Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2026

Nhạc Sầu Tương Tư - Hoàng Trọng - Kim Trúc

Sáng tác: Hoàng Trọng 
Trình bày: Kim Trúc

Buổi Sáng Ra Vườn

 

Sớm mai
mở cửa ra vườn,
nghe bầy chim nhỏ
hót mừng nắng tươi.
Vượt qua giấc ngủ đông dài,
lộc non cuống quýt chen vai cành gầy.

Sớm mai
trời nhẹ hây hây,
gió lùa vạt nắng
làm đầy không gian.
Ra vườn chầm chậm bước chân,
sợ làm đau ngọn rau non vừa trồi.

Trồng vào đây
chút xa xôi,
hương nồng của quế,
tím vời tía tô.
Giậu mùng tơi, khóm bạc hà,
liếp rau húng lủi đậm đà tình quê.

Ra vườn,
sống lại giấc mơ,
ngôi nhà thơ ấu
bên bờ sông Hương.
Trồng vào đây những yêu thương
xưa, còn quanh quẩn trong vườn sáng nay.

Sông-Hương

Mảnh Vườn Xanh


Vui thú điền viên một mảnh vườn
Khung trời xanh ươm màu lá thắm
Tách cà phê thả hồn xa thẳm
Nhớ khung trời bao nỗi vấn vương....

Ai đã qua rừng thẳm dậm ngàn ...?
Áng mây trôi lạc loài cánh nhạn
Cõi hoang vu suối nguồn đã cạn
Giữa đất trời nỗi nhớ mênh mang

Nắng chan hòa bàng bạc trời xanh
Màu lá thắm gợi niềm luyến nhớ
Kỷ niệm đẹp tình thơ một thuở
Mãi đợi chờ ngày tháng mong manh....!

Dấu chân xưa lạc bước đường về...
Mây trắng phủ khung trời xa thẳm
Cánh vạc bay dậm ngàn lá thắm
Cõi trời xa vạn dậm lê thê.........!


Ảnh & Thơ: Ngư Sĩ
 

Ức Sơn Tuyền 憶山泉 - Ngô Dung (Vãn Đường)



(Ngô Dung 吳融 tự Tử Hoa 子華, người Sơn Âm, Việt Châu, đỗ tiến sĩ năm Long Kỷ đời vãn Đường)

Nguyên tác Dịch âm

憶山泉 Ức Sơn Tuyền

穿雲落石細湔湔 Xuyên vân lạc thạch tế tiên tiên,
盡日疑聞弄管弦 Tận nhật nghi văn lộng quản huyền.
千仞灑來寒碎玉 Thiên nhận sái lai hàn toái ngọc,
一泓深去碧涵天 Nhất hoằng thâm khứ bích hàm thiên.
煙迷葉亂尋難見 Yên mê diệp loạn tầm nan kiến,
月好風清聽不眠 Nguyệt hảo phong thanh thính bất miên.
春雨正多歸未得 Xuân vũ chính đa quy vị đắc,
只應流恨更潺湲 Chỉ ưng lưu hận canh sàn viên.

Dịch nghĩa

Nhớ Con Suối Miền Núi

Một dòng chảy xiết thấp thoáng trong mây, quanh co trên đá
Tiếng róc rách như tiếng sáo tiếng đàn
Từ độ cao cả ngàn sải, nước rơi xuống tung toé như ngọc vỡ
Vực sâu thăm thẳm phản chiếu khoảng trời xanh biếc
Sương khói mê ảo, lá cây mọc loạn nên khó thấy
Trăng sáng đẹp, gió rì rào nghe không muốn ngủ
Lúc này mưa xuân đang nặng hạt chưa thể về được
Chỉ có thể trút bỏ nỗi buồn cho dòng nước cuốn đi

Dịch thơ

Nhớ Con Suối Miền Núi

Xuyên mây vạch đá chảy tràn lan,
Chiều xuống nghe như tấu sáo đàn.
Nước đổ từ cao như ngọc vỡ,
Vực sâu xanh thẳm giống trời lam.
Khói mê lá loạn nhìn khó thấy,
Trăng đẹp gió hiền thức vẫn ham.
Mưa rớt nặng nề về chửa được,
Thả buồn theo nước chảy miên man.

Li bàn

Từ kiểu luồn lạch (xuyên mây vạch đá) đến tiếng nước chảy (tấu sáo đàn, như ngọc vỡ) đều là đặc thù của suối núi. Cây lá, sương khói, vực sâu, trăng gió... đều nên thơ.

Hai câu mở đề:
Cho biết khá rõ về con suối: chảy từ trên cao và len lỏi giữa đá, âm thanh phức tạp như hòa nhạc.
Hai câu 3 & 4:
Tả cái vĩ đại của con sưối: Nhìn lên thì thấy nước đổ xuống gây âm thanh của ngọc vỡ (dùng văn tả thác để tả suối). Nhìn xuống vực thì thấy nước đọng thành hồ phản chiếu trời xanh (lượng nước phải nhiều lắm).
Hai câu 5 & 6:
(Nhìn cảnh vật hai bên suối) thì không rõ vì khói (do hơi nước bốc lên) và lá (rậm rạp) lay trước gió che khuất tầm nhìn. (Nhìn lên trời) thì trăng vẫn đẹp khiến thức hoài để ngắm.
Hai câu kết:
(Đột nhiên có) trận mưa lớn. Chả nên quan tâm, nhân lúc mưa xuân cản đường về, thì cứ ngồi nghỉ, thả buồn trôi theo dòng suối, một nỗi buồn dịu ngọt, vu vơ. Tuyệt vời.

  Con Cò
***
Nhớ Suối Núi

Xuyên mây vạch đá nước như bay,
Tựa sáo đàn nghe vọng suốt ngày.
Ngọc vỡ tung rơi ngàn trượng đấy,
Trời xanh in bóng một khê này.
Khói mờ lá dậm nhìn đâu thấy,
Gió mát trăng thanh ngủ khó say.
Nặng hạt mưa xuân về chẳng được,
Nỗi buồn trút bỏ suối trôi ngay.

Mỹ Ngọc.
Jul. 25/2026.
***
Góp ý của Bát Sách:

Góp Ý Cho Bài ỨC SƠN TUYỀN Của Ngô Dung.

Cám ơn những góp ý của anh Giám và anh Tâm. Đọc xong, thấy phân vân, không biết mình hiểu có đúng ý tác giả không.

Tựa bài thơ là Ức Sơn Tuyền, nghĩa là tác giả nhớ lại cảnh cũ, nhưng mấy câu chót thì mình thấy tác giả đang có mặt tại chỗ, mắc mưa, không về được.. chữ hận cũng khó hiểu: sao lại hận, hận cái gì ? Chữ thứ 5 của câu chót phải phiên âm là cánh mới đúng luật bằng trắc.

Bài này có nhiều chữ khó.

&Tận là hết, chết, hết sức như tận tâm, tận tụy; tận ngôn là nói hết lời.
Vậy tận nhật là hết ngày hay cả ngày? Cả ngày hay tối ngày thì hợp lý hơn.
&Sái: rảy nước, vãi ra, tan ra, thoát ra (như sái lạc là thong dong, thoát khỏi mọi ràng buộc). Câu này có chữ hàn, rất khó hiểu
&Toái : vỡ nát.
&Hoằng: sâu thăm thẳm. Tên sông.
&Hàm : chứa, thấm đẫm.
&Tầm: tìm. Đơn vị đo. Rồi. Chẳng bao lâu. Vẫn như cũ.
&Sàn viên : dáng nước chảy chậm, róc rách. Bên trên thì nước chảy mạnh, rơi như ngọc vỡ, bên dưới thì chảy chậm, nghe như trái ngược, nhưng khi suối đi hết chỗ dốc đứng, tới chỗ dốc lài thì nước chảy chậm.

Nhớ Suối Núi

Xuyên mây, lách đá, chảy miên man,
Ngày tối nghe như tiếng sáo đàn,
Ngàn nhận nước rơi như ngọc vỡ,
Hang sâu phản chiếu bóng trời lam.
Khói mê, lá loạn nhìn không rõ,
Trăng đẹp, gió hiền, khó ngủ êm.
Mưa xuân rơi nặng chưa về được,
Gửi hận theo dòng nước tràn lan.


Bát Sách.
(Ngày 30/07/2026)
***
@ ý kiến của Phí Minh Tâm :

...sao lại hận, hận cái gì ?
Chữ hận恨 ngoài nghĩa oán hận còn có nghĩa sầu muộn hối tiếc, tình cảm với cái gì mình không làm được. Ở đây thi nhân nhớ lại cảnh suối rừng và nhớ lại vì bị mưa nên không về nhà được. Tuy nhiên bài thơ được làm thời Vãn Đường, giai đoạn loạn lạc chiến tranh triền miên. Nỗi sầu của tác giả có thể không chỉ là nhớ nhà, mà còn là nỗi bất lực của một trí thức trước thời cuộc đất nước Trung Hoa suy tàn vào cuối thời Đường. pmt
***

Con suối miền núi


Nước tuôn theo đá theo mây trôi
Róc rách nghe như tiếng sáo trời
Tung toé từ cao y ngọc vỡ
Vực sâu thăm thẳm xanh trùng khơi.
Sương mờ cây rậm che không thấy
Trăng sáng gió đùa khó nghỉ ngơi
Mưa đổ ào ào lưu bước khách
Nỗi sầu nước chảy hận bời bờ


Thanh Vân
***
Nhớ Suối Rừng

Xuyên mây vỗ đá tiếng lanh tanh
Nghe thoảng suốt ngày đàn sáo quanh
Ngàn thước nước rơi ngọc lạnh vỡ
Một đầm sâu thẳm biếc trời xanh
Khói mờ, lá rậm tìm không thấy
Gió mát trăng thanh ngủ khó thành
Nặng hạt mưa xuân về chẳng được
Buồn này trút bỏ suối trôi nhanh!


Song thất lục bát:


Tiếng thanh thanh xuyên mây vỗ đá
Nghe suốt ngày ròng rã rạng ngời
Ngọc lạnh vỡ, ngàn thước rơi
Một vùng sâu thẳm in trời biếc xanh
Tìm không thấy khói thành, lá thấp
Ngủ sao đành gió mát trăng trong
Mưa nặng hạt về không xong
Buồn này gửi suối ra sông, biển đầy!


Lộc Bắc
Jul2026
***
Nguyên tác: Phiên âm:

憶山泉-吳融 Ức Sơn Tuyền – Ngô Dung

穿雲落石細湔湔 Xuyên vân lạc thạch tế tiên tiên
盡日疑聞弄管弦 Tận nhật nghi văn lộng quản huyền
千仞灑來寒碎玉 Thiên nhận sái lai hàn toái ngọc
一泓深去碧涵天 Nhất hoằng thâm khứ bích hàm thiên
煙迷葉亂尋難見 Yên mê diệp loạn tầm nan kiến
月好風清聽不眠 Nguyệt hảo phong thanh thính bất miên
春雨正多歸未得 Xuân vũ chính đa quy vị đắc
只應流恨更潺湲 Chỉ ưng lưu hận cánh sàn viên

Nguyên tác bài thơ có đăng trong sách của các thời đại Trung Hoa:

Đường Anh Ca Thi - Đường - Ngô Dung 唐英歌诗-唐-吴融


Đường Thi Cổ Xuy - Kim - Nguyên Hảo Vấn 唐诗鼓吹-金-元好问
Đường Bách Gia Thi Tuyển - Tống - Vương An Thạch 唐百家诗选-宋-王安石
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石仓历 代诗选-明-曹学佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全 唐诗-清-圣祖玄烨

Giải nghĩa các chữ khó:


Sơn tuyền: Suối tự nhiên chảy ra từ núi thường trong mát; không chỉ là nguồn nước uống mà còn là một cảnh quan thiên nhiên đẹp, được ca ngợi trong văn thơ. Một ẩn dụ cho nhân cách hoặc tư duy cao quý và trong sáng, thường được dùng để ca ngợi tư cách của một con người.

Tiên tiên: tiếng nước chảy róc rách hoặc hình ảnh nước phun, rửa sạch, reo vui. Trong ngữ cảnh này mô tả dòng suối nhỏ chảy len lỏi qua đá và mây.

Quản huyền: nhạc cụ thổi (quản - ống sáo) và gảy (huyền - dây đàn). Ở đây ví tiếng nước chảy như tiếng đàn sáo.
Tận nhật: suốt cả ngày
Nhận: đơn vị đo chiều dài cổ của Trung Hoa ngày xưa (tùy thời đại, 1 nhận bằng khoảng 7 đến 8 thước, tương đương 1,84 – 2,4 mét). thiên nhận: ngàn nhận, chỉ vách đá dựng đứng với độ cao ngất ngưởng.
Sái lai: nước bắn tung, vẩy xuống.
Toái ngọc: ngọc vỡ, ví vệt nước suối tung bọt trắng xóa như những viên ngọc tan vỡ.
Hoằng: chỉ một mảng nước hoặc dòng suối nước trong và sâu. nhất hoằng là một làn nước, một vũng nước nhỏ.
Hàm: chứa đựng, bao bọc, soi bóng.
Sàn viên: tiếng nước chảy róc rách triền miên không ngừng, hoặc hình thái dòng nước tuôn chảy lững lờ đầy tâm sự.


Dịch nghĩa bài thơ:

Ức Sơn Tuyền Nhớ Con Suối Miền Núi


Xuyên vân lạc thạch tế tiên tiên
Một dòng nước thấp thoáng trong mây, quanh co trên đá, reo lên những tiếng róc rách,
Tận nhật nghi văn lộng quản huyền
Suốt cả ngày, cứ ngỡ như nghe tiếng sáo tiếng đàn.
Thiên nhận sái lai hàn toái ngọc
Từ vách cao ngàn trượng rơi xuống, dòng suối lạnh tung toé như ngọc vỡ
Nhất hoằng thâm khứ bích hàm thiên
Khi thành một vùng sâu thẳm trải dài về phía xa, màu nước xanh biếc như ôm trọn cả bầu trời.
Yên mê diệp loạn tầm nan kiến
Sương khói mịt mù, lá cây mọc hỗn loạn khiến người ta muốn tìm suối mà khó thấy.
Nguyệt hảo phong thanh thính bất miên
Đêm trăng thanh gió mát, nghe tiếng suối, lòng thao thức chẳng thể ngủ yên.
Xuân vũ chính đa quy vị đắc
Lúc này trời đổ nhiều mưa xuân, ta lại đang chịu cảnh lưu lạc chưa thể trở về quê.
Chỉ ưng lưu hận cánh sàn viên
Đành gửi gắm nỗi hận ly hương vào dòng suối, khiến tiếng nước càng thêm nức nở nghẹn ngào.


Bình luận:

Bài thơ được sáng tác khi tác giả Ngô Dung (850 – 903) đang chịu cảnh ký lữ 羁旅- lưu lạc giang hồ, xa quê hương vào thời Vãn Đường, giai đoạn triều đại nhà Đường khủng hoảng trầm trọng, chiến tranh loạn lạc nổ ra liên miên.. Tiết trời đang là mùa xuân, mưa dầm dề ngăn trở đường về quê nhà. Đứng trước cảnh ngộ bế tắc của bản thân và thời cuộc, nghe tiếng suối núi bên tai, nhà thơ bùi ngùi nhớ về một dòng suối cũ (có thể ở quê nhà Việt Châu, nay thuộc Thiệu Hưng, Chiết Giang), từ đó mượn cảnh suối để ngụ ý tiếng lòng sầu muộn của kẻ tha hương.

Về nội dung với tình và cảnh giao hòa, bài thơ bắt đầu bằng những nét vẽ sinh động về thanh âm và hình ảnh của dòng suối trong núi. Suối không chỉ là vật thể vô tri mà có linh hồn: biết gảy khúc “quản huyền", biết hóa thành "ngọc".

Tuy nhiên, tâm điểm của bài thơ nằm ở hai câu cuối. Nỗi hận "quy vị đắc" (chưa thể về) biến tiếng suối vui tươi ban ngày thành tiếng khóc than nức nở về đêm. Nỗi sầu của tác giả không chỉ là nhớ nhà, mà còn là nỗi bất lực của một trí thức trước thời cuộc loạn lạc cuối thời Đường.

Về nghệ thuật với bút pháp tinh tế tận dụng thính giác và thị giác: tác giả vận dụng tài tình phép thông cảm (synesthesia), nghe tiếng suối thành đàn sáo, nhìn làn nước sâu thấy cả bầu trời.
Cặp câu 3-4 và 5-6 đối xứng hoàn chỉnh:
Câu 3: Thiên nhận (cao ngất) sái lai (động) hàn toái ngọc
(ngọc vỡ lạnh)
Câu 4: Nhất hoằng (sâu thẳm) thâm khứ (tĩnh) bích hàm thiên
(bầu trời xanh)
Câu 5: Yên mê diệp loạn (cái mịt mờ hỗn loạn ban ngày)
tầm nan kiến (tìm khó thấy)
Câu 6: Nguyệt hảo phong thanh (cái sáng sủa thanh tịnh ban đêm)
thính bất miên (nghe không ngủ)
Câu cuối “lưu hận” đã nhân cách hóa dòng suối, thành người bạn tri kỷ đang khóc cùng dòng lệ của thi nhân.


Dịch thơ:

Suối Miền Núi

Xuyên mây trên đá tiếng thì thầm,
Như sáo đàn vang chốn thảo lâm.
Ngọc vỡ lạnh rơi từ nghìn trượng,
Một vùng nước biếc tận xa xăm.
Lá sương đầy loạn khó nhìn thấy,
Trăng thanh gió mát chẳng yên nằm.
Mưa xuân dầm dãi chưa về được,
Suối chảy đem buồn thấu tận tâm.


Mountain Spring by Wu Rong

Through clouds and on rocks and stones, it softly splashes and gleams,
All day long, it sounds like flute and zither themes.
Pouring from thousand-fathom heights, a cold, shattered jade,
Sinking into a deep pool, where the blue skies fade.
Lost in mist and tangled leaves, its source is hard to sight,
Under the bright moon and fresh breeze, its sound keeps me awake through the night.
The spring rains fall heavily and my return home is delayed,
So the flowing stream must carry my sorrow in the murmuring cascade.


Commentary:

The poem blends sound, sight, and emotion into a unified aesthetic experience.
The first couplet uses auditory imagery: the spring as music.
The second couplet shifts to visual brilliance: jade-like water, sky-like depth.
The third couplet creates an ethereal atmosphere: mist, leaves, moon, wind.
The final couplet reveals the poet’s inner sorrow, turning natural sound into emotional resonance.

@ý kiến của Phí Minh Tâm:

Nghĩa của bài thơ được chép lại từ Thi Viện. Dường như trong bài thơ này Thi Viện xài nguyên tác của Ngô Dung, nhưng lại dịch dị bản của NĐTĐT của nhà Thanh.

Câu 2:
Nguyên tác: 盡日疑聞弄管弦 Tận nhật nghi văn lộng quản huyền
nghĩa: Suốt ngày ngỡ như đang nghe ai đó gảy đàn, thổi sáo.
Thi viện: Tiếng róc rách như tiếng sáo tiếng đàn
Dị bản: 杳杳疑聞弄管弦 Yểu yểu nghi văn lộng quản huyền
nghĩa: Thấp thoáng, tiếng sáo và tiếng đàn dìu dặt.

Câu 4:
Nguyên tác: 一泓深去碧涵天 Nhất hoằng thâm khứ bích hàm thiên
nghĩa: Một hồ nước sâu trải dài về phía xa (dưới) bầu trời xanh
Thi viện: Vực sâu thăm thẳm phản chiếu khoảng trời xanh biếc
Dị bản: 一泓深註碧涵天 Nhất hoằng thâm chú bích hàm thiên
nghĩa: Hồ nước xanh ngọc thẳm sâu soi bóng cả khoảng trời bao la.

Góp ý của Huỳnh Kim Giám

憶山泉 Ức sơn tuyền

Từ 憶=ức trong đầu đề cho người đọc biết rằng thi nhân đang nghĩ đến một một hình ảnh trong quá khứ, hay trong trí tưởng tượng, không phải về một cảnh hiện tại. Lời thơ rất hay, với những từ ngữ làm người đọc có thể liên tưởng tới những âm thanh và phong cảnh bên suối trên núi. Nhưng cũng có những câu nói về bối cảnh đương thời của bài thơ, với một số từ khó hiểu, nên thi nhân muốn nói gì thì người đọc chỉ có thể đoán ... mò!

湔湔=tiên tiên là một từ tượng thanh (onomatopoeic) để tả tiếng nước chảy róc rách, hay tinh tinh, và cũng được dùng để tả nước trong suốt, (có thể từ nghĩa gột, rửa của 湔). Từ kép này đã được dùng từ thời Nam Tống (tk 4) trong bài thơ Thạch lưu thiên (石流篇) của Hà Thừa Thiên (何承天)

煙迷葉亂尋難見 Yên mê diệp loạn tầm nan kiến

Không thể thấy gì? Đứng trên núi cao, và có thể thấy được trời xanh phản chiếu trên vực sâu, tại sao lại không thể thấy gì đó vì khói mù, lá bay? Phải chăng “yên mê diệp loạn“ hàm ý cảnh chiến tranh?

月好風清聽不眠 Nguyệt hảo phong thanh thính bất miên

風清=phong thanh đã được dùng từ thời Nam triều Lương Nguyên Đế (梁元帝) và trong bài thơ Bạc Tương khẩu (泊湘口) của Đái Thúc Luân (戴叔伦). Cụm từ đươc dùng để nói đến một thời hay xã hội thanh bình như trong Hình Loan truyện (峦传) của Ngụy thư. Thi nhân mất ngủ trong một đêm trăng thanh gió mát, lạ không?

春雨正多歸未得 Xuân vũ chính đa quy vị đắc

正=chính nghĩa là đang, 多=đa là lắm, nhiều nói đến mưa nặng hạt. Mưa nặng hạt thì tại sao lại không thể trở về? Tại sao câu này đi tiếp ngay sau câu 月好風清聽不眠 nguyệt hảo phong thanh thính bất miên (làm sao mà có trăng thanh gió mát khi trời đang mưa nặng hạt)? Phải chăng thi nhân muốn nói rằng mưa gió thời loạn không cho phép thiên hạ trở về thới thanh bình thuở xưa mà thi nhân đang mơ tưởng?

只應流恨更潺湲 Chỉ ưng lưu hận canh sàn viên

Cụm từ 流恨=lưu hận đã đươc dùng từ thời Hán để chi những hối hận, oán giận không nguôi. 潺湲=sàn viên vừa có nghĩa là nước chảy chầm chậm, vừa có nghĩa nước mắt chảy ròng ròng; và hàm ý trong câu này nối tiếp nghĩa câu trước ám chỉ thời chinh chiến loạn lạc.

Ngô Dung “hận” ai đến phải khóc ròng trong một đêm trăng thanh gió mát, hận triều đình trụy lạc sắp làm mất nước, hay hận chính mình bỏ phí cuộc đời theo đuổi nghiệp binh rồi hoạn lộ, thay vì tìm một lối sống bình an?

g.

  

Trăng Ly Biệt


Giờ ăn trưa, Thuý Liên dở tờ báo mang theo ra đọc, và như mọi lần Thuý Liên mở mục “Chuyện cười” đọc trước và cũng như mọi lần, đôi khi Liên lỡ cười thành tiếng vì câu chuyện quá buồn cười. Vô tình Liên làm rơi chiếc muỗng nhỏ của ly cà phê. Liên chưa kịp nhặt thì ai đó đi ngang đã cúi xuống và để chiếc muỗng lên bàn. Vẫn say mê đọc nên Liên nói theo phản xạ mà không ngừng lên:
- Thank you!
- Dạ, thưa chị, không có chi.

Ủa, tiếng Việt! Ai nói vậy? Sở này đâu có ai người Việt. Liên ngửng phắt đầu lên. Trước mặt nàng là một ông da vàng tóc đen trông lại có vẻ quen quen.
- Ủa … Ông là…người Việt ?
- Cái đó thì chưa chắc, nhưng tôi là người biết nói tiếng Việt.
Hừ, chưa gì mà đã dở cái giọng ỡm ờ. Liên nghiêm mặt:
- Cảm ơn ông.
Rồi Thuý Liên cúi xuống làm ra vẻ chăm chú đọc.
- Có những người dở báo ra là đọc ngay chuyện vui cười, tôi thì trái lại, khi dở tờ báo mới ra thì xem ….
Ông ta ngần ngừ, chờ cho Liên tò mò mà đặt câu hỏi nhưng Liên, đâu có ngu mà mắc lừa, Liên vẫn giả bộ chăm chú đọc và còn giả bộ cười hinh hích như là đang thú vị với mẩu chuyện tiếu lâm.
- Tôi cũng thích đọc chuyện tiếu lâm nhưng chỉ đọc sau khi đọc…
Ông ta lại giả bộ ngừng, chờ xem Liên có bắt chuyện không.
Còn lâu, ba cái mánh tán tỉnh của đàn ông, Liên, đâu có lạ gì và Liên, vẫn làm ra vẻ không biết đến ông ta đang đứng bên cạnh. Biết ngay mà, chờ không nổi nên ông ta tự động tiếp tục:
- Mục mà tôi đọc đầu tiên khi mở tờ báo ra là mục “ Cáo phó “ …
Liên, nghĩ thầm “ Điên, mát dây, khùng” nhưng vẫn làm thinh. Chờ vài giây, ông ta…đành độc diễn tiếp:
- Tôi đọc cáo phó trước để kịp phân ưu và báo tin cho bạn bè biết mà thăm viếng, nghĩa tử là nghĩa tận …

Liên bực mình, cầm tờ báo đứng dậy nhưng ông ta vẫn tiếp tục lải nhải:
- Chị nghĩ đúng không?
Trời đất, sao lại có người khùng tới mức này!
- Xin lỗi...
Liên, tính chỉ rời đi nhưng lại buột miệng:
- Chắc ông làm báo hay bán hoa, cần săn tin để đăng phân ưu hay bán vòng hoa …
- Khiếp thật! sao ngày xưa chị hiền lành mà bây giờ...
Hả, ngày xưa? Thuý Liên, ngừng lại, mở to mắt nhìn, nhìn từ đầu đến chân, rồi chăm chăm nhìn mặt “người nhiều chuyện”… Ai vậy nhỉ? Trông thì nhang nhác quen quen nhưng… Chịu! không nhớ nổi!
- Sao ? Không nhận ra ai à?
- Xin lỗi, tôi không nhớ ra.
- Thế cái người thường ngồi sau lưng chị khi đi cours?
Liên lại chiếu tướng ông ta nhưng vẫn:
- Chịu! nhưng mà ông ngồi sau lưng tôi, tôi lại không có con mắt sau gáy nên không nhìn thấy ông..
- Ha ha… vẫn không hết làm tàng, làm phách, làm cao.
- Làm tàng, làm phách, làm cao ? Tôi? Tôi làm tàng, làm phách, làm cao?
- Chứ còn ai vào đây. Thế chị không biết là ngày xưa chị bị tụi tôi gọi là “ con nhỏ làm cao “ à. Lầm lầm lỳ lỳ, chăm chỉ đi cours nhưng không bao giờ bắt chuyện với ai, bây giờ vẫn vậy, mặc cho người ta nói vẫn lặng thinh, không thèm tò mò hỏi lại.
Liên phì cười:
- Bây giờ thì nhớ ra rồi, ông Tiếu, chuyên viên kể chuyện tiếu lâm và phá phách. Hôm nay ông tiếu ngạo giang hồ đâu mà lạc đến đây?
- À tôi đến để xin thực tập, tình cờ vừa vào đến đây thì gặp người quen, tình cờ có dịp làm quen, chọc chơi cho bõ, bõ ….
- Bõ ghét ? Tôi làm gì mà ông ghét tôi?
- Ai nói tôi ghét chị hồi nào?
- Ông vừa nói “ Chọc chơi cho bõ..
- Bõ nhớ, bà chị ơi! Mà bà làm ơn bỏ cái chữ ông xa lạ đó đi. Tha hương ngộ cố tri mà ông, ông cái gì?
- Tui ít khi gọi mấy ông là anh lắm, trừ khi thật lớn tuổi để tôi coi là anh, còn ai cũng kêu “ông”, ông ráng mà chịu, mà kêu vậy chứng tỏ ông cũng chưa già lắm, chưa đủ tuổi làm anh tôi...
- Lúc này … có nhiều thay đổi, không im như thóc mà hay..móc họng.

... Đấy, đấy, buổi đầu họ gặp lại nhau, buồn cười như thế đấy... Và tình cờ ông Tiếu, mà sau này Liên, cứ réo tên là ” Ông Tiếu lâm ơi”, Gặp gỡ cũng chẳng tình cờ vì xếp lớn thấy cùng là người Việt nên cho ông ta thực tập với Liên,, với lại chẳng ai muốn nhận người thực tập, phải chỉ dẫn, mất thì giờ…
Liên, vẫn tiếp tục gọi Tiếu là ông và để đáp lễ Tiếu cũng không ngần ngại gọi Liên, là bà:
- Chẳng lẽ bà gọi tôi là ông mà tôi kêu lại là chị thì có vẻ tôi ….tôi là ông chủ...
- Và tôi là người làm ? Quá quắt!
- Đó là bà nói, trong khi thực sự bà đang là thầy tôi, thưa bà thầy.
- Đàn ông đàn ang mà mồm năm miệng mười. Tội nghiệp cho ai bị làm vợ ông.
Tiếu làm ra vẻ buồn rầu:
- Bà xã tôi hiền lắm, hiền cùng cực, mà các cụ nói hiền quá hoá, hóa…
- Hoá đần. Hứ, ông cậy tài giỏi, chữ nghĩa đầy bồ nên chê vợ ngu đần.
- Lại cũng bà nói, tôi chỉ định nói là hiền quá hoá không khôn.Từ nay nhớ bớt lanh chanh, nhảy xổ vào miệng người khác khi người ta chưa dứt câu. Nhưng thú thật, tôi gặp bà như cá gặp nước, như rồng gặp mây, vui ơi là vui. Những cái pha trò hay kể chuyện dí dỏm của tôi không làm cho bà xã tôi cười được, lý do ra là bà ấy chẳng hiểu gì cả, mặt cứ nghệt ra, chán ơi là chán!
- Chứ không phải là ông pha trò dở quá hay sao?
- Vẫn chưa chừa móc họng. Tội nghiệp cho ông bạn tôi, chịu gì nổi, được cho ăn ngon nhưng lại bị móc ra.

Đó, ông ta khen Liên, một cách … cà chớn như thế đó. Nhưng thật tình mà nói Thuý Liên, thấy vui hẳn lên vì lúc nào cũng có chuyện để mà bốp chát nhau, khiến đầu óc trở nên linh hoạt. Liên, luôn luôn phải nghĩ những câu không phải là đối thoại mà là đối thọi nhau, hà hà ...có tức nhưng mà vui, thua thì tức mà chọc được đối phương tức thì vui vui. Nhưng tức thì có tức mà tức cười.

Các cụ có câu “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”. Gần nhau thì vui vui mà khi về nhà thì lại nhớ nhớ thành ra không biết là rơm đã bén lửa chưa.
Họ cùng làm, cùng về chung chuyến xe nên có những lần chung bước trên công viên ngay gần đó, ngắm sông, ngắm nước, ngắm cây và đến mùa đông tuyết phủ âm thầm cùng lội tuyết ra về. Có lần Liên, vội vàng đi trước, quay lại thì thấy Tiếu nhởn nhơ đi sau, lại còn tinh nghịch dẫm chân lên những dấu giày để lại trên tuyết của Liên,.
- Trên con đường một chiều em đi trước anh theo sau nên chẳng bao giờ gặp nhau.
Tuy trêu Tiếu vậy nhưng … nhưng Liên, nghe âm ấm trong lòng và như được trẻ lại, sống lại cái thuở ban đầu thiếu sót những thơ và mộng như người ta thường kể trong truyện tình lãng mạng.
- Này, tại sao bây giờ bà dễ thương mà ngày xưa bà hắc ám quá vậy. Biết có kẻ đổi tính dễ thương như bây giờ dám ngày xưa cũng có “anh theo Ngọ về”.
- Chứ không phải tôi với ông khắc khẩu gặp nhau là cãi nhau nên tôi dễ ghét hay sao?
- Nếu ghét được thì sung sướng biết mấy… Tôi thích những người thông minh, dí dỏm, nghịch ngợm.
...Và khi chiếc lá đầu tiên đổi màu bay ngang cửa sổ, Tiếu thẫn thờ than thở:

- Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng trị thu ((Từ Mai -Trần Huy Bích)

- Ừ! Ngô đồng một chiếc lá rơi
Mọi người đều biết thu thời đã sang
. (2)
- Ai dịch vậy?
- Tây đui!
Thế là những bài thơ tuyệt tác của mùa thu được đem ra đọc cho nhau nghe.
- Tại sao mùa thu lại khiến người ta nhớ quê, nhớ nhà. Nhiều hôm buồn tê tái nhớ: nhớ hồ con Rùa, nhớ đường Tự Do, nhớ vườn Tao Đàn và trời ơi nhớ cả tiếng rao bán hàng rong…
- Nhà tôi trong hẻm, trong khu vườn rộng, hôm nào sáng trăng, tôi theo trăng lên lỏi giữa các cành lá, tuyệt vời! Nhớ quá!
- Sáng trăng sáng cả vườn chè, Một gian nhà nhỏ đi về có nhau...(1)
- Hồi đó nghe radio “Một đêm ánh trăng thanh rọi xuống khắp đồng quê bao la, bao la”. (1)…tôi lại nhớ ngày còn sống ngoài Bắc, đêm trăng sáng trải chiếu ngoài sân, nằm trong lòng bà nghe bà kể chuyện cổ tích rồi ngủ quên.
- Lý Bạch có bài thơ nổi tiếng “Tĩnh Dạ Từ”

Sang tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương (Lý Bạch)

Nghĩa là

Trăng chiếu sáng đầu giường.
Phủ mặt đất như sương
Ngửng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương (2) 

- Nhiều người cũng thích bài “Nguyệt Hạ Độc Chước” của nhà thơ:

Hoa gian nhất hồ tửu,
Độc chước vô tương thân.
Cử bôi yêu minh nguyệt,
Đối ảnh thành tam nhân.
Nguyệt ký bất giải ẩm,
Ảnh đồ tùy ngã thân.
Tạm bạn nguyệt tương ảnh,
Hành lạc tu cập xuân.
Ngã ca nguyệt bồi hồi,
Ngã vũ ảnh linh loạn.
Tỉnh thì đồng giao hoan,
Tuý hậu các phân tán.
Vĩnh kết vô tình du,
Tương kỳ mạc Vân Hán.(Lý Bạch)

- Ừ,

Rượu một bầu bên khóm hoa
Không ai, riêng mình ta
Nâng ly mời trăng già
Mời bóng nữa là ba
Trăng chẳng biết rượu trà
Bóng quanh quẩn bên ta
Chúng mình bạn gồm ba
Thưởng thức mùa xuân ca
Ta ca trăng bồi hồi
Ta múa trăng vàng rơi
Tỉnh rồi cùng vui chơi
Say thì đành chia phôi
Mãi mãi vẫn bên nhau
Ngân Hà hẹn mai sau (2)

Tàu có nhiều thơ hay nhưng súc tích quá, ít lãng mạng, trầm bổng như thơ Việt. Có những bài, những câu mà hầu như ai cũng biết:

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ (Tiếng Thu-Lưu Trọng Lư)

Hay

Sáng trăng trải chiếu hai hàng
Bên anh đọc sách bên nàng quay tơ (1)

- Tôi thích xem hoạt cảnh Trăng sáng vườn chè “sáng trăng sáng cả vườn chè, một gian nhà nhỏ đi về có nhau...”(1) . Thấy thanh bình gì đâu...
- Hầu như các thi sĩ Việt Nam đều làm thơ có trăng, nhưng yêu trăng nhất phải kể Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử. Trong khi thơ trăng của Xuân Diệu tình tứ lãng mạng thì Hàn Mặc Tử quằn quại vì trăng.
- Nhớ có bài hát “Ai mua trăng tôi bán trăng cho” …ca ong ỏng suốt ngày trên radio nhưng học trò ai cũng thích “ Thuyền ai đậu bến sông trăng đó, Có chở trăng về kịp tối nay” (1)
- Những bài thơ về trăng của Xuân Diệu mới thấm làm sao.

Trăng nhập vào đây cùng Nguyệt lạnh
Trăng thương chẳng nhớ hỡi trăng tàn
Đàn buồn đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân (Nguyệt Cầm- Xuân Diệu)

- Nghe mệt! nghe mấy bài hát trung thu hay hơn.
Bóng trăng trắng ngà có cây đa to có thằng Cuội già ôm một mối mơ...(1)

Thuý Liên, làm điệu bộ theo bài hát
- Con nít!
Nghe nè “ Trăng soi sáng ngời treo trên biển trời. Tình ơi! Một nàng Liên,, Thủy rủ chàng Tiếu tếu ra ngồi nhìn trăng....(1)

...Tình cờ ngày làm việc cuối cùng của Tiếu lại rơi vào một tối thu. Tan sở Tiếu rủ Liên, đi dạo công viên cạnh bờ sông ngắm trăng vì đêm đó rằm trung thu, trăng sáng vằng vặc trên trời.
Hai người đi bên nhau chầm chậm, không ai nói câu gì. Một lúc rất lâu sau Liên, lên tiếng:
- Tôi đố ông

Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi
Dạ chàng xa tìm cõi Thiên San (Chinh Phụ Ngâm-Đặng Trần Côn)

Là thơ ai?
Tiếu không trả lời mà ngâm nga:

- Chàng từ đi vào nơi gió cát
Đêm trăng này nghỉ mát phương nao (Nhớ Mong-Đoàn Thị Điểm)

Tuy Chinh phụ ngâm không nổi tiếng bằng truyện Kiều nhưng những câu thơ nghe thật thanh tao, tôi thích nhất mấy câu

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy hàng dâu
Hàng dâu xanh ngát một mầu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai (Xuất Chinh-Đặng Trần Côn)

- Phút chia tay bao giờ cũng buồn vì mỗi người một ngả, không biết có dịp gặp lại không và không biết ai sầu hơn ai, giống bài thơ “Hoài Thượng Biệt Hữu Nhân” của Trịnh Cốc:

Dương Tử giang đầu dương liễu xanh
Dương hoa sầu sát độ giang nhân
Sổ thanh phong địch ly đình vãn
Quân hướng Tiêu Tương, ngã hướng Tần (Trịnh Cốc)

- Ừ,

....Liễu xuân rủ bến sông Dương
Hoa đơm cành rũ sầu vương lòng này
Ly đình tiếng sáo chia tay
Tiêu Tương người đến, Tần này thiếp đi …(2)

- Ai dịch vậy?
- Không biết, có lẽ “tây đui” ….

Trời về khuya, trăng lên cao dần, thả ánh vàng trong vắt xuống dòng sông. Đáy sông được soi sáng lấp lánh những ánh đèn sáng phản chiếu từ những toà nhà cao bên dòng sông. Nước chao nhẹ, cảnh vật dưới sông trở nên huyền ảo, như thật như mơ từ một cõi thần tiên nào đó. Trong khóm lau tiếng dế thỉnh thoảng kêu vang như đệm nhạc cho cành liễu đong đưa bên bờ sông vắng...

Ánh trăng lát vàng con đường mòn công viên, soi sáng những bông hoa vàng nho nhỏ mọc rải rác chen với cỏ xanh. Trăng vàng, hoa vàng, không gian ngập ánh vàng và áo mặc cũng màu vàng. Chưa bao giờ Liên, thấy nhiều màu vàng đến thế, nhiều ánh trăng đến thế.

Sao đêm nay nhiều trăng quá!...
Hương bưởi thơm rồi, đêm đã khuya (Buồn Trăng - Xuân Diệu), về thôi…

- Ừ, nhưng Liên, lại cười cười

Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa,
Vội vàng chi, trăng sáng quá, khách ơi.
Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời,
Khách không ở, lòng em cô độc quá. (Lời Kỹ Nữ -Xuân Diệu)

- Biết Huyền Kiêu không? Bài “Tương biệt dạ “

Hiu hắt giăng khuya lạnh bốn bề
Ý sầu lên vụt tới sao Khuê
Quý thay giây phút gần tương biệt
Vương vấn người đi với kẻ về...
....Ngồi suốt đêm trường không nói năng
Ngậm ngùi chén rượu ánh vàng trăng
Người xưa lưu luyến ra sao nhỉ?
Có giống như mình lưu luyến chăng? (1)

- Chắc giống, thôi về, “quân hướng Tiêu Tương, ngã hướng Tần” (1)
Đường dài hạnh phúc, cầu chúc cho người …. (1)
…… Một đêm trăng, tình cờ có việc đi ngang sở cũ Liên, chợt nhớ “trăng vàng” đêm xưa

Về ngang bến cũ
Nhớ chuyện ngày xưa
Bên dòng sông nhỏ
Thảm cỏ trăng vàng
Bên khung cửa nhỏ
Bướm trắng hoa vàng
Chia tay vội vàng
Dư âm còn lại
Trăng vàng còn đó
Hoa vàng nay đâu? (2)

Ừ, “Trăng ly biệt” đêm nào.... 

Ngày rằm đêm ấy nhiều trăng quá
Trăng trải vàng ra khắp lối đi
Hai người bên nhau đi chầm chậm
Biệt ly còn biết nói năng gì

Ven sông vẳng tiếng dế kêu vang
Liễu rủ đong đưa ánh trăng vàng
Hai người bên nhau đi chầm chậm
Sợ làm tan vỡ ánh trăng loang

Thi sĩ Huyền Kiêu có bài thơ
Tả cảnh chia ly cách đôi bờ
Nỗi sầu cao quá, lên cao quá
Lên tới Khuê rồi vẫn vương tơ... (2)
 (Mượn Vận bài thơ Trăng của Xuân Diệu)

Sao Khuê 
11- 2021

Chú thích:

(1) Tranh, Thơ hay lời ca trên mạng
(2) Thơ hay lời dịch thơ Sao Khuê
Tây đui là tui đây, nói lái.

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2026

Rồi Cũng Già - Sáng Tác: Vũ Thành An - Tiếng Hát: Đình Lộc

Sáng Tác: Vũ Thành An
Tiếng Hát: Đình Lộc
Thực Hiện: Oanh Dang

Suối Tóc


Bờ vai vướng mái tóc dài
Linh hồn của tóc u hoài lòng tôi
Tóc như nhìn nhánh hoa rơi
Sợi thương, sợi nhớ đầy vơi nỗi niềm.

Mượt mà, óng ả, dịu mềm
Tình tôi với tóc càng thêm đậm đà
Mỗi khi làn gió nhẹ qua
Tóc lay từng sợi tỏa ra hương tình.

Nhìn theo tưởng tóc vướng mình…
Sợi tương tư nhớ, nặng tình trong mơ
Tôi về tìm lại vần thơ
Ghép chung với tóc xe tơ kết nguyền…. !!!

Ảnh & Thơ: Nguyễn Thành Tài

Nhật Thực



Xướng: Nhật Thực

Có phải đêm đà hết mộng say
Mà trăng vội đến giữa ban ngày
Hằng Nga chẳng ngại thân phơi nắng
Lão Ác thôi đành lối rẽ mây
Cứ tưởng đôi vầng hoài cách biệt
Ngờ đâu một thoáng chợt sum vầy
Là khi nhật nguyệt lồng chung bóng
Rõ khéo duyên trời, diễm tuyệt thay!

Nguyễn Gia Khanh
***
Họa:
Tiên Thề

Trăng vàng hương thắm cuộc tình say
Hai miệng song song nhớ những ngày
Đàn phím đã nguyền trang nguyệt điện
Kim thoa những ước bức tờ mây
Duyên này thì giữ đừng trao vậy
Vật nọ gìn sao để khỏi vầy
Thệ hải minh sơn còn đẫm lệ
Tiên thề bất diệt diệu kỳ thay
!

Phan Tự Trí


Cà Phê Paris

Hemingway.Những chiếc ghế luôn quay ra đường

“Ngồi quán cà phê Paris, người ta có thể một mình mà không cô độc.” – Jean-Paul Sartre.

Có lẽ vì thế mà nhiều người rời Paris rồi vẫn nhớ những quán cà phê của thành phố này. Không phải vì ly “café noir” nhỏ trên bàn, mà vì cảm giác được ngồi thật lâu giữa đời sống đang trôi qua trước mắt mình. Một người ngồi xoay nhẹ tách cà phê trong tay. Một ông lão im lặng bên tờ báo sáng. Những chiếc ghế quay ra vỉa hè như thể điều quan trọng nhất không nằm trong quán, mà là thành phố ở phía trước mặt.

Và có lẽ, chính trong những khoảnh khắc rất bình thường ấy, người ta hiểu Paris nhiều hơn bất kỳ cuốn sách hướng dẫn du lịch nào.
“Nếu tuổi trẻ của bạn từng thuộc về Paris, thì suốt phần đời còn lại, Paris sẽ luôn ở trong bạn”. Ernest 

Buổi sáng ở Paris bắt đầu khá chậm. Khoảng tám giờ, các quán cà phê quanh boulevard Saint-Germain bắt đầu đông dần. Người phục vụ kéo ghế ra ngoài terrasse, lau những chiếc bàn tròn còn lạnh hơi sương đêm. Một ông lão mang theo cuốn tiểu thuyết còn gấp dở dưới cánh tay. Một cô sinh viên đặt máy tính xuống bàn rồi gọi café crème. Một người đàn ông mặc vest đứng uống nhanh ly espresso ở quầy rồi đi mất.

Cà phê Kléber – place Trocadéro

Nhưng cũng có những người ngồi lại rất lâu. Điều đặc biệt ở các quán cà phê Paris là cách người ta nhìn ra phố. Những hàng ghế ngoài terrasse gần như luôn hướng về phía dòng người qua lại, nơi tiếng xe buýt, tiếng giày trên vỉa hè và những cuộc trò chuyện nhỏ hòa lẫn vào nhau. Thành phố trở thành một phần của quán cà phê – hay có lẽ, quán cà phê chỉ là một cách khác để ngồi giữa thành phố.


Những chiếc ghế luôn quay ra đường…
Một tách cà phê kéo dài cả buổi sáng

Paris không hẳn có cà phê ngon nhất thế giới. Người Ý có thể phản đối. Người Việt Nam chắc cũng không đồng ý. Nhưng điều Paris có, là nghệ thuật ngồi với ly cà phê của mình. Một tách espresso nhỏ có thể nằm trên bàn suốt cả tiếng đồng hồ. Người phục vụ không thúc giục. Không ai nhìn người khác khó chịu vì ngồi quá lâu. Dường như ở đây, thời gian được kéo dài ra thêm một chút.

Café Central – 40 rue Cler – Paris 7

Có lần tôi ngồi gần hai tiếng ở một quán nhỏ gần Café de Flore. Bàn bên cạnh là một cô gái trẻ đang đọc tiểu thuyết. Cô gần như không gọi thêm gì ngoài một ly cappuccino đã nguội từ lâu. Thỉnh thoảng cô ngẩng đầu nhìn dòng người ngoài phố vài giây rồi lại cúi xuống đọc tiếp. Không ai làm phiền cô. Không ai hỏi vì sao cô ngồi lâu đến thế. Ở nhiều thành phố khác, việc ngồi lâu như vậy dễ khiến người ta cảm thấy áy náy. Nhưng ở Paris, đó gần như là chuyện bình thường.

“Paris lúc nào cũng là một ý tưởng đẹp” – Audrey Hepburn
Những quán cà phê và giới văn nghệ sĩ

Từ rất lâu, quán cà phê ở Paris không chỉ là nơi để uống cà phê, mà còn là nơi để viết, để tranh luận và trao đổi ý tưởng. Có những bài báo, bản thảo văn chương, thậm chí cả tư tưởng chính trị đã từng được bàn luận quanh những chiếc bàn nhỏ ngoài vỉa hè, giữa tiếng muỗng chạm vào thành tách và dòng người qua lại ngoài phố.

Cà phê Flore lúc 10g sáng

Café de Flore – nơi người ta ngồi để suy nghĩ: Café de Flore ra đời từ cuối thế kỷ XIX, ban đầu chỉ là một quán cà phê nhỏ ở Saint-Germain-des-Prés. Nhưng theo thời gian, quán dần trở thành điểm hẹn của giới văn nghệ sĩ và trí thức Pháp. Sau Thế chiến thứ hai, Jean-Paul Sartre và Simone de Beauvoir thường ngồi ở đây hàng giờ để viết, tranh luận và nhìn dòng người qua lại ngoài phố.

Điều đặc biệt ở Café de Flore không chỉ nằm ở lịch sử hay những tên tuổi từng ngồi ở đó, mà ở cảm giác quán gần như không thay đổi giữa một Paris luôn chuyển động. Mái hiên đỏ, những hàng ghế sát boulevard Saint-Germain, ánh đèn vàng bên trong – tất cả vẫn giữ lại không khí của một Paris trí thức và văn chương xưa cũ.

Người ta đến Café de Flore không hẳn để tìm một ly cà phê ngon nhất Paris, mà để ngồi giữa một nơi từng chứng kiến biết bao cuộc trò chuyện, bản thảo và suy nghĩ đã đi qua thế kỷ XX.

Les Deux Magots là hiện thân của một Paris văn chương và quán cà phê. Mở cửa từ năm 1885

Les Deux Magots – quán cà phê của văn chương: Chỉ cách Café de Flore vài bước chân là Les Deux Magots. Tên quán nghe lạ. “Deux Magots” nghĩa là “Hai pho tượng Trung Hoa”, vì bên trong quán từng có hai pho tượng trang trí từ thời nơi này còn là một cửa hàng bán lụa phương Đông. Nhưng theo thời gian, cái tên kỳ lạ ấy lại trở thành một phần lịch sử văn học Pháp.

Trước chiến tranh, nhiều nhà văn và nghệ sĩ đã chọn nơi này làm điểm hẹn: Ernest Hemingway, Pablo Picasso, Albert Camus… Khác với Café de Flore có vẻ trí thức và chính trị hơn, Les Deux Magots mang không khí văn chương rõ hơn. Người ta đến đó để viết, để đọc, để ngồi nhìn mưa rơi trên Saint-Germain trong nhiều giờ liền.

Đến nay, quán vẫn trao giải văn học Prix des Deux Magots hằng năm – như một cách giữ lại mối liên hệ giữa quán cà phê và văn chương Paris.

Hai pho tượng Trung Hoa ở Les deux Margots

La Closerie des Lilas – nơi Ernest Hemingway từng viết: “Nếu Saint-Germain là khu của những triết gia và trí thức Pháp, thì La Closerie des Lilas lại thuộc về các nhà văn Mỹ lưu vong đầu thế kỷ XX”.

Nằm gần Montparnasse, quán từ lâu đã là điểm hẹn của nhiều nhà văn và nghệ sĩ thế giới. Người ta vẫn còn giữ nguyên chiếc bàn Hemingway từng ngồi viết, với một tấm bảng đồng nhỏ khắc tên ông trên mặt gỗ sẫm màu.

Nhưng có lẽ điều đẹp nhất không nằm ở chiếc bàn ấy, mà ở ý nghĩ rằng giữa một quán cà phê rất bình thường của Paris, một phần văn học thế kỷ XX đã từng được viết ra trong mùi cà phê nóng và khói thuốc lá.

Closerie des lilas 1900 và ngày nay

Le Procope – quán cà phê lâu đời nhất Paris: Ra đời từ năm 1686, Le Procope thường được xem là quán cà phê lâu đời nhất Paris. Vào thế kỷ XVIII, khi cà phê còn là một thức uống mới lạ ở châu Âu, Le Procope đã trở thành nơi gặp gỡ của giới triết gia thời Khai sáng.

Voltaire, Jean-Jacques Rousseau hay Denis Diderot từng ngồi ở đây tranh luận về tự do, lý trí và xã hội. Có một chi tiết rất Paris: nhiều ý tưởng về Cách mạng Pháp đã từng được nói ra trong các quán cà phê trước khi xuất hiện ngoài quảng trường. Ở Paris, quán cà phê không chỉ là nơi nghỉ chân. Nó từng là nơi người ta nghĩ về cách thay đổi thế giới.

Le procope đầu thế kỷ 19

Ở khu Montparnasse, Le Dôme Café từng là điểm hẹn quen thuộc của giới họa sĩ và nghệ sĩ nhập cư đầu thế kỷ XX. Amedeo Modigliani, Marc Chagall hay nhiều họa sĩ trẻ nghèo thời ấy thường ngồi ở đây suốt nhiều giờ với rất ít tiền trong túi. Paris khi ấy không chỉ là thành phố của ánh sáng, mà còn là nơi người ta mang theo giấc mơ nghệ thuật của mình để sống, dù nghèo đến đâu.

 
Le Dome 2026

Còn La Rotonde, với những hàng ghế đỏ đặc trưng ở boulevard du Montparnasse, từ lâu đã gắn với không khí bohemian của Paris đầu thế kỷ XX. Người ta kể rằng chủ quán từng cho các họa sĩ nghèo ngồi lì hàng giờ chỉ với một ly café, thậm chí cho họ ký nợ bằng tranh vẽ. Nhiều bức tranh ngày ấy về sau lại trở thành tác phẩm có giá trị lớn.

Le Dome 1928

Dọc theo bờ Seine, những quán cà phê nhỏ nối tiếp nhau dưới hàng cây. Vào cuối buổi chiều, khi ánh sáng bắt đầu đổi màu trên mặt nước, người ta ngồi ở đó rất lâu – trước một ly vang, một tách espresso hay chỉ để nhìn những chiếc bateau-mouche chậm rãi đi qua.

Café La Rotonde – Paris 6

Ở khu Saint-Michel hay gần Ile de la Cité, nhiều terrasse mở thẳng ra phía sông. Từ đó có thể nhìn thấy những nhịp cầu đá, những quầy sách cũ màu xanh của các bouquinistes dọc bờ Seine, và phía xa là bóng Notre-Dame hiện lên giữa trời chiều.

Amedeo Modigliani, Pablo Picasso và André Salmon trước quán cà phê La Rotonde năm 1916

Paris có một từ rất đặc biệt: flâner. Khó tìm một từ tiếng Việt thật tương đương. Nó không hẳn là đi dạo, cũng không phải lang thang. Đó là cách bước chậm lại để nhìn, để quan sát, để thành phố tự hiện ra trước mắt mình mà không cần một mục đích rõ ràng. Những quán cà phê Paris dường như sinh ra cho điều đó. Người ta có thể flâner ngay cả khi chỉ ngồi yên trước một tách cà phê và nhìn phố xá trôi qua.

Bouquiniste paris 1900

Thành phố như một sân khấu nhỏ
Ngồi ở terrasse một quán cà phê Paris vào cuối buổi chiều, người ta bắt đầu hiểu vì sao thành phố này sinh ra nhiều nhà văn đến thế.

Ngoài kia, đời sống đi qua liên tục như một bộ phim không có kịch bản. Một người phụ nữ ôm baguette bước nhanh dưới hàng cây. Một ông lão dắt chó đi dạo. Một người kéo violin ở góc đường. Một đôi tình nhân cãi nhau rất khẽ rồi im lặng nhìn nhau.

Bouquinistes paris 1934

Người ngồi ở quán không cần tham gia vào tất cả những điều đó. Chỉ cần nhìn. Có lẽ chính từ những khoảnh khắc rất nhỏ ấy mà văn chương Paris được tạo ra.

Nghệ thuật ở một mình giữa đám đông

Có một điều rất Paris: người ta có thể một mình mà không cô độc. Trong những quán cà phê ngoài vỉa hè, giữa dòng người đi ngang và tiếng phố chậm rãi trôi qua, mỗi người dường như vẫn giữ được cho mình một khoảng riêng rất yên tĩnh.
“Cà phê làm thơm mọi khoảnh khắc của cuộc đời” – Honoré de Balzac

Ở nhiều thành phố hiện đại, con người luôn bị thúc phải bận rộn và đi nhanh hơn. Nhưng ở Paris, người ta vẫn cho phép mình có một khoảng thời gian “vô ích” – chỉ để ngồi xuống, nhìn thời gian trôi qua và nghe thành phố thở quanh mình.

Có lẽ đó chính là điều làm nên vẻ lãng mạn thật sự của Paris. Có những thành phố khiến người ta muốn đi nhanh hơn. Paris, đôi khi, chỉ khiến người ta muốn ngồi xuống.

La Javelle nằm cách công viên Parc André Citroen chỉ vài bước chân, Paris 15.

Trúc Tiên
Paris, ngày 26 tháng 5 năm 2026


Thứ Tư, 5 tháng 8, 2026

Mùa Đông Về Đây - Thơ: Kim Oanh - Nhạc: Nguyễn Tuấn - AI Cover Siliconband

 

Thơ: Kim Oanh
Nhạc: Nguyễn Tuấn
AI Cover Siliconband

Nắng

 

Hôm nay nắng dậy muộn màng
Buồn vui lẫn lộn nắng vàng bước đi
Ve kêu đất khách lạ kỳ
Bâng khuâng nhớ nắng tình si quê mình

Nắng trêu áo nắng tỏ tình
Nắng thơm hương tóc nắng nhìn ngẩn ngơ
Nắng sôi nổi nắng hững hờ
Nắng ôm vòng ngực nắng chờ hôn môi

Nắng nũng nịu nắng lả lơi
Nắng yêu chết khát nắng trôi dịu dàng
Mai sau nắng vẫn mơ màng
Trong chăn trên gối hay tan theo người...


MD 07/15/05
LuânTâm
(Trích trong TT"HƯƠNG ÁO", Minh Thư xb, MD/USA 2007, tr.208)

Trách Thầm (Hồng Thúy) - Entre Nous(Vũ Phương Lan)



Trách Thầm


Hoa cỏ vương đầy trên áo em,
Anh ngẩn ngơ nhìn theo đắm say.
Ôi eo thon, dáng lụa xinh đẹp quá,
Anh đam mê ước làm bông cỏ may.
Mỗi bước em đi, hồn anh xao động,
Trông theo tà áo vấn vương bay,
Đường chiều gió cuốn,
Tóc thề buông lơi,

Chưa uống rượu tình, anh đã như say.
Ước gì em chợt quay đầu lại,
Chỉ nhìn ánh mắt cũng đủ cho anh
Mơ mộng làm thi sĩ ….
Để khi đêm về, thao thức dệt thành thơ.
Nhưng em vô tình vẫn bước chân đi,
Không hề biết kẻ tình si
Đang thầm ghen với bông hoa cỏ
Và trách thầm em chẳng nói chi …..

Thơ : Hồng Thúy
Nhạc : Nguyễn Tuấn.
***
Dịch Thơ: 

Entre  Nous


Fleurs des champs sur ta veste,
Je te suis des yeux, épris.
Taille fine, gracieuse et belle,
Comme j’ aimerais être fleurs des champs.
Ta démarche me captive,
Surtout ta tunique blanche.
Le soir arrive,
Cheveux au vent,

Je me sens enivré déjà.

Ô, puisses- tu te retourner,
Par ton regard, je rêverais
Devenir poète ….
La nuit venue, composer des vers.
Mais tu continues ton chemin,
Sans te soucier de moi
Qui, pourtant, garde espoir,
Malgré ton silence persistant ….

Vũ Phương Lan
(19 / 02 / 2016 )


Góc Việt Thi: Trệ Khách 滯客 - Nguyễn Du


Năm Canh Tý (1780), Nguyễn Khản là anh cả của Nguyễn Du đang làm Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn trong Vụ án năm Canh Tý, bị bãi chức và bị giam ở nhà Châu Quận công. Lúc này Nguyễn Du được một người thân của Nguyễn Nghiễm là Đoàn Nguyễn Tuấn đón về Sơn Nam Hạ nuôi ăn học. Năm Quý Mão (1783), Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam trường (Tú tài). Ông lấy vợ là em gái Đoàn Nguyễn Tuấn và là con gái quan ngự sử Đoàn Nguyễn Thục. Ông cũng được tập ấm chức Chánh thủ hiệu hiệu quân Hùng hậu của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên.

Đến năm 1786, khi Tây Sơn Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ nhất dẹp chúa Trịnh, hai anh lớn là Nguyễn Khản và Nguyễn Điều bị bệnh chết, Nguyễn Du về Quỳnh Côi lánh nạn, ở đó suốt mười năm, thời gian này được gọi là thời kỳ "Mười năm gió bụi (1786-1796)". Năm 1791, một đại hoạ xảy ra: Nguyễn Quýnh, anh cùng cha khác mẹ của ông, người đồng chí rất thân yêu, nổi lên chống nhà Tây Sơn, đã bị bắt, bị giết, và làng Tiên Điền bị tàn phá, dinh thự nhà họ Nguyễn bị đốt hết. Năm 1795, vợ ông sinh được Nguyễn Tứ con thứ tư, người con duy nhất sống sót, thì bà qua đời. Nguyễn Du quá đau khổ vì vợ mất, lại ôm trên tay một đứa con mất mẹ còn rất nhỏ. 

Ông thực sự đã đến bước đường cùng  Ở lại, nương nhờ anh vợ thì không còn lý do, về quê mình thì dù anh Nguyễn Đề cũng làm quan cho Tây Sơn, nhưng đang đi sứ Trung Quốc chưa biết bao giờ về (đi sứ lần thứ 2, 1795). Nguyễn Du nấn ná ở lại Quỳnh Côi chưa đi ngay vì đợi cho con cứng cáp hơn, và có ý chờ Nguyễn Đề về để có chỗ dựa, trong tình thế quân Tây Sơn săn đuổi rất ráo riết những người chống đối (Vào năm 1796, Nguyễn Du dự định đi Nam, bị quận công Nguyễn Thận bắt giam ở Nghệ An, chính Nguyễn Đề đi sứ về kịp, đã cứu được em). Khi sắp rời hẳn Quỳnh Côi, trong khung cảnh êm ả của đồng bằng sông Hồng, nhưng cõi lòng tràn đầy bão tố, Nguyễn Du viết bài thơ TRỆ KHÁCH 滯客, bài thơ cuối cùng của thời kỳ Mười năm gió bụi. (Theo: Thi Viên được gởi bởi PH@ vào 10/06/2017).


滯客                         TRỆ KHÁCH

滯客淹留南海中, Trệ khách yêm lưu Nam Hải trung,
寂寥良夜與誰同。 Tịch liêu lương dạ dữ thuỳ đồng ?
歸鴻悲動天河水, Quy hồng bi động thiên hà thuỷ,
戍鼓寒侵夏夜風。 Thú cổ hàn xâm hạ dạ phong.
人到窮途無好夢, Nhân đáo cùng đồ vô hảo mộng,
天回苦海促浮蹤。 Thiên hồi khổ hải xúc phù tung.
風塵隊裡留皮骨, Phong trần đội lý lưu bì cốt,
客枕蕭蕭兩鬢蓬。 Khách chẩm tiêu tiêu lưỡng mấn bồng.

* Chú thích:

- TRỆ KHÁCH 滯客 : Người khách còn trì trệ, nấn ná chưa chịu rời đi; Nguyễn Du tự ví mình khi vợ mất mà còn nấn ná ở lại nhà bên vợ.
- YÊM LƯU 淹留 : YÊM 淹 là Ngâm, là Ngập chìm trong nước. Nên YÊM LƯU 淹留 là "Cố lưu lại thêm một thời gian nữa".
- TỊCH LIÊU 寂寥 : là Tịch Mịch 寂寞 và Cô Liêu 孤寥; Có nghĩa : Yên lặng vắng vẻ và Cô đơn chỉ có một mình.
- THIÊN HÀ 天河 : là Dòng sông trên trời, chỉ dãy Ngân Hà.
- THÚ CỔ 戍鼓 : Tiếng trống điểm sang canh của những người lính thú.
- CÙNG ĐỒ 窮途 : là Con đường cùng, là Bước đường cùng.
- XÚC PHÙ TUNG 促浮蹤 : XÚC là Thôi thúc; PHÙ là Trôi nổi; TUNG là Tung tích, là dấu chân; Nên XÚC PHÙ TUNG là "Thôi thúc những bước chân phiêu bồng trôi nổi còn chưa biết phải đi về đâu!".
- PHONG TRẦN ĐỘI LÝ 風塵隊裡 : là Trong hàng ngũ (trong đám) của những người phong trần chìm nổi trong gió bụi cuộc đời.
- TIÊU TIÊU 蕭蕭 : Ở đây chỉ (hai bên tóc mai) đã hoa râm, lốm đốm bạc.

* Nghĩa bài thơ:

NGƯỜI KHÁCH CÒN NẤN NÁ CHƯA RỜI

Người khách trì trệ vẫn còn nấn ná mãi ở vùng đất Nam hải nầy; Trong đêm thanh cô đơn vắng vẻ chỉ một thân một mình không người cùng bầu bạn. Tiếng con chim nhạn bi thương bay về làm kinh động cả nước trên sông Ngân hà. Tiếng trống điểm canh của những người lính thú như thấm đậm thêm cái gió lạnh của đêm hè. Con người đã đến bước đường cùng thì không còn gì là mộng đẹp nữa; Trời đã xoay bể khổ trở lại nên lại thôi thúc bước chân trôi nổi của kẻ phiêu bồng. Trong đám của những kẻ lăn lóc phong trần gió bụi chỉ còn lại có da bọc xương và lòa xòa bên gối khách là hai làn tóc mai đà lốm đốm bạc mà thôi!

* Diễn Nôm:

TRỆ KHÁCH

Một khách biển Nam trì trệ mãi,
Đêm thanh vắng lặng biết ai cùng ?
Nhạn về khuấy động sông Ngân chảy,
Trống giục lao xao gió lạnh lồng.
Người đến đường cùng không mộng đẹp,
Trời xoay biển khổ chẳng đường trông.
Phong trần một kẻ xương da bọc,
Bên gối tóc mai đã trắng ngần!

Lục bát:

Biển Nam trì trệ khách xa,
Đêm thanh vắng lặng ai là cảm thông?
Nhạn về lay động sông Ngân,
Trống canh đêm hạ gió lành lạnh đưa.
Người cùng mộng đẹp dần thưa,
Trời xoay biển khổ chân đưa phiêu bồng.
Xương da trong bước phong trần,
Lơ thơ bên gối trắng ngần tóc ma!
(Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm)

Qủa là tâm sự buồn thương yếm thế của một kẻ sĩ trong bước phong trần khi còn nổi chìm chưa đắc chí ở chốn quê người đất khách. Tâm tình của Nguyễn Du đã lắng đọng đến mức thấp nhất trong khoảng thời gian "Mười năm gió bụi" nầy. Nhưng rồi, sau cơn mưa trời lại sáng, bước đường tương lai sau nầy sẽ rộng mở hơn!...

Hẹn bài dịch tới!

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2026

Hướng Đạo, Tráng Đoàn Phan Văn Minh, Kha Đoàn Lam Sơn, Vĩnh Long

 

Sáng Tác: Lưu Hữu Phước 
Họp Ca
Hình Ảnh: LM Peter Dương Bá Hoạt

     Cha Kính mến.
     Con kính lời cảm ơn Cha Peter Dương Bá Hoạt ở Gia Nghĩa Đài Loan, đã lưu giữ được những hình ảnh quí báu, ghi dấu một thời kỷ niệm đẹp của Lớp Xuân Bích Đại Chủng Viện Vĩnh Long niên khóa 1972 và những sinh hoạt của các Huynh Trưởng Hướng Đạo Sinh, Kha Đoàn Lam Sơn, Phan Văn Minh, Vĩnh Long
     Con cũng không quên, cảm ơn cô Cecilia Huang đã gởi  những hình ảnh nầy.
     Kính.
     Con Kim Oanh

Trái Tim Giữ Vững

  


Trong ánh mắt của đàn con, đám cháu
Ta đã thấy đời trôi rất dịu hiền
Trong tiếng khóc của trẻ thơ khát sửa
Có chút gì nồng ấm rất bình yên.

Trong thinh lặng của hoàng hôn tuổi thọ
Ta mơ về cây lá đỉnh Tùng Nguyên
Nơi rộn rã của một thời tuổi nhỏ
Vui thơ ngây và cười với hồn nhiên.

Trong dâu bể của từn ngày cơm áo
Vẫn nồng hương Bách Hợp ngát đời nhau
Dù nhật nguyệt có làm phai trí não
Đường mơ hoa luôn rạng rỡ muôn màu.

Trong nghiệt ngã có lửa thiêng soi lối
Ấm trong ta ánh sáng của lòng ngay:
Lòng Hướng Đạo mở đường xuyên bóng tối
Đưa chân ta vượt gian khó từng ngày.

Trong cuộc sống của chuỗi ngày viễn xứ
Có trái tim Giữ Vững bước di hành
Bàn tay trái vẫn nối tình lữ thứ
Đan yêu thương cho thắm mãi tình xanh.

Huy Văn
Gởi Kim Oanh để lưu trữ và chuyển tiếp
TABTT