Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2026

Phượng Vỹ - Thơ: Đỗ Bình - Nhạc: Nguyễn Tuấn - AI Cover Siliconband

Thơ: Đỗ Bình
Nhạc: Nguyễn Tuấn
AI Cover Siliconband

Em Có Biết?


Em Có Biết?

Em có biết,
Một sáng Xuân hồng, người đưa thư đi qua,
Ném vào anh, một tin vui khủng khiếp,
Mở trái tim ra, nhận lộc trời.

Em có biết,
Một trưa Hạ đỏ, ôm trong lòng,
Anh nhâm nhi, từng chút, anh nhâm nhi,
Từng chút, anh nhâm nhi, trái hạnh phúc.

Em có biết,
Một chiều Thu biếc, anh tham lam,
Cầm lòng không đậu, ăn hết chỗ còn lại,
Hóa khùng điên, anh hóa khùng điên, rồi chết.

Em có biết,
Một tối Đông xám, người ta chôn anh,
Huyệt, là nơi trái tim em ngự tọa,
Và nhờ thế, anh phục sinh, sống lại.


Anh Hứa

Anh hứa,
Sẻ không tiêu của em một đồng xu nào,
Những đồng nhọc nhằn, chắt chiu, góp gom,
Nhưng anh sẽ rộng rãi tiêu đời em,
Như đời anh, cho em phóng tay thỏa thích.

Anh hứa,
Anh sẽ không cầm tay em bao giờ,
Sợ chạm phải điều linh thiêng, kỳ diệu,
Nhưng anh sẽ bóp nát trái tim của em,
Vì anh nghĩ , anh có quyền làm như vậy.

Anh hứa,
Sẽ không chạm vào thịt da của em,
Sợ tan biến, vỡ vụn, khói sương,
Nhưng anh sẽ dẫm nát cõi lòng em,
Vì anh nghĩ, anh không thể làm khác được.

Anh hứa,
Sẽ nổi gió cho diều em lên cao,
Cho tài năng, nhan sắc em lên cao,
Nhưng hãy ở lại mặt đất cùng anh nghe em,
Hỡi trái tim nồng, người yêu dấu.


Có Thể Nào?

Có thể nào, anh đành đoạn,
Ném lòng em, viên sỏi, mặt hồ thu,
Những lăn tăn, lăn tăn, biết đâu là giông bão,
Có thể nào, anh chịu thấu, phải không?

Có thể nào, anh đành đoạn,
Trao em, rồi giật lại, chiếc thuyền nan,
Khi chơi vơi giữa dòng, em ngụp lặn,
Có thể nào anh đùa như thế được?

Có thể nào, anh đành đoạn,
Trao em chiếc bánh, rồi đòi lui,
Khi đang thoi thóp, lòng em đói,
Có thể nào không xấu hổ, là anh?

Có thể nào, anh đành đoạn,
Lúc em khát, anh hẹp hòi,
Khư giữ trong lòng mình, bát nước,
Có thể nào là anh, chịu thấu?

Có thể nào, đây là một bài thơ?
- Không, đây là những điều ẩn dụ,
Viết tiếp theo Kinh thánh,
Vì em, cũng có thể là anh.


SươngBiên Thùy
Những ngày đạp xe đạp thồ.
1985.

Từ Điệu Vọng Giang Nam - Ôn Đình Quân & Tô Thức


Theo sách “Nhạc phủ tạp lục 樂府雜錄” của Đoàn An Tiết 段安節 đời Đường 唐, thì từ điệu Vọng Giang Nam 望江南 do Lý Đức Dụ李德裕, khi làm quan tại Chiết Tây 浙西, là người đầu tiên đã làm thành từ điệu này. Lý Đức Du đặt tên bài này là ra từ điệu “Tạ Thu Nương 謝秋孃” để tưởng niệm người thiếp quá cố, vốn là một ca kỹ tài hoa mỹ lệ có tên là Tạ Thu Nương. Lý Đức Dụ là một nhà chính trị, quân sự, văn hoc gia đời Đường. Ông đã từng giữ chức vụ tể tướng dưới triều vua Đường Văn Tông 唐文宗.
Thực ra vào thời vua Đương Huyền Tông 唐玄宗, sách Giáo Phườ ng Ký 教坊记 đã chép một khúc điệu có tên là Vọng Giang Nam 望江南 như từ điệu của Lý Đức Dụ. Vậy là Đoàn An Tiết đã sai.

Bài từ của Lý Đức Dụ đã thất truyền nhưng sau đó nhiều người đã điền bài từ này với những tên khác nhau như Ức Giang Nam 憶江南 (Bạch Cư Dị 白居易), Xuân Khứ Dã 春去也 (Lưu Vũ Tích 劉禹錫), Vọng Giang Nam (Ôn Đình Quân 溫庭筠), Mộng Giang Nam 夢江南 (Hoàng Phủ Tùng 皇甫松), Vọng Giang Mai 望江梅 (Lý Dục 李煜) v.v.

Cũng từ sự tích này, hợp với sự tích Đỗ Thu Nương 杜秋娘 của nhà thơ Đỗ Mục 杜牧 mà danh từ “Thu Nương” được giới văn thi sĩ dùng để chỉ phụ nữ mỹ lệ có đàn ca mà ngoài đời gọi là ca kỹ, ca nữ. Họ là những người đàn hát trong các giáo phường hay được những người quyền quý nuôi trong nhà để phục vụ vui chơi giải trí. Bạch Cư Dị đề cập đến “Thu Nương” trong bài thơ Tỳ Bà Hành như một mỹ nhân xinh đẹp:

曲罷曾教善才服,Khúc bãi tằng giao Thiện Tài phục,
妝成每被秋娘妒。Trang thành mỗi bị Thu Nương đố.

Xong khúc đàn từng được ông Thiện Tài khâm phục,
Mỗi khi trang điểm xong thì bị bà Thu Nương ganh tỵ (vì xinh đẹp).

Cũng do bài thơ “Đỗ Thu Nương Thi” của Đỗ Mục mà chữ Thu Nương đôi khi được dùng để chỉ phụ nữ già nua suy nhược.

Ngoài ra thì trong xã hội xưa, giới ca kỹ thường bị đọa đầy trong kiếp phong trần như “Thu Nương” của Chu Bang Ngạn 周邦彥trong bài từ “Bái Tinh Nguyệt拜星月”:

識秋娘庭院。Thức thu nương đình viện.
Biết là đến sân vườn của nàng thu nương.

Từ điệu Vọng Giang Nam thoạt tiên chỉ là đơn điệu với 5 câu, 27 chữ. Mãi đến đời Tống mới có song điệu gồm 2 phần đơn điệu ghép lại.

Dưới đây là 2 bài đơn điệu của Ôn Đình Quân và 1 bài song điệu của Tô Thức.

望江南 - 溫庭筠 Vọng Giang Nam – Ôn Đình Quân

Kỳ 1

千萬恨, Thiên vạn hận,
恨極在天涯。 Hận cực tại thiên nhai.
山月不知心裏事, Sơn nguyệt bất tri tâm lý sự,
水風空落眼前花。 Thủy phong không lạc nhãn tiền hoa.
搖曳碧雲斜。 Dao duệ bích vân tà.

Kỳ 2

梳洗罷, Sơ tẩy bãi,
獨倚望江樓。 Độc ỷ vọng giang lâu.
過盡千帆皆不是, Quá tận thiên phàm giai bất thị,
斜暉脈脈水悠悠。 Tà huy mạch mạch thủy du du.
腸斷白蘋洲。 Trường đoạn bạch tần châu.

Chú Thích

1 Cách luật của bài từ Vọng Gian Nam 望江南 đơn điệu. Bài này có 27 chữ, 3 bình vận:

B X T cú

X T T B B vận
X T X B B T T cú
X B B T T B B vận
B T T B B vận

2 Hận 恨: hận biệt ly.
3 Thiên nhai天涯: chân trời, ở nơi xa.
4 Tâm lý sự 心裏事: tâm sự, chuyện lòng, việc lòng.
5 Thủy phong 水風: nước và gió.
6 Không 空: chỉ có, toàn là.
7 Nhãn tiền 眼前: trước mắt.
8 Dao duệ 摇曳: dao đãng摇荡, nhè nhẹ phiêu đãng.

9 Bích vân 碧雲: ý nghĩa cơ bản của chữ này là mây xanh hoặc những đám mây trên nền trời xanh. Trong văn chương cổ chữ này thường dùng chỉ phương trời xa, nơi chân trời, trong hoàn cảnh biệt ly đoạn tình. Chữ bích vân xuất hiện đầu tiên trong bài thơ Hưu Thượng Nhân oán biệt 休上人怨别 (bài thơ oán biệt theo phong cách của Hưu Thượng Nhân tức Thang Huệ Hưu湯惠休) của Giang Yêm 江淹thời Nam Bắc Triều 南北朝:

日暮碧云合,Nhật mộ bích vân hợp, Trời chiều mây mầu tụ tập,
佳人殊未来。Giai nhân thù vị lai. Người đẹp còn chưa đến.

Trong bài Tô Mạc Già 蘇幕遮 của Phạm Trọng Yêm 范仲淹thì chữ “Bích vân thiên 碧雲天” là bầu trời xanh biếc.
Trong bài này chữ Bích Vân chỉ những đám mây mầu phiêu đãng lúc hoàng hôn.

10- Tà 斜= tà huy 斜暉: ánh sáng của mặt trời khi ngả về tây.
11- Sơ tẩy 梳洗: chải đầu, rửa mặt, trang điểm.
12- Độc ỷ 獨倚: một mình tựa cửa hay tựa lan can.
13- Vọng giang lâu 望江楼: căn lầu hướng mặt trước dòng sông.
14- Thiên phàm千帆: hàng ngàn chiếc thuyền buồm.
15- Giai 皆: đều.
16- Tà huy 斜晖: ánh sáng lúc mặt trời sắp lặn.
17- Mạch mạch 脉脉: ý nói ánh dương quang yếu ớt như chan chứa tình cảm muốn thố lộ.
18- Thủy du du 水悠悠: dáng vẻ ưu sầu tư lự hoặc là dáng vẻ tự nhiên hoặc là vẻ xa xăm, mãi mãi.
19- Trường đoạn 肠断: đau lòng.
20- Bạch tần 白蘋: một thứ cỏ mọc trong nước nhô lên khỏi mặt nước. Ngày xưa nam nữ thường hái hoa bạch tần để tặng nhau khi đi xa.
Châu 洲: đất bồi giữa ao hồ hay sông.

Dịch Nghĩa

Kỳ 1

Nghìn vạn mối hận lòng.
Mối hận vô cùng ra đến tận xa xôi (nơi chàng ở)
Vầng trăng trên ngọn núi đâu có biết tâm sự của thiếp,
Giữa cảnh nước và gió chỉ có những bông hoa rơi rụng trước mắt thiếp.
(Xa xa) Vầng mây mầu phiêu đãng trong cảnh hoàng hôn.

Kỳ 2

Chải đầu rửa mặt đã xong,
Một mình tựa cửa căn lầu nhìn dòng sông.
Điểm qua hết nghìn cánh buồm mà đều không phải (thuyền của anh về),
Ánh sáng tà huy yếu ớt đượm tình, nước vẫn chẩy lững lờ muôn thuở.
Nhìn những ngọn cỏ bạch tần mọc trên cồn giữa sông mà thấy đau lòng.

Phỏng Dịch

1.Vọng Giang Nam - Ước Tương Phùng

Ngàn vạn hận,
Hận mãi chốn xa xôi.
Trăng núi biết đâu tâm sự ấy,
Ngước nhìn trong gió nước hoa rơi.
Mây tím tận chân trời.

Xong trang điểm,
Tựa cửa ngắm dòng sông.
Nghìn cánh buồm về chàng chẳng thấy,
Tà huy u ám nước mênh mông,
Ly biệt cảnh đau lòng.

2. Ước Tương Phùng

Vạn ngàn hận, chốn xa xôi,
Núi trăng đâu biết tình tôi vơi đầy.
Cảnh gió nước, cánh hoa rơi,
Hoàng hôn phiêu đãng vừng mây sắc mầu.

Trang điểm xong, tựa cửa lầu,
Vọng xa sông nước thấy đâu buồm chàng.
Tà huy u ám mênh mang,
Đau lòng ly biệt cỏ tràn bến sông.

HHD 
11-2019

望江南 - 蘇軾 Vọng Giang Nam – Tô Thức
·超然臺作 Siêu Nhiên Đài tác


春未老, Xuân Vị Lão,
風細柳斜斜。 Phong tế liễu tà tà.
試上超然臺上看, Thí thướng Siêu Nhiên Đài thượng khán,
半壕春水一城花。 Bán hào xuân thủy nhất thành hoa.
煙雨暗千家。 Yên vũ ám thiên gia.

寒食後, Hàn thực hậu,
酒醒卻咨嗟。 Tửu tỉnh khước tư ta.
休對故人思故國, Hưu đối cố nhân tư cố quốc,
且將新火試新茶。 Thả tương tân hỏa thí tân trà.
詩酒趁年華。 Thi tửu sấn niên hoa.

Chú Thích

1- Cách luật bài từ Vọng Giang Nam song điệu, gồm 2 bài Mộng Giang Nam ghép lại:

B X T cú

X T T B B vận
X T X B B T T cú
X B X T T B B vận
X T T B B vận

B X T cú
X T T B B vận
X T X B B T T cú
X B X T T B B vận
X T T B B vận

2- Siêu Nhiên Đài 超然台: xây trên cổng bắc của thành Mật Châu 密州, lên đài có thể nhìn quanh toàn thành.
3- Phong tế 風細: gió nhẹ.
4- Hào 壕: ngòi nước đào vòng quanh chân thành.
5- Yên vũ 煙雨: hình dung trận mưa trông từ xa.

6- Hàn Thực 寒食: lễ tiết ngày xưa, trước tiết Thanh Minh清明 một hoặc hai ngày. Tương truyền ở nước Tấn 晉 trong thời chiến quốc, người Giới Tử Thôi 介子推 đã giúp Tấn Văn Công Trùng Nhĩ 晉文公重耳 đoạt được ngôi vị. Sau đó ông vào ẩn cư ở núi Miên Sơn 绵山. Tấn Văn Công triệu tập nhiều lần không được bèn phóng hỏa đốt rừng, Giới Tử Thôi không chịu ra và bị thiêu chết. Tấn Văn Công hối hận nên ra lệnh rằng: từ đây về sau, ngày Giới Tử Thôi chết là ngày cấm lửa, mọi nguồn lửa phải dập tắt, mọi nhà chỉ được ăn cơm nguội đã nấu từ trước nên gọi là tiết Hàn Thực.

7- Tư ta 咨嗟: than vãn, than thở.
8- Cố nhân 故人: chỉ quan thông phán 通判 ở Mật Châu là Triệu Thành Bá趙成伯, bạn với Tô Thức.
9- Cố quốc 故国: chỉ cố hương.
10- Tân hỏa 新火: Trong tiết Hàn Thực thì cấm lửa. Sau đó sẽ dùng gỗ du liễu 榆柳 mà đánh lửa mới, vì vậy gọi là “Tân Hỏa”.
11- Tân trà 新茶: chỉ lá trà hái trước tiết Thanh Minh nên còn gọi là Minh Tiền Trà 明前茶.
12- Niên hoa 年華: tuổi trẻ.

Dịch Nghĩa

Ghi chú của tác giả: làm khi ở trên Siêu Nhiên Đài.

Xuân chưa già (chưa hết mùa xuân),
Gió nhè nhẹ, cành liễu nghiêng nghiêng.
Thử lên trên Siêu Nhiên Đài xem,
Nửa hào nước xuân, đầy thành hoa.
Mưa khói bao phủ ngàn nhà.

Sau tiết Hàn Thực,
Tỉnh rượu rồi thì lại than thở không thôi (vì nhớ quê hương).
Đang đứng trước người bạn cũ chớ nên tưởng nhớ cố hương,
Hãy đem lửa mới nhóm mà nấu bình “Tân trà”.
Còn trong tuổi niên hoa nên nhân đó mà uống rượu, làm thơ. (tận hưởng tuổi trẻ).

Phỏng Dịch

1- Vọng Giang Nam - Tuổi Niên Hoa


Xuân chưa lão,
Gió nhẹ liễu la đà.
Thử bước lên Siêu Đài vọng ngóng,
Nửa hào thu thủy một thành hoa.
Mưa khói ám ngàn nhà.

Sau Hàn thực,
Tỉnh rượu lại lo ra.
Đừng trước cố nhân mơ cố quốc.
Hãy đem lửa mới nấu bình trà.
Thơ rượu tuổi niên hoa
.

2- Tuổi Niên Hoa

Mùa xuân còn đấy chưa tàn,
Phất phơ làn gió mơn man liễu cành.
Siêu Nhiên Đài vọng nhìn quanh,
Nửa hào thu thủy một thành sắc hoa.
Khói mưa bao phủ ngàn nhà,
Vừa xong hàn thực say ngà tửu bôi,
Tỉnh ra than thở không thôi,
Đừng mơ cố quốc trước người bạn xưa.
Hãy đem tân hỏa đầu mùa,
Nấu bình trà mới, niên hoa tuổi đời,
Hồn thơ chén rượu không vơi.


HHD 
5 - 2026
***
1-Vọng Giang Nam, Ôn Đình Quân

Muôn vàn hận
Hận nhất tại cuối trời
Trăng núi chẳng hay tâm sự thiếp
Ngước nhìn gió nước chỉ có hoa rơi
Biếc mây chiều xa xôi.

Xong trang điểm
Mình tựa lầu ngóng sông
Điểm nghìn buồm qua đều không phải
Nắng chiều đăm đăm, nước mênh mông
Cồn tần trắng đau lòng

2- Ngóng trông chàng

Hận muôn vàn, cuối trời hận biệt.
Núi trăng cao lòng thiếp nào hay
Gió nước chỉ thấy hoa bay
Hoàng hôn phiêu đãng vầng mây cuối trời

Điểm trang xong, lầu sông đứng tựa
Chẳng phải anh, về giữa muôn thuyền
Lững lờ nước, nắng chiều xiên
Cồn sông tần trắng đảo điên thắt lòng!

Lộc Bắc
Jui26

1- Vọng Giang Nam, Tô Thức

Xuân chưa hết
Gió nhẹ liễu tà tà
Thử lên Siêu Nhiên Đài mà ngắm
Nửa hào xuân nước khắp thành hoa
Mưa bụi phủ ngàn nhà

Sau Hàn Thực
Rượu tỉnh thở than ra
Trước cố nhân không buồn cố quốc
Thử nhen lửa mới nấu tân trà
Thơ rượu hưởng tuổi hoa

2- Tuổi hoa

Xuân chưa già, liễu nghiêng nhẹ gió
Bước lên đài thử ngó gần xa
Nửa hào xuân nước thành hoa
Mưa bay khói phủ muôn nhà bình an

Sau Hàn Thực thở than rượu tỉnh
Gặp cố nhân. không tính chuyện nhà
Nhen lửa mới, nấu tân trà
Ngâm thơ cùng rượu tuổi hoa hưởng tràn!

Lộc Bắc
Jui26

Tạp Ghi Và Phiếm Luận: Đông Là Mùa Đông


ĐÔNG 冬 là mùa Đông, mùa cuối cùng trong năm sau mùa Thu và trước mùa Xuân của năm sau. Tính theo Âm lịch thì mùa Đông là các tháng Mười, Mười Một và tháng Chạp trong năm, nhưng nếu tính theo Dương lịch thì là các tháng Mười Hai, tháng Giêng và tháng Hai. Còn nếu ở Nam Bán cầu như các nước Úc, nước Tạn Tây Lan thì mùa Đông là các tháng Sáu, tháng Bảy và tháng Tám.
Theo Âm lịch thì trong mùa đông, có tất cả 6 KHÍ TIẾT 氣節 (Khí hậu về Thời tiết) được phân bố như sau:
* Tháng Mười có 2 Khí tiết là:
- Lập Đông 立冬 thường lọt vào ngày 7-8 tháng 11 Dương lịch.
- Tiểu Tuyết 小雪 thường lọt vào ngày 21-23 tháng 11 Dương lịch.
* Tháng Mười Một có 2 Khí Tiết là :
- Đại Tuyết 大雪 thường lọt vào ngày 6-8 tháng 12 Dương lịch.
- Đông Chí 冬至 thường lọt vào ngày 21-23 tháng 12 Dương lịch.
* Tháng Mười Hai có 2 Khí Tiết là :
- Tiểu Hàn 小寒 thường lọt vào ngày 5-7 tháng Giêng Dương lịch.
- Đại Hàn 大寒 thường lọt vào ngày 19-21 tháng Giêng Dương lịch.

Đặc biệt ĐÔNG CHÍ là ngày có thời gian ban đêm dài nhất trong năm ở Bắc bán cầu, trái với HẠ CHÍ là ngày có thời gian ban ngày dài nhất trong năm, như câu tục ngữ mà ông bà ta vẫn thường truyền tụng là:

Tháng Năm chưa nằm đã sáng, và...
Tháng Mười chưa cười đã tối.

Theo nghĩa mặt chữ thì ĐÔNG CHÍ 冬至 có nghĩa là "Mùa Đông đã đến rồi" và cũng có nghĩa là ngày tháng của năm cũ sắp hết, năm đã sắp tàn rồi; Nên Tiết Đông Chí 冬至節 cũng là một cái Tiết lớn ở cuối năm, mọi người có dịp gặp nhau để hàn huyên những chuyện của năm qua, cùng đoàn viên và cùng ăn chè ỷ, chè trôi nước (người Hoa gọi là Thang Viên 湯圓) nấu để cúng tế ông bà tổ tiên mừng cho một năm đã đi qua trong bội thu và bình an viên mãn. Cúng tế mừng Tiết Đông Chí cũng có nghĩa là mừng cho gia đình được đoàn viên để cùng đón mừng tuổi mới. Ăn chè ỷ của Tiết Đông Chí rồi là đã thêm được một tuổi mới rồi đó, nếu có qua đời thì cũng được đếm thêm một tuổi thọ nữa...


Nhớ hồi còn nhỏ, khi cô tôi giúp mẹ nấu một nồi chè ỷ, chè trôi nước thật lớn để mừng Tiết Đông Chí, cô đã nói với tôi là :"Năm nay cháu đã mười tuổi rồi, vậy là mừng tuổi năm mới cháu phải ăn 11 viên chè trôi nước". Tôi bèn cười nói với cô rằng :"Nếu cô ăn nổi 20 viên, thì cháu cũng sẽ ăn 11 viên cho cô xem". Anh tôi bèn chen vào nói :"Anh thì ăn nổi 15 viên rồi đó, còn ba má làm sao ăn nổi 50 viên, đừng nói chi đến ông nội tới 70 tuổi lận !" Trong niềm vui cuối năm cả nhà sum họp để cùng nấu cùng cúng và cùng ăn những viên chè tròn tượng trưng cho sự đoàn viên tròn trịa của cuối năm, thì cũng có người vì công danh, vì sinh kế mà phải tha phương cầu thực... Tiết Đông Chí mà chưa được về quê, một mình một bóng cô thân nơi xứ lạ quê người như bài thất ngôn tứ tuyệt "Hàm Đan Đông Chí dạ tư gia 邯鄲冬至夜思家" (Ở xứ Hàm Đan đêm Đông Chí nhớ nhà) của Thi Bá Bạch Cư Dị sau đây :

邯鄲驛裡逢冬至, Hàm Đan dịch lý phùng Đông Chí,
抱膝燈前影伴身。 Bão tất đăng tiền ảnh bạn thân.
想得家中夜深坐, Tưởng đắc gia trung dạ thâm tọa,
還應說著遠行人。 Hoàn ưng thuyết trước viễn hành nhân !

Có nghĩa:
Ở nơi dịch quán của đất Hàm Đan nầy lại nhằm lúc Tiết Đông Chí đến, ta cũng đành ngồi bó gối trước ánh đèn mà bầu bạn với cái bóng của mình mà thôi. Nhớ về quê nhà giờ nầy chắc mọi người đang quây quần đoàn tụ ngồi với nhau trong đêm... và chắc cũng đang nhắc đến ta, một kẻ đi xa không về nhà được trong lễ tiết cuối năm nầy.
Trông người lại ngẫm đến ta, nếu Tiết Đông Chí nầy ta có về lại được quê nhà thì cũng không tìm đâu ra người xưa cảnh cũ; Thời gian nửa thế kỷ biết bao là tang thương biến đổi, đã xóa hết những hình ảnh kỷ niệm của "Những ngày xưa thân ái" đi rồi !

Dịch quán Hàm Đan Đông Chí rồi,
Trước đèn bó gối bóng đơn côi.
Quê nhà sum họp ngồi tâm sự,
Chắc cũng xa vời nhớ đến tôi !

Lục bát:
Hàm Đan Đông Chí đến rồi,
Bên đèn bó gối đơn côi bóng mình.
Nhớ nhà đoàn tụ đêm thanh,
Chắc đang nhắc đến những thành viên xa!...

Nếu mùa thu làm cho cỏ cây hoa lá héo hon vàng úa, thì mùa đông lạnh lẽo khắc nghiệt vùi chôn tất cả hoa lá cỏ cây, tạo nên cảnh tiêu điều lạnh lùng tang tóc khắp nơi với ngập trời tuyết trắng, với bầu trời u ám buồn thương... như Jean. Leiba đã viết :

Xuân tàn, hạ cỗi, cảnh thu sầu,
Mờ mịt hơi đông ám ngọn lau...

và cụ thể hơn như trong bài thơ "Bốn mùa yêu thương" của ông:

Nhưng một ngày đông nhiều mộng héo,
Đầy trời mưa lạnh, lá vàng gieo.
Em buồn, chẳng nỡ nhìn ta nữa,
Ta thấy trời đông bỗng lạnh nhiều!

Mùa Thu là mùa của tình buồn, thì mùa đông là tình của những mối tình tan vỡ, xót xa... như trong thơ của Huyền Kiêu:

Đông xám lại chàng tới hỏi:
Em thơ, chị đẹp em đâu ?
Chị tôi hoa phủ đầy đầu,
Đã ngủ trong lòng mộ tối!...

Gió thu xạc xào hiu hắt, còn gió đông thì se sắt lạnh lùng. Gió mùa đông là gió từ phương bắc thổi xuống. Bắc phương Nhâm Qúy thuộc Thủy, nên gió từ miền Bắc cực thổi xuống mang theo hơi nước giá lạnh của vùng tuyết băng khô khan lạnh lẽo. Hướng Bắc còn được gọi là hướng Sóc, nên Bắc Phong 北風 còn được gọi là SÓC PHONG 朔風 như trong bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt "Tòng Quân Hành 從軍行 (kỳ 4)" của Lệnh Hồ Sở 令狐楚 đời Đường:

SÓC PHONG thiên lý kinh, 朔風千里驚,
Hán nguyệt ngũ canh minh. 漢月五更明。
Túng hữu hoàn gia mộng, 縱有還家夢,
Do văn xuất tái thinh ! 猶聞出塞聲。

Có nghĩa:
Ngàn dặm gió bấc thổi,
Năm canh trăng quê nhà.
Dẫu có mộng hoàn gia,
Còn nghe lời xuất tái!

Song thất Lục bát:
Gió bấc thổi làm kinh lính thú,
Trăng Hán gia vằng vặc canh tà.
Dẫu cho mơ được về nhà,
Bên tai còn vẳng tiếng ra ải ngoài!

Gió Bắc khô khan lạnh lẽo của mùa đông, còn được bà con ta gọi trại thành GIÓ BẤC, nên mới có những câu Ca Dao trong dân gian Nam Bộ như sau :

Gió Bấc non thổi lòn hang chuột,
Thấy chị hai mầy tao đứt ruột đứt gan !
và...
Gió Bấc non thổi lòn hang dế,
Thấy chị hai mầy tao bế hế băng hăng !

Còn chàng thi sĩ Nguyễn Bính đa tình của thời Tiền Chiến, trong bài thơ "Mùa Đông Gửi cố nhân" đã rên rỉ:

Mưa phùn Gió Bấc, cố nhân ơi,
Áo rét nàng đan lỡ hẹn rồi.
Sông lạnh khi nàng ra giũ lụa,
Với dùm trong nước lấy hồn tôi.

và trong bài "Mùa Đông Nhớ Cố Nhân" thì Nguyễn Bính lại nhắn gửi :

Mưa phùn đầy cữ chửa cho thôi,
Gió Bấc đêm nay buốt suốt giời.
Giường mộng con thoi còn chạy lẻ,
Hay là nàng đã dệt thoi đôi ?

Trong văn học cổ có một thành ngữ về mùa Đông là THU THÂU ĐÔNG TÀNG 秋收冬藏, có nghĩa là: Mùa Thu là mùa của thu hoạch nông phẩm ngày xưa, còn mùa Đông là mùa phải cất giữ lại những nông phẩm thu hoạch đó để chi dùng trong những tháng mùa đông lạnh lẽo giá buốt. Thành ngữ nầy có xuất xứ từ sách《Sử Ký, Sử Thái Công Tự Tự 史记·太史公自序》với cả câu như sau : "Phù xuân sanh hạ trưởng, thu thâu đông tàng, thị thiên đạo chi đại kinh 夫春生夏长,秋收冬藏,是天道之大经" Có nghĩa : Phàm (vạn vật) mùa xuân thì sanh sôi nẩy nở, mùa hè thì phát triển trưởng thành, mùa thu thì thâu hoạch thành quả, mùa đông cất giữ (để chi dùng và để làm hạt giống cho năm sau), đó là cái lý lẽ lớn của đạo trời (chỉ sự tuần hoàn của vũ trụ và hoạt động trong đời sống con người). Các nông phẩm mang chữ ĐÔNG mà ta thường thấy thường dùng là :
- ĐÔNG QUA 冬瓜 (東瓜) là trái Bí Đao (tên khoa học là Benincasa pruriens), thường dùng để nấu canh và làm mức bí trong ngày Tết Nguyên Đán.
- ĐÔNG THÁI 冬菜 là Cải Hủ, dân Chợ Lớn gọi theo tiếng Tiều Châu là "Cải Tan-xại" dùng để chưng thịt cá hoăc làm gia vị cho Hủ tiếu Mì khi ăn.
- ĐÔNG TRÙNG THẢO 冬蟲草 còn gọi là Đông Trùng Hạ Thảo 冬蟲夏草 là một loại đông dược quý , được sử dụng từ lâu trong y học cổ truyền Trung Hoa và y học cổ truyền Tây Tạng; Hiện đang là dược thảo thịnh hành khắp thế giới.
- ĐÔNG DUẪN 冬筍(笋)là Măng Tre mọc vào mùa đông, có tên là MĂNG MẠNH TÔNG 孟宗筍, có vị ngọt dòn ngon nhất trong các loại măng, có xuất xứ từ Truyện thứ 17 của "Nhị Thập Tứ Hiếu 二十四孝" do Quách Cư Nghiệp 郭居業 (có sách ghi là Quách Cư Kính 郭居敬) vào thời nhà Nguyên biên soạn. Câu truyện như sau :
MẠNH TÔNG 孟宗(?—271)tự là Cung Vũ, người đất Giang Hạ thuộc nước Ngô thời Tam Quốc. Lúc nhỏ cha mất, mẹ thì thường hay đau yếu, khi bệnh mẹ trở nặng, thầy thuốc bảo ăn canh măng non thì bệnh sẽ khỏi, nên mẹ thường ao ước được ăn canh nấu bằng măng non. Khổ nỗi lại nhằm lúc mùa đông, măng non chưa mọc, Mạnh Tông bèn chạy ra rừng tre ôm những cây tre mà khóc, rồi mệt lả mà thiếp đi. Khi tỉnh dậy thì đã thấy chỗ nước mắt rơi xuống có mấy mụt măng trổ đất mọc lên. Mạnh Tông cả mừng bèn bứng lấy đem về nấu canh măng dâng lên cho mẹ ăn. Quả nhiên hôm sau bà mẹ đã mạnh khoẻ trở lại. Vì có tiếng là hiếu thảo, nên chúa Đông Ngô vời ông ra làm quan đến chức Tư Không. Người đời sau có thơ khen rằng:

泪滴朔風寒 Lệ trích sóc phong hàn,
蕭蕭竹數竿。 Tiêu tiêu trúc sổ can.
須臾冬笋出, Tu vu Đông Duẩn xuất,
天意報平安。 Thiên ý báo bình an.

Có nghĩa:
Lệ rơi gió bấc lạnh lùng,
Lưa thưa vài khóm trúc rừng héo hon.
Phút đâu vài mụt măng non,
Chui ra từ đất trời còn thương nhau.

Về sau vào mùa đông có một loại tre cho loại măng màu xám giống y như vậy, ăn rất ngon, được gọi là măng Mạnh Tông.
Trong chương trình cổ văn của lớp Đệ Thất (nay là lớp 6) ngày xưa, học sinh phải học hai tác phẩm "Lục Súc Tranh Công" và "Nhị Thập Tứ Hiếu" của Cử Nhân Lý Văn Phức (1785-1849) diễn Nôm bằng thể Song thất Lục bát. Bài "MẠNH TÔNG KHÓC MĂNG" được diễn Nôm như sau :

Ngô Mạnh Tông phụ thân sớm khuất,
Thờ mẫu thân lòng thực khăn khăn.
Tuổi già trằn trọc băn khoăn,
Khi đau nhớ bát canh măng những thèm.

Trời đông tuyết biết đâu tìm được,
Chốn trúc lâm phải bước chân đi.
Một thân ngồi dựa gốc tre,
Ôm cây kêu khóc nằn nì với cây.

Giữa bình địa phút giây bỗng nứt,
Mấy giò măng mặt đất nẩy sanh.
Đem về nấu một bữa canh,
Ăn rồi bệnh mẹ lại lành như xưa.

Măng mùa lạnh bây giờ mới thấy,
Để về sau nhớ lấy cỏ cây.
Cho hay hiếu động cao dày,
Tình sâu cũng khiến cỏ cây cũng tình.


Đầu mùa Đông ta có Tiết Lập Đông 立冬 là thời điểm giao mùa giữa thu và đông, khi trời tàn thu bắt đầu chuyển lạnh để sang mùa đông rét mướt. Thi nhân cũng chuyển vận từ gió heo may hiu hắt sang gió tuyết lạnh lùng, tiêu biểu như bài lục ngôn thi LẬP ĐÔNG, là bài thơ 6 chữ hiếm hoi rất độc đáo của Thi Tiên Lý Bạch như sau đây :

凍筆新詩懶寫, Đống bút tân thi lãn tả,
寒爐美酒時温。 Hàn lô mỹ tửu thời ôn.
醉看梅花月白, Túy khan mai hoa nguyệt bạch,
恍疑雪落前村。 Hoảng nghi tuyết lạc tiền thôn !

Có nghĩa :
Bút cóng câu thơ biếng viết,
Lò lạnh rượu tốt thường hâm.
Say nhìn hoa mai trăng sáng,
Ngỡ rằng tuyết phủ đầu thôn.

Lục bát :
Bút lạnh biếng viết câu thơ,
Lò tàn lửa tắt hững hờ rượu hâm.
Say nhìn mai trắng trăng ngân,
Chập chờn như tuyết trắng ngần xóm xa !

Bài thơ của Thi Tiên làm cho ta nhớ đến hai câu thơ tả Hoa Mai Nở Sớm (Tảo Mai 早梅) của nhà sư Tề Kỷ 齊己 ở cuối đời Đường là :

Tiền thôn thâm tuyết lý, 前村深雪裏
Tạc dạ nhất chi khai. 昨夜一枝開。

Có nghĩa:
Xóm xa trong tuyết đêm qua,
Một cành mai sớm nở ra trắng ngần.

Và hai câu thơ trên lại làm cho ta nhớ đến hai câu cuối trong bài kệ "Cáo Tật Thị Chúng 告疾示眾" của Mãn Giác Thiền Sư 滿覺禪師 của Việt Nam ta là :

莫謂春殘花落尽, Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
庭前昨夜一枝梅! Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Có nghĩa :
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Ngoài sân, đêm trước, nở cành mai!

Năm Hội Xương thứ hai đời Đường Vũ Tông (842) Đỗ Mục 杜牧 đã 40 tuổi, vì tính cương trực nên bị Tể Tướng Lý Đức Dũ tâu với vua biếm đến đất Hoàng Châu, Trì Châu rồi Mục Châu... Khi bị đày đến làm Thứ Sử Mục Châu lại nhằm lúc vào đông, năm hàn tháng lạnh tha hương một thân một bóng, đêm đông lạnh lẽo ngồi uống rượu một mình đã cảm tác nên bài "SƠ ĐÔNG DẠ ẨM 初冬夜飲" (Đầu đông đêm uống rượu một mình) như sau :

淮陽多病偶求歡, Hoài Dương đa bệnh ngẫu cầu hoan,
客袖侵霜與燭盤。 Khách tụ xâm sương dữ chúc bàn.
砌下梨花一堆雪, Thế hạ lê hoa nhất đôi tuyết,
明年誰此憑闌干。 Minh niên thùy thử bằng lan can.

Thân ta nhiều bệnh tật như là Cấp Ảm 汲黯 Thái Thú của quận Hoài Dương vậy, nên đôi khi cũng tìm vui trong chén rượu. Người khách tha hương hai tay áo nhuốm đầy phong sương chỉ làm bạn với cái giá nến cô độc nầy mà thôi. Dưới thềm tuyết đã đùn lên trắng xóa như hoa lê; không biết là sang năm còn có ai ngồi tựa lan can nầy (để uống rượu một mình như ta nữa không ?)

Hoài Dương nhiều bệnh chợt tìm vui,
Tay áo phong sương bên nến côi.
Trắng xóa dưới thềm hoa lê tuyết,
Sang năm ai biết có ai ngồi !?


Cũng uống rượu trong đêm đông, nhưng Bạch Cư Dị 白居易 lại uống một cách thư thái nhàn nhã, với một vò rượu mới ủ, với một bếp than hồng nho nhỏ, trong khi ngoài trời tuyết lại sắp rơi, dám hỏi bạn rằng : Bạn có thể đến cùng tôi để chúng ta cùng uống với nhau một chén rượu trong đêm đông lạnh lẽo nầy hay chăng ? Thật nên thơ và thật nhẹ nhàng thi vị biết bao ! Ta cùng đọc bài ngũ ngôn tuyệt cú "VẤN LƯU THẬP CỬU 問劉十九" (Hỏi chàng Lưu Thập Cửu) của Bạch Cư Dị sau đây nhé !

綠螘新醅酒, Lục nghĩ tân phôi tửu,
紅泥小火爐。 Hồng nê tiểu hỏa lô.
晚來天欲雪, Vãn lai thiên dục tuyết,
能飲一杯無? Năng ẩm nhất bôi vô ?

Có nghĩa:
Rượu vừa mới ủ xanh xanh,
Lò đất nho nhỏ cháy quanh lửa hồng.
Trời như muốn tuyết đêm đông,
Gặp nhau uống chén rượu nồng được chăng ?

Đọc bốn câu thơ trên lại làm cho ta nhớ đến bản nhạc "Về Dưới Mái Nhà" của nhạc sĩ Xuân Tiên với các câu...
... Người ơi ! Mau về đây,
Về bên bếp hồng tay cầm tay...

Mùa đông luôn rét mướt với cảnh vắng lặng của núi rừng không một bóng chim chóc vãng lai; Trên các nẻo đường cũng vắng bóng người qua kẻ lại; Hoạ hoằn lắm mới thấy được một ông câu khoát chiếc áo tơi buông câu trên dòng sông tuyết băng lạnh lẽo... như trong bài "GIANG TUYẾT 江雪" của Liễu Tông Nguyên 柳宗元, một trong "Đường Tống Bát Đại Gia" như sau :

千山鳥飛絕, Thiên sơn điểu phi tuyệt,
萬徑人蹤滅。 Vạn kính nhân tông diệt.
孤舟蓑笠翁, Cô chu toa lạp ông,
獨釣寒江雪。 Độc điếu hàn giang tuyết !

Có nghĩa:
Ngàn núi chim bay hết,
Muôn nẻo bóng người tuyệt.
Áo tơi một lão ông,
Buông cần trên sông tuyết!

Câu "Vạn kính nhân tông diệt" làm ta nhớ đến câu "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo" của cụ Tam Ngyên Nguyễn Khuyến nhà ta ...

Nói đến mùa đông là nói đến hoa mai và tuyết trắng. Trong cảnh đông hàn lạnh lẽo, khi các cỏ cây hoa lá khác đã héo tàn thì hoa mai lại ngạo nghễ vươn lên trong tuyết lạnh với màu trắng tinh khiết và hương thơm nhẹ thoảng một cách cao nhã chẳng khuất phục trước thiên nhiên khắc nghiệt của thời tiết. Thôi Đạo Dung 崔道融 một thi nhân ở cuối đời Đường, mặc dù chỉ là một viên Huyện lệnh nhỏ nhoi nhưng lại tự hào với nhân cách cao khiết của mình qua bài ngũ ngôn luật thi MAI HOA 梅花 như sau :

數萼初含雪, Sổ ngạc sơ hàm tuyết,
孤標畫本難。 Cô tiêu họa bổn nan.
香中別有韻, Hương trung biệt hữu vận,
清極不知寒。 Thanh cực bất tri hàn.
橫笛和愁聽, Hoành địch hòa sầu thính,
斜枝倚病看。 Ta chi ỷ bệnh khan.
朔風如解意, Sóc phong như giải ý,
容易莫摧殘。 Dung dị mạc thôi tàn !

* Có nghĩa :
- Mấy đài hoa xanh còn đọng tuyết ôm ấp lấy mấy cánh hoa vừa mới nở...
- Cô đơn ngạo nghễ vươn lên, khó mà vẽ nên được cái thần thái vốn có kia
- Trong mùi thơm thoang thoảng có cái phong vận đăc biệt riêng,
- Vẻ thanh tân đến cùng cực nên không xem cái lạnh vào đâu cả.
- Khúc sáo "Mai hoa lạc" hòa vào sự buồn thương của người nghe,
- Với cành nhánh nghiêng chao trong tuyết giá trông như đang bệnh.
- Gió bấc kia nếu như hiểu được cái ý tình của hoa mai, thì xin...
- Chớ dễ dàng mà nổi cơn cuồng nộ làm cho hoa mai phải tàn tạ tả tơi !

* Diễn Nôm:
Mai Hoa

Đài hoa điểm tuyết trắng ngần,
Thanh cao ngạo nghễ khó phần vẽ nên.
Trong hương phong vận không tên,
Thanh tân hết mực nên quên lạnh hàn.
Sáo ai sầu khúc mai tàn,
Nghiêng chao cành nhánh nhẹ nhàng tợ đau.
Bắc phong điêu nghệ chút nào,
Chớ đem buốt giá lao đao nhánh cành !

Còn Tể Tướng Vương An Thạch đời Tống thì nhẹ nhàng, bình dân và đơn giản gãy gọn hơn với bài ngũ ngôn tuyệt cú sau đây :

牆角數枝梅, Tường giốc sổ chi mai,
凌寒獨自開。 Lăng hàn độc tự khai.
遙知不是雪, Dao tri bất thị tuyết,
為有暗香來。 Vị hữu ám hương lai !

Có nghĩa :
Gốc tường mấy cành mai,
Lạnh lẽo vẫn nở hoài.
Xa trông nào phải tuyết,
Vì hương thoảng mũi ai !

Lục bát :
Góc tường nọ mấy cành mai,
Lạnh tràn vẫn cứ nở hoài không thôi.
Xa trông chẳng phải tuyết rơi
Vì làn hương nhẹ khắp nơi thoảng mùi !


Có MAI có TUYẾT rồi còn phải có THƠ nữa thì mới đủ "Bộ Ba" nhã hứng của thi nhân ngày xưa. TUYẾT MAI Nhị Thủ 雪梅二首 là hai bài thơ thất ngôn tứ tuyệt nói về MAI TUYẾT và THƠ của thi nhân Lư Mai Pha 盧梅坡 đời Nam Tống. Hai bài thơ đã nói lên sự gắn bó không thể tách rời giữa Hoa mai, Tuyết trắng và Thơ ca; một sự kết hợp tuyệt vời của "Ba trong Một" mà nếu thiếu mất Một thì sẽ không thể tạo nên cái không gian và cảnh trí đẹp đẽ đặc sắc của buổi đông hàn giá buốt. Mời tất cả cùng đọc và thưởng thức...

其一 Kỳ Nhất
梅雪爭春未肯降, Mai Tuyết tranh xuân vị khẳng hàng,
騷人擱筆費評章。 Tao nhân các bút phí bình chương.
梅須遜雪三分白, Mai tu tốn tuyết tam phân bạch,
雪却輸梅一段香。 Tuyết khước thâu mai nhất đoạn hương.

* Chú thích :
- Hàng 降 : là đầu hàng, là Chịu thua. VỊ KHẲNG HÀNG là Chẳng chịu thua.
- Tao Nhân 騷人 : là Tao nhân mặc khách chỉ khách văn chương, văn nhân thi sĩ.
- Các Bút 擱筆: là Gác bút, không viết được.
- Bình Chương 評章 : là bình phẩm về văn chương thi ca.
- Tốn 遜 : là Khiêm tốn; là nhường nhịn, là Sút kém.
- Thâu 輸 : là Thua, là Sút kém.

* Nghĩa bài thơ :
- Mai và Tuyết cùng tranh nhau mùa xuân mà chẳng ai chịu nhường ai cả.
- Các tao nhân mặc khách cũng đành gác bút không muốn phí lời bình phẩm.
- Bạch Mai thì sút kém hơn Tuyết ba phần về sắc trắng. Còn...
- Tuyết thì thua Mai vì Mai còn có một làn hương thơm thoang thoảng.

* Diễn Nôm :
Mai tuyết tranh xuân chẳng chịu nhường,
Thi nhân gát viết phí lời suông.
Mai thì nhường tuyết ba phần trắng,
Tuyết lại thua mai một thoáng hương !

Lục bát :
Tranh xuân Mai Tuyết chẳng nhường,
Thi nhân gác bút hết đường cân phân.
Mai thua Tuyết trắng ba phần,
Tuyết thì lại chịu mai gần thoáng hương !


其二 Kỳ Nhị
有梅無雪不精神, Hữu Mai vô Tuyết bất tinh thần,
有雪無詩俗了人。 Hữu Tuyết vô Thi tục liễu nhân.
日暮詩成天又雪, Nhật mộ Thi thành thiên hựu Tuyết,
與梅並作十分春。 Dữ Mai tịnh tác thập phân Xuân !

* Chú thích :
- Bất Tinh Thần 不精神 : Chỉ Không có cái thần thái cao nhã thanh khiết.
- Tục Liễu nhân 俗了人 : Chỉ Con người trở nên phàm tục, tầm thường.
- Tịnh Tác 並作 : là Cùng tương tác để tạo nên...
- Thập Phân Xuân 十分春 : là Mười phần xuân, chỉ mùa xuân trọn vẹn đầy đủ.

* Nghĩa bài thơ:
- Có Mai mà không có Tuyết thì sẽ như thiếu đi cái thần thái cao nhã.
- Đã có Tuyết rồi nếu không có Thơ thì như quá phàm tục tầm thường.
- Trong cảnh trời chiều khi Thơ mới làm xong thì trời lại đổ Tuyết...
- Hợp cùng với hoa Mai nữa là mùa Xuân đã trọn vẹn cả mười phân vẹn mười rồi !

* Diễn Nôm :
Có Mai không Tuyết chẳng tinh thần,
Có Tuyết không Thơ phàm tục nhân.
Chiều xuống thơ thành trời lại tuyết,
Hợp cùng Mai nở cả mùa Xuân !...

Lục bát :
Có Mai không Tuyết tầm thường,
Không thơ có Tuyết tầm thường càng nhanh.
Trời chiều Tuyết đổ Thơ thành,
Hợp cùng Mai nở xuân xanh vẹn mười !

Ta thấy...
Trong khi hoa mai nở sớm trong làn tuyết trắng bay bay là đã báo hiệu cho mùa xuân đã đến. Mai nở trong tuyết, tuyết vờn quanh mai tạo nên một bức tranh cao nhã đầy thi vị của xuân tươi, nên cần có thơ để thăng hoa nâng cảnh trí nên thơ của buổi tàn đông và đầu xuân lên tuyệt đĩnh. Tác giả đã ngắm tuyết rơi, thưởng thức hoa mai nở và ngâm thơ xuân MAI TUYẾT trong tinh thần thẩm mỹ cao độ giữa MAI TUYẾT và THƠ một cách vô cùng nên thơ thi vị. Cụ Nguyễn Du cũng đã mượn cái cao nhã tinh khiết của Mai, của Tuyết của hai bài thơ nầy để tả vẻ đẹp thuần khiết trong trắng và cao quý của chị em Thúy Kiều và Thúy Vân :

MAI cốt cách TUYẾT tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười !

Không phải chỉ có Hoa Mai là nở trong mùa đông, ở Việt Nam ta còn có HOA CÚC nữa. Mặc dù hoa Cúc là loài hoa tiêu biểu tượng trưng cho mùa thu, nhưng vào đông Cúc vẫn cứ nở rộ rực rở như đang tranh đẹp với hoa Mai vậy. Ta hãy đọc bài thất ngôn tứ tuyệt "ĐÔNG CÚC 冬菊" sau đây của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thì sẽ rõ:

一種延年館裡栽, Nhất chủng diên niên quán lý tài,
晚香獨向雪中開。 Vãn hương độc hướng tuyết trung khai.
莫笑爭芳時太晚, Mạc tiếu tranh phương thời thái vãn,
先春肯讓一枝梅。 Tiên xuân khẳng nhượng nhất chi mai ?!

Có nghĩa :
- Có một loài hoa được trồng quanh năm trong nhà trong quán;
- Có một mùi hương độc đáo về đêm thường hướng vào trong tuyết mà nở.
- Chớ cười là cùng tranh thơm một cách qúa muộn màng.
- Trước khi mùa xuân đến, há chịu nhường cho một cành mai hay sao ?!
(Có nghĩa là trong mùa đông nầy hoa cúc ta vẫn còn đẹp còn thơm lắm, chẳng có thua gì hoa mai kia chút nào cả !)

Loài hoa trồng tỉa suốt năm dài,
Đêm xuống hương thơm dựa tuyết khai.
Chớ bảo tranh thơm đà qúa muộn,
Trước xuân há dễ chịu nhường mai!

Lục bát :
Suốt năm trồng tỉa quanh nhà,
Đêm đông tuyết xuống hương xa dịu dàng.
Tranh thơm chớ bảo muôn màng,
Trước xuân há chịu nhượng nàng mai kia!


Nhân nhắc đến CÚC và MAI lại nhớ đến bốn câu cuối trong bài THẦN ĐỒNG THI 神童詩 của Uông Thù 汪洙 đời Tống là:

春游芳草地, Xuân du phương thảo địa,
夏賞绿荷池。 Ha thưởng lục hà trì.
秋飲黄花酒, Thu ẩm hoàng hoa tửu,
冬吟白雪詩。 Đông ngâm bạch tuyết thi.

Có nghĩa :
Xuân du trên thảm cỏ non,
Hè thì thưởng ngoạn sen tròn trên ao.
Thu nhâm nhi rượu cúc đào,
Đông ngâm thơ tuyết thú nào hơn ta !

Lại nhớ đến năm xưa, khi theo học lớp Đồng Ấu, thầy giáo đã cho học bài Học Thuộc Lòng (trong "Quốc Văn Giáo Khoa Thư"?) như sau :

Mùa xuân ấm áp khỏe người,
Hè thời nóng bức lửa trời nấu nung.
Mùa Thu gió mát trăng trong,
Mùa Đông rét mướt cho lòng xót xa.
Kẻ giàu mớ bảy mớ ba,
Người nghèo biết lấy chi mà che thân !

"Mớ bảy mớ ba" vì nằm trong nệm ấm chăn êm, còn trong đêm đông vẫn lang thang không nhà sống đời cô lữ, thì làm sao mà "mớ bảy mớ ba" cho được ! Để kết thúc bài viết "ĐÔNG là Mùa Đông" nầy, xin mời tất cả cùng lắng lòng với lời hát trong bản nhạc Thời Tiền Chiến "ĐÊM ĐÔNG" rất nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sáng tác vào năm 1939 của thế kỷ trước qua tiếng hát độc đáo của nữ ca sĩ Thanh Lam :
Mời bấm vào link dưới đây để nghe nhạc :

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2026

Chợt Nghĩ Về Hai Nơi - Sáng Tác: Trầm Tử Thiêng - Tiếng Hát Bảo Côn Bảo Côn


Bến Cũ Chiều Mưa

 

Bến cũ, chiều về, con nước động
Líu ríu mưa bay phủ kín dòng
Nước rộng chòng chành con đò nhỏ
Se sắt gió chiều nhuộm sóng xô.

Chiều mưa, 01 tháng 08.2019
Đặng Xuân Xuyến


Con Về Thăm Bố

 

Ngày Từ Phụ, con trở về thăm bố,
Miệng mỉm cười, hôn bố, mắt long lanh!
Nhìn bố đăm đăm, rồi giã biệt nhanh.
Bố tỉnh dậy với hai dòng nước mắt!

Bố không khóc vì nỗi buồn hiu hắt,
Mà khóc vì, sung sướng được gặp con!
Có phải, theo mây qua đỉnh Thái Sơn...
Nghĩ đến bố, lòng mến thương bổi hổi?

Nên về thăm bố, rồi đi rất vội,
Không dặn dò, cũng chẳng nói năng chi.
Con yêu dấu ơi… con đã ra đi,
Vẫn sinh động trong trái tim bố mẹ.

Trên Thiên Đàng, con hãy mừng vui nhé!
Bố mẹ gặp con, trong mỗi kinh cầu!
Dù âm dương, song chẳng cách biệt nhau,
Cứ thỉnh thoảng, nhớ về thăm bố mẹ!

Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia

Tái Thượng Ký Gia Huynh 塞上寄家兄 - Cao Biền

Cao Biền

Cao Biền 高駢 (821-887) tự Thiên Lý 千里, tướng đời Hậu Đường, cháu của Nam Bình đô vương Cao Sùng Văn (tướng cầm quân dưới triều vua Đường Hiến Tông Lý Thuần).

Đầu đời vua Ý Tông, Cao Biền trấn giữ biên cương chống sự xâm lược của giặc Thổ Phồn 吐蕃. Năm Cảm Thông thứ 7 (866), Cao Biền trấn giữ An Nam, làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ. Năm Càn Phù thứ 2 (875) đời Hy Tông, chuyển sang trấn giữ Tây Xuyên.

Nguyên tác Dịch âm

塞上寄家兄 Tái thượng ký gia huynh

棣萼分張信使希 Lệ ngạc phân trương tín sứ hy,
幾多鄉淚濕征衣 Kỷ đa hương lệ thấp chinh y.
笳聲未斷腸先斷 Già thanh vị đoạn trường tiên đoạn,
萬里胡天鳥不飛 Vạn lý Hồ thiên điểu bất phi.

Chú giải:

Lệ ngạc: Hoa cây đường lệ. Thơ "Đường lệ" trong phần Tiểu nhã của Kinh Thi, "Mao thi" nói là nhạc do Chu Công Đán sáng tác để yến ẩm với anh em, nên sau thi nhân dùng điển này nói về anh em.

Hồ: Từ chỉ chung các dân tộc thiểu số ở phương Bắc như Khang Cư, Đột Quyết, Hung Nô, Hồi Ngột... cũng đặc biệt chỉ Hung Nô. Hung Nô là tên một bộ tộc ở miền bắc, sống du mục, chúa của họ gọi là Thiền Vu (phiên âm theo tiếng Mông Cổ). Từ Hán, Đường trở về sau, Hung Nô mới trở thành ngoại hoạn (hoạn bên ngoài) lớn nhất của Trung Quốc.

Dịch nghĩa

Ngoài ải gửi anh trai

Anh em mình cách xa nhau, tin tức vắng
Bao nhiêu nước mắt nhớ quê làm ướt áo trận
Tiếng kèn hồ chưa dứt hồn đã đứt
Trời Hồ muôn dặm không có bóng chim bay

Dịch thơ

Ngoài Ải Gửi Anh Trai.

Cách biệt anh em đã bấy chầy
Nhớ quê áo trận lệ rơi đầy
Khèn Hồ chưa dứt lòng đã đứt
Vạn dặm trời Hồ vắng chim bay

Con Cò
Ít khi thấy một võ tướng đa cảm như Cao Biền
***
Ngoài Ải Gửi Anh Trai.

Anh em cách biệt đã lâu ngày,
Áo trận nhớ quê thấm lệ hoài.
Chưa đứt tiếng kèn hồn đã dứt,
Trời hồ vạn dặm én không bay.

Mỹ Ngọc.
Jun. 13/2026.
***
Biên Ải Gửi Anh Trai

Anh em cách biệt chẳng thơ chi
Mắt lệ thương quê đẫm chiến y
Kèn ải chưa ngưng lòng đã đứt
Trời Hồ muôn dặm vắng chim di

Lộc Bắc
Jun26
***
Góp ý:

Như anh Tâm và anh Giám đã nói, Cao Biền không có anh theo sử sách. Cao có người anh kết nghĩa là Chu Bảo, và hai người cháu là Cao Kiệt và Cao Tầm. Tầm nổi tiếng hơn, nên khi được về triều, Cao Biền đã tiến cử Tầm làm Tiết Độ Sứ Tĩnh Hải Quân thay mình và được triều đình chấp thuận.

Trong loạn Hoàng Sào, vì Cao chần chừ không chịu đánh giặc nên bị tướng nhà Đường là Chu Ngạn giết chết ở Dương Châu, vậy chuyện mả Cao Biền ở Việt Nam chỉ là truyền thuyết.

Tựa bài thơ là ký gia huynh, mà Cao không có anh nên mình thắc mắc là gửi cho ai.
Bài thơ ngắn, không có chữ khó, trừ chữ Lệ Ngạc thì Thi Viện đã giảng rồi.

Tâm sự của một chinh nhân trấn thủ nơi biên tái nghe cũng thảm lắm, làm Bát Sách nhớ tới lính VNCH, ngày xưa, trấn giữ nơi tiền đồn hẻo lánh, đau khổ không kém, nhưng Việt Nam, trong rừng, còn có chim ca hót…

TRÊN QUAN ẢI, GỬI ANH TRAI.

Anh em xa cách, ít được tin,
Áo chiến bao lần nước mắt in,
Tiếng kèn chưa dứt đà đứt ruột,
Vạn dặm trời Hồ không bóng chim.

Bát Sách.
(Ngày 25/06/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm:

塞上寄家兄-高駢 Tái Thượng Ký Gia Huynh - Cao Biền

棣萼分張信使希 Lệ ngạc phân trương tín sứ hy
幾多鄉淚濕征衣 Kỷ đa hương lệ thấp chinh y
笳聲未斷腸先斷 Già thanh vị đoạn trường tiên đoạn
萬里胡天鳥不飛 Vạn lý Hồ thiên điểu bất phi

Bài thơ có đăng trong sách:

Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 万首唐人绝句-宋-洪迈
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 诗-清-圣祖玄烨

Giải nghĩa chữ khó:

Tái thượng: Nơi biên cương, vùng biên giới xa xôi phía Bắc.
Lệ ngạc: Hoa thường/đường lệ và đài hoa. Trong văn học Trung Hoa, cụm từ này là điển tích tượng trưng cho tình anh em ruột thịt thắm thiết. Điển tích này bắt nguồn từ Kinh Thi trong bài thơ Thường lệ (常棣) phần Tiểu Nhã. Bài thơ này ca ngợi tình anh em ruột thịt với những câu mở đầu:

Thường lệ chi hoa, ngạc bất vi vi? Phàm kim chi nhân, mạc như huynh đệ. (Hoa thường lệ xum xuê, đài hoa không rực rỡ nâng đỡ hoa sao? Lòng người ngày nay, chẳng ai bằng anh em). Từ hình ảnh hoa và đài hoa thường lệ, người đời sau đã đúc kết thành điển tích Lệ ngạc để nói về tình anh em.

Lệ ngạc phân trương: Hoa và đài hoa bị xé rách, lìa nhau. Đây là một hình ảnh ẩn dụ đau khổ. Anh em ruột thịt vốn cùng một gốc sinh ra, nay người ở quê nhà, người nơi biên ải xa xôi, giống như một bông hoa bị tước đi đài hoa của nó, trái với quy luật tự nhiên.

Tín sứ: Người đưa thư, sứ giả chuyển tin tức.
Chinh y: Áo mặc khi đi chinh chiến, áo lính.
Già/Hồ già: Một loại kèn của các dân tộc phương Bắc ngày xưa, âm thanh trầm buồn, thường gợi nỗi nhớ nhà.

Hồ: Vào thời cổ đại, người Trung Nguyên (Hoa Hạ) dùng từ "Hồ" để chỉ chung các dân tộc thiểu số, du mục sinh sống ở vùng biên cương phía Bắc và phía Tây Bắc Trung Hoa (như người Hung Nô, Đột Quyết, Khiết Đan...). Cách gọi này mang tính phân biệt chủng tộc của người Hán đối với các tộc người ngoại bang. Khi đi vào thơ ca, đặc biệt là Thơ Biên Tái, viết về vùng biên cương, chiến trận như bài thơ này của Cao Biền, từ "Hồ" được dùng như một tính từ hoặc danh từ để chỉ tất cả những gì thuộc về hay đến từ vùng đất hoang vu, lạnh giá, xa xôi này như: Hồ mã 胡馬, Hồ cầm 胡琴, Hồ tiêu 胡椒, Hồ đào 胡桃, Hồ sàng 胡床 …

Hồ thiên: Bầu trời vùng đất Hồ (vùng biên cương phía Bắc, nơi các dân tộc thiểu số sinh sống).

Dịch nghĩa:

Tái Thượng Ký Gia Huynh Gởi Anh Trai Từ Biên Ải

Lệ ngạc phân trương tín sứ hy
Anh em chia cách, tin tức hiếm hoi
Kỷ đa hương lệ thấp chinh y
Biết bao giọt lệ quê hương đã thấm đẫm chiếc áo chinh chiến
Già thanh vị đoạn trường tiên đoạn
Tiếng kèn Hồ chưa dứt mà khúc ruột đã đứt trước
Vạn lý Hồ thiên điểu bất phi
Dưới bầu trời đất Hồ muôn dặm, đến chim muông cũng không buồn bay

Bình luận:

Bài thơ là một kiệt tác thơ biên tái, thể hiện sâu sắc nỗi lòng nhớ thương quê hương và gia đình của người lính nơi biên thùy xa xôi. Một bức tranh nghệ thuật tuyệt đẹp nhưng đượm buồn, kết hợp hài hòa giữa tình cảm cá nhân, nỗi nhớ nhà và không gian biên giới hùng vĩ, khắc nghiệt.

Cao Biền không dùng ngôn từ mạnh bạo của một vị tướng, mà dùng tiếng lòng của một người em, một người con ly hương. Nỗi đau trong thơ gia tăng theo từng câu: từ cái "hiếm hoi" của tin tức, đến cái "ướt đẫm" của chinh y, và cao điểm là tiếng kèn làm "đứt ruột". Câu cuối cùng Vạn lý Hồ thiên điểu bất phi là một nét vẽ xuất thần. Không gian mở ra vô tận nhưng lại đóng băng mọi sự sống. Đến cánh chim, biểu tượng của tự do, cũng không thể bay nổi dưới bầu trời ấy, càng tôn lên nỗi cô đơn của con người trước thiên nhiên vùng biên ải.

Dịch thơ:

Gởi Từ Biên Ải

Thể thất ngôn:

Anh em ly tán nhận tin thưa,
Lệ đẫm chiến bào tợ gió mưa.
Tiếng địch chưa ngưng lòng đã đứt,
Dưới trời rộng lớn cánh chim thưa.

Thể lục bát:

Anh em xa cách lâu ngày,
Bặt tin buồn nhớ lệ đầy y trang.
Kèn chưa dứt, lòng nát tan,
Trời Hồ muôn dặm chẳng màng chim bay.

Sending a Poem to My Brother from the Frontier by Gao Pian

Separated like flower and calyx, letters from home are rare,
Countless tears for my homeland have soaked my battle coat.
Before the mournful sound of the nomad flute even fades, my heart breaks,
Across ten thousand miles of the northern sky, not a single bird flies.

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

Cao Biền sinh năm 821 và sử liệu không nói ông ta có anh em gì chăng, nhưng thời đang còn làm tướng lãnh của Thần Sách Quân - một loại cấm quân được thành lập để chống lại người Thổ Phồn - ông quen thân Chu Bảo (周寶, sinh năm 814) và hai người kết nghĩa huynh đệ. Về sau Chu thay Cao làm tiết độ sứ ở vùng Thanh Hải, Cam Túc ngày nay. Vùng này là cứ địa của người Đảng Hạng (党項) và sự nghiệp của Cao bắt đầu trỗi dậy khi ông ta thành công trong việc trấn áp người Đảng Hạng trong năm đầu (859) thời Đường Ý Tông rồi được phái xuống La Thành năm sau để chống việc xâm lăng của Nam Chiếu. Tình bạn giữa Cao và Chu sứt mẻ dần về sau vì tranh giành quyền lực rồi hai người ra mặt tranh chấp nhau để rồi cuối cùng chết cách nhau một năm (887-888).

Nếu gia huynh (家兄) trong tựa đề bài thơ là Chu Bảo thì sự đời nghĩa cũng ... buồn! Họ Cao khóc vì nhớ bạn hay vì buồn thân phận ở xứ Hồ lúc đã gẩn 40 tuổi. Phải chăng đây là một bài thơ nữa thổ lộ việc muốn có cơ hội tiến thân ở triều đình?
棣萼 Lệ ngạc

Ngạc là đài hoa; lệ là tên tắt của lệ đường hoa (棣棠花-Kerria japonica). Đây là một loài hoa hồng màu vàng ở Đông Á, trông tựa như vạn thọ, nhưng không có ở Việt Nam và không thấy liệt kê trong sách Phạm Hoàng Hộ, có thể vì loài hoa kép không kết quả. Mặc dù người Tàu có thành ngữ "lệ ngạc" để chỉ tình huỵnh đệ [đài hoa nâng đỡ cánh hoa] (xuất phát từ Kinh Thi và Tấn thư) hoa này được trang ヤマブキ - ja.Wikipedia nói đến hoa này nhiều hơn


笳聲 già thanh
Già thanh là tiếng (kèn) Hồ già (胡笳). Già là một loại kèn của người Mông Cổ dùng hai lưỡi gà, không có lỗ như tiêu.

- Trả lời về Hồ già :

Không ai biết rõ hồ già thời Đường-Tống ra sao cả vì các sách về nhạc cụ chỉ nói nó trông tựa loại kèn nào đó. Hồ già đầu tiên là loại sáo làm bằng cách cuốn tròn lá cây sậy thành một cái ống; lá sậy có thể dài tới 6o cm và rộng 6 cm. Thời còn bé tôi không biết đến hồ già nhưng đã từng cuốn lá làm sáo/kèn. Và dĩ nhiên không thể xoi lỗ trên loại kèn này. Wiktionary dịch 笳 thành reed-leaf whistle, sáo lá lau.

Trần Dương (陈旸 thời Tống), tác giả bộ Nhạc Thư (乐书, 200 cuốn!) viết rằng hồ già có thể (khả năng-可能) trông giống (kèn) tất lật (觱篥) và nói tất lật là một loại hồ già làm bằng ống trúc với lá sậy ở đầu, có 9 lỗ. nhưng hồ già không có lỗ và người đời sau dùng trong diễn binh của cấm quân

陈旸《乐书》說胡笳可能和觱篥很像:“觱篥,一名悲篥,一名笳管...竹为管,以芦为首,状类胡笳而九窍”、“胡笳,似觱篥而无孔,后世卤簿用之” Trần Dương《Nhạc Thư》 thuyết hồ già khả năng hòa tất lật ngận tượng:“ tất lật, nhất danh bi lật, nhất danh già quản... trúc vi quản, dĩ lô vi thủ, trạng loại hồ già nhi cửu khiếu”. “Hồ già, tự tất lật nhi vô khổng, hậu thế lỗ bộ dụng chi." [trích từ zh.Wikipedia]

Rất có thể rằng trong ngữ nguyên già là tên của bộ phận lưỡi gà làm bằng lá sậy.

Huỳnh Kim Giám
***
@ Phí minh Tâm bổ túc thêm về anh em của Cao Biền:

Không thấy có tài liệu lịch sử nào nói đến người anh trai của Cao Biền. Như thế ta phải hiểu hai chữ gia huynh trong tựa bài thơ như thế nào? Có thể có 3 cách hiểu khác nhau phù hợp với lịch sử và văn học.

1-Cao Biền thật sự có một người anh không có chức phận trong quan trường nên không được lịch sử nhắc đến.
2- Một người anh em họ trong gia tộc quan quyền Bột Hải Cao Chi 渤海高 氏. Họ thường gọi nhau là gia huynh trong thư từ và thơ ca.

3- Hiểu theo biểu tượng văn chương thuần túy, nhất là trong thơ ca biên tái, các thi sĩ/tướng lĩnh thường mượn hình tượng người thân (vợ, anh em, mẹ già…) ở quê nhà để làm chỗ dựa tinh thần và bộc lộ khía cạnh mềm yếu trong tâm hồn mình. Bằng cách đề tựa gửi cho gia huynh, Cao Biền muốn nhấn mạnh rằng: Bỏ chiếc áo giáp của một vị tướng oai phong lẫm liệt nơi trận mạc, ông là một người cô đơn và khát khao hơi ấm gia đình khi đang ở giữa vùng biên thùy lạnh giá.

Trộm Vào Vườn!


Sau một đời làm việc vất vả nuôi dạy con cái, đến tuổi hưu người ta rút lui khỏi chốn phồn hoa đô hội đầy bon chen, tìm đến những nơi êm ả thoáng mát thư giãn tuổi già. Nhiều “làng già” được lập ra tại Mỹ để đáp ứng nhu cầu này của giới bô lão. Cuốc sống chậm lại, đường xá riêng biệt, xe cộ vắng vẻ, cổng vào có bảo vệ, ngày đêm có an ninh đi tuần tra. Ở trong làng già người ta dần lơi cảnh giác. Băng qua đường vẫn phải ngó trước ngó sau nhưng không hồi hộp, tim đập bộp bộp như sắp nhảy ra khỏi lồng ngực như ngoài phố. Cửa nẻo vẫn khóa nhưng lỡ quên cũng không sao. Đi vắng nhà nhiều ngày thì báo cho hàng xóm hai bên biết để thay mình đẩy thùng rác ra hay cất vào, nhặt báo nhật trình xem giùm, hay cất hộ hàng họ gửi đến. Vài năm trước một cô bạn của tôi vào đây tìm mua một mái ấm mới. “Ở ngoài kia” cô từng ở nhà single home hay townhouse, nên e ngại không dám mua condo trong này, mặc dù nhu cầu cá nhân và đồ đoàng đã thu vén lại. “Nhỡ đi về đêm khuya, lần mò đoc hành lang thăm thẳm mà có lão nào mở cửa nhảy ra túm mình thì sao?” Tôi nghe cười ngất: “Bà ơi! Có cụ ông U90, U100 nào nhảy ra chận bà thì bà cứ mời cụ vào nhà pha chén chè sen mời cụ nhắp cho vui!”

Ấy thế mà cuộc “đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ” trong làng già gần đây bỗng nhiên nhốn nháo hẳn lên vì…có trộm vào vườn! Đúng vậy! Trộm không vào nhà, mà trộm vào vườn! Số là trong làng già này có một khu vườn cộng đồng (community garden) độ 260 thửa vườn cho các bô lão thuê để trồng trọt cho vui. Mỗi người được thuê một vuông đất độ 5mx5m rồi tự che rào, gắn cổng, gắn khóa (!), cày cấy, tưới tắm, gieo trồng, thu hoạch vào ngày mùa. Nhiều “nông dân” ở đây rất mát tay trồng trọt. Họ từ bỏ chức tước kỹ sư, giám đốc, chuyên viên, khoác áo nông dân lam lũ, cày sâu cuốc bẫm, tạo nên những luống cải xanh mướt, những quá bí quả bầu to tròn nặng chĩu, những quả cà chua cà tím trĩu cành trông thấy mà ham.

Phàm có sản phẩm hấp dẫn là có kẻ tham nhòm ngó đến. Một vườn mấy chục cây cà chua chín rộ, để sáng mai ra hái, nào ngờ sáng mai chỉ còn lại những cành trơ lá, cà đã tếch đi đằng nào qua đêm rồi. Thế có tức không cơ chứ! Khi sự việc được trình lên “quan lớn”, tức hội đồng quản trị khu vườn cộng đồng, thì quan lớn cũng lúng túng không biết xử trí sao. Không bắt được quả tang, không có bằng chứng, không có tình nghi thì cũng bó tay. Có vị còn động lòng trắc ẩn vì nghe nói giới bô lão trong làng già có nhiều người gặp khó khăn tài chính và khó khăn thực phẩm, chắc là cùng cực lắm mới phải vào vườn ăn cắp. Nói thì vậy, nhưng đối với “khổ chủ” bỏ công trồng trọt tưới tắm trong nhiều tháng trời, đồ ăn sắp đưa đến miệng mà bị giật mất, tức lắm chứ! Thà không có thì xin, chẳng ai hẹp lòng hẹp dạ mà từ chối không cho.

Tôi may mắn không bị chiếu cố. Của đẹp của ngon mới bị người thò tay mặt đặt tay trái sờ mó đến, chứ rau củ của mình thuộc hạng bét trong làng, ma nó thèm. Tôi từng đùa rằng ai mà vào vườn tôi bẻ trộm là tôi cảm thấy vinh dự đấy, sợ cho không cũng không ai thèm mà còn bị mắng! He he!

Đấy là chuyện năm rồi. Năm nay vừa chớm xuân là tía má lại cùng nhau hừng đông đi cày bừa rôm rả. Người xây hàng rào mới, người dựng lại giàn, người mua đất về phủ lên mấy luống, mấy vồng đã sụp xuống với thời gian, người gieo hạt từ trong nhà cho cây con cao độ bằng ngón tay thì mang ra vườn trồng xuống đất...Năm mới niềm vui mới, hy vọng mới!

Thế rồi… Trộm đạo lại hoành hành, hung hăng hơn năm rồi và sớm sủa hơn hẳn năm rồi. Mùa màng mới bắt đầu, đâu đã có gì ăn được mà ăn cắp hè? Thế mà có đấy. Ba chậu cà chua mua về sắp hạ thổ thì biến đi một chậu. Ba luống cải xà lách non trồng thẳng tắp thì một luống bị bứng sạch trơn! Vài dụng cụ làm vướn không cánh mà bay. Thật là nản! Nhiều vị than phiền rằng mình tập tễnh giở nghề trồng trọt để thư giãn đầu óc, mà bây giờ bị nhũng nhiễu thế này thì lại càng xí trét hơn ! Tình hình rất là tình hình!

Đã có vài lần bị bắt gặp tại trận thì kẻ gian lại lấp liếm: « Bạn tôi bảo cứ việc vào vườn của bạn muốn lấy gì thì lấy. Thế vườn này của ông/bà à ? Xin lỗi tôi nhầm nhé!» Kẻ bị hại gặp cảnh bất ngờ cũng luống cuống không biết rút phone ra chụp một cái hình hay tra hỏi xem « bạn »của quý vị là ai, tên gì, số phone là gì để đối chất, v.v. Thế là kẻ gian vuột thoát.

Tiếp đó có một chuyện trầm trọng hơn nhiều được ghi nhận. Tội phạm không những bứng, nhổ, bỏ bị xách đi, mà còn đứng ngoài rào của một vườn khác (đã khóa cẩn thận), thò tay vào chế hóa chất giết hàng loạt cà chua đang xanh mướt bên trong. Thế này thì quá mức chịu đựng bình thường rồi ! Kẻ nào gian ác lại đóng vai trò « khủng bố » thế ? Chiến tranh hóa học đã diễn ra !

Tháng này hội đồng nhà vườn họp giải quyết vấn đề. Các chức sắc đều có mặt, các “bị hại” cũng có mặt, mời cả an ninh khu vực đến nói chuyện. Trong quan cảnh nghiêm trọng đầy « khí thế ». mình lẩm nhẩm đánh giá nhanh những thiệt hại tài sản : vài cây cà chua còn chưa có bông, luống cải xà lách cao độ 2cm, vài bụi bông bé tí: chưa đến mươi đồng ! Thế nhưng của mất không bằng cách mất, Công trình chăm bón, sáng hôm tưới tắm, nhặt nhổ cỏ dại, với bao mộng ước ngày mùa. Chàng an ninh trình cho xem vài mẫu máy quay phim có thể đặt trong vườn, khuyến cáo mọi người hãy gắn khóa vào cổng, treo đây đó những « thông điệp » như « Này, hãy cười tươi lên ! Chúng tôi đang quay phim quý vị đây! » (Smile! You’re on camera!) Hoặc « Người nào bị bắt gặp ăn cắp trong vườn người khác sẽ bị mang ra xét xử theo đúng pháp luật”, v.v. Hội đồng quyết định sẽ cấp thẻ hội viên cho các nông dân. Ai bị bắt gặp ở trong vườn mà không có thẻ hội viên trình ra sẽ bị “mời đi làm việc”.

Đến màn lập ngân quỹ để mua máy quay phim gắn trong vườn thì vì tài chính eo hẹp nên phải “sáng tạo”: chỉ mua một máy thật, rồi mua thêm 9 máy giả, nhìn giống y như máy thật nhưng không “work”. Mục đích chính là đe cho sợ chứ không phải bắt cho bằng được. Tôi ngồi dự mà cứ buồn cười. Hóa ra bô lão Mỹ cũng già mưu lắm kế như kiểu kẻ cắp bà già ở VN mình, mua máy dỏm gắn cho chúng sợ.

Từ đây cổng nẻo sẽ kiểm soát cẩn thận. Sáng đúng giờ an ninh sẽ đến mở khóa. Chiều tối đúng giờ họ sẽ khóa lại. Đúng giờ là mấy giờ thì để tùy nhà vườn quyết định. Một người vạch ra rằng trụ cổng đứng cách hàng dậu một khoảng cách nhỏ, một người nhỏ bé ốm yếu sẽ chui lọt. Thế thì sẽ giăng rào lấp chỗ trống đó. Phần tôi thì phân vân không biết mình có nên theo phong trào mua ống khóa riêng cho vườn của mình không. Đúng là chẳng có gì đáng giá, nhưng nếu chung quanh ai cũng rào khóa cẩn thận, còn mỗi vườn mình trống hoác thì rõ ràng là mời gọi ông đi qua bà đi lại hãy ghé bước vào chơi, đúng ra là ghé bước vào xơi!

Tuy hội đồng bàn tán “sắt máu” như vậy nhưng vẫn quan tâm duy trì giá trị nhân bản của khu vườn. Mục đích chính của vườn cộng đồng là giúp các bô lão có nơi thư giãn, gần gũi thiên nhiên, trồng trọt chút đỉnh, chuyện trò rôm rả, gặt hái ít nhiều…vui là chính. Ngoài ra họ cũng muốn tỏ lòng hiếu khách, cho phép mọi người khác trong làng già ghé vào thăm vườn thoải mái, tha hồ len lỏi giữa các mảnh vườn, trầm trồ giàn bí sai quả, vườn rau xanh ngắt, cỏ hoa đẹp mắt. Họ không muốn gắn dầy đặc khắp vườn những bảng biển đe dọa hay nghi kỵ khách viếng thăm, khiến người khác mang mặc cảm mình là tội phạm chỉ vì có chút ít của cải trong vườn bị trộm khoắng đi. Giơ cao đánh sẽ, cần có một sự cân nhắc tế nhị giữa tình và lý.

Bỗng chợt chiều hôm sau tôi nhận được email từ ông giám đốc vườn: “Chiều hôm qua lúc khoảng 5 giờ đã bắt được một nhân vật “đáng chú ý”. Có một nhân chứng (chính ông giám đốc). An ninh đã làm việc.” Đón đợi hồi sau sẽ rõ!
Úi trời! Hồi hộp quá!

Hôm sau thì manh mối đã rõ ràng hơn. Kẻ trộm bị bắt quả tang đang “làm ăn” ngay trong vườn ông giám đốc. Khi bị chất vấn thì kịch bản cũ lại diễn ra:
- Bạn tôi bảo tôi cứ vào vườn này của bạn muốn lấy gì thì lấy!
- Nhưng rõ ràng bà đã ăn cắp cái đệm lót đầu gối của tôi kia kìa.
- Ông đừng nói láo! Cái này tôi mua ở Home Depot.
- Thế sao nó lại có tên tôi đề trên đó?
- Ơ ơ…

Vào “hiện trường” khám xét thì ôi thôi, hằng hà sa số những vật phẩm được “tuyển lựa” từ thập phương mang về. Những cây xà lách bé tí ri hôm nọ bị thuỗm nay đã cao lớn gần nhổ ăn được. Người khác nhìn ra cây cà chua con còn nguyên trong chậu của mình nay đã trưởng thành. Bông hoa đủ loại: gladiolus, thược dược, lilies, đủ màu sắc. Phải công nhận mảnh vườn nhìn rất mê, tươm tất, gọn ghẽ, bắt mắt, hoa lá thập cẩm đủ loại, mỗi thứ một ít. Nhưng biết được xuất xứ của những hoa thơm cỏ lạ này thì giận ơi là giận. 

Kết quả là nhà vườn không “press charges” tức là không yêu cầu truy tố ra trước pháp luật, nhưng khai trừ nhân vật này ra khỏi khu vườn cộng đồng, tước lại mảnh vườn, từ nay cấm cửa không được bước vào khu vườn, nếu tái phạm sẽ bắt bỏ tù và đưa ra tòa xét xử. Nhân vật này là nông dân mới năm nay, mới vừa xin thuê được mảnh vườn đầu tiên, mà đã ra tay “làm ăn” quá cỡ.

Lý lịch tội phạm là đây: một bà cụ 78 tuổi, “đầu óc có vấn đề”, ngày ngày cứ tỉnh bơ vào các vườn khác “tuyển lựa” giữa ban ngày không cần ẩn mặt, bị bắt quả tang thì cứ bảo “bạn tôi” cho phép vào lấy thỏa thích, khi bị tra hỏi dồn vào chân tường thì tươm tướp mắng người khác là đặt điều nói láo, vu oan cho bà. Người như vậy thì đúng là giận thì giận mà thương thì thương! Thôi để bà cụ trở về mái ấm hưởng tuổi già tại gia. Mà cũng không biết bà có cụ ông ở cùng hay sống đơn chiếc, không biết con cái có ở gần và có lui lại thăm viếng không.

Trong làng già có một số nhân vật không còn sáng suốt như vậy. Thỉnh thoảng lại nghe báo động có “già đi lạc”. An ninh bổ đi tìm, xe cứu hỏa chạy vào chớp đèn đỏ lòe, sau đó lại có thông báo cho mọi người biết đã tìm được già, và già vẫn ổn về sức khỏe lẫn tinh thần. Có nghe chuyện người ta vào tập gym, treo áo khoác trên móc áo bên ngoài, khi trở ra thì áo đã có kẻ mặc hộ đi mất. Mất áo là chuyện nhỏ. Chuyện lớn là chìa khóa xe bỏ trong túi áo cũng đã bị bưng đi theo cái áo! Lại lập camera theo dõi. Đến khi bị bắt quả tang thì bảo: “Tôi dạy cho hắn một bài học đấy! Đồ đạc không bỏ vào locker khóa cẩn thận, cứ treo tòng teng như thế!”

Trở lại việc trộm vào vườn. Ban giám đốc đã có thể tạm yên tâm buông bỏ những mưu chước trừ gian, và sẽ không phải bỏ tiền mua sắm nhiều máy quay phim nữa. Máy thật hay máy giả cũng tốn kém chứ. Tạm thời là vậy. Đến mùa gặt hái trong vài tháng nữa, chắc chắn sẽ còn những vụ “mượn tạm” khác xảy ra, vì mùa màng năm rồi cũng đã bị khoắng đi một ít, mà lúc ấy bà cụ này chưa gia nhập. Kẻ gian còn tiềm ẩn đâu đó. Biết đến bao giờ mọi người mới được quyền làm vườn trong “hạnh phúc đời đời kiếp kiếp” như trong truyện cổ tích!

Còn mảnh vườn này thì ít lâu nữa sẽ giải quyết, sau khi thông báo cho các “bị hại” đến nhìn của cải của mình mà thu về. Hiện nay đang có một danh sách người đợi xin thuê vườn. Một kẻ may mắn nào đó sẽ được tiếp thu khu vườn này để tiếp tục trồng trọt.

Buồn cười một bà làm vườn người Hoa khi nghe tôi báo là thủ phạm đã bị bắt bèn ghé tai tôi thì thầm hỏi nhỏ: “Thế có phải người Á đông không? “ Được biết không phải thì bà thở phào nhẹ nhõm. Tinh thần dân tộc của ai cũng mạnh mẽ, không ai muốn đồng bào mình gây tiếng xấu trong cộng đồng.

Riêng phần thưởng cho ông giám đốc đã có công trừ gian thì sao? Chiều hôm qua tôi đang lửng thửng rời vườn thì thấy ông đang lui cui bắt vòi nước tưới tắm mảnh vườn mới bị tịch thu. Hoa màu đang tăng trưởng sum suê, mà mấy hôm nay trời nắng chang chang, không tưới một ngày là chúng ngoeo đầu rũ xuống cả. Tiếng Anh có câu: “no good deed goes unpunished” – kẻ nào làm việc tốt chắc chắn sẽ bị trừng phạt xứng đáng! Cái luật oái ăm này đã vận vào ông giám đốc nhà mềnh. Mỗi ngày ông sẽ được “thưởng” chăm sóc mảnh vườn cho đến khi nó được phân bổ lại cho một bác nông dân mới.

Thúy Messegee
6/2026

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2026

Thương Hoài Ngàn Năm - Tân nhạc : Phạm Mạnh Cương - Cổ nhạc Viễn Châu - Kim Trúc

 

Sáng Tác: Phạm Mạnh Cươngc
Cổ nhạc: Viễn Châu 
Trình Bày: Kim Trúc

Chiều Nay

Người yêu tặng anh lính Hải-quân
Anh hẹn… chiều nay sao không thấy,
Em thẹn thùng, suối tóc giăng tơ!
Trời buồn, mây gió ngẩn ngơ,
Lòng em nhớ quá, đang chờ đợi anh!
Hỡi anh thương, hoa trắng trong xanh,
Lướt trên biển cả, vòng quanh chân trời!
Thuyền anh lả lướt mù khơi,
Tình anh vị mặn lả lơi gió chiều.
Nhớ em không, hỡi hoa sóng thân yêu,
Vừng hồng e ấp, bao chiều ngóng trông!

Sóng ca biển hát, gió thoảng lâng lâng...
Nắng vàng e thẹn, tơ lòng xót xa!
Thiên đàng , hạ giới nở rộ ngàn hoa,
Trùng dương xõa tóc ngân nga lời thề!
NƯỚC NON, MÂY GIÓ vẫn giữ lối về,
Sóng vàng, cát ngọc dựa kề bên nhau!
Chiều buồn, biển sóng bạc đầu
Sương sa đầu núi, mây trời lệ rưng!
Muốn quay lui, nhưng lại ngập ngừng. .
Hồn anh ve vuốt, mộng vàng vai em!


Tô Đình Đài










Chuyện Tình Ngày Xanh



Sáng sáng chờ em trước cổng trường,
Ra vào ngơ ngẩn, dạ vấn vương,
Ngày đó anh vừa hai mươi tuổi,
Tình nhẹ mơ hồ như khói sương….

Em vẫn hay ngồi trước mặt anh,
Em thường mặc áo mầu thiên thanh,
Thầy hùng hồn giảng bài trên bảng,
Anh âm thầm loay hoay vẽ tranh.

Đôi khi em vuốt tóc, nghiêng người,
Quay xuống nhìn anh, mỉm miệng cười,
Môi em thơm mọng mùi nho chín,
Cần gì son phấn tuổi đôi mươi.

Niên học qua vèo như bóng câu,
Không gian rền rĩ tiếng ve sầu,
Sân trường đỏ thắm mầu hoa phượng,
Nghe lòng linh cảm chuyện xa nhau.

Rồi em đi Đà Lạt,
Để anh trọn niềm đau,
Để anh ngồi thơ thẩn,
Tiếc ngày vui qua mau.

Em về tự cao nguyên,
Đem theo làn gió lạnh,
Tiếng thông reo, thác đổ,
Và lớp sương mù bao phủ trời xanh.
Em đến thăm anh,
Mây vương tà áo,
Tặng cho anh món quà nho nhỏ,
Vài cánh mimosa mong manh…
Anh về thao thức năm canh,
Đề thơ trên giấy mầu xanh tặng người.

Nhưng rồi em đã sang ngang,
Anh thường bỏ học, lang thang một mình,
Đâu còn nguyện ước ba sinh,
Lá me tơi tả như tình đôi ta.

Bát Sách


Trì Để Nguyệt 池 底 月 - Trăng Đáy Ao (Trần Văn Lương)

 

Dạo:
      Chỉ cần gió lặng, sóng yên,
Thì trăng kia vẫn nằm nguyên đáy hồ. 
 
Cóc cuối tuần:
 
         池 底 月
寒 風 深 夜 忽 狂 飛,
明 月 黃 光 散 滿 池.
失 道 最 終 由 幻 辯,
亡 羊 畢 竟 為 多 歧,
趙 州 柏 樹 人 難 會,
靈 鷲 心 花 祖 獨 知.
不 久 風 停 池 照 舊,
月 輪 水 底 又 圓 煕.
                陳 文 良
 
Âm Hán Việt:
 
Trì Để Nguyệt

Hàn phong thâm dạ hốt cuồng phi,
Minh nguyệt hoàng quang tản mãn trì.
Thất đạo tối chung do ảo biện,
Vong dương tất cánh vị đa kỳ.
Triệu Châu bách thụ, nhân nan hội,
Linh Thứu tâm hoa, Tổ độc tri.
Bất cửu phong đình, trì chiếu cựu,
Nguyệt luân thủy để hựu viên hi.

Trần Văn Lương
 
Dịch nghĩa:
 
Trăng Đáy Ao

Đêm sâu, con gió lạnh bỗng bay như điên cuồng,
Ánh sáng vàng của vành trăng sáng tản ra khắp (mặt) ao .
Chung cuộc mất đạo vì (lo) biện luận huyền ảo, (1)
Mất dê cuối cùng vì đường nhiều ngã rẽ. (2) 
Cây bách của Triệu Châu, người khó ngộ được, (3)
Đóa hoa Tâm (trên núi) Linh Thứu, chỉ có Tổ (Ca Diếp) một mình biết. (4)
Chẳng bao lâu gió ngừng, (mặt) ao (trở lại yên) như cũ,
Vầng trăng dưới nước lại tròn và sáng.
 
Chú thích:
 
(1) Bich Nham Lục , tắc 4:  Đức Sơn Hiệp Phức
      (bản dịch của Thiền sư Thích Mãn Giác)

Đêm ấy (Đức Sơn) vào phòng của Long Đàm đứng hầu mãi đến khuya. Long Đàm nói, “Tại sao Thầy chưa lui đi?” Đức Sơn chào rồi vạch màn bước ra, thầy bên ngoài trời tối bèn quay vào nói, “ Bên ngoài tối quá”. Long Đàm bèn thắp đèn giấy rồi đưa cho Đức Sơn, Đức Sơn vừa tiếp lấy, Long Đàm thổi tắt đèn. Đức Sơn hoát nhiên đại ngộ.Lập tức cúi lạy. Long Đàm nói, “Ông thấy được gì mà ông cúi lạy vậy?” Đức Sơn nói, “Từ rày trở đi kẻ hèn này không còn giám nghi ngờ những gì các lão hòa thượng trong thiên hạ nói nữa.”
Hôm sau Long Đàm thượng đường nói, “Trong các ông có một gã răng như rừng kiếm, miệng như bát máu, dù có lấy gậy đập đi nữa cũng không quay đầu. Ngày sau gã sẽ lên đỉnh cao mà lập đạo ta ở đó.” Đức Sơn bèn đem sớ sao ra trước Pháp đường, dơ cao ngọn đuốc lên nói, “Nghiên cứu các biện luận huyền ảo, thật ra cũng chẳng khác gì đặt một sợi lông vào hư không; xét tận các quan kiện cốt yếu, lại chỉ giống như nhỏ một giọt nước vào thung lũng lớn.” Rồi đốt hết đi.
 
(2)  Đa kỳ vong dương (mất dê vì nhiều nẻo), theo sách Liệt tử, thiên Thuyết Phù:
...
Người hàng xóm của Dương Tử (Dương Chu) mất một con dê. Ông ta dẫn một nhóm đi tìm và cũng nhờ người nhà của Dương Chu đi theo. Dương Chu nói: "Ôi! Mất một con dê sao lại đi nhiều người vậy?" Người hàng xóm đáp: "Đường nhiều ngã rẽ quá." Khi trở về, Dương Chu hỏi: "Đã tìm thấy dê chưa?" Hàng xóm đáp: "Lạc mất rồi." Lại hỏi: "Sao lạc mất?" Người hàng xóm đáp: "Vì có quá nhiều nẻo, tôi không biết đi ngã nào nên quay về."
 
(3) Vô Môn Quan, tắc 37: Đình Tiền Bách Thụ
     (bản dịch của Trần Tuấn Mẫn)
 Công án:
Một ông Tăng hỏi Ngài Triệu Châu:
- Ý Tổ sư sang Đông là gì?
Sư đáp:
- Cây bách ở trước sân.
 
(4) Vô Môn Quan, tắc 6: Thế Tôn Niêm Hoa
     (bản dịch của Trần Tuấn Mẫn)
Công án:
Thế Tôn xưa tại pháp hội núi Linh Sơn cầm cành hoa giơ lên trước chúng. Bấy giờ mọi người đều làm thinh, chỉ có ngài Ca-diếp rạng mặt mỉm cười. Phật dạy:
- Ta có nhãn tạng chính pháp, diệu tâm Niết-bàn, tướng thực không tướng, pháp môn vi diệu, chẳng lập thành văn tự, truyền riêng ngoài giáo, nay trao ông Ma-ha Ca-diếp.
 
Phỏng Dịch Thơ:
Trăng Đáy Ao

Đêm sâu gió lạnh thoắt ào ào,
Rắc vụn trăng vàng khắp mặt ao.
Xa đạo vì lao nhao biện luận,
Mất dê bởi luẩn quẩn bôn đào.
Pháp môn Linh Thứu nào ai thấy,
Thiền thất Triệu Châu mấy kẻ vào,
Sóng gió lao xao dần tĩnh lặng,
Trăng chìm vẫn chẳng khác trên cao.

Trần Văn Lương
Cali, 6/2026
-----
Lời than của Phi Dã Thiền Sư:    
Phật tính con người ai cũng có. Than ôi, chỉ vì vọng tưởng và lăng xăng kiếm tìm kiến giải cùng những biện luận huyền ảo nên nó đã bị che lấp.
Nhưng một khi được thiện tri thức khai ngộ, không nghĩ thiện không nghĩ ác (*), thì bỗng nhiên cái "bản lai diện mục" của mình sẽ hiện ra, chẳng khác gì lúc gió lặng sóng yên thì sẽ thấy mặt trăng vẫn còn nằm nguyên trong đáy nước như trước.
Lão tăng nói gì vậy?  
Ối dào, lại mở mắt chiêm bao.
Hỡi ơi!
 
Ghi chú:
 
(*) Pháp Bảo Đàn Kinh, bản dịch của Hòa thượng Thích Duy Lực:
"...
Khi ấy đại chúng mới biết, nên có mấy trăm người đuổi theo để đoạt y bát, trong đó có một Tăng tên tục là Trần Huệ Minh ngày trước làm Tứ Phẩm tướng quân, tánh tình thô bạo, dẫn đầu đi trước, đuổi kịp Huệ Năng. Huệ Năng bỏ y bát trên tảng đá nói rằng:
Y bát là vật làm tin, há dùng sức mà đoạt được sao? Liền ẩn mình trong đám cỏ. Huệ Minh đến, muốn lấy y bát mà chẳng nhúc nhích được, liền kêu: Hành giả! Hành giả! Tôi
vì Pháp đến, chẳng vì Y đến. Huệ Năng liền ra ngồi trên tảng đá, Huệ Minh đảnh lễ nói rằng: Mong hành giả vì tôi thuyết Pháp. Huệ Năng nói:Ông đã vì Pháp mà đến đây, thì nên ngưng nghỉ các duyên, chớ sanh một niệm, ta sẽ vì ông mà thuyết.
Một hồi sau Huệ Năng nói: Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, đang khi ấy cái nào là bổn lai diện mục của Thượng Tọa Minh? Huệ Minh ngay đó đại ngộ,

***
Bóng Trăng Trên Mặt Ao

Đêm khuya giá lạnh trổi cuồng phong, 
Lấp lánh ao sâu rợn ánh vàng.
Lạc đạo vì lăng nhăng biện luận,
Mất dê bởi lắm lối nhiều đường.
Triệu Châu cây bách ai người ngộ,
Linh Thứu hoa tâm một kẻ tường.
Sóng gió rồi tan, ao tĩnh lặng
An nhiên mặt nước lại tròn trăng.

Mùi Quý Bồng
(phóng tác)
06/25/2026