tiêu đề Nhãn
- BIÊN KHẢO
- CÂU ĐỐI
- CỔ THI
- GIA CHÁNH
- GIẢI TRÍ
- HÌNH ẢNH HỘI NGỘ
- HÌNH ẢNH NAY
- HÌNH ẢNH XƯA
- HỘI HỌA
- KHOA HỌC
- LƯU NIỆM
- LỊCH SỬ
- LỜI HAY Ý ĐẸP
- NHẠC
- SƯU TẦM
- SỨC KHOẺ
- THƠ
- THƠ CẢM TÁC
- THƠ DIỄN NGÂM
- THƠ DỊCH
- THƠ NHẠC
- THƠ PHỔ NHẠC
- THƠ SƯU TẦM
- THƠ TRANH
- THƠ TRANH NGHỆ SĨ
- TIN BUỒN
- TIN VUI
- VĂN
- VŨ HỐI THƯ HỌA
- VƯỜN THƠ VIÊN NGOẠI
- XƯỚNG HỌA
- YOUTUBE
Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026
Hạo Khí Trường Tồn - ( Trần Cẩm Hương Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa)
Trường Nữ Quân Nhân: - Trưởng Chỉ Huy
Gương trăng vằng vặc mấy ai bì
Sa cơ đày đọa không e ngại
Thất thế đương đầu chẳng quản chi
Khí Hạo kiên trung ngời Hạo Khí
Mi thanh bất khuất rạng thanh mi
Cần Thơ thổn thức... trang trung dũng
Hậu Nghĩa ngậm ngùi... bậc nữ nhi....!!!
Nguyễn Minh Thanh
Paris Chiêm Bao
Tôi kể em nghe chuyện Paris
và lòng tôi đau đớn.
Paris, thành phố giấc mơ tôi.
Tôi kể em nghe chuyện Paris
và lòng tôi khắc khoải
Paris, thành phố xa từ xưa huyền thoại
Tôi sống tôi vui tôi buồn rũ rượi
khi nghe tin thu về nước ngập bờ sông Seine
Tôi kể em nghe chuyện Paris
và lòng tôi tan vở.
Paris, thành phố sách vở phim ảnh triết lý thơ văn
Tôi la cà tôi đàn đúm tôi lang thang
Tôi ca tôi hát tôi vẽ tôi đàn
Tôi bay nhảy trên tuổi tôi mới lớn
Paris Paris chảy đùa trong huyết quản
và em. Và em, tiếp máu vào tim tôi
Sao tôi đưa em đi dạo dưới chân đồi
em lại khóc và tim tôi vỡ rạn
Ờ, em khóc và tim tôi tan nát
vì tôi đưa em đi giữa Paris
khi mùa thu mới chớm đã buồn
và lá thu chưa vàng đã vội bay ngang
Vì em ơi, tôi chỉ đưa em đi
trong chiêm bao
Khi từng đêm
tôi và em
xa nhau như hai vì sao
thất lạc.
Cao Vị Khanh
Quốc Học - Trần Xuân Thời
Các trường trung học thường mang tên một danh nhân như Pellerin, Taberd, Puginier, Pétrus Ký, Chu Văn An, Trưng Vương, Gia Long… nhưng đặc biệt một ngôi trường tọa lạc tại đất thần kinh, biểu tượng cho nền giáo dục quốc gia mệnh danh là “Trường Quốc Học” (Collège National) sánh với danh xưng “Quốc Học Viện” vào đời nhà Trần…
Quốc học, trường trung học đầu tiên của Việt Nam, được thành lập năm 1896 năm Vua Thành Thái thứ 8. Tên trường “Quốc Học” cũng thăng trầm theo vận nước nổi trôi. Năm 1907, chính phủ bảo hộ Pháp đã ép Vua Thành Thái thoái vị và phong Vua Duy Tân lên kế vị. Năm 1916 Vua Duy Tân bỏ kinh thành theo nghĩa quân kháng chiến chống Pháp. Người Pháp phong Vua Khải Định kế vị Vua Duy Tân. Vua Khải Định băng hà năm 1925. Vua Bảo Đại nối ngôi và muốn vinh danh tiên đế nên đổi tên trường Quốc học thành trường Khải Định. Sau năm 1954 trường được đổi tên là Trường Ngô Đình Diệm, nhưng đến năm 1956, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, châu lại về hiệp phố, danh xưng Quốc Học lại trở về với mái trường xưa.
Quốc Học đã đào tạo biết bao nhiêu nam thanh nữ tú phục vụ trong mọi ngành sinh hoạt của quốc gia. Năm nay, lễ kỷ niệm 128 năm (1896-2024) Quốc Học không những sẽ diễn ra tại miền sông Hương núi Ngự, chốn cố đô nghiêm mật mơ màng mà sẽ được cử hành khắp năm châu bốn bể vì ngày nay đâu đâu cũng in hình dấu vết của cựu học sinh Quốc Học.
Nếu quan niệm gặp nhau là một cơ duyên, vào chung trường, ngồi chung lớp là một sự tiến bộ và cùng tốt nghiệp ra trường là một sự thành công thì những cựu học sinh tốt nghiệp Quốc Học đều đã công thành danh toại.
Tôi còn nhớ vào năm 1958, khoảng cuối hè và đầu thu, tôi nạp đơn vào lớp Đệ Tam Quốc Học. Như truyền thống đã định tất cả ứng viên phải trải qua một kỳ thi nhập học. Tôi không nhớ đã thi những môn gì nhưng đây là một loại "contest” đã loại một số học sinh không được nhận vào ngôi trường nổi tiếng nầy.
Năm Đệ Tam là năm học tà tà, dưỡng sức cho năm đệ nhị chuẩn bị xông pha trường thi trận bút. Năm Đệ nhị “tình hình chiến sự” có vẻ gây cấn hơn, chẳng những phải “gạo” bài cho đệ nhất và đệ nhị lục cá nguyệt mà còn phải học kỳ cho kỳ thi Tú tài I cuối năm. Thường thường tôi dùng 2/3 thì giờ để học bài thầy giảng trong chương trình và 1/3 đọc thêm những gì không được giảng dạy nhưng có liên quan đến chương trình như thế sẽ khỏi bỡ ngỡ khi đề thi liên hệ đến kiến thức tổng quát. Cũng theo cách học nầy mà tôi trúng tuyển dễ dàng hai kỳ Tú tài I và II.
Đã khá lâu nên không nhớ rõ hết các đề thi, duy chỉ có hai đề thi có phần lý thú nên khó quên. Đó là đề thi Tú Tài I-1960 về văn chương VN “Con người do 3 yếu tố tạo thành: Địa phương, giống tộc và thời đại, bạn hãy căn cứ vào văn chương thế kỷ thứ XIX để chứng minh câu nói trên”. Đề thi nầy phỏng theo đề thi “Dissertation littéraire “, kỳ thi BAC I tại Paris, thập niên 1950, về văn chương Pháp, thế kỷ thứ XIX mà tôi đã có dịp đọc qua luận văn bằng Pháp ngữ, chỉ khác là thay vì luận về văn chương Pháp thì luận về văn chương Việt Nam thế kỷ thứ XIX. Nền giáo dục Tậy phương có ưu điểm là thường in lại các đề thi và bài giải về văn học, triết học cũng như toán học... khoa học của các kỳ thi trong quá khứ để giúp học sinh tự luyện thi. Nền giáo dục Việt Nam thời bấy giờ chưa đạt đến trình độ đó.
Khi còn học lớp Đệ Tứ, tôi và vài người bạn khác như thường mở các đề toán Géométrie và Algèbre trong sách hoc trò (Livre de L’Élève) ra làm thử. Bài nào không giải được thì mở sách của thầy (Livre du Maitre) ra xem bài giải. Cứ như thế mà giải hết các bài trong sách của Gs Bossé thì rất dễ dàng giải quyết các nan đề trong phòng thi.
Đề thi triết Tú tài 2-1961 cũng rất gọn gàng và dễ nhớ “Vai trò của trí tuệ trong tri giác ngoại giới”. Trong cả hai trường hợp, đọc qua đề thi thì hình như dàn bài đã có sẵn trong trí, tôi viết một mạch 3 giờ liền, đọc lại và nạp bài, ra khỏi phòng thi, thấy rất thoải mái vì chẳng những không “bí” mà còn viết thao thao bất tuyệt, tự biết thế nào cũng “dính”.
Tuy vậy, những lần đi nghe xướng danh cũng rất hồi hộp. Cái hồi hộp lý thú của tuổi học trò. Những năm học ở trung học thi cử liên miên khiến cho học sinh phải lo âu thường trực. Càng lo âu thì càng dễ trở nên thất vọng. Có người không chịu nổi cái “đệ nhất buồn là cái hỏng thi” nên phải quyên sinh. Học chế của mình kể ra cũng khắc khe. Cô, thầy thì nghiêm khắc vì “Giáo bất nghiêm thì sư chi đọa”. Bài vở phần lớn học thuộc lòng, vận dụng trí nhớ nhiều hơn suy luận. Chúng ta thường nghe nói: “gạo như gạo vạn vật…”
Bây giờ thì tất cả đều quá vãng, có còn lại chăng chỉ dư âm thôi!
“Thôi đã xa rồi vạn gót hương
Của người đẹp đến từ muôn phương
Xa rồi những bước không hò hẹn
Đã bước trùng nhau một nẻo đường”
Nẻo đường Quốc Học của thời niên thiếu vẫn luôn luôn chập chờn trong trí tưởng với hình ảnh của con sông xưa, thành phố cũ.
“Áo em lụa trắng sông Hương
Qua đò Thừa Phủ nhớ thương rạt rào”
Nỗi nhớ, niềm thương đó vẫn canh cánh bên lòng như bản nhạc vàng ru trọn đời mình. Dù vì quốc biến nên
”Có những người đi không về.
Xa xôi rồi quên ước thề”!
Hoài niệm về trường xưa, bạn cũ không chỉ là hoài niệm đơn thuần tình cảm mà còn tiềm ẩn tinh túy của Quốc học là những gì lưu lại sau khi đã quên hết “La culture (de QH) c’est ce qui reste après on a tout oublié”.
Xuất thân từ Quốc Học cũng như xuất thân từ cửa Khổng sân Trình. Con người hấp thụ được tinh hoa của cổ và tân học. Nếu con người do ba yếu tố tạo thành: Hoàn cảnh, thời đại và giống tộc thì Quốc học đã là hoàn cảnh, là môi trường tốt cho cựu học sinh triển nở, khiến cho nam thanh, nữ tú hàng hàng lớp lớp từ thế hệ này sang thế hệ khác xuất thân từ ngôi trường thân thương nầy và đã trở thành biết bao anh tài cho Tổ quốc.
Cái tinh hoa của nền Quốc Học là ngoài khả năng, kiến thức tổng quát, cựu học sinh được bồi dưỡng tinh thần bằng niềm hãnh diện về trường xưa, bạn cũ và quan niệm về giáo dục qua phong cách giảng dạy, lối sống và triết lý giáo dục của nền quốc học Việt mà một vị Nho sĩ, Cụ cố Ngô Đình Khả, đã được bổ nhiệm nhậm chức Chưởng Giáo của Quốc Học.
Triết lý giáo dục nhân bản nhằm chủ đích không những làm cho con người giỏi giang hơn (trí dục) mà chính là làm cho con người sống cao thượng hơn (đức dục). Ngày nay học tập để ngày mai giúp đời. Giúp đời chứ không chỉ biết vinh thân phì gia. Nguyễn Du Tiên sinh rất hữu lý khi nói lên triết lý hành động qua lời Từ Hải:
“Phong trần mài một lưỡi gươm.
Những loài giá áo túi cơm sá gì”.
Lưỡi gươm đây còn mang ý nghĩa là đem sở học và sự hiểu biết để phụng sự nhân quần xã hội, sửa trị những sự việc trong xã hội cho chính trực như tinh thần Nguyễn Công Trứ
“Trong lăng miếu ra tài lương đống.
Ngoài biên thùy rạch mũi can tương”.
Lợi ích của sự giáo dục là để phát triển kiến thức về luân thường đạo lý (đức dục) và kiến thức chuyên môn (trí dục). Nền quốc học chủ trương “Tiên học lễ hậu học văn” chú trọng đến sự phát triển con người toàn diện về cả ba khía cạnh đức dục, trí dục và thể dục, cốt đào tạo những người có đức hạnh, trí óc sáng suốt, có liêm sỉ, để cải tạo xã hội chính trị, hơn là chỉ chú trọng đào tạo những người có kiến thức chuyên môn như nền giáo dục Tây phương.
Nhận chân được khuyết điểm là có khoa học mà vô lương tâm chỉ đem lại phiền não, bại hoại tâm hồn. “Science sans conscience n’est que ruine de l’âme”, ngày nay nhiều đại học ở Tây phương tìm cách nhân văn hóa các chương trình khoa học bằng cách đưa các môn triết học, nhân chủng, xã hội, đạo đức, tâm lý… vào khóa học để giúp sinh viên tốt nghiệp sẽ trở nên con người toàn diện, hiểu người, biết mình hơn là con người kỹ thuật, máy móc (robot).
Sự học tô điểm cuộc đời, giúp chúng ta khám phá những kỳ hoa dị thảo trong vườn hoa kiến thức của nhân loại. Càng hiểu biết con người càng trầm tĩnh, ít lo âu, ít hoảng hốt, tâm bớt động và nhờ đó thái độ được trầm tĩnh và tránh được lầm lẫn hay sợ sệt:
(1) Ít lo âu vì nhận diện được vấn đề và biết cách ứng phó đúng với câu “Khi vui đến thì hãy vui mà chớ kiêu căng, tự phụ, khi tai họa đến thì phải suy nghĩ mà chớ buồn phiền” Chính nhờ sự suy nghĩ mới có thể mưu sinh thoát hiểm thay vì buồn phiền sẽ sinh ra nản chí và thất bại.
(2) Tránh được lầm lẫn là nhờ khả năng nhận biết phải trái, phân rõ trắng đen qua kinh nghiệm giải quyết sự việc của tiền nhân và của người đương thời. Ngày nay khoa quản trị học (management science) đào tạo những chuyên viên quản trị biết kỹ thuật tổ chức, điều hành và phương pháp giải quyết vấn đề. Tiêu chuẩn phán xét phải, trái, không hẳn do ý kiến của một cá nhân, vì ý kiến cá nhân có khi lầm lẫn. Do đó ý kiến đúng hay sai phải là ý kiến của đa số trong một hoàn cảnh và thời gian nào đó. Tiêu chuẩn đúng sai do đa số quyết định “What is right or wrong being determined by the will of the majority” (John Locke, Treatises on Civil Government – 1679). Ý kiến của đa số hay là ý chí chung có thể được tham khảo qua nhiều phương thức hoặc do phong tục tập quán lấy ý kiến chung ở chốn đình trung, hoặc do biểu quyết, hay trưng cầu dân ý qua lá phiếu.
(3) Ít sợ sệt vì hiểu được vấn đề, không lo ngại và chấp nhận dấn thân mà không e dè sợ sệt, hùng tâm dũng chí. Nho giáo giúp con người trưởng thành về trí tuệ bằng kiến thức xuyên thế hệ (transgenerational), kinh nghiệm cổ nhân lưu lại qua sử sách.
Với ba đặc điểm ít lo âu, tránh lầm lẫn, ít sợ sệt; người khôn ngoan thường nhận xét sự việc một cách khách quan, theo lẽ phải hơn là thiên kiến. Để đạt đến tính cách khách quan, sự nhận xét phải có tính cách vô ý, vô tất, vô cố và vô ngã:
(1) Vô ý: không khư khư theo ý riêng của mình mà phải chấp nhận bàn bạc để tìm ra lẽ phải và làm theo lẽ phải để tạo sự đồng thuận trước khi thi hành công tác. “Discussion is the anvil upon which the spark of the truth is struck”. Tiếp xúc cá nhân, chia sẻ và đối thoại là phương thức để tìm ra lẽ phải.
(2) Vô tất: Đừng vội quyết đoán là công việc làm được hay không làm được mà phải tạo cơ hội để thực hiện mới biết dễ hay khó. Không nên chủ quan bác bỏ ý kiến của người khác theo nhãn quan thiển cận của mình mà phải biết chấp nhận thử thách.
(3) Vô cố: Không nên cố chấp, nệ cổ mà phải biết chấp nhận sáng kiến.
(4) Vô ngã: Cái tôi là đáng ghét (le moi est haissable) đừng vì quyền lợi cá nhân hay phe phái mà sinh ra mù quáng, nhìn bạn thành thù, nhìn thù thành bạn, lộng chân thành giả, lộng giả thành chân.
Bốn phương cách xét định công việc nêu trên giúp chúng ta đạt được sự chánh ý trong vấn đề suy luận và phát biểu nhằm giảm sự xung khắc về tư tưởng và hành động. Dụng đích của sự học không những để gia tăng sự hiểu biết mà còn giúp phát triển các đức tính khác như Đức Khổng Tử đã giáng cho Tử Lộ sáu điều tai hại của sự thất học:
(1) Người ham điều nhân mà không học thì bị cái hại là ngu muội.
(2) Người ham đức trí mà không học bị cái hại là phóng đãng.
(3) Người trọng chữ tín mà không học thì có hại là dễ bị lừa gạt.
(4) Người thích sự ngay thẳng mà không học thì hóa ra nóng nảy.
(5) Người dũng cảm mà không học thì hoá ra phản loạn.
(6) Người cương quyết mà không học thì hóa ra cường bạo.
Giáo dục không chỉ là học từ chương trích cú để lãnh được mảnh bằng theo sách vở mà phải biết suy luận, áp dụng kiến thức vào những hoàn cảnh khác nhau vì mỗi hoàn cảnh đòi hỏi một phương cách riêng để giải quyết vấn đề. Do đó ”tri và hành phải hợp nhất”. Học mà không biết đem sự hiểu biết áp dụng vào đời sống thì kiến thức đó hoàn toàn vô dụng, cho nên Luận Ngữ có câu:
“Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ”.
Học mà đem ra áp dụng được thì chẳng phải vui lắm sao! Tham gia chiến trận khi quôc gia lâm nguy, thực hiện các công tác sinh hoạt xã hội, chính trị, văn hoá, kinh tế, y tế, giáo dục khi thái bình, đều là những cơ hội học hỏi chứ không phải chỉ đến nhà trường mới gọi là học.
Theo thầy Tử Lộ thì “Cai trị nhân dân, cúng tế thần đất đai, mùa màng, thì cũng là học, hà tất phải đọc sách rồi mới gọi là học”. Quan niệm này rất hữu lý và tiến bộ vì ngoài lối học sách vở, còn phương pháp huấn luyện OJT (On the job training) ngày nay rất thịnh hành tại các nước tân tiến.
Muốn học hỏi trước tiên phải:
(1) Khiêm nhường và phục thiện Những người kiêu căng, chỉ biết nói và không biết nghe thì không học hỏi gì được. Khiêm nhường tức là hỏi người dưới không lấy làm thẹn “Bất sỉ hạ vấn”.
(2) Có thiện chí tìm hiểu hỏi han. Đức Khổng Tử nói: “Người nào không hỏi phải làm sao? phải làm sao? thì ta cũng chẳng có cách nào chỉ bảo cho được. Kẻ nào không hăng hái muốn hiểu thì ta không thể giúp cho hiểu được, kẻ nào không tỏ ý kiến thì ta không thể giúp cho phát biểu ý kiến được. Ta vén lên cho một góc mà chẳng tự tìm được ba góc kia thì ta không giảng cho thêm nữa”.
Thế thì giáo huấn cũng còn tùy người, tùy tánh nết, tùy trí tuệ, tư cách của mỗi nguời, cũng như may áo, tùy kích thước của mỗi người." Cưỡng bách giáo dục tại một số quốc gia tân tiến thường đến lớp 9 (đệ tứ) hoặc lớp 12 (đệ nhất) phần học còn lại là do thiện chí muốn tiếp tục sự học. Phương pháp giáo huấn tùy người có từ trên 2000 năm về trước, ngày nay nhiều đại học đang áp dụng các chương trình giáo dục “University without wall” và các chương trình “Non-traditional” tức là cá nhân hóa chương trình cho phù hợp với sở trường thực dụng của mỗi cá nhân.
Con nguời được thọ tạo như những viên ngọc quý. Nhưng ngọc bất trác thì bất thành khí, hay như những cây gỗ qúy, nhưng nếu không biết trau dồi học hỏi thì gỗ quý sẽ biến thành gỗ mục, mà “Gỗ mục thì không chạm khắc gì được, cũng như vách bằng đất bùn thì không tô vẽ gì lên được”.
Phương pháp học hỏi hữu hiệu là vận dụng tri giác (thu nhận kiến thức qua giác quan – perception) mà nghe và thấy là hai giác năng quan trọng nhất giúp con người thu nhận ngoại giới. Do đó, cổ nhân khuyên là “Nên nghe cho nhiều, điều gì còn nghi ngờ thì để đó, tìm hiểu thêm. Điều gì biết rõ ràng, chắc chắn thì nên nói, nhưng nên nói một cách ôn tồn.” và “Nên thấy cho nhiều, những gì chưa được rõ thì để đó đừng làm, còn những gì biết rõ thì cũng phải làm một cách cẩn thận như vậy sẽ ít phải ăn năn”.
Trong thiên hạ thường có 4 hạng người:
(1) Không ai dạy mà biết được đạo lý là hạng ưu tú – Sinh nhi tri chi giả, thượng dã – Đó là hạng người thông minh vốn sẵn tính trời, là hạng ưu việt.
(2) Học rồi mới biết là hạng trung – Học nhi tri chi giả, thứ dã – gồm đa số khoa bảng, chuyên viên.
(3) Dốt mà chịu học là bậc thấp – Khốn nhi học chi, hữu kỳ thứ dã – là những thành phần hiếu học để thăng tiến.
(4) Dốt mà không chịu học là hạng cuối cùng của xã hội – Khốn nhi bất học, dân tư vĩ hạ hỉ – Hạng thứ tư nầy đa số bất cần đời, sinh lộn kiếp. “Cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu?”
Tại Hoa Kỳ người ta cũng thường đề cập đến ba hạng chuyên viên:
(1)-Hạng chuyên viên ưu tú thường nêu ra sáng kiến, phát minh. “Professionals with great minds talk about ideas”
(2)- Hạng chuyên viên trung bình thường bàn về những chuyện đang xảy ra “Professionals with average minds talk about current events”; và
(3)- Hạng chuyên viên thường hay bàn chuyện người khác.” Professionals with small minds talk about people”.
Dù thuộc loại chuyên viên nào chăng nữa, trong một ngày mình nên xét ba điều:
(1) Mình giúp ai việc gì, có giúp hết lòng không?
(2) Mình giao du với bạn bè có giữ được chữ tín không?
(3) Mình có học hỏi thêm điều gì mới mẻ trong ngày không?
“Mỗi ngày biết thêm điều mình chưa biết, mỗi tháng không quên những điều mình đã biết như vậy là biết học rồi đó”. Nhưng cũng nên biết rằng: ”Biết học không bằng ham học và ham học không bằng vui mà học”. “Nếu mình yêu thích công việc mình làm, thi xem như cả đời không làm gì hết “!
Diễn trình giáo dục là diễn trình thu nhận kiến thức, tinh luyện suy luận và phát triển sáng tạo. Tuy vậy, đó chỉ mới là giai đoạn đầu hay nói khác đi là giai đoạn “cách vật chí tri”, hiểu biết sự việc ngoại giới mà chứng chỉ, bằng cấp là biểu tượng cho giai đoạn này. Nếu đến giai đoạn này rồi tự thỏa mãn và ngưng học hỏi, tu thân, thì chỉ là hiểu biết vòng ngoài, nghĩa là mới thu nhận được kiến thức ngoại giới nhưng chưa đạt đến trình độ “Thành tâm, chánh ý, tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ”.
Kiến thức thu nhận được ở nhà trường từ tiểu học đến đại học chỉ là kiến thức căn bản ai cũng có thể học được miễn có thì giờ và phương tiện để trở thành chuyên viên. Đó là sự thực, vì nhìn vào xã hội chúng ta thấy sinh đồ càng ngày càng đông và trường học càng ngày càng nhiều.
Học để hiểu biết và hiểu biết hơn về một ngành chuyên môn để trở thành “chuyên viên” (professional) là điều tốt, nhưng nếu chỉ để “mong an nhàn, sống lâu giàu bền’, còn việc nước việc cộng đồng, xã hội, aí hữu, không thèm nghĩ đến thì chưa đạt đến trình độ “Trí thức”.
Để đào luyện (formation) trí thức, triết lý giáo dục nhân bản của nền Quốc Học không ngưng lại ở mức độ thu nhận kiến thức chỉ để trở thành chuyên viên mà còn tiến đến chủ đích làm cho con người trở nên cao thượng hơn:
“Thương vị đức, hạ vị dân”.
Phối hợp đạo lý làm người và kiến thức để giúp đời, là dấu chỉ của người trí thức, của kẻ sĩ. Cụ Nguyễn Công Trứ đã từng quan niệm:
Từ trái: ( đứng) Mai, Mễ, Cai, Thời, Huy, Hưng,
(ngồi) Cẩm, Thống
“The Untouchables” Đại hội 60 năm gặp lại, San Jose, USA”
“Kinh luân khởi tâm thượng,
Binh giáp tàng hung trung.
Vũ trụ chi giai ngô phận sự.
Nam nhi đáo thử thị hào hùng”.
Khi quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Kẻ sĩ không phải là hạng người ngồi khoanh tay khi sơn hà nguy biến!
Phải chăng Quốc Học là trường xây dựng nền tảng cho nền Việt học, phối trí giữa kiến thức và tâm đạo. Kiến thức có thể diễn tả qua tư tưởng, kỹ thuật, phương trình, công thức… còn tâm đạo được thể hiện qua tinh thần đạo đức, lương tâm chức nghiệp của quý Thầy, quý Cô.
“Kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành”. Với lương tâm chính trực, tận tụy của quý Thầy, quý Cô, học sinh đương nhiên vì mến Thầy, thương Cô mà học không phải vì Thầy la, Cô mắng.
Một khi xuất thân từ Quốc Học, học sinh đều thành danh phụng sự xã hội với tinh thần Nhân, Trí, Dũng: Phối hợp được lòng nhân ái, tâm đạo, kiến thức và nghị lực, quả cảm để xây dựng cộng đồng xã hội, quốc gia dân tộc.
Dù tha hương, sống nơi góc bể chân trời, nhưng đến ngày kỷ niệm Quốc học năm thứ 130 (1896- 2026) chúng ta vẫn hướng về mái trường thân thương nơi con sông xưa thành phố cũ, ngâm khúc hoan ca:
“Trường xưa lưu mãi bóng hình.
Trăm năm Quốc Học hiển vinh muôn đời.
Trấn Xuân Thời
QH 1958-1961
Tân Niên Bính Ngọ Tư Mã Phụng Cầu
“Khúc đâu Tư Mã phụng cầu. Nghe ra như oán như sầu phải chăng” (Kiều).
Khúc ca này do tích Tư Mã Tương Như - Trác Văn Quân vốn là khúc nhạc tỏ tình, nhưng qua tay Kiều trở thành âm thanh "oán sầu", báo trước cuộc đời "Đoạn trường" (đau đứt ruột) của nàng.
‘Tư mã phụng cầu’ hoặc chính xác ‘Phượng cầu hoàng, là điển tích chim Phụng (Phượng trống) tìm chim Hoàng (là Loan, Phượng mái). (Cầu 求 = Tìm kiếm / xin xỏ).
Nguyên tác: “Hữu nhất mỹ nhân hề, kiến chi bất vong. Nhất nhật bất kiến hề, tư chi như cuồng…”
____
Người Việt biết nay năm Ngọ song lớp trẻ ít kẻ biết về thứ tự các năm trong lịch chu kỳ 12 năm (1 giáp) dùng ở các nước Đông Á, kết hợp với 10 Can (Giáp, Ất,...) tạo thành chu kỳ 60 năm (Hoa giáp).
Ngọ là tên con giáp của ngựa (mã). Ngưa có nhiều đức tính: - trung thực (thẳng như ruột ngựa), - đoàn kết, chia sẻ hoạn nạn (một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ), - kết bạn (ngưu tầm ngưu, mã tầm mã), - thân thiện với mọi đối tượng nhưng không hề đánh mất tinh thần tranh đua (ngựa về ngược), - lòng biết ơn sâu sắc, chung thủy (làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai. Kiều) - nhanh nhẹn, tận tụy với công việc (chiến mã, dịch trạm/nhà trạm thời xưa).
Ngựa còn là biểu tượng của sự giàu sang (lên xe xuống ngựa), quyết tâm giành thắng lợi cuối cùng, làm nên sự nghiệp (công lao hãn mã, mã đáo thành công). .
+ Trong kho tàng ca dao, thành ngữ, tục ngữ... hình ảnh con ngựa được thấy khắp nơi.
Một số hình ảnh ít gặp, có ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc:
– Tứ mã phanh thây (hình phạt man rợ, lỗi ở người). – Ngựa Hồ hí gió bắc (lòng nhớ quê cũ). - Da ngựa bọc thây (tử trận). – Dừng ngựa trước vách đá (biết ngừng đúng lúc). – Tâm viên ý mã (tâm trí bất định). Thanh mai trúc mã (bạn tình thuở thơ ấu). - Chỉ lộc vi mã (cưỡng bức ngôn từ).
- Và không phải ngựa: hà mã (河馬) ở sông, hải mã, sea horse (海馬) ở biển, bọ ngựa trên lá cây. Vật dụng: bộ (ván) ngựa. Sinh vật: mã nghị (馬蚁) con kiến. Thực vật: mã đậu. Linh tinh: mật mã, đồ mã.
Mỗi lần năm Ngọ đến, như năm nay Bính Ngọ.là một dịp để các chuyện xưa về ngựa được nhắc lại.
Những điển tích liên quan đến ngựa có thể trực tiếp hoặc gián tiếp.
+ Điển tích trực tiếp về ngựa (mã 馬).
+ Chiến mã Mông Cổ là giống ngựa bền bỉ di chuyển nhanh của Thanh Cát Tư Hãn ở thế kỷ XIII.
+ Các trường hợp cá thể: Bucephalus, con ngựa huyền thoại của Alexander Đại đế. + Marengo: chú ngựa Ả Rập của Napoleon Bonaparte + Ngựa Đích Lư của Lưu Bị. + Tuyệt Ảnh của Tào Tháo. + Xích Thố của Lã Bố, Quan Vũ. + Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử của Triệu Vân. + Ô Vân Đạp Tuyết (Trương Phi).
+ Câu chuyện "Mua xương ngựa” kể về việc một vị vua muốn dùng 1.000 lạng vàng để tìm mua một con thiên lý mã, đã bỏ ra 500 lạng vàng mua xương ngựa chết. Hành động này khiến thiên hạ tin vua thực sự cầu hiền tài, nhờ đó, trong chưa đầy một năm, vua đã mua được 3 con thiên lý mã, vừa có hiền tài..
Bàn: Năm 1971: 1.000 USD mua được 20 lạng vàng. Năm 2008 chỉ mua được một lạng, 1000 lạng là một triệu USD để mua một con thiên lý mã. Bằng giá một xe hơi siêu sang cũng vào thời đó.
+ Chuyện Tái ông thất mã (mất ngựa) ngụ ý thâm thúy cụ thể: Trong họa có phúc, trong phúc có họa.
Sự đời khó lường: May mắn hay rủi ro chỉ là tạm thời, không ai biết trước được tương lai.
+ Điển tích gián tiếp về ngựa (mã 馬)..
+ Thánh Gióng Phù Đổng Thiên Vương, đời vua Hùng vương thứ sáu. Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt,, mang giáp sắt, đội nón sắt, cầm gươm sắt, đánh tan giặc Ân xâm lăng, cướp bóc rồi bay về trời. Ngựa Thánh cưỡi là ngựa sắt, không phải ngựa thật.
+ Trong thần thoại Hy Lạp, con ngựa gỗ thành Troy chứa binh sĩ Hy Lạp đánh chiếm thành Troy.
+ Điển tích chức vụ, liên quan đến ngựa (mã).
- Phò mã: 駙馬, là chức vị người chồng của Công chúa, tức là con rể của Hoàng đế trong văn hóa của Trung Quốc, Việt Nam và Hàn Quốc. Từ này ban đầu chỉ chức quan trông coi xe ngựa hoàng gia.
- Bật mã ôn 弼馬溫: chức vụ giữ ngựa thiên đình. Bật mã ôn Tôn Ngộ Không, Tề thiên Đại thánh.
+ Điển tích danh tính, dính dấp đến ngựa (mã). Họ tên ngựa nhưng là người. Trong lịch sử Trung Quốc, họ Mã (馬=ngựa) và họ kép có chữ Mã như Tư Mã (司馬) gắn liền với nhiều nhân vật kiệt xuất từ quân sự, sử học đến văn hóa- Theo thứ tự thời gian: Tư Mã Thiên, đầu thời nhà Hán viết bộ Sử ký Tư Mã Thiên. - Tư mã Tương Như, danh sĩ đời Tây Hán, các sáng tác nổi danh gần 9 thế kỷ trước Lý Bạch, Đổ Phủ đời Thịnh Đường. - Mã Viện 馬援 Phục Ba tướng quân, danh tướng đời Đông Hán và các tướng lĩnh họ Mã khác. - Tư Mã Ý: 司馬懿 đoạt ngôi nhà Tào Ngụy, chấm dứt thời Tam Quốc.
Chữ nho, Mã (馬) là ngựa. Tư (司) là chỉ huy, cai quản. Vd Tư lệnh (司令) các sư đoàn, quân đoàn...
Tư mã là một chức quan cao cấp trong thời phong kiến Trung Quốc, từ đờì nhà Chu, thống lĩnh binh mã, nắm giữ quốc phòng. Chức danh này thường đứng dưới Tể tướng.
Thời Tây Hán trong lịch sử Trung Quốc được gọi là Đại tư mã.
Trong lịch sử Trung Quốc, Tư mã là nhân vật thường nắm quyền lực thực tế của triều đình. Tư Mã Ý đoạt cơ nghiệp của Tào Tháo, lập nhà Tây Tấn .
Vào thời trung kỳ nhà Đường (618-907), chức vụ Tư mã chỉ là trợ thủ của các quan Thứ sử Bạch Cư Di, tác giả bài Tỳ Bà Hành là Giang Châu tư mã (Tỳ bà hành: Giang châu tư mã đẫm màu áo xanh).
Họ Tư Mã: Theo lịch sử, đời Chu Tuyên Vương, người giữ chức Tư Mã có công lớn nên vua cho phép lấy chức danh làm họ, từ đó hình thành họ Tư Mã.
Cùng với tư mã coi về binh, các chức vị: tư đồ, tư không, tư khấu tương tự bộ lại, bộ công, bộ hình.
Truyện về ngựa là nhiều. Chọn năm ngựa để kể về Tư Mã Tương Như ‘phụng cầu’ là thích hợp..
+ Tư Mã Tương Như司馬相如 (179 TCN - 117 TCN), tự Trường Khanh, người ở Thành Đô đời nhà Tây Hán,TCN. Người rất đa tài, văn hay, đàn giỏi.Trong khi đến đất Lâm Cùng, Tương Như vốn sẵn quen với Vương Cát là quan lệnh ở huyện, nên đến chơi. Cát lại mời Tương Như cùng đi dự tiệc ở nhà Trác Vương Tôn, vốn là viên ngoại đại phú gia trong huyện.
Nghe tiếng Tương Như đàn hay nên quan huyện cùng Trác Vương Tôn yêu cầu đánh cho một bài.
Họ Trác vốn có một người con gái rất đẹp tên Văn Quân, còn nhỏ tuổi mà sớm góa chồng, lại thích nghe đàn. Tương Như được biết, định ghẹo nàng, nên vừa gảy đàn vừa hát khúc “Phượng cầu hoàng”.
Trác Văn Quân nghe được tiếng đàn, lấy làm say mê, đương đêm bỏ nhà đi theo chàng. Trác ông tức giận, quyết định từ con. Đôi trai gái đó mở một quán nấu rượu. Vợ chồng cùng cặm cụi làm.ăn.
Về sau Trác ông hồi tâm, trở lại giúp đỡ các con.
Khúc “Phượng cầu hoàng” như sau: (Bản dịch của Trương Việt Linh - 15/7/2025).
Có người con gái đẹp xinh, Mới trông lòng đã nảy tình yêu thương.
Một ngày không gặp được nàng, Trong lòng rạo rực như đang phát cuồng.
Phượng bay lượn chốn tầng không, Bốn phương tám hướng cốt mong tìm hoàng.
Buồn thay chẳng gặp giai nhân, Tường đông lạnh lẽo tìm không thấy nàng.
Lòng ta đành mượn tiếng đàn, Khúc tơ bày tỏ can tràng cùng ai.
Bao giờ mới được kết đôi, Bao giờ mới tỏ được lời trăm năm?
Lòng ta yêu trộm thương thầm, Sợ thay chẳng được xứng tầm cùng ai!
Với nàng không thể lượn bay, Mối sầu quằn quại thân này héo khô”. (1).
Bài thơ khúc đàn này biểu tượng cho tình yêu say đắm, chủ động và sự đồng điệu tâm hồn, kể về hình ảnh chim phượng hoàng đi tìm bạn. Tư Mã Tương Như được ví như chim phụng cầu hoàng.
Trác Văn Quân thời Tây Hán xa xưa cũng không chỉ nổi tiếng với vẻ đẹp "chim sa cá lặn" mà còn giỏi đàn cầm và làm thơ (là tác giả bài “Bạch đầu ngâm” nổi tiếng, lưu truyền đời này qua đời khác). .
Mối tình đẹp, dám bỏ trốn theo tài tử nghèo Tư Mã Tương Như qua điển tích khúc “Phượng cầu hoàng" khiến nàng trở thành biểu tượng cho sự tự do yêu đương. Trác Văn Quân được coi là hình mẫu phụ nữ vừa có sắc, vừa có tài, vừa có cá tính mạnh mẽ trong xã hội phong kiến.
Chuyện tình này giữa hai thi nhân bậc nhất đời Tây Hán nổi tiếng đến nỗi nó đã trở thành là một điển cố danh tiếng được nhắc đến nhiều trong thơ ca cổ điển và hiện đại..
Trong các tình sử của vua chúa Trung Hoa cổ xưa các tuyệt đại mỹ nhân Đát Kỷ, Tây Thi, Ngu Cơ, Điêu Thuyền, Dương Quý Phi rốt cuộc đều thọ thảm tử. Trong dân gian các truyện tình Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài đời Đông Tấn, Thôi Hộ (Đào hoa y cựu tiếu đông phong), đời Đường Thôi Oanh Oanh (Tây Sương ký), đời Nguyên thì sự tình éo le, kéo dài năm, tháng. Riêng truyện Tư Mã Phụng Cầu là thơ, là nhạc, là giọng ca, tiếng đàn trầm bổng tuyệt vời, là tiếng sét ái tình, kết thúc nội nhật, và điều quan trọng là các mối liên quan kết nối, tô điểm cho năm Ngọ. Thật tuyệt vời và cảm xúc, các năm “ngựa, mã” đã góp lời trên văn đàn thi ca với khúc thơ nhạc bất hủ Tư Mã Phụng Cầu.
Lê Bá Vận
(1) Nguyên Tác.
鳳求凰 Phượng Cầu Hoàng
有一美人兮,見之不忘。 Hữu nhất mỹ nhân hề, kiến chi bất vong.
一日不見兮,思之如狂。 Nhất nhật bất kiến hề, tư chi như cuồng.
鳳飛翱翔兮,四海求凰。 Phượng phi cao tường hề, tứ hải cầu hoàng.
無奈佳人兮,不在東牆。 Vô nại giai nhân hề, bất tại đông tường.
將琴代語兮,聊寫衷腸。 Tương cầm đại ngữ hề, liêu tả trung tràng.
何時見許兮,慰我彷徨。 Hà thời kiến hứa hề, uý ngã bàng hoàng.
願言配德兮,攜手相將。 Nguyện ngôn phối đức hề, huề thủ tương tương.
不得於飛兮,使我淪亡。 Bất đắc ô phi hề, sử ngã luân vong.
Ý nghĩa văn hóa "Phụng Cầu Hoàng" là một tác phẩm quan trọng trong văn hóa âm nhạc Trung Quốc, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa âm nhạc và tình yêu. Tác phẩm này không chỉ là một bản nhạc tuyệt đẹp mà còn là một biểu tượng của tình yêu lãng mạn và sâu đậm
Nguồn gốc của nó gắn liền với lịch sử và văn hóa Trung Quốc, và nó vẫn tiếp tục được biểu diễn và trân trọng trong âm nhạc truyền thống ngày nay.
Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2026
Chân Nguyên Vũ Trụ - Thơ: Hoàng Thục Uyên - Nhạc: Nguyễn Tuấn
Thơ: Hoàng Thục Uyên
Nhạc: Nguyễn Tuấn
Nhạc: Nguyễn Tuấn
Giao Thức

Tưởng nhớ Thiếu Tướng Lê Minh Đảo
(5/3/1933 - 19/3/2020)
Như vừa mới ngã mũ chào
mà phơ phất bóng chiến bào tầm xa
ngựa giòn gõ vó bôn qua
bụi hồng sương quyện khói nhòa mắt cay
Người đi buồn rạn chân mây
nhạc tình giao phối Chương Đài phù vân
nghiệp duyên quá cuộc hồng trần
kiếm cung biệt diện tần ngần sử thi
Rượu còn sóng sánh ngang ly
mà Người đã khuất hương nghi ngút mờ
vọng tình rót rượu vào thơ
mở đêm giao thức ngồi chờ đối âm!
Cao Nguyên
Ân Tình Thiên Thu...
Hai mùa mưa nắng quê mình
Đi thương về nhớ ân tình mênh mông
Đường trần ai biết tâm đồng
Cội nguồn sữa mẹ tiên rồng còn nguyên
Đào hoa mai mối thiên duyên
Hờn mưa giận nắng sầu riêng sao chờ
Đơm hoa mộng kết trái mơ
Chung dòng giao cảm động thơ ngây hoài
Hương nguyền bốc lửa liêu trai
Trăng non gội tóc gió bay áo nhìn
Mưa thương nắng nhớ chân kinh
Vòng hoa chúc tết cùng mình thăng hoa
Nõn nà ngà ngọc tình ca
Đồng tâm giao cảm ao nhà hóa thơ
Vô cùng vô tận vô bờ
Nghìn xưa thề hứa bây giờ thiên thu...
MD.10/28/16
LuânTâm
Tà Áo Ngày Xưa
Làm người thổn thức nhớ bao nhiêu
Hoàng hôn gió nhẹ chân trời tím
Bóng dáng ai kia thật mỹ miều.
Tà áo ngày xưa tuổi học trò
Nhớ mùa hè cũ chẳng sầu lo
Nụ hôn vụng trộm ngày xưa đó
Nhớ lắm sao quên những hẹn hò
Tà áo ngày xưa đã nhạt màu
Từ ngày chinh chiến phải xa nhau
Người đi biền biệt người trông ngóng
Để tóc em tôi cũng điểm màu.
Tà áo ngày xưa vẫn nhớ hoài
Vô tình đánh mất, ngã chia hai
Hôm nay xứ lạ nhìn bông tuyết
Nhớ đến người xưa tà áo dài.
Tạ Quang Tuấn
Ngày 14 tháng 12 năm 2021
Danh Sách Schindler- Steven Spielberg - Thái Lan Sưu Tầm & Dich
Người Do Thái đến Auschwitz II ở Ba Lan bị Đức chiếm đóng, tháng 5 năm 1944. Hầu hết được chọn để hành quyết trong các phòng hơi ngạt.
(theo wiki) Quỹ USC Shoah – Viện Lịch sử Hình ảnh và Giáo dục, trước đây là Quỹ Lịch sử Hình ảnh Những người sống sót của Shoah, là một tổ chức phi lợi nhuận chuyên thực hiện các cuộc phỏng vấn nghe nhìn với những người sống sót và nhân chứng của Holocaust (trong tiếng Do Thái được gọi là Shoah). Tổ chức này được thành lập bởi Steven Spielberg vào năm 1994, một năm sau khi hoàn thành bộ phim đoạt giải Oscar của ông, Schindler's List. Vào tháng 1 năm 2006, quỹ đã hợp tác với và chuyển đến Đại học Nam California (USC) và được đổi tên thành Quỹ USC Shoah – Viện Lịch sử Hình ảnh và Giáo dục. Vào tháng 3 năm 2019, viện đã khai trương trụ sở toàn cầu mới[2] tại khuôn viên của USC.
Holocaust,được biết đến trong tiếng Do Thái là Shoah, là cuộc diệt chủng người Do Thái ở châu Âu trong Thế chiến II. Từ năm 1941 đến năm 1945, Đức Quốc xã và các đồng minh của họ đã sát hại có hệ thống khoảng sáu triệu người Do Thái trên khắp châu Âu bị Đức chiếm đóng, chiếm khoảng hai phần ba dân số Do Thái của châu Âu. Các vụ giết người chủ yếu được thực hiện thông qua các vụ hành quyết hàng loạt trên khắp Đông Âu và các phòng hơi độc trong các trại hủy diệt, chủ yếu là các trại tử thần Auschwitz-Birkenau, Treblinka, Belzec, Sobibor, Chełmno và Majdanek ở Ba Lan bị chiếm đóng. Các cuộc đàn áp đồng thời của Đức Quốc xã đã giết chết hàng triệu thường dân và tù binh chiến tranh (POW) không phải người Do Thái khác; thuật ngữ Holocaust đôi khi được sử dụng để bao gồm việc giết hại và đàn áp các nhóm không phải người Do Thái, chẳng hạn như người Romani và tù binh chiến tranh Liên Xô.
Một tác phẩm táo bạo và một tác động văn hóa mạnh mẽ
Việc quay phim ‘ Danh sách Schindler bắt đầu ở Krakow, Ba Lan, và đòi hỏi một nỗ lực khổng lồ, huy động 30.000 diễn viên quần chúng và 18.000 bộ trang phục. Bối cảnh được tái tạo tỉ mỉ để phản ánh sự tàn bạo của các trại tập trung. Những lựa chọn đạo diễn của Spielberg, cả về mặt thẩm mỹ và cốt truyện, đã cho phép ông tạo ra một tác động cảm xúc mạnh mẽ, đối mặt với khán giả với thực tế của nạn diệt chủng.
Một di sản và ảnh hưởng lâu dài
Bộ phim không chỉ để lại dấu ấn không thể xóa nhòa trong lịch sử điện ảnh mà còn ảnh hưởng đến nhiều thế hệ nhà làm phim trong việc xem xét cách tốt nhất để giải quyết các sự kiện bi thảm. ‘ Danh sách Schindler đã truyền cảm hứng cho nhiều đạo diễn và giúp mở ra cuộc đối thoại về nghĩa vụ ghi nhớ, trách nhiệm lịch sử và sức mạnh của hình ảnh trong điện ảnh.
Một tác phẩm kinh điển.
Bằng cách xem lại "Danh sách Schindler", chúng ta sống lại một thời kỳ đen tối qua lăng kính nhân văn. Bộ phim này, với phiên bản được phục chế, vẫn là một tác phẩm không thể bỏ qua, dù là vì cách kể lại lịch sử đầy xúc động hay vì những cuộc thảo luận quan trọng mà nó khơi gợi. Để tìm hiểu thêm về tác phẩm xuất sắc này, hãy truy cập Télérama, hoặc khám phá các phân tích chuyên sâu khác trên Allée des curieux.www.cineserie.com › news › cinema
Ra mắt cách đây gần ba mươi năm, bộ phim " Danh sách Schindler " của Steven Spielberg gần như hoàn toàn được quay toàn đen trắng. Tại sao lại chọn như thế? Và tại sao cảnh quay duy nhất có chút màu sắc lại ảnh hưởng mạnh đến vậy?
Danh sách Schindler : Từ Câu Chuyện Có Thật Đến Phim
Năm 1994, Steven Spielberg đã đạo diễn một trong những kiệt tác của điện ảnh: Danh sách Schindler Với sự tham gia của Liam Neeson, bộ phim được chuyển thể từ tiểu thuyết của Thomas Keneally và kể về câu chuyện có thật của Oskar Schindler. Ban đầu là một thành viên của đảng Quốc xã và có nguồn gốc Công giáo, Schindler đã mạo hiểm sự nghiệp và tính mạng của mình bằng cách thuê 1.100 người Do Thái vào công ty của mình trong thời kỳ Holocaust. Một kế toán người Do Thái trở thành "quan niệm về đạo đức" của ông khi ông điều hành công việc kinh doanh cùng với một viên chỉ huy Đức Quốc xã tàn nhẫn và ngoan cố (do Ralph Fiennes thủ vai), từ ban công của mình- người này chịu trách nhiệm về cái chết của các tù nhân Do Thái.
Phần lớn được quay màu đen trắng ở Ba Lan, bộ phim không nhằm mục đích giảm thiểu những khuyết điểm hay tôn vinh người anh hùng bất đắc dĩ này, mà để làm nổi bật sự chiến thắng của trí lực con người giữa thảm kịch nhân loại. Danh sách Schindler vẫn là một lời nhắc nhở mạnh mẽ về sự kinh hoàng của Holocaust và chủ nghĩa anh hùng đã xuất hiện ngay cả trong những hoàn cảnh đen tối nhất của lịch sử.
Việc lựa chọn quay Danh sách Schindler bằng phim đen trắng là một quyết định quan trọng đối với Steven Spielberg. Đạo diễn và nhà quay phim Janusz Kaminski đã chọn định dạng đen trắng, nhằm tạo ra một bầu không khí chân thực, gần như giống phim tài liệu. Điều này đã làm cho bộ phim trở nên ấn tượng hơn và tăng thêm tính xác thực lịch sử của phim. .
cô bé mặc áo khoác đỏ.- La Liste de Schindler © Universal Pictures
Spielberg giải thích sự lựa chọn của mình nhu sau:
Thảm họa Holocaust là cuộc sống không có ánh sáng. Đối với tôi, biểu tượng của sự sống là màu sắc. Đó là lý do tại sao một bộ phim về Holocaust phải được làm đen trắng.
Tuy nhiên, Spielberg đã đưa một yếu tố màu sắc vào thế giới đen trắng này: cô bé mặc áo khoác đỏ. Điểm nhấn màu sắc này tượng trưng cho dấu vết duy nhất của nhân tính và sự ngây thơ còn sót lại giữa nỗi kinh hoàng. Cô bé đại diện cho một nạn nhân vô tội của cuộc thanh trừng khu ghetto Krakow, một đứa trẻ có cuộc sống bị tàn phá bởi sự tàn bạo của Holocaust.
Sự tương phản nổi bật giữa màu đỏ tươi của chiếc áo khoác và màu đen trắng xung quanh khiến nạn nhân trở nên khác biệt, làm nổi bật sự tàn bạo của thế giới xung quanh. Sự hiện diện của bé trong phim là một lời nhắc nhở mạnh mẽ về thực tế của sự đau khổ và bất công đã ảnh hưởng đến rất nhiều cuộc đời trong thời kỳ đen tối này.
Một câu chuyện nhân văn ngay giữa những sự tàn bạo.
Bộ phim theo dõi hành trình phức tạp của Oskar Schindler, một thành viên của đảng Quốc xã, người mà bất chấp tham vọng và chủ nghĩa cơ hội của mình, đã sử dụng ảnh hưởng và nguồn của cải của mình để cứu sống nhiều người. Spielberg khắc họa nhân vật đáng ngưỡng mộ nhưng đầy mâu thuẫn này, khiến chúng ta phải suy ngẫm về bản chất con người. Câu chuyện cảm động này cho thấy rằng, ngay cả trong những khoảnh khắc đen tối nhất của Lịch sử, những hành động nhân ái và dũng cảm vẫn có thể xuất hiện.
Danh sách Schindler: Câu chuyện có thật phiá sau bộ phim
Năm 1993, Danh sách Schindler là một trong những thành công lớn nhất của Steven Spielberg, đã được trình chiếu. Được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Thomas Keneally, bộ phim đen trắng với những điểm nhấn màu sắc (điểm xuyết) nổi tiếng đã gặt hái thành công lớn cả về mặt phê bình lẫn thương mại. Phim đã giành được bảy giải Oscar, bao gồm cả Phim hay nhất.
Như bạn đã biết, bộ phim được lấy cảm hứng từ cuộc đời của Oskar Schindler và những hành động anh hùng của ông. Hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau khám phá câu chuyện có thật phiá sau Danh sách Schindler.
Bối cảnh của phim Danh sách Schindler
Trước khi bàn về câu chuyện của phim Danh sách Schindler, điều cần thiết là phải xác định bối cảnh. Năm 1941, tại Krakow, Ba Lan. Hơn 15.000 người Do Thái bị nhồi nhét vào Podgorze, một vùng ngoại ô của thành phố sau này trở thành khu ghetto(khu biệt cư) Krakow. Bị giam cầm, họ buộc phải sống chen chúc nhau, hoàn toàn bị cô lập với thế giới bên ngoài.
Ngay bên trong chính khu ghetto, hoặc vùng lân cận, có một số nhà máy và xưởng sử dụng lao động giá rẻ là những người Do Thái bị giam cầm này, như nhà máy Siemens và nhà máy sản xuất đồ (tráng) men của Oskar Schindler.
Từ cuối năm 1942, diện tích khu ghetto liên tục thu hẹp trong khi dân số tiếp tục tăng. Công nhân bị tách biệt khỏi phần còn lại của dân cư, và mỗi lần giảm dân số, lại có những cuộc trục xuất, hoặc đến trại hủy diệt Belzec hoặc trại tập trung Plaszow.
Năm 1942, việc giải tán khu ghetto được thực hiện. Hàng ngàn người Do Thái bị di dời và sát hại. Làn sóng trục xuất đầu tiên diễn ra vào tháng 6, tiếp theo là làn sóng thứ hai vào tháng 10. Cuộc trục xuất cuối cùng diễn ra vào tháng 3 năm 1943: tất cả những người Do Thái được coi là đủ sức lao động đều bị đưa đến các trại tập trung. Gần 2.000 người còn lại bị chính quyền giết hại trên đường phố.
Giờ đây khi bối cảnh đã được thiết lập, hãy cùng khám phá câu chuyện có thật đằng sau bộ phim Danh sách Schindler.
Câu chuyện có thật về Danh sách Schindler
Năm 1941, khi khu ghetto Krakow đang hình thành, Oskar Schindler là một nhà công nghiệp người Đức sở hữu một nhà máy, Deutsche Emailwarenfabrik, gần thành phố. Ông cũng sở hữu một nhà máy sản xuất vũ khí và đạn dược cách đó vài cây số. Ông đã là thành viên của đảng Quốc xã từ năm 1938.
Từ năm 1941 trở đi, ông đã lợi dụng sự hình thành của khu ghetto và mối quan hệ của mình với Amon Göth, người đứng đầu trại tập trung Plaszow, để thuê người Do Thái với mức lương rất thấp và ép buộc họ làm việc. Do đó, những ngày đầu trong câu chuyện của Oskar Schindler không hề anh hùng: ông hành động hoàn toàn vì lợi ích tài chính cá nhân.
Nhưng điều kiện sống ngày càng tồi tệ của người Do Thái trong các trại tập trung và khu ghetto cuối cùng đã thúc đẩy ông hành động. Dần dần, nhà máy của ông trở thành nơi trú ẩn cho những người bị bức hại. Đầu tiên, ông sử dụng ảnh hưởng của mình trong đảng Quốc xã địa phương để cố gắng hết sức cải thiện điều kiện sống trong khu ghetto. Ông cũng đảm bảo rằng công nhân của mình không bị trục xuất đến các trại tập trung và sắp xếp để tuyển dụng thêm nhiều người trong số họ.
Năm 1943, khi chính quyền ra lệnh thanh trừng toàn bộ khu ghetto bằng cách giết hại tất cả cư dân trên đường phố, Oskar Schindler đã cho tất cả nhân viên của mình ngủ hẳn trong nhà máy để tránh cho họ khỏi cuộc thảm sát.
Mặc dù nhà máy của ông chỉ sử dụng khoảng một trăm người Do Thái vào đầu những năm 1940, nhưng đến khi khu ghetto bị giải tán, con số này đã lên đến hơn một nghìn người.
Cũng trong năm 1943, ông đã đăng ký nhà máy của mình như là một phần của trại tập trung Plaszow: điều này cho phép các nhân viên của ông sống trong nhà máy và được bảo vệ khỏi sự ngược đãi mà những người Do Thái khác phải chịu đựng ở những nơi khác trong trại. Ông đã dùng tài sản của mình để nuôi sống và cung cấp chỗ ở cho họ, mang đến cho họ điều kiện sống tốt hơn.
Năm 1944, Schindler đã di dời nhà máy của mình cách vị trí ban đầu khoảng mười lăm ki-lô-mét, biến nó thành một nhà máy sản xuất vũ khí với quy chế đặc biệt. Vì nhà máy đóng góp vào nỗ lực chiến tranh, Schindler được phép đưa tất cả nhân viên của mình đi cùng và thậm chí còn được tuyển thêm người. Chính trong quá trình di dời này, một trong những nhân viên của ông đã lập ra Danh sách Schindler nổi tiếng, ghi chép lại hơn 1.200 tù nhân Do Thái được chuyển đến. Trong vài tháng nhà máy hoạt động, trong thực tế Schindler chỉ sản xuất rất ít vũ khí để không hỗ trợ Đức Quốc xã.
Nhưng vào cuối năm đó, sự tiến quân của Liên Xô đã khiến chính quyền Đức lo ngại, và họ ra lệnh sơ tán trại Plaszow. Khoảng 20.000 người Do Thái còn lại đã bị trục xuất đến các trại hủy diệt. Schindler cũng nhận được lệnh sơ tán. Một lần nữa, ông lại tìm cách xoay sở và lên kế hoạch để được phép thành lập nhà máy của mình ở Brünnlitz, quê hương của ông, đồng thời đưa các nhân viên người Do Thái của mình đi cùng. Tuy nhiên, trên đường đi, bi kịch đã xảy ra: các nhân viên nam của ông bị đưa đến trại tập trung Gross-Rosen và các nhân viên nữ bị đưa đến Auschwitz, nơi họ bị sát hại.
Schindler sau đó đã dùng tài sản cá nhân của mình để hối lộ ban quản lý trại và đảm bảo việc thả cả nam và nữ nhân viên đến nhà máy mới của ông.
Tháng 1 năm 1945, Oskar và vợ, Emilie Schindler, đã tìm cách chuyển hướng một đoàn tàu chở hơn 100 người bằng cách thuyết phục các binh sĩ rằng họ cần sức lao động của những người này để duy trì hoạt động nhà máy của ông.
Khi chiến tranh kết thúc, Oskar Schindler bị phá sản. Ông sống phần đời còn lại giữa Israel và Đức, duy trì liên lạc với những người sống sót của nhà máy và nhận được sự hỗ trợ tài chính từ các tổ chức Do Thái. Năm 1967, ông được Đài tưởng niệm Yad Vashem trao tặng danh hiệu “Người công minh chính trực giữa các Quốc gia ” .
Những điểm khác biệt giữa phim của Spielberg và câu chuyện có thật về Danh sách Schindler
Trong bộ phim tái hiện câu chuyện có thật về Danh sách Schindler, Spielberg đã cố gắng theo thật sát câu chuyện thật . Trong số các diễn viên quần chúng đóng vai phụ của phim có Jan Liban, một người sống sót sau vụ tại nhà máy của Oskar Schindler. Theo lời con trai ông, bộ phim của Spielberg theo sát từ 80% đến 90% sự thật lịch sử. Tuy nhiên, có một số điểm khác biệt đáng chú ý.
Ví dụ, trong phim, Schindler ngay lập tức bắt đầu tuyển dụng người Do Thái vào nhà máy của mình. Trên thực tế, ban đầu ông tuyển dụng người Ba Lan và chỉ bắt đầu thuê người Do Thái khi nhận ra điều đó sẽ có lợi cho công việc kinh doanh của mình.
Va một trong những điểm khác biệt nổi bật nhất giữa bộ phim Danh sách Schindler và câu chuyện có thật liên quan đến chính danh sách đó. Trong phim, danh sách được lập theo yêu cầu của Oskar. Trên thực tế, Oskar có lẽ đang ở trong tù khi danh sách được lập ra.
Do đó, có những điểm khác biệt, bởi vì, như đã nhắc lại, bộ phim không phải là phim tài liệu. Nhưng nó cung cấp một điểm khởi đầu tuyệt vời để khám phá câu chuyện phi thường khó tin và giàu tính nhân văn này.
Để tìm hiểu thêm về câu chuyện của Danh sách Schindler
Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về câu chuyện có thật đằng sau bộ phim Danh sách Schindler, đây là một số nguồn tài liệu có thể bạn quan tâm.
Xem phim Danh sách Schindler trực tuyến
Đáng tiếc là phim Danh sách Schindler không có trên Netflix tại Pháp. Bạn có thể mua hoặc thuê phim này trên Amazon Prime.
Danh sách Schindler trên YouTube
Bạn cũng có thể thuê phim trên YouTube để xem trực tuyến. Tất cả nhạc phim trong Danh sách Schindler đều có sẵn miễn phí.
Có rất nhiều nguồn tài liệu khác về câu chuyện có thật trong danh sách này, chẳng hạn như cuốn tiểu sử về Oskar Schindler (bằng tiếng Anh).
Bạn cũng có thể tìm mua DVD và Blu-ray của Danh sách Schindler trên Amazon để xem hoặc xem lại kiệt tác điện ảnh này.
========
(Theo wiki):
Schindler's List là một bộ phim điện ảnh chính kịch cổ trang sử thi của Hoa Kỳ sản xuất và phát hành năm 1993 do Steven Spielberg làm đạo diễn kiêm đồng sản xuất và Steven Zaillian viết kịch bản. Phim dựa theo cuốn tiểu thuyết Schindler's Ark của Thomas Keneal ly, một tiểu thuyết gia người Úc. Bộ phim dựa trên cuộc đời của Oskar Schindler, một doanh nhân người Đức đã cứu sống hơn một 1000 người Do Thái gốc Ba Lan tị nạn trong thời kỳ Đức Quốc Xã tàn sát người Do Thái bằng cách tuyển họ vào làm trong các nhà máy của mình. Phim có sự tham gia của Liam Neeson trong vai Schindler, Ralph Fiennes trong vai sĩ quan Schutzstaffel (SS) Amon Goeth, và Ben Kingsley trong vai kế toán người Do Thái của Schindler, Itzhak Stern.
Ý tưởng sản xuất một bộ phim nói về Schindlerjuden (những người Do Thái của Schindler) được đề xuất lần đầu tiên vào năm 1963. Poldek Pfefferberg, một trong số những người Schindlerjuden, xác định rằng sứ mệnh của cuộc đời mình là phải kể lại câu chuyện của Schindler cho hậu thế. Spielberg tỏ ra hứng thú với kịch bản này sau khi nhà điều hành Sid Sheinberg gửi cho ông một bản nhận xét cuốn sách Schindler's Ark. Universal Studios mua bản quyền chuyển thể điện ảnh của cuốn tiểu thuyết, tuy nhiên Spielberg, ban đầu còn lo ngại ông chưa đủ tự tin để làm một bộ phim về thời kỳ tàn sát người Do Thái, tìm cách đẩy dự án sang cho một số đạo diễn khác trước khi quyết định tự tay đạo diễn bộ phim này.
Quá trình quay phim chính diễn ra tại Kraków, Ba Lan trong vòng 72 ngày. Spielberg quay bộ phim dưới định dạng đen trắng và coi đó là một bộ phim tài liệu. Nhà quay phim Janusz Kamiński muốn mang lại cho tác phẩm điện ảnh này một cảm giác vượt thời gian. John Williams soạn nhạc cho bộ phim, và nghệ sĩ vĩ cầm Itzhak Perlman biểu diễn bản nhạc chủ đề của bộ phim.
Schindler's List ra mắt vào ngày 30 tháng 11 năm 1993 tại Washington, D.C. và được phát hành rộng rãi trên toàn nước Mỹ vào ngày 15 tháng 12 năm 1993. Thường được coi là một trong những bộ phim hay nhất mọi thời đại từng được sản xuất,[4][5][6] phim cũng thu được thành công thương mại, mang về 322 triệu USD trên toàn cầu so với 22 triệu USD kinh phí. Phim giành được bảy giải Oscar (trong tổng số mười hai đề cử), trong đó có giải Phim hay nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất, Kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất và Nhạc phim hay nhất, cùng nhiều giải thưởng khác (trong đó có bảy giải BAFTA và ba giải Quả cầu vàng). Năm 2007, Viện phim Mỹ xếp bộ phim này đứng thứ 8 trong danh sách 100 phim Mỹ hay nhất mọi thời đại. Thư viện Quốc hội Mỹ đã lựa chọn bộ phim này để bảo tồn tại Viện lưu trữ phim Quốc gia Hoa Kỳ vào năm 2004.
Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2026
Đóng Cửa Tiếp Nàng Thơ
Hân hạnh Nàng Thơ viếng Lão-gia
Mời an ngôi vị tiền sảnh nhà
Phân chia chủ khách cùng trao đổi
Ngọn bút thiên thần Xướng Hoạ ca
Mong ước Nàng Thơ sống với ta
Giúp cho vần điệu mãi thăng hoa
Tình yêu trong trắng và cao thựơng
Trăm năm sẽ trẻ mãi không già
CN-HNT , Mar.24.26 (100.101c)
Về Thăm Đà Nẵng - Chốn Cũ ...

Về Thăm Đà Nẵng
Ta về thăm lại dáng xưa
Dáng xưa không thấy-thấy mưa rơi nhiều
Ta về góc phố buồn hiu
Người thân không gặp -thấy người không quen-
Ta về đường cũ mất tên
Trường Phan* mất dạng-bạn hiền biệt tăm-
Ta về thăm lại dòng sông
Bến phà năm trước -bây chừ còn đâu?-
Ta về dừng lại bên cầu
Nhớ người em gái qua cầu năm nao
Em ơi em ở phương nào?
Còn trên dương thế hay vào hư vô?
Ta về thăm lại hàng sao
Trên đường Thống Nhất -dẫn sang cầu vồng
Cầu vồng nay đã hết vồng
Thành đường thẳng tăp -đi vào ngoại ô-
Ta về như giấc chiêm bao
Như chuyện Từ Thức ngày xưa về trần
Hoàng Long
*trường Phan Châu Trinh
***
Cảm Tác:
Chốn Cũ ...
Đà Thành xưa đã phai màu
Còn chăng ký ức con tàu năm xưa
Cầu Đỏ , kẻ tiễn người đưa
Uốn dòng Cẩm Lệ đò trưa khua chèo
Về đây anh , xóm mình nghèo
Đọt lang chấm mắm lèo tèo dăm con
\ Tay dằm miếng ớt xanh non
Vẫn mong đưa được miếng ngon vào lòng
Năm cách năm lúa đòng đòng
Có ai chăm chút thỏa công Mẹ trồng
Quê mình heo hút - Miếu Bông
Lơ thơ Thanh Quýt , đất nồng Cẩm Sa
Đôi lần về lại trường ta
Đưa chân khẽ bước lòng sa giọt ....buồn !
Thiên Phương
Trạng Nguyên Mạc Đỉnh Chi (1280 - 1346)
Mạc Đỉnh Chi
Đời Trần có Mạc Đỉnh Chi
Vóc người nhỏ bé dị kỳ hơn ai
Xấu tướng mà có biệt tài
Nói năng hoạt bát biện bài càng hay
Mấy phen đi sứ cõi ngoài
Lưỡng Trạng nổi tiếng danh bay nước Tàu
Ngài còn liêm khiết thanh cao
Của tiền phi nghĩa khôn xao lòng vàng
Gương trong ngọc trắng huy hòang
Làu làu kinh sử vẻ vang giống nòi...
(Khuyết Danh)
Trên đây là bài thơ mà người viết học trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư từ hồi còn để chỏm. Do đó không nhớ tên tác giả. Tuy nhiên, qua nội dung bài thơ, tg rất mực ngợi ca ông Mạc Đỉnh Chi.
Và cũng chính bài thơ trên đã gợi cảm hứng cho người viết biên soạn Danh Nhân tiểu truyện này.
Tiểu sử: Mạc Đỉnh Chi ( M Đ C )Tự là Tiết Phu, người tỉnh Hải Dương, giòng dõi Mạc Hiển Tích đời Nhà Lý, mồ côi cha từ nhỏ, nhân dạng tuy xấu, nhưng cực kỳ thông minh. Ông theo học với Hoàng đệ Trần Ích Tắc, và đỗ Tiến sĩ năm 1304 đời vua Trần Anh Tông. Đỗ đầu khoa, nên gọi: Trạng Nguyên.
Nhưng nhà vua không trọng dụng do ngoại hình . Biết bụng vua, Ô. làm bài phú "Ngọc Tỉnh Liên" dâng lên vua. Nội dung ví mình như hoa Sen quí trong Giếng Ngọc. Nhà vua xem xong, cả đẹp, phong chức dần lên tới Tả Bộc Xạ (Thượng Thư), hai lần đi sứ sang Nhà Nguyên, và ứng đối rất tài tình.
Ông đã cùng vua Nguyên xướng hoạ thơ văn rất tương đắc, được vua Nguyên chính tay chấp bút phong tặng"Lưỡng quốc Trạng Nguyên".
Mạc Đỉnh Chi người cương trực, thanh liêm, hết lòng vì dân vì nước. Ông làm quan qua ba đời vua: Anh Tôn, Minh Tôn, Hiến Tôn. Đời vua Trần Minh Tôn được phong Hành Khiển Nhập Nội (Thủ tướng)
Những giai thoại nói về MĐC:
1 - Ứng Đối: Khi vào bệ kiến vua Nguyên, nhà vua có câu đối:
NHẬT HỎA, VÂN YÊN BẠCH ĐÁN THIÊU TÀN NGỌC THỐ ( Mặt trời là lửa, mây là khói ban ngày đốt cháy vầng trăng )
Hiểu ý kiêu ngạo trịch thượng của vua Nguyên, để tỏ rõ khí phách của dân Việt, MĐC đối lại:
NGUYỆT CUNG, TINH ĐẠN HOÀNG HÔN XẠ LẠC KIM Ô ( Trăng là cung, sao là tên chiều tối bắn rơi mặt trời )
Rất là tuyệt, nói theo Kim Dung rất là độc chiêu, ăn miếng trả miếng, vua Nguyên nghe qua hậm hực nhưng cũng rất kiêng dè..!!
Cũng qua câu đối của MĐC, người Tàu " Mao Tôn Cương" rằng: theo ý câu đối, về sau cháu Ô. ắt có người làm việc thoán đoạt. Và đã ứng vào Mạc đăng Dung cháu 7 đời, đã soán ngôi nhà Hậu Lê (Lê Lợi....) đồng thời truy tôn Ô. MĐC là KIẾN THUỶ KHÂM NINH VĂN HOÀNG ĐẾ. Hiện nay nơi quê hương Lũng Động, Chí Linh, Hải Dương có đền thờ Ô. MĐC rất trọng thể..!!
2 - Văn Tế Công Chúa Nguyên
Thời gian đi Sứ ở Yên Kinh ( Bắc Kinh ), có một công chúa nhà Nguyên chết, Mạc Đĩnh Chi được cử đọc văn tế. Để thử tài Sứ Thần nước Nam, quan Lễ Bộ trao cho Ông tờ giấy chỉ có 4 chữ " Nhất ". Bình tĩnh, tài trí MĐC ứng khẩu đọc:
Thanh thiên nhất đóa vân,
Hồng lô nhất điểm tuyết,
Thượng uyển nhất chi hoa,
Dao trì nhất phiến nguyệt.
Y hi! Vân tán, tuyết tan, hoa tàn, nguyệt khuyết !
Dịch nghĩa:
Một đám mây trên trời
Một bông tuyết trong bầu trời
Một nhành hoa trong vườn Thượng
Một mặt trăng trong ao tiên
Ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!
Ý rằng: trên trời có một đám mây, trong bầu trời có một bông tuyết, nơi Thượng uyển có một nhành hoa, trong ao tiên có một mặt trăng!
Nhưng than ôi! mây tan tác, tuyết tiêu tan, hoa tàn tạ, trăng mờ khuyết!
Đại ý là tiếc thương Công Chuá lá ngọc cành vàng đã mệnh chung, thương thay tiếc thay!!
3 - Liêm Chính:
Vua nghe nói MĐC người rất liêm chính, ngay thẳng. Để thử lòng Ông, vua cho người đem vàng bỏ rơi trước nhà. MĐC lượm được vào chầu tâu với Vua. Vua bảo, nếu không có ai nhận, thì khanh hãy lấy mà chi dụng...
Hậu duệ ở Triều Tiên
Thời gian đi sứ Tàu, sứ thần nước Nam và Cao Ly giao tình rất trọng. Do hoàn cảnh của hai nước trước cường quốc Trung Hoa, với lại tài ba của M Đ C làm sứ thần Cao Ly rất mến mộ. Vị sứ đã mời MĐC sang Cao Ly chơi và gả cháu gái cho ông. Người thiếp này sinh được 1 nữ, và 1 nam, do đó có một dòng họ Mạc ở Cao Ly.
Câu chuyện dân gian: tương truyền, gia đình Mạc Đỉnh Chi ở gần bìa rừng. Nhà nghèo. Mẹ Ông thường vô rừng kíếm củi. Một hôm, Bà bị con vượn hiếp... Về, Bà kể lại với Cha Ông. Cha Ông bèn hoá trang phụ nữ, trong lưng lận theo cái mác thật bén nhọn, vào rừng. Ăn quen, con vượn xáp lại đè Cha Ông. Cha Ông luị cho nó một mác. Xong vất xác bên lùm cây.
Mấy hôm sau có dịp đi ngang, Cha Ông thấy chỗ vất xác con vượn, nay do mối đã đụn thành gò. Cha Ông cho đây là cuộc đất tốt, theo phong thủy. Bèn dặn Bà, khi nào ông ấy mất, hãy chôn ngay nơi gò mộ của con vượn. Bà y lời.
Nhờ cuộc đất kết, sau nầy, lớn lên, Mạc Đinh Chi thông minh xuất chúng, học hành thành đạt. và phát đạt gần tới tột đỉnh vinh quang...
Phần kết: Qua truyện Mạc Đỉnh Chi, người viết liên tưởng đến Án Anh đời Xuân Thu bên Tàu, tác giả chuyện cây quít trồng ở phía Bắc sông Hoài thì ngọt. Và ngược lại thì chua. Án Anh sống trước quan Trạng MĐC cả ngàn năm. Vóc dáng cũng nhỏ nhắn, nhưng cái đầu rất to, đối ứng bén nhạy, chính xác, tài cao đức trọng giúp vua Tề làm nên nghiệp Bá.
Vớ́i lòng ngưỡng vọng tiền nhân tài đức cao vợi như Thiên Cẩm sơn của Quan Trạng Mạc Đỉnh Chi, hậu sinh có bài thơ nhỏ để trân trọng người xưa:
Ông Mạc Đỉnh Chi
(1280 - 1346)
Biện thuyết tài tình Mạc Đỉnh Chi
Dáng người nhỏ bé thật là kỳ
Tay buông lỏng thỏng trông như vượn
Lưng uốn lom khom ngó tợ qui
Đi sứ bao phen tiền hậu khoáng
Làm quan hai nước cổ lai hi
Văn chương uyên bác thông kinh sử
Liêm khiết trăng cao mấy kẻ bì..!!
Cảm Thán
Đọc Cổ Sử người xưa ngời lẫm liệt
Ngẫm lại mình chi xiết nỗi than ôi
Sông núi đó đang từng hồi... vong diệt
Mà anh hùng hào kiệt vẫn xa xôi...!!
Nguyễn Minh Thanh biên soạn - hiệu chỉnh
(GA 14 - 4 - 2026)
Tham khảo: trang web Mạc Đỉnh Chi
Danh Nhân Từ Điển cuả Nguyễn Huyền Anh
Thành Ngữ Điển Tích của Trịnh Vân Thanh
* Rất tiếc đã tìm nhiều nơi,nhưng không thấy tên cha, mẹ của quan Trạng Mạc Đỉnh Chi!!
Bềnh Bồng Như Mây
Tiếng chuông đồng hồ báo thức reo vang. Sáu giờ sáng, trời mùa đông Cali tối đen. Hôm nay tôi phải có mặt tại nhà thương Stanford trước tám giờ để làm thử nghiệm. Bác sĩ sẽ luồn một ống thật nhỏ qua tĩnh mạch chính ở chân, ống sẽ theo dòng máu dẫn lên để thông tim, khám phổi. Trời thật lạnh, mặc áo len, khoác áo ngoài mà vẫn không đủ ấm. Hai vợ chồng tôi ra xe, im lặng, không nói một lời và hình như cả hai cùng trĩu nặng âu lo. Trong lòng xe được sưởi ấm, tiếng hát Ý Lan vang lên nhẹ nhàng tha thiết: “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên…”
Đầu óc tôi bềnh bồng trở về những ngày tháng cũ xám xịt, thê lương. Những nhục nhằn, khổ đau của những người đàn bà còn ở lại, phải đối phó với những kẻ đang vênh vang thắng thế, phải đương đầu với những hoàn cảnh khắt khe.
Căn nhà mẹ tôi mua ở Long Thành để có nơi chốn hồi hương cho khỏi bị lùa đi kinh tế mới. Ao rau muống nước đục ngầu mà thằng bé con rơi tòm xuống tưởng chết. Những luống khoai mì ốm yếu xiêu vẹo vì không người bón tưới thường xuyên. Căn nhà thấp lè tè, tối om chỉ nhỏ như một cái buồng, mái tranh, vách lá, nền đất nện… Mẹ tôi ở đó một mình, như bị đầy đọa, ra vào im lìm như cái bóng.
– Mẹ ơi, Mẹ lấy sẵn cho Bố tiền qua cầu!
Tiếng nói của nhà tôi lôi tôi về thực tại. Bầu trời đã loãng ra, trắng nhờ nhờ và mưa lất phất.
– Mẹ đừng lo, chỉ mấy tiếng đồng hồ là xong ngay mà. (Chúng tôi quen xưng hô với nhau như thế sau khi sanh thằng bé út).
Thấy tôi ngồi yên lặng, chắc lòng anh cũng đang hoang mang, lo lắng. Anh nói trấn an vợ hay để tự làm yên lòng mình.
Sau thủ tục nhập viện, đường đến nơi thử nghiệm hơi xa nên nhà tôi lấy xe lăn cho tôi. Mọi khi ngồi trên chiếc “wheelchair” cho chồng đẩy tôi luôn miệng đùa cợt, trêu chọc bác phu xe:
– Thiên bất dung gian nhé! Lấy vợ trẻ để mong về già được hầu, bây giờ phải đẩy xe cho vợ… hihihi…
– Hà hà…có anh giáo gian tưởng được vợ đấm lưng ai dè phải đấm lưng cho vợ!
Hôm nay tôi cười không nổi. Nhìn bóng in vào những cửa kính khi đi ngang, anh đã mang nét lụ khụ, lưng hơi còng xuống chứ không phưỡn ngực như thời trai trẻ, như những ngày chúng tôi mới quen nhau.
Ngày ấy cô nữ sinh mười tám tuổi cắp sách đi thi Tú Tài hai. Ông bố đã sửa soạn sẵn cho con gái chiếc áo dài trắng nội hóa sạch sẽ, thơm tho, phẳng phiu và buổi sáng đã hò hét bảo con em sửa soạn xe sẵn để đưa chị. Cô thí sinh cả đêm không ngủ, đọc nguyên cuốn Luận Lý Học dày cộm như đọc tiểu thuyết, không dám nói một lời, chỉ sợ những chữ mới nhét vào đầu sẽ rớt ra. Đến trường Gia Long, lần theo bản đồ chỉ dẫn, lần theo số báo danh, cô thí sinh đi tìm chỗ. Giờ đầu tiên là giờ thi Triết. Chỗ ngồi thi ngay đầu bàn nhất, phía bàn giáo sư, y như chỗ ngồi của cô trong lớp nhất A1 ở Trưng Vương. Đề thi vừa được viết trên bảng, con nhỏ thiếu điều rú lên vì… trúng tủ. Giở gói ô mai để ngay trước mặt và con nhỏ bắt đầu phóng bút.
– Thưa Thầy cho con xin thêm tờ giấy!
Con nhỏ đã viết lấp đầy tờ giấy thứ nhất. Thầy giáo coi thi đưa thêm tờ thứ hai, vuốt thẳng và trịnh trọng để trên bàn. Thỉnh thoảng con nhỏ nhón cục ô mai cắn một miếng rồi lại cắm cúi viết, đâu biết rằng người thầy giáo coi thi ấy đang chăm chú nhìn và cứ tủm tỉm cười.
Cái thuở ban đầu, cái buổi gặp gỡ đầu tiên chỉ giản dị như thế.
– Bà Nguyễn, mời bà theo tôi vào đây! Người y tá trẻ vui vẻ ra đón.
Sau khi thay y phục nhà thương, tôi lên giường nằm, bịch thuốc treo trên cao nhỏ từng giọt vào mạch máu, mũi được cắm ống Oxygen. Từng đợt y tá đến, đo máu, lấy máu, gắn máy đo nhịp tim. Nhà tôi vẫn được phép ngồi cạnh tôi, chưa phải ly cách.
Bác sĩ Z, người vẫn săn sóc tôi đến cùng hai bác sĩ trẻ, một nam một nữ. Cả hai đều chưa đến ba mươi. Cô gái xinh xắn, người tầm thước, tóc vàng, da trắng nõn, cặp mắt mở to trong veo màu hạt dẻ. Cô ta tự giới thiệu tên M, giải thích tiến trình và cho biết cô sẽ là người trực tiếp thực hiện cuộc thử nghiệm này. Một thoáng ngần ngừ, tôi nhớ lời dặn dò của một người bạn: “Mổ xẻ hay thử nghiệm quan trọng mi phải yêu cầu bác sĩ chính làm, mi đừng để sinh viên thực tập. Có chuyện gì là hối không kịp đó”. Bác sĩ Z người Ấn Độ, trưởng phân khoa phổi. Mặt ông thật tươi, hai tai dài, đẹp. Mỗi lần đến khám bệnh tôi thường gọi đùa ông là Ông Phật, ông chỉ mỉm cười. Nếu tôi từ chối, cô bác sĩ trẻ này sẽ buồn và nếu ai cũng từ chối thì làm sao sinh viên có cơ hội thực tập. Ý nghĩ lướt nhanh trong đầu và tôi vui vẻ trả lời là tôi rất hân hạnh được cô lo cho tôi. Như đọc được tư tưởng tôi bác sĩ Z nói:
– Bà Nguyễn, tôi sẽ có mặt trong suốt tiến trình này. Bà sẵn sàng chưa?
– Dạ sẵn sàng, thưa bác sĩ.
Nhà tôi nắm nhẹ tay tôi, cúi xuống nói nhỏ, giọng bùi ngùi:
– Bố ngồi ở phòng đợi, họ đưa Mẹ ra là Bố vào ngay.
Khẽ gật đầu, mắt tôi cũng cay cay.
Người y tá đẩy tôi qua một hành lang dài hun hút. Tôi thật sự cô đơn. Như mấy lần thử nghiệm trước, tôi sẽ được chích thuốc mê, tôi sẽ được đưa vào cơn chết tạm và khi tôi tỉnh dậy thì mọi sự đã xong. Nếu lần này tôi không dậy nữa… hình ảnh các người thân của tôi hiện ra, mặt mẹ tôi rõ nét, rồi đến chồng tôi, mấy đứa con, mấy đứa cháu bé bỏng, chị em, bạn bè… Tự nhiên nước mắt tôi ứa ra. Và như phản xạ từ tiềm thức, tôi niệm Phật.
Hai người y tá nhẹ nhàng chuyển tôi sang chiếc bàn dài phủ giấy trắng dưới chụp đèn trắng sáng, màu trắng sáng chói lòa. Căn phòng trắng lạnh lẽo. Mấy người xúm lại làm những sửa soạn cuối cùng, lại đo máu, đo nhiệt độ, đo Oxygen, lại lằng nhằng những dây cùng nhợ. Bác sĩ Z và hai bác sĩ trẻ đến, họ đã đội mũ và mang khẩu trang, chỉ còn hở cặp mắt. Tiếng dụng cụ khua chạm lanh canh. Tôi yên lặng tập trung tinh thần niệm Quan Thế Âm Bồ Tát.
Một y tá đưa tôi ly nước và viên thuốc:
– Bà Nguyễn, thuốc này sẽ làm bà thanh thản, thuốc làm bà thoải mái thôi, không phải thuốc mê.
– Tôi không bị mê, tôi vẫn tỉnh à?
– Đây là loại thuốc an thần, bà sẽ cảm thấy êm dịu, nhẹ nhàng, không phải thuốc mê. Nào, bà sẵn sàng chưa, chúng ta bắt đầu nhé!
Tiếng bác sĩ Z dịu dàng giải thích.
Bác sĩ M đến bên nói tiếp:
– Chúng tôi sẽ làm tê ngay chỗ đưa ống thử vào người, bà sẽ không cảm thấy đau đớn gì đâu.
Bấy giờ tôi mới quan sát quanh phòng, ngoài chiếc màn hình ghi nhịp tim và nồng độ oxygen trong máu ngay đầu giường còn một màn hình to bằng chiếc TV 52 inches treo trên tường.
Uống viên thuốc được một lát người tôi lâng lâng, chơi vơi như những cụm mây trắng và tôi chìm dần trong vùng mây trắng bềnh bồng trôi.
Mây bay, mây cứ bay… một thảm cỏ xanh hiện ra rồi đến khu vườn đầy hoa trước biệt thự nằm trên đường Cộng Hòa Đà Lạt. Một đám trẻ nô đùa, hái hoa, bắt bướm, chạy đuổi nhau, những tiếng cười khanh khách, giòn tan. Bồn hoa Quỳ, Hướng Dương đầy hoa vàng tươi đang chào nắng, những cánh Pensée mỏng manh rung rinh và những vạt hoa cúc vàng, cúc trắng nở rộ như reo cười. Hàng rào song sắt bao quanh biệt thự như được bọc bằng những khóm hoa hồng đủ màu sắc… Hình ảnh chị em tôi thời thơ ấu, mỗi năm được lên nhà bác ở Đà lạt nghỉ hè. Rồi như khúc phim được chuyển cảnh, tôi như đang nhìn thấy tôi với chàng tay trong tay trong khu rừng thông ven Hồ Than Thở, những cội thông già vươn cao, thẳng tắp. Tiếng lá reo vi vu. Khung cảnh thật tịch lặng. Nắng hanh hanh, gió se lạnh, tôi như đắm chìm trong hạnh phúc êm đềm và như quyện mình trong hơi ấm mới quen của người chồng mới cưới.
Chợt đau nhói, tôi vùng mình ú ớ.
– Bà Nguyễn, bà có sao không?
Tiếng bác sĩ Z.
Tôi nhẹ lắc đầu trở về thực tại. Tôi đang nằm trên chiếc bàn trắng trong bệnh viện, đang ở trong trạng thái chập choạng mơ màng, nửa mê, nửa tỉnh và tôi đã được trở về một quá khứ đẹp đẽ xa xưa.
Ngước nhìn lên màn hình, quả tim tôi đang đập phập phồng và hai lá phổi hiện ra với những đường chằng chịt như rễ cây. Tôi không phải soi vào nội tâm mà tôi đang nhìn vào bên trong thân xác và tôi thấy thật rõ một đường nhỏ giống như sợi chỉ đang luồn lách.
Tôi lại chìm đắm… tôi nhìn thấy người thiếu phụ trẻ trong bộ đồ đen bế thằng bé con chưa đầy một tuổi. Tôi lại nhìn thấy tôi trong Sài Gòn sau ngày mất nước. Tôi bế thằng bé đến một căn nhà ở đường Gia Long, căn nhà được tiếp thu để làm văn phòng ban cải tạo phường thuộc quận một. Tầng dưới kê một bàn giấy, mấy người ngồi làm việc. Tôi được chỉ lên tầng trên. Một căn phòng trống trơn, mắc độc một chiếc võng. Một người đàn ông khoảng năm mươi, cởi trần mặc chiếc quần dài bộ đội đang nằm toòng teng, một chân trên võng, một chân thả xuống đất để đu đưa. Tôi dợm mình quay xuống cầu thang.
– Chị kia, phải chị tới khiếu nại không? Chị vào đây!
Nhận ra ông ta là người đã lên lớp giảng chính sách của nhà nước về kinh doanh bữa trước tại thương xá Tam Đa, tôi bồng con quay lại, rón rén ngồi xuống ngay ngạch cửa. Cũng may khi được gọi đi, mẹ tôi đã cẩn thận dặn bế thằng bé theo để nếu có bề gì người ta phải trả thằng bé về nhà và mẹ tôi biết đường mà đi kiếm.
– Đâu, có chuyện gì chị nói đi!
– Thưa ông…
– Khỏi, chị khỏi gọi tôi bằng ông.
Tôi ngập ngừng:
– Thưa bác… Thưa chú…
Thấy ông ta yên lặng tôi nói tiếp:
– Thưa chú, cháu làm thợ may ở thương xá Tam Đa.
– Chị là chủ hay chị làm công?
– Dạ, cháu mướn tiệm, nhận may gia công.
– Rồi sao?
– Cán bộ đến nhà kiểm kê tịch thu của cháu cái máy may, máy vắt sổ và mấy xấp vải của khách đưa may.
– Chị là chủ tiệm, họ tịch thu là đúng rồi, mai mốt các cửa tiệm vào quốc doanh hết, các chị sẽ vào tập thể, nếu làm thợ may chị có máy của cơ quan, chị đâu cần máy riêng.
Nỗi uất dâng lên tới đỉnh đầu, tôi ráng dằn lòng nhỏ nhẹ:
– Thưa chú, nhà nước nói rõ là chỉ tịch thu những tư liệu kinh doanh, không tịch thu tư liệu sản xuất. Máy để cháu may mướn. Cháu đâu có bán máy may!
Ông ta gườm gườm nhìn tôi:
– Ai nói chị điều đó?
Tôi điềm tĩnh trả lời:
– Chú! Chính chú đã giảng điều đó. Cháu nhớ rất rõ. Cháu đã chăm chú nghe vì chú giảng hay lắm. Chú nói hay lắm.
Ông ta châm một điếu thuốc và rít một hơi dài nhìn tôi đăm đăm. Tôi lạnh cả gáy đợi phán quyết.
– Được rồi, chị để giấy tờ đây, chị về đi tôi sẽ cứu xét trường hợp của chị.
Đặt thằng bé vào chiếc ghế con gắn sau ghi đông chiếc xe đạp mini. Tôi đạp xe đi mà muốn òa lên khóc. Khóc cho vơi đi những ấm ức, những tủi nhục phẫn uất. Những con đường Sài Gòn che phủ bởi những hàng cây sao cao vời vợi, tiếp đến những con đường ngợp lá me xanh… Tôi chẳng còn thấy gì thơ mộng, nghĩ đến chồng đang trong trại tù cải tạo, tôi nhớ quay quắt và cùng cực trong nỗi cô đơn.
(Galang)
Màu trắng của mây lại bềnh bồng và tôi lại thấy tôi đang ngụp lặn trong màu xanh bát ngát của biển, từng đợt sóng nhấp nhô, nhấp nhô tung bọt trắng xóa vào bờ. Tôi đang ở bãi biển Galang. Tôi đang thở hít không khí tự do. Đầu óc thật thanh thản và hân hoan nghĩ đến tương lai tốt đẹp ở vùng đất hứa. Tôi dẫm chân lên cát ấm và chạy tung tăng trong gió. Gió quấn quít quanh tôi. Tôi ưỡn ngực hít một hơi thật dài.
Choàng tỉnh giấc, tôi mở mắt ra, chạm vào khuôn mặt bác sĩ M đang cúi xuống:
– Bà Nguyễn, bà tỉnh dậy nào. Mọi việc xong rồi. Bà là bệnh nhân thật tốt. Chúc bà mau bình phục.
Mấy người y tá xúm lại tháo dây, lau chùi và mặc áo lại cho tôi. Ba bác sĩ chào tôi và hẹn sẽ cho biết kết quả vào kỳ khám bệnh tới.
Họ lại chuyển tôi sang chiếc giường khi nãy và đẩy tôi về phòng hồi sức. Tôi phải nằm yên trong một tư thế, cứ một lát lại có người đến khám vết thương và ấn thật mạnh để khỏi tụ máu bầm. Sau ba giờ, chiếc nệm cứng dưới lưng khiến tôi mỏi mệt rã rời, người anh ách nước, miệng khô đắng và bụng thì đói meo.
Hai người khán hộ đến giúp tôi làm những vệ sinh cá nhân, nâng đầu tôi dậy cho uống nước, bón tôi từng thìa canh, tôi cảm thấy yếu đuối như trẻ con. Tôi mệt mỏi ngủ thiếp một giấc dài không mộng mị. Thức dậy, cô y tá đẩy tôi sang phòng cũ nơi tôi nằm chờ khi sáng và tôi lại nhìn thấy khuôn mặt thật thân quen.
Đỗ Dung
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)





.jpg)

