Thứ Năm, 24 tháng 9, 2026

Lau Gương


Ngồi đợi chờ các thí sinh tranh tài đoạt giải GREAT ROMANTICS COMPETITION 2026. Các em với tuổi đời rất trẻ, nhưng tài năng về âm nhạc đã để lại trong lòng người nghe nơi khán phòng, niềm vui, sự hâm mộ, cùng tiếng vỗ tay cổ võ. Riêng tôi tiếng đàn sâu lắng với bao nỗi niềm chất chứa chạm vào trái tim, âm thầm lệ sa. Vì sao?

Tiếng đàn cello nhẹ lướt trên dòng nhạc của Schubert từ một thí sinh, đã đưa tôi về lại quê hương, nơi với lũy tre xanh, nơi những con đường làng quanh co, nơi với hình bóng Má. Những ký ức xưa cũ từ lâu ấp ủ trong tâm tưởng chợt ùa về.

Má, người thiếu nữ lớn lên bên dòng sông Rạch Bàng, với hoa tim tím màu, hai buổi sớm chiều lờ lững. Cũng vào tuổi đó, tôi còn chơi trò với lũ con nít trong xóm thì Má đã là cô dâu út trong gia đình Nội. Bao năm làm dâu, bao năm nuôi đàn con thơ dại, đến những 10 đứa. Lời dạy con dịu dàng nhưng không kém phần nghiêm khắc. Với gia đình chồng luôn trọng đạo khiêm cung. Với Ba, giữ trọn thủy chung. Ấy vậy mà tuổi 16 bước vào trường đời chí đến ngày rời khỏi cuộc đời Má vẫn là tấm gương soi cho các con và các cháu hiểu đời, khâm phục. Liệu mười sáu năm giáo dục của ngoại, có đủ cho một cô gái quê gánh nổi trọng trách làm người vợ hiền dâu thảo hay chăng? Đó là câu hỏi đã từng quanh quẩn trong suy nghĩ của tôi.

Má sống rất thật, bình dị, thân thiện, hòa nhã với mọi người, không trọng người giàu mà khinh kẻ bần cùng. Và một thứ tình cảm tôi nghĩ rằng vừa sâu sắc lẫn thiêng liêng mà Má dành cho các “chú lính”, người đã hy sinh thân mình, bảo vệ an nguy cho kẻ khác, qua câu nói dạy con, ra đường gặp các “chú lính” chọc ghẹo, “đừng mắng chửi nghe con vì họ là người sống nay chết mai”. Đến cuộc đổi đời khiến Má đã khổ ấy vậy mà Má vẫn vươn tay nâng đỡ, an ủi những người từng cầm súng đã sa cơ.

Đời người không dài, nhưng nỗi đau cứ trĩu nặng trên đôi vai Má từ thời này bước sang lúc khác. Đã từng bao năm sống trong vùng loạn lạc, dưới sự đô hộ, ruồng bố của giặc tây. Đã từng lâm hoạn nạn, thống khổ dưới chế độ sau 75, đưa đứa con này ra đi, vào phương trời vô định, đợi đứa tù đày khác trở về, mà lòng Má luôn bền, giữ vững.

Đời Má, nếu nhìn vào, rõ đẹp như bức tranh thêu...

Đời Mẹ! Đẹp bức tranh thêu
Chỉ lòng óng ánh thêm đều mũi kim
Thanh thanh họa nét nổi chìm
Hài hòa sắc thắm bình yên tâm hồn

Tuổi kề cận buổi hoàng hôn
Còn bao mũi khó ngõ dồn công lao
Ngắm tranh nào rõ phía sau
Bao nhiêu mối nối nỗi đau Mẹ hiền

... từng nỗi đau, Má đã kiên cường che giấu những giọt lệ.

Càng suy ngẫm, soi lại chính mình. Má ơi, con đã..., đang…, mãi...lau tấm gương tâm hồn theo từng góc cạnh. Nhưng con rất sợ, sợ một ngày nhìn vào gương vẫn úa mờ và không nhận ra chính mình.
Không, không được dùng chữ “nhưng”!
Con đang lau gương Má ơi!

Kim Phượng
24.9.2026 Lần Giỗ Thứ 24

Trung Thu Và Má...

   

Nhắc đến ngày Trung Thu và những dòng cảm xúc về Mẹ, người ta thường nhớ ngay đến áng văn tràn đầy tình cảm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, mang tên Bông Hồng Cài Áo. 

"Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận, vậy mà lắm lúc ta không biết, để lãng phí một cách oan uổng. Mẹ là một món quà lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta..."

Đoạn văn ấy thấm đẫm chất thơ, dịu dàng và sâu lắng như một vầng trăng tỏa sáng và hình ảnh người Mẹ đẹp vô ngần

Từ ý niệm thiêng liêng đó, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã phổ nhạc thành bài hát cùng tên. Thật diễm phúc cho những ai đang còn Mẹ.

"Một bông Hồng cho em
Một bông Hồng cho anh
Và một bông Hồng cho những ai
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn"

Tôi nhớ ngày con gái tôi còn bé, tôi đưa cháu học tiếng Việt cuối tuần. Khi đón cháu về,trên xe cháu tự hào khoe với tôi. Mẹ ơi, hôm nay Dì Sáu Phượng dạy,(chị tôi là cô giáo dạy tiếng Việt) con học thuộc làu bài thơ. Tôi bảo con đọc và tôi bật cười vì ...

"Năm xưa tôi còn bé, 
Mẹ tôi mới chào đời, 
Lần đầu tôi mới hiểu 
Thân phận kẻ mồ côi. 

Bạn có biết sao tôi cười không?
Cháu đã đọc nhầm chữ "qua đời" thành chữ "chào đời". Hai chữ này có ý nghĩa hoàn toàn trái ngược 
Vì sự nhầm lẫn ngây ngô của trẻ thơ, câu thơ của cháu bỗng nhiên mang một ý nghĩa rất nghịch lý: Mẹ mới sinh ra "chào đời" mà người con lại thành "kẻ mồ côi". Thực chất, đây là những dòng thơ vô cùng xúc động trong bài Mất Mẹ (hay còn có tên là Khóc Mẹ) của nhà thơ Xuân Tâm:

"Năm xưa tôi còn bé
Mẹ tôi đã qua đời
Lần đầu tiên tôi hiểu
Thân phận kẻ mồ côi..."

Đi học về mà con tự hào khoe đã "thuộc làu" bài thơ để tặng mẹ thì đúng là một kỷ niệm vừa ấm áp, vừa buồn cười, vừa đáng yêu vô cùng. 

Má của con ơi...
Như đêm nay bầu trời thật sáng, con lại thấm " thân phận kẻ mồ côi". Bên vầng trăng con thì thầm nhớ Má. Mới đó mà ngày Má qua đời đã 24 năm rồi

Trăng ơi vằng vặc trên cao
Có nghe tiếng má ngọt ngào ầu ơi
Lặng chờ cho đến bao giờ
Giọt rơi giọt tủi bơ vơ một mình

Ngày Tết Trung Thu chính là ngày Tết của đoàn viên, ngày mà vầng trăng rằm tỏa sáng tròn đầy nhất trên bầu trời. Đứng dưới ánh trăng ấy, những người con viễn xứ hay những ai may mắn còn mẹ đều không khỏi bồi hồi khi nghĩ về đấng sinh thành.
Có phải vầng thơ hay đoạn văn trong tác phẩm ấy đang gợi lại cho con những kỷ niệm sâu sắc trong lòng. Những hoài niệm đón Trung Thu thanh bình ngày xưa bên gia đình mình.

Năm nay ngày giỗ Má cũng đúng ngày Tết Trung Thu, con cũng được an ủi phần nào khi nhớ về ngày tháng xa xưa, một hồi ức khó quên, một kỷ niệm này lại làm con nhớ đến khoảng thời gian ấm áp ấy. 

Cả nhà quây quần quanh manh chiếu trải ở sân vườn, cùng nhau đàn hát dưới ánh trăng, những bài ca nhi đồng, chóp chép hạt dưa, hạt sen rang, bánh mứt ngọt ngào hương vị, Như bài hát Rước Đèn Tháng Tám rộn rã niềm vui của Nhạc Sĩ Đức Quỳnh:

"Tết Trung Thu
Bánh quà đầy mâm
Em bé nhà
Ưa đứng quây quần
.....
Hạt dưa
Nghe cắn nổ lốp đốp
Người vui hoan
Nói cười hấp tấp
Bao tấm lòng
Mừng đón trăng rằm"
....
Tít trên cao dáng tròn xinh xinh.
Soi xuống trần ánh sáng dịu dàng.
Rằm tháng tám bóng hằng trong sáng.
Em múa ca vui đón chị Hằng."


Nhất là hình ảnh ấy đã khắc sâu vào tâm khảm con, dáng Má ôm đàn Mandolin, đàn và reo dòn dã. Cả nhà hòa tiếng hát Thằng Cuội của Nhạc Sĩ Lê Thương. Phải chăng Má là chị Hằng để con được "múa ca vui đón Má". Giờ đây tâm trạng con cũng không khác chi chú Cuội đang ôm mãi "một mối mơ"... 

"Bóng trăng trắng ngà có cây đa to
Có thằng Cuội già ôm một mối mơ
....
Mười lăm tháng Tám trời cho
Một ông trăng sáng thật to
Các em thích cười muốn lên cung trăng
Cứ hỏi ông Trời cho mượn cái thang"

Thật là một niềm hạnh phúc trọn vẹn và ấm áp vô cùng. Việc tiếp tục truyền ngọn lửa văn hóa từ thế hệ con sang thế hệ cháu, rồi đến cả các em thiếu nhi trong cộng đoàn, chính là cách giữ gìn cội nguồn bền vững nhất của người Việt nơi hải ngoại.
Hình ảnh người bà, người cô cùng các em nhỏ rước đèn, trong đêm rằm gợi lên sự nối tiếp thiêng liêng đầy tình gia đình và nghĩa đồng bào. 

'Tết Trung Thu rước đèn đi chơi
Em rước đèn đi khắp phố phường
Lòng vui sướng với đèn trong tay
Em múa ca trong ánh trăng rằm
.....
Tùng dinh dinh c​ắc tùng dính dính
Tùng dinh dinh cắc tùng dính dính
Em rước đèn này đến cung trăng"

Dù không còn ở quê nhà, nhưng chính những lớp học tiếng Việt cuối tuần và những đêm Trung Thu như thế này đã tạo nên một không gian văn hóa Việt Nam thu nhỏ, thanh bình và đầy ắp tiếng cười trẻ thơ.
Nhìn các cháu nhỏ tung tăng cầm chiếc lồng đèn giấy kiếng, bập bẹ hát những bài đồng dao tiếng Việt, chắc hẳn trong lòng các phụ huynh cũng đầy ắp niềm tự hào và xúc động.
Chính Ba Má đã gieo vào lòng con trẻ sợi dây yêu thương thiêng liêng này, từ đời này qua đời khác trong con cháu đời nay.

Má ơi, đêm nay dưới ánh trăng con khẩn nguyện cho Má của con thật vui và hạnh phúc, trong từng lời  hát con đang thì thầm với Má. Má là ánh trăng soi sáng đời các con cháu và dẫn dắt chúng con, để chúng con được  tiếp bước Ba Má đi trong thánh thiện và yêu thương nha Má của con!
Thương yêu con gửi về Má!

Con gái Chín của Má.
Kim Oanh
Giỗ lần thứ 24 của Má 2026

Khóc Bạn - Lộc Bắc


Cám ơn Lữ đã báo tin buồn về người bạn thân thiết của tôi Ds Lê quý Đông (D70, 13 TTD).
Xin mời quý anh chị đọc bài văn tế bạn Đông.
Kính

Lộc Bắc 
***
Khóc bạn.

Sinh tử vô thường, hợp tan khó liệu
Âm dương cách trở, thương nhớ khôn nguôi
Giờ đây bạn đã đi rồi
Dăm câu thơ thẩn nhớ thời hàn vi

Nhớ khi xưa.

Năm 65, Dược phòng Vườn Chuối
Gặp Quý Đông, Xuân Lữ, Trọng Hoàng
Thêm Long, Phẩm, Nhuận kết thành
Một nhóm bạn hữu mang danh Thất Hiền.

Riêng với Đông có nhiều kỷ niệm
Ta không xe: S50 Honda đưa đi học.
Ta ít tiền: bao bọc ăn, chơi
Vũng Tàu, Mỹ Tho, Biên Hòa, Long Khánh một thời lãng du.

Hồng Ngự, miền tây, mưa phùn bùn ngập
Thanh Điền, miền đông, nắng đổ bụi tuôn
Thiên tai, cứu trợ cáp duồn
Học thi bỏ mặc đi luôn tháng trời!

Tôi Quy Nhơn bạn đèo heo Phú Bổn
Năm 73 biệt phái dạy Quy Nhơn
Cuối cuộc chiến, tan hàng mạnh ai nấy chạy
Biệt tăm hơi, sau mới biết: bạn nổi trôi tận xứ Cờ Hoa.

Than ôi


Được tin dữ Bạn xuôi tay về đất
Bỏ gia đình, bè bạn với thương đau
Xa xôi vẫn nhớ tới nhau
Tuổi già bệnh hoạn xe tầu khó kham.

Điếu bạn

Như thời chinh chiến, việc trăm năm
Lên trực thăng, bạn đi trước
Dọn bãi quang, lần lượt đón nhau về!

Thắp nén tâm hương vài dòng thơ thẩn
Nén ngậm ngùi, thương lắm bạn hiền ơi.
Quý Đông vĩnh biệt cuối trời!

Lộc Bắc
Sept26

Điếu Thi Khóc Bạn

  

(Thân gởi hương linh bạn Hồ văn Thảo 
Khóa 5/69KQ)

Mấy chục năm rồi xa cách nhau
Tình thân chiến hữu vẫn ghi sâu
Tưởng rằng chia sẻ niềm vui hưởng
Nào có ngờ đâu vĩnh biệt trao
Nhận được hung tin như sét đánh
Tâm tư đau đớn tợ bồ cào
Từ nay siêu thoát miền Tiên Cảnh
Thương nhớ tràn dâng lệ ứa trào.
Từ nay siêu thoát miền Tiên Cảnh
Nhớ bạn Thảo ơi ! Lệ ứa trào.

Lâm Hoài Vũ
Set 20 , 2026

Vĩnh Biệt Kịch Sĩ Thúy Liễu - Bóng Mát Một Đời Của Cố Nhạc Sĩ Lữ Liên -Trần Quốc Bảo

Tấm ảnh Bà chụp với cây đàn của Ông Lữ Liên, 
bức ảnh này anh Hùng và Bà rất thích

Khoảng 4 giờ chiều chủ nhật, ngày 24 tháng 9, ca sĩ Dạ Lý gọi báo tin buồn: “Cô Thúy Liễu vừa mới ra đi hơn một tiếng đồng hồ”.. Chị chưa nói dứt lời, tôi thấy lòng mình chơi vơi buồn bã – một nỗi buồn khó tả thành lời.

Kịch sĩ Thúy Liễu, tên thật Nguyễn Thị Liễu, sinh năm 1925 đã từ giã trần gian lúc 2g30 chiều Chủ Nhật ngày 24 tháng 9 năm 2017 tại Quận Cam (Cali). Hưởng thọ 92 tuổi.
Cách đây 2 tháng, nhiều thân hữu trong Biệt Đoàn nhắn tin “Cô Thúy Liễu vừa vào Bịnh viện G.G cấp cứu”.. người viết và chủ nhiệm Việt Tide lập tức ghé đến ngay, nhưng nhân viên trực ở Bịnh viện cho biết không bịnh nhân nào có tên Lieu Nguyen. Thế là lại đi về với tâm trạng buồn vô tả.
Cách đây vài năm, người viết thỉnh thoảng ghé thăm Bà. Kịch sĩ Thúy Liễu dành nhiều thì giờ nhắc lại chuyện ngày xưa đi hát của hai người.. Cuộc đời đang vui mà giờ đây Ông đã bỏ bà ở lại trần gian hẩm hiu một mình, nói xong bà rơm rớm lệ.. Ngồi tâm sự với Bà thêm nửa tiếng, tôi đứng dậu kiếu từ ra về. Bà nắm chặt đôi tay, nhẹ nhàng âu yếm bảo: “Mẹ cám ơn con ghé thăm nhé”…

Chiều thứ hai, tôi ghé đến nhà bà ở, gặp được Anh Hùng, là người con trai duy nhất của Bà. Anh là người sống với Mẹ từ thời thơ ấu từ những ngày ở Phố Hàng Khoai (Hà Nội), cho đến lúc vào trong Nam, ngoại trừ những lần đi lính không ở nhà, còn ngoài ra, Anh và Mẹ không hề xa nhau bao giờ. Những câu chuyện, những đoạn đường văn nghệ của Ông Bà Lữ Liên – Thúy Liễu, mà anh gọi bằng hai chữ “cậu mợ” rất trìu mến, anh thuộc vanh vách, anh nhớ tỏ tường.. gần như từng nam tháng ông bà đi trình diễn ở đâu và ra sao… Suốt 45 phút, ngồi âm sự với anh trong căn nhà nhỏ, người viết biết thêm được nhiều về một người nghệ sĩ rất yêu nghề và cũng cực kỳ yêu chồng thương con hơn bao giờ hết.

Bà Thúy Liễu sau ngày Ông mất hay tìm lại những hình ảnh xa xưa 
để nhớ về người chồng tài hoa.

Kịch sĩ Thúy Liễu thời trẻ đóng cải lương cho đoàn Kim Xuân (em gái nghệ sĩ Kim Chung). Sau 1954, hai mẹ con từ Bắc lưu lạc vào Saigon, thời gian đầu mướn nhà của kịch sĩ Ba Bé (chồng nghệ sĩ Xuân Dung), lúc đó Ba Bé đang làm trong Đại Đội Chiến Tranh Tâm Lý. Ông hỏi cô Thúy Liễu muốn đi làm trong chỗ này không? Dĩ nhiên, cô mừng quá nhận lời, thế là Ông dẫn cô Thúy Liễu vô làm Dân Chính (lúc đó dưới quyền Trung Tá Châu). Thời gian làm việc tại đây, kịch sĩ Thúy Liễu gặp ông Lữ Liên, cả hai cùng cảnh ngộ nên rất quý thương nhau. Anh Hùng kể lại: “Tôi còn nhớ kỳ đảo chính hụt ông Diệm, ngày 11 tháng 11 năm 1960, các binh sĩ trong Đại Đội trong tình trạng cắm trại, mẹ tôi ngày ngày nấu đồ ăn sai tôi đạp xe đạp từ nhà Bùi Viện đạp xe lên tận nơi Ông đang đóng (gần Sở Thú) đem đồ ăn vào cho Ông.. Tính từ ngày đó, cho đến khi Ông mất, năm 2012, Ông Bà ở với nhau trên 52 năm dài”..
Sau khi giải ngũ, nhạc sĩ Lữ Liên cộng tác với đài Mẹ Việt Nam, vì thế khi biến cố 30/4/1975 trờ đến, Ông Bà được tàu bốc ra Phú Quốc rồi sau đó đi Guam, còn anh Hùng đi bằng đường Khánh Hội trên con tàu Bông Hồng 9 thẳng tiến tới Subic Bay. Hơn một tháng sau, cả 3 gặp lại nhau tại trại Pendleton, lúc ấy đã là tháng 6.

Những người ra khỏi trại sớm thường gửi thư kể lại hoàn cảnh sống của họ ra sao, đời sống thế nào? Người định cư ở Texas thì than nơi đây nóng quá, còn người đi Chicago thì chê xứ gì quá lạnh, riêng ông bà có mấy người bạn được sống tại Cali thì cho rằng nơi đây khí hậu mát mẻ khá giống Đà Lạt ở Việt Nam.. và chính những điều kể lại như thế đã khiến ông bà Lữ Liên quyết định trụ lại cho đến khi nào có người sponsor ở Cali thì ông bà mới chịu xuất trại. Cũng nên nói thêm, nhạc sĩ Ngọc Bích lúc đó đi có một mình nên nhập chung vào ở một nhà.

Tháng 12 năm 1975, bốn người được một nhà thờ bảo trợ về sống ở Quận Cam. Nhà có 2 phòng: một dành cho ông bà Lữ Liên, phòng còn lại là của Anh Hùng và nhạc sĩ Ngọc Bích. Đầu tháng 1 năm 1976, nhà thờ kiếm được việc làm ca đêm cho 3 người ở thành phố Irvine, phần bà Thúy Liễu ở nhà lo bếp núc. Ở đây, hãng xe mua lại những xe cũ đã phế thải, họ cho người kéo về để nhân viên đập ra lấy những phụ tùng còn xài được… Công việc khá nặng nhọc không hề phù hợp với những đôi tay mềm yếu như nhạc sĩ Lữ Liên, Ngọc Bích.. thế là nhân cơ hội ông Lữ Liên liên lạc được với nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, tác giả Đường Xưa Lối Cũ rủ Lữ Liên thành lập lại ban tam ca trào phúng để đi trình diễn.. Nghe vậy, cả hai ông thợ nhạc sĩ “tay yếu chân mềm” bèn “quit job” sau khi làm được một tháng trời. Hai ông mời thêm ông Vũ Huyến vào, thế là đủ bộ để thành ban tam ca AVT hải ngoại.

Trong chuyến sang Châu Phi dự lễ xưng Vương năm 1977, phái đoàn nghệ sĩ đi dạo phố chụp lưu niệm. Từ trái sang phải: Lữ Liên, Cao Thái, Thúy Liễu, Mỹ Hóa, Hoàng Thi Thơ, Thùy Linh, Hoàng Thi Thư, Long, Ngọc Bích, Thúy Nga

Những tháng đầu của năm 1976, ông Ngọc Bích về sống với con ở thành phố Torrance, còn ông Vũ Huyến sống ở Los Angeles, đến cuối tuần thì hai ông kéo xuống Quận Cam để tập hoặc đi trình diễn với ông Lữ Liên. Bà Thúy Liễu lúc này cũng góp một tay trong vở kịch Cô Gái Điên mà vai chánh do Kiều Chinh thủ diễn (ở Việt Nam vai này do cô Xuân Dung đảm trách). Năm 1977, trong chuyến đi Phi Châu nhân dịp vua Bokassa xưng vương, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ cũng mời ban AVT có cả cô Thúy Liễu góp mặt trong 1, 2 tiết mục trong đó.

Năm 1993, anh Hùng lấy vợ. Hai năm sau, mua được căn nhà mobile home xinh xắn gần khu Phước Lộc Thọ, từ đó 3 người ở căn nhà này cho đến bây giờ.

 
Từ trái sang phải: Đặng Mỹ Hạnh, Trường Kỳ, Xuân Hồng, Lữ Liên, Hoàng Thi Thao, Thúy Liễu năm 2005 phái đoàn ghé nhà thăm Ông Bà

Ngày 16 tháng 2, năm 2006, một buổi tiệc sinh nhật mừng nhạc sĩ Lữ Liên 89 tuổi và kịch sĩ Thúy Liễu 81 tuổi đã được tổ chức ở nhà hàng Pagolac với sự tham dự của các con Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Lan Anh, Thúy Anh.. và các nghệ sĩ trong Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương khắp nơi đổ về, trong đó có sự hiện diện của nhạc sĩ Anh Linh, thành viên đầu tiên của ban AVT từ San Jose ghé về tham dự. Một năm sau, năm 2007, sau một lần té nặng, sức khỏe và trí nhớ Ông bị sa sút rất nhiều.


Ngày 16 tháng 2, năm 2006, một buổi tiệc sinh nhật mừng nhạc sĩ Lữ Liên 89 tuổi và kịch sĩ Thúy Liễu 81. Từ trái: Kiều Mỹ Loan, Dạ Lý, Kim Oanh, Phương Hồng Quế, Tuấn Ngọc, Xuân Sơn, Phượng Linh, Mỹ Hóa, Kiều Loan và hàng ngồi với ông bà Lữ Liên, Thúy Liễu và Khánh Hà

Giờ đây, linh hồn Bà đã bay về cõi vĩnh hằng.. Cầu nguyện nơi đó sẽ là một trời an lạc, hạnh phúc dành cho những con người thật đáng yêu như Bà. Hãy ngủ yên Bà nhé… Chương trình tang lễ sẽ được tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ loan báo trong số này, xin xem trang 8.


(Trích bài Trần Quốc Bảo đăng trong trang thanhthuy.me phát hành ngày 28 tháng 9 năm 2017)
Trần Quốc Bảo

 

 

Lồng Đèn Tuổi Thơ

Có những kỷ niệm tưởng đã ngủ yên theo năm tháng, nhưng chỉ cần một ánh trăng, một tiếng trống lân hay một câu hát cũ bất chợt vang lên, cả một trời tuổi thơ lại hiện về nguyên vẹn.

Với tôi, Tết Trung Thu không chỉ là ngày hội của trẻ thơ, của những chiếc lồng đèn lung linh dưới ánh trăng rằm, mà còn là một ngày rất riêng, ngày tôi chào đời. Vì thế, mỗi mùa trăng tháng Tám trở về cũng giống như một dấu mốc đưa tôi ngược dòng thời gian, trở lại với căn nhà xưa, có Bố, Mẹ, bạn bè, những con đường quen thuộc và những tháng ngày hồn nhiên tưởng như sẽ chẳng bao giờ mất đi.

Nhưng cuộc đời cũng như vầng trăng: có lúc tròn, có lúc khuyết. Những mùa Trung thu rực rỡ của tuổi thơ rồi cũng đổi thay theo vận nước và hoàn cảnh gia đình. Từ chiếc lồng đèn đẹp được cha mẹ mua cho đến chiếc đèn ngôi sao tự tay chẻ tre, dán giấy; từ những đêm vô tư chạy theo tiếng trống lân đến những tháng ngày sống trong lo âu; rồi cuối cùng là một chuyến ra đi bỏ lại quê hương phía sau, mỗi mùa Trung thu đã trở thành một dấu chấm trên con đường đời tôi.

Nhiều năm sau, giữa một đêm Trung thu nơi xứ người, tôi lại nhìn thấy vầng trăng tròn năm cũ. Trăng vẫn thế, nhưng người đã ở một phương trời khác. Và tôi chợt hiểu rằng có những con đường chúng ta có thể tìm về, có những nơi chốn chúng ta có thể trở lại, nhưng tuổi thơ thì chỉ còn một lối về duy nhất — KÝ ỨC.

Bài viết này là câu chuyện về những mùa trăng như thế. Một chút tuổi thơ, một chút quê hương, một chút ly hương và rất nhiều nỗi nhớ, được giữ lại qua hình ảnh của một chiếc lồng đèn năm nào.

Lồng Đèn Tuổi Thơ

Khi nói về Tết Trung Thu, con nít thường nghĩ ngay đến những chiếc đèn lồng đủ màu sắc, còn người lớn thì nghĩ đến những chiếc bánh nướng, bánh dẻo thơm ngon bên tách trà nóng. Riêng với tôi, Tết Trung Thu còn mang một ý nghĩa đặc biệt hơn, bởi ngày ấy cũng là ngày sinh nhật của tôi. Có lẽ vì vậy mà từ thuở nhỏ, tôi vẫn thường nghĩ rằng đêm rằm tháng Tám có một điều gì đó thật đặc biệt dành riêng cho mình. Ngày tôi chào đời.

Ước mơ của tôi trong ngày sinh nhật thật đơn sơ. Tôi chỉ mong có được một chiếc lồng đèn mới, chờ cho trời vừa chập choạng tối là thắp ngọn nến nhỏ bên trong, rồi cùng đám bạn tung tăng đi khắp xóm. Đứa nào cũng nâng niu chiếc đèn của mình như một món quà quý giá. Đèn ông sao, đèn cá chép, đèn giấy kiếng xanh đỏ nối đuôi nhau lung linh trong bóng tối. Vừa đi, chúng tôi vừa nghêu ngao hát bài ca Trung Thu quen thuộc mà tất cả những trẻ thơ nào cũng biết: “Tết Trung Thu em đốt đèn đi chơi, em đốt đèn đi khắp phố phường…”, một giai điệu đã theo tôi suốt những năm tháng tuổi thơ và cho đến tận hôm nay, mỗi lần nghe lại vẫn khiến lòng tôi bồi hồi nhớ về những mùa trăng cũ.

Ngày còn bé, tôi đâu để ý nhiều đến chuyện sinh nhật. Thuở ấy, sinh nhật không nhất thiết phải có bánh kem, không có những ngọn nến cắm theo số tuổi, cũng chẳng có những món quà được gói bằng giấy màu thật đẹp. Tôi cũng chẳng thấy mình thiếu gì. Bởi ngày sinh nhật của tôi đã có cả một vầng trăng tròn trên trời, có những chiếc lồng đèn sáng lung linh ngoài ngõ, có tiếng trẻ con gọi nhau, có tiếng hát rước đèn vang lên trong xóm và có tiếng trống múa lân tùng… tùng… cắc… tùng… từ đâu vọng lại.

Bây giờ nghĩ lại mới thấy những mong ước ngày ấy sao mà nhỏ bé, vậy mà niềm vui lại thật lớn. Chỉ cần một ngọn nến cháy sáng trong chiếc đèn giấy, một miếng bánh được chia cùng anh chị em, một đêm chạy sau lưng con lân đến mỏi chân cũng đủ để làm nên một ngày sinh nhật thật trọn vẹn. Có lẽ vì thế mà trong ký ức của tôi, sinh nhật và Tết Trung thu chưa bao giờ là hai ngày riêng biệt. Chúng hòa vào nhau thành một miền kỷ niệm: có ánh trăng, có đèn lồng, có tiếng trống lân, có những câu hát của trẻ thơ và có bóng dáng những người thân yêu của một thời đã xa.

Rồi một ngày, những biến động của lịch sử đã làm cán cân cuộc sống nghiêng sang một phía khác. Những mùa Trung thu vui vẻ của tuổi thơ tôi cũng từ đó mà dần thay đổi. Cuộc sống gia đình ngày càng khó khăn. Những điều trước kia tưởng thật bình thường bỗng trở nên xa xỉ. Những chiếc lồng đèn cá chép, đèn con rồng, đèn bươm bướm hay những chiếc đèn giấy kiếng xanh đỏ mà tôi từng háo hức chờ đợi mỗi độ tháng Tám về, giờ đây không còn nằm trong khả năng của cha mẹ tôi nữa. Tôi bắt đầu hiểu rằng có những lúc trong cuộc đời, người ta phải tập quên đi những điều mình từng rất mong đợi.

Trung thu vẫn đến. Trăng tháng Tám vẫn tròn. Nhưng căn nhà của chúng tôi không còn giống như những mùa Trung thu năm trước. Thay cho những chiếc lồng đèn xinh xắn mua ngoài phố, chúng tôi tự đi kiếm tre, mua giấy rồi ngồi cắt, dán để làm những chiếc đèn cho mình. Đơn giản nhất là chiếc đèn hình ngôi sao thật lớn. Mấy thanh tre được chẻ nhỏ, buộc lại thành khung, bên ngoài dán giấy. Nó không có những màu sắc lung linh của chiếc đèn cá chép ngày xưa, cũng chẳng có những hình thù ngộ nghĩnh khiến một đứa trẻ phải đứng nhìn say mê trước cửa tiệm.

Nhưng đó là chiếc đèn mà chúng tôi có thể có trong những ngày gia đình túng thiếu. Tôi biết chắc Bố Mẹ còn buồn hơn chúng tôi rất nhiều. Bởi cha mẹ nào chẳng muốn cho con mình một chiếc lồng đèn đẹp trong đêm Trung thu? Nhưng khi từng bữa ăn, từng món chi tiêu trong gia đình đều phải tính toán, thì một chiếc lồng đèn dù nhỏ bé đến đâu cũng có thể trở thành một món xa xỉ. Và có lẽ chính từ những mùa Trung thu ấy, tôi bắt đầu lớn lên mà không hay. Tôi không còn đứng trước những chiếc lồng đèn ngoài phố để ao ước. Không còn nhắc cha mẹ mua cho mình chiếc đèn này hay chiếc đèn kia. Tôi biết trong túi của cha mẹ không còn dư tiền để mua những niềm vui như thế. Có những điều một đứa trẻ chẳng cần ai giải thích mà vẫn hiểu. Chỉ là nó hiểu bằng một nỗi buồn rất riêng của tuổi thơ.

Bài hát năm nào vẫn còn đó: “Tết Trung thu em đốt đèn đi chơi…” nhưng câu hát nghe sao đã khác. Ngoài kia, trăng vẫn sáng. Trẻ con vẫn có thể chạy chơi. Tiếng trống lân đôi khi vẫn vọng về từ một nơi nào đó. Nhưng trong lòng tôi, Trung thu không còn nguyên vẹn như những năm tháng trước. Và cũng từ những ngày ấy, tôi dần nhận ra rằng Trung thu không còn là ngày đặc biệt dành riêng cho mình nữa. Tôi gần như quên rằng đó cũng là ngày sinh nhật. Không còn mong muốn một món quà; không còn chờ một chiếc bánh; không còn háo hức đợi trời tối để thắp chiếc lồng đèn rồi chạy ra đầu ngõ. Sinh nhật cứ lặng lẽ đi qua, cùng với Trung thu, năm này sang năm khác.

Vầng trăng rằm tháng Tám vẫn tròn như thuở nào, nhưng tuổi thơ của tôi đã bước sang một khúc quanh khác. Sau này, khi đã đi qua nhiều năm tháng, tôi mới hiểu: có những biến cố lịch sử được ghi lại bằng ngày tháng và những trang sách, nhưng cũng có một thứ lịch sử khác được ghi trong ký ức của mỗi gia đình. Với tôi, ký ức ấy đôi khi chỉ đơn giản là sự khác biệt giữa một chiếc lồng đèn cá chép được cha mẹ mua cho ngày trước và một chiếc đèn ngôi sao bằng tre, bằng giấy mà chúng tôi phải tự tay làm trong những năm sau. Hai chiếc đèn. Hai mùa Trung thu. Và ở giữa chúng là cả một khoảng đời đã đổi thay.

Để rồi những năm sau đó, tôi không còn những đêm Trung thu vô tư cầm lồng đèn chạy chơi cùng bạn bè trong xóm. Những tiếng cười, tiếng gọi nhau í ới mỗi khi trăng vừa lên cũng dần thưa vắng. Cả những câu hát Trung thu quen thuộc ngày nào, như “Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to…”, cũng dường như lùi xa theo một thời tuổi thơ. Không phải Trung Thu không còn đến; trăng vẫn lên vào mỗi đêm rằm tháng Tám, nhưng lòng người đã khác.

Cuộc sống chung quanh tôi lúc ấy phủ lên một nỗi bất an mà khi còn quá nhỏ, tôi chưa thể gọi tên. Chúng tôi bắt đầu biết dè dặt trong lời ăn tiếng nói, biết có những chuyện trong gia đình không nên kể với người ngoài. Ngay cả với bạn bè, những người trước kia từng cùng nhau chạy khắp xóm rước đèn, đôi lúc chúng tôi cũng không còn dám vô tư như trước. Tôi sống với nỗi lo rằng một lời nói vô tình của mình, hay một câu chuyện nào đó về gia đình bị người khác kể lại với công an, cũng có thể mang đến những điều chẳng lành. Hai chữ “phản động” ngày ấy đối với tôi thật đáng sợ. Tôi chưa hiểu hết ý nghĩa của nó, chỉ biết rằng nếu hai chữ ấy gắn vào một gia đình thì cuộc sống vốn đã khó khăn lại càng thêm bất an.

Có lẽ đó là lúc tuổi thơ trong tôi thực sự chấm dứt. Không có một ngày nào báo trước. Không ai nói với tôi rằng: "Từ hôm nay, con không còn là một đứa trẻ nữa." Nhưng tôi biết mình đã khác. Một đứa trẻ đúng ra chỉ nên lo ngọn nến trong chiếc lồng đèn bị gió thổi tắt, lại bắt đầu lo một câu nói của mình có thể gây phiền lụy cho cha mẹ. Một đứa trẻ đúng ra chỉ nên chạy theo tiếng trống lân ngoài đầu ngõ, lại bắt đầu học cách nhìn trước ngó sau và giữ những điều trong nhà ở lại trong nhà. Và rồi đến một ngày, tôi ra đi. Hai chữ “ra đi” nghe thật nhẹ, nhưng chuyến đi ấy đâu chỉ là bước chân rời khỏi quê hương. Tôi ra đi là bỏ lại phía sau căn nhà đã che chở cho mình suốt những năm tháng đầu đời. Bỏ lại mái trường, con đường quen, góc phố cũ. Bỏ lại những người bạn từng cùng tôi cầm lồng đèn chạy dưới ánh trăng. Bỏ lại những mùa Trung thu có tiếng trống lân tùng… tùng… cắc… tùng… và những câu hát trẻ thơ từng vang lên trong xóm nhỏ. Và đau hơn hết, tôi bỏ lại gia đình.

Ngày bước xuống con tàu ấy, tôi không biết phía trước là gì. Không biết con tàu sẽ đưa mình đến một bến bờ tự do hay sẽ nằm lại đâu đó giữa biển khơi. Tôi chỉ biết mình phải đi; đó không phải là một chuyến du lịch. Không có hành lý được chuẩn bị chu đáo, không có tấm vé khứ hồi, cũng chẳng có một ngày trở về được ghi sẵn trong lịch. Tôi bước xuống tàu như đang giao chính mạng sống của mình cho số phận giữa Biển Đông. Phía sau là quê hương; phía trước là biển cả; ở giữa chỉ là một con tàu nhỏ mang theo những con người không biết ngày mai mình sẽ ở đâu. Có lẽ vào giây phút ấy, tôi đã chính thức bỏ lại tuổi thơ.

Chiếc lồng đèn năm nào không còn nữa; tiếng trống lân đã ở lại phía sau; bạn bè đã ở lại phía sau; mái trường đã ở lại phía sau và cả vầng trăng Trung thu của những ngày thơ ấu dường như cũng ở lại trên bầu trời quê cũ. Nhiều năm sau, mỗi khi nghe lại một giai điệu Trung thu quen thuộc, tôi vẫn có cảm giác như mình đang nghe tiếng gọi từ một nơi rất xa. Không phải vì khoảng cách xa, mà vì thời gian. Bởi quê hương có thể tìm đường trở về; con đường cũ có thể tìm lại; mái trường xưa có thể một ngày nào đó ghé thăm, nhưng tuổi thơ thì không có chuyến tàu nào đưa ta trở về.

Tôi đã ra đi như thế, mang theo rất ít hành trang, nhưng mang trong lòng cả một quê hương và có một điều khi ấy tôi chưa hề nghĩ đến: ở một nơi nào đó bên kia biển, rồi sẽ có một đêm rằm tháng Tám. Trăng vẫn sẽ tròn. Người ta vẫn gọi đó là Tết Trung Thu. Và ngày ấy vẫn sẽ là ngày sinh nhật của tôi. Chỉ có điều, từ đó về sau, mỗi lần nhìn trăng, tôi sẽ không còn chỉ nhớ mình vừa thêm một tuổi. Tôi sẽ nhớ đến một đứa trẻ năm nào từng cầm chiếc lồng đèn chạy khắp xóm; nhớ những người bạn cũ; nhớ mái nhà; nhớ gia đình; và nhớ một quê hương mà trong một chuyến đi định mệnh, tôi đã phải để lại phía sau.

Rồi tôi cũng đến được bến bờ bên kia. Sau những ngày lênh đênh giữa biển, sau những phút giây mà sự sống và cái chết đôi khi chỉ cách nhau bằng một cơn sóng, tôi đặt chân lên một vùng đất xa lạ. Tôi đã sống. Tôi đã đi đến nơi mà ngày ra đi mình chỉ dám nghĩ đến như một niềm hy vọng mong manh, nhưng phải đến mùa Trung thu đầu tiên ở xứ người, tôi mới thật sự hiểu rõ hai chữ “xa quê”.

Hôm ấy cũng là ngày sinh nhật của tôi, nhưng không có đèn lồng ngoài ngõ, không có tiếng trẻ con gọi nhau đi rước đèn, không có tiếng trống lân từ đầu phố vọng về và cũng chẳng có ai nhắc rằng hôm nay là sinh nhật tôi. Giữa cuộc sống mới với bao điều phải lo toan, ngày rằm tháng Tám đến thật âm thầm. Nếu không tình cờ nhìn lên bầu trời và thấy vầng trăng tròn, có lẽ tôi cũng đã để ngày ấy trôi qua như bao ngày bình thường khác. Tôi đứng nhìn trăng thật lâu. Lạ thay, trăng nơi xứ người cũng tròn như trăng quê nhà. Cũng một màu sáng ấy, cũng vầng trăng đã từng soi xuống con đường nhỏ nơi tôi cùng đám bạn cầm lồng đèn chạy chơi thuở bé, nhưng dưới ánh trăng này không có căn nhà của cha mẹ tôi; không có mái trường cũ; không có những khuôn mặt thân quen; không có đám bạn năm nào. Tôi chợt nhớ những mùa Trung thu của tuổi thơ đến nao lòng, nhớ chiếc đèn cá chép, đèn ông sao, những chiếc đèn giấy kiếng xanh đỏ với ngọn nến nhỏ chập chờn bên trong. Nhớ những đêm cả bọn vừa đi vừa hát những bài ca Trung thu quen thuộc. Nhớ tiếng trống lân tùng… tùng… cắc… tùng… khiến đám trẻ ở đâu cũng bỏ chạy ra đường.

Tôi nhớ cả những mùa Trung thu nghèo khó về sau, khi cha mẹ không còn khả năng mua cho chúng tôi những chiếc lồng đèn ngoài phố, anh em phải kiếm tre, mua giấy rồi tự tay làm lấy; ngày ấy tôi từng buồn vì chiếc đèn của mình không đẹp, bây giờ nghĩ lại, tôi chỉ ước được một lần trở về ngồi bên cha mẹ, tự tay chẻ vài thanh tre, dán vài tờ giấy để làm lại chiếc đèn đơn sơ ấy. Có những thứ khi còn trong tay, ta chẳng biết quý; đến khi mất đi rồi, mới hiểu đó từng là cả một gia tài.

Đêm Trung thu đầu tiên nơi xứ người, tôi không có bánh sinh nhật, cũng không có bánh Trung thu. Không có những ngọn nến để thổi, chỉ có một vầng trăng thật lớn treo trên bầu trời xa lạ. Tôi nhìn trăng và tự hỏi: "Không biết giờ này ở quê nhà, cha mẹ có đang nhìn lên cùng một vầng trăng hay không? Không biết mẹ có nhớ hôm nay là ngày sinh nhật của đứa con đang lưu lạc nơi phương xa không? Không biết cha có đứng ngoài hiên nhìn trăng rồi tự hỏi con mình giờ đang ở đâu không? Khoảng cách giữa chúng tôi lúc ấy không còn tính bằng con đường từ nhà đến trường, cũng chẳng phải tính từ đầu xóm đến cuối xóm. Mà là cả một đại dương.

Tôi bỗng nhớ đến những ngày còn nhỏ, khi sinh nhật chẳng có bánh kem hay quà cáp mà tôi vẫn thấy mình sung sướng. Bởi lúc ấy tôi có cha mẹ bên cạnh. Có anh chị em. Có bạn bè. Có một mái nhà để trở về sau khi chơi Trung thu mỏi chân. Còn đêm ấy, tôi đã có được điều mà mình đã đánh đổi rất nhiều để tìm kiếm: một cuộc đời mới. Nhưng tôi cũng hiểu rằng có những thứ đã nằm lại phía bên kia của biển. Tuổi thơ, bạn bè, mái trường, gia đình, quê hương và một phần của chính tôi.

Tôi không còn là đứa trẻ đứng chờ trời tối để được thắp chiếc lồng đèn nữa. Tôi đã trở thành một người xa xứ, bắt đầu học một ngôn ngữ mới, làm quen với những con đường mới, những khuôn mặt mới và tập xây dựng cuộc đời từ gần như hai bàn tay trắng. Nhưng có những điều không cần phải học lại. Đó là nỗi nhớ. Nỗi nhớ dường như tự biết đường tìm về. Chỉ một vầng trăng cũng đủ. Chỉ một câu hát cũ cũng đủ. Chỉ cần đâu đó vang lên vài tiếng quen thuộc của một bài ca Trung thu ngày trước, là trong khoảnh khắc tôi lại trở thành đứa trẻ năm nào, tay cầm chiếc lồng đèn, chân chạy theo bạn bè giữa con đường nhỏ quê hương.

Năm tháng sau đó, tôi đã trải qua thêm nhiều mùa Trung thu trên đất khách. Cuộc sống dần ổn định hơn. Rồi nơi có người Việt sinh sống cũng có bánh Trung Thu, có múa lân, có những chiếc lồng đèn đủ màu. Trẻ con lại được cha mẹ dẫn đi xem hội. Tiếng trống lân lại vang lên. Những bài hát Trung thu ngày cũ lại được cất lên bằng giọng của một thế hệ sinh ra và lớn lên rất xa quê hương của cha mẹ chúng. Có những lúc đứng giữa một đêm hội Trung thu đông người, tôi bỗng thấy mình vui mà cũng thấy lòng se lại. Cảnh vật dường như đã trở về. Có đèn, có bánh, có lân, có tiếng hát, có cả vầng trăng tròn. Nhưng những người của mùa Trung thu năm cũ thì không thể nào trở lại đầy đủ nữa. Và tôi hiểu ra rằng đối với một người xa quê, có những ngày lễ không chỉ để vui; đó còn là những chiếc cầu đưa người ta trở về với ký ức. Trung Thu đối với tôi chính là một chiếc cầu như thế. Mỗi năm, khi trăng tháng Tám lại tròn, tôi bước qua chiếc cầu vô hình ấy để trở về căn nhà ngày xưa, về con đường nhỏ, về với đám bạn trong xóm, về với chiếc lồng đèn có ngọn nến leo lét và về với cha mẹ của những năm tháng còn trẻ. Để rồi khi ký ức khép lại, tôi lại trở về với hiện tại và chợt nhớ: "À, hôm nay cũng là sinh nhật mình." Ngày bé, tôi tưởng rằng Trung thu đặc biệt vì đó là ngày sinh nhật của tôi. Sau một đời đi qua biết bao đổi thay, tôi mới hiểu điều ngược lại: Chính vì tôi sinh ra vào ngày Trung Thu nên mỗi lần trăng tháng Tám trở về, cuộc đời lại cho tôi một dịp để nhớ mình đã từ đâu mà đến, đã đi qua những gì và đã để lại những gì trên con đường đời. Và từ đó, tôi không còn mong sinh nhật mình có bao nhiêu ngọn nến. Tôi chỉ mong mỗi năm vẫn còn được nhìn thấy trăng. Chừng nào còn nhìn thấy vầng trăng tháng Tám, tôi vẫn còn có một con đường để trở về tuổi thơ, dù con đường ấy chỉ còn tồn tại trong ký ức.

Tạ Quang Tuấn
Trung thu 2026

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2026

Nhớ Thu - Sáng Tác: Ngô Trần Nguyễn - Ca Sĩ: Diệu Hiền


Sáng Tác: Ngô Trần Nguyễn
Tiếng Hát: Diệu Hiền
Thực Hiện: Đặng Hùng 

Thu Lạnh

 

Người đã đi rồi, đi quá xa
Bỏ ta ở lại với quê nhà
Hôm nay về lại thăm làng Đá
Ngơ ngẩn chiều tà ta với ta…

Giếng nước còn trong, bậc đã rêu
Chênh chao chiều vọng tiếng cu gù
Tháng chín thôi mà... sao đã lạnh
Thu vàng vồi vội rải nắng hanh.

Ừ, trách gì đâu, chỉ nhớ thôi
Người đi thì cũng đã đi rồi
Nào ai biết được duyên mà đợi
Mây tím lưng trời, thôi, cũng thôi.

Hà Nội, chiều 20 tháng 10.2017
Đặng Xuân Xuyến


Giữ Mừa Thu Cũ…

 

Thu về hong nắng bên hiên
Lá rơi từng cánh qua miền phù du
Nghe trong một thoáng sương mù,
Có mùa thu cũ về ru mơ mòng.

Thu xưa ai đứng bên sông,
Tóc mềm theo gió, tình nồng ngất ngây.
Một thời áo trắng mê say,
Một thời môi thắm, bàn tay ngại ngần.

Đường qua lá rụng bao lần,
Mà sao kỷ niệm vẫn gần như xưa.
Chiều thu phảng phất cơn mưa,
Nghe câu thương nhớ đong đưa cuối trời.

Thu về lòng bỗng chơi vơi
Vẫn hàng cây cũ, ngập trời lá bay.
Chỉ là năm tháng đổi thay,
Sao hương kỷ niệm vẫn cay mắt nồng?

Tuổi xuân như một đóa hồng,
Nở trong ký ức những vòng tơ vương
Tuổi hạc lặng lẽ bên đường
Nghe thu kể chuyện vô thường nhân gian.

Bâng khuâng đếm lá thu sang
Lá rơi để nhớ vô vàn mùa qua.
Thu về ai nhắn dùm ta
Người đi ngại bước chân ngà lãng du?

Người đi khuất lối sương mù,
Xin còn giữ mãi tình thu trong lòng.
Giữ từng thương nhớ mênh mông,
Giữ mùa thu cũ — giữ dòng hương xưa .

Tưởng Dung.
Cuối tháng 8, 2026

Chốn Cũ Xa Vời…


Tôi có một số hình ảnh của ngôi trường xưa để trong computer. Khi nhớ về Đà Lạt hoặc nhớ ngôi trường xưa, tôi mở máy ra để xem phong cảnh Đà Lạt xưa, đồng thời cũng không quên xem hình ảnh ngôi trường mà tôi đã theo học suốt bảy năm của thời trung học.

Hôm nay, ngày đầu thu bỗng dưng tôi nhớ Đà Lạt. Hình như bên ấy trời đang mưa, những cơn mưa đầu mùa thu. Tôi phải viết ngay những suy nghĩ mông lung không lớp lang thứ tự về một nơi xa cách nơi tôi đang ở nghìn dặm thẳm. Viết những dòng này coi như tôi đang có mặt ở những nơi mà tôi nhắc đến để lòng mình lắng xuống và để nghe cơn buồn chạy khắp cơ thể làm rợn cả tâm can.

Quê tôi ở xứ lạnh sương mù giờ chừng xa lắm! Nhớ lại như nhớ những hình ảnh trong các chuyện cổ tích. Tôi hình dung ra được một cách hết sức rõ ràng thành phố nơi tôi được sinh ra và lớn lên với những sáng nắng chiều mưa. Suốt bao nhiêu năm tôi cùng sương mù đi đến trường, cùng với mưa sau những chiều tan học và cùng với cái nắng dịu dàng vào những buổi chiều vàng lang thang trên Đồi Cù. Tôi đã từng bám theo những con đường dốc thời chưa khai phá. Mùa mưa chân tôi đùa trong những vũng nước đỏ ngầu với những thằng nhóc như tôi để giành nhau một trái banh quấn bằng dây vỏ chuối. Sách vở ướt nhèm mang về nhà bị mẹ mắng. Rồi tôi lớn lên bằng núi đồi, rừng xa rừng gần của đất Hoàng Triều Cương Thổ. Những địa danh nghe ra có bóng dáng cọp beo, thú ác…nào là Suối Tía, Mang Linh, Núi Bà, Núi Voi, Tour de Chase, Lapé Nord, Lapé Sud…Hồ Xuân Hương, Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu… chẳng có gì xa lạ đối với tôi. Thác phải là thác Pongour mới hùng vĩ. Bí hiểm phải là phía bên kia chân Núi Bà hay đảo hoang bên kia Suối Vàng Suối Bạc, nơi quân đội Nhật đã đến đó để tìm vàng. 

Tôi đã nhiều đêm ngủ trong những khu rừng thâm u đầy những vắt và sên rừng. Tôi từng uống nước từ những con suối trong vắt và lạnh ngắt vào những lần cắm trại. Tôi cũng đã từng trèo lên những cây thuộc loại cổ thụ để để bóc lấy những chùm phong lan rừng. Tôi đã từng được ngủ trên những căn nhà sàn của người Thượng và suốt đêm không tài nào nhắm mắt vì mùi phân heo từ dưới sàn bốc lên. Tôi được uống rượu cần đến ngất ngư say và nói được dăm ba tiếng của người Koho. Đó là Đà Lạt của tôi thập niên 50-60.


Mới đây tôi nhận được tấm ảnh trường trung học công lập Trần Hưng Đạo. Khi mở hình ra xem, tôi bàng hoàng xúc động khi thấy lại lớp của mình cách nay hơn 60 năm. Lớp đệ nhất A ở căn cuối cùng của dãy lớp dành cho đệ nhị cấp. Cầu thang mỗi sáng mỗi chiều đưa tôi vào lớp cùng với bạn bè, dạo đó lớp tôi có cả nữ sinh từ trường Bùi Thị Xuân sang học vì lúc đó trường Bùi Thị Xuân chưa có lớp đệ nhất. Một trường dành cho nam sinh lại có mấy chục nữ sinh đúng là “bông hoa lạc giữa rừng gươm”. Những nữ sinh tha thướt trong những chiếc áo dài đến trường, vào lớp đã làm cho ngôi trường thêm vui. Rừng thông xanh nghiêng nghiêng bên các dãy lớp cũng bỗng vui một dạo. Trò cũng vui. Mà thầy cũng vui. Tôi nhớ lớp tôi lúc ấy có 42 học sinh, trong đó nữ sinh chiếm gần một nửa sỉ số. Nay tôi vẫn còn liên lạc được khoảng 15 - 16 anh chị ở rải rác khắp nước Mỹ và Việt Nam. Thế mà thoắt đã hơn nửa thế kỷ. Buồn thiệt!

Sau năm 1975 thì trường của tôi đã được “giải phóng” nhằm góp phần tiêu diệt nên giáo dục Tự Do – Nhân Bản và Khai Phóng.


Nay thì ngôi trường của tôi đã được “giải phóng” nhằm góp phần tiêu diệt nền giáo dục Tự Do – Nhân Bản và Khai Phóng.



Phong Châu

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

Tóc Thề Trăm Năm - Thơ: Tiểu Vũ Vi - Nhạc: Trần chương Lương - Ca Sĩ: KaNa Ngọc Thúy

Thơ: Tiểu Vũ Vi
Nhạc: Trần chương Lương
Ca Sĩ: KaNa Ngọc Thúy

Về Đi Em - Trầm Vân



Ồ em xa lắc trời xa
Áo bay có gửi mượt mà về đây
Má hồng giọt nắng hồng rây
Mùa xuân trên mái tóc dài se hương

Nhớ em ngan ngát lòng buồn
Ly cà phê khuấy ngọt đường bờ môi
Khuấy lên nao nức tiếng cười
Những ngày hò hẹn gió lơi lả tình

Đôi hồn mở cửa bình minh
Sáng trong ánh mắt lung linh tia nhìn
Con đường ngan ngát hương quen
Ngã ba ngã bảy êm đềm vòng xe

Nhớ hoài ngày ấy đam mê
Những ngày đưa đón nhau về ngất ngây
Thế rồi lỡ lạc vòng tay
Em xa phố vắng bóng ngày lạnh tanh

Mưa thương nắng nhớ chòng chành
Câu thơ anh lượn một vành nón nghiêng
Vầng trăng thao thức qua đêm
Giấc mơ mộng ảo sương mềm quấn thương

Với tay là chạm nỗi buồn
Em đi bỏ lại làn hương tạ từ
Nỗi đau rụng lá vàng khô
Con đường phố hẹn mịt mờ đành sao

Thoảng lời âu yếm ngọt ngào
Quán khuya tiếng hát xanh xao đợi chờ
Về đi em, bóng chiều mơ
Đôi bờ mi chớp khép hờ dung nhan

Lòng ta lại trổ mai vàng
Tiếng chim lảnh lót hân hoan đón mừng
Nhịp cầu nối lại dòng sông
Khua chèo đò lượn gió hong mối tình


Trầm Vân
 

Thiên Địa Tào Lao


Trong TSYS anh Ngố có viết 2 bài “Tào lao thiên địa”, Bát Sách đọc rất khoái, vì anh tào lao thuộc loại có hạng và lại nhắc tới Bát Sách luôn. Nhìn chung Bát Sách không bị chê gì nhiều, chỉ bị chê mắc “khẩu nghiệp”, dám dùng bút để đánh đồng nghiệp “quần hồng”. Đây là nguyên văn “Ôi Bát Sách đại huynh ơi, người xưa có câu đừng uýnh lộn với đàn bà dù uýnh lộn bằng cành hoa, nay đại huynh lại đòi lôi bút ra giao đấu thì thật là khẩu nghiệp, khẩu nghiệp”.

Mà nói như vậy là vu oan giá hoạ cho Bát Sách. Bát Sách vốn gầy gò yếu đuối, thuộc loại thiếu dinh dưỡng… Ngày nhỏ, chơi bời lêu lổng, không chịu ăn uống học hành gì cả, nên bị ông già đánh cho một trận nên thân. “Yêu cho roi cho vọt” mà. Sau trận đòn duy nhất đó, Bát Sách cải tà quy chánh, học hành rất tấn tới, nhưng cơ thể thì lại không chịu tăng trưởng theo, do đó, chỉ ít năm sau, mấy đứa em của Bát Sách, vì hay ăn chóng lớn, đã qua mặt Bát Sách, và đủ sức đánh đấm Bát Sách tơi bời. Đến trường Bát Sách bị Thầy, bạn đánh, ra đường bị du đãng đánh… Đó là bị đánh về phần xác. Mẹ Bát Sách vốn hiền, suốt đời chưa bao giờ đánh con, nhưng có gì trái ý là bà khóc. Đó là bị đánh về phần hồn, nhiều khi còn đau gấp mấy lần bị đánh về phần xác. Vì vậy, Bát Sách rất thương mẹ, nhưng lại cũng rất sợ những dòng nước mắt của bà… Nói tóm lại, động từ “đánh” Bát Sách chỉ được dùng ở thể thụ động, ngoại trừ một trường hợp duy nhất. Số là ngày xưa, nhà Bát Sách có nuôi một con chó cún lông vàng, khi có chuyện gì bực mình, Bát Sách đấm đá con chó loạn cào cào, dù Bát Sách không thù ghét gì về nó cả. Nhưng con chó này khôn lắm, thấy Bát Sách về thì nó đứng xa xa dòm chừng, quan sát tình hình. Nếu thấy mặt Bát Sách vui vẻ hoà nhã thì nó chạy lại mừng, liếm tay, liếm chân, nếu thấy mặt Bát Sách hầm hầm thì nó cúp đuôi, chui tọt vào gầm giường mà trốn. Ngày xưa, Bát Sách đánh chó mà không hiểu vì sao, qua Canada học môn bệnh tâm thần, Bát Sách mới vỡ lẽ trong các “cơ năng tự vệ” (mécanisme de defense) của loài người, có một thứ được gọi là déplacement. Bát Sách dốt tiếng Tây nên đoán place là chỗ, déplacement là sự đổi chỗ, nhưng như vậy thì có nghĩa gì? Sau khi tra tự điển, đọc đi đọc lại nhiều lần Bát Sách mới hiểu déplacement là déplacer cái phản ứng của mình từ chỗ này ra chỗ khác, tiếng Việt mình gọi là “giận cá chém thớt”.

Người ta có nhiều “cơ năng tự vệ”, phải dùng hết mới giữ cho tâm thần mình được cân bằng. Bát Sách vì dùng được chỉ có một thứ, bị mất cân bằng nên mới trở thành Bát Sách. Sang Canada còn khổ hơn nữa, đánh thiên hạ thì không dám vì mình nhỏ con, đánh vợ con thì đi tù, cả đến con chó cũng không đánh được vì có hội bảo vệ súc vật dòm ngó, lạng quạng là nằm bóp…Sống ở xứ văn minh này, cẩu quyền được bảo vệ kỹ hơn nhân quyền, Bát Sách càng bị dồn nén, và có lẽ sắp lên chức Cửu Sách.

Bát Sách vốn có hai người bạn thân là Bát Vạn và Bát Văn, rất khoái cái tên Bát của mình, vì nó vừa tượng hình vừa nói lên được cái thú đam mê mã-tước. Ngờ đâu, anh Ngố lại có ác ý mượn lời “mẹ mìn” của anh để xếp Bát Sách cùng loại với Bát Giới.

Lúc đầu Bát Sách giận lắm, vì Bát Sách vốn mình hạc xương mai, chưa bị Hamburger, Hot dot nó hành hạ, thà anh gọi Bát Sách là Tôn Ngộ Không đi, Bát Sách còn dễ chịu hơn, sau khi đọc đi đọc lại bài của anh Ngố, Bát Sách bèn cười như thằng Bờm vớ được nắm xôi, chỉ vì có nhiều chỗ, Bát Sách được gọi là Đại ca. Chả biết anh Ngố già hay trẻ, lớn hay bé, ra trường trước hay sau, cứ được anh gọi là Đại ca là sướng rồi. Thì ra “cái gọi” của Việt Nam nó quan trọng và rắc rối thật. Gặp người lớn tuổi hơn mình thì gọi là cụ, bác, ông, bà, chú, anh v.v.. cùng tuổi với mình, sơ thì gọi anh, thân thì gọi mày. Nhỏ hơn mình thì gọi là cháu, em, cậu, cô, chú, nhưng ở đây là cô em, chú em. Trong họ hàng còn rắc rối hơn nữa: chị của mẹ là bác, em của mẹ là dì, cô, dượng, nhưng chị của bố thì gọi là cô. Vợ chồng gọi nhau thì thiên hình vạn trạng anh, em, mình, cưng, bồ, bố, mẹ, đôi khi mày, đồ khốn nạn, đồ mất dạy…
Tiếng Mỹ dễ nhất, chỉ có “you” với “me”, đỡ vất vả.

Trong TSYS, anh MT là người đầu tiên có nhã ý (hay ác ý) gọi Bát Sách bằng cụ, Bát Sách sợ quá, chối bai bải, nhưng những người quen, nhân bên Tàu có loạn, bèn gọi Bát Sách là cụ luôn, anh Thi sư Phạm Quân Khanh (thi sĩ, giáo sư), anh Tam sĩ Hoàng Chính (bác sĩ, văn sĩ, thi sĩ) cho sách đều đề: “Kính tặng cụ Bát Sách” làm Bát Sách nghe mình già đi 20 tuổi. Mấy người bạn thiên lôi đả của Bát Sách ở Montréal, trong đó có Bát Vạn và T.V.D, hễ gặp Bát Sách là một điều cụ, hai điều cụ. Họ suốt ngày lải nhải: “Cụ Bát Sách hán rộng nho thâm”. Bát Sách vốn ngây thơ, được đi tầu bay giấy, mũi nở lớn như cái bánh phồng tôm, cứ yên trí là mình giỏi thật, cho đến lúc hiểu ra thì đã muộn. Chữ hán đọc theo kiểu miền Nam có thêm chữ g, cũng được đi. Bát Sách là đàn ông háng rộng hay hẹp thì cũng vậy thôi, có xá gì, nhưng nho thì phải tươi, hoặc xanh, hoặc đỏ, chứ nho thâm thì đã đến lúc phế thải bỏ vào thùng rác thì còn chi là Bát Sách.

Ở Montréal, đa số nói tiếng Tây, nhưng tiếng Tây ở đây không giống tiếng Tây mẫu quốc, đặc biệt trong lúc đối thoại họ chỉ biết tutoyer. Người mình sang đây có lẽ bị lây. Ngày xưa, theo truyền thống y khoa, đàn em lúc nào cũng kính cẩn gọi đàn anh là anh xưng em, cùng lắm thì xưng tôi. Đến Québec, già trẻ lớn bé gì đều phải thi lại, cá mè một lứa, nên có một số đàn em, quên mất mình là còn trẻ, gặp đàn anh cứ toa, moa loạn cào cào, khiến Bát Sách nhớ đến một chuyện tiếu lâm Việt Nam. Anh B có một người bạn tên A sính tiếng Tây, hay nói chuyện kiểu Pháp-Việt đề huề, ra vẻ là mình trí thức… Anh B cáu lắm nhưng chưa có dịp để tỏ phản ứng. Một lần trên chuyến xe lửa Saigon-Đàlạt, 2 người đang ngồi ăn uống, thì anh B bỏ đi mấy phút rồi trở lại, mặt mày tươi rói. A hỏi đi đâu, B cười cười giải thích: “moa mắc tiểu quá mà cầu tiêu bị kẹt, nhịn không nổi nên moa phải ra đầu toa moa đái”. Máy điện tử của anh A nhanh lắm, hiểu ngay là bị chơi xỏ, nên từ đó bỏ hẳn tật chêm tiếng Tây.

Viết đến đây Bát Sách hết ý, y chang như ông Trương Kế bí thơ. Tưởng là mình tào lao có hạng, nào ngờ đâu ý cạn, thôi hết đường tào lao. Bát Sách vừa nản chí, vừa buồn, bèn “đột xuất” đến thăm người bạn. Hai vợ chồng hắn đi vắng, chỉ có cậu con trai lớn đang ngồi tâm tình với một nàng ý-tà-lồ xinh như mộng. Cô nàng đẹp lắm, da trắng, tóc vàng, người ngợm chỗ lồi, chỗ lõm phân minh đâu ra đấy, má đỏ hồng, đôi chân dài thẳng tắp. Nghĩ tới câu “Trường túc bất tri lao, hồng diện…”, Bát Sách mắt sáng lên như đèn ô-tô, nhìn đứa cháu ra chiều thán phục, và có hơi ghen tức. Cô bé thấy Bát Sách thì mất tự nhiên, đòi về. Đứa cháu tiễn bạn ra cửa, 15-20 phút sau mới trở lại, mặt đỏ gay, cười bẽn lẽn… nhưng nó còn nhớ lấy cho Bát Sách một lon la-ve. Bát Sách bèn dở giọng cha chú ra giảng bài luân lý: Ở đây Việt Nam thiếu gì, sao cháu cứ chơi với ngoại quốc làm ba má chau vừa lo vừa buồn. Nó cười: “Chơi với mấy cô Việt Nam mệt lắm bác ơi”. Tiếng “mệt” này quả là thuần tuý Việt Nam, và làm loé lên trong đầu Bát Sách biết bao câu chuyện tào lao.

Ngày xưa ở Việt Nam, con gái nhà lành thường làm bộ, làm tịch, treo cao giá ngọc, muốn tán mấy cô thì “mệt” thật, phải tử công phu.

Mới đầu thì trồng cây si ở cửa trường. Khi cổng chưa mở, bạn tìm chỗ dựng xe, đứng co ro ở gốc cây, thảm hại như một con khỉ. Lúc các em túa ra, vì mặc đồng phục, em nào cũng yểu điệu, nhưng lại có cái nón lá xùm xụp, nên bạn phải nghiễng chân, ngỏng cổ cò, mắt láo liên để tìm người hợp nhãn. Nếu nàng có cha mẹ hay tài xế đem xe hơi tới để đón thì đành chịu thua. Nếu nàng đi Solex hay xe đạp thì bạn có thể tà tà đi theo để biết nhà. Mới đầu đi xa xa, kiểu “em tan trường về, anh theo Ngọ về”, sau mới sáp lại gần để làm quen, trổ mòi tán tỉnh, thả dê ăn cỏ. Nếu nàng chịu ngay thì đỡ khổ; có khi nàng không chịu, mắng bạn rất thậm tệ, nhục nhã, nhưng kinh nghiệm cho thấy, kiên nhẫn là mẹ thành công, nếu bạn cứ mặt trơ trán bóng mà tiếp tục thì rồi nàng cũng siêu lòng. Có nàng chơi ác, dắt bạn đi vòng vo tam quốc khắp hang cùng ngõ hẻm, ghé nhà bà con họ hàng, ngồi mỗi chỗ một lát làm bạn đứng chờ hốc hác cả người.

Khi được phép đến nhà chơi là bạn đã tiến được một bước dài. Sáng thứ bảy, bạn sẽ tắm rửa sạch sẽ, áo quần tươm tất, hớn hở đến trình diện. Bạn ngồi co ro ở một đầu salon, em ngồi ở đầu kia cách xa cả thước và thường có một bà mẹ mặt mày rất hung ác ngồi áp trận. Bà mẹ này là nhân vật chính để coi giò coi cẳng của bạn, xem cách bạn ăn nói cư xử, nếu bạn quen sổ tiếng Đức thì phải rất thận trọng, giữ mồm giữ miệng. Ông bố thường chỉ ra bắt tay, giựt giựt vài cái rồi rút lui, nhưng đám anh chị em của nàng thì thường làm bộ đi ra đi vào, nhìn bạn cười cười để dò xét và châm chọc… Ngồi với em mà có bà mẹ kỳ đà cản mũi thì chán như cơm nếp nát, không làm ăn gì được, do đó bạn phải trường kỳ kháng chiến – Lý do thì cũng dễ hiểu. Các bà mẹ Việt Nam sinh sản nhiều, tử cung, bàng quang bị sa, nên thường phải đi tiểu luôn. Đó là cơ hội để bạn tấn công chớp nhoáng, tiến chiếm mục tiêu, nhưng không quên đề cao cảnh giác: hễ thấy tiếng dép lẹp kẹp là bạn phải tức tối trở về vị trí cũ. Cũng may, nếu bà nào cũng nín tè giỏi như bà Nghị Thoa ngày xưa, thì bạn đành chịu làm phận Dã tràng, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì. Các bà mẹ này đôi khi làm bạn sống dở chết dở. Một anh bạn của Bát Sách có lần bị bà mẹ vợ tương lai âu yếm hỏi:

“Nè cháu, nếu cháu đi xuồng với mẹ và vợ, xuồng bị chìm, mà sức cháu chỉ cứu được một người thôi thì cháu cứu ai?”
Bát Sách chỉ nghe kể cũng toát mồ hôi, bèn tò mò hỏi bạn: “Thế mày trả lời ra sao?”
Anh cười: “Lúc đó tao đỏ mặt, ú ớ mãi, không trả lời được, cứu mẹ bỏ vợ thì vô tình, cứu vợ bỏ mẹ thì bất hiếu, ai gả con cho. Tao bèn cương: Thưa bác, con không biết lội, nếu xuồng chìm chắc chết cả ba.
Sau này, đọc truyện của Hồ Trường An, Bát Sách mới biết câu trả lời trúng cách: Cứu mẹ rồi chết theo vợ thì mới được cả hiếu lẫn tình.
Anh bạn của Bát Sách, tuy trả lời không đúng ý khảo quan, nhưng được đậu vớt, bây giờ sống rất hạnh phúc…

Sau màn coi giò coi cẳng là đến màn điều tra lý lịch… bạn phải cung khai tam đại, gia cảnh cùng trình độ học vấn. Nếu bạn học đệ nhị thì rớt phần học vấn, nếu bạn học đại học thì có đường, khai man thì chết chắc, vì màng lưới mật vụ của nhà nàng thường tinh vi không kém gì CIA. Phần gia cảnh thường rắc rối hơn, vì đại đa số đều sai lầm. Nếu bạn cứ tình thực khai ngay: Cha công chức, mẹ nội trợ, 4-5 anh chị em đang đi học sống hoà thuận thì ít điểm lắm. Nếu bạn là con trai lớn thì điểm còn nhỏ nữa, vì nhiều trách nhiệm với gia đình. Muốn đậu chắc phần gia cảnh, bạn phải mồ côi, không anh chị em, tứ cố vô thân, để khi nàng về làm vợ, nàng sẽ kiêm luôn chức mẹ, chị và xếp mà không sợ bạn đem tiền chia năm xẻ bẩy.

Rồi đến màn lấy điểm. Màn này cũng dễ, vì có nàng làm nội tuyến. Ông, bà, cha, mẹ, anh chị em của nàng thích thứ gì, bạn chỉ việc hỏi nàng rồi chi địa. Các cậu công tử con nhà giàu thì dễ lắm, chứ Bát Sách nhà nghèo, còng lưng đi kèm trẻ mới có đồng ra đồng vào, nhiều khi rớt nước mắt mà vẫn chi ngọt. Khi được yêu thì dù nhịn đói, uống nước lã cũng rất vui. Lấy điểm người nhà chưa đủ: tử cư nhà nàng, bạn cũng phải cho vài tì ăn cà rem, cả con chó cún, nếu nó ngứa răng, gừ gừ muốn cắn thì bạn phải đưa bắp chân ra cho nó ngoạm một phát. Tuy đau một chút, nhưng bạn sẽ được nàng lăng xăng lấy bông băng, thuốc đỏ ra săn sóc vết thương cho bạn. Đó cũng là một “khổ nhục kế” để bạn được đôi tay mịn màng của nàng vuốt ve dù rằng có những chỗ khác, nếu được nàng vuốt ve, bạn sẽ hạnh phúc hơn nhiều, và bạn sẽ mãn nguyện, tự an ủi: “thà kéo rẻ hơn chạy xe không” như anh bạn họ Trần thường nói.

Khi bạn được phép dẫn nàng đi chơi là sắp đến lúc “đại công cáo thành” theo ngôn ngữ của ma đầu Vi Tiểu Bảo.
Nếu bạn yêu nàng thật tình thì chỉ việc đưa cha mẹ đến làm quen, rồi bàn tính, rồi từ từ tiến tới hôn nhân.
Nếu sau một thời gian tìm hiểu, bạn thấy nàng không phải là mẫu người yêu lý tưởng, muốn “di tản chiến thuật” thì mới là thiên nan vạn nan. Di tản chiến thuật cách nào để bảo toàn lực lượng? Thường thì bạn tìm cớ bận học thi, cha, mẹ, anh, em bị bệnh, mệt v.v.. để gặp nàng càng ngày càng thưa.

Nếu là người tự trọng, nàng sẽ hiểu, sẽ âm thầm chịu đựng, sẽ quên bạn và sẽ có một mối tình mới. Nếu nàng nhất quyết bắt xác bạn thì bạn sẽ khốn khổ, vì bạn ở đâu, nàng cũng mò ra, dù bạn đã trốn chui, trốn nhủi như trốn quân dịch. Nàng sẽ ám ảnh bạn, theo bạn khắp nơi làm kỳ đà cản mũi, phá đám để bạn không ngo ngoe gì được. Thời gian khổ ấy đã qua từ 30 năm, mà mỗi khi nhớ lại Bát Sách còn rợn tóc gáy, chưa nghĩ ra cách nào rút lui cho êm thấm. Giáo sư Nguyễn Đức Hiển có bài thơ “Cố hương nan cố hựu nan quy”, Bát Sách mạn phép đổi là “Giai nhân nan nhập hựu nan xuất”. Bát Sách có anh bạn cùng lớp, ngoài việc học ra, cái gì anh cũng giỏi nên ra đời thành công mỹ mãn. Ngày ở Việt Nam, Bát Sách đi lính, ở trại gia binh, ăn cơm gà mên, tiền lương chỉ đủ vặt mũi, đút miệng thì anh làm dân biểu, ở villa, ăn cao lâu, đi xe hơi có tài xế. Di tản được vài năm, Bát Sách còn ở appartement, đi xe bus, thì anh đã có château, ngồi xe Mã xa điền. Tài làm giàu của anh Bát Sách phục ít thôi, nghĩ là đời cố số, nhưng tài “di tản chiến thuật” của anh thì Bát Sách tôn làm sư tổ. Hồi trẻ, có lần sắp bị bắt xác, anh lén đến nhà gặp riêng bà mẹ người đẹp, đưa ra một tấm hình phổi lủng lỗ tùm lum, rồi rơm rớm nước mắt nói “con bị lao phổi nặng đến thời kỳ thứ ba, bác sĩ bắt nằm bệnh viện. Bác đừng nói cho em biết, khi nào lành bệnh, con sẽ lại thăm bác và em”. Lẽ dĩ nhiên, bác chạy và em cũng de, và anh rút lui một cách an toàn… Khi biết chuyện này, Bát Sách phục anh sát đất, chỉ tiếc là mình đã quá tuổi để thi hành mưu Gia Cát.

Đó là diễn tiến bình thường của những mối tình ở Việt Nam. Hồi đó, học y khoa có giá lắm, lên năm thứ tư, thứ năm là đã có nhiều người muốn bắt xác bạn, nhất là quý vị nhà giàu, có con gái tới tuổi cập kê. Họ không cần điều tra gia cảnh, lý lịch của bạn, chỉ cần cái bằng. Điều đáng buồn là con gái nhà giàu không phải lúc nào cũng đẹp. Em ngồi xe hơi, áo quần sang trọng nhưng da bánh mật, tóc rễ tre, mũi tẹt, mắt lồi, chân đi chữ bát. Do đó những người có một chút óc nghệ thuật và lòng tự trọng thì đều vắt giò lên cổ mà chạy. Tuy nhiên, thói đời vẫn thế, “máu tham hễ thấy hơi đồng là mê”, nên cũng có vài vị bịt mũi…có vị đang mặc quần kaki, mang dép cao su, đi xe đạp, thì một sớm một chiều mặc quần mohair, mang giày “Gia”, lái xế hộp, mặt tươi như hoa. Hiển nhiên là chàng vừa sa chĩnh gạo. Ít lâu sau, chàng gầy tọp, mặt dài thòng, mắt đầy quầng thâm, anh em cho là chưyện thường, vì chàng vừa đi thực tập, trực gác, vừa học thi, lại có vợ mới “đêm bảy ngày ba vào ra không kể”… Sau chàng thú thật “tao nằm giường lò xo không quen, cứ dập dà dập dình, lại có mấy con chó Berger sủa ông ổng suốt đêm, ngủ không được”. Việc lấy vợ giàu được bạn bè gọi là việc “bán thân”. Ngày đó, một số vị cũng muốn bán thân, nhưng không toại nguyện, có vẻ bồn chồn, bị bạn bè xếp vào loại “bán thân bất toại” (chớ nhầm với bệnh hémiplégie liệt nửa người trong y học)

Viết đến đây Bát Sách đã cạn hứng, đang nghĩ ngợi tìm ý, chợt thấy ngứa ngứa ở bắp chân, bèn đưa tay xuống gãi thì thấy sẹo ngang, sẹo dọc chằng chịt… Ôi những vết thương lòng của thời trai trẻ…Những con chó cún giờ đã mục xương… Những người đẹp ngày xưa, giờ phiêu bạt về đâu? Có lẽ các nàng đang hầm hầm ngồi áp trận canh chừng con gái…. Bát Sách nghe lòng bùi ngùi.

Bát Sách
TSYS 187



Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

Bởi Vì - Thơ: Thuỷ Trang - Nhạc& Hát: Nguyễn Hữu Nghĩa

Thơ: Thuỷ Trang
Nhạc& Hát: Nguyễn Hữu Nghĩa

Thu Nhớ



Lỡ bước chiều thu ngập lá vàng
Trời hết xanh mây trắng giăng giăng
Ai đem thu tới sao vàng úa
Khiến khách đường xa đứng ngỡ ngàng.

Mấy độ vàng thu mấy độ sầu
Chim trời lẻ bạn biết về đâu
Bơ vơ như kẻ còn xa nước
Trông ngóng ngày thêm tóc đổi màu!

Sông thu nay vắng đò đưa khách
Vì kẻ sang ngang cũng đã nhiều
Thương bến quạnh hiu nhiều lá đổ
Nắng chiều xế bóng thật cô liêu!

Thu nhớ người xa mấy dặm đời
Người xa cứ mãi mãi xa xôi
Đường qua lá đổ vàng tâm sự
Tương ngộ!...mơ hồ giấc mộng côi!

Ai chở thu về thêm nhớ nhung
Mây giăng lá đổ mưa mịt mùng
Trước sau che kín phương trời cũ
Biền biệt nghìn trùng cõi núi sông!.

Thu nầy bỗng nhớ mùa thu cũ
Vườn nhỏ nhà ai cúc rợp vàng
Tâm sự mình tràn lên mắt nhỏ
-Cớ sao tình mộng sớm ly tan!?

Hàn Thiên Lương