Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2026

Thời Mộng Du - Thơ: BH - Nhạc: Phạm Anh Dũng - Hòa âm: Quang Đạt - Ca Sĩ: Ngọc Quy

Thơ: BH
Nhạc: Phạm Anh Dũng
Hòa âm: Quang Đạt 
Ca Sĩ: Ngọc Quy
Thực Hiện: Hoàng Khai Nhan

Mùa Đông Về Đây

  

Mùa đông ơi làm ơn qua vội
Đừng mù sương ướt đẫm tóc mây
Nơi phương này run rẫy lạnh giăng
Mơ sưởi ấm nhưng ngăn cách hạ

Mưa rưng rưng sầu vương lệ đá
Đong mạch dòng buốt giá con tim
Khung cửa kín giọt khẻ im lìm
Căm căm rét nghẹn từng nhịp thở

Mùa đông ơi bão bùng nhung nhớ
Lần hạ xa bước vội xuống đò
Là chấp nhận gánh lấy rủi ro
Vò võ giữa muôn màu muôn v

Đông phương này biết ai san sẻ
Hạ phương kia hấp hối hoàng hôn
Ngõ quạnh hiu chiếc bóng vô hồn
Trong dâu bể phong ba mù mịt...

Kim Oanh


Anh Sẽ Bên Em



Trong không gian anh sẽ là mây khói
Bay bổng phương trời chốn có em
Anh sẽ là chim hót líu lo
Hòa nhạc em nghe giữa rừng bát ngát

Anh sẽ là cánh bướm mong manh
Đậu trên khóm hoa vàng em ngắm
Anh sẽ là chàng nai ngơ ngác
Bên cánh đồng cỏ xanh thơ mộng

Anh sẽ là dòng nước chảy êm
Quanh núi chập chùng ngàn cây rợp mát
Anh sẽ là tuyết trắng đồi thông
Dưới ánh trăng ngà khi mùa đông đến

Anh sẽ là sao sáng lung linh
Chiếu xuống môi mềm ánh mắt trong
Anh sẽ là hơi ấm thái dương
Sưởi kín lòng em hết giá băng

Anh sẽ bên em trong giấc ngủ
Khi em thì thầm gọi tên anh
Anh sẽ bên em trong ước mơ
Khi em nguyện cầu được ơn ban

Anh sẽ bên em trong hạnh phúc
Khi em vui đùa má hây hây
Anh sẽ bên em mãi bên em
Con đường em đi gió nhẹ bay

Diệm Trân


Thì Đã Nhủ Rằng

 

Thì đã nhủ rằng đừng ráng yêu
Mà tin to nhỏ những mỹ miều
Mà nhìn đăm đắm mùi hàng hiệu
Mà tín ai kia bởi dáng kiều

Thì đã nhủ rằng đừng ráng yêu
Mà than gió lạnh ngả ngớn chiều
Mà vin nắng nhạt chao ôi điệu
Mà vịn mây buồn lững lững phiêu.

Thì đã nhủ rằng đừng ráng yêu
Mà sao khóe mắt lệ cứ nhiều
Mà sao thổn thức từng ngữ điệu
Mà dáng đổ dài bóng xiêu xiêu.

Làng Đá, 03 giờ 35 - 09/04/2023
Đặng Xuân Xuyến

Ai là Người Bạn Đích Thực


An Vui Hỏi:

A friend of mine said:
The friend in need is the friend indeed.

Think about it then you can understand why movies stars and famous singers usually end up with unhappy marriages.
My dear friends,
What do you think? Why is that?

Google địch: Một người bạn của tôi từng nói:
Bạn bè lúc hoạn nạn mới là bạn bè thực sự.
Hãy suy nghĩ về điều đó, rồi bạn sẽ hiểu tại sao các ngôi sao điện ảnh và ca sĩ nổi tiếng thường có những cuộc hôn nhân không hạnh phúc.
Các bạn thân mến,
Các bạn nghĩ sao? Tại sao lại như vậy?)

Quý Linh trả lời:

Lại một câu hỏi "casse-tête", "hóc búa", của anh nữa rồi!
Tài thật. Làm sao anh có thể nghĩ ra những câu hỏi như vậy nhỉ?
Linh nghĩ giản dị lắm:
Tại vì có những người có hoàn cảnh và phương tiện để sống nhiều kiếp trong một đời, thay vì chờ tái sinh..

An Vui Tiếp:

Đúng vậy. Quả thực con người trải qua nhiều kiếp sống nhỏ trong kiếp sống trăm năm này.
Từ lúc mới sinh ra, tới khi đi học mẫu giáo là một kiếp.
Từ mẫu giáo tới khi vào Tiểu Học.lại là một kiếp mới.
Từ khi tốt nghiệp Tiểu Học tới khi tốt nghiệp Trung Hoc.lại là một kiếp mới.
Từ khi tốt nghiệp Trung Học tới khi tốt nghiệp Đại Học là.một kiếp mới.
Rồi đi làm, là bắt đầu một kiếp mới.
Thành lập gia đình là bắt đầu một kiếp mới
Rồi....tới khi Thân này ngưng.hoạt động.thỉ Chấm Dứt một kiếp "trăm.năm".
Rồi lại Tái Sinh....

Xét tới cùng thì con người đã chết đi và sống lại.qua mỗi satna.
Sau 17 satna thì một Thấn mới sinh khởi và kết hợp với một Tâm Hữu Phần mới.
Hàng tỉ tỉ chu kỳ 17 sat na nối tiếp nhau thành kiếp "trăm năm"
Do duyên mà mỗi quãng đời, mỗi kiếp, ngưởi ta có một số bạn trong quãng đời đó.

Tùy duyên mà người ta gặp được bạn tốt hay xấu.
Bạn tốt là bạn có Metta, Từ Tâm, Tử Tế, Tốt bụng.
Metta gốc Pali có nghĩa là Bạn. Từ thì luôn luôn đi với Bi.
Từ Bi: cảm nhận được cái khỗ của bạn và sinh thiện ý muốn giúp bạn mỉnh tránh khổ và được 

Thế nên:

The friend in need is the friend indeed
Ngưởi bạn tới với mình khi mình gặp khó khăn, đau khổ, cần sự giúp đỡ thì đó mới thực sự là bạn, "friend indeed, true friend", ngưởi bạn thực sự.
Chứ không phải người bạn kiểu: khi vui thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai.

Tại sao những minh tinh màn bạc, hay những ca sĩ nổi tiếng như Doris Day, Connie Ftancis lại có.những hôn nhân đau khổ, đổ vỡ?

Là vì:

Họ có sắc đẹp, tiền bạc, danh vọng, là những cái thu hút, lôi cuốn những kẻ Tham Ái, Ngã Chấp.
Họ "yêu" tiền bạc, sắc đẹp, danh vọng của Doris Day. Chứ họ không thật sự yêu thương Doris Day. Tất cả những gì họ quan tâm.tới là Sắc Đẹp, Tiển Bạc, Danh Vông của Doris Day, những cái thỏa mãn khao khát ích kỷ của họ. Họ.không còn tâm trí nào quan tâm tới những nỗi khỗ của Doris Day.
Quan tâm tới nỗi khổ của người khác chính là như lý tác ý, yoniso manasikara. Quan tâm tới Khổ, Nguyên Nhân của Khổ, Làm sao để giúp người thoát Khổ.

Câu "a friend in need is the friend indeed" là câu giúp mình nhận ra người nào là người bạn tốt.
Rất nhiều người đau khổ vì không phân biệt được người nào là người bạn tốt và.người nào là người bạn xấu.
Quý Tỉ và Quý Bạn nghĩ sao?

Thân Kính,

An Vui

Và... Một Chút Xuân Thì

 
 
Nơi tôi ở, vẫn được gọi là thành phố có trăm nóc chuông nhà thờ, mùa xuân đang lấp ló trở lại.
Nói là lấp ló vì từ trăm cái nóc chuông đang im ỉm đó bỗng dưng trở nên chộn rộn khác thường. Có một cái gì lít chít lao chao đang làm xao động cả những mái đá đã trăm năm.

À bầy chim thành phố!
Những con chim đã bỏ đi lâu lắm bỗng dưng rồi trở lại từ lúc nào, đang ríu rít gọi nhau như gởi gắm từng lời thăm hỏi. Rồi là cả một chuyển động không ngừng. Từ sớm mai đến chiều hôm, từng bầy chim cứ bay đi bay về, líu ríu lích rích, chao qua đảo lại giữa mấy ô cửa, kè đá, bệ tường, vòm tượng vắt vẻo trên ngàn tấm nóc rêu xanh. Líu lo, dáo dác, rỉa lông, gỏ mỏ rồi chíu chít gọi nhau, rồi bay ra bay vào, lăng xăng lít xít như để nhìn ngó lại cái góc nhỏ quen thuộc đã bỏ đi từ lúc những cơn gió đổi chiều bắt đầu thổi về từng hơi gió bấc. Khu phố cũ với những dãy nhà xám xịt và hàng cửa kín mít cũng làm như giựt mình thức giấc. Có một cái gì đang rục rịch sống dậy ngay giữa mớ gạch đá im lìm. Một cái gì đang trở mình thấp thỏm dưới mấy lớp tuyết kín bưng. Trời đâu đã thôi lạnh hẵn. Vậy mà coi bộ lũ chim đã rất vừa lòng, cứ lấp la lấp ló, ríu ra ríu rít cả ngày làm khách qua đường cũng thấy dạ vui lây. Ờ thì ra từ những nóc chuông cao vút đó, có một chút dáng xuân đang chờn vờn quẩy đập theo mấy cánh chim mà tụ hình, mà khều nhẹ vào từng nỗi ủ ê trong những tấm lòng còn khóa chặt.

À thì ra cái mùa xuân theo bầy chim trốn biệt đâu đâu rồi cũng đương theo bầy chim mà trở lại. Từ trên cao, tin vui phút chốc đổ ào xuống, lan ra thiệt nhanh như một thứ bệnh truyền nhiểm. Đường lộ, cây cối, phố xá, mới mấy hôm trước còn dàu dàu bộ mặt đưa ma, co ro cúc rúc ngại ngùng ngay cả một tiếng hỏi câu chào bây giờ coi bộ cũng muốn thở phào, vung vai nhỏm dậy mà dang tay đưa đón. Thêm một chút xíu mặt trời ló ra, một chút xíu nồng nàn thôi là ai nấy như sống lại, rạo rực đến nỗi muốn ôm hôn bất cứ ai, mặc kệ người quen kẻ lạ.
Coi vậy mà tin xuân quan trọng dữ.
Tôi cũng có khác gì đâu.
Hồn tôi không dưng mà thức dậy sau một mùa đông thiếp ngủ.

Vậy đó, mùa xuân đang lấp ló trở lại, e dè nhưng quyết chắc nơi thành phố tôi đang ở. Hôm qua trên con đường về vắt ngang núi, tôi thấy mấy đóa hoa xuyên tuyết đã nhoi lên, loi choi điểm chút vàng chút tím giữa bãi tuyết trắng phau. Và cái mùi nhựa thông chổi dậy cứ hăng hắc theo gió mà bay xa, xa cùng khắp. Trời đất chộn rộn giao mùa làm lòng người ngây ngất cũng muốn say theo.

Rồi bỗng dưng mà tôi nhớ lại cái truyện ngắn mới đọc đâu đó. Ông nhà văn gốc lính, sau khi đã ba chìm bảy nổi với nước non trở thành người sinh viên già , ôm sách vở đến trường làm lại đời mình. Ông đi học mà lòng cứ lấn cấn không nguôi với chuyện nhà chuyện nước. Bởi vậy mà ông ta buồn nhiều hơn vui. Thiệt ra có ai mà vui được với cái lịch sử quá sức bầm dập của dân tộc, nhất là có mình ở trỏng. Không viết lách thì thôi, hể viết là thế nào rồi cái buồn đó cũng vận vào thơ văn nên cứ nghe ra cay đắng. Mãi rồi đến khi ông ta gặp một cô sinh viên từ nước ngoài sang du học. Cô ta trẻ, đẹp và xinh tươi như một nụ tầm xuân. Hai người kết bạn trong một đêm cuối năm rồi đưa nhau đi đón giao thừa giữa lòng Nữu Ước. Đêm đó, đêm hết một năm, đêm bắt đầu một năm mới. Trời đất và con người hẵn cũng có niềm giao cảm. Không biết tại người bạn gái đó trẻ đẹp và mong manh như hình sương bóng khói hay tại ông lính già cảm thấy sự lung linh thay đổi của trời đất cũng làm lòng mình rưng rưng thay đổi theo mà tự dưng ông ta chợt băn khoăn khi sắp sửa thổ lộ nỗi buồn rầu của mình với cô gái. Ông ta băn khoăn rồi ngưng lại. Tuổi em không phải là tuổi tôi. Không thể mang nỗi buồn rầu của thế hệ tôi về thế hệ em.(*)

Câu văn đó đã là đề tài nói chuyện một bữa tình cờ tôi gặp lại người học trò cũ. Gọi là học trò cũ cho oai chớ thật ra cô ta cũng đã trên dưới 40, đã chồng con đề huề, đã lao đao vì vận nước và lận đận vì đời sống xứ người. Nghĩa là đã có đủ điều kiện để nói chuyện ngang hàng với ông thầy cũ. Tuy nhiên vì truyền thống, cô ta vẫn một mực thầy trò khuôn phép lắm. Vậy mà lần đó, khi nghe tôi kêu ca về nỗi sầu lữ thứ kéo theo một mớ dây mơ rễ má sầu vong quốc sầu vong thân sầu vong tình ... hầm bà lằn xắn cấu sầu của thế-hệ-bất-hạnh-tôi đến nỗi cô ta phải duyên dáng mà nhẹ nhàng cản lại. Còn đang bất ngờ, cô ta đã đột nhiên hỏi vặn lại tôi vậy chớ sầu hoài không thấy khổ thân sao. Rồi lịch sự đề nghị hay là lần này người lớn thử nghe lại người nhỏ coi.

Thay vì cứ đi lo truyền lại cái buồn rầu dẫu chính đáng của mình cho em út sao không bắt chước tuổi trẻ mà sống cho vui. Lớp trẻ đó có tội tình gì mà kéo vô gánh tiếp cái sầu bất tận của cha anh. Lớp lớn cũng có tội tình gì mà đeo đẳng mãi cái sầu vô cùng vô hạn. Mọi người phải sống chớ. Ai cũng còn một đời dài lắm chớ có ngắn ngủi gì đâu ... Hai con mắt lao đao đã thoáng chút gì phiền muộn, giọng nói nhẹ tênh mà không giấu được nỗi ân cần, giữa buổi chiều cuối năm nơi một vùng đất lạ chợt làm tôi giựt mình ...

Câu khuyên lơn của cô học trò cũ cùng với tâm sự của ông nhà văn, trong cơn say đúng lúc của mùa xuân dậy thì bỗng như một luồng gió ấm thổi suốt cõi lòng tôi đã quá chừng ảm đạm. Bỗng chốc tôi thấy sương khói. Bỗng chốc như có tiếng vỗ về từ một bãi bờ nào xa tắp. Ờ quá khứ. Ờ hiện tại. Tại sao nhớ. Tại sao quên. Ờ mùa đông sắp hết. Mùa xuân đang lật bật trở về. Rồi hè. Rồi thu. Tôi nhỏ nhoi trong cái vòng quay bất tận của trời đất. Tôi bọt bèo trong cơn cuồng nộ của lịch sử. Tôi giữ gì cho tôi. Tôi để lại gì cho em. Bỗng chốc mọi sự rõ ràng như đã an bày từ một định mạng. Những hẹn thề. Những bội phản. Những được thua còn mất. Tự giam mình trong nhà giam của quá khứ có phải là một chọn lựa thích hợp khi cuộc đời vẫn thản nhiên quay trọn cái vòng quay của nó. Bỗng chốc tôi thấy mình như con chim trốn tuyết, mỗi mùa đông bỏ đi để rồi quày quả trở về, đều đặn như người tình chung thủy. Đường bay xa có dịu vợi nhưng làm sao thất lạc được cái gác chuông nhà thờ, nơi chốn đã sanh ra. Tôi bỗng thấy lòng mình mở ra, thênh thang. Cái thế giới trước mắt, trăm hướng. Và con người, con người cũng chỉ là sản phẩm của thời đại nó sống. Ai đã tạo ra cuộc đổ vỡ. Và tôi, tại sao tôi phải gánh hết nguồn cơn.

Có đơn giản vậy mà sao tôi không biết.

Phải rồi. Thiệt tình đơn giản như hết đông thì xuân tới. Những mùa lạnh thì buồn. Trời ấm sao mình lại không vui. Tuổi già hay tiếc nuối những mất mát. Tuổi trẻ có mất mát gì đâu sao bắt lại tiếc nuối với mình.
Mùa xuân của trời đất còn đi đi lại lại. Mùa xuân của con người chỉ tới có một lần. Tuổi trẻ, yêu đương, hạnh phúc có những bước chân rất vội. Lỡ để vuột mất thì không còn lần thứ hai nào nữa.

Nghĩ tới sự vội vã của xuân thì lại làm liên tưởng đến bức tranh đen trắng của Robert Doisneau chụp đâu từ những năm 50 một cặp tình nhân trẻ tuổi đang hôn nhau bất chợt ngay khi mùa xuân vừa lật bật trổi dậy ở Paris.
Trích lại một đoạn viết đã lâu

“... Bức ảnh có tên là Nụ hôn trước tòa thị sảnh, được bày bán trong một quán sách dọc bờ sông Seine. Nụ hôn của tuổi trẻ đúng độ ngay giữa một thời tiết đúng mùa
Cả người cho và người nhận cùng có mặt đúng lúc. Cuộc hạnh ngộ với định mạng chỉ có một lần trong đời.

Người ta đến kịp hay không. Rồi thôi, không có lần thứ hai nữa. Ôi nụ hôn tuổi trẻ say đắm không gợn một vết buồn phiền, hồn nhiên như mây thì bay và chim chóc thì ca hát khi xuân thì vừa chín tới. Cái hạnh phúc tuyệt vời đó lẫn lẫn đâu trong nhân gian mà bỗng bị sớt ngang và cắn ghịt giữa hai cặp môi ngon, thành ra như giữ cả thiên thu ở lại. Tóc người trai bay lồng theo gió sớm, mặt người gái ngửa lên, hiến dâng và tay buông thỏng, chấp nhận. Cả hai như đã bỏ thế giới này, lánh mặt vào thế giới của riêng họ, bất kể thiên hạ chung quanh mặc tình dòm ngó. Vũ trụ chắc không có ai, không còn ai nữa. Trong một thoáng hai người đã nhập làm một và nụ hôn của họ có vẻ kiêu kỳ của một cơn gió lạ, bất thường. Ôi có phải hạnh phúc là cái khoảnh-khắc-đã-qua-đi-ngay-khi-đang-nói-tới đó không mà người chụp ảnh tài hoa may mắn bắt kịp vào âm bản. Và thanh xuân nữa, có phải là cái thời khắc hiếm hoi chỉ được nhận-ra-khi-đã-mất đi, bây giờ được đóng khung lại để treo trên bức tường kỷ niệm ...

Em, tôi, bạn bè chúng ta, những người tuổi trẻ của những năm 70, đã có mấy người chụp bắt kịp cái khoảnh khắc tuyệt vời đó đâu em, cái khoảnh khắc hiếm hoi đến gần như không có thật. Hằng hà số còn lại, trong ̣̣đó có tôi và em, đã để lỡ. Không phải tôi muốn đổ lỗi cho mớ giáo điều đã vây khốn chúng ta nhưng mà nghĩ lại coi, cái thời buổi kỳ cục đó. Chúng ta có quá nhiều trách nhiệm phải chu toàn ngoại trừ cái trách nhiệm với chính mình. Chúng ta lớn lên và sống cho đủ thứ đòi hỏi chỉ trừ cái đòi hỏi được sống cho riêng ta ...
Rồi còn giặc giã, rồi cơn ly tán. Ai trong chúng ta đã tới kịp giờ hẹn của đời mình ...!”

Hình ảnh của một khoảnh khắc hạnh phúc được đông đặc để còn lại mãi mãi có phải là cái ước mơ vĩnh cữu của con người, của tôi, của bạn về một hạnh phúc trần thế rất đỗi mong manh mà thế hệ chúng ta đã để cho vuột mất.

Thế hệ chúng ta đã hy sinh hay đã bị hy sinh, điều đó ai cũng biết. Cũng đã đành. Thì hãy để cho thế hệ sau được sống đời của họ, yên lành và sung sướng như chúng ta đã mơ ước cho mình.

Nỗi sầu của ta đã vậy. Thêm một người nữa cũng chẳng bớt sầu hơn. Mà thiếu đi một người không chừng cuộc đời này có đáng yêu thêm chăng

Vâng, thiếu đi một người sầu không chừng mùa xuân sẽ dài thêm một chút. Thêm nhiều người thôi sầu nữa cho mùa xuân cứ dài mãi thêm ra. Cho đến lúc cả mặt đất này là một mùa xuân bất tận.

Vâng, xuân chính là ở lòng ta đó.

Cao Vị Khanh




Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2026

Ám Ảnh - Sáng Tác: Diệu Hương - Tiếng Ca: Phạm Cao Tùng

Sáng Tác: Diệu Hương
Tiếng Ca: Phạm Cao Tùng

Tìm Người Trong Giấc Chiêm Bao



Hồn xưa phiêu lãng tận phương xa
Lệ thương đau son phấn nhạt nhòa
Khép lại hàng mi tìm chẳng thấy
Quanh mình tang trắng phủ mênh mông

Cuộc hư vô cách một bước đường
Mưa tháng Sáu rơi mờ viễn phương
Phù sinh một kiếp chưa tròn mộng
Ai đem mưa đến lại buồn thêm

Người theo cát bụi cõi mù xa
Vàng lá trên cao chữa lìa cành
Gợi lại cung đàn thời hoa bướm
Thương ca vô tận huyết lệ tràn

Kim Phượng
6.6.2026

Quỳnh Hoa Đêm Rằm

 

Đêm rằm thanh vắng thoảng hương Quỳnh
Dõi mắt chờ hoa, phút lặng thinh
Tỏa sắc một đêm, bừng nở đẹp
Khoe màu nhất dạ, mãn khai xinh
Bông xòe gù gật chào sương mộng
Nhụy xỏa phất phơ đón nguyệt tình
Vương miện trao nàng ngôi diễm tuyệt
Dù là khoảnh khắc, đáng tôn vinh!

Duy Anh
Rằm Tháng Tư 2026

Quần Vợt - Túc Cầu


Hôm nay là thứ sáu, 5/6/2026. Tôi chào thứ sáu đầu tiên của tháng sáu năm (20)26 này!
Ngày xưa, sau lúc ‘’đổi đời’’, không biết tại sao bạn bè thân thiết chúng tôi lại gọi tên nhau với ‘’Sáu’’ bắt đầu? 6 Hậu, 6 Phương, 6 Liêm, 6 Dũng. vv mặc dầu tôi thứ 11, Liêm thứ tư, Dũng anh cả.
Trước 75, thời ông Kỳ ( lúc chưa kỳ … cục như ‘’sau này’’ ) , báo chí Sài Gòn gọi Chuẩn/ Thiếu tướng Không Quân Nguyễn Ngọc Loan là Tướng Sáu Lèo.

Trong một bài viết năm xưa, ông Lô-Răng Phan lạc Phúc đặt câu hỏi: ‘’… Không biết từ này xuất xứ từ đâu, nhưng khi nó đi vào ngôn ngữ dân gian thì nó mang một ý niệm bỉ thử, dèm pha, tiêu cực. Tiền “lèo” là tiền vô giá trị, hay là tiền chỉ có trong tưởng tượng. Hứa “lèo” là hứa suông, hứa hão, hứa mà không thực hiện bao giờ. Vậy “Sáu Lèo” có nghĩa là một ông quan sáu vô giá trị hay là một ông tướng hữu danh vô thực hay sao? …’’. Ông Phúc hỏi, rồi ông tự trả lời: ‘’… Sở dĩ cái danh xưng này đứng vững một phần là vì cái bề ngoài luộm thuộm của ông Loan. Ông rất ít khi mặc quân phục, mũ mãng cân đai, nghênh ngang giàn giá. Ông thường mặc quần áo “trây di” xộc xệch, không đeo lon lá gì, chân đi dép cao su lẹp xẹp. Ra ngoài thì ông ngồi xe Jeep bình thường, không có mang cờ quạt mà cũng không có xe mở đường, mô tô bảo vệ. Ông nhiều khi còn đi xe “mobilet” lạch xạch đi làm. Có khi ông còn một tay cầm chai lade, một tay cầm súng M16 vừa đi vừa ực lade, vừa chửi thề loạn xạ. Bề ngoài của ông tướng Loan đúng là xập xệ, là “lèo”, nhưng việc làm của ông thì lại không “lèo” một chút nào …’’ .

Theo giải thích của ông Phúc, tôi không gọi ông là Tướng Sáu Lèo. Mà là ông tướng ‘’Bình Dân’’, dù ông không là một người dân ‘’bình thường’’. Mà là một ông Tướng ‘’ngon lành’’, đển đổi, viết về ông, không chỉ các thuộc cấp (Đại tá Trần minh Công , Thiếu tá Liên Thành ) ca tụng, mà môt ‘’văn nô’’ CS cũng phải công nhận:
(danviet.vn: TH Thứ ba, ngày 03/01/2023 20:47 GMT+7)

Chị của ông Loan là Bác Sĩ Nguyễn Bích Tuyết, nguyên Giáo Sư Đại Học Y Khoa Sài Gòn ! Anh (?) rể ông là Đại Tá Văn văn Của, nguyên Y Sĩ Trưởng Sư Đoàn Nhảy Dù (1957-1964), nguyên Đô Trưởng Sài Gòn (65-68), cũng là một người rất ‘’sympa.’’ mà tôi có dịp tiếp xúc hai lần. Ghi lại để thấy, một người xuất thân từ một gia đình nề nếp, khoa bảng, một cấp chỉ huy tài giỏi, ‘’có lòng’’, thì khó mà ‘’lèo’’, mà ‘’hữu danh vô thực’’ được.

Từ hai, ba ngày nay, hàn thử biểu nơi tôi ở ghi 15°C ! Trước đó, trong hơn một tuần liền, là 33, 35°C ! Không chỉ ở Pháp, là cả một vùng Tây Âu, cũng lao đao vì nóng bức ! Ngay cả dân ‘’a cup of tea’’ cũng bắt đầu lôi than ra bán, hết còn ‘’phớt tỉnh ăng-lê’’ ! Từ cuối tháng 2, sợ … ‘’nhảy đầm’’ không đẹp, tôi đã bớt phân nửa ‘’bia-ôm’’ ( ie. bỏ bia ) . Cho đến khi ‘’cái nóng nung người nóng nóng ghê’’ (Dương bá Trạc) thì chịu hết nổi, tôi đành phải vi phạm hiệp định Paris, ký ‘’mình ên’’ ! Nhà chỉ có hai người, ‘’máy lạnh mobile’’ để trong phòng ngủ, nên trong ngày, nóng quá, tôi ra vườn, ngồi trong bóng mát cây cerisier, vừa hóng gió (nếu có), vừa chiêu mấy ngụm bia mát lạnh ! ‘’Cuộc đời vẫn đẹp sao’’. Chuyện … ‘’bụng bự’’ tính sau!
Thế mà chỉ một sớm, một chiều, 35 xuống 15. Cách nhau 20°C !!! Cứ như lòng … người. Đổi thay xoành xoạch!
Trưởng giả học làm sang. Không phải ‘’trưởng giả’’ nhưng nghĩ đến lúc còn ở Việt Nam, thì tôi cũng …’’sang’’ lắm 

Ỏ bên nhà tứ thời, như mọi người, mỗi ngày, tôi chỉ hai bộ quần áo: một để ra ngoài (đi học, đi chơi …) và một ở nhà, kể cả đi ngủ . Có nghĩa là một phát quần đùi, một mảnh chemise. Hôm nào nóng quá thì cậu ‘’sexy’’ 50%, chỉ giữ lại Trường Sơn nam! Lại nhớ căn phòng tôi, ở Sài Gòn, từ lầu 2 nhìn ra phía sông cầu chữ Y, mà lúc xây, ông Cụ tôi đã cho lắp nhiều cửa sổ nhỏ (đẩy lên, như ‘’velux’’), để cậu Út có gió sông thổi mát vào, cả ngày, lẫn đêm, năm này sang năm khác. Cứ như mấy câu thơ Nguyễn Bính ‘’ Một nghìn cái cửa sổ . Đều khép vào đêm qua. Một nghìn bàn tay ngà. Đã thò ra cửa sổ …’’. Khác chăng là, ở đây, không có bàn tay ngà, mà chỉ có hai ngón tay vàng khói thuốc (!)’’.

Khi qua Tây, thì ‘’em bé quê’’ mỗi ngày thay 3 bộ quần áo: ra ngoài, trong nhà, đi ngủ. Lúc có nhà riêng thì tăng thêm 1 bộ: làm vườn, sửa đồ vv. Mấy năm sau này, lại thêm 1 bộ làm-sport. Nghĩa là mỗi ngày 5 bộ quần áo!!!! Nhưng với cái nhiệt độ thay đổi (hầu như) mỗi tuần, mấy hôm nay, mới 5 bộ tuần trước, mặc chưa kịp bẩn (trừ bộ ‘’thể thao’’), thì hôm qua, đã thay 5 bộ cho cái nhiệt độ mới này!!! Chưa một tuần đã 10 bộ quần áo! Thay với tốc độ đó thì tôi chưa thấy có ai, dẫu với mấy ông ‘’thay tình như thay áo’’ !!!

Tháng 6 năm nay là một tháng nhiều sôi động thể thao, ở Pháp. Giải quần vợt Roland Garros mỗi năm, thêm giải ‘’túc cầu thế giới’’. Khiến cho dân hâm mộ hai bộ môn này không kiếm đâu ra ngày giờ để vui chơi với bạn bè hay để viết thư … internet!

‘’Roland Garros’’ ( lần thứ 125) bắt đầu từ 24/5 đến 7/6. Năm nay, có một tay vợt người Mỹ gốc Việt Learner Tiên (Tiến?) bị loại ở vòng 3 (30/5) . Hôm nay, là vòng bán kết Nam:


Ngày mai Finale nữ, giữa hai tay vợt Ba Lan (Maja Ewa Chwalińska) và ‘’Nga’’ ( Mirra Andreeva).

Giải túc cầu thế giới năm nay, diễn ra từ 11/6 đến 19/7/2026, ở 3 quốc gia : Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Mễ Tây Cơ, với 48 hội tuyển tham dự ( thay vì 32 như trước đây ). Với 12 ‘’nhóm’’, mỗi nhóm 4 đội, sẽ có 104 trận đấu ( thay vì 64).

Theo ‘’siêu máy tính’’ (super ordinateur) Opta, xác suất 5 hội tuyển sẽ đoạt giải ‘’túc cầu 2026’’: Tây Ban Nha (17%), Pháp (14,1%), Anh (11, 8%), Á Căn Đình (8,7%), Đức (7,10%). Tôi đồng ý với ‘’top 5’’ này nhưng đứng 3 sẽ là Á Căn Đình, rồi Đức, Anh!

Lần ‘’World cup 2026’’ này, tôi không hứng thú gì mấy, lần đầu tiên từ trên 4 thập niên nay. Khi đã ‘’rửa tay gác kiếm ‘’ rồi thì cũng là gác luôn các bữa ăn trưa vui vẻ, các màn cá độ sôi nổi vv với mấy đồng nghiệp!!! Đã thế tối qua,4/5, xem Pháp đá giao hữu với Cote d'Ivoire, tôi lại càng rầu thêm! Sân nhà, khán giả nhà, mà lại thua 2-1. Nhưng đã trót ‘’yêu’’ rồi thì gà Gaulois có nuốt bao nhiêu dây thun, thì vẫn cứ ‘’yêu’’ như thường

Tình yêu mà, làm sao cắt nghĩa được?!!!

05/6/2026
BP

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2026

Sang Mùa

( Ảnh: Tác Giả)

Mưa không trôi hết nỗi buồn
Nắng không đủ ấm sưởi nguồn thơ rơi
Gió quên chở ước mơ đời
Mây lang thang mộng đêm vời vợi đêm
Ta nghe bước hạ vào thềm
Bóng xuân dần khuất sau rèm sương buông
Ngẩn ngơ cánh phượng sân trường
Cánh mai muộn nở rưng buồn vu vơ
Bến xưa người hẹn người chờ
Mùa qua mùa lại sông thơ cạn nguồn
Xuân rơi … chạm nhẹ chữ thương
Hạ đan sợi nắng tơ vương sưởi lòng!

Ảnh & Thơ: Yên Dạ Thảo
30.05.2026

Biển Đông

( Ảnh: Tác Giả)


Tưởng chừng trong mắt trong veo
Nhìn ra thấy được đường eo biển ngời
Lại ngờ mặt thủy tinh phơi
Miên man sóng dợn cuối trời mênh mang
Chiều nghiêng nắng trải lênh loang
Cho lòng biển mặn thêm chan chứa tình
Trong xanh biển nước sẵn dành
Không từ trong mắt biến thành xanh trong
Ngàn xa tiếng gọi Biển Đông
Nơi còn những giọt tim nồng…Chưa tan!

Ảnh & Thơ: Phong Tâm

Tình Lỡ


Ngày đó gặp em mây âm u.
Tiết trời Đà Lạt ướp sương mù.
Rừng thông reo hát mừng tao ngộ.
Có phải thực không hay mộng du?

Anh đến thăm em mỗi buổi chiều.
Mấy lần hò hẹn ngát hương yêu.
Ngoài trời giá lạnh nhưng lòng ấm.
Kề cận bên em hạnh phúc nhiều.

Nghỉ phép thời gian có hạn kỳ.
Anh về đơn vị mang tình si.
Năm sau trở lại mơ duyên thắm.
Trời hỡi! Vì đâu em bỏ đi…

Mưa đêm thổn thức khắp không gian.
Chạnh nhớ tình em duyên lỡ làng.
Hò hẹn làm chi mà luyến nhớ.
Để rồi tình lỡ mộng lìa tan.

Lâm Hoài Vũ

Vài Tiếng Việt Rắc Rối Giữa [D] Và [Gi] - Hà Ngọc Thuần

 

Da-Tô: viết [D] theo Đào Duy Anh. Đồng ý có Cụ Lê Ngọc Trụ, trong Chánh tả Tự Vị. phần đông chúng ta đều viết [Gi]a-Tô. Phiên âm của Jesus (Pháp và Anh).
Nhưng người ta chỉ dùng Gia-tô trong cụm từ Gia-Tô giáo hay Đạo Gia-Tô.
Người Việt học Đạo trực tiếp từ các giáo-sĩ người Tây Âu, nên ít dùng tiếng Hán Việt; Jesus dịch thẳng là Giê-Su. Cruz mới đầu dịch là câu rút, sau mới
dịch lại là thập-tự giá hoặc thánh giá. Sau này việc học giáo lý mở mang nhất là thần học, mới cần nhiều cụm từ Hán Việt.

Dác: viết [D] theo Đào Duy Anh. = sừng động vật = góc. Rhinoceros = tê dác; trigonometry = lượng dác học. Cụ Lê Ngọc Trụ không tán thành ý kiến này, và hầu hết các từ điển đều viết [Gi] như Ngũ Giác Đài = the Pentagone (tiếng Hán-Việt thêm chữ Đài). Ngũ Giác Đài( là một mục tiêu tấn công trong biến cố 11/9, nhưng không thiệt hại gì nhiều)..
Cụ Đào Duy Anh có thể đúng (?) nhưng mãnh hổ nan địch quần hồ (?)

Dái: 
1. "Già dái non hột " có lẽ là già giái (= trái) non hột
2. "Thằng Quỳnh ngồi trên cây cậy dái đỏ hồng hồng" có lẽ là trường hợp tương tự, dái = giái ( = trái)
3. "Khôn cho người ta dái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương chỉ tổ cho người ta ghét"
      chữ dái này có lẽ là một cách đọc của "vái" (?) ( = bái).

Dáng: không phải "dáng" , mà cũng không phải "giáng" mà là Ráng mới đúng, và Cụ Thiều Chửu là người duy nhất chủ trương thuyết này. Ráng là tiếng nôm, tiếng Hán dịch là "hà". Theo Cụ Thiều Chửu [Gi]áng phiên âm với nghĩa màu đỏ là bịa đặt.

Lạc hà dữ cô vụ tề phi
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc
(Vương Bột)

Trong Légendes des Terres Sereines, Histoire de Từ Thức Phạm Duy Khiêm dịch Giáng Hương là l'Encens Vermeil. Vermeil = Giáng = Ráng = Mầu đỏ
Không phải là hương từ trên trời "giáng" xuống hạ giới.

Làn mây hồng pha ráng trời
Sóng Đà Giang thuyền qua xứ người
(Huyền Chi/ Phạm Duy - Thuyền Viễn Xứ)

Rất tiếc là là trong Truyện Tú Uyên, cũng trong sách Legendes, Ông Phạm Duy Khiêm không dịch Giáng Kiều sang tiếng Pháp. (có thể nào dịch là Beauté vermeille ???)

Nhà thơ Pháp Victor Hugo cũng rất thích màu Ráng trời này

Seigneur préservez moi préservez ceux que j'aime
Frères parents amis et mes ennemis même
Dans le mal triomphants
De jamais voir l'été sans fleurs vermeilles
La cage sans oiseaux, la ruche sans abeilles
La maison sans enfants.

Danh: không phải "danh" mà cũng không phải "gianh" mà là "ranh " mới đúng. Đây là giả thuyết của nhà văn Việt Điểu Thái Văn Kiểm, đoán chừng sông Gianh

Đây sông Gianh đây biên cương thống khổ
Đây sa trường đây nấm mộ trời Nam
(Đằng Phương)

Khởi đầu là ranh giới Đàng Trong và Đàng Ngoài nên gọi là Sông Ranh, tiếng Hán dịch là Linh Giang (Linh là tiếng phiên âm gần đúng của Rinh = Ranh). Nguyễn Du có một bài thơ chữ hán nhan đề "Độ Linh Giang".

Với trình độ của tôi thì Cụ Thái văn Kiểm là nhà văn đáng tin cậy, nhưng thuyết Ranh Giang ít người biết hoặc nói đến, và tôi đã nhận được một ý kiến không chấp nhận thuyết này, khá cương quyết.

Dao: 
 1.Quỳnh dao

Hài văn lần bước dặm xanh
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao
Nguyễn Du - Đoạn Trường Tân Thanh 143-144

Vẫn còn những người viết "quỳnh [Gi]ao" là sai (?) chính tả. Trừ trường hợp tên riêng.

2.Dao động: Là hai từ tôi gặp trong sách Vật Lý học lớp Đệt Nhất của Cụ Hoàng Cơ Nghị, dịch từ "oscillation" của Pháp, là chuyển động của một động tử trong mặt phẳng đối xứng
với một trục và giữ một khoảng cách cố định với một điểm gốc. Nôm na là chuyển động của con lắc đồng hồ. Viết [gi]iao động là sai chính tả.
Và không nên dùng lầm với náo động hay xao động., hay chấn động.

 Xin nhờ GS Huỳnh Chiếu Đẳng vốn là giáo-sư toán lý hóa giúp cho một định nghĩa ngắn gọn và đúng hơn, có tính cách khoa học hơn. Xin cảm tạ.

3.Tiêu dao:Tiêu Dao Du là chương đầu của sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử, tiêu cũng đọc là "phiêu" và dao cũng đọc là "diêu". Nói tiêu diêu, tiêu dao, phiêu diêu đều đúng
(nhưng không ai nóí "phiêu dao" ?).

Trong nhiều lời phân ưu chúng ta thường đọc: xin cầu nguyện hương linh được sớm tiêu diêu miền Cực Lạc. Như vậy là kiêm cả Phật giáo và Lão giáo. Theo đạo Phật thì xin cầu nguyện cho hương linh được vãng sanh nơi Cực Lạc. Theo Lão giáo thì xin cầu nguyện cho hương linh được sớm tiêu dao miền Tiên Cảnh. Xin tùy nghi lựa chọn.

Xin tạm ngừng nơi đây và xin mời Anh Em đóng góp những [D] và [Gi] Anh Em đã thấy.

Hà Ngọc Thuần
01/06/2026

Tưởng Nhớ Giáo Sư Nguyễn Văn Canh (1933 –2026)


A. GIÁO SƯ NGUYỄN VĂN CANH MỘT TRÍ THỨC LỖI LẠC.

Trong niềm tiếc thương sâu xa của giới trí thức, cựu sinh viên, các chiến hữu và đồnghương người Việt tị nạn cộng sản tại hải ngoại, Giáo sư Nguyễn Văn Canh đã vĩnh viễn ra đi lúc 2 giờ 30 sáng ngày 13 tháng 05 năm 2026 tại bệnh viện Kaiser,Redwood City, California, hưởng thọ 93 tuổi.

Sự ra đi của Thầy không chỉ là mất mát của gia đình và thân hữu, mà còn là mất mát lớn lao cho cộng đồng người Việt quốc gia, cho nền giáo dục và cho thế hệ hậu sinh từng được thừa hưởng trítuệ, nhân cách và tâm huyết của một bậc đại thụ.

Trước năm 1975, Giáo sư NguyễnVăn Canh là một trong những trí thức lỗi lạc của nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa. Thầy từng giữ chức vụ Thứ Trưởng Bộ Thông Tin - Chiêu Hồi dưới thời Tổng Trưởng Hồ văn Châm, Phụ Tá Khoa Trưởng Đại Học Luật Khoa Sài Gòn — một trung tâm đào tạo tinh hoa của miền Nam tự do. Không những thế, Thầy còn là Thuyết Trình Viên tại Trường Chỉ Huy và Tham Mưu, Trường Cao Đẳng Quốc Phòng,nơi đào luyện những sĩ quan lãnh đạo cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa trong thời chiến.

Song song đó, Thầy còn là Giảng Sư Đại Học Vạn Hạnh và Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, đóng góp công sức đào tạo nhiều thế hệ sinh viên, sĩ quan và cán bộ quốc gia với tinh thần trách nhiệm, đạo đức và lý tưởng phục vụ dân tộc.

Người ta thường nói:
“Người thầy lớn không chỉ truyền kiến thức, mà còn truyền khí phách vànhân cách.”
Giáo sư Nguyễn Văn Canh chínhlà hình ảnh tiêu biểu của mẫu người thầy như thế.

Trong thời kỳ đất nước còn chiến tranh, khi biết bao biến động phủ lên quê hương, Thầy vẫn âm thầm đứng trên bục giảng, lấy tri thức làm ánh đèn soi đường cho tuổi trẻ. Những bài giảng của Thầy không đơn thuần là luật học hay chính trị học, mà còn chứa đựng tinh thần trách nhiệm công dân, lòng yêu nước và ý thức bảo vệ tự do dân chủ.

Sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, phải sống nơi đất khách quê người, Thầy vẫn không ngừng cống hiến cho họct huật và cộng đồng. Thầy trở thành Học Giả của Viện Nghiên Cứu Hoover về Chiến Tranh, Cách Mạng và Hòa Bình — một viện nghiên cứu danh tiếng của Hoa Kỳ. Ở môi trường học thuật quốc tế ấy, Thầy tiếp tục đóng góp tiếng nói của một học giả Việt Nam chân chính về chiến tranh Việt Nam, về hiểm họa cộng sản và về con đườngdân chủ cho quê hương.

Dù tuổi cao, Thầy vẫn luôn quan tâm đến sinh hoạt cộng đồng người Việt quốc gia tại hải ngoại. Với vai trò Cố Vấn Tổng Hội Cảnh Sát Quốc Gia và Hội CSQG VNCH Bắc California, Thầy luôn đượckính trọng như một bậc trưởng thượng đầy uy tín và đạo hạnh. Những lời phát biểu của Thầy lúc nào cũng ôn tồn, sâu sắc nhưng đầy chính khí.
Cả cuộc đời Giáo sư Nguyễn Văn Canh là hành trình phụng sự không ngừng nghỉ: phụng sự giáo dục, phụng sự lý tưởng tự do và phụng sự dân tộc Việt Nam.
Ở Thầy, người ta nhìn thấy sự hòa quyện giữa trí thức và nhân bản, giữa học thuật và trách nhiệm xã hội. Thầy sống thanh cao, giản dị, khiêm cung nhưng kiên định trước mọi nghịch cảnh của thời cuộc.

Ngày hôm nay, khi Thầy đã yên nghỉ, những thế hệ học trò năm xưa chắc hẳn vẫn còn nhớ mãi hình ảnh một người giáo sư với phong thái điềm đạm, lời nói từ tốn, ánh mắt hiền hòa nhưng đầy trí tuệ. Bao lớp sinh viên, sĩ quan và hậu sinh từng được Thầy dìu dắt nay đã trưởng thành khắp nơi trên thế giới. Đó chính là những “trái ngọt” mà cuộc đời người thầy để lại cho hậu thế.
Người đời có thể ra đi, nhưng công đức và trí tuệ của người thầy chân chính sẽ còn sống mãi.

B.GIÁO SƯ NGUYỄN VĂN CANH VÀTÔI CHUNG MỘT CHIẾN TUYỀN ÂM THẦM.


Có những kỷ niệm trong đời người không bao giờ phai nhạt, nhất là những kỷ niệm giữa thầy và trò trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động của quê hương. Đối với tôi, Giáo sư Nguyễn Văn Canh không chỉ là một vị giáo sư khả kính dưới mái trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn,mà còn là một người thầy, một người anh lớn đã dìu dắt tôi trong những năm tháng hoạt động đầy hiểm nguy giữa thời chiến tranh.

Ngày ấy, (1974) Thầy giữ vai trò Phụ Tá Khoa Trưởng Đại Học Luật Khoa, còn tôi — Hà Đình Huy (Duy Văn) — là sinh viên năm cuối Ban Cử Nhân Luật,(Ban Kinh tế) với vai trò là thành viên của Ban Đại Diện Sinh Viên.(TTK sinh viên đoàn) Nhưng phía sau đời sống học đường ấy, Thầy và tôi còn cùng đứng chung trong một chiến tuyến âm thầm: A 17 Phủ Đặc Ủy Tình Báo Trung Ương.

Trong tổ chức đó, Thầy hoạt động ở cấp giáo sư, còn tôi với vai trò sinh viên xâm nhập hoạt động tại Đại Học Luật Khoa để làm công tác tình báo và theo dõi tình hình trong giới sinh viên lúc bấy giờ. Đó là một thời kỳ đầy khó khăn và nguy hiểm, khi cuộc chiến ý thức hệ đang len lỏi vào từng giảng đường đại học.

Chính trong thời gian ấy, ThầyCanh đã tận tình hướng dẫn tôi rất nhiều về kỹ thuật ngoại giao, cách quan sát tình huống, phương pháp làm việc kín đáo nhưng hiệu quả, cũng như luôn nâng đỡ tôi về mặt học vấn. Với tôi, Thầy vừa là người chỉ huy âm thầm, vừa là người thầy đúng nghĩa. Những thành quả và “chiến công” mà tôi đạt được trong thời gian công tác tại trường Luật phần lớn đều nhờ vào sự chỉ dạy và nâng đỡ của Thầy.

Tôi còn nhớ sau mỗi lần hoàn thành công tác, Thầy thường nhìn tôi với ánh mắt đầy trìu mến và nói rằng tôi là “một anh hùng.” Đối với tôi, lời khen ấy từ một người thầy đáng kính có giá trị lớn hơn mọi phần thưởng. Thầy thương tôi như một học trò thân tín và luôn xem tôi là một sinh viên tốt, tận tụy với nhiệm vụ và lý tưởng mình theo đuổi.

Nhiều năm sau, trong một lần các cựu sinh viên đến nhà chúc thọ Thầy, dù tuổi đã cao nhưng trí nhớ Thầy vẫn còn minh mẫn. Thầy nhận ra từng khuôn mặt học trò năm xưa. Và khi nhắc đến tôi, Thầy vẫn xúc động nói với mọi người: “Duy Văn… anh ấy là một anh hùng.”

Hôm nay hay tin Thầy đã vĩnh viễn ra đi, lòng tôi bỗng trào dâng niềm thương tiếc vô hạn. Bao nhiêu kỷ niệm cũ dưới mái trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn lại hiện về như mới hôm qua — những ngày thầy trò cùng đứng chung chiến tuyến để chống lại quân thù ngay trong môi trường đại học giữa thời chiến tranh khốc liệt.

Thầy đã về miền miên viễn,nhưng hình ảnh của một giáo sư uyên bác, một người thầy tận tụy, một người quốcgia đầy chính khí sẽ mãi mãi còn sống trong lòng tôi.

Xin kính nghiêng mình tiễn biệt Giáo sư Nguyễn Văn Canh — một nhà giáo dục khả kính, một học giả uyên bác, một người quốc gia chân chính đã dành trọn đời mình cho dân tộc và cho thế hệ mai sau,suốt đời tôi không bao giờ quên.

Nguyện cầu hương linh Thầy sớm tiêu diêu miền cực lạc.

Thành kính phân ưu cùng tang quyến.

Duy Văn Hà Đình Huy