Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2026

Tìm Bóng Hình Xưa - Thơ: Minh Giang - Nhạc: Nguyễn Tuấn - Hòa âm: Quang Đạt - Ca Sĩ: Duyên Quỳnh

Thơ: Minh Giang
Nhạc: Nguyễn Tuấn
Hòa âm: Quang Đạt
Ca Sĩ: Duyên Quỳnh

Mùa Phượng Cũ - Bùi Giáng

 

Thiệt thòi đời mộng phiêu linh
Cành sương ngọc thụ tồn sinh cát lầm
Giấc quay quả lạnh anh trâm
Bóng du sung rớt bến trầm luân sâu
Hoài mong hiu hắt nhịp cầu
Mà hương quan vắng xa màu mây trôi

Sim ngàn sổ lá buông rơi
Cành Nam ước nguyện sai lời tử sinh
Gió sương từ tạ biên đình
Bóng sa hồ khép chặt tình mông lung
Rêu tần ngần tuyết in phong
Sóng phơi trường mộng từ trong giậy nguồn
Rập rờn đầu liễu xanh buông
Mùa trăng nước đẩy xô buồn đi xa
Trang hồng kim hải ra hoa
Trổ bông mùa phượng cũ đà hồ phai
Tơi bời ngọc trắng măng mai
Khuynh thành sắc nọ đưa vai nghiêng về

Bùi Giáng


Chiều Mưa Mexico

 

(Tặng Đỗ Dung, anh Thọ)

Anh che cho em chiếc dù tình,
Chiếc dù màu đỏ trắng xinh xinh,
Mùa Hè bất chợt mưa lất phất,
Lạc giữa phố chiều em và anh.
Ai vội, nhưng mình bước chậm thôi,
Mưa êm như khúc nhạc không lời,
Coi chừng đường ướt làm trơn ngã,
Chiều mưa Mexico chơi vơi.
Hai người đi giữa hàng cây xanh,
Cỏ cũng xanh. Chân em ngại ngần,
Dẫm trên cỏ hai bàn chân ướt,
Đi bên anh em đã ấm lòng.
Cây bàng xòe tán tròn trên cao,
Chẳng đủ che mưa cho mình đâu,
Không phải mùa Thu mà lá đỏ,
Không phải tháng Bảy mà mưa Ngâu.
Phượng vỹ mùa hè đỏ ngập trời,
Rực rỡ trong mưa hoa Phượng rơi,
Chợt nhớ cánh hoa xưa trong gió,
Bay về đâu tuổi học trò ơi.
Lang thang đi qua những con đường,
Có hàng dừa cao lá rủ nghiêng,
Mưa từng sợi trắng, mưa lâu quá,
Chiếc dù che một khoảng trời riêng.
Trời cứ mưa, trời Mexico,
Lãng mạn hai người đi trong mưa,
Em nép vào gần anh chút nữa,
Anh ơi, phút giây này là thơ.
Ngày mai trời sẽ lại nắng lên,
Mùa hè Mexico, Cancun,
Biển xanh sóng vỗ đang mời gọi,
Chiều mưa hôm qua không thể quên.

Nguyễn Thị Thanh Dương
( June, 25, 2011)

L’arbre Qui Voulait Rester Nu(Antoine Lang) - Chảng Cây Chỉ Muôn Trụi Cành Lá(Thái Lan dich)


L’arbre Qui Voulait Rester Nu - Antoine Lang


« Il était une fois un arbre.
Au beau milieu d’un verger, il était sorti de terre, petite pousse verte et fragile se confondant avec les herbes alentours. Curieux de tout, il regarda bien vite le monde qui l’entourait, les fleurs qui s’ouvraient le matin et se refermaient le soir, les oiseaux qui sifflaient en sautant de branche en branche, le paysan qui venait tôt le matin cueillir les fruits des arbres, les graminées qui ondulaient sous la caresse des vents…

Ah!, il le trouvait beau ce monde autour de lui, il avait envie lui aussi de participer à cette beauté, de trouver sa place dans cette harmonie.

Une année s’écoula et, ayant grandi, il était devenu un petit rameau portant quelques tiges. Il se rendit compte qu’il n’était pas un brin d’herbe comme il l’avait crû tout d’abord, mais un arbre et se mit à observer plus attentivement ses aînés.

Il les trouvait si grands, si beaux recouverts de leurs feuilles et de leurs fleurs; il fût si émerveillé de voir toutes ces fleurs se transformer en fruits, il fût si attendri des soins attentifs que leur apportait le paysan, mais…

Mais, se regardant, il s’aperçut que son écorce ne ressemblait à aucune de celles qui les habillait, que ses branches n’avaient pas la même forme que les leurs. Alors, il eût peur, peur de n’être pas assez grand, peur de n’être pas assez beau, peur de ne pas porter assez de fruits, il eût peur que les autres, pommiers, poiriers, mirabelliers… n’acceptent pas sa différence et il décida de ne produire ni feuille, ni fleur, ni fruit.

C’est ainsi que les années passèrent, à chaque printemps, son tronc s’épaississait, s’allongeait, de nouvelles branches poussaient, mais… ni feuille, ni fleur, ni fruit.

Pour ne pas se trouver nu face aux autres, il s’était depuis son jeune âge laissé peu à peu recouvrir par un lierre grimpant, par des liserons et par des bouquets de gui : ne sachant à quoi il pourrait ressembler, il se couvrait d’une beauté qui n’était pas la sienne.

Le jardinier plus d’une fois projeta de le couper pour en faire du bois de chauffage, mais trop occupé par ailleurs, il remit chaque fois cette tâche à plus tard. Un matin pourtant il vint, armé d’une grande hache et commença par couper le lierre qui enserrait l’arbre. Du lierre, il y en avait tellement que cela lui prit toute la journée et qu’une fois de plus, il remit l’abattage à plus tard. Cette nuit là, un petit ver parasite piqua le liseron qui en mourut aussitôt et le lendemain, les oiseaux du ciel apercevant le gui vinrent le picorer.

Il ne restait plus de l’arbre au milieu du verger qu’un tronc et des branches : il ne restait plus que l’arbre au milieu du verger.

S’apercevant soudain de sa nudité et ne sachant par quel artifice la couvrir, il se décida enfin à laisser pousser tout au long de ses branches de belles petites feuilles d’un vert tendre, à laisser éclore au bout de chaque rameau de mignonnes petites fleurs blanches contrastant joliment avec le brun de la ramure et le vert du feuillage

Le paysan sur ces entrefaites revint avec sa hache et découvrant à la place du tronc inutile un magnifique cerisier, ne trouva plus aucune raison de le couper. Il le laissa donc, trop heureux du miracle qui s’était produit.

Depuis ce jour, l’arbre vit heureux au milieu du verger, il n’est pas comme les autres, ni plus beau, ni plus grand, mais tout aussi utile. Il a compris que ni la texture de l’écorce, ni le tracé des branches, ni la forme des feuilles, ni la couleur des fleurs n’ont d’importance : seuls importent les fruits qu’il porte et que nul autre que lui ne peut porter.

Aussi, tous les ans, à la belle saison, les enfants du paysan viennent avec une échelle et, s’éparpillant dans sa ramure, se gavent de ses fruits et le réjouissent par leurs rires.

N’ayons pas peur des fruits que nous pourrions porter, car nul autre ne pourra les porter pour nous, mais chacun pourra s’en nourrir. N’ayons pas peur des fruits que nous pourrions porter.

Car chaque fois que nous les refuserons, il manquera quelque chose dans le monde; n’ayons pas peur des fruits que nous pourrions porter, car chacun d’eux permettra de faire grandir la Vie et l’Amour que Dieu nous a donnés. "

Quels sont nos lierres ? Quels sont nos fruits ? Quels sont nos hivers ? Quels sont nos printemps ?…
Et vous ? Avez-vous été touché par ce conte?

Antoine Lang
***
Dịch Bài:
Chảng Câ Chỉ Muôn Trụi Cành Lá

Thuở xa xưa ấy, có một chàng cây...
Nằm ngay giữa vườn cây ăn trái, một chồi non nhỏ xanh mướt, mảnh khảnh từ từ nhô lên khỏi mặt đất, và hòa quyện với thảm cỏ xung quanh. Háo hức tìm hiểu về mọi thứ, cậu nhanh chóng nhìn thế giới xung quanh, những cánh hoa nở bùng lên vào buổi sáng và buổi tối thì khép cánh lại, nghe tiếng chim hót líu lo khi nhảy từ cành này sang cành khác, nhìn người nông dân đến hái quả trên những cành cây từ sáng sớm. những hàng cây, những ngọn cỏ đung đưa dưới bàn tay ve vuốt của những cơn gió…

Oi! Cậu thấy thế giới xung quanh mình thật đẹp, cậu cũng muốn hòa mình vào vẻ đẹp này, muốn tìm thấy vị trí của mình trong sự hài hòa này.

Một năm trôi qua, anh đã lớn lên, từ chồi non anh đã trở thành một thân nhỏ có vài cành. Anh nhận ra rằng mình không phải là một ngọn cỏ như anh nghĩ lúc đầu nhưng là một cái cây và anh bắt đầu quan sát các bạn cây cành "nhiều tuổi" kỹ hơn.

Anh thấy chúng thật lớn, thật đẹp , toàn thân được lá và hoa bao phủ; anh ấy đã rất ngạc nhiên thán phục khi thấy tất cả những bông hoa lại biến thành quả, và rất cảm động trước sự chăm sóc chu đáo của người nông dân dành cho chúng, nhưng...Nhưng khi nhìn lại mình, anh nhận thấy rằng cái lớp vỏ sần sùi của mình chẳng giống như lớp vỏ bao bọc các bạn chung quanh, rằng cành của anh cũng không cùng hình dạng với cành lá của các bạn. Và thế là anh đâm ra lo sợ, sợ rằng không cao lớn như chúng bạn, rằng anh sẽ không xinh đẹp như chúng, rằng cây cành của anh sẽ không mang được nhiều quả như chúng, anh sợ rằng các anh bạn nào táo, nào lê, nào mận vàng ...sẽ không chấp nhận sự khác biệt này của anh , và thế là anh ta quyết định sẽ không sinh ra cành lá xum xuê, hoa xinh hoặc trái đẹp nào cả

Và rồi năm tháng cứ trôi qua như thế, và vào mỗi mùa xuân, thân cây dày lên, dài ra, cành mới mọc lên nhưng... không có cọng lá nào, chẳng có hoa, cũng không có quả.

Để tránh khỏi bị trơ trụi trước bạn bè đàn anh đàn chị, dần dần từ lúc mới lớn lên anh đã để cây thường xuân, cây bìm bìm và những bó tầm gửi bao phủ quanh thân mình: không biết mình sẽ giống như cây gì, nên anh tự để một nét đẹp không phải của mình che đậy quanh thân mình.

Người làm vườn đã nhiều lần định chặt Cái cây để làm củi, nhưng lại bận làm việc nơi khác nên cứ như vậy ông đều hoãn thực hành việc này.

Tuy nhiên, vào một buổi sáng, ông ấy đến, mang theo một chiếc rìu lớn và bắt đầu cắt cây thường xuân quấn chặt quanh cái cây. Có quá nhiều dây thường xuân quanh đó đến nỗi ông ấy phải mất cả ngày để chặt những nhánh dây leo và một lần nữa ông lại trì hoãn việc chặt hẳn cái cây và hẹn để hôm khác. Đêm hôm đó, một con sâu mọt nhỏ cắn vào cây bìm bìm, khiến dây này chết ngay và rồi hôm sau, đám chim bay ngang thấy cây tầm gửi liền đến mổ vào.Thế là giờ đây cái cây ở giữa vườn CHỈ CÒN LẠI là thân và cành: Ngay giữa vườn chi con lại mỗi Cái cây này.
Chợt nhận ra sự trơ trụi của mình và không biết thủ thuật nào để che đậy thân mình, cuối cùng anh quyết định để những chiếc lá nhỏ xinh màu xanh dịu mọc theo các cành, rồi để những chiếc cánh hoa nhỏ xinh màu trắng nở ra ở đầu mỗi cành- tương phản thật đẹp mắt với màu nâu của cành nhánh và màu xanh mát dịu của tán lá-

Lúc đó, người nông dân cầm rìu quay lại và phát hiện rằng thay vì đây là một thân cây vô dụng, giờ đây là một cây anh đào tuyệt đẹp, nên ông không còn lý đó gì để chặt nó nữa. Thế là ông chủ vườn để cái cây đẹp xinh hữu ích như thế, quá vui mừng vì sự mầu nhiệm đã xảy đến nơi đây.

Kể từ ngày đó, chàng cây sống hạnh phúc giữa vườn cây ăn quả, nó không giống những cây khác, không đẹp hơn, không cao hơn bọn chúng, nhưng mà vẫn hữu dụng. Giờ chàng đã hiểu rằng cấu trúc của vỏ cây, hoặc đường nét của cành, hình dạng của lá cũng như màu sắc của hoa, tất cả đều không quan trọng: chỉ có quả mà nó sinh ra mới quan trọng và không ai khác ngoài chính thân mình có thể mang hoặc sản xuất dùm.

Thế là hàng năm, vào mùa hè, con cháu của người nông dân mang theo một cái thang đến và chui vào các cành nhánh của nó, ăn ních bụng bao nhiêu là quả và khiến ông rất vui thích với những tiếng cười của chúng.

Ta không nên sợ những thành quả mà ta có thể mang, bởi vì không ai khác có thể sinh hoa trái cho ta, nhưng mọi người đều có thể sử dụng chúng. Ta không nên ngại những hoa trái mà chúng ta có thể sản sinh ra.

Bởi vì khi ta không muốn nhận chúng, trên thế giới sẽ thiếu vắng một món gì đó; ta đừng sợ những hoa trái mà ta có thể sản sinh ra, bởi vì mỗi hoa trái sẽ cho phép ta phát triển Sự Sống và Tình Yêu mà Thượng Đế đã ban cho chúng ta. »Cây thường xuân của chúng ta là cây gì? Hoa trái của chúng ta là hoa trái nào ? Mùa Đông của chúng ta thế nào? Mùa Xuân thì sao?…

Còn bạn ? Bạn cảm thấy thế nào khi đọc câu chuyện này?

 Thái Lan dich

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2026

Vietnamese Love Poem in Music - Stardust Serenade: Henri Le - Thơ Nhạc: Ánh Sao Đêm - Phổ Nhạc & Trình Bày:.Magnolia Cao Tran

Poem: Henri Le 
Phổ Nhạc & Trình Bày:.Magnolia Cao Tran

Quê Nhà



1
Lòng Hồ Suối Trầu

Cây khiu khẳng đứng giữa lòng đời
Im lặng hằng bao thế kỷ rồi
Có một cánh cò từ quá khứ
Bay về đậu mãi giữa mù khơi
2
Lòng Hồ Đá Bàn
 
Nửa đêm thuyền ngủ giữa lòng hồ
Gió thổi thuyền trôi chẳng bến bờ
Theo nguyệt thuyền rơi vào huyễn ảo
Em ơi tất cả đã thành thơ!

Vinh Hồ
1991
(Trích trang 247, thi tập Ẩn Dật của Vinh Hồ)


Việc Làm Tốt Đẹp Cho Đời

 

Thứ Hai rồi lại Thứ Ba
Thứ Năm Thứ Sáu trôi qua một Tuần
Trần gian tạo hóa xoay vần
Thời gian như thể mây tan trên trời
Đến đi một cuộc rong chơi
Ta mong để lại cho đời hương hoa
Đường trần rong ruổi bôn ba
Duyên sanh duyên diệt như là phù vân
Việc làm tốt đẹp xa gần
Ta nên ưu ái giúp công cho đời
Dù ta trên nẻo đường trần
Hạnh phúc tìm đến chẳng gần chẳng xa
Dù thời gian có nhạt nhòa
Trong tâm ta vẫn chan hòa tình thương.


Hoàng Thục Uyên


Những Vì Sao Băng

Câu chuyện văn học

Paris là thủ đô ánh sáng, từ xa xưa đã được mệnh danh là cái nôi của văn hóa  thế giới, vì nơi đây ngoài sự quy tụ những tài năng của thế giới, trong viện bảo tàng quốc gia còn cất giữ những bộ sách, tranh , ảnh và những phẩm vật mang giá trị văn hóa của nhân loại. Một số viện bảo tàng Pháp trưng bày một số bộ sách Việt Nam đủ các thể loại, từ lịch sử, nghiên cứu, những sách về văn học nghệ thuật đến các tranh, ảnh, điêu khắc và  các loại đàn dân tộc.
Trong sinh hoạt văn học nghệ thuật ở Paris có rất nhiều giai thoại hay, nhưng ít được phổ biến.
Cách nay gần 40 năm, thuở đó sinh hoạt văn hóa văn nghệ của người Việt ở Paris nở rộ như vườn hoa muôn sắc, chẳng có tuần lễ nào mà không có những tổ chức lễ hội, trình diễn văn nghệ, hoặc ra mắt tác phẩm, tất cả những nơi tổ chức đều rất đông người tham dự.

Lãnh vực Truyền Thông:
Đài Radio Sài Gòn, do BS Trần Duy Tâm phụ trách. Ban biên tập: TS Trần Bình Tịnh, Nhạc sĩ Trần Văn Trạch, GS Nguyễn Vô Kỷ, Nhà văn Đỗ Bình. Nhà biên khảo Nguyễn Đức Tăng. Đài Radio Á Châu, do Nhà báo Tô Vũ phụ trách. Ban biên tập: GS Nguyễn Ngọc Chân, Nhà báo Nguyễn Thừa Thính. Và Đài Radio International của Pháp, Ban Việt ngữ do Nhà báo Bạch Thái Quốc Phụ trách: Ban biên tập Việt ngữ quy tụ nhiều phóng viên, ký giả giỏi nghề như KS Võ Long Triều, GS Nguyễn Vô Kỷ, GS Nguyễn Bảo Hưng, GS Quản Mỹ Lan, Nhà phê bình văn học Thụy Khuê, Nhạc sĩ Thanh Phương, (KS Võ Long Triều và GS Nguyễn Vô Kỷ chỉ làm một thời gian ngắn bị loại vì đưa quá nhiều tin tức chống cộng)….
Thuở đó báo chí Việt ngữ ở hải ngoại lên ngôi, nhất  là ở Mỹ, tuy nhiên ở Paris rất ít tờ báo Việt ngữ phát hành, vì thiếu người làm báo. (Làm nghề riêng, lấy tiền nuôi báo)
Báo chí:
Tạp chí Tự Do, tạp chí Quê Mẹ, tạp chí Văn Nghệ, Tạp chí Ngày Mới, tạp chí Đường Mới, tạp chí Chuyên đề : Định Hướng, tạp chí Vùng Dậy, tạp chí Văn Lang, tạp chí Diễn Đàn Người Việt, tạp, tạp chí Chiến Hữu, tạp chí Thông Luận, tạp chí Viễn Tượng, tạp chí Diễn Đàn, tạp chí Âu Du, tạp chí Lính, Đặc san Ái hữu Petrus Ký, Đặc san Ái hữu Gia Long Paris, Đặc san Lê Ngọc Hân & Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho, Báo Nhân Bản, Báo Ái Hữu, Báo Khánh Anh, báo Giáo xứ, Báo Y Sĩ, Báo Bạn Đường, Báo Ép Phê… Báo Pháp ngữ Nhân Quyền, nhật báo song ngữ Tin tức….
Người làm báo và ký giả:
 Người làm báo và viết báo không nhiều, đa số người viết báo là những nhà trí thức khoa bảng viết những bài biên khảo mang tính nghiên cứu về văn hóa. Những người làm phóng sự viết tin và viết chính luận cũng rất ít. Có thể kể tên những người nổi tiếng làm báo và viết báo:
Nhà báo và làm báo An Khê, Nhà báo và làm báo  Trần Văn Ân, Nhà báo và làm báo Phạm Việt Tuyền, nhà báo và làm báo Trần Tam Tiệp, Nhà báo và làm báo  Trần Văn Ngô, Nhà báo và làm báo Võ Văn Ái,  Nhà báo và làm báo Trần Trung Quân, Nhà báo Nguyễn Trần, Nhà báo Thế Huy, Nhà làm báo Hứa Vạng Thọ, Nhà báo và làm báo  Ngô Quốc Dũng, Nhà báo và làm báo Phạm Hữu, Nhà làm báo Đỗ Việt, Nhà báo và làm báo Từ Ngọc Lê, Nhà báo và làm báo Dương Văn Lợi, Nhà báo Phan Ngọc Khuê, Nhà báo Từ Thức, Nhà báo Bùi Tín, Nhà báo và làm báo Nguyễn Văn Huy, Nhà báo và làm báo Huỳnh Tâm, Nhà báo và làm báo Lê Trân, Nhà báo và làm báo Tô Vũ, Nhà báo và làm báo  Nguyễn Đình Nhân, nhà báo và làm báo Trần Minh( Luật gia Đoàn Trần Thiều), nhà báo và làm báo Kim Long, nhà báo và làm báo Lê Đình Điểu, nhà làm báo Phạm Xuân Hy, nhà làm báo, viết báo Thiên Ân (cựu Trung tướngTrần Văn Trung), nhà làm báo Nguyễn Vân Xuyên, nhà làm báo Hoàng Thụy Long, nhà làm báo Nguyễn Đưc Tăng,  nhà làm báo Đỗ Bình(tôi làm chủ bút tạp chí Vùng Dậy, chủ nhiệm là cựu Trung tướng Trần Văn Trung và nhà văn NguyễnVân Xuyên), nhà làm báo Phạm Văn Đức,  Nhà báo và làm báo Võ Long Triều, Linh mục làm báo Trần Thanh Giản, Nhà báo và làm báo Đặng Phương Nghi, Nhà báo Từ An, Nhà báo và làm báo Diễm Thy, Nhà báo và làm báo Ỷ Lan, Nhà báo Hà Lan Phương,  nhà báo Việt Dương Nhân, , Phương Mai, nhà báo Ca Dao…
*
Trong tinh thần văn hóa Việt dâng cao đó, có một người rất tài năng, nhưng thầm lặng vì bản tính khiêm nhường. Ông luôn sát cánh trong sinh hoạt văn hóa, báo chí với bằng hữu, đó là Dịch giả, nhà nhiên cứu Hán Nôm Phạm Xuân Hy, bút hiệu Bạch Phát Tú Tài.

Vài Nét về  Nhà nghiên cứu văn hóa Phạm Xuân Hy:

Dịch giả Phạm Xuân Hy sinh ở Bắc Việt, di cư vào Sài gòn năm 1954, sống ở khu Chợ Vườn Chuối, quận 3. Ông là cựu học sinh Chu Văn An , và Đại học Văn Khoa Sài gòn. Trước năm 1975 ở Sài gòn ông viết truyện ngắn liêu trai, và dịch những truyện ngôn tình của Trung Hoa sang Việt ngữ với bút danh Bạch Phát Tú tài.. Đa số truyện dịch của ông là truyện phổ thông của Trung Hoa qua ngôn ngữ Bạch văn, đọc là hiểu ngay, ông còn dịch những truyện ngắn mang tính Hàn lâm ngôn ngữ bác học nhiều điển tích và ẩn ý khó hiểu, các tác phẩm của ông được đăng trên các báo văn nghệ ở Sài Gòn và các tạp chí văn học ở hải ngoại sau này.
Trong suốt mấy chục năm ông sinh hoạt trong lãnh vực văn hóa, có mặt trong nhiều buổi hội luận về văn học, nhưng ông chưa hề phát biểu một câu. Ông thầm lặng như chiếc bóng trong đám đông. Tôi có hỏi ông: «Tại sao anh không phát biểu góp ý ? ». Ông chỉ cười nhẹ nhàng trả lời: «Các Cụ ấy nói hay quá, tôi đến để nghe và học hỏi thêm  những điều mình chưa biết.». Bạch Phát Tú Tài luôn luôn khiêm tốn, ngay cả cái bút danh của anh có nhiều người đã quên, hoặc chưa bao giờ nghe nhắc đến. Ở Paris có rất nhiều người như thế, rất tài năng nhưng họ chỉ muốn được thầm lặng để hòa đồng trong đám đông người đồng hương, để tìm cái không gian văn hóa của quê hương.

Trong sinh hoạt văn học nghệ thuật của CLB Văn Hóa VN Paris năm xưa, giáo, sư nữ sĩ Minh Châu Thái Hạc Oanh có lần phát biểu: «Một bài thơ được gọi là hay phải đạt được cả Ý lẫn Lời. Những cái đẹp của bài thơ có thể nhìn thấy được như : Niêm luật, ngôn ngữ, hình tượng hội họa, nhạc thơ trong thanh bằng trắc và tính nhạc trong thơ, nhưng đó chỉ là phần mỹ học ; Còn phần tư tưởng nằm trong tứ thơ, đây là phần để chúng ta  đánh giá về sự sâu sắc của một bài thơ.»
Nhà văn Hồ Trường An phát biểu: «Đọc một cuốn truyện ngoại ngữ, nếu chỉ để hiểu cốt truyện theo cảm xúc thì dễ, nhưng đọc để tìm ra những cái tinh hoa và tư tưởng ẩn trong truyện thì rất khó, người đọc phải chăm chú đọc kỹ hơn mới thấy được giá trị thực của tác phẩm.»
Nhà nghiên cứu văn hóa Hán Nôm Phạm Xuân Hy làm trong tạp chí Diễn Đàn Paris, phụ trách phát hành. Tờ báo quy tụ những khuôn mặt văn nghệ ở Paris như Nhà báo Lê Đình Điểu, họa sĩ Nguyễn Cầm, họa sĩ Lê Tài Điển, nhà thơ Đỗ Bình, nhà báo Từ Ngọc Lê, dịch giả Bạch Phát Tú Tài.. Tạp chí do nhà báo Lê Đình Điểu chủ trương thuần về văn học nghệ thuật.
Về Mặt Kiến Thức:
Dịch giả Phạm Xuân Hy là người uyên bác, kiến thức sâu rộng. Có thể nói ông là một trong số rất ít người Việt ở Paris giỏi chữ Nôm. Những vị khác ở Paris giỏi Chữ Nôm như: Giáo sư Đoàn Đức Nhân, ông là cựu giáo sư Đại học ở Hồng Kông, Đài Loan và Paris. Chính GS Nhân đã chỉ dạy thêm chữ Nôm cho Phạm Xuân Hy. Những người giỏi chữ Hán như GS Hoàng Xuân Hãn, GS Trần Văn Bảng, bút hiệu Bằng Vân, nhà thơ  Phượng Linh Đỗ Quang Trị, BS Nguyễn Đương Tịnh, bút hiệu Trúc Cư, Linh mục Đinh Đồng Thượng Sách, nhà văn Trần Đại Sỹ…
Có lần Học giả Trần Văn Tích ở Đức quốc, được chúng tôi mời sang Paris để thuyết trình về một đề tài văn hóa. BS Tích đã hết lời khen ngợi kiến thức sâu rộng và sự tìm tòi, nghiên cứu về chữ Nôm của dịch giả Phạm Xuân Hy. Một lần khác chúng tôi sinh hoạt CLB, đã mời giáo sư  Lê Hữu Mục, cựu giáo sư Hán Nôm của Đại học Văn Khoa Sài gòn trước năm 1975, đang định cư ở Canada qua Paris diễn thuyết về đề tài văn hóa, lần đó giáo sư Mục đã khen ngợi ông Phạm Xuân Hy là nhà văn hóa Việt. Khi chúng tôi thực hiện cuốn Những Khuôn Mặt Văn Hóa VN Hải Ngoại, dày 1500 trang, quy tụ hơn 400 nhà văn hóa Việt ở hải ngoại, chúng tôi có đến nhà của dịch giả Phạm Xuân Hy để mời góp tiểu sử và thành quả vào sách, nhưng ông đã khiêm nhường, từ chối. Ông nói :«Xin để số trang sách dành cho những người đã đóng góp tích cực cho văn hóa dân tộc hơn ông."

Vào mùa hè năm 2024 chúng tôi có tổ chức một buổi diễn thuyết về đề tài Chữ Nôm,  chúng tôi mời diễn giả là giáo sư Nguyễn Văn Sâm từ Cali sang. GS Sâm, giảng dạy về Hán Nôm, là cựu giáo sư của trường Đại học Văn Khoa Sài gòn trước năm 1975, và sau này ở hải ngoại.
Nhà văn hóa Phạm Xuân Hy dù sức khỏe kém nhưng vẫn đến tham dự. Để đáp lễ, chúng tôi gồm nhà biên khảo Nguyễn Đức Tăng, BS Nguyễn Bá Linh, giáo sư Nguyễn Văn Sâm và Tôi cùng đến nhà thăm nhà văn hóa Phạm Xuân Hy. GS Nguyễn Văn Sâm rất vui khi thấy hơn 100 bộ sách bằng Chữ Nôm. Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau về chuyện văn học, riêng GS Sâm thì mải mê đọc sách. Đây là những bộ sách hiếm qúy của gia đình mà nhà văn hóa Phạm Xuân Hy khi rời Việt Nam mang theo và còn cất giữ. Có thể nói ở Paris, kể cả viện bảo tàng,  nhà của ông Phạm Xuân Hy có nhiều bộ sách chữ Nôm nhất.

Tôi lấy một cuốn sách trong tủ sách rồi yêu cầu nhà văn hóa Phạm Xuân hy đọc lớn và giải nghĩa cho chúng tôi nghe. Ông Hy cầm sách vaà đọc làu làu như đang diễn thuyết. GS Nguyễn Văn Sâm ngưng đọc sách và nói : « Chữ Nôm viết đã khó, còn đọc rõ ràng và nhanh như ông Hy lại càng khó hơn. Phải giỏi lắm mới được như thế. »
Những năm tháng cuối đời, nhà văn hóa Phạm Xuân Hy thường hay phôn nói chuyện với tôi, ông nhắc về nhà thơ Du Tử Lê, nhạc sĩ Vũ Thành An, nhà báo Lê Đình Điểu và những người bạn văn nghệ người còn người mất. Ông thích Du Tử Lê, Lê Đình Điểu vì những người này dù ở đỉnh danh vọng nhưng vẫn không quên ông là người bạn thời thanh xuân. Mỗi lần Du Tử Lê qua Paris ra mắt tác phẩm tôi đều giới thiệu tác phẩm của ông. Những lần đó Nhà thơ Du Tử Lê đều ở nhà Phạm Xuân Hy.
*
Paris đã vào xuân, tiết trời đang ấm áp bỗng dưng đổ lạnh, mưa, gió cả tuần làm Paris ướt sũng! Tôi thương cảm cho một bạn làm báo khi xưa nay tuổi già, mắt bị lòa sống trơ trọi một mình nơi một làng nhỏ ven biển ở Perpignan. Anh không còn nhìn thấy số để bấm điện thoại.
Một người bạn văn khác, ông có một thời vang bóng hải ngoại, nay sống một mình không người đồng hương trong viện dưỡng lão của một thành phố nhỏ thuộc miền Nam nước Pháp. Tôi gọi phôn thăm anh, anh cầm điện thoại, mãi 15 phút sau anh mới nói được! Tôi xúc động, một nhà phê bình văn học,  một triết gia, một diễn giả được mọi người sủng ái khắp nơi. Đã từng được mời đến Paris, Cali, và Úc diễn thuyết, nay ông mở miệng nói không ra lời! Sau khi lấy lại được tinh thần tôi hỏi ông :  «Anh bị đau cuống họng sao nói không được ?». Anh trả lời : Có đau gì đâu, lâu quá không nói chuyện nên quên nói !»  
Tôi hỏi : Anh nói tiếng Pháp rất giỏi, sao không nói chuyện với các người bạn Pháp ?»
Ông trả lời:« Họ già rồi, nói chuyện chán lắm, không hợp!"
Tôi im lặng, vì biết người bạn cao niên của tôi năm nay đã 94 tuổi không tìm được người đồng điệu. Cả đời ông đi tìm cho mình một triết thuyết, đó là Lẽ Đạo, nhưng,  có lẽ con đường đó còn xa lắm, nó chỉ hiện hữu trong tâm tư của ông.»
Ông hỏi đến vài người bạn văn ở Paris làm tôi bùi ngùi!
  • Những người yêu thơ văn, trân trọng với văn học nghệ thuật lần lượt ra đi làm cho không gian văn nghệ ngày càng nhạt màu sắc quê hương. Những tác phẩm văn học được trúng giải, những buổi triển lãm tranh, ảnh theo những chiếc cúp lịm vào thời gian. Những người nhạc sĩ lừng danh thời tiền chiến đã vào thiên cổ, những bàn tay lướt trên dương cầm tạo cho Paris  màu sắc quê hương, nay người mất, người còn, mười ngón tay trở nên lạc lõng, cứng vì thiếu vắng người tri âm. Những buổi diễn thuyết vẫn đông người nhưng không cần nói bằng tiếng Việt, vì người tham dự đã hòa điệu văn hóa người, hiểu tiếp Pháp hơn tiếng Việt. Thời huy hoàng văn nghệ đã tắt như ánh sao băng, cho dù mảnh tinh tú vĩ đại đó có to lớn nhưng vẫn chẳng để lại trên vòm trời vệt sáng mờ !
Mới hôm nào BS Hoàng Cơ Lân giã từ cõi đời về nơi an lạc, nay nhà văn hóa Phạm Xuân Hy cũng bỏ chốn văn chương trần thế, hồn bay về tìm sự an bình nơi nước Chúa.
Xin cầu chúc hương hồn những người đã khuất được trọn đời an nghỉ, và những người còn tại thế một sự bình an.
Đỗ Bình
19.05.2026

Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2026

Tôi Muốn - Lời: Hoàng Dân Bình - Nhạc: Trần Đại Bản - Ca Sĩ: Duyên Quỳnh

Lời: Hoàng Dân Bình
Nhạc: Trần Đại Bản
Ca Sĩ: Duyên Quỳnh

Tôi Biết

 

Tôi biết người ta cố quên tôi
Ước thề chỉ để thoảng đầu môi
Gặp tôi người cứ ne né vội
Như sợ chạnh buồn phía xa xôi

Tôi đã dằn lòng phải thế thôi
Người ta giờ đã khác xa rồi
Chữ tình khéo bẻ thành trăm lối
Dụ khách say tình, lén chuốc vôi.

Tôi sẽ về thăm lại lần thôi
Để nghe gió lạnh thốc mé hồi
Để xem u uẩn chiều loang lối
Để ngó mây trời lững lững trôi.

Hà Nội, ngày 06 tháng 03-2024
Đặng Xuân Xuyến


Ngũ Ngôn Tường Vi

  

những ngọn cây. ven rừng
đợi bình minh. thức giấc
bầy chim xa dừng chân
báo tin vui trở lại

hường ơi. đã sớm mai

em hái bông tường vi
trong vườn cây đợi nắng
thoảng hương trà vũ di
từ một câu thơ cổ

những câu thơ anh viết
dài theo đường chim bay
cũng là bông tường vi
sáng nào em đã hái

sáng nào em đã hái
bông tường vi màu xanh

có ửng đường vân đỏ
có tím pha lời chim
xanh là xanh chờ đợi
đỏ là vết dao sâu
tím với sầu nuối tiếc
sao thời gian qua mau
sao thời gian không ở
em hái bông tường vi
tưởng rằng sẽ cất giữ
thơ anh và xuân thì
tưởng rằng sẽ cất giữ
tường vi đâu. xuân thì...

nhặt trái thông khô

Anh trở lại đồi cao
nhặt trái thông. trong nắng
tưởng bài thơ buổi nào
bỗng. đầu cành. chín. rụng
trái thông. trái thông khô
bằn bặt ngọn lửa nhỏ
của một ngày. hồng trăng

đã về. dốc sương mù
đã về. cây hoàng hôn
tiếng gà trưa vẫn gáy
bông phù dung. trong vườn

em. và bầy chim én
vẫn bay. trên phố xưa
những mái nâu. cao. thấp
quán sách. hương cà phê

anh đi trên mái nhà
anh đi. lá thông khô
đã đầy trong màu nắng
anh chết tự bao giờ
mà hồn bay vàng phố
mà về theo gió đưa
dấu chân in lá cỏ
của những mùa hè qua

anh chết. hồn dã quỳ

chắc bây giờ thấy nhớ
và như là bao giờ
anh nhặt trái thông khô
bàn tay khum ngọn lửa
tiếng gà. tiếng gà trưa
thế kỷ tàn. tàn. rụng
anh về. tiếng gà trưa

Nguyễn Xuân Thiệp

Hoa Trăng

 

Sonate Ánh-Trăng/Bee-tho-ven nhỏ giot
Trên bàn tay anh lạnh ngắt lúc đêm tàn
Em mộng mị tóc vùi trong sương đọng
Chờ rạng đông bừng dậy đón ngày sang

Giọt thanh âm thấm sâu hồn cô phụ
Cho tinh yêu nở tựa đoá hoa xuân
Mỗi đứa ở một chân trời vũ trụ
Buồn hay vui theo nhip sống thăng trầm

Lớp màn bạc trải đều lên vạn vật
Trên hàng cây liễu rủ tóc buông lơi
Từng sợi nhỏ vấn vương cài nét mặt
Gió mơn man xoa triền má rạng ngời

Khi hờn giận ẩn sau tầng mây xám
Lúc hân hoan ló mặt giữa trời xanh
Em chập chờn như hoàng hôn ảm đạm
Hồn đan nhau thưa thớt cũng thôi đành

Dấu hạnh phúc chưa đủ đầy biểu hiện
Đóa hoa qùynh còn ủ nụ tươi non
Anh đứng dưới trăng ngà đêm diễm tuyệt
Đợi bao giờ hoa tỏa ngát hương thơm

Kiếp tha phương nhớ nhung về quá khứ
Thuở học trò mơ ước mộng phiêu du
Mong chắp cánh quay về nơi chốn cũ
Tìm dấu yêu vẫn biền biệt xa mù.

Chinh/Hồng Nguyên_H.N.T 
 Apr.20.26 (720)
(xem them:KHUC NHAC ANH TRANG, #297,2018)

Diễu Hành Hay Diễn Hành? - Đỗ Văn Phúc

 

Diễu hành hay Diễn hành?

Từ rất lâu, nhiều vị cho rằng chữ Diễu Hành, Diễu Binh là chữ của VC, vì chỉ thấy do người miền Bắc sử dụng, còn ở miền Nam phải là Diễn Hành, Diễn Binh. Chúng tôi cũng từng có phản ứng khó chịu khi lần đầu thấy những chữ Diễu Binh. Diễu Hành này.

Trước khi đi vào phân tích, chúng tôi xin nói sơ về vài chữ có liên quan:

Duyệt binh,閱兵, hay duyệt hàng quân (review the troops), là hành vi của cấp chí huy đi duyệt qua hàng quân đang đứng nghiêm chỉnh theo đội hình. Duyệt hàng quân có thể đi xe hay đi bộ; tùy theo mức độ đông hay ít, lớn hay nhỏ, Ví dụ trong buổi lễ Quốc Khánh của VNCH trước đây, các đơn vị quân đội sắp hàng tề chỉnh ở vị trí ấn định dọc Đại Lộ Cường Để, Thống Nhất. Buổi lễ bắt đầu bằng cuộc duyệt binh; vị nguyên thủ quốc gia sẽ cùng vị tướng chỉ huy buổi lễ đứng trên xe mui trần chạy chậm dọc theo hàng quân rồi mới trở về an vị ở khán đài. Trong những lần tiếp đón quốc khách, vị chủ nhà cùng ngang cấp sẽ đứng ở chân cầu thang máy bay, đón vị quốc khách rồi cùng bước theo vị chỉ huy quân lễ, duyệt hàng cờ và đội quân danh dự dàn chào.

Diễn hành 演 行 (parade): là hành vi của nhiều đoàn người tuần tự đi trên đường với mục đích biểu dương hay vui chơi. Diễn hành có thể trong cuộc lễ hội như diễn hàng Mardi Gras ở New Orlean, Carnival ở Sao Paulo, Brazil, Văn Hóa Á Châu ở New York; Rose Parade ở Pasadena, California. 

Diễn binh   (military parade): Nhưng khi cuộc diễn hành do những đoàn quân, thì được gọi là Diễn Binh nhằm mục đích phô trương lực lượng.

Trong tự điển Việt Nam trước đây có cả chữ Diễn Binh và Diễu Binh.

DIỄU: Chữ Diễu  này thấy trong Tự điển của Linh mục Antôn Trần Văn Kiệm nghĩa là lượn một vòng, đi diễu phố, diễu hành, diễu binh; và Diễu (𠰉𠴕có nghĩa diễu cợtHán Việt Tự Điển của ông Huỳnh Minh Xuân trang 211, do cơ sở Đại Nam xuất bản từ thời VNCH định nghĩa: Chạy chung quanh: Sự diễu đàn, diễu phố, diễu binh.  

DIỄU: Trong Việt Nam Tự Điển của Lê Ngọc Trụ, ở trang 373 có chữ Diễu định nghĩa là: Rễulượn quanh, qua lại, đi nhởn nhơ. Chạy diễu. Chữ Diễu Binh được định nghĩa là “Diễn binh, điều khiển binh lính mang súng đi biểu diễn (ví dụ: Đi coi diễu binh).”

Như thế, ông Lê Ngọc Trụ đã đồng nghĩa chữ Diễu Binh và Diễn Binh (Động từ: Diễn binh, điều khiển binh lính mang súng đi biểu diễn. Đồng thời ở trang 371 có chữ Diễn Binh với định nghĩa phô bày lực lượng binh bị và vũ khí trong một cuộc lễ.

DIỄU : Chạy xung quanh, Sự diễu đàn, diễu quân (Tự Điển Việt Nam của Tín Đức Thư Xã, trang 153).

Như thế, có thể xác định rằng chữ Diễu không chỉ giới hạn trong nghĩa đi vòng vòng vui chơi, mà còn có thể dùng trong trường hợp Diễu Binh. Diễu Binh, Diễu Hành, hay Diễn Binh, Diễn Hành đều có thể sử dụng, tùy theo ý thích và thói quen.

Khách quan mà nói, khi nghe chữ Diễu, ai cũng nghĩ rằng nó là sự đùa cợt (theo Tự Điển Tín Đức trang 221), không mang tính chất nghiêm trang. Vì thế, chúng tôi đề nghị dùng chữ Diễn Binh cho trang trọng. Còn ai sính dùng chữ diễu binh, diễu hành, thì nên tôi trọng sự lựa chọn của họ, vì hai chữ này cũng không sai.

Đã có thời người ta ngại dùng các chữ ‘giải phóng, cải tạo...’ Bài hát “Cờ bay” trong đó có câu “Quảng Trị ơi, chào quê hương giải phóng đã bị đồi lời thành “chào quê hương đổi mới...” Rồi hiện nay, ở hải ngoại người ta cũng tự ý sửa câu đầu của bài Quốc ca, từ “Này công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng” thành “này công dân ơn, đứng lên đáp lời sông núi.” Theo chúng tôi, cả hai trường hợp đều sai. Không ai có quyền sửa lời ca của một nhạc sĩ, và càng không thể sửa lời bài quốc ca mà Hiến Pháp đã ấn định, từng được sử dụng chính thức trong hơn hai thập niên ở miền Nam.

Cũng như gần đây, khi tôi dùng hai chữ ĐỒNG CHÍ khi nói về một người bạn cùng hoạt động chính trị, đã có một anh bạn mỉa mai rằng tôi cũng dùng chữ VC. Nếu cứ né tránh những chữ VC đang sử dụng, thì e rằng chúng ta không còn chữ nào để viết và nói với nhau. Chúng ta chỉ tránh những chữ mà VC dùng sai nghĩa hay cắt xén, lắp ghép bừa bãi để khó nghe mà thôi. Chữ của cha ông, không riêng gì của VC hay VNCH. Tùy trình độ và quan điểm mà mỗi bên dùng khác nhau, Chúng ta nên khách quan, sáng suốt. cứ mạnh dạn dùng theo cách chúng ta. Vì không phải chữ nào bên VC dùng thì chúng ta né đi. Riết rồi chúng ta còn chữ nào mà nói, viết nữa. 

Sơ Tán, Di Tản

Tán:   Tán, là giãn ra, như vân tán (mây tan), tán muộn (giải buồn). Một âm khác của   còn đọc là Tản có nghĩa rời rạc  (tản mác). Khác với Tán  có nghĩa là tụ lại.

:  là mới, là trước. Cái gì xảy ra lúc ban đầu đều gọi là sơ (sơ giao là mới quen, sơ khởi là mới bắt đầu, sơ học là học ở bước khởi đầu).

Di là dời,  cũng là di, dời đi, chuyển đi.

Tán hay Tản thì cũng từ một chữ Hán, có cùng một nghĩa. Với các định nghĩa từng chữ như trên, chúng ta có thể nói 

Di Tản  : là hành vi phân tán và di chuyển đi nơi khác. 

Ví dụ: Hàng ngàn dân quê phải di tản ra khỏi vùng chiến sự

Di tản chỉ mang tính chất tạm thời; nếu ra đi vĩnh viễn thì gọi là di cư 移居. Nhưng trong cuộc chiến Việt Nam, ở nhiều vùng dân chúng di tản từ vùng nông thôn đến các thị xã và coi như không mong có ngày trở về.

Sơ Tán   là hành vi phân tán ban đầu khi có biến cố xảy ra. 

Ví dụ: để tránh thiệt hại nhân mạng trong các cuộc không kích của Mỹ, dân chúng Hà Nội phải sơ tán ra các vùng ngoại ô

Những cuộc di chuyển xảy ra về sau không thể gọi là sơ tán nữa.

Có người thắc mắc về hai chữ “di dời, vụ việc;” đã di còn thêm dời, đã vụ lại còn thêm việc? Như thế có phải thừa không!

Những cách ghép chữ cho câu nói nghe xuôi tai cũng không có gì lạ. Những chữ ghép bởi hai chữ cùng nghĩa hay một chữ có nghĩa, một chữ không nghĩa; hoặc một chữ gốc Hán, một thuần Việt, là để cho câu văn không bị thô thiển, nghe êm tai theo vần điệu, miễn không sai nghĩa hay kỳ quặc như mấy chữ cặp đôi, cụm từ.... Những chữ chúng ta thường nghe: tĩnh lặng, buồn rầu, đùa cợt, in ấn, bến cảng, che đậy, chen lấn, xô đẩy, thúc dục, ca hát, phẫn nộ, ... Nhiều lắm.

Còn hai chữ Vụ Việc thì có khác nhau đấy. Một vụ nói đến cách bao quát, việc chỉ một hành vi. Vụ giết người có nhiều yếu tố từ âm , dàn dựng, rình mò, theo dõi, hành vi giết, phi tang, tẩu thoát...  nhưng việc giết người chỉ là một hành vi dùng vũ khí hay tay không để làm chết người. Người ta nói: một vụ án thì trong đó có nhiều tình tiết; điều tra một vụ tham nhũng trong đó có việc sưu tầm tài liệu, hỏi cung, kết luận... 

Đỗ Văn Phúc

Viết Về Mẹ


Quê ngoại tôi ở Ninh Bình.Ông bà ngoại tôi được ba người con:người con gái lớn tên Kinh,chúng tôi gọi là bá,lập gia đình sớm,rồi theo chồng vào Nam.Bà mất năm 1947 tại Saigon.Người con thứ hai là bác Sử,cùng học trường Bưởi với cha tôi.Mẹ tôi tên Truyện,là con gái út.Tôi thường thắc mắc,tại sao mẹ tôi không có một cái tên đẹp,nhưng khi xếp tên ba người,KINH,SỬ,TRUYỆN,là tên các sách mà sĩ tử ngày xưa phải học để đi thi,thì tôi hiểu ngay dụng ý của ông ngoại: cụ muốn các con theo đòi nghiên bút.Không may,ông tôi mất sớm,bà tôi bệnh,nên bác Sử,dù rất giỏi,đành phải đi làm sau khi học xong trung học.Bác ở lại ngoài Bắc,có vào thăm cha mẹ tôi sau 1975,và qua đời năm 1988.Bá và mẹ tôi thời đó chỉ được học tới khi đọc thông,viết thạo,là phải nghỉ để lo việc nhà.

Mẹ tôi chịu khó đọc sách,thơ,văn,ca dao,bà thuộc rất nhiều.Bà ru tôi bằng Kiều, Chinh Phụ Ngâm,Cung Oán,bằng những bài thơ mà hơn 60 năm sau,tôi còn nhớ:

Đêm khuya,ta ngủ trong màn,
Vẳng nghe tiếng muỗi kêu vang phía ngoài,
Khiến ta nhức óc vang tai,
Mẹ ta ngồi cạnh,thở dài bảo ta:
Như con có mẹ có cha,
Có anh có chị sướng là bao nhiêu,
Đêm đêm con ngủ màn điều,
Ngày ngày đi học,chiều chiều đi chơi...
Ngoài kia bao trẻ mồ côi,
Không cha, không mẹ, không người nào thương,
Ngày đi vơ vẩn trên đường,
Tối về gối đất nằm sương đầu hè,
Mùa đông,chẳng có gì che,
Mùa thu đã vậy,mùa hè làm sao?

Sang ngang nhớ lại chuyến đò,
Năm xưa,một cậu học trò sang sông,
Ngây thơ sợ cả má hồng,
Biết nay cô lái có chồng hay chưa,
Bây giờ cậu bé năm xưa,
Qua con đò cũ,lại mơ một người.

Tôi là người đọc sách khá nhiều, mà bài trước, tôi chưa từng thấy; Bài sau,mẹ tôi nói là của Nguyễn Bính nhưng trong những tuyển tập của tác giả này,tôi cũng không tìm được.
Những nỗi vất vả,sự hy sinh của mẹ tôi trong thời kháng chiến và lúc mới di cư vào Nam,tôi đã có dịp nhắc đến trong bài “Tâm Sự”đăng trên Tập San Y Sĩ,số 132,tháng 8,năm 1996.
Khi xẩy đàn tan nghé năm 1975,cha mẹ tôi kẹt lại,tôi một mình chạy thoát từ Cần Thơ,và định cư ở Montreal.Ngày đó,tôi nghĩ rằng không còn dịp gặp lại cha mẹ,nhưng tình thế đổi thay,tôi đã đón được các người qua đây năm 1982.Lúc đó,tôi đã lập gia đình,con trai tôi gần 3 tuổi,con gái chừng 3 tháng,và mẹ tôi vừa tròn 70.Mẹ tôi có cháu ngoại từ năm 1954,lúc di cư vào Nam,khi bà mới 42 tuổi,và bây giờ,tổng cộng 6 đúa.Tụi nó đã lớn,một số có giá đình,lại ở xa,bên quận Cam,nên tình thương của bà bây giờ dồn hết cho mấy đứa cháu còn nhỏ.

Con gái tôi lúc đó chưa biết gì,nhưng thằng con trai yêu bà đến độ có khi theo về ở luôn với bà cả tháng trời,khổng nhớ gì tới cha mẹ cả!
Cha mẹ tôi ở gần nhà thương nơi tôi làm việc,khi nào rảnh là tôi tạt qua thăm, gặp bữa thì cùng dùng cơm,không thì ngồi uống trà,nghe kể chuyện dĩ vãng.
Chiều thứ tư,khi xong phòng mạch,tôi tới dùng cơm tối với song thân.Thứ bẩy,
tôi dắt theo hai con đến ở với ông bà cả ngày.Nhà tôi thì chạy tới chạy lui không có giờ giấc.Từ hơn 20 năm nay,tôi chưa hề thay đổi thói quen đó. Trong tuần,mẹ tôi lo mua sắm lỉnh kỉnh để làm những món ăn ngon cho cháu.
Đó là lẽ sống của mẹ tôi.Bà môn nao trông đợi ngày thứ bẩy.Khi đến,mẹ tôi đã đứng chờ ở cửa sổ,khi đi,mẹ tôi lại đứng ở cửa sổ trông theo. Mỗi khi thấy bóng dáng gầy gò,nhỏ bé của mẹ sau cửa kính,tôi lại nhớ tới câu
Chinh phụ ngâm mà bà ru tôi ngày xưa “lòng lão thân buồn khi tựa cửa “.Có thể lúc đó,mẹ tôi buồn,nhưng tôi thấy mình tràn trề hạnh phúc.

Thời gian êm đềm trôi,và các em tôi lập gia đình.Mỗi lần thêm một đứa cháu, mẹ tôi lại vui mừng hớn hở,dù bà mỗi năm một già đi.Tóc bà trắng như tuyết và rụng rất nhiều.Mẹ tôi không có bệnh gì nặng,chỉ bị arthrite,arthrose,các ngón tay biến dạng,mấy cục sạn trong túi mật,họa hoằn lên cơn đau vài ngày,và
hay ợ chua,nhưng với losec và domperidone,bà không thấy khó chịu nữa.Tai bà còn thính,mắt trái rất tốt sau khi mổ cườm,nhưng mắt phải thì hầu như bị hư hẳn,vì sau khi mổ cườm và ghép giác mạc không thành công.Nhưng chỉ cần mắt trái,bà vẫn đọc sách báo và xem truyền hình được..

Hồi cuối tháng 7 năm 2003,mẹ tôi bị một crise de goutte,phải vào nhà thương ba tuần.Nhân dịp này,tôi đã làm đủ các thử nghiệm cho bà,tất cả đều tốt như những lần trước.Được xuất viện thượng tuần tháng 8,bà phải đi marchette vì chân yếu.Lúc đó,thành phố sửa đường,không cho xe chạy,tôi phải đậu cách nhà 200 thước,rồi dìu mẹ đi.Thấy bà vất vả,tôi cõng bà cho tiện.Tính tôi vốn hoạt kê,vừa cõng mẹ vừa đùa:”Vân Tiên cõng mẹ trở vô,đụng phải cái bồ,cõng mẹ trở ra”.Lúc đó mẹ tôi rất vui,cười tươi như hoa.
Nhưng từ đó,hình như mẹ tôi yếu dần: bà ăn ít hơn,nằm nhiều,bớt hoạt động,và vẫn rên như thường lệ.Mẹ tôi vốn hay rên từ mấy chục năm nay,hỏi tại sao,thì bà nói nhức đầu,hoặc đau răng,nhưng thường thường thì bà cười:”Mợ không sao cả,rên như vậy,thấy dễ chịu “.Tôi hay cằn nhằn: Lúc nào mợ cũng rên thì làm sao con biết mợ bệnh hay không bệnh “.Mẹ tôi chỉ cười!

Ngày 22 tháng 10 năm 2003,mẹ tôi bị ngã,rách da đầu,phải vào nhà thương, chụp hình đầu và may da.Lúc đó,bà sốt tới 39 độ C,bị septicemie,bắt nguồn từ nhiễm trùng đường tiểu,và hơi thiếu máu,có lẽ vì vậy mà bà yếu và bị ngã.
Từ một bệnh tầm thường đó mà phát sinh ra bao nhiêu thứ biến chứng:Chữa septicemie bằng trụ sinh —>Clostridium Difficile.Flagyl không hiệu quả,dùng Vancomycine —>Suy thận.Vì có nước biển,mà suy thận,không thải đủ nước,tim chịu không nổi —>Oedeme aigu du poumon. Bớt nước,cho thuốc lợi tiểu,mẹ tôi yên được mấy hôm thì lại bị Sưng phổi,bronchospasme,bác sĩ chuyên môn lại cho trụ sinh và Solumedrol.Trụ sinh làm mẹ tôi bị lại C. Difficile,Solumedrol giữ nước và làm đường trong máu lên cao,phải dùng Insuline..Chẳng qua mẹ tôi lớn tuổi,không có sức đề kháng,nên mới sinh ra nhiều biến chứng như vậy.

Trong thời gian mẹ tôi nằm bệnh viện,anh chị em chúng tôi chia nhau,khi tới bữa thì vào cho bà ăn uống.Ai cũng cố ép bà ăn nhiều,nên mẹ tôi hay cằn nhằn:” Các con nhồi mợ như nhồi vịt “Tôi cười: “ Thì ngày xưa,mợ cũng nhồi tụi con và mấy đưa nhỏ vậy “
Cha tôi vào thăm mẹ tôi hàng ngày,bằng taxi,vì không muốn phiền con cái.Vì sợ ông yếu sức,bị ngã gẫy chân,hay bị cảm,chúng tôi hết sức can ngăn,nhưng ông nhất định không nghe.Ông rơm rớm nước mắt:Các con đừng cản cậu nữa.
Cậu ở nhà thì cũng chỉ ngồi không,thà vào đây ngồi với mợ.”.
Các thân hữu đến thăm mẹ tôi rất đông.Trong số này,có người mẹ tôi quen,có người bà không biết, nhưng ai cũng đem lại cho bà những giờ phút vui tươi thoải mái.

Rồi mẹ tôi càng ngày càng yếu,càng tiều tuỵ, dù bà rất tỉnh táo, minh mẫn. Chúng tôi bắt đầu thay nhau ở lại ban đêm với bà.Chị thứ hai của tôi vất vả nhất,vừa thăm nuôi mẹ,vừa lo cơm nước cho cha,chị như con thoi, không lúc nào ngưng nghỉ.Chị cả của tôi,từ Californie qua giúp các em. Chị vốn là người vui vẻ,hoạt bát,nhưng vì anh rể tôi mới qua đời hơn hai tháng,chị còn thất thần,cả ngày không nói một câu,ra vào như chiếc bóng.Em trai út của tôi,ở Ottawa,cuối tuần nào cũng về thăm mẹ,túc trực bên giường.Ngày 27 tháng 12 năm 2003, đường trơn,đóng đá,nó bị ngã, gẫy cả hai mắt cá chân trái, phải mổ,đóng 6,7 cái đinh, rồi bó bột đi nạng.

Đứa em trai kế tôi,lấy vợ hơi trễ,một nách 3 đứa con nhỏ,đi làm cách nhà 80 cây số,nhưng lúc nào rảnh là mò vào nhà thương thăm mẹ.
Trong số anh chị em,tôi là người ít công trạng nhất,vì tôi làm việc tại nhà thương không phải chạy tới chạy lui,lại may mắn được gặp mẹ tôi rất thường.Cứ lúc nào rảnh là tôi lên ngồi với bà,vừa theo dõi bệnh tình,vừa quan sát những thay đổi..
Chúng tôi thường cắt,chải tóc cho mẹ,bóp tay chân cho bà đỡ mỏi,thoa kem cho mềm da,hoặc làm manicure.Mẹ tôi có vẻ thích những sự săn sóc nho nhỏ này.Cầm tay mẹ,tôi mới để ý thấy những ngón tay của bà bị méo mó,lệch lạc một cách thảm hại,chứng tích của cả một đời vất vả vì chồng,con và cháu.
Ngay lúc bệnh hoạn như vậy,mà cứ mở mắt là mẹ tôi hỏi:”Cậu đâu?cậu và các con ăn uống gì chưa? Mợ mệt quá, không làm gì được “Thì ra việc lo lắng cho chồng con lúc nào cũng canh cánh trong lòng mẹ.

Ngày xưa,mẹ tôi rất sùng đạo Phật.Vì cha tôi chỉ thờ tổ tiên,nên từ khi lập gia đình,mẹ tôi ít hay hầu như không có dịp đi chùa.Trong thời gian nằm bệnh viện, ngày nào mẹ tôi cũng tụng khinh “Thiên Trúc độ giang nhân” là những câu kinh mà từ hơn 70 năm,bà không đọc lại.Phòng bệnh tối lờ mờ,tiếng kinh buồn thảm thiết,tôi nghe thấy não lòng và linh cảm tới chuyện không may.

Từ 20 tháng 01 năm 2004,mẹ tôi càng ngày càng yếu,càng tiều tụy,không ăn uống được nữa,chỉ thoi thóp nhờ chút nước biển.Ngày 22tháng 01 năm 2004, lúc 6 giờ 45 sáng,mẹ tôi trút hơi thở cuối cùng.Hôm đó là mùng một Tết Giáp Thân,mẹ tôi được 93 tuổi ta.

Mẹ tôi đi an lành như người ngủ say.Cô y tá nhờ tôi gỡ catheter veineux central ở cổ mẹ tôi.Đáng nhẽ cô không nên nhờ tôi làm việc này.Mắt nhoà lệ,tôi loay hoay mãi mới cắt được mấy mối chỉ:tôi cố làm thật nhẹ nhàng,cẩn thận,vì da mẹ còn ấm và mềm,tôi sợ mẹ còn biết đau.
Nhờ sự chỉ dẫn và giúp đỡ tận tình của các bạn,tang lễ của mẹ tôi được cử hành rất chu đáo và trọng thể.Tôi khóc thật nhiều,nhất là lúc đóng linh cữu và lúc chị tôi cùng tôi nhấn nút để bật lửa lò hỏa thiêu.
Mất mẹ thì ai chả đau.Trong lòng mỗi đứa con đều có một khoảng trống không sao lấp đầy được.Tôi khóc nhiều chỉ vì quá yếu đuối và nhậy cảm.Thật ra thì tôi còn may mắn hơn nhiều người,ngoài 60 tuổi mới mất mẹ,nhưng hình như càng ở lâu với mẹ,thì sự mất mát càng lớn.

Bây giờ,gần đến thất trai tuần của mẹ ,tôi đã đi làm lại.Mỗi khi đi qua phòng 244 là nơi mẹ tôi đã nằm trong mấy tháng qua,tôi không sao nén được xúc động.Tôi nhìn vào phòng,mường tượng như mẹ còn nằm đó,và nước mắt trào ra.
Mỗi khi về thăm cha,tôi không còn thấy bóng dáng thân yêu của mẹ đứng chờ sau cửa kính.
Mẹ ơi,đây là bài thơ con làm riêng để dâng lên mẹ:

Mẹ ra đi thanh thản,
Tựa như người ngủ say,
Chúng con lòng nổi sóng,
Mẹ ơi,mẹ có hay.

Ôi cả đời lưu lạc,
Như một áng phù vân,
Nay mẹ về cõi Phật,
Rũ sạch hết bụi trần.

Mẹ đi rồi,đi thật,
Con vẫn tưởng như mơ,
Từ nay còn đâu nữa,
Người tựa cửa mong chờ.

Đây là hình tang lễ,
Con không dám mở coi,
Vết thương còn rỉ máu,
Con nhớ mẹ,mẹ ơi.

Tháng 3, năm 2004.
Nguyễn Thanh Bình.