
tiêu đề Nhãn
- BIÊN KHẢO
- CÂU ĐỐI
- CỔ THI
- GIA CHÁNH
- GIẢI TRÍ
- HÌNH ẢNH HỘI NGỘ
- HÌNH ẢNH NAY
- HÌNH ẢNH XƯA
- HỘI HỌA
- KHOA HỌC
- LƯU NIỆM
- LỊCH SỬ
- LỜI HAY Ý ĐẸP
- NHẠC
- SƯU TẦM
- SỨC KHOẺ
- THƠ
- THƠ CẢM TÁC
- THƠ DIỄN NGÂM
- THƠ DỊCH
- THƠ NHẠC
- THƠ PHỔ NHẠC
- THƠ SƯU TẦM
- THƠ TRANH
- THƠ TRANH NGHỆ SĨ
- TIN BUỒN
- TIN VUI
- VĂN
- VŨ HỐI THƯ HỌA
- VƯỜN THƠ VIÊN NGOẠI
- XƯỚNG HỌA
- YOUTUBE
Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026
Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (2024-2026) Thành Kính Phân Ưu Văn Hữu Tưởng Dung

Hoa Thịnh Đốn ngày 27.9.2026
Kính thăm quý văn hữu VBVNHN,
Ban chấp hành VBVNHN (2024-2026) rất buồn khi biết tin Hiền phụ của văn hữu Tưởng Dung là ông Võ Văn Biên, Pháp danh Trực Ngộ
qua đời ngày 23.9. 2026 tại California, Hoa Kỳ. Hưởng thượng thọ 95 tuổi.
Cung Lan xin đại diện Ban chấp hành VBVNHN (2024-2026) thành kính phân ưu cùng văn hữu Tưởng Dung và tang quyến. Xin kính mời quý văn hữu hiệp lời cầu nguyện hương linh ông Võ Văn Biên, Pháp danh Trực Ngộ sớm an nhiên miền Cực Lạc.
Cung Thị Lan
Thân Hữu CGV & MCTĐ. Thành Kính Phân Ưu Cùng Gia Đình Tưởng Dung
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
Vô cùng thương tiếc cho bác. Xin chia buồn cùng Tưởng Dung và khấn cầu cho bác tiêu diêu nơi miền cực lạc.
Thúy M.
***
Được tin BÁC TRAI đã ra đi.
Thành thật chia buồn cùng Tưởng Dung và đại gia đình trước sự mất mát lớn lao này.
Xin góp lời cầu nguyện Hương Linh Bác sớm được TIÊU DIÊU MIỀN CỰC LẠC.
Thành kính phân ưu .
Ngọc Hà và gia đình
***
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU VỚI TƯỞNG DUNG
Thành kính phân ưu với bạn hiền
Đau lòng thân phụ đã quy tiên
Trần gian con sống luôn sầu thảm
Cõi Phật Cha về mãi tịnh yên
Vẫn biết vô thường do kiếp nạn
Và rằng tan hợp ấy nhân duyên
Xin vơi buồn khổ TƯỞNG DUNG nhé!
Nguyện Bác bình an chốn cửu tuyền.
Phương Hoa
SEP 27, 2026
***
Tố Phương, Saokhue, Song Thy, Ngọc Hà, Thanh Hòa, Kim Oanh,
Nghĩa GL,Tuyết Phan, Kim Loan, chị Thêm, Ngọc Huyền, Hồng Thúy Cana,
Ngân Bình, Thanh Dương,Phan Lang, Thái Lan, Ý Nga, Phi Nga,
Phương Lan, Sương Lam, Hoàng Thục Uyên, Ngọc Hanh…
Thân Hữu Minh Châu Trời Đônng & Cô Gái Việt
Tưởng Dung Chân Thành Cảm Tạ

Tưởng Dung chân thành cảm ơn tất cả quý chị em trong gia đình Văn Bút VNHNVĐBHK, Văn Bút VNHNHK(2024-2026). Trang Long Hồ Vĩnh Long. CGV và MCTĐ
Các chị Thúy M, Tố Phương, Saokhue, Song Thy, Ngọc Hà, Thanh Hòa, Kim Oanh, Nghĩa GL,
Tuyết Phan, Kim Loan, chị Thêm, Ngọc Huyền, Hồng Thúy Cana, Ngân Bình, Thanh Dương,
Phan Lang, Thái Lan, Ý Nga, Phi Nga, Phương Lan, Sương Lam, Hoàng Thục Uyên, Ngọc Hanh…
đã gửi những lời chia sẻ, phân ưu rất nồng ấm, chân tình đến gia đình TD trong lúc sầu buồn vì sự mất mát lớn lao này.
Đặc biệt chị Phương Hoa với bài thơ đầy cảm xúc, cũng như chị Phương Thúy đã captured những lời phân ưu của các chị em thành 1 bản phân ưu thật đầy đủ, hoàn hảo.
Xin chân thành cảm tạ và xin được post 2 tác phẩm quý báu này lên website Ngô Quyền cùng với Phân Ưu của Trường.
Vì quá nhiều thư nếu có thiếu sót tên ai, cũng xin các chị niệm tình tha thứ.
Đa Tạ.
Tưởng DungThứ Ba, 29 tháng 9, 2026
Xuân Về Hạ Vẫn
Hương xuân thoang thoảng mộng lành đưa duyên
Tìm nhau khắp nẻo mọi miền
Chỉ nghe da diết đỗ quyên vọng vềKim Phượng
***
Phương này nắng hạ vẫn còn vương
Phương ấy xuân sang tím cả trời
Kim Phượng ngàn trùng xa vạn dặm
Hương xuân theo gió quyện muôn phương
Hoàng Yến
Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lăng Trung 十五夜望月寄杜郎中 - Vương Kiến 王建 (Vãn Đường)
Vương Kiến 王建 (751-835) tự là Trọng Sơ 仲初, người Khoản Châu, Dĩnh Xuyên (nay là Hứa Xương, Hà Nam, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Đại Lịch thứ 10 (775), từng làm quan Tư mã Thiểm Châu. Ông trước tác "Nhạc phủ cung từ" rất được người ta khen ngợi, nổi danh ngang với Trương Tịch. Tác phẩm có "Vương tư mã tập".
Vương Kiến
Lời phi lộ
Chả biết quan lang trung họ Đỗ thân thế ra sao mà được Vương Kiến nhớ nhung sâu đậm như trong bài thơ dưới đây. Mời các bạn thưởng thức bài 十五夜望月寄杜郎中 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung, một bài thơ yêu tinh tả mối tình tri kỷ.
Nguyên tác Dịch âm
十五夜望月寄杜郎中 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung
中庭地白樹棲鴉 Trung đình địa bạch thụ thê nha,
冷露無聲濕桂花 Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa.
今夜月明人盡望 Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng,
不知秋思落誰家 Bất tri thu tứ tại thuỳ gia?
Dịch thơ
Ngắm Trăng Rằm Gửi Quan Lang Trung Họ Đỗ
Trong sân đất trắng quạ trên cây
Hoa quế âm thầm hứng sương mai
Trăng sáng đêm nay ai cũng ngắm
Ý thu chẳng biết ngụ nhà ai?
Lời bànĐọc chầm chậm và liên tục cả 4 câu mới thấy lối cấu trúc âm thanh của bài thơ tuyệt vờiCâu 1:Trong sân đất trắng (trời lạnh, sương đọng, trăng sáng làm cho mặt đất có màu trắng của sương mù). Quạ đậu trên cây (Có lẽ quạ đang ngủ vì không thấy kêu. Qụa vốn đa ngoa, hễ đậu là kêu inh ỏi).Câu 2:Sương lạnh âm thầm (sương rơi từ từ, thâu đêm) làm ướt đẫm hoa quế.Câu 3:Đêm rằm mọi người (chỉ thiếu bạn) đều ra ngắm trăng (cái ý nhớ bạn khơi ra từ câu này).Câu 4:Chẳng biết ý thu trụ ở nhà ai đây? Nói chẳng biết mà kỳ thực đã biết rồi, (chẳng biết = đã biết). Ý thu ở nhà ai đây? (ở nhà bạn ta chứ còn nhà ai nữa!)Hai câu 3 và 4 phối hợp với nhau, biến phủ định thành khẳng định (chẳng biết, đã biết), biến mơ hồ thành rõ ràng (tại nhà ai đây? nhà bạn chứ còn nhà ai nữa), biến mọi người thành một người (mọi người ra ngắm mà thiếu bạn), không nói tới nhớ bạn mà nhớ nhiều, không nói tới tri âm mà rất tâm đồng (bạn
Con Cò
***
Góp ý của Hoàng Xuân Thảo:
Trung đình: sân trong/trong sân? Nhà ngày xưa thường có sân trước/tiền đình và sân trong/sân giữa/trung đình. Nhà tôi trước 1945 cũng xây cất như vậy. Đất trắng chắc là vì sương.
Bài này có hai dải, dải đầu gồm hai câu nói sương rơi trắng cả đất nhưng chỉ có hoa quế âm thầm đón sương thôi; dải hai gồm hai câu sau nói trăng chiếu khắp thiên hạ nhưng chỉ có một người âm thầm đón ý thu thôi. Tôi chia ra hai dải là bắt chước Kim ThánhThán và Trần Trọng Kim đấy. Hai bậc tiền bối này thường phân tích bài thơ kiểu như vậy.
***
Ngắm Trăng Rằm Gởi Đỗ Lang Trung.
Trong sân đất trắng quạ cây nương,
Hoa quế âm thầm lạnh thấm sương.
Trăng sáng đêm nay bao kẻ ngắm,
Nhà ai nào biết ý thu vương?
Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Sept. 21/2026.
***
Ngắm Trăng Rằm Gởi Đỗ Lang Trung
Sân trong thềm trắng quạ nương cây
Móc lạnh lặng thinh đọng quế dầy
Trăng sáng đêm nay người thảy ngắm
Chẳng hay thu ý lạc nhà ai?
Song thất lục bát:
Quạ trên cây sân trong thềm trắng
Ướt quế hoa lạnh vắng móc rơi
Đêm nay thảy ngắm trăng soi
Chẳng hay thu ý lạc loài nhà ai?
Lộc Bắc
Sep26
***
Ngắm Trăng Rằm Trung Thu
Cây quạ đậu giữa sân ánh trắng
Hoa quế dầm sương lạnh giăng rơi
Đêm rằm người ngóng trăng soi
Ý thu biết đọng ở nơi chốn nào.
Kim Oanh
***
Đêm rằm ngắm trăng
Sân trong đất trắng quạ trên cành
Sương lạnh âm thầm ướt quế nhanh
Trăng sáng đêm rằm ai cũng ngắm
Ý thu vằng vặc rớt nhà tranh?
Thanh Vân
***
Anh Giám thì nêu nhiều thắc mắc, vì không biết Đỗ Lang Trung là ai. BS thì thấy Đỗ là ai không quan trọng, tất nhiên ông ấy là bạn của Vương Kiến, Vương ngắm trăng rằm mà nhớ bạn.
Lời bàn của anh Hoàng Ngọc Khôi rất hợp lý, TRUNG ĐÌNH là SÂN TRONG, không phải trong sân, Tiền Đình là sân trước.
ĐỊA BẠCH thì BS thấy hơi lấn cấn:
- Anh Bảo cho rằng: trăng sáng làm cho mặt đất có mầu trắng của sương mù. Sương mù trắng khi chưa rơi xuống đất, tới đất thì đọng thành nước, không trắng nữa, chỉ có tuyết xuống đất, chưa tan mới trắng thôi.
- Anh Khôi thì “ đất trắng chắc vì sương “ BS thì nghĩ, mặt đất ướt vì sương tan, phản chiếu ánh trăng nên có mầu trắng.
Cái này là bàn chơi thôi, đâu biết tác giả nghĩ sao.
Hai câu đầu tả cảnh nơi tác giả ở, hai câu sau tỏ ý nhớ bạn, nghĩ rằng lòng bạn đầy ý thu khi ngắm trăng thu.
Lời bàn của anh Hoàng Ngọc Khôi rất hợp lý, TRUNG ĐÌNH là SÂN TRONG, không phải trong sân, Tiền Đình là sân trước.
ĐỊA BẠCH thì BS thấy hơi lấn cấn:
- Anh Bảo cho rằng: trăng sáng làm cho mặt đất có mầu trắng của sương mù. Sương mù trắng khi chưa rơi xuống đất, tới đất thì đọng thành nước, không trắng nữa, chỉ có tuyết xuống đất, chưa tan mới trắng thôi.
- Anh Khôi thì “ đất trắng chắc vì sương “ BS thì nghĩ, mặt đất ướt vì sương tan, phản chiếu ánh trăng nên có mầu trắng.
Cái này là bàn chơi thôi, đâu biết tác giả nghĩ sao.
Hai câu đầu tả cảnh nơi tác giả ở, hai câu sau tỏ ý nhớ bạn, nghĩ rằng lòng bạn đầy ý thu khi ngắm trăng thu.
Ngày Rằm Ngắm Trăng Gửi Lang Trung Họ Đỗ
Sân trong, đất trắng, quạ đậu cây,Hoa quế ướt vì sương lạnh bay,Đêm nay trăng sáng, người ngắm mãi,Ý thu nào biết rớt nhà ai.Bát Sách.
(Ngày 19/09/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm:
十五夜望月-王建 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt - Vương Kiến
Sân trong, đất trắng, quạ đậu cây,
Hoa quế ướt vì sương lạnh bay,Bát Sách.
(Ngày 19/09/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm:
十五夜望月-王建 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt - Vương Kiến
十五夜望月-王建 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt - Vương Kiến
中庭地白樹棲鴉 Trung đình địa bạch thụ tê nha
冷露無聲濕桂花 Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa
今夜月明人盡望 Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng
不知秋思在誰家 Bất tri thu tứ tại thùy gia

Các sách bên dưới có đăng bài thơ:
Vương Tư Mã Tập - Đường - Vương Kiến 王司馬集-唐-王建
Ngự Tuyển Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御選唐詩-清-聖祖玄燁
Nguyên tác bên trên được chép từ sách của Vương Kiến. Riêng sách Ngự Định Toàn Đường Thi 御定全唐詩 có tựa bài thơ là Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung 十五夜望月寄杜郎中 và cho dị bản ở câu 4 là: lạc落=rơi thay vì tại在=ở.
Giải nghĩa chữ khó:
Thập ngũ dạ: đêm 15 của tháng, ngày rằm; ở đây là rằm tháng 8 Trung Thu
Đỗ lang trung: Đỗ Nguyên Dĩnh 杜元颖 (773 – 833), một đại thần thời Trung Đường, từng giữ chức Tể tướng dưới triều vua Đường Mục Tông, bạn thân thiết của nhà thơ.
Lang trung: đây không phải là thầy thuốc Đông y, một cách gọi dân gian về sau này, mà là một chức quan triều đình. Trong hệ thống quan chế nhà Đường, là người đứng đầu một Ty thuộc Lục bộ (Hộ bộ, Lễ bộ, Binh bộ, Hình bộ...)
Trung đình: khoảng sân ở giữa nhà hoặc giữa vườn, sân trong, phần trung tâm của một ngôi đền
Địa bạch: mặt đất trắng xóa. Ở đây chỉ mặt đất ngập tràn ánh trăng rằm sáng trong như phủ sương, phủ tuyết; một loài chim bồ câu lớn, chúng chỉ đi bộ trên mặt đất chứ không bay lượn trên không trung nên mới có tên gọi như vậy, được nuôi để diệt trừ mối.
Thụ tê nha: quạ đậu trên cây. Con quạ vốn nhạy cảm với ánh sáng, khi trăng quá sáng ngỡ là trời rạng đông nên xao xác tìm nơi đậu.
Lãnh lộ: giọt sương lạnh lẽo của đêm thu.
Quế hoa: hoa quế (tên khoa học: Osmanthus fragrans), còn được gọi là Bạch Quế, Lan Quế. Hoa quế ở đây vừa chỉ những bông hoa quế nở rộ tỏa hương trong sân vào mùa thu, vừa mang tính ước lệ chỉ cây quế trong cung trăng (theo truyền thuyết Hằng Nga).
Nhân tận vọng: mọi người (ai ai) cũng đều ngẩng đầu ngắm nhìn.
Thu tứ: nỗi lòng, tâm tư hoặc nỗi hoài niệm, sầu muộn trong mùa thu, những cảm nghĩ cô đơn ảm đạm (thường là nỗi nhớ nhà, nhớ người thân).
Thùy gia: nhà ai khác, người nào khác; thi nhân đang xa nhà, nhớ quê hương, gia đình, bạn bè khi ngắm trăng rằm, nên truyền đạt cảm nghĩ của mình một cách dè dặt và tế nhị
Dịch nghĩa bài thơ:
Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung
Đêm Rằm Ngắm Trăng Gửi Quan Lang Trung Họ Đỗ
Trung đình địa bạch thụ tê nha Trong sân đất sáng trắng, quạ đậu trên cây,
Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa Sương lạnh lặng lẽ làm ướt đẫm hoa quế
Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng Đêm nay trăng sáng ai ai cũng ra ngắm
Bất tri thu tứ tại (lạc) thùy gia. Chẳng biết ý thu rơi vào nhà ai đây?
(Câu 4 có thể hiểu rằng: Đêm rằm Trung Thu trăng sáng đẹp, biết có ai thấy hứng thú để làm thơ chăng?)
Bình luận:
Vào đêm rằm Trung thu, trong khi Vương Kiến đang tụ họp cùng một số bạn bè, ông nhìn vầng trăng sáng, chạnh lòng nghĩ đến thân phận phiêu bạt của mình và nhớ đến người bạn Đỗ Nguyên Dĩnh đang ở một nơi xa xôi. Bài thơ vừa là một món quà tinh thần gửi tặng bạn, vừa là tiếng lòng sẻ chia nỗi cô đơn và hoài niệm giữa hai tâm hồn đồng điệu trong đêm Tết Trung thu.
Bài thơ của Vương Kiến là một kiệt tác của thơ ca thời Đường, nổi tiếng với hình ảnh gợi cảm và sự kìm nén cảm xúc sâu sắc. Hai câu đầu ghi lại một cách tinh tế bản chất thanh tao, se lạnh của đêm Trung thu. Cụm từ "địa bạch" (mặt đất sáng trắng) mô tả sinh động khoảng sân ngập tràn ánh trăng, trông như một lớp sương giá bao phủ. Sự im lặng tuyệt đối được nhấn mạnh bởi làn "sương lạnh không tiếng động" (lãnh lộ vô thanh), âm thầm làm trĩu nặng những bông hoa quế ngát hương.
Tết Trung thu theo truyền thống là thời gian để gia đình đoàn tựu. Bằng cách quan sát thấy "người người đều ngắm nhìn" cùng một vầng trăng, nhà thơ đã kết nối nỗi cô đơn của cá nhân ông với trải nghiệm chung của nhân loại. Đoạn kết tuyệt vời - hỏi xem "thu tứ" (ý thu/nỗi sầu mùa thu) đã rơi xuống nhà ai - chuyển trọng tâm từ cảnh vật khách quan sang niềm mong mỏi chủ quan. Cách viết này biến nỗi đau đau đáu nhớ nhà của cá nhân thành một nỗi buồn chung, đẹp đẽ của tất cả những người con viễn xứ dưới cùng một bầu trời.
Dịch thơ:
Thể thất ngôn:
Ngắm Trăng Rằm Trung Thu
Trăng sáng trong sân quạ đậu cao,
Sương đêm lạnh ướt hoa tươi màu.
Đêm nay trăm vạn người cùng ngắm,
Ai biết tình thu đọng chốn nào?
Thể lục bát:
Giữa sân mặt đất trắng ngà,
Trên cây quạ đậu, hoa đà ngậm sương.
Đêm nay trăng sáng bao la,
Thu sầu có ý viếng nhà ai đây?
Watching the Mid-Autumn Night Moon, Sent to Langzhong Du
by Wang Jian
The courtyard floor shines silver-white, crows roost upon the tree,
In silence falls the freezing dew, to drench the cassia sweet.
Tonight the moon is full and bright, all watch its brilliant gleam - free.
Yet none can tell on whose house the autumn spirit will meet.
Literal Translation:
The courtyard ground is white [with moonlight], and crows are roosting in the trees.
The cold dew falls silently, soaking the cassia blossoms.
Tonight the moon is bright, and all people look up to gaze at it.
One does not know into whose home the autumn thoughts have fallen.
Commentary:
This masterpiece beautifully captures the essence of the Mid-Autumn night through a delicate blend of imagery: the silver moonlight, the restless crows, and the dew-drenched cassia flowers. While the moonlight shines universally upon everyone, the poignant ache of autumn nostalgia is deeply personal. By ending with a subtle, open-ended question, Wang Jian transforms a shared celestial view into an intimate reflection on loneliness and homesickness during a time of reunion and celebration (Mid-Autumn Festival).
Phí Minh Tâm
***
@ý kiến của Huỳnh Kim Giám
Có thể như anh Tâm nói rằng người ta thêm 寄杜郎中 về sau nhưng các chức của Đỗ Nguyên Đĩnh cao hơn tứ phầm gồm: ty huân viên ngoại lang (司勳員外郎), trung thư xá nhân (中書舍人), Hộ bộ thị lang (戶部侍郎), thừa chí (承旨), đồng trung thư môn hạ bình chương sự (同中書門下平章事), và tể tướng (宰相). Hai trang zh. và us.Wikipedia không nói đến chức lang trung, và vì Đỗ Nguyên Đĩnh đã giữ chức tể tướng từ năm 821 , không lẽ Vương Kiến lại dùng chức lang trung để gọi bạn? Lang trung là một chức dưới thị lang. g.
@Phí Minh Tâm trả lời:
Theo trang Bách Khoa Bách Độ, Đỗ Nguyên Dĩnh 杜元颖 (769 – 833), từng giữ chức Tể tướng dưới triều vua Đường Mục Tông khoảng năm 821-823. Pmt
@ ý kiến của Huỳnh Kim Gián:
Hai trang Wikipedia chữ Anh và Hán cũng nói (từ nguồn Cựu Đường Thư) Đỗ Nguyên Dĩnh giữ chức tể tướng từ năm 821 và nếu cần tin thì tôi vẫn tin Wikipedia hơn là Baidu- 百度 vì nhiều khi Bách Độ không cung cấp nguồn. Điều tôi muốn nói là không nơi nào nói Đỗ Nguyên Đĩnh từng giữ chức trung lang.
Có lẽ vì thế mà AI nói không ai biết 杜郎中, Đỗ lang trung là ai. Nếu AI không tìm ra dữ kiện thì tôi cũng thua.
@ ý kiến của Phí Minh Tâm:
Đọc bài thơ với cái tựa dài 9 chữ thì biết ngay là phiên bản NĐTĐT của nhà Thanh. Nguyên tác của Vương Kiến có tựa là Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt 十五夜望月. Ngoài ra Vương Kiến xài chữ 在tại=ở trong câu 4 thay vì 落lạc=rơi. Chớ lấy râu ông này cắm càm bà nọ. Pmt
@ ý kiến của Lộc Bắc
Nhờ Gemini tìm tựa bài 9 chữ thì thấy được clip này :Góp ý của mirordor:
Bài tứ tuyệt này của Vương Kiến khó hiểu một phần vì không ai biết lang trung họ Đỗ là ai nên không ai biết thi nhân muốn nhắn, hỏi ai và nói về chuyện gì. Bài thơ cũng khó hiểu một phần vì ngữ cảnh làm bối cảnh mơ hồ; thi nhân đang đứng trong sân nhà ai đó hay đang tả mặt trăng?
中庭地白樹棲鴉 trung đình địa bạch thụ tê nha
Đất ít khi có màu trắng và từ địa không hẳn phải có nghĩa là "đất" mà còn có nghĩa nền, sàn, v.v... và địa bạch ở đây có thể chỉ mặt trăng. Vì quạ có toàn bộ lông màu đen, người Tàu phương nam tin rằng 鴉=nha/quạ báo điềm bất tường trong khi ở phương bắc quạ lại là biểu tượng cho chữ hiếu..
冷露無聲濕桂花 lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa
桂花=quế hoa là cây mộc với hoa dùng để ướp trà của người Việt, và quế hoa cũng là cây mà người Tàu thấy trên mặt trăng trong huyền thoại Ngô Cương (吴刚). Có nhiều huyền thoại về Ngô Cương - hình như là nhân vật trong một tiểu thuyết nhưng Ngô Cương là người bị phạt phải đốn cây quế trên cung trăng và cây này liên tục mọc trở lại sau khi bị đốn nên họ Ngô vĩnh viễn làm chuyện vô vọng, tương đương với huyền thoại Sysiphus của tây phương.
今夜月明人盡望 kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng
Từ 望=vọng có nhiều nghĩa: hướng về, nhìn xa, ước, bái phỏng, oán trách có thể dùng cho câu ba và không có cách gì đoán thi nhân muốn dùng nghĩa nào, một phần vì từ 盡=tận chỉ có thể là một trạng từ bổ nghĩa cho vọng nhưng các nghĩa tất cả, hết hay quá sức không cho nghĩa nào rõ ràng cho câu thơ!
不知秋思落誰家 bất tri thu tứ lạc thùy gia
思=tứ là tâm tình hay ý niệm. Vì tựa đề bài thơ bảo là để gửi cho một nhân vật họ Đỗ nào đó, người đọc có thể hiểu là thi nhân họ Vương đang phân vân không biết Đỗ lang trung đang nghĩ hay vọng/mơ ước gì. Lang trung thời Đường là một chức ngũ phẩm trong triều lo việc hành chánh cho một bộ nào đó. Phải chăng thi nhân hàm ý rằng Đỗ mong được thăng quan tiến chức nhưng đang gặp điều bất tường?
Huỳnh Kim Giám
Peace and Joy. Happiness - An Bình Và Niềm Vui.Tức Hạnh Phúc - (An Vui)
Ai cũng muốn có an bình và niềm vui, peace and joy, tức hạnh phúc.
Nhưng hầu hết đều đi tìm an bình và niềm vui, tức hạnh phúc bằng cách nương tựa vào thế giới bên ngoài tâm.
Rồi họ không thể không thấy rằng mọi thứ bên ngoài tâm đều không ổn định, luôn biến đổi, vì thế họ luôn sống trong bất an lo lắng.
Một điều hầu hết ai cũng cảm nhận được dễ dàng vì nó quá rõ ràng và trực tiếp, đó là:
- khoái lạc giác quan thể chất mang lại cho họ khoái cảm và niềm vui, làm cho họ vui sướng, cảm thấy hạnh phúc
- khi dược khen, được yêu, được ngưỡng phục thì họ vui sướng, có thể còn vui sướng, hạnh phúc hơn cả khoái lạc thể chất.
Vì thế họ khao khát đuọc hưởng lạc càng nhiều càng tốt, khao khát được yêu, được khen, được ngưỡng phục, hâm mộ càng nhiều càng tốt.
Họ nghĩ rằng tiền bạc, chức vị, danh vọng có thể bảo đảm sự an tâm, an bình, niềm vui và hạnh phúc vững bền.
Họ không thấy rằng những thứ đó không thể giúp họ tránh khỏi khổ tâm do sinh lão bệnh tử, khổ tâm do ái biệt ly, cầu bất đắc, oán tăng hội.
Cuộc sống của họ trải qua sự thăng trầm không thể tránh khỏi: an bình và niềm vui, tức hạnh phúc tạm bợ luôn luôn được nối tiếp bởi đau khổ.
Và, đây chính là cái khổ luôn luôn hiện diện trong tâm họ, dù khi ẩn khi hiện : đó là bất an lo lắng. Họ thực sụ không bao giờ có hạnh phúc. Làm sao có thể gọi là hạnh phúc thật sự khi tâm luôn luôn bất an, lo lắng!?
Họ không thấu hiểu được:
- Vô Thường Tùy Duyên
- Vô Ngã: tuyệt đối không có một cái Tôi nào cả. Cái Tôi chỉ là một ảo tưởng.
- Khổ, 4 Sự Thật về Khổ, tức Tứ Diệu Đế.
Chỉ khi nào họ đã trải qua những đau khổ, cảm nhận thấm thía cái khổ do Tham Ái và Ngã Mạn, dẫn tới Khao Khát khoái lạc thể chất và khoái lạc cho cái Ngã ảo tưởng, thì họ mới thấy được, hiểu ra rằng chính Tham Ái và Ngã Mạn là nguồn gốc của khổ đau, và buông bỏ Tham Ái và Ngã Mạn thì họ mới có thể có An Vui Chân Thật Sự, tức Hạnh Phúc Chân Thật.
An Bình và Niềm Vui, tức Hạnh Phúc chân thật chỉ có thể dựa trên những yếu tố bên trong tâm:
Đó là Trí Tuệ và Từ Bi, sinh khởi từ Trí Tuệ.
Để có và DUY TRÌ Trí Tuệ thì phải duy tri Chánh Niệm nhờ vào Chánh Tinh Tấn, Chánh Định.
Buông bỏ Tham Ái, Khao Khát khoái lạc giác quan và khoái lạc cho cái Ngã ảo tưởng và từ đó thực hiện Từ Bi là cách duy nhất để Dứt Khổ và có An Vui.
Nhưng phải hiểu rõ và nhớ rằng cần buông bỏ tham ái, attachment, lobha, và khao khát khoái lạc giác quan, chứ không phải buông bỏ khoái lạc giác quan vì cảm thọ giác quan là cái không thể tránh khỏi.
Còn khoái lạc cho cái Ngã là cái khoái lạc ảo tưởng, sinh khởi từ ảo tưởng về Ngã, đó là cái khoái lạc ảo tưởng của người bị bệnh hoang tưởng, psychosis, delusional psychosis của bệnh tâm thần phân liệt, schizophrenia
Với một cư sĩ tại gia thì Chánh Mạng là cách duy nhất thực hiện An Vui, tức Hạnh Phúc Chân Thật cho chính bản thân và đồng thời góp phần giúp người khác tránh khổ và có An Vui, Hạnh Phúc chân thật.
Phật nói:
Tôi không khuyên bạn bất cứ điều gì.
Tôi chỉ nói lên Sự Thật Nhân Quả.
Có A thì sẽ có B
Tham Ái thì sẽ Khổ Đau
Ngã Mạn thì Khổ Đau tột cùng
Buông bỏ Tham Ái và Ngã Mạn thì sẽ có An Vui, Hạnh Phúc chân thật.
Bạn có Tự Do tuyệt đối:
Tùy bạn quyết định chọn lựa.
An Vui
Nhớ Tết Trung Thu Và Chiếc Lồng Đèn Cá Chép
Tháng Tám về, trăng tròn trước ngõ. Mỗi khi nhìn lên vầng trăng ấy, tôi lại nhớ đến một mùa Trung Thu rất xa, một mùa Trung Thu mà đến tận bây giờ, dù đã đi qua bao nhiêu năm tháng, tôi vẫn không thể nào quên. Năm đó, ba vừa ra khỏi trại cải tạo.
Ngày ba trở về, cả nhà tôi vui lắm. Ba gầy đi nhiều, mái tóc đã pha vài sợi bạc. Những năm tháng trong trại đã để lại trên người ba nhiều dấu vết mà một đứa trẻ như tôi khi ấy chưa đủ hiểu để gọi tên. Tôi chỉ biết ba thường ngồi rất lâu ngoài hiên, đôi khi đưa tay xoa lên đầu, rồi nhìn xa xăm như đang nhớ về một nơi nào đó rất xa. Nhưng với tôi, điều quan trọng nhất là ba đã về.
Đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi được đón Trung Thu có ba ở nhà. Những năm trước, Trung Thu đối với lũ trẻ trong xóm là một ngày hội. Đứa nào cũng có lồng đèn. Đứa thì lồng đèn ngôi sao, đứa có lồng đèn bánh ú, đứa khá hơn thì có những chiếc lồng đèn mua ngoài chợ, đủ màu sắc. Còn tôi, nhà nghèo, chẳng có tiền mua lồng đèn.
Có năm, tôi dành dụm mãi mới mua được hai lon sữa bò đã uống hết ở quán cà phê dưới xóm. Tôi đem về, dùng đinh đục những hàng lỗ nhỏ chung quanh thân lon. Tôi lấy những thanh tre nhỏ nẹp lại làm bánh xe, rồi kiếm một miếng vải, nhúng dầu lửa và gắn vào bên trong lon làm đèn.
Mỗi khi đẩy đi, chiếc lon lăn, va vào nhau phát ra tiếng leng keng, leng keng. Ánh lửa nhỏ chập chờn trong lon, lúc sáng lúc tối theo từng bước chân. Tôi cứ vừa đẩy chiếc lồng đèn tự chế ấy, vừa chạy lon ton theo đám trẻ trong xóm, lòng vui như thể mình đang có một chiếc lồng đèn đẹp nhất.
Vậy mà Trung Thu năm ấy, tôi không còn phải chắt chiu từng đồng để mua lon sữa làm lồng đèn nữa. Vì năm ấy, ba đã trở về và tự tay làm cho chúng tôi một chiếc lồng đèn cá chép, chiếc lồng đèn lớn nhất và cũng là chiếc lồng đèn đẹp nhất trong ký ức tuổi thơ của tôi.
Ba tôi nói:
- Để ba làm cho mấy đứa một cái lồng đèn.
Tôi nhìn ba, bán tín bán nghi. Tôi chưa bao giờ thấy ba làm lồng đèn.
Vài tuần trước Trung Thu, ba sang nhà hàng xóm xin mấy cây tre. Người ta cho ba vài cây tre khô, ba vác về đặt trước sân rồi ngồi xuống, lấy rựa cẩn thận róc từng nhánh tre. Tôi ngồi bên cạnh, tò mò nhìn đôi bàn tay ba thoăn thoắt làm việc. Ba chẽ những thân tre thành từng thanh nhỏ, lựa những đoạn vừa dẻo vừa chắc rồi uốn cong thành những vòng tròn lớn nhỏ khác nhau. Ba dùng những sợi dây lạt buộc chặt từng mối nối, kiên nhẫn ghép vòng này với vòng kia. Một vòng. Rồi hai vòng. Rồi thêm nhiều vòng nữa.
Những vòng tre nối tiếp nhau, dần dần tạo thành một bộ khung kỳ lạ mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Tôi ngồi nhìn hồi lâu, càng nhìn càng thấy tò mò, không biết ba đang định làm thứ gì. Cuối cùng, không nhịn được, tôi ngước lên hỏi:
- Ba làm lồng đèn gì vậy?
Ba cười:
- Lồng đèn cá chép.
Tôi ngạc nhiên hơn bởi tôi chưa bao giờ thấy con cá nào được làm từ những vòng tròn như vậy.
Ba kiên nhẫn nối những vòng tròn lại với nhau. Dần dần, một bộ xương cá hiện ra trước mắt tôi. Có đầu cá, thân cá, rồi đến đuôi. Hai bên là những chiếc vây được uốn cong bằng tre. Tôi ngồi nhìn say mê.
Trong mắt tôi lúc đó, ba giống như một người thợ tài hoa nhất trên đời. Nhưng làm được bộ khung chỉ mới là một nửa câu chuyện.
Ba nhìn chiếc khung rồi nói:
- Giờ thiếu giấy.
Nhà tôi nghèo. Tiền mua gạo còn phải tính từng bữa, nói gì đến chuyện mua giấy màu làm lồng đèn. Ba định xin những bao xi măng cũ của những nhà đang xây cất trong xóm về lấy mặt giấy bên trong dán lên khung lồng đèn. Nhưng chờ mãi, cả xóm chẳng thấy nhà nào xây cất, trong khi ngày Trung Thu cứ mỗi lúc một gần. Một buổi chiều, khi ba đang ngồi bên bộ khung cá chép còn trơ những vòng tre, ba nhìn tôi rồi nói:
- Con đi học về, thấy giấy nào người ta bỏ thì gom về cho ba.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Giấy gì cũng được hả ba?
Ba cười, giọng nhẹ tênh:
- Ừ, miễn là còn dán được.
Chỉ một câu nói đơn giản vậy thôi mà từ hôm đó, sau tiếng trống tan trường, tôi không còn vội chạy về nhà như mọi ngày. Tôi bắt đầu đi tìm giấy cho ba. Tôi đi từng lớp học, từng phòng học, len qua từng dãy bàn, rồi cúi xuống mở từng hộc bàn để tìm những thứ người khác đã bỏ quên. Những tờ giấy học trò nhàu nát, những trang vở xé dở, những bài kiểm tra cũ, những mảnh giấy chỉ còn một nửa, thậm chí cả những chiếc máy bay giấy bị vò nhàu sau những lần phóng ra cửa sổ... tôi đều nhặt. Có những tờ giấy còn một mặt trắng, tôi cẩn thận vuốt phẳng rồi xếp riêng. Có những tờ đã bị vò đến nhăn nhúm, tôi vẫn nhặt lên, dùng bàn tay nhỏ của mình miết đi miết lại cho bớt nhàu. Những chiếc máy bay giấy nằm dưới sân, tôi cũng nhặt về, tháo từng nếp gấp rồi đem theo. Trong mắt người khác, đó chỉ là những mảnh giấy vụn chẳng còn giá trị, nhưng trong mắt tôi lúc ấy, mỗi mảnh giấy đều quý giá, bởi tôi biết chúng sẽ trở thành một phần của chiếc lồng đèn cá chép mà ba đang ngày đêm làm cho anh em tôi.
Có những hôm tôi phải ở lại sau giờ học để chờ đến lúc các bạn làm vệ sinh lớp. Khi tiếng trống báo hết tiết vang lên, lũ trẻ ùa ra sân, còn tôi lại lặng lẽ ở lại phía sau. Tôi đi dọc theo từng hàng bàn, cúi xuống nhặt những mảnh giấy nằm dưới chân ghế, trong góc lớp, sau cánh cửa hay mắc lại đâu đó trong những chiếc hộc bàn. Có hôm, tôi đi hết phòng này sang phòng khác, tay ôm một xấp giấy nhàu nát mà lòng vui không tả được. Tôi cứ tưởng tượng đến lúc mang chúng về, ba sẽ lấy từng tờ ra lựa chọn, vuốt phẳng rồi dán lên thân con cá chép. Tôi nghĩ đến ngày Trung Thu, khi chiếc lồng đèn hoàn thành, tôi sẽ được đứng bên ba nhìn nó sáng lên giữa sân nhà.
Một hôm, cô giáo đi ngang qua thấy tôi đang lúi húi nhặt giấy dưới một dãy bàn. Cô dừng lại hỏi:
- Con tìm gì vậy?
Tôi giựt nảy mình, rồi ngẩng đầu lên nhìn cô giáo. Hai tay vẫn đang ôm một xấp giấy vụn, rồi thật thà trả lời:
- Dạ con đi lượm giấy đem về cho ba làm lồng đèn Trung Thu.
Cô nhìn tôi một lúc, rồi nhìn xuống những mảnh giấy trong tay tôi. Cô mỉm cười, không hỏi thêm gì, chỉ nhẹ nhàng nói:
- Vậy con cứ nhặt đi.
Từ hôm đó, tôi càng chăm chỉ đi lượm giấy hơn. Tôi không còn thấy những mảnh giấy nằm dưới gầm bàn là rác nữa. Tôi thấy trong đó có hình dáng của một con cá chép đang chờ được hoàn thành, có ánh sáng của đêm Trung Thu đang đến gần, và có cả niềm vui của một đứa trẻ lần đầu tiên được đón Tết Trung Thu bên người cha vừa trở về sau những năm tháng xa nhà.
Mỗi buổi chiều, tôi lại ôm túi giấy vụn chạy về nhà, lòng háo hức chờ ba đi rẫy trở về. Vừa thấy bóng ba thấp thoáng ngoài con đường đất, tôi đã chạy ào ra, đặt xấp giấy mình nhặt được suốt cả ngày trước mặt ba rồi hí hửng khoe:
- Ba ơi, hôm nay con lượm được nhiều lắm!
Ba ngồi xuống bên hiên, đón lấy xấp giấy từ tay tôi, chậm rãi mở ra và lựa từng tờ. Tờ nào còn nguyên, ba vuốt phẳng. Tờ nào nhàu quá, ba kiên nhẫn dùng bàn tay chai sạn miết đi miết lại. Những mảnh giấy nhỏ, rách hoặc không còn nguyên vẹn, ba cũng không bỏ. Ba chưa bao giờ chê chúng quá cũ, quá nhàu hay quá rách. Ba chỉ lặng lẽ lựa từng mảnh, như thể mỗi thứ tôi mang về đều là một món quà quý giá. Tôi ngồi bên cạnh, nhìn đôi bàn tay từng trải của ba nâng niu những mảnh giấy học trò, và trong tâm hồn non nớt của mình khi ấy, tôi chợt hiểu rằng những thứ người khác bỏ đi, qua bàn tay ba, vẫn có thể trở thành một điều gì đó thật đẹp.
Đến khi gom được đủ giấy, ba bắt đầu làm lồng đèn. Ba lấy bột quậy với nước rồi nấu sôi thành một thứ hồ dán đơn sơ, rồi mấy cha con tôi xúm xít bên nhau quanh bộ khung cá chép bằng những vòng tre. Ba phết từng lớp hồ lên mặt giấy, rồi nhẹ nhàng đặt lên khung. Tôi phụ ba giữ những góc giấy. Anh tôi chuyền từng mảnh giấy nhỏ. Không có giấy màu mới, cũng chẳng có keo dán tốt như những chiếc lồng đèn bán ngoài chợ, chúng tôi chỉ có những tờ giấy học trò đã qua tay người khác, những mảnh giấy nhàu nát tôi nhặt được sau giờ học và bộ khung tre ba đã kỳ công uốn từng vòng. Vậy mà dưới bàn tay ba, từng mảnh giấy cứ lần lượt nối vào nhau, miếng này chồng lên miếng kia, chỗ rách được che lại bằng một mảnh khác, chỗ trống được ba kiên nhẫn vá vào. Thân cá trống rỗng ngày nào dần dần có da có thịt, có đầu, có thân, có vây, có đuôi. Mỗi ngày nhìn nó lớn thêm một chút, tôi lại thấy trong lòng mình nôn nao một niềm vui khó tả. Tôi không chỉ chờ chiếc lồng đèn hoàn thành. Tôi chờ một mùa Trung Thu đầu tiên có ba bên cạnh.
Rồi Trung Thu cũng đến. Trước ngày rằm vài hôm, chiếc lồng đèn cá chép cuối cùng cũng hoàn thành. Ba treo nó giữa sân, tôi đứng bên cạnh nhìn mà ngỡ ngàng. Nó lớn hơn rất nhiều so với những chiếc lồng đèn mà tôi từng thấy, lớn đến mức tôi biết chắc mình không thể cầm nó đi rước đèn cùng đám trẻ trong xóm. Tôi ngước nhìn ba rồi hỏi:
- Ba, mình đem nó đi đâu?
Ba cười hiền:
- Không đem đi đâu hết. Treo trước sân cho tụi con chơi.
Ba lấy sợi dây buộc chiếc cá chép lên cao, ngay trước hiên nhà. Khi trời vừa sụp tối, ba thắp ngọn đèn bên trong. Một quầng sáng ấm áp từ bụng cá lan ra, xuyên qua những lớp giấy học trò chắp vá, làm hiện lên những đường nhăn, những vết gấp và cả những mảnh giấy tưởng chừng đã bị cuộc đời bỏ quên. Vậy mà dưới ánh đèn, tất cả bỗng trở nên lung linh. Đúng lúc ấy, một cơn gió từ ngoài đồng thổi qua. Chiếc đuôi cá khẽ ngoe nguẩy, hai chiếc vây rung rinh, cả thân cá chao nhẹ như đang bơi giữa một dòng sông ánh sáng. Tôi đứng nhìn không chớp mắt. Trong khoảnh khắc ấy, tôi có cảm giác ba đã không chỉ làm cho chúng tôi một chiếc lồng đèn, mà đã dùng đôi bàn tay của mình để làm nên cả một thế giới tuổi thơ.
Tiếng trẻ con ngoài đường mỗi lúc một gần. Một đứa nhìn thấy chiếc cá chép liền gọi to:
- Qua coi lồng đèn nhà thằng Chút kìa. Cái lồng đèn con cá bự tổ bố.
Rồi đứa này kéo đứa kia, chẳng bao lâu trước sân nhà tôi đã đầy những đứa trẻ trong xóm. Những chiếc lồng đèn ngôi sao, bánh ú đủ màu đang rước đèn ngang qua cũng lần lượt dừng lại. Đám trẻ đứng chen nhau dưới sân, ngước cổ nhìn con cá chép khổng lồ đang đung đưa trong gió. Chẳng đứa nào muốn đi tiếp. Có đứa trầm trồ, có đứa chạy vòng quanh, có đứa cứ đứng nhìn mãi chiếc đuôi cá đang phe phẩy như thật. Ánh trăng rằm từ trên cao rót xuống sân, hòa cùng ánh sáng từ những chiếc lồng đèn nhỏ trong tay bọn trẻ và ánh đèn vàng ấm áp trong bụng con cá. Đêm Trung Thu năm ấy, trước sân nhà tôi sáng rực như một khoảng trời riêng. Tôi đứng bên cạnh ba, lòng đầy tự hào. Ba không nói gì, chỉ đứng lặng lẽ nhìn chiếc lồng đèn do chính tay mình làm ra. Tôi quay sang nhìn ba và bắt gặp một nụ cười rất hiền trên gương mặt đã hằn nhiều dấu vết của những năm tháng xa nhà. Tôi không biết lúc ấy ba đang nghĩ gì, chỉ biết rằng nụ cười ấy đã ở lại trong ký ức tôi suốt cả cuộc đời.
Nhiều năm đã trôi qua. Nhưng mỗi khi tháng Tám trở về, mỗi khi nhìn thấy vầng trăng tròn treo trước ngõ, tôi lại nhớ đến những buổi chiều năm ấy. Tôi nhớ những hộc bàn mình từng cúi xuống tìm từng mảnh giấy, nhớ những giờ vệ sinh ở lại sau cùng để nhặt những thứ người khác bỏ đi, nhớ tiếng bước chân mình chạy trên con đường đất mỗi chiều để mang túi giấy về cho ba. Và hơn hết, tôi nhớ đôi bàn tay chai sạn của ba, đôi bàn tay đã nhặt nhạnh, uốn nắn, chắp vá và biến những thứ tưởng như chẳng còn giá trị thành một chiếc lồng đèn đẹp đẽ.
Ngày ấy, tôi chỉ nghĩ ba làm cho chúng tôi một chiếc lồng đèn để đón Trung Thu. Nhưng càng lớn, tôi càng hiểu rằng chiếc lồng đèn cá chép ấy chưa bao giờ chỉ là một món đồ chơi. Nó được làm từ những cây tre xin được, những mảnh giấy người ta bỏ đi, thứ hồ dán đơn sơ và đôi bàn tay đã trải qua quá nhiều nhọc nhằn của ba. Nó được kết lại bằng tình thương của một người cha vừa trở về với gia đình sau những năm tháng xa cách. Ba đã không có tiền để mua cho chúng tôi một chiếc lồng đèn đẹp như những đứa trẻ khác, nên ba đã dùng tất cả những gì mình có để tự tay làm một cái. Và có lẽ, chính vì được làm từ những điều nghèo khó nhất mà nó lại trở thành món quà giàu có nhất trong tuổi thơ tôi.
Bây giờ, tôi không còn nhớ những chiếc lồng đèn ngôi sao hay bánh ú năm ấy đẹp đến mức nào. Tôi cũng không nhớ chiếc lồng đèn cá chép đã có bao nhiêu mảnh giấy, bao nhiêu vòng tre hay được treo ở đó bao nhiêu mùa Trung Thu. Tôi chỉ nhớ hình ảnh con cá chép lắc lư trong gió dưới ánh trăng rằm, nhớ lũ trẻ đứng kín trước sân và nhớ ba đứng phía sau, lặng lẽ mỉm cười. Có những món quà rồi sẽ cũ, có những thứ rồi sẽ mất đi theo năm tháng, nhưng tình thương mà người ta gửi vào một món quà thì không bao giờ mất. Cái lồng đèn cá chép năm ấy được làm từ tre, giấy vụn và ánh sáng, nhưng bơi suốt một đời trong dòng sông ký ức của tôi.
Võ Phú
Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026
Ở Đây, Bạn Bè Ngồi Lại - Nhạc & Lời: Bình Phương - Hòa Âm & Trình Bày: SUNO(AI)
''Ở đây, bạn bè ngồi lại'' được viết năm 1977, năm bắt đầu có những ''biến mất'' bất ngờ trong bạn bè chúng tôi! Không chỉ là trong khuôn viên đại học. Mà là ở mọi từng lớp trong xã hội miền Nam. Trừ mấy cột đèn đường!
Và bạn bè còn lại chúng tôi, còn lại ''ở đây'', bắt đầu tổ chức những buổi ''họp mặt vòng tròn'', những ''đêm không ngủ'', nếu có dịp . Bởi vì không ai biết ''ngày sau sẽ ra sao?'. Bởi vì ai cũng biết sẽ một ngày ''mình ngồi, mình hát, mình nghe'' . ''Ở đây'' hay ở một nơi ''nghìn trùng xa cách''. Còn ai đâu nữa mà hát, mà nghe?!
1977-1978, chỉ 2 năm thôi nhưng, đối với tôi, đó là ''một thời để yêu và một thời để hát''. Hát cho nhau nghe, khi bạn bè ngồi lại.
Năm 1979, đến phiên tôi ''biến mất''!!!
Xin mời nghe
Tự Tình

Dưới ánh trăng khuya chẳng ghế ngồi
Chờ đợi lâu rồi người mộmg vắng
Chỉ nghe từng khắc giọt sương rơi
Thôi thì tự rót rồi bưng cạn
Chả lẽ mời trăng xuống uống chơi
Thuở trước Tiền nhân từng độc ẩm
Còn mình chờ đến mỏi hai đùi.
Còn mình chờ đến mỏi hai đùi.
Mặc kệ bây giờ cứ nếm môiRượu bạn rượu bè ai uống cạn
Chén qua chén bậu có mình thôi
Trăng tàn dần ngã đoài xa thẳm Hai đứa chia ly chuyện đã rồi
Để những đêm về trong vắng lặng
Một mình một bóng lấy ai mời
Một mình một bóng lấy ai mời
Thử hỏi sao sầu mãi chẳng vơi
Bởi nước xuôi đông là vạn thuở
Nên qua nhớ bậu lẽ muôn đời
Uống đi cho mảnh tình thêm đắm
Để thấy nơi lòng lệ vẫn rơi
Đêm đã dần tan còn thổn thức
Đêm đã dần tan còn thổn thức
Luyến lưu chi dĩ vãng xa vời.
Luyến lưu chi dĩ vãng xa vời
Nhưng cuộc tình nào phải cuộc chơi
Có rức có ray đành cố chịu
Từng thương từng nhớ mới theo vời
Em hoa hàm tiếu như khiêu gợi
Anh bướm đa tình đâu để rơi
Những chuyện yêu đương thường khó trọn
Đôi ta ly cách chẳng nên lời.
Có rức có ray đành cố chịu
Từng thương từng nhớ mới theo vời
Em hoa hàm tiếu như khiêu gợi
Anh bướm đa tình đâu để rơi
Những chuyện yêu đương thường khó trọn
Đôi ta ly cách chẳng nên lời.
Đôi ta ly cách chẳng nên lời.
Thế sự xoay dần phá ghẹo chơi
Áo thắm Bậu mang sang bến khác
Lệ cay Qua xót đọc thư mời
Đêm về thao thức nhìn trăng lặn
Rượu uống say mèm tái cả môi
Tình hận men nồng đâu thể xoá
Tình hận men nồng đâu thể xoá
Nên giờ còn nhớ kẻ chân trời.
Quên Đi
(Bài Họa)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)







