Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2026

Hình Như Là Tình Yêu - Nhạc Và Lời Phạm Anh Dũng - Suno Thực Hiện

Nhạc Và Lời: Phạm Anh Dũng
Suno Thực Hiện

Chiều Mưa Ở Vĩnh Viễn


Chuyến phà muộn theo người về Long Mỹ
cơn mưa chiều bất chợt phía kia sông
chân lúng túng giữa hai bờ gió lộng
sóng lao xao theo từng giọt vô cùng

Con đường đất ướt lầy tay nắm chặc
bước theo người mỗi bước mỗi thương chân
những mái lá nằm yên nghe gió trở
bờ môi ngon chạm hơi thở thật gần

Mưa ngấm đất chiều nay mưa Vĩnh Viễn
làng quê em tên gọi thật xa xăm
như đôi mắt buồn quanh ngày xuống thấp
mưa quê nghèo, có giữ được ai không?

Mưa cũng tạnh để phà quay trở lại
một người thương đưa tiễn một người về
con nước chảy mang theo chiều dĩ vãng
phía kia bờ dáng ai đứng buồn ghê!

Mưa ngày xưa, chiều xưa mưa Vĩnh Viễn
ướt môi người mưa thắm ướt môi tôi
mưa bây giờ mưa thương nhớ khôn nguôi
mưa ở lại, chiều xưa mưa ở lại...

Nguyễn Vĩnh Long

Mở Cửa Đón Hai Kỳ Nữ

 

(Thơ VUI mừng năm mới)

Lồng lộng mùi hương gió ngát bay
Hai trang kỳ nữ vựợt chân mây
Đến thăm kẻ sĩ đầu năm mới
Nàng Xuân Nàng Thơ hội ngộ này
Nào biết chủ nhân mưu gì đây
Mở cửa rộng với cả vòng tay
Đón hai kỳ nữ vào trong để
"Đồng Tứớc Xuân Thâm Toả Nhị Kiều"


CN-HNT ,
 Mar.24.26 (100.101a)

Hẹn Nhau

 

Tóc Đuôi Ngựa



Người ta nghĩ ra kiểu tóc dễ thương,
“Tóc đuôi ngựa” trẻ trung và nhí nhảnh,
Con ngựa tượng trưng cho sự khỏe mạnh,
Tóc đuôi ngựa tôi một thuở yêu đời.

Tết con ngựa là năm tuổi của ai
Không phải tuổi tôi mà tôi vẫn thích,
Người tuổi Ngọ chắc là long đong lắm
Buồn vui gì trong năm Ngọ, Ngọ ơi.

Tôi biết có nhiều kiểu tóc khác nhau,
“Tóc đuôi ngựa” dễ làm và đơn giản,
Túm ra đằng sau buộc dây thun chặt,
Chùm tóc cao ngúng nguẩy biết nhớ người.

Khi tôi đạp xe ra phố rong chơi,
Khi ở nhà học bài hay làm việc,
“Tóc đuôi ngựa” tung tăng tôi mơ ước,
Giấc mộng đời vó ngưa chẳng mỏi chân.

“Tóc đuôi ngựa” làm khuôn mặt hồn nhiên,
Chưa biết điểm trang có sao để vậy,
Qua tuổi nhảy dây tôi thường làm điệu,
Chùm tóc buộc cao đỏng đảnh với người.

“Tóc đuôi ngựa” một thuở đã xa xôi
Đã đổi thay theo tháng ngày rong ruỗi,
Những sợi dây thun, những khăn buộc vội,
Đã chìm rơi vào mộng hão huyền xưa.

Như những con ngựa tuổi đời già nua
Những vó câu rộn ràng không còn nữa
Mái tóc điểm bạc sợi thương sợi nhớ,
Năm ngựa này. “Tóc đuôi ngựa” tôi đâu?…

Nguyễn Thị Thanh Dương.
( Jan.05- 2026.)


Hoànglan & Việt Nam

Hoàng Lan và bà Ngoai,

A life altering trip that I won't soon forget. I spent a few days at the beginning paying my respects to family and then finally venturing off on my own starting in the North and making my way down South. Traveling on my own was probably one of the hardest but rewarding things I have done. I ended off the trip with volunteering at a local orphanage that was very humbling and a great experience. Thanks for the memories Vietnam!

HoangLan

Thật sự mà nói đến hôm nay tôi mới thấy nhẹ người đi phần nào. Gánh nặng ngàn cân như sắp trút xuống khi nghe con trên đường trở lại Sài Gòn. Những ngày con đi lòng cứ áy náy không yên. Lo sợ những bất trắc có thể xảy ra cho con. Tôi đã từng nói cho con nghe những lo âu của tôi song dường như con không quan tâm lắm. Thật ra tôi không thể trách Con vì hoàn cảnh sống của thế hệ tôi ngày trước cũng bao biến chuyển của đất nước sau cuộc đổi đời 75 đã xô đẩy hàng triệu người ra đi tìm tự do đã làm mọi lo âu khi nhớ về VN đã trở thành một cái nếp mất rồi.Nghĩ mãi rồi quẩn trí đi tôi như óc mượn hồn. Nhất là bạn bè tôi cũng lo âu như tôi khi nghe con về một mình như vậy.
… Sau những chặng đường từ Bắc trở về Nam Con về lại Sài Gòn vào buổi sáng thật sớm. Suốt từ chặng đường từ Dà Lạt về con ngủ suốt nên giờ nầy con tỉnh như sáo. Như vậy con còn đúng 36 giờ đồng hồ nữa là con sẽ lên đường trở lại Winnipeg Canada. Ngoại trông cháu về để nói chuyện cùng cháu, nấu món nọ món kia cho cháu ăn mà cháu bà có ở lại nhà với bà bao nhiêu ngày đâu... Cháu lại sắp từ giã Ngoại để trở về Canada rồi. Bà cứ nhìn cháu và rấm rức khóc vì nhớ con gái của mình. Bà cứ nói mãi:
- Nhìn con sao Ngoại nhớ Mẹ con ngày xưa quá.

Hoàng Lan trước ngôi trường NTT ngày xưa của Mẹ

Hôm nay với 36 giờ ngắn ngủi còn ở lại VN Hoàng Lan đi một vòng thăm Sài Gòn lần cuối trước khi lên đường tạm biệt Việt Nam. Chuyến đi một đời đáng nhớ nầy với những vùng trời của quê nhà con đã đi qua mà giờ phút sắp chia tay nầy sao nghe lưu luyến khôn cùng. Rồi tất cả cũng sẽ trở thành kỷ niệm đẹp, chuyến đi sẽ trở thành kỷ niệm muôn đời, khó mà quên được từ những thương yêu săn sóc của gia đình dành cho đứa cháu từ phương trời xa nầy trở lại quê nhà. Những bữa cơm họp mặt với họ hàng người thân mà đây là lần đầu con biết mặt sao mà gần gũi khôn cùng. Hôm ở Rạch Gía thời gian không có là bao mà con cũng đã qua thăm dùm Mẹ Nó ngôi trường Nguyễn Trung Trực thân yêu mà Mẹ Nó đã có một khoảng đời ngọc ngà nơi đó. Con về Rạch Gía ở lại ngôi nhà xưa mà Mẹ Nó đã lớn lên nơi đó và con bảo: "Cái giường ngủ của Mẹ hồi đó Ngoại vẫn còn giữ và đêm đó con đã ngủ lại trên chiếc giường nầy Mẹ ạ". Nghe con nói mà tôi bắt chảy nước mắt. Ôi ngày xưa ơi tìm ở đâu bây giờ? Mẹ tôi tội nghiệp người cứ chắt chiu, gìn giữ bao hình bóng con mình còn để lại trong căn nhà xưa của những ngày xưa thân ái.

Con cẩn thận chụp lại con đường trước nhà. Con đường mà Mẹ đã có một chuỗi ngày đầy kỷ niệm nơi đây. Ôi con đường xưa em đi, áo trắng ai bay những chiều lộng gió lúc tan trường, tan lớp. Con đường xưa vẫn còn đây mà người năm xưa giờ đã xa xôi biền biệt tận phương trời nào mất rồi. Một thế hệ đã tan tác trôi qua, thế mà quê nhà vẫn còn điêu linh biết bao giờ mới gọi là đất nước an bình thật sự. Con kể cho tôi nghe về sự suy nghĩ của người ngoại quốc đánh giá về người con gái VN hiện tại trên quê hương nghe mà đau lòng khôn cùng. Con nói:

- Nhìn VN hiện tại người ta ai cũng thấy cái bên trong của VN Mẹ ạ. "Thấy vậy chứ không phải là vậy. Ai dám cưới một người con gái VN bây giờ. Họ không phải chỉ có một ông bồ mà còn cả chục ông bồ khắp nơi". Những người đi cùng tour với con đã nhận định và nói với con như vậy.
Tôi hỏi con:
- Con có biết tại sao như thế không?
Rất tự nhiên con trả lời liền:
- Điều đó dễ hiểu thôi Mẹ ạ. Hoàn cảnh sống của một xứ sở nghèo như VN thì họ phải như thế để sinh tồn chớ không còn cách nào hơn.
Trong lúc nầy nghe con nói tôi mới thấy con đã lớn con đã trưởng thành. Tôi không còn thấy một HL mè nheo suốt ngày nhỏng nhẽo với Mẹ nó. Tôi tưởng rằng chuyến đi với cái vỏ bên ngoài VN con tôi không thể nhận định chính chắn về VN như thế.


Sau một vòng đi thăm Sài Gòn lần cuối con ghé thăm Cô Nhi Viện tặng một ít quà cho các trẻ em nơi đây như chương trình đã ấn định. Con bảo thật nhiều thương cảm khi nhìn thấy những hình ảnh nơi đây. Một VN bên trong thực sự có cái gì rất là mâu thuẩn với những cái được che lấp bằng cái vỏ hào nhoáng bên ngoài mà con đã thấy qua các tour du lịch, qua các chặng đường quê hương con ghé bước.

Địa điểm con đến sau cùng để rồi tối nay lên đường là Địa đạo Củ Chi. Một nơi chốn mà con bảo con cũng cần muốn biết.
Mà thật như con nghĩ con bảo:
- Cũng chẳng có gì Mẹ ạ và Chán lắm khi phải nghe những lời dẫn giải thật xạo và hết sức vô lý của họ.
Con tôi hiểu như thế là đủ cho tôi an lòng lắm rồi. Phải không bạn?

Ở Củ Chi về đến Sài gòn cũng gần 7 giờ tối. Không còn mấy tiếng đồng hồ nữa đến giờ con ra phi trường. Chuyến bay sang Shanghai sẽ cất cánh lúc 1 giờ sáng. Tôi phone về VN để dặn dò con đôi điều trước khi Con chia tay với gia đình trở lại Canada. Hành lý đâu đó đã cân xong. Con đang dùng bữa cơm cuối với gia đình để rồi lên đường. Một tháng trời con về rồi lại đi cũng làm ngùi ngùi người ở lại. Tôi nghe con nói với Ngoai nó văng vẳng trong phone:
- Rồi con sẽ về nữa mà. Ngoại đừng khóc nha Ngoại.
Hơn ai hết tôi hiểu những giọt nước mắt của Mẹ tôi trong lúc nầy. Tôi hiểu vô cùng những khát vọng cũng như niềm ao ước của người trong mấy mươi năm qua sau cuộc đổi đời ngày ấy.
11 giờ rồi. Chắc sắp đến giờ HL ra phi trường. Con bé sẽ trở về bên này với biết bao chuyện để nói cùng bè bạn về một VN thực sự mà Nó đã nghe, đã thấy trong chuyến hành trình xuyên Việt gần cả tháng trời và tôi nghĩ trong con có một cái gì lưu luyến lắm vì con vừa nói với Mẹ nó:
- Có thể sang năm con về nữa Mẹ ạ.
Thật vậy, con tôi đã thực hiện được cái ước mơ mà lần nào tôi nghe con hay hát nho nhỏ một mình qua dòng nhạc Bonjour Việt Nam của Marc Lavoine

One day I'll touch your soil.
One day I'll finally know my soul.
One day I'll come to you.
To say hello... Vietnam.
Tell me all about my colour, my hair and my little feet
That have carried me every mile of the way.

Want to see your house, your streets. Show me all I do not know.
One day I’ll walk your soil
One day I’ll finally know my soul
One day I’ll come to you
To say hello… Vietnam
To say hello… Vietnam...

Nghe nhạc nơi đây:https://youtu.be/NCPCoAtCqfc?si=iNxVyhoic38KjZ1x


To say hello Việt Nam, to say hello Việt Nam... Tiếng nhạc vẫn chập chùng bên tai... Tôi gác phone xuống mà hình như vẫn thấy nét mặt sung sướng của con và nghe một niềm hạnh phúc bất tận đang rạt rào chảy trong hồn mình.
Vâng đúng vậy, đến giây phút cuối cùng của chuyến đi nầy ngày hôm nay thật sự con tôi đã thực hiện được ước mơ mà con hằng ấp ủ từ bao năm tháng. Bước chân con đã chạm đến đất trời quê hương, linh hồn con đã hòa nhập vào linh hồn của nguồn cội, của dân tộc trên muôn vạn nẻo đường đất nước con đã đi qua như thế đã đủ lắm rồi phải thế không con. Mẹ biết con sung sướng lắm. Con hạnh phúc lắm và hơn ai hết Mẹ là người sung sướng hơn con gấp cả vạn lần.

Con có biết không con gái yêu dấu của Mẹ?
Cám ơn Việt Nam! Cám ơn con của Mẹ!

Hoàng Thị Tố Lang



Thứ Năm, 9 tháng 4, 2026

Đò Mây - Nhạc Và Lời : Thanh Trang - Tiếng Hát: Hồng Tước

Nhạc Và Lời : Thanh Trang
Tiếng Hát: Hồng Tước

Tháng Tư Buồn.

 

Anh ở nơi này em ở đâu
Hôm nay trời đất tự nhiên sầu
Nhớ người xa vắng buồn lặng lẽ
Bóng đổ hoàng hôn nắng phai màu.

Ở phía xa xa bóng dáng ai
Tà áo nhẹ bay chiều nắng phai
Mắt buồn như hướng về xa vắng
Còn đứng chờ ai! Bóng đổ dài.

Phố vắng hạ về chợt bơ vơ
Vạt áo ai bay, bước hững hờ
Chạnh lòng nghĩ đến mà thương nhớ
Tháng Tư buồn viết một bài thơ.

Lê Tuấn

Hãy Bắt Đầu Lại Từ Đầu

 

Hãy Bắt Đầu Lại Từ Đầu

Nếu bạn cảm thấy thật mệt mỏi và đường di vẫn còn dài
Nếu bạn nhận ra rằng bạn đã đi sai đường
Đừng để bản thân chìm đắm, xuống dốc, để ngày tháng trôi qua đi, nhàm chán

Hãy Bắt Đầu Lại Từ Đầu

Nếu bạn cảm thấy cuộc sống của mình quá vô nghĩa
Nếu bạn thất vọng vì quá nhiều sự việc, vì quá nhiều người
Đừng cố gắng hiểu tại sao,

Hãy Bắt Đầu Lại Từ Đầu

Nếu bạn đã cố gắng yêu thích và trở nên hữu ích
Nếu bạn đã nếm sự nghèo khổ và khả năng hạn chế của mình
Đừng bỏ một công việc đang dở dang

Hãy Bắt Đầu Lại Từ Đầu

Nếu người khác nhìn bạn, trách móc bạn
Nếu họ thất vọng về bạn, và trở nên cáu kỉnh
Đừng phẫn nộ, đừng đòi hỏi họ bất cứ điều gì

Hãy Bắt Đầu Lại Từ Đầu

Bởi vì chồi cây lại nảy mầm, và bỏ quên mùa đông
rồi cành cây lại nở hoa mà không hỏi tại sao
Bởi vì con chim làm tổ mà không nghĩ đến mùa thu
Vì cuộc sống là hy vọng và luôn là một khởi đầu mới.

Khuyết danh

Nếu bạn cảm thấy đường dài mệt mỏi
Nếu nhận ra cốt lõi đã sai đường
Đừng để chán chường ngày tháng buông trôi
Mà bạn hãy bắt lại từ đầu thôi!
Nếu bạn thấy cuộc sống đầy vô nghĩa

Thái Lan Dịch


Cuối Bờ Viễn Du

 
 
"Thuyền không đậu bến mặc ai
Quanh thuyền trăng dãi nước trôi lạnh lùng” (1)
Nơi nào mộng được mơ chung
Gió treo hồn tóc mây mừng áo hoa

Ta mất nước người tan nhà
Giày rơm mũ cỏ thân ma chết buồn
Mưa thu thèm nhớ nắng xuân
Trăng hè soi lệ não nùng bóng quê

Tim đau rượu tiễn trà về
Khói cơm mẹ xoá cơn mê phong trần
Người che mặt ta giấu thân
Giữa trời lận đận nợ nần đục trong

Tay khô ủ gót chân hồng
Nghiêng so kỷ niệm cúi bồng tương lai
Chợt đau thấu nắp quan tài
Ta ru người ngủ áo bay thẫn thờ

Biển cạn nước sóng vào mơ
Người trôi ta nổi cuối bờ viễn du
Ta trèo núi người đánh đu
Đứt dây níu bóng sương mù chơi vơi

Học đi học đứng học ngồi
Nhởn nhơ vọc đất ăn chơi tối ngày
Lững lờ trốn kiếm kéo tay
Chưa hoa đã bướm học bài chăn dê

Còn tình còn điệu còn mê
Trên dòng lưu lạc tóc thề vẫn thơm…

MD 09/11/06
LuânTâm
(1) Phan Huy Vịnh dịch "Tỳ Bà Hành" (Bạch Cư Dị)
(Trích trong TT ” HƯƠNG ÁO”, MinhThư xuất bản , Maryland/USA.2007, tr.319)

Truyền Thuyết: Hoàng Sào Trong Dân Gian Và Trong Hát Bộ


Theo chính sử thì "Hoàng Sào Khởi Nghĩa 黄巢起義" là chỉ cuộc nổi dậy của nông dân vào năm Càn Phù thứ 2 đời vua Đường Hi Tông (875) cho đến năm Trung Hòa thứ 4 (884) do Hoàng Sào lãnh đạo. Nói chung là do vào thời buổi tàn Đường, vùng đất Quan Đông phát sinh hạn hán mất mùa; Quan phủ lại bức bách nông dân phải đóng đủ thuế, đưa đến việc hảo hán buôn muối đất Sơn Đông là Vương Tiên Chi 王仙芝 lãnh đạo nông dân nổi loạn. Tiếp theo đó là cũng là đồng hương buôn muối đất Sơn Đông là Hoàng Sào nổi lên hưởng ứng. Hai thế lực nổi lên với khí thế rất mạnh, đánh chiếm nhiều châu quận của nhà Đường. Triều đình thấy nguy bèn đưa ra kế sách chiêu an Vương Tiên Chi. Vương lay động muốn về với triều đình, Hoàng Sào nổi giận trở mặt với Vương, rồi đem quân nam hạ về vùng Quảng Đông; trong khi Vương còn dụ dự chưa quyết thì bị quân triều đình đánh úp và chết trận. Tất cả nghĩa quân đều về theo với Hoàng Sào. Với khí thế đang lên Hoàng Sào lần lượt công phá Trường An, Lạc Dương, rồi lên ngôi Hoàng Đế xưng hiệu là Đại Tề. Nhưng làm vua chưa được bao lâu thì bị các Phiên Trấn và các Tiết Độ Sứ cần vương đánh đuổi phải chạy về vùng Hà Nam tác chiến. Trong lúc đó, hai viên đại tướng tín cẩn là Chu Ôn và Thượng Nhượng trước sau đều về quy phục triều đình, lại bị thua trận ở Trần Châu, đến bước đường cùng phải tự vẫn ở Lang Hổ Cốc chấm dứt cuộc nổi dậy mười năm của Hoàng Sào. Đây được xem là cuộc nổi dậy dài hơi nhất, ảnh hưởng rộng nhất, sâu xa nhất của nông dân; Vì sau đó nhà Đường rơi vào thế suy yếu nghiêm trọng rồi sụp đổ luôn chỉ trong khoảng 23 năm sau đó (năm 907).
 
Tàn Đường Ngũ Đại Sử Diễn Nghĩa

Theo "Tàn Đường Ngũ Đại Sử Diễn Nghĩa 殘唐五代史演義" của Vô danh thị; một nguồn tin khác là của La Quán Trung tác giả của "Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa 三國誌演義" thì câu truyện của Hoàng Sào được kể một cách thần thoại và ly kỳ như sau đây:
Ở thôn Xích Tường, huyện Oan Cú đất Tào Châu, có một người họ Hoàng 黄 tên là Tôn Đản 宗旦. Vợ là Điền Thị 田氏, gia đình mấy đời đều sống nhờ nghề buôn bán muối. Một hôm, trên đường về nhà, khi đi ngang qua một khu rừng Điền thị thấy có một đứa nhỏ mặc áo vàng ngồi dưới đất. Gặp bà bèn kêu MẸ một tiếng rồi hóa ra một luồn khí vàng bay thẳng vào bụng bà. Bà có mang đế 25 tháng mới sanh ra một đứa nhỏ mình dài hai thước (khoảng hơn 5 tất Tây), hình thù quái dị xấu xa : Chân mày hình chữ nhất, răng mọc hai hàm, mũi có ba lổ, cánh tay trái có một lằn thịt nổi lên như con rắn; cánh tay phải có một khối thịt như trái châu; sau lưng có hình Bát quái, trước ngực có hình Thất tinh. Tướng mạo trông như một ác qủy. Đây là điềm báo trước Hoàng Sào là Nhân Đồ 人屠 (Đồ tễ của con người) sẽ tàn sát "Tám trăm vạn (8 triệu) người" sau nầy.

Hoàng Tôn Đản thấy thế, cho là điềm bất tường, bèn đem bỏ đứa bé xuống phía sau lạch khe nước cho trôi đi. Nào ngờ Thổ địa trông thấy bèn đem đứa bé bỏ vào trong tổ qụa trong rừng cây. Bảy ngày sau khi đi ngang qua khu rừng trên, nghe có tiếng trẻ nít khóc ở trên cây, trèo lên xem, thì ra là đứa con mà mình đã đem bỏ ở sau khe nước. Ông rất ngạc nhiên, cho là điềm lạ, bèn bế về nuôi và đặt tên là SÀO 巢 (Cái ổ) vì ẳm từ trong Ổ qụa về. Hoàng Sào 黃巢 càng lớn càng thông minh, tinh thông võ nghệ, bát lãm quần thư, văn võ song toàn.
Năm Càn Phù thứ hai, thiên hạ hạn hán lớn. Hoàng Sào lai kinh ứng thí, đến Trường An để tham gia võ cử, không ngờ lại đậu ngay Võ Trạng nguyên. Khi vào yết kiến đương kim hoàng thượng là Đường Hi Tông, lúc bấy giờ nhà vua chỉ là đứa bé 14, 15 tuổi, trông thấy hình thù quái dị của Hoàng Sào thì giật mình kinh hãi, hèn lâu mới lấy lại bình tĩnh, rồi khoát tay đuổi Hoàng Sào ra ngoài, không phong quan chức gì cả!

Đương giá Quan nói với Hoàng Sào rằng :"Nhà ngươi tướng mạo quá xấu xa, triều đình không thể cho làm quan được". Ra khỏi triều Hoàng Sào than rằng :"Rõ ràng là nói tuyển nhân tài, chớ có nói tuyển tướng mạo đâu mà chê xấu đẹp". Muốn đi về nhà, lại thẹn phải đối diện với cha mẹ người thân. Đang lang thang trên đường thì thấy một con gà trống nhìn mình mà gáy. Hoàng Sào nói thầm trong bụng rằng :"Hôn quân không biết người hiền tài, mà gà lại nhận biết". Bèn nói với con gà rằng :"Nếu ta chia được nửa phần thiên hạ, thì ngươi hãy gáy một tiếng nữa xem sao ?!" Con gà bèn hướng về Hoàng Sào mà gáy to thêm một tiếng nữa. Sào cả mừng, vào quán rượu uống rượu, rồi mượn bút mực đề bài thơ rằng:

雄雞有五德, Hùng kê hữu ngũ đức,
今朝見我鳴, Kim triêu kiến ngã minh.
頂上紅冠正, Đỉnh thượng hồng quan chính,
身披紫錦文, Thân phi tử cẩm văn,
心中常懷義, Tâm trung thường hoài nghĩa,
大叫两三聲, Đại khiếu tam lưỡng thinh,
喚出扶桑日, Huán xuất phù tang nhật,
重教天下明。 Trùng giáo thiên hạ minh.

Đọc câu đầu của bài thơ nầy, làm cho ta nhớ lại bài học Cổ văn "Lục Súc Tranh Công" của lớp Đệ Thất năm xưa, bài nói về con gà có câu :
... Này này! gà Ngũ Đức thẳm sâu:
Nhân, dũng, tín, võ, văn, gồm đủ.

Nghĩa bài thơ trên:

Gà trống có năm đức,
Sáng nay gặp ta gáy.
Mào đỏ đứng thẳng ngay,
Thân gấm hoa văn tại.
Trong lòng luôn giữ nghĩa,
Gáy to hai ba cái,
Gọi nắng khỏi dâu tằm,
Thiên hạ mong nắng mãi.

Phía dưới bài thơ trên là bốn câu tứ tuyệt phản động như sau đây :

浩氣腾腾贯斗牛, Hạo khí đằng đằng quán Đẩu Ngưu,
班超投筆去封侯, Ban Siêu đầu bút khứ phong hầu.
    馬前但得三千卒, Mã tiền đản đắc tam thiên tốt,
敢奪唐朝四百州。 Cảm đoạt Đường triều tứ bách châu !

Có nghĩa:
- Cái hạo khí ngùn ngụt bốc lên che lắp cả sao Đẩu sao Ngưu.
- Chàng Ban Siêu đã quăng bỏ ngọn bút để đi tìm kế phong hầu.
- Trước ngựa nếu ta có được ba ngàn sĩ tốt,
- Sẽ dám đánh và đoạt lấy bốn trăm châu quận của nhà Đường.

Diễn Nôm:
Hào khí ngút lên sao Đẩu, Ngưu,
Ban Siêu quẳng bút được phong hầu.
Trước ngựa ta có ba ngàn lính,
Đánh chiếm nhà Đường bốn trăm châu.


Thơ phản nghịch của Hoàng Sào rất nhanh được trình báo lên với vua Đường. Đường Hi Tông cho họa hình của Hoàng Sào dán khắp nơi để truy nả. Hoàng Sào phải trốn vào trong rừng núi tìm đường hẻo lánh mà đi.
Nói về Tàng Mai Tự ở ngoại thành Trường An. Trụ trì là Pháp Minh hòa thượng luôn cảm thấy các cây đèn lưu ly trong Phật điện thường bị lu mờ vì thiếu dầu, mặc dù hằng đêm ông đều nhắc nhở các tăng nhân phụ trách châm đầy dầu cho các đèn. Một đêm ông cố ý rình xem, thấy đến lúc giữa đêm thì có hai con qủy ở cỏi âm đến để lấy trộm dầu. Ông rình nghe hai con qủy nói chuyện với nhau mới biết là : Dưới âm phủ Diêm Vương đang huy động nhân lực Tam Ty để lập một số lớn sổ sinh tử luân hồi, vì sắp tới sẽ có một người do Quỹ Vương đầu thai tên là Hoàng Sào sẽ dấy động can qua và sẽ chém một hòa thượng tên Pháp Minh của chùa nầy để khởi nghĩa; Sau đó sẽ giết người lên đến hơn 800 vạn, máu chảy ba ngàn dặm; Nên mới lệnh cho các tiểu qủy đến các chùa để lấy dầu về chi dụng. Pháp Minh hòa thượng nghe nói kinh hồn, ngày đêm ăn ngủ không yên, cho tiểu hòa thượng ra đứng ở Sơn môn để đón Hoàng Sào.

Hoàng Sào được nhà sư trụ trì Pháp Minh tiếp đãi như một thượng khách, nên Sào hứa sẽ không giết nhà sư và cũng sẽ không giết bất cứ nhà sư nào ở trong chùa cả. Một đêm đang dạo ở vườn hoa trong chùa Hoàng Sào được một tiên cô hiện ra tặng cho một bảo kiếm, nói rằng "Bảo kiếm nầy sẽ giết người 800 vạn và máu chảy 3000 dặm". Sào nói với hòa thượng Pháp Minh và các tăng nhân trong chùa hãy tìm nơi lánh thân vì vào giờ Ngọ ngày rằm tháng năm nầy mình sẽ thử kiếm. Có tật giật mình, trụ trì Pháp Minh tìm hết các nơi kín đáo trong chùa để ẩn thân nhưng vẫn không yên tâm, cuối cùng ông quyết định chui vào trong bọng của một cây cổ thụ trong chùa để trốn cho kín. Nào ngờ hôm đó Hoàng Sào cũng đi vòng khắp nơi trong chùa để tìm vật gì đó để thử kiếm tiên, nhưng đều không vừa ý, khi đi đến cây cổ thụ thì Hoàng Sào mới có ý định thử xem kiếm tiên có sắt bén đến chặt gãy được cây cổ thụ hay không, bèn hươu kiếm lên chém một nhát vào thân cây. Rào một tiếng thân cây đã bị gãy đôi và máu cũng phún ra xối xả, Hoàng Sào giật mình nhìn lại thì thấy đầu của hoà thượng Pháp Minh rơi ra từ trong bọng cây. Thế mới biết "số trời khó tránh" ! Sau phần nầy, tác giả đã cho hai câu thơ nhận xét là:

非是法明藏不密, Phi thị Pháp Minh tàng bất mật,
奈緣天數莫能饒. Nại duyên thiên số mạc năng nhiêu.

Có nghĩa:

Chẳng tại Pháp Minh không trốn kín,
Số trời nên khó tránh tai ương.




Từ Tàng Mai Tự đi ra, Hoàng Sào chiêu mộ được một nhóm nông dân nghèo khổ, rồi cùng kéo lên Thái Hành Sơn tụ nghĩa. Thế lực ngày càng to lớn, đánh chiếm các châu quận của nhà Đường. Năm sau lại thu phục các tướng Chu Ôn, Thượng Nhượng, Liễu Ngạn Chương, Cát Tùng Châu, Đặng Thiên Vương, Mạnh Tuyệt Hải... Bản thân Hoàng Sào tự xưng là “Xung Thiên Đại Tướng Quân 冲天大將軍" Chẳng bao lâu sau công phá Lạc Dương, đánh thẳng vào Trường An, lên ngôi xưng đế, quốc hiệu Đại Tề. Chưa được một năm, vì thuộc hạ của Hoàng Sào đa số là quân ô hợp, hoành hành ngang ngược đã quen, nên cướp bóc và giết người đầy cả đường phố Trường An, nhất là các tông thất thân thuộc của vua Đường và các quan từ Tam phẩm trở lên đều bị cướp của và giết sạch, đúng như câu :"Nội khố thiêu vi cẩm tú hôi, Thiên giai đạp tận công khanh cốt 内庫燒為錦繡灰,天街踏盡公卿骨" Có nghĩa : Trong khố đốt thành tro cẩm tú, Ngoài đường đạp xương cốt công khanh. Lại tịch thu tất cả tài sản của các nhà giàu trong kinh thành.
Tháng giêng năm Trung Hòa nguyên niên (881). Quân nhà Đường phản công, đánh bật quân Hoàng Sào ra khỏi kinh thành, nhưng vì quân số qúa ít không thủ nổi thành, nên lại bị quân của Hoàng Sào phản kích, đánh chiếm thành Trường An lần hai. Dân trong thành lại ngỡ là quân triều đình đã trở về, đều đổ ra đường hoan hô đón tiếp. Hoàng Sào thấy thế cả giận, ra lệnh giết trên 8 vạn (Tám chục ngàn) bá tánh của Trường An, người đời gọi là "Tẩy Thành 洗城". TẨY 洗 ở đây không có nghĩa là RỬA SẠCH mà có nghĩa là GIẾT SẠCH đó.


Về truyền thuyết cuộc nổi dậy của Hoàng Sào đã tàn sát trên 800 vạn (8 triệu) sinh linh. Trong qúa trình nổi dậy có lần nghĩa quân của Hoàng Sào bao vây đánh thành Trần Châu trong suốt một năm ròng. Người mệt ngựa mõi, lại nhằm lúc mất mùa, nên lương thực bị thiếu một cách trầm trọng. Để bổ sung lương thực cho hơn 20 vạn (Hai trăm ngàn) quân Hoàng Sào đã cho chế ra những chiếc cối đá lớn dùng để xay và giả thịt của người chết đầy đường do nạn đói kém để bổ sung lương thực cho nghĩa quân. Về sau kể cả quân địch quân ta và xúc vật đói chết đều được xay giả làm lương thực để làm tăng sức chiến đấu của nghĩa quân. Nên... hễ nơi nào quân của Hoàng Sào đi ngang qua là bá tánh chết sạch, đất hoang ngàn dặm, xương trắng đầy đồng. Sau quân càng ngày càng đông, nên Hoàng Sào cho lập hẵn một cái trại chuyên xay giả thịt người, gọi là "Đảo Ma Trại 捣磨寨" là "Trại Xay Giả" chuyên xay giả thịt người, và lại cho quân đi cướp lương thực của bá tánh. Từ Hà Nam, Hứa Châu, Nhữ Châu... đến Tào Châu Trịnh Châu, Từ Châu... Dân cbúng đều rất kinh hãi, hễ nghe đến "Nghĩa quân của Hoàng Sào" sắp đến là đều bỏ trốn vào rừng lên núi... Do chính sách thối nát của vua quan nhà Đường, quân của Hoàng Sào đã qua lại sông Trường Giang 4 lần, Hoàng Hà 2 lần, dọc ngang khắp bờ cõi mà không có lực lượng nào ngăn chặn nổi.

Năm Trung Hòa thứ 3 (883) các trấn từ bốn phương tám hướng đều đem binh về vây khổn nghĩa binh Hoàng Sào, đánh nhau ba ngày ba đêm, nghĩa quân đại bại. Ngày 14 tháng 4, Lý Khắc Dụng và nghĩa tử là Lý Tồn Hiếu (có sức mạnh như là Lý Ngươn Bá buổi sơ Đường vậy) đánh bật nghĩa quân Hoàng Sào ra khỏi Trường An. Trước khi bỏ chạy Hoàng Sào còn ra lệnh cho quân sĩ đốt thành Trường An cho hả giận. Ngày 15 tháng 6 Tiên cô hiện ra thu lại kiếm báu. Hoàng Sào thua trận và tự vẫn chết ở Diệt Sào Sơn, Nha nhi cốc 滅巢山、鸦兒谷 (Chính sử ghi là Lang Hổ Cốc). Kết thúc đời của một kẻ háo sát giết người một cách điên cuồng trong lịch sử Trung Hoa cổ đại. Có thơ rằng :

滅巢山上鸦兒谷, Diệt Sào Sơn thượng Nha Nhi Cốc
篡賊應知數已終, Soán tặc ưng tri số dĩ chung.
自刎難消天下怨, Tự vẫn nan tiêu thiên hạ oán,
至今啼鳥恨無窮。 Chí kim đề điểu hận vô cùng.

Có nghĩa:

Trên Nha Nhi Cốc Diệt Sào Sơn,
Tên giặc soán ngôi số hết còn,
Tự vẫn vẫn không nguôi oán hận,
Đến nay chim hót tiếng còn hờn !


Đó là kể theo sách "Tàn Đường Ngũ Đại Sử Diễn Nghĩa 殘唐五代史演義" Thường những truyện "diễn nghĩa" tác giả hay thêm thắc những chi tiết thần thoại hoang đường vừa để nhấn mạnh câu truyện đang kể, vừa để hấp dẫn người nghe hơn... Lâu dần những chi tiết thêm thắt hư cấu trở thành như là những truyện có thật. Ví dụ như Truyện ăn thịt người khi hạn hán mất mùa là truyện có thật khi qúa đói kém, nhưng chỉ là số ít thôi; Truyện chiến tranh giết chết nhiều người cũng là truyện có thật; Nhưng truyện lập nên một cái trại với mấy trăm cái cối chuyên xay giả thịt người để cung cấp thịt cho binh lính thì là truyện qúa đáng chỉ để nhấn mạnh việc Hoàng Sào và "nghĩa quân" của ông ta đã lạm sát rất nhiều bá tánh vô tội mà thôi.

Hẹn bài viết tới: Các Nhân Vật và Sự Kiện hư cấu trong
TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

Thái Hàng Lộ 太行路 - Bạch Cư Dị 白居易(Trung Đường)


Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, 9 tuổi đã hiểu âm vận, mười lăm tuổi đã bắt đầu làm thơ. Ông chủ trương thơ phải gắn bó với đời sống, phản ánh được hiện thực xã hội, chống lại thứ văn chương hình thức. Ông thường nói: "Làm văn phải vì thời thế mà làm... Làm thơ phải vì thực tại mà viết, mục đích của văn chương là phải diễn đạt tình cảm của nhân dân”. Thơ ông mang đậm tính hiện thực, lại hàm ý châm biếm nhẹ nhàng kín đáo. Họ Bạch chủ trương thơ ca phải giản dị để dân chúng đều hiểu được; tình cảm, tư tưởng phải giàu tính nhân dân, nói được nỗi lòng của mọi người trước thế sự. Thơ ông rất trữ tình. Khi ông bị đi đày từ Tràng An đến Tây Giang, ba bốn ngàn dặm, dọc đường thấy trường học, chùa chiền, quán trọ, hồ sen… đều có đề thơ của mình.



Bài thơ cổ phong Thái Hàng Lộ của Bạch Cư Dị có 4 câu kết rất đặc biệt mà nếu đọc phớt qua sẽ không hiểu thâm ý của tác giả. Các bạn hãy cùng Con Cò dò xem nhé:

Nguyên tác. Dịch âm.

太行路 Thái Hàng Lộ


太行之路能摧車 Thái Hàng chi lộ năng tồi xa,
若比君心是坦途 Nhược tỉ quân tâm thị thản đồ.
巫峽之水能覆舟 Vu Giáp chi thủy năng phúc chu,
若比君心是安流 Nhược tỉ quân tâm thị an lưu.
人心好惡苦不常 Quân tâm hiếu ố khổ bất thường,
好生毛羽惡生瘡 Hiếu sinh mao vũ, ố sinh sang.
與君結髮未五載 Dữ quân kết phát vị ngũ tải,
豈期牛女為參商 Khởi kỳ Ngưu Nữ vi Sâm Thương!
古稱色衰相棄背 Cổ xưng sắc suy tương khí bội,
當時美人猶怨悔 Đương thì mỹ nhân do oán hối.
何況如今鸞鏡中 Hà huống như kim loan kính trung,
妾顏未改君心改 Thiếp tâm vị cải quân tâm cải!
為君熏衣裳 Vị quân huân y thường,
君聞蘭麝不馨香 Quân văn lan xạ bất hinh hương.
為君盛容飾 Vị quân thịnh dung sức,
君看金翠無顏色 Quân khan châu thúy vô nhan sắc.
行路難 Hành lộ nan!
難重陳 Nan trùng trần!
人生莫作婦人身 Nhân sinh mạc tác phụ nhân thân,
百年苦樂由他人 Bách niên khổ lạc do tha nhân.
行路難 Hành lộ nan!
難于山 Nan ư sơn,
險于水 Hiểm ư thủy!
不獨君間夫與妻 Bất độc nhân gia phu dữ thê.
近代君臣亦如此 Cận đại quân thần diệc như thử!
君不見 Quân bất kiến:
左納言 Tả nạp ngôn,
右納史 Hữu nạp sử;
朝承恩暮賜死 Triêu thừa ân, mộ tứ tử
行路難 Hành lộ nan!
不在水 Bất tại thủy.
不在山 Bất tại sơn.
只在人情反覆間 Bất/chỉ tại nhân tình phản phúc gian.

Chú giải:


太行 Thái Hàng: dẫy núi cao, hiểm trở ở địa phận 3 tỉnh Hà Nam, Sơn Tây và Hà Bắc.

巫峽 Vu Giáp: tên sông.
若 nhược: thuận theo.
好惡 hiếu ố: yêu ghét.
苦 khổ: bực bội, khó chịu.
毛羽 mao vũ: lông cánh.
瘡 sang: nhọt, ghẻ lở.
載 tái: năm.
豈 khởi: sao? hả?
豈期 khởi kỳ: sao đã đến thời kỳ.
牛女 Ngưu Nữ: sao Ngưu và sao Nữ, chỉ sự kết hợp.
參商 Sâm Thương: 2 ngôi sao Việt Nam thường gọi là sao Hôm và sao Mai. Khi Hôm lặn về tây rồi Mai mới mọc, không thấy cả hai cùng một lúc; chỉ sự xa cách.
相 tương: cùng.
棄 khí: quên, bỏ.
背 bội: mặt trái, bỏ đi (bội ước).
猶 do: còn.
怨悔 oán hối: oán hờn.
熏 huân: cỏ thơm, hương thơm.
馨 hình: thơm lừng, mùi bay xa.
盛 thịnh: đầy đủ, đông đúc.
飾 sức: sửa, trang sức.
重 trùng: chồng lên nhau.
陳 trần: tỏ bày, trần tình.
于 ư: ở, đặt vào.
左納言右納史 tả nạp ngôn, hữu nạp sử: quan lo việc ghi chép lời nói (ngôn) và việc làm (sử), quan chép sử.
反覆間 phản phúc gian: tráo trở, gian ngoan. 3 câu chót có ý nói rằng: không tại bất cứ cái gì, chỉ tại chàng mà thôi.

Dịch thơ

Đường Núi Thái Hàng


Đường Thái Hàng từng làm xe đổ,
So tâm chàng vẫn còn bình yên.
Nước Vu Giáp thường xô thuyền lật,
So tâm chàng vẫn là dòng êm.
Chàng yêu ghét đổi thay khốn nỗi (5)
Ghét chê bai yêu thời nựng khen.
Xe duyên chưa được năm năm trọn,
Ngưu Nữ đã đổi thành Sâm Thương.
Người xưa nói: “sắc phai tình nhạt”
Thời đó giai nhân vẫn oán hờn. (10)
Em chung thủy mà chàng thay dạ!
Huống hồ như phản ánh trong gương.
Vì chàng xông y thường
Chàng chẳng thiết mùi hương lan xạ.
Vì chàng mà điểm trang (15)
Chàng coi châu ngọc chẳng dung nhan.
Đường đi khó!
Khó muôn phần!
Kiếp sau xin chớ làm thân đàn bà,
Sướng khổ trăm năm tùy người khác. (20)
Đường đi khó!
Khó như non,
Khó như nước!
Chẳng riêng gì chồng vợ trong nhà,
Cận đại vua tôi cũng thế mà! (25)
Chàng chưa biết:
Tả quan tâu,
Hữu quan chép
Sớm mang ơn, chiều phải chết.
Đường đi khó! (30)
Không tại nước
Không tại non
Không tại đời tráo trở gian ngoan.


Lời bàn 

Đề tài là đường núi Thái Hàng (khó khăn) nhưng nội dung là kết án người chồng bạc bẽo. Bạch Cư Dị rất để ý tới sinh hoạt gia đình và xã hội.
Bài thơ cổ phong có 33 câu. 23 câu đầu kể tội người chồng bạc bẽo. Từ câu 24 tới câu 29 ngụ ý rằng chồng là một quan chức trong triều thì tội bạc bẽo với vợ cũng nên bị xử như tội bất trung với vua (tội chém đầu).
Bốn câu kết có lối diễn đạt rất mới lạ: loại trừ tất cả những nguyên nhân có thể làm cho đời thiếp gặp trở ngại (không phải tại nước, không phải tại núi, không phải tại lòng người độc ác) … rồi chấm hết! Vậy thì tại ai? Tại chàng chứ còn tại ai nữa! Rất hiếm thấy một bài thơ có câu cuối thả lửng như vậy để tùy độc giả viết lời kết luận.

Tóm lại, trong bài thơ Thái Hàng Lộ, Bạch Cư Dị tả một thiếu phụ hạch tội người chồng sai đường, lạc lối, ích kỷ, phụ bạc. Nàng như đóng vai biện lý của một phiên tòa, kể tội chồng rằng “Đường thiếp đi khó khăn không phải vì gặp núi, không phài vì vướng nước, vướng núi, cũng không phải lời thế gian độc ác… rồi thả lửng…, để cho độc giả, đóng vai chánh án, tuyên đọc tên của can phạm (cái tên này tiềm ẩn nhưng ai cũng nhận ra chính là chàng).
 
Con Cò
***
Đường Núi Thái Hàng

Đường Thái Hàng làm xe lật đổ,
So lòng chàng vẫn chỗ bằng yên.
Sông Vu Giáp dập thuyền chìm đắm,
So lòng chàng, nước vẫn ít phiền.
Chàng ghét yêu thay đổi khó lường,
Yêu thì quý trọng, ghét coi thường.
Lửa hương chưa được năm năm trọn,
Ngưu Nữ mà nay đã Sâm Thương.
Xưa nói, sắc phai tình sẽ cạn,
Ngày xưa người đẹp còn hờn oán.
Huống nay thấy rõ tựa gương loan,
Lòng Thiếp không thay, chàng lại chán,
Vì chàng ướp xiêm y,
Với chàng lan xạ có thơm gì.
Vì chàng lo chau chuốt,
Châu thúy chàng coi chẳng đẹp chi.
Đường đi khó, khó nói ra,
Trên đời xin tránh kiếp đàn bà.
Sướng khổ trăm năm chẳng thuộc ta.
Đường đi khó, núi cũng khó, nước cũng khó,
Chẳng cứ trong nhà chồng với vợ,
Gân đây tôi chúa cũng tương tợ.
Anh chẳng thấy,
Tả dâng lời, hữu nạp sử.
Sáng ban ơn, chiều xử tử.
Đường đi khó,
Không ở núi,
Không ở sông,
Người tráo trở gian trá phải không.

Mỹ Ngọc.
Mar, 21/2026
***

Đường Thái Hàng thường làm xe đổ,
So lòng chàng vẫn nhẹ êm hơn.
Nước Vu Giáp hay gây thuyền lật,
So với chàng nước chảy bình an.
Lòng người yêu ghét vốn bất thường,
Yêu sinh lông cánh, ghét mủ cương.
Lấy chàng chưa được năm năm trọn,
Ai ngờ Ngưu, Nữ hóa Sâm, Thương.
Xưa nói sắc tàn thì phụ rẫy,
Bây giờ người đẹp còn oán vậy,
Huống chi ngày nay trước gương loan,
Dung nhan chưa cải, lòng chàng đổi.
Vì chàng xông xiêm áo,
Nhưng chàng nào nghe thấy mùi hương.
Vì chàng chuốt dung nhan,
Chàng nhìn châu thuý thấy tầm thường.
Đường đi khó,
Khó vô cùng,
Sinh ra chớ có làm phụ nữ,
Trăm năm sướng khổ bởi người dưng.
Đường đi khó,
Khó hơn non,
Khó hơn nước,
Không chỉ chuyện vợ chồng chung sống,
Chuyện vua tôi cũng vậy mà thôi.
Anh chẳng thấy,
Trái quỳ tâu,
Phải chép sử,
Sáng ban ơn, chiều xử tử.
Đường đi khó,
Chẳng tại nước,
Chẳng tại non,
Chỉ tại tình người tráo trở luôn.


Bát Sách.

(Ngày 26/03/2026)
***
Dịch theo nguyên thể:

Đường Thái Hàng


Đường Thái Hàng có thể gẫy xe
Bằng phẳng với chàng, một lối đi
Có thể lật thuyền dòng nước Vu
Với chàng vẫn chỉ sóng êm ru

Lòng người yêu, ghét, khổ bất thường
Vây cánh khi yêu, ghét vết thương
Cùng chàng nên duyên năm năm kém
Bắt đầu Ngưu Nữ hóa Sâm Thương

Xưa nói sắc phai thì ruồng rẫy
Bây giờ người đẹp còn hờn dỗi
Hà huống ngày nay trong gương loan
Dung nhan chưa đổi, lòng chàng đổi!

Vì chàng xông áo thường
Chàng nghe chẳng thấy chút mùi hương
Vì chàng luôn chải chuốt
Chàng thấy ngọc vàng không mầu sắc

Đường khó a!
Khó nói ra
Đời người chớ chọn phận đàn bà
Trăm năm sướng khổ tùy người ta!

Đường khó khăn
Khó hơn non
Nguy hơn nước
Trần thế chẳng riêng vợ với chồng
Gần đây chuyên quân thần cũng vậy
Chàng không thấy?
Trái dâng lời
Phải chép giữ
Sáng ban ơn, chiều bức tử.

Đường khó khăn!
Chẳng tại nước
Chẳng tại non
Chỉ tại lòng người lắm dối gian

Phỏng dịch với tựa đề:

Dạ Đảo Điên

Đường Thái Hàng dễ dàng xe gẫy
Còn với chàng nơi ấy dễ đi
Thuyền chìm lật, nước Giáp Vu
Với chàng vẫn chỉ êm ru một dòng

Yêu, ghét, khổ bất thường chàng thấy
Yêu cánh xinh, ghét nẩy vết thương
Xe duyên thắm năm năm trường
Ban đầu Ngưu Nữ, Sâm Thương lúc này

Xưa nói rằng sắc phai ruồng rẫy
Giờ đẹp xinh bỗng nẩy hờn oan
Huống hồ soi mặt gương loan
Sắc chưa phai nhạt, lòng chàng đổi thay!

Xông áo luôn để chàng yêu mến
Nhưng hỡi ơi chẳng luyến mùi hương!
Xác thân chải chuốt hơn thường
Chàng coi vàng ngọc rã bương sắc màu!

Đường đi khó.
Khó nói ra
Đời chớ thủ phận đàn bà
Trăm năm sướng khổ người ta xoay vần!

Đường đi khó
Nguy hơn nước, khó hơn non
Chẳng riêng gì với vợ son, chồng gàn
Chuyện gần đây, quân thần cũng vậy:

Chàng không thấy? trái dâng lời, phải chép giữ
Sáng ban ơn, chiều bức tử…... vong thân!

Đường đi khó
Chẳng tại nước,
Chẳng tại non
Chỉ tại lòng dạ, người còn đảo điên!


Lộc Bắc
Mars2026
***
Đường Núi Thái Hàng

Đường núi gập ghềnh dễ gãy xe
Ông anh ‘oanh liệt' bảo không hề
Nước vùng Vu Giáp thuyền hay lật
Ông bảo yên bình sóng chẳng nề
Trắc trở lòng người thật chán chường
Yêu thì trân quý, ghét xem thường
Kết hôn chồng vợ năm năm chẵn
Ngưu Nữ chia tay, giã biệt (Sâm)Thương
Nhan sắc tàn phai sống vật vờ
Mỹ nhân ngày ấy hận bao giờ
Soi gương nay thấy dung nhan thắm
Sắc sảo chưa già vẫn đợi chờ
Hong áo trong lò cho quyện hương
Chàng chê không ngửi mùi thơm vương
Điểm trang chải chuốt cho xinh đẹp
Chẳng liếc nhìn qua chẳng tỏ tường
Đường đời gian nan
Kể không thể hết
Xin đừng nhận kiếp phận đàn bà
Quyết định vui buồn không phải ta
Đường đời gian nan
Khúc khuỷu hơn núi
Hiểm nguy hơn nước
Vợ chồng lòng dạ còn không hiểu
Vua chúa quần thần cũng tối thiểu
Anh có thấy không
Quan sử bên phải
Quan ngôn bên trái
Sáng còn ân sủng vua ban lộc
Chiều đã đầu rơi ở pháp trường
Đường đời gian nan
Không phải tại nước
Không phải tại núi
Chỉ tại con người tráo trở luôn


Thanh Vân
***
Nguyên tác: Phiên âm:

太行路-白居易 Thái Hành Lộ - Bạch Cư Dị


太行之路能摧車 Thái Hành chi lộ năng tồi xa
若比君心是坦途 Nhược bỉ quân tâm thị thản đồ
巫峽之水能覆舟 Vu Giáp chi thủy năng phúc chu
若比君心是安流 Nhược bỉ quân tâm thị an lưu
君心好惡苦不常 Quân tâm hảo ác khổ bất thường
好生毛羽惡生瘡 Hảo sanh mao vũ ác sanh sang
與君結髮未五載 Dữ quân kết phát vị ngũ tái
豈期牛女為參商 Khởi kỳ Ngưu Nữ vi Sâm Thương
古稱色衰相棄背 Cổ xưng sắc suy tương khí bối
當時美人猶怨悔 Đương thì mỹ nhân do oán hối
何況如今鸞鏡中 Hà huống như kim loan kính trung
妾顏未改君心改 Thiếp nhan vị cải quân tâm cải
為君薰衣裳 Vi quân huân y thường
君聞蘭麝不馨香 Quân văn lan xạ bất hinh hương
為君 盛容飾 Vi quân thịnh dung sức
君看珠翠無顏色 Quân khán châu thúy vô nhan sắc
行路難 Hành lộ nan 難重陳 Nan trọng trần
人生莫作婦人身 Nhân sanh mạc tác phụ nhân thân
百年苦樂由 他人 Bách niên khổ nhạc do tha nhân
行路難 Hành lộ nan 難於山 Nan ư san 險於水 Hiểm ư thủy
不獨人閒夫與妻 Bất độc nhân gian phu dữ thê
近代君 臣亦如此 Cận đại quân thần diệc như thử
君不見 Quân bất kiến 左納言 Tả nạp ngôn 右納史 Hữu nạp sử
朝承恩 Triêu thừa ân 暮賜死 Mộ tứ tử
行路 難 Hành lộ nan 不在水 Bất tại thủy 不在山 Bất tại sơn
隻在人情反覆閒 Chỉ tại nhân tình phản phúc gian.

Nguyên tác bài thơ có được đăng trong các sách:

Bạch Hương San Thi Tập - Đường - Bạch Cư Dị 白香山诗集-唐-白居易
Bạch Thị Trường Khánh Tập - Đường - Bạch Cư Dị 白氏长庆集-唐-白居易
Nhạc Phủ Thi Tập - Tống - Quách Mậu Thiến 乐府诗集-宋-郭茂倩
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐诗-清-圣祖玄烨

Bài thơ Thái Hành Lộ nằm trong chùm thơ 3 bài mang tựa đề Hành Lộ Nan (Đường đi khó) của Bạch Cư Dị. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ này gắn liền với những biến cố chính trị và sự thay đổi tư tưởng quan trọng trong cuộc đời của vị "thi ma" nhà Đường. Bài thơ mượn nỗi lòng của người phụ nữ bị phụ rẫy để phê phán sự bạc bẽo của lòng người và sự hiểm nguy trên chốn quan trường. Trong tựa bài thơ, ông có chú thêm câu: tá phu phụ dĩ phúng quân thần chi bất chung dã 借夫妇以讽君臣之不终也 Sử dụng ẩn dụ phu thê để châm biếm sự đổ vỡ của mối liên kết giữa quân và thần.


Giải nghĩa chữ khó:

Thái Hành: dãy núi nổi tiếng hiểm trở ở Trung Quốc.
Vu Giáp: một trong ba hẻm núi (Tam Hiệp) của sông Dương Tử, nước chảy rất xiết và nguy hiểm.
Mao vũ: lông cánh, ý nói khi yêu thương thì nâng niu, coi như chim quý, như thần tiên.
Sang: ghẻ chốc, khi ghét bỏ thì coi như bệnh tật, nhơ nhớp.
Loan kính: gương vẽ/chạm hình chim loan, vật dụng của phụ nữ.
Nạp ngôn / nạp sử: các chức quan tư vấn, ghi chép thân cận bên hoàng đế.
Triêu thừa ân, mộ tứ tử: sáng còn được ban ơn, chiều đã bị ban cái chết.

Điển cố:

Bài thơ xài 4 điển cố:

1. Điển cố Ngưu Nữ (hay Ngưu Lang - Chức Nữ) là một trong bốn truyền thuyết dân gian lớn của Trung Hoa, biểu tượng cho tình yêu chung thủy nhưng bị chia cắt.

Chức Nữ là nàng tiên dệt vải, con gái Ngọc Hoàng. Chức Nữ xuống trần dạo chơi, gặp và yêu Ngưu Lang, một chàng chăn trâu dưới trần gian. Họ kết duyên vợ chồng, có với nhau hai người con và sống hạnh phúc. Thiên đình phát hiện, bắt Chức Nữ về trị tội. Ngưu Lang đuổi theo nhưng bị Tây Vương Mẫu dùng trâm cài tóc vạch một đường tạo thành sông Ngân Hà chia cắt vợ chồng. Cảm động trước tình cảnh của họ, mỗi năm vào ngày 7 tháng 7 âm lịch (Thất Tịch), đàn quạ bắc cầu (thước kiều) qua sông Ngân cho họ gặp nhau một lần.

2. Điển cố Sâm Thương: Sâm là một sao trong nhóm chòm sao Lạp Hộ Orion nằm ở phương Tây và Thương là một sao trong nhóm Thiên Yết Scorpio nằm ở phương Đông. Do vị trí đối lập 180 độ trên bầu trời, hai sao này không bao giờ xuất hiện cùng lúc. Khi sao Sâm mọc thì sao Thương lặn, và ngược lại.

Theo Tả Truyện, thời cổ đại có hai anh em con vua Cao Tân tên là Át Bá và Thực Trầm. Họ ở chung một nhà nhưng tính tình xung khắc, ngày nào cũng gây gổ, đánh nhau dữ dội. Vua phải tách họ ra: Át Bá được dời đến Thương Khâu làm thần sao Thương, Thực Trầm được dời đến Đại Hạ làm thần sao Sâm. Từ đó, hai anh em xa cách muôn trùng, đời đời không còn nhìn thấy mặt nhau.

Trong truyện Kiều, Nguyễn Du có sử dụng điển cố Sâm Thương ở câu 2329 và 2330:

Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng
Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân

Trong bài thơ, Bạch Cư Dị đã dùng một phép so sánh cực kỳ đau đớn:
Ngưu Nữ (Ngưu Lang - Chức Nữ): tuy bị chia cắt bởi sông Ngân, nhưng mỗi năm vẫn còn một ngày hội ngộ.
Sâm Thương: là sự chia lìa tuyệt vọng, không có nhịp cầu, không có ngày gặp lại.

3. Điển cố Kính trung loan (Chim loan trong gương) là biểu tượng cho sự cô độc, lẻ loi và nỗi đau của người bị phụ rẫy.

Theo sách Dị uyển, vua nước Kế Tân bắt được một con chim loan xinh đẹp nhưng nó không bao giờ hót. Sau ba năm, hoàng hậu bảo: "Ta nghe nói chim loan thấy đồng loại thì hót, sao không đem gương soi cho nó thấy bóng mình?" Khi nhìn vào gương, chim loan thấy bóng mình, tưởng là bạn đời, bèn cất tiếng hót thảm thiết, rồi kiệt sức mà chết.

Trong bài Thái Hành Lộ, điển cố này được dùng để nhấn mạnh:
Sự chung thủy: Chiếc gương xác nhận nhan sắc nàng vẫn nguyên vẹn, tấm lòng vẫn sắt son, nhưng người chồng thì đã thay lòng đổi dạ
Sự trớ trêu: Chiếc gương loan vốn là vật chúc phúc cho sự lứa đôi (trên lưng gương đồng thường khắc hình đôi chim loan). Nhưng nay, người phụ nữ soi gương chỉ thấy một mình lẻ bóng, giống như con chim loan cô độc trong truyền thuyết.
Sự tan vỡ: Nhắc đến "gương loan" là nhắc đến hạnh phúc đã mất, chỉ còn lại sự lẻ loi giữa những vật dụng vốn gợi bối cảnh lứa đôi. Dù thấy "bạn" trong gương, nhưng đó chỉ là ảo ảnh.

Gương đồng thời nhà Đường chạm trổ phượng loan

4. Điển cố Huân y thường mang ý nghĩa chăm sóc tỉ mỉ và lòng chung thủy của người vợ dành cho chồng’ Thời xưa, phụ nữ quý tộc hoặc người vợ đảm đang thường dùng một chiếc lồng tre (gọi là huân lung) đặt trên lư hương, sau đó trải áo quần lên trên để hương thơm thấm vào từng sợi vải. Mùi hương là thứ hữu hình nhưng không thể nắm bắt, giống như tình yêu. Khi tình yêu mất đi, mùi hương dù nồng nàn đến đâu cũng không thể lay động được trái tim đã nguội lạnh. Trong bài thơ, điển cố này miêu tả sự đối lập:

Giữa cái tâm (tấm lòng)của người vợ, cố gắng làm đẹp lòng chồng, và cái ý (thay lòng)của người chồng, cố tình phủ nhận mọi nỗ lực của vợ.

Giữa sự tận tụy của người vợ gửi gắm tất cả tình yêu và sự tinh tế vào mùi hương trên áo chồng, và sự bạc bẽo của người chồng khi hương thơm trở nên tầm thường khó chịu.

Tóm lại, Huân y là điển cố về sự vun vén hạnh phúc, nhưng khi đi kèm với sự ruồng bỏ, nó trở thành nỗi đau của người có lòng tốt bị chà đạp.

Qua bốn điển cố trên, tác giả muốn nhấn mạnh rằng tình nghĩa vợ chồng (hay sự tin tưởng giữa quân - thần) một khi đã rạn nứt thì sẽ trở nên xa lạ, cách trở hơn cả bầu trời. Người đứng ngay trước mặt nhưng lòng dạ đã xa cách như hai ngôi sao ở hai đầu vũ trụ. Thậm chí, những điều tốt đẹp làm cho vừa lòng nhau còn bị coi là vô nghĩa.

Dịch nghĩa:

Thái Hành Lộ Đường Đến Thái Hành

Thái Hành chi lộ năng tồi xa, Nhược tỉ quân tâm thị thản đồ.
Đường núi Thái Hành có thể làm gãy xe, nhưng so với lòng anh thì vẫn còn là đường bằng phẳng.
Vu Giáp chi thủy năng phúc chu, Nhược tỉ quân tâm thị an lưu.
Nước hẻm Vu Giáp có thể làm lật thuyền, nhưng so với lòng anh thì vẫn là dòng nước lặng.
Quân tâm hiếu ố khổ bất thường, Hiếu sinh mao vũ, ố sinh sang.
Lòng người yêu ghét thay đổi khôn lường: khi yêu thì coi như lông vũ quý giá, khi ghét thì xem như mụn ghẻ hôi hám.
Dữ quân kết phát vị ngũ tải, Khởi kỳ Ngưu Nữ vi Sâm Thương.
Kết tóc làm vợ chồng chưa đầy năm năm, ai ngờ đôi ta như sao Ngưu sao Nữ (mỗi năm gặp nhau 1 lần) nay lại hóa Sâm Thương (không bao giờ gặp nhau).
Cổ xưng sắc suy tương khí bội, Đương thì mỹ nhân do oán hối.
Người xưa nói nhan sắc phai nhạt thì bị ruồng bỏ, mỹ nhân thời ấy còn phải oán hận.
Hà huống như kim loan kính trung, Thiếp tâm vị cải quân tâm cải.
Huống chi nay soi gương loan, mặt thiếp chưa già mà lòng anh đã đổi thay.
Vị quân huân y thường, Quân văn lan xạ bất hinh hương.
Vì anh mà đốt hương thơm áo, anh lại bảo mùi lan xạ chẳng còn thơm.
Vị quân thịnh dung sức, Quân khan châu thúy vô nhan sắc.
Vì anh mà trang điểm lộng lẫy, anh lại nhìn vàng ngọc châu báu như không có màu sắc gì.
Hành lộ nan! Nan trọng trần!
Đường đời khó đi thay! Thật khó mà kể hết!
Nhân sinh mạc tác phụ nhân thân, Bách niên khổ lạc do tha nhân.
Kiếp người xin chớ làm thân đàn bà, vì trăm năm khổ vui đều do người khác quyết định.
Hành lộ nan! Nan ư sơn, Hiểm ư thủy!
Đường đời khó đi thay! Khó hơn cả núi, hiểm hơn cả nước!
Bất độc nhân gia phu dữ thê, Cận đại quân thần diệc như thử!
Không chỉ riêng chuyện vợ chồng trong nhà, mà vua tôi thời nay cũng y như vậy.
Quân bất kiến: Tả nạp ngôn, Hữu nạp sử,
Anh chẳng thấy sao: những quan Nạp ngôn bên trái, Nạp sử bên phải,
Triêu thừa ân, mộ tứ tử
Sáng vừa nhận ơn vua, chiều đã bị ban cái chết.
Hành lộ nan! Bất tại thủy. Bất tại sơn.
Đường đời khó đi thay! Chẳng phải tại nước, chẳng phải tại núi.
Chỉ tại nhân tình phản phúc gian.
Mà chỉ nằm ở sự lật lọng, tráo trở của lòng người mà thôi.

Dịch thơ:


Phỏng dịch theo thể thơ lục bát mềm mại và dịu dàng của Việt Nam

Đến Thái Hành


Thái Hành trắc trở đường xa,
Sánh cùng lòng bậu, vẫn là đường thông.
Vu Giáp dù sóng lấp sông,
Sánh cùng lòng bậu, vẫn dòng nước êm.
Lòng người yêu ghét đảo điên,
Yêu như lông vũ, ghét liền ghẻ sang.
Năm năm kết nghĩa tào khang,
Ngưu Lang Chức Nữ, Sâm Thương chia lìa.
Sắc suy thì phụ lời thề,
Người vì nhan sắc còn nề oán thương.
Huống chi soi bóng trong gương,
Mặt chưa biến đổi, lòng quân đổi dời.
Ướp hương nồng thắm cho người,
Người chê lan xạ chẳng mùi hương hoa.
Điểm tô nhan sắc mặn mà,
Người xem vàng ngọc cũng là sắc không.
Đường đời khó, nói sao xong!
Làm thân con gái, trăm vòng đắng cay.
Khổ vui phó mặc người xoay,
Đường đời khó hiểm, hơn tày núi cao.
Sông sâu chưa hẳn hiểm nghèo,
Vua tôi thời đại cũng theo nhịp này.
Nạp ngôn, nạp sử mới đây,
Sáng vừa hưởng lộc, tối thây chẳng còn.
Đường khó chẳng tại núi non,
Cũng không tại nước, lối mòn chia đôi.
Mà vì tráo trở lòng người,
Đảo điên mấy chốc, khóc cười dở dang.

Road To Taihang by Bai Ju Yi


The road of Taihang can break a carriage,
Yet compared to your heart, it is a level path.
The waters of Wu Gorge can overturn a boat,
Yet compared to your heart, they are a steady flow.
The whims of human like and dislike are bitterly inconstant:
When loved, one is treated like a divine feather; when hated, like a festering sore.
It has not been five years since we bound our hair in marriage,
Who could have expected us to become like the stars Cowherd and Weaver, or Shen and Shang (forever parted)?
Ancient sayings claim women are forsaken when their beauty fades,
And the beauties of those times still felt resentment and regret.
How much more so now, when in the phoenix mirror,
My face has not yet changed, but your heart already has!
For you, I perfumed my robes,
But you smell the orchids and musk and say they are not fragrant.
For you, I dressed in my finest attire,
But you look at my gold and kingfisher jewelry as if they have no color.
The road is hard! It is difficult to tell the tale again.
In this life, do not be born in a woman's body,
For a hundred years of joy or sorrow will depend entirely on others.
The road is hard! Harder than mountains, More dangerous than rivers.
It is not only so for husbands and wives;
The lords and ministers of recent times are just the same.
Do you not see: The officials of the Left and Right,
Receiving favor in the morning, and granted death by evening?
The road is hard! It is not in the water. It is not in the mountains.
It lies only within the treachery and fickleness of human emotion.

22-3-2026
Phí Minh Tâm
***
Góp Ý:

… nội dung là kết án người chồng bạc bẽo.

Người ni không thấy vậy và chính hàm ý của tựa đề 太行路=Thái Hàng Lộ cũng nên làm người đọc hiểu lối khác. Bạch Cư Dị mượn lời vợ người chồng bạc tình để kết án triều đình nhà Đường. Đoạn chót của bài cổ phong bắt đầu với câu 近代君臣亦如此 Cận đại quân thần diệc như thử và không có lý do gì người vợ lại lôi chuyện chính trị vào để chỉ trích chồng. Trên nguyên tắc, đàn bà Hoa Lục ngày xưa chỉ lo việc nội trợ, không biết gì hết về chuyện triều chính.

太行=Thái Hàng còn có tên là Ngũ Nhạc (五行) là tên của dãy núi quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Lục; chân dãy núi dài hơn 400 km này là cái nôi của văn minh Đông Á thời cổ. Không có đường (路 lộ) nào băng qua được dãy núi dài đằng đẵng này nên tựa đề Thái Hàng Lộ nói đến hành trình của nho gia họ Bạch qua lịch sử Hoa Lục. Lịch sử Hoa Lục đầy thăng trầm nhưng triều đình nhà Đường thì cứ bình chân như vại. Họ Bạch sống qua 8-9 đời vua Đường với những tranh chấp quyền lực, chết chóc trong chính hoàng tộc, sau thời loạn An Lộc Sơn.

巫峡=Vu giáp là tên của một trong ba hẻm núi trên Trường Giang. Huyền thoại bảo rằng đây là nơi thần nữ Dao Cơ (瑶姬) hóa thân để giúp vua Đại Vũ trị thủy. Và dĩ nhiên luồng nước trong hẽm núi thì bất thường tùy thời tiết, cũng như thời cuộc ít khi mưa thuận gió hòa vì loạn lạc hay chiến tranh liên miên. Cũng có thể rằng thi nhân muốn nhắc đến huyền thoại thần Sở Hoài Vương mộng thấy thần nữ Vu Sơn, bỏ bê việc triều chính rồi bị vua nhà Tần bắt.

左納言,右納史 Tả nạp ngôn, hữu nạp sử. Tả và hữu là hai từ chính trị để chỉ hai phần của triều đình Hoa Lục thời xưa - BCD giữ chức 左拾遺=tả thập di và đụng độ với tể tướng Lý Lâm Phủ [李林甫], người mà chính nhà vua cũng phải nhận là đầy thủ đoạn - nhưng cũng có nghĩa hai bên tranh chấp quyền lực, tương đương với ngôn từ thời thượng trên thế giới. Chuyện chồng ham vàng ngọc, bỏ bê, không quý trọng nhan sắc và sự cố ý điểm trang của vợ để được lòng chồng thì có liên hệ gì với các tranh chấp, thủ đoạn trong triều đình?! Vì hai bên tranh dành quyền lực, con đường hoạn lộ của Bạch Cư Dị đầy trắc trở.

朝承恩暮賜死 Triều thừa ân, mộ tứ tử Hai câu này dính dáng gì đến tình nghĩa vợ chồng hay sự bạc bẽo của chồng? Chúng chỉ có nghĩa nếu các từ 朝=thiếp và 君=quân trong câu 妾顏未改君心改=Thiếp nhan vị cải quân tâm cải ám chỉ chính quan nhân họ Bạch và triều đình nhà Đường. 顏=nhan ở đây không phải là nhan sắc người đàn bà mà là tài năng của họ Bạch và bài cổ phong là lời than thống thiết của nhà nho họ Bạch về thể chế triều Đường xem quyền lực và của cải quan trọng hơn tài năng hay ý chí phục vị triều đình.

行路難,不在水,不在山,只 在人情反覆間=Hành lộ nan, bất tại thủy, bất tại san, chỉ tại nhân tình phản phúc gian. Đường đi khó không phải vì ngăn sông cách núi, hay vì lòng họ Bạch ngại núi e sông, nhưng vì lòng người phản phúc. Chủ từ cho động từ hành không phải là người vợ - vì cô vợ không phải đi đâu cả, mà là chính thi nhân họ Bạch, không còn tin tưởng được vào lòng người. Phải chăng đã có ai đó trong triều thất hứa với Bạch thập di?

Có thể rằng thi nhân họ Bạch dùng lối cổ phong để có thể diễn tả rõ ràng hơn tâm sự của chính mình. Việc người thời nay chỉ hiểu bài thơ như lời vợ trách chồng bội bạc có khó hiểu lắm chăng? Những người sống trong thể chế quân chủ ngày xưa có hiểu bài thơ như thế?

Huỳnh Kim Giám

@ ý kiến của Phí Minh Tâm

Trong sách Bạch Thị Trường Khánh Tập - Đường - Bạch Cư Dị 白氏长庆集-唐-白居易, tựa bài thơ có chú thêm câu: tá phu phụ dĩ phúng quân thần chi bất chung dã 借夫妇以讽君臣之不终也 Sử dụng ẩn dụ phu thê để châm biếm sự đổ vỡ của mối liên kết giữa quân và thần. Pmt

@Huỳnh Kim Giám trả lời :

Cám ơn anh Tâm. Người xưa biết, và hiểu, hàm ý trong các ngôn từ, điển cố hơn người thời nay. Làm sao những người ngoài Hoa Lục, không kiến thức tối thiểu về Hán tự và văn học Tàu hiểu được bài thơ dịch qua một ngoại ngữ?

@ mirordor chỉnh lại phần chú giải Sâm Thương:

Sâm và Thương là tên của hai nhóm sao trong nhị thập bát tú nằm đối diện nhau qua tâm điểm sao Polaris (北極星-Bắc Cực Tinh). Người Hoa Lục chỉ có thể thấy một trong hai chòm sao này hàng đêm khi chúng quay quanh Bắc Cực nên dùng chúng làm biểu tượng cho khái niệm không bao giờ được gặp nhau.

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2026

Đa Tạ - Anh Việt Thu - Kim Trúc Trình Bày


Sáng Tác: Anh Việt Thu
Trình Bày: Kim Trúc

Bờ Sông, Bờ Môi



Bên đây, tôi cúi hôn chiều
Bên kia, nắng thấp, rụng nhiều mây bay
Có đôi chim bạt cuối ngày
Cánh song song cánh , chia hai bầu trời

Bên đây, tôi cúi hôn đời
Bên kia, gió thổi những lời ca xưa
Ạ ời, theo võng đong đưa
Lẫn trong tiếng hát, tiếng mưa hiên ngoài

Bên đây, tôi ngất ngư dài
Bờ môi kẹo bánh: “ hôn .. hoài ngàn năm“!

18/4/2014
BP

Bến Bờ Nơi Nao?

 

Dòng sông rẻ hai,
Chiếc thuyền xuôi mái,
Biết đâu bẻ lái?
Bâng khuâng giữa dòng!
Có hiểu chăng lòng?
Vì thương với nhớ,
Vì đợi với chờ,
Nên hoa tàn úa.
Xin ai đừng hứa,
Đừng viết lời thơ,
Ngọt như giấc mơ
Tan vào nỗi nhớ.
Sông vô tình chảy,
Rẻ bến bờ nào,
Thuyền mãi cắm sào.
Đợi chờ vô vọng!

Hoành Trần
23/3/20