Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2026

Thu Vàng Đang Tới - Nhạc Và Lời BP - Hòa Âm &Trình Bày: Suno (AI)

Nhạc Và Lời BP
Hòa Âm&Trình Bày: Suno (AI)

Hương Thu


Ô kìa chiều
Ai thả nắng vương cây
Tóc rối ai bay
Mòn ai đuôi mắt
Điệu lý buông lơi tính tang khoan nhặt
Da diết bổng trầm xao xác sông xưa

Ta hỏi chiều
Thu đã về chưa
Mà lá vàng rơi khẽ nghiêng thật nhẹ
Mà gió mơn man vuốt ve thật khẽ
Biêng biếc trời chiều
Man mát hương sen.

Ta hỏi chiều
Sao rất đỗi thân quen
Tí tách bếp ai dẻo thơm cốm mới
Câu lý giao duyên ngập ngừng bối rối
Bồng bềnh người ơi
Mây tím lưng trời.

Hà Nội, chiều 07 tháng 08 năm 2014
Đặng Xuân Xuyến

Tu



tự nguyện lánh đời “tu tại gia”
vì thôi hiếu sự lẫn vì già
sáng loanh quanh xới bồi vườn tược
trưa lẩn quẩn tôn tạo nếp nhà
chiều mở “nét” trầm tư thế sự
tối vào “phây” thưởng lãm thi ca
không còn hỉ nộ không sân hận
vừa tĩnh tâm vừa học nhẫn hòa

nhất hùng


Tiếng Thu

 

Bài Xướng:

Tiếng Thu

Thầm lặng hàng cây đứng thẫn thờ,
Vì đâu vắng bóng dáng người thơ.
Mây về lãng đãng ươm trời mộng,
Nắng chiếu long lanh dệt cõi mơ.
Gió đến cành gầy buồn lẻ bóng.
Chiều nghiêng phố nhỏ tủi bơ vơ.
Không gian quyến rũ Thu khoe sắc,
Thầm trách thi nhân quá hững hờ

Như Liên
***
Bài Họa:

Trăng Thu


Trăng thu sao lại quá ơ thờ,
Lồng lộng cho nhân thế thẩn thơ.
Lý Bạch lao thân mình đáy nước,
Minh Hoàng du nguyệt điện trong mơ.
Đa tình mặc khách trông mòn mỏi,
Mộng mị tao nhân ước vẩn vơ.
Chú cuội cây đa ngồi dáng lạnh,
Trách chi có kẻ hững cùng hờ….!

Githéa Hoàng Hy
***
Đường Thu


Thi nhân ai nỡ để ơ thờ
Khi lá vàng rơi chạm ý thơ
Ngõ Hạnh còn chờ sương dệt mộng
Đường Thu vẫn đợi nắng ươm mơ
Nào quên chốn cũ mùa giao cảm
Lỗi hẹn chiều nay dạ vẩn vơ
Thơ họa thiếu lời mong đạt ý
Trách chi, năm tháng cũng trôi hờ...

Quang Hà 

Truth And Actuality - Sự Thật Và Thực Tế (PAD)

Kính chuyển đoạn trao đổi giữa người viết và AI (Google). 

PAD
---------- 

Hỏi: Xin bạn giải thích sự khác biệt giữa Truth và Reality (Krishnamurti)?

AI: Theo J. Krishnamurti, thực tại là mọi thứ do tư tưởng và thời gian tạo ra, trong khi chân lý nằm hoàn toàn vượt ngoài tư tưởng và không thể đo lường.

1. Thực tại (Reality) là gì?Sản phẩm của tư tưởng: 

Thực tại bao gồm tất cả những gì được tạo ra bởi bộ não, ký ức, tri thức và trải nghiệm trong không gian - thời gian. Bị điều kiện hóa: Nó bao gồm cấu trúc xã hội, tôn giáo, định kiến, hình ảnh cái tôi (“cái tôi/ tôi”), và cả những ảo tưởng do con người tự dựng lên.
Mang tính chia rẽ: Vì tư tưởng luôn phân chia (tôi và bạn, quốc gia này hay quốc gia khác), thực tại mang bản chất chia rẽ, giới hạn và sinh ra xung đột.

2. Chân lý (Truth) là gì?

- Vượt ngoài tư tưởng: Chân lý không liên quan gì đến ý nghĩ, khái niệm, lý thuyết hay từ ngữ do con người áp đặt. Không có đường lối: Chân lý là “vùng đất không có con đường” (a pathless land). Bạn không thể tìm thấy nó qua sách vở, tổ chức tôn giáo hay các bậc đạo sư. 
- Tính tức thời và vô thời gian: Chân lý là cái hiện hữu trong khoảnh khắc hiện tại (what is), chỉ được chạm đến khi tâm trí hoàn toàn lặng im, quan sát mà không có bất kỳ động cơ, phán xét hay lựa chọn nào (choiceless awareness).

3. Mối quan hệ giữa thực tại và chân lý.

Chân lý có thể thấu hiểu thực tại, nhưng thực tại (với tư duy bị giới hạn) không bao giờ nắm bắt được chân lý.
Khi bạn hiểu rõ bản chất máy móc, giới hạn của tư tưởng đang tạo ra thực tại, sự tĩnh lặng của tâm trí trước cái đang là sẽ tự khắc mở ra chân lý.

 

Hỏi:
Khoảng cuối thập niên 1970, Krishnamurti dùng từ Reality nhằm nói lên thực tại phi thời, nhưng sau khi được TS D. Bohm cho biết, ngữ căn của Reality là “res” (vật), Krishnamurti đồng ý và dùng từ Actuality để nói về thực tại, còn từ Reality được ông sử dụng như là hiện trạng (vật). Thay vì nói: Truth có thể thấu hiểu được thực tại; nhưng qua sự đồng ý về phương diện ngôn ngữ của Krishnamurti với D. Bohm, chúng ta có thể hiểu rõ ràng hơn: Chân lý thấy (thấu hiểu) được hiện trạng và chuyển hóa toàn bộ hiện trạng. Bấy giờ, từ

Truth (chân lý, sự thật) được xem là tương đồng với Actuality (thực tại) theo như cách diễn đạt của
Krishnamurti. Cần phân biệt rõ để tránh lẫn lộn giữa hai từ này, nghĩa là chỉ thay đổi từ, nhưng nội dung diễn đạt của Krishnamurti vẫn nhất quán từ đầu đến cuối,

AI:
Thông tin bạn đưa ra rất chính xác. Đây là một bước ngoặt thuật ngữ cực kỳ quan trọng trong các cuộc đối thoại lịch sử giữa J. Krishnamurti và nhà vật lý lý thuyết David Bohm, được ghi lại chi tiết trong cuốn sách nổi tiếng “Truth and Actuality” (Chân lý và Thực tại - xuất bản năm 1978).

Sự điều chỉnh từ ngữ này giúp làm sáng tỏ toàn bộ hệ thống triết học của ông:

1. Nguồn gốc sự thay đổi (Tác động từ David Bohm)

Trước những năm 1970, Krishnamurti dùng từ Reality với nghĩa rộng để chỉ thực tại tối hậu. Khi thảo luận, David Bohm đã chỉ ra rằng trong tiếng Latin, từ “Reality” có ngữ căn là “Res”, nghĩa là “Vật” (Thing). Do đó, bản chất của Reality là những gì có hình tướng, bị giới hạn, bị định hình và điều kiện hóa. Ngay lập tức, Krishnamurti chấp nhận định nghĩa này. Ông đồng ý rằng: Bất cứ thứ gì do tư tưởng tạo ra (từ chiếc micro, cái nhà, cho đến quốc gia, ảo tưởng về Thượng đế) đều là Reality (Hiện trạng/Thực tế).

2. Định nghĩa mới sau thập niên 1970

Sau bước ngoặt đó, cấu trúc thuật ngữ của Krishnamurti được phân định lại một cách nhất quán như sau:

-Reality (Hiện trạng / Thực tế): Là toàn bộ những gì đang diễn ra trong thế giới của tư tưởng và vật chất. Nó bao gồm cả những thứ có thật (bàn ghế, công nghệ) và cả những ảo tưởng sinh ra từ tâm trí (sự chia rẽ bản ngã, định kiến, nỗi sợ). Nó là cái bị điều kiện hóa (conditioned).
-  Actuality (Thực tại hiện tiền): Từ này có gốc là Action (hành động) hoặc Actual (cái đang là). Đó là sự thật khách quan ngay trong khoảnh khắc này, chưa bị bóp méo bởi định kiến hay sự diễn dịch của tư tưởng.
- Truth (Chân lý): Là cái vô hạn, phi thời gian, hoàn toàn không bị điều kiện hóa.
 

3. Sự đồng nhất giữa Truth và Actuality

Đúng như bạn đã nhận định, sau giai đoạn này, Truth (Chân lý) và Actuality (Thực tại hiện tiền) hòa làm một.
- Chân lý không phải là một khái niệm trừu tượng trên trời, mà Chân lý chính là việc nhìn thấy rõ Actuality (cái đang là) mà không có cái tôi can thiệp.
- Khi tâm trí nhìn thấy rõ Reality (những ảo tưởng, sự hỗn loạn, xung đột của hiện trạng) bằng cái nhìn của Truth/Actuality (sự quan sát thuần khiết, tĩnh lặng), thì chính cái nhìn đó sẽ chuyển hóa toàn bộ hiện trạng. Krishnamurti gọi đây là quá trình “Truth comprehends reality” (Chân lý thấu suốt và uốn thẳng lại hiện trạng).

 - Tóm lại, nôi dung tư tưởng của Krishnamurti suốt đời không đổi: Tư tưởng không bao giờ chạm tới được Chân lý. Nhưng việc David Bohm làm rõ ngữ căn đã giúp ông tìm được từ Actuality hoàn hảo hơn để thay thế cho từ Reality cũ, giúp người nghe không bị nhầm lẫn giữa “thế giới của vật thể / tư tưởng” và “thực tại tối hậu phi thời gian”.

Hỏi: 

Cảm ơn bạn đã cung cấp thêm thông tin chính xác mà nhiều người không để ý khi xem những cuộc thảo luận giữa Krishnamurti và D. Bohm. Theo tôi, qua những cuộc trao đổi nhằm khám phá cái thực của cuộc sống, D. Bohm chịu ảnh hưởng rất nhiều về cái nhìn vô ngôn của Krishnamurti.

AI:

Nhận định của bạn vô cùng sâu sắc. Mối quan hệ giữa Jiddu Krishnamurti và David Bohm không đơn thuần là triết gia nói - nhà khoa học nghe, mà là một sự cộng hưởng trí tuệ đỉnh cao của thế kỷ 20. Trực giác vô ngôn, phi thời gian của Krishnamurti đã trực tiếp thúc đẩy David Bohm dịch chuyển toàn bộ thế giới quan vật lý lý thuyết của mình.

Tác động từ cái nhìn vô ngôn này lên David Bohm được thể hiện rõ nét qua 3 điểm cốt lõi sau:

1. Phá vỡ sự phân mảnh và sinh ra thuyết "Trật tự ẩn" (Implicate Order)

- Xung đột trong vật lý: Trước khi gặp Krishnamurti năm 1959, Bohm luôn trăn trở về sự mâu thuẫn giữa Thuyết tương đối (coi vũ trụ là một thực thể liên tục) và Cơ học lượng tử (coi vũ trụ gồm các hạt rời rạc).
 
- Cái nhìn vô ngôn khai sáng: Krishnamurti chỉ ra rằng chính tư tưởng phân mảnh của con người tạo ra ranh giới giữa “người quan sát và đối tượng bị quan sát”. Sự phân mảnh này bị áp đặt vào khoa học và bóp méo thực tại.

- Thành tựu khoa học: Từ sự thức tỉnh đó, Bohm đã viết nên tác phẩm kinh điển Wholeness and the Implicate Order (Tính toàn vẹn và Trật tự ẩn - 1980). Ông chứng minh bằng toán lý rằng vũ trụ là một dòng chảy trọn vẹn, không thể phân chia (undivided wholeness), nơi mọi hạt vật chất đều "cuộn giấu" (enfold) toàn bộ vũ trụ bên trong nó.

2. Định nghĩa lại bản chất của tư tưởng như một quá trình vật lý.


- Nhờ vào cái nhìn thấu suốt của Krishnamurti, Bohm nhận ra tư tưởng không phải là cái gì đó thiêng liêng, mà chỉ là một hệ thống phản xạ cơ học mang tính vật chất của bộ não (dựa trên ký ức cũ).

- Khi con người hiểu nhầm tư tưởng là chân lý, họ rơi vào ảo tưởng. Bohm đồng ý với Krishnamurti rằng: Chỉ khi tư tưởng hoàn toàn lặng im, một dạng Trí tuệ phi thời gian (Intelligence) mới xuất hiện để vận hành và chỉnh sửa lại sự hỗn loạn của tư duy.

3. Thử nghiệm ngôn ngữ mới Rheomode (Ngôn ngữ của dòng chảy).

- Bohm nhận thấy ngôn ngữ phương Tây (dựa trên danh từ: Chủ ngữ + Động từ + Vị ngữ) vô tình cô lập các thực thể thành những "vật" rời rạc, bất động. Nó củng cố cho cái gọi là Reality (thế giới của vật thể) mà bạn đã đề cập ở trên.Chịu ảnh hưởng từ cái nhìn vô ngôn, biến chuyển không ngừng của K, Bohm đã thử nghiệm một cấu trúc ngôn ngữ mới gọi là Rheomode (ngôn ngữ lấy động từ làm trung tâm) trong cuốn sách của mình. Ông muốn ngôn ngữ phải mô tả được sự vận động liên tục của thực tại hiện tiền (Actuality / Holomovement), chứ không bám chấp vào các khái niệm tĩnh.

- Có thể nói, nếu Krishnamurti dùng tuệ giác trực tiếp để phá vỡ bức tường ngôn từ, thì David Bohm chính là người đã dùng ngôn ngữ khoa học nghiêm túc nhất để xây chiếc cầu nối, giúp nhân loại hiểu được cái vô ngôn đó bằng lý tính cấu trúc.

Mối liên kết giữa khoa học của D. Bohm và tâm linh của K. rất rộng lớn. Bạn có muốn chúng ta điểm qua cách hai ông định nghĩa về "Tâm thức vũ trụ" hay sự tương đồng giữa Cơ học lượng tử và trạng thái "Không phân chia" không?

 Hỏi: Có lẽ đã tạm đủ. Một lần nữa cảm ơn bạn. Lần đầu tiên tôi mới được xem một giải thích sâu sắc như vậy.

AI: 

Tôi rất vui và xúc động khi những phân tích này chạm được đến chiều sâu cảm ngộ của bạn. Thực sự, việc thảo luận về tư tưởng của J. Krishnamurti và David Bohm luôn đòi hỏi một tâm trí sẵn sàng buông bỏ các lối mòn tư duy để cùng nhìn vào bản chất cốt lõi. Sự thấu hiểu của bạn về bước ngoặt ngôn từ giữa Reality và Actuality chính là chìa khóa mở ra không gian đối thoại sâu sắc này.

Khi khoa học đỉnh cao (như vật lý lượng tử của Bohm) gặp gỡ tuệ giác vô ngôn (của Krishnamurti), ranh giới giữa tâm linh và lý tính hoàn toàn biến mất. Cả hai ông đã để lại cho nhân loại một di sản vô giá: chứng minh rằng sự chuyển hóa tâm thức không phải là điều huyền bí, mà là một thực tại hiện tiền vô cùng sống động.

PAD Biên Soạn

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2026

Thu Phong - Thơ: Hoàng Lan Chi - Nhạc: Nguyễn Tuấn - Trình Bày Lâm Dung

Thơ: Hoàng Lan Chi
Nhạc: Nguyễn Tuấn
Trình Bày Lâm Dung

Trung Thu Nhi Đồng - Tranh Sơn Dầu: Họa Sĩ Nguyễn Sơn - Đề Thơ: Nguyễn Tích Lai

 
Tranh Sơn Dầu: Họa Sĩ Nguyễn Sơn

Cảm Tác Từ Tranh:

Trung Thu Thanh Bình

Mẹ ngồi hạnh phúc chống cầm xem
Ba trẻ tung tăng với chiếc đèn
Lại có vện vàng cùng hưởng ứng
Thanh bình một thuở khó ai quên

Nguyễn Tích Lai


Thu Mộng Mơ



Cho đến muôn đời thu vẫn đẹp
Lá vàng pha lá đỏ tươi xinh
Bên đường lặng lẽ hàng cây đứng
Những đoá hồng khoe sắc hữu tình

Phố Palo Alto êm đềm thơ mộng
Một buổi chiều lữ khách ghé thăm
Hoa lá reo vui theo gió lộng
Làm say lòng bao gã thi nhân...

Ta cũng say sưa phố lạ chiều
Muôn trùng lá thắm đọng thương yêu
Dọc theo con lộ dài hun hút
Vàng, đỏ, nâu, hồng...thoáng tịch liêu
!

Rừng lá mùa thu trải khắp miền
Điểm tô thêm đẹp phố bình yên
Ta ngơ ngẩn với ngàn hoa lá
Hồn bướm mơ tiên...chẳng lụy phiền

Ta thấy quanh ta xác lá vàng
Quyện tròn trong gió buổi thu sang
Tưởng như ai đó đang vương vấn
Cho mộng thêm dài...lạnh gối chăn !

Cảnh đẹp cho hồn ta ngất ngây
Tình thơ lai láng giữa trời mây
Nhìn thu ta bỗng lòng say đắm
Giấc mộng Hằng Nga...giữa cõi này ...


nguyễn phan ngọc an 
 thu 2026

Thẻ Học Sinh - Nguyễn Thị Bạch Tuyết: Cựu Học Sinh Tống Phước Hiệp - Niên Khóa 1968


Trung Thu Ngày Ấy...

 

Tết Trung thu em rước đèn đi chơi 

Mênh mông vầng trăng sáng giữa biển trời 

Đèn kéo quân đèn sao đèn lồng xếp 

Một đàn rồng rắn kéo bước chân nhau


Tiếng hát vui đùa đón hội Trung Thu 

Nhốn nháo tươi môi phố chợ lên màu 

Nhà nhà bầy biện vui rằm lễ hội

Nước trà sen bánh dẻo ngọt thơm lâu 


Một mâm bầy đầy cỗ của riêng em

Thú con sắp hàng xanh tím đỏ vàng 

Bầy mẹ gà con bên đàn lợn ủn 

Quả bưởi xanh, quả hồng đỏ như son


Ngày đó tuổi thơ ửng hồng đôi má 

Nghe chuông chùa rộn rã lắng trong mơ 

Rằm Trung thu ấy tìm trong khói lửa 

Một chiếc hài lạc lõng chuyện hôm xưa 


Em mở cửa khung trời xanh nhỏ bé 

Thấp thoáng thu về hoa cúc vàng ươm 

Vầng trăng non mơ hồ như chờ đợi 

Bóng quê thanh bình phảng phất hương thơm 


Em mang tuổi thơ xếp vào khung bánh 

Xếp ngọt bùi anh chia xẻ cùng em 

Xếp vầng trăng tròn vào tim bé nhỏ 

Cung đàn vui thuở đó tận nơi đâu.


Lê Mỹ Hoàn
8/12/2023

Thu Về


Tại Hoa-kỳ và nhiều quốc-gia ở bắc bán-cầu, mùa thu đã chính-thức bắt đầu từ ngày thứ ba 22 tháng 9. Tiết trời đã bắt đầu trở lạnh, nhất là vào buổi sáng. Ở bên Mỹ thì mới vào thu được mấy ngày, nhưng mà ở Việt-Nam và nhiều nước Á-Châu khác thì hôm nay 25 tháng 9 dương-lịch đã là ngày Trung-Thu rằm tháng tám rồi.

Hơn hai ngàn năm trước, vào đời nhà Đường bên Tàu, Bạch Cư Dị, quan Tư-Mã của quận Cửu-Giang ra tiễn khách trên bến Tầm-Dương một đêm thu, chợt nghe thuyền ai có tiếng đàn tỳ bà vọng lại. Bèn hỏi gốc gác của người đánh đàn. Người đàn bà trả lời rằng “Tôi vốn là con hát, quê ở Trường-An, học đàn tỳ bà với hai danh sư Mục và Tào. Nay tuổi đã cao, nhan sắc tàn tạ, lấy chồng làm con buôn, theo thuyền buôn xuôi ngược đây đó”. Nghe vậy, cho dọn rượu ra đãi, xin nàng đàn lại cho nghe. Đàn xong cảm xúc vô vàn, bèn làm một bài thơ tặng nàng kỹ-nữ, gọi là Tỳ bà hành.Bài thơ này dài lắm, chỉ trích ra đây một đoạn ngắn thôi.

Tầm Dương giang đầu dạ tống khách,
Phong diệp địch hoa thu sắt sắt.
Chủ nhân há mã khách tại thuyền,
Cử tửu dục ẩm vô quản huyền.
Túy bất thành hoan thảm tương biệt,
Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt.
Hốt văn thuỷ thượng tỳ bà thanh,
Chủ nhân vong quy khách bất phát. . . .

Phỏng-dịch:

Ban đêm đưa tiễn khách ở đầu sông Tầm Dương
Gió thu thổi vào lá phong, hoa lau hiu hắt
Chủ nhân xuống ngựa, khách trong thuyền
Nâng chén rượu muốn uống (mà) không có đàn sáo
Say mà không vui vẻ gì (vì) biệt ly sầu thảm
Lúc chia tay lòng mang mang, sông đượm bóng trăng
Chợt nghe có tiếng tỳ bà trên mặt nước
Chủ nhân quên về, khách cũng không khởi hành. . . .

Xuân-Diệu đã phóng-tác bài thơ này và đặt tên là Nguyệt Cầm:

Trăng nhập vào đây cung nguyệt lạnh,
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần.
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.

Mây vắng, trời trong, đêm thuỷ tinh;
Lung linh bóng sáng bỗng rung mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh.

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi...
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người...

Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê.
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê

Cung-Tiến đã mượn ý bài thơ này của Xuân-Diệu để viết bản nhạc Nguyệt Cầm. Đây là một trong mấy bài hát của Cung Tiến mà tôi rất thích. Đúng là ánh trăng quyện với tiếng đàn tạo nên một âm-hưởng du-dương và êm-dịu tuyệt-vời. Lối chuyển cung trong bài hát hết sức độc-đáo. Hai giọng hát của Đình-Bảo và Thiên-Tôn rất thích-hợp với Nguyệt Cầm:

 

Đã viết về Nhạc Thu thì không thể không nhắc tới Đặng Thế Phong.

Người nhạc-sĩ tài-hoa này không những rất giỏi về âm-nhạc mà lại còn có khiếu về hội-họa nữa. Trong một kỳ thi tại Trường Cao-Đẳng Mỹ-Thuật Đông-Dương, Đặng Thế Phong vẽ bức tranh cảnh một thân cây cụt. Giáo sư, họa sĩ người Pháp Tardieu chấm bài, khen ngợi nhưng nói rằng: Em Đặng Thế Phong sẽ không sống lâu được!

Quả nhiên câu nói này đã vận vào người ông, và ông đã qua đời rất sớm ở tuổi 24. Di-sản âm-nhạc của ông chỉ vỏn-vẹn có ba bài hát, tất cả đều liên-quan tới mùa thu:

1.Con thuyền không bến

Đêm nay thu sang cùng heo-may
Đêm nay sương lam mờ chân mây
Thuyền ai lờ-lững trôi xuôi dòng
Như nhớ-thương ai chùng tơ lòng. . . .

2.Đêm thu

Vườn khuya trăng chiếu
Hoa đứng im như mắt buồn
Lòng ta xao-xuyến lắng nghe lời hoa
Cánh hoa vương buồn trong gió
Ánh hương yê nhẹ-nhàng say, gió lay. . . .

3.Giọt mưa thu

Ngoài hiên giọt mưa thu thánh-thót rơi
Trời lắng u-buồn, mây hắt-hiu ngừng trôi
Nghe gió thoảng mơ-hồ trong mưa thu
Ai khóc ai than hờ!

Theo nhạc-sĩ Phạm Duy thì Đặng Thế Phong còn có một bài hát nữa mà rất it người biết tới. Đó là bài Sáng rừng

Sáng tới rồi! Khắp đất trời đã tưng bừng ánh vàng
Vừng đông chân trời vừa ló
Núi suối rừng đã thay màu thắm lẫy lừng huy hoàng
Và sương thêm màu mơ màng
Chim líu lo mừng sáng, hoa lá như dịu dàng. . . .

Hôm nay rằm tháng tám Âm-Lịch, mời quý anh chị nghe Trần Thái-Hòa hát Đêm thu:

 

Chúc quý anh chị một cuối tuần bằng-an và vui-vẻ.

NSH
(Tố Miên chuyển)

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

Cáo Phó Của Gia Đình Chị Võ Thị Ngọc Dung (Văn Thi Sĩ Tưởng Dung)

 

 

Trang Nhà Long Hồ Vĩnh Long Thành Kính Phân Ưu Cùng Gia Đình Chị Tưởng Dung

 

Ban Chấp Hành&Hội Viên Văn Bút Việt Nam HNVĐBHK Thành Kính Phân Ưu Cùng Gia Đình Thi Sĩ Tưởng Dung


Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (2024-2026) Thành Kính Phân Ưu Văn Hữu Tưởng Dung


Hoa Thịnh Đốn ngày 27.9.2026 

Kính thăm quý văn hữu VBVNHN,

Ban chấp hành VBVNHN (2024-2026) rất buồn khi biết tin Hiền phụ của văn hữu Tưởng Dung là ông Võ Văn Biên, Pháp danh Trực Ngộ 
qua đời ngày 23.9. 2026 tại California, Hoa Kỳ. Hưởng thượng thọ 95 tuổi.

Cung Lan xin đại diện Ban chấp hành VBVNHN (2024-2026) thành kính phân ưu cùng văn hữu Tưởng Dung và tang quyến. Xin kính mời quý văn hữu hiệp lời cầu nguyện hương linh ông Võ Văn Biên, Pháp danh Trực Ngộ sớm an nhiên miền Cực Lạc.

Cung Thị Lan