Triệu Hỗ 趙嘏 (810-856) tự Thừa Hựu 承祐, sinh quán ở huyện Sơn Dương, thuộc Sơn Ðông ngày nay. Tên ông cũng có khi đọc là Giả. Ngay khi còn bé, ông đã tỏ ra có biệt tài, từng làm khách Nguyên Chẩn lúc bấy giờ đang là Quan sát sứ tỉnh Chiết Ðông, rồi làm Tòng sự cho bạn của Ðỗ Mục là Thẩm Truyền Sư. Ðược Thẩm Truyền Sư mến mộ tài năng, năm mới 17 tuổi ông đã được cử làm Hương cống lên cư ngụ Trường An. Ở đây ông kết du rộng rãi với các văn nhân đương thời, thường chỉ suốt ngày “nghêu ngao vui thú yên hà”. Sau cũng đậu tiến sĩ nhưng đường công danh của Triệu rất lận đận, mãi đến năm 42 tuổi, tức là 10 năm sau khi thi đậu, mới được bổ làm một chức quan nhỏ ở Vị Nam. Ông mất không lâu sau đó.
Thơ Triệu phần lớn có nội dung nhớ nhung quê hương, buồn bã đường công danh, hoặc để thù tiếp với bạn bè. Ðỗ Mục đọc bài Trường An Thu Vọng của ông rất thích hai câu “Tàn tinh kỷ điểm nhạn hoành tái, Trường địch nhất thanh nhân ỷ lâu” cứ ngâm nga mãi và gọi luôn Triệu là Triệu Ỷ Lâu. (Trích Thi Viện)
(Triệu Hỗ)
Nguyên tác Dịch âm
聞笛 Văn địch
誰家吹笛畫樓中 Thuỳ gia xuy địch hoạ lâu trung,
斷續聲隨斷續風 Đoạn tục thanh tuỳ đoạn tục phong.
響遏行雲橫碧落 Hưởng át hành vân hoành bích lạc,
清和冷月到簾櫳 Thanh hoà lãnh nguyệt đáo liêm long.
興來三弄有桓子 Hứng lai tam lộng hữu Hoàn Tử,
賦就一篇懷馬融 Phú tựu nhất thiên hoài Mã Dung.
曲罷不知人在否 Khúc bãi bất tri nhân tại phủ,
餘音嘹喨尚飄空 Dư âm liệu lượng thượng phiêu không.
Chú giải
畫樓 họa lâu: lầu họa, lầu để vẽ, lầu lộng lẫy. Dịch là lầu hồng (không phải lầu xanh).
斷續 đoạn, tục: đứt, nối. 斷續聲 đoạn tục thanh: tiếng (sáo) đứt rồi lại nối. 斷續風 đoạn tục phong: gió ngừng rồi lại thổi.
碧落 bích lạc: bầu trời, trời xanh biếc.
Hoàn Tử tên một người thổi sáo hay.
Mã Dung: tên một người làm phú giỏi.
Dịch nghĩa
Nghe sáo
Nhà ai thổi sáo trong lầu vẽ (lầu lộng lẫy),
Tiếng sáo lúc nghe lúc không tuỳ theo có gió hay không có gió.
Âm hưởng theo mây trôi ngang qua bầu trời,
Tiếng sáo hoà vào ánh trăng lạnh bay qua rèm cửa sổ.
Hứng thú nên thổi luôn ba bài như Hoàn Tử,
Nghe sáo (ta) làm được bài phú nhớ Mã Dung.
Khúc nhạc thổi xong, không biết ai đó còn ở trên lầu hay không,
Nhưng dư âm của bài sáo vẫn còn văng vẳng trong không gian.
Dịch thơ
Nghe sáo
Nhà ai chơi sáo tận lầu hồng,
Tiếng sáo tùy theo gió có, không.
Âm hưởng theo mây ngang trời biếc,
Hòa cùng trăng lạnh lọt vô phòng.
Hứng chơi ba khúc như Hoàn Tử,
Tặng phú một thiên tợ Mã Dung.
Khúc dứt chẳng hay người vẫn đó?
Dư âm văng vẳng mãi không trung.
Lời bàn
Một bài thất ngôn bát cú rất phức tạp nhưng rất tuyệt vời, làm lu mờ cái nét khô khan cố hữu của thể thơ này:
- Câu 1 nói: Một mỹ nhân không quen biết đang thổi sáo trên một căn gác màu hồng.
- Câu 2 nói: Tiếng sáo lúc nghe lúc không tùy theo gió lúc thổi lúc ngừng. Câu này gợi ý rằng nhà Triệu ở cách nhà nàng khá xa nên khi có gió mới nghe rõ tiếng sáo.
- Câu 3 & 4: Triệu vẫn cảm nhận được âm hưởng của tiếng sáo luồn trong mây, bay xuyên qua trời xanh rồi hòa với trăng lạnh chui vô rèm cửa của Triệu (mặc dù Triệu chỉ nghe lõm bõm khi có gió).
- Câu 5 & 6: Triệu còn biết cô chơi luôn 3 bài hay như Hoàn Tử từng chơi; để cho Triệu làm được bài phú đáp lễ hay như phú của Mã Dung.
- Câu 7 & 8: Tiếng sáo đã chấm dứt mà Triệu vẫn còn nghe văng vẳng bên tai; chả biết cô em còn ngồi ở lầu hồng hay không!
Triệu không quen nàng (ngay câu đầu ông đã hỏi thùy gia? nhà ai?); Nhưng ông cảm thấy nàng đẹp lắm, đẹp lây sang cả tiếng sáo (người đẹp thì thổi sáo hay, ông tin như vậy). Lối suy nghĩ này thường thấy trong Đường thi: mê tiếng sáo thì mê luôn người thổi sáo; hoặc ngược lại, mê người đẹp thì mê luôn tiếng sáo của người đẹp. Ông đã để tặng nàng một bài phú (mà ông ví với phú của Mã Dung); không phải ông tự khen mình, ông chỉ nghĩ rằng nàng là tiên nữ đã thổi sáo thần vào phú của ông.
Con Cò
***
Nghe Tiếng Sáo.
Nhà ai lầu vẽ sáo vang xa,
Lúc bặt khi nghe quyện gió qua.
Điệu vút mây cao ngang cõi biếc,
Âm hòa trăng lạnh lọt rèm hoa.
Hứng như Hoàn Tử ba tiêu khúc,
Hay tựa Mã Dung một phú ca.
Nhạc dứt, người còn hay đã khuất?
Dư âm khắp chốn vẫn ngân nga.
Lục bát.
Nhà ai sáo vọng lầu son,
Gió đưa tiếng mất tiếng còn theo nhau.
Vút mây ngang cõi trời cao,
Qua song lẫn ánh trăng thâu lạnh lùng.
Hứng như Hoàn Tử ba cung,
Viết hay tựa phú Mã Dung toàn bài.
Nhạc ngưng người ở đâu đây?
Dư âm ngơ ngẩn vẫn đầy không gian.
Mỹ Ngọc.
Apr. 6/2026
***
Nghe Tiếng Địch
Nhà ai tiếng địch chốn lầu hoa,
Tiếng mất tiếng còn, gió thoảng qua,
Âm hưởng ngăn mây ngang trời biếc,
Hoà cùng trăng lạnh tới màn la.
Hứng như Hoàn Tử chơi ba khúc,
Phú được Mã Dung đã giúp ta.
Địch dứt chẳng hay người đâu tá,
Dư âm mãi vẳng giữa trời xa.
Bát Sách.
(Ngày 06/01/2026)
***
Nghe Sáo
Nhà ai sáo thổi tự lầu hồng
Đứt nối tùy theo gió có/không
Mạnh chặn mây trôi về chốn thẳm
Êm hòa trăng lạnh lọt rèm song
Hứng tình ba bản như Hoàn Tử
Phú được một bài nhớ Mã Dung
Khúc hết chẳng hay người vẫn đó?
Dư âm còn vẳng giữa trời không
Song thất lục bát:
Ai thổi sáo lầu hoa đâu đó?
Đứt nối tùy có gió hay không
Mạnh mây chặn, trời biếc trong
Êm hòa trăng lạnh lọt phòng rèm thưa
Như Hoàn Tử hứng hòa ba khúc
Nhớ Mã Dung phú được một bài
Sáo ngưng người vẫn còn đây?
Dư âm vọng đến mãi hoài thiên không!
Lộc Bắc
Avr26
***
Vẳng nghe tiếng sáo
Tiếng sáo véo von lầu vọng sang
Âm thanh đứt quãng gió truyền lan
Mây xanh lơ lửng như ngừng đọng
Trăng chiếu qua rèm cửa bỏ hoang
Hứng thú khúc Hoàn Y réo rắt
Tuyệt vời phú Mã Dung mơ màng
Sáo ngừng người ấy còn lưu lại?
Văng vẳng đâu đây điệu dịu dàng
Thanh Vân
***
Trong cuốn “Thông Dụng Thành Ngữ Cố Sự “của Vương An, do Nguyễn Quốc Hùng dịch, có thành ngữ PHAO CHUYÊN DẪN NGỌC, liên quan đến Triệu Hỗ, nhưng sách in là Triệu Hổ, Bát Sách tưởng là người khác nên bỏ qua. Kỳ này, nhân có thì giờ, bèn tra cứu lại cho chắc, thì đúng là Triệu Hỗ. Hỗ, có sách ghi Giã, tự Thừa Cát, người Hà Bắc, thơ hay, đến nỗi Đỗ Mục cũng thích, nhất là câu “trường địch nhất thành nhân ỷ lâu” trong bài Trường An Thu Vọng, và gọi ông là Triệu Ỷ Lâu. Câu này cho ta thấy Triệu rất mê tiếng địch.
Một người nữa cũng hâm mộ ông là Thường Kiến. Một lần, Triệu sắp tới đất Ngô, Thường Kiến đoán là ông sẽ đến chùa Linh Nham nên tới trước đề 2 câu thơ trên vách. Quả nhiên Triệu tới chùa ngoạn cảnh, thấy 2 câu thơ, bèn thêm 2 câu cho thành bài tứ tuyệt. Tất nhiên thơ của Triệu hay, tựa như Ngọc, thơ của Thường thì kém hơn, chỉ như viên Gạch nên mới có thành ngữ Phao chuyên dẫn ngọc, tức là ném gạch kéo ngọc.
Cuộc đời Triệu Hỗ cũng không may mắn. Dù đã đỗ Tiến Sĩ, nhưng vì bài thơ Đề Tần Hoàng, khen Thuỷ Hoàng anh hùng làm Đường Tuyên Tông bất mãn, không trọng dụng. Bị Tiết Độ Sứ Chiết Tây chiếm mất nàng ca kỹ, người yêu của Triệu, đến khi Triệu đậu Tiến Sĩ mới đem trả, nhưng vừa gặp nhau là nàng chết khiến Triệu tan nát cõi lòng.
- Át là ngăn chặn, đuổi bắt, im bặt.
- Mã Dung là người viết phú rất hay.
- Tam Lộng, Hoàn Y, thì Bát Sách xin bổ túc một chút cho giải thích của anh Giám và anh Tâm. Hoàn Y là võ tướng đời Đông Tấn, từng giúp Hoàn Ôn và Tạ Huyền (cháu Tạ An) lập được nhiều công trận. Giỏi âm nhạc, nhất là thổi địch, được khen là Giang Tả Đệ Nhất, thường dùng cây địch Kha Đinh do Thái Ung chế tác. (Thái Ung là danh sĩ thời Đông Hán, giỏi kinh thuật, từ chương, thiên văn và âm luật, cha của nữ sĩ Thái Diễm, rất nổi tiếng). Vương Huy Chi, (con của Vương Hi Chi, nhà Thư Pháp nổi danh với thiếp Lan Đình,) khi gặp Hoàn Y ở bến Thanh Khê, biết tiếng, sai người nhờ Hoàn thổi địch. Hoàn thổi liền 3 khúc rồi lên xe bỏ đi. Vì vậy trong bài thơ mới có câu tam lộng hữu Hoàn Tử.
Bát Sách
***
Nguyên Tác: Phiên Âm:
聞笛-趙嘏 Văn Địch- Triệu Hỗ
誰家吹笛畫樓中 Thùy gia xuy địch hoạ lâu trung
斷送聲隨斷續風 Đoạn tống thanh tùy đoạn tục phong
響遏行雲橫碧落 Hưởng át hành vân hoành bích lạc
清和冷月到簾櫳 Thanh hòa lãnh nguyệt đáo liêm long
興來三弄有桓子 Hưng lai tam lộng hữu Hoàn Tử
賦就一篇懷馬融 Phú tựu nhất thiên hoài Mã Dung
曲罷不知人在否 Khúc bãi bất tri nhân tại phủ
餘音嘹喨尚飄空 Dư âm liệu lượng thượng phiêu không.
Bài thơ không có trong Toàn Đường Thi. Sách có đăng bài thơ:
Huệ Phong Từ Thoại - Thanh - Huống Chu Di 蕙風詞話-清-況周頤
Thiên Gia Thi 千家诗
Ghi Chú:
Họa lâu: một gian nhà được chạm khắc lộng lẫy, trang hoàng đẹp đẽ
Đoạn tục: không liên tục, bị gián đoạn
Át: dừng lại
Hưởng át hành vân: thanh âm cao ngất sáo to, trong trẻo, vút thẳng lên trời, chắn hết mây trôi.
Hoành: bay qua
Bích lạc: bầu trời. Đạo gia cho rằng ở phương đông cao nhất trên trời có ráng xanh (bích hà 碧霞) bủa khắp. Trong bài Trường hận ca 長恨歌 Bạch Cư Dị 白居易 viết:
Thượng cùng bích lạc hạ hoàng tuyền 上窮碧落下黃泉
Trên cùng đến trời xanh, dưới tận suối vàng,
Lưỡng xứ mang mang giai bất kiến 兩處茫茫皆不見
Cả hai nơi mênh mông, đều không thấy (nàng) đâu cả.
Thanh hòa: yên tĩnh và hòa bình
Lãnh nguyệt: ánh trăng mang lại cho người ta cảm giác trong vắng lạnh lẽo
Liêm long: màn cửa và lưới cửa sổ
Tam Lộng: bài hát cổ Mai Hoa Tam Lộng, là nhạc khúc nằm trong 10 ”đại danh khúc” của Trung Hoa. Bản nhạc được ví như lời tự tình của bậc quân tử, như hoa mai hiên ngang đẹp đẽ tinh khôi, là nhạc khúc mượn vẻ đẹp của hoa mai tinh khiết, thơm ngát và sự bền bỉ kiên cường trong giá lạnh mà ngợi ca cho những người tiết tháo cao thượng, hoa mai thơm như lòng người quân tử.
Hoàn Tử: tên Hoàn Y 桓伊 sống đời nhà Tấn giỏi thổi sáo. Ngày nọ, Hoàn Y cởi ngựa gần sông, một thuyền nhân tên Vương Huy yêu cầu Hoàn Y thổi một bài sáo. Hoàn Y xuống ngựa, thổi bài Mai Hoa Tam Lộng, rồi lên ngựa đi.
Mã Dung: người đời Đông Hán, giỏi về soạn nhạc cho sáo
Nhất thiên: toàn bộ bài viết. Văn tự thời xưa được viết trên thẻ trúc, dùng da trâu xâu chuỗi như sách. Sau đó ngưởi ta gọi văn bản đầu đuôi đầy đủ là một thiên.
Khúc bãi: đoạn cuối của một bài hát.
Liệu lượng: véo von, tiếng trong trẻo mà đi xa
Dịch Nghĩa:
Văn Địch Nghe Thổi Sáo
Thùy gia xuy địch hoạ lâu trung
Ai đang thổi sáo từ trên lầu ngôi nhà xinh đẹp.
Đoạn tống thanh tùy đoạn tục phong
Sáo vi vu tiếng mất tiếng còn theo làn gió đứt quãng truyền đến.
Hưởng át hành vân hoành bích lạc
Âm hưởng vang vọng như ngăn chận áng mây lơ lửng trên bần trời xanh.
Thanh hòa lãnh nguyệt đáo liêm long
Tiếng sáo trong trẻo như ánh trăng lạnh lẽo chiếu vào rèm cửa sổ.
Hưng lai tam lộng hữu Hoàn Tử
Khi hứng thú, tiếng sáo thổi khúc Mai Hoa Tam Lộng của Hoàn Y.
Phú tựu nhất thiên hoài Mã Dung
Mà giai điệu tao nhã làm nhớ tới Mã Dung, người đã làm ra được một ngàn bài phú.
Khúc bãi bất tri nhân tại phủ
Một khúc sáo đã hết, không biết người có còn ở trên lầu hay không?
Dư âm liệu lượng thượng phiêu không
Mà dư âm tiếng sáo vẫn như còn văng vẳng trong không trung.
Dịch Thơ:
Nghe Sáo
Tiếng sáo nhà ai thật véo von
Nương theo nhịp gió tiếng vơi tròn
Thanh vang ngăn chận mây trôi dạt
Lạnh lẽo theo trăng đến cửa son.
Khúc sáo Hoàn Y cao hứng thú
Mã Dung ngàn phú chất đầy non
Sáo ngưng, người thổi có còn đó
Lơ lửng dư âm như vẫn còn.
Translation: Listening to the Flute by Zhao Gu
Who is playing the flute on the upper floor of this family building
The melodious flute sound, clear or diffuse, follows the off and
on of the wind blowing.
When the flute sound is loud it is like holding back the moving clouds that stand horizontally in the blue sky.
When the sound is clear it is like the cold moon that shines into the window curtain.
In a happy mood the flute sound is like the music of "The three teasing of the plum blossoms" which was played by Huan Yi
Then I recall the piece of flute verse composed by Ma Rong
The music has ended, however I wonder if the person playing the flute is still on the floor.
I feel the flute sound still rising and falling in the empty space.
Phí Minh Tâm
***
Góp ý
興來三弄有桓子 hứng lai tam lộng hữu Hoàn Tử
Hoàn Tử là Hoàn Y (桓伊) thời Đông Tấn, có tài thổi sáo, có thể là tác giả của ba bài cổ cầm Mai Hoa Tam Lộng, và được gọi là địch thánh (笛聖) nhưng trang zh.Wikipedia chỉ nói về thành quả binh nghiệp.
[Hoàn Y thổi sáo, Tào Hữu Quang vẽ]
賦就一篇懷馬融 phú tựu nhất thiên hoài Mã Dung
Mã Dung (70-166, Đông Hán), cháu chắt của Mã Viện và Mã Nghiêm. Ông sáng tác bài Trường Địch Phú (長笛賦) dài 1717 chữ nói về lịch sử và công dụng, ảnh hưởng của trường địch, đoạn chót đại khái nói sáo do người Khương dùng tre sáng chế, xoi bốn lỗ để thổi rồi Dịch Kinh Quân xoi thêm một lỗ nữa cho hợp với âm luật nhà Thương.
Triệu Hỗ nghe tiếng sáo vọng lại từ một họa lâu (lầu trang trí sặc sỡ) đàng xa, không biết người thổi là ai và liên tưởng tới địch thánh Hoàn Y và học giả Mã Dung, hai người lưu danh trong sử Tàu về binh nghiệp và học thức, ngoài những hoạt động liên hệ tới sáo. Ấn tượng bài thơ tạo ra nơi người đọc cũng mơ hồ như tiếng sáo thoảng trong gió y như thể thi nhân đang nuối tiếc thời còn có cơ hội thành danh.
Viết thêm về sáo (địch):
Sáo căn bản xưa nay chỉ là một ống trúc dài, trên thân sáo có một hàng lỗ. Tôi không biết cách thổi với một lỗ ở gần cuối hay với đầu ống cách nào tới trước nhưng đoán là là lối thổi ngang với lỗ gần đầu thân sáo. Cần phân biệt 笛=địch và 簫=tiêu vì cả hai đều là sáo trong tiếng Việt; địch thổi ngang, tiêu thổi dọc. Thuyết Văn bảo rằng địch là cái ống có bảy lỗ và đó cũng là địch thời Triệu Hỗ, nhưng từ điển này ra đời đầu thế kỷ 2 nên không phản ảnh địch nguyên thủy. Địch của người Khương chỉ có ba lỗ.
Một lý thuyết về nguồn gốc của sáo là thân cây trúc bị côn trùng, kiến hay ong, đục lỗ rồi gió thổi qua các lỗ đó tạo nên âm thanh êm tai rồi người xưa suy ra là có thể tạo ra sáo và nhạc thay vì chờ côn trùng và gió làm.
Theo tôi nghĩ, thơ khởi đầu là lời để hát với nhạc ngũ âm; hát được thì dễ nhớ và được truyền đời thành ca dao, và hát không được thì thành các bài thơ sai vần luật. Các vần điệu trong thơ phải hơp với các nốt ngũ cung trầm bổng và từ đó có các luật bằng trắc của nhạc phủ, từ, tứ tuyệt, bát cú, v.v...
Huỳnh Kim Giám