Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

Tiếng Thơ Hoa Vàng: Vũ Hoàng Chương và "U Uất Nỗi Chơ Vơ" - Thực Hiện: Lê Diễm Chi Huệ & Bác Sĩ Trần Xuân Ninh

Thơ: Vũ Hoàng Chương
Thực Hiện: Lê Diễm Chi Huệ & Bác Sĩ Trần Xuân Ninh

Hoàng Hôn Về Biển Vắng



Cơn sóng vỗ về đời ly xứ.
Hoàng hôn về biển vắng tình người.
Dấu chân buồn từng bước ra khơi.
Như dã tràng ngậm ngùi se cát.

Đời ly xứ vết hởn trên mắt.
Nơi xứ người hằn dấu chân hoang.
Nhớ ngày xưa phố mộng Nha Trang.
Biển cát trắng cho anh kỷ niệm.

Hàng dừa xanh hát chào thương mến.
Bờ môi em sáng ánh tà dương.
Hoàng hôn về sánh bước chung đường.
Em khuất bóng sau giàn thiên lý.

Đêm từng đêm dệt thơ ngỏ ý.
Để sáng ngày trao mảnh Hoa Tiên.
Em bâng khuâng xỏa tóc nhung huyền.
Che đôi má thắm hồng vì thẹn.

Rồi cơn lốc cuốn đời xa bến.
Để hoàng hôn biển lạ thiếu em.
Bao năm qua tìm dấu chân quen.
Nhưng biển cát lạnh lùng vô cảm.

Lâm Hoài Vũ


Ẩn Dật 2

 

Chiều nao qua bến Cây Sung
Hòa Sơn tím ngắt một vùng hoang vu
Bên này Hòn Thượng sương mù
Bên kia Giồng Cốc khói thu vẽ thành
Giữa rừng núi, một chòi tranh
Một mình, một cõi năm canh ngáy khò…
Bạn cùng tùng, trúc, hạc, cò
Bước cao, bước thấp, tự do khôn cùng
Chiều nao qua bến Cây Sung
Nhập vào mây khói, hòa cùng thiên nhiên
Trăng lên đủng đỉnh chiếc thuyền
Hàng cây yên giấc, đàn chim cựa mình
Sông sâu, một bóng, một hình
Đôi bờ cô tịch tâm tình cùng ta
Lắng nghe sương khói giang hà
Nửa đêm thiền định, chiều tà nghêu ngao
Đêm hư huyễn, ngày chiêm bao
Hoa bằng lăng tím xanh xao nỗi buồn
Cám ơn rừng núi Hòa Sơn
Đã cho ta những trái sim tím lòng
Cám ơn sông Lốt xanh dòng
Đã cho ta tách trà phong lan rừng
Chiều nao qua bến Cây Sung
Ta nhìn ta, bóng lung linh hao gầy
Rừng già lớp lớp khói mây
Lắng nghe vượn hú trên cây sao buồn
Hoẵng kêu, cọp rống, voi hờn…
Rõ từng tiếng sói cô đơn gọi đàn
Đại ngàn hoang mạc hòa tan
Trong ta tịch tịnh, tâm an mở bừng
Chiều nao qua bến Cây Sung
Sống đời ẩn dật, vui cùng cỏ cây
Bao năm, bao tháng, bao ngày
Ngoài vòng cương tỏa, áng mây giữa trời

Vinh Hồ
3/1991 (34 câu)
-Làm tại Hòa Sơn, Ninh Hòa, Khánh Hòa.
(Trích trang 116, thi tập Ẩn Dật của Vinh Hồ)

Bộ Dominoes Kỷ Niệm Ngày Xưa


(Kính tặng Quý Niên Trưởng và Quý Chiến Hữu Kiểm Báo đã từng cầm những con cờ Dominoes này trên hai bàn tay trong giờ nghỉ giải lao.)

Tháng Bảy, năm 1969. Sau khi mãn Khoá Học Weapons Controller tại Tyndall AFB, Florida. Trên đường về nước. Tôi mua một Bộ Dominoes đem về Việt Nam làm kỷ niệm. Thắm thoát, đã hơn nửa thế kỷ. Hôm nay, tình cờ nhìn lại Bộ Dominoes, trong lòng tôi cảm thấy bồi hồi và một chút lắng đọng. Nhớ lại từng khuôn mặt thân quen với các Biệt Danh rất dễ thương như: Hoàng Hynos, Long Basket, Quỳnh Complex, Trực Degaulle, Dũng Mexico, Ngọc Robert, Liêm Ruby, Thanh Gà rù, Nam Mốc, Lợi Khổng Lồ, Tâm Chệt, Hồng Cào Cào, Đính Lác, Toàn Mặt Ngựa, Chánh Chuột, Việt Gấu, Trí Xoắn, Bảo Bì, Minh Mù, Nhâm Cà Lăm….và Cựu Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm 2 Kiểm Báo: Mr DuPont.

Giờ đây, một số đã đi xa, một số đang ở tuổi về chiều nơi quê nhà và một số khác đang tha phương cuối đời nơi xứ người.

Bộ Dominoes đã theo chân tôì đi khắp các đơn vị Kiểm Báo: Từ Trung Tâm 2 Kiểm Báo, Sơn Trà, Đà Nẵngtức Panama, đến Đài 11 (Peacock) - Pleiku, Đài 21 (Paddy) - Bình Thủy, Cần Thơ và cuối cùng là Trung Tâm 1 Kiêm Báo (Paris), Tân Sơn Nhất.

Những Quân Nhân Kiểm Báo ở các đơn vị nêu trên, hầu như ai cũng đều quen mặt với Bộ Dominoes màu đỏ của tôi. Đầu tiên, các số trên con cờ có màu trắng. Sau này, tôi sơn đủ màu lên trên các con số để cho dễ nhận.

Bình thường Dominoes chơi bốn người, có đôi khi chơi ba, hoặc hai người. Nếu chơi bài cào, mỗi người bốc ba con thì chơi được chín người. Ăn thua không phải là chính, mà mục đích chỉ để giải trí, nghỉ giải lao cho quên phiên trực kéo dài. Có dôi lúc căng thẳng, nhưng chưa bao giờ xảy ra gây gổ, hay lớn tiếng trong lúc chơi Dominoes.
Sau ngày 30 tháng 04, 1975. Tôi không còn dịp đụng đến các con cờ Dominoes nữa! Tôi đem cất vào xó tủ, chẳng bao giờ ngó ngàng đến.

Khi được đi định cư Hoa Kỳ theo chương trình H.O vào Tháng 10, năm 1992. Ngoài những vật kỷ niệm, sách vở, tài liệu cần thiết, tôi không quên đem theo Bộ Dominoes trong hành trang lên đường.
Đến Mỹ, tôi không còn cơ hội chơi Dominoes với các chiến hữu. Tuy nhiên, nhờ Bộ Dominoes, mà tôi có dịp dạy con trai tôi làm các phép tính cộng và tính trừ rất hiệu quả.

Tôi bày tất cả con cờ Dominoes lên trên bàn học. Tôi hỏi con tôi các con số trên bộ cờ, cháu sẽ tìm cách bốc đúng con số, mà tôi muốn. Nếu tôi muốn tổng số là bao nhiêu thì cháu tìm các con số trên các con cờ Dominoes cộng lại. Nếu làm toán trừ thì cháu sẽ tìm cách loại ra những con cờ không cần thiết. Mỗi ngày tôi đều dành thời giờ để tập cho cháu làm các phép tính. Trong lúc làm những thủ tục cần thiết cho người mới đến, tìm nơi học lái xe, tìm hiểu, hỏi thăm những người đi trước giúp ý kiến, học hỏi kinh nghiệm.

Đây là cơ hội ngàn vàng, mà tôi được gần con tôi lâu nhất khi định cư ở Hoa Kỳ.

Một thời gian sau, Bộ Dominoes không còn được dùng nữa! vì con tôi đã đi học, vợ tôi ghi danh đi học tiếp, còn tôi đã tìm được công việc làm thích hợp. Do đó, Bộ Dominoes đành cất vô trong hộc tủ.

Hôm nay, thời tiết ẩm áp của mùa hè, trong không gian im ắng của Thành Phố San José, còn có tên là Thung Lũng Hoa Vàng. Tôi chậm rãi dọn dẹp, sắp xếp lại vật dụng trong nhà cho trật tự, ngăn nắp. Những gì thấy còn giữ được thì giữ. Còn như nếu thấy không cần thiết thì đem tặng cho Salvation Army.

Đến khi kéo hộc tủ ra. tôi thấy lại Bộ Dominoes, mà tôi đã vô tình quên lãng trên 30 năm. Bỗng dưng, cả một trời kỷ niệm hiện về. Tôi nhớ lại từng khuôn mặt các chiến hữu quay từng quần chơi Dominoes (với tiếng gõ, tiếng đập, tiếng la lớn triệt buộc, tiếng hô đóng có Bọ, tiếng nói nhỏ nhẹ, bạn còn thua con Bọ Trỏng…} vào những ngày mưa to, gió lớn, bão bùng trên Đỉnh Sơn Trà, nơi Pleiku mưa bụi giăng đầy, Cần Thơ êm ái, nhẹ nhàng, và Tân Sơn Nhất yên tĩnh nơi phòng nghỉ của đơn vị.

Tất cả đều đã chìm vào dĩ vãng. Không bao giờ tìm lại được. Nhiều Chiến Hữu ngày xa xưa đó đã đi xa. Nếu còn hiện diện trên cõi đời ô trọc này thì đã ngoài tuổi Thất Thập Cổ Lai Hy, sức khỏe đã yếu dần, đang cầm tấm vé một chiều chờ tài xế ngừng xe lại mời bước lên chuyến xe cuối cùng đi về miền miên viễn.

Cầm Bộ Dominoes kỷ niệm ngày xưa, hai tay tôi run run. Tôi đang nghĩ, rồi sẽ sẽ có lúc tôi không bao giờ còn thấy nữa!

Ôi! Bộ Dominoes thân yêu của tôi. Cả một trời kỷ niệm thời chinh chiến trong tiềm thức đang trở về.

Trần Đình Phước
(San Jose, California - 06/2026)


Du Chung Nam Sơn 遊終南山 - Mạnh Giao (Thịnh Đường)

 

Mạnh Giao 孟郊 (751-814) tự Đông Dã 東野, người Vũ Khang, Hồ Châu (nay là huyện Vũ Khang, tỉnh Chiết Giang) thời Trung Đường, cùng thời với Bạch Cư Dị, Hàn Dũ, Giả Đảo, Thường Kiến, Thôi Hộ... Ông công danh khá lận đận, đi thi nhiều lần không đỗ, mãi đến năm 46 tuổi mới đỗ tiến sĩ và năm 50 tuổi mới được bổ làm huyện uý Lật Dương (tỉnh Giang Tô), một chức quan nhỏ mà ông không màng tha thiết. Cảnh nhà nghèo túng quẫn, cuộc đời không lấy gì vui, nên thơ của ông thường châm biếm chê bai giới quý tộc quan liêu, lột tả nỗi niềm ta oán của giới trí thức không gặp thời như cảnh ngộ của ông, hoặc nỗi bất công của những người dân nghèo lao động tay lấm chân bùn.

Tác phẩm của ông còn lưu truyền cho hậu thế là Mạnh Đông Dã gồm 2 quyển. Thơ của ông gồm khoảng hơn bốn trăm bài nhạc phủ và cổ thi…


Lời phi lộ

Quanh năm ngày tháng chỉ ngoạn cảnh mà không đọc sách thì ngu tới già.
Quanh năm ngày tháng chỉ ngồi nhà đọc sách mà không ngoạn cảnh thì chỉ là mọt sách.
Vậy thì nên dung hòa giữa đọc sách và ngoạn cảnh.
Đó là ý dung hòa của bài 遊終南山 Du Chung Nam sơn của Mạnh Giao:

Nguyên tác Dịch âm
遊終南山 Du Chung Nam sơn

南山塞天地 Nam sơn tắc thiên địa,
日月石上生 Nhật nguyệt thạch thượng sinh.
高峰夜留景 Cao phong dạ lưu cảnh,
深谷晝未明 Thâm cốc trú vị minh.
山中人自正 Sơn trung nhân tự chính,
路險心亦平 Lộ hiểm tâm diệc bình.
長風驅松柏 Trường phong khu tùng bách,
聲拂萬壑清 Thanh phất vạn hác thanh.
到此悔讀書 Đáo thử hối độc thư,
朝朝近浮名 Triêu triêu cận phù danh.

Dịch nghĩa

Chơi núi Chung Nam

Núi Nam đứng sừng sững dưới gầm trời,
Mặt trời mặt trăng cứ như từ núi này phát sinh ra.
Cái dáng cao của núi non, ban đêm còn thấy rõ,
Hang hốc thâm sâu đến nỗi ban ngày vẫn không thấy ánh sáng.
Dân cư trong núi tự đoan chính,
Thế núi hiểm trở, nhưng lòng người bình dị.
Gió lớn thổi trên các cây thông cây bách,
Nghe như tiếng (sáo) phát ra từ vạn hang hốc.
(Đến chơi nơi đây mới) thấy hối hận đã (phí nhiều thì giờ) đọc sách (mà không ngoạn cảnh),
(Mình chỉ) hàng ngày theo đuổi danh lợi hão huyền.

Dịch thơ
Chơi núi Chung Nam

Chung Nam gom trời đất,
Nhật nguyệt tự phát sinh.
Núi cao đêm vẫn thấy,
Hang sâu nắng vắng tanh
Trong núi dân đoan chính,
Đường hiểm lòng yên bình.
Gió luồn khu tùng bách,
Như vạn sáo đồng thanh.
Hận xưa đọc nhiều sách,
Ngày ngày thích hư danh.

Lời bàn

Bài thơ ngũ ngôn cổ phong 10 câu; 8 câu câu đầu tả quang cảnh hùng vĩ của núi Chung Nam. Hai cấu kết tỏ vẻ hối hận rằng, (từ lâu nay) mình chỉ chúi mũi vào sách vở để kiếm hư danh (mà không biết thưởng ngoạn những cảnh đẹp như thế này).
Dường như Mạnh Giao không chống việc đọc sách; ông chỉ không coi việc đọc sách quan trọng hơn việc ngoạn cảnh thiên nhiên.

Con Cò
***
Ngoạn Cảnh Núi Chung Nam

Núi Nam giữa đất trời,
Nắng sớm trăng khuya khơi.
Sừng sững đêm còn thấy,
Hốc sâu ngày tối thui.
Người rừng lòng chất phác,
Đường khó, đi thảnh thơi.
Gió lớn thổi tùng bách,
Vọng thanh âm tuyệt vời.
Đến đây hận đọc sách,
Kiếm hư danh hỡi ơi.


Lục Bát.


Núi Nam giữa đất trời đây,
Trăng khuya nắng sớm nơi này sinh ra.
Núi to đêm cũng thấy mà,
Hốc sâu ánh sáng khó qua tối mù.
Người rừng chất phác vô tư,
Đường đi tuy khó từ từ bình an.
Gió lùa tùng bách trong ngàn,
Âm thanh từ vạn hốc hang vọng về,
Đến đây hận đọc hả hê,
Để tìm danh hão say mê hàng ngày.


Mỹ Ngọc.
Jun. 6/2026

***
Dạo núi Chung Nam

Núi cao trời đất phủ dầy
Trời trăng như thể từ đây ra đời
Đêm về đỉnh núi sáng ngời
Ban ngày khe đá chưa rời bóng đêm
Sơn nhân tâm tính thật hiền
Con đường dẫu hiểm vẫn yên lòng người
Gió lên tùng bách tơi bời
Trong veo tiếng gió lướt nơi khe rừng
Từ lâu đèn sách không ngừng
Giờ đây tiếc nuối mấy tầng hư danh


Thanh Vân
***
Chơi Núi Chung Nam

Núi Nam trùm thiên địa
Trời, trăng đá núi sinh
Đỉnh cao đêm giữ sáng
Lũng thấp ngày chưa tinh
Người thượng lòng ngay thẳng
Đường hiểm tâm an bình
Gió dài xô tùng bách
Âm quét vạn khe thanh
Đến nơi tiếc đọc thư
Càng ngày gần hư danh!


Lục Bát

Núi Nam trùm kín đất trời
Trời trăng như thể đá rời nẩy ra
Đỉnh cao giữ sáng đêm qua
Lũng sâu ngày rạng mặn mà bóng râm
Người miền thượng chính trực thầm
Đường tuy nguy hiểm nhưng tâm an bình
Gió dài tùng bách nghiêng mình
Vạn khe âm quét nghe thanh thản lòng
Đến nơi tiếc học uổng công
Càng ngày càng lậm vào vòng hư danh!


Lộc Bắc
Jun26
***
Góp Ý:


Ngày xưa, mới đi lính, tôi thích nhất bài Du Tử Ngâm của Mạnh Giao. Mình không là du tử, nhưng cũng lang thang không kém vì nghĩa vụ, và bài thơ nói lên nỗi lòng của cả hai mẹ con.
Lần trước, bài Quy Tín Ngâm gây cho BS nhiều cảm xúc, vì nỗi nhớ người yêu ở xa của một thiếu phụ (cứ nghĩ thế cho lãng mạn, đâu có sao).
Theo tiểu sử thì Mạnh công danh lận đận, vùi đầu vào sách vở mà 45 tuổi mới đỗ Tiến Sĩ, 50 tuổi mới được chức quan nhỏ, chẳng bõ công đèn sách, nên khi đi chơi núi Chung Nam, Mạnh Giao đã “NGỘ“, tiếc rằng mình không đi du lịch, đã bỏ phí thời gian đọc sách để tìm kiếm hư danh.
Chung Nam Sơn ở đâu? Là giẫy núi lớn, cách khoảng 50 dặm ở phía tây nam của Trường An. Phong cảnh ở đây rất đẹp, dân cư đoan chính hiền hòa, được tả trong 8 câu đầu, NGỘ ở 2 câu cuối.
Đời Đường, chẳng biết ở đây có công trình xây dựng gì không, nhưng tới đời Tống thì Vương Trùng Dương dựng Đạo Quán, lập ra phái Toàn Chân.
Ông còn một động đá rất đẹp đẽ và kỳ tuyệt, phải nhường cho người yêu là Lâm Triều Anh; bà này đổi tên động đá thành “Huyệt Tử Nhân Mộ Đài“, lập ra phái Cổ Mộ, nuôi dậy Tiểu Long Nữ trong truyện Thần Điêu Đại Hiệp. BS xin lỗi ACE đã ba hoa vì trúng tủ.
Bài này chỉ có vài chữ khó:
Tắc: là lấp kín, chắn, đầy đủ, bổ xung, qua loa. Tắc môn là tấm bình phong ở cửa để che kín nhà trong. Còn âm Tái, như biên tái, là nơi quan ải ở biên cương.
Phất: là phẩy, quét, đánh, rũ đi, che đi.
Hác: là hang hốc, hào nước, trống không.
Bài này khó dịch thành ngũ ngôn, vì nói không đủ ý, xin dịch theo lục bát:


Chơi Núi Chung Nam

Núi Nam chắn cả đất trời.
Tưởng đâu nhật nguyệt ra đời tại đây,
Non cao, đêm cảnh vẫn bầy,
Hang sâu mờ tối dù ngày đã sang,
Người trong thôn thật đàng hoàng,
Đường hiểm nguy vẫn bình an cõi lòng,
Bách, tùng gió thổi mênh mông,
Nghe như tiếng sáo lùa trong hang dài,
Tới đây, lòng cứ tiếc hoài,
Bao ngày theo đuổi, tìm tòi hư danh.


Bát Sách.
(Ngày 06/06/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm: Dịch thơ:

遊終南山-孟郊 Du Chung Nam Sơn – Mạnh Giao

南山塞天地 Nam sơn tắc thiên địa                Chung Nam che đất trời,
日月石上生 Nhật nguyệt thạch thượng sinh Trăng từ đá chơi vơi.
高峰夜留景 Cao phong dạ lưu cảnh              Đỉnh cao đêm còn sáng,
深谷晝未明 Thâm cốc trú vị minh                Hang sâu ngày tối mờ.
山中人自正 Sơn trung nhân tự chính            Người quê lòng ngay thẳng,
路險心亦平 Lộ hiểm tâm diệc bình               Đường hiểm dạ phẳng lờ.
長風驅松柏 Trường phong khu tùng bách     Gió lùa ngàn tùng bách,
聲拂萬壑清 Thanh phất vạn hác thanh          Vạn hóc tiếng trong thanh.
到此悔讀書 Đáo thử hối độc thư                   Giờ tiếc công đèn sách,
朝朝近浮名 Triêu triêu cận phù danh            Ngày tháng đuổi hư danh.

Bài thơ có đăng trong các sách:

Mạnh Đông Dã Thi Tập - Đường - Mạnh Giao http://孟东野诗集-唐-孟郊
Đường Âm - Nguyên - Dương Sĩ Hoằng 唐音-元-杨士弘
Cổ Thi Kính - Minh - Lục Thì Ung 古诗镜-明-陆时雍
Ngự Định Toàn Đường Thi Lục - Thanh - Từ Trác 御定全唐诗录-清-徐倬

Giải nghĩa chữ khó:

Chung Nam Sơn: một dãy núi lớn phía nam Trường An, nơi nổi tiếng là chốn ẩn cư của đạo sĩ, thi nhân, và những người thoát ly vòng danh lợi.
Tắc: lấp đầy, tràn ngập, chèn đầy, lấp kín, cho thấy sự đồ sộ của ngọn núi.
Thạch thượng sinh: hình ảnh phóng đại, như thể mọc lên từ đá núi.
Cảnh: ánh sáng mặt trời, ánh sáng ban ngày.
Vị minh: chưa sáng rõ.
Chính: ngay thẳng, chính trực.
Bình: bình thản, bình hòa.
Khu: xua, đẩy mạnh, thúc đẩy (gió lùa qua rặng thông).
Phất: lướt qua, chạm qua.
Hác: khe núi, thung lũng sâu.
Hối độc thư: hối hận vì theo đuổi con đường đọc sách cầu danh.
Phù danh: hư danh, danh lợi phù phiếm chốn quan trường.

Dịch nghĩa:

Du Chung Nam Sơn Dạo Núi Chung Nam

Nam sơn tắc thiên địa
Núi Chung Nam to lớn như che lấp cả đất trời ,
Nhật nguyệt thạch thượng sinh
Mặt trời mặt trăng như mọc lên từ đá núi.
Cao phong dạ lưu cảnh
Đêm xuống mà đỉnh cao vẫn còn ánh sáng,
Thâm cốc trú vị minh
Ban ngày mà khe sâu vẫn chưa sáng tỏ.
Sơn trung nhân tự chính
Người sống trong núi tự nhiên tâm tính trở nên ngay thẳng,
Lộ hiểm tâm diệc bình
Đường hiểm trở nhưng lòng người vẫn bình thản.
Trường phong khu tùng bách
Ngọn gió dài quét mạnh qua rặng tùng bách,
Thanh phất vạn hác thanh
Tiếng gió lướt qua muôn khe núi nghe thật trong trẻo.
Đáo thử hối độc thư
Đến nơi này mới thấy hối hận chuyện ngày xưa ít đọc sách,
Triêu triêu cận phù danh
Để ngày ngày chỉ gần gũi với (chạy theo) hư danh.


Hoàn cảnh sáng tác:


Mạnh Giao (751 – 814) là nhà thơ nổi tiếng với phong cách "khổ ngâm" với thơ câu chữ gọt giũa, mang giọng điệu cô tịch, u buồn. Cả cuộc đời ông lận đận khoa cử, mãi đến năm 46 tuổi mới thi đỗ Tiến sĩ nhưng chỉ được bổ nhiệm làm một chức quan nhỏ, làm Huyện úy Lạc Dương, không đúng với ý nguyện.

Bài thơ này được sáng tác khi ông lên kinh đô Trường An dự thi hoặc trong thời gian chán ngán quan trường, tìm đến núi Chung Nam để khuây khỏa. Đối diện với thiên nhiên bao la và sự chính trực của người sống trong núi đồi, ông nhận ra sự vô nghĩa của danh vọng, từ đó bộc lộ niềm khao khát tự do, tự tại. Trong chuyến du ngoạn này, ông có ghé thăm Chùa Long Trì trên núi và để lại bài thơ Du Chung Nam Long Trì Tự 游终南龙池寺.

Bình luận:

Bài thơ là một tác phẩm ngũ ngôn cổ phong với cái nhìn sâu sắc về thiên nhiên hùng vĩ, đối lập với sự mỏi mệt của vòng danh lợi chốn quan trường. Bài thơ là một chỉnh thể nghệ thuật đi từ tả cảnh đến tâm tình sâu lắng của thi nhân.

Bốn câu đầu: Mạnh Giao dùng nét bút phóng khoáng để tạc nên sự hùng vĩ của dãy núi Chung Nam. Núi cao đến mức "che cả đất trời", là nơi ôm trọn quy luật vũ trụ (trăng mặt trời mọc từ đá). Sự tương phản giữa "đỉnh cao còn giữ nắng" và "vực sâu chưa thấy ngày" khắc họa độ cao lồng lộng và sự thâm sâu của chốn đại ngàn.

Bốn câu tiếp: Khi đối diện với thiên nhiên chính trực, tâm hồn con người như được thanh lọc, hòa hợp vào cảnh. Đường núi dẫu "hiểm" nhưng lòng lại "bình", bởi con người đã thoát khỏi sự bon chen, hiểm độc của nơi phố thị. Tiếng gió thổi qua ngàn khe núi (vạn hác thanh) chính là tiếng lòng reo vui, tự do.

Hai câu cuối: Cái hay của bài thơ đọng lại ở sự thức tỉnh muộn màng trong hai câu kết. Lời than "hối tiếc đọc sách" không phải là phủ nhận tri thức, mà là sự tự trào, hối hận vì đã dùng sách đèn làm công cụ cầu danh lợi. "Phù danh" (danh hờ) chính là cái bẫy giam cầm con người, và chỉ khi đứng trước Chung Nam, thi sĩ mới thực sự thấy lại bản ngã.

Visit Southern Mountains by Meng Jiao
The Southern Mountains fill up heaven and earth.
The sun and moon seem to rise straight from the rocks.
High peaks keep their glow even into the night,
While deep valleys remain dim even in daylight.
People who live in the mountains are naturally upright;
Though the paths are dangerous, their hearts stay calm.
Long winds drive through the pines and cypresses,
Their sound brushing across ten thousand ravines, pure and clear.
Arriving here, I regret having spent my life on books,
Every day drawing closer to nothing but hollow fame.


Phí Minh Tâm
***
Góp Ý: 终南山=Chung Nam sơn

Lô Tàng Dụng

Chung Nam không phải là tên của một ngọn núi đơn độc mà là của một rặng núi với nhiều tên khác như Thái Ất, Thúy Hoa, v.v... và không thuộc vào nhóm Ngũ Nhạc trong văn hóa Hoa Lục, cho dù nó được xem là nơi xuất phát của Lão giáo và cũng như của Nam sơn luật tông. Một điểm đặc biệt về địa thế của Chung Nam, khác với những núi nổi tiếng khác là nó ở cách trung tâm của Tràng An ngày xưa có 30 km. Vì địa thế đó, truyền thuyết/điển cố Chung Nam tiệp kính (終南捷徑=lối tắt Chung Nam) ra đời.

Lối tắt Chung Nam nói đến thư pháp gia Lô Tàng Dụng (盧藏用), một người xuất thân quý tộc, đa tài, đỗ tiến sĩ dễ dàng nhưng không được triều đình thu dụng nên cùng em vào núi Chung Nam ở ẩn. Thời đó đạo sĩ Tư Mã Thừa Trinh (司馬承禎) cũng ở ẩn ở Chung Nam và đã từng được gọi vào triều giảng đạo ba lần. Khi Thừa Trinh muốn vào Tung sơn ở ẩn, Lô hỏi sao không vào Chung Nam và Thừa Trinh trả lời đó chỉ là một lối tắt đi làm quan (以我之 见,这是通向官场的捷 径啊). Lô ở ẩn thành công và được Vũ Tắc Thiên nghe tiếng, gọi vào triều và dần dần thăng quan tiến chức tới thượng thư hữu thừa và hết còn là người liêm chính (晚乃徇權利,務為驕縱,素節盡矣 vãn nãi tuẫn quyền lợi, vụ vi kiêu túng, tố tiết tận hĩ).

日月石上生 Nhật nguyệt thạch thượng sinh
Trăng và trời dĩ nhiên không xuất phát từ Chung Nam, hay từ bất cứ núi nào khác nên ta có nên hiểu rằng đây là một câu tâng bốc thái quá. Tên Chung Nam nhắc người này đến truyền thuyết về Lô Tàng Dụng, nhưng Mạnh Giao ngao du Chung Nam vì ý muốn ở ẩn hay vì biết đó là lối tắt vào triều? Mạnh hối hận đã phí thì giờ đọc sách thay vì đi du ngoạn, hay vì không đọc sách ở Chung Nam giữa âm hưởng của rừng núi?

Huỳnh Kim Giám

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2026

Bài Ca Tình Nhớ - Le Derobades ( Lời Việt : Lữ Liên ) - Tiếng Hát: Phạm Cao Tùng

Lời Việt : Lữ Liên
Tiếng Hát: Phạm Cao Tùng

Lối Cũ

  
        (Kim Phượng 1973)

Bàng bạc mây trời lờ lững cao
Mùa trăng hò hẹn mãi phương nao
Chao ơi phượng rũ dài mong đợi
Hương sứ âm thầm tỏa khát khao

Lối cũ tìm về rảo bước chân
Thềm quen cảnh cũ đấy tần ngần
Hồn xưa sống lại trang lưu bút
Nghiêng bóng vai gầy bóng cố nhân

Mơ dáng hình ai chửa xóa mờ
Say nàng tóc bím tuổi ngây thơ
Say xanh màu áo giờ tan học
Say nắng "cầu duyên"* đứng ngẩn ngơ

Giọng nói hôm nao gợi nhớ hoài
Nụ cười ngày trước vẳng bên tai
Chắt chiu hạnh phúc từ xa cách
Kỷ niệm êm đềm chửa nhạt phai

Như thuở chung đôi bước đến trường
Một thời hoa bướm của yêu đương
Như trang giấy mới vừa ươm mộng
Một cuộc tình chờ thương cảm thương

Thinh lặng bên nhau chẳng tiếng lời
Đàn lòng thổn thức nhịp buông lơi
Đôi đầu phơn phớt pha màu tuyết
Giây phút tương phùng mưa lệ rơi

Kim Phượng
* "Cầu Duyên" Chiếc cầu bắc ngang hai dãy lớp học 
của Trường Kỹ Thuật Vĩnh Long.

New York & Sài Gòn

 

Thành phố siêu cường thật mãn sung
Trên cao nhìn thấp, nghĩ mông lung.
Không lưu cho phép tàu bay xuống
Phi đạo chớp đèn bánh đáp bung.
Đất khách- Sài Gòn xa vạn dặm
Quê nhà- New York cách muôn trùng.
Mong ngày thuận tiện về thăm nước
Thưởng ngoạn danh lam khắp các vùng!

Duy Anh
JFK Airport. 10/6/2026

Lời Người Dưới Mộ



( Cảm tác vợ người bạn vừa qua đời)

Em nằm dưới đáy mộ sâu,
Thương nhau xin hẹn kiếp sau tìm về,
Đường em mây phủ sương che,
Đường anh một bóng chắc se sắt lòng?

Hồn em cũng biết khóc thầm,
Khi tình chưa đủ trăm năm bạc đầu,
Ai không mong chuyện dài lâu?
Tình nào không đẹp sắc màu nên thơ?

Cũng chỉ là một giấc mơ,
Khi ta đã bước sang bờ bến kia,
Em nằm đây với đêm khuya,
Em hiu quạnh với nắng trưa muộn màng,

Em nghe gío thổi mùa sang,
Em nghe mưa kể hợp tan chuyện đời,
Nghĩa trang rộng, em lẻ loi,
Nhớ mùi hương khói, nhớ người đến thăm,

Nấm mồ này vẫn đợi anh,
Hương hoa thơm chỗ em nằm ngàn Thu,
Ngồi bên mộ, anh trầm tư,
Nỗi đau vẫn mới như vừa hôm qua,

Cám ơn anh tình thiết tha,
Dù mỗi ngày mỗi cách xa nhau rồi,
Thăm em giây phút này thôi,
Trần gian anh hãy tìm vui một mình,

Ngày mai hoa sẽ héo tàn,
Khói hương sẽ tắt mộ em lại buồn.

Nguyễn Thị Thanh Dương


Kỳ Thị Trong Ngôn Ngữ

Trong

Một khuynh hướng rất lạ trong quần chúng ở hải ngoại, là khi họ nghe hay đọc một chữ nào trước đây chưa biết thì a-lê-hấp, phán ngay “đó là chữ Việt Cộng.” Mới đây có vài vị hỏi chúng tôi về những chữ mà họ chỉ nghe trên báo chí, đài truyền hình, truyền thanh ở Việt Nam từ sau 1975. Đó là các chữ như ‘qui hoạch, qui trình, đề xuất, đột xuất, hộ khẩu, hộ chiếu’

Trước đây, bản thân chúng tôi cũng từng có suy nghĩ kỳ thị như thế với nhiều chữ, mà sau đó - khi bắt đầu vào công việc soạn thảo cuốn Chuyện Dài Chữ Nghĩa - mới có dịp tìm tòi và học hỏi thêm. Chúng tôi nhận ra kiến thức của mình còn hạn hẹp và mang nặng cảm tính, để quan điểm chính trị chi phối nên nhận thức sai lạc khá nhiều. Vì thế, trong bài mở đầu của cuốn sách, chúng tôi đã nhấn mạnh rằng “... bất cứ những lời nào, chữ nào nói ra từ miệng người Việt đều là ngôn, từ chung của Việt Nam. Những người có thẩm quyền trong chế độ Cộng Sản không sáng chế thêm chữ mà chỉ sử dụng sai chữ, do sự thiếu hiểu biết và cẩu thả của họ.”

Đúng thế, chúng ta đã nghe, đọc rất nhiều chữ mà người Việt trong nước gán ghép cách kỳ quặc, hay sử dụng nghèo nàn một loại từ, một tĩnh từ, một động từ cho bất cứ chủ từ nào, trong bất cứ trường hợp nào. Nhất là chữ viết dựa theo cách nói ngọng của các vùng mà cũng thấy ngay trong sách giáo khoa, tài liệu chính thức của nhà nước.

Một điều mâu thuẫn khá buồn cười, là trong lúc bác bỏ thẳng tay những chữ Việt mà họ cho là chữ Việt Cộng; chê bai, lên án bất kỳ ai sử dụng chúng; thì có người lại hùa theo, viết theo những chữ ghép sai cách kỳ quặc hay dùng sai nghĩa xuất phát từ nước Việt Nam Cộng Sản. Sự hiểu biết lưng chừng thật tai hại! Những chữ ghép chướng tai nhất là ‘cặp đôi, cụm từ, chùm ảnh...” vẫn thấy vài nhà văn, nhà báo, hoạt động cộng đồng, truyền thông hải ngoại dùng đấy!

Hôm nay, chúng tôi xin chứng minh những chữ hiện nay bị gán là ‘chữ Việt Cộng,” mà thực tế, là những chữ từng có trong ngôn từ Việt Nam ít nhất cũng hàng trăm năm nay. Chúng được ghi trong các cuốn tự điển ra đời trước khi có Đảng Cộng Sản Việt Nam. Như cuốn Việt Nam Tự Điển của hội Khai Trí Tín Đức phát hành từ năm 1931 ở Hà Nội, Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh cũng ra đời từ năm 1931 ở Hà Nội, Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ ra đời ở Sài Gòn, Việt Hán Tự Điển của Huỳnh Minh Xuân - tái bản ở Sài Gòn năm 1963. Những tài liệu này thì không ai có thể gán là xuất xứ từ nước Việt Nam Cộng Sản được.

1. - Qui Hoạch 規 畫 là trù liệu, vạch ra kế hoạch - Qui Trình 規 程 là diễn trình được trù liệu.

Quy là (1) khuôn phép. Như quy tắc 規則, khuôn xử, lấy phép khuôn xử cho người khỏi sai lạc gọi là quy. (2) như quy gián 規諫 khuyên can, (3) cái lệ đã thành rồi, như lậu quy 陋規 cái lệ hủ lậu. Những chữ quen thuộc như ‘qui định, qui ước, qui tắc, lập qui, nội qui...’

Hoạch là (1) vẽ; vạch ra cho biết đến đâu là một khu một cõi gọi là hoạch; (2) mưu kế, như mưu hoạch 謀畫, kế hoạch 計畫.
Trình 程 cũng là khuôn phép. Như chương trình 章程, trình thức 程式 đều nghĩa là cái khuôn phép để làm việc cả. Trình còn nghĩa là kỳ hẹn, việc làm hàng ngày, đặt ra các lệ nhất định, tất phải làm đủ mới thôi gọi là định trình 定程 hay khóa trình 課程.

Chúng tôi xin mượn các định nghĩa trong các tự điển như sau:

· Tự điển Thiều Chửu định nghĩa Qui hoạch là vẽ mưu vạch kế.
· Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức định nghĩa Quy hoạch là trù tính cách thức. Ví dụ: Trước khi làm, nên quy hoạch đường lối (trang 1207).
· Việt Nam Tự Điển Tín Đức (trang 459) định nghĩa Qui hoạch là trù tính mưu kế. Ví dụ: Nhờ có người giỏi qui hoạch giúp.
· Việt Hán TĐ của Huỳnh Minh Xuân có cả hai chữ: Qui hoạch như qui hoạch thủy lợi; Qui trình như qui trình điều khiển (trang 661).
· Hán Việt TĐ của Đào Duy Anh (trang 612) ghi Qui hoạch là trù tính. Qui trình như chữ qui tắc (trang 613) là ‘chương trình và phạm vi để làm việc (regle, loi).

2.- Hộ khẩu 戶口 là số người trong nhà, Hộ Chiếu 護照 là giấy Thông hành.

Chữ Hộ 戶 là nhà cửa, là nơi ở, cũng là dân cư. Khẩu 口, có nghĩa đen là cái miệng; nhưng cũng còn dùng để tính dân số. Một người là nhất khẩu, một nhà là nhất hộ. Vì thế, Hộ gần với chữ ‘home’ hơn chữ “house” vì đó là nhà trong đó có những người cư trú.
Hộ 護 trong Hộ Chiếu có nghĩa là bảo vệ; Chiếu 照 là tờ giấy, văn bằng.

· Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Hùinh Tịnh Của trang 425 có định nghĩa Hộ khầu là đầu người, miệng ăn trong nhà.
· Việt Nam TĐ của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ định nghĩa Hộ Khẩu là ‘dân số, số người và nhà trong một thành phố, một tỉnh, một xã, vân vân. ” (trang 663)
· Hán Việt TĐ của Đào Duy Anh định nghĩa Hộ khẩu là số nhà và số người. (trang 312)
· Cũng Hán Việt TĐ của Đào Duy Anh định nghĩa Hộ chiếu là “giấy vi bằng để bảo hộ cho kẻ lữ khách hoặc hàng hóa di chuyển (laisser-passer, passe-port). Trang 312.
· Việt Hán TĐ của Huỳnh Minh Xuân (trang 371) có chữ Hộ khẩu với thí dụ: đăng ký hộ khẩu; Hộ chiếu, ví dụ: hộ chiếu công vụ, hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu thường.
· Việt Nam Tự Điển của Tín Đức (trang 245) định nghĩa Hộ chiếu là giấy thông hành.” Hộ khẩu là số nhà, số người, dùng để nói chung dân số: ví dụ: “Số hộ khẩu ở Hà Nội mỗi ngày một tăng.”
· Việt Nam TĐ của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ định nghĩa Hộ Chiếu là giấy thông hành (trang 633),

3.- Đề Xuất 提 出 là nêu ra – Đột Xuất 突 出 là hiện ra đột ngột

Đề 提 là nâng lên, nâng đỡ, phàm dắt cho lên trên, kéo cho tiến lên đều gọi là đề, đề huề 提攜 dắt díu, đề bạt 提拔 cất nhắc. Đề cũng là đưa ra, nêu lên.

Đột 突 là bất ngờ, thình lình, đột ngột.
Xuất 出 là ra ngoài; trái nghĩa với nhập là vào.
· Việt Hán TĐ của Huỳnh Minh Xuân có chữ Đề xuất ở trang 256 và Đột xuất ở trang 284.
· Việt Nam TĐ của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ định nghĩa Đề xuất là xuất trình một đề nghị, đưa ra, nêu lên ví dụ: Đề xuất một chủ trương. (trang 438). Ở trang 490, có chữ Đột xuất với định nghĩa “ra, chảy ra thình lình.” Thí dụ: Mồ hôi đột xuất.
· Hán Việt TĐ của Đào Duy Anh trang 217 có chữ ‘nghị án đề xuất’ (motion, preposition); và trang 253 có chữ ‘Đột nhập đột xuất’ với ví dụ: vào thình lình, ra thình lình.

Với những định nghĩa, phân tích, và chứng minh đầy đủ bằng những tài liệu khả tín, có giá trị; chúng tôi tha thiết mong quí vị bỏ đi cái thành kiến nặng tính phân biệt chính trị, mà không gán cho chúng nhãn hiệu ‘chữ Việt Cộng.’ Có một lần trên FaceBook, chúng tôi bị ném đá, bị gọi là tay sai bào chữa cho VC khi tôi chứng minh hai chữ Bức Xúc là có từ xa xưa. Thậm chí, sau khi trưng ra trang tự điển, họ còn nói: “Đã chắc gì tự điển là đúng!” Đến mức đó thì phải chào thua cho đỡ mất thì giờ tranh cãi. Dĩ nhiên, chúng ta là người Việt Quốc Gia, chúng ta phải dựa trên tài liệu, sách giáo khoa trước 1975 ở miền Nam làm tiêu chuẩn. Người hiện nay ở Việt Nam chỉ biết tài liệu mới của CS; thì lạ gì khi họ cho rằng con ‘rơi,’ thùng ‘giác,’ ‘rụng’ cụ... là đúng hơn con dơi, thùng rác, dụng cụ (những chữ này tìm thấy trong sách giáo khoa đấy!).

Như thế, thay cho qui hoạch, chúng ta có thể nói lập kế hoạch, chương trình, dự án; thay vì qui trình, chúng ta có thể nói: diễn trình, trình tự, chương trình, (đúng) cách, (theo) bài bản...

Thay cho hộ khẩu, chúng ta có thể nói gia cư; thay vì hộ chiếu, chúng ta có thể nói: thông hành.

Thay cho đề xuất, chúng ta có thể nói nêu ra, đề nghị; thay vì đột xuất, chúng ta có thể nói: bất ngờ, thình lình, đột nhiên...

Khi quí vị có thấy chữ nào lạ tai mà chưa có thì giờ tìm hiểu chính xác, thì có thể tìm những chữ khác quen thuộc đồng nghĩa mà sử dụng thay thế. Nhưng làm như thế, có phải là làm nghèo ngôn ngữ Việt Nam không?

Miền Nam ngày xưa không nói ‘đăng ký,’ mà dùng chữ ‘ghi danh, ký danh, đăng bạ, đăng bộ.’ Nhưng trong ví dụ của Tự Điển Huỳnh Minh Xuân, có chữ “Đăng ký Hộ khẩu” đấy; vậy xin chớ nói chữ này là của VC.

Quan trọng nhất là viết hay nói cho thật đúng với ý nghĩa của nó. Chữ thì nhiều, vấn đề là biết chữ nào trong trường hợp nào. Trong bài này, quí vị thấy có một chỗ tôi viết Quy với ‘y’ vì đó là chữ có sẵn trong tự điển Thiều Chửu. Các tự điển khác dùng ‘i’.

Đỗ Văn Phúc

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2026

Cha Tôi - Nhac: Alpha Linh - AI Phục Hồi

Nhac: Alpha Linh
AI Phục Hồi

Khóc Cha(Vũ Uyên Giang) - Hot Tears For Dad(Thanh Thanh)

 

Khóc Cha

Trời mùa đông tâm hồn con giá lạnh
Con về đây nhưng cha đã đi rồi!
Không bao giờ còn thấy mặt cha tôi
Bao giọt lệ trào dâng trong khóe mắt

Lòng nghẹn ngào nhói đau như dao cắt
Chỉ vài ngày con đã mất cha yêu.
Ngày xưa, cha nghiêm khắc rất nhiều
Vì mong muốn con nên người hữu dụng

Công ơn cha như trời cao bể rộng
Như suối nguồn tuôn chảy mãi không ngừng
Nhớ nụ cười và khuôn mặt bao dung
Ôi tiếng nói ôn tồn khi giáo dục

Nhớ cả những ngọn roi vì lười học
Bởi ham vui với bè bạn gần nhà…
Biết làm sao kể lại hết tình cha?
Giọt nước mắt lăn dài trên gò má

Ngày hôm nay con không còn cha nữa
Tìm đâu ra hình bóng của cha tôi???

Vũ Uyên Giang
***
Hot Tears For Dad


The world is in winter but colder is my inner heart;
Here I do return but from this life Dad did depart.
From now on I cannot see any longer my father's shine;
How to stop from my eyes the stream of fervid brine!

My inside shoots as if cut by knives, the stings gather;
Only in a few days I have lost my beloved father!
I reminisce the old days you were so formidable
Just because you wanted me to become serviceable.

Your immense merit was like high sky, vast ocean,
Your watercourse of love never ceased its motion.
How I recall your merciful smile and generous face,
Temperate voice when educating me in each case.

I even remember the rod to your good will to bend
For being work-shy festal with a neighbouring friend...
Of your bosom I can't find any word that fully speaks;
Drops of choler are rolling down on my hollow cheeks.

From now on I do not have any more my dear Dad;
Where on earth can I find my father's image – So sad!

Translation by Thanh Thanh

Gió Tây Lạnh Lùng


Tình cảm con người nói chung, tình yêu trai gái nói riêng sao mà mặn nồng say đắm.

Nhớ ai ngơ ngẩn ngẩn ngơ
Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai

Thật là cảm động, đầy sự trìu mến, yêu thương, quyến luyến...
Trong kho tàng ca dao của dân tộc ta, có rất nhiều những điệu hò, câu hát về tình yêu trai gái. Nhưng cảm động nhất, tha thiết nhất, thể hiện tình yêu sâu đậm nhất...có lẽ là cảnh chia tay của đôi lứa.
Xin giới thiệu ra đây phần nào nỗi lòng của người con gái, khi đưa tiễn người yêu qua đôi câu ca dao chất phát, mộc mạc nhưng thật dễ thương và sâu sắc.

***
Chàng từ miền xa đến, nàng như đoá hoa rừng hương sắc. Có phải nợ chăng mà trầu nay đã bén duyên cau. Thế là đôi trái tim cùng hoà nhịp yêu đương. Để rồi chàng về thì không nỡ mà ở thì không đành

Ra đi anh nhớ vợ nhớ con
Ra về thì nhớ nước non trên rừng..
Khiến nàng càng đau xót
Cầm dao cắt đứt ruột ra
Ruột đau cho mấy không bằng xa nghĩa chàng!

Tìm đủ mọi lý lẽ..Đường xa vời vợi, đêm khuya vắng lặng... mong chàng hãy vì lời thệ ước mà ở lại. Lòng chàng đã quyết, thiếp chỉ còn biết thở biết than.

Anh ơi muôn dặm đường xa
Để em ôm bóng trăng tà năm canh!

Hay là

Gió vàng hiu hắt đêm thanh,
Đường xa, dặm vắng xin anh đừng về
Mảnh trăng đã trót lời thề,
Sao anh để gánh nặng nề riêng em.

Nhưng ý chàng trai khó thay, biết rằng không thể, đành để người ra đi, với đôi lời nhắn nhủ
Anh về em mượn khăn tay
Gói câu tình nghĩa lâu ngày sợ quên.

Lưu luyến bịn rịn nhưng không thể giữ chàng, cô gái chỉ mong
Anh giơ khăn trắng em cầm,
Mai sau về trển gối đầu lấy hơi.
Còn gì trống trải hơn khi người tình rời xa
Đêm khuya trăng lặn gà kêu,
Anh về ở dưới bỏ gối thêu ai nằm

Để rồi mỗi khi đêm về, nửa giường nửa chiếu giờ thiếu bóng dáng ai
Đêm nằm ôm gối thở than
Gối ơi là gối bạn lang đâu rồi.

Trong căn phòng vắng lạnh, càng thương càng nhớ càng sầu, nàng đâm ra hờn trách
Chạnh thương chạnh nhớ chạnh sầu
Vì ai nên nỗi cho trầu xa cau
Nhưng có lẽ sâu đậm nhất chính là câu
Anh về để áo lại đây
Để khuya em đắp gió tây(*) lạnh lùng

Tại sao câu ca dao trên lại cho là sâu đậm nhất. Gió Tây lạnh thế nào mà cô gái phải cần đến tấm áo của người thương để đắp?

Vào mùa hè, gió từ Lào thổi sang, gọi là gió Tây. Gió Tây rất nóng, có lúc lên đến 43 độ C. Đối với người con gái khi người yêu rời xa, trong cảnh cô đơn, lấy gì để sưởi ấm lòng, trong khi cái oi bức của gió Tây nàng cũng cho là lạnh giá.
Một thể ví trong câu ca dao thật hay. Không thể có cái lạnh nào hơn cái lạnh trong lòng. Cái lạnh đó, chỉ có hơi ấm của người yêu mới đủ sức xoá tan.

Qua đôi câu ca dao trên, chúng ta thấy tình cảm thật đậm đà, chân thật của người con gái Việt trong Văn Chương Bình Dân. Một sự biểu lộ không e dè, thẳng thắn, chứ không hề nói bóng nói gió như trong Văn Chương Bác Học.

Huỳnh Hữu Đức


Tin Tức Mình 237

Ngày 30/12/2025: Hôm nay là buổi họp mặt bỏ túi với Nguyễn Ngọc Quang và Bùi Thị Lài từ Pháp qua. Đáng lẽ ăn sớm hơn, nhưng Quang bị cảm, và chưa mượn được xe của con, nên hơi chậm. Những người đón bạn có Trần Mộng Lâm, Lê Thành Ý, chị Mai, vợ Đinh Hoàng Điệp, và Nguyễn Thanh Bình. Đáng lẽ có Thân Trọng An và Cẩm Huyền là người đã giới thiệu cho Quang một nha sĩ ở gần nhà, từ Pháp qua đây hành nghề, được chữa trị cẩn thận và miễn phí, nhưng trong mấy ngày, tuyết nhiều, đường trơn, nên An từ chối vào giờ chót.

 Mới đầu hẹn nhau 11g30 ở Kim Hour, nhưng chị Mai xin đổi lại tại Hương Xưa.

Mọi người tới đúng giờ, nhưng khách thì biệt tăm ! Tôi có số điện thoại của Quang, nhưng để ở nhà, đành ngồi chờ. Tới 12g30, bà con bắt đầu gọi món ăn, gần 1 giờ, khách mới đi taxi tới. Thì ra Quang đậu xe ở phía họ để bảng hốt tuyết, ra không thấy xe, đi tìm, gọi cảnh sát… Khi biết xe bị câu đi, gọi taxi, và chờ dài cổ mới có người chịu đón.

Thôi thì cười nói ầm ầm, nhắc kỷ niệm xưa, kể chuyện diễu…đủ thứ. Đồ ăn ngon, nhưng không có rượu. Tới gần 3 giờ mới chấm dứt. Tôi đưa vợ chồng Quang, và nhà tôi đi chợ, và thả 2 người trước cửa nhà.

Rốt cuộc thì Quang gửi email cho tôi: “ tao tìm thấy xe rồi, bị phạt 194 đô la. Bố tiên sư nó.” Đúng là dân nhà quê ra tỉnh mới bị phạt lãng nhách như vậy.


Ngày 07/01/2026 : Hôm nay là một ngày rất vất vả cho tôi: sáng đưa vợ đi khám mắt, sau khi mổ cườm trắng 2 bên, đi ngân hàng, đi chợ, và họp ở nhà Hội Trưởng Trâm Anh lúc 21 giờ. Họp thì đủ mặt mọi người, trừ Đỗ Quốc Bảo. Nguyễn Thị Thanh Trà thì tới trễ vì từ Ste Agathe về, mà xe yếu điện, phải charge cho đủ. Trần Văn Dũng tổng kết chi thu. Đã bán được 35 bàn, hy vọng sẽ bán hết. Trâm Anh báo tin ngân hàng RBC (Royal Bank of  Canada) yếm trợ 10.000.

Nhiều người đã hứa tặng quà, 14 phần để rút số, và Tạ Duy Minh có ý kiến rất hay là để nhãn hiệu của RBC trên các gói quà, coi như họ tặng, và cho họ được đọc 2 diễn văn ngắn, chừng 2 phút. Cũng quyết định ai làm MC, ai hát, đón đưa ca sĩ…Nói chung, mọi sự đã chuẩn bị đầy đủ, chỉ chờ ngày 21/02 thôi. Hy vọng là ngày đó không có bão tuyết.


Ngày 19/01/2026: Phan Văn Thành & Tiểu Thu, Duy Ngọc & Phượng tổ chức ăn uống tại nhà Thành, và Bếp trưởng Ngọc điều chế món phở. Cỡ 18 giờ là khách khứa tới đầy đủ: Thổ dân ở đây có: Lưu Thanh Phi, Nguyễn Thanh Bình, Mạc Văn Trọng, Nguyễn Phú Cường, Trần Văn Dũng, Nguyễn Thế Hùng, Đào Dũng, Lâm Chấn Thọ. Khách phương xa là vợ chồng Phạm Văn Đức & Nicole ở Tây qua thăm con cháu. Hôm nay chỉ uống rượu vang đỏ cho hên. Mỗi người một tô phở đặc biệt với tái, chín, gân, bò viên, lớn hơn tô xe lửa ở tiệm nên quá no, một số không ăn hết nước, dù rất thơm ngon mà hồi ở Việt Nam mình hay ăn với cơm nguội. Đàn ông ngồi riêng trừ Lưu Thanh Phi xin qua bàn các bà cho ấm. Đức và Dũng Trần tâm sự hơi nhiều. Bình và Dũng Đào cũng rầm rì nói chuyện đời. Trong khi mọi người ăn uống thì Trọng như thường lệ, toàn phát biểu linh tinh. Nếu ở tù VC thì hắn bị nhốt Connex dài dài.

Ăn xong thì đến màn tráng miệng. Vợ Thọ và vợ Bình mua bánh vì tháng giêng là sinh nhật của Tiểu Thu và Lâm Chấn Thọ : Tiểu Thu đại diện thổi nến, chụp hình, coi cũng xôm tụ. Ăn bánh này, uống với cà phê sữa đá của Duy Ngọc thì ngon dàn trời. Trái cây có quýt, nhãn, vải, và hồng, nhưng tôi ăn hết nổi. Trọng thì cầm miếng hồng vừa ăn, vừa nhìn vợ cười cười, trông hơi…đểu. (vợ hắn tên Hồng)

Lúc ăn tráng miệng thì tôi qua bàn các bà để giúp vui như thường lệ. Tôi chỉ kể chuyện bác sĩ Đào Hùng là anh của Đào Dũng : Hồi trẻ, anh Hùng đi tu, đạo Thiên Chúa, rất được Giáo hội quý trọng, sắp được phong linh mục thì bị trục xuất, vì anh ấy dê bà phước. Nicole, vốn ngây thơ, hỏi: có thật không? Mọi người cũng ngơ ngác. Khi tôi giải thích là vợ của anh Hùng tên Phước thì ai nấy đều cười sặc lên.

Tiểu Thu có cho tôi coi tấm hình cũ, không nhớ chụp hồi nào, có anh Đặng Đông Mỹ, Hoàng Ngọc Quỳnh, tôi và chị Trần Thị Diệu Tâm, văn sĩ ở Pháp. Hình chụp cách đây gần 30 năm, ở đâu tôi không nhớ. Anh Mỹ đã quy tiên cách đây trên 10 năm, Quỳnh thì mất ngày 13/01/2001, hơn 25 năm, tôi nhớ rõ vì Quỳnh là đồng nghiệp và bạn văn…

Tiệc tan lúc hơn 22 giờ. Trời rất lạnh, đường trơn, nhưng mọi người về nhà an toàn.


Ngày 23/01/2026: Buổi chiều, gần 17 giờ, ra nhà quàn để phúng đồng nghiệp đàn chị là bác sĩ Lâm Thu Vân. Chị Vân mất đã 3 tuần, hỏa táng rồi, hôm nay chỉ để người quen tới hành lễ. Đồng nghiệp của chị rất đông, tôi thấy: Đào Bá Ngọc, Lê Thành Ý, Lưu Thanh Phi, Hồ Quang Nhân, Hội Trưởng Trâm Anh, Đỗ Quốc Bảo, Nguyễn Thị Thanh Trà, Nguyễn Ngọc Tân, Trần Văn Cương, Thân Trọng An, Phạm Đăng Hương, Trần Văn Dũng. Những người khác có lẽ không tới cùng giờ. Tụi tôi lên lễ di ảnh của chị, đứng nói chuyện một lát, rồi lại bị nắm cổ tới nhà Trâm Anh để họp nữa. Hơi nhiều!! . Trâm Anh thông báo mấy thứ: Ngân Hàng Royal đã rút yểm trợ.

Số bàn bán được mới có 35, số kỵ, hy vọng sẽ bán được thêm.

Rắc rối với ngân hàng: Quỹ dạ hội, từ xưa tới giờ, cần 2 chữ ký để xuất tiền. Từ covid, họ chỉ cần một chữ ký. Nay họ lại đòi 2. Không biết có thầy cò nào xúi ngân hàng? Người phải ký tên chung với Trâm Anh là một Nha Sĩ, mà cô này không chịu ký !! Sau khi bàn bạc, mọi người đồng ý là ngày hôm sau, Trâm Anh, Phạm Đăng Hương, Thân Trọng An, và vợ, Cẩm Huyền sẽ tới nhà cô nha sĩ theo lời hẹn để xin chi phiếu trắng có chữ ký. 

Hôm nay Trâm Anh cho ăn xôi, chả lụa, giò thủ và chè. Hơn 20 giờ thì xong.

Nghe đâu phái đoàn thương thuyết thành công, cô Hội Trưởng đã vui trở lại, không còn “ táo bón như Chú Bình” nữa.


Ngày thứ sáu 13, tháng 2, 2026: Vợ chồng Nguyễn Ngọc Quang, Bùi Thị Lài sắp về Tây nên mấy người hẹn nhau tới Kim Hour ăn trưa: chỉ có 6 người: vợ chồng khách, Nguyễn Thanh Bình & Hoàng, Lê Thành Ý đi một mình, chị Xuân Mai, vợ cố bác sĩ Đinh Hoàng Điệp. Trần Mộng Lâm vắng mặt vì tài xế vợ bận. Sáu người gọi 6 món, ăn vừa vặn, thêm tráng miệng chè và bánh bò. Quang lúc nào cũng cười cười, hình như điếc nặng hơn một chút. Bình thì êm ru vì được vợ mắng!!

Chỉ còn Ý tha hồ ba hoa, kể chuyện lính, chuyện bạn bè, cũng vui. Bắt đầu 11g30, chấm dứt lúc 14 giờ: mọi người đều đi chợ, nhưng đông quá, lạc luôn, mạnh ai nấy mua rồi về...


Ngày 15/02/2026: Hôm nay lại họp tại nhà cô Hội Trưởng Trâm Anh để bốc thăm, chọn bàn. Số người đến chỉ loe hoe 4, 5 người, ngoài ra thì mọi người bàn nhau chia chỗ. Lẽ dĩ nhiên, thế nào cũng có người không vừa lòng.

Năm nay ế, chỉ bán được 36 bàn, lại bị mất yểm trợ của Banque Royale du Canada nên ban tổ chức sẽ bị lỗ vốn, đành chịu thôi.

Dũng nhắc lại chương trình chi tiết, chỉ định MC, những ca sĩ cây nhà lá vườn, rút thăm, phát quà…Mọi thứ đều được tính thời gian rất kỹ.

Hôm nay có mặt gần đủ, thiếu Đặng Phú Ân, Phạm Đăng Hương và Đỗ Quốc Bảo, nhưng có thêm vợ chồng Dược Sĩ Khương. Hôm nay, cô Hội Trưởng cho ăn bánh chưng, chả quế, giò thủ, và chè sâm bổ lượng... Tôi bị ngồi trước cái chân bàn, khó chịu quá, phải lùi lại, để chân bàn vào giữa 2 đùi. Và hỏi: Đố các bạn, giữa 2 đùi tôi là cái gì ? và bị mắng là thô tục. Thì là cái chân bàn chứ có gì đâu. Đây là câu của ông Sếp tôi hỏi cô nữ trợ tá xã hội, hồi tôi ở lính.

Anh Thân Trọng An có tặng cuốn sách viết về Hội Y Sĩ Việt Nam ở Canada do Lạp Chúc Nguyễn Huy mới in, cho một số người có công với hội. Sách in đẹp, ngắn gọn, rõ ràng, có nhiều hình ảnh.

Họp tới 20g30 thì xong.


Ngày 16/02, tức 29 Tết, trừ tịch, vì năm nay không có 30. Chỉ có bà chị thứ 2 và vợ chồng tôi soạn đồ cúng các cụ vào buổi trưa, buổi tối thì đi ăn Kam Fung ở phố Tầu do vợ chồng Nguyễn Hùng Anh, Thái Diệu Loan mời ăn.

Có mặt từ 18 giờ, đi Metro cùng Thân Trọng An và vợ.

Hai bàn của tụi tôi là đặc biệt, ngoài ra toàn là Tầu, cũng tổ chức tiệc tất niên, ồn không chịu được: MC nói rất dai, và hát nhiều bài tiếng Hoa, nhưng không ai hiểu cả. Tôi ngồi cùng bàn với Hùng Anh, vợ chồng George Lê Văn Long, Lê Văn Anh Dũng, Anh Quý, chị Bé, và 3 người nữa. Bàn bên thì có Diệu Loan, Thân Trọng An, Nguyễn Văn Phúc, Thái Bình Minh.

Đồ ăn nhiều và ngon như thường lệ, đặc biệt có Bồ Câu quay, làm tôi nhớ tới Diamond ở Chợ Lớn và Phú Đô ở quận 13 (mấy bạn bên Paris chắc phải nhớ nhà hàng này, cách đây 30 năm, đã đổi chủ nhiều lần). Rượu thì uống không nhiều.

Tráng miệng có trái cây và bánh bông lan Sầu Riêng. 

Vì mới nhận được sách của Lạp Chúc Nguyễn Huy viết về HYSVN tại Canada, tôi tặng Diệu Loan và Bình Minh mỗi người một cuốn.

Tiệc tan lúc hơn 21 giờ.


Ngày 17/02/2026 : Hôm nay là mùng một Tết. Gia đình tôi tụ họp, cúng các cụ, và cũng là ngày giỗ của mẹ tôi. Tuy anh chị em họp mặt, trong cái vui có cái buồn: tôi nhớ mẹ vô cùng, nhớ giọng nói, tiếng cười và cả tiếng rên của bà dù đã 22 năm. Tôi không muốn nói chuyện nhà, chỉ viết vài hàng cảm tưởng.


Ngày 21/02/2026: Đêm nay là Dạ Tiệc Tân Niên của gia đình Y, Nha, Dược, được tổ chức ở nhà hàng Le Rizz, rất đẹp, rộng rãi và sang trọng. 

Bác sĩ Trần Văn Cương đã tường thuật đầy đủ, với nhiều hình đính kèm, tôi không viết gì thêm, chỉ nhắc đến các bạn quen để người ở xa biết tin những 

đồng nghiệp ở đây. 

Tôi được Nguyễn Tuấn Khoan, Khánh Hải tới đón như thường lệ. Dù Khoan đang đau lưng, nhưng lái xe vẫn ngon lành, và tới sớm, để dạ tiệc được khai mạc đúng 18 giờ. Tụi tôi có thì giờ để tìm bàn, chụp một vài tấm hình. Mọi người coi bộ khỏe mạnh, tươi cười, riêng tôi thì hốc hác, mắt thâm quầng, má hóp, coi rất thảm, vì từ hơn 2 tuần, miệng môi bị lở, chưa hết, ăn uống không được.

Tôi ngồi cùng bàn với Phạm Văn Minh, Lâm Quốc Hùng, Lê Thị Quý, 3 người này đi một mình. Đi 2 mình có Lâm Chấn Thọ & Phượng, Đào Dũng & Thái An, Tuấn & Tuyết. Dũng là em BS Đào Hùng, BĐQ, Tuấn là con trai của chị Vũ Lan Anh, lớp tôi, YKSG 67. Chị Anh năm nay 97, khỏe mạnh, mình mẫn. Tôi gọi mẹ là chị, con là em.

Đồ ăn ngon, vừa đủ, nhưng tôi đau miệng, ăn chập chuội cầm chừng. Chai rượu Dũng mua, của Ý mà dở ẹt, nhưng chia nhau cũng hết.


Bàn bên cạnh có Lê Thành Ý& Mỵ Lan, Mạc Văn Trọng & Thúy Hồng, Thân Trọng An,& Huyền.

Phạm Đăng Hương & Mỹ Linh ngồi cùng em là Phạm Đăng Hiệp. Hiệp không phải bác sĩ, du học Canada, là bệnh nhân của tôi, bị soi ruột mấy lần, như anh của cậu ấy.

Cạnh tôi còn có Diệc Kiến Quân, và vợ, Tôn Nữ San và chồng, nha sĩ Lê Đức Tuệ mà tôi không biết mặt, chỉ quen anh của Tuệ là Lê Đức Tâm, RIP, vua tiếu lâm thủa sinh thời. Hai nha sĩ tôi quen thân là Phạm Thế Thông và Nguyễn Thế Hùng. Hai tên nha sĩ kẻ thù của tôi trên bàn mạt chược là Nguyễn Văn Cường và Ngô Mạnh Diên thì vắng mặt.

Bàn của Nguyễn Tuấn Khoan có lẽ là vui nhất vì có Lưu Thanh Phi, Yến, Đặng Phú Ân, Kim Nhi, Đặng Đình Quảng. 


Tôi mệt quá nên không đi lòng vòng, ba hoa, chỉ gặp một số: chị Mộng Thu, phu nhân của cố Luật Sư Dương Hồng Lương, Tôn Nữ Liên Chi, Vũ Phương Liên.  Liên là Radio Québec, MC uy tín, thầy dậy võ tự vệ cho mấy bà, là phu nhân của cố Bác Sĩ Thành Quang Lân, em ruột Bác Sĩ Vũ Thiện Đạm lớp tôi. Hôm nay Liên “chợt từ bi bất ngờ” không mắng như thường lệ, có lẽ vì thấy tôi thảm quá.

Nguyễn Như Thành thì đi lung tung, bàn nào cũng ghé nên tôi cũng được hân hạnh bắt tay dựt dựt. Thủ quỹ Nguyễn Ngọc Tân thì vẫn lăng quăng chia đồ ăn cho người ngồi cùng bàn.

Cũng gặp Lâm Tài Thượng, Ngô Văn Mai, Phan Văn Thành, Trần Văn Dũng, vợ chồng Trâm Anh & Dương Đình Huy là lẽ dĩ nhiên.


Một cặp rất thân là Nguyễn Duy Ngọc, ban nhạc, và vợ là Phượng.

Điều trùng hợp là món quà tôi góp cho Hội là một máy đo huyết áp, người trúng thăm là Ngô Văn Khải, con Ngô Văn Mai. Khải chưa cần, chắc đưa cho bố.

Những người vắng mặt càng ngày càng nhiều, và thấy buồn vô cùng. 

Mọi người thì khiêu vũ rất tận tình, kể cả nhà tôi, Tiểu Thu, Thái An, Tuyết, Phượng... Tôi cũng cố nhẩy một bản “ Ông Cố Nội “ tức Cha Cha Cha, với vợ cho nàng vui lòng. 

Khoảng gần 23 giờ thì tụi tôi về, không ở tới nửa đêm theo chương trình.


Ngày 22/02/2026: Tối nay, tụi tôi được “ Tiểu Sư Muội Đại Gia Liên Chi mời đi nghe nhạc thính phòng với Nguyên Khang, từ 18 giờ, nhưng tôi mệt quá, phải cáo lỗi ở nhà, và rất tiếc, vì tôi đã được Liên Chi mời một lần y chang như vậy, cách đây mấy năm, hay tuyệt, được ăn nhẹ, chỉ nghe Nguyên Khang hát và tâm sự, dễ thương vô cùng.


Ngày 23/02/2026: Sáng nay, vào khám bác sĩ vì nhiều lý do:

Ho ra đàm, sốt nhẹ trồi sụt mấy ngày.

Da ngực, bụng, đùi, bắp chuối, bàn chân nổi mụn nước, ngứa, gãi nên trầy tùm lum từ 3, 4 ngày.

Lở môi, má phía trong miệng, đã dùng cả Magic Mouth Wash mà không bớt, từ ngày 06/02.

Bác Sĩ sợ quá, cho nhập viện, thử máu, nước tiểu, làm culture đủ thứ, chụp hình phổi, cho ceftriaxone IV, zythromax, Diflucan.

Ngày hôm sau, qua Maisonneuve khám Dermato, làm Biopsie da, cho Prednisone 50 mg mỗi ngày trong 1 tuần, 25 mg mỗi ngày trong 1 tuần, và một loại onguent cortisone rất mạnh để thoa ngày 2 lần. Khám lại 19/03.

Ngày 25/02, BS ở nhà thương Santa Cabrini cho tiếp Diflucan. Cho đi làm Scan thorax, thấy êm mới cho về.

Về nhà thì khỏe, nhưng bận bù đầu, vì xúc miệng, thoa onguent ngày 2 lần, thay băng chỗ làm Biopsie. Thoa kem là khổ nhất, vì phải khom lưng, xoay mình, rất mệt, lại bị vọp bẻ, đau thấu trời. Trong miệng thì thoa xong độ 10, 15 phút là nó trôi mất nên lâu lâu tôi làm lại, ngày 4,5 lần. Thay băng thì không thành vấn đề, vì tôi được cô y tá cũ tìm đủ mọi thứ cần thiết.

Nhân viên nhà thương còn rất nhiều người nhớ tôi, tới thăm, chúc lành, thật cảm động.

Ngày thứ sáu 13/03: hôm nay, không phải ngày hên, nhưng một số bạn được vợ chồng Đào Dũng (em bs Đào Hùng, BĐQ) kéo tới nhà ăn tối. Những người may mắn được mời là Phan Văn Thành, Tiểu Thu, Mạc Văn Trọng, Thúy Hồng, Trần Văn Dũng, Kim Sơn, Nguyễn Duy Ngọc, Phượng, Nguyễn Thanh Bình và Nguyệt Hoàng. Hẹn lúc 18 giờ 30, nhưng khi tụi tôi tới thì 3 cặp đã tới trước là Thành, Ngọc và Trọng. Mọi người nhào vào ăn nem chua, bánh phồng tôm, đậu phọng rang và uống rượu khai vị. Vì ngon nên ăn miết… Trần Văn Dũng lại lạc như thường lệ. Sau đó vào bàn. Gỏi đu đủ, bò khô, cánh gà chiên, và lẩu thập cẩm, gà, bò, tôm, petoncle, rau nhiều, ăn với bún. Dũng đưa rượu vang đỏ, rất thơm, mọi người đều uống, tôi cũng cố được 2 ly. Tráng miệng, có nhãn, chè bạch quả, táo tàu, rất ngon. Như thường lệ, tôi làm hoạt náo viên, kể chuyện tiếu lâm, các giai thoại văn chương làm mọi người cười rất ồn ào. Trọng cũng kể về bà cô có tên Diệu Thu, nhưng nhân viên hộ tịch viết là Rượu Thu, làm ông thầy hay chọc “Thấy em là thầy say rồi “ Trọng và Dũng Trần ngồi gần, chọc ngoáy nhau, cãi nhau như mổ bò… Tiệc tan lúc hơn 22 giờ, tuyết phủ xe kín mít, cào gần chết mới  chạy được.


Ngày chủ nhật, 15/03, tôi đi dự tiệc tân niên, gây quỹ cho Hội Bảo Vệ Di Sản Việt Nam tại tiệm Bà Thảo, là Phương Thảo cũ, do chủ mới điều hành.

Tụi tôi được Luật Sư Lâm Chấn Thọ mời tham dự, có 4 cặp là Phan Văn Thành, Mạc Văn Trọng, Nguyễn Duy Ngọc và Nguyễn Thanh Bình.

Hội Bảo Vệ Di Sản Việt Nam do anh Ngô Anh Võ làm Hội Trưởng từ nhiều năm nay, giờ muốn nghỉ ngơi nên Hội Hướng Đạo Montreal thay thế, lo bảo trì và dọn dẹp Tượng Đài Chiến Sĩ ở nghĩa trang ST François D’assise.


Phần nghi lễ, có chào quốc kỳ Canada và Việt Nam Cộng Hoà, mặc niệm, và vài diễn văn ngắn gọn. Điều hợp viên Trần Văn Dũng  nói về việc xây tượng đài.

Đồ ăn có gỏi đu đủ, gà nướng, phở áp chảo bò, đậu hũ lướt ván, cải thìa xào nấm, lẩu chanh dây. Lẩu này rất ngon, vì có nhiều rau: hai loại nấm, cải bắc thảo, cải cúc, cải bẹ trắng và xanh, và đĩa thịt bò rất lớn, ăn không hết, phải chia nhau mang về. Tráng miệng chè trôi nước thì tạm tạm.

Trong khi ăn thì có sổ số, Lâm Chấn Thọ trúng đồng tiền của kỹ sư Trương Công Hiếu đúc đặc biệt cho Canada để làm quà, rất quý, có lần bán đấu giá được 2500 đô la.

Màn hấp dẫn nhất là đố vui, có thưởng: họ chiếu trên màn ảnh một bức hình, 

mình phải tìm một câu ca dao, tục ngữ thích hợp, như mèo mù vớ cá rán, rung cây nhát khỉ, tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, có tiền mua tiên cũng được, thuyền theo lái, gái theo chồng, giầu đổi bạn sang đổi vợ. Tôi trả lời trúng nhiều lắm, nhưng chỉ được một bức tranh, không đẹp, mà dễ thương…


Hôm đó, tôi gặp chị Đặng Ngọc Thuận, cô Hội Trưởng Trâm Anh, và đàn em Phan Xuân Trường. Trường lấy chị của Dương Đình Huy, phu quân của Trâm Anh. 

Tiệc bắt đầu lúc 11 giờ, tới 15 giờ mới xong. Tôi hơi mệt vì ăn no quá và uống 2 ly rượu.

Sau khi ăn xong, tụi tôi ghé thăm bà chị thứ hai một chút. Chị tôi sinh năm 1936, sơ sơ 9 bó thôi. Tuy lớn tuổi nhưng buồn nên thường làm đồ ăn cho các em và cháu. Tôi lại được một lô bánh dầy, không nhân ăn với chả quế, có nhân ngọt để ăn tráng miệng.

Về nhà nằm thở được một chút thì 18g30 lại phải có mặt ở tiệm Phú Lâm gần nhà, do cô Hội Trưởng Trâm Anh tổ chức để ăn mừng sự thành công của dạ hội tân niên. Đáng lẽ. 20 người, thiếu 4, còn 16. Tôi ngồi cùng bàn với Đặng Phú Ân Trương Thị Kim Nhi, Trần Văn Dũng, Thân Trọng An, Trần Thái Hoà. Vợ An chạy qua bàn bên cạnh. Mấy người cũ, quý vị đã biết rồi. Trần Thái Hoà, bác sĩ trẻ, chuyên về Oncologie infantile, vừa giỏi, vừa dễ thương, hát hay ngang ngửa với ca sĩ cùng tên, làm MC rất điệu nghệ. Hòa là con của ông Trần Văn Nhã, Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia ở Montreal.

Bàn thứ hai có Trâm Anh, Huy bận đi làm, cỡ 20g30 mới tới. Lưu Thanh Phi, Yến, Huyền vợ An, Tạ Duy Minh, và cặp Nha Sĩ làm MC mà tôi không biết chi tiết. Tạ Duy Minh thì tôi quen cách đây cả năm, học giỏi, có chí phấn đấu, làm MC rất vui nhộn vì Minh nói tiếng Việt rất hay, miệng trơn như mỡ, ai cũng thích.


Đồ ăn thì quá nhiều như thường lệ, số người lại ít, và một số như Trâm Anh, Dũng và vợ chồng tôi vừa ăn tiệc buổi trưa, đâu đã kịp tiêu… Đành ăn cầm chừng, tới đâu hay đó, nhưng 2 món tráng miệng là óc đậu, và bánh ngọt thì không ai bỏ thừa. Đồ ăn còn dư chia nhau, tôi ăn 2 ngày mới hết. Mọi người chờ Huy tới, ăn xong, mới từ từ ra về, khoảng 21g30. Tiệm Tầu này đóng cửa trễ, nên lúc tụi tôi ra, vẫn thấy khách vào ăn. Hôm nay, tôi mệt quá, lại ăn nhiều, bụng to, quần chật, thở không ra hơi, may mà nhà gần, đi 5 phút là tới, nằm xuống giường là thăng.


Ngày 21/03/2024: Đã từ nhiều năm, tôi không có tin tức của phu nhân giáo sư Trần Đình Đệ. Hồi xưa thầy oai phong lắm, làm Tổng Trưởng Y Tế, Giám Đốc Bảo Sanh Viện Từ Dũ. Khi thầy đi khám bệnh, mọi người rồng rắn đi theo, tôi học năm thứ 2, đi sau chót, và thầy đâu biết tôi là ai.

Nhờ viết mấy bài Vơ Vẩn Đường Thi trên TSYS, nên kỳ Đại Hội Y, Nha, Dược ở Floride, 1993, Thầy nhờ An tìm tôi nói chuyện nên tôi mới được gặp Thầy Cô. Từ đó thì liên lạc thư từ và điện tử thoại. Sau khi Thầy mất, tôi tiếp tục liên lạc với Cô, nhưng bằng điện thư. Lần đi DC vào năm 2018, tôi có đến nhà ở Pinetree, Virginia, lễ Thầy, thăm cô, được ăn đồ Huế và nghe cô kể rất nhiều chuyện về Thầy, các con, và thân mẫu của cô là cụ Trúc Tiên, con gái cụ Đào Tấn, vừa là quan lớn, vừa là văn thi sĩ, làm Từ và viết tuồng nổi tiếng.


Vì đã lâu không có tin cô, hỏi Nguyễn Tường Giang là hàng xóm cũng không biết, email điện thoại không trả lời. May sao trong đám ghi chép cũ, tôi tìm được email của Hoa và Chi là con của thầy Đệ, gửi cầu âu, dè đâu được Chi trả lời. Chi gửi cho tôi hình cô Đệ đang ngồi ăn, coi khỏe mạnh, dù đã 104 tuổi, và hẹn 21/03 sẽ qua Montreal để dự hội nghị. Chi là giáo sư Nha Khoa ở San Francisco, đến hội nghị mà được trường gửi đi, làm thuyết trình viên. Chi cũng  liên lạc với Thân Trọng An và Cẩm Huyền, người có bà con khá gần với Chi.

Phi cơ sẽ hạ cánh ở Montreal sau 16 giờ, nên vợ chồng An và tôi đi đón khách.


Đây là lần đầu tiên tôi gặp Trần Đình Chi, giống cha như hệt, rất lễ phép, dễ thương, nói tiếng Việt thật giỏi. Khi trở về thì bác tài An đi lạc, chạy lòng vòng lung tung, mất hơn nửa giờ mới tìm thấy xa lộ 520 để tới tiệm ăn. (Tôi tưởng trong phe ta chỉ có Trần Văn Lạc, ai dè thêm Thân Trọng Lạc cho đủ cặp). 

Hôm nay ăn ở Baton Rouge, bán đồ ăn Tây, và Chi nhất định thử Poutine, món đặc biệt của Québec, sau thành của Canada: đó là khoai Tây chiên, với fromage viên cho không chảy, và một loại sauce mầu nâu. Chi ăn một cái sandwich. An, Huyền và tôi mỗi người một món, tôi ăn gần hết, vợ chồng An gọi hộp đem về.

Tới gần 21 giờ, ăn xong, chụp hình kỷ niệm, rồi đưa Chi về khách sạn. Chi bận liên miên, không có giờ rảnh để gặp nhau lần nữa: sáng thứ ba, 24 còn họp, sau đó Chi về Mỹ luôn, cùng ngày. 


Chi nói tiếng Việt hay, nhưng chẳng biết có đọc được không, vì tôi có gửi email mà không thấy trả lời. Mấy lần trước tôi viết tiếng Anh. Ngày 24, tôi viết email bằng tiếng Anh, thì được Chi trả lời: em đang ở Virginia thăm mẹ, và gửi tấm hình 4 người, cô Đệ, Chi, và một cặp vợ chồng mà tôi không biết mặt, chắc anh hay chị của Chi. Cậu này sắp xếp thật gọn, một công đôi việc.


Ngày 19/04/2026 : Hôm nay, một người bạn tạm giấu tên, tổ chức ăn tối tại nhà để đãi Nguyễn Hải Thông & Hồ Thị Nguyệt mới đi du lịch về, và Tôn Nữ Liên Chi.

Thông, Nguyệt và Liên Chi, đã được lên báo nhiều lần rồi. Kỳ này có thêm một chút về Liên Chi : cô này bị ngã gẫy ống tay trái hồi mùa đông, phải mổ, vết thương đã lành, mà tay đau, lại phải ở Hotel gần 3 tháng vì sửa nhà, ăn Uber eat quá lâu, thèm cơm Việt Nam nên mới có bữa cơm “ nhà quê ’’  tối nay. Xin nói thêm là người nấu cơm nhà quê vốn học chương trình Pháp ở Đà Lạt, nói tiếng Tây như đầm. Hai cặp được ăn ké là Thân Trọng An và Nguyễn Thanh Bình.


Mở đầu, khoảng hơn 18 giờ là tôm nướng và nước mãng cầu. Đồ ăn chính thì có bò bía, canh đầu cá thìa là, cà bung, thịt kho, thêm cá nướng và đọt đậu Hoà Lan xào tỏi. Hai món chót do Thông điều chế. Ngoài ra, còn có dưa cải, cà pháo, củ cải giầm. Có tới 2 món cà, phải gọi là cà dái dê và cà ông giặc để phân biệt.

Hôm nay phe đàn ông nói chuyện rất đứng đắn: Thông kể vài chuyện vui, tôi kể một số kỷ niệm và chuyện liên lạc được với người bạn cùng đi thực tập hồi học PCB (đọc thư tín gửi Vũ Thiện Đạm). Phe các bà ghê lắm, nhiều tin tức rất giật gân mà đám đàn ông mù tịt, nhưng không thể đưa lên báo được. Tráng miệng thì có chè xôi nước, bánh bông lan, cà phê.

Vì các bà nói chuyện dứt không ra nên gần 23 giờ mới chấm dứt. Tụi tôi tặng Thông Nguyệt và Liên Chi bò kho do nhà nấu, hy vọng là không đến nỗi tệ.


Ngày 23/04/2026: Hôm nay, tụi tôi được vợ chồng Lưu Thanh Phi & Kim Yến kéo đi ăn tối ở Kim Hour; Tụi tôi là Nguyễn Tuấn Khoan & Khánh Hải, Đặng Phú Ân & Kim Nhi, Nguyễn Thanh Bình & Nguyệt Hoàng. Kim Yến đi chợ, tức là gọi đồ ăn, quá nhiều, sợ các bạn đói : tôi không kể tên, vì trên 10 món, lại có món gọi 2 phần như cua lột rang muối, và chim cút quay, và phải hiểu là người đi chợ thích lột và chim. Tôi có mang chai rượu, nhưng chủ xị lấy Amarone của mình ra đãi mọi người. Ân qua Brossard, rất xa, để mua bánh ngọt, Hải thì nấu thạch, tuy ngon nhưng không bằng soài xanh của Kim Yến, chấm với muối bà Thu, rất thơm. Thơm cỡ nào thì phải nói lái mới biết. Như thường lệ, rượu vào lời ra, tôi ba hoa đủ thứ chuyện diễu làm mọi người cười té ghế. Tiệc bắt đầu lúc gần 7 giờ, gần 9 giờ phải về vì nhà hàng đóng cửa, nếu không chắc còn ngồi lâu. Hôm nay được ngồi chung với 2 cục VÀNG là KIM Yến và KIM Nhi nên ngày hôm sau phải đi mua vé số, trúng lớn không chừng.


Ngày 25/04/2026: Hôm nay đại gia trong nhóm quán cóc là Luật Gia kiêm Chính Trị Gia Lâm Chấn Thọ đãi anh em ăn cua tuyết, nhưng ăn tại nhà Mạc Văn Trọng ở Brossard. Ngoài vợ chồng “ bầu cua ”, có Trọng & Thúy Hồng, Trần Văn Thanh & Công Tằng Tôn Nữ Thị Ngọc Anh Alice, Phan Văn Thành & Tiểu Thu, Nguyễn Thanh Bình & Nguyệt Hoàng, Nguyễn Duy Ngọc & Phượng. Anh em họp mặt nhưng hơi buồn vì anh Trần Kỳ Sĩ mới mất, chị Sĩ không tới, sợ đau lòng thêm.

Ngọc nấu măng, giò heo, ăn với bún. Tụi tôi làm nộm rau muống kiểu bắc kỳ có thịt và rau ngổ, đậu phọng rang. Thành thì đem Kem Cô Ba rất nổi tiếng ở đây, do con gái làm và tặng các bác, cô, chú. Ăn quá ngon, rượu trắng hết xẩy nên tôi uống 3, 4 ly. Mấy người đàn ông thì đã lên báo nhiều lần, kỳ này nói về mấy bà một chút cho vui. 

Phượng vợ Thọ là Phượng Chim, thường ăn chay để cầu phước cho chồng vì luật sư hay cãi cho mấy tên có tội ác nên tội lỗi đầy mình. Tôi vẫn thường đùa là “ ngày ăn chay, đêm ăn mặn ” nhưng lúc này thì không bảo đảm là ăn mặn được.

Phượng vợ Ngọc là Phượng Hoa, rất xinh đẹp dễ thương, nhưng từ ngày có cháu thì chỉ o bế cháu mà quên tuốt chồng.

Hồng vợ Trọng, Hoàng vợ Bình cũng lên báo nhiều lần rồi, tôi không nhắc nữa.

Vợ Thanh thì làm đồ ăn rất ngon, hát hay như ca sĩ, nói cũng hơi nhiều một chút, và rất bực mình vì cái tên hay, mà quá dài, khi làm giấy tờ hành chánh thì không đủ chỗ.

Vợ Thành là văn sĩ miệt vườn Tiểu Thu, viết truyện rất hay, ngang ngửa Hồ Trường An, có chân trong Văn Bút, đã xuất bản nhiều sách và làm vườn thì số dách. Bà này người Nha Mân, rất đẹp, dễ thương nhưng hơi dữ, tôi thường gọi là bà bà, như Kim Hoa Bà Bà trong Cô Gái Đồ Long. Có lần cùng đi cruise, tôi đã đùa, đưa ra câu đối: “ Gái Nha Mân vừa mần vừa rú “. Mọi người cười rần rần, hỏi có đúng không? Chỉ có Phan Văn Thành mới trả lời được.

Tiệc tan lúc 22 giờ, hẹn gặp lại vào mùa tôm hùm.


THƯ TÍN, 237.


Bác Sĩ Phạm Gia Thuần: Hôm nay, vừa họp gia đình cúng cụ ngày Tết, ăn một bụng lại uống rượu nên mệt phờ, đang ngủ li bì thì mày gọi. Giật mình tỉnh dậy, thấy số lạ, chưa trả lời thì mày xưng tên nên tao mới nhấc máy để nghe. Lúc đó là 4g30 chiều mà tao cứ tưởng buổi sáng !! Cám ơn mày đã chúc Tết. Tính ra thì mình không gặp nhau cũng 7, 8 năm rồi… Tao rất mừng vì mày khỏe mạnh, giọng nói vẫn như xưa, đầu óc mình mẫn. Không gặp mày thì nhớ mấy món ăn Tây mày nấu, rất ngon vì có bài bản đàng hoàng, lại nhớ mấy chai Remy Martin mà tao với mày thường cưa đôi…Cho tao gửi lời thăm Oanh. Tụi mày còn gặp Trần Thị Quang Ngọc không?

Năm mới chúc Oanh và mày dồi dào sức khỏe, vui vẻ, mọi điều như ý. Cái số xe của mày huê tình lắm, tao nhớ mài mại là TYO4EVER (Thuần Yêu Oanh forever).


Cô Ngô Thị Quý Linh :  Hôm qua, mới gặp anh An, và nhận được sách của cô gửi tặng. Sách rất đẹp, với nhiều hình ảnh, làm tăng thêm giá trị của tác phẩm, nhưng tôi cảm động nhất về lời đề tặng, vừa trang trọng, vừa thân mật như anh em trong nhà…

Tối nay, mới có thì giờ đọc chương đầu, thấy có vẻ văn học nhiều hơn lịch sử, vì những bài thơ trích dẫn hay vô cùng, rất đúng với sở thích của tôi. Sách dầy 500 trang thì phải đọc từ từ thôi.

Trong lúc  chờ đợi, thì thấy anh Ân đưa ra một lô những nhân vật được kể trong sách, một vài sai lầm và thiếu sót về các Thầy của Y Khoa Đại Học Sàigon nên tôi lại bổ túc thêm những gì mình còn nhớ, cũng được một số, mà vẫn còn thiếu, được anh An nhắc.

À, mà coi tiểu sử thì mới biết cô tuổi Ngọ, nhưng thua tôi một giáp. Vậy là anh em mình có chỗ giống nhau.

Cho gửi lời thăm Ý. Hai vợ chồng nhớ giữ gìn sức khỏe.

TB: Đọc bài giới thiệu, và danh sách những người được nêu tên, thấy bạn bè rất nhiều mà tìm đỏ con mắt không thấy mình, bèn buồn 5 phút. Nói cho vui thôi, đừng thắc mắc gì cả.


Bác Sĩ Vĩnh Chánh : Đọc điện thư thì thấy Chánh bận bù đầu, lo đủ thứ việc, mà vẫn viết bài rất khỏe, thì ra tuổi trẻ bao giờ cũng hơn tuổi già, dù Chánh cũng không trẻ gì lắm !! Nhờ vậy mà TSYS kỳ này có bài rất hay và đầy đủ, kèm thêm mấy link nhạc nữa. Đã nghe thử thì thấy rất hay, nhưng moa đọc bản điện tử nên dễ dàng, độc giả đọc bản trên báo thì hơi kẹt..

Chừng nào Chánh qua chơi Montreal nữa? Hỏi vậy vì lúc này moa còn sức viết lạng quạng, xoa mạt chược lai rai, nhưng đi du lịch thì không dám, vì hay bị bệnh bất ngờ, tiền bảo hiểm rất đắt, và cái mình cần bảo hiêm là bệnh phổi thì họ không chịu. Chánh biết không, hồi ở Việt Nam, đi lính, khi về phép Sàigon, thấy máy bay dân sự bay qua là buồn, vì mình không có hy vọng gì ngồi trên đó để đi cho thỏa mộng giang hồ. Bây giờ cũng vậy, bị cầm chân vì bệnh, moa như con chim gẫy cánh, con ngựa què giò, không còn bay nhẩy được nữa. Nếu muốn gặp nhau thì Chánh phải qua đây, mà sớm sớm một chút cho chắc ăn.


Bác Sĩ Huỳnh Kim Giám : Tuy chưa biết mặt nhau, nhưng đã quen từ nhiều năm nay trên diễn đàn Liêu Trai của ÔC Nguyễn Văn Bảo, nên cũng khá thân, và vì anh mò hay, tìm được câu trả lời cho những thắc mắc của một số các bạn, tôi đã tặng anh nickname Đạo Mò. Anh Mò lung tung, nhưng đúng chỗ, không mò “ những chỗ không mò được ” nên vẫn an toàn trên xa lộ.

Hôm trước, gửi lên diễn đàn, bài của Trúc Tiên, do bs Bùi Thế Khải ở Pháp gửi: “ Paris, nơi ký ức của tình yêu ở lại ”, rất hay, nhắc tới các văn sĩ như Apollinaire, Hugo, Hemingway, công nương Diana, các mối tình đau khổ của Abelard và Heloise, Edith Piaf và Cerdan ; Cả mối tình của Simone de Beauvoir và Jean Paul Sartre… anh đã nổi hứng viết điện thư “ bàn nhảm về tình yêu ”, nói nhiều về cặp này, và kể mối tình câm từ hồi mới học đệ thất ở Hội An của chính mình : Anh học cùng lớp với người đẹp chỉ 1 năm, khi nàng đổi trường, tìm hoài không ra.


Hơn 50 năm sau, có người cho anh biết, nàng là con gái lớn của bác sĩ Thái Can, đã có người yêu từ năm 13 tuổi, nhưng không lập gia đình, xin liên lạc và đòi làm chị. Thì ra, anh nhầm tên. Nàng là Quỳnh Mai, tìm Bạch Mai thì sao thấy.

Người mình thích mà nhớ nhầm tên thì chắc cũng chưa thích lắm.

Tôi mà yêu ai thì nhớ tên, nhớ sinh nhật, nhớ tên cha mẹ và anh chị em của nàng, cái gì cũng nhớ hết ráo…

Trở lại với Quỳnh Mai. Theo anh thì nàng đã qua đời. 

Bác Sĩ Thái Can có thơ trong Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân, bài “Anh Biết Em Đi ”, được Anh Bằng phổ nhạc, Mỹ Thể hát rất hay. Ông còn người con trai tên Thái Thanh, học sau tôi 3 năm, ở Floride, đã qua đời. Thời sinh tiền, khi đi du lịch với nhau, các bạn gọi anh là Thái Thanh có C để phân biệt với nữ ca sĩ cùng tên.


Bác Sĩ Vũ Thiện Đạm: Hôm trước không quân Trần Liêm có gửi cho tao tấm hình mày chụp chung với Dược Sĩ Bùi Khiết. Mày thì “ gặp ” thường trên FaceTime, anh Khiết thì tao mới biết mặt, mà biết tiếng từ lâu vì anh thường hợp tác với anh Trần Xuân Dũng để ra sách. Anh ấy coi bộ rất khỏe mạnh, và chắc cũng cỡ tuổi mình, hoặc hơn một, hai tuổi. Cỡ mình bên đó có Lê Phục Thuỷ, chắc mày cũng biết.

Trên diễn đàn QYNDS, lâu lâu thấy mày, tao thì có mặt hầu như thường xuyên.

Hôm trước, anh Trần Văn Tích có gửi một điện thư, nói rằng anh đậu đầu nhiều thứ lắm, đậu PCB có mention, được MỜI vào Quân Y, được Đức MỜI qua Đức. Mọi người xôn xao, phản đối tùm lum, vui lắm. Rốt cuộc thì khóa PCB nào cũng khá nhiều người có mention (mày có gửi chứng chỉ với mention AB, giữ hay quá).


Nguyễn Ngọc Khôi thì nói Dư Quốc Trung cũng được Đức mời, và mọi người đều đồng ý rằng, vào Quân Y ai cũng phải thi, chẳng ai vào khơi khơi được cả. Chuyện vẫn chưa ngã ngũ.

Hồi học PCB, tao làm thực tập với một chị tên Nguyễn Lệ Chi, khá xinh, da trắng như trái vải (Lệ Chi mà), chỉ biết chị học trường Tây ở Đà Lạt, con bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm. Sau đó chị biến mất. Mình thì tiếp tục học, ra trường, đi lính, lưu vong… Bất ngờ, trên diễn đàn, tao thấy email của chị Bạch Tuyết, là con của Bác Sĩ Phiếm, nên gửi điện thư tự giới thiệu, và xin email của Lệ Chi. Và tao tìm được người bạn mất liên lạc từ niên khóa 1960-61, sơ sơ có 65 năm thôi !!!

Tao gửi điện thư cho Lệ Chi, kể chuyện xưa, và được chị sốt sắng trả lời. Chị nói không nhớ tao là ai (than ôi), và tên chị là Lê Chi, Lê là họ mẹ. Bỏ PCB, chị đi Mỹ du học, du lịch khá nhiều, về VN làm cơ quan Mỹ, sau 75 di cư qua Paris, lập gia đình, có một con trai và mấy đứa cháu. Phu quân chị đã qua đời. Chị đã về hưu, khi buồn thì dạy Piano cho đám con nít. Điều lạ là chị ấy thích thơ, đã được Trần Quốc Bảo, thi sĩ nổi tiếng nhận làm “ em tinh thần ” và tặng sách.

Tao chỉ mới kể gia cảnh mà chưa khoe truyện và thơ. Tao chắc chị ấy cũng tự hào vì có người còn nhớ đến mình sau 65 năm.


Bác Sĩ Lê Thị Khánh Vân: Từ hồi làm Hội Trưởng Hội Y Giới ở Pháp, cô coi bộ rất bận rộn, nhưng cũng còn nhớ tới ông anh già lúc này là ngựa què, chỉ ru rú trong nhà, hàng tuần xoa mấy lần để tập thể thao cái đầu và 2 tay. Nhận được điện thư cô viết “ anh có hoa biết nói trong nhà” làm một người sướng rên mé đìu hiu cả tuần lễ. Nhớ tới kỳ gặp mặt cách đây gần 2 năm, hai anh em cùng Trần Tố Mỹ đi chùa Khánh Anh để lễ tro cốt của chị Vũ Thị Thoa mà không đúng chỗ... Tự an ủi là tụi mình có lòng thành chắc chị cũng chứng giám. Từ khi chị Thoa mất, tôi vẫn liên lạc thường với con gái của chị là Dung Anh, gọi tên ở nhà là Ti, chú cháu rất thân thiện. Có lần Ti than : chú là người duy nhất còn liên lạc với cháu. Nghe hơi buồn.

Ông xã què, mù Hà Mạnh Tuấn của cô lúc này ra sao? Hai vợ chồng nhớ giữ gìn, và mong có ngày gặp lại.


Bác Sĩ Nguyễn Văn Hãn: Sư đệ học cùng lớp với Khánh Vân thì sau ngu huynh 8 lớp, có thể khi vào trường thì tụi này đã đi lội sình mút chỉ rồi. Sư đệ ở Mỹ, mà có nhà bên Hawai, đi về như đi chợ làm ngu huynh thèm nhỏ dãi. Những hình gửi lên diễn đàn rất đẹp, cả hình hai vợ chồng cũng vậy, thật đẹp đôi. Gửi hình như vậy cũng hay, vì tuy anh em mình chưa gặp mà quen mặt, thấy ngoài đường cũng nhận ra. Sư đệ chuyên sưu tầm chuyện diễu, vui là chính, đưa lên diễn đàn ai cũng thích. Vì bị anh Bùi Thế Khải chê mục thư tín hết vui, nên ngu huynh mượn đỡ một chuyên:

Rằng có hai nhà ở cạnh nhau, một đàn ông, một đàn bà, cả hai đều mê trồng rau như cà chua, dưa chuột, mướp, tía tô…

Thấy cà chua của ông hàng xóm rất lớn, đỏ au, mà của mình thì èo uột, cô hàng xóm hỏi bí quyết thì được trả lời: mỗi sáng, tôi mặc áo ngủ, đứng trước vườn, hướng vào cây, mở ra cho tụi nó coi.

Cô hàng xóm theo y cách đó mà làm. Một tuần sau, cô than với người đàn ông:

Tôi làm đúng theo lời chỉ dẫn, nhưng cà chua không đỏ mà dưa chuột thì lớn rất mau..


Bác Sĩ Nguyễn Hoàng Hải: Biết nhau từ thời sinh viên, thân nhau hơn khi cùng học khóa Tham Mưu Cao Cấp ở Long Thành, nhưng mấy năm gần đây, mình gặp nhau khi đi cruise, hoặc khi tôi qua San Jose. Nhớ nhất là kỳ Trần Mộng Lâm và tôi qua đó để gặp chị Vũ Thị Thoa vào mùa hè năm 2013, được Jack Palance Nguyễn Duy Hảo, Nha Sĩ Vương Tử Cảnh tiếp đãi nồng hậu, nhưng anh là người hầu như ngày nào cũng tới khách sạn đón tụi tôi đi ăn, uống cà phê và đấu hót. Tôi nhớ tụi mình hót hay quá, tới nỗi Thiếu Tướng Bùi Thế Lân cũng tới bàn mình góp chuyện. Qua đó cốt thăm chị Thoa mà gặp chị có 3 lần, mà gặp anh tới 4 bận. Lâu không gặp, nhớ anh lắm, nhưng thấy anh trên video Đại Hội Quân Y ở Quận Cam, vẫn nhanh nhẹn, khỏe mạnh nên cũng mừng.

Từ hồi vào diễn đàn QYNDS, tôi tham gia rất tận tình, anh thì lâu lâu mới thấy.

Viết vài hàng nhắc tới anh cho vui. Gửi lời thăm chị Nga. Anh chị nhớ giữ gìn.


Kỹ Sư Lê Bình Phương: Cám ơn em đã gửi bài “ Cá Tháng Tư Đen, Cá Tháng Tư Đỏ ”.

Em còn trẻ, viết nhanh và rất hay làm TSYS được tăng thêm giá trị. 

Anh thì phải đánh vật với cái mục do mình bịa ra, vì mắc kẹt với nó, như Tào Tháo ăn phải gân gà. Anh tà tà, lâu lâu viết một chút để khi anh chủ bút ới là đưa ra. Khi anh qua Paris, mới nháy mắt đã 2 năm mà tưởng như ngày hôm qua, với bao nhiêu kỷ niệm. Anh nhớ nhất là buổi em, anh Hà Mạnh Tuấn và anh, đi ăn, đấu hót đã đời rồi tới thăm anh Phạm Xuân Hy. 

Anh Tuấn đã mổ chân, lại mới mổ mắt, được vợ gọi là ông Què Mù.

Anh Hy thì hóa vợ, tinh thần xuy sụp, liên lạc điện thư không trả lời.

Anh thì bệnh liên miên, có lần xém chết, may mà qua khỏi nhờ anh cầu Phật Bà Quan Âm. Anh vốn theo đạo Cúng Ông Bà, nhưng được anh chị Lâm Chấn Thọ tặng một bức tượng Quan Âm rất đẹp nên mới cầu nguyện như vậy.

Chỉ có em là còn trẻ, khỏe, đầy sinh lực. Mong em cứ tiếp tục như vậy trong nhiều năm nữa.


Nha Sĩ Nguyễn Thị Mỹ Ngọc, phu nhân cố Bác Sĩ Tô Văn Nghiễn : Từ ngày vào diễn đàn Liêu Trai Chí Dị Thế Kỷ 21 của anh Nguyễn Văn Bảo, chị dịch thơ Đường rất hay, và nhanh nhất, lúc nào cũng là người góp ý đầu tiên. 

Cách đây 4,5 tháng, chị gửi điện thư nói sẽ vắng mặt một thời gian, nhưng hơn 2 tháng không có tin tức, em đi tìm lung tung, thấy 2 số phone của Nha Tô, MD, ở Ohio, em chắc là cháu lớn của chị, gọi 3,4 lần mà không sao liên lạc được. Nhờ Đỗ Hữu Tước, ở Seattle, tìm được cháu trai làm Nha Sĩ, cháu nói tình trạng của mẹ không mấy khả quan. Mọi người đều lo lắng và cầu nguyện cho chị. Nhờ phước lành, một thời gian sau chị bình phục, trở lại diễn đàn, phong độ vẫn như xưa, rất minh mẫn, và hồn thơ còn lai láng. Xin mừng chị, và mong rằng chị còn tiếp tục như vậy trong nhiều năm nữa. Tấm hình chị gửi, chụp chung với anh Nghiễn, em còn giữ, vì nó gợi lại bao nhiêu kỷ niệm vui với anh ấy hồi ở Cần Thơ.


Bác Sĩ Phan Thượng Hải: Mới biết sư đệ gần đây trên diễn đàn, thấy nhiều bài viết rất công phu, có tra cứu nhiều sách vở khiến ngu huynh học hỏi được rất nhiều. Lại còn có tài họa thơ của các thi hữu rất đúng niêm luật làm ngu huynh lé con mắt luôn. Nhân tiện đây, ngu huynh xin tặng sư đệ 2 giai thoại về cụ Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa:


1) Hồi đó cụ Thủ Khoa đã về hưu, hay ăn mặc giản dị, ngồi đan giỏ ở đầu làng. Một hôm có Tú Tài Văn Bình, vốn tưởng mình hay, tới Bình Thuỷ tìm cụ Thủ Khoa để thử sức. Thấy cụ già có vẻ quê mùa, Văn Bình hỏi thăm, thì được dẫn tới một ngôi nhà sạch sẽ, gọn gàng, trên tường treo rất nhiều câu đối. Cụ già mời Văn Bình ngồi chơi, chờ cụ Thủ Khoa, và bàn luận một chút về câu đối. Văn Bình hứng chí, xin ra đề. Cụ già nói “ Cụ Thủ Khoa làm câu đối dài, tôi chỉ ra từng chữ một.

Và ra: . Đối: Văn. Trắc, đối Bằng hay Bình. Vãng đối Lai. Nam đối Bắc. đối Cụ. Sau đó ghép lại thì thành:

     Võ Trắc Vãng Nam Cô.

     Văn Bình Lai Bắc Cụ.

Văn Bình đọc câu của mình xong thì thẹn đỏ mặt, đứng lên vái ba vái rồi nói: 

Thì ra cụ chính là cụ Thủ Khoa; Tôi xin lỗi đã múa búa trước cửa Lỗ Ban.


2)Có người đố cụ Thủ Khoa làm thơ tả tứ khoái, mà phải thanh tao,thì cụ đọc 2 câu thơ:


     Cơm Phiếu Mẫu, gối Trần Đoàn,

     Ngả nghiêng loan phượng, nhẹ nhàng nương long.


(Phiếu Mẫu cho Hàn Tín ăn cơm, Trần Đoàn gối đầu mà ngủ ở núi Hoa Sơn.

Ngửa nghiêng loan phượng thì đúng là khoái thứ 3. Bốn chữ cuối là khoái thứ 4).

Người đố cũng phải cúi đầu thán phục.


Nha Sĩ Ngô Mạnh Diên: Lúc gần đây, tao thấy ba ông Răng Sĩ, Diên, Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Thành Trí rượu chè hơi nhiều, tới nỗi Cường đổ bệnh, phải gọi tao cầu cứu, thượng thổ hạ tả, người như cái mền. Tao về hưu đã lâu, y lý bay hết, nhưng may còn nhớ chút đỉnh để chữa cho bạn. Bác sĩ còn mát tay, bệnh nhân lành mà mệt nên xù canh mạt chược. Không chơi thì tao đỡ tốn tiền, vì lúc này mày đỏ quá, làm như có nhau mèo, trận nào cũng thắng, dắt vợ đi ăn tiệm dài dài. 

Nói chuyện thắng thua làm tao nhớ tới chủ bút Thân Trọng An : Cách đây trên 30 năm, chàng làm y sĩ giải phẫu cùng nhà thương với tao, thường được mấy cô điện thoại viên gọi trên micro là Docteur Than. Than thì phải đen, mà đen thì hay than thở. Tao đã từng tặng chàng 4 câu thơ:


     Nghe đồn tuổi trẻ tài cao.

     Cắt gan, mổ ruột đường dao thật nghề,

     Coong xường một chút đam mê,

     Tàn canh, nhẹ túi, ra về thênh thang.


Dược Sĩ Nguyễn Trọng Lộc: Thấm thoắt mà mình vào nhóm Liêu Trai Chí Dị Thế Kỷ 21 của Ông Cò Nguyễn Văn Bảo đã trên 5 năm, mỗi tuần dịch một bài thơ, tính ra cũng gần 300 bài rồi. Anh làm thư ký rất có hiệu quả, lại chịu khó tìm hình trên Internet cho hợp với bài thơ nên khi lên diễn đàn, ai cũng thích. Anh còn dịch Tống Từ với anh Hồ Hoàng Điệp, dịch thơ tiếng Pháp, tiếng Mỹ, rất xứng đáng với tên “ Mắc Dịch ” như anh Thân Trọng An.

Sau này, vì đón anh đi xoa ở nhà chị Hoàng Mai, phu nhân của cố Bác Sĩ Đặng Ngọc Thuận, nên anh em mình càng thân, vì đi đường tâm sự, nhắc kỷ niệm xưa, vui hết biết. Chị Hoàng Mai là em nhạc sĩ Hoàng Lang, hát hay nổi tiếng một thời, bây giờ hết hát, tôi tặng chị mấy câu thơ ngắn:


     Ngày xưa tiếng hát vang danh,

     Bây giờ bếp nước cơm canh thật tài,

     Thường hay họp bạn xoa bài,

     Quên đi những tháng ngày dài cô đơn.


Cùng quý độc giả: Đọc xong mục Tin Tức Mình, chắc nhiều vị sẽ chê là Bát Sách toàn kể chuyện ăn. Nhưng xin thông cảm, vì tôi đã 84, tứ khoái chỉ còn một nửa:

Khoái thứ 3 thì tiêu tùng từ lâu.

Đêm ngủ chập chờn dù không uống trà Thái Đức, khoái thứ 3 mất một nửa.

Khoái thứ tư, tuy tôi là chuyên môn về đường ruột, mà lúc này khi táo bón, khi bị Tào Tháo đuổi, khoái thứ 4 mất một nửa nữa.

Nhờ Trời mà khoái thứ nhất còn nguyên vẹn nên còn có chuyện mà ba hoa giúp vui quý vị. Chừng nào mà ăn hết ngon, mắc nghẹn, mắc ói, xình bụng thì chỉ còn nằm thở, không viết nổi thì hết làm phiền thiên hạ nữa.


Bát Sách