Thứ Năm, 22 tháng 10, 2026

Còn Đâu Bóng Cũ



Bóng nguyệt lung linh toả khắp nhà
Trong ngần điểm sắc lá cùng hoa
Vẫn vườn thuở trước còn nguyên vẹn
Nhưng kẻ năm nào đã cách xa
Mượn chữ ghép lời gieo ý vận
So dây nắn phím thả lời ca
Mấy mươi năm lẻ chừng mây khói
Mơ giấc mơ xưa khó hiệp hoà.

Quên Đi
 

Bản Án



Bản Án

này em, hãy nghe đây bản án
anh mang theo vũ khí tình yêu
bắt giam em trong tim anh vĩnh viễn
xiềng xích em bằng mật ngọt nuông chiều

em đừng hòng có khi nào vượt ngục
anh sẽ cho nghìn sợi nhớ bủa vây em
anh sẽ thả nghìn sợi thương giăng lưới
bắt em về giam chặt suốt ngày đêm

em đừng mơ một ngày nào mãn án
loại tù em là loại án chung thân
phải khổ sai bằng tình yêu say đắm
phải biệt giam trong tim thắm máu hồng

ngục thất chỉ có mặt trời tình yêu
bữa ăn chỉ có một món tình yêu
hơi thở chỉ có dưỡng khí tình yêu
đó là quy chế bắt em phải theo

nếu em hỏi là : em có tội gì?
ai cho anh quyền được bắt em đi?
quyền Thượng đế cho anh, em nhớ lấy
tên tội đồ làm nát trái tim si

nếu em không chịu tuân theo luật hình
và nếu trái tim anh chưa hồi sinh
thì kiếp sau anh kêu thêm bản án
lại tống giam em trong trái tim mình

Hoàng Hương Trang
***
A Sentence

Darling! Listen to the sentence I am returning.
I am armed with a special weapon: love burning.
I will capture you, forever in my heart confine you,
Chain you, indulge with honeyed words you're due.

Do not expect any time ever to break out of jail.
Miss-you cages will imprison you, without bail.
Thousands of longing-for-you threads I will set
To recapture you, impound you in my casting-net.

Do not dream of a day your judgment will expire.
Your type is life imprisonment, the most dire.
You must suffer penal servitude in affection,
Be closely confined in ardent love as correction.

The only light in your prison is the sun of passion;
The only meal is the feast of fondness as ration;
The only air in there is the oxygen of devotion;
That is the regulations you must have clear notion.

If you ask me what crime you have committed,
And who empowered me to collar you as in fitted?
Well, Nature has entrusted me in that smart
To pinch you, the culprit breaking my crazy heart.

If you do not comply with the law, with me at strife,
And if my hurt heart has not come back to life,
Then I will, in reincarnation, return one verdict more
To incarcerate you again in my ever amorous core.

Translation by Thanh Thanh


Người Thiếu Phụ Và Bóng Đêm


Đêm là khoảnh khắc của sự cô đơn nỗi buồn và nước mắt ...
Người thiếu phụ ngồi bất động mặc cho bóng đêm dần rơi xuống bao phủ cả đất trời...Mặc cho bóng đêm nuốt chửng hình hài ...
Bóng tối đen ngòm lạnh lẽo như ôm chầm lấy Người Thiếu Phụ và dìm xuống đến nghẹt thở ...Đêm tối thường đồng lõa với nỗi tuyệt vọng cô đọng...
Tự dưng Người Thiếu Phụ cảm nhận được hai giọt nước mắt nong nóng sắp rời khóe mắt ...vội vã kìm nén cố gắng nuốt sâu vào tận đáy lòng không cho nước mắt rơi ...

Tiếng hít hít vang nhẹ ngập sủng nước mắt ...
Người Thiếu Phụ cố nén...cố nén không khóc...không khóc...và

Đêm...

Trời về đêm lạnh buốt hồn
Ta một mình hiu quạnh buồn biết mấy...

Trước mặt bóng đêm vô tận
Sau lưng đêm cũng bất tận đen ngòm ...

Ta ôm nỗi lòng vô vọng
Trăm năm khắc khoải trọn niềm đau...

Đêm vẫn vô tình lặng lẽ trôi...

Bên trong căn phòng nhỏ tiếng hát của người ca sĩ Bỉ gốc Ý Salvatore Adamo vang lên giữa đêm tối thiết tha buông tiếng hát gọi Đêm qua ca khúc La Nuit ...


Người Thiếu Phụ bỗng nghe nước mắt chạy quanh chìm vào đêm tối...

Belgique Một ngày thu phong trời trở lạnh ...18-10-2026
Tuyết Phan

Con Tuýt


Ánh nắng ban mai trải dài trên những ngọn cây, dần dần len lỏi xuống những hàng cây cao và thẳng khiến khu rừng bạch dương vàng (tulip tree / the yellow poplar) sáng hẳn lên. Màu xanh ngọc của lá và những chồi non long lanh trong nắng mới bừng lên sự hồi sinh trên những cành cây xám đen trơ trụi và những bụi cây khô hết sức sống trong khu rừng sau những ngày đông giá lạnh. Vài khóm hoa trong vườn sau của những căn nhà dọc theo khu rừng cũng nở rộ với nhiều màu sắc khác nhau. Chúng thu hút khá nhiều loài ong và bướm vờn quanh tụ tập. Thích thú với khí trời ấm áp và quang cảnh tươi vui, vài con chim rời tổ và nơi ẩn núp, chuyền cành, cất tiếng hót líu lo. Vài con sóc nhấp nháy đôi mắt còn ngái ngủ, chui ra khỏi ổ, thoăn thoắt chuyền từ cành cây này sang cành cây khác. Chúng đuổi nhau từ các cành cây ở dưới thấp lên đến các cành trên ngọn. Rồi từ những cành cây trên ngọn, chúng chạy xuống tận gốc cây. Quanh những gốc cây, chúng rượt nhau chạy lòng vòng, rồi lại đuổi nhau chạy lên những cành cao tận ngọn. Vài giọt nắng lấp lánh trên bộ lông xám nâu của chúng khích hoạt tính năng động của chúng nhiều hơn. Cứ thế, chúng đùa giỡn với nhau một cách thoả thích.

Một gia đình nai gồm năm con lớn nhỏ rảo bước xuyên qua những bụi gai của dâu rừng. Thỉnh thoảng, chúng dừng lại nhâm nhi vài chiếc lá ven đường rồi từ từ tiến đến bờ suối để uống nước. Cảnh vật như một bức tranh tuyệt mỹ được tạo dựng bởi bàn tay tài tình của vị họa sĩ vô hình nào đó nhằm làm rõ hơn sự tự tin của của giống thú hiền hòa trước sức sống mới của khu rừng sau những ngày đông giá lạnh và đang thực sự bước vào mùa xuân ấm áp. Các loài chim họa mi (robin), hồng tước (cardinal), cu đất (mourning dove) và các loài chim sẻ (sparrow) lần lượt xuất hiện với những tiếng hót rộn ràng. Những nhánh cây đong đưa nhè nhẹ theo những làn gió thoảng, bỗng chốc chuyển động nhịp nhàng theo những bước nhảy vụt của những con sóc, tạo nên những tiếng xào xạc nho nhỏ rồi chìm vào trong thinh lặng. Bỗng dưng, tiếng chim hót chợt nhỏ dần và rời rạc hơn trước.

Một con chim họa mi trống ức màu cam đậm gần như màu đỏ vụt bay từ một bụi cây đáp xuống bãi cỏ xanh non. Nó nhảy từng bước ngắn, sau đó đi bộ quanh đám cỏ với đôi mắt láo liên, rồi bất chợt mổ xuống đất và kéo lên một con trùn. Trước ánh mắt ngạc nhiên và đầy thán phục của những con họa mi khác đang nhảy chân sáo dáo dác tìm mồi, nó vụt bay khỏi đám cỏ hướng về phía bụi cây, nơi có chim họa mi mái và ba con chim non đang nằm trong cái tổ hình cái chén bằng cỏ khô. Thình lình, những con chim họa mi này đều ngước mắt nhìn lên những cái nóc của dãy nhà song song và đối diện ven rừng, dáo dác lần theo tiếng hót trong trẻo của một con chim họa mi trống có mào đen tuyền, tướng rất uy nghi.

“Vui không các bạn ơi? Hôm nay có thêm một ngày mới của mùa xuân, vậy chúng ta hãy cùng nhau cất tiếng hát đón mừng nhé! Nào, hãy hát theo ta đi vì ta đang đậu ở một nơi cao nhất, một vị trí hết sức xứng đáng dành cho một chỉ huy!”
“Đừng nghĩ mình là vô địch! Hãy nhìn ta đi rồi xem ta có đậu ở nơi cao hơn chỗ ngươi không? Các bạn ơi, hãy ngước lên đây này! Ta có đáng được khâm phục chưa? Giờ thì các bạn hãy hát theo ta và chúng ta cùng hát mừng nắng mới nhé!” Tiếng hót tươi vui vang lên từ ngọn cây cao nhất đối diện với dãy nhà.
“Khéo mà tranh nhau đậu chỗ cao, chỗ thấp! Có cần như thế không? Chúng ta chỉ cần hát cho vui mà thôi!” Tiếng càu nhàu của một con chim họa mi khác từ một cây phong (maple) ven bờ suối.
“Đúng vậy! Chúng ta chẳng cần tranh cao hay thấp. Chúng ta chỉ cần góp tiếng hát chung là đủ! Nhưng ta muốn báo cho các bạn biết đây là không phận của ta đó nhé. Khu vực này dành riêng cho vợ chồng ta! Các ngươi muốn xây tổ thì kiếm chỗ khác mà làm!” Một con chim họa mi khác cất cao giọng từ một nóc nhà cách nóc nhà của con chim họa mi trống có mào đen tuyền đang đậu một căn.


Sự tranh cãi, và đối đáp qua lại liên tục và nhịp nhàng của bầy họa mi đã tạo ra những âm thanh trầm bổng khá điêu luyện tựa như là chúng đang trình diễn hợp ca trên một sân khấu lớn sau một thời gian luyện tập khá công phu. Vì lẽ ấy, chúng đã tạo nên một bản hợp ca hết sức sinh động để mừng đón nắng xuân. Và giai điệu đầy năng lượng của bản hòa ca này đã khiến cho không khí lạc quan tỏa rộng khắp khu rừng lan tới tận rặng thông ở cuối chân đồi.

“Rõ khỉ! Sáng nào bọn này cũng náo loạn! Như ta đây, chẳng cần phải giành không phận, địa phận hay làm điệu làm bộ với bọn chim mái bằng những bài ca tiếng hát! Ta chỉ cần chăm chỉ đục vào cái thân cây cứng như thế này thì sẽ có nhà, có ăn và còn có thể kiếm vợ.” Con chim gõ kiến vừa làu bàu vừa khoét một lỗ thật sâu vào trong thân cây bạch dương vàng cổ thụ. Cái mỏ dài của nó mổ lấy mổ để vào lớp vỏ của cây bạch dương vàng cao lớn và đồ sộ nhất khu rừng, tạo một âm thanh vừa lớn vừa dồn dập như tiếng trống đánh liên tục của một tay chơi cừ khôi.

Từ hốc cây, trong bụi rậm quanh cây bạch dương vàng ấy, hai con chim hồng tước trống và mái thảng thốt bay ra, chuyền từ cành nọ sang cành kia, rồi bay sang cây khác cho đến khi yên vị một nơi tạm xem là an toàn. Cặp vợ chồng chim giẻ cùi xanh dương (blue jay) ở trên chạc cao của cây phong này cũng hoảng hốt bay ra khỏi tổ, chuyền cành bay lên cao hơn. Chúng ngơ ngác nhìn quanh để định thần chuyện gì vừa xảy ra rồi chăm chú lắng nghe những âm thanh huyên náo trong khu rừng.

Vài con chim cu đất đậu sát bên nhau, trên những nóc nhà cao, lặng lẽ quan sát cảnh vật xung quanh một cách bình thản. Cho dù độ cao nơi chúng đậu chẳng kém nơi các con chim họa mi trống đang đậu trên các nóc nhà khác và những ngọn cây cao ngang tầm đối diện, chúng không hề lên tiếng để tranh hơn thua hay đáp trả. Trong lúc chúng ở trong trạng thái tĩnh lặng của kẻ áp dụng câu “tâm bất biến giữa giòng đời vạn biến” thì một đàn chim sẻ khoảng hai chục con reo hò chao lượn nhịp nhàng lên xuống như một vũ đoàn đang trình diễn mà sân khấu là đám cỏ trống trải giữa dãy nhà song song với dãy cây rừng cao, chạy dài từ đường lộ lớn đến cuối chân đồi. Đàn sẻ này thường cư ngụ trong đám rừng thông ở cuối đồi. Thỉnh thoảng, chúng xé lẻ, bay đến rừng bạch dương vàng này để kiếm ăn. Nhưng hôm nay, chúng không đến đây vì kiếm ăn mà vì muốn phô trương thanh thế sau khi nghe những con chim họa mi đấu khẩu. Xuất hiện như một đoàn quân nhỏ bé nhưng khí thế hùng hậu, chúng muốn khoe những màn biểu diễn đẹp mắt, có một không hai. Quả thật! tiết mục bay lượn đồng bộ của chúng tuyệt vời đến độ làm cho những con chim ba hoa chích choè trước đó, trở thành những khán giả lặng câm vì khâm phục. Hứng chí trước sự thinh lặng bất chợt của thế giới loài chim có giọng ca hay hát giỏi trong khu rừng bạch dương vàng, bầy chim sẻ tung thêm vài màn lượn qua lại rất đẹp mắt. Dù cả bầy lượn vòng lên cao hay bất thần quay ngược để lượn nhào xuống thấp rồi lại bất thần đổi hướng, không một con nào trong bầy lệch hướng, tách ra khỏi nhóm hay bị lạc lõng, bơ vơ ở phía sau. Sự lãnh đạo tài tình của con đầu đàn và sự hợp tác nhuần nhuyễn của loài chim nhỏ bé này đã tạo thành một khối thống nhất di chuyển nhịp nhàng và đồng bộ giữa không trung hạn hẹp giữa dãy nhà song song với hàng cây tạo nên ấn tượng khá sâu đậm cho những con chim đang chăm chú thưởng thức. Các con chim họa mi, cu đất, hồng tước, và chim giẻ cùi xanh dương không hiểu vì sao cả đoàn chim sẻ này có thể di chuyển chính xác như đoàn quân duyệt binh chuyên nghiệp, và không hề vướng một lỗi nhỏ nào. Không thốt nên lời, chúng tiếp tục bày tỏ sự nể trọng bằng im lặng.

Đàn chim sẻ cũng im lặng, không ríu ra ríu rít như lúc đầu xuất hiện nhưng chúng tiếp tục bay lượn nhịp nhàng theo đàn. Từ trên không trung cao vời vợi chúng thình lình quay phắt lại, lượn xuống thật nhanh, bay về phía tiếng kêu rất lớn.
“Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!”

Trong khi những con chim sẻ đáp xuống bãi cỏ xanh trong khu vườn có cây cổ thụ bạch dương vàng to lớn, những con chim cu đất, chim hồng tước, và chim giẻ cùi xanh dương cũng đồng loạt rời những nóc nhà và những cành cây trong rừng vụt từ cao bay xuống đậu dọc trên những thanh hàng rào gỗ bọc quanh khu vườn nơi phát ra tiếng kêu.

Tiếng kêu “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!” tiếp tục vang lên, ngân lên cao vút, bay bổng khắp không gian và lanh lảnh vang xa tận bờ mương của con suối và xuống tận các dãy đồi ở dưới thấp. Những con sóc đang đùa giỡn, dừng chơi, nhảy phóc thật nhanh về phía hàng rào. Những con sóc khác đang còn cuộn mình trong hốc cây, bụi rậm, và các chạc cây vội thò đầu ra khỏi ổ, vội vã phóng thật nhanh. Chúng phóng lên từ ven bờ suối, nhảy xuống từ các hốc cây và chạy vào từ những bụi cây ven rừng hay những cây lê Bradford (bradford pear tree) ở phía mặt tiền của các dãy nhà. Một con sóc chuột (chipmunk) từ bụi hoa cẩm tú cầu trong góc vườn của căn nhà cũng vội vàng thò đầu ra khỏi hang, vụt thật nhanh, chạy về phía bãi cỏ. Từ bụi rậm của rừng cây bạch dương vàng gần góc vườn nhà, một con thỏ con cũng chạy theo mẹ, chui qua khe hở của chiếc cổng gỗ để vào bãi cỏ trong khu vườn.

Hầu như muông chim và thú vật trong khu rừng này đều quen thuộc với tiếng kêu “Tuýt tà tuýt tà tu!” của con tuýt, một sinh vật hết sức lạ lẫm. Con tuýt không có một bộ lông duy nhất với màu nâu đậm hay xám nhạt của chúng. Nó thường xuất hiện với nhiều màu sắc khác nhau. Nó thường khoác lên mình các lớp màu khác nhau. Có khi màu đỏ như điểm xuyến của chim hồng tước, có khi màu xanh dương như của chim giẻ cùi xanh, và còn nhiều màu khác như tím, đen, vàng, trắng... Cho nên, chúng chỉ có thể nhận con tuýt qua tiếng kêu của nó. Con tuýt không sống trong rừng, và không phải vất vả tìm những chỗ ẩn nấp an toàn để cư ngụ như chúng. Nó sống trong cái nhà cao ba tầng; một nơi cư ngụ có nhiều cánh cửa sổ, có ban công lộ thiên với sàn gỗ rộng được lan can bao quanh rìa, nơi mà nó thường hay đứng nhìn ra khu rừng và gọi chúng về ăn hạt. Con tuýt khác chúng vì con tuýt là con người. Một con người thông minh như những con người khác. Họ biết vận dụng trí tuệ và đôi bàn tay để làm việc, mưu sinh kiếm sống và còn nhiều việc khác hữu ích cho bản thân và cộng đồng của họ. Vì con tuýt là sinh vật khác thường, nên chúng rất e dè tiếp cận để phòng thân. Dù đã qua hơn bốn năm được con tuýt cho ăn thường xuyên, chúng chỉ chờ đợi tiếng kêu của tuýt để tụ họp cùng các loài vật khác chứ không bao giờ muốn kề cận con tuýt.

Phần con tuýt, khi đọc câu chuyện cổ tích dân gian “Trí Khôn Của Ta Đây!” tuýt hiểu rõ vì sao con người làm chủ được muôn loài. Nhưng, nó không đồng tình với hành động anh nông dân trói chặt con cọp, vốn là chúa tể rừng xanh, châm lửa đốt rơm khô quanh nó, rồi dùng roi quất và hét lớn “Trí khôn của ta đây!”. Nó nghĩ, con người vốn dĩ đã thông minh thì nên dùng trí thông minh để làm những việc nhân hậu và có ích. Không nên thể hiện lợi điểm của mình với sinh vật kém trí hơn, không ích lợi gì.

Từ ý nghĩ này, tuýt thường hay tựa vào lan can của ban công sàn gỗ đăm chiêu nhìn về phía rừng với những ý nghĩ ngổn ngang. Nó hiểu căn nhà mà nó làm chủ hiện thời nguyên là đất của khu rừng vừa được tái thiết và xây dựng thành khu nhà mới. Một nơi tân trang với các thiết bị hiện đại và hệ thống điện đặt dưới lòng đất chứ không giống các khu phố cổ với các loại dây điện giăng mắc. Nó biết người ta đã chặt cây rừng để làm khu nhà mới này. Những cây rừng, vốn là nơi để bọn thú ẩn náu đồng thời là những nguồn thức ăn của chúng, đã bị huỷ diệt. Nó cảm nhận sự không công bình khi con người chỉ nghĩ đến lợi ích cho bản thân trong khi các sinh vật khác trên trái đất đang chịu thiệt thòi.

Vì thường xuyên suy nghĩ về đời sống của những loài vật ven rừng, con tuýt có thói quen quan sát chúng. Khi biết rõ đặc điểm của từng con vật, nó cảm thấy thương những con vật này nhiều hơn. Tuýt không cảm thấy tức giận khi những bụi hoa cúc tươi đẹp bị gặm rụi bởi những con nai, cũng không thấy buồn phiền khi cây hồng bị vặt hết trái bởi những con sóc, và cũng không bực bội khi tất cả những gốc bạc hà, gốc lá gai, củ hoa uất kim hương, củ hoa dạ lan hương bị biến mất bởi những con vật nào đó kiếm ăn trong suốt mùa đông tuyết. Thấu hiểu, và thông cảm đời sống khó khăn của những con vật hoang dã, tuýt cố gắng tạo điều kiện cho chúng sống khỏe và tránh bệnh hoạn. Tuýt thường xuyên thay nước sạch cho chúng uống và mua các loại hạt cho chúng ăn. Thoạt đầu, tuýt đổ hạt vào các hộp thức ăn cho chim nhưng sau đó tuýt thấy những con sóc leo trên hai hộp đựng thức ăn, lộn đầu xuống, cố gắng nạy nắp hộp, khèo từng hạt một ra để ăn thì nó thương cảm nghĩ cách cho tất cả các con vật trong khu rừng được cùng được ăn trong sự công bình. Thay vì trút hạt vào hai hộp đựng thức ăn cho chim, nó chuẩn bị một tô hạt hướng dương và hạt kê kèm theo những mẫu bánh mì xắt nhỏ rồi rải đều trên bãi cỏ rồi gọi các con thú về ăn. Mùa đông, trong những ngày tuyết kéo dài, tuýt thường gọi chúng về ăn vào buổi sáng nhưng nó không rải hạt trong vườn nơi tuyết trắng phủ đầy mà rải đều hạt trên nền xi măng dưới cái ban công. Qua bao nhiêu năm, chim và thú ven rừng đã quen thuộc tiếng kêu của tuýt, quen với lịch ăn từng mùa, đồng thời biết chỗ nào chứa thức ăn và nước uống. Tuýt đã dạy cho chúng biết rõ lúc nào chúng được ăn nhiều, lúc nào chúng chỉ được một ít thức ăn và lúc nào phải tìm ăn chứ không được ỷ lại. Vào mùa hạ và mùa thu, chúng phải tự thân vận động đi kiếm ăn. Họa hoằn lắm, tuýt gọi về bất chợt để cho chúng ăn những mẩu bánh mì mới do tuýt làm. Những hôm như thế thường là những ngày cuối tuần và chúng quay về tụ tập như dự tiệc hội ngộ sau những ngày kiếm ăn xa.

Con tuýt biết rõ, dù nó có cho thú ăn hay không chúng cũng có thể kiếm ăn trong những ngày nắng ấm nhưng nó vui vì đã tạo cho các loài thú trong rừng làm quen với nhau và trở nên thân thiện với nhau hơn sau nhiều lần họp mặt trong khu vườn của nó. Sáng hôm nay, cũng như mọi khi, sau khi rải thức ăn trên bãi cỏ và gọi bầy thú về, nó đi lên cầu thang, đứng trên ban công để quan sát.

Những con chim sẻ không e ngại khi đứng cạnh vợ chồng chim hồng tước. Chúng cũng không hề hoảng sợ khi vợ chồng chim giẻ cùi xanh dương thay nhau sà xuống bãi cỏ cặp những mẫu bánh mì rồi bất thần bay lên cao để về tổ. Những con cu đất đứng sát cạnh những con sóc mổ hạt ăn trong tư thế bình thản và an yên. Con sóc chuột cũng mạnh dạn lùa những hạt kê vào miệng cạnh những con lớn xác hơn nó như sóc và cu đất. Hầu hết các con thú khác loài chưa bao giờ gây hấn hay đánh nhau. Tuy nhiên, chúng thường xuyên đánh nhau với đồng loại, những con cùng loài, cùng nòi giống. Sóc đánh nhau với sóc. Sóc chuột đánh nhau với sóc chuột. Chim cu đất đánh nhau với chim cu đất. Hồng tước đánh nhau với hồng tước và chim giẻ cùi xanh dương đánh nhau với chim giẻ cùi xanh dương. Những kẻ giao chiến thường là giống đực, là con trống, muốn bảo vệ hạnh phúc gia đình và tỏ ra anh hùng. Chúng muốn thị uy, phô bày sức mạnh để tự trị lãnh địa, để giữ vị thế là chủ địa bàn của vùng đất mà chúng thường xuyên lui tới và nhất quyết không để cho kẻ lạ mặt nào xâm nhập.


Những con sóc sống trên những cây lê Bradford trước nhà con tuýt hay những cây cạnh hàng rào của vườn sau của con tuýt thường rượt những con sóc sống ở dưới bờ suối. Trước khi “nhập tiệc” chúng thường quan sát những kẻ lạ mặt, rồi nhất quyết đuổi những kẻ ấy ra khỏi bãi cỏ. Có khi chúng đuổi những con lạc loài này ra khỏi khu vườn đến tận bìa rừng. Một trong những con này là con sóc thường xuyên lên ban công sàn hiên gỗ của con tuýt để uống nước trong cái sô nhỏ mà con tuýt thường chứa nước để tưới những chậu hoa đặt ven lan can. Con sóc này rất dạn dĩ và thân thiện với con tuýt. Mỗi khi nó nghe tiếng cửa sau đóng sập, nó vội nhảy phóc từ cây lê Bradford trước nhà của con tuýt, rồi nhảy lên cầu thang và phóc đến ban công, rón rén từng bước đến gần con tuýt để xin ăn. Mỗi khi con tuýt dậy trễ, chưa kịp cho ăn, con sóc này nhảy lên thành cửa sổ rồi nhảy lên trần nhà của phòng xây thêm, lóng ngóng nhìn vào cái cửa kính trên nóc, dáo dác tìm con tuýt. Mỗi khi nó chạy nhảy đâu đó, không thể đợi con tuýt như đã từng, nhưng nó vẫn lắng nghe tiếng gọi của con tuýt để chạy về kịp. Tuy nhiên, nó không chạy xuống bãi cỏ để ăn cùng các con thú khác mà nó phóc lên thành cầu thang đến cái lan can nơi mà con tuýt hay đứng quan sát những con thú đang ăn dưới bãi cỏ. Những lúc như thế, nó đến gần con tuýt với đôi mắt van lơn nên con tuýt thường cho nó vài nhúm hạt hướng dương để nó ăn ngay trên thành lan can cạnh nơi con tuýt đứng. Đôi mắt linh lợi với những cử chỉ dạn dĩ dễ thương của nó đã làm cho con tuýt mến nó rất nhiều. Nó thành con sóc được con tuýt yêu thích nhất. Con tuýt ưu ái và quan tâm nó nhiều và đặt cho nó tên Bạn Thân (Buddy). Con tuýt chỉ nhận ra con Bạn Thân trong số mười hai con sóc, có lúc lên đến mười ba, mười bốn con thường xuyên hay đến ăn trong vườn, vì đôi tai nó có hai chóp nhọn màu trắng kèm theo tính gần gũi của nó. 

Con Bạn Thân thường lân la gần gũi với con tuýt không những chỉ vào buổi sáng, lúc con tuýt cho ăn, mà bất cứ lúc nào con tuýt mở cửa sau để đi ra ngoài. Hễ con Bạn Thân nghe tiếng cửa sau của nhà Tuýt đóng sập là nó xuất hiện từ dưới cái cầu thang nhìn lên với ánh mắt thân thiện ý muốn gần gũi và tiếp xúc với con tuýt. Con tuýt thích con Bạn Thân vì con này hiểu được tiếng nói của con người. Mỗi khi nó nói “Lại đây Buddy!” thì con Bạn Thân lại gần. Khi nó nói: “Đứng đây chờ mẹ một chút, để mẹ vào lấy hạt cho con ăn!” là con Bạn Thân ngồi yên chờ đến khi con tuýt mang hạt hướng dương ra cho nó. Con Bạn Thân biết con tuýt thương nó nên nó tự xem mình là thú cưng của con tuýt và khu vườn của căn nhà con tuýt là địa phận của nó. Mỗi khi con tuýt cho nó nhúm hạt trên thành lan can của ban công, nó chỉ ăn vội vài hạt rồi đến giữa hai chậu hoa trên một góc lan can, núp vào đó với tư thế nằm dài, với đôi mắt chằm chằm nhìn xuống bãi cỏ để quan sát. Cử chỉ của nó như của “nhân viên” bảo vệ tận tụy canh vườn cho chủ, chứ không màng đến chuyện ăn uống. Mỗi khi nó thấy những con sóc lạ đột nhập, phần lớn là những con đến từ dưới ven suối lên, là nó phóc xuống đất, truy cùng, đuổi tận. Những lần như thế, mặc cho Bạn Thân tỏ thái độ “đại ca giang hồ”, rượt đuổi một cách mạnh mẽ và hung tợn, những con sóc sống ở ven suối vẫn chạy lòng vòng rồi quành lại bãi cỏ để ăn vài hạt rồi chạy tiếp. Có lúc, chúng nhanh chóng cắp một mẫu bánh mì rồi phóc qua hàng rào rồi chạy biến vào các bụi rậm trong rừng. Ăn xong, chúng lại nhảy phóc vào khu vườn để kiếm miếng ăn khác. 

Sự kiên trì của chúng đã giúp chúng đạt nhiều thắng lợi mà nguyên do chính là bởi vì những con sóc sống ở dưới suối thường có thân hình thon gọn nên chạy nhanh hơn con Bạn Thân và những con sóc sống cạnh nhà con tuýt. Tuy nhiên, sau một thời gian, những con sóc sống dưới suối chán cảnh bị đuổi nên không mặn mà với chuyện vào cái bãi cỏ trong nhà con tuýt chực ăn. Chúng lang thang đi tìm các loại trái trong rừng hay bới những mô đất để tìm những thứ mà đồng loại của chúng thường giấu sau khi được ăn no nê. Trong số những con này, có một con không từ bỏ chuyện “ăn chực” đến độ con Bạn Thân phải chào thua. Hơn thế nữa, con này còn gan lỳ, dám đi theo con Bạn Thân đến gần con tuýt để làm quen. Mỗi lần nó thấy con Bạn Thân nịnh con tuýt, nó rón rén theo con Bạn Thân leo lên cầu thang gỗ và ngồi ở đó nhìn con Bạn Thân với con tuýt. Nó ngồi thẳng đuột để lộ cái bụng trắng phếu với hai bàn tay cặp trước ngực như chắp tay để tỏ sự thành tâm ngay từ bậc thấp của thang gỗ. Kèm với tư thế ngồi của kẻ khẩn cầu một cách nghiêm túc, đôi mắt có viền mi trắng của nó lấp lánh sự van lơn khẩn thiết khiến con tuýt động lòng, rải hạt cho ăn và đặt nó tên là Kiên Nhẫn (Patience). Bạn Thân và Kiên Nhẫn là hai con sóc mà con tuýt có thể nhận diện trong bầy sóc vào ăn trong vườn nhà nó và thường tỏ ra thiên vị với hai con này hơn những con sóc khác. Kể từ đó, con Bạn Thân không còn độc quyền ưu tiên. Nó thường xuống bãi cỏ ăn với bạn chứ không lên cái lan can với con tuýt nữa. Và nó cũng không còn “dị ứng” với những con sóc lạ, đến từ những nơi xa xôi nào.

Trong vườn của con tuýt có một con chuột sóc duy nhất. Con chuột sóc này quen thuộc với cách cho ăn của con tuýt nên tỏ ra thân thiện với con tuýt chẳng khác gì con Bạn Thân. Trong những ngày hè nóng nực, mỗi khi con tuýt tưới rau là con chuột sóc này chạy ngang qua lại dưới những giòng nước đang phun tưới trước mặt con tuýt. Nó muốn hứng những giọt nước mát đồng thời nó cũng muốn tỏ cho con tuýt thấy rõ là nó không hề e ngại chuyện tiếp cận với con tuýt bởi vì nó biết con tuýt là người cưu mang nó trong hơn bốn năm qua. Con tuýt cũng thường chú ý con chuột sóc này. Nó đặt tên con này là “Lùn Mã Tử”. Lùn Mã Tử là con chuột sóc già độc thân nhưng không cô đơn và không cô độc. Nó không hề vắng mặt buổi sáng nào khi con tuýt cho ăn nên thường có cơ hội tiếp xúc với các bạn sóc, cu đất, chim sẻ và các loại chim khác. Ngoại trừ vào những ngày đông lạnh giá, nó không hề xuất hiện để ăn những thức ăn mà con tuýt đặt trên nền xi măng dưới cái ban công sàn hiên gỗ. Có lẽ nơi ấy thiếu sự an toàn cho nó, có lẽ nó là động vật ngủ suốt mùa đông và cũng có lẽ nó đã ăn các thức ăn dự trữ cho mùa đông bằng cách chôn hạt ở những nơi nó thường cư ngụ như ở gần cái hang dưới bụi hoa cẩm tú cầu hay ở bãi đất trống gần cái hốc dưới chiếc máy lạnh ở bên cạnh căn nhà của con tuýt.

Khi mùa xuân đến, con tuýt thường thấy những nhóm cây hạt kê mọc quanh vườn và nó hiểu kẻ thực hiện việc trồng trọt không chủ định này là Lùn Mã Tử. Bởi vì mỗi buổi sáng khi cho ăn, con tuýt thường thấy con Lùn Mã Tử lùa những hạt kê vào miệng cho đến khi hai bên má nó phình ra đầy cứng, rồi nó chạy về hang chôn giấu. Sau đó, nó lại chạy ra chỗ bãi cỏ tiếp tục “vơ vét” thêm để về cất giữ phần dư thừa phòng khi thiếu thốn. Chuột sóc Lùn Mã Tử thuộc loài gặm nhắm, có họ hàng gần gũi với loài sóc, nên cũng có tính lo xa, hay giấu thức ăn dành cho mùa đông. Con tuýt hiểu tính siêng năng dự trữ “của ăn của để” của chuột sóc Lùn Mã Tử, chứ nó không hề ác cảm gì với hành động này. Trái lại, nó rất mừng khi thấy con Lùn Mã Tử được sống sót qua những mùa đông. Qua hơn bốn năm theo dõi cuộc sống của con chuột sóc này, con tuýt rất thương mến nó. Theo tuýt, Lùn Mã Tử là chuột sóc đực lớn tuổi, thông minh và rất lạc quan. Nó có tính cách giống con sóc Bạn Thân. Nó tự cho là thú cưng của tuýt, và khu vườn của nhà tuýt cũng thuộc về nó nên nó cương quyết đuổi bất cứ con chuột sóc nào vào kiếm ăn trong vườn nhà con tuýt. Nhìn nó đuổi con chuột sóc từ ngoài bìa rừng vào vườn là con tuýt biết con nào là Lùn Mã Tử và con nào là con chuột sóc ăn chực. Trong lúc con Lùn Mã Tử tròn trĩnh và lông màu hạt dẻ bóng mượt thì con chuột sóc kia nhỏ thó, ốm o và lông xù xì bết bệt. Con tuýt đặt con chuột sóc ấy tên là “Lùn Cái Bang”. Mùa xuân năm nay, con Lùn Cái Bang dắt theo vợ vào kiếm ăn nhưng trong tư thế rón rén, và lén lút để tránh chạm mặt con Lùn Mã Tử. Lùn Mã Tử vẫn biết nhưng làm ngơ, đi hướng khác. Trừ phi bất đắc dĩ trực tiếp đối mặt nhau thì con Lùn Cái Bang vội vàng giục vợ bỏ chạy trối chết. Tuy nhiên, dù đối nghịch, và không muốn trực tiếp gặp mặt nhau, nhưng cả hai bên đều có tính “vơ vét về”. Chỉ có khác là một đàng thì đem “của” về góc vườn nhà của con tuýt, còn một đàng thì chui ra khỏi hàng rào để đem “của” vào rừng.

Thỏ là giống ăn rau và cỏ nhưng hai mẹ con thỏ rừng cũng thường nhập với nhóm thú trong bãi cỏ của con tuýt. Chúng không ăn hạt nhưng ham vui, bắt chước “bạn bè” nhâm nhi các mẫu bánh mì thành quen. Với bản tính nhút nhát, chúng chỉ ăn một lúc rồi chạy ra khỏi khu vườn để về hang ổ. Chim giẻ cùi xanh dương thích ăn bánh mì hơn các loại hạt. Chúng thường cắp những mẫu bánh mì bay về tổ chứ không bao giờ đứng ăn chung với những con chim cu đất và các con sóc. Chim hồng tước thường bay xuống bãi cỏ ăn hạt nhưng chúng chỉ ăn trong sự dè chừng, và thận trọng. Chúng bay đến chỗ này mổ vài hạt, rồi bay đến chỗ khác mổ vài hạt sau đó bay vút lên trên các cành cây cao. Giống như chim giẻ cùi xanh dương, chim hồng tước bay đến rồi đi rất bất chợt. Chúng không điềm nhiên bước chậm rãi trên bãi cỏ để kiếm từng hạt như những con chim cu đất. Những con cu đất tin tưởng những con thú đang ăn quanh chúng đến nỗi chúng thường bàng quan với những cuộc đấu đá của những con khác loài. Thỉnh thoảng chúng nhảy lên khi phải né những cái rượt đuổi của những con sóc với tiếng kêu nho nhỏ như nói rằng “Hượm đã nào! Từ từ tớ sẽ tránh đường cho các bồ!”


Nhìn những con thú hội tụ ăn uống bên nhau trong trạng thái an lành và hòa thuận, con tuýt rất vui. Vui nhất là nó nhìn những con chim sẻ tắm trong những bồn mà nó vừa thay nước sạch. Nó cảm thấy mình là sinh vật có ích với muôn loài. Trong tâm trạng vui mừng, nó muốn giữ những con vật này lưu lại lâu hơn trong khu vườn của mình nên nó mở cửa bước vào trong nhà để lấy thêm hạt và bánh mì cho chúng. Khi mở cửa bước ra, nó nghe những tiếng kêu ré kinh hãi kèm thêm những cánh bay hoảng loạn của những con chim và những cái nhảy hoảng hốt của những con sóc. Trên bãi cỏ không còn một chim hay con sóc nào mà còn lại chỉ một đám lông vũ màu nâu của con chim cu đất nào đó rơi tan tác. Nó nhìn lên cây cổ thụ bạch dương vàng, một con chim ó lớn màu nâu đang kết liễu đời của một con cu đất nào đó trong cái mỏ khoằm cứng nhọn của nó.

Con tuýt vừa đau đớn vừa kinh hoàng đến nỗi nghẹn lời. Nó không thể nào thốt lên hai chữ “Trời ơi! Trời ơi!” như trước đây, khi nó chứng kiến những biến cố bất thường. Khi định thần, nó nhìn kỹ con ó to lớn đang núp trong cái chạc của cây cổ thụ bạch dương vàng. Màu lông nâu xám của con ó tiệp với màu của thân cây khiến cho ai nhìn, khó có thể nhận diện sự xuất hiện của nó. Đắc thắng với chiến thuật săn mồi hết sức ngoạn mục, nó rảo mắt tìm kiếm thêm những con mồi kế tiếp. Con tuýt giận dữ đặt cái thố bánh mì xuống sàn, vơ cái chổi dài cạnh đấy, rồi chỉa cái đầu chổi xù về phía nó, hét lớn:
“Cút đi! Cút đi ngay! Loài ác thú! Cút đi ngay!”

Không hiểu con ó sợ những tiếng la hét khiếp đảm của con tuýt hay vì sợ những ngọn cước lù xù màu xanh của cái đầu chổi, hình thù giống như một con thú quái dị, khiến nó vụt bay đi mất dạng. Trong không khí nặng nề bao trùm khu rừng, chỉ còn vang lên những tiếng khẹt khẹt hoảng sợ của những con sóc. Con tuýt nhìn quanh. Không còn bóng một con chim hay con sóc nào quanh khu vườn của nó. Trên bãi cỏ chỉ còn đám lông rải rác khắp nơi của con cu đất nạn nhân. Nó thương xót cái chết bất ngờ của con chim hiền lành, tự trách mình vào lấy thêm hạt làm gì, và vì sao không ở lại trông nom các con vật thân thiện lâu năm đến nơi đến chốn. Nó cảm thấy tội lỗi vì nó đã gây nên cái chết đáng thương của con cu đất vô tội kia. Khi nó kêu các con chim và thú về ăn là tạo điều kiện cho các loài chim săn mồi có cơ hội lưu ý để “ra tay” hành động. Rồi nó tự an ủi là hơn bốn năm cho thú ăn, nó chưa từng thấy con ó, chưa từng gặp trường hợp này nên không cảnh giác và không đề phòng. Rồi nó trách con ó kia sao không chịu ăn bánh mì, một loại thức ăn mà tự nó làm rất nhiều, hay những hạt hướng dương như những con chim và con thú khác mà phải sát hại sinh vật! Với tâm trạng buồn bã, nó quay vào nhà. Suy nghĩ sâu về chuyện tìm cách ngăn chặn con ó ác độc khỏi khu vườn nhà nó khiến các bước chuyển động của nó chậm chạp hơn thường ngày. Nhưng khi nó mở chiếc tủ lạnh ra, nó chợt khựng lại. Nó nhớ là nó đã từng ăn thịt gà rất nhiều lần. Phải chăng nó đã từng và đang là ác thú mà nó không hay!

Cung Thị Lan

Thứ Tư, 21 tháng 10, 2026

Hoa Phương Rơi Đón Mùa Thu Tới - Họa Sĩ: Tranh Nguyễn Sơn


Họa Sĩ: Tranh Nguyễn Sơn

Vàng Thu

 

Tháng chín vẩy tay trên hàng lá nhỏ 
chút vàng phai rươm rướm lệ hàng hàng 
Tháng mười về như một nỗi buồn khan 
đời lỡ hẹn những nụ cười trễ muộn ... 

Cao Vị Khanh

Sinh Nhật Bạch Hường



Hôm nay, sinh nhật Bạch Hường
Nhưng em, giờ đã thiên đường nghỉ ngơi
Trong hào quang Đức Chúa Trời.
Và trong tay Mẹ Mân Côi an lành

Chao ôi! ánh mắt long lanh.
Từ di ảnh vẫn nhìn anh tinh tường.
Bàn thờ tro cốt trầm hương.
Hồn em như vẫn ẩn nương trong nhà.

Bánh mừng sinh nhật đèn hoa.
Các con bày biện như là còn em.
Bài ca sinh nhật cất lên.
Những dòng nước mắt êm đềm tuôn rơi

Hôm nay sinh nhật “Má ơi!”
Các con gọi “Má” rụng rời tim anh.
Ngọn đèn chớp nháy thật nhanh.
Hai con chim lạ bay quanh nóc nhà

Mùi hương phảng phất gần xa.
Dù không hiện hữu… biết là có em.
Lời kinh ”Kính Mừng” cất lên.
Ánh đèn lại chớp báo thêm tỏ tường.

Hôm nay sinh nhật Bạch Hường.
Nhưng giờ em đã thiên đường viễn miên.
Âm dương, cách biệt đôi miền.
Nhưng Lời Hằng Sống, nối liền tử sinh.

Oct. 17, 2026
Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia
 

Luận Về Khoa Bảng -Trần Xuân Thời

hoc1

"Sơn hạ hồng trần Nam Thoán lộ
Bất tri quan đái kỷ nhân hồi"
(Dưới núi, bụi hồng, đường Nam Thoán
Không biết có bao nhiêu người lãnh áo mão cân đai trở về).

Hai câu thơ này thể hiện sự cam go của sĩ tử phải phấn đấu, thi thố tài năng qua trường thi trận bút hầu mong đỗ đạt để được tiến cử ra làm quan từ thời nhà Hán, cách đây hơn hai ngàn năm về trước. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, thời đại nào vẫn có vấn đề "Học tài thi phận". Thế nên, mặc dầu vào thời nhà Hán một số người Việt khoa bảng như (*) Lý Tiến, Lý Cầm, Trương Trọng đã đỗ đạt, vinh quy bái tổ và được Hán triều bố nhiệm ra làm quan, mãi đến đầu thế kỷ thứ 20, Tú Xương than thở vì thi mãi vẫn chưa hết phạm trường quy, hoặc dù có khoa bảng nhưng không được đãi ngộ tương xứng.


"Đau quá đòn hằn

Rát hơn lửa bỏng

Hổ bút hổ nghiên

Hổ lều hổ chõng"

Thi hỏng liên tiếp, Tú Xương đã thất vọng.

"Phen này tớ hỏng tớ đi ngay

Cúng giỗ từ đây nhớ tới ngày

Học đã sôi cơm nhưng chửa chín

Thi không ăn ớt thế mà cay!"


Cụ Nguyễn Công Trứ cũng đã trải qua những âu lo khắc khoải của cuộc đời khoa hoạn, mãi đến tứ tuần mới đỗ Cử Nhân và được đề cử ra làm quan. Đối với Nguyễn Tiên sinh đỗ đạt ví như: "Bẻ cành đơn quế cho rồi liền tay" chẳng những để khỏi: "Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ. Nay thét mai gầm rát cổ cha" mà còn đạt đến ước nguyện (self- actualization) của cuộc đời. Đắc chí, hay đạt được lý tưởng vì được liệt vào hàng "Kẻ sĩ". Theo triết gia Maslow, nhân thế có 5 nhu cầu chính yếu :


1) Nhu cầu về sinh vật lý (physiological needs) như đói ăn, khát uống…

2) Nhu cầu được sống an toàn (security needs) không bị đe doạ, áp bức, kỳ thị; 

3) Nhu cầu hội nhập (belonging needs), nhu cầu kết hợp, nhóm họp, thân hữu;

4) Nhu cầu được tôn trọng (respect needs) và 

5) Nhu cầu thực hiện được lý tưởng của mình (self-actualization needs).


"Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt

Dân hữu tứ sĩ vi chỉ tiên

Có giang sơn thì sĩ đã có tên

Từ Chu, Hán vốn sĩ này là quí".


Với danh tước Nho sĩ, thì tiến vi quan thối vi sư. Trước hết, phải tích cực tiến theo tấc bóng của mặt trời. "Nhật tân chi vị thịnh đức" mỗi ngày một mới và mỗi ngày một thêm mới mới là đức thịnh. Đem lời hay ý đẹp phụng sự xã hội lúc chưa gặp thời:


"Lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất

Hiêu hiêu nhiên điếu Vị canh Sằng

Xe bồ luân dầu chứa gặp Thang, Văn

 Phù thế giáo một vài câu thanh nghị".

Và khi gặp thời thì:

"Rồng mây khi gặp hội ưa duyên

Đem tất cả sở tồn làm sở dụng

Trong lăng miếu ra tài lương đống

Ngoài biên thùy rạch mũi Can tương

Làm cho bách thế lưu phương

Trước là Sĩ sau là Khanh, Tướng"


Sau khi đem tài kinh bang tế thế để giúp nước trị dân, kẻ sĩ mới được thung dung thụ hưởng cảnh an nhàn.


"Nhà nước yên sĩ mới được thung dung

Bấy giờ sĩ mới tìm ông Hoàng Thạch

Năm ba chú tiểu đồng lếch thếch

Tiêu dao nơi hàn cốc thanh sơn

Nào thơ nào rượu nào địch nào đờn

Đồ thích chí chất đầy một túi

Mặc ai hỏi mặc ai không hỏi đến

Ngẫm việc đời mà ngắm kẻ trọc thanh

Này này sĩ mới hoàn danh".


Tuy vậy, cũng có nhiều vị khoa bảng thối vi sư, chuyên nghề dạy học và không màng danh lợi như cụ Chu Văn An, có thể vì:


"Gót danh lợi bùn pha sắc xám

Mặt phong trần nắng rám mùi dâu.

Nghĩ thân phù thế mà đau

Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê"


Cũng có thể vì không muốn dấn thân vào vòng tục lụy xích xiềng để rồi phải ân hận:


"Về đi sao chẳng về đi,

Ruộng hoang vườn rộng còn chi không về

Đem thân để hình bia sai khiến,

Còn ngậm ngùi than vãn với ai".


hoc02


Vấn đề thi thố tài năng qua trường thi trận bút đã bắt đầu từ thế kỷ thứ 11, đời nhà Lý. Vua Lý Nhân Tôn đã mở khoa thi đầu tiên vào năm 1075 để chọn Minh Tinh Bác Học, ra giúp nước trị dân. Năm 1195 lại mở khoa thi Tam Giáo, khảo sát kiến thức về triết học Nho Giáo, Phật Giáo và Lão Giáo. Qua đời nhà Trần, chế độ thi cử được cải tiến quy cũ hơn. Vua Trần Thái Tông mở khoa thi Thái Học Sinh năm 1232. Năm 1247, nhà Trần đặt ra Tam Khôi: Trạng Nguyên, Bảng Nhãn và Thám Hoa.

Các khoa thi, cứ 7 năm thi một kỳ. Đến đời nhà Hồ đổi thành 3 năm, nhưng mãi đến đời vua Lê Thánh Tôn (1463) lệ thi 3 năm một lần mới được thông dụng. Các kỳ thi để tuyển dụng nhân tài được tổ chức cho đến thời mạt diệp nhà Nguyễn với kỳ thi Hương cuối cùng năm Mậu Ngọ 1918.


Về nội dung các khoa thi, tuy có gia giảm tùy thời đại, nhưng đại để các khoa thi chia thành 4 phần chính:

- Trường Nhất: Thi Kinh - Nghĩa: Luận về ý nghĩa của kinh truyện, còn gọi là tinh nghĩa, hiểu rõ ý nghĩa của triết lý thánh hiền.

- Trường Nhì: Thi thơ, phú theo quy luật và đề tài do ban giám khảo định.

- Trường Ba: Thi Chiếu, Chế, Biểu: Soạn thảo các loại công văn dùng trong triều đình. Chiếu là lệnh của Vua, như sắc lệnh của Quốc trưởng. Chế là lệnh thưởng, phạt cho quân thần và Biểu là sớ dâng lên nhà Vua để tán tụng hoặc xin thỉnh nguyện, một hình thức kiến nghị.

- Trường Tư: Thi Văn sách: Thi Văn sách nhằm trắc nghiệm óc suy luận và kiến thức về một đề án.

Đã gọi là học tài thi phận, sĩ tử, ngoài việc thuộc làu kinh sử, còn phải có biệt tài suy luận, văn hay và chữ thật đẹp mới có nhiều hy vọng trúng tuyển. Nếu không có biệt tài, thì dù có thi cả chục lần, cũng chưa chắc đạt được bảng vàng, bia đá. Cụ Nguyễn Khuyến đã đỗ đầu 3 kỳ thi Hương, thi Hội và thi Đình được lừng danh là Tam Nguyên Yên Đỗ, thật là một nhân tài. Đọc lại một số bài Kinh Nghĩa, Thơ, Phú, Văn sách còn truyền lại với cách hành văn và ý nghĩa thật khúc chiết, mới thấy dù là từ chương trích cú, chế độ thi cử thật là khó khăn, đúng là: "Thi không ăn ớt thế mà cay".

Tú Xương đã thể hiện được tâm trạng của người thi hỏng:


"Một đàn thằng hỏng đứng mà trông

Nó đỗ khoa nầy có sướng không?

Trên ghế bà đầm nhoi đít vịt

Dưới sân ông cử ngổng đầu rồng".


Định chế giáo dục


Về định chế giáo dục, Việt Nam đã thành lập Đại Học từ thế kỷ thứ 11. Văn Miếu đã được lập từ năm 1070 để thờ Khổng Tử và làm cơ sở diễn giảng triết lý thánh hiền. Vua Lý Nhân Tông lập Quốc Tử Giám năm 1076. Vào đời nhà Trần, Quốc Học Viện được thành lập để diễn giảng Tứ Thư và Ngũ Kinh. Các định chế giáo dục này, tồn tại cho đến thế kỷ thứ 20. Ngày nay trong thành nội Huế, Quốc Tử Giám vẫn là nơi trang nghiêm biểu tượng cho nền quốc học. Đến năm 1917, các định chế mới về giáo dục do Dụ Cải cách Học chánh năm 1908 và năm 1917 ra đời thay đổi cả phần danh xưng lẫn nội dung các môn học. Kỳ thi Mậu Ngọ năm 1918 là kỳ thi cuối cùng của chế độ thi cử theo Hán học.


Viện Đại Học Đông Dương được thiết lập năm 1906 tại Hà Nội. Sau đó vì sinh viên bãi khóa nên bị đóng cửa đến năm 1917 mới được mở lại và đổi danh thành Đại học Hà Nội. Viện Đại học Hà Nội có chi nhánh tại Sài Gòn. Năm 1955 được đổi thành Viện Đại học Quốc gia Việt Nam và đến năm 1957 đổi thành Viện Đại học Sài Gòn.


Ngoài các đại học chuyên khoa về các ngành nhân văn và khoa học, chính quyền còn lập thêm trường chuyên nghiệp về ngành quản trị công quyền như trường Hậu Bổ lập năm 1903 tại Hà nội và tại Huế năm 1911. Đến năm 1912, trường Hậu Bổ được đổi thành Trường Sĩ Hoạn (École des Mandarins) và đến năm 1917 được đổi thành Trường Pháp Chính (École de Droit et d’Administration) hay Trường Luật và Hành chính (School of Law and Administration) để đào tạo các viên chức cai trị cho chính quyền trung ương và địa phương, các cấp Tri Huyện, Tri Phủ, Tổng Đốc, Thượng Thư… cho Triều Đình Huế. Hậu thân của trường uyên bác là Học viện Quốc Gia Hành Chánh (National Institute of Sdministration) được tái lập năm 1952 và sau đó được sự bảo trợ của Đại học Michigan State University của Hoa Kỳ với chương trình huấn luyện về quản trị tân tiến cho đến 1975.


Một số đại học công khác cũng được thành lập vào thời kỳ Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa như Viện Đại học Huế được thành lập năm 1957, Đại học Cần Thơ (1966), Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức (1974) và các Đại học Cộng đồng (Community Colleges) như Đại học Tiền Giang - Mỹ Tho (1971), Đại học Duyên Hải-Nha Trang (1974), Đại học Đà Nẵng (1974). Các đại học tư được thành lập như Đại học Đà Lạt (1957), Đại học Vạn Hạnh (1964), Đại học Phương Nam (1967), Đại học An Giang (1970) Đại học Cao Đài-Tây Ninh (1972), Đại học Regina Pacis (1973).


Vào cuối thế kỷ thứ 19 và đầu thế kỷ 20, một số cơ sở giáo dục cấp trung học được thành lập:

Tại Sài Gòn, như trường Taberd lập năm 1890, trường Gia Long năm 1915, trường Petrus Ký năm 1928. Tại Huế, trường Quốc học năm 1896, trường Pellerin năm 1904, Đồng khánh năm 1917. Tại Hà Nội, Trường Puginier năm 1897 và Trường Bảo hộ năm 1908. Sau 1945, trường Bảo hộ được đổi thành Trường Chu Văn An (Trường Bưởi). Trường Đồng Khánh Hà Nội mở năm 1917, sau đổi thành Trường Trưng Vương… là những trường trung học nổi tiếng trong thời Pháp thuộc và Đệ nhất, Đệ nhị Công hòa sau trước năm 1975.


Việt Nam đã chú trọng đến nền giáo dục quốc gia từ năm 1070 là một đặc nét của nền văn minh Việt Nam. Từ ngàn xưa, ý nghĩa danh từ đại học dành cho sinh đồ được minh định trong sách Đại học, một trong 9 cuốn sách giáo khoa của nền cổ học Trung Hoa, gồm Tứ Thư (Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử) và Ngũ kinh (Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu) hợp lại thành chín bộ sách giáo khoa của Nho học làm nền tảng cho nền giáo dục Việt Nam gần một ngàn năm lịch sử qua các triều đại cho đến khoa thi Hương cuối cùng năm Mậu Ngọ 1918.


Triết lý giáo dục Nho học chú trọng đến luân thường đạo lý, biến hóa tùy thời, thực tiễn từ cách vật trí tri, thành ý, chánh tâm đến tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ… Giáo dục ngành đại học cốt để:

1) Làm sáng cái đức tính của mình; "Đại học chi đạo, tại minh minh đức.

2) Để thân dân, cải tiến dân sinh, giúp dân bỏ cái xấu, theo cái tốt “tại thân dân và

3) An trụ ở nơi chí thiện, “tại chỉ ư chí thiện”.


"Ba cương lĩnh nầy được cụ thể hóa bằng sách lược đào luyện qua tám phương cách để giúp con người trở thành đại trượng phu, mẫu người quân tử theo quan niệm của Nho học:


1) Cách vật: tiếp cận và tìm hiểu sự vật;

2) Trí tri: đạt sự hiểu biết thấu đáo;

3) Thành ý: làm cho ý của mình được thành thực;

4) Chánh tâm: làm cho tâm được trung chính;

5) Tu thân: tu sửa chính mình;

6) Tề gia: xếp đặt mọi sự cho gia đạo hài hoà;

7) Trị quốc: khiến cho nước được an trị;

8) Bình Thiên hạ: khiến cho thiên hạ được thái bình.


Tại Hoa Kỳ, mãi đến thế kỷ thứ 17 mới thành lập Đại học. Đại học Harvard được lập vào năm 1638. Viện Trưởng Increase Matter, không được Đại Học Anh cấp bằng Tiến Sĩ. Hội đồng khoa Đại học Harvard quyết định cấp bằng Tiến sĩ cho ông Matter để ông có đủ thẩm quyền cấp bằng cho ban giảng huấn và sinh viên tốt nghiệp. Hơn 300 năm sau Đại học Harvard mới được công nhận vào quy chế Đại học chung do Khu giáo dục công nhận (Accreditation) vào năm 1949.


Nền giáo dục ở Mỹ, mỗi Đại học có quy chế riêng và tự trị, mặc dù đa số các đại học phải theo các tiêu chuẩn về tài chánh, giảng huấn, cơ sở và học liệu do 1 trong 6 khu định chuẩn công nhận (Accreditation). Các Hội đồng này do tư nhân thành lập và quản trị. Một số đại học do Tiểu bang cấp giấy phép và không màng liên hệ đến các Hội đồng này. Hiện nay có trên 2000 Đại Học tại Mỹ, là một quốc gia cung cấp nhiều khoa bảng nhất thế giới.


Theo tài liệu của US Department of Labor thì chỉ trong niên khóa 1985-1986:

- 1.300.000 sinh viên được cấp bằng cử nhân (BA, BS…)

- 288.000 sinh viên được cấp bằng Cao học (MA, MS…)

- 32.000 sinh viên được cấp bằng Tiến sĩ (Ph.D, Ed…).


Sau cấp Tiến sĩ, một số đại học ở Mỹ còn cấp thêm một loại bằng Masters chuyên môn (specialist) mà trong hệ thống Giáo dục Pháp gọi là Agrégé (Thạc sĩ). Ví dụ: John Doe, J.D., M.B.T (John Doe, Tiến sĩ Luật, Cao học Thuế Kinh doanh). Các ngành khác cũng thường có post-doctoral degrees. Thường sinh viên ít theo học các chương trình post-doctoral degrees vì không dễ kiếm ra công việc tương xứng, trừ phi học vì nhu cầu nghề nghiệp hay học nhằm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết, thích mà học, "cách vật chí tri". Trên thị trường nhân dụng, cấp BA có nhiều việc làm hơn cấp MA và Ph.D. Nhiều Ph.D. không tìm ra việc tương xứng.  


Người việt dùng danh xưng “Cử nhân” để chỉ người được đề cử (ra làm quan). “Tiến sĩ “là người được tiến cử để nhà vua bổ nhiệm.

Tây phương dung  chữ “docto”r nguyên ngữ từ tiếng La tinh (docere = to teach) có nghĩa là nhà giáo (teacher).


Ngoài ra, các đại học công đồng hay kỹ thuật (Community/Technical Colleges) còn cấp các văn bằng Trung cấp như associate degrees (AA, AS), cán sự học 2 năm hoặc các chứng chỉ (Certificate) học dưới 2 năm như chứng chỉ về thương mại, kế toán, khả năng luât, kỹ thuật v.v…). Số sinh viên tốt nghiệp hằng năm tính đến nay thay đổi theo dân số và các ngành học cũng gia tăng theo nhu cầu phát triển về nhân văn và khoa học.


Danh từ BA (Bachelor of Art) được hiểu như là một "Bồ chữ" (A batch of Knowledge) như Cao Bá Quát cho rằng trong dân gian có 4 "Bồ chữ", ông ta và gia đình chiếm hết 3 bồ, còn lại một bồ cho thiên hạ! Ngày trước, danh từ Bachelor chỉ dùng cho nam giới, còn nữ giới không được dùng vì không "xứng đáng"! Đàn bà đỗ Cử nhân chỉ được gọi là Mistress of Art hoặc Maid of Science. Dù bị kỳ thị nhưng vẫn còn khá hơn các nước Á Đông. Theo quan niệm cổ thì nữ giới "chỉ lo việc trong nhà, khi vào canh cửi khi ra thêu thùa. Trai thì đọc sách ngâm thơ, dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa, mai sau nối được nghiệp nhà, trước là tỏ mặt sau là ấm thân". Mạnh Lệ Quân phải giả trai mới được dự thi và được bổ nhiệm ra làm quan.


Ngày trước đỗ Cử nhân  là thành công trên đường học vấn và thành danh được liệt vào hàng "kẻ sĩ". Sĩ rồi mới đến Nông, Công, Thương và được tiến cử vào hàng Công Hầu Khanh Tướng. Ngày nay, với cấp bằng Cử nhân cũng đủ sống với đời về cả "Danh" cũng như "Phận". Có thể nói rằng hấp thụ kiến thức cần thiết là trình độ học vấn ở bậc Cử nhân. Nghiên cứu thêm để tinh luyện suy luận ở bậc Cao học và phát triển sáng tạo ở bậc Tiến sĩ. Cao học thường nghiên cứu lại các môn đã học ở bậc Cử nhân, tùy ngành, và nghiên cứu thêm về thực trạng của một vấn đề. Tiến sĩ cũng thường thâm cứu lại những môn đã học, thêm phần luận văn gồm suy diễn, đặt giả thuyết (hypothesis) và tìm cách chứng minh bằng thực nghiệm (test) hoặc áp dụng kiến thức nghiên cứu sự liên hệ nhân quả giữa các hiện tượng chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa…


Tại Việt Nam trước năm 1975, các văn bằng đại học thường được cấp chuyên ngành học từ cấp cử nhân, cao học đến tiến sĩ phỏng theo hệ thống giáo dục từ thời Pháp thuộc. Tại Mỹ đa số ngành chuyên môn cũng vậy. Tuy nhiên ở Việt Nam các ngành như Luật khoa, Y khoa thì sinh viên có bằng Tú tài II có thể ghi danh theo học, nhưng tại Mỹ, các trường luật, y khoa chỉ nhận các sinh viên đã có văn bằng cử nhân trở lên mới được xin nhập học… Sinh viên tốt nghiệp bậc Cử nhân các ngành kỹ thuật, khoa học, kinh tế, nhân văn… đều có thể nạp đơn xin vào ban Cao học Kinh doanh, Tiến sĩ luật khoa, Tiến sĩ y khoa… sau khi trải qua một kỳ thi Admission Test, với số điểm cao, thường trên 500, và cũng tùy trường và phải hội đủ các điều kiện khác mới được cứu xét…


Chung quy mục đích của giáo dục là phát triển kiến thức, tinh luyện suy luận và phát triển sáng tạo. Về phương diện luân lý, giáo dục nhằm đào tạo con người trở nên cao thượng hơn vì giáo dục mà thiếu lương tâm chỉ làm thêm bại hoại tâm hồn "Science sans conscience n’est que ruine de l’âme". Cụ Nguyễn Công Trứ đã nêu rõ sứ mệnh của Kẻ Sĩ : "Trong lăng miếu ra tài lương đống, ngoài biên thùy rạch mũi Can tương" để phụng sự quốc gia dân tộc.


Sự thành công ở đời, phần nhờ khoa bảng, phần khác do kinh nghiệm. Học và Hành đều nhằm mục đích tinh luyện kỹ năng (skill). Nói đến kỹ năng, người ta thường phân kỹ năng theo sáu cấp. Cấp đầu là giai đoạn tập sự đến tình trạng lão luyện. (Dreyfus: stages of skill acquisition: novice, advanced beginner, competency, proficiency, expertise, mastery). Khi sinh viên tốt nghiệp, lễ tốt nghiệp thường được mệnh danh là bước khởi đầu (commencement). Vì thế, người có đồng học vị không nhất thiết có đồng kiến thức. Phấn vì ngành học khác nhau, hoặc cùng một ngành học, nhưng kinh nghiệm nghề nghiệp hay trình độ nghiên cứu khác nhau. "Thầy của ngành nầy là học trò của ngành khác". Thế thì, nếu thành công trong một ngành chuyên môn nào đó, do kinh nghiệm hoặc do các phương thức khác, sự thành công này không thua gì khoa bảng". Nghề nào cũng trọng cũng hay. Đi buôn cũng quý, đi cày cũng sang". Trong một số trường hợp, dù có bằng cấp vẫn bị sa thải sau thời gian thử thách (probation), nghĩa là chủ nhân "Không cần biết anh, chị có bằng cấp gì nhưng chúng tôi cần biết anh chị có làm được việc hay không".


Tại các nước tân tiến, ngoài ngành văn, ngành võ cũng được phát triển.Trường West Point của Hoa Kỳ huấn luyện sinh viên cả văn lẫn võ. Sau khi xuất ngũ, cựu sinh viên West Point thường được trọng dụng trong các ngành kinh doanh, kỹ thuật và các sĩ quan cấp tướng phải có bằng Cao học.


Tại Việt Nam, tuy khoa bảng thường nói đến văn tài, nhưng võ lược dưới thời quân chủ cũng có văn bằng Võ Cử Nhân. Các quân trường sĩ quan huấn luyện quân sự 1 hoặc 2 năm của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tương đương với bằng Trung cấp (AA hay associate degree in military sciences) hay 4 năm tương đương với Cử nhân Thực dụng, khoa Quân sự. Tại Việt Nam trong thời quân chủ có Võ Cử Nhân và tại Trung Hoa, ngoài Cử Nhân Võ, còn có Võ Trạng Nguyên.


Không phải khoa bảng nào cũng thành công, ngoài kiến thức, kinh nghiệm thu nhận được, mỗi người còn có biệt tài thiên phú, hoặc do khả năng tự đào luyện thành người hữu dụng. Khi quân Minh xâm lăng, Việt Nam, vua quan trốn chạy. Lê Lợi, người dân áo vải đất Lam Sơn, đã dựng cờ khởi nghĩa, quy tụ quần hùng, 10 năm (1418-1428) nếm mật nằm gai, đã cứu giang sơn ra khỏi nơi đắm đuối, lập nên triều đại Hậu Lê.


Bên phương trời Tây có triết gia Socrate, được mệnh danh là sư tổ của nền triết học Tây phương. Ông nổi tiếng là người giỏi nhất vì đi đâu ông cũng nói" Điều tôi biết rõ là tôi không biết gì cả - As for me, all I know is that I know nothing". Thế là ông được mọi người đua nhau giải thích cho ông những gì họ biết. Học như vậy, khỏi mất tiền mà được nhiều người thương là hiếu học!


Trái lại, triết gia Khổng Tử ở phương trời Đông nổi tiếng vì đã chu du lục quốc để thuyết minh về đạo lý làm người, tu, tề, trị, bình. Khổng Tử (551-479)  trước công nguyên và Socrate (470-399 trước công nguyên) có điểm tương đồng là chủ trương "cái gì biết thì cho là biết, cái gì không biết thì nói là không biết", chú trọng vào vấn đề công lý, đạo đức, nhân cách làm người… và cũng gần có chung một quan niệm "thuận Trời thì sống, chống Trời thì chết".


Trong lúc Socrate chủ trương muốn sống xứng đáng phải biết luôn tự xét mình vì "The unexamined life is not worth living for a human being" và "I do not fancy that I know what I do not know". Thì Khổng Tử khuyên nhân thế: "Từ thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản" - Từ vua cho đến thứ dân, ai ai cũng lấy sự sửa mình làm gốc. Đúng là thượng trí gặp nhau" - Les grands esprits se reconfront- Great minds think alike".  Ảnh hưởng của hai nhà hiền triết thật sâu rộng nhất là về thái độ làm người. Người Tây phương nghe nhiều hơn nói và thích nghe để học hỏi. Người Đông phương thích làm thầy, nói nhiều hơn nghe!? 


Trường đời là Đại học hữu hiệu nhất tôi luyện con người làm nên sự nghiệp. Hiện nay, có trên 300 ngành học khác nhau và xã hội tân tiến như Hoa Kỳ có trên 2000 nghề chuyên môn.  Người Mỹ quan niệm "thầy" của ngành nầy là "học trò" của ngành khác, nên khi gặp vấn đề không thuộc ngành chuyên môn của mình, thường trả lời "I do not know". Phần khác vì tinh thần trách nhiệm, người Mỹ không "advise" người khác về những vấn nạn không thuộc ngành chuyên môn của mình. Còn người Việt, ít khi nghe nói" I do not know".


 Nhân viên các cấp, các ngành trong công ty, công sở đều phải học hỏi trong thời gian làm việc để thăng tiến nghề nghiệp, để đủ điều kiện hành nghề theo luật định, nên vấn đề tu nghiệp (continuing education) rất quan trọng để cập nhật hóa kiến thức, nếu không sẽ không đủ điều kiện hành nghề.  Thỉnh thoảng chúng ta nghe nói học theo lối "từ chương trích cú", thể hiện phần nào lối học "nhai lại", đủ để thi đậu, lấy bằng cấp qua giai đoạn thu nhận kiến thức, nhưng không mấy chú tâm đến vấn đề tinh luyện suy luận và phát triển sáng tạo. Hậu quả của nền giáo dục như vậy là có giáo dục nhưng sinh đồ không áp dụng được kiến thức vào cuộc sống. 


Nói khác đi có học nhưng không áp dụng được kiến thức vào đời sống thì cũng như không học, tạo nên tình trạng nhiều khoa bảng, nhưng thiếu nhân tài thực sự. Có quốc gia đứng đầu kết quả thi test quốc tế về một số môn học, nhưng thực chất vắng bóng trên danh sách những nhân tài lãnh giải Nobel. Đến nay, Hoa Kỳ vẫn là quốc gia có nhiều nhân tài lãnh giải Nobel, cho nên nhiều quốc gia gởi du sinh đến Hoa kỳ "tầm thầy học đạo".


Phương pháp học hỏi hiệu nghiệm


1. "Nên nghe cho nhiều, điều gì còn nghi ngờ thì để đó, tìm hiểu thêm, để tránh cái hại là nói sai sẽ bị thiên hạ chê cười. Điều gì biết rõ ràng chắc chắn thì nên nói, nhưng cũng nên nói một cách ôn tồn".

2. "Nên thấy cho nhiều, những gì thấy chưa được rõ thì để đó đừng làm. Còn những gì biết rõ thì cũng nên làm một cách cẩn thận, như vậy sẽ ít phải ăn năn".


Học hỏi được những điều hay lẽ phải cũng cần được áp dụng vào đời sống hằng ngày hay truyền thụ cho người khác. Nếu không, kiến thức sẽ trở thành mai một. Đúng với câu ngạn ngữ La tinh: "Qui novit neque id quo sentit experimit perinde est ac si nesciret". Anh ngữ cũng có câu: The knowledge or wisdom he has in his head is of no use to anyone unless he can communicate it to others (Rule of engagement, military law review). Có kiến thức mà không áp dụng được vào đời sống hoặc không truyền thông được cho người khác thì kiến thức đó sẽ trở thành vô dụng, chẳng khác nào ăn vào mà không được tiêu hóa. "Ăn vóc, học hay".


Ở đời có ba hạng thức giả:


1. Không ai dạy mà biết được đạo lý. "Sinh nhi tri giả, thượng giả" là hạng siêu việt.

2. Có đi học mới biết được. "Học nhi tri chí giả, thứ giả" là hạng khoa bảng thường tình.

3. Dốt mà chịu học hỏi. "Khốn nhi học chi, hữu ký giả" là hạng có chí thì nên.

Ngoài ra những người dốt mà không chịu học là hạng "cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu". "Khốn nhi bất học, ân tư vĩ hạ hỉ ".

Xã hội Tây phương cũng thường phân loại:


1. Great minds talk about ideas. "Chuyên viên giỏi thường nêu lên sáng kiến".

2. Average minds talk about current events. "Chuyên viên trung bình thường bàn những sự việc đang xảy ra", và

3.Small minds talk about people. "Chuyên viên thường hay bàn về chuyện thế thái nhân tình".

Câu nói "Người thông minh bàn về ý tưởng; kẻ nhỏ nhen bàn về con người" là lời nhắc nhở mạnh mẽ về việc chúng ta nên tập trung năng lượng ở đâu. Bằng cách ưu tiên các cuộc thảo luận xoay quanh những ý tưởng sáng tạo, chúng ta tạo ra một không gian cho sự sáng tạo, phát triển và tích cực. Mỗi người chúng ta đều có tiềm năng trở thành một nhà tư tưởng vĩ đại nếu chúng ta quyết định chuyển sự tập trung từ cuộc sống của người khác sang thế giới vô tận của ý tưởng. Vì vậy, trong cuộc trò chuyện tiếp theo, hãy tự hỏi bản thân: Bạn đang lan truyền chuyện phiếm hay đang tạo ra điều gì đó phi thường? Hãy cùng tôn vinh sức mạnh của ý tưởng và nâng tầm những cuộc trò chuyện định hình tương lai của chúng ta! Dù thuộc hạng nào chăng nữa, mỗi ngày mình nên xét ba điều: "Mình giúp ai việc gì, có giúp hết lòng không; giao du với bạn bè có giữ được sự trung tín không; mình có học hỏi thêm được điều gì mới mẻ trong ngày không".

Diễn trình giáo dục là diễn trình thu nhận kiến thức, tinh luyện suy luận và phát triển sáng tạo. Có ý kiến cho rằng cách học của người Tây phương và người Á Đông có điểm sai biệt được lưu ý là Á Đông học để lấy bằng cấp, "từ chương, trích cú" (Test- taking skill/based education on memorization and constant testing), học thuộc lòng để thi test. Giáo dục Tây phương chú tâm giúp sĩ tử biết suy tư, thông đạt, phát minh, áp dụng kiến thức vào đời sống để giải quyết thế sự (how to get their kids to communicate, to think, to solve problems).


Các nhà giáo dục giám định phương pháp giáo dục Đông Tây (International rankings) nhận định nền giáo dục Hoa Kỳ xếp hạng cao trên thế giới nhờ phương pháp giáo dục khích lệ học sinh, sinh viên suy tư, đối thoại với nhau và với thầy, học cách giải quyết vấn đề. Hoa Kỳ đã đầu tư vào nền giáo dục khoảng # 3% GDP hằng năm vào ngân sách giáo dục quốc gia, cao hơn các quốc gia khác. Tổng sản lượng nội địa gộp (Gross Domestic Product) của Hoa Kỳ năm 20258 là $30,769.7 billion.


Một nhà giáo dục Á Đông nhận xét:

"When I went to college in the United States, I encountered a different world. While the American system is too lax on rigor and memorization, - whether in math or poetry- it is much better in developing the critical faculty of minds, which is what you need to succeed in life. Other educational systems teach you to take test; the American system teaches you to think… That is why the America produces so many entrepreneurs, inventors, and risk takers. It’s America, not Japan, not China that produces dozens of Nobel Prize Winners… America knows how to use people to the fullest".


Đặc biệt nền giáo dục Hoa kỳ khuyến khích hoc sinh, sinh viên thách thức kiến thức theo tập quán hay quy ước kể cả thách thức giới hữu trách trong các ngành sinh hoạt nhân sinh". Most of all, America has a culture of learning that challenges conventional wisdom, even if it means challenging authority". Có lẽ đó cũng là lý do trẻ em Tây phương thường không hẳn nghe lời người lớn. "Children have never been very good at listening to their elders" (James Baldwin).


Học sinh, sinh viên Tây phương nghiên cứu các môn học qua sách giáo khoa thường được cập nhật hằng năm chiếu theo khuyến cáo của cơ quan NAEP (National Assessment of Educational Progress) và theo kết quả của các kỳ thi test " SAT" Scholastic Aptitude Test) để biết sự tiến bộ hay thoái hóa của nền giáo dục quốc gia. Học sinh hay sinh viên đến lớp dành thì giờ nghe giảng bài, thảo luận và giải quyết vấn đề. Trong lúc đó, trong các trường học Á Đông, không có sách giáo khoa cấp phát hay bán cho học sinh, sinh viên. Học sinh, sinh viên đến lớp dùng hết thì giờ chép bài. không có thì giờ tranh luận, học sinh sợ thầy không dám đặt câu hỏi, lớp học thiếu sinh khí… Thầy thì lấy sách giáo khoa Tây phương dịch ra vài chương đọc cho sinh viên chép lại để học. Có khi sách giáo khoa, gồm 18 chương, dày 600 trang cho mỗi môn học, thầy chỉ dịch một vài chương để đọc cho sinh viên chép. Vì thế, kiến thức của sinh viên, thiếu đầu, hụt đuôi. Khi qua các nước Tây phương, mặc dù có bằng cử nhân, cao học, tiến sĩ nội hoá, nếu không đi học lại để cập nhật kiến thức hay tìm học thêm một nghề chuyên môn "cấp tốc" thì sinh kế khó được hanh thông.


Thu nhận kiến thức để lãnh nhận chứng chỉ, văn bằng, chỉ mới là giai đoạn đầu. Nếu mới đạt được giai đoạn đầu mà đã tự thỏa mãn thì chỉ mới đạt đến sự hiểu biết vòng ngoài, cách vật chí tri, nhưng chưa đạt đến trình độ thành tâm, chánh ý, tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ. Học để hiểu biết và giỏi giang hơn về một ngành chuyên môn là điều tốt. Nhưng nếu chỉ để mong được an nhàn, sống lâu, giàu bền, còn việc quốc gia, cộng đồng, xã hội, ái hữu không thèm nghĩ đến thì chưa đạt đến trình độ trí thức.


Vì thế, triết lý giáo dục nhân bản không ngừng lại ở mức độ thu nhận kiến thức để trở thành chuyên viên mà còn tiến đến chủ đích làm cho con người trở nên cao thượng hơn. "Thượng vì đức, hạ vì dân" để làm gương cho hậu thế. Phối hợp đạo lý làm người và kiến thức để giúp đời là dấu chỉ của của kẻ sĩ. Như quan niệm của Nguyễn Công Trứ:


"Kinh luân khởi tâm thượng,

Binh giáp tàng hung trung.

Vũ trụ chi giai ngô phận sự.

Nam nhi đáo thử thị hào hùng".


Phải, với tinh thần "Vũ trụ chi giai ngô phận sự" thì "Người chăn cừu xứ Tô Cách Lan và ông bộ trưởng công trạng đối với quốc gia ngang nhau". Một người khoa bảng có văn bằng và một người mù chữ cũng có công trạng như nhau đối với tổ quốc, miễn là làm xong nhiệm vụ mà tổ quốc giao phó. Năm 1843, tướng quân Nguyễn Công Trứ bị giáng chức làm linh thú ở Quảng Ngãi. Ông quan niệm "Khi làm tướng, tôi không lấy làm vinh, thì lúc làm lính có chi mà nhục". Quan niệm nầy đúng với cường thường, đạo nghĩa, quyết tâm phục vụ chính nghĩa quốc gia, dân tộc, thể hiện thái độ "tâm" đã định và "tính" đã an. (Tri kỳ tâm, tận kỳ tính).

"Miển hương đãng đã khen rằng hiếu nghị,

Đạo lập thân, phải giữ lấy cương thường".


Thường các bậc phụ huynh khuyên con cháu lo học hành vì hiểu rõ tầm mức quan trọng của sự học trong đời sống để nắm lấy cơ hội thăng tiến nền giáo dục cho Cộng đồng Việt Nam hải ngoại. "Nhân bất học, bất tri lý. Ấu bất học lão hà vi". Ngày trước ở Việt Nam đỗ Tú tài như Tú Xương không có cơ hội thăng tiến. Ngày nay tại các quốc gia tân tiến mà chúng ta đang cư ngụ, mọi ngành hoạt động đều cần chuyên viên có kỹ năng tinh luyện, được chứng minh bằng kiến thức và kinh nghiệm. Nếu không có nghề chuyên môn, cạnh tranh với đời thật là vất vả!


Đa số những người có kiến thức và kinh nghiệm ở Việt Nam, sau ngày di tản, tuổi tác đã chồng chất, lại phải lo gánh nặng gia đình, còn đâu thì giờ để theo lũ em học hành như xưa. Vì vậy, các bậc tiền bối chỉ trông nhờ vào lớp hậu sinh, con cháu chuyên tâm nghiên bút, chẳng những để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết, vinh thân, phì gia, mà còn làm "Nở nang mày mặt, rỡ ràng mẹ cha. Trên vì nước, dưới vì nhà. Một là đắc hiếu, hai là đắc trung".


Hiếu thảo với cha,   đem tài năng phục vụ nhân quần xã hội, quốc gia, dân tộc, là niềm mong ước chung của các bậc phụ huynh vậy.


Trần Xuân Thời


Ghi chú:

(*) Lý Tiến, Trương Trọng được ghi trong sách "Bách Việt Tiên Hiền Chí" (120 hiền triết Bách Việt) do Âu Đại Nhậm biên soạn năm Gia Tỉnh Triều Minh (1522)