Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2026

Bàn Tay Em, Bàn Tay Anh - Thơ: Nguyễn Thị Thanh Dương - Nhạc: Nguyễn Văn Thành - Trình Bày: An Minh

Thơ: Nguyễn Thị Thanh Dương
Nhạc: Nguyễn Văn Thành
Trình Bày: An Minh

Chờ Ai Mãi



Cớ chi cứ chờ ai mãi
Giờ nầy người ở phương nào
Sao cứ nghìn trùng xa cách
Tháng năm dài biền biệt nhau!

Thương hoài dù không duyên phận
Đời nầy hay mãi ngàn sau
Lòng tôi còn nguyên kỷ niệm
Sắt son mãi không phai nhoà!

Nay vẫn nghìn trùng xa cách
Nhưng lòng không chút tàn phai
Mong người như thời mới gặp
Trinh nguyên không chút hao gầy!

Cớ chi cứ chờ ai mãi!

Hàn Thiên Lương
14-7-2026

Kham Nhẫn Của Tứ Đại



Đất có nói gì đâu dù người ta khạc nhổ
Nước có nói gì đâu dù cống rãnh tràn ra
Gió không chê nghèo khó, vẫn ghé qua
Lửa bị dập vẫn tồn tại bảo tồn sự sống.
Người hãy học làm thinh đừng đối chống
Hãy “Lục hoà” như nước của đại dương
Từ bi như gió mát thổi muôn phương.
Không vướng bụi vì chính mình cát bụi.

*Lục hoà: lời Phật dậy 6 thứ hòa là thân, khẩu, ý, giới, kiến, lợi
hoà hợp với mọi người

Sao Khuê 
21 /9 /2023


Vọng Cố Hương


Xướng:

Vọng Cố Hương 

Hoàng hôn khuất nẻo cuối chân mây
Ngắm bóng tà dương dạ ngất ngây
Hồi tưởng làng quê mùa lúa chín
Cánh đồng gió thoảng tỏa hương bay
Thương anh ngày tháng chăm nương rẫy
Nhớ chị quanh năm bận cấy cày
Vọng cố hương lòng đành thất hứa
Hẹn tương phùng chẳng dứt trời Tây.

Tuyến Lê Sydney
***
Họa:

Hên Tương Phùng

Hẹn tương phùng chẳng dứt trời Tây.
Ba vạn sáu ngàn ngày có mấy?
Tóc bạc, răng long đã đến ngày.
Lưng còng, gối mỏi nay đà thấy.
Thời gian kết chuỗi xác hao gầy.
Năm mốt năm qua hồn ước vọng.
Mơ mộng cuối đời vẫn nguyện xây.
Bao giờ trở lại cố hương đây?

Lâm Hoài Vũ
22/7/2026
 

Số 19 Kỳ Đồng


Năm 1972, Thắng rủ tôi tới 19 Kỳ Đồng, quận 3, nằm đối diện hơi xéo về phía trái nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế. Lúc bấy giờ nơi này đang được sử dụng làm Văn Phòng Liên Lạc Sinh Viên Quốc Nội và Hải Ngoại. Đây là một tòa biệt thự cổ của Pháp, bước vào là một khoảng sân khá rộng, rồi bước tới phòng khách có thể sinh hoạt chung năm bảy chục người, trong nữa là ba phòng dùng làm văn phòng, phòng họp và phòng văn thư. Chỗ này là nơi gặp gỡ và sinh hoạt cho sinh viên đang đi du học nước ngoài khi về nước có chỗ tìm đến nhau, làm quen, kết bạn và tham dự các sinh hoạt cùng sinh viên trong nước. Điều hành chung là anh Đỗ Ngọc Yến. Anh Yến là Huynh trưởng của phong trào Du Ca nên đây là nơi các Huynh trưởng nhạc sĩ của Du Ca thường ghé chơi như các anh Ngô Mạnh Thu, Nguyễn Đức Quang, Trần Văn Bùi và các trưởng trẻ của Du Ca như Đặng Mục Tử, Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn Hữu Nghĩa, Bùi Công Bằng...

Trong số các sinh viên làm việc thường xuyên tại văn phòng, tôi quen với Lương Văn Tự, Nguyễn Ngọc Linh, Đinh Việt Hùng, Nguyễn Văn Thanh. Ở địa điểm này, mỗi cuối tuần có những buổi sinh hoạt trình diễn âm nhạc truyền thống, và một đơn vị Du Ca hoạt động thường xuyên là Ca Đoàn Trung Ương của Phong trào Du Ca.

Hôm đó, Nguyễn Quyết Thắng đưa tôi tới để xem Thắng trình diễn một số ca khúc trong chương trình cuối tuần. Trước phần trình diễn của Thắng là một màn độc tấu đàn tranh. Người nữ thướt tha trong áo dài gấm vàng, đội khăn hoàng hậu. Cô ta ngồi xuống, cây đàn để trên đùi và ngón tay thoăn thoắt lướt trên 16 sợi dây đàn, tỏa mênh mông suốt khán phòng một làn hương dân ca dìu dặt. Tôi nghe và thấy lòng dào dạt thương yêu. Đôi mắt cô ta tròn xoe, lúc nhìn xuống đàn, lúc ngước lên nhìn bao quát, tôi nhìn được một cái gì đó mơ màng như mắt nai, và dịu dàng như người em gái nhỏ. Hết phần trình diễn này là tới phần Thắng hát. Tôi ngơ ngác nhìn theo cô bước vào hậu trường. Không cần ai giới thiệu tôi bước theo cô và làm quen.

- Lúc nãy tôi vào trễ nên không nghe được người ta giới thiệu cô tên gì. Vậy cô tên gì?
Cô ta quay lại nhìn tôi, vẫn cặp mắt mơ màng đó nhìn từ trên xuống dưới rồi trả lời nghiêm chỉnh:
- Tuần sau, anh tới sớm hơn sẽ nghe được người ta giới thiệu tên người trình diễn mà.
- Ồ… Nguyễn Văn Thanh, người điều khiển chương trình, là bạn tôi, tôi có thể hỏi anh ta.
- Thế sao anh không hỏi anh ta mà hỏi tôi?
- Trời ạ, tôi tưởng hỏi cô thì nhanh hơn chứ.
- Anh lầm rồi đó.
Nói xong cô mỉm cười có vẻ hài lòng và quay mình bước vào phòng.

Tôi đành thở dài quay lại hội trường ngồi nghe Thắng hát và chờ cuối chương trình sẽ hỏi lại. Nguyễn Văn Thanh mà sau này trở thành một đạo diễn kịch nghệ với tên Phương Cửu cho biết cô ta tên Ngọc Trai, sinh viên Khoa Học, thành viên ca đoàn Trung Ương. Khi chương trình chấm dứt, tôi không về ngay mà chờ cô ta ra là bước tới hỏi chuyện:
- Ngọc Trai về một mình mà tay cầm đàn có vướng không? Hay tôi đưa Ngọc Trai về nhe?

Cô ta khựng lại, nhìn tôi, bây giờ thì cô ta đeo cặp kính trắng to. Cặp mắt không còn mơ màng nữa, mà sắc như dao lướt qua tôi. Nhưng cô lại cười tươi tắn:
- Được chứ. Anh đến đây bằng gì?
- Bạn tôi chở.
- Vậy anh định đưa tôi về bằng gì?
- Ơ.., tôi… tôi…
May quá, Thắng chạy tới cứu bồ, Thắng nói tôi chở Nữu cầm đàn cho Ngọc Trai và chạy theo Ngọc Trai về nhà như vậy an toàn hơn.
Ngọc Trai trả lời:
- Tôi nghĩ rằng tôi đi một mình an toàn hơn.
Cô ta ngừng một chút rồi nói:
“Nhưng nếu hai anh chạy theo bảo vệ thì cũng vui mà...”

Từ lúc quen Ngọc Trai, tôi tới chơi với Văn Phòng Liên Lạc nhiều hơn, từ đó kết thân với Nguyễn Ngọc Linh và Đinh Việt Hùng. Cả hai đều là Du Ca, và là nhân viên thường trực tại văn phòng. Đinh Việt Hùng hát hay, vừa đoạt giải Khôi Nguyên Tiếng Hát Sinh Viên, còn Nguyễn Ngọc Linh thì phụ trách về Kỹ Thuật, là toán trưởng một toán Du Ca.

Đầu tiên là hẹn Ngọc Trai ở văn phòng liên lạc. Thuở ấy, phương tiện liên lạc với nhau chỉ là viết thư, không có phone, không có fax, cho nên gặp lần này là hẹn lần sau, hoặc tới sớm nhìn lên bảng nhắn tin coi có mẩu nhắn tin nào gắn lên đó.

Văn phòng 19 Kỳ Đồng là nơi gặp gỡ của sinh viên các trường Đại Học trong và ngoài nước. Tôi là một người đặc biệt, cũng là sinh viên, nhưng là sinh viên Sĩ quan Thủ Đức. Mỗi chiều thứ sáu, đi phép về là đi thẳng tới văn phòng, vẫn mặc trên người quân phục đi phép. Thường thì sau giờ sinh hoạt chung, khoảng hơn 8 giờ tối, Ngọc Trai và tôi đi về trên chiếc xe Yamaha nữ màu xanh nước biển của Ngọc Trai. Một lần, vừa tới nơi, tôi thấy Ngọc Trai vẫn còn ngồi trên xe ở sân trước. Cô ngoắt tôi chỉ ra ngoài. Đi theo ra ngoài, ngồi phía sau cho Ngọc Trai chở, tôi vẫn nghĩ là sẽ chạy lăng quăng đâu đó như mọi lần, rồi ghé quán cà phê Phấn Thông Vàng trên đường Nguyễn Thông nghe nhạc tình hoặc ghé hội quán Cây Tre ở Đinh Tiên Hoàng nghe nhạc thân phận, nhưng khi chạy ra tới Ngã Sáu, Ngọc Trai quay lại hỏi tôi nhà ở đâu.
- Nhà... nhà ai?
- Nhà bạn chứ ai.
- Để làm gì?
- Về thay đồ dân sự đi.


Tôi chỉ đường cho cô chạy về cầu chữ Y, vào nhà thay vội bộ quần áo dân sự rồi lại leo lên xe cho cô chở đi, chẳng hỏi là đi đâu. Ngọc Trai chạy về phía quận 6, rẽ vào khu cư xá Phú Lâm B, và ghé vào một căn nhà lớn như một cái biệt thự. Bên trong có khoảng mười mấy thanh niên nam nữ ngồi quanh nhau, mọi người chào hỏi vui vẻ và bày biện ra bánh kẹo trái cây nói rằng hôm nay là sinh nhật ai đó. Lát sau có một người tới nữa, lớn tuổi hơn chúng tôi, người này mọi người gọi là anh Huỳnh.

Anh Huỳnh thấp người, khuôn mặt vuông vức nhưng xanh lét như người bệnh sốt rét. Ngọc Trai nói với tôi anh Huỳnh trước học ở Khoa Học, ra trường lâu rồi, tới đây chơi như một người anh. Khi vòng tròn ăn uống tạm vơi, anh Huỳnh có nói gì đó về trách nhiệm thanh niên, về dân tộc, sau đó hướng dẫn mọi người cùng vỗ tay hát chung một số bài ca sinh hoạt thanh niên. Trong đó có bài tôi biết, có bài tôi không biết. Anh Huỳnh liếc qua tôi và lục trong túi xách mang theo một xấp giấy đưa cho tôi, giọng thân mật, nhắc tôi nhìn vào giấy này và hát theo mọi người.

Tôi gật đầu, lật phớt phớt vài trang xấp giấy quay ronéo đó, đọc và giật mình khi thấy thoáng qua là những lời ca mang nặng tính đấu tranh và hận thù. Tôi chợt hiểu lý do Ngọc Trai muốn tôi thay quần áo dân sự trước khi đến đây. Tôi ngồi im suốt buổi, cho tới khuya mới về.

Ngọc Trai chở tôi về nhà cô ta. Nhà nằm trong đường hẻm đối diện trường Quốc Gia Hành Chánh ở đường Trần Quốc Toản. Căn nhà rộng bề ngang và khá sâu, bên ngoài là phòng khách, rồi tới một phòng lớn có cầu thang lên lầu, phía sau là xưởng ép đế giày bằng mủ cao su. Tôi gặp mẹ của Ngọc Trai. Cụ bảo khuya quá đi đường không tiện, cháu cứ ngủ lại trong xưởng với mấy anh công nhân cũng được. Tối đó, tôi lấy cái ghế bố ngủ lại ở cái phòng có cầu thang lên lầu. Gia đình Ngọc Trai ở trên lầu, cửa khóa lại.

Tôi học ở Thủ Đức xong, ra trường về đơn vị ở tiểu khu Định Tường. Đôi mắt cận thị nặng không phù hợp cho những đêm di chuyển giữa bùn lầy sình nhão, nên tôi xin đi khám mắt và sau đó được giải ngũ vào cuối năm 1974. Những ngày còn quanh quẩn ở Saigon, Ngọc Trai thường đưa tôi đi gặp nhiều nhóm bạn khác lạ. Dù dị ứng với chính trị, nhưng tôi cũng mường tượng ra một cái gì không bình thường ở những nhóm sinh hoạt này.

Tôi thường từ chối đến với các sinh hoạt thanh niên theo từng nhóm, viện lý do không phù hợp để đưa Ngọc Trai rong chơi trong thành phố. Trên chiếc xe hai bánh màu xanh nước biển, tôi chạy dọc bến sông, từ bến Bạch Đằng, qua bến Hàm Tử, qua bến Lê Quang Liêm vào tuốt gần Bình Chánh, rồi ngược ra, chạy theo xa lộ Đại Hàn, chạy ven phía nam thành phố, qua đến Bình Dương, vòng xuống Gò Vấp để về lại Hàng Xanh… Có khi chúng tôi dừng lại ven đường, ghé vào một quán cóc gọi ly cà phê đen đá, thong thả nhìn đời sống kham khổ nhưng yên bình của người dân, có khi trời còn nắng, chúng tôi chạy vào rừng cao su ven xa lộ, ngồi nghỉ ngơi dưới tàn lá rậm, rì rào con gió mùa hè và nghe Ngọc Trai khao khát một đời sống bình yên khi đất nước hòa bình…

Ngọc Trai nằm thoải mái xoải chân trên nền lá vàng, hát mê say: Nếu là chim tôi sẽ làm loài bồ câu trắng, nếu là hoa tôi sẽ là một đóa hướng dương (Tự Nguyện - nhạc Trương Quốc Khánh).

Còn tôi, tôi hát cho Ngọc Trai nghe Bài Hương Ca Vô Tận của Trầm Tử Thiêng: Hát nữa đi Hương hát điệu nhạc buồn, điệu nhạc quê hương. Hát nữa đi Hương hát lại bài ca tiễn anh lên đường. Ngày đao binh chưa biết còn bao lâu, cuộc phân ly may lắm thì qua mau. Hát nữa đi Hương hát để đợi chờ…

Những lúc không đi đâu, tôi cùng Ngọc Trai thường đứng ở lầu một biệt thự 19 Kỳ Đồng. Khung cửa sổ lớn nhìn ra khoảng sân rộng bên dưới, ngoài đường tiếng xe chạy vọng vào xa xa, chiều về chầm chậm, tiếng chuông nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế thánh thót báo lễ chiều và thả hồn mình vào những khao khát hòa bình dù chưa biết cuộc tương tàn sẽ chấm dứt bằng cách nào. Hiệp định Paris đã ký kết cả ba năm rồi mà có ngày nào trên đất nước không có tiếng súng đâu.

Buổi sáng ngày 30/4/1975, tôi đứng trên đường Nguyễn Biểu, nhìn dòng người táo tác, mặt mày thất sắc, ôm đồ đạc chạy từ quận 8 qua, rồi lát sau, một toán bộ đội súng cầm tay đi tới. Cái cảm giác bàng hoàng, buồn vui lẫn lộn. Vậy là hòa bình rồi hả? Vậy là chấm dứt chiến tranh rồi hả? Cái chết không còn là sự đe dọa nữa nhưng rồi cuộc sống sẽ như thế nào đây…

Bất ngờ nhìn thấy chiếc xe Yamaha chạy vào hẻm, tôi vội về nhà, và sửng sốt nhìn Ngọc Trai.
Là Ngọc Trai đó sao? Vẫn trên chiếc xe gắn máy quen thuộc, nhưng hôm nay Ngọc Trai mặc đồ xanh của bộ đội miền bắc, sau lưng đeo một khẩu súng dài, chiếc mũ tai bèo cột chặt dưới cằm thật xa lạ trong mắt tôi.
Cô ta ngoắt tay, kêu tôi ngồi lên xe. Đi đâu? – Đi, làm việc. – Làm việc gì? Tôi biết gì mà làm? – Lên xe đi, lát nữa rồi biết.


Ngọc Trai chạy về phía Chợ Lớn, chạy qua Nguyễn Tri Phương, bùng binh An Dương Vương, rồi ghé vào Đại Học Xá Minh Mạng. Ngoài cổng Đại Học Xá có người gác cửa, họ quen thuộc với Ngọc Trai nên mở cổng cho cô chạy vào. Bên trong, không có một sinh viên nào mà thấp thoáng từng toán bộ đội ngồi đứng xa xa… Ngọc Trai đưa tôi vào một dãy nhà đang có đông người lố nhố, có thường phục, có áo bộ đội, có nón cối, có dép râu, có mũ tai bèo. Chợt một người quay ra nhìn tôi cười, khuôn mặt xanh xám, hai tay lỏng khỏng trong cái áo bộ đội quá khổ. Người này nói ông rất vui khi gặp lại tôi… Tôi khựng lại và nhớ ra… anh Huỳnh. Ngọc Trai nhanh chóng giới thiệu, Huỳnh là họ thôi, anh Tư đây nguyên là Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn đó. Tôi bật lên, à…

Mấy ngày sau đó, tôi hiểu ra. Cái mặt ngoài là mồ côi cha của Ngọc Trai chỉ là cái vỏ bọc. Cô ta là con gái của một cán bộ nằm vùng. Căn nhà mà tôi đã từng tới, đã từng ngủ lại là một cơ sở bí mật tàng trữ vũ khí. Công việc sản xuất đế giày cao su cũng là mặt nổi để họ vận chuyển vũ khí vào thành phố gói kín trong những bành cao su to đùng chuyển từ Tây Ninh về. Tôi còn biết thêm cái ghế bố mà tôi đã từng nằm được kê trên nắp hầm bí mật chứa vũ khí bên dưới. Sau này, người ta giữ lại căn nhà Ngọc Trai ở như một di tích, vì đó là nơi duy nhất ở Saigon cất giấu vũ khí đạn dược mà không bị phát hiện.

Ngọc Trai tạo điều kiện để tôi tới nhà và gặp người Cha bí mật của mình. Thân phụ của cô người cao lớn, nói tiếng Bắc vùng Nam Định, câu chuyện không dài nhưng cởi mở. Ông nói:
“Tôi nghe bà nhà nói về chuyện cậu với con Ngọc Trai nhà tôi. Tôi biết cậu là Sĩ quan, muốn tính chuyện lâu dài, cần phải ổn định cuộc sống. Muốn ổn định thì cậu cần phải học tập. Tôi có thể giúp cậu bằng cách đưa cậu ra phường trình diện và đi học tập ngay. Học xong sớm rồi về mà xây dựng lại cuộc sống gia đình.

Tôi hoãn binh bằng cách nói rằng sẽ bàn lại với gia đình. Nhưng thực sự trong tinh thần hoang mang bất định lúc đó, tôi có cảm giác mọi chuyện không đơn giản như lời nói, và xã hội đang vận hành bằng những bước đi phức tạp và khá buồn. Tôi về, và bắt đầu tránh né những lần đi chung với Ngọc Trai. Rõ ràng vẫn là cô gái ấy, vẫn là những săn sóc chăm lo cho nhau, nhưng giờ đây một cái gì đó không tả ra được làm con người mình dường như không là mình nữa.

Lúc thân phụ Ngọc Trai (về sau tôi biết bí danh là Ba Mủ) đề nghị tôi đi học tập thì chưa có lệnh tập trung sĩ quan công chức miền Nam đi học tập, nghĩa là lúc đó chẳng ai biết học tập cải tạo là gì, ra sao... Và sau này, khi hồi tưởng lại, tôi cũng tin chắc rằng ngay cả người nằm vùng như bác Ba Mủ cũng không biết thế nào là tập trung cải tạo.
Ngọc Trai ghé nhà nhiều lần không gặp, để lại thư nhắn tôi lên số 4 Duy Tân buổi sáng để gặp bạn bè.

Khi tôi lên, gặp lại Bằng, Hùng, Linh, Linh đầu bạc, Hùng hí và Ngọc Trai. Ngọc Trai đề nghị chúng tôi lập lại một nhóm giống như Du Ca, lấy tên là Thanh Ca Tác Động. Nhóm này khi sinh hoạt tại số 4 Duy Tân đã tập trung lên đến hàng trăm thanh niên sinh viên tới chơi chung. Nhóm được đưa vào hội trường chính để nghe hát và dạy hát bài ca mới, rồi đưa đi các trường Đại Học dạy lại cho sinh viên… Dường như chỉ khoảng vài tháng, một buổi sáng, đang tập họp thành vòng tròn, một cán bộ thành đoàn xuống phổ biến một thông báo, thông báo rằng giải tán tổ chức Thanh Ca Tác Động, và cấm các thành viên của nhóm tự ý tụ tập sinh hoạt bất cứ nơi đâu.
Chúng tôi chia tay nhau, ai về nhà nấy.
Không gặp lại Ngọc Trai.

Tháng 9 năm 1975, đợt đổi tiền đầu tiên ở miền Nam là một cú đấm trực diện vào kinh tế xã hội miền Nam. Thiếu thốn, kham khổ từ trước, nay nặng nề hơn thành đói kém, thê lương. Mọi gia đình đều cố gắng thu vén, bán được cái gì thì bán bớt bổ sung vào miếng ăn. Những gia đình họ hàng mà tôi quen biết, gia đình nào cũng có nỗi đau xót riêng, tựu trung là mất mát, chia ly, thiếu hụt và cái chung nhất là hoang mang không biết sẽ ra sao. Mấy anh chị trong gia đình tôi thì hai người anh đi học tập cải tạo chưa biết bao giờ về, một gia đình người chị đi nước ngoài, một gia đình người chị ở lại đi dạy học và thường xuyên lên lớp với cái bụng trống không. Tôi không tìm được việc làm, kể cả công việc nặng nhọc như lao động.

Giữa lúc đó, Ngọc Trai tìm đến. Cô ta hỏi thăm về người anh kế tôi, đang học tập cải tạo ở Đà Lạt. Mẹ tôi thở dài, không có tin tức gì, về con dâu và bốn đứa cháu nội. Ngọc Trai hỏi Bác có muốn con đưa N. lên Đà Lạt thăm anh Diễm và gia đình không? Tôi lắc đầu liền, không đi đâu, xe cộ khó khăn và tiền bạc không có. Nhưng mẹ tôi thì nghĩ đến con trai, con dâu và các cháu nên bị lung lạc. Để làm mẹ yên lòng, tôi theo Ngọc Trai lên Đà Lạt tìm thăm anh Diễm.

Khi xe chạy ra khỏi thành phố, chúng tôi ngồi bên nhau trong im lặng. Tôi đưa mắt nhìn mông lung những hàng cây xa tít tắp, những mảnh vườn, mái nhà hiu quạnh bên đường. Tôi thoáng có ý nghĩ tìm một miếng đất làm vườn làm rẫy sống qua ngày… Khi xe gần đến Bảo Lộc để chuẩn bị dừng cho khách ghé ăn trưa, Ngọc Trai giúi vào tay tôi tờ giấy 50 đồng, nói cầm lấy để chi phí lặt vặt cho chuyến đi. Ăn trưa xong, tôi rút tiền ra trả nhưng nhân viên tiệm ăn từ chối. Tờ giấy 50 đồng quá lớn khi ăn hai đĩa cơm chưa tới 3 đồng. Tờ 50 đó tôi giữ lại cho tới khi về lại Saigon trả lại cho Ngọc Trai.


Những ngày ở Đà Lạt, Ngọc Trai trở về như cô gái ngày xưa, đằm thắm, dịu dàng, sắc sảo và rất thông minh. Chúng tôi vào tận trại cải tạo ở Trại Mát thăm anh Diễm, rồi sau đó đi thăm chợ Đà Lạt, thác Prenn, Cam Ly, tản bộ trên sân Cù, đi bộ dọc theo hồ Xuân Hương. Cả hai không đề cập hay nhắc tới chuyện tôi đến gặp bác Ba Mủ, hay chuyện tình cảm giữa hai người. Tôi biết chắc đó không phải là tình yêu, chúng tôi chưa bao giờ nói với nhau những lời tình tứ riêng tư. Có lần, Ngọc Trai nói dường như tôi đã thay đổi nhiều lắm, cái sôi nổi, hào hứng ngày xưa có vẻ như đã chìm vào đâu đó.
- Không phải vậy. Ngày xưa khi tôi nói là tôi tin rằng những điều mình nói là đúng, nên đủ tự tin để giãi bày ra và hăng say bảo vệ nó.
- Còn bây giờ?
- Bây giờ? Bây giờ tôi nghi ngờ cả sự có mặt của tôi trên mặt đất này, không chừng cũng là điều không thực.
- Bạn không cảm thấy vui khi mình đi bên nhau sao?
- Ngọc Trai vẫn là một người nữ nhiều cá tính và thú vị. Bên cạnh Ngọc Trai là bên cạnh những đợt cuồng phong, cạnh những làn sóng lớn, những chuyển dịch bất ngờ… và đôi khi từ đó vẫn nảy sinh những ước mơ nóng bỏng nhưng...
- Nhưng sao?
- Nhưng đời sống vẫn phải có sự bình ổn về tinh thần. Sự bình an và thư thái nhẹ nhàng...
- Bạn thấy bất an khi mình ở bên nhau?
- Không nói thế được, sự bất an trong tôi bấy lâu nay là thường trực, dù có Ngọc Trai bên cạnh hay không.

Chúng tôi cùng im lặng và giữ gìn tránh tranh luận cho tới lúc về lại Saigon. Tôi buồn. Và buồn hơn khi tôi biết tôi làm Ngọc Trai buồn. Ngọc Trai dành cho tôi rất nhiều sự quan tâm, và có thể nói là chiều chuộng, ngoại trừ những lúc tranh luận, còn không thì Ngọc Trai chiều chuộng tôi như chiều chuộng một đứa em. Bên cạnh Ngọc Trai tôi thấy mình nhỏ bé và thiếu tự tin. Tôi quý Ngọc Trai nhiều lắm, nhưng cái tình cảm đó có vẻ như tình bạn, một tình bạn không bình đẳng mà tôi thuộc về phía yếu kém.

Khi xe về đến bến ở đường Nguyễn Tri Phương, chúng tôi đi bộ về nhà Ngọc Trai, sau đó cô ta lấy xe chở tôi đi. Chúng tôi chạy loanh quanh và ghé ngang qua 19 Kỳ Đồng. Ngôi biệt thự bây giờ bỏ hoang, không người cư trú. Cây hoa sứ lớn giữa sân trong bóng đêm như tỏa ra một vòm tối ám, âm u, nhìn lên trên lầu, cái cửa sổ rộng mở toang, nhìn vào bên trong một khoảng nhờ nhờ trắng, hoang tịch. Ngọc Trai hỏi tôi có muốn ghé vào thăm một chút không. Tôi lắc đầu. Ngọc Trai đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ gấp tư và bảo lát về nhà hãy đọc, rồi rồ ga chạy.

Khi Ngọc Trai chở tôi về nhà ở cầu chữ Y, trời đã tối, chuyến đi bốn ngày làm cơ thể tôi nhão ra như mất sức, những suy nghĩ dằn vặt làm tôi chóng mặt và có cảm giác như đang sốt. Tôi lăn ra ngủ. Sáng hôm sau, thức dậy, chợt nhớ tới tờ giấy Ngọc Trai đưa hôm qua, tôi ngồi dậy lục tìm và mở ra. Trong đó chỉ một dòng chữ ngắn:

“Philippe ơi, đọc nhật ký của Isabelle nhé.”
Philippe là nhân vật nam, còn Isabelle là nhân vật nữ trong tác phẩm Climats (Mặc Đỗ dịch với tựa là Tâm Cảnh) của André Maurois. Cuốn sách Ngọc Trai tặng tôi hồi hai đứa mới quen nhau, tôi tìm trong nhà, không còn cuốn đó, nhưng vì là sách được dạy trong chương trình giáo khoa lớp Đệ Nhị, nên tôi nhớ đại khái là khi Philippe chết vì bệnh phổi, vợ ông, Isabelle, viết trong nhật ký hồi tưởng, câu kết thúc nhật ký và cũng là kết thúc tác phẩm là: “Em tin rằng nếu em giữ được anh, em sẽ biết cách đem vui sướng đến cho anh, nhưng định mệnh và lý trí chúng ta thường lỗi điệu”.

Virginia, tháng 5/2018
Nguyễn Minh Nữu


Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2026

Lỗi Hẹn - Thơ: Huỳnh Nguyễn Thanh Tâm - Nhạc: Phạm Anh Dũng - Tiếng Hát: Ngọc Quy

Thơ: Huỳnh Nguyễn Thanh Tâm
Nhạc: Phạm Anh Dũng
Tiếng Hát: Ngọc Quy

Thương Về Cố Nhân

 

Sáu mươi năm gặp lại
Tà áo tím ngày xưa
Quảng Trị buồn gió mưa
Em vẫn còn thương khóc.

Nhớ thời xưa Trung Học
Em gái thích vui đùa
Tuổi học trò ngây thơ
Tỏ tình qua mắt biếc.

Lòng tôi chưa nói thiệt
Đã lính tráng xa đời
Bỏ lại tình em tôi
Đời sương pha nắng gội.

Bao năm qua chờ đợi
Vẫn mắt biếc môi cười
Quảng trị gió mây trôi
Có em làm tri kỷ

Đăng Nguyên

Bài Thực Tập SPCN



*Cô ''SPCN'', bây giờ cô ở đâu?

Cô sinh viên Khoa Học
Đang hái lá trong vườn (*)
Tôi qua, nghe mùi tóc
Mùi nắng khét … dễ thương!

Cô sinh viên hái lá!
Có hái mộng không nào?
Mộng tôi treo đầy cả
Trong vườn, trong chiêm bao

Cô sinh viên! Cầm lấy
Đóa hoa hồng hoang sơ
Đừng rụt rè sợ hãi
‘’Tôi hiền hơn …ma sœur ‘’

Cô sinh viên! Ngày đấy
Ngày chủ nhật ngoan hiền
Cô nên cười một cái
Cho đời thêm chút duyên

Cô sinh viên! Nắng tắt
Mình giã từ nhau thôi
Mốt mai, trời khiến gặp
Nhớ cho tôi nụ cười!

Cô sinh viên Khoa Học
Vừa hái lá trong vườn
Tôi về, qua mấy dốc
Lòng vẫn còn vấn vương...

BP
(dự bị MPC)
12/1976
(*): Trước 75, chứng chỉ dự bị SPCN (Đại học Khoa Học Sài Gòn)
 có các buổi ‘’TP’’ Thực vật học, sinh viên ‘hái lá’ ép khô, ghi tên, họ thực vật ….


Vòng Luân Vũ Cuối Cùng

 

Đêm nghiêng xuống ly say
Mưa gõ ngoài hiên buồn
Trời Virginia trôi thật khẽ
Như một lời chưa nói ra

Anh ngồi ở góc quen
Đếm giọt mưa ngoài kia
Khói bay quanh mái tóc
Từ khi ta biết nhau

Ly whisky còn dang dở
Tên em nằm ở môi
Anh tưởng mình đã quên
Mà tim đau còn gọi

Em đẩy cửa thật chậm
Áo mưa còn ướt vai
Mắt chạm nhau một nhịp
Cả quán như lặng dài

Bài nhạc cũ tua lại
Trong ngực em chênh vênh
Bao năm đã đi qua
Mà đau như còn nguyên

Vòng luân vũ cuối cùng
Riêng cho em và anh
Vòng luân vũ cuối cùng
Tim sao còn mong manh

Khi tiếng đàn vừa dứt
Ai còn giữ tay ai
Virginia đêm mưa
Còn lại gì ngoài kia?

Vòng luân vũ cuối cùng
Xin dìu chậm thôi mà
Vòng luân vũ cuối cùng
Đừng buông như hôm qua

Nếu có còn một lần
Ta sẽ gọi tên nhau
Cho mưa rơi gội hết
Trong mắt ngỡ đêm sâu

Nếu thời gian quay lại
Em còn chọn anh không?
Nếu chọn anh lần nữa
Mình có đau thêm không?

Ly rượu này đắng quá
Nhưng anh vẫn uống cạn
Em cũng chưa từng quên
Cái hôm mình bên nhau

Thôi cứ để đêm này
Nói thay phần tim đau
Mai đường chia hai lối
Ta còn mang nhau theo?

Vòng luân vũ cuối cùng
Riêng cho em và anh
Vòng luân vũ cuối cùng
Tim sao còn mong manh

Vòng luân vũ...
Đã hết rồi anh...
Em còn đứng đây
Mà như tan trong mưa

June 2026
Tuan Dang

Hiện Tượng Krishnamurti


Hiện tượng sống: KHÔNG THỜI GIAN
Bạn không biết sống cái khoảnh khắc hiện giờ, ấy là bạn chết rồi chính bạn và cái bao la của Cuộc Sống (Krishnamurti).

Đó là hiện tượng Krishnamurti, một mình bật nổi, không mặt nạ, giữa thế hệ, thuần túy như một năng lực của Cuộc Sống. Hơn thế nữa, Krishnamurti, chính là Cuộc Sống, cuộc sống không phấn son, mộc mạc mà huyền diệu, tịnh mà động, một mà là tất cả. Cuộc sống ấy vừa là nhân vừa là quả, vừa là phương tiện vừa là cứu cánh, tự nó đủ cho nó, đủ để mà tự chứng minh, tự hiện hữu, không phải ông thầy đời thầy đạo dạy nó phải thế nào mới là hợp lý hợp tình. Lý và tình là của người đời. Vì có người nên có đời - hai đối thể - nên người muốn đời phải như thế này thế nọ, trong khi đời là đời, tự nhiên nó vậy là vậy thế thôi.

Nhân nguyện như thử như thử
Thiên lý nhi lai nhi lai.

Thiên lý đó là cuộc sống. Cuộc sống ấy là thực tại. Cho nên muốn nắm được thực tại phải nhảy vào trung tâm điểm của cuộc sống, đừng lãng vãng vòng ngoài mà bị mê hoặc bởi những biểu tượng do con người đặt ra để biểu thị cuộc sống: danh từ, tư tưởng, triết học, văn nghệ v.v… Phải đi thẳng vào cuộc sống, đừng tránh né một bên. Phải nhập một với cuộc sống. Phải tự mình là cuộc sống thì mới hiểu, nhân đó hành động mới thức thời.

Nói một cách khác, trong trạng thái nhập một ấy, hiểu cũng là sống, mà hành cũng là sống, tất cả đều tùy duyên mà ứng hiện lên từ một nguyên lý đại đồng. Cho nên sanh ra là thuận lẽ trời, mà chết đi cũng thuận lẽ trời. Hoa nở là đạo mà hoa rơi cũng là đạo. Đạo là Chân lý. Chân lý là Cuộc Sống.

Ta quan niệm cuộc sống diễn ra trong thời gian. Thời gian có quá khứ, hiện tại và vị lai. Ta đã sanh ra: đó là quá khứ. Ta sẽ chết đi: đó là vị lai. Giữa hai giới hạn ấy là tấn bi kịch sống.

Tuy nhiên, quá khứ đã chết rồi, còn tương lai thì chưa đến - và chẳng khi nào đến. Cả hai đều là ảo ảnh, là hư vô. Một cái đã thoát khỏi ta, một cái ta mong đến. Hầu hết chúng ta đều đặt cuộc sống trên hai chiếc phao nổi ấy - hai bào ảnh. Còn hiện tại thoát khỏi ta, hoặc ta cố tình trốn tránh. Krishnamurti dạy rằng cuộc sống chẳng phải diễn ra liên lạc trong thời gian, mà diễn ra, tròn đầy, tuyệt đối trong hiện tại. Chỉ có hiện tại là thực.

Hiện tại là gì? Đừng nghĩ đến nó. Nghĩ đến nó thì mất nó.

Thật vậy, khi tôi vừa mở miệng nói “hiện tại” thì hiện tại đã thành quá khứ rồi. Như vậy hiện tại không phải là một khoảng phút giây nào đó, dầu li ti đến mức không thể hình dung gì được, vì nếu thế thì hiện tại đã “bị” kéo dài thành một kỳ gian, lấn một phần về quá khứ và một phần về tương lai. Cho nên ta không thể nghĩ đến hiện tại được. Nghĩ đến hiện tại là một việc làm phi lý. Ý nghĩ và hiện tại không nằm chung trên cùng một bình diện.

Cùng lắm, ta chỉ có thể hình dung hiện tại như một lằn giới tuyến phi lý giữa quá khứ và tương lai. Phi lý vì đường giới tuyến không có bề dài, không có dung tích. Đó là một con đường không. Hiện tại là một cái không vậy.

Cũng như trong hình học, điểm là chỗ cắt đứt nhau của hai đường; trong nhận thức, hiện tại là điểm cắt nhau giữa vĩnh cửu và kỳ gian. Điểm không có chiều dài nên “không mà có”. Hiện tại không có dung tích nên “có mà không”. Cái không ấy là cái vô tận.

Tôi cả quyết cùng các bạn rằng muôn vật đều sanh ra từ cái không ấy; tất cả những gì mới tinh khôi đều ứng hiện từ cái trống không ấy, bao la, vô lượng vô biên. Đó là sự thực, không phải là trò tiểu thuyết hoang đường.

Cùng lắm, ta chỉ có thể gọi hiện tại là cái hiện giờ, cái chớp nhoáng, cái hiện tiền, cái khoảnh khắc. Cuộc sống diễn ra và mới lạ mãi trong khoảnh khắc ấy.
Nhật tân, nhật tân, hựu nhật tân.

Không ai có thể nghĩ ngợi gì được về cái tân ấy, tự nó vốn không có thời gian. Ta có thể nghĩ đến ngày qua, ngày mai, vì ý nghĩ, cũng như ngày qua, ngày mai, đều nằm trên một bình diện: thời gian.

Cái không thời gian thì viên mãn từng khoảnh khắc, không nhân không quả. Cái có thời gian thì nối tiếp mãi để trở thành, nghĩa là biến đổi từ một trạng thái tương đối này đến một trạng thái tương đối khác, và mãi mãi không lúc nào gọi là viên mãn được. Cho nên mê mà cầu mong sẽ ngộ ở một ngày mai nào đó thì cái ngộ ấy chỉ là một tên gọi khác của cái mê. Vậy phải làm sao?

Krishnamurti khuyên chấm dứt tất cả điều sở cầu, dầu cầu làm thánh làm hiền. Ngược lại, phải chứng nghiệm cái hiện tiền.

Trong hiện tiền không có ý nghĩ, nên hiện tiền không trở thành trong thời gian. Trong ý nghĩ không có hiện tiền, nên hiện tiền là tự tại ngoài thời gian.

Khám phá, ngộ nhập được cái hiện tiền ấy là giải thoát khỏi thời gian, luật nhân quả, và đau khổ. Mọi sự tu chứng của đạo giáo, hạnh phúc, tình thương, sự thật đều từ khoảnh khắc không thời gian ấy mà thành tựu.

Krishnamurti nói:
Sự giải thoát không nằm ở ngày mai mà cũng không có ở ngày qua. Tôi dám quả quyết rằng chỉ có hiện tại, hiện tại ngay bây giờ đây, mới chứa đựng tất cả sự vật…

Cuộc sống điều hòa ở nội tâm không thể đạt được ở quá khứ cũng như ở tương lai, mà ngay ở giao điểm của quá khứ và tương lai, tức là ở hiện giờ. Chứng được giao điểm ấy là không thấy có quá khứ và tương lai, sống và chết, thời gian và không gian. Chính cái hiện giờ ấy là sự giải thoát.

Muốn giải thoát đừng trông cậy vào tương lai, vì tương lai không bao giờ cùng, hễ ta còn chưa hiểu thì tương lai còn kéo dài mãi. Nếu hiểu rồi thì giải pháp nằm ngay đấy, nơi gặp nhau giữa quá khứ và tương lai, nghĩa là ở chỗ hiện giờ. Hiểu được vậy là vượt qua tất cả định luật, tất cả giới hạn, là thoát khỏi nghiệp báo và luân hồi. Những thứ ấy, dầu là sự kiện thật đi nữa, vẫn mất hết giá trị, vì con người đã thường trụ rồi ở vĩnh cửu…

Muốn sống ngay cái hiện giờ ấy - cái chân cửu ấy - bạn phải xa lìa tất cả những gì thuộc ngày cũ hoặc mai sau. Tất cả những tín ngưỡng điêu tàn, những lý thuyết hư ngụy, những thần tượng, tất cả phải mất đi; và bạn phải sống - như đóa hoa tỏa khắp hương thơm cho thiên hạ - tập trung hẳn vào cái hiện giờ đây, nó không phải là ngày qua hoặc mai sau, nó không xa cũng không gần. Cái hiện giờ ấy bao dong cả lý và tình trong nhịp thái hòa…

Cái hiện giờ ấy là thực tại, và chỉ từ nơi đó mới hoàn thiện được cuộc sống. Cái hiện giờ ấy hiển hiện bất cứ nơi đâu, nó hiện thực ở mỗi người chúng ta, toàn vẹn, tròn đầy, tự tại.

Nhưng do đâu từ những điểm rời rạc ta lại thấy thành dòng thời gian liên tục? Đó là do ký ức nằm trong tâm thức chúng ta.

Ta có ký ức vì ta có kỷ niệm. Ta có kỷ niệm vì ta trốn sống. Ta không sống thật với tất cả nhiệt thành của con người thật, mà ta chỉ sống trên tên gọi, nhãn hiệu, biểu tượng, sống bằng sách vở, bằng kinh nghiệm của người khác (1). Cuộc sống dang dở để lại một kỷ niệm cũng như củi cháy dang dở để lại tro tàn. Kỷ niệm chồng chất lâu ngày kết lại thành bản ngã. Con người chúng ta là kết tinh của bản ngã ấy, nghĩa là của quá khứ vậy.

Với cái ngã ấy, càng ngày càng được củng cố, con người càng biệt lập với loài người, biệt lập và loại trừ ra ngoài tất cả những gì chẳng phải là mình, tất cả cái phi ngã. Đó là đầu mối của mọi sự tranh chấp làm ray rứt từ nội giới đến ngoại cảnh, xã hội, loài người. Cái ngã càng cứng rắn bao nhiêu thì cái phi ngã càng khủng khiếp bấy nhiêu. Con người đâm sợ, sợ mất cái ngã, và tất cả những gì là sở hữu của ngã. Sợ, con người cần tự vệ. Muốn tự vệ, cần tấn công. Tấn công để chiếm hữu.

Sự chiếm hữu không phải chỉ nhắm vào những của cải vật chất (tiền bạc, ruộng đất…) mà còn bao gồm luôn những sở hữu tinh thần (học vấn, cấp bằng..) và những tình cảm (yêu đương, uy tín…).

Khi tinh thần chiếm hữu đi vào đoàn thể thì “cái tôi” được thổi phồng lên thành “cái chúng ta” mang đủ màu sắc kỳ thị: tinh thần bộ lạc, quốc gia, chủng tộc. Hai trái bom Hiroshima đủ vạch trần bộ mặt của “cái chúng ta” ấy, chung qui đều vì sợ mà tự vệ và tấn công vậy. Và mọi cuộc xung đột, bạo động, chiến tranh, cách mạng, đều là hiện thân của lòng vị kỷ tập thể được nung sôi đến cực độ để bảo vệ cái tôi tập thể ấy.

Toàn thể nền văn minh hiện đại đều xây dựng trên cái tôi ấy.

Cái tôi bắt nguồn từ quá khứ, nên mọi hành động của con người đều phản bội lại hiện tại, chối bỏ cuộc sống, trốn tránh sự thật. Càng vùng vẫy, con người càng chìm đắm thêm giữa mâu thuẫn và khổ đau, càng cảm thấy thấm thía hơn tất cả nỗi phi lý của kiếp người.

Sống là phi lý. Làm gì cũng là phi lý. Mà chết quách đi cũng là phi lý. Tất cả đều là phi lý: đó là tiếng nói của thời đại - của cái tôi. Vậy bài toán đặt ra là giải thoát con người khỏi cái phi lý ấy mà cũng đừng thay thế vào đó bằng cái hữu lý nào khác.

Nói một cách khác, chỉ đả phá chứ không xây dựng, chỉ phủ nhận chứ không chấp nhận, vì lẽ trên quan điểm hiện thực, phủ nhận tức là chấp nhận, đả phá tức là xây dựng, không làm gì hết là làm tất cả (2), cái không tuyệt đối bao gồm luôn cái có tuyệt đối.

Do đó, con đường giải thoát là con đường vô vi: không đuổi theo thời gian mà dừng lại ở hiện tiền. Cái hiện tiền ấy tự nó là viên mãn, nên thân chứng vào cuộc sống không đòi hỏi chút công khó hoặc thời gian nào.

Bạn có thể được giải thoát, nhưng phải ở hiện tại, ngay bây giờ đây, chứ không phải ở ngày mai.

Ngay bây giờ đây là đoạn tuyệt với quá khứ nằm ở ký ức, ở bản ngã, và nhất là ở tâm thức con người. (còn tiếp)

TRÚC THIÊN, 1969

Lời bình

(1): Mọi vay mượn kiến thức trong lãnh vực tinh thần hay tâm linh, cùng với việc theo đuổi kinh nghiệm của người khác hay kinh nghiệm của chính bản thân đều là hình thức tự củng cố bản ngã, không giải quyết được tận gốc những bất ổn và khát vọng thành đạt vi tế ở nội tâm. Tất cả những vay mượn và theo đuổi đều ẩn chứa khuôn mẫu nằm trong lãnh vực thời gian, là sự tích chứa quá khứ của "cái tôi" nên luôn lỡ nhịp trước thực tại hiện tiền sinh động, tinh khôi của sự sống.
Bẩm sinh bạn đã là một nguyên bản, đừng chết như một phiên bản ( John Mason )

(2): Không làm gì hết là làm tất cả.
Tất cả những hành động theo khuôn mẫu do tư tưởng con người đặt để đều thuộc về thế gian pháp (pháp hữu vi) và có tính tương đối, nghĩa là vẫn còn luẩn quẩn trong vòng thời gian. Hành động dựa trên khuôn mẫu bởi quan niệm, về tâm lý, luôn ẩn chứa sợ hãi bị trừng phạt và luôn muốn được một phần thưởng nào đó trong tương lai.

Với người đã Thấy ra thực tại pháp ( pháp vô vi, phi thời gian); chính cái Thấy này, tự nó có hành động sáng tạo không có khuôn mẫu (không có người làm) nên hành động này không ai dạy ai được, không ai làm gương cho ai và cũng không ai bắt chước ai được. Đó là ý nghĩa: Không làm gì hết mà làm tất cả (vô vi nhi vô bất vi). Và cũng chính hành động sáng tạo, hoàn toàn không có cái tôi (vô ngã: không có người làm) này mới có tác dụng chuyển hóa - không nhiều thì ít - đối với con người (ngã vô vi nhi dân tự hóa).

PAD

Triết Luận Đời Sống


Nhiều người thường nghĩ cái tôi là điều cần phải loại bỏ. Thực ra không phải vậy.
Nếu không có cái tôi, con người sẽ không còn lòng tự trọng, không biết bảo vệ phẩm giá,
không dám theo đuổi ước mơ, cũng chẳng đủ nghị lực vượt qua nghịch cảnh.
Chính cái tôi đã khiến cậu bé nghèo quyết tâm học hành để đổi đời.
Chính cái tôi khiến người nghệ sĩ dành cả đời đi tìm cái đẹp.
Chính cái tôi khiến nhà khoa học miệt mài khám phá chân lý.
Chính cái tôi giúp con người không chịu khuất phục trước bất công.

Ở phương diện ấy, cái tôi là ngọn lửa của ý chí. Nó tạo nên bản lĩnh, lòng tự tin và khát vọng vươn lên.
Không có cái tôi, nhân loại sẽ không có những phát minh, những tác phẩm văn chương bất hủ hay những cuộc cách mạng làm thay đổi lịch sử.
Nhưng ngọn lửa nào cũng có thể sưởi ấm, và cũng có thể thiêu rụi chính người đang nhóm nó.
Khi cái tôi biến thành bản ngã.
Điều đáng sợ không phải là có cái tôi.
Điều đáng sợ là con người đồng nhất mình với cái tôi.
Khi ấy, ta không còn nhìn sự việc như nó vốn là, mà chỉ nhìn qua lăng kính của sự tự ái, đặt cái tôi của mình lên cao một cách qúa đáng.
Ta luôn muốn mình đúng.
Muốn mình hơn người.
Muốn người khác phải công nhận mình.
Muốn chiến thắng ngay cả trong những điều không đáng để thắng.
Cái tôi lúc ấy giống như một vị vua độc đoán ngự trị trong tâm trí.
Nó không cho phép ta nhận lỗi.
Không cho phép ta học hỏi.
Không cho phép ta cúi đầu.
Và cũng không cho phép người khác tốt hơn mình.
Có những cuộc cãi vã trong gia đình kéo dài hàng chục năm chỉ vì không ai chịu nói một lời xin lỗi. Có những tình bạn tan vỡ chỉ vì một lời tự ái.
Có những cuộc chiến tranh nổ ra vì lòng kiêu hãnh của vài con người đứng đầu một quốc gia.
Điều tưởng chừng rất nhỏ trong một tâm hồn lại có thể tạo nên những bi kịch rất lớn của lịch sử.
Cái tôi càng lớn, thế giới càng nhỏ
Trích đoạn bài viết về Cái Tôi

Viết đến đây, tôi chợt nhận ra rằng suốt hơn tám mươi năm qua, điều tôi đi tìm không phải danh vọng, cũng không phải chiến thắng,
mà chỉ là tìm hiểu chính mình. Và khi nhìn lại, tôi thấy hình ảnh ấy đã từng xuất hiện trong một bài thơ tôi viết nhiều năm trước.
Một hạt bụi nhỏ giữa cõi nhân gian..." và tôi lục tìm trong các tập thơ thì nhận ra bài thơ này nằm trong tác phẩm Lời Của Dòng sông.
Tôi xin chia sẻ bài thơ này thay cho lời kết thúc bài viết.

Tôi Là Hạt Bụi

Chỉ là hạt bụi bơ vơ
Nằm trong sa mạc đợi chờ đổi thay
Luân hồi theo cánh mây bay
Gió xuân mở lối đắm say lời thề.

Cuộc tình giao hợp đê mê
Giọt rơi kết tụ chọn bề ái ân
Hạt bụi từ cõi phù vân
Hữu duyên tiền định, hoá thân làm người.

Hạt bụi mang một phận đời
Hồn đâu nhập xác đổi dời phong ba
Từ nay hồn ở trong ta
Ngao du sơn thuỷ ta bà trần gian.

Dường như tiền kiếp thân mang
Văn chương, thơ phú, chứa chan đoạn trường
Một đời trong cõi vô thường
Nhả thơ, viết sách, cúng dường thế nhân.

Nhìn kệ sách lòng phân vân
Từng chồng bụi bám, tần ngần cơn mê
Ngày nay sách vở bộn bề
Không ai muốn đọc, buồn tê tái lòng

Lạnh hồn ngọn gió phương đông
Xót xa cây cỏ ngoài đồng tuyết rơi
Xuân thay áo mới da trời
Văn nhân cũng muốn đổi dời đường xa.

Nào ngờ số phận đào hoa
Lụa hồng gió cuốn tơ ngà nhẹ bay
Em về hoa nở trên tay
Cho tôi ngơ ngẩn tình này trót mơ.

Tiếng chim khuyên hót trên bờ
Âm vang tiếng gọi bơ vơ thẹn thùng
Lời tỏ tình vẫn ngập ngừng
Bài thơ đang viết giữa chừng bỏ quên.

Từ nay đời biết gọi tên
Tình yêu thánh hóa bình yên mộng đầu
Cũng từ nay chạm nỗi sầu
Tình đời đen bạc thiên thâu dặm trường.

Tà dương nhuộm tím cung đường
Tóc xanh nay đã khói sương bạc đầu
Không còn ngần ngại mưa mau
Lời thơ đã thảo đôi câu ân tình.

Lúc phiêu bạt chỉ một mình
Trầm luân chết đứng lặng thinh giữa trời
Tiếng nghe tha thiết rụng rơi
Ngàn đêm thức trắng chơi vơi đoạ đầy.

Giữa trời đất bao đổi thay
Mất đi từng mảng sương gầy thịt da
Súng buông rơi, chiến tranh qua
Đổi dời tranh chấp xót xa phận tù.

Người về chọn một đường tu
Bể dâu sóng vỗ, cho dù sắc không
Sông xưa xuôi chảy một dòng
Nửa đời trả kiếp, tấm lòng thuỷ chung.

Nhớ nhau ngày hội tương phùng
Thời gian hoá độ nghìn trùng cách xa
Một đời từng trải phong ba
Bây giờ ngắm bóng chiều tà ngả nghiêng.

Tế Luân

Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2026

Hương Sắc Ngày Qua - Nhạc & Lời: Nguyễn Thanh Cảnh - Hòa Âm: Đỗ Hải - Ca Sĩ: Anh Bằng

Nhạc & Lời: Nguyễn Thanh Cảnh
Hòa Âm: Đỗ Hải
Ca Sĩ: Anh Bằng

Có Hôm Chợt Nhớ Sài Gòn



Có hôm chợt nhớ Sài Gòn
nhớ hàng me dọc con đường lá bay
nhớ môi ngon nhớ quán đầy
nhớ bàn ghế thấp nhớ tay ngón mềm

Nhớ Sài Gòn còi giới nghiêm
tiếng rao khuya vọng nỗi niềm của đêm
nhớ bên gối mỏng hương tìm
nhớ bờ tóc xõa nằm nghiêng dáng trần

Nhớ Sài Gòn sau chiến tranh
cuộc phân ly nối những đành đoạn xưa
chia nhau điếu thuốc chiều mưa
nhớ người ở lại lòng chưa lắng lòng

Nhớ Sài Gòn nắng mong manh
qua con phố nhỏ tìm quanh dáng người
như mây trôi giữa dòng đời
nhớ mùa mưa cũ còn rơi mắt buồn

Nhớ Sài Gòn bóng người thương
đành như con nước mười phương cúi đầu
nhớ Sài Gòn cuộc bể dâu
ngàn năm treo sợi tóc màu hư không...

Durham, North Carolina
Nguyễn Vĩnh Long


Mưa Trên Phố Vắng

 

Mưa từ đâu đến hỡi mưa?
Mưa trên đường phố phất phơ sợi buồn
Nhớ tình thơ thuở mưa tuôn
Mưa mát rượi trái tim buồn hồi xuân
Mưa làm hoa lá xanh tươi
Mưa đem sức sống tưới cành mùa xuân
Mưa đem nguồn nước trong lành
Tưới lên vùng đất khô cằn hắt hiu
Chạnh lòng em nhớ người yêu
Nhớ mưa xưa sánh bước chiều ái ân
Quyện vào nhau dưới mưa Xuân
Mưa rơi lất phất hạt gần , hạt xa
Giữ tình chung tháng ngày qua
Mà sao lạnh giá hồn ta ngậm ngùi
Phố đông đầy ấp bao người
Tìm đâu cho thấy bóng người yêu thương
Mưa và em . Kiếp cô đơn
Một đời thương tiếc buồn hơn bao giờ!


Feb 20 2026
Hoàng Phượng

Mưa

 

Mưa đã về đây mưa nhớ ai
Vườn hoa kỷ niệm nhớ mưa hoài
Giọt sầu giọt tủi thân hờn dỗi
Cành lá tương tư mưa có hay

Duyên kiếp nào không có chuyện buồn
Mưa rơi mờ mịt xoá hoàng hôn
Đường con hò hẹn tan thành nước
Không gặp em về đau dấu chơn

Muốn làm quen em anh nhờ thơ
Mặc nắng mặc mưa anh vui chờ
Em đi tóc gió cười hoa nắng
Khép mở thiên thai em học trò

Khao khát chung dù chung áo mưa
Chờ em phố nhỏ sớm chiều trưa
Lén nhìn em đến như mây khói
Chưa được quen sao xin đón đưa

Rồi một chiều mưa tay trong tay
Tóc ướt môi tìm môi đắm say
Anh muốn thời gian không trôi nữa
Cho mình yêu nhau như hôm nay

Thuở mới quen nhau gần mà xa
Sân trường mắc cỡ nói chi nhà
Nhờ trời mưa lớn tình khôn lớn
Mưa đã làm mai hai đứa ta

Chợ cũ cháo khuya cũng tuyệt vời
Quên ăn vì mãi ngắm em cười
Ớt cay hay má hồng e thẹn
Cầu trời mưa mãi ấm không thôi

Mưa nhầu áo mới bắt đền anh
Say đắm hẹn thề dệt mộng lành
Tay quấn vai mềm chân lạc bước
Hơi thở nhịp tim đói liền cành

Còn nhớ lần đầu được đến nhà
Trời thương mưa mãi cho lân la
Thêm hương thêm lửa tình thơ dại
Em nói em cười điệu tiên nga

Cơn bão năm nào anh thăm em
Sân nhà em trọ nước mông mênh
Em ra mở cổng mưa hôn tóc
Anh tưởng chiêm bao được gặp tiên

Đất khách mưa xuân áo em bay
Dáng xưa yểu điệu mộng mơ đầy
Vườn rau thơm nhỏ em vun bón
Thơ vẫn ngọt ngào thơm đôi tay

Giấc ngủ đêm mưa xuân cùng mình
Mắt môi sôi lửa má hoa xinh
Nửa đời lận đận thêm ân ái
Mình vẫn thèm ru mưa chung tình ....


MD.12/09/1999
LuânTâm