Thứ Năm, 27 tháng 8, 2026

Kiếp Sau Xin Vẫn Làm Con Ba -Thơ Tố Kim - Nhạc Võ Tá Hân

Thơ Tố Kim
Nhạc Võ Tá Hân

Hoài Niệm Vu Lan

 

Miền đất đó cơ hồ đã định
Một lần thôi miên viễn lìa xa
Bụi trần phủ lấp thiên thu đã
Cô tịch nội đồng năm tháng qua

Báo hiếu Vu Lan mùa rộn rã
Thiên đường kia mở ngõ bình yên
Nghiêng mình che lệ vùi tang tóc
Nắng xế tìm đâu bóng dáng hiền

Hoa trắng đó thay lời tiễn biệt
Cơi đèn khuya thắp nén tâm hương
Nghìn thu sau vẫn y niềm nhớ
Hoài niệm nẻo về bước viễn phương


Kim Phượng
Vu Lan 2026

Đẹp Sao!

 

Tình Cha nghĩa Mẹ đẹp sao
Mẹ thao thức hát ca dao canh tàn
Gian lao khổ nhọc Cha mang
Mong con hạnh phúc vô vàn giấc say!
Vu Lan con có từng ngày
Công ơn dưỡng dục con hoài khắc tâm
Nguyện cầu theo nến hương trầm
Lời con tha thiết thì thầm đêm nay!

Kim Oanh
Vu Lan 2026

Lời Cho Ba

 
 
Dù Ba trẻ hay già
Muôn đời Ba của con
Tình cao như núi non
Con ngàn đời kính trọng

Tình thương trãi mênh mông
Chỉ thấy qua hành động
Ít bày tỏ tấm lòng
Cả một đời sáng trong

Vẹn trung với non sông
Trọn hiếu với từ thân
Với bà con xa gần
Luôn ân cần hòa nhã

Ba vất vả một đời
Cho mái ấm an ngơi
Để gia đình hạnh phúc
Nghĩa tình quá ba ơi

Cám ơn ba thật nhiều
Ba yêu của chúng con
Nhớ thương và hãnh diện
Được làm con của Ba

Kim Trúc
 

Ngày Của Cha



Hôm nay ngày của Cha
Cảm ơn vợ hiền đã cùng ta
Chăm sóc đàn con khôn lớn
Lớn thì có lớn
Nhưng khôn… chưa chắc đã khôn!
Trong cảm xúc ngậm ngùi,
Nhớ về người Cha quá cố,
Trên bước đường đời gian khổ
Giữa biển cả mênh mông
Ta mới hiểu rằng
Lòng Cha lòng Mẹ
Sâu thẳm hơn cả biển Đông!

Bá Dĩnh
(21.6.2026) 
 

Vu Lan Nhớ Mẹ

 

Mùa vu lan con nhớ Mẹ hiền
Cùng trời cuối đất cõi non tiên
Hai mươi ba năm Mẹ xa vắng
Mà hình bóng Mẹ mãi trong tim.
Con nhớ ngày xưa mắt Mẹ buồn
Đà Lạt sương mù gió mưa tuôn
Một đời vất vả nuôi con trẻ
Không một lời than, chẳng tiếng hờn
Tám mươi lăm tuổi Mẹ ra đi
Rừng thông già cúi mặt sầu bi
Sương giăng kín nẻo vườn hoa cũ
Con không về - bạt cánh chim di
Chiều nay giá buốt lạnh qua thềm
Cánh hồng màu trắng cài lên tim
Nghe chuông chùa vọng con thầm ước
Ngồi ngắm dung nhan dáng Mẹ hiền

Mẹ ở cao vời - cõi tịnh không
Con hằng lạc lối giữa mênh mông
Vẫn thấy ngày nào nơi đất lạnh
Mẹ ngồi hong tóc nắng vàng hanh
Con nay tóc bạc trắng mây trời
Thấm sâu tình mẫu tử Mẹ ơi
Muốn nói một lời thương Mẹ quá
Nhưng Người đã khuất nẻo xa xôi
Chiều nay con thắp nén tâm hương
Dâng Mẹ nơi xa chốn Phật đường
Cầu hương linh Mẹ hằng thanh tịnh
An nhiên tự tại hết sầu vương
Câu thơ gửi Mẹ mùa vu lan
Nhờ gió mang lên chốn mây ngàn
Tịnh độ niết bàn dâng cho Mẹ
Vơi niềm khắc khoải lúc thu sang…

Phong Châu
Vu Lan 2026

Chuyện Người Cha Nhân Mùa Báo Hiếu


Mùa Thi

Ngày tôi thi tú tài, ba đạp xe hơn chục cây số, chờ tôi ngoài trường thi cả buổi, cốt để hỏi:
– Con làm bài tốt không?
Sợ ba nhọc lòng, tôi nói:
– Ba chờ ngoài này, có khi con lại lo, không làm bài được.
Buổi thi cuối, ra cổng không thấy ba, hỏi chú Bảy còi:
– Ba con có đến không?
Chú đưa tay chỉ cây bàng phía xa mươi mét bảo:
– Ổng ở đằng kia, tao biểu đến ổng không chịu.

Hai Ngàn

Học lớp 12, tôi không có thời gian về nhà xin tiền ba như 2 năm trước. Vì thế, tôi viết thư cho ba rồi ba đích thân lên đưa cho tôi. Từ nhà đến chỗ tôi trọ học chừng 15 km. Nhà nghèo không có xe máy, ba phải đi xe đạp. Chiếc xe gầy giống ba…
Cuối năm, làm hồ sơ thi đại học, tôi lại nhắn ba. Lần này, sau khi đưa cho tôi một trăm ngàn, ba hỏi: “Có dư đồng nào không con?”. Tôi đáp: “Còn dư bốn ngàn ba ạ.” Ba nói tiếp: “Cho ba bớt hai ngàn, để lát về, xe có hư như lần trước thì có tiền mà sửa.” Ba về, tôi đứng đó, nước mắt rưng rưng…
Do một người Bạn Sưu Tầm

Nặng Gánh Đời Ba

Cả đời ba dông ruổi
Tất tả kiếp ngược xuôi
Giọt mồ hôi tuôn rơi
Chắc thêm lớp da Người
Để đàn con thơ dại
Được ấm áo no cơm...
Nước mắt ba từng chảy
Trong ê chề nhẫn nhục
Cho cả nhà hạnh phúc...
Máu ba bao lần đổ
Đổi lấy sự an lành
Trong loạn lạc chiến tranh...
...và chúng con đã lớn.
Những gánh nặng Ba ơi
Công ơn tựa biển trời
Chúng con khó thể quên
Nay mùa vu lan đến
Ngậm ngùi ngồi nhớ ba
Nén nhang với lòng thành
Từ cõi trên vô định
Ba mãi mãi an bình...

Huỳnh Hữu Đức


Mẫu Tử Tình Thâm


Thời gian nhuộm mái tóc má, giờ trắng phơ như mây trời. Tháng năm xóa đi sự tươi trẻ, làn da nay in đậm những dấu ấn nhăn nheo. Đôi mắt má không còn trong như lúc thanh xuân mà đã mờ nhạt màu mây. Mình đau xương nhức, đi đứng liêu xiêu…

Mỗi lần nói chuyện với má, ánh mắt má xa xăm diệu vợi như lạc vào cõi hư vô. Giờ má nói chuyện như một cái máy thâu sẵn, nhớ đâu nói đó, chuyện nọ xọ chuyện kia. Căn bệnh mất trí nhớ của người già đã làm cho má không còn ý thức được nội dung câu chuyện. Má chỉ nói theo ký ức còn lưu giữ trong tâm thức. Dường như tất cả những người già đều sống nhiều với dĩ vãng hơn là hiện tại. Má cũng thế, kể cũng lạ, chuyện trước mắt thì không nhớ mà chuyện từ xa xăm lại không quên. Điều này chứng tỏ bệnh lú lẫn của người già không thể xóa hết những ký ức cũ, ký ức cũ chính là “chủng tử” lưu trong A lại da thức. A Lại Da thức còn được gọi là hàm tàng thức, nghĩa là cái kho cất giữ lưu chứa tất cả những niệm của con người, có thể là niệm của một đời, niệm nhiều đời. Cái kho ấy chứa tất cả những hạt giống thiện, ác, trung tính của mỗi con người.

Khoa học nói: “Năng lượng không tự sinh ra và cũng không mất đi mà nó chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác”. Ví như điện có trong than đá, dầu lửa, nước, gió…Con người chế ra những máy móc để “bắt” được nguồn điện và dùng điện vào sản xuất hay sinh hoạt của đời sống. Dòng điện khi được xài thì nó sẽ chuyển thành nhiệt năng, cơ năng… chứ nó đâu có mất đi. Con người ta cũng thế, khi thân xác này tan hoại nhưng những ký ức từ A lại da thức đâu có mất đi, nó sẽ chuyển biến từ dạng thức sống này sang dạng tức sống khác, hình tướng khác…cũng như dòng điện chuyển từ dạng này sang dạng khác. Dòng điện vốn không có sẵn nhưng vẫn hiện hữu trong gió, nước, than đá. Sự sống sanh ra nhưng thật là không sanh, sự sống mất đi nhưng thật chẳng mất mà chỉ chuyển từ thân này thành thân khác. Cơ chế hoạt động của tâm thức rất vi diệu, khoa học hiện đại cũng không làm sao biết được cho dù có dùng đến những phương tiện máy học hiện đại như điện não đồ hay các loại máy móc tinh vi nhất. Khoa học chỉ có thể nói mất trí nhớ là do những tế bào thần kinh chết đi mà những tế bào mới sanh ra không bù đắp được. Không thể biết trước khi về già ai sẽ minh mẫn đến phút cuối hay ai sẽ bị bệnh mất trí nhớ.

Mới một năm trước, má còn khỏe mạnh và minh mẫn, vậy mà giờ như thế này! Thân xác tiều tụy, tinh thần trống vắng, nhớ nhớ quên quên. Thời gian xây dựng nên rồi thời gian tàn phá đi tất cả. Căn bệnh mất trí nhớ chẳng phụ thuộc vào giới tính, chủng tộc hay đẳng cấp xã hội. Tổng thống Ronald Reagan vốn là một tài tử nổi tiếng, một tổng thống hùng mạnh. Ronald Reagan là người cực phẩm nhân gian ấy vậy mà khi về già cũng bị mất trí nhớ suốt mười năm cuối đời.

Má giờ nhớ nhớ quên quên, lãng đãng như mây mù, như sương khói. Má không còn cảm giác buồn, vui, sướng, khổ… vậy là hết khổ chăng? Không, chính sự không còn biết khổ ấy cũng là một nỗi khổ của kiếp người, cái khổ của bệnh già, bệnh mất trí nhớ. Má đang chịu sự khảo nghiệm của cái già, cái bệnh…thân thể bị bào mòn bởi sự chuyển dịch vô thường, tâm trí mờ nhạt dần vì quy luật sanh – diệt. Má đang ở vào giai đoạn cuối của quy trình sinh – lão – bệnh – tử. Con thương má, thương nhiều lắm nhưng cũng chẳng thể làm được gì hơn, thật sự bất lực trước sự đau khổ của má. Má với con không chỉ khổ vì sanh – lão – bệnh – tử mà còn khổ vì ái biệt ly. Hơn mấy mươi năm sống xa cách nhau, thỉnh thoảng mới có dịp được về ôm má một cái rồi lại ra đi. Nửa vòng trái đất là một khoảng cách ngăn trở vô cùng lớn, nhất là đối với những người kém phước như má và con. Con thương má, muốn báo hiếu nhưng hoàn cảnh như thế này thì không làm gì được. Con ước mơ nhỏ nhoi mỗi chiều dắt má đi dạo một quãng đường cũng không làm được. Con vẫn luôn nghĩ về má, nhớ má, thương má vô cùng!

Ngày xưa con nằm trong bụng má chín tháng mười ngày. Ngày xưa má cho bú mớm, nuôi dưỡng, chăm lo ăn học đến hai mươi năm ròng…vậy mà giờ má già, má bệnh thì con ở tận chân trời xa diệu vợi không thể gần gũi chăm nom má. Thế mới biết “Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng/con nuôi cha mẹ tính tháng kể ngày”.

Con đọc sách, viết sách nên ít nhiều cũng biết về chữ hiếu, ấy vậy mà giờ con là kẻ bất hiếu! Thế mới biết từ lý thuyết đến thực hành có một khoảng cách rất xa. Con vốn bất tài vô tướng, sinh ra chỉ là một bị thịt, tháng ngày vất vưởng chẳng làm nên trò trống gì, không báo hiếu được cho ba má. Ngày ngày lễ Phật, Vu Lan lên chùa lễ Phật, ấy vậy mà Phật tại nhà là cha mẹ thì con ở quá xa, thật trớ trêu thay! Nhân duyên quả báo thế nào không biết, con cũng như mọi người đều chỉ là những con rối trong cuộc đời. Nghiệp lực giật dây, lôi kéo và điều khiển những con rối múa may quay cuồng với những buồn – vui, vinh – nhục, được – mất…Chỉ có những vị cắt ái từ thân, ly gia đoạn dục thì mới có cơ may một kiếp nào đó thoát ra khỏi sự giật dây hay sự điều khiển của nghiệp lực.

Má với con không chỉ là tình mẫu tử trong kiếp này, ắt hẳn là đã có nhân duyên sâu dày nhiều đời nhiều kiếp. Cái thân vật chất này sẽ thay đổi, sẽ hoại, sẽ mất… nhưng tình mẫu tử không mất đi dù cho cái thân này đã chuyển từ dạng này sang dạng khác như dòng điện trong than đá, dầu, nước, gió…

Con luôn nghĩ về má mọi lúc mọi nơi. Hình bóng má in đậm ở trong tim con, in sâu trong A lại da thức. Con không mang thân xác má theo cuộc sống của con nhưng đi đâu và lúc nào cũng mang theo hình bóng má trong tâm. Mai này hết kiếp chắc chắn vẫn mang theo những ký ức về má.

Má giờ như ngọn đèn sắp tàn bấc cạn dầu. Con thương má, nhìn thấy thế nhưng không thể làm được gì hơn. Không có một phép màu nào, không có một thế lực thần thánh siêu nhiên nào có thể thay đổi được. Nhân đã như thế thì quả phải như thế, đời sống này cái tính như thế, cái tướng như thế nên không thể nào khác được. Thân thể con người, các mối quan hệ… đều là duyên hợp, khi hết duyên thì nó sẽ tan, đã có hợp thì phải có lúc tan! Thân này không thể cầu cho nó như thế này hoặc đừng như thế kia. Thân này không phải là ta, không phải của ta, không phải tự ngã ta. Tất cả chỉ là duyên hợp và tan, duyên vốn không có tự tánh, tất cả là không vậy sao ta lại đau khổ hay hạnh phúc? Phải chăng đau khổ và hạnh phúc cũng là giả tướng? Chỉ là sự chuyển biến từ những ký ức từ trong tâm thức? sự giao thoa, khởi dụng giữa những ký ức cũ và những tướng trạng ngay hiện tại?

Má ơi! Mỗi ngày qua đi thì sự sống giảm dần như nước trong ao cạn kiệt. Con với má cũng như tất cả mọi người đang tiến đến cái điểm cuối của kiếp người. Má giờ không biết buồn – vui, tuy đó cũng là nỗi khổ nhưng má tạm không biết đó là khổ. Vậy thì cũng có chút an ủi là má không còn bận tâm về tiền bạc, con cái, bệnh tật, ân oán ghét thương, môi trường chung quanh…

Thế gian này ngôn ngữ của con người không thể nào nói cho hết được cái ơn, cái tình của người mẹ. Vậy thì chữ nghĩa của con càng không thể viết cho tận nghĩa tình, vô phương để tỏ bày hiếu đễ. Thế giới này có bao nhiêu chủng tộc thì có bấy nhiêu tiếng nói, người dù trí hay ngu, học cao hay thấp , nhiều khác biệt nhưng đều có chung một điểm là tiếng nói đầu tiên vẫn là tiếng kêu má, chữ đầu tiên biết là chữ viết má. Tiếng kêu trìu mến nhất, thấm đẫm ân tình nhất, sâu lắng nhất chính là tiếng gọi: Má ơi!

Con người có bao nhiêu tôn giáo khác nhau để phụng hiến, có bao nhiêu thần tượng khác nhau để tôn thờ nhưng với má thì tất cả mọi người đều kính yêu và thôn thờ. Người ta có thể tạo ra những pho tượng kỳ vĩ nhất để tôn thờ nhưng hình bóng má lại khắc sâu trong tâm khảm mỗi con người. Tượng có thể vỡ hoặc hư hoại. Tranh ảnh có thể rách nát, phai mờ. Sách có thể đốt. Chữ có thể bôi xóa…nhưng hình bóng má trong tâm thì không thể nào làm cho hư hoại được! Thế gian này không có gì chắc chắn hay vĩnh viễn, thế nhưng tình mẫu tử thì vĩnh viễn muôn đời.

Lãng Thanh
Ất Lăng thành, 0726


NGÀY NÀO CHO MÁ

Tháng bảy lại về, không khí mùa Vu Lan man mác trong tâm hồn. Những người con Phật nao nao về chùa mừng hội hiếu. Người không tôn giáo cũng bâng khuâng vì mùa hiếu. Vu Lan là truyền thống lâu đời của người Việt. Hiếu và lễ hội Vu Lan đã ăn sâu vào tâm thức người Việt. Tâm hiếu là tâm người không cứ là Phật tử mới hiếu. Tâm hiếu là tâm nhân loại, không người nào là không thương yêu cha mẹ, tuy nhiên cung cách và mức độ có khác nhau. Ngay cả những người tôn thờ chủ nghĩa vô thần cũng biết hiếu (trừ những giai đoạn cách mạng văn hóa hay cải cách ruộng đất, lúc bấy giờ họ đem cả ông bà, cha mẹ, thầy tổ…ra đấu tố). Nói vô thần là ngày xưa chứ bây giờ thì chính những người vô thần ấy lại là những kẻ mê tín, cuồng tín nhất. Họ tung cả túi tiền khổng lồ để hầu đồng, đi lễ khắp các dinh, phủ, miếu, đền…hòng mua chuộc sự cứu rỗi của thánh thần.

Không biết tự bao giờ, Vu Lan đã trở thành hiếu lễ ở Việt Nam, chỉ biết là do điển tích Phật giáo cộng với văn hóa Việt, tâm thức Việt mà hình thành nên. Ở đây tạm gác qua những sự khác biệt của các dòng truyền thừa Phật giáo, không bàn quan điểm Bắc truyền hay Nam truyền. Chúng ta chỉ nhìn đến cái yếu tố tích cực, cái đẹp, điểm nhân văn của hiếu hội Vu Lan.

Hiếu nào chỉ một ngày hay một mùa lễ, hiếu là cả tháng năm dài, là cả đời và nhiều đời. Phép viết chữ Hán rất hay và ý nghĩa sâu sắc. Chữ hiếu gồm chữ lão ở trên và chữ tử ở dưới, ý muốn nói đời trước còn có đời trước nữa, đời sau còn có đời sau nữa, tổ tiên ông bà, cha mẹ và con cháu nối dòng không dứt. Làm người ai cũng có ông bà cha mẹ và con cháu. Làm người phải biết hiếu kính bậc trên, yêu thương người dưới mới có thể thành người. Người mà không có hiếu, không biết hiếu, chỉ có xác thân vật chất thì sự sống ấy có khác gì cầm thú chim muông. Ngay cả loài vật cũng có nhiều con vật còn có tánh linh nên hành xử tỏ ra hiếu đễ như người. Những điển tích chim anh vũ đi tìm mồi về nuôi cha mẹ bị mù. Dê con trước khi bú sữa thì quỳ trước mẹ (quỵ nhũ chi ân). Ngựa con vô tình giao phối phải ngựa mẹ thì bỏ ăn tự sát…Đọc kinh sách Phật hay Nho giáo cũng đều có rất nhiều những chuyện hiếu thảo của người và vật.

Người Việt là những cư dân nông nghiệp, ngàn đời quây quần trong dòng tộc, xóm làng, ruộng đồng. Sự gắn bó giữa con người và giữa các thế hệ rất chặt chẽ, sâu đậm. Chữ hiếu của người Việt cũng rất sâu, khi nói về cha mẹ thì nghĩ tưởng công ơn bằng những hình tượng to lớn kỹ vĩ như núi non, biển cả và cũng đề ra cách hành xử rất rõ ràng

Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Hoặc là:

Con người có tổ có tông
Như cây có cội như sông có nguồn

Rất hiện thực, rất chí tình, mình không phải từ trời rơi xuống hay từ đất nẻ trồi lên. Mình từ trong bụng mẹ mà ra. Không có ông bà cha mẹ thì làm sao có mình? Công ơn cha mẹ chắc không cần phải nói nữa, ai ai cũng biết rồi, chỉ có điều là đền đáp như thế nào thôi! có thể nói rằng không thể nào đền đáp đủ công ơn cha mẹ. Núi Thái kia lớn lắm, nước trong nguồn mát trong và không bao giờ cạn, lòng mẹ “như biển Thái Bình”…thì con làm sao báo đáp cho đủ đầy được!

Người Việt chịu ảnh hưởng nặng nề văn minh Trung Hoa, bởi vậy nhiều trường hợp hiếu theo kiểu Nho giáo như: Cung bái cha mẹ trong lễ cưới hỏi, thượng thọ, tang chế…nhưng đó là hình tướng, hình tướng nghi thức không quan trọng, nhiều khi chỉ làm màu vì sợ tiếng đời. Quan trọng của hiếu để là phụng dưỡng cha mẹ, làm cho cha mẹ an vui, làm sao cho cha mẹ hướng về việc phước thiện…Bởi vì con người ta không chỉ có một đời này. Tích đức làm thiện là cách tạo tư lương cho thời gian sắp tới, cho những kiếp luân hồi mai sau. Con người ta khi sống thì chung đụng và có thể san sẻ cho nhau, nâng đỡ nhau, còn một khi cách ấm thì “độc sanh độc tử độc khứ độc lai”. Lúc bấy giờ chẳng ai giúp ai được, chỉ có những thiện nghiệp của bản thân mới có thể giúp cho mình. Ông bà, cha mẹ, con cái thương nhau ra rít nhưng khi hết số chẳng ai cứu được ai, phước ai nấy hưởng, nghiệp ai nấy gánh, người thân chỉ có thể làm việc phước thiện và hồi hướng công đức mà thôi! Việc hồi hướng là phụ và rất hạn chế dù con cháu hết lòng hiếu thảo. Vì vậy thương cha mẹ thì nhất định phải giúp cha mẹ hướng về việc phước thiện, tích đức!

Những năm gần đây, văn hóa phương Tây lan tỏa mạnh nhờ vào các mạng xã hội. Giới trẻ nhanh chóng tiếp thu những nét mới như: Tổ chức lễ sinh nhật, lễ tình nhân, lễ Halloween, lễ mẹ, lễ cha…Tuy nhiên có nhiều điều cần phải nói là sự tiếp thu và bắt chước một cách thiếu hiểu biết, thiếu cái nền văn hóa cơ bản. Có những bà mẹ quê mùa lam lũ, cả đời vất vả mưu sinh, giờ con cháu bắt ôm bó hoa hồng tướng mừng sinh nhật, mừng lễ mẹ…để chụp hình đăng mạng xã hội. Rồi còn nói toàn những lời khách sáo, bóng bẩy chẳng ăn nhập với bà mẹ của mình. Thật tội cho những bà mẹ bị đem ra “diễn”, cái cung cách “phù diễn tắc trách” những tưởng vậy là hiếu, là theo văn minh hiện đại nhưng thật sự là đem mẹ ra làm trò cười. Rất nhiều những trường hợp như thế, đầy trên mạng xã hội, nó vừa kệch cỡm, rởm đời, rất thô…Nó chẳng cho thấy hiếu đễ chi cả, chỉ là sự bắt chước, sự khoe khoang thiếu hiểu biết.

Người phương Tây đặt nặng vấn đề tự do cá nhân. Người phương Tây sống trong nền văn hóa phát triển cao, văn minh công nghiệp tân tiến nên phong cách rất khác với văn minh nông nghiệp lúa nước của mình. Mình tiếp thu cần có chọn lọc, có cải biên cho phù hợp chứ cứ nhắm mắt bắt chước rập khuôn thì rất kệch cỡm. Những bà mẹ Việt phần lớn đều từ nông thôn, cả đời lam lũ nâu sồng, vất vả mưu sinh…giờ tự dưng cầm dao cắt bánh sinh nhật, thổi nến, ôm bó hoa hồng lộng lẫy, mở hộp quà… rất thô kệch, nặng hình thức, trông phản cảm và lố bịch lắm.

Người Âu – Mỹ họ có những ngày lễ rất thiết thực trong đời sống, rất nhân văn, sâu sắc ý nghĩa. Chẳng hạn như: Ngày lễ mẹ, ngày lễ cha, ngày lễ tình nhân…Còn xứ mình đầy những ngày lễ chiến thắng, tấn công hoặc sự kiện nào đó của mấy ông kẹ bà chằn…May thay Phật giáo đã đem lại cho chúng ta một ngày lễ đầy ý nghĩa, rất nhân văn ấy chính là lễ Vu Lan vậy. Có thể xem lễ Vu Lan như ngày hội hiếu, ngày lễ mẹ, lễ cha, lễ ông bà…vì ngày lễ Vu Lan đâu chỉ riêng cho mẹ mà còn mở rộng đến cửu huyền thất tổ. Đó cũng chính là đạo lý uống nước nhớ nguồn của người Việt Nam.

Mỗi người trên thế gian này tuy khác nhau về ngôn ngữ, tiếng nói nhưng đều có chung tiếng gọi đầu đời: Má, mama, mamma, maman, mom, mother…Người việt còn phong phú hơn: Má, mẹ, mẫu, mợ, me, bầm, bủ, vú…Tiếng nói và ngôn từ khác nhau nhưng đều chỉ chung cho người mang nặng đẻ đau, người vất vả nuôi ta ăn học từ sơ sinh đến lúc trưởng thành. Người quan hoài theo dõi từng bước đường đời mà ta đi qua…

Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi
Khó đi mẹ dắt con đi
Con thi trường học mẹ thi trường đời

Đời này không có mẹ thì không có ta. Những bước đường đời của ta cũng nhờ mẹ cha lót đường, mẹ dắt đi từ khi còn tấm bé cho đến ngày hôm nay. Những thành công hay cuộc sống bình thường của ta cũng nhờ mồ hôi và nước mắt của mẹ. Với người mẹ thì những đứa con có thành công hay thất bại, trí hay ngu, thanh hay trọc…cũng đều là những đứa con yêu mà bà mang nặng đẻ đau.

Những bà mẹ Việt suốt chiều dài lịch sử chịu bao nhiêu khổ nạn thương đau. Chiến tranh giặc dã liên miên, hết tiễn cha, chồng rồi lại tiễn con, cháu ra trận hết lượt này đến lượt khác. Những bà mẹ bồng bế con cái chạy giặc không ngớt. Hai trăm năm Trịnh – Nguyễn Phân tranh. Hai mươi mốt năm nội chiến con ta giết con ta. Cải cách ruộng đất con ta giết cả ta. Ngay cả bây giờ cũng thế, những đứa con tranh danh đoạt lợi truy sát tru diệt lẫn nhau. Những đứa con tàn nhẫn triệt đường sống, bách hại những đứa con khác dám lên tiếng vì tự do – dân chủ - nhân quyền. Mẹ Việt Nam ơi! Kiếp nạn này bao giờ mới hết? những đứa con của mẹ Việt Nam không biết thương nhau thì làm sao biết thương người!

Ngày lễ Vu Lan, cửu huyền thất tổ, ông bà quá vãng có siêu sanh hay không cũng nhờ một phần ở sự thương nhau của những đứa con. Những đứa con còn truy sát tru diệt thì có cầu chi cũng vô ích. Những bà mẹ Việt còn khổ đau, còn vất vả mưu sinh, còn đứt ruột vì những đứa con không biết thương nhau thì có ôm bó hoa hồng kiêu sa hay cắt cái bánh sinh nhật sang cả cũng chẳng phải là hiếu đễ. Màu mè để huyễn hoặc mình, dối người, lòe đời hay khoe khoang trên mạng xã hội không thể đánh đồng với hiếu đễ được!

Tiểu Lục Thần Phong
Ất Lăng thành, 0826
NGUYỆN CẦU PHẬT LỰC TỪ BI




Mọi thứ từ từ rời bỏ má: Những đứa con lớn lên rời đi xa, những đứa cháu lên thành học và làm việc, những tế bào thân xác hao hụt không sao bù lại được, những ký ức trong trí nhớ cũng dần vơi…
Nhờ Facetime để nói chuyện với má mỗi ngày, nhìn má tiều tụy mà lòng xót xa không sao ngăn được nước mắt chảy vào trong. Đôi mắt má thất thần vô cảm, không còn nụ cười hay sự vui mỗi khi má con gặp nhau. Ánh mắt má lạc vào cõi xa xăm nào đấy chứ không nhìn vào thực tại. Má nói giống như một cái máy, nói mà dường như không biết nói gì, nói lộn xộn lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia. Chưa đầy một năm, kể từ ngày về gặp má ấy vậy mà giờ má khác đến độ không thể nhận ra: Thân xác gầy hao xơ xác, trí nhớ sa sút một cách không tin nổi, đành rằng cái lý vô thường là vậy, nhưng sao ở má mọi sự suy sụp nhanh như thế? Ngoài lẽ tự nhiên ra, còn có phần do tác dụng phụ của thuốc điều trị ung thư chăng? Chúng đã tàn phá sức khỏe và tâm trí má.
Má ơi! Thương má mà không làm sao được, con sống xa vạn dặm, muốn cầm tay má, ôm má, chăm sóc má mà không thể.
Thời gian dựng nên rồi thời gian phá hủy đi, giở cái lý thuyết thành – trụ - hoại – không hay sanh – trụ - dị - diệt ra để mà tự an ủi. Má đang trên đà hoại diệt, tuy nhiên cái quá trình này xảy ra quá nhanh đối với má. Nhiều cụ già khác còn lớn tuổi hơn nhưng trông phương phi khỏe mạnh và minh mẫn, có lẽ vì nhờ phước báo lớn hơn. Con người sinh ra là quả đã chín nghiệp thành, việc tác ý – nói năng – hành động trong hiện tại sẽ cho cái quả mai sau, cái quả hiện tại do cái nhân quá khứ thì phải chịu thôi chứ không có thể thay đổi được nữa. Đừng nói rằng má hay con mà bất cứ ai cũng thế thôi, ngay cả đức Phật và các vị A La Hán cũng không khác được.
Ung thư hay mất trí nhớ là nghiệp, những lý do như: Căng thẳng thần kinh, ô nhiễm môi trường, thức ăn nhiễm hóa chất độc hại, đột biến gene…chỉ là duyên. Bằng chứng là cùng một môi trường sống như thế nhưng chỉ có một số ít người bị. Có những người cực giàu sang, thượng lưu sống trong môi trường tốt nhất thế gian vẫn bị ung thư hay mất trí nhớ. Cựu tổng thống hùng mạnh nhất của Mỹ là ông Ronald Reagan vẫn bị mất trí nhớ trong thời gian dài suốt mười năm cuối đời…Má dính vào căn bệnh ung thư và giờ trí nhớ dần dần mất đi. Má giờ chẳng còn nhận thức ung thư là gì, thậm chí cảm giác buồn vui cũng nhạt nhòa. Trí nhớ của má suy giảm hàng ngày, nghiệp lực chăng? Cuộc đời này quả là đau khổ. Người mất trí nhớ không còn biết sướng khổ vậy là hết đau khổ? Không, chính cái sự không biết đau khổ ấy cũng là nỗi khổ đau.
Ông Phật nói những cái khổ: sanh – lão – bệnh – tử - thương phải chia lìa – ghét phải chung đụng – thân và tâm giày vò trong sự mong cầu và chịu đựng, nói chung là thế, nếu phân tích chia chẻ ra thì có đến muôn ngàn nỗi đau khổ, bao nhiêu là khổ sở. Sự mưu cầu, sự thèm khát chính là cái gốc đau khổ, bởi vậy Phật mới dạy buông bỏ, ghét buông xuống đã đành mà thương cũng cần buông nốt, tuy nhiên mức độ thực hành được bao nhiêu là tùy vào năng lực và quyết tâm của mỗi cá nhân, nhìn chung là đại đa số không buông nổi.
Má già yếu, bệnh tật lòng con tràn ngập khổ đau, dù lý thuyết là thế nhưng làm con, làm người thì làm sao không khổ đau? Buông là lý, còn sự thế nào vẫn cứ hành. Con nguyện gánh bệnh thay má nhưng không thể thay được. Biết má già, má bệnh con đau khổ vì thấy má đang khổ đau, mà không làm gì hơn được, chỉ chấp nhận, cầu nguyện và làm việc phước thiện hồi hướng cho má. Đành rằng nghiệp ai nấy mang nhưng trong công nghiệp vẫn ảnh hưởng qua lại nên mới hồi hướng được.
Ngày xưa má mang con trong bụng chín tháng mười ngày, nghĩa là mang cả cục nợ nặng nề chừng ấy thời gian. Khi vượt cạn lại một lần đau như xé thân, rồi những năm tháng vất vả mưu sinh để nuôi con cho đến trưởng thành. Đâu đã hết khổ, dựng vợ gả chồng, rồi ngay cả những thị phi của các cuộc hôn nhân của con đem lại cho má thêm phiền não và khổ đau. Con cái trưởng thành những tưởng bớt khổ đau nhưng chính con cái lại bồi thêm khổ cho má. Công lao sức lực một đời của má con chẳng làm được gì để đền đáp, chưa một ngày báo hiếu.
Má ơi! Con thương má nhưng cũng chưa một lần nói thương má, tệ như thế này thì ngôn từ nào bao biện được?
Sức khỏe và trí nhớ của má đang suy sụp từng ngày. Má giờ đi đứng liêu xiêu, ngơ ngác bần thần tâm trí. Bây giờ tiền bạc, của cải cũng chẳng còn ý nghĩa gì với má, nếu ngày trước mong cầu, cất giữ thì giờ má dửng dưng xem như chẳng có giá trị gì. Trí nhớ của má đã nhạt nhòa, tâm trí biểu hiện ra thế, còn sâu trong tạng thức thì không làm sao biết được.
Đời sống một con người vô cùng ngắn ngủi, quanh quẩn vài mươi năm là tàn, bởi vậy đức Phật mới nói là mạng trược. Mấy mươi năm qua cái vèo như một giấc mộng nhưng thời gian mộng đẹp thì ngắn mà thời gian ác mộng thì dài. Trong mấy mươi năm ấy, nếu kẻ hạnh phúc muốn dài thêm thì chẳng được mà người bất hạnh muốn rút ngắn cũng không xong.
Má của con già yếu suy hao, trí nhớ suy giảm, cái may vẫn còn là má còn nhớ mặc áo tràng lên điện Phật niệm Phật mỗi buổi tối. Câu Phật hiệu và Phật vẫn còn trong tâm trí má. Điều này là sự may mắn đáng mừng nhất, một mai má bỏ xác thân thì thần thức có thể tái sanh vào một cảnh giới tốt đẹp và an lành hơn.
Má ơi! Con thương má, sống xa ngoài vạn dặm trùng dương nhưng trong tâm con lúc nào cũng nhớ má, lúc nào cũng có má. Con bất tài vô dụng không làm được gì cho má, chẳng chăm sóc hay đỡ đần gì cho má… Đất trời chứng giam, quỷ thần biết!
Cầu nguyện ba đời mười phương Phật gia hộ má sống những ngày tháng tuổi già bóng xế an lạc.
Cầu nguyện ba đời mười phương Phật gia hộ má những ngày tháng sắp tới.
Cầu nguyện ba đời mười phương Phật gia hộ má một mai má ra đi.

Lãng Thanh
Ất Lăng thành, 0626



Thứ Tư, 26 tháng 8, 2026

Thảo Kính Cha Mẹ "Song Ngữ" - Nhac: Alpha Linh - AI Phục Hồi

 Nhac: Alpha Linh - AI Phục Hồi 

Chín Chữ Cù Lao


 
Chín Chữ Cù Lao mãi nhớ hoài
Tình thương Phụ Mẫu khó mờ phai.
Sinh thành nghĩa trọng, thời dìu dắt
Dưỡng dục ân sâu, thuở mớm nhai.
Cha dạy trí khôn người hữu dụng
Mẹ truyền đức hạnh kẻ thành tài.
Song thân khuất núi đà siêu thoát
Hồng Trắng, con dâng trước vị bài.



Duy Anh
Vu Lan 27/8/2026


Trăng Thu Nhớ Mẹ

 

Tuần Phật Đản mẹ thân yêu ngã té
Bốn giờ liền lạnh lẽo dưới nền hoa
Lời thống thiết mẹ kêu gào cứu mạng
Đến tàn hơi thiên hạ chẳng ai qua !

Cửa then gài người ta không vào được
Hay bởi lòng người chẳng có từ tâm
Sợ tai họa làm ngơ không cứu giúp
Mang hình người mà ...tâm địa dã nhân...

Sáu hôm sau mẹ ly biệt cõi trần
Vào giờ Ngọ đúng ngày rằm Phật Đản
Mẹ ra đi chắc lòng không thanh thản
Bao thâm tình còn vương ở thế gian

Suốt một đời khổ cực mẹ đa mang
Cao niên kỷ ..mẹ võ vàng thân xác
Chẳng gấm lụa, chẳng xa hoa đài các
Ngày lẫn đêm một dạ nhất tâm tu

Kiếp con người ôi một kiếp phù du
Thân tằm nhả sợi...kén tơ cho đời !
Nuôi con khôn lớn nên người
Chữ hiếu con trả là vui tất lòng

Nhưng khi con trẻ thành thân
Mẹ còn đâu nữa.!. hiếu phần con lo !!!
Đêm nay, rằm Vu Lan con nhớ Mẹ
Bốn chục năm dài vắng bóng từ thân

Mùa Vu Lan, mùa báo hiếu hiền nhân

Mẹ yêu đã vĩnh biệt cõi trần ...còn đâu ???

nguyễn phan ngọc an
 Vu Lan 2025

Mẹ Ơi, Vĩnh Biệt



Mẹ ơi, con về không kịp
Giấc dài mẹ đã hôn mê
Đôi mắt thân yêu đã khép
Mẹ đâu hay biết con về!

Con đi đầu non, cuối bể
Mấy mươi năm, mẹ vẫn chờ
Giờ sao lạnh lùng quá thể
Gọi hoài, mẹ vẫn trơ trơ!

Mẹ ơi, lòng đau như cắt
Chuyến phà đêm chở xác về
Có một tinh cầu vừa tắt
Lạnh lùng sông chảy dòng khuya…

Sáng nay, người ta khâm liệm
Áo quan đóng nắp lại rồi
Từ đây muôn đời, vĩnh viễn
Đâu còn thấy nữa, Mẹ ơi!

Thân xác vùi trong lòng đất
Mẹ nằm giữa một đồi hoa
Mẹ ơi, mộ vừa mới lấp
Từ đây đất lạnh là nhà!

Từ đây tuyệt vô hy vọng
Quê hương mất dấu thiên đường
Mẹ mang theo niềm vui sống
Lấp cùng dưới đáy mồ chôn!

Mẹ ơi, xác thân yêu dấu
Vùi trong đất lạnh đời đời
Hồn con không nơi nương náu
Biết tìm đâu nữa, Mẹ ơi!

Lặng nhìn bàn thờ nghi ngút
Di ảnh mờ trong khói hương
Thấm nỗi đau buồn tang tóc
Còn gì mà tiếc, mà thương!

Mẹ ơi, tử sinh chia biệt
Một lần cho đến thiên thu
Nghĩa là muôn đời, muôn kiếp
Hết mong gặp Mẹ nhân từ!

Lãm Thúy
9/10/11


Thương Nhớ Song Thân

 

Thương Nhớ Song Thân

Mùa Vu Lan sắp đến
Mùa báo hiếu lại về
Thương Cha và nhớ Mẹ,
Ngày buồn dài lê thê.

Vu Lan con đến Chùa
Mang theo cả tình thương
Vào bên trong Chánh điện
Thắp những nén Tâm Hương

Nén Hương dâng Trời Phật
Một nén dâng Song Thân
Không ngăn được xúc động
Nước mắt chảy trong Tâm

Thêm một nén Tâm Hương
Dâng giọt lệ tình thương
Công Cha và Nghĩa Mẹ
Mãi.. mãi đầy yêu thương.


Hoàng Thục Uyên
Trích trong bài thơ:
Vu Lan Lệ Chan Hòa
***
Thơ Cảm Tác:
Sinh Thành Dưỡng Dục Nghìn Đời Nhớ Thương

Sinh thành dưỡng dục nghìn đời
Công ơn cha mẹ biển trời trăng sao
Không còn cha mẹ khổ đau
Ngày đêm cầu nguyện lệ trào nhớ thương...


MD.08/04/26
LuânTâm
Thân cảm tặng "Vu Lan Nhớ Cha Mẹ"
của TVS đa tài hoa thật quý Hoàng Thục Uyên


Tưởng Nhớ Cha(Yên Sơn) - In Memory Of My Father(Thanh Thanh)

 

(Thành kính dâng hương hồn Cha yêu quý)

Con lên phi cơ bay về vùng biển
Bỗng nhớ thương cha nước mắt tuôn tràn
Tháng Tư nào khi quốc biến gia tan
Con bỏ xứ lái tàu bay về biển

Con xa mẹ lìa cha vì cuộc chiến
Bao nhiêu năm sương gió dạn dày
Ðể đau thương tràn khắp một ngày
Con đâu biết đó là lần vĩnh biệt

Con nào biết! Cha ơi con nào biết
Cha soát từng giọt máu trở về tim
Bao nhiêu năm qua mòn mỏi trông tìm
Vẫn thấp thỏm “con đã đền nợ nước”

Cha ơi cha! Một ngày không quên được
Nhận hung tin cha lìa bỏ cõi đời
Con chết lịm trong lòng mà lệ không rơi
Con muốn khóc sao bật cười hoang dại

Mười tám năm sau không lần trở lại
Nợ quê hương chưa trả nổi đến bây giờ
Ðất khách quê người lạc lõng bơ vơ
Ngày tiếp nối ngày chỉ vì cơm áo

Cha ơi cha! Lòng con giông bão
Những lời cha khuyên bện lại thành vòng
Quấn chặt tim con, tỳ vết trong lòng
Ðể nhiều lúc bặm môi rướm máu

“Ðất nước điêu tàn làm trai phấn đấu
Cố trở nên người hữu dụng cho đời
Ngẩng cao đầu làm trai Việt con ơi
Gương đảm lược của tiền nhân còn đó”

Cha ơi cha con vẫn hằng trăn trở
Sống lưu vong nuôi hy vọng quay về
Nhưng năm qua tháng lại ê chề
Tóc đã bạc mà trùng dương vạn lý

Cây bật gốc một phần tư thế kỷ
Thân cây héo khô trồng ở xứ người
Có quê hương mà chẳng có một nơi
Không có lối cho con trở về trú ẩn

Con lên phi cơ bay về biển
Về Atlanta mà ngỡ xuống Vũng Tàu
Con bàng hoàng nén chặt cơn đau
Sợ bật khóc máu sẽ trào theo lệ thảm

Yên Sơn
***

In Memory Of My Father

(Reverently dedicated to my dear Dad's spirit)

Whilst boarding the aircraft to fly towards the ocean
I suddenly pitied my father, tears flowing out of emotion.
When that April national calamity forced me to flee
I left our country piloting my plane to the sea.

Parted from parents because of the bloodshed,
So many years in high wind and heavy rain overhead
And finally came flooded with distress one day
I did not know it was the last goodbye for ever to say!

Oh, dear Dad, how could I know, on your part
You wished each drop of blood to return to your heart.
So many years you had desperately inquired after me
Anxiously fearing a "killed in action" notice to see.

Oh, dear Dad! I shall never forget that bad day
I learned the sad news that you had passed away:
I became numb with grief, tears unable to stream;
I wanted to cry but burst into mad laugh and scream.

For eighteen years afterwards, I have not once returned
And have neither fulfilled citizen obligations so yearned.
In this foreign land how I feel an unsuitable location:
Days after days only to think of means of sustentation.

Oh, dear Dad! innermostly a tempest arises; it boils;
Your precious admonition has since spinned into coils
To tie tightly around my heart, imprint in my mind,
So that times I compress my lips blood to ooze to bind.

"The country is in ruins! To strive to be a worthy man
You must try to become useful through your life's span!
Hold your head up, my son! to be a Viet youth, an heir
To our ancestors' heroic examples that are still there!"

Oh, dear Dad! I have always pondered on my concern
About living in exile but nurturing the hope of return.
However days passed and months elapsed, shamefast,
My hair has turned grey but the ocean is still vast.

Like a tree for a quarter of a century uprooted already
Now replanted in a foreign region, how hard to steady!
Having a homeland but not having a space
For me to get back to find a sheltering place!

I boarded the plane to head towards the waves
To go to Altlanta but felt as to Vung Tau that craves...
I was staggered and tried to restrain my pain
For fear of bursting into tears mixed with blood stain.

Thanh Thanh
                     

Bà Mẹ Nuôi Người Úc

(Tác giả chụp hình này năm 1964 khi đi thực tập tại Wyangala Dam)

Khi tôi ngồi viết những dòng chữ này, bầu trời Toronto đang xám xịt, hơi lành lạnh mặc dù đang tháng 8 mùa hè.
Lòng tôi trùng xuống, bèn lấy bút chì ra mà ngồi viết để ghi lại những gì mà người viết đang cảm nhận được.

Hồi đầu năm 1962, nhóm 15 anh chị em Việt Nam chúng tôi trong nhóm Học bổng COLOMBO PLAN Australia tới Sydney, Úc Đại Lợi để chuẩn bị đi học Anh ngữ.
Người viết lúc đó 19 tuổi đầu, rất năng nổ khi học tiếng Anh và đi bộ trong vùng “Circular Quay” tại Sydney để biết thêm về vùng này.

Một hôm, vừa mới bước ra khỏi “Commonwealth Office of Education” tại đường Hunter Street, Sydney, một bà già người Úc tóc bạc phơ đang vẫy tay gọi tôi lại để tôi chỉ đường cho bà đi đến cái thư viện gần đó. May mắn thay cho tôi cũng vừa mới biết đường đường đi đến cái thư viện đó cho nên tôi mới có thể chỉ cho bà đường đi một cách dễ dàng.

Không biết bây giờ xã Hội bên Úc ra sao; khi tôi đang ở bên Úc thì mọi người thường có phong trào “Morning tea break” và “Afernoon tea break”, giống như dân Bắc Mỹ mình có cái vụ “Morning Coffee break” và “Ầternoon Coffee breaka” vâyj.

Người viết đã đến “Have a cup of tea” một hôm thứ bảy tại nhà bà. Căn nhà của bà rất khang trang. Ở trong phòng khách có một cái piano rất to. Bà cho tôi biết: bà đã từng là một “pianist” trong một “orchestra” đi biểu diễn tại nhiều thành phố ở bên Úc cũng như bên Anh và châu Âu.
Hiện tại, bà đang sống một mình sau khi ông chồng đã mất và các con bà đã khôn lớn “xổng chuồng chim bay”…

Lúc đó tôi mới biết danh tính của bà: Madame Hanakein, gốc Hà Lan. Bà hỏi thăm tôi về gia đình tôi ở Việt Nam. Tôi có cảm giác như mình đang gặp một cụ bà ngoại quốc mà nói chuyện với mình như hai mẹ con với nhau vậy: mẹ là người Úc da trắng, nói tiếng Anh với đứa con trai da vàng gốc Việt Nam.
Trước khi tôi về, bà nắm chặt tay tôi và nhắc tôi nên đến thăm bà thường xuyên.

Là một đứa con trai mất mẹ khi tôi mới 13 tuổi, tôi cảm nhận được sự ân cần, dặn dò của một bà mẹ tuy khác màu da nhưng phần tình cảm của hai mẹ con với nhau, tôi cảm nhận ra ngay điều đó.
Lúc đó, ở Việt Nam, cha tôi đã 65 tuổi, suốt ngày chờ thư của anh tôi (cố giáo sư Đàm Trung Pháp) viết thư từ Mỹ và tôi mới chân ướt, chân ráo tới đất ÚC.

Định mệnh đã an bầy: sinh viên ngoại quốc khi đến bên Úc hay bên Mỹ muốn được vào học tại một đại học nào đều phải nộp đầy đủ các hồ sơ và nhất là phải chuẩn bị cho kỳ thi tuyển chọn bằng tiếng Anh! Có nghĩa là tôi phải học và thi kỳ “Entrance exam” này: phải đậu thì mới được nhập học tại Đại học New South Wales! Lo muốn chết…

Mỗi tuần, tôi phải cố gắng viết một lá thư về thăm cha già. Vì lẽ đó, tôi không thể có đủ thì giờ để đến thăm Madame Hanakein như đã hứa. Bà biết điều đó, cho nên bà thường hay gọi điện thoại cho tôi qua điện thoại của bà chủ nhà trọ.

Sau khi tôi đã vào được đại học, tôi phải dọn vào nội trú cho đỡ mất thì giờ và tôi mất liên lạc với bà Hanekein vì tôi phải học suốt ngày, đêm.
Hè năm thứ nhất, tôi kiếm được một việc làm trong một xưởng máy làm cái “Sunbeam blender”. Đi làm để có thêm tiền tiêu vì ở trong “ký túc xá” khá tốn kém so với số tiền nhận được từ học bổng.

Lúc này tôi vẫn còn phải viết thư đều đều cho cha tôi. Bận thì vẫn bận, nhưng thật là may mắn: Minh và tôi là 2 “roommates” cùng đậu năm thứ nhất (nhiều năm sau khi ra trường, đọc tin tức của ĐH New South Wales, mới biết là 50% sinh viên Phân Khoa Kỹ sư đã trượt năm thứ nhất)! ĐH không có đủ chỗ cho sinh viên và chương trình quá “nặng ký”!

Mùa hè năm Thứ Hai, khi tôi đang đi thực tập ngành công chánh tại nhà đèn “Munmorah Power Station” trong nội địa Úc, tôi nhận được một lá thư và thiệp cưới do bà Hanakein gửi cho tôi. Bà mời tôi đến dự đám cưới của đứa cháu trai của bà mà tôi đã có dịp gặp ở nhà bà.
Sau khi nhận được thư mời đi dự đám cưới, tôi trả lời bà ngay lập tức và hỏi bà làm sao mẹ biết địa chỉ của con. Bà cho biết: mẹ gửi đến Đại học New South Wales, ngành Civil Engineering, nhờ họ chuyển đến cho con để mẹ con mình có thể liên lạc được với nhau. Ướt mi!

Chẳng lẽ mẹ tôi đã “dàn dựng” những cuộc gặp gỡ này để bà mẹ nuôi Hanekein và cá nhân người viết đỡ cảm thấy trống vắng khi phải sống một mình và bà Hanekein đã là một “đại sứ” thay mặt mẹ tôi mỗi khi chúng tôi có dịp trò chuyện với nhau?

Tôi đang chờ một chuyến bay một chiều và cũng đang mong mỏi được gặp lại cha tôi, mẹ tôi và bà mẹ tóc bạch kim, da trắng người Úc dịu dàng như một bà mẹ Viêt Nam…Lòng tôi ấm lại, ấm áp vô cung!

Đàm Trung Phán
Aug.15, 2026
Toronto, Canada