Thứ Tư, 23 tháng 9, 2026

Nhớ Thu - Sáng Tác: Ngô Trần Nguyễn - Ca Sĩ: Diệu Hiền


Sáng Tác: Ngô Trần Nguyễn
Tiếng Hát: Diệu Hiền
Thực Hiện: Đặng Hùng 

Thu Lạnh

 

Người đã đi rồi, đi quá xa
Bỏ ta ở lại với quê nhà
Hôm nay về lại thăm làng Đá
Ngơ ngẩn chiều tà ta với ta…

Giếng nước còn trong, bậc đã rêu
Chênh chao chiều vọng tiếng cu gù
Tháng chín thôi mà... sao đã lạnh
Thu vàng vồi vội rải nắng hanh.

Ừ, trách gì đâu, chỉ nhớ thôi
Người đi thì cũng đã đi rồi
Nào ai biết được duyên mà đợi
Mây tím lưng trời, thôi, cũng thôi.

Hà Nội, chiều 20 tháng 10.2017
Đặng Xuân Xuyến


Giữ Mừa Thu Cũ…

 

Thu về hong nắng bên hiên
Lá rơi từng cánh qua miền phù du
Nghe trong một thoáng sương mù,
Có mùa thu cũ về ru mơ mòng.

Thu xưa ai đứng bên sông,
Tóc mềm theo gió, tình nồng ngất ngây.
Một thời áo trắng mê say,
Một thời môi thắm, bàn tay ngại ngần.

Đường qua lá rụng bao lần,
Mà sao kỷ niệm vẫn gần như xưa.
Chiều thu phảng phất cơn mưa,
Nghe câu thương nhớ đong đưa cuối trời.

Thu về lòng bỗng chơi vơi
Vẫn hàng cây cũ, ngập trời lá bay.
Chỉ là năm tháng đổi thay,
Sao hương kỷ niệm vẫn cay mắt nồng?

Tuổi xuân như một đóa hồng,
Nở trong ký ức những vòng tơ vương
Tuổi hạc lặng lẽ bên đường
Nghe thu kể chuyện vô thường nhân gian.

Bâng khuâng đếm lá thu sang
Lá rơi để nhớ vô vàn mùa qua.
Thu về ai nhắn dùm ta
Người đi ngại bước chân ngà lãng du?

Người đi khuất lối sương mù,
Xin còn giữ mãi tình thu trong lòng.
Giữ từng thương nhớ mênh mông,
Giữ mùa thu cũ — giữ dòng hương xưa .

Tưởng Dung.
Cuối tháng 8, 2026

Chốn Cũ Xa Vời…


Tôi có một số hình ảnh của ngôi trường xưa để trong computer. Khi nhớ về Đà Lạt hoặc nhớ ngôi trường xưa, tôi mở máy ra để xem phong cảnh Đà Lạt xưa, đồng thời cũng không quên xem hình ảnh ngôi trường mà tôi đã theo học suốt bảy năm của thời trung học.

Hôm nay, ngày đầu thu bỗng dưng tôi nhớ Đà Lạt. Hình như bên ấy trời đang mưa, những cơn mưa đầu mùa thu. Tôi phải viết ngay những suy nghĩ mông lung không lớp lang thứ tự về một nơi xa cách nơi tôi đang ở nghìn dặm thẳm. Viết những dòng này coi như tôi đang có mặt ở những nơi mà tôi nhắc đến để lòng mình lắng xuống và để nghe cơn buồn chạy khắp cơ thể làm rợn cả tâm can.

Quê tôi ở xứ lạnh sương mù giờ chừng xa lắm! Nhớ lại như nhớ những hình ảnh trong các chuyện cổ tích. Tôi hình dung ra được một cách hết sức rõ ràng thành phố nơi tôi được sinh ra và lớn lên với những sáng nắng chiều mưa. Suốt bao nhiêu năm tôi cùng sương mù đi đến trường, cùng với mưa sau những chiều tan học và cùng với cái nắng dịu dàng vào những buổi chiều vàng lang thang trên Đồi Cù. Tôi đã từng bám theo những con đường dốc thời chưa khai phá. Mùa mưa chân tôi đùa trong những vũng nước đỏ ngầu với những thằng nhóc như tôi để giành nhau một trái banh quấn bằng dây vỏ chuối. Sách vở ướt nhèm mang về nhà bị mẹ mắng. Rồi tôi lớn lên bằng núi đồi, rừng xa rừng gần của đất Hoàng Triều Cương Thổ. Những địa danh nghe ra có bóng dáng cọp beo, thú ác…nào là Suối Tía, Mang Linh, Núi Bà, Núi Voi, Tour de Chase, Lapé Nord, Lapé Sud…Hồ Xuân Hương, Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu… chẳng có gì xa lạ đối với tôi. Thác phải là thác Pongour mới hùng vĩ. Bí hiểm phải là phía bên kia chân Núi Bà hay đảo hoang bên kia Suối Vàng Suối Bạc, nơi quân đội Nhật đã đến đó để tìm vàng. 

Tôi đã nhiều đêm ngủ trong những khu rừng thâm u đầy những vắt và sên rừng. Tôi từng uống nước từ những con suối trong vắt và lạnh ngắt vào những lần cắm trại. Tôi cũng đã từng trèo lên những cây thuộc loại cổ thụ để để bóc lấy những chùm phong lan rừng. Tôi đã từng được ngủ trên những căn nhà sàn của người Thượng và suốt đêm không tài nào nhắm mắt vì mùi phân heo từ dưới sàn bốc lên. Tôi được uống rượu cần đến ngất ngư say và nói được dăm ba tiếng của người Koho. Đó là Đà Lạt của tôi thập niên 50-60.


Mới đây tôi nhận được tấm ảnh trường trung học công lập Trần Hưng Đạo. Khi mở hình ra xem, tôi bàng hoàng xúc động khi thấy lại lớp của mình cách nay hơn 60 năm. Lớp đệ nhất A ở căn cuối cùng của dãy lớp dành cho đệ nhị cấp. Cầu thang mỗi sáng mỗi chiều đưa tôi vào lớp cùng với bạn bè, dạo đó lớp tôi có cả nữ sinh từ trường Bùi Thị Xuân sang học vì lúc đó trường Bùi Thị Xuân chưa có lớp đệ nhất. Một trường dành cho nam sinh lại có mấy chục nữ sinh đúng là “bông hoa lạc giữa rừng gươm”. Những nữ sinh tha thướt trong những chiếc áo dài đến trường, vào lớp đã làm cho ngôi trường thêm vui. Rừng thông xanh nghiêng nghiêng bên các dãy lớp cũng bỗng vui một dạo. Trò cũng vui. Mà thầy cũng vui. Tôi nhớ lớp tôi lúc ấy có 42 học sinh, trong đó nữ sinh chiếm gần một nửa sỉ số. Nay tôi vẫn còn liên lạc được khoảng 15 - 16 anh chị ở rải rác khắp nước Mỹ và Việt Nam. Thế mà thoắt đã hơn nửa thế kỷ. Buồn thiệt!

Sau năm 1975 thì trường của tôi đã được “giải phóng” nhằm góp phần tiêu diệt nên giáo dục Tự Do – Nhân Bản và Khai Phóng.


Nay thì ngôi trường của tôi đã được “giải phóng” nhằm góp phần tiêu diệt nền giáo dục Tự Do – Nhân Bản và Khai Phóng.



Phong Châu

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

Tóc Thề Trăm Năm - Thơ: Tiểu Vũ Vi - Nhạc: Trần chương Lương - Ca Sĩ: KaNa Ngọc Thúy

Thơ: Tiểu Vũ Vi
Nhạc: Trần chương Lương
Ca Sĩ: KaNa Ngọc Thúy

Về Đi Em - Trầm Vân



Ồ em xa lắc trời xa
Áo bay có gửi mượt mà về đây
Má hồng giọt nắng hồng rây
Mùa xuân trên mái tóc dài se hương

Nhớ em ngan ngát lòng buồn
Ly cà phê khuấy ngọt đường bờ môi
Khuấy lên nao nức tiếng cười
Những ngày hò hẹn gió lơi lả tình

Đôi hồn mở cửa bình minh
Sáng trong ánh mắt lung linh tia nhìn
Con đường ngan ngát hương quen
Ngã ba ngã bảy êm đềm vòng xe

Nhớ hoài ngày ấy đam mê
Những ngày đưa đón nhau về ngất ngây
Thế rồi lỡ lạc vòng tay
Em xa phố vắng bóng ngày lạnh tanh

Mưa thương nắng nhớ chòng chành
Câu thơ anh lượn một vành nón nghiêng
Vầng trăng thao thức qua đêm
Giấc mơ mộng ảo sương mềm quấn thương

Với tay là chạm nỗi buồn
Em đi bỏ lại làn hương tạ từ
Nỗi đau rụng lá vàng khô
Con đường phố hẹn mịt mờ đành sao

Thoảng lời âu yếm ngọt ngào
Quán khuya tiếng hát xanh xao đợi chờ
Về đi em, bóng chiều mơ
Đôi bờ mi chớp khép hờ dung nhan

Lòng ta lại trổ mai vàng
Tiếng chim lảnh lót hân hoan đón mừng
Nhịp cầu nối lại dòng sông
Khua chèo đò lượn gió hong mối tình


Trầm Vân
 

Thiên Địa Tào Lao


Trong TSYS anh Ngố có viết 2 bài “Tào lao thiên địa”, Bát Sách đọc rất khoái, vì anh tào lao thuộc loại có hạng và lại nhắc tới Bát Sách luôn. Nhìn chung Bát Sách không bị chê gì nhiều, chỉ bị chê mắc “khẩu nghiệp”, dám dùng bút để đánh đồng nghiệp “quần hồng”. Đây là nguyên văn “Ôi Bát Sách đại huynh ơi, người xưa có câu đừng uýnh lộn với đàn bà dù uýnh lộn bằng cành hoa, nay đại huynh lại đòi lôi bút ra giao đấu thì thật là khẩu nghiệp, khẩu nghiệp”.

Mà nói như vậy là vu oan giá hoạ cho Bát Sách. Bát Sách vốn gầy gò yếu đuối, thuộc loại thiếu dinh dưỡng… Ngày nhỏ, chơi bời lêu lổng, không chịu ăn uống học hành gì cả, nên bị ông già đánh cho một trận nên thân. “Yêu cho roi cho vọt” mà. Sau trận đòn duy nhất đó, Bát Sách cải tà quy chánh, học hành rất tấn tới, nhưng cơ thể thì lại không chịu tăng trưởng theo, do đó, chỉ ít năm sau, mấy đứa em của Bát Sách, vì hay ăn chóng lớn, đã qua mặt Bát Sách, và đủ sức đánh đấm Bát Sách tơi bời. Đến trường Bát Sách bị Thầy, bạn đánh, ra đường bị du đãng đánh… Đó là bị đánh về phần xác. Mẹ Bát Sách vốn hiền, suốt đời chưa bao giờ đánh con, nhưng có gì trái ý là bà khóc. Đó là bị đánh về phần hồn, nhiều khi còn đau gấp mấy lần bị đánh về phần xác. Vì vậy, Bát Sách rất thương mẹ, nhưng lại cũng rất sợ những dòng nước mắt của bà… Nói tóm lại, động từ “đánh” Bát Sách chỉ được dùng ở thể thụ động, ngoại trừ một trường hợp duy nhất. Số là ngày xưa, nhà Bát Sách có nuôi một con chó cún lông vàng, khi có chuyện gì bực mình, Bát Sách đấm đá con chó loạn cào cào, dù Bát Sách không thù ghét gì về nó cả. Nhưng con chó này khôn lắm, thấy Bát Sách về thì nó đứng xa xa dòm chừng, quan sát tình hình. Nếu thấy mặt Bát Sách vui vẻ hoà nhã thì nó chạy lại mừng, liếm tay, liếm chân, nếu thấy mặt Bát Sách hầm hầm thì nó cúp đuôi, chui tọt vào gầm giường mà trốn. Ngày xưa, Bát Sách đánh chó mà không hiểu vì sao, qua Canada học môn bệnh tâm thần, Bát Sách mới vỡ lẽ trong các “cơ năng tự vệ” (mécanisme de defense) của loài người, có một thứ được gọi là déplacement. Bát Sách dốt tiếng Tây nên đoán place là chỗ, déplacement là sự đổi chỗ, nhưng như vậy thì có nghĩa gì? Sau khi tra tự điển, đọc đi đọc lại nhiều lần Bát Sách mới hiểu déplacement là déplacer cái phản ứng của mình từ chỗ này ra chỗ khác, tiếng Việt mình gọi là “giận cá chém thớt”.

Người ta có nhiều “cơ năng tự vệ”, phải dùng hết mới giữ cho tâm thần mình được cân bằng. Bát Sách vì dùng được chỉ có một thứ, bị mất cân bằng nên mới trở thành Bát Sách. Sang Canada còn khổ hơn nữa, đánh thiên hạ thì không dám vì mình nhỏ con, đánh vợ con thì đi tù, cả đến con chó cũng không đánh được vì có hội bảo vệ súc vật dòm ngó, lạng quạng là nằm bóp…Sống ở xứ văn minh này, cẩu quyền được bảo vệ kỹ hơn nhân quyền, Bát Sách càng bị dồn nén, và có lẽ sắp lên chức Cửu Sách.

Bát Sách vốn có hai người bạn thân là Bát Vạn và Bát Văn, rất khoái cái tên Bát của mình, vì nó vừa tượng hình vừa nói lên được cái thú đam mê mã-tước. Ngờ đâu, anh Ngố lại có ác ý mượn lời “mẹ mìn” của anh để xếp Bát Sách cùng loại với Bát Giới.

Lúc đầu Bát Sách giận lắm, vì Bát Sách vốn mình hạc xương mai, chưa bị Hamburger, Hot dot nó hành hạ, thà anh gọi Bát Sách là Tôn Ngộ Không đi, Bát Sách còn dễ chịu hơn, sau khi đọc đi đọc lại bài của anh Ngố, Bát Sách bèn cười như thằng Bờm vớ được nắm xôi, chỉ vì có nhiều chỗ, Bát Sách được gọi là Đại ca. Chả biết anh Ngố già hay trẻ, lớn hay bé, ra trường trước hay sau, cứ được anh gọi là Đại ca là sướng rồi. Thì ra “cái gọi” của Việt Nam nó quan trọng và rắc rối thật. Gặp người lớn tuổi hơn mình thì gọi là cụ, bác, ông, bà, chú, anh v.v.. cùng tuổi với mình, sơ thì gọi anh, thân thì gọi mày. Nhỏ hơn mình thì gọi là cháu, em, cậu, cô, chú, nhưng ở đây là cô em, chú em. Trong họ hàng còn rắc rối hơn nữa: chị của mẹ là bác, em của mẹ là dì, cô, dượng, nhưng chị của bố thì gọi là cô. Vợ chồng gọi nhau thì thiên hình vạn trạng anh, em, mình, cưng, bồ, bố, mẹ, đôi khi mày, đồ khốn nạn, đồ mất dạy…
Tiếng Mỹ dễ nhất, chỉ có “you” với “me”, đỡ vất vả.

Trong TSYS, anh MT là người đầu tiên có nhã ý (hay ác ý) gọi Bát Sách bằng cụ, Bát Sách sợ quá, chối bai bải, nhưng những người quen, nhân bên Tàu có loạn, bèn gọi Bát Sách là cụ luôn, anh Thi sư Phạm Quân Khanh (thi sĩ, giáo sư), anh Tam sĩ Hoàng Chính (bác sĩ, văn sĩ, thi sĩ) cho sách đều đề: “Kính tặng cụ Bát Sách” làm Bát Sách nghe mình già đi 20 tuổi. Mấy người bạn thiên lôi đả của Bát Sách ở Montréal, trong đó có Bát Vạn và T.V.D, hễ gặp Bát Sách là một điều cụ, hai điều cụ. Họ suốt ngày lải nhải: “Cụ Bát Sách hán rộng nho thâm”. Bát Sách vốn ngây thơ, được đi tầu bay giấy, mũi nở lớn như cái bánh phồng tôm, cứ yên trí là mình giỏi thật, cho đến lúc hiểu ra thì đã muộn. Chữ hán đọc theo kiểu miền Nam có thêm chữ g, cũng được đi. Bát Sách là đàn ông háng rộng hay hẹp thì cũng vậy thôi, có xá gì, nhưng nho thì phải tươi, hoặc xanh, hoặc đỏ, chứ nho thâm thì đã đến lúc phế thải bỏ vào thùng rác thì còn chi là Bát Sách.

Ở Montréal, đa số nói tiếng Tây, nhưng tiếng Tây ở đây không giống tiếng Tây mẫu quốc, đặc biệt trong lúc đối thoại họ chỉ biết tutoyer. Người mình sang đây có lẽ bị lây. Ngày xưa, theo truyền thống y khoa, đàn em lúc nào cũng kính cẩn gọi đàn anh là anh xưng em, cùng lắm thì xưng tôi. Đến Québec, già trẻ lớn bé gì đều phải thi lại, cá mè một lứa, nên có một số đàn em, quên mất mình là còn trẻ, gặp đàn anh cứ toa, moa loạn cào cào, khiến Bát Sách nhớ đến một chuyện tiếu lâm Việt Nam. Anh B có một người bạn tên A sính tiếng Tây, hay nói chuyện kiểu Pháp-Việt đề huề, ra vẻ là mình trí thức… Anh B cáu lắm nhưng chưa có dịp để tỏ phản ứng. Một lần trên chuyến xe lửa Saigon-Đàlạt, 2 người đang ngồi ăn uống, thì anh B bỏ đi mấy phút rồi trở lại, mặt mày tươi rói. A hỏi đi đâu, B cười cười giải thích: “moa mắc tiểu quá mà cầu tiêu bị kẹt, nhịn không nổi nên moa phải ra đầu toa moa đái”. Máy điện tử của anh A nhanh lắm, hiểu ngay là bị chơi xỏ, nên từ đó bỏ hẳn tật chêm tiếng Tây.

Viết đến đây Bát Sách hết ý, y chang như ông Trương Kế bí thơ. Tưởng là mình tào lao có hạng, nào ngờ đâu ý cạn, thôi hết đường tào lao. Bát Sách vừa nản chí, vừa buồn, bèn “đột xuất” đến thăm người bạn. Hai vợ chồng hắn đi vắng, chỉ có cậu con trai lớn đang ngồi tâm tình với một nàng ý-tà-lồ xinh như mộng. Cô nàng đẹp lắm, da trắng, tóc vàng, người ngợm chỗ lồi, chỗ lõm phân minh đâu ra đấy, má đỏ hồng, đôi chân dài thẳng tắp. Nghĩ tới câu “Trường túc bất tri lao, hồng diện…”, Bát Sách mắt sáng lên như đèn ô-tô, nhìn đứa cháu ra chiều thán phục, và có hơi ghen tức. Cô bé thấy Bát Sách thì mất tự nhiên, đòi về. Đứa cháu tiễn bạn ra cửa, 15-20 phút sau mới trở lại, mặt đỏ gay, cười bẽn lẽn… nhưng nó còn nhớ lấy cho Bát Sách một lon la-ve. Bát Sách bèn dở giọng cha chú ra giảng bài luân lý: Ở đây Việt Nam thiếu gì, sao cháu cứ chơi với ngoại quốc làm ba má chau vừa lo vừa buồn. Nó cười: “Chơi với mấy cô Việt Nam mệt lắm bác ơi”. Tiếng “mệt” này quả là thuần tuý Việt Nam, và làm loé lên trong đầu Bát Sách biết bao câu chuyện tào lao.

Ngày xưa ở Việt Nam, con gái nhà lành thường làm bộ, làm tịch, treo cao giá ngọc, muốn tán mấy cô thì “mệt” thật, phải tử công phu.

Mới đầu thì trồng cây si ở cửa trường. Khi cổng chưa mở, bạn tìm chỗ dựng xe, đứng co ro ở gốc cây, thảm hại như một con khỉ. Lúc các em túa ra, vì mặc đồng phục, em nào cũng yểu điệu, nhưng lại có cái nón lá xùm xụp, nên bạn phải nghiễng chân, ngỏng cổ cò, mắt láo liên để tìm người hợp nhãn. Nếu nàng có cha mẹ hay tài xế đem xe hơi tới để đón thì đành chịu thua. Nếu nàng đi Solex hay xe đạp thì bạn có thể tà tà đi theo để biết nhà. Mới đầu đi xa xa, kiểu “em tan trường về, anh theo Ngọ về”, sau mới sáp lại gần để làm quen, trổ mòi tán tỉnh, thả dê ăn cỏ. Nếu nàng chịu ngay thì đỡ khổ; có khi nàng không chịu, mắng bạn rất thậm tệ, nhục nhã, nhưng kinh nghiệm cho thấy, kiên nhẫn là mẹ thành công, nếu bạn cứ mặt trơ trán bóng mà tiếp tục thì rồi nàng cũng siêu lòng. Có nàng chơi ác, dắt bạn đi vòng vo tam quốc khắp hang cùng ngõ hẻm, ghé nhà bà con họ hàng, ngồi mỗi chỗ một lát làm bạn đứng chờ hốc hác cả người.

Khi được phép đến nhà chơi là bạn đã tiến được một bước dài. Sáng thứ bảy, bạn sẽ tắm rửa sạch sẽ, áo quần tươm tất, hớn hở đến trình diện. Bạn ngồi co ro ở một đầu salon, em ngồi ở đầu kia cách xa cả thước và thường có một bà mẹ mặt mày rất hung ác ngồi áp trận. Bà mẹ này là nhân vật chính để coi giò coi cẳng của bạn, xem cách bạn ăn nói cư xử, nếu bạn quen sổ tiếng Đức thì phải rất thận trọng, giữ mồm giữ miệng. Ông bố thường chỉ ra bắt tay, giựt giựt vài cái rồi rút lui, nhưng đám anh chị em của nàng thì thường làm bộ đi ra đi vào, nhìn bạn cười cười để dò xét và châm chọc… Ngồi với em mà có bà mẹ kỳ đà cản mũi thì chán như cơm nếp nát, không làm ăn gì được, do đó bạn phải trường kỳ kháng chiến – Lý do thì cũng dễ hiểu. Các bà mẹ Việt Nam sinh sản nhiều, tử cung, bàng quang bị sa, nên thường phải đi tiểu luôn. Đó là cơ hội để bạn tấn công chớp nhoáng, tiến chiếm mục tiêu, nhưng không quên đề cao cảnh giác: hễ thấy tiếng dép lẹp kẹp là bạn phải tức tối trở về vị trí cũ. Cũng may, nếu bà nào cũng nín tè giỏi như bà Nghị Thoa ngày xưa, thì bạn đành chịu làm phận Dã tràng, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì. Các bà mẹ này đôi khi làm bạn sống dở chết dở. Một anh bạn của Bát Sách có lần bị bà mẹ vợ tương lai âu yếm hỏi:

“Nè cháu, nếu cháu đi xuồng với mẹ và vợ, xuồng bị chìm, mà sức cháu chỉ cứu được một người thôi thì cháu cứu ai?”
Bát Sách chỉ nghe kể cũng toát mồ hôi, bèn tò mò hỏi bạn: “Thế mày trả lời ra sao?”
Anh cười: “Lúc đó tao đỏ mặt, ú ớ mãi, không trả lời được, cứu mẹ bỏ vợ thì vô tình, cứu vợ bỏ mẹ thì bất hiếu, ai gả con cho. Tao bèn cương: Thưa bác, con không biết lội, nếu xuồng chìm chắc chết cả ba.
Sau này, đọc truyện của Hồ Trường An, Bát Sách mới biết câu trả lời trúng cách: Cứu mẹ rồi chết theo vợ thì mới được cả hiếu lẫn tình.
Anh bạn của Bát Sách, tuy trả lời không đúng ý khảo quan, nhưng được đậu vớt, bây giờ sống rất hạnh phúc…

Sau màn coi giò coi cẳng là đến màn điều tra lý lịch… bạn phải cung khai tam đại, gia cảnh cùng trình độ học vấn. Nếu bạn học đệ nhị thì rớt phần học vấn, nếu bạn học đại học thì có đường, khai man thì chết chắc, vì màng lưới mật vụ của nhà nàng thường tinh vi không kém gì CIA. Phần gia cảnh thường rắc rối hơn, vì đại đa số đều sai lầm. Nếu bạn cứ tình thực khai ngay: Cha công chức, mẹ nội trợ, 4-5 anh chị em đang đi học sống hoà thuận thì ít điểm lắm. Nếu bạn là con trai lớn thì điểm còn nhỏ nữa, vì nhiều trách nhiệm với gia đình. Muốn đậu chắc phần gia cảnh, bạn phải mồ côi, không anh chị em, tứ cố vô thân, để khi nàng về làm vợ, nàng sẽ kiêm luôn chức mẹ, chị và xếp mà không sợ bạn đem tiền chia năm xẻ bẩy.

Rồi đến màn lấy điểm. Màn này cũng dễ, vì có nàng làm nội tuyến. Ông, bà, cha, mẹ, anh chị em của nàng thích thứ gì, bạn chỉ việc hỏi nàng rồi chi địa. Các cậu công tử con nhà giàu thì dễ lắm, chứ Bát Sách nhà nghèo, còng lưng đi kèm trẻ mới có đồng ra đồng vào, nhiều khi rớt nước mắt mà vẫn chi ngọt. Khi được yêu thì dù nhịn đói, uống nước lã cũng rất vui. Lấy điểm người nhà chưa đủ: tử cư nhà nàng, bạn cũng phải cho vài tì ăn cà rem, cả con chó cún, nếu nó ngứa răng, gừ gừ muốn cắn thì bạn phải đưa bắp chân ra cho nó ngoạm một phát. Tuy đau một chút, nhưng bạn sẽ được nàng lăng xăng lấy bông băng, thuốc đỏ ra săn sóc vết thương cho bạn. Đó cũng là một “khổ nhục kế” để bạn được đôi tay mịn màng của nàng vuốt ve dù rằng có những chỗ khác, nếu được nàng vuốt ve, bạn sẽ hạnh phúc hơn nhiều, và bạn sẽ mãn nguyện, tự an ủi: “thà kéo rẻ hơn chạy xe không” như anh bạn họ Trần thường nói.

Khi bạn được phép dẫn nàng đi chơi là sắp đến lúc “đại công cáo thành” theo ngôn ngữ của ma đầu Vi Tiểu Bảo.
Nếu bạn yêu nàng thật tình thì chỉ việc đưa cha mẹ đến làm quen, rồi bàn tính, rồi từ từ tiến tới hôn nhân.
Nếu sau một thời gian tìm hiểu, bạn thấy nàng không phải là mẫu người yêu lý tưởng, muốn “di tản chiến thuật” thì mới là thiên nan vạn nan. Di tản chiến thuật cách nào để bảo toàn lực lượng? Thường thì bạn tìm cớ bận học thi, cha, mẹ, anh, em bị bệnh, mệt v.v.. để gặp nàng càng ngày càng thưa.

Nếu là người tự trọng, nàng sẽ hiểu, sẽ âm thầm chịu đựng, sẽ quên bạn và sẽ có một mối tình mới. Nếu nàng nhất quyết bắt xác bạn thì bạn sẽ khốn khổ, vì bạn ở đâu, nàng cũng mò ra, dù bạn đã trốn chui, trốn nhủi như trốn quân dịch. Nàng sẽ ám ảnh bạn, theo bạn khắp nơi làm kỳ đà cản mũi, phá đám để bạn không ngo ngoe gì được. Thời gian khổ ấy đã qua từ 30 năm, mà mỗi khi nhớ lại Bát Sách còn rợn tóc gáy, chưa nghĩ ra cách nào rút lui cho êm thấm. Giáo sư Nguyễn Đức Hiển có bài thơ “Cố hương nan cố hựu nan quy”, Bát Sách mạn phép đổi là “Giai nhân nan nhập hựu nan xuất”. Bát Sách có anh bạn cùng lớp, ngoài việc học ra, cái gì anh cũng giỏi nên ra đời thành công mỹ mãn. Ngày ở Việt Nam, Bát Sách đi lính, ở trại gia binh, ăn cơm gà mên, tiền lương chỉ đủ vặt mũi, đút miệng thì anh làm dân biểu, ở villa, ăn cao lâu, đi xe hơi có tài xế. Di tản được vài năm, Bát Sách còn ở appartement, đi xe bus, thì anh đã có château, ngồi xe Mã xa điền. Tài làm giàu của anh Bát Sách phục ít thôi, nghĩ là đời cố số, nhưng tài “di tản chiến thuật” của anh thì Bát Sách tôn làm sư tổ. Hồi trẻ, có lần sắp bị bắt xác, anh lén đến nhà gặp riêng bà mẹ người đẹp, đưa ra một tấm hình phổi lủng lỗ tùm lum, rồi rơm rớm nước mắt nói “con bị lao phổi nặng đến thời kỳ thứ ba, bác sĩ bắt nằm bệnh viện. Bác đừng nói cho em biết, khi nào lành bệnh, con sẽ lại thăm bác và em”. Lẽ dĩ nhiên, bác chạy và em cũng de, và anh rút lui một cách an toàn… Khi biết chuyện này, Bát Sách phục anh sát đất, chỉ tiếc là mình đã quá tuổi để thi hành mưu Gia Cát.

Đó là diễn tiến bình thường của những mối tình ở Việt Nam. Hồi đó, học y khoa có giá lắm, lên năm thứ tư, thứ năm là đã có nhiều người muốn bắt xác bạn, nhất là quý vị nhà giàu, có con gái tới tuổi cập kê. Họ không cần điều tra gia cảnh, lý lịch của bạn, chỉ cần cái bằng. Điều đáng buồn là con gái nhà giàu không phải lúc nào cũng đẹp. Em ngồi xe hơi, áo quần sang trọng nhưng da bánh mật, tóc rễ tre, mũi tẹt, mắt lồi, chân đi chữ bát. Do đó những người có một chút óc nghệ thuật và lòng tự trọng thì đều vắt giò lên cổ mà chạy. Tuy nhiên, thói đời vẫn thế, “máu tham hễ thấy hơi đồng là mê”, nên cũng có vài vị bịt mũi…có vị đang mặc quần kaki, mang dép cao su, đi xe đạp, thì một sớm một chiều mặc quần mohair, mang giày “Gia”, lái xế hộp, mặt tươi như hoa. Hiển nhiên là chàng vừa sa chĩnh gạo. Ít lâu sau, chàng gầy tọp, mặt dài thòng, mắt đầy quầng thâm, anh em cho là chưyện thường, vì chàng vừa đi thực tập, trực gác, vừa học thi, lại có vợ mới “đêm bảy ngày ba vào ra không kể”… Sau chàng thú thật “tao nằm giường lò xo không quen, cứ dập dà dập dình, lại có mấy con chó Berger sủa ông ổng suốt đêm, ngủ không được”. Việc lấy vợ giàu được bạn bè gọi là việc “bán thân”. Ngày đó, một số vị cũng muốn bán thân, nhưng không toại nguyện, có vẻ bồn chồn, bị bạn bè xếp vào loại “bán thân bất toại” (chớ nhầm với bệnh hémiplégie liệt nửa người trong y học)

Viết đến đây Bát Sách đã cạn hứng, đang nghĩ ngợi tìm ý, chợt thấy ngứa ngứa ở bắp chân, bèn đưa tay xuống gãi thì thấy sẹo ngang, sẹo dọc chằng chịt… Ôi những vết thương lòng của thời trai trẻ…Những con chó cún giờ đã mục xương… Những người đẹp ngày xưa, giờ phiêu bạt về đâu? Có lẽ các nàng đang hầm hầm ngồi áp trận canh chừng con gái…. Bát Sách nghe lòng bùi ngùi.

Bát Sách
TSYS 187



Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

Bởi Vì - Thơ: Thuỷ Trang - Nhạc& Hát: Nguyễn Hữu Nghĩa

Thơ: Thuỷ Trang
Nhạc& Hát: Nguyễn Hữu Nghĩa

Thu Nhớ



Lỡ bước chiều thu ngập lá vàng
Trời hết xanh mây trắng giăng giăng
Ai đem thu tới sao vàng úa
Khiến khách đường xa đứng ngỡ ngàng.

Mấy độ vàng thu mấy độ sầu
Chim trời lẻ bạn biết về đâu
Bơ vơ như kẻ còn xa nước
Trông ngóng ngày thêm tóc đổi màu!

Sông thu nay vắng đò đưa khách
Vì kẻ sang ngang cũng đã nhiều
Thương bến quạnh hiu nhiều lá đổ
Nắng chiều xế bóng thật cô liêu!

Thu nhớ người xa mấy dặm đời
Người xa cứ mãi mãi xa xôi
Đường qua lá đổ vàng tâm sự
Tương ngộ!...mơ hồ giấc mộng côi!

Ai chở thu về thêm nhớ nhung
Mây giăng lá đổ mưa mịt mùng
Trước sau che kín phương trời cũ
Biền biệt nghìn trùng cõi núi sông!.

Thu nầy bỗng nhớ mùa thu cũ
Vườn nhỏ nhà ai cúc rợp vàng
Tâm sự mình tràn lên mắt nhỏ
-Cớ sao tình mộng sớm ly tan!?

Hàn Thiên Lương

Phà Cũ Tình Xưa

 

Chiều xứ lạ thử qua phà một chuyến
Tim bồi hồi xao xuyến dạ miên man
Nhớ làm sao những phà cũ đò ngang
Bao kỷ niệm ùa về lần sang bến

Vội vả, ồn ào người đi kẻ đến
Bước lên phà rền vang những lời rao
Bánh mì, ổi xá lỵ, mận hồng đào
Nem chua, đu đủ, đá bào, mía ghim

Sóng dạt lục bình khi chìm lúc nổi
Những cánh chim không biết mõi lượn là
Tai văng vẳng tiếng đàn sao bi thiết
Quyện lời ca chừng da diết oán than

Chứ mà... đàn kêu tích tịch tình tan
Ai xui phụ thiếp lỡ làng …chàng ơi!
Cùng kiếp nhân sinh sao đời bạc bẻo
Xin người xót thương chia xớt phận nghèo

Gió xô sóng nước nhấp nhô uốn éo
Chạnh niềm riêng thắt thẻo nhớ Má tôi
Ngày ấu thơ theo Má dạo khắp nơi
Rạch Miễu, Tắc Cậu, Mỹ Thuận, Vàm Cống

Những chiếc phà qua sông nước mênh mông
Đưa bao lượt người theo giòng cuộc sống
Như kiếp tha hương vẫn thường mơ mộng
Ước một ngày qua lại bến phà xưa

Chiều qua phà trời bất chợt đổ mưa
Mình đứng đây không còn má ngày xưa
Tựa lan can môi mặn lệ nhạt nhoà
Gió sông lạnh, nhớ quê ta nhiều lắm

Trúc Lan KTP

Cô Hàng Nước Miền Hậu Giang


Thời gian: Đầu năm 1964
Không gian: Quán nước bên sông, một Quận lỵ Miền Hậu Giang.
Quán nhỏ của cô chiều hôm ấy không đủ chỗ ngồi. Gần ba mươi quân nhân rộn ràng đến. Họ phải tự đem những bàn ghế dã chiến, làm bằng gỗ thùng đạn pháo binh, mang ra khoảng thềm lộ thiên trước quán. Trời hôm đó nhiều mây trắng, mát và không mưa. Nắng chiều cũng đã phai.

Cô hàng cùng bà mẹ bận rộn đem thức uống, món ăn, đồ nhậu cho các quân nhân. Họ sau một cuộc hành quân tảo thanh, mới trở về nơi tạm đóng quân của Bộ Chỉ Huy tiền phương Trung Đoàn. Cô hàng trẻ tuổi, khoảng 18, nước da mịn màng, có nét đẹp của các cô gái miền sông nước trù phú nơi đây. Cô có một cô em gái nhỏ phụ giúp. Thêm bà Dì của cô lo việc nấu nướng phía sau quán hàng.

Anh là Y Sĩ Trung Uý mới ra trường, còn độc thân, được bổ nhiệm đến đơn vị này mới gần 5 tháng. Anh tự nhiên thành một “Y Sĩ Tiền Tuyến”. Nghe thơ mộng nhưng cũng có khá nhiều hiểm nguy. Anh nhớ rõ, khi bàn giao đơn vị, người Y sĩ đàn anh tiền nhiệm đã ân cần truyền nghề, dặn dò “Cậu cần hoà đồng với mọi Sĩ Quan và binh sĩ. Phải biết nhậu bia cho khá, thương đàn em trong Trung Đội Quân Y. Không biết nhậu, sẽ bị xem là Bác Sĩ Gà nuốt dây thung, Bác sĩ không chịu chơi”. Thế là anh cũng tập đánh bài, tập uống bia, tập hút thuốc lá. Nhớ có một buổi chiều anh đã ngồi lai rai, nhậu nhẹt, mình anh uống tới 5 chai bia 33 với vài sĩ quan trong đơn vị.

Có người kể cho anh là ngày xưa Chúa Nguyễn Ánh, tránh né những truy kích của Vua Quang Trung, một lần Chúa đã cùng đoàn tuỳ tùng, cung nữ lánh nạn tại vùng này, cũng như tại vùng Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp. Khi Chúa di tản, có lẽ e ngại vướng bận, đã để lại một số cung nữ nơi đây. Ông Đại Uý trưởng Ban Ba Trung Đoàn nói với anh là cô hàng này có thể là hậu duệ của một cung nữ ngày xưa. Nên mặc dù là dân dã, cô có sắc đẹp hiền hoà, dễ thương, nước da mịn màng, sống mũi cao, mái tóc mây dài.

Lần hành quân này, có đụng độ nhưng không ai tử thương. Chỉ có 3 binh sĩ bị mảnh lựu đạn, hai binh sỉ đạp chông, và một Thiếu Uý trúng đạn. Tất cả đã được săn sóc sơ khởi rồi được trực thăng tản thương đến Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ. Nghe nói, qua máy truyền tin siêu tần số, tình trạng ổn.

Nhóm quân nhân gồm cả anh đến quán quen thuộc này, ăn uống sau ba ngày hành quân lội bùn vùng sình lầy vất vả. Gặp lại cô hàng dễ mến. “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Không ai hy sinh trong cuộc hành quân vừa qua là một may mắn.

Quán hàng khá sơ sài nhưng chiều hôm ấy ồn ào với đám quân sĩ mới từ trận tuyến trở về. Thức ăn chẳng có gì đặc biệt. Cơm tấm, xôi đậu phọng, bánh mì chả, hột gà ốp-la… Đồ nhậu thường chỉ có tôm khô củ kiệu, khô mực nướng, đôi khi có nem từ quận Cái Răng Cần Thơ hay khô cá thiều từ Rạch Giá do ghe chở tới. Mùa nước nổi thì có nhiều cá, nhiều thuỷ sản tươi ngon.

Rộn ràng tiếng nói cười. Tiếng gọi thêm đồ uống, gọi thêm đồ nhậu của đám quân nhân. Mới hơn một tiếng đồng hồ mà cả toán đã dùng hết bốn két la-de 33. Chưa thấy ai say xỉn. Đúng là “Lính mà em”.
Một ông nói cùng cô hàng:
- Cô em ơi! Cho tụi anh thêm két la-de nữa.
Một ông khác:
- Hai két nghe em.
Cô hàng nói nhẹ nhàng:
- Thôi, các anh uống dzậy đủ rồi. Em lấy nước ngọt, nước trà đá các anh dùng nghe.
Một anh hạ sĩ ngồi ngay gần chỗ cô đang đứng:
- Cứ lấy thêm la-de đi em. Có thể tuần sau, anh bỏ xác ngoài mặt trận, đâu còn gặp lại em.
Cô hàng dịu dàng:
- Ngày mai các anh lại quán, uống thêm. Hôm nay uống nhiều rồi. Em hổng muốn thấy các anh say.
Đến lúc này, một anh Chuẩn Uý trẻ ngồi gần cô đứng dậy, mở nắp da cái bao súng Colt 45 đeo bên, bàn tay chỉ chạm nơi cán súng, nói:
- Em lấy thêm cho các anh đi cưng. Nếu không anh sẽ tự bắn vào tim anh. Anh sẽ chết vì em không cho anh uống thêm. Chết vui vì có hình bóng em trong trái tim tan vỡ.

Bỗng một tiếng súng nổ “Đùng”. Cô bán quán rũ xuống thềm, nằm xuội lơ trên nền đất.
Anh Chuẩn Uý đứng ngơ ngác. Súng Colt anh chưa rút ra khỏi bao mà! Thì ra một ông Thiếu Uý tinh nghịch, rút súng bắn một phát lên trời, gây tiếng nổ. Cô quán vì sợ nên xỉu! Cô xỉu thật!
Anh là Y sĩ vội đến, mở túi cứu thương, bẻ một ống thuốc, cho cô hít thở Amoniac. Anh lay mạnh cô hàng. Cô sớm hồi tỉnh, mặt tái xanh. Cô ôm lấy anh, lúc đó anh còn đang quỳ bên, lo cấp cứu cô.

Hôm sau, không biết được ai báo cáo, ông Trung Đoàn Trưởng cho lệnh gọi cả đám quân nhân lên. Ông khiển trách. Ông “nạo kỹ” cả bọn. Ông giảng “moral” về quân phong, quân kỷ, hơn nửa tiếng đồng hồ. Tuy vậy ông thông cảm, đời người lính tiền phương sống nay chết mai. Ông không nỡ phạt ai mười ngày trọng cấm ghi vào quân bạ.

Thế rồi từ hôm đó, anh Y Sĩ Trung Uý trẻ và “Cô hàng nước miền Hậu Giang” xinh đẹp quen thân nhau. "Tình anh lính chiến". Tình quê sông nước Hậu Giang hiền hoà. Một lần gần khuya, chỉ có anh và cô ngồi bên nhau trong quán. Anh ngây ngất vui, khẽ ngâm nhái theo 2 câu thơ của một thi sĩ thời tiền chiến:

Ta tưởng ta là Đường Minh Hoàng
Trong cung với nàng Dương Quý Phi

Quán nước mái lá với anh, bên người con gái đang tuổi thanh xuân, lúc đó là "Túp lều lý tưởng" hay là Cung Điện?
Cô hỏi “Anh hát bài gì thế? Hát thêm em nghe”.
Anh thư thả ngâm mà như hát trọn bài thơ Nhị Hồ:

Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi
Tôi yêu Ly Cơ hình nhịp nhàng
Tôi tưởng tôi là Đường Minh Hoàng
Trong cung nhớ nàng Dương Quý Phi
(Thơ Xuân Diệu)

Anh hôn cô. Tình yêu sớm nở… Anh trai thời loạn và Cô Hàng Nước bên sông.
Hai tháng sau Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Trung Đoàn anh di chuyển đến một nơi đồn trú mới, vì nhu cầu chiến sự.
Cô biết là duyên tình khó thành tựu. Anh đến rồi anh lại đi, như nhiều đơn vị đã qua đây trong mùa chinh chiến. Cô hiểu anh và cô có hoàn cảnh khác nhau. Cô không thể rời bỏ quê "có em thơ Mẹ già". Một lần cô nói cùng anh “Em ước gì anh chỉ là Trung Sĩ, và quê anh ở gần đây”. Riêng anh còn đang chờ có dịp đi tu nghiệp ngoại quốc.

Cuộc tình thoáng qua, nhưng đã để lại nơi anh không phải “Một chút gì để nhớ” mà là “Nhiều kỷ niệm khó quên”.

(Tháng 8, 2026)
Trần Văn Khang

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026

Cáo Phó Từ Gia Đình Trần Quốc Bảo

 


Khóc Mẹ - BéBé Trần

Bài thơ dưới đây, của BéBé Trần, (con gái lớn của tôi) Khóc Mẹ


Quý Linh Mục Chia Buồn Cùng Gia Đình Trần Quốc Bảo (LM. Phạm Bá Lãm, LM.Nguyễn Hữu Lễ, LM.Phạm Gia Lâm)

 

Lời Chia Buồn của Linh Mục Phạm Bá Lãm
Vãng lai,Phát Diệm Sg. · Tue, Sep 8 at 1:45 PM

Anh Bảo thân mến,
Em được tin chị Margarita Lại Thị Bạch Hường mới qua đời hôm 6/9. Em xin chân thành chia buồn với anh và các cháu. Em sẽ dâng lễ cầu nguyện cho linh hồn Margarita,

Em rất thương chị Hường, vì họ hàng thân thiết nhất với em, với 3 lần làm em họ chị Hường. Đã mất anh Châu, nay đến chị Hường, chỉ còn chị Hà ở San Jose. Dầu sao chị Hường cũng được đại thọ rồi. Còn anh Bảo: xin bảo trọng, nói theo kiểu: cứ sống cho đến chết!

Em về hưu được 4 năm, hiện ở Nhà Vãng Lai Phát Diệm gần Nhà thờ Phát Diệm, sức khoẻ coi như bình thường.

Chúc anh bình an và mạnh khoẻ, vâng theo ý Chúa.

Em, Lm. Giuse Phạm Bá Lãm
~~~~o~~~~
Lời Chia Buồn của Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ
Tại New Zealand Sun, Sep 13 at 6:57 PM

Kính gởi bác TRẦN QUỐC BẢO

Tôi là Linh mục Andrew Nguyễn Hữu Lễ, từ New Zealand. Hôm Thứ Bảy vừa qua, tôi đọc thấy bác thông báo tin buồn về sự ra đi của bác gái.

Tôi xin gởi lời PHÂN ƯU tận đáy lòng của tôi tới bác về sư mất mát không có gì có thể bù đắp này.

Trong Thánh Lễ Chúa Nhật hôm qua, tôi đã cầu nguyện cách riêng cho Linh Hồn MARIA MARGARITTA vừa mới qua đời.

Tôi sẽ tiếp tục cầu nguyện cho Bác gái.

Thân ái

Lm Andrew Nguyễn Hữu Lễ
~~~~o~~~~

Lời Chia Buồn của Linh Mục Phạm Gia Lâm
Giáo Xứ Quân Trấn, Nha Trang. Mon, Sep 14 at 4:57 PM

Kính thưa Bác

Nhận được tin Bác gái Maria Margarita Bạch Hường vừa hoàn tất cuộc lữ hành trần gian mà về bên Chúa

Con xin được hiệp thông cùng Bác và gia đình con cháu, cầu nguyện và phó dâng Bác Gái cho lòng thương xót của Thiên Chúa. Xin Chúa đón nhận và cho Bác Maria Margarita được an nghỉ đời đời trong Chúa và được sum họp với triều thần thánh trong vinh quang nước hằng sống
Con thành kính phân ưu cùng Bác và đại gia đình về biến cố này

Con, LM. Micae Phạm Gia Lâm CSsR

Trang Nhà Long Hồ Vĩnh Long Thành Kính Phân Ưu Cùng Gia Đình Anh Trần Quốc Bảo