được gọi là “Thiên hạ chân hoa độc.” Thú cuồng hoa mẫu đơn, tranh nhau mua với bất cứ giá nào đã khiến nhà thơ Vương Cốc phải than trong bài thơ “Mẫu Đơn” rằng, “Mẫu đơn yêu diễm loạn nhân tâm/ Nhất quốc như cuồng bất tích kam/kim...” Mãi sang tới đời Tống thì thú chơi hoa này mới lan tràn cả trong dân chúng khắp nước và nơi trồng nhiều và có nhiều lọai hoa đẹp nhất là tại kinh đô Lạc Dương. Hiện nay tại Lạc Dương hàng năm vẫn có lễ hội Mẫu Đơn vào mùa xuân.

Hoàng Xuân Thảo
***

Huỳnh Kim Giám Góp ý:

閒說=Nhàn Thuyết

Tựa đề của bài thơ là Nhàn Thuyết, không phải Văn Thuyết (đã chỉnh lại, tk). Hai câu đầu của bài thơ đã biến thành một loại thành ngữ cho khái niệm ảo giác và vô thường của cuôc đời.

Âm nhàn có nhiều lối viết thời kim văn (không tìm thấy trong giáp cốt văn) và được viết với bộ 門=môn và dùng các chữ 月=nguyệt (nguyệt lai môn hạ nhàn), 夕=tịch (hội ý), hay 外=ngoại (hài thanh), với một dạng cổ 𨳢). Từ 聞=văn viết với bộ 耳=nhĩ nên dễ bị nhầm với 月 của 閒 cho dù hai từ dùng bộ khác nhau. Có phiên bản cho bài thơ dùng từ 閑=nhàn (cái lan can, không có nghĩa gì cả!). Người ni cũng khám phá rằng khi dùng Google translate, coi chừng việc AI “tự tiện” thêm vào nguyên tác (giải thích chẳng hạn) hay đổi nguyên tác 閒 thành 閑 vì chúng là những từ đồng âm!

Từ 葉=diệp trong 桃花百葉=đào hoa bách diệp không có nghĩa là lá mà là cánh hoa, vì 'lá' không đúng nghĩa. Cây đào có hàng trăm lá nhưng không hoa đầu xuân không có giá trị gì hết.

鹦鹉=anh vũ là một loài chim ồn ào với khả năng bắt chước tiếng người và học nói, nên hình tượng anh vũ trong bài thơ gợi ý châm biếm để chỉ những người tập tểnh học làm thơ. Người xưa nghĩ chim anh vũ xuất xứ ở Lũng Sơn (陇山), dãy núi bắc ngang Sơn Tây và Cam Túc, và tên cổ của vùng là Lũng châu. Vì Lũng châu thuộc nước Tần ngày xưa, nó còn có tên 秦陇=Tần Lũng như trong bài thơ.

Hai từ 王侯=vương hầu đầu câu 4 không nên viết hoa vì chúng không phải là danh từ riêng và câu 4 chỉ có nghĩa rằng các nhà quyền quý vẫn có thể nghèo cho dù có, hay vì có, trồng hoa mẫu đơn, nếu không nghèo vì nhu cầu học đòi làm sang. Mẫu đơn là một tên có từ lâu để gọi hai loài hoa 芍药=thược dược (木=mộc và 火=hỏa) và từ thời Đường mẫu đơn là tên cho mộc thược dược. Có rất nhiều loài mẫu đơn với tên của các mỹ nhân danh tiếng hay các biểu tượng cho sự cao sang, quyền quý. Tại sao người Việt lại gọi hoa Dahlia là thược dược thì người ni không hay vì Dahlia xuất xứ từ Mỹ Châu và người Tàu chỉ chuyển âm qua tiếng hán thành 'đại lệ'.

***
@ý kiến của Phí minh Tâm:

Mẫu đơn là một tên có từ lâu để gọi hai loài hoa 芍药=thược dược…

Anh Giám có thể xem lại loại hoa dahlia mà người Hoa gọi là Đại lệ hoa có thể nào là hoa mẫu đơn trong bài thơ của Vương Kiến hay không? Đại lệ hoa đến từ Nam Mỹ, nên sau thế kỷ 17, 18 người Âu Châu mới biết đến. Trong khi người Hoa đã có mẫu đơn từ thời Chu. Pmt

Huỳnh Kim Giám trả lời:

Dĩ nhiên Dahlia hay đại lệ hoa không phải là mẫu đơn và không thể là mẫu đơn. Tôi chỉ bàn 'lạc đề' về cái tên thược dược mà người Tàu dùng chung cho các loài mẫu đơn. Vì một lý do nào đó, người Việt cho dahlia cái tên thược dược cho dù hai loài hoa Dahlia và Gardaenia không bà con gì với nhau hết. Một lý do khả hữu là thế này: một tên Hán của Dahlia pinnata là 天竺牡丹 (Thiên Trúc mẫu đơn) cho dù dahlia xuất phát từ châu Mỹ! Đúng ra một tên tiếng Anh của dahlia là Indian peony với từ (red) Indian chỉ gốc thổ dân châu Mỹ chứ không phải gốc xứ Thiên Trúc huyền thoại, nhưng người Tàu đã lỡ dịch Indian thành Thiên Trúc từ lâu rồi.

Rất có thể rằng một người, Việt hay Nhật rành chữ Hán nhưng không rành thảo mộc học, biết mẫu đơn là thược dược trong tên tiếng Tàu nên cũng nghĩ Indian peony/Thiên Trúc mẫu đơn là thược dược. Điều này làm tôi liên tưởng tới chuyện trái cẳng ngỗng người Tây phương dịch Nho gia (儒家) thành Confucianism cho dù từ Nho có nghĩa là thuật sĩ-nhà chuyên môn chứ không dính dáng gì với Khổng Tử.

Huỳnh Kim Giám thắc mắc:

Không biết anh Tâm tìm ra giải thích "đào bích" cho cụm từ "bách diệp" ở đâu ra vậy. Google và Wiktionary chỉ cho hai nghĩa cho "bách diệp, một là cái lá sách, một phần của bao tử bò, hai là tàu hủ ky để làm đồ chay giả thịt. Bách diệp cũng nằm trong tên của một loại mành mành che cửa

@ Phí Minh Tâm trả lời:

Theo Google: Bách diệp (百葉): Tức là hoa đào nhiều cánh (đào bích).
Đào phai và đào bích là hai loại hoa đào Tết khá phổ biến và được nhiều người yêu thích.
Tự điển 国语辞典 Trang Sưu Vân cho 6 nghĩa, trong đó có:
百叶 拼音:bǎi yè 1.花瓣或枝叶重叠。
bách diệp bính âm :bǎi yè 1. hoa biện hoặc chi diệp trọng điệp 。
百叶 (bǎi yè) 1. Cánh hoa hoặc lá xếp chồng lên nhau.

@ mirordor viết thêm:

Thay vì tìm đào hoa bách diệp, nếu tìm 'bách diệp đào hoa" thì Google cho chúng ta Hàn Dũ thay vì Vương Kiến:

"百葉桃花" : 主要指代唐代文學家韓愈創作的七言絕句《題百葉桃花》,描寫花瓣繁複的桃花在晚春時節愈發紅艷、玲瓏,帶有擬人化的親切溫情。此詞亦指花瓣數量極多(重瓣)的桃花觀賞品種,常見於園林中,花朵較單瓣桃花更為豐腴、鮮豔。 "bách diệp đào hoa" chủ yếu chỉ Đại Đường đại văn học gia Hàn Dũ sáng tác đích thất ngôn tuyệt cú《 Đề Bách Diệp Đào Hoa》, miêu tả hoa biện phồn phức đích đào hoa tại vãn xuân thì tiết dũ phát hồng diễm, linh lung, đái hữu nghĩ nhân hóa đích thân thiết ôn tình。 thử từ diệc chỉ hoa biện sổ lượng cực đa (trùng biện) đích đào hoa quan thưởng phẩm chủng, thường kiến ư viên lâm trung, hoa đóa giác đan biện đào hoa canh vi phong du, tiên diễm.

Bài thơ 題百葉桃花 của Hàn Dũ như thế này:

百葉雙桃晚更紅 bách diệp song đào vãn canh hồng
窺窗映竹見玲瓏 khuy song ánh trúc kiến linh lung
應知侍史歸天上 ứng tri thị sử quy thiên thượng
故伴仙郎宿禁中 cố bạn tiên lang túc cấm trung

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2026

Quê Hương 4 - Thơ: ChinhNguyen/HNT - Nhạc/Cover: Vương Ngữ Nguyệt

Thơ: ChinhNguyen/HNT
Nhạc/Cover: Vương Ngữ Nguyệt

Người Đi

  

Nước mắt còn đâu tiễn người đi
Đường mưa mờ mịt dấu biệt ly
Khăn tang không thể che sầu tủi
Đất đá vô tình chẳng nói chi

Kể lể làm sao hết đau buồn
Tháng ngày lận đận mất quê hương
Lang thang đất khách không nơi trọ
Gối tuyết gặm sầu mặc gió sương

Tưởng được bên nhau trọn kiếp nầy
Tay buồn còn được tay cầm tay
Ngờ đâu trời đất nhiều cay nghiệt
Trơ trọi nghìn năm lối đọa đày

Muốn được đi theo biết còn không
Hay là người cũng đã sang sông
Thay hình thoát xác thành mây khói
Không thể cùng nhau kể chuyện lòng

Cơn gió nào vừa mới thoảng qua
Rung rinh ngọn cỏ gợn màu hoa
Hay hồn hoa cỏ còn vương vấn
Một chút hẹn thề đã quá xa

Tiếng nói tiếng cười thuở bên nhau
Ngày nào chăn gối mộng trăng sao
Bây giờ chỉ có lời trăn trối
Biết có còn chung được kiếp nào

Người đã đi rồi ta còn không
Xác thân bèo bọt hồn rêu phong
Đường xưa trăng cũ quên rồi nhớ
Bước mỏi tàn theo dấu bụi hồng...

MD.07/11/03
LuânTâm
(Trích trong TT " HƯƠNG ÁO "
MinhThư xb, MD/USA.2007, tr.135-136)


Tháng Năm Về Tôi Lạc Giấc Chiêm Bao

 
(Ảnh: Tác giả gửi)

Tháng Năm về hoa Mẫu Ðơn chớm nở
Muôn sắc màu e lệ dưới mưa sa
Tôi vẫn nhớ phút ban đầu gặp gỡ
Kỷ niệm nào luôn mãi ở trong ta

Tháng Năm về cho tôi thêm nỗi nhớ
Vừa mới gặp cứ ngỡ quen lâu rồi
Giọt mưa rơi dưới hiên em khép nép
Ðôi mắt buồn nhìn về chốn xa xôi

Tháng Năm về gió lùa tay năm ngón
Cánh Mẫu Ðơn đỏ thắm môi son em
Nhớ những ngày tan trường tôi đưa đón
Tình đôi ta in dấu khắp muôn nơi

Tháng Năm về con thuyền theo ngọn sóng
Ðưa em đi xa lắm đại dương trôi
Tự do nào nơi sóng cuồn gió thổi
Em rời xa tôi chết một giấc mơ

Tháng Năm về tôi hái đóa Mẫu Ðơn
Ðem ra biển thả trôi theo con sóng
Hoa nhấp nhô như cánh tay em vẫy
Tôi mất hồn thất lạc giấc chiêm bao...

Y Thy
042722

Thi Tú Tài Miền Nam Xưa Khó Cỡ Nào?

Thực Hiện: Gió Biển Podcast

Kiếp Nào Có Yêu Nhau( Minh Đức Hoài Trinh) - Love In A Certain Life (Thanh Thanh)

 
(Minh Đức Hoài Trinh)

Kiếp Nào Có Yêu Nhau

Anh đừng nhìn em nữa
Hoa xanh đã phai rồi
Còn nhìn em chi nữa
Xót lòng nhau mà thôi 

Người đã quên ta rồi
Quên ta rồi hẳn chứ
Trăng mùa thu gãy đôi
Chim nào bay về xứ 

Chim ơi có gặp người
Nhắn giùm ta vẫn nhớ
Hoa đời phai sắc tươi
Đêm gối sầu nức nở 

Kiếp nào có yêu nhau
Nhớ tìm khi chưa nở
Hoa xanh tận ngàn sau
Tình xanh không lo sợ 

Lệ nhòa trên gối trắng
Anh đâu, anh đâu rồi
Rượu yêu nồng cay đắng
Sao cạn mình em thôi?

Minh Đức Hoài Trinh
***
Dịch Thơ:

Love In A Certain Life


Don’t look at me any longer, my dear;

This fresh flower had already turned sear.

Why did you continue to see me again?

That would only give our hearts pain.

 

He has finally forgotten me for good.

Forgotten me? As he completely could!

The autumn moon has broken in two;

Which bird flown back to its clime due?

 

Oh bird! ever happen to meet him if you, 

Send word, I still remember, in the blues.

My life’s flower had so obviously faded;

Every night I sob on sad pillows shaded.

 

In any generation if we love one another,

Mind! find the yet unblown you’d rather

Fresh flowers to freshness always adhere;

Ingenuous love thus encounters no fear.

 

My hot tears are soaking the pillow white;

Where are you? where you are just tonight?

The bridal wine tastes bitter, of my own!

Why do I have to drink it up all alone?


Translation by Thanh Thanh

Thoáng Hương Ngày Cũ


T. thân yêu,

“Thời gian từ bao giờ vẫn là tiếng hỏi han vô tình”. Câu nói của ai đó bỗng chợt về khiến em chùng lòng, quay quắt. Hôm qua, dọn dẹp lại các thùng sách vở, giấy tờ dưới garage, tình cờ lá thư của T. gửi cho em trong những ngày còn ở trại tị nạn nằm trong quyển sách cũ bỗng rơi ra. Cả một quá khứ thời học trò kéo nhau về, bềnh bồng trong trí tưởng. Thoắt đó mà đã mấy mươi năm. Biết bao điều thay đổi. Những buổi sáng thức dậy ở đây, cho đến bây giờ đôi lúc em vẫn còn lạ lẫm với những điều mình đang sống, đang có. Hạnh phúc hay khổ đau? Nụ cười hay nước mắt? Dường như em đã nhận đầy đủ cả từ ngày xa nhà, cất bước ly hương. Một cuộc chia lìa không ai định trước. Và từ đó chúng ta đã nghìn trùng xa cách.

Nhớ những ngày giữa tháng Ba năm nào, lênh đênh trên biển chỉ thấy trùng dương gió lộng, mây nước mịt mùng. Trước ngày đi, không gặp được T. để từ giã. Đến nhà T. trọ lần cuối, cửa đóng im lìm, biết rằng chúng ta sẽ chẳng còn cơ hội để gặp nhau trong cõi đời này nhưng em đã không khóc, dù lòng buồn tơi tả… Nhét vội lá thư vào khe cửa, em thì thầm: “T. ơi! Xin giã biệt!” rồi vội vã bước đi sau một hồi lâu đứng chờ mong phép lạ, cánh cửa kia bật mở, gương mặt với nụ cười và chiếc răng khểnh của T. xuất hiện. Nước mắt sẽ rơi và em sẽ không đi nữa… Nhưng tất cả chỉ là mơ!

Những ngày trên biển, có hôm ngồi trên khoang tàu nhìn mặt biển phẳng lặng như mặt nước hồ thu, em ngạc nhiên không nghĩ là mình đang ở trong một cuộc hành trình đầy hiểm nguy, gian khổ như đã từng nghe kể mà là đang dạo thuyền trên sóng nước cô đơn, lẻ loi giữa đất trời xa lạ. Chợt nhớ tiếng đàn, giọng hát của T. trong buổi họp mặt cuối cùng của nhóm bạn bè xưa… thiết tha, ray rức. Ước gì có T. bên cạnh với cây đàn, em sẽ hát cho quên đời, quên nỗi xót xa.

Lá thư của T. đến khi chỉ còn 2 tháng nữa là em sẽ rời trại để đi định cư. Lá thư mang quá khứ ùa về, đưa em đi rất xa để tìm lại những ngày thương yêu cũ.

D. thương yêu,

Cho tới lúc này, những nốt nhạc mở đầu cho Sonate 14 (Ánh Trăng) vẫn còn chập chùng, chới với trong anh. Những âm điệu mỗi lúc chùng xuống, thêm… thêm nữa… rồi trở về đoạn đầu… dìu dặt.

Những người xưa, khi rời xa người yêu họ như thế nào D. nhỉ? Beethoven đã không từng đi lang thang suốt mấy ngày ở trong rừng đó sao? Nghe Julietta trở lại và ông đã biến nỗi đau xót đó trở thành bài Sonate tuyệt diệu, để Frank Lizt ví von: “Một bông hoa nở giữa hai vực thẳm không đáy.”

D. ơi,
Anh có thể ngồi hàng giờ đọc, nghiền ngẫm sự chia xa. D. vừa đi, D. đi rồi, em đã đi… Em… Em… chứ không thể trải hoặc biến hết những gì có trong anh kể từ lúc biết D. đã đi. Hỏi anh như thế nào từ lúc em đi? Nắng như thiêu… nóng khủng khiếp. Ừ, thì anh trả lời D. đây: Vui, vui lắm. Niềm vui này Đinh Hùng đã thét:
“Sầu rũ tóc, ngậm ngùi in khóe mắt…” Tóc anh ngắn không đủ dài để rũ và mắt của ta cũng đâu đủ buồn để ngậm ngùi in được những thanh âm.

Ừ, thì vui lắm, ta đã nhìn thấy họ vui ở đâu đó. Như trong “Love Story” khi nói “Cười đi, cười đi… Keep smile!”. Và sau đó thì “Tôi òa khóc” (nguyên văn). Kể từ lúc D. đi, mỗi ngày đi lại trên những con đường cũ, mỗi bước, mỗi bước… là một an ủi, vỗ về: “D. đi, đi rồi, thôi thì ngày mai, ước mong trời lại sáng tươi. Hãy chịu đựng, gìn giữ nỗi đau này như một món quà của Thượng đế ban tặng để cho ngày mai chúng ta sống tốt đẹp và xứng đáng hơn”.
Bây giờ, nơi D. ở, trời xanh lắm không? Chắc là có mưa. Mưa giữa thu… và khi mưa mau, em có đi trong mưa và nhớ đến những ngày tháng cũ ở nơi này?

Ở nơi chốn mới đó, có thi sĩ đã mô tả như là: “cái sa mạc máy móc, trơ lạnh và cô đơn”. Nhưng nhớ đến nhau, tin tưởng nhau sa mạc sẽ biến mất, phải không D.?
Vậy thì: “Hỡi chim! Chim của ta ơi. Đừng khép cánh ngừng bay chim nhé”.
Đừng để cho tình yêu tan biến vì người ta bảo rằng: “Sa mạc cấu thành nơi nào tình yêu tan biến”. Giờ thì chỉ mới là chia xa, và khởi đầu…

D. thương nhớ,
Hãy gắng vui lên D. nhé! Hãy biến mất mát này thành may mắn cho nhau. Anh vẫn còn đây và luôn cầu nguyện cho D. cho hai chúng ta sẽ có ngày gặp lại.”

Đọc xong lá thư, em ngỡ như vừa uống cạn ly rượu mạnh, men đắng cay lúc mới chạm môi bỗng tỏa thành hương ấm áp lan tràn trong cơ thể. Lá thư đầu tiên thay cho lời bày tỏ lại đến với em trong khoảng không gian giữa chúng ta đã được đo bằng khoảng cách là hai bờ đại dương xa thẳm, làm sao để em không chua xót, ngỡ ngàng. Nhưng từ thâm sâu tận đáy tim niềm hân hoan cũng bắt đầu vỡ òa như thác đổ để rồi từ đó T. dù rất xa xôi nhưng lại là bạn đồng hành luôn bên cạnh, là sức mạnh, niềm tin nâng đỡ, vực em đứng lên để bước tới trong mọi cảnh đời.

Những ngày đầu tiên theo đám bạn đến nhà xin T. dạy thêm Toán Lý Hóa cho kỳ thi Tú tài II, em đã thấy được sự ân cần, chăm sóc của T., một người bạn, người anh đầy tình thân ái. Cũng xuất thân và ra trường vài năm trước đó từ NQ, nên T. xem các cô học trò nhỏ như những cô em gái và ngược lại cả bọn cũng xem T. như một người anh hơn là người Thầy. Không có chuyện gì khác hơn nếu không có một ngày, đám bạn trong nhóm khám phá ra trên quyển lưu bút chuyền tay cuối niên học của em với những lời nhắn nhủ rất dịu dàng của của T. và hai chữ “Thương em,” ở dòng cuối cùng trước chữ ký của người viết. L. đã rú lên như bắt được… quả tang:
- Trời ơi, tình ghê chưa?
Cả nhóm xôn xao:
- Đâu đâu, chuyện gì vậy?
Thế là, cả bọn chúi đầu vào quyển Lưu Bút theo ngón tay chỉ của L. Nhỏ M. láu lỉnh:
- Đúng rồi, vậy là hai người “tình trong như đã mặt ngoài còn e”, đó nha.
Em đỏ mặt vội chống chế:
- Thì đứa nào anh T. cũng coi như nhau mà.
L. lườm em với ánh mắt sắc như dao:
- Như nhau sao được, anh T. đâu có viết chữ “Thương em” trong lưu bút của tụi tao như của mày đâu. Thôi đừng có chối mày ơi!
Em vừa mắc cở vừa tức vì không cãi lại mấy cái miệng của đám bạn đang đồng tình tấn công tới tấp, chỉ biết dọa sẽ mách lại với T để mong chúng im miệng.
Dọa thì mạnh vậy mà đến lúc gặp T. em đã phải cắn môi mấy lần mới nói được thành câu:
- Sao T. viết chữ “thương em” trong Lưu Bút làm chi cho tụi nó chọc D. quá chừng đi.
Lần đầu tiên em thấy T. nhìn em với đôi mắt rất lạ, giọng T. trầm ấm:
- Thì có sao đâu, ai nói gì kệ họ, cứ nói đến hỏi anh đây này.

Lúc đó, lòng em bỗng nhiên nhẹ nhỏm dù câu trả lời cũng chưa giải thích được gì. Nhưng em vẫn không dám hỏi thêm gì hơn. Hôm sau gặp tụi bạn. Em bảo ngay:
- Anh T. nói đứa nào có thắc mắc thì cứ gặp anh ấy mà hỏi đi nhé.
Cả bọn nhìn nhau, L. thì bĩu môi:
- Dại gì, cho người ta nói mình… tò mò, tọc mạch sao.
Thế là câu chuyện được chấm dứt ở đó, xem ra bọn này vẫn còn sợ oai “ông Thầy” lắm đấy chứ!


Ngày cuối của nhóm học luyện thi, mới biết T. đàn và hát thật hay. Không hiểu sao T. lại hát “Bài không tên số 2” của Vũ Thành An. Tiếng hát T. nồng nàn, ấm áp hòa quyện với tiếng đàn trầm buồn, ray rức làm cả đám con gái vốn liếng thoắng, nói cười giờ như lịm người, tan biến.

“Lòng người như lá úa, trong cơn mê chiều
Nhiều cơn gió cuốn, xoay xoay trong hồn
Và cơn mê này, vẫn còn đây …
Kỷ niệm xưa đã chết, cơn mê đã chiều
Tình yêu đã hết, xót xa đã nhiều
Đời thôi sẽ còn mai sau…
Thôi em đừng xót thương
Rồi ngày tháng phai đi
Thôi cuộc tình đó tan rồi
Không còn gì nữa, tiếc mà chi.
Đời một người con gái, ước mơ đã nhiều,
Trời cho không được mấy, đến khi lấy chồng
Chỉ còn mối tình mang theo..."

Riêng em, lòng như nốt nhạc vừa được khảy lên với những âm thanh mới, rung động, ngân nga… kể từ sau tiếng đàn và lời hát như ru của T. hôm ấy.

Bẵng đi một tháng, sau những ngày vật vã với học hành, thi cử, không ngờ T. lại là người đầu tiên đến chúc mừng em thi đỗ Tú tài II. Buổi chiều hôm đó, T. đến thăm, bất ngờ như một cơn bão lạ, khiến em ngạc nhiên đến sững sờ. Vì chưa bao giờ T. hỏi hoặc đến nhà em trong suốt thời gian dạy thêm. Vậy mà giờ đây, T. sừng sững trước mặt như đã quen thuộc, đã đến rất nhiều lần.

Không ngờ T. cũng rất “sính” thơ, đưa cho em bài thơ Vườn Xưa của Tế Hanh đã chép sẵn trên trang vở học trò trước khi từ giã với lời nhắn nhủ: “Tình cờ đọc được bài thơ này, thấy hay chép ra tặng cho D. đấy”. Bài thơ với những câu nhẹ nhàng mà ray rức.

“Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa
Như mặt trăng mặt trời cách trở
Như sao hôm sao mai không cùng ở
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như sen mùa hạ cúc mùa thu
Như tháng mười hồng tháng năm nhãn
Em theo chim đi về tháng tám
Anh theo chim cùng với tháng ba qua

Một ngày xuân em trở lại nhà
Nghe mẹ nói anh có về hái ổi
Em nhìn lên vòm cây gió thổi
Lá như môi thầm thì gọi anh về

Lần sau anh trở lại một ngày hè
Nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt
Anh nhìn giếng, giếng sâu trong vắt
Nước như gương soi lẻ bóng hình anh

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?”

Bất ngờ và xúc động, em đứng lặng người, không hiểu T. muốn bày tỏ điều gì khi gửi cho em bài thơ ấy? nhất là hình ảnh “hai ta” đã làm lòng em… ngây ngất. Lại thêm sự so sánh “ngày nắng/ngày mưa”; “mặt trăng/mặt trời” và “sao hôm/sao mai” nữa là sao? Câu hỏi vẫn làm em thắc mắc mãi đến bây giờ vì dù đã quen nhau một thời gian dài nhưng mỗi lần hỏi T. chỉ trả lời bằng ánh mắt nhìn em lặng lẽ, không nói thêm lời nào và cứ hẹn lại những lần sau.

T. thân yêu,
Thế rồi chúng ta đã không bao giờ có lần sau nữa vì em và T. đã thực sự trở thành “sao hôm và sao mai” sau lần em đến tìm T. để giã từ mà không gặp.

Lá thư duy nhất, đầu tiên và cũng là cuối cùng T. đã viết cho em là một “bản tình ca” tuyệt vời nhất mà em không thể có được bản thứ hai trong suốt quãng đời đã qua và còn lại. Vì sau nhiều lần tìm cách liên lạc với T. lúc đã ổn định cuộc sống ở quê người, em mới biết đó là điều vô vọng. Tin T. mất tích sau vài lần vượt thoát không thành công từ những người bạn ở quê nhà đã khiến em bàng hoàng, chết lặng!

Để hôm nay ngồi đọc lại những giòng thư T. đã viết ngày xưa, cho em thầm mơ có một ngày thấy T. ôm đàn hát giữa bạn bè những Bài Không Tên… nồng nàn, thiết tha như những ngày vui năm cũ.

Tưởng Dung
Cuối Tháng 4, 2011