Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

Người Thương Kẻ Nhớ - Nhạc Sĩ: Hàn Châu - Trình Bày: Kim Trúc

Nhạc Sĩ: Hàn Châu
Trình Bày: Kim Trúc

Chứng Tích



trong ta còn giọt lệ mừng
với trăm nỗi nhớ dợm chừng nỗi đau
và ngàn giọt lệ nín mau
cho vui nở nụ cười sầu trên môi
còn người đã lỡ một đời
đã bên kia, mắt vẫn vời vợi nhau
áo xưa vạt đã phai màu
tình xưa dẫu cắt vết khâu còn hườm
trong ta, ngấn cổ còn son
mươi năm nụ ấy chưa mòn dấu hôn

Cao Vị Khanh



Thương Nhớ Chapa



(Tặng chị Cao Mỵ Nhân,
Nữ Danh Sĩ quê ở ChaPa)

Kể từ lưu lạc xa quê,
Biết bao thương nhớ gửi về Chapa. (Sa Pa)
Một vùng rừng núi bao la,
Thượng nguồn châu thổ Hồng Hà Lào Cai.

Tuyệt vời khí hậu nơi đây!
Lạnh se se tựa những ngày lập Đông,
Giống như Đà Lạt Lâm Đồng,
Tả Vân, Tả Phín bình bồng sương sa.

Chập chùng đồi núi Chapa,
Đỉnh cao nhất nước, ấy là Fansipan!
Trọng Đông tuyết lạnh giá băng,
Kỳ quan thắng cảnh, sánh bằng Fuji.

Ruộng bậc thang đẹp tuyệt kỳ!
Cắt vòng đồi núi khác gì bức tranh.
Sức người biến cải thiên nhiên,
Nhà nông vẫn giữ cổ truyền xưa nay.

Sắc dân bản tộc nơi đây,
Gồm Mèo, Hmông, Thái, mường Tầy, mường Dzao.
Mỗi bản nói tiếng khác nhau,
Nhưng khi họp chợ, lầu lầu tiếng Kinh.

Gái Mèo, Hmông, Thái rất xinh!
Hồn nhiên hát “Dắc Cành Dinh” (*) hẹn hò…
Người Dzao, Tầy giỏi nông phu,
Cắt đồi thành ruộng, cần cù làm ăn.

Dân Chapa rất hiền lành,
Tấm lòng hiếu khách, đã thành bẩm sinh.
Cát Cát đồi núi hữu tình!
Hương hoa thơm ngát rừng xanh bốn mùa.

Chim muông ca hát nô đùa,
Đất lành khí hậu gió mưa thuận hoà!
Tha phương nhắc tới quê nhà,
Nỗi lòng thương nhớ Chapa bồi hồi…

Trần Quốc Bảo

Richmond, Virginia
(*) Dân ca miền Thượng “Dắc Cành Dinh” 
(đại ý: Vào rừng hái hoa) trai gái thường hát,để tỏ tình với nhau.

Mùa Đông Chạm Cửa


Một điều đã chạm đến trái tim. Đôi khi những câu chuyện sâu sắc nhất là những câu chuyện âm thầm giữ kín trong lòng suốt nhiều năm, và cuối cùng tìm được lời để diễn đạt, cảm giác ấy vừa nhẹ nhàng vừa xoa dịu vết thương đau.Đó là cảm xúc chân thật, ký ức thật.

Tôi vẫn đây. Không ai nhận ra, do thời gian không đo lường được, trong khoảng lặng, thời gian đằng đẵng trôi qua. trong lòng thật âm ĩ của những điều chưa bao giờ thực sự rời đi.
Ngôi nhà cũ vẫn im lìm, con đường,vắng lặng, những hàng cây nghiêng phủ như đang lắng nghe. Bên trong, cạnh cửa sổ, có một chiếc ghế đã không hề di chuyển trong nhiều năm. Và đôi khi, trong ánh chiều muộn, dường như vẫn còn ai đó ngồi, dõi theo, hồi tưởng, đợi chờ bước chân ai....

Cô đơn gối chiếc tái tê lòng
Lạnh lẽo mùa về chạm tiết đông
Hoang vắng chiều nghiêng sầu gió bấc
Chạnh lòng sương phụ rót vào song

Tôi vẫn đây, trong những vầng thơ. Đã có thời, ngôn từ tuôn chảy dễ dàng, tuổi trẻ mang theo sự ngây thơ như một kho báu bí mật. Có lần đã nghe những dòng thơ bén hơn dao xé hết ruột gan đã vậy còn chan canh bằng nước mắt. Tuy nhiên vẫn cảm ơn Thượng Đế còn được sống để thưởng thức thú đau thương... Cảm ơn người, cảm ơn cuộc đời, những lời thơ vương nhiều trăn trở, thú đau thương của người làm nhịp thở cứu sinh....
Những ngày tháng tràn ngập hạnh phúc, nhớ không cần lý do, yêu đến nhẹ nhàng, như một lời hứa ngầm. Có lẽ quá ngốc nghếch. Nhưng đó là một sự ngốc nghếch dễ thương, ngây thơ. Một kiểu ngây thơ viết nên những giấc mơ đầu đời.

Cuộc tình ấy bỗng một lần chợt đến
Tắt sao trời mắt rực sáng đê mê
Trong bóng đêm mùi hương áo cũ về
Hong hơi thở ủ đôi bờ vai ấm

Nhớ những ngày xa xưa qua... tự cảm nhận chính mình một sự ấm áp, nồng nàn, hồn nhiên trong sáng, không bị ảnh hưởng bởi sự chia xa. Thay vì oán trách, nghi ngờ, lại tin vào tình yêu vĩnh cửu mà không cần hỏi vì sao...Đó là một thời của những giấc mơ đẹp, sự kỳ diệu, huyền nhiệm của ân Thiên sắp xếp và ban cho.

Tôi vẫn đây, qua từng thời gian ... Hướng về phía trước .... Mùa thay đổi, từng sợi nhớ sợi thương đan xen vào nhau, và cuộc sống dần trở nên tĩnh lặng hơn, xa cách đã từng... nhưng khoảng cách xa nhau không dài thăm thẳm, những mối len nhớ càng gút chặc hơn để kết thành một chiếc khăn choàng quấn quanh hạnh phúc và ấm áp đôi tim.

Mơ ước bên người tiết đông sang
Như Chiếc khăn len nhẹ ôm choàng
Chia nhau hơi hướm trời lạnh giá
Sưởi ấm vượt qua nỗi gian nan

Tôi vẫn đây, nhìn lá rơi. Gió mang theo cái lạnh buốt da. Bầu trời trải rộng và âm u, thế giới dường như rộng hơn, trống rỗng hơn. Đã từng có một người bên cạnh vào chính mùa này.
Không hẹn mà gặp, không nói mà hiểu, không hiểu mà yêu, không thiếu mà nợ...và không hẹn mà hứa để rồi không hứa mà chờ... cùng nhau trên từng cây số ngàn....những câu dang dở, và rồi..lặng lẽ ra đi... 

Mùa thu cất bước, mang thế giới bằng những màu sắc quen thuộc. Lá nhè nhẹ rơi..., như thể chẳng có gì thay đổi. Sương đêm vẫn giăng lạnh lùng. Người ta nói hãy bước tiếp, hãy buông bỏ. Nhưng có những điều không thể biến mất, nỗi buồn vẫn không hề thay đổi. Hình bóng ấy cũng không đổi thay. Vẫn hiện hữu nơi đây, bên cạnh cuộc đời nhau. 

Mọi điều không phải tàn nhẫn. Không phải giận dữ. Chỉ là sự kết thúc lặng lẽ của khoảng cách. Một cuộc sống khác. Một con đường khác, không quay lại. Tuy nhiên người ấy đã để lại điều gì đó. Một ký ức nhỏ bé và sống động, từng lời, từng chữ từng âm thanh vẫn vang vọng đâu đây dường như vô tận.... Xung quanh mờ nhạt, nhưng tất cả những gì người để lại không bao giờ mất dấu phôi phai.

Không còn níu lấy nữa, một cách nghĩ đơn giản là mang nó theo suốt cuộc đời. Và vì thế vẫn ở đây. Không bị ràng buộc giữa quá khứ, mà được hòa quyện nhẹ nhàng vào nếp sống, hít thở chung một bầu trời, tiếp tục bước đi con đường có hương hoa, mùi lá, ôm trọn một tình yêu chưa bao giờ bị lãng quên.

Bên ngoài, lá vẫn rơi.... Góc riêng, nhắm mắt lại chỉ trong giây lát, và trong không gian tĩnh lặng này, không gì mất đi. Chỉ còn lại ký ức đẹp, êm đềm và bền lâu.... Mùa đông chạm cửa, giữ cho nhau chút nồng nàn để sưởi ấm khoảng đời nhau....

Sớm đông tiếng gió thì thào
Rót vào hương đượm lời trao ngọt ngào
Mơ mơ trời chớ sớm mau
Đắp chăn ký ức đẹp màu thời gian

Sớm đông gió đã ghé sang
Giá băng nắng hạ xua tan sương mờ
Nhớ nhớ đời bỗng nên thơ
Gian phòng hạnh phúc đợi chờ gió ơi!

Kim Oanh
Melbourne Đầu Đông 2026

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

Tiếng Thơ Hoa Vàng: Vũ Hoàng Chương và "U Uất Nỗi Chơ Vơ" - Thực Hiện: Lê Diễm Chi Huệ & Bác Sĩ Trần Xuân Ninh

Thơ: Vũ Hoàng Chương
Thực Hiện: Lê Diễm Chi Huệ & Bác Sĩ Trần Xuân Ninh

Hoàng Hôn Về Biển Vắng



Cơn sóng vỗ về đời ly xứ.
Hoàng hôn về biển vắng tình người.
Dấu chân buồn từng bước ra khơi.
Như dã tràng ngậm ngùi se cát.

Đời ly xứ vết hởn trên mắt.
Nơi xứ người hằn dấu chân hoang.
Nhớ ngày xưa phố mộng Nha Trang.
Biển cát trắng cho anh kỷ niệm.

Hàng dừa xanh hát chào thương mến.
Bờ môi em sáng ánh tà dương.
Hoàng hôn về sánh bước chung đường.
Em khuất bóng sau giàn thiên lý.

Đêm từng đêm dệt thơ ngỏ ý.
Để sáng ngày trao mảnh Hoa Tiên.
Em bâng khuâng xỏa tóc nhung huyền.
Che đôi má thắm hồng vì thẹn.

Rồi cơn lốc cuốn đời xa bến.
Để hoàng hôn biển lạ thiếu em.
Bao năm qua tìm dấu chân quen.
Nhưng biển cát lạnh lùng vô cảm.

Lâm Hoài Vũ


Ẩn Dật 2

 

Chiều nao qua bến Cây Sung
Hòa Sơn tím ngắt một vùng hoang vu
Bên này Hòn Thượng sương mù
Bên kia Giồng Cốc khói thu vẽ thành
Giữa rừng núi, một chòi tranh
Một mình, một cõi năm canh ngáy khò…
Bạn cùng tùng, trúc, hạc, cò
Bước cao, bước thấp, tự do khôn cùng
Chiều nao qua bến Cây Sung
Nhập vào mây khói, hòa cùng thiên nhiên
Trăng lên đủng đỉnh chiếc thuyền
Hàng cây yên giấc, đàn chim cựa mình
Sông sâu, một bóng, một hình
Đôi bờ cô tịch tâm tình cùng ta
Lắng nghe sương khói giang hà
Nửa đêm thiền định, chiều tà nghêu ngao
Đêm hư huyễn, ngày chiêm bao
Hoa bằng lăng tím xanh xao nỗi buồn
Cám ơn rừng núi Hòa Sơn
Đã cho ta những trái sim tím lòng
Cám ơn sông Lốt xanh dòng
Đã cho ta tách trà phong lan rừng
Chiều nao qua bến Cây Sung
Ta nhìn ta, bóng lung linh hao gầy
Rừng già lớp lớp khói mây
Lắng nghe vượn hú trên cây sao buồn
Hoẵng kêu, cọp rống, voi hờn…
Rõ từng tiếng sói cô đơn gọi đàn
Đại ngàn hoang mạc hòa tan
Trong ta tịch tịnh, tâm an mở bừng
Chiều nao qua bến Cây Sung
Sống đời ẩn dật, vui cùng cỏ cây
Bao năm, bao tháng, bao ngày
Ngoài vòng cương tỏa, áng mây giữa trời

Vinh Hồ
3/1991 (34 câu)
-Làm tại Hòa Sơn, Ninh Hòa, Khánh Hòa.
(Trích trang 116, thi tập Ẩn Dật của Vinh Hồ)

Bộ Dominoes Kỷ Niệm Ngày Xưa


(Kính tặng Quý Niên Trưởng và Quý Chiến Hữu Kiểm Báo đã từng cầm những con cờ Dominoes này trên hai bàn tay trong giờ nghỉ giải lao.)

Tháng Bảy, năm 1969. Sau khi mãn Khoá Học Weapons Controller tại Tyndall AFB, Florida. Trên đường về nước. Tôi mua một Bộ Dominoes đem về Việt Nam làm kỷ niệm. Thắm thoát, đã hơn nửa thế kỷ. Hôm nay, tình cờ nhìn lại Bộ Dominoes, trong lòng tôi cảm thấy bồi hồi và một chút lắng đọng. Nhớ lại từng khuôn mặt thân quen với các Biệt Danh rất dễ thương như: Hoàng Hynos, Long Basket, Quỳnh Complex, Trực Degaulle, Dũng Mexico, Ngọc Robert, Liêm Ruby, Thanh Gà rù, Nam Mốc, Lợi Khổng Lồ, Tâm Chệt, Hồng Cào Cào, Đính Lác, Toàn Mặt Ngựa, Chánh Chuột, Việt Gấu, Trí Xoắn, Bảo Bì, Minh Mù, Nhâm Cà Lăm….và Cựu Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm 2 Kiểm Báo: Mr DuPont.

Giờ đây, một số đã đi xa, một số đang ở tuổi về chiều nơi quê nhà và một số khác đang tha phương cuối đời nơi xứ người.

Bộ Dominoes đã theo chân tôì đi khắp các đơn vị Kiểm Báo: Từ Trung Tâm 2 Kiểm Báo, Sơn Trà, Đà Nẵngtức Panama, đến Đài 11 (Peacock) - Pleiku, Đài 21 (Paddy) - Bình Thủy, Cần Thơ và cuối cùng là Trung Tâm 1 Kiêm Báo (Paris), Tân Sơn Nhất.

Những Quân Nhân Kiểm Báo ở các đơn vị nêu trên, hầu như ai cũng đều quen mặt với Bộ Dominoes màu đỏ của tôi. Đầu tiên, các số trên con cờ có màu trắng. Sau này, tôi sơn đủ màu lên trên các con số để cho dễ nhận.

Bình thường Dominoes chơi bốn người, có đôi khi chơi ba, hoặc hai người. Nếu chơi bài cào, mỗi người bốc ba con thì chơi được chín người. Ăn thua không phải là chính, mà mục đích chỉ để giải trí, nghỉ giải lao cho quên phiên trực kéo dài. Có dôi lúc căng thẳng, nhưng chưa bao giờ xảy ra gây gổ, hay lớn tiếng trong lúc chơi Dominoes.
Sau ngày 30 tháng 04, 1975. Tôi không còn dịp đụng đến các con cờ Dominoes nữa! Tôi đem cất vào xó tủ, chẳng bao giờ ngó ngàng đến.

Khi được đi định cư Hoa Kỳ theo chương trình H.O vào Tháng 10, năm 1992. Ngoài những vật kỷ niệm, sách vở, tài liệu cần thiết, tôi không quên đem theo Bộ Dominoes trong hành trang lên đường.
Đến Mỹ, tôi không còn cơ hội chơi Dominoes với các chiến hữu. Tuy nhiên, nhờ Bộ Dominoes, mà tôi có dịp dạy con trai tôi làm các phép tính cộng và tính trừ rất hiệu quả.

Tôi bày tất cả con cờ Dominoes lên trên bàn học. Tôi hỏi con tôi các con số trên bộ cờ, cháu sẽ tìm cách bốc đúng con số, mà tôi muốn. Nếu tôi muốn tổng số là bao nhiêu thì cháu tìm các con số trên các con cờ Dominoes cộng lại. Nếu làm toán trừ thì cháu sẽ tìm cách loại ra những con cờ không cần thiết. Mỗi ngày tôi đều dành thời giờ để tập cho cháu làm các phép tính. Trong lúc làm những thủ tục cần thiết cho người mới đến, tìm nơi học lái xe, tìm hiểu, hỏi thăm những người đi trước giúp ý kiến, học hỏi kinh nghiệm.

Đây là cơ hội ngàn vàng, mà tôi được gần con tôi lâu nhất khi định cư ở Hoa Kỳ.

Một thời gian sau, Bộ Dominoes không còn được dùng nữa! vì con tôi đã đi học, vợ tôi ghi danh đi học tiếp, còn tôi đã tìm được công việc làm thích hợp. Do đó, Bộ Dominoes đành cất vô trong hộc tủ.

Hôm nay, thời tiết ẩm áp của mùa hè, trong không gian im ắng của Thành Phố San José, còn có tên là Thung Lũng Hoa Vàng. Tôi chậm rãi dọn dẹp, sắp xếp lại vật dụng trong nhà cho trật tự, ngăn nắp. Những gì thấy còn giữ được thì giữ. Còn như nếu thấy không cần thiết thì đem tặng cho Salvation Army.

Đến khi kéo hộc tủ ra. tôi thấy lại Bộ Dominoes, mà tôi đã vô tình quên lãng trên 30 năm. Bỗng dưng, cả một trời kỷ niệm hiện về. Tôi nhớ lại từng khuôn mặt các chiến hữu quay từng quần chơi Dominoes (với tiếng gõ, tiếng đập, tiếng la lớn triệt buộc, tiếng hô đóng có Bọ, tiếng nói nhỏ nhẹ, bạn còn thua con Bọ Trỏng…} vào những ngày mưa to, gió lớn, bão bùng trên Đỉnh Sơn Trà, nơi Pleiku mưa bụi giăng đầy, Cần Thơ êm ái, nhẹ nhàng, và Tân Sơn Nhất yên tĩnh nơi phòng nghỉ của đơn vị.

Tất cả đều đã chìm vào dĩ vãng. Không bao giờ tìm lại được. Nhiều Chiến Hữu ngày xa xưa đó đã đi xa. Nếu còn hiện diện trên cõi đời ô trọc này thì đã ngoài tuổi Thất Thập Cổ Lai Hy, sức khỏe đã yếu dần, đang cầm tấm vé một chiều chờ tài xế ngừng xe lại mời bước lên chuyến xe cuối cùng đi về miền miên viễn.

Cầm Bộ Dominoes kỷ niệm ngày xưa, hai tay tôi run run. Tôi đang nghĩ, rồi sẽ sẽ có lúc tôi không bao giờ còn thấy nữa!

Ôi! Bộ Dominoes thân yêu của tôi. Cả một trời kỷ niệm thời chinh chiến trong tiềm thức đang trở về.

Trần Đình Phước
(San Jose, California - 06/2026)


Du Chung Nam Sơn 遊終南山 - Mạnh Giao (Thịnh Đường)

 

Mạnh Giao 孟郊 (751-814) tự Đông Dã 東野, người Vũ Khang, Hồ Châu (nay là huyện Vũ Khang, tỉnh Chiết Giang) thời Trung Đường, cùng thời với Bạch Cư Dị, Hàn Dũ, Giả Đảo, Thường Kiến, Thôi Hộ... Ông công danh khá lận đận, đi thi nhiều lần không đỗ, mãi đến năm 46 tuổi mới đỗ tiến sĩ và năm 50 tuổi mới được bổ làm huyện uý Lật Dương (tỉnh Giang Tô), một chức quan nhỏ mà ông không màng tha thiết. Cảnh nhà nghèo túng quẫn, cuộc đời không lấy gì vui, nên thơ của ông thường châm biếm chê bai giới quý tộc quan liêu, lột tả nỗi niềm ta oán của giới trí thức không gặp thời như cảnh ngộ của ông, hoặc nỗi bất công của những người dân nghèo lao động tay lấm chân bùn.

Tác phẩm của ông còn lưu truyền cho hậu thế là Mạnh Đông Dã gồm 2 quyển. Thơ của ông gồm khoảng hơn bốn trăm bài nhạc phủ và cổ thi…


Lời phi lộ

Quanh năm ngày tháng chỉ ngoạn cảnh mà không đọc sách thì ngu tới già.
Quanh năm ngày tháng chỉ ngồi nhà đọc sách mà không ngoạn cảnh thì chỉ là mọt sách.
Vậy thì nên dung hòa giữa đọc sách và ngoạn cảnh.
Đó là ý dung hòa của bài 遊終南山 Du Chung Nam sơn của Mạnh Giao:

Nguyên tác Dịch âm
遊終南山 Du Chung Nam sơn

南山塞天地 Nam sơn tắc thiên địa,
日月石上生 Nhật nguyệt thạch thượng sinh.
高峰夜留景 Cao phong dạ lưu cảnh,
深谷晝未明 Thâm cốc trú vị minh.
山中人自正 Sơn trung nhân tự chính,
路險心亦平 Lộ hiểm tâm diệc bình.
長風驅松柏 Trường phong khu tùng bách,
聲拂萬壑清 Thanh phất vạn hác thanh.
到此悔讀書 Đáo thử hối độc thư,
朝朝近浮名 Triêu triêu cận phù danh.

Dịch nghĩa

Chơi núi Chung Nam

Núi Nam đứng sừng sững dưới gầm trời,
Mặt trời mặt trăng cứ như từ núi này phát sinh ra.
Cái dáng cao của núi non, ban đêm còn thấy rõ,
Hang hốc thâm sâu đến nỗi ban ngày vẫn không thấy ánh sáng.
Dân cư trong núi tự đoan chính,
Thế núi hiểm trở, nhưng lòng người bình dị.
Gió lớn thổi trên các cây thông cây bách,
Nghe như tiếng (sáo) phát ra từ vạn hang hốc.
(Đến chơi nơi đây mới) thấy hối hận đã (phí nhiều thì giờ) đọc sách (mà không ngoạn cảnh),
(Mình chỉ) hàng ngày theo đuổi danh lợi hão huyền.

Dịch thơ
Chơi núi Chung Nam

Chung Nam gom trời đất,
Nhật nguyệt tự phát sinh.
Núi cao đêm vẫn thấy,
Hang sâu nắng vắng tanh
Trong núi dân đoan chính,
Đường hiểm lòng yên bình.
Gió luồn khu tùng bách,
Như vạn sáo đồng thanh.
Hận xưa đọc nhiều sách,
Ngày ngày thích hư danh.

Lời bàn

Bài thơ ngũ ngôn cổ phong 10 câu; 8 câu câu đầu tả quang cảnh hùng vĩ của núi Chung Nam. Hai cấu kết tỏ vẻ hối hận rằng, (từ lâu nay) mình chỉ chúi mũi vào sách vở để kiếm hư danh (mà không biết thưởng ngoạn những cảnh đẹp như thế này).
Dường như Mạnh Giao không chống việc đọc sách; ông chỉ không coi việc đọc sách quan trọng hơn việc ngoạn cảnh thiên nhiên.

Con Cò
***
Ngoạn Cảnh Núi Chung Nam

Núi Nam giữa đất trời,
Nắng sớm trăng khuya khơi.
Sừng sững đêm còn thấy,
Hốc sâu ngày tối thui.
Người rừng lòng chất phác,
Đường khó, đi thảnh thơi.
Gió lớn thổi tùng bách,
Vọng thanh âm tuyệt vời.
Đến đây hận đọc sách,
Kiếm hư danh hỡi ơi.


Lục Bát.


Núi Nam giữa đất trời đây,
Trăng khuya nắng sớm nơi này sinh ra.
Núi to đêm cũng thấy mà,
Hốc sâu ánh sáng khó qua tối mù.
Người rừng chất phác vô tư,
Đường đi tuy khó từ từ bình an.
Gió lùa tùng bách trong ngàn,
Âm thanh từ vạn hốc hang vọng về,
Đến đây hận đọc hả hê,
Để tìm danh hão say mê hàng ngày.


Mỹ Ngọc.
Jun. 6/2026

***
Dạo núi Chung Nam

Núi cao trời đất phủ dầy
Trời trăng như thể từ đây ra đời
Đêm về đỉnh núi sáng ngời
Ban ngày khe đá chưa rời bóng đêm
Sơn nhân tâm tính thật hiền
Con đường dẫu hiểm vẫn yên lòng người
Gió lên tùng bách tơi bời
Trong veo tiếng gió lướt nơi khe rừng
Từ lâu đèn sách không ngừng
Giờ đây tiếc nuối mấy tầng hư danh


Thanh Vân
***
Chơi Núi Chung Nam

Núi Nam trùm thiên địa
Trời, trăng đá núi sinh
Đỉnh cao đêm giữ sáng
Lũng thấp ngày chưa tinh
Người thượng lòng ngay thẳng
Đường hiểm tâm an bình
Gió dài xô tùng bách
Âm quét vạn khe thanh
Đến nơi tiếc đọc thư
Càng ngày gần hư danh!


Lục Bát

Núi Nam trùm kín đất trời
Trời trăng như thể đá rời nẩy ra
Đỉnh cao giữ sáng đêm qua
Lũng sâu ngày rạng mặn mà bóng râm
Người miền thượng chính trực thầm
Đường tuy nguy hiểm nhưng tâm an bình
Gió dài tùng bách nghiêng mình
Vạn khe âm quét nghe thanh thản lòng
Đến nơi tiếc học uổng công
Càng ngày càng lậm vào vòng hư danh!


Lộc Bắc
Jun26
***
Góp Ý:


Ngày xưa, mới đi lính, tôi thích nhất bài Du Tử Ngâm của Mạnh Giao. Mình không là du tử, nhưng cũng lang thang không kém vì nghĩa vụ, và bài thơ nói lên nỗi lòng của cả hai mẹ con.
Lần trước, bài Quy Tín Ngâm gây cho BS nhiều cảm xúc, vì nỗi nhớ người yêu ở xa của một thiếu phụ (cứ nghĩ thế cho lãng mạn, đâu có sao).
Theo tiểu sử thì Mạnh công danh lận đận, vùi đầu vào sách vở mà 45 tuổi mới đỗ Tiến Sĩ, 50 tuổi mới được chức quan nhỏ, chẳng bõ công đèn sách, nên khi đi chơi núi Chung Nam, Mạnh Giao đã “NGỘ“, tiếc rằng mình không đi du lịch, đã bỏ phí thời gian đọc sách để tìm kiếm hư danh.
Chung Nam Sơn ở đâu? Là giẫy núi lớn, cách khoảng 50 dặm ở phía tây nam của Trường An. Phong cảnh ở đây rất đẹp, dân cư đoan chính hiền hòa, được tả trong 8 câu đầu, NGỘ ở 2 câu cuối.
Đời Đường, chẳng biết ở đây có công trình xây dựng gì không, nhưng tới đời Tống thì Vương Trùng Dương dựng Đạo Quán, lập ra phái Toàn Chân.
Ông còn một động đá rất đẹp đẽ và kỳ tuyệt, phải nhường cho người yêu là Lâm Triều Anh; bà này đổi tên động đá thành “Huyệt Tử Nhân Mộ Đài“, lập ra phái Cổ Mộ, nuôi dậy Tiểu Long Nữ trong truyện Thần Điêu Đại Hiệp. BS xin lỗi ACE đã ba hoa vì trúng tủ.
Bài này chỉ có vài chữ khó:
Tắc: là lấp kín, chắn, đầy đủ, bổ xung, qua loa. Tắc môn là tấm bình phong ở cửa để che kín nhà trong. Còn âm Tái, như biên tái, là nơi quan ải ở biên cương.
Phất: là phẩy, quét, đánh, rũ đi, che đi.
Hác: là hang hốc, hào nước, trống không.
Bài này khó dịch thành ngũ ngôn, vì nói không đủ ý, xin dịch theo lục bát:


Chơi Núi Chung Nam

Núi Nam chắn cả đất trời.
Tưởng đâu nhật nguyệt ra đời tại đây,
Non cao, đêm cảnh vẫn bầy,
Hang sâu mờ tối dù ngày đã sang,
Người trong thôn thật đàng hoàng,
Đường hiểm nguy vẫn bình an cõi lòng,
Bách, tùng gió thổi mênh mông,
Nghe như tiếng sáo lùa trong hang dài,
Tới đây, lòng cứ tiếc hoài,
Bao ngày theo đuổi, tìm tòi hư danh.


Bát Sách.
(Ngày 06/06/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm: Dịch thơ:

遊終南山-孟郊 Du Chung Nam Sơn – Mạnh Giao

南山塞天地 Nam sơn tắc thiên địa                Chung Nam che đất trời,
日月石上生 Nhật nguyệt thạch thượng sinh Trăng từ đá chơi vơi.
高峰夜留景 Cao phong dạ lưu cảnh              Đỉnh cao đêm còn sáng,
深谷晝未明 Thâm cốc trú vị minh                Hang sâu ngày tối mờ.
山中人自正 Sơn trung nhân tự chính            Người quê lòng ngay thẳng,
路險心亦平 Lộ hiểm tâm diệc bình               Đường hiểm dạ phẳng lờ.
長風驅松柏 Trường phong khu tùng bách     Gió lùa ngàn tùng bách,
聲拂萬壑清 Thanh phất vạn hác thanh          Vạn hóc tiếng trong thanh.
到此悔讀書 Đáo thử hối độc thư                   Giờ tiếc công đèn sách,
朝朝近浮名 Triêu triêu cận phù danh            Ngày tháng đuổi hư danh.

Bài thơ có đăng trong các sách:

Mạnh Đông Dã Thi Tập - Đường - Mạnh Giao http://孟东野诗集-唐-孟郊
Đường Âm - Nguyên - Dương Sĩ Hoằng 唐音-元-杨士弘
Cổ Thi Kính - Minh - Lục Thì Ung 古诗镜-明-陆时雍
Ngự Định Toàn Đường Thi Lục - Thanh - Từ Trác 御定全唐诗录-清-徐倬

Giải nghĩa chữ khó:

Chung Nam Sơn: một dãy núi lớn phía nam Trường An, nơi nổi tiếng là chốn ẩn cư của đạo sĩ, thi nhân, và những người thoát ly vòng danh lợi.
Tắc: lấp đầy, tràn ngập, chèn đầy, lấp kín, cho thấy sự đồ sộ của ngọn núi.
Thạch thượng sinh: hình ảnh phóng đại, như thể mọc lên từ đá núi.
Cảnh: ánh sáng mặt trời, ánh sáng ban ngày.
Vị minh: chưa sáng rõ.
Chính: ngay thẳng, chính trực.
Bình: bình thản, bình hòa.
Khu: xua, đẩy mạnh, thúc đẩy (gió lùa qua rặng thông).
Phất: lướt qua, chạm qua.
Hác: khe núi, thung lũng sâu.
Hối độc thư: hối hận vì theo đuổi con đường đọc sách cầu danh.
Phù danh: hư danh, danh lợi phù phiếm chốn quan trường.

Dịch nghĩa:

Du Chung Nam Sơn Dạo Núi Chung Nam

Nam sơn tắc thiên địa
Núi Chung Nam to lớn như che lấp cả đất trời ,
Nhật nguyệt thạch thượng sinh
Mặt trời mặt trăng như mọc lên từ đá núi.
Cao phong dạ lưu cảnh
Đêm xuống mà đỉnh cao vẫn còn ánh sáng,
Thâm cốc trú vị minh
Ban ngày mà khe sâu vẫn chưa sáng tỏ.
Sơn trung nhân tự chính
Người sống trong núi tự nhiên tâm tính trở nên ngay thẳng,
Lộ hiểm tâm diệc bình
Đường hiểm trở nhưng lòng người vẫn bình thản.
Trường phong khu tùng bách
Ngọn gió dài quét mạnh qua rặng tùng bách,
Thanh phất vạn hác thanh
Tiếng gió lướt qua muôn khe núi nghe thật trong trẻo.
Đáo thử hối độc thư
Đến nơi này mới thấy hối hận chuyện ngày xưa ít đọc sách,
Triêu triêu cận phù danh
Để ngày ngày chỉ gần gũi với (chạy theo) hư danh.


Hoàn cảnh sáng tác:


Mạnh Giao (751 – 814) là nhà thơ nổi tiếng với phong cách "khổ ngâm" với thơ câu chữ gọt giũa, mang giọng điệu cô tịch, u buồn. Cả cuộc đời ông lận đận khoa cử, mãi đến năm 46 tuổi mới thi đỗ Tiến sĩ nhưng chỉ được bổ nhiệm làm một chức quan nhỏ, làm Huyện úy Lạc Dương, không đúng với ý nguyện.

Bài thơ này được sáng tác khi ông lên kinh đô Trường An dự thi hoặc trong thời gian chán ngán quan trường, tìm đến núi Chung Nam để khuây khỏa. Đối diện với thiên nhiên bao la và sự chính trực của người sống trong núi đồi, ông nhận ra sự vô nghĩa của danh vọng, từ đó bộc lộ niềm khao khát tự do, tự tại. Trong chuyến du ngoạn này, ông có ghé thăm Chùa Long Trì trên núi và để lại bài thơ Du Chung Nam Long Trì Tự 游终南龙池寺.

Bình luận:

Bài thơ là một tác phẩm ngũ ngôn cổ phong với cái nhìn sâu sắc về thiên nhiên hùng vĩ, đối lập với sự mỏi mệt của vòng danh lợi chốn quan trường. Bài thơ là một chỉnh thể nghệ thuật đi từ tả cảnh đến tâm tình sâu lắng của thi nhân.

Bốn câu đầu: Mạnh Giao dùng nét bút phóng khoáng để tạc nên sự hùng vĩ của dãy núi Chung Nam. Núi cao đến mức "che cả đất trời", là nơi ôm trọn quy luật vũ trụ (trăng mặt trời mọc từ đá). Sự tương phản giữa "đỉnh cao còn giữ nắng" và "vực sâu chưa thấy ngày" khắc họa độ cao lồng lộng và sự thâm sâu của chốn đại ngàn.

Bốn câu tiếp: Khi đối diện với thiên nhiên chính trực, tâm hồn con người như được thanh lọc, hòa hợp vào cảnh. Đường núi dẫu "hiểm" nhưng lòng lại "bình", bởi con người đã thoát khỏi sự bon chen, hiểm độc của nơi phố thị. Tiếng gió thổi qua ngàn khe núi (vạn hác thanh) chính là tiếng lòng reo vui, tự do.

Hai câu cuối: Cái hay của bài thơ đọng lại ở sự thức tỉnh muộn màng trong hai câu kết. Lời than "hối tiếc đọc sách" không phải là phủ nhận tri thức, mà là sự tự trào, hối hận vì đã dùng sách đèn làm công cụ cầu danh lợi. "Phù danh" (danh hờ) chính là cái bẫy giam cầm con người, và chỉ khi đứng trước Chung Nam, thi sĩ mới thực sự thấy lại bản ngã.

Visit Southern Mountains by Meng Jiao
The Southern Mountains fill up heaven and earth.
The sun and moon seem to rise straight from the rocks.
High peaks keep their glow even into the night,
While deep valleys remain dim even in daylight.
People who live in the mountains are naturally upright;
Though the paths are dangerous, their hearts stay calm.
Long winds drive through the pines and cypresses,
Their sound brushing across ten thousand ravines, pure and clear.
Arriving here, I regret having spent my life on books,
Every day drawing closer to nothing but hollow fame.


Phí Minh Tâm
***
Góp Ý: 终南山=Chung Nam sơn

Lô Tàng Dụng

Chung Nam không phải là tên của một ngọn núi đơn độc mà là của một rặng núi với nhiều tên khác như Thái Ất, Thúy Hoa, v.v... và không thuộc vào nhóm Ngũ Nhạc trong văn hóa Hoa Lục, cho dù nó được xem là nơi xuất phát của Lão giáo và cũng như của Nam sơn luật tông. Một điểm đặc biệt về địa thế của Chung Nam, khác với những núi nổi tiếng khác là nó ở cách trung tâm của Tràng An ngày xưa có 30 km. Vì địa thế đó, truyền thuyết/điển cố Chung Nam tiệp kính (終南捷徑=lối tắt Chung Nam) ra đời.

Lối tắt Chung Nam nói đến thư pháp gia Lô Tàng Dụng (盧藏用), một người xuất thân quý tộc, đa tài, đỗ tiến sĩ dễ dàng nhưng không được triều đình thu dụng nên cùng em vào núi Chung Nam ở ẩn. Thời đó đạo sĩ Tư Mã Thừa Trinh (司馬承禎) cũng ở ẩn ở Chung Nam và đã từng được gọi vào triều giảng đạo ba lần. Khi Thừa Trinh muốn vào Tung sơn ở ẩn, Lô hỏi sao không vào Chung Nam và Thừa Trinh trả lời đó chỉ là một lối tắt đi làm quan (以我之 见,这是通向官场的捷 径啊). Lô ở ẩn thành công và được Vũ Tắc Thiên nghe tiếng, gọi vào triều và dần dần thăng quan tiến chức tới thượng thư hữu thừa và hết còn là người liêm chính (晚乃徇權利,務為驕縱,素節盡矣 vãn nãi tuẫn quyền lợi, vụ vi kiêu túng, tố tiết tận hĩ).

日月石上生 Nhật nguyệt thạch thượng sinh
Trăng và trời dĩ nhiên không xuất phát từ Chung Nam, hay từ bất cứ núi nào khác nên ta có nên hiểu rằng đây là một câu tâng bốc thái quá. Tên Chung Nam nhắc người này đến truyền thuyết về Lô Tàng Dụng, nhưng Mạnh Giao ngao du Chung Nam vì ý muốn ở ẩn hay vì biết đó là lối tắt vào triều? Mạnh hối hận đã phí thì giờ đọc sách thay vì đi du ngoạn, hay vì không đọc sách ở Chung Nam giữa âm hưởng của rừng núi?

Huỳnh Kim Giám

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2026

Bài Ca Tình Nhớ - Le Derobades ( Lời Việt : Lữ Liên ) - Tiếng Hát: Phạm Cao Tùng

Lời Việt : Lữ Liên
Tiếng Hát: Phạm Cao Tùng

Lối Cũ

  
        (Kim Phượng 1973)

Bàng bạc mây trời lờ lững cao
Mùa trăng hò hẹn mãi phương nao
Chao ơi phượng rũ dài mong đợi
Hương sứ âm thầm tỏa khát khao

Lối cũ tìm về rảo bước chân
Thềm quen cảnh cũ đấy tần ngần
Hồn xưa sống lại trang lưu bút
Nghiêng bóng vai gầy bóng cố nhân

Mơ dáng hình ai chửa xóa mờ
Say nàng tóc bím tuổi ngây thơ
Say xanh màu áo giờ tan học
Say nắng "cầu duyên"* đứng ngẩn ngơ

Giọng nói hôm nao gợi nhớ hoài
Nụ cười ngày trước vẳng bên tai
Chắt chiu hạnh phúc từ xa cách
Kỷ niệm êm đềm chửa nhạt phai

Như thuở chung đôi bước đến trường
Một thời hoa bướm của yêu đương
Như trang giấy mới vừa ươm mộng
Một cuộc tình chờ thương cảm thương

Thinh lặng bên nhau chẳng tiếng lời
Đàn lòng thổn thức nhịp buông lơi
Đôi đầu phơn phớt pha màu tuyết
Giây phút tương phùng mưa lệ rơi

Kim Phượng
* "Cầu Duyên" Chiếc cầu bắc ngang hai dãy lớp học 
của Trường Kỹ Thuật Vĩnh Long.

New York & Sài Gòn

 

Thành phố siêu cường thật mãn sung
Trên cao nhìn thấp, nghĩ mông lung.
Không lưu cho phép tàu bay xuống
Phi đạo chớp đèn bánh đáp bung.
Đất khách- Sài Gòn xa vạn dặm
Quê nhà- New York cách muôn trùng.
Mong ngày thuận tiện về thăm nước
Thưởng ngoạn danh lam khắp các vùng!

Duy Anh
JFK Airport. 10/6/2026

Lời Người Dưới Mộ



( Cảm tác vợ người bạn vừa qua đời)

Em nằm dưới đáy mộ sâu,
Thương nhau xin hẹn kiếp sau tìm về,
Đường em mây phủ sương che,
Đường anh một bóng chắc se sắt lòng?

Hồn em cũng biết khóc thầm,
Khi tình chưa đủ trăm năm bạc đầu,
Ai không mong chuyện dài lâu?
Tình nào không đẹp sắc màu nên thơ?

Cũng chỉ là một giấc mơ,
Khi ta đã bước sang bờ bến kia,
Em nằm đây với đêm khuya,
Em hiu quạnh với nắng trưa muộn màng,

Em nghe gío thổi mùa sang,
Em nghe mưa kể hợp tan chuyện đời,
Nghĩa trang rộng, em lẻ loi,
Nhớ mùi hương khói, nhớ người đến thăm,

Nấm mồ này vẫn đợi anh,
Hương hoa thơm chỗ em nằm ngàn Thu,
Ngồi bên mộ, anh trầm tư,
Nỗi đau vẫn mới như vừa hôm qua,

Cám ơn anh tình thiết tha,
Dù mỗi ngày mỗi cách xa nhau rồi,
Thăm em giây phút này thôi,
Trần gian anh hãy tìm vui một mình,

Ngày mai hoa sẽ héo tàn,
Khói hương sẽ tắt mộ em lại buồn.

Nguyễn Thị Thanh Dương


Kỳ Thị Trong Ngôn Ngữ

Trong

Một khuynh hướng rất lạ trong quần chúng ở hải ngoại, là khi họ nghe hay đọc một chữ nào trước đây chưa biết thì a-lê-hấp, phán ngay “đó là chữ Việt Cộng.” Mới đây có vài vị hỏi chúng tôi về những chữ mà họ chỉ nghe trên báo chí, đài truyền hình, truyền thanh ở Việt Nam từ sau 1975. Đó là các chữ như ‘qui hoạch, qui trình, đề xuất, đột xuất, hộ khẩu, hộ chiếu’

Trước đây, bản thân chúng tôi cũng từng có suy nghĩ kỳ thị như thế với nhiều chữ, mà sau đó - khi bắt đầu vào công việc soạn thảo cuốn Chuyện Dài Chữ Nghĩa - mới có dịp tìm tòi và học hỏi thêm. Chúng tôi nhận ra kiến thức của mình còn hạn hẹp và mang nặng cảm tính, để quan điểm chính trị chi phối nên nhận thức sai lạc khá nhiều. Vì thế, trong bài mở đầu của cuốn sách, chúng tôi đã nhấn mạnh rằng “... bất cứ những lời nào, chữ nào nói ra từ miệng người Việt đều là ngôn, từ chung của Việt Nam. Những người có thẩm quyền trong chế độ Cộng Sản không sáng chế thêm chữ mà chỉ sử dụng sai chữ, do sự thiếu hiểu biết và cẩu thả của họ.”

Đúng thế, chúng ta đã nghe, đọc rất nhiều chữ mà người Việt trong nước gán ghép cách kỳ quặc, hay sử dụng nghèo nàn một loại từ, một tĩnh từ, một động từ cho bất cứ chủ từ nào, trong bất cứ trường hợp nào. Nhất là chữ viết dựa theo cách nói ngọng của các vùng mà cũng thấy ngay trong sách giáo khoa, tài liệu chính thức của nhà nước.

Một điều mâu thuẫn khá buồn cười, là trong lúc bác bỏ thẳng tay những chữ Việt mà họ cho là chữ Việt Cộng; chê bai, lên án bất kỳ ai sử dụng chúng; thì có người lại hùa theo, viết theo những chữ ghép sai cách kỳ quặc hay dùng sai nghĩa xuất phát từ nước Việt Nam Cộng Sản. Sự hiểu biết lưng chừng thật tai hại! Những chữ ghép chướng tai nhất là ‘cặp đôi, cụm từ, chùm ảnh...” vẫn thấy vài nhà văn, nhà báo, hoạt động cộng đồng, truyền thông hải ngoại dùng đấy!

Hôm nay, chúng tôi xin chứng minh những chữ hiện nay bị gán là ‘chữ Việt Cộng,” mà thực tế, là những chữ từng có trong ngôn từ Việt Nam ít nhất cũng hàng trăm năm nay. Chúng được ghi trong các cuốn tự điển ra đời trước khi có Đảng Cộng Sản Việt Nam. Như cuốn Việt Nam Tự Điển của hội Khai Trí Tín Đức phát hành từ năm 1931 ở Hà Nội, Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh cũng ra đời từ năm 1931 ở Hà Nội, Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ ra đời ở Sài Gòn, Việt Hán Tự Điển của Huỳnh Minh Xuân - tái bản ở Sài Gòn năm 1963. Những tài liệu này thì không ai có thể gán là xuất xứ từ nước Việt Nam Cộng Sản được.

1. - Qui Hoạch 規 畫 là trù liệu, vạch ra kế hoạch - Qui Trình 規 程 là diễn trình được trù liệu.

Quy là (1) khuôn phép. Như quy tắc 規則, khuôn xử, lấy phép khuôn xử cho người khỏi sai lạc gọi là quy. (2) như quy gián 規諫 khuyên can, (3) cái lệ đã thành rồi, như lậu quy 陋規 cái lệ hủ lậu. Những chữ quen thuộc như ‘qui định, qui ước, qui tắc, lập qui, nội qui...’

Hoạch là (1) vẽ; vạch ra cho biết đến đâu là một khu một cõi gọi là hoạch; (2) mưu kế, như mưu hoạch 謀畫, kế hoạch 計畫.
Trình 程 cũng là khuôn phép. Như chương trình 章程, trình thức 程式 đều nghĩa là cái khuôn phép để làm việc cả. Trình còn nghĩa là kỳ hẹn, việc làm hàng ngày, đặt ra các lệ nhất định, tất phải làm đủ mới thôi gọi là định trình 定程 hay khóa trình 課程.

Chúng tôi xin mượn các định nghĩa trong các tự điển như sau:

· Tự điển Thiều Chửu định nghĩa Qui hoạch là vẽ mưu vạch kế.
· Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức định nghĩa Quy hoạch là trù tính cách thức. Ví dụ: Trước khi làm, nên quy hoạch đường lối (trang 1207).
· Việt Nam Tự Điển Tín Đức (trang 459) định nghĩa Qui hoạch là trù tính mưu kế. Ví dụ: Nhờ có người giỏi qui hoạch giúp.
· Việt Hán TĐ của Huỳnh Minh Xuân có cả hai chữ: Qui hoạch như qui hoạch thủy lợi; Qui trình như qui trình điều khiển (trang 661).
· Hán Việt TĐ của Đào Duy Anh (trang 612) ghi Qui hoạch là trù tính. Qui trình như chữ qui tắc (trang 613) là ‘chương trình và phạm vi để làm việc (regle, loi).

2.- Hộ khẩu 戶口 là số người trong nhà, Hộ Chiếu 護照 là giấy Thông hành.

Chữ Hộ 戶 là nhà cửa, là nơi ở, cũng là dân cư. Khẩu 口, có nghĩa đen là cái miệng; nhưng cũng còn dùng để tính dân số. Một người là nhất khẩu, một nhà là nhất hộ. Vì thế, Hộ gần với chữ ‘home’ hơn chữ “house” vì đó là nhà trong đó có những người cư trú.
Hộ 護 trong Hộ Chiếu có nghĩa là bảo vệ; Chiếu 照 là tờ giấy, văn bằng.

· Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Hùinh Tịnh Của trang 425 có định nghĩa Hộ khầu là đầu người, miệng ăn trong nhà.
· Việt Nam TĐ của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ định nghĩa Hộ Khẩu là ‘dân số, số người và nhà trong một thành phố, một tỉnh, một xã, vân vân. ” (trang 663)
· Hán Việt TĐ của Đào Duy Anh định nghĩa Hộ khẩu là số nhà và số người. (trang 312)
· Cũng Hán Việt TĐ của Đào Duy Anh định nghĩa Hộ chiếu là “giấy vi bằng để bảo hộ cho kẻ lữ khách hoặc hàng hóa di chuyển (laisser-passer, passe-port). Trang 312.
· Việt Hán TĐ của Huỳnh Minh Xuân (trang 371) có chữ Hộ khẩu với thí dụ: đăng ký hộ khẩu; Hộ chiếu, ví dụ: hộ chiếu công vụ, hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu thường.
· Việt Nam Tự Điển của Tín Đức (trang 245) định nghĩa Hộ chiếu là giấy thông hành.” Hộ khẩu là số nhà, số người, dùng để nói chung dân số: ví dụ: “Số hộ khẩu ở Hà Nội mỗi ngày một tăng.”
· Việt Nam TĐ của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ định nghĩa Hộ Chiếu là giấy thông hành (trang 633),

3.- Đề Xuất 提 出 là nêu ra – Đột Xuất 突 出 là hiện ra đột ngột

Đề 提 là nâng lên, nâng đỡ, phàm dắt cho lên trên, kéo cho tiến lên đều gọi là đề, đề huề 提攜 dắt díu, đề bạt 提拔 cất nhắc. Đề cũng là đưa ra, nêu lên.

Đột 突 là bất ngờ, thình lình, đột ngột.
Xuất 出 là ra ngoài; trái nghĩa với nhập là vào.
· Việt Hán TĐ của Huỳnh Minh Xuân có chữ Đề xuất ở trang 256 và Đột xuất ở trang 284.
· Việt Nam TĐ của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ định nghĩa Đề xuất là xuất trình một đề nghị, đưa ra, nêu lên ví dụ: Đề xuất một chủ trương. (trang 438). Ở trang 490, có chữ Đột xuất với định nghĩa “ra, chảy ra thình lình.” Thí dụ: Mồ hôi đột xuất.
· Hán Việt TĐ của Đào Duy Anh trang 217 có chữ ‘nghị án đề xuất’ (motion, preposition); và trang 253 có chữ ‘Đột nhập đột xuất’ với ví dụ: vào thình lình, ra thình lình.

Với những định nghĩa, phân tích, và chứng minh đầy đủ bằng những tài liệu khả tín, có giá trị; chúng tôi tha thiết mong quí vị bỏ đi cái thành kiến nặng tính phân biệt chính trị, mà không gán cho chúng nhãn hiệu ‘chữ Việt Cộng.’ Có một lần trên FaceBook, chúng tôi bị ném đá, bị gọi là tay sai bào chữa cho VC khi tôi chứng minh hai chữ Bức Xúc là có từ xa xưa. Thậm chí, sau khi trưng ra trang tự điển, họ còn nói: “Đã chắc gì tự điển là đúng!” Đến mức đó thì phải chào thua cho đỡ mất thì giờ tranh cãi. Dĩ nhiên, chúng ta là người Việt Quốc Gia, chúng ta phải dựa trên tài liệu, sách giáo khoa trước 1975 ở miền Nam làm tiêu chuẩn. Người hiện nay ở Việt Nam chỉ biết tài liệu mới của CS; thì lạ gì khi họ cho rằng con ‘rơi,’ thùng ‘giác,’ ‘rụng’ cụ... là đúng hơn con dơi, thùng rác, dụng cụ (những chữ này tìm thấy trong sách giáo khoa đấy!).

Như thế, thay cho qui hoạch, chúng ta có thể nói lập kế hoạch, chương trình, dự án; thay vì qui trình, chúng ta có thể nói: diễn trình, trình tự, chương trình, (đúng) cách, (theo) bài bản...

Thay cho hộ khẩu, chúng ta có thể nói gia cư; thay vì hộ chiếu, chúng ta có thể nói: thông hành.

Thay cho đề xuất, chúng ta có thể nói nêu ra, đề nghị; thay vì đột xuất, chúng ta có thể nói: bất ngờ, thình lình, đột nhiên...

Khi quí vị có thấy chữ nào lạ tai mà chưa có thì giờ tìm hiểu chính xác, thì có thể tìm những chữ khác quen thuộc đồng nghĩa mà sử dụng thay thế. Nhưng làm như thế, có phải là làm nghèo ngôn ngữ Việt Nam không?

Miền Nam ngày xưa không nói ‘đăng ký,’ mà dùng chữ ‘ghi danh, ký danh, đăng bạ, đăng bộ.’ Nhưng trong ví dụ của Tự Điển Huỳnh Minh Xuân, có chữ “Đăng ký Hộ khẩu” đấy; vậy xin chớ nói chữ này là của VC.

Quan trọng nhất là viết hay nói cho thật đúng với ý nghĩa của nó. Chữ thì nhiều, vấn đề là biết chữ nào trong trường hợp nào. Trong bài này, quí vị thấy có một chỗ tôi viết Quy với ‘y’ vì đó là chữ có sẵn trong tự điển Thiều Chửu. Các tự điển khác dùng ‘i’.

Đỗ Văn Phúc