Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

Bình Minh Xuân

 
Mưa trút nước trôi buồn viễn xứ
Góc trời xuân rạn ánh bình minh
Sau đông dài… tuyết rơi sương rụng
Ngày buốt lòng đêm buốt lạnh tim!


Thơ & Hình Ảnh: Yên Dạ Thảo

Không Thể Nào Quên

  

Không thể nào quên những ngọn đồi
Đã từng ghi dấu bước chân tôi
Mùa Hè rực lửa mùa chinh chiến
Đồi Gió,Tân Khai tiếng để đời.

Không thể nào quên bao chiến sĩ
Hy sinh vì nước máu xương phơi
Bình Long Hè đỏ, Xuân Xuân Lộc
Nghĩa địa hoang tàn bao lệ rơi.

Không thể nào quên những chiến công
Đã từng vang dội khắp non sông
Anh hùng tuẫn tiết đầy bi hận
Lịch sử phương Nam mãi ngậm ngùi.

Không thể nào quên người vượt biển
Biển Đông vùi xác mất tăm hơi
Sóng cuồng lớp lớp buồn tang chế
Tưởng nhớ linh hồn lạnh biển khơi.

Memorial Day, 2026
Đăng Nguyên

Mưa Tháng Năm

 

Trăng bây giờ vẫn giống trăng xưa
Bóng ngả liêu xiêu dưới gió mưa
Có người lữ thứ buồn viễn xứ
Dõi bóng thời gian lùa song thưa.

Ngắm ánh trăng tà thầm ước mơ
Quê hương vời vợi vẫn mong chờ
Cõi lòng chất chứa bao hoài bão
Trăn trở canh thâu lạc bến bờ.

Tháng năm mưa dầm ngỡ mưa ngâu
Thương quá ngày xưa giấc mộng đầu
Còn lại những gì trong ký ức
Tro tàn dĩ vãng bay về đâu.

Đêm trải hồn thơ thương nguyệt lạnh
Mưa dưới trăng hay trăng dưới mưa
Nhớ câu vọng cổ vùng quê ngoại
Đã mất hết rồi tiếng võng đưa.

25/5/26
Đỗ Minh Giang

Mừng Thi Tập Quê Hương,Tình Yêu & Kỷ Niệm


(Gửi tặng nhạc sĩ Trần Đại Bản)

Quê cũ còn vang tiếng mõ chiều
Hồn thơ còn đượm khói cô liêu
Huế xưa tím nhẹ dòng sông vắng
Kỷ niệm theo người suốt quãng yêu.

Trang sách mở ra tình cố xứ
Lời thơ chở nặng bóng quê nghèo
Xin mừng thi tập đầy tâm cảm
Một tấm lòng son với nước non.

Tế Luân

Tình Xưa

  

Anh đang về lại Phương Đông…
Hương xưa thuở ấy…đã bềnh bồng!
Hồn em vấn vương…trong mây gió
Tơ buồn…mờ ảo khắp núi sông!

Biết tìm đâu…giây phút ấm êm
Đèo cao, thác lủ…gập ghềnh!
Vì tình đời… đang phản bội…
Núi gào, biển thét…não nùng thêm!


Dáng cũ…giờ đây đã đổi thay!
Sơn son, trét phấn…dấu mặt mày…
Trao đổi những con tim rớm máu!
Dối gian, xảo quyệt…lắm chua cay!!

Tình riêng…ngập giữa gió mùa!
Màng đen phương Bắc… đã đong đưa
Chung vun xới…vườn hoa Dân Chủ
Ngọn đuốc Cam Ranh…sẽ khơi ngòi…

Nguyện cầu Thế Giới Bình an
Chân lý… phải thắng bạo tàn…
Xây lại Tình Chung…dang dở…
Lệ mừng…lật sổ…sang trang…

Tô Đình Đài

Ngày Xưa Hà Nội


 
Tôi là Bắc-kỳ chính cống nhưng lại mở mắt chào đời ở miền Trung khi bố tôi đổi ra làm việc ở Bến Thủy thuộc tỉnh Vinh. Nơi có núi Hồng Lĩnh thật đẹp và nổi tiếng, mà người ta thường gọi tắt là núi Hồng. Bố mẹ tôi đã lấy tên núi Hồng với Bến Thủy ghép lại để đặt tên cho tôi là Hồng Thủy. Tên tôi có nghĩa thật mơ mộng, hiền hòa, chứ không phải ghê gớm, hãi hùng như nạn lụt lội hồng thủy. Sau đó ít lâu, bố tôi đổi về làm việc ở Thanh Hóa. Do đó tôi lớn lên ở Thanh Hóa, nơi có hòn Vọng Phu, có hang Từ Thức, có chợ Rừng Thông, có Cầu Bố, Quán Mật nổi tiếng.

Gia đình tôi hồi cư về Hà Nội năm tôi 10 tuổi.Cảm giác đầu tiên khi đặt chân lên đất Hà Nội là tất cả đều mới lạ, huy hoàng, tráng lệ. Khác hẳn với Thanh Hóa đổ nát, xơ xác, hoang tàn vì bom đạn, vì chiến tranh tàn phá.
Hồi ở Thanh Hóa, tôi phải tản cư về làng Sơn Lương. Một làng nhỏ thật thơ mộng, với những dẫy núi đá xanh, những đồi hoa sim tím, nhưng cũng thật nghèo nàn, đơn sơ. Quanh năm chỉ thắp đèn dầu, không hề có điện, nên tôi chẳng bao giờ được nhìn thấy cục nước đá hay những que kem.
Ngày đầu tiên vừa đặt chân đến Hà Nội, tôi được ông anh họ dẫn ra tiệm kem Cát Thành, mua cho một cây kem dâu màu hồng.Tôi cầm cây kem, sung sướng ngắm nghía mãi, rồi mới thận trọng mút thật nhẹ. Tôi chậm rãi nhâm nhi để thưởng thức cái mát lạnh, thơm thật thơm của cây kem, cho đến khi ông anh phải nhắc:
- Em không ăn nhanh nó chảy ra hết bây gìờ.
Với tôi, đó là cây kem đầu tiên và cũng là cây kem ngon nhất trên đời.

Thời gian này, mẹ gửi anh em tôi ở với ông Nội để Mẹ vào Huế lo bán nhà. Ông bà ngoại tôi có một ngôi nhà rất lớn ở số 5 Đường Saigneau Huế, sau này đổi là đường Lý Thường Kiệt. Bây giờ họ đã phá ngôi nhà đầy kỷ niệm của gia đình tôi để xây thành HOTEL thật lớn, sang và thật đẹp.
Ông nội tôi là Thầy Lang Thuốc Bắc rất giỏi và mát tay. Ông mở tiệm thuốc bắc Tiền Vàng ở phố Hàng Bột, Hà Nội, gần Văn Miếu (Quốc Tử Giám) và Bích Câu Kỳ Ngộ.
Về Hà Nội tôi ghi tên đi học lại ngay ở trường Trần Hưng Đạo do GS Nguyễn Văn Toại (là thân phụ giáo sư Nguyễn Ðông Ngạc của trường Trưng Vương sau này). làm Hiêu Trưởng
Trường đối diện với Văn Miếu nên giờ ra chơi tôi thường cùng các bạn chạy sang Văn Miếu chơi đi trốn đi tìm.


Ngày nghỉ anh em tôi cùng vài người bạn hay thuê xe đạp nhỏ , đạp xe chạy lòng vòng chơi ở đường Cổ Ngư. Ðường Cổ Ngư là con đường rất thơ mộng ngăn giữa Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch , quanh năm suốt tháng rợp bóng mát vì những cây phượng vĩ và những cây bàng lớn trồng dọc suốt hai bên đường.
Chúng tôi hay vào chùa Trấn Quốc lấy cục đá to hơn nắm tay, cố đập dập những hột bàng, lấy nhân ở trong ra ăn thật là bùi. Tôi thích lòng vòng quanh quẩn ở hồ Trúc Bạch hơn là ra phía Hồ Tây, vì Hồ Tây lúc đó dưới mắt tôi nó rộng mênh mông như biển cả,làm tôi rất sợ bị chết đuối.
Trên đường về, chúng tôi thường ghé vào "Bích Câu Kỳ Ngộ "chơi. Ở đây phong cảnh rất đẹp. Không hiểu sao sau này nhân dịp về Hà Nội lo phần mộ cho bố tôi. Tôi không sao tìm được 'Bích Câu kỳ ngộ ' nữa. Hỏi rất nhiều tài xế Taxi cũng không ai biết tại sao một di tích thần thoại nổi tiếng như vậy mà có thể biến mất luôn.

Một kỷ niệm thời thơ ấu không thể quên là một hôm đi chơi ở đường Cổ Ngư. Tôi bị vạt áo dài quấn vào dây xích xe đạp làm tôi xém ngã, và bị rách nát cả vạt áo dài mới may. Tôi ngồi khóc
thút thít suốt cả buổi, vừa sợ bị mắng, vừa tiếc chiếc áo dài lụa màu vàng mơ Mẹ mới may cho
Nhắc tới kỷ niệm ở phố Hàng Bột khiến tôi nhớ đến cô bạn hàng xóm Dương Thị Nhị sau này định cư ở San Jose đã cùng tôi chơi nhảy dây, đánh chuyền. Cô bạn thời thơ ấu đó sau này cũng là
bạn đồng môn với tôi ở trường Trưng Vương. Nhưng rất buồn là bạn tôi qua đời đã mấy năm rồi.
Hồi đó, bọn trẻ tụi tôi mê nhất là món nước gạo màu trắng đục bán ở góc vườn hoa, gần chợ Con Bò của phố Hàng Bột. Nước gạo uống ngon và thơm thật là thơm. Tôi biết họ làm bằng gạo rang xay, thường gạo rang có mầu nâu nhưng không biết họ làm cách nào mà nước gạo lại có màu trắng đục như sữa loãng


Từ ngày rời Hà Nội, tôi không bao giờ còn được thưởng thức món nước gạo thật ngon đó nữa. Cuối tuần, tôi luôn luôn được Ông Nội cho đi ăn cơm thịt bò xào cải làn ở tiệm Ðông Hưng Viên
món ăn mà cho tới bây giờ ở tuổi già tôi vẫn còn rất thích. Có hôm còn được ăn bánh tôm ở quán Mụ Béo rất nổi tiếng gần bờ hồ Hoàn Kiếm. Ngoài ra còn được ăn Cơm tám giò chả và nem cua rán (chả giò) ở phố Hàng Bông cũng ngon tuyệt. Chủ Nhật tan lễ, Ông Nội còn dắt tôi đi Ăn phở Giảng ở phố Cầu Gỗ. Sau đó hay đi ăn kem dừa ở tiệm Hồng Vân gần Hồ Hoàn Kiếm. Nhưng Món quà rẻ tiền mà hấp dẫn trẻ con chúng tôi nhất lại là những quả sấu cắt khoanh tròn ngâm trong nước đường và gừng với cam thảo, sấu dầm ăn hoài không bao giờ chán, ăn đến phát đau bụng mới thôi. Buổi tối trời hơi lạnh mà được ăn lạc rang húng lìu của ông già người Tầu đi bán rong với tiếng rao khàn đục kéo dài "phàn xôi phá xa ..." thì không còn gì thích thú hơn.
Những món ăn đăc biệt của Hà Nội còn có cốm Vòng. Những hạt cốm dẹp màu xanh được bọc bởi những chiếc lá Sen xanh mướt. Cốm vòng ăn dẻo và thơm ngon vô cùng. Quà Hà Nội còn rất nhiều, tôi không sao nhớ hết được.
Tôi hay theo thím Diễn (vợ giáo sư Nguyễn Duy Diễn chuyên dạy Việt văn ở Hà Nội là chú ruột tôi) đi chợ Cửa Nam ở phố Sinh Từ gần nhà. Thỉnh thoảng Thím cũng dẫn tôi đi chợ Ðồng Xuân.
Luôn tiên dạo phố Hàng đào xem tơ lụa vải vóc.
Bố tôi chết sớm, tôi lại mới ở vùng Việt Minh trở về. Mẹ tôi phải đi Huế lo bán nhà để lấy tiền mua nhà ở Hà Nội. Không có mẹ ở gần, nên tôi được cả họ nội cưng chiều, dẫn đi đây đó.
Chủ Nhật nào ông nội cũng dẫn tôi đi lễ nhà thờ Ðức Bà ở gần Ngõ Huyện. Ði lễ xong là được đi ăn cơm Tầu hoặc ăn phở, ăn kem và đi dạo xung quanh hồ Hoàn Kiếm. Tôi thích đi bộ dán mắt vào tủ kính nhà hàng Godard để ngắm những bộ quần áo và nữ trang đắt tiền. Lạ một điều, tôi chỉ thích ngắm, nhưng không bao giờ mơ ước những bộ quần áo kiểu cọ đó.


Hình ảnh tôi mê nhất vẫn là những cô gái Hà Nội mặc áo dài, được trang điểm thêm bằng những chiếc khăn quàng mỏng đủ màu, nhẹ nhàng, phất phơ trong gió.
Những phim tôi thích nhất thời đó, không phải là phim ngoại quốc mà là hai phim Việt Nam rất người lớn. Phim“Bến Cũ” và “Giá Hạnh Phúc” do Liên Hương, Bích Ngà và Hoàng Vĩnh Lộc (nếu tôi không nhớ nhầm) thủ vai chính.
Dù còn bé, tôi đã biết thưởng thức nhạc và rất thích bài hát “Bến Cũ” có trong phim.
Tầu điện cũng là một hình ảnh của Hà Nội rất quen thuộc với tôi, vì tầu điện chạy qua lại nhà ông nội tôi mỗi ngày. Thỉnh thoảng tôi cũng được đi tầu điện. Tôi không thể quên ông già chuyên môn quảng cáo bán thuốc ho Bà Lang Trọc và thuốc Hồng Nhi tán Ông Tiên trên tầu điện. Tiếng rao hàng đặc biệt của ông ấy luôn làm tôi cười ngặt nghẽo.

Tôi vừa thi đỗ tiểu học xong, thì hiệp định Genève chia đôi đất nước. Gia đình tôi dọn xuống Hải Phòng trong lúc CS sắp tiếp thu Hà Nội. Mẹ tôi có một ngôi nhà ở Đường Bonnal HẢI PHÒNG nhìn ra con sông trước mặt với hàng cây phượng vĩ đầy hoa đỏ thắm và có cây cầu đưa mọi người trong khu phố tôi ở đi chợ SẮT ở phía bên kia sông.
Ở Hải Phòng một thời gian ngắn, thì chúng tôi phải giã từ đất Bắc, di cư vào Nam, làm quen với miền mưa nắng hai mùa.


Thời gian đầu ở Sài Gòn, tôi nhớ Hà Nội da diết. Nhớ hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, Hồ Trúc Bạch. Nhớ những hàng cây đầy hoa Phượng đỏ thật đẹp và con đường Cổ ngư với bao kỷ niệm. Nhớ trường Trần Hưng Đạo với những tình cảm thơ ngây không thể nào quên . Nhớ những giờ ra chơi quanh quẩn bên những con rùa khổng lồ làm bằng đá xanh xám ở Văn Miếu mang bảng tên các Tiến sĩ , ông nghè, ông cống thuở xưa . Buồn cười là không nhớ ai xúi mà trước khi đi thi Tiểu học chúng tôi đã rủ nhau vào Văn Miếu xoa vào các đầu rùa để lấy hên. Nhớ cả khu "Bích Câu Kỳ Ngộ "mà bây giờ bỗng dưng bị biến mất thật lạ kỳ. Hai món quà đặc biệt tôi nhớ nhất và chẳng bao giờ được thấy ở miền Nam là nuớc gạo và sấu dầm. Hai món tủ của thời thơ ấu.

Tôi ở Hà Nội có hơn hai năm, nhưng tình với Hà Nội thì lại quá tràn đầy. Bởi Hà Nội cho tôi toàn những kỷ niệm thật đẹp. Hà Nội chào đón tôi với đầy tình thương, với tất cả sự nuông chiều. Với những ngày tháng thật vô tư sung sướng. Hà Nội Và tôi như một cặp tình nhân mới yêu nhau. Tình đang nồng thắm đã phải chia lìa. Hỏi sao tôi không nhớ, hỏi sao tôi không thương, dù Hà Nội đã nghìn trùng xa cách.

Hồng Thủy


Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài 早寒江上有懷 - Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然 (Thịnh Đường)


Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然 (689-740) tên Hạo, tự Hạo Nhiên, hiệu Mạnh sơn nhân 孟山人, người Tương Dương (nay là huyện Tương Dương tỉnh Hồ Bắc), cùng thời với Trần Tử Ngang.

Ông từng làm quan, nhưng ông không thích hợp với đám quý tộc lạm quyền, nên rất thích nơi nhàn cư. Ông lui về ở ẩn, tìm lấy đời sống tao nhã ở Long Môn quê nhà và trong cuộc du ngoạn ở những nơi xa, khắp vùng đất. Ông đi nhiều, thấy nhiều, mạch thơ đầy ắp những khí chất hồn hậu của thiên nhiên núi sông diễm lệ, hợp với tâm hồn trong sáng của mình.

Ông để lại 260 bài thơ. Có thể gọi thơ ông là thơ sơn thuỷ được. Thơ năm chữ của ông luật lệ nghiêm cách, phóng khoáng, hùng tráng, rất nổi tiếng.

Hôm nay thuyền ta đậu trên sông Tương. Quê đất Sở của ta quá xa vời, chim bay mỏi cánh cũng chưa tới. Thuyền thì đơn độc. Người cũng đơn côi. Sông hồ thì mênh mông như biển. Sóng lại nhăn mặt. Tuy đã thoát tục nhưng vẫn nhớ nhà. Đó là tâm trạng của Mạnh Hạo Nhiên, đi hoang trong một đêm trời trở lạnh sớm trên sông Tương (con sông buồn).

Nguyên tác      Dịch âm

早寒江上有懷 Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài

木落雁南渡 Mộc lạc nhạn nam độ,
北風江上寒 Bắc phong giang thượng hàn
我家襄水曲 Ngã gia Tương thủy khúc,
遙隔楚雲端 Dao cách Sở vân đoan.
鄉淚客中盡 Hương lệ khách trung tận,
孤帆天際看 Cô phàm thiên tế khan.
迷津欲有問 Mê tân dục hữu vấn,
平海夕漫漫 Bình hải tịch man man.

Dịch nghĩa

Lá cây rụng, nhạn bay về nam
Gió bắc trên sông gây lạnh
Nhà ta ở cách đây một khúc sông Tương
Cách xa nước Sở cả một đường mây bay
Nước mắt nhớ quê khô cạn trên đất khách
Nhìn cánh buồm cô đơn ở chân trời
Mịt mùng (không biết đâu là bờ bến); muốn hỏi lối về
(mà) Chỉ thấy biển chập chùng mênh mông

Dịch thơ

Hoài Cảm Lạnh Sớm Trên Sông


Nhạn xuôi Nam lá đổ,
Sông lạnh bởi heo may.
Khúc sông Tương ta ở,
Cách Sở đường chim bay.
Nhớ quê khô mắt lệ,*
Buồm đơn côi chân mây,
Hỏi đâu là bờ bến,
Biển mênh mông chau mày.

*Người già rất ít lệ, chỉ khóc một lát là khô nước mắt. Ngày xưa Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê cũng giống như vậy: ….Tuổi già hạt lệ như sương, Hơi (sức) đâu ép lấy hai hàng chứa chan.

- Câu 1:

Lá rụng nhiều. Nhạn bay về Nam trốn lạnh,
- Câu 2:
Gió heo may lạnh thổi trên sông.
- Câu 3:
Nhà ta ở cách chỗ ta đang đậu thuyền một khúc sông Tương,
- Câu 4:
(có nghĩa là ta còn) Cách Sở một đường chim bay mỏi.
- Câu 5:
Nhớ quê khóc khô nước mắt,
- Câu 6:
(cảm nỗi cô đơn) với cánh buồm đơn côi nơi chân trời,
- Câu 7:
(Ta muốn) Hỏi đâu là bờ bến?
- Câu 8:
Câu cuối cần dịch theo nghĩa của toàn bài hơn là theo nghĩa của từng chữ trong câu: Biển mênh mông chau mày.

Con Cò

***
Đi Trên Sông Cảm Thấy Lạnh.

Nhạn về nam lá rơi,
Sông lạnh bấc tơi bời,
Nhà cách sông Tương nổi,
Sở xa đường mây trôi.
Nhớ quê hương cạn lệ,
Nhìn cánh buồm chân trời.
Muốn hỏi đâu bờ bến,
Chiều tà lặng biển khơi.

Song Thất Lục Bát.

Chim trốn rét xuôi nam lá trút,
Bấc lạnh sông hun hút thê lương.
Cách nhà cả khúc sông Tương,
Sở xa biền biệt một đường mây trôi.
Người đất khách lệ rơi khô mắt,
Nhìn buồm côi hiu hắt chân trời.
Bến bờ muốn hỏi đâu nơi?
Mênh mông biển lặng trùng khơi chiều tà.

Mỹ Ngọc.
May 16/2026.
***
***
Lạnh lẽo trên sông

Lá rơi chim nhạn bay về
Trên sông gió bấc não nề lạnh thay
Nhà ta cuối khúc Tương này
Cách xa nước Sở đường mây rã rời
Lệ sầu cạn kiệt quê người
Buồm cô trông ngóng cuối trời xa xăm
Bến mê những muốn hỏi thăm
Mênh mông như biển, lặng câm chiều tà!

Thanh Vân
***

Rét sớm trên sông nỗi nhớ

Nhạn xuôi nam lá rụng
Gió bấc lạnh trên sông
Ta ở bến Tương khúc
Sở mây cách vạn trùng
Lệ sầu khô đất khách
Cuối đất buồm cô trông
Muốn hỏi bến mê đó
Biển êm tối mịt mùng!

Lộc Bắc
***

Mộc lạc anh Giám đã giải thích, và hỏi tại sao không dùng chữ Diệp cho dễ hiểu. Anh Tâm và anh Giám còn tìm hiểu xem bài thơ làm năm nào, lúc đó Mạnh ở đâu… đọc cũng vui, nhưng dịch thì cứ dịch, tôi chắc đại đa số không thắc mắc về những vấn đề đó.
Tác giả dùng MÊ TÂN là chữ nhà Phật, là BẾN MÊ, để chỉ cuộc đời, nhờ Phật dẫn dắt mà mình tới bến thật..

Bài thơ tả cảnh mùa thu, lá rụng, nhạn thiên di bay về nam, và gió bắc đã lạnh… Tác giả ở cạnh sông Tương, nhìn về quê không thấy vì mấy đám mây che, tình hoài hương làm ông khóc tới cạn nước mắt, trên sông chỉ có cánh buồm cô đơn ở cuối chân trời. Tác giả muốn hỏi về mê tân, có lòng tìm Phật, nhưng chỉ thấy biển chiều êm ả và mênh mông, không sao tìm thấy bến.

Cảm Xúc Khi Lạnh Sớm Trên Sông  

Lá rụng, nhạn xuôi nam,
Trên sông gió lạnh lùng,
Nhà ta nơi Tương khúc,
Mây vần Sở khó trông,
Nhớ quê dòng lệ cạn,
Buồm lẻ cuối trời dong,
Bến mê lòng muốn hỏi,
Chiều biển lặng mênh mông.

Bát Sách.
(Ngày 19/05/2026)
***

Nguyên tác: Phiên âm: Dịch thơ:

早寒江上有懷 Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài

-孟浩然 - Mạnh Hạo Nhiên Cảm Xúc Trên Sông
木落雁南渡 Mộc lạc nhạn nam độ Lá rụng nam nhạn bay,
北風江上寒 Bắc phong giang thượng hàn Gió bấc sông lạnh thay.
我家襄水曲 Ngã gia Tương thủy khúc Nhà ta trên sông Hán*,
遙隔楚雲端 Dao cách Sở vân đoan Đất Sở cách ngàn mây.
鄉淚客中盡 Hương lệ khách trung tận Khách sầu tuôn cạn lệ,
歸帆天際看 Quy phàm thiên tế khan Thuyền về ghé bờ đây.
迷津欲有問 Mê tân dục hữu vấn Lạc bến mong hỏi lối,
平海夕漫漫 Bình hải tịch man man Chiều xế biển khói đầy.

*Núi Lộc Môn, Tương Dương, Hồ Bắc quê hương của Mạnh Hạo Nhiên nằm trên sông Hán.

Bài thơ có mộc bản trong các sách:

Mạnh Hạo Nhiên Tập - Đường - Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然集-唐-孟浩 然
Quốc Tú Tập - Đường - Nhuế Đĩnh Chương 国秀集-唐-芮挺章
Đường Thi Kỷ Sự - Tống - Kế Hữu Công 唐诗纪事-宋-计有功
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石仓历 代诗选-明-曹学佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 诗-清-圣祖玄烨

Giải nghĩa các chữ khó:

Tảo hàn: đầu mùa lạnh, chớm lạnh.
Mộc lạc: lá cây rụng.
Tương Thủy khúc: Khúc quanh của sông Tương
Sở vân đoan: nơi tận cùng của đám mây trên đất Sở (vùng Tương Dương xưa thuộc nước Sở).
Hương lệ: nước mắt nhớ quê hương.
Khách trung: trong cảnh sống nơi đất khách quê người.
Quy phàm: cánh buồm trở về.
Thiên tế: chân trời.

Mê tân: lạc bến đò, bến nước mê mờ, bến sông lạc lối, không tìm được đường qua sông. Điển tích xuất phát từ sách Luận Ngữ. Khi Tử Lộ hỏi đường qua sông, hai nhà ẩn sĩ Trường Thư và Kiệt Nặc đã trả lời đầy ngụ ý rằng thiên hạ đều đang trong cảnh loạn lạc, ai cũng đang lạc lối, cần gì phải hỏi bến sông làm gì. Nghĩa bóng chỉ sự lạc lối, hoang mang trên đường đời, trạng thái u mê, chưa giác ngộ về tâm linh.

Bình hải: mặt biển phẳng lặng, ở đây chỉ mặt sông rộng mênh mông như biển.
Tịch man man: cảnh chiều tà mờ mịt, bao la vô tận.

Dịch nghĩa bài thơ:

Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài

Cảm Xúc Trên Sông Vào Đầu Mùa Lạnh

Mộc lạc nhạn nam độ
Lá cây rụng, chim nhạn bay về phương nam,
Bắc phong giang thượng hàn
Gió bấc thổi trên sông lạnh buốt.
Ngã gia Tương thủy khúc
Nhà của tôi ở cách đây một khúc sông Tương,
Dao cách Sở vân đoan
Cách xa nơi tận cùng của đám mây trên đất Sở.
Hương lệ khách trung tận
Nước mắt nhớ quê đã cạn trong cảnh tha hương,
Quy phàm thiên tế khan
Nơi chân trời xa, chỉ thấy những cánh buồm đang quay về.
Mê tân dục hữu vấn
Muốn hỏi thăm tìm lối đi trong cuộc sống,
Bình hải tịch man man
Nhưng trời chiều đã buông xuống, mặt biển/sông mênh mông mờ mịt.

Bình luận:

Mạnh Hạo Nhiên nửa đời đầu sống ẩn dật tại Lộc Môn Sơn, quê nhà Tương Dương. Năm 40 tuổi, ông lên kinh đô Trường An thi tiến sĩ nhưng không đậu. Sau đó, ông chu du khắp vùng Giang Nam, sống cuộc đời của một vị khách tha hương. Theo trang Sưu Vân, bài thơ Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài được sáng tác năm 726 khi Mạnh Hạo Nhiên đang ở Vũ Hán vùng sông nước Giang Nam, xa cách quê hương Tương Dương hơn 300km về hướng đông nam. Nếu thật sự bài thơ được làm sau khi ông thi rớt, lúc đó ông đã 40 tuổi, thì niên đại bài thơ có thể phải là 728.

Bài thơ ra đời vào một buổi xế chiều đầu mùa đông (tảo hàn). Cảnh tượng thiên nhiên tiêu điều (lá rụng, gió bấc, nhạn bay về nam) đã khơi dậy nỗi cô đơn và sự bế tắc của nhà thơ sau những thất bại trên con đường công danh.

Bài thơ mượn cảnh sắc mùa thu muộn, đông chớm để bày tỏ nỗi lòng cô đơn, nhớ quê hương da diết của kẻ tha hương. Bài thơ là một bức tranh phong cảnh nhuốm màu tâm trạng, thể hiện sâu sắc hai nỗi niềm: tình yêu quê hương và sự bế tắc trước cuộc đời. Hai câu cuối thể hiện tâm trạng hoang mang, bế tắc của tác giả trước cuộc đời khi chưa/không tìm được hướng đi cho sự nghiệp.

On the River in Early Cold, Harboring My Feelings by Meng Haoran

Leaves are falling, and the wild geese are flying south.
The north wind blows over the river, bringing a bitter cold.
My home is located at a bend of the Xiang River,
Far away, separated by the distant clouds of the old Chu land.
Tears of homesickness have run dry during my time as a traveler,
I watch the returning sails on the horizon.
I want to ask for directions at this lost ferry crossing,
But the river is vast like a flat sea, and the evening mist stretches endlessly

Phí Minh Tâm
***.
"Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài 早寒江上有懷 " của Mạnh Hạo Nhiên còn có một tựa nữa là "Tảo Hàn Hữu Hoài 早寒有懷". Bài thơ "Ngũ Ngôn Luật Thi" nầy được Mạnh Hạo Nhiên sử dụng những từ rất độc đáo và rất đặc biệt. Ta hãy tìm hiểu lại các từ nầy xem sao....

早寒江上有懷 Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài

木落雁南渡, Mộc lạc nhạn nam độ,
北風江上寒。 Bắc phong giang thượng hàn.
我家襄水曲, Ngã gia Tương thuỷ khúc,
遙隔楚雲 端。 Dao cách Sở vân đoan
鄉淚客中盡 , Hương lệ khách trung tận,
孤帆天際看。 Cô phàm thiên tế khan.
迷津欲有問, Mê tân dục hữu vấn,
平海夕漫漫。 Bình hải tịch man man.
孟浩然 Mạnh Hạo Nhiên

* Chú Thích :
Cảm xúc trên sông khi trời lạnh sớm.

1. Mộc Lạc : là CÂY RỤNG, ta biết là Cây không thể rụng được, vì trong tiếng Hoa và tiếng Việt ta không có Thể Thụ Động (Passive voice) , nên ở đây phải hiểu là : Cây bị rụng hết lá vì trời đã cuối thu. Ở đây chỉ những loại cây thuộc "Lạc diệp kiều mộc 落葉喬木" là loại cây có thân cao to và lá sẽ vàng rụng vào mùa thu.

2. Nhạn Nam Độ : Sao không nói là Nhạn Nam PHI 飛 mà nói là Nhạn Nam ĐỘ.渡, Thì ra ĐỘ ở đây có ba chấm thủy chỉ đi ngang qua sông hồ ao biển. Vì tác giả đang ở trên sông, nên nhìn thấy chim Nhạn bay ngang qua sông đi về hướng Nam. 3. Giang Thượng : là Trên sông, xác định lại một lần nữa là Tác giả đang đi thuyền trên sông.

4. Tương Thủy : 襄水 Tương Thủy nầy khác với Tương Giang 湘江 mà ta thường hay nhắc tới là : Quân tại Tương giang đầu, Thiếp tại Tương giang vĩ... Tương Thủy nầy chảy ngang qua phía Nam thành Tương Dương nên nay được đổi tên thành Nam Cừ. Nhà của Mạnh Hạo Nhiên ở Lộc Hành Sơn, mao lư của ông nằm ở chỗ uốn khúc (voi hay vịnh) của dòng Tương thủy. Nhập giang tùy KHÚC là chữ KHÚC nầy đây.
5. Vân Đoan : Đoan là ngay ngắn( Đoan chính ), là đầu, là đầu mối (chấp kỳ lưỡng đoan 執其兩端 : Giữ lấy 2 đầu), là Bưng, là Lý do... Ở đây VÂN ĐOAN là Trong đám mây, ngay cái đám mây đó đó...
6. Hương Lệ : Không phải là giọt lệ của quê hương , mà là giọt lệ rơi vì thương nhớ quê hương.
7. Thiên Tế : là đường chân trời (Horizon). Ta có thể hiểu là Góc trời, Bên trời gì cũng được.
8. Mê Tân : Tân là Bờ, là Bến. Mê Tân ta quen gọi là Bến Mê (Bọt trong bể khổ bèo đầu Bến Mê). Nhưng ở đây chỉ Bến bờ mờ mịt không biết nơi đâu.
9. Bình Hải : là Mặt biển bằng phẳng ?. À, thì ra ngày xưa phương tiên giao thông thô sơ, trên chiếc thuyền nhỏ nhìn ra sông lớn, cũng chỉ thấy trời nước mênh mông, nên gọi là Bình Hải, chớ không có biển gì ở đây cả !
10. Tịch : là Đêm (Thất tịch, Trừ tịch ). là Buổi chiều, là Hoàng hôn : Tịch Dương là Nắng Chiều. TỊCH MANG MANG là Chiều xuống mênh mông, là Hoàng hôn phủ đầy bầu trời.
Ta thấy Mạnh Hạo Nhiên toàn dùng những từ rất lắc léo, rất đặc biệt và sử dụng cả những biện pháp Tu Từ, Mỹ từ Pháp rất mới đối với lúc bấy giờ.

* Dịch Nghĩa :
Cảm xúc trên sông khi trời lạnh sớm.

Ngồi trên thuyền nhìn lên hai bên bờ, thấy cây đều đã rụng hết lá, nhìn lên bầu trời lại thấy đàn chim nhạn bay ngang sông để về Nam. Gió bấc về làm lạnh cả dòng sông, nhà ta ở mãi tận khúc quanh của dòng Tương Thủy, cách trở xa xôi như đám mây Sở xa xa kia. Giọt lệ nhớ quê nơi đất khách đã hầu cạn rồi, nhưng chỉ thấy được có cánh buồm đơn lẻ ở phía chân trời. Nếu có muốn hỏi nơi đâu là bờ bến thì cũng không biết nơi đâu trước cảnh mịt mù của buổi hoàng hôn đang phủ trùm trong sóng nước mênh mông nầy.

* Diễn nôm:

Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài

Lá rụng nhạn xuôi nam,
Trên sông gió lạnh tràn.
Nhà ta bên Tương Thủy,
Cách trở Sở mây ngàn.
Nhớ quê dòng lệ cạn,
Buồm nhỏ trôi mênh mang.
Bến mê như có hỏi,
Sông nước chiều thênh thang !

Lục bát:

Lá rơi nhạn hướng về nam,
Ù ù gió bấc lạnh tràn trên sông.
Tương Giang quê cũ vời trông,
Ngẩn ngơ mây Sở cách ngăn mấy lần.
Nhớ quê dòng lệ cạn dần,
Buồm côi đơn lẻ chiếc thân u hoài.
Bến mê như muốn hỏi ai,
Mênh mông sông nước cho dài hoàng hôn!

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức
***
Góp ý của Huỳnh Kim Giám

..cần dịch theo nghĩa của toàn bài hơn là theo nghĩa của từng chữ trong câu
Đã đành dịch thì phải làm sao cho hợp ý toàn bài nhưng nếu ý trong câu cuối này phản với ý toàn bài thì nên dịch thế nào nhỉ?

Người viễn khách lạc vào bến mê, có thể vì đã chọn lầm đường hay đi lạc hướng. Rất tiếc rằng ta chẳng biết gì nhiều về cuộc đời của Mạnh Hạo Nhiên để có thể biết hoàn cảnh nào đưa đẩy một người sống hầu như suốt đời ở Hồ Bắc lại có vẻ đang lâm vào tình cảnh của những bạn bè đang sống kiếp lưu đày ở sông Tương xứ Hồ Nam, đứng bên sông nhìn lá rụng và nhạn xuôi Nam lúc cuối thu, và nhớ quê hương. Nhưng quê hương này là ở đâu? Trong câu 遙隔楚雲端 (Dao cách Sở vân đoan): Sở là tên của nước Sở, và Vân là một tên cổ của ... Sở; 楚雲端 (Sở vân đoan) có thể hiểu là biên giới của nước Sở. Địa phận của Sở ngày xưa gồm cả Hồ Bắc lẫn Hồ Nam thì ngoài lúc họ Mạnh đi Tràng An và gặp Vương Duy thì hình như rằng ông ta chưa hề ra khỏi đất Sở, tại sao lại có chuyện đứng trên bờ sông Tương hay gần biển mà nhớ nhà!

平海夕漫漫 (Bình hải tịch mang mang): Biển phẳng lờ mênh mông cho người đọc cái cảm tưởng rằng tâm tình của thi sĩ không tạo ảnh hưởng gì đến biển, hay không được phản ảnh trên biển thế thì làm sao mà biển chau mày, trừ khi biển muốn nói rằng nhà ngươi đặt câu hỏi vô ... duyên. Đang ở trên bến mê sao còn mê muội hỏi chuyện ... bến bờ thay vì hỏi làm sao mà tìm lối thoát. Đây chưa kể sự kiện rằng sông Tương chỉ là một phụ lưu bên hữu ngạn của Trường Giang và cách xa biển hàng trăm cây số, không có cách gì mà thấy được biển!

Bài thơ này làm tôi nhớ đến thân phụ tôi. Ông cũng thích làm thơ, và làm bạn với vài thi sĩ, nam lẫn nữ có tiếng tăm một thời nhưng thằng con út đọc thơ của ông không rung cảm được, và có thể đó là một lý do tại sao nó không thích làm thơ. Cho dù cha tôi chưa hề ra Bắc, chưa hề thấy tuyết, thơ của ông cũng có tuyết băng trong đó. Tôi có cảm giác rằng đôi khi Mạnh Hạo Nhiên cũng làm thơ như thế vì tôi không làm sao hình dung được một người ở trên quê cha đất tổ của ta, không bị lưu đày mà lại làm thơ nhớ quê hương và tả một cảnh biển cách nơi ta ở hàng trăm cây số!

@ ý kiến của Phí Minh Tâm:

Bài thơ Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài được sáng tác năm 726 khi Mạnh Hạo Nhiên đang ở Vũ Hán vùng sông nước Giang Nam, xa cách quê hương Tương Dương hơn 300km về hướng đông nam. Câu 5 - Hương lệ khách trung tận: Nước mắt nhớ quê đã cạn trong cảnh tha hương – không phải vì không còn đau buồn, mà vì đã khóc quá nhiều trong những ngày dài lưu lạc.

Bài thơ thường là một sáng tác văn chương, nên thường không sát với thực tế. Hai câu thực: Ngã gia Tương thủy khúc: Nhà của ta ở khúc quanh sông Tương, Dao cách Sở vân đoan: Cách xa nơi tận cùng của đám mây trên đất Sở, trên phương diện văn chương không có gì sai vì thời Đường, người ta đôi khi nhắc chung trong thi phú vùng Sở–Giang Nam. Trong thực tế, Tương Dương nằm trong vùng sông Hán ở Hồ Bắc trong khi sông Tương chảy qua Hồ Nam vào Động Đình Hồ ở phía nam cách nhau gần 500km. Tương thủy khúc không thể là nơi có nhà của Mạnh ở Tương Dương được!

Câu kết Mê tân dục hữu vấn: Muốn hỏi thăm tìm bến đò bị lạc. Dịch theo nghĩa đen như thế cũng xong. Nhưng liệu có phải là ý của thi nhân hay không? Hiểu ý và suy nghĩ của thi nhân ngày nay thật khó. Ta có thể làm ngược lại là hiểu ý nghĩa câu thơ để suy diễn hoàn cảnh của thi nhân. Mê tân là một điển tích, một ẩn dụ nói lên tâm trạng cô đơn lạc lõng và hoàn cảnh bế tắc của thi nhân khi thi rớt phải rời Trường An.

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2026

Nhớ Về Hà Nội - Thơ: Trần Nhất Lang - Nhạc: Nguyễn Tuấn - Trình Bày: Duy Linh

Thơ: Trần Nhất Lang
Nhạc: Nguyễn Tuấn
Trình Bày: Duy Linh

Thiên Đường Mùa Thu

 

Rất yêu mùa thu nhưng dường chưa đủ
Thiếu người bên cạnh mất quyến rũ riêng
Lá vàng lên! Thắp sáng khoảng trời êm
Là giây phút thu chuyền thêm nhựa sống

Gom lá rơi đan nền yêu nhung mộng
Gọi mây hồng lừng nhạc giữa trời mơ
Người sẽ tới mang hương ngào ngạt
Dẫn hồn đi lạc tận cõi đâu đâu

Yêu mùa cánh nâu nhưng dường chưa đủ
Dài mong chờ biết nếm thú thương đau
Là đìu hiu ngập hết những con đường
Người sẽ đến hay vẫn hoài công đợi

Ngàn lá hỡi phải thu mùa bối rối
Ửng sắc màu thay mới những tàng cây
Trong quạnh vắng âm đầy lời tình tự
Từng bước thầm gọi nhỏ đến tìm nhau

Rất yêu thu biết dường nào cho đủ
Nắng nồng nàn ấp ủ gốc trời riêng
Giá có người một chút để làm duyên
Người bên cạnh thiên đường thu rộng mở

Chờ!

Kim Phượng

Úc Châu Những Ngày Cuối Thu

Tình Trăng - Mình Trăng


1/ 
Xướng:

Tình Trăng

Trăng ai căng nhựa tình tơ
Cho tôi dệt võng gối mơ mộng chờ
Âu lo cửa sổ khép hờ
Lỡ đêm qua vội trăng vờ đừng đi​

Kim Oanh
***
Họa: 
 
Mình Trăng

Trăng ơi! se mấy sợi tơ
Để ta dệt áo lụa thơ mong chờ
Ấu ơ... sao cứ hững hờ?
Đế đêm Trăng Lạnh u mờ lối đi...

2/
Xướng:

Hỏi Người

Có những đêm Trăng một mình
Dòng suy nghĩ ừ cái tình không nợ
Lấn cấn hoài ôi cắc cớ
Buông nhẹ lòng hay trăn trở đời nhau?

Kim Oanh
***
Họa: 

Có Những Đêm Trăng

Có những đêm Trăng giật mình
Nằm nuối tiếc mối Duyên tình chẳng Nợ
Lẩm cẩm chia tay vô cớ
Hàn gắn lại hay ơ hờ xa nhau?

Vô Nhiễm

Mai Mốt

 

Mai mốt em về thăm anh không
Hay là mãi mãi lệ đá đông
Nghìn sau điên đảo đời xa lạ
Mây hết cao xanh nắng hết hồng

Tuyết sẽ phủ đầy những lối rêu
Chỗ ngồi chỗ đứng hết hương yêu
Những lời tình tứ thành mưa gió
Trời đất giận lây đến nắng chiều

Dấu cỏ hơi sương cũng hững hờ
Còn ai đọc sách ai quay tơ
Nhà không còn dấu vườn đâu mất
Bến vắng sông khô khói mịt mờ

Ai sẽ lang thang qua lối nầy
Lẽo đẽo theo hoài nhặt hương bay
Bao nhiêu hương sắc thành hư ảo
Để bước si tình thêm đắng cay

Ngày đêm lẫn lộn chân ngược xuôi
Nửa tỉnh nửa mê khóc lẫn cười
Đi ở không xong về không được
Thân xác hình như chẳng giống người

Anh sẽ đi trong mắt em buồn
Tìm em đếm kỹ lại ngàn thương
Bao nhiêu duyên nợ còn mang nặng
Sao chẳng chờ nhau chẳng chỉ đường

Anh cũng không còn anh nữa đâu
Nếu em không kịp trở về mau
Hôn anh một chút yêu một chút
Tha thiết tuyệt vời trong chiêm bao…

MD 04/04/04
LuânTâm
(Trích trong Tuyển Tập Thơ Quốc Gia Hành Chánh ,
Cơ Sở Hoài Bão Quê Hương xb,CA,USA.2005,tr.143-144)

Một Thoáng Hà Nội


(Thân mến tặng: Hồng Thuỷ, chị Tuệ Nga
Lê thị Ý, và Nguyễn thị Ngọc Dung )

Hà Nội xa xôi giờ thức, ngủ
Em đang nhung nhớ một người đây
Cửa Ô ai đóng, chờ ai mở
Không có ai ngoài gió với mây

Anh đứng đợi em, hay thả mộng
Mộng là thơ chắp cánh tung bay
Em thường thả mộng, nên em đứng
Ngóng gió đưa mây tới chốn này

Em không về nữa, không về nữa
Lá “ cây cơm nguội “ đã bay xa
Đầy trời “ hoa sữa “ đang buồn bã
Nước mắt vừa rơi trước cửa ga

Mặc niệm tuổi thơ trong chốc lát
Rời Ô Quan Chưởng đi tha phương
Ngày xưa Hà Nội giờ tan nát
Làm tuổi thơ em nhuốm đoạn trường …

Cao Mỵ Nhân
Chú thích : Hanoi vẫn còn cây cơm nguội và hoa sữa ngày xưa - Mã Số của Mỵ .


Tháng Năm, Nhớ Tuổi Hoa Niên


Anh Thọ với tôi ở cùng xóm với nhau, nhà cách nhau vài căn. Trên anh có hai người anh và một người chị, dưới thì có hai cô em gái cùng trang lứa với Hương, em của tôi. Hương thường chạy qua chạy lại chơi với em gái của anh rất thân tình.

Quen nhau từ nhỏ tới lớn, tôi coi anh như người bạn, hay gần hơn nữa là một người anh. Mỗi khi đụng mặt nhau ở nhà anh hay ngoài đường, chúng tôi nói chuyện rất tự nhiên như người nhà, không ngượng ngùng e lệ gì cả. Nhưng lúc sau này, không biết anh nghĩ sao về tôi mà một ngày gần cuối tháng năm, Hương qua nhà anh chơi về thì Hương đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ xíu xếp làm tư như cái phiếu bắt thăm, nói anh Thọ gởi cho chị. Tôi lấy làm lạ nghĩ anh này bữa nay sao lạ vậy, chuyện bí mật gì đây chớ thường chỉ nói miệng thôi mà, đâu có cái chuyện viết giấy nhắn tin như vầy. Tôi mở ra xem thấy mảnh giấy chỉ vừa vặn một câu "nghe Hương nói Kim mê đọc sách lắm hả, vài bữa nữa bãi trường, anh Thọ đi thư viện mượn sách cho Kim đọc mệt nghỉ, chịu hông?".

Nghe nói có sách đọc, tôi mừng húm trả lời liền "chịu chớ sao hông. Mà sao anh không nhắn Hương về nói lại, viết chi cho hao mực tốn giấy của anh? Bộ nhà anh hết giấy, không tìm ra miếng nào lớn hơn nữa hả, chơi gì như con nít, làm Kim mắc cười quá đi" .

Ngày kế tiếp, cũng lại mạnh giấy nhỏ xíu xìu xiu, nhưng hôm nay anh se tròn lại như vấn thuốc hút hỏi tôi "thích đọc thể loại gì, tình cảm xã hội, trinh thám, lịch sử hay kiếm hiệp?". Tôi nói "có cái gì đọc cái đó, nhưng đừng mượn truyện ma nha, Kim sợ ma lắm đó."
Hai ngày sau, anh viết "Trong đạo Thiên Chúa, không có ma đâu, đó là chuyện nhãm nhí, hoang đường, đừng có sợ"
Những mảnh giấy nho nhỏ gởi tin nhắn của anh Thọ, tôi thấy ngồ ngộ vui vui nên không vứt bỏ mà gom lại cất trong cái hộp đựng xà bông thơm Bois de Santal 4 cuc đã xài hết, định để lâu lâu lấy ra đọc lại cho vui, và cũng để làm kỷ niệm, kỷ niệm của một thời niên thiếu hồn nhiên vô tư lự.



Rồi "thư" đi "thư" lại vài lần thì hết tháng năm qua tháng sáu tới ngày bãi trường. Anh Thọ giữ lời gởi "tối hậu thư" cho tôi "Ngày mai anh Thọ đi mượn sách rồi đem qua nhà Kim ngồi đọc với Kim cho có bạn nha"

Tôi nghĩ thầm trong bụng, sao kỳ vậy ta, sao ảnh không về nhà ảnh đọc mà ngồi ở nhà tôi chi vậy. Rủi má tôi la rầy biết nói làm sao. Tưởng là anh nói chơi thôi, vậy mà anh làm thiệt, đem mấy quyển sách về cho tôi rồi kéo chiếc ghế ngồi dựa cột, còn tôi thì nằm võng đong đưa. Mỗi đứa một cuốn chăm chú đọc, không ai nói với ai câu nào. Anh mượn cho tôi quyển "18 thôn vườn trầu của tác giả Trần Ngọc Vy", "Vàng và Máu của tác giả Thế Lữ". Đọc qua cái tựa thôi là đã thấy lôi cuốn phấn khích lắm rồi. Tôi ước gì mình có thể "nuốt" chữ đọc thật nhanh cho thỏa lòng.

Thời gian đó, má tôi có người giúp việc, tôi không cần phụ má chuyện trong nhà nên rảnh rang tha hồ mà thả hồn vào trang sách, mơ màng theo mây gió trăng sao, buồn vui theo từng diễn biến của câu chuyện. Càng đọc càng mê mẩn tới nổi má tôi phải nhắc chừng hai đứa phải cho con mắt nghỉ ngơi một chút, bắt nó làm việc liên tục coi chừng nó đui luôn cho coi. Riêng phần tôi thì má bảo lát lát phải ngồi dậy đi tới đi lui chớ nằm võng riết mai mốt cái lưng cong vòng.

Tới giờ ăn trưa, tôi tưởng anh sẽ về ăn rồi ở nhà luôn nhưng ai dè anh nói anh về ăn ba hột rồi trở qua nữa. Lạ thiệt, về thì về luôn đi, mỗi đứa đọc riêng một cuốn chớ có đọc chung đâu mà phải trở lại ngồi chôn chân một chỗ không thoải mái chút nào.
Qua mấy ngày sau, má tôi thấy vậy mới bảo anh Thọ ăn trưa với tôi luôn nhưng anh từ chối xin phép về. Và vẫn y như cũ về rồi chút xíu lại trở qua. Chị giúp việc nhà nói với má tôi, cậu này lạ đời thiệt, sao không xách cuốn sách về nhà đọc mà cứ qua đây ngồi tối ngày, hàng xóm dị nghị chết. Má tôi bảo thôi kệ, tụi nó ngồi nhà đọc sách giải trí lành mạnh chớ phải chi đi xi nê hay dẫn nhau đi chỗ nào mình không biết thì mới lo.

Cũng may, trường tôi nghỉ hè chỉ có một tháng, không như những trường khác tới chín mươi ngày. Suốt một tháng hè, mỗi khi tôi đọc xong quyển nào thì anh mang trả quyển đó rồi mượn tiếp truyện mới cho tôi. Trước ngày tôi nhập học lại, hôm cuối ngồi đọc sách bên nhau, anh Thọ tặng tôi một bức ảnh Đức Mẹ Từ Bi bảo tôi hãy giữ kỹ và siêng năng cầu nguyện để được Đức Mẹ cứu giúp, ban ơn chở che qua những tai ương hoạn nạn trong đời.

Ba má tôi ngoại đạo nhưng cho tôi học trường bà phước, sáng nào vô lớp, bài đầu tiên các soeurs dạy là giáo lý rồi mới tới các môn học khác. Vì vậy tôi cũng thuộc nhiều bài kinh trong đạo Thiên Chúa. Nay anh Thọ tặng tôi bức ảnh này, tôi cảm thấy như nhận được sự kết nối tâm linh giữa Mẹ thiêng liêng trên trời và tôi, đứa con trần thế để từ đó tôi thấy vững mạnh một niềm tin rằng có Mẹ hằng theo dõi mỗi bước tôi đi ở cuộc đời này.
Anh Thọ còn nói với tôi rằng nếu bãi trường năm sau anh không bận gì thì đến hẹn lại lên, anh sẽ mượn sách cho tôi và cũng sẽ ngồi đọc với tôi như hiện tại.


Bức ảnh Đức Mẹ Sầu Bi 63 năm về trước

Nhưng mùa bãi trường năm sau, ba má tôi cho tôi đi Sài Gòn chơi, còn anh Thọ thì phải học thi ôn bài vở cho tú tài một. Chúng tôi không còn cơ hội lập lại thú vui đọc sách bên nhau thêm lần nào nữa. Từ đó chia đôi đường, mỗi người một lối rẻ.

Phần tôi, hết năm đệ tứ, tôi và nhóm bạn chuyển sang trường Lasan, nơi anh Thọ đang theo học vì trường cũ của tôi không có lớp tú tài. Lần đầu tiên trường dòng nam thu nhận nữ học sinh nên các cô là tâm điểm cho các bạn nam sinh xì xào bàn tán, chấm điểm. Số nữ sinh hai lớp đệ tam và đệ nhị cộng lại chỉ khoảng ba chục bóng hồng Eve chớ mấy nhưng với những suối tóc mây mượt mà gợi cảm, những tà áo trắng dịu dàng thướt tha trong gió sớm nắng mai, ngôi trường như được thổi vào ngọn gió mát, làm dịu đi sự khô khan cằn cỗi nhàm chán cố hữu xưa nay vốn chỉ có toàn là những Adam mà thôi.

Năm nay anh Thọ lên lớp đệ nhứt còn tôi mới vào đệ tam. Ngày ngày đi học cũng thường gặp nhau nhưng tôi cảm thấy anh có vẻ gì khác lạ, anh làm như không hề quen biết tôi, không như hai năm trước vồn vã thân thiện ân cần. Tôi không hiểu vì sao nhưng cũng không cần tìm hiểu vì trong lòng tôi, anh chỉ là người bạn hàng xóm, khi vui thì đậu, khi buồn thì bay, muốn đậu muốn bay gì thì tùy, cứ để xuôi theo tự nhiên, tôi không bận lòng.


Môn Pháp văn là môn tôi đứng đầu trong lớp vì tôi đã học chương trình Pháp lúc tiểu học ở trường các soeurs. Có lẽ vì vậy mà ông sư huynh dạy Pháp văn chú ý đến tôi và tỏ ra trìu mến đặc biệt hơn những học sinh khác khiến dư luận bắt đầu xôn xao lời ra tiếng vào. Tôi chợt thấy lo trong đầu, có thể nào vì lý do này mà anh Thọ không vui?? Nhưng ảnh không vui thì kệ ảnh, muốn nghỉ chơi với tôi thì cho nghỉ luôn. Đâu phải tại tôi, tại anh làm mặt lạ với tôi trước mà.

Hai năm sau anh Thọ lên đường nhập ngũ. Anh không từ giã nên tôi không hay biết để tiễn đưa anh và trao lại anh bức ảnh Đức Mẹ Từ Bi để anh được bình an trên con đường binh nghiệp vào sinh ra tử nhiều rủi ít may. Tôi chỉ còn biết cầu xin ơn trên che chở phù hộ cho anh trong lửa đạn sa trường trùng trùng nguy hiểm, lúc nào cái chết cũng lăm le chực chờ.

Lúc đó tôi đã có người yêu, mải mê với hạnh phúc nên dần dà quên mất anh Thọ cho đến một ngày Hương qua nhà chơi với em gái anh trở về báo tin anh Thọ đã tử trận. Một chút bàng hoàng thương xót anh thoáng qua trong lòng rồi nhanh chóng biến tan ngay. Bây giờ nhớ lại tôi vẫn tự trách mình không biết sao lúc đó tôi vô tình quá đổi. Không một giọt nước mắt, cũng không một lời cầu nguyện, cứ như người không quen biết chưa từng có kỷ niệm gì với nhau trong đời.

Sau ngày mất nước gia đình tôi không cam lòng sống dưới chế độ cộng sản phi nhân quyền nên tìm cách bỏ xứ ra đi. Khi vượt biên, ông xã tôi gói kín bức ảnh Đức Mẹ trong bao nylon mang theo bên mình. Và như có phép lạ, chuyến đi của chúng tôi rất bình yên, không ai chết khát chết đói, cũng không bị cướp biển. Bão tố, phong ba cấp tám cũng rút lui sau một hồi gầm thét đe dọa hãi hùng. Khi sóng yên gió lặng, đàn cá dolphin lội theo hai bên tàu như hộ tống đưa chúng tôi cặp bến thủy quân lục chiến Mã Lai, nơi mà bao con tàu tắp vào trước đó đều bị kéo ra không thương xót nhưng đến lượt chúng tôi thì lại được ông thiếu tá chỉ huy trưởng căn cứ đó chấp thuận cho lên bờ và cung cấp thức ăn trong lúc chờ hội trăng lưỡi liềm đỏ (Malaysian red crescent society MRCS) tới đưa đến trại tị nạn Pulau Bidong.

Khi qua tới nước Úc, bức ảnh Đức Mẹ bị trầy sướt và rách một góc trên đầu, chúng tôi đem ép plastic mới giữ được cho đến ngày hôm nay đã 63 năm từ ngày anh Thọ trao tặng cho tôi. Tôi luôn để dưới gối nằm, đêm đêm cầu nguyện như ngày nào anh Thọ đã ân cần căn dặn. Đức Mẹ là nơi nượng tựa tinh thần vững mạnh của tôi, là nguồn hy vọng, cậy trông an ủi để tôi có thể đi đến chặng đời hôm nay mà không quá vất vả gian lao. Tôi biết rằng mình đã may mắn hơn biết bao nhiêu người trên thế gian này, nên chẳng dám tham lam cầu xin gì hơn nữa ngoài hai chữ bình an cho gia đình.

Tuy anh Thọ đã rời khỏi thế gian hơn nửa thế kỷ nhưng qua bức ảnh Đức Mẹ Từ Bi, tôi có cảm tưởng như anh vẫn đồng hành với tôi ở cuộc đời này và luôn mãi cho tới ngày tôi từ biệt cõi trần. Và nếu sau khi chết sẽ được sống lại đời đời theo lời Chúa thì một ngày nào đó tôi cũng sẽ gặp lại anh trên nước trời và lại cùng đọc sách bên nhau...

Cám ơn người anh hàng xóm đã một thời hoa niên gắn bó, đối đãi với nhau bằng cả chân tình.

Người Phương Nam

Thứ Ba, 26 tháng 5, 2026

Vũ Điệu Của Loài Chim - Nhiếp Ảnh Gia: Vũ Ngọc Hiến

 


Nhiếp Ảnh Gia: Vũ Ngọc Hiến

Dõi Mắt Trông Theo

(Chân dung Tác giả)

người mặc thong dong áo lụa dài
tóc mây hờ hững chảy trên vai
mắt người ngơ ngác như trong mộng
đâu biết lòng tôi đang ngất ngây
người đi bước nhẹ mang theo gió
thổi mát lòng tôi giữa nắng hè
môi người phơn phớt màu phượng đỏ
rộn rã hồn tôi những tiếng ve
người đi, đi khuất, tôi còn ngóng
dõi mắt trông theo... chút bụi hồng

Thủy-Trang