Thứ Ba, 17 tháng 3, 2026

Trừ Dạ Túc Thạch Đầu Dịch 除夜宿石橋館 - Đới Thúc Luân

 

Dịch Thơ & Trình Bày:Kim Oanh



Hình Ảnh Gợi Nhớ

 

Đường xa khắp nẽo chân trời.....
Dấu chân lạc bước mảnh đời phù du
Tình xưa lỗi hẹn thiên thu
Mây xanh nước biếc mịt mù quê xưa...!

Ngư Sĩ

Lệ Châu


Đã mấy xuân rồi, hả bể dâu?
Những hình bóng cũ nay về đâu?
Có ai đốt lại lò hương ấy
Mà nhớ vô cùng, hỡi Lệ-Châu!

Ta nhớ em như nhớ tháng ba*:
Ngày giờ có đó, nghĩ không ra!
Chính ta chẳng hiểu mơ hay tỉnh;
Ta ở đây mà nhớ chính ta!

Ta nhớ ta là một tiếng im,
Con thuyền không bến, máu không tim,
Không hoa cho một làn hương quyện,
Không tổ nương nhờ một cánh chim!

Ta có đầu ta – một thánh-thư:
Biết đường, đâu ngại ngã ba, tư!
Lòng ta có lửa mà không bếp,
Như thiếu trùng-dương cho hải-ngư!

Thiếu một thần-giao, một cảm-thông;
Đời không tri-kỷ, không tâm-đồng;
Bơ-vơ như trận kình+nghê-chiến:
Biển cả tung-hoành một lão-ông!

Rồi bỗng đâu đây giữa gió khơi
Có em bỗng gọi, có ta "ơi!"
Thuyền như nhắm bến, chim tìm tổ,
Đêm muốn hừng đông, hận muốn vơi ...

Em đến – gần mà như muôn trùng,
Không tên, không lấy cả hình-dung...
Nhưng em đã đến, bằng xương thịt,
Đã sưởi lòng ta ... ấm lạ-lùng!

Em có là tiên... hay là... ma
Thì em cũng đã có yêu ta!
Tình em là một nguồn thi-hứng:
Bút rỉ mười năm... lại nở hoa!

Em đã theo ta mỗi bước chân,
Hòa trong hơi thở, nhập trong gân!
Có em là bạn... nên từ đó
Ta có niềm vui tự bản-thân...

Nhưng, bỗng tư bề nổi bão đêm:
Kình-ngư còn lại bộ xương lem!
Đất thành hoang đảo! dân thành rợ!
Ngư-phủ vào tù, lạc dấu em...

Nỗi nước khôn khuây, lại nỗi nhà,
Nỗi mình khắc-khoải một mình ta!
Bao nhiêu kỷ-niệm vào tro bụi
Như những kê vàng, quá-khứ xa ...

Ôi! Những ngày xanh, những ước mơ
Tan như ảo-ảnh mống trời mưa!
Thời-gian liệm lấp vào quên-lãng
Những mộng vàng son hóa mộng hờ!

Rồi có hôm nào như hôm nay:
Gió nào gợn sóng, lá nào bay ...
Cho ta gợi lại trong tâm-tưởng
Một thoáng ân-tình, thoáng rượu say ...

Trại Kho Đạn (Đà Nẵng), 1980-81
Thanh Thanh
(*) 29/03/1975: Đà Nẵng (thủ-phủ Miền Trung) thất-thủ.

Buồn Tôi Lại Về



Con chuồn chuồn ớt bay rồi
Bỏ tôi ở lại bên trời mưa bay
Đưa tay hứng giọt ngắn dài
Đem đo ngày tháng thương hoài ngàn năm

Đêm trôi theo giọt lệ lăn
Bóng em về động vết hằn trong tim
Đường trần ta lạc lối duyên
Nên con chuồn ớt bay biền biệt xa

Thế rồi mỗi độ thu qua
Vàng thu lá rụng lòng sa mưa về
Ta buồn trời cũng ủ ê
Bởi con chuồn ớt làm tê tái lòng

Thôi thì em đã lấy chồng
Nhìn lên cây bưởi trổ bông nhớ người
Gặp con chuồn ớt đỏ đuôi
Có đôi cánh mỏng buồn tôi lại về

Bằng Bùi Nguyên


Chữ Tâm Kia Mới Bằng Ba Chữ Tàì


LỜI NGƯỜI VIẾT:

Thi hào Nguyễn Du đã viết:

“ Có tài mà cậy chi tài,
Chữ ‘Tài’ liền với chữ ‘Tai’ một vần.”

“Tài” ở đây liên quan tới phần “Thông minh đầu óc” (mà người Tây Phương có thể đo lường qua chỉ số “IQ”, viết tắt từ chữ “Intelligence Quotient”) hay “Những khả năng đặc biệt của đầu óc” (Multiple Intelligences). Tuy nhiên, nếu con người chỉ có “Tài”, nôm na gọi là khẳ năng đầu óc , mà không biết cách xử thế, nôm na gọi là “cách ăn ở”, thì e rằng khi ra đời làm việc, sẽ gặp nhiều gian nan, tai hoạ . “Tai” ở đây liên quan đến phần “Thông Minh Con Tim”/ “Thông Minh Cảm xúc” (mà ngừời Tây Phương có thể đo lường bằng “EQ”, viết tắt từ chữ “Emotional (Intelligence) Quotient”. Ngoài ra, muốn tiến tới được phần thăng hoa của loài người, con người cần phải có phần “Thông Minh Tâm Linh” (đo lường bằng “SQ”, viết tắt từ chữ “Spiritual (Intelligence) Quotient”) để cảm nhận được phần tinh hoa của “Lẽ Trời” liên quan tới chữ “Tâm”, cái “Ðức” của con người trong văn hóa Việt Nam .

Kinh mời quý vị vào đọc bài viết “Chữ Tâm Kia Mới Bằng Ba Chữ Tài” và đặc biệt phần bàn luận về bài viết này trong Forum Ðặc Trung dưới đây:

Phần bàn luận trong Forum Ðặc Trưng

Chữ “TÂM”


Khi còn học Trung Học, tôi rất thích mấy câu thơ dưới đây trong Truyện Kiều của Cụ Nguyễn Du:

“Có tài mà cậy chi tài,
Chữ Tài liền với chữ Tai một vần
Ðã mang lấy Nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn Trời gần, Trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tàì “

Thú thực là hồi đó, tôi chỉ cảm nhận thấy rằng tôi rất “gần gũi” với những câu thơ này nhưng thực sự tôi chưa thật thấu hiểu và cho đến bây giờ với những kinh nghiệm đã sống trên 60 năm cuộc đời, tôi mới thấy “thấm” được ít nhiều những gì mà Cụ Nguyễn Du đã viết.

Tôi đã khôn lớn, ra trường rồi đi “vật lộn” với cuộc sống. Trong đời đi dậy, tôi đã có cái may mắn được gặp rất nhiều học trò thuộc các mầu da, tôn giáo và tuổi tác khác nhau để tôi quan sát và học hỏi từ chính họ. Hai đồng sự Canadian và tôi thường hay bàn cãi với nhau về nhiều đề tài khác nhau, nhất là những đề tài liên quan tới vấn đề Giáo Dục.

Chúng tôi cùng dậy trong Phân Khoa Kỹ Thuật tại một Community College ở Canada, vì vậy mà chúng tôi đã từng dậy chung một số sinh viên trong những môn học khác nhau. Học lực và hạnh kiểm của học trò do đó mà chúng tôi cũng đều biết rõ. Thoạt đầu, chúng tôi lấy làm ngạc nhiên thấy một số học trò khi còn đi học đã được điểm rất cao nhưng sau khi ra trường và đi làm, họ lại rất là lẹt đẹt trong vấn đề “thăng quan tiến chức”, không những như vậy mà một số còn bị mất việc luôn. Tôi còn nhớ rõ khoảng đầu thập niên 80, có một anh chàng – tạm gọi tên là Les Hart – hay vặn lý sự với tôi là tại sao anh ta lại mất điểm (nhỏ thôi) trong các bài Assignments. Tôi đã giải thích cặn kẽ và cho hắn coi các “solution with marking scheme” của tôi. Chứng nào, tật nấy, một hôm tôi đang bận giảng bài trong lớp, anh chàng còn gây sự và to tiếng với tôi về cái vụ mất điểm. Tôi ngưng việc giảng bài và tôi “giảng” cho anh chàng một bài học về cách xử thế. Tôi nói:

– Nếu “you” không thay đổi được cái thái độ của “you” khi cư xử với những người xung quanh “you”, tôi sẽ không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy “you” bị “fired” khi you đi làm! Tôi không chịu nổi cái tính hay bắt bẻ và thích ăn người của “you” lắm rồi!”

Khi tôi nói xong, tôi không ngờ cả lớp đều đứng lên vỗ tay đôm đốp và sau giờ học, một vài sinh viên ở lại lớp và nói với tôi:
– Well said and thank you, Sir!

Họ còn cho tôi biết là anh chàng Les Hart này đã từng “làm mưa, làm gió” với các vị giáo sư khác và làm mất thì giờ của các đồng môn trong giờ học.
Hai năm sau khi Hart đã ra trường, một người học trở về lại trường thăm chúng tôi và anh ta cho biết:
– Thầy biết không? Ðúng như lời Thầy nói ở trong lớp, Les Hart đã cùng làm chung tại Office với em nhưng đã bị Boss cho nghỉ việc rồi vì cả sở không ai chịu nổi được với hắn. Thật là tiếc, Thầy ơi vì Les nó rất thông minh nhưng lòng dạ lại chẳng ra gì!

Tôi nghĩ ngay đến hai câu thơ của cụ Nguyễn Du:

Có tài mà cậy chi tài,
Chữ Tài liền với chữ Tai một vần

Ba đồng sự chúng tôi vẫn tiếp tục theo dõi học trò từ lúc họ còn đi học cho tới khi họ ra đời làm việc. Thế rồi, đầu thập niên 90, chúng tôi rất vui thú được đọc trên tờ Time Magazine một bài viết về “Emotional Intelligence” (EQ) mà tôi tạm dịch là “Thông Minh Xúc Cảm ” (để đối nghịch lại với “Intelligence Quotient”, IQ, mà tôi tạm dịch là “Thông Minh Trí Tuệ”).
Vậy thì Thông Minh là gì?

Theo tự vị Encarta, “Thông Minh” là danh từ mô tả khả năng của Trí Tuệ về lý luận, về giải quyết các vấn dề, về lối suy nghĩ trừu tượng, về học hỏi và hiểu biết những thứ gì mới lạ cũng như biết rút tỉa từ những kinh nghiệm (Intelligence: term usually referring to a general mental capability to reason, solve problems, think abstractly, learn and understand new material, and profit from past experience).

Các nhà trường ngày xưa thường đánh giá rất cao và chú trọng đến IQ trong các địa hạt của khả năng sinh ngữ (linguistic), lý luận (logical), toán học (mathematical). Giáo Sư Howard Gardner trong Phân Khoa Giáo Dục của Ðại Học Harvard cho rằng con người còn có những tài năng (gifts) khác như tài năng sáng tác của các nhà văn, kiến trúc gia, nhạc sĩ, người sáng tạo kiểu mẫu (designers), vũ công (dancers), người buôn bán (entrepreneurs), hay là bất cứ tài năng nào để giúp cho đời sống con người được hoàn mỹ hơn.

Năm 1983, GS Gardner đã là người tiền phong về Multiple Intelligences (tạm dịch là “Thông Minh Ða Dạng”). Ông nêu ra 8 chiều thông minh hay tài năng dưới đây:
– Tài năng về Ngôn Ngữ (Linguistic Intelligence): Năng khiếu về ngôn ngữ, viết lách
– Tài năng về Lý Luận-Toán Học (Logical-Mathematical Intelligence): Năng khiếu về phần các con số- lý luận, toán học.
– Tài năng về Không Gian (Spatial Intelligence): Năng khiếu về hình ảnh và hội họa
– Tài năng về các động tác vận chuyển của thân thể (Bodily-Kinesthetic Intelligence): Năng khiếu về các động tác của chân tay, chạy, nhẩy …
– Tài năng về âm nhạc
– Tài năng về cách xã giao (Interpersonal Intelligence): Khả năng biết cách đối xử với người khác (people smart)
– Tài năng về Nội Xét (Intrapersonal Intelligence): Khả năng về biết cách tự đương đầu với nội tâm và cách suy diễn từ nội tâm (self smart)
– Tài năng hiểu biết về Thiên Nhiên, Vạn Vật (Naturalist Intelligence)

Community College của chúng tôi đã khuyến khích các nhà giáo chúng tôi nên áp dụng các phương cách của Multiple Intelligences trong các bài giảng dậy (Lecture notes), các bài thi Tests (bài thi trong Cá Nguyệt, Term) và Final Exams (bài thi cuối Cá Nguyệt, Term) để Ban Giảng Huấn chúng tôi thực sự “measure” (lượng sức) được học lực của học trò.

Việc bàn cãi về Thông Minh vẫn tiếp tục. Năm 1986, 25 nhà khảo cứu rất thông thái về đề tài “Thông Minh” đã cho rằng Thông Minh của con người bao gồm các lãnh vực như: – khả năng về cách ứng xử với các vấn đề nan giải mới có trong cuộc đời (general adaptability to new problems in life) ; – khả năng suy nghĩ trừu tượng (ability to engage in abstract thinking) ; – biết cách ứng biến trong mọi hoàn cảnh (adjustments to the environment); – khả năng trí tuệ và khả năng hiểu biết những gì đã có (capacity for knowledge and knowledge possessed); – khả năng biết tự tập, suy nghĩ độc đáo và hiệu nghiệm trong suy tư (general capacity for independence, originality, and productiveness in thinking); – biết cách kiếm thêm khả năng (capacity to acquire capacity); – thấu triệt các mối liên quan thích đáng (apprehension of relevant relationships); – khả năng biết xét đoán, thấu hiểu và suy luận (ability to judge, to understand and to reason); – khả năng suy diễn các mối tương quan (deduction of relationships); – khả năng thiên bẩm về nhận thức tổng quát (innate, general cognitive ability).

Người Tây Phương đã quan niệm rằng họ có thể “đo lường” được trí thông minh con người qua cách khảo nghiệm (IQ test – tạm dịch Intelligence Quotient là “Thương Số Thông Minh Trí Tuệ”) và nhiều người thường cho rằng những người có IQ cao thì sẽ thành công khi đi học cũng như khi đi làm.

Cho mãi tới thập niên 90, các nhà khảo cứu khoa học nhân văn tây phương mới thấy là phần “Thông Minh Xúc Cảm” (Emotional Intelligence- viết tắt là EI- được đo lường qua Emotional Quotient- viết tắt là EQ- tạm dịch là “Thương Số Thông Minh Xúc Cảm”) mới giúp con người đi đến thành công hơn trong công ăn, việc làm.

Có trí khôn (Intellectual Intelligence) vẫn chưa đủ, nhất là khi ra đời làm việc và theo sự nhận xét của GS Daniel Goleman thuộc Ðại Học Hardvard thì lòng ganh tị, bực tức, buồn rầu, lo sợ, thắc mắc, khắc khoải… thường ảnh hưởng rất nhiều tới đời sống của con người. Có nhiều người mặc dù phần trí tuệ (IQ) rất cao nhưng đến khi phải đương đầu với các vấn đề tình cảm khó xử, họ lại hoàn toàn mù tịt chẳng biết cách ứng xử ra sao hết. Nhiều người đã phải đi đến ly dị, sức khỏe tâm thần của họ bị bê bết và còn có nhiều người đã tự tử luôn.

GS Goleman đã lên tiếng để cho mọi người biết những gì mình cần biết về chính mình để tránh những tai họa về sau. Ông kêu gọi nhà trường nên dậy học sinh những căn bản về EQ , “Thông Minh Xúc Cảm”

EQ bao gồm những gì? GS Goleman nêu lên 5 điểm chính sau đây:
1.
Tỉnh Thức (Self Awareness): Mình nên biết lòng mình (emotions) và những cảm nhận (feelings) mà mình đang có.

2. Quản chế nỗi vui buồn (Mood Management): Cần biết cách đương đầu với những cảm nhận (feelings) đang xẩy ra để có thể đối phó và tự kiềm chế đúng lúc.

3. Ý đồ (Self motivation): Cần gom góp lại những cảm nhận (feelings) đang hiện hữu và đưa chúng tới một mục tiêu (goal) rõ rệt mặc dù mình đang trù trừ (self doubt), trì trệ (inertia), hoặc đang hành động bốc đồng (impulse)

4. Giao cảm (Empathy): Cần phải nhận biết được những cảm nhận (feelings) của người khác và tác động lại bằng ngôn từ (verbal cue) hay cử chỉ (non verbal cue) cho đúng cách.

5. Cách Giao Tiếp (Managing Relationships): Cần có cách ứng xử (interpersonal interaction) cho hợp lý, hợp tình, biết cách hòa giải (conflict resolution) và thương lượng (negotiations).

GS Goleman còn cho biết “Thông Minh Xúc Cảm” không những giúp cho con người tránh được các hậu quả tai hại mà còn giúp cho con người sống hài hòa, an vui với vợ-chồng-con cái và thành công ngoài đời nữa. Ðiều đặc biệt là con người có thể học thêm và phát triển phần “Thông Minh Xúc Cảm” này nếu họ biết cách. Nếu không biết cách duy trì nó, con người sẽ còn giảm mất phần EQ nữa.

Nói tóm lại, nhờ có “Thông Minh Trí Tụê” (IQ) mà con người có thể học hành dễ dàng hơn nhưng như vậy vẫn còn chưa đủ. Ðó mới là phần “Trí”. Con người cần phải có thêm phần “Thông Minh Xúc Cảm” (EQ) thì mới biết cách ứng xử và thăng tiến kể từ khi bắt đầu đi học cho tới khi ra đời làm việc và về hưu. Các lãnh tụ, các chính trị gia thường có cả IQ lẫn EQ rất cao. Họ có thể rất là khôn ngoan, đức độ mà họ cũng có thể rất là gian hùng và tàn ác.

Cả IQ và EQ không đặt trọng tâm vào vấn đề Ðạo Ðức của con người. Cái nguy hại trên thế giới hiện nay là nhà trường đã quá lơ là đến các vân đề thuộc về phần “Công Dân Giáo Dục” (rất liên quan đến EQ) cho nên học trò đôi lúc rất… khó dậy vì học trò chỉ nghĩ đến các lợi lộc cho riêng cá nhân họ và nhiều lúc họ đã thiếu mất phần căn bản của “Tiên học lễ, hậu học văn”!

Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài.

Sang đến Thế Kỷ 21, người Âu Mỹ đã “đi thêm một bước nữa”: họ cho ra đời phần thông minh mà tôi tạm dịch là “Thông Minh Tâm Linh” (Spiritual Intelligence, viết tắt là SI và được đo lường qua Thương Số Thông Minh Tâm Linh – Spiritual Intelligence Quotient viết tắt là SQ).

IQ có thể ví như là phần thông minh của máy điện toán Computer, EQ là phần thông minh của loài người và vài loài động vật có vú thượng đẳng (mammals), trong khi đó SQ (Spiritual Quotient) thì chỉ loài người mới có được mà thôi vì SQ liên quan đến phần Tinh Thần và Tâm Linh của con người. Các nhà khảo cứu về Khoa Học Nhân Văn cho rằng phần SQ là phần căn bản nhất so với IQ và EQ. Con người cần phải có phần “Thông Minh Tâm Linh” này để phát triển lòng mong muốn tìm hiểu: – về ý nghĩa của sự vật, – về sự việc nhìn xa trông rộng và – về chân giá trị .
Nhờ có SQ mà con người có những ước mơ và cố gắng đạt nguyện chúng. SQ đặt vấn đề về phần tâm linh và vai trò của đạo giáo trong đời sống của con người.
Vì “mới ra lò” sau năm 2000 nên tôi chắc là ít người đã biết đến SQ và SQ cũng đang còn ở trong thời kỳ phôi thai nên chúng ta chưa thực sự thấy rõ được cái tầm vóc và tương lai của SQ ra sao.

Như vậy người Tây Phương mới chỉ nói tới IQ, EQ, SQ nhưng theo tôi nghĩ thì trên phương diện giáo dục họ chưa thực sự trú trọng để tâm tới phần Ðạo Ðức qua chữ “Tâm” và chữ “Ðức” trong văn hóa Việt Nam và Phật Giáo của chúng ta. Tôi cảm nhận được phần tinh hoa về “Ðạo Làm Người” của tổ tiên Việt Nam chúng ta trong cách dậy dỗ con người từ đời nọ đến đời kia. Tôi cũng cảm nhận thấy rằng tôi đã rất may mắn được hấp thụ nền đạo lý và phần tâm linh sâu sắc này.

Trong bài viết này, tôi muốn dùng lối suy nghĩ của Tây Phương và Ðông Phương để giải thích một vài điều mà chính tôi đã thấy tận mắt. Tôi cũng muốn đem so sánh quan niệm của Việt Nam và Tây Phương về “Thế nào là Thông Minh”. Tôi mạo muội viết ra đây những gì tôi biết một cách thô thiển về chữ “Tâm” của Phật Giáo và chữ “Ðức” trong văn hóa Việt Nam cội nguồn. Xin quý vị bỏ qua cho lối “múa rìu qua mắt thợ” này và nhất là những sai lầm của tôi, xin đa tạ trước.

Theo tôi nghĩ, muốn duy trì cái “Ðức”, con người cần có cái “Tâm” trong sáng (nói nôm na là “Tấm Lòng tốt, đạo đức, trung thực, trong sáng, dễ dãi …” trong tiếng Việt) để nhận diện được sự việc một cách trung thực và luôn luôn để ý đến các hành động của chính mình cho thích hợp với “Ðạo làm người” trong đời sống hàng ngày.

Theo Tự Ðiển Phật Giáo của Tác Giả Ðoàn Trung Còn, chữ “Tâm” được định nghĩa như sau:

“Chữ tâm” có những nghĩa về vật chất và về tinh thần.

Về vật chất, tâm là:

Trái tim. Như trong Bồ Tát giới kinh có nói: Hễ Bồ Tát nghe tiếng bọn người ác ngoại đạo đem lời gièm pha phá hủy Phật giới, dường như ba trăm mũi giáo đâm vào tâm mình.
Chỗ chính giữa. Cũng như trái tim ở chính giữa thân thể, cái chi ở chính giữa sự vật, gọi là tâm, trung tâm, trung tâm điểm.

Về tinh thần, tâm thường dịch nôm là lòng, nghĩa là:

Lòng dạ, nỗi niềm cảm động. Như: An tâm, loạn tâm, ưu tâm, hỷ tâm.
Nội: bề trong, đối với ngoại: bề ngoài. Như: Tâm nhãn.
Chí, lòng cương quyết. Như: nhứt tâm, chuyên tâm, tâm lực.
Ý: Phạn: Citta, tức tâm ý. Như: tham tâm, sân tâm, si tâm, Bồ đề tâm: Bodhicitta.
Thức: Phạn: Vijnna tức tâm thức. Như trong Bát thức: Tám thức, người ta thường gọi các thức A lại da là tâm.Trí, tức trí thức, Tâm trí. Như: Phàm tâm, Vọng tâm, Thánh tâm, Phật tâm, Chơn tâm.
Cái linh giác chung của: chúng sanh, vạn vật, vũ trụ, tức là tâm linh, thần hồn. Như trong Niết Bàn Kinh, quyển 34, Phật phán: Những chúng sanh ở đời làm thiện hoặc làm ác, khi xả thân, thì Tứ đại đều tan rã hư hoại. Lúc ấy, người nào đã làm Nghiệp thuần thiện thì cái tâm đi lên, kẻ nào đã làm nghiệp thuần ác, thì cái Tâm đi xuống.
Căn bổn, chỗ phát sanh, chỗ trụ cốt. Như: tâm địa tâm vương.
Tánh, tức tâm tánh. Như: tâm bình, tâm trực.
Chỗ bí mật. Như: tâm sự, tâm truyền. Tâm đối với: sắc, trần, cảnh, thân. “

Tôi nghĩ rằng chắc Quý Vị cũng giống như tôi, trong cuộc sống hàng ngày, có những lúc mình thích có cái này, có cái nọ đến độ như tham lam, có những lúc mình thấy bực tức, oán hờn, ghen tị, sợ hãi, vui vẻ … Những lúc này thật khó cho mình có thể bình tâm mà chăm chú vào một việc gì khác được vì đầu óc mình nó còn ở đâu đâu. Cũng chỉ là vì cái “Tâm” ( hay nôm na ra là lòng dạ) của mình nó đang lăng xăng ở đâu đâu nên khó lòng mà mình sống thật yên ổn bên trong được. Nếu mình gọi đó là cái “Tâm”, vậy thì “Tâm” trong Ðạo Phật là gì và “nó” đang ở đâu? Câu hỏi này không dễ gì mà trả lời được.

Tác giả Phạm Công Thiện đã viết về “Tâm” theo quan niệm Phật Giáo như sau:

“Cái Tâm là cái gì?

Chúng ta thường nói rằng mọi sự đều do tâm tạo ra. Điều này lại càng chính xác hơn nữa, nếu chúng ta đừng bao giờ đồng nhất và đồng hóa với cái bản
ngã hay cái “tôi” nội tại của chính mình. Hiểu được tâm là gì chính là điều khó khăn nhất trong những điều khó khăn nhất của kiếp người. Cái lòng của mình hay cái lòng của người đời không phải là chuyện dễ hiểu như chúng ta thường tưởng như vậy.
Đừng bao giờ tự nhận rằng mình tự hiểu cái lòng mình hay hiểu được lòng người; có ý thức trọn vẹn như vậy thì mới có khả năng tạ ơn, ngưỡng mộ, và tôn kính tất cả những gì khó khăn và khó hiểu nhất hiện nay. Mỗi khi mình vừa tìm cái tâm thì tâm đã đi mất rồi. Tâm không phải là cái mà mình có thể đạt tới được trong quá khứ, hiện tại, và tương lai. Điều bí mật lạ thường là cái tâm không ở thời gian và không ở trong không gian mà vẫn bừng sáng liên tục.
Điều đầu tiên cần hiểu về cái tâm là cái tâm không là một cái gì cả mà tâm lại không là hư vô. Nói về bản chất hay về tính thể của cái tâm là tạm dùng danh từ dễ hiểu để gọi một cái không hề giống như cái mình tưởng nhận lầm lạc. Nói theo danh từ Phật Pháp thì tâm không có tự tính, vì không có tự tính (vô tự tính) nên không có thực thể, không có hữu thể. Tâm là Không Tính mà Không Tính lại chính là Tâm. Điều cuối cùng cần nhớ thường trực: cái Tâm vốn là trống trải, trong veo, sáng ngời, vô ngại, thông đạt. Sự trống rỗng ở đây không phải là không có gì cả mà lại biết được tất cả, sáng và sướng đồng lúc.”

Tôi xin trích một đoạn viết về cái “Tâm” trong Tạng Thư Sống Chết dưới đây:

”… Lúc đó tôi chừng chín tuổi. Thầy tôi gọi tôi đến và bảo tôi ngồi trước mặt ông. Chỉ có hai thầy trò chúng tôi. Thầy tôi bảo:
– Bây giờ ta sẽ khai thị cho con về bản lai diện mục của tâm.

Cầm cái chuông và trống tay nhỏ lên, thầy triệu thỉnh tất cả những bậc thầy trong hệ truyền thừa, từ Phật nguyên thủy trở xuống đến bậc thầy của chính thầy. Rồi thầy bắt đầu khai thị. Bỗng chốc thầy ném vào mặt tôi một câu hỏi không thể trả lời:

– Tâm là gì?

Thầy nhìn xoáy sâu vào mắt tôi. Tôi hoàn toàn kinh ngạc. Tâm tôi tan ra. Không còn ngôn từ, tên gọi, ý tưởng nào ở lại – Không có tâm nào hết, quả thế.
Cái gì xảy ra trong giây phút đầy kinh ngạc ấy? Những ý niệm quá khứ đã chết, tương lai chưa đến; dòng tư tưởng của tôi bị cắt ngang đột ngột. Trong cú sốc đó một khoảng trống mở ra, trong khoảng trống ấy chỉ có một giác tính tuần túy trực tiếp về hiện tại, một cái gì hoàn toàn vượt ngoài mọi bám víu chấp thủ. Giác tính ấy đơn giản, sơ nguyên và căn để. Tuy vậy sự giản đơn thuần túy đó cũng tỏa sáng đầy sự ấm áp của một niềm bi mẫn bao la.

Biết bao nhiêu điều tôi có thể nói về giây phút ấy! Thầy tôi rõ ràng đang đặt cho tôi một câu hỏi, nhưng tôi biết thầy không chờ đợi một câu trả lời.Tôi chưa săn tìm giải đáp thì đã thấy rằng không có giải đáp nào có thể tìm kiếm. Tôi ngồi thộn ra trong kinh ngạc, nhưng trong khi ấy một niềm tin vững chắc sâu xa sáng chói tôi chưa từng biết đến, đang dâng tràn trong tôi.
Thầy tôi đã hỏi: “Tâm là gì?” và vào lúc ấy tôi tưởng chừng ai cũng biết rằng, không có chuyện có hiện hữu một cái tâm nào cả, làm sao tôi có thể tìm ra.Vậy, dường như đi tìm tâm thực là phi lý.
Sự khai thị của thầy tôi đã gieo một hạt giống sâu xa trong tôi. Về sau tôi mới biết đấy là phương pháp khai thị được dùng trong truyền thống chúng tôi. Tuy nhiên, vì lúc đó tôi không biết, mà những gì xảy ra có vẻ hoàn toàn bất ngờ, và do đó càng kinh hoàng mãnh liệt.”

Như vậy có phải rằng ta chỉ có thể cảm nhận được cái “Tâm” của ta mà thôi?
Làm sao mà cảm nhận được cái “Tâm” của mình nhỉ?

Khi tôi đã trên 40 tuổi, có lắm lúc tôi thấy rất mệt mỏi, buồn bực, lo âu, đời đầy áp lực… Tôi muốn ngủ mà ngủ cũng chẳng được vì đầu óc bị căng thẳng. Tôi không muốn uống thuốc ngủ và một người bạn đã chỉ cho tôi cách thực tập “Transcendental Meditation”: mình phải cố gắng làm sao cho đầu óc ngăn chặn được những ý nghĩ đến liên tục trong đầu óc để hy vọng là mình không còn phải vướng bận gì nữa (blank out the mind). Những khi tôi làm được như vậy, tôi thấy như được tiếp sức bởi một luồng “energy” sảng khoái, đầu óc tôi trong sáng và nhẹ nhàng, tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay và khi tôi ngủ dậy, tôi thấy rất khỏe khoắn, giống như cái “battery” được “fully recharged “vậy. Tuy nhiên, cũng có lúc tôi không thể “concentrate” (tập trung tư tưởng) nổi để chặn đứng những ý tưởng đang khởi niệm trong đầu óc vì tâm trí tôi bất an, lòng dạ rối bời và khi ngủ dậy, tôi cảm thấy mệt mỏi.

Tới tuổi 50, tôi đi dự khóa Thiền của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh. Cách Thiền rất là đơn giản: trong một căn phòng tĩnh mịch, ngồi trên một cái gối (Tọa Cụ), hai chân xếp lên nhau (thế Kiết Già), mắt lim dim và bắt đầu đếm hơi thở (Thí dụ: 1 là thở vào, 2 là thở ra, 3 là thở vào, 4 là thở ra …Ðếm đến 100 thì lại bắt đầu đếm lại từ đầu…). Thực tập theo lối này (Thiền Chánh Niệm, Mindfulness Meditation) tôi thấy đơn giản, dễ dàng và nhẹ nhàng hơn vì tôi không phải luôn luôn cố gắng xua đuổi ý nghĩ trong đầu gì hết. Ngồi đếm hơi thở, tự nhiên con người từ từ mang phần hồn (tâm trí) về lại với phần thân xác vì đầu óc chỉ chú trọng tới việc đếm hơi thở mà thôi. Khi tâm trí mình an trú trong thân xác, người ngồi Thiền đạt được Chánh Niệm (Mindfulness) và tự nhiên mình biết mình đang làm gì, đang ở đâu mà không còn suy nghĩ vẩn vơ nữa. Tiếp tục thực tập lối Thiền Thở này, con người sẽ sống trong tỉnh thức (Self awareness), biết mình đang làm gì, đầu óc đỡ bị rối bời hơn và có thể tự kiềm chế được lòng mình…

Tôi đã thực tập Thiền theo lối này được hơn 10 năm. Mỗi lần Thiền như vậy, tôi cảm thấy rất nhẹ nhàng bên trong và tôi có thể tự ý mang ra những xúc cảm như vui, buồn, sầu, lo, ai oán…để đối diện với chúng rồi tôi có thể tìm ra những nguyên do tại sao tôi lại có những cảm xúc (feelings) như vậy. Những hôm khí hậu tốt và tôi có thì giờ rảnh rỗi, tôi đi bộ (Thiền Hành) trong những nơi thanh vắng. Tôi đã từng ngồi đối diện với chính tôi bên dòng nước, trong công viên, trong căn phòng… Những lúc này, tôi chỉ muốn được “totally left alone” để tự mình ngồi “soi bóng” chính mình tôi mà thôi. Có lẽ đây là những giây phút mà tôi hằng ao ước để thấy đời thanh thản, không vướng bận vào bất cứ việc gì để rồi bất chợt tôi “thấy” được nhiều điều mà tôi đã hằng muốn biết trong nhiều năm qua.

Có những đêm, sau khi ngồi chấm bài hay soạn bài, nếu không ngồi Thiền trước khi đi ngủ đến khi tôi thiếp đi, tôi thấy đầu óc tôi chứa đầy các dòng chữ, các con số và nhiều thứ đã làm tôi bận tâm suốt trong ngày hôm đó. Buổi sáng khi thức dậy, tôi cảm thấy lừ đừ, mệt mỏi vì giấc ngủ của tôi bị “phân tâm”. Nếu tôi ngồi Thiền trước khi đi ngủ – chỉ cần 15 phút mà thôi – tôi ngủ một giấc thật ngon, không hề thấy các dòng chữ, các con số… trong giấc ngủ và tôi cảm thấy khỏe khoắn khi tỉnh dậy.

Trong đời dậy học, tôi cũng đã thấy một số sinh viên khi thi Term Test (kỳ thi trong Niên Khóa) hay Final Exam (Thi tổng quát cuối Niên Khóa) thường hay bị “nervous” (lo quýnh lên) đến nỗi có người đầu óc của họ đã quên hết và không còn nhớ được điều gì đã học nữa (blank out). Rút tỉa từ kinh nghiệm này, tôi chỉ cho họ cách ngồi đếm hơi thở ở ngay trong lớp học: Thở vào một hơi thật sâu (thở vào bụng!) và từ từ thở ra cho tới khi bụng xẹt xuống. Chỉ cần “Thiền Thở” như vậy 5 phút mà thôi. Học trò tôi rất ưng ý với phương pháp này.

Sinh viên trong Phân Khoa Kỹ Thuật của chúng tôi cũng thường phải qua các “job interview” trong các “Co-op Term” (Trong Cá Nguyệt này, học trò đi làm thay vì đi học) hay khi đi xin việc làm sau khi đã ra trường. Ðể tránh cái vụ “feeling nervous” (lo “cuống đì”), tôi khuyên họ nên “Thiền Thở” trong khi chờ phiên họ được “interview”. Họ thấy được an tâm hơn trong lúc chờ đợi và khi họ được “interview”, họ đã “perform much better” (ăn nói lưu loát và có vẻ tự chủ hơn) vì họ thấy rất bình tĩnh và tự chủ, tự tin trong lúc “job interview” .

Trong 5 năm cuối trước khi tôi về hưu, tôi thường phải lái xe mất ít nhất 45 phút trên xa lộ mỗi lần đi và mỗi lần về. Có những buổi chiều, trên đường về trong xa lộ, tôi thấy mệt đừ sau một ngày làm việc mà mặt trời còn chiếu thẳng vào mặt tôi và xe cộ chạy rầm rầm xung quanh tôi nữa. Tôi hay nhìn đồng hồ và tự nhủ:

– Trời ơi, còn những 30, 20, 15 … phút nữa mới tới nhà sao? “

Xe cộ càng ngày càng đông làm tôi thấy “nervous” và mệt mỏi hơn (đó là chưa kể đến những hôm trời bão tuyết hãi hùng). Tôi nhớ ngay ra cách thức “Thiền Thở” và áp dụng liền: vừa lái xe và để ý tới cái “lane” của tôi, vừa tiếp tục đếm hơi thở ngay trong lúc lái xe. Thật là nhiệm mầu: tôi về đến nhà lúc nào không hay mà tôi chẳng còn thấy mệt mỏi gì nữa vì tôi đã hít được nhiều Oxygen vào trong cơ thể do đó các bắp thịt của tôi trở nên thư giãn hơn!

Tôi chẳng biết tôi đã kiếm ra được cái Tâm của tôi hay chưa, có điều tôi biết rất rõ là tôi ngủ rất dễ, giấc ngủ rất ngon, tôi ngủ một mạch cho đến sáng luôn và tôi cảm thấy cuộc sống của tôi an nhàn và ít khi bị day dứt, buồn bực … như ngày xưa. Có lẽ chắc cũng nhờ cái trạng thái tâm an nhàn này (Tâm an nhàn đã hỗ trợ cho phần EQ của tôi để rồi EQ còn trợ giúp cho phần IQ?) mà đầu óc tôi đã nhiều lúc tự nhiên “thấy” rõ được những ý tưởng, những bài giải của các “con toán cuộc đời” và rất nhiều điều mà ngày xưa tôi không thể “thấy rõ” được chúng mặc dù tôi đã từng đi tìm kiếm trong nhiều năm trước.
Tôi xin chép vào đây vài vần thơ tôi ghi lại trong một đêm tỉnh giấc sau khi tôi ngồi Thiền rồi ngủ thiếp đi.

MỘNG THƯỜNG

Nửa đêm về sáng
Tự trong cơn mơ
Tôi thức giấc
Viết bài thơ nàỵ

Có những giấc ngủ say
Và đầy mộng mị
Tôi không thấy kinh dị,
Không vui mà cũng chẳng buồn.
Không sầu, không lo,
Không thương, không tiếc.
Tôi không nghe thấy tiếng mình nói
Mà chỉ lắng nghe trong tĩnh lặng.

Tôi đã được trở về
Như một đứa trẻ thơ:
Cali, Sài Gòn, Hà Nội, Sydney…
Gặp Cha, thăm Mẹ
Và rất nhiều người thân
Mà đã ra đi vĩnh viễn từ lâu.
Gặp nhau không âu sầu,
Không nhớ, không thương.

Tôi chỉ muốn luôn luôn
Được sự êm đềm
Trong Mộng Tưởng.
Giấc mộng không vấn vương
Giấc mộng bình thường.

Đời vui, đời buồn,
Đời vời vợi,
Đời nhiều vấn vương,
Đời đầy áp lực
Đè nặng con người,
Đi vào Tâm Thức.

Khi Đời lắng xuống
Trong giấc ngủ hồn nhiên
Hay trong lúc ngồi Thiền
Tôi cảm thấy …
Đời người như sợi tơ trời
Nhiều sắc, nhiều mầu
Bập bềnh
Trong Không Gian, Vũ Trụ
Biến đổi không ngừng
Theo thời gian và không gian.

Giấc ngủ nhẹ nhàng hơn
Là phải sống
Trong Cõi Chết
Của đời sống
Văn Minh, Máy Móc
Hàng ngày.

Vô Không
Sept. 1996

Xin Quý Vị lượng thứ bỏ qua cho những gì mà tôi viết làm nhàm tai Quý Vị. Cũng xin cám ơn Quý Vị đã kiên nhẫn đọc những dòng chữ này.

Xin chúc Quý Vị được Thân Tâm An Lạc

Tài liệu tham khảo:

1. Intelligence Quotient:

2. Multiple Intelligences

3. Emotional Intelligence

4. Spiritual Intelligence

5. Phật Học Tự Ðiển
Ðoàn Trung Còn

6. Tinh Túy trong sáng của Ðạo Lý Phật Giáo
Những Lời dạy thực tiễn của Tổ Sư Thánh Tăng Ấn Độ ATISA lúc truyền Đạo Phật vào Tây Tạng
Tác giả: Phạm Công Thiện – Viên Thông California Xuất Bản 1998


7. Tạng Thư Sống Chết
The Tibetan Book Of Living And Dying

Ðàm Trung Phán

Giáo Sư Công Chánh hồi hưu
March1, 2005-2011
Mississauga, Canada


Concord hospital

Tôi đã bị bệnh đau lưng hành hạ từ hơn hai mươi năm nay nhưng không dám giải phẫu, cứ rán mà chịu đựng vì sợ rủi ro có bề gì nằm xuội lơ một chỗ thì khổ hơn là chết. Nhưng mới gần đây việc đi đứng rất khó khăn, dây thần kinh bị chèn ép gây đau đớn và nhiều khi tê cứng hai bên chân không xê dịch được.

Sau khi chụp MRI, chiếu theo kết quả, bác sĩ gia đình bảo nếu không mổ thì một hai năm nữa cũng phải ngồi xe lăn vì sẽ không đi đứng nữa được. Nghe vậy bất đắc dĩ tôi phải mạo hiểm tìm gặp bác sĩ chuyên khoa thần kinh để xem họ định liệu ra sao. Ông neurosurgeon bảo với tình trạng này, sau khi đã ba lần chích steroid và thường xuyên đi chiropractor mà không thuyên giảm thì chỉ còn cách giải phẫu mới mong thoát khỏi viễn ảnh xe lăn. Ông bảo về suy nghĩ lại, nếu quyết định mổ thì gặp lại tuần sau để sắp xếp ngày giờ. Đến nước này thì tôi nhận thấy chỉ có chấp nhận mổ thôi chớ không còn chọn lựa nào khác. Và ngày 2/3 vừa qua tôi đã vào bệnh viện để mổ cột sống, Lumbar Laminectomy ("phẫu thuật cắt cung sau đốt sống thắt lưng) là quy trình giải ép thần kinh phổ biến, trong đó bác sĩ cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ mảnh xương (lamina) phía sau đốt sống vùng thắt lưng. Mục đích là mở rộng ống sống, giảm áp lực chèn ép lên rễ thần kinh hoặc tủy sống do hẹp ống sống, thoái hóa hoặc thoát vị đĩa đệm gây ra, từ đó giảm đau chân và lưng" Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC +5).


Quen với nề nếp mẹ hiền vợ thảo, trước khi vào bệnh viện, tôi làm vài món ăn mà ông xã tôi thích rồi chia ra từng phần nhỏ cất vào ngăn đá để sẵn như tḥịt kho tiêu, gà xào sả ớt, thịt kho hột vịt, một keo dưa chua, một hộp canh cải bắp và vài miếng bánh chưng để ông xã ở nhà có cái mà ăn bởi vì ông đã 87 tuổi, lại mù một bên mắt, không lái xe đã ba năm rồi thì làm sao ra ngoài ăn cho được.


Món gà xào sã ớt tiêu biểu

Cuộc phẫu thuật kéo dài hai tiếng rưởi, sau đó ra phòng hồi sức rồi về phòng nằm. Tưởng rằng vết mổ sẽ làm đau nhức lắm hay ít ra cũng lấn cấn khiến mình ngủ không được, thức cũng không yên nhưng tuyệt nhiên tôi không cảm thấy gì cả, chỉ có cảm giác say sóng buồn nôn vì ảnh hưởng thuốc mê. Tôi bỏ ăn chiều đó vì biết ăn vào sẽ nôn ra, kinh nghiệm những lần mổ trước cho tôi biết vậy. Suốt đêm đó tôi chỉ uống nước cầm chừng cho tới sáng cũng không ăn sáng luôn.


(Cậu em vào thăm kể chuyện tiếu lâm chọc cười bà chị)

Sáng sớm hôm sau, bác sĩ lại xem vết mổ, nói tốt, hỏi tôi có đau không. Tôi nói không đau chỉ thấy khó chịu vì vẫn chưa hết buồn nôn. Sau đó cô phisiotherapist tới thăm, hỏi tôi đứng dậy được không. Tôi nói chắc được và ngồi dậy xuống giường.
Cô hỏi tiếp vậy thử bước đi xem sao. Tôi cũng đi được vài bước. Cô nói vậy là tốt quá, ca mổ rất thành công, có thể về nhà.
Lúc đó con gái tôi đã vào tới, nghe vậy nó kêu lên, mới mổ chiều hôm qua mà bữa nay cho về, má tôi còn chưa ăn được, về rồi có chuyện gì thì làm sao. Ít ra cũng phải nằm lại vài ngày để theo dõi coi có bị biến chứng gì không chớ.

Trưa đó, người ta đem lunch đến, con gái bắt tôi phải rán ăn chút xíu cho lại sức chớ hai ngày rồi không ăn làm sao hồi phục nổi. Tôi nghe lời nó ăn vài muỗng, uống chút nước trái cây. Vậy mà khoảng hai tiếng đồng hồ sau, tôi nôn thốc nôn tháo tới mật xanh. Một cô y tá đem cho tôi viên thuốc chống ói và nói nôn ra được thì sẽ khỏe lại và ăn được luôn. Tình trạng này ít ai tránh khỏi sau khi giải phẫu do phản ứng của thuốc gây mê.

Con gái đỡ tôi dậy vào phòng tắm rửa mặt, đánh răng súc miệng cho tỉnh táo rồi đưa về giường nằm nghỉ sau khi cho uống một ly nước thật ấm. Tôi thiu thiu ngủ một chút, thức dậy thấy khỏe hẳn, không còn bị choáng voáng buồn nôn nữa.
Nhưng sau ca mổ và hai ngày không ăn, cơ thể tôi đã suy yếu hoàn toàn. Nằm trong chăn kín mà bỗng dưng tôi phát lãnh, cả thân người run lên không gượng được như vừa bị trúng gió. Gọi y tá tới cho họ biết tình trang của mình, họ đo huyết áp và nhiệt độ, thấy vẫn bình thường nên họ chỉ đắp cho tôi thêm một lớp chăn. Tôi hỏi họ có Vaporub oinment để thoa cho ấm không nhưng có vẻ như họ không hiểu cái kiểu lạnh không phải ngoài tay chân mà từ trong người lạnh ra. Thời may, hai vợ chồng cậu em vào thăm, tôi nhờ thằng em chạy bay về nhà lấy cho tôi chai dầu gió. Sau hơn một tiếng đồng hồ cậu ta mới trở lại thì đã hết giờ thăm, cậu ta chỉ kịp đưa tôi chai dầu gió rồi chở vợ về. Có chai dầu trong tay, tôi thoa lên ngực, lên cổ, hai bên thái dương, hai bên đầu gối và nhờ cô y tá lấy cho một ly nước thật ấm. Uống nước ấm xong, nằm xuống kéo chăn lên tận cổ, khoảng nửa giờ sau thì dầu ấm có hiệu nghiệm giúp tôi bớt run và dần dần qua khỏi cơn ớn lạnh suýt làm tôi ngã quỵ. Nếu không có cậu em về lấy chai dầu, tôi thật không biết sẽ ra sao trong đêm đó. Đông Tây không thể nào hiểu nhau ở chỗ trúng gió trúng mưa chỉ cần dùng dầu xoa ấm cạo gió là mười phần hết bảy còn ba ngay lập tức, mà chỉ có thể gặp nhau ở chỗ mấy viên thuốc cảm chung chung nhưng chậm hiệu quả hơn xoa dầu.

(Chai dầu cứu mạng, dầu gió hiệu này tôi đã dùng từ trước 75, lúc còn ở quê nhà)

Qua ngày thứ ba, tôi bắt đầu ăn lại nhưng không ăn nhiều vì thức ăn nhà thương không hợp gout với tôi tuy biết rằng rất đầy đủ dinh dưỡng. Ăn không được nhiều cũng không lo đói vì ngày nào nhà thương cũng cung cấp sáu cử ăn, sáng trưa chiều và giữa những bữa ăn chánh thì có tea time trà bánh.

Ngày thứ tư, cũng như mấy ngày trước, ăn sáng xong, y tá lại thay drap giường gối rồi giúp bệnh nhân tắm rửa họăc lau mình. Khoảng 10 giờ, phisiotherapist tới hướng dẫn tôi đi đứng, nằm ngồi và quan sát từng bước đi của tôi cũng như lên xuống cầu thang với chiếc gậy "Hồng Thất Công".

Ngày thứ năm, tôi được các bác sĩ chứng cho về với đầy đủ lời dặn dò khuyên bảo. Và con gái tôi cũng đã liên lạc được với văn phòng xã hội giúp người già neo đơn đến dọn dẹp clean up nhà cửa mỗi tuần 3 tiếng đồng hồ trong vòng 6 tuần. Như vậy là quá tốt cho tôi trong những ngày chưa bình phục hẳn để có thể sinh hoạt lại bình thường.

Để có được peace of mind trong cuộc giải phẫu này, con gái tôi chọn bác sĩ tư và yêu cầu được chính ông đứng ra mổ với chi phí cho riêng ông là 10 700 dollars, bác sĩ gây mê là 4510.

Mổ thì self-funded nhưng bệnh viện thì công. Mấy năm trước tôi có đóng bảo hiểm tư cho tiền nằm bệnh viện nhưng sau mấy năm hao tốn quá mà không mổ xẻ gì nên bỏ ngang mất hơn ba chục ngàn. Bây giờ thì xin nằm nhà thương công cho đỡ tốn kém, đáng lẽ không phải đóng tiền nhưng vì mình có khả năng self-funded cho nên họ yêu cầu trả cho họ 490 dollars mỗi ngày chớ không được free như những người khác. Thôi thì cũng được đi, miễn mình được bác sĩ tư đứng ra mổ không qua thực tập sinh là tốt rồi.

Ở phòng chung với những bệnh nhân khác, tuy có hơi phiền nhưng bù lại thì thấy vui nhiều hơn khi ngày ngày tôi có dịp "coi show", chứng kiến những màn "đón người mới" như hồi ở trại tị nạn trên đảo Bidong khá thú vi.

Giường của tôi nằm ở đầu phòng, nhà tắm và toilet nằm ở đầu dãy cho nên ai vô ra gì tôi cũng biết. Đêm đầu, phòng tôi chỉ có hai người, tôi là người đầu tiên. Hai tiếng sau thì có bệnh nhân mới được đưa tới nằm đối diện với giường tôi. Bà này người Đại Hàn, người vừa tới thì tiếng nói cũng ồn ào theo luôn. Con gái tôi hỏi thăm thì ra bà này cũng cùng bệnh như tôi, mổ sau tôi một tiếng, cũng do ông bác sĩ tôi chọn. Bà bệnh này có vẻ hơi kẻ cả, phàn nàn liên miên với giọng Đại Hàn ngang ngang gàn gàn nghe rất khó chịu. Bà em đi theo thì tỏ ra chìu chuộng dỗ dành không ngớt.

Khoảng 9 giờ đêm, có một ca mổ khẩn cấp được trực thăng chở từ vùng quê Kara cách Sydney khỏang 400 cây số lên bệnh viện Concord Sydney để giải phẩu sạn thận. Cô bệnh nhân này là người thứ ba được đưa vào phòng tôi.

Đêm đầu tiên là một đêm không ngủ. Vì chưa bước xuống giường được để đi toilet nên trong đêm, cả ba bệnh nhân chúng tôi đều phải bấm chuông gọi y tá giúp, chưa kể những khi họ tới đánh thức để đo huyết áp và nhiệt độ.

Sáng lại, bà Đại Hàn em vào thăm chị mang theo đồ ăn, thế là đài phát thanh tiếng nói Đại Hàn bắt đầu hoạt động tối đa khiến con gái tôi nghe phát bực mình. Bà em nói với con gái tôi, họ đang chờ người bên nhà thương tư nào đó tới rước bà chị vì bà chị muốn nằm phòng riêng chớ không thích chung đụng với ai. Tôi không hiểu nếu dời bệnh viện khác thì nhóm bác sĩ mổ làm sao thăm bệnh mỗi ngày cho bà ta vì ông bác sĩ mổ của tôi ngoài làm bệnh viện tư ở North Sydney thì chỉ làm và dạy thực tập cho các neurosurgeon tương lai ở nhà thương Concord thôi. Nhưng đó là chuyện của họ, chắc họ phải biết mà.

Thank God, xế trưa đó hai chị em bà Đại Hàn "rời đảo", nhân viên vệ sinh vừa dọn dẹp thay drap giường gối mới thì chiều lại có bệnh nhân mới lấp vào chỗ trống. Cô này cũng dân da trắng, không biết di dân hay Úc rặt nhưng khi chồng cô vào thăm, họ nói với nhau chỉ đủ nghe như tiếng thì thầm chớ không ồn à̀o như dân Châu Á.

Sáng ngày thứ ba, khi hai cô bệnh nhân da trắng hơi khoe khỏe thì ba cái miệng nói tiếng Anh là cô gái đến từ country tên Molly, cô ở Sydney tên Alice và con gái tôi bắt đầu chit chat, trao đổi thông tin sôi nổi. Thì ra Molly bị sạn thận cấp tính, nhà thương dưới quê không dám mổ phải vận chuyển bằng Air Ambulance lên Sydney giải phẫu. Molly làm hairdresser có hai đứa con 5 và 9 tuổi. Còn Alice thì đang có bầu ba tháng nhưng phát hiện bị ung thư gì đó nên cũng phải mổ khẩn cấp.

Xế trưa ngày thứ ba, ba má Alice lại rước cô về nhà tịnh dưỡng. Đứa con lớn 2 tuổi của Alice thì được giao cho ba nó giữ riêng vì thằng nhỏ quậy quá sợ má nó không nghỉ ngơi được. Rồi trong ngày đó, Molly cũng được Air Ambulance tới chở về quê.
Tưởng đâu tôi sẽ được một mình một cõi ít nữa là một đêm nhưng chiều lại, một bà Á Châu được đưa vào chỗ Molly, bà ta không biết tiếng Anh, thấy tôi ngồi ăn dinner bên này, bà ta vẫy vẫy tay nói với tôi bằng tiếng Mandarine. Tôi lắc đầu. Bà nói "I want nurse". Biết là bà muốn kêu y tá nhưng không biết bấm remote control gọi nên tôi bấm cái remote của tôi gọi dùm bà. Khi y tá tới, bà ta luôn miệng đòi hành lý mà bà ta đem theo vào nhà thương nhưng chưa thấy người mang tới. Bà nói "my bag and phone". Các y tá đoán hiểu là bà cần lấy cái phone trong túi xách để liên lạc với người nhà. Nhưng may thay, bà chưa kịp có phone để gọi thì ông chồng bà vào tới với gà mên đồ ăn trên tay. Lát sau người ta cũng đem hành lý của bà tới giao lại bà.
Cho vợ ăn xong, ông chồng bà mon men đi lại toilet tính vô. Con gái tôi chận lại nói toilet này chỉ dành cho bệnh nhân trong phòng, còn visitors thì ra toilet bên ngoài và chỉ cho ông ta hướng đi.

Đêm đó tôi được một đêm yên tịnh ngủ thẳng giấc. Chừng giựt mình thức dậy, mở cái phone ra coi giờ thì thấy 5 giờ rưởi sáng. Nằm trên chiếc giường êm ái, bao quanh bằng những tấm rideau màu xanh bleu dịu mắt với nhiệt độ điều hòa 22 độ C, trong một không gian tĩnh lặng của một ngày chưa đến, tôi nghe trong lòng dâng lên một cảm giác bình yên khó tả mà xưa nay tôi chưa bao giờ cảm nhận được như lúc này. Không cần lo chồng, lo con, lo ăn lo uống, lo bệnh lo tật, lo ngược lo xuôi, lo xa lo gần. Thật là thần tiên thiên đàng. Đời người sanh lão bệnh tử, sợ nhứt là giai đọan bệnh. Như tôi đây, lần này mổ cột sống lưng thành công nhưng còn bao nhiêu bệnh khác đang sắp hàng, chết thì không nói gì chớ còn sống thì còn phải chữa trị nhiêu khê. Chợt nghĩ nếu được chết ngay trong giây phút này thì khỏe thân biết mấy, coi như đã trả hết nợ đời để từ đây có thể yên nghỉ thiên thu.

Qua ngày thứ tư ở bệnh viện, trưa đó thấy một chiếc xe lăn đẩy một cô bé rất trẻ như teenager vào chiếc giường kế bên tôi. Không biết cô ta bị gì mà nằm chưa nóng lưng là đã nhảy phóc xuống giường lấy quần áo đi tắm. Tôi đang ngồi trên chiếc ghế đặt cạnh bên vách phòng tắm coi youtube, thấy cô bé đi ngang qua tôi hỏi thấy con còn trẻ quá, bị gì mà vô nhà thương vậy. Cô bé cười nói con bị vấn đề thận, khi nào tiểu không thông thì vào đây cho bác sĩ đặt ống dẫn tiểu. Vì bác sĩ chưa tìm ra nguyên nhân, con cứ phải vô ra thường xuyên bệnh viện này. Mấy cô y tá ở đây ai cũng biết con hết. Còn cô thì sao. Tôi nói tôi vô mổ cột sống. Cô bé nhăn mặt nói tội nghiệp cô, chắc đau lắm hả. Tôi nói tôi cũng tưởng vậy mà không đến nỗi nào và hỏi tiếp cô bé ở Sydney hay từ đâu tới. Cô bé nói ba má con ở New Castle cách đây 200 cây số nhưng con sống tự lập với bạn trai ở đây. Những lúc phải vô ra nhà thương thì con ở nhà ba má của bạn trai. Họ chăm sóc chu đáo, tốt với con lắm. Tôi bảo vậy cô mừng cho con.
Lát sau thì có một bệnh nhân mới nữa. Bà này cũng người Á châu, nghe nói tiếng quan thoại với chồng. Bà ta không mặc áo nhà thương mà mặc nguyên bộ đồ từ nhà đi tới và lên giường nằm đắp chăn như những bệnh nhân khác. Chưa rõ bà ta bị bệnh gì mà đêm đó bà ta ho suốt, lát lát lại chạy vào toilet khạc đàm rồn rột khiến tôi mất ngủ cả đêm.

Sáng ra là ngày cuối cùng của tôi. Sau khi bác sĩ trong equipe mổ tới thăm cho discharged, con gái tôi đi lo thủ tục ra nhà thương nhưng chờ mãi tới giờ lunch mới hoàn tất.
Lúc đó, người phát cơm trưa cũng vừa đẩy xe tới, con gái tôi nói thôi má ăn xong rồi hẳng về. Đã ở đây năm ngày rồi, nán lại thêm chút nữa cũng đâu có lâu lắc gì, không thôi người ta đổ bỏ đồ ăn đã order hôm qua của mình tội lắm.

Tôi nói với anh chàng bưng phần ăn vừa đặt lên bàn "It's my last super". Anh ta lắc đầu bảo đừng nói vậy không tốt, last super là chỉ sự chết. Nhưng với tôi là bữa ăn cuối ở nhà thương, tôi cho biết. Anh ta hỏi vậy hả và quay sang hỏi con gái tôi muốn ăn lunch với Mum không vì có người được discharged, ra về trước đã bỏ lại phần ăn trưa. Con gái tôi hỏi không ăn thì cũng cho vô thùng rác chớ gì. Anh ta gật đầu và mang đến. Nói tới nói lui một hồi mới biết anh ta là người Việt Nam. Con gái tôi kêu lên vậy mà nãy giờ hổng nói, đeo cái mask kín mít ai biết dân gì đâu à. Anh ta nói đùa tự nhiên khai ra làm gì, để coi hai má con có nói xấu gì tui không đó mà. Ba chúng tôi cùng cười. Một kỷ niệm ở nhà thương khó quên.
Xong bữa chúng tôi đến chào từ giã và cám ơn các cô y tá trước khi ra về. Tưởng rằng sẽ phải ngồi xe lăn cho con tôi đẩy nhưng xuống thang máy, tôi đi được ra tới phòng chờ đợi chờ con gái lấy xe tới pick up nhờ vào cây gậy "Cái Bang" và vài "chiêu thức" thọ giáo được từ phisiotherapist trong mấy ngày qua.

Tôi vô cùng cám ơn các bác sĩ, y tá và bệnh viện Concord, ơn người ơn đời chứa chan không làm sao trả hết.

 Người Phương Nam


Thứ Hai, 16 tháng 3, 2026

Sương Lam Tu Nghiệp Ở Singapore 1970 Do Bộ Xã Hội Việt Nam Đề Cử


Sau khi ra trường Học Viện Quốc Gia Hành Chánh  năm 1967, Sương Lam được bổ nhiệm về làm việc ở Bộ Xã Hội-Việt Nam Cộng Hòa, trụ sở ở đường Nguyễn Du Saigon. Trong thời gian làm việc, Bộ xã Hội đã nhiều lần đề cử Sương Lam đi tu nghiệp tại Singapore, Đài Loan, Thái Lan.

Năm 1970 Sương Lam được đề cử đi tu nghiệp ở Singapore với chủ đề " Tổ Chức Các Trung Tâm Cộng Đồng" tại Singapore trong 3 tuần lễ với sự cộng tác của cơ quan USAID. Phái đoàn Bộ Xã Hội gồm 2 Trưởng Ty Xã Hội, một nhân viên Hành Chánh (Sương Lam ) và 1 thông dịch viên của USAID.
Phái đoàn Bộ Xã Hội được đón tiếp nồng hậu và được đưa đi quan sát các Trung Tâm Cộng Đồng tại Singapore.
Sau đó phái đoàn trở về nhiệm sở cũ, báo cáo tường trình lên ông Bộ Trưởng Bộ Xã Hội.

Năm 1974, Sương Lam được tham gia nhiều buổi hội thảo khác về Hành Chính ở Đài Loan, Thái Lan trong phái đoàn liên Bộ với sự hướng dẫn của Giáo sư Nguyễn Quốc Trị, giáo sư Nguyễn Thị Huệ v..v..

Kính mời xem các hình ảnh các buổi hội thảo, qua những hình ảnh Sương Lam còn lưu giữ được.
Đó là một thời huy hoàng của Sương Lam  sau khi tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh! Smile!

Vài Hình Ảnh đi tu nghiệp ở Singapore


Sương Lam thành thật cảm ơn qúy bạn hữu đã vào xem hình Sương Lam mặc áo dài đi "phó hội" ở Singapore.
Hôm đó Sương Lam được nhiều người khen và được cơ quan cho đăng hình nữa đấy vì mặc áo dài lạ và đẹp. 

Sương Lam

Má!

 

Má của tôi giờ đã rất xa
Má ơi hình bóng khó phai nhòa
Má hay nấu bánh vào xuân đến
Má thích đơm cành cắt tỉa hoa
Má rất hiền lành và dịu ngọt
Má luôn điềm đạm lẫn thiết tha
Má thường tựa cửa trông tin nhạn
Má đợi chờ ba sưởi ấm nhà.

Quên Đi

Đóa Mai Trăm Tuổi

  

Thuở trước xuân về mộng thắm tươi
Màu xanh cỏ ngát, áng mây trời
Hương yêu dào dạt dâng mi mắt
Mơ ước chan hòa ngập nét môi
Chỉ một ngày nao anh muộn đến
Để ngàn năm ấy lệ thầm rơi     
Mai vàng trổ cánh hoa trăm tuổi
Là đóa tình thơ gửi tặng người.

Lê Mỹ Hoàn
1/2020

Trần Công/Tiền Giang Tử Cảm Ơn

 

Cám ơn bằng hửu ở khắp nơi
Đã gởi điện thơ đến cho tôi
Mừng sinh nhựt tôi trên Trăm tuổi
Ơn nghĩa tôi xin nhớ trọn đời
Tôi cũng cầu mong cho quý bạn
PHƯỚC vào nhà, PHƯỚC như Đông hải
Sống đời đời, THỌ tỷ Nam san.

Trần Công/Tiền Giang Tử

Chuyện Sách Việt


(phiếm luận về một nỗi vui buồn của người cầm bút)

Trong đời cầm bút, có lẽ niềm vui lớn nhất của người viết là một ngày nào đó cầm trên tay cuốn sách của chính mình. Cuốn sách ấy không chỉ là vài trăm trang giấy đóng lại thành tập, mà là kết tinh của bao nhiêu đêm thức khuya, bao nhiêu tách cà phê nguội ngắt, bao nhiêu lần ngồi nhìn màn hình mà chữ nghĩa không chịu chịu hiện ra. Người ngoài nhìn vào cứ tưởng viết sách là chuyện lãng mạn lắm… Tác giả ngồi trước bàn, ánh đèn vàng, vài dòng chữ bay bổng, thế là xong một cuốn sách. Nhưng chỉ người trong cuộc mới biết rằng để “nặn” ra được một cuốn sách, tác giả đôi khi phải… nặn cả tim lẫn óc.

Có người viết chậm rãi trong vài tháng, có người viết kéo dài vài năm. Có cuốn sách viết xong rồi lại sửa, sửa xong rồi lại viết thêm, giống như người thợ gốm cứ xoay mãi cái bàn xoay cho đến khi cái bình có hình dáng vừa ý. Đến lúc bản thảo coi như tạm được, tác giả lại bắt đầu một công đoạn mới. Nhờ bạn văn đọc lại và để hiệu đính. Người đọc giúp thì thường là bạn văn, bạn thân, hoặc những người… chưa kịp từ chối. Gửi bản thảo xong, tác giả hồi hộp chờ đợi như chờ kết quả… Có người đọc kỹ lưỡng, gạch đỏ chi chít, gửi lại cả chục trang nhận xét. Có người đọc xong nhắn một câu rất gọn: “Hay lắm!” khiến tác giả vừa vui vừa… không biết nên sửa chỗ nào.

Sau đó là chuyện nhờ người viết lời tựa, bài bạt. Đây cũng là một nghi thức khá trang trọng trong thế giới sách vở. Tác giả thường tìm đến một người có uy tín trong văn giới để “đỡ đầu” cho cuốn sách. Người viết tựa đọc xong, viết vài trang giới thiệu, nâng đỡ tinh thần cho tác giả, đôi khi cũng khéo léo nhắc nhở vài điểm yếu. Bài tựa ấy nhiều khi còn được đọc trước cả cuốn sách, giống như lời dẫn nhập trước khi bước vào một căn nhà.
Nhưng những chuyện đó vẫn chỉ là phần… văn chương. Phần kỹ thuật phía sau mới là chuyện đáng kể…
Không phải ai viết sách cũng biết cách layout (trình bày trang) hay trình bày (thiết kế?) bìa sách. Thế là phải nhờ người làm giùm. Có người quen biết bạn bè trong nghề thì đỡ, còn không thì phải thuê. Một cái bìa cho đàng hoàng, nhìn không quá nghiệp dư, cũng đã tốn vài trăm đô. Layout cho cả cuốn sách, chỉnh phông chữ, canh lề, đánh số trang, làm mục lục… cũng thêm vài trăm nữa. Tính ra, mỗi cuốn sách tác giả phải bỏ ra khoảng $400 đến $500 chỉ riêng cho việc trình bày (theo giá cả của một nhà xuất bản bên California cho biết).
Đó mới chỉ là khởi đầu.

Tiếp theo là chuyện tìm nhà in. Nếu in vài trăm cuốn, chi phí có thể lên đến vài trăm, thậm chí vài ngàn đô la. Có người in 200 cuốn, có người in 500 cuốn, có người hào hứng đặt in cả ngàn cuốn. Lúc mới khiêng những thùng sách từ nhà in đem về, lòng vui như Tết. Mở thùng ra, ngửi mùi giấy mới, lật từng trang xem có lỗi gì không, cảm giác ấy khó tả lắm.
Nhiều tác giả còn chụp hình kỷ niệm với những chồng sách cao hơn cả đầu mình, nhìn vừa tự hào vừa… hơi lo lắng không biết bao giờ mới “tiêu thụ” hết.
Nhà văn Lê Thị Nhị nhiều lần “kể khổ” rằng sách "Tiếng Quê Hương" do nhà văn Uyên Thao cùng văn thi hữu điều hành và thêm sách của bà chất đầy trong garage xe, đến nỗi phải đi tìm chỗ gửi nhờ. Cuối cùng bà phải năn nỉ nhà thơ Tạ Quang Tuấn cho để tạm một góc. Nhưng nhà thơ này cũng chỉ biết “than trời”, vì sách gửi nhờ ngày càng nhiều, chồng lên chồng xuống như những bức tường giấy.

Nhưng niềm vui ban đầu ấy thường không kéo dài lâu. Bởi vì sau đó là một công đoạn ít ai nhắc đến: ký tặng và gửi sách. Danh sách người nhận bắt đầu được lập ra. Bạn bè, thân hữu, các anh chị văn nghệ sĩ, các tòa soạn báo, các thư viện, rồi những người quen quen… Tác giả ngồi ký từng cuốn một. Có người ký rất trang trọng: “Kính tặng anh… với tất cả tình thân.” Có người ký đơn giản… “Thân tặng.” Có người còn vẽ thêm một nét nguệch ngoạc cho có vẻ… nghệ sĩ.
Ký xong, xếp sách vào phong bì, đem ra bưu điện gửi đi. Mỗi cuốn sách gửi đi là thêm vài đô tiền cước. Gửi năm chục cuốn, bảy chục cuốn, cộng lại cũng thành một khoản đáng kể. Nhưng lúc ấy tác giả không nghĩ nhiều. Trong lòng chỉ mong rằng cuốn sách của mình sẽ đến tay người đọc, và biết đâu sẽ nhận được vài lời chia sẻ.
Rồi bắt đầu chờ. Chờ email. Chờ điện thoại. Chờ một lời nhắn.
Thỉnh thoảng có người gọi điện:
“Anh nhận được sách rồi, cảm ơn nhiều nha.”
Nghe câu đó thôi cũng đủ vui cả ngày. Nhưng phần lớn thì… im lặng.

Im lặng đến mức đôi khi tác giả tự hỏi không biết cuốn sách đã đến nơi chưa, hay đang nằm đâu đó trong góc nhà bưu điện. Có khi cả tháng sau mới nhận được một email ngắn gọn: “Cảm ơn đã gửi sách.”
Cũng có những cuốn sách giống như ném cát xuống giếng. Không một tiếng vang.
Thỉnh thoảng có người “thương tình” gửi lại vài chục đô gọi là ủng hộ. Tác giả nhận được thì vừa cảm động vừa… ái ngại không biết có nên "cash cái check" ấy không ... Như anh chàng văn thi sĩ quen với chúng tôi, Tiểu Lục Thần Phong, mãi đắn đo một khi nhận được ngân phiếu của ai đó gửi về ...
Nhưng dẫu vậy, người viết vẫn tiếp tục viết. Có lẽ vì cái nghiệp chữ nghĩa nó vậy.

Sau này, kể từ lúc tôi biết đến kiểu in sách print-on-demand (cần đâu in đó) thì cách nghĩ về việc in sách cũng thay đổi. Thay vì in hàng trăm cuốn rồi chất đầy trong garage, bây giờ chỉ cần đưa sách lên trang web của nhà in. Khi có người mua thì nhà in mới in và gửi đi. Tác giả không cần bỏ ra một khoản tiền lớn ban đầu, cũng không cần lo chuyện tồn kho. Hóa ra thời đại mới cũng có cái tiện của nó.
Rất nhiều văn thi sĩ đã từng chia sẻ cùng một tâm trạng như vậy. Ai từng in sách rồi cũng hiểu cái cảm giác vừa vui vừa… hơi chua chát ấy.
Văn thi sĩ Nguyễn Minh Nữu nhiều lần khuyên tôi một điều rất thẳng thắn:
- Đừng gửi sách tặng nhiều quá. Những gì free thì người ta ít khi thấy quý.
Ông còn nói thêm một câu rất thật:
- Khi mình gửi sách, nhiều khi người nhận… chẳng thèm đọc.
Nghe thì hơi buồn, nhưng nghĩ kỹ lại cũng không phải không có lý. Trong đời sống bận rộn hiện nay, sách đã nhiều, thời gian đọc lại ít. Một cuốn sách được tặng miễn phí đôi khi bị xếp lên kệ, rồi dần dần chìm vào quên lãng.

Cũng cùng quan điểm ấy, hôm trước sau khi tôi giúp nhà văn Phong Thu trình bày và in ấn một tập truyện ngắn song ngữ "Trái Tình Yêu-The Fruit of Love" của bà; nhà văn Phong Thu nói một câu rất chân thành:
- Không phải chuyện tiền bạc. Nhưng em không nên tặng free. Không fair cho mình.
Bà ngừng một chút rồi nói tiếp:
- Chị thấy việc print-on-demand rất hay, rất tiện.
Câu nói ấy nghe giản dị, nhưng chứa đựng cả một kinh nghiệm của nhiều năm cầm bút. Bởi vì suy cho cùng, viết sách không phải là một nghề kiếm tiền. Ít nhất là đối với phần lớn người viết tiếng Việt ở hải ngoại. Người viết viết vì yêu chữ nghĩa, vì muốn chia sẻ suy nghĩ của mình với đời. Nhưng điều đó không có nghĩa là công sức của mình nên được xem như… miễn phí.
Một cuốn sách là kết quả của rất nhiều công đoạn: viết, sửa, đọc lại, trình bày, thiết kế, in ấn, phát hành. Mỗi công đoạn đều có công sức và chi phí. Khi một cuốn sách được bán, dù chỉ vài xu, vài đồng, nó cũng mang lại một cảm giác khác hẳn… Cuốn sách ấy đã thực sự có người đọc. Ðối với người viết, điều đó mới là phần thưởng lớn nhất.

Nhiều khi tôi nghĩ rằng thế giới sách Việt giống như một khu vườn nhỏ. Trong khu vườn ấy có những người lặng lẽ gieo hạt. Có hạt nảy mầm, có hạt nằm yên trong đất rất lâu. Nhưng nếu không có những người tiếp tục gieo, khu vườn ấy sẽ dần dần hoang vắng.

Vì vậy, dù biết rằng in sách là một hành trình nhiều gian nan, nhiều khi “lỗ vốn” cả về tiền bạc lẫn công sức, nhiều người vẫn tiếp tục làm. Họ viết. Họ in. Họ gửi sách đi khắp nơi.
Chỉ mong một ngày nào đó, ở một góc nào đó của thế giới, có một người mở cuốn sách ấy ra đọc rồi mỉm cười. Và, hôm nay tôi mỉm cười, vì những quyển sách của tôi viết để lên trang web của nhà in Lulu đã có người mua về đọc và tôi không phải nhọc công như một thập niên trước.

Võ Phú


Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2026

Ai Nói Yêu Em Đêm Nay - Sáng Tác: Trần Thiện Thanh - Trình Bày: Phạm Cao Tùng

Sáng Tác: Trần Thiện Thanh
Trình Bày: Phạm Cao Tùng

Nữ Kiệt Mê Linh

 

Chống xâm lược hùng anh nữ kiệt
Hai Bà Trưng khởi nghĩa Mê Linh
Phất Cờ Vàng giặc Hán hồn kinh
Thúc voi trận kèn reo trống giục...!

Đất Châu Phong thù nhà nợ nước
Quyết dấy binh trừ diệt ngoại thù
Nêu khí tiết Nữ Tướng anh thư
Cho chúng biết nữ nhi Nam Quốc....!

Gương Trưng Triệu dấy binh phá giặc
Năm bốn mươi (40) trang sử nước nhà
Đuổi Tô Định giầy xéo quê cha
Khôi phục lại chủ quyền Tổ Quốc

Dòng sử Việt ngàn năm chống giặc
Bao anh hùng liệt nữ hy sinh
Tròn khí tiết vì nước quên mình
Không khuất phục cúi đầu phương Bắc

Nam Quốc Sử kiên cường bất khuất
Thề tận trung tận nghĩa quê hương
Bao thế hệ tiếp nối lên đường
Ngăn sóng đỏ kẻ thù xâm lược....

Ngư Sĩ

Một Ngày Như Mọi Ngày

 

Ở đây một ngày như mọi ngày
Buồn như lá rụng xuống rừng cây
Nước vẫn cuộn dòng ra sông bể
Ta vẫn một mình ở chốn đây

Nghe loài chim nhỏ hót lưng đồi
Buồn như tiếng khóc trẻ mồ côi
Những chòm mây bạc qua đầu núi
Đưa gió về đâu mãi cuối trời

Ta có mỗi ngày đối diện ta
Tóc xưa đã bạc dưới trăng tà
Giả bộ nghênh ngang như dũng sĩ
Gậy chống tưởng rằng kiếm đánh ma

Lẩn thẩn ngồi nghe chuyện giữa đường
Người đi kẻ đến tận mười phương
Giáo mác tung tăn từ miệng lưỡi
Sáng chiều nhảy nhót với tai ương

Ở đây một ngày như mọi ngày
Giả vờ uống rượu giả vờ say
Gậy lão vung tay làm kiếm sĩ
Một ngày như thế nợ buồn vay

Phong Châu
Tết Bính Ngọ

Ánh Sao Buồn

  

Thân xác tan rồi hồn cũng tan
Từ khi em trở lại thiên đàng
Áo hoa theo bướm bay đâu mất
Để dấu chân buồn ngập thế gian

Có lẽ chỉ là giấc chiêm bao
Nghìn xưa hò hẹn đến nghìn sau
Chuyện tình thành sử thành huyết lệ
Bể hận mênh mông đến kiếp nào

Lá rụng nửa đêm tưởng bước về
Nhạc lòng rộn rã điệu si mê
Vòng tay lạnh lẽo ôm chăn gối
Nghe tiếng mưa rơi khóc não nề

Chim gãy cánh rồi làm sao bay
Cua gãy càng cua hết loay quay
Ta như ốc mượn hồn mượn xác
Hồn của ai mà xác của ai

Dật dờ trôi nổi chết chửa chôn
Con quốc đau lòng khóc nước non
Mong manh nắng muộn như ngừng thở
Sao gió hững hờ cây trống trơn

Muốn được ngủ say như trẻ con
Vô tư cười nụ đẹp môi son
Không lo cơm áo không buồn tủi
Mặc kệ nắng mưa mặc mất còn

Biết nói cùng ai khóc cùng ai
Làm sao sống được đến ngày mai
Mặt trời đã ngủ quên mai mối
Nước đá hẹn hò tuyết đầu thai

Ở cũng không yên đi không xong
Nửa dòng nước đục nửa nước trong
Gặp nhau cuối cửa sông đầu biển
Để lại vết buồn đau xác rong

Chẳng lẽ hư vô tự mộng đầu
Chưa từng gặp gỡ chưa yêu nhau
Em như ảo ảnh đêm cầu nguyện
Một ánh sao buồn tan vỡ mau...

MD 03/25/04
LuânTâm
(Trích trong TT HƯƠNG ÁO,Minh Thư xb,MD/USA.2007,tr.97-98)