Thứ Tư, 14 tháng 10, 2026

Thục Nữ - Thơ: Nguyễn Tất Nhiên - Phổ Nhạc Nguyễn Tuấn - Trình Bày: Duy Linh


Thơ: Nguyễn Tất Nhiên
Phổ Nhạc: Nguyễn Tuấn
Trình Bày: Duy Linh

Chiều


Chiều nghiêng nửa chiếc lá vàng
Mắt đêm chìm lặng sau hoàng hôn buông
Nhìn lên ngó xuống chặng đường
Thấp cao trôi ngược bình thường trôi xuôi

30.9.2026
Phong Tâm
(Ảnh chụp trước nhà mình)

Gọi Gió Quạt Mây

   

Ta ngồi gọi gió quạt mây
Lay ngày tháng rụng cuốn bay muộn phiền…
Từ xuân xanh mộng lá duyên
Hạ sang phượng đỏ trải miền tâm tư
Từ yêu hoa nắng vàng thu
Bâng khuâng nhặt lá sầu dư lối buồn
Hồn nhiên hồng phấn dịu hương
Ngày khoe nhan sắc, đêm buông lệ lòng
Song thưa len gió sớm đông
Thu chưa ra ngõ… tình hồng nhạt phai
Tiếng thơ canh vắng thở dài
Tiếng ai trở giấc đợi ngày mai sang.

Thơ & Hình Ảnh: Yên Dạ Thảo
27.09.2026

Hãy Đón Pháp Đi

 

Này người ơi
Sao còn sống trong mơ hồ
Kìa nhân gian
Danh lợi chỉ hư vô.
Được và mất thoáng sớm chiều
Mà sao ta vẫn cứ khổ nhiều
Còn sân si, và luôn ghét ganh đố kỵ mãi thôi.
Kìa hào quang Pháp Luân
Đã chiếu sáng ngời giữa trời
Độ nhân thế, thoát bao trầm luân tử sinh.
Cứu độ mình,
cứu độ người
Hãy đừng lỡ cơ duyên - hỡi bạn ơi
Người cùng đến với tôi
Hãy đón Pháp đi thôi
Một đời mãi vui bình yên.

Nguyễn Gia Khanh

Qua Cầu Đánh Rơi!



Trong những thể điệu dân ca Việt Nam, tôi thích nhất dân ca quan-họ!
Theo Wikipedia, cùng với “ cung đình Huế “, “ chiêng trống cồng “ Cao nguyên, ca trù, dân ca quan-họ đã được Unesco công nhận là di sản văn hóa (2009) .

Điệu dân ca này, tuy khai sinh và phát triển ở vùng Kinh Bắc ( ắc Giang, Bắc Ninh) nhưng khi nói đến quan – họ là người ta nghĩ ngay đến Bắc Ninh. Vì quan-họ là thơ, thơ phổ nhạc. Cho nên không lạ gì khi vua “ thơ mới “(1932 ..) Thế Lữ và hoàng đế kịch thơ Hoàng Cầm đều là người Bắc Ninh.

Có hai loại dân ca quan-họ :truyền thống ( gọi là chơi quan-họ ) , trong đó , liền anh và liền chị đối đáp nhau , không nhạc đệm và chỉ thu hẹp giữa một số “ khán giả “
« cách tân « / chữ của tôi / ( gọi là hát quan họ ) , trong đó có đơn ca, song ca, hợp ca … với sự phụ họa của các nhạc sĩ .

Bài hát quan - họ phổ biến nhất ở miền Nam, trước 7 , là “Qua cầu gió bay “ mà tôi nghĩ là ai ở thế hệ chúng ta cũng đều nghe qua:

“ Yêu nhau / cởi áo / ối à cho nhau
Về nhà / dối rằng cha dối mẹ a à a á a
Rằng a ối a qua cầu / Rằng a ối a qua cầu
tình tình tình gió bay / tình tình tình gió bay

Yêu nhau / cởi nhẫn / ối à cho nhau
Về nhà / dối rằng cha dối mẹ a à a á a
Rằng a ối a qua cầu / Rằng a ối a qua cầu
tình tình tình đánh rơi / tình tình tình đánh rơi

Yêu nhau / cởi nón / ối à cho nhau
Về nhà / dối rằng là cha dối mẹ a à a á a
Rằng a ối a qua cầu / Rằng a ối a qua cầu
tình tình tình gió bay / tình tình tình gió bay “

Tôi không hiểu bài hát , nguyên văn là thế , hay “ sau này “ người ta thêm lời vào ? Nói “ sau này “ là tôi muốn nói thời Pháp thuộc . Trước đó , người Viêt ta không đeo nhẫn .

Nếu gọi là ca-dao thì chắc chỉ có 2 câu đầu (?): “ Yêu nhau cởi áo cho nhau / Về nhà mẹ hỏi : - “ qua cầu gió bay “. Bởi , nếu là 6 câu ( cởi áo / cởi nhẫn / cởi nón ) thì chúng không vần nhau , không phải lục-bát . Mà chỉ là ..'' chùm ''(!): chùm “ lục bát  , theo cách gọi của mấy “ bố “ ưu -diệt

Bài hát quan-họ này , theo tôi , là bài hát của các nàng . Do cái câu “ về nhà mẹ hỏi “ . Chứ đàn ông mà “ về nhà má hỏi “ thì … quê cui quá!

Không biết ai là tác giả 6 câu hát nhưng cái thứ tự xuất hiện của chúng trong bài thơ , không “ logique “ gì mấy !

Cái nhập đề “ yêu nhau “ thì không chê vào đâu. Có yêu nhau trước thì mới có màn hứa hẹn, thề thốt với nhau  ''anh hứa yêu em trọn một đời'' / Trần thiện Thanh) . Có tin nhau rồi ( đúng hơn là nàng tin chàng ) thì mới “ cởi áo cho nhau “ (cởi một mình lâu quá!?) . Mà đã cởi áo cho nhau rồi thì cởi đến cái gì mà chả được? Hà cứ gì phải cái nón mà không là cái … khác? Bởi nón thì (dường như) , ngày xưa (trước khi Tây vào) ngoài Bắc , chỉ có người phụ nữ  thôn nữ) đội (nón quai thao, … ) chứ cánh đàn ông nông dân thì (dường như) không (?)

Nói đến cởi, người ta nghĩ ngay đến ..vải vóc, mặc dầu có nhiều thứ để cởi ra. Người miền Nam nói “cởi áo” nhưng “ tháo nhẫn” và “ dỡ (lột ,cất .. ) nón “, tôi chưa nghe ai nói “cởi nón” bao giờ.

Như thế, cởi nhẫn, cởi nón, có thể, được thêm vào để bài hát dài hơn tí. Thời đại này , nếu muốn “ câu giờ “ , ta có thể thêm “ cởi lắc “ , “cởi xắc “ hay, chắc ăn nhất, : “ lột ..ví ối a cho nhau “ thì đó mới là " yêu nhau " chân thật!
…………………….
Cô Jenna Evan , 29 tuổi, cư dân San Diego, và hôn phu Bobby Howell, thì, dù đã đính hôn, không biết có “cởi áo cho nhau “ chưa ('' anh chưa thi đỗ thì chưa động phòng''?) nhưng cởi nhẫn thì có. Có điều Jenna không cởi nhẫn mình cho Bobby, mà cô cởi nhẫn cho vào … miệng, nuốt luôn. Chẳng phải vì Bobby, sau khi cãi nhau, đòi lại chiếc nhẫn 122 ly?, mà Jenna, bắt chước theo một câu thơ Xuân Diệu (nhẫn … cho đi không lấy lại bao giờ ), “ chơi “ vào miệng cho chắc ...''ăn''

Bản tin trên tờ Hoa Thịnh Đốn thời báo (ngày 16/9/2019) cho biết (*): chả là Jenna nằm mơ, thấy mình và Bobby đang chạy trốn một bọn cướp trên một chuyến xe lửa. Vì sợ bọn côn đồ cướp nhẫn, Bobby bảo Jenna “ em nuốt đi cho chắc ăn “. Và cô … nuốt! Đến đây thì cô giật mình tỉnh giấc, nhìn lại trên tay thì chiếc nhẫn đã không cánh mà bay!

Sáng hôm sau, 2 đứa “ cởi nhẫn cho nhau “ mang nhau ngay vào một trung tâm cấp cứu. Rọi quang tuyến X thì thấy chiếc nhẫn kim cương “ như con mèo ngáy ngủ trong “ .. bao tử chủ nhân!
Thay vì để chiếc nhẫn tự động thoát ra theo ngõ.. bài tiết, vị Bác sĩ khám, đã lấy nó ra bằng đường miệng . Có thể chứ, nhẫn đính hôn chứ phải nhẫn cầm đồ đâu, vào cửa chánh thì phải ra cửa chánh, ai lại cửa hậu (?) “ đi .. cầu đánh rơi “ bao giờ?!

Không biết chàng Bobby thì sao chứ tôi mà là chàng, tôi không an tâm tí nào cả. Tưởng tượng đêm đêm nằm ngủ kế bên môt người mà nằm mơ thấy nuốt nhẫn thì tháo nhẫn ra nuốt thật, mà lạnh cả người.

Kiểu đó, rủi mai mốt nằm mơ, thấy đi bắt ghen rồi “ cắt … người trong mộng “ thật, thì có phải là chết cả cuộc đời một cách vô duyên, lãng nhách không?!

Chả nhẻ "em vô giường em , tôi giường tôi"?!

BP
20190925
(*)

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2026

Lễ Tạ Ơn - Oratoire St Joshep Montreal - Nhiếp Ảnh Gia Vũ Ngọc Hiến


Nhân Lễ Tạ Ơn
Em xin thân tặng anh chị Vĩnh Chánh cùng quý anh chị em là Con của Chúa.

Kính

Nhiếp Ảnh Gia Vũ Ngọc Hiến

Thu Đã Về Đây

 

Thơ & Thơ Tranh: Tạ Quang Tuấn


Kiếp Thu

  

Ta ví ta như ngọn gió thu
Đêm se se lạnh thổi sương mù
Nửa khuya trở giấc cơn mơ tỉnh
Mơ dáng sông hồ trong mộng du...

Lòng Thu xao xuyến buồn chi lạ
Lơ lững cành đào giữa bão giông
Gom nhặt tro tàn vùng kỷ niệm
Bao nhiêu niên kỷ lạnh trong lòng !

Nàng Thu ve vuốt những đài hoa
Tô thắm môi em sắc mặn mà
Bởi nắng hạ vàng oi bức quá
Thiêu mòn thân xác tháng ngày qua...

Thu trải niềm riêng với thế gian
Trăng thu vằng vặc giữa mây ngàn
Cho Thu hò hẹn cùng trăng gió
Mai mối đem Thu đến gặp chàng

Thu đang hạnh ngộ với chàng đây
Mái tóc bồng bềnh tựa khói bay
Dáng dấp phong trần đời nghệ sĩ
Ưu tư trăn trở ...dáng hao gầy

Thu ôm ấp mãi bóng hình ai
Sầu lắng từng canh, giọt vắn dài
Cho sắc Thu buồn theo nỗi nhớ
Bởi Thu nào phải liễu trang đài !

Hồn bướm mơ tiên...ôi ảo vọng
Ước mơ, mơ ước chỉ hoài công
Vì Thu như kiếp sương rơi rụng
Là ánh chiều tàn...giữa nắng đông...

nguyễn phan ngọc an 
thu 2026

Hữu Nhân Dạ Phỏng 友人夜訪 - Bạch Cư Dị (Trung Đường)



Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, 9 tuổi đã hiểu âm vận, mười lăm tuổi đã bắt đầu làm thơ. Ông chủ trương thơ phải gắn bó với đời sống, phản ánh được hiện thực xã hội, chống lại thứ văn chương hình thức. Ông thường nói: "Làm văn phải vì thời thế mà làm... Làm thơ phải vì thực tại mà viết, mục đích của văn chương là phải diễn đạt tình cảm của nhân dân”. Thơ ông mang đậm tính hiện thực, lại hàm ý châm biếm nhẹ nhàng kín đáo. Họ Bạch chủ trương thơ ca phải giản dị để dân chúng đều hiểu được; tình cảm, tư tưởng phải giàu tính nhân dân, nói được nỗi lòng của mọi người trước thế sự. Thơ ông rất trữ tình. Khi ông bị đi đày từ Tràng An đến Tây Giang, ba bốn ngàn dặm, dọc đường thấy trường học, chùa chiền, quán trọ, hồ sen… đều có đề thơ của mình.


Lời phi lộ

Mời các bạn giao hoan với một con yêu tinh, tuy chỉ được cấu tạo bởi 20 chữ, nhưng có đầy đủ các yếu tố hấp dẫn để thu hút khách làng chơi:
— Có thềm cao, chiếu đẹp, gió mát.
— Có thông vi vu, rượu nồng ấm, trăng sáng soi.
— Chưa đù hấp dẫn ư?
— Vậy thì cộng thêm cố nhân cho vui vẻ mọi bề!
Hay vô cùng! Thoạt nhìn cứ tưởng tục; nhưng nó thanh hơn cả một thiếu nữ “thanh” nhất:

Nguyên tác     Dịch âm

友人夜訪         Hữu Nhân Dạ Phỏng

簷間清風簟 Thiềm gian thanh phong điệm
松下明月盃 Tùng hạ minh nguyệt bôi.
幽意正如此 U ý chính như thử,
況乃故人來 Huống nãi cố nhân lai.

Dịch thơ

Người Bạn Đến Thăm Đêm

Chiếu, thềm cao, gió mát.
Thông, rượu, trăng sáng soi.
Thâm ý rõ như thế,
Huống cố nhân đến chơi./.

Lời bàn

Đây là nét súc tích điển hình của ngũ ngôn tứ tuyệt, súc tích đến độ cô đọng. Bài dịch phải sử dụng 5 dấu phẩy (,) 2 dấu chấm (.) và một dấu chấm hết (./.) để diễn đạt gẫy gọn ý của nguyên bản. Nói cách khác, đây là một bài thơ Đường dịch ra chữ Quốc-ngữ chứ không phải dịch ra chữ Nôm (chữ Nôm không có dấu).

Con Cò
***

Bạn Đến Thăm Đêm.

Trên thềm gió chiếu manh,
Chén rượu trăng thông xanh.
Nhàn nhã nào hơn được.
Còn thêm bạn suốt canh.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Oct. 3/2026.
***
Có bạn đến thăm trong đêm

Gió mát hiên nhà với chiếu manh
Bóng tùng chén rượu ánh trăng thanh
Lòng vui thanh thản nơi yên tịnh
Tri kỷ đến chơi bạn chí thành.

Thanh Vân
***

Tri kỷ thăm đêm

Hiên cao, chiếu, gió mát.
Tùng hạ, rượu, trăng rằm
Thế đó thanh nhàn thú
Huống chi bạn cũ thăm

SongThất Lục Bát :

Trên thềm cao chiếu tre gió mát
Dưới tàn thông rượu bát trăng rằm
Như thế đó, thanh nhàn tâm
Huống chi bạn cũ tới thăm rỡ ràng!

Lộc Bắc
Oct26
***
Có Bạn Đến Thăm

Thềm nhà gió mát hiu hiu,
Bóng tùng soi chén trăng khêu rạng ngời
Nhẹ nhàng lòng cảm thảnh thơi
Bạn cũ ghé đến niềm vui dâng trào.

Kim Oanh
***
Chữ Thiềm, cũng có âm Diêm, là cái vành, như vành nón, hay mái hiên nhà.
Chữ cuối câu đầu là chữ Điệm, cái chiếu, không phải Đạm. Nhờ Lộc Bắc sửa giùm.(đã sửa.tk)
U là tối tăm, cõi âm, sâu kín. U Ý là ý ở trong lòng.
Huống nãi là huống chi, huống hồ. Hai chữ này làm tăng thêm ý của câu trên: trước hiên nhà, gió mát, trải chiếu ngồi, dưới cây tùng, trăng sáng, có ly rượu. Thâm ý của ta là hưởng nhàn nhã, nhưng cô đơn, huống chi có bạn cũ tới (thì vui hơn nhiều)
Bài thơ ngũ ngôn quá cô đọng, Bát Sách dịch không nổi theo nguyên tác, đành dùng thất ngôn :

Đêm Bạn Đến Thăm

Hiên nhà trải chiếu, gió nhẹ qua,
Trăng sáng dưới tùng, rượu rót ra,
Thâm ý trong lòng đà như vậy,
Huống hồ bạn cũ tới thăm ta.

Bát Sách.
(Ngày 04/10/2026)
***
Bạch Cư Dị -白居易

Nguyên tác: Phiên âm: Dịch thơ:

友人夜訪       Hữu Nhân Dạ Phỏng Có       Bạn Đến Thăm

簷間清風簟* Thiềm gian thanh phong điệm Hiên mát trải chiếu ngồi,
松下明月盃 Tùng hạ minh nguyệt bôi           Dưới tùng trăng sáng ngời.
幽意正如此 U ý chính như thử                       Nhàn hạ bên chung rượu,
況乃故人來 Huống nãi cố nhân lai                 Lại có bạn đến chơi.


Ghi chú: 江夏黃海書 Giang Hạ Hoàng Hải thư

Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁 cho dị bản trong câu 1 với chữ tiền前 thay vì chữ gian間.

Các sách khác cổ hơn, nhưng không cho dị bản:

Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石倉歷 代詩選-明-曹學佺
Bạch Thị Trường Khánh Tập - Bạch Cư Dịch 白氏長慶集-唐-白居易
Bạch Hương San Thi Tập - Bạch Cư Dịch 白香山詩集-唐-白居易

Giải nghĩa chữ khó:

Dạ phỏng: Đến thăm vào ban đêm.
Thiềm gian: Giữa hiên nhà, dưới mái hiên.
Điệm: Chiếc chiếu trúc, chiếu manh (tạo cảm giác mát mẻ, giản dị).
Tùng hạ: Dưới bóng cây tùng (biểu tượng của bậc quân tử, sự kiên định và thanh cao).
U ý: Ý niệm sâu lắng, thanh tĩnh, không màng thế sự; cõi lòng tĩnh lặng.
Chính như thử: Chính là như thế này, đang lúc như thế này.
Huống nãi: Huống chi là, huống hồ lại có thêm.
Cố nhân: Người bạn cũ, tri kỷ lâu năm.

Dịch nghĩa bài thơ:

Hữu Nhân Dạ Phỏng 
Thiềm gian thanh phong điệm
Tùng hạ minh nguyệt bôi
U ý chính như thử
Huống nãi cố nhân lai

 Bạn Cũ Đến Thăm Ban Đêm

Gió mát thổi qua hiên nhà, trải sẵn chiếc chiếu trúc,
Dưới bóng tùng, ánh trăng sáng chiếu rọi vào chén rượu.
Cõi lòng thanh tĩnh, ý vị uyên thâm chính là đang ở cảnh này,
Huống chi lại có thêm người bạn tri kỷ thuở xưa tìm đến chơi.

Với sự đồng tình của gió mát trăng thanh, sự u tĩnh trở thành thoải mái. Uống rượu một mình cũng là một thú tiêu khiển thanh tao. Tuy nhiên, vui một mình không giống cùng vui với bạn bè. Niềm vui dường như tăng gấp đôi khi chia sẻ với bạn bè.

Dịch thơ:

Có Bạn Đến Chơi

Thể lục bát:

Giữa hiên gió mát chiếu manh,
Dưới thông trăng sáng, rượu thanh đầy vò.
Tĩnh lòng bỗng thấy hết lo,
Huống chi bạn quý lại mò sang chơi.

Thể song thất lục bát:

Gió hiên mát, trải manh chiếu trúc,
Bóng tùng cao, trăng trút đầy bôi.
Thanh nhàn chính lúc đây rồi,
Huống chi bạn cũ bao đời lại qua.

Literal translation:
Have a Friend Visit At Night by Bai Ju Yi

A mat was set in the porch and the wind was cool.
Under the pine tree the moon was bright, wine was bought.
That was the main idea of leisure behind this deep thought,
Specially when a friend would be visiting soon.

Poetic translation:
A Friend’s Night Visit

Cool breeze through the eaves, a bamboo mat laid bare,
Beneath the pines, bright moonlight fills the wine cup fair.
The serene essence of solitude is exactly found right here,
How much more blessed it is, now that an old friend arrives to share.

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

Ngũ ngôn tứ tuyệt là loại thơ khó sáng tác vì tư tưởng thi nhân muốn diễn tả được cô đọng trong 20 chữ và các câu thơ phải theo đúng luật âm vận; chuyện không dễ làm khi nghĩa của từ được chọn phải hợp với ý. Bài thơ bắt đầu bằng ba từ vần bằng nên luật cho thơ là thế này:

第二种:平起不入韵式 (đệ nhị chủng: bình khởi bất nhập vận thức)
平平平仄仄 ,Thiềm gian thanh phong đạm
仄仄仄平平 。Tùng hạ minh nguyệt bôi
仄仄平平仄 ,U ý chính như thử
平平仄仄平 Huống nãi cố nhân lai

Bài này đã được Cò đưa ra từ hơn 7 năm trước.
Người có phương tiện thường lên lầu để uống rượu, ngắm trăng nhưng thi nhân họ Bạch lại trải chiếu dưới hiên nhà, dưới cây thông nên có lẽ bài thơ được làm khi Bạch đang đi đày và hoàn cảnh không sang cả cho lắm. Từ kép 幽意=u ý có hai nghĩa, hoặc để diễn tả sự ưu tư, suy nghĩ thâm trầm, đơn côi; hoặc để diễn tả cảnh nhàn dật. Từ 此=thử cuối câu nhì không thể hiểu là bên ấy, mà có nghĩa là như thế, hay bây giờ, hàm ý thi nhân đang đơn côi.
Từ kép 況乃=huống nãi có thể hiểu là huống chi, cho dù, vả lại và người đọc dĩ nhiên phải phân vân sự viếng thăm của cố nhân nào đó tạo kết quả gì trên tâm thần thi nhân. Vì tứ thơ quá cô đọng, người đọc chỉ có thể đoán mò cuối cùng thi nhân vui hay buồn!

Viết thêm:

友人=hữu nhân
Tôi tưởng là các bạn biết nên không viết đến vì người Việt thường dùng cụm từ bằng hữu (朋友) để gọi bạn bè, hay thân hữu (親友) để gọi bạn thân. Các link xanh đưa tới các trang Wiktionary cho các từ kép đó.
Tiếng Tàu có nhiều từ đồng âm /hữu/ và phải dùng bộ để phân biệt chúng. Hữu (有) nghĩa 'có' viết với bộ nguyệt (月) , hữu (右) nghĩa bên 'phải' viết với bộ khẩu (口), hữu 友 nghĩa 'bạn' dùng bộ hựu (又) , và hữu (囿) nghĩa 'vườn' dùng bộ vi (囗). Phần chung ở trên của các chữ đó 𠂇 là chữ 左 (tả, tá).

Huỳnh Kim Giám
 

Sự Quan Trọng Của Luân Lý Trong Đời Sống Xã Hội - Ngô Thị Quý Linh ( Phần 1)

  

Lời Mở Đầu: 

Không ngày nào chúng ta không nghe những tin tức đau lòng, nhẹ là những chuyện  lƣờng gạt, trộm cắp, mà nặng hơn hoặc là vấn đề bạo hành ảnh hƣởng đến nhiều ngƣời khác,  hoặc những chuyện thông dâm vô luân, sát hại nhau ngay trong gia đình, thân thuộc, bằng hữu,  đồng nghiệp, v.v… Từ những vấn đề xã hội này, có thể có quan tâm rằng trong xã hội hiện nay  có một cuộc khủng hoảng về đạo đức. 

Nhiều khi các vấn đề xã hội có những lý do hết sức phức tạp chứ không phải tất cả mọi  vấn đề xã hội đều liên quan đến luân lý. Tuy nhiên, vẫn có thể nghĩ là có một sự liên hệ giữa một  số vấn đề xã hội và sự quan trọng của luân lý trong đời sống. 

Tác giả bài viết mong nhận đƣợc sự chỉ giáo của chƣ bậc cao minh, niên trƣởng, huynh  trƣởng, thân hữu về đề tài này để cho bài biên khảo đƣợc thêm hoàn hảo. 

***

Nói đến luân lý thì trong chúng ta không ai không biết đến hai chữ này. Từ khi còn nhỏ chúng ta đã được cha mẹ nhắc nhở về những cách cư xử đối đãi như thế nào đối với những người  chung quanh, từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Khi đến tuổi đi học ở trường, chúng ta lại được  thầy cô dạy dỗ để trở thành người học trò ngoan, người công dân tốt, một người nhân hậu đối với  người và vật chung quanh mình. Với những người có tín ngưỡng, ai theo đạo nào cũng phải tuân  theo những phép tắc luân lý trong tôn giáo của mình. 

Mục đích của luân lý từ xưa đến nay có chủ đích là chỉ dẫn cho người ta biết những quan  niệm về nhân sinh, về cách cư xử đối đãi với người chung quanh, về những ý tưởng tốt xấu và những việc làm thiện ác của mỗi người, về phúc đức hay thất đức như thế nào. 

Những truyện cổ tích trên thế giới và những truyện cổ tích của Việt Nam thường hàm  chứa ý nghĩa luân lý đạo đức. Trong văn chương truyền khẩu Việt Nam, có nhiều truyện cổ tích  dạy cách cư xử trong gia đình và với người chung quanh: 

- với cha mẹ, có truyện “Nguyễn Cốc”; 

- về tình nghĩa vợ chồng, có “Sự tích con muỗi”; 

- với anh em, có truyện “Phượng hoàng đậu cây khế”, truyện “Giết chó khuyên chồng”; - với bạn bè, có truyện “Lưu Bình Dương Lễ”, truyện “Con rùa vàng”; 

- với người chung quanh, có truyện “Làm điều lành”, “Cây tre trăm đốt”, v.v…


Ở phương Tây, cũng có rất nhiều truyện cổ tích mà có thể kể đến là những truyện cổ tích  do Perrault và Andersen sưu tầm. Hãng phim Walt Disney đã thực hiện những truyện cổ tích này  thành phim làm say mê biết bao nhiêu thế hệ khán giả. Truyện “Cô bé lọ lem” (Cinderella,  Cendrillon), truyện “Công chúa ngủ rừng xanh” (Sleeping Beauty, La Belle au Bois dormant),  truyện “Nàng tiên cá nhỏ ” (The Little Mermaid, La Petite Sirène) và nhiều truyện khác đều có 

mục đích khuyến khích con người “ở hiền gặp lành”. 

Trong truyện cổ tích “Pinocchio”, chú bé bằng gỗ này lúc nào cũng có con dế đi theo để nhắc nhở chú bé. Mỗi khi Pinocchio hành động sái quấy thì con dế lại nhắc nhở Pinocchio. Con  dế này chính là lương tâm của chú bé Pinocchio. Trong mỗi con người của chúng ta, chúng ta  cũng có một “con dế lương tâm” đó. 

Các triết gia cho rằng người ta sinh ra ở đời, ai cũng có lương tâm là phần thiện hướng  dẫn cách ăn ở của mình. Nhờ có lương tâm, cho nên có những người không được học nhiều mà vẫn có lòng ngay dạ thẳng, có tính nhân từ, biết việc gì nên làm việc gì không nên làm. Người  đời xưa quan niệm “nhân chi sơ tính bản thiện” là vì vậy, tức là người ta sinh ra đã có sẵn bản  tính tốt. 

Tuy nhiên, việc đời biến thiên, hoàn cảnh phức tạp, ở vào nghịch cảnh mà không biết xử làm sao thì luân lý học có thể giúp cho ta có cách xử trí chính đáng được. Luân lý học có thể làm  cho người không có bụng tốt nhưng nhờ hiểu biết mà có thể đổi thành ra tốt được, và giúp người  đã sẵn có bụng tốt tự nhiên mà lại biết suy nghĩ, hiểu biết lý do của sự hành động của mình, hiểu  được tại sao việc này tốt, việc kia xấu, việc này nên làm, việc kia không nên làm, thì như vậy lại  hay hơn là người tốt bụng mà không hiểu rõ việc mình làm. Nói một cách khác, luân lý học giúp  cho sự phát triển của lương tâm, của bản tính tốt có sẵn trong mỗi người. 

Phạm Quỳnh (1892-1945), nhà văn và học giả đầu thế kỷ thứ 20, chủ bút tạp chí Nam Phong (1917-1934), bút hiệu Thượng-Chi, thượng-thư sung ngự-tiền văn-phòng đổng-lý của vua  Bảo Đại, đã góp ý kiến về việc học luân lý. Ông viết như sau: 

“Phàm sự học-vấn bao giờ cũng là hay, huống lại học về cách ăn-ở trên đời thời  lại càng hay biết bao nhiêu, vì người ta ở đời còn gì quan-trọng cần phải biết hơn là cái  bổn-phận làm người?” (Lƣợc Sử Triết Lý Giáo Dục Việt Nam) 

François Guizot (1787-1874), nhà sử học, bộ-trưởng bộ Giáo-dục Pháp từ 1832 đến 1835,  đề nghị sửa đổi học trình trong đó ông cho rằng mục đích thực sự của việc giáo dục quốc dân là truyền bá những học thuyết hợp lý lẽ, giữ gìn những tiêu chuẩn đạo đức tốt đẹp và đào tạo những  con người có kiến thức và đạo đức, có thể đóng góp trở lại cho xã hội bằng những điều hay đẹp  từ những bài học và khuôn mẫu mà họ đã được các vị thầy của họ hướng dẫn, chỉ bảo. 

Guizot quan niệm rằng: Cái ánh sáng tự nhiên nó vẫn hay mập mờ, nghĩa là không học  mà biết thì sự hiểu biết ấy không chắc chắn lắm. Guizot cũng thêm rằng: Ở vào thời buổi rối  loạn, nhiều khi làm việc nghĩa vụ không khó bằng biết nghĩa vụ ở đâu mà làm.  

Phạm Quỳnh giải thích ý tưởng của Guizot như sau:

“Đã hay rằng người ta ai cũng có cái quan-niệm tự-nhiên về sự nghĩa-vụ: song  chẳng qua là biết mang-máng rằng ở đời có việc nên làm, có việc không nên làm; còn  việc gì là việc nên làm, việc gì là việc không nên làm, bởi cớ gì mà không nên làm, hay là gặp cảnh-ngộ nào là nên làm, vào trường-hợp nào là phải tránh, thời phi người đã có học thức, đã từng suy-nghĩ, cũng khó mà biết được. (…) Vậy thời việc nghĩa-vụ có thể học  được, đã có thể học được thời tất có thể dạy được.” (Lƣợc Sử Triết Lý Giáo Dục Việt Nam) 

Chúng ta thấy lúc bình thường mà biết được điều gì nên làm, cần làm, cũng đã là khó rồi,  huống chi những lúc gặp phải cảnh bể dâu biến đổi, những cảnh đời ngang trái, nếu chúng ta  không sẵn có sự hiểu biết những quy tắc hay tiêu chuẩn về đạo đức thì cũng khó mà biết làm  điều gì cho thích đáng. 

Đông-Hồ (1906-1969), bút hiệu của Lâm Tấn Phác, thi sĩ thế kỷ thứ 20 ở Việt Nam, là tác giả một số bài thơ lãng mạn rất nổi tiếng. Khi mở trường dạy học ở Hà-Tiên với mục đích  “khai trí tiến đức”, Đông-Hồ chủ trương là những điều đạo đức có thể học được bằng cách đọc  những sách viết về luân lý đạo đức, rồi nhờ hiểu biết được những điều ấy mà sẽ đào luyện được  tư cách đạo đức. Ông viết: 

“Không có trí thức mà có đạo đức, phần ấy là phần ít; chớ có trí thức rồi mới sinh  lòng đạo đức, phần ấy là phần nhiều; bởi cái nguồn đạo đức là những cái phải cái quấy,  cái hay cái dở ở đời, là tự các bậc tiên tri tiên giác nhiều đời bàn nói làm sách chép truyện  để dạy người đời, thì nếu không có trí thức để học hỏi những truyện sách, không có trí 

thức để lĩnh hội những cái phải cái hay mà học, cái quấy cái dở mà răn, thì làm sao mà sinh lòng đạo đức được. Bởi lẽ ấy mà chữ “khai trí” sắp trên hai chữ “tiến đức”, là ta nên  học tập cho trí thức ngày một khai thông, rồi ta sẽ mới tu tỉnh cho đạo đức ta ngày một  tăng tiến được.” (Lƣợc Sử Triết Lý Giáo Dục Việt Nam) 

Theo ý kiến của Đông-Hồ, người có trí thức chưa hẳn là người có đạo đức mà người có đạo đức chưa hẳn là người có trí thức. Trí thức và đạo đức là hai lĩnh vực riêng biệt. Người có trí thức mà không có đạo đức là có hại cho người đời. Vì theo ông, những cái trí thức của họ đem  mưu những việc xấu, họ càng trí thức bao nhiêu, lại càng tổn hại cho thiên hạ bấy nhiêu. Ông  quan niệm rằng: “… người ta ở đời cần phải có cả hai [trí-thức và đạo-đức] mới sẽ đủ tư-cách  làm người.” 

Phan Bội Châu (1867-1940) sinh ra và lớn lên trong thời gian Việt Nam là thuộc-địa của  Pháp. Ông giữ vai trò quan trọng trong phong trào duy-tân ở Việt Nam hồi đầu thế kỷ thứ 20.  Ông đã khởi xướng chương trình Đông-du sang Nhật học với mục đích đào tạo nhân tài cho đất  nước.  

Phan Bội Châu công nhận rằng luân lý là cách thức để gây dựng nước Việt Nam mới.  Ông đưa ra lục-đại-nguyện tức là sáu điều mong lớn của ông với quốc dân. Về phương diện xã hội, Phan Bội Châu mong mỏi ở quốc dân tinh thần thƣơng mến tin yêu nhau, sự nghiệp thực  hành yêu nƣớc, sự nghiệp thực hành công đức, và hy vọng về danh dự lợi ích. Về phương diện cá nhân, ông đề nghị mỗi người dân đều nên có ý chí tiến thủ mạo hiểm và tƣ tƣởng tiến bƣớc lên  nền văn minh (Tân Việt-Nam, 1907). 

Phan Châu Trinh (1872-1926) là người đồng chí hướng và hợp tác với Phan Bội Châu  trong việc khởi xướng phong trào duy-tân ở Việt Nam. Phan Châu Trinh khuyên dân chúng nên  “tự lực khai hóa”, không nên trông chờ vào chính phủ thuộc địa. Ông khuyên dân chúng nên học  để mở mang dân trí và chú trọng đến luân lý.  

Hiện tượng nước Nhật đạt sự phồn thịnh nhanh chóng trong vòng nửa thế kỷ khiến cho  các nước Á-châu chung quanh kinh ngạc. Khi Phan Châu Trinh sang Nhật, thấy trình độ của dân  Nhật nhờ giáo dục mà tăng tiến, ông mong sao các du học sinh sang Nhật học khi trở về cũng có tinh thần tiến bộ như họ.  

Phan Châu Trinh đã tự đặt câu hỏi: “Dân tộc Nhật Bản được giàu mạnh như ngày nay là chỉ theo cái văn minh hình thức của Âu-châu hay là có sửa đổi gì luân lý không?”. Ông nhận  thấy rằng không phải người Nhật chỉ đóng tàu đúc súng mà được giàu mạnh, chính nhờ họ đã biết trau giồi đạo đức, sửa đổi luân lý nên họ mới được thịnh trị phú cường. 

Trong một bài diễn thuyết tại Sài-Gòn năm 1925, ông đã giải thích tại sao ông lấy chủ đề  “Đạo đức và Luân lý Đông Tây” cho bài diễn thuyết của ông. Phan Châu Trinh nói như sau: “Tôi chọn lấy vấn đề này là vì tôi tưởng rằng từ xưa đến nay bất cứ dân tộc nào,  bất luận quốc gia nào, dầu vàng, dầu trắng, dầu yếu, dầu mạnh, đã đứng cạnh tranh hơn  thua với các dân tộc trên thế giới thì chẳng những thuần nhờ cái sức mạnh mà thôi, mà phải nhờ có đạo đức làm gốc nữa; nhất là dân tộc nào đã bị té nhào xuống nay muốn  đứng lên khỏi bị người đè lên trên thì lại cần phải có một cái nền đạo đức vững chặt hơn  dân tộc đang giàu mạnh hơn mình.” (Sử Xanh Lƣu Truyền) 

Về phần Phạm Quỳnh, ông cho rằng đạo đức và văn minh có liên hệ với nhau. Ông quan  niệm “nhân cách có lên cao thì xã-hội mới thật có tiến-hóa, nhân-cách mà sụt thấp thì dẫu có văn-minh cũng là văn-minh giả, cái văn-minh ấy tất không bền vì không có cốt.” (Lƣợc Sử Triết  Lý Giáo Dục Việt Nam) 

Vì thế Phạm Quỳnh tin rằng “Một nước mà thịnh hay suy là do người ta hay hay dở; vậy  thời muốn cho nước được phú-cường thịnh-trị phải làm cho cái lương-tâm chung trong xã-hội  ngày càng tăng tiến thêm lên.”(Lƣợc Sử Triết Lý Giáo Dục Việt Nam) 

“Lương-tâm chung” trong xã hội chỉ được bảo tồn và tăng tiến khi luân-lý phổ-thông đã thấm nhuần sâu rộng trong xã hội.  

Nền luân-lý phổ-thông này, theo Phạm Quỳnh, là cái luân lý mà người ta cho là từ khi lọt  lòng mẹ ra đã nhiễm lấy rồi, cái luân lý mà những người tuy không học vẫn thường theo mà không biết rằng phần nhiều cũng là gốc ở sự suy nghĩ, sự học vấn của tiền nhân mà có. 

Các câu tục ngữ ca dao, những truyện cổ tích của Việt-Nam có tính cách luân lý thường  phát xuất từ những quan niệm về luân lý trong kinh sách Nho-học hoặc chịu ảnh hưởng của đạo  Lão, đạo Phật.

Sau đây là một vài ví dụ trong tục ngữ ca dao Việt-Nam có tính cách luân lý:

- Ở hiền gặp lành 

- Tu nhân tích đức 

- Cây xanh thì lá cũng xanh,  

Cha mẹ hiền lành để đức cho con. 

- Công cha nhƣ núi Thái-sơn,  

Nghĩa mẹ nhƣ nƣớc trong nguồn chảy ra.  

Một lòng thờ mẹ kính cha,  

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. 

- Cá không ăn muối cá ƣơn, 

Con cƣỡng cha mẹ trăm đƣờng con hƣ. 

- Đói cho sạch, rách cho thơm. 

- Ai nhất thì tôi thứ nhì, 

Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba. 

- Mặc ai chác lợi mua danh, 

Miễn ta học đặng đạo lành thì thôi. 

- Tham thì thâm,  

Bụt đã bảo thầm rằng chớ có tham. 

- Tham vàng bỏ ngãi, đƣợc lòng ta xót xa lòng ngƣời. 

              … … …

Trong nền triết học phương Đông, các triết gia như Lão tử chủ trương “không tranh  giành” (bất tranh) và “ít lòng ham muốn” (thiểu tư quả dục). Phật Thích-ca khuyên con người  nên tận diệt “tham, sân, si” và có lòng “từ bi từ tâm” với chúng sinh. Khổng tử khuyên người ta  nên tập đức “nhân” để biết thương người, nghĩ đến người như nghĩ đến mình, trọng sự thuận hòa,  không tranh chấp không chia phe phái. 

Khổng tử (551 - 479 trước công-nguyên) là triết gia Trung-Hoa thời cổ đại, đồng thời với  Lão tử và Phật Thích-ca. Khổng tử là người đầu tiên có công trước thuật nho-học, sắp đặt tư tưởng của các thánh hiền đời trước, đề cao những mối luân thường đạo lý trong xã hội. Ông cố gắng áp dụng tư tưởng nho-học trong xã hội hầu mong cảm hóa được người đương thời và làm  ích lợi cho người đời sau. 

Theo học thuyết của Khổng tử, mục đích của đạo trời đất là bồi dưỡng sự sinh, còn mục  đích của đạo người là đạt được đức nhân. Đức nhân được ví như núi, hàm chứa sinh khí và năng  lực. Do nhân mà các đức tính khác sinh ra. 

Trong Luận Ngữ – là quyển sách ghi chép những lời đối thoại của Khổng tử với các môn  sinh – đã nhiều lần Khổng tử nói về đức nhân. Khổng tử giảng giải như sau: “Này người nhân hễ muốn tự lập lấy mình thì cũng lo thành lập cho người; hễ muốn cho mình thông đạt thì cũng lo làm cho người được thông đạt; hễ xử với mình thế nào thì cũng xử với người chung quanh mình  thế ấy. Đó là những phương pháp thi hành để trở nên người nhân đức vậy.” (“Ung dã”, Luận  Ngữ)


Nhân là quan niệm căn bản trong hệ thống triết học của Khổng tử. Đạt được đức Nhân là mục đích tối hậu trong hệ thống triết học của Khổng tử. 

Khổng tử khuyên người đời nên để tâm vào việc học đạo làm người, giữ gìn đức hạnh,  nương theo điều nhân: “chí ư đạo, cứ ư đức, y ư nhân” (“Thuật nhi”, Luận Ngữ) Nếu người đời không trau dồi đức hạnh, ông lấy làm lo. Ông nói: “Đức chi bất tu, học  chi bất giảng, văn nghĩa bất năng tỉ, bất thiện bất năng cải, thị ngô ưu dã” (Đạo đức không sửa  tiến, học vấn không giảng tập, nghe điều nghĩa mà không theo, có lỗi mà không đổi, đó là những  mối lo của ta.) (“Thuật nhi”, Luận Ngữ) 

Khổng tử đề cao chữ hiếu với mục đích dùng hiếu để hướng dẫn mọi người trong xã hội  đạt được đức nhân. Ông nói: “Người quân tử trọn bổn phận với cha mẹ, tất dân chúng hưng khởi  lòng nhân.” (“Thái Bá”, Luận Ngữ) 

Một trong những việc của người làm chính trị là thực hành điều hiếu ở trong gia đình.  Khổng tử nói: “Kinh Thư có câu „Duy kẻ nào hiếu với cha mẹ, thuận với anh em, mới thi hành  việc chính trị từ nơi nhà mình.‟ Đó cũng là làm việc chính trị rồi, đợi chi tới làm quan mới làm  việc chính trị.” (“Vi chính”, Luận Ngữ)  

Người làm chính trị nhờ quan niệm hiếu để thực hiện mục đích giúp mọi người trong xã hội đạt đức nhân. Điều này cho thấy hiếu có vai trò quan trọng trong học thuyết của nho-gia trong việc đạt đến đức nhân. 

Ở phương Tây thời xưa, triết gia Socrates (469-399 trước công-nguyên) cho rằng hạnh  phúc của con người tùy thuộc vào sự hiểu biết về đạo đức. Theo ý tưởng của Socrates, nhờ biết  phân biệt thiện ác mà con người ý thức được hậu quả của những hành động do mình gây ra. 

Một triết gia khác, Aristotle (384-322 trước công-nguyên), thuyết rằng người hạnh phúc  là người lấy sự làm lành làm vui thú. Trong tác phẩm của ông chú trọng về đạo đức: The  Nichomachean Ethics, Aristotle cho rằng nếu một người muốn có tư cách đạo đức, họ phải tập từ khi còn nhỏ. Hành vi đạo đức đòi hỏi một sự lựa chọn có ý thức hoặc một động lực. Những  người có tư cách đạo đức là những người thực hành đạo đức thường xuyên nhờ phối hợp kiến  thức, kỷ luật và thói quen. Mỗi người phải chịu trách nhiệm về những hành vi liên quan đến đạo  đức của mình. Xã hội là môi trường mà hành vi đạo đức được thể hiện.  

Như thế, đạo đức và chính trị liên hệ chặt chẽ với nhau vì chính trị là khoa học giúp tạo ra  một xã hội trong đó con người có thể sống một cuộc sống chung tốt đẹp và phát triển toàn diện  nhờ vào sự thể hiện hành vi đạo đức của mỗi cá nhân. 

Trong nho-học, chính-trị và đạo-đức có quan hệ với nhau. Khổng tử đưa ra phép làm  chính-trị bằng phương cách đức-hóa: vi chính dĩ đức (làm chính trị dùng đức). Theo khái niệm  đức-hóa, muốn giáo hóa dân thành những con người có tư cách đạo đức, thì những người trong  chính quyền, những người làm quan, cần có tư cách đạo đức để làm khuôn mẫu cho dân noi theo.  Hiểu biết, luyện tập và nuôi dưỡng phẩm hạnh đạo đức là chủ đích của nền giáo dục nho học.


Ngô Thị Quý Linh
2023 All rights reserved

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

Nhà Thờ St Pascal (Cote des Neiges) Và Park Prefontain(Montreal) - Nhiếp Ảnh Gia: Vũ Ngọc Hiến



Gửi quý anh chị em hình Nhà thờ St Pascal (Cote des Neiges)Em chụp ở nhà thờ St Pascal gần Cộng Đồng, chụp cách đây ít hôm. Hôm nay lá rụng nhiều lắm rồi. Những cây ở đây vàng sớm và rụng cũng nhanh.

Mới đi chụp ở Park Prefontain về, lá ở đây mới đỏ, Cũng may là hôm nay không gió và có nắng nên mới cóbóng cây phản chiếu mặt hồ.
Chỉ sợ ít hôm nữa,mưa gió là rụng hết, uổng cả mùa thu.

 

Vũ Ngọc Hiến

Hạ Vàng


Xướng:

Hạ Vàng

Mây trời giăng tím nhớ ngày xưa.
Kỷ niệm bên em chẳng nhạt mờ.
Cung ái anh đàn che nắng hạ.
Tình nồng em hát át đêm mưa.
Môi hồng rạng rỡ khoe thân ngọc.
Tà áo vờn bay theo gió đưa.
Lỡ phím tơ chùng cung lỗi nhịp.
Xót thương em gái lệ sầu đưa.

Lâm Hoài Vũ
( Trích thi tập Giấc Mơ Hoa )

Họa:

 Thu Tím

Thu tím gợi buồn kỷ niệm xưa
Đèn khuya quán trọ ánh trăng mờ
Nằm mơ áo trắng đùa nắng ấm
Tưởng mộng hình em giỡn gió mưa
Hẹn đợi hiên trường trao mực tím
Hứa chờ cuối lớp chuyển thư đưa
Say tình lụy ái quên đèn sách
Thi trượt đầu quân Mẹ tiễn đưa.

Tuyến Lê Sydney
Jul 23 - 26

Dấu Tình Xưa

 

Sẽ có một ngày về chốn cũ
Chân ngập ngừng dạo ngắm phố xưa
Dốc quanh co phố lạnh chiều mưa
Mây chiều tím buồn vương khóe mắt
Con đường nhỏ thơm hương mùi đất
Giọt sương mai chắn lối bình minh
Hồ nước xanh dáng liễu lung linh
Gió rung khẽ mừng tôi trở lại
Những kỷ niệm xưa hoài nhớ mãi
Mắt ai buồn nhặt lá thu rơi
Cánh chim chiều xoải cánh chơi vơi
Trong ký ức bồng bềnh nỗi nhớ
Hoa lá bỗng nhìn tôi bỡ ngỡ
Dấu tình xưa đã phủ rêu xanh
Chiều tàn theo vạt nắng mong manh
Đêm lay lất vầng trăng tĩnh mịch

Chuyện ngày cũ thành dòng cổ tích
Tà áo dài quyện gió vấn vương
Em mang theo nắng đến sân trường
Tôi nỗi nhớ cùng cơn mộng mị
Ngày trở về buồn tênh phố thị
Lá buồn rơi vàng độ thu sang
Nhìn xa xôi mây trắng trên ngàn
Đã hóa kiếp thành hoa dĩ vãng
Tôi bâng khuâng nhớ từng năm tháng
Tóc nhuộm màu sương gió viễn phương
Áo chùng vai cát bụi bên đường
Lòng tưởng đã hao mòn nhung nhớ
Lắm lúc tưởng mình là kẻ chợ
Đứng bên đường hát khúc du ca
Hồn uống say nắng sớm chiều tà
Bừng chợt tỉnh tình xa bay vút…

Phong Châu


Bộ Sưu Tập Vô Hình – Stefan Zweig -ThaiLan Dịch

Tranh Đức Mẹ, tranh vẽ tay -sách in cổ (trước 1500 ở châu Âu)

Đến ga kế sau ga Dresden, một người đàn ông có tuổi vào bên trong toa của tôi. Ông ấy lịch sử chào tôi, ngồi xuống, nhìn tôi và gật đầu chào như thể vừa gặp một người bạn lâu năm không gặp. Ông giới thiệu tên mình vật tôi chợt nhớ rằng đây là một người bán đồ cổ rất nổi tiếng ở Berlin, tôi đã từng đến mua thủ bút và sách ở tiệm của ông.

Ông nói với tôi: Tôi phải kể cho ông nghe tôi vừa mới đến nhà của một người; đây là câu chuyện thật hy hữu hiếm có mà tôi chưa từng gặp trong suốt hơn ba mươi năm trong nghề.

Bạn có thể biết là các tác phẩm nghệ thuật ngày nay được bán như thế nào, vì tiền đã mất giá . Những người giàu đột nhiên rất yêu chuộng các tác phẩm về Madonnas, tưởng Đức Mẹ , sản xuất trước năm 1500 và các bản in cũ. Họ đòi hỏi rất nhiều, hơn cả những gì chúng tôi có thể cung cấp cho họ. Thậm chí chúng tôi phải cảnh giác sợ họ đến nhà và lục soát để tìm.

Khi họ đến nhà và vơ vét tất cả những vật có giá trị của tôi, tôi chỉ còn nước kéo rèm cửa hàng của mình và đóng cửa. Tôi thật xấu hổ khi kiểm lại và thấy trên các kệ hàng, chỉ có một vài hàng cũ hoặc lỗi thời, mà không người bán hàng rong nào dám trưng bày trên xe của họ; cửa hàng đồ cổ này nổi tiếng từ thời ông nội tôi.

Trong lúc bối rối này, tôi bỗng muốn xem qua danh sách các khách hàng cũ của chúng tôi, để cố gắng tìm ra một người mà tôi có thể mua một vài bản sao. Những danh sách này luôn là một nơi để tìm kiếm những vật thật xưa cũ, nhất là vào thời điểm hiện nay. Thật vậy, tôi không tìm thấy điều gì đáng quan tâm: hầu hết những khách hàng của chúng tôi trước đây đã qua thế giới bên kia hoặc đã bán bộ sưu tập của họ từ lâu. Một vài người sống sót có lẽ không thể cung cấp cho tôi điều gì quan trọng. Nhưng đột nhiên, tôi đọc được vài lá thư của vị khách hàng xưa nhất của chúng tôi.

Kể từ khi bắt đầu chiến tranh, năm 1914, ông ấy đã không đặt hàng với tôi; nếu ông còn sống thì chắc đã ngoài tám mươi.

Thư từ của ông đã gởi từ khoảng sáu mươi năm trước. Ông đã liên lạc với cha tôi và ông tôi rồi. Ông là một người kỳ dị, hơi lố bịch; một trong những người kỳ quặc mà các họa sĩ Menzel và Spitzweg thường vẽ và thỉnh thoảng người ta vẫn bắt gặp ở các thị trấn tỉnh lẻ này. Những bức thư của ông được viết tay với nét chữ ngay ngắn, số tiền được gạch dưới bằng thước kẻ và mực đỏ. Để tránh nhầm lẫn, ông đã viết mỗi con số hai lần, và để tiết kiệm, ông đã sử dụng những tờ giấy trắng xé ra từ những bức thư nhận được và làm phong bì cho riêng mình. Những tài liệu kỳ lạ này, ngoài chữ ký của ông, còn có cả một loạt chức danh: cựu cố vấn kiểm lâm, trung úy dự bị, được huân chương hạng nhất. Là một cựu chiến binh của những năm bảy mươi (1870: chiến tranh Pháp Đức – hoặc Pháp Phổ). Nhưng người tiểu tư sản tiết kiệm quá mức này lại có những phẩm chất khác thường của một nhà sưu tập. Ông ấy rất am hiểu về các bản in và đã thể hiện một gu thẩm mỹ tinh tế. Tôi quan sát những đơn đặt hàng của ông. Tôi nhận thấy rằng vào thời điểm mà người ta có thể mua được những bức tranh khắc đẹp nhất chỉ bằng một thaler (đồng tiền bằng bạc của Đức), thì người đàn ông sống ở tỉnh lẻ này đã gom lại từng chút một và không ai có thể tin được, ông đã sở hữu một bộ sưu tập tranh khắc rất có thể cạnh tranh với những bộ sưu tập lừng lẫy nhất của những người mới giàu lên.

Thật vậy, những bức tranh mà ông đã mua từ cửa hàng của chúng tôi với số tiền khiêm tốn bằng marks và pfennigs giờ đây sẽ có giá trị đáng kể. Hơn nữa, mọi thứ đều cho thấy rằng chắc chắn ông đã rất thành công với các tiệm khác và đã thu được rất nhiều từ các cuộc đấu giá của họ. Thật ra chúng tôi đã không có được tin tức gì của ông kể từ năm 1914. Nhưng tôi biết rỡ về các giao dịch bán hàng với số lượng lớn quan trọng như vậy nên không thể nào không quan tâm đến việc này.

Do đó, tôi kết luận rằng nhà sưu tập kỳ lạ này hẳn vẫn còn sống, hoặc kho báu của anh ta dang trong tay những người thừa kế.

Thế là vào ngày hôm sau tôi quyết định đi tìm gặp ông, tức là vào tối hôm qua, đến một trong những thị trấn hẻo lánh nhất ở tỉnh Saxon. Rời nhà ga nhỏ, tôi lững thững dạo bước trên con đường chính của thành phố cổ. Đối với tôi, không thể tin rằng một trong những căn nhà lụp xụp này lại là nơi sinh sống của một người đàn ông sở hữu những bức tranh khắc lộng lẫy nhất của Rembrandt cũng như của Durer và Mantegna, tất cả đều hoàn chỉnh và trong tình trạng được bảo quản hoàn hảo. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi đến bưu điện, tôi được biết rằng người cố vấn kiểm lâm vẫn còn sống. Tôi thú nhận là tôi thật sự xúc động cảm khi đến nhà ông vào buổi trưa . Ông sống trên tầng hai của một khu nhà tồi tàn mà có lẽ một nhà thầu đã xây một cách cẩu thả vào năm 1860.

Tôi rụt rè bấm chuông. Ngay lập tức, một bà lão với mái tóc bạc phơ ra mở cửa. Tôi đưa danh thiếp của tôi và hỏi liệu Cố vấn có thể tiếp tôi không. Bà ấy nhìn tôi, ngạc nhiên và nghi ngờ. Ở thị trấn tỉnh lẻ nhỏ này và trong ngôi nhà khiêm tốn này, một chuyến viếng thăm là một sự kiện phi thường. Bà lịch sự bảo tôi chờ một lát. Bà lấy danh thiếp của tôi và đi vào phòng bên cạnh. Tôi nghe tiếng thì thầm. Đột nhiên, giọng một người đàn ông kêu lên

– A! ông R…, từ Berlin, nhà buôn đồ cổ nổi tiếng… xin mời ông vào. Tôi sẽ rất vui!
Bà cụ mời tôi vào phòng khách. Ở giữa phòng, một người đàn ông to lớn mặc quân phục, đứng dậy và thân mật chìa tay ra cho tôi. Cử chỉ chào đón tự nhiên thật trái ngược với thái độ cứng ngắc và bất động của ông.
Ông đã không bước đến gần tôi. Hơi bất ngờ, tôi tiến đến bắt tay ông.
Khi tôi muốn nắm tay ông, tôi nhận thấy bàn tay đó không đưa ra để bắt tay tôi nhưng lại như chờ đợi. Tôi đã đoán ra được: người đàn ông này bị mù. Từ thời thơ ấu, tôi luôn cảm thấy ngượng ngùng khi đứng trước một người mù. Tôi chưa bao giờ có thể nghĩ rằng một người đàn ông còn sống mà không nhìn thấy mọi việc rõ như tôi. Ông bắt tay tôi một cách nồng nhiệt và chào đón tôi một cách thân tình.
-Thật là một chuyến thăm bất ngờ,ông cười nói. Làm sao người ta có thể tin rằng một trong những quý ông từ Berlin lai đến cái tỉnh lẻ nhỏ bé này! Ôi ! Chắc chắn đây là một chuyến thăm thú vị. Tôi đoán biết được lý do bạn lại đến gặp tôi… Công việc kinh doanh đang rất tệ ở nước Đức nghèo nàn của chúng ta.

Quý ông thương gia nhớ đến khách hàng cũ của mình và tìm họ như những con chiên lạc… Nhưng, ở đây, tôi sợ rằng bạn không tìm được điều bạn muốn đâu, thưa bạn. Những người hưu trí nghèo chúng tôi có được một mẩu bánh mì trên bàn là đã may mắn lắm rồi. Chúng tôi không thể mua bất cứ thứ gì nữa với mức giá điên rồ như hiện tại…

Tôi trả lời rằng ông đã hiểu sai mục đích chuyến thăm của tôi. Tôi đã không đến để bán bất cứ gì. Khi đi ngang qua khu vực này, tôi không muốn bỏ lỡ cơ hội bày tỏ lòng kính trọng của mình với một trong những khách hàng lâu năm nhất của chúng tôi và một trong những nhà sưu tập vĩ đại nhất ở Đức. Nghe những lời này, khuôn mặt của ông thay đổi, thể hiện sự vui mừng và tự hào. Ông quay sang vợ mình, như muốn nói: “em nghe thấy chưa.” Ông nói với tôi bằng một giọng vui vẻ và dịu dàng:
– Thật đấy, bạn thật tốt bụng… Ban sẽ chiêm ngưỡng những thứ mà người ta không thể nhìn thấy hàng ngày, ngay cả ở thành phố Berlin sang trọng của bạn.
…Những bức tranh mà ta sẽ không có bản sao đẹp hơn trong tủ của hoàng gia ở Vienna hoặc Paris. Bạn thấy không, khi bạn sưu tập trong sáu mươi năm, giờ đây bạn đã tích lũy được những vật quý không thể tìm thấy ở bất kỳ nơi đâu nữa. Louise, đưa hộ tôi chìa khóa tủ. Đúng lúc đó, một điều bất ngờ đã xảy ra.

Bà cụ nhỏ bé, đang đứng phía sau ông và đa lắng nghe chúng tôi nói chuyện bỗng giơ hai tay về phía tôi có vẻ cầu xin; và bà đang lắc đầu.Tôi không hiểu gì cả. Bà đến gần chồng, đặt tay lên vai và nói
-Nhưng, Herwarth ạ, bây giờ là giờ ăn trưa rồi. Sau đó lại phải nghỉ ngơi như lời bác sĩ bảo. Vậy thì xin mời khách đến vào buổi chiều được không ạ. Anne-Marie sẽ đến, cháu biết rõ hơn tôi, và sẽ giúp ông khách.
Vừa nói, bà vừa ra dấu năn nỉ tôi. Bây giờ tôi mới hiểu. Tôi đành cáo từ, và hẹn sẽ trở lại. Ông có vẻ không vui, như thể người ta vừa lấy mất món đồ chơi ưa thích của đứa trẻ ; ông nói:
-Vấn đề không phải là xem ba hay bốn bức tranh vẽ tay, mà là hai mươi bảy bức, mỗi bức của một nghệ sĩ khác nhau, và tất cả đều hoàn chỉnh… Vậy bạn hãy đúng hẹn nhé, nếu không thì chúng ta sẽ không đủ thời gian để xem hết đâu. Bạn sẽ rất ganh tị đấy, bạn càng ganh bấy nhiêu thì chúng tôi là những nhà sưu tập lại càng thích thú bấy nhiêu đấy! Chúng tôi chỉ muốn gom lại tất cả báu vật cho mình, và không để lại cho người khác bất cứ thứ gì!
Bà đưa tôi ra cửa, và tôi nhận thấy bà có vẻ rất ngượng ngùng. một nỗi lo âu thật sâu kín- Bằng một giọng nghẹn ngào, bà lại nói
– Con gái Anne Marie của tôi có thể đến đón ông tại khách sạn không? như thế sẽ tốt hơn, thưa ông.
-Dạ thưa tôi rất vui lòng ạ.

Một giờ sau, một người phụ nữ hơi lớn tuổi ăn mặc rất giản dị đến gặp tôi. Tôi nhận thấy cô ấy có vẻ ngập ngừng để nói lên điều trăn trở của cô, cứ mỗi lần thì gương mặt lại đỏ lên, và đôi tay cứ nắm lấy nếp áo- Rốt cuộc cô cũng bối rối thốt lên:
-Mẹ tôi bảo tôi đến gặp ông…chúng tôi muốn xin ông..tin ông biết… một cách thẳng thắn …trước khi ông đến xem..Bộ sưu tập của cha tôi bị mất đi vài tác phẩm..rất tiếc là một số lớn trong bộ sưu tập ấy-

Cô hít thở thật sâu và nói tiếp: – ông sẽ hiểu sự tàn ác của thời gian là như thế nào… Lúc cha tôi 76 t, ông vẫn còn muốn tham gia chinh chiến, nhưng thị lực của ông trở nên rất kém, còn ngoài ra sức khỏe của ông rất tốt – trước đây ông còn đi bộ, nhưng bây giờ chỉ còn niềm vui duy nhất là ngắm nhìn bộ sưu tập của mình – đúng hơn là mỗi chiều ông đến sờ nắn những bức tranh yêu quý ấy, từng bức một, theo thứ tự mà ngày xưa ông đã sắp, và thuộc lòng – và chẳng quan tâm đến điều gì khác nữa. Mỗi ngày tôi đều đọc kết quả bảng đấu giá cho ông, và khi biết rằng giá tranh xưa ngày càng cao, ông càng vui sướng

Và điều kinh khủng hơn hết, thưa ông- là cha tôi không hiểu gì về giá cả thị trường cũng như thời đại hiện nay…ông ấy không hiểu là chúng tôi đã mất hết tất cả, và với số tiền hưu hàng tháng của ông thì không thể sống đến hai ngày…và nỗi khó khăn lại thêm chồng chất khi anh rể của tôi đã hy sinh ở trận chiến, để lại vợ và bốn con thơ – cha tôi không hề biết đến những thiếu thốn vật chất – Ban đầu chúng tôi ăn tiêu rất dè xẻn, nhưng rồi cũng không kham nổi, nên đã bán vài món trang sức để dành bấy lâu – Nhưng hỡi ôi! cũng không thấm vào đâu vì ông tiêu đến dòng pfennig cuối cùng để mua tranh.

Rồi một hôm, trong nhà không còn gì để bán nữa cả. Không biết xoay sở thế nào, mẹ và tôi phải đem bán món đầu tiên trong bộ sưu tập. Cha tôi sẽ không bao giờ cho phép làm điều ấy. Ông ấy không biết gì cả, không biết thời thế khó khăn thế nào, không biết là đất nước đã thua trong cuộc chiến, vì chúng tôi không đọc tin tức cho ông nghe. Bức tranh mà chúng tôi bán rất có giá trị. Đó là tranh khắc axit của Rembrandt

Khắc axit (tiếng Anh: etching) là kỹ thuật dùng axit hay thuốc cẩn màu (mordant) để cắt các chi tiết của một tấm kim loại, từ đó tạo ra những nét khắc chìm (intaglio) Kỹ thuật này được áp dụng trong tranh in từ khoảng đầu thế kỷ 16.

The Soldier and his Wife. Tranh của Daniel Hopfer, ông được cho là họa sĩ đầu tiên áp dụng kỹ thuật khắc axit vào tranh in

Người mua trả cả triệu marks, chúng tôi tưởng rằng sẽ yên thân trong nhiều năm; nhưng rồi đem gởi ngân hàng, đến hai tháng sau thì chẳng còn gì cả, ông biết đó. Thế là chúng tôi buộc phải bán tấm tranh thứ nhí, rồi lại thêm bức nữa. Tiền gởi đến quá trễ, nên lại mất giá. Rồi chúng tôi tham dự những cuộc ban đấu giá; và đã bị khách hàng lừa,.. cứ thế từng bức tranh lại ra đi, chỉ có một hai bức là được giữ lại. Bởi vì lý do đó nên mẹ tôi đã hoảng lên khi ông đến nhà. Nếu cha tôi mang bộ sưu tập ra cho ông ngay lúc đó, thì mọi việc sẽ đổ bể ..Chúng tôi đã thay thế bằng những bản sao hoặc chỉ đơn giản là những tấm bìa trắng, khi sờ vào thì cũng y hệt như bức tranh, để cho ông không nghi ngờ gì khi chạm đến vật quý. Cha chỉ sờ nắn chúng và đếm lần lượt, nét mặt cha tôi hiện lên niềm hân hoan vui thích như lúc xưa còn nhìn thấy chúng . Cha cũng cho rằng ở thành phố này không ai có đủ tư cách để ngắm những vật báu của mình. Ông yêu một cách say mê mỗi bức vẽ và khắc ấy, đến nỗi cha có thể u buồn đến tận cùng nếu biết được tất cả chúng đều không còn nữa. Từ khi người quản đốc bảo tàng Dresden qua đời, giờ đây ông là người đầu tiên mà cha nghĩ sẽ rất hân hạnh khoe kho báu của ông.


Vì lý do đó, cô ta vừa nói vừa nhìn tôi, đôi mắt đẫm lệ-

-Chúng tôi van nài ông..đừng làm cho cha đau khổ, dùng làm cho chúng tôi thêm khổ đau..xin ông đừng phá vỡ niềm ảo tưởng cuối cùng ấy. Xin ông giúp chúng tôi làm cho cha tin rằng tất cả những bức tranh của cha vẫn thật sự hiện hữu, khi cha sẽ mô tả cho ông. Có thể mẹ và tôi đã hành động không đúng, nhưng chúng tôi không còn cách nào khác, thưa ông: sự sống là quan trọng, nhất là của bốn đứa bé đáng kể hơn rất nhiều so với những mảnh giấy đã sẫm màu. Và mỗi ngày ông ấy mân mê những tờ giấy đó trong suốt ba giờ đồng hồ, như nói chuyện với một người bạn thân. Và hôm nay có lẽ là ngày hạnh phúc nhất của cha, ngày mà cha chờ đợi trong bao nhiêu năm để khoe kho tàng với một vị rất am hiểu về hội hoạ .

Cô ấy đã diễn tả bằng một giọng xúc động đến nỗi tôi khó có thể ghi lại một cách chính xác.Than ôi, tôi đã gặp nhiều người nghèo bị bóc lột một cách đáng xấu hổ và bị lừa dối một cách đê tiện, chỉ vì một mẩu bánh mì, mà phải dứt bỏ của cải quý giá nhất, tài sản thừa kế của tổ tiên họ; nhưng tôi chưa bao giờ gặp trường hợp như thế này, khiến tôi vô cùng bối rối. Tôi đã hứa sẽ giữ bí mật và giúp đỡ những người phụ nữ tội nghiệp này. Chúng tôi cùng nhau về nhà. Trên đường đi, tôi thất kinh ngạc và buồn khi biết sự thiếu hiểu biết của họ đã bị lợi dụng một cách đau thương như thế nào.

Vừa đến ngưỡng cửa, tôi đã nghe lời mời rất to và vui của ông cụ : -Mời vào! Mời vào!, Đôi tai của người khiếm thị chắc hẳn đã nghe bước chân của chúng tôi trên cầu thang- Hôm nay không hề chớp mắt , ông ấy vô cùng nôn nóng khoe báu vật của ông, bà cụ vừa nói vừa mỉm cười. Và cô gái thì đã nói bằng mắt rằng tôi đã hiểu chuyện. Trên bàn là một chồng các bức tranh.

Ông bắt tay tôi và mời tôi ngồi-
-Đây này! Thật nhiều quá..và các quy ông từ Berlin thì không bao giờ có thời gian cả.
Đây là hầu như trọn bộ tác phẩm của danh họa Durer – Đây là bức Đại Mã

Một cách thận trọng chi ly, như thể chạm vào một vật dễ vỡ, ông rút ra khỏi tấm bìa các tông một miếng bìa cứng đóng khung một tờ giấy trống không ố vàng. Ông cẩn thận dùng đầu ngón tay nhấc tấm bìa lên ngay đôi mắt đờ đẫn của mình và say mê nhìn mà không hề thấy. Trên khuôn mặt của ông là sự ngây ngất kỳ diệu của sự ngưỡng mộ.

Đột nhiên, không biết do sự phản chiếu của tờ giấy hay ánh sáng bên trong, đôi đồng tử cứng ngắt bất động của ông bật sáng lên .-Xem đây, bạn đã bao giờ nhìn thấy một bản sao nào tuyệt hơn chưa? Thật là tinh túy, đến từng chi tiết nhỏ nhất Tôi đã so sánh tờ này với bản sao của Dresden-
Ông lật tờ giấy lại và chỉ vào mặt sau, để cho tôi phải xem con dấu ở đó. –
Đây là con tem của bộ sưu tập Nadler, kia là của Rémy và Esdaile. Những nhà sưu tập nổi tiếng này không nghĩ rằng có ngày tuyệt phẩm của họ sẽ nằm trong căn phòng bé này.
Tôi rùng mình khi thấy ông thốt lên bao nhiêu là lời ca tụng , đứng trước một tờ giấy trắng.
Rồi với độ chính xác đáng kinh ngạc ông lấy đầu ngón tay chỉ vào những dấu hiệu của nhà sưu tập chỉ còn tồn tại trong trí tưởng tượng của ông, tôi đột nhiên có cảm giác như mình đang chứng kiến một trò ảo thuật. Cổ họng nghẹn lại, tôi không biết phải trả lời thế nào.
Nhìn sang hai người phụ nữ, tôi lại thấy những cử chỉ van xin của họ. Vì vậy, tôi trấn tĩnh lại và bắt đầu diễn vai trò của mình.
– Ah! thật là một bản sao tuyệt vời!
Ngay lập tức mặt ông rạng rỡ lên
– Tấm này chưa là gì đâu ông bạn ơi tôi phải cho anh xem cuốn Nỗi Sầu và Niềm Đam Mê, thật độc nhất vô nhị. Đây, bạn có thấy vẻ tươi mát này, tông màu ấm áp và bạt lót hoàn hảo này không?
Rồi những ngón tay của ông lần theo những đường viền tưởng tượng:
– Tất cả những người buôn bán tranh ảnh và giám đốc các viện bảo tàng ở Berlin sẽ phải ganh tị!
Ông cứ tiếp tục như thế, trong suốt hai tiếng đồng hồ, để thuyết mình dài dòng một cách long trọng

Quý vị ạ, tôi không thể mô tả cho bạn ấn tượng huyền hoặc của cuộc phô trương mớ giấy lộn này, mà trong trí tưởng tượng của con người tội nghiệp này, chúng vẫn đang hiện hữu trong thực tế, đến nỗi ông lần lượt mô tả chúng mà không có chút sai sót nào, với những chi tiết nhỏ nhất. Bộ sưu tập vô hình, từ rất lâu đã được phân tán khắp bốn phương trời, vẫn tồn tại, và không hao mòn mẻ sứt tí nào đối với người khiếm thị, người bị lừa dối vì lòng từ bi này.
Thiên cảm quá nhiệt tình, sự cởi mở của ông khiến chính tôi cũng bắt đầu tin vào điều đó.

Chỉ một lần duy nhất sự tự tin trong cơn miên hành của ông suyt phải thua: ông ấy vừa mới khoe về độ chính xác của đường cắt trong bức tranh Antiope của Rembrandt, một tác phẩm chắc hẳn là vô giá. Những ngón tay rất nhạy cảm của ông lần theo những đường nét của bức vẽ một cách âu yếm bỗng dưng đã không nhận ra dấu vết trên tấm bìa. Vẻ mặt ông sa sầm lại, và ông nói thầm một cách ngập ngừng: Bức này rõ ràng là Antiope mà!

Ngay lập tức, tiếp tục diễn vài trò của mình, tôi cầm lấy tờ bìa đóng khung và bắt đầu mô tả một cách nhiệt tình và đến từng chi tiết nhỏ nhất bản khắc axit mà trí óc tôi đã ghi nhớ rất chính xác.
Bây giờ khuôn mặt của ông mới hết căng thẳng. Tôi càng tán dương kiệt tác này bao nhiêu thì gương mặt héo úa của ông càng lộ rõ sự thân tình vui vẻ tột bực.
"-Thế là ít ra cũng có người thông thạo ,” ông quay sang hai người phụ nữ và nói.

Cuối cùng, một chuyên giả đã xác nhận sự vô giá của những bức tranh này. Bà và con luôn cằn nhằn tôi đã đem hết tiền vào bộ sưu tập này. Tất nhiên là mọi việc không dễ dàng chút nào. Trong sáu mươi năm, không bia, không rượu, không thuốc lá, không du lịch, không đi xem hát – chỉ dành dụm cho bộ sưu tập này! Nhưng các người sẽ thấy: khi tôi không còn đây nữa, bà và con sẽ trở nên giàu, giàu hơn tất cả dân trong thành phố, giàu như những người giàu có nhất ở Dresden. Sau đó, các người sẽ thấy vui mừng vì sự điên rồ của tôi. Nhưng chừng nào tôi còn sống, không một tờ giấy nào ra khỏi nhà. Hãy mang tôi đi trước rồi sau đó mới đến bộ sưu tập của tôi.
Vừa nói, ông vừa vuốt ve những tấm bìa trắng nhách như thể đó là một người thân yêu.
Một cảnh tượng thật kinh ngạc và cảm động! Trong suốt những năm chiến tranh đau buồn vừa qua, tôi chưa bao giờ thấy một khuôn mặt nào bừng lên niềm hạnh phúc trong sáng và hoàn hảo như thế.

Hai người phụ nữ đứng bên cạnh ông sững sờ như hình những vị thánh mà ta vẫn thấy trên các bức tranh xưa trước ngôi mộ của Đấng vừa sống lại. Niềm hạnh phúc bừng sáng trên khuôn mặt nhăn nheo của họ, với đôi mắt vui cười ướt đẫm nước mắt. Còn ông ấy vẫn còn ngụp lặn trong vui sướng với lời khen của tôi. Tôi thở phào nhẹ nhõm khi những bức tranh phỉnh gạt ấy cũng được mang đi và họ đem cà phê đến.

Niềm cảm hứng tuôn trào khiến ông có vẻ trẻ lại rất nhiều. Rồi ông vừa kể cho tôi nghe những lần ông mua được tranh như thế nào vừa mò mẫm sờ vào bức tranh.
Cho đến khi tôi nói đã đến lúc tôi phải cáo từ, thì ông tỏ ra bực tức và dậm chân như đứa trẻ –
Ông nói:
- Ồ, không thể được, anh bạn mới nhìn thấy có một nửa kho tàng của tôi thôi!

Khi thấy ông ngoan cố như vậy, hai người đàn bà giải thích một cách khó khăn rằng phải để cho tôi đi nếu không sẽ bị nhỡ chuyến tàu. Sau khi không thể làm gì được, một cách tuyệt vọng, ông cầm lấy tay tôi, vuốt ve theo cách trìu mến của một người khiếm thị như thế muốn chứng tỏ tình cảm mà lời nói không thể diễn tả được hết-

-Cuộc viếng thăm của bạn đã mang cho tôi một niềm vui vô tận, giọng nói đầy xúc cảm mà tôi không bao giờ quên được, Thật là một sự an ủi lớn lao cho tôi khi được tiếp một người sành về hội họa như bạn. Nhưng bạn đã không hoài công khi đến nhà một người khiếm thị tội nghiệp. Tôi hứa sẽ thêm một điều khoản vào di chúc của tôi rằng gia đình anh sẽ chịu trách nhiệm về việc vinh dự bán đấu giá bộ sưu tập của tôi. Bạn hãy hứa với tôi rằng bạn sẽ thực hiện một danh mục thật đẹp mắt nhe. Đây sẽ là bia mộ của tôi đó
Tôi nhìn vợ và con gái ông. Họ nép vào nhau, bỗng rùng mình và cả hai hợp thành một cơ thể đang run lẩy bẩy.
Phần tôi, một cảm xúc kỳ quặc dâng lên khi tôi nghĩ ông cụ đáng thương này, vẫn không một chút nghi ngờ, đã giao cho tôi việc bán bộ sưu tập của ông, một bộ tranh quý đã bay đi tứ phương từ rất lâu rồi.

Quá cảm động, tôi đã phải hứa những điều mà tôi sẽ không bao giờ có thể giữ lời được. Và rồi, đôi mắt đờ đẫn của ông lại sáng lên. Qua cái nắm tay của ông, tôi cảm nhận được cả tâm huyết của ông phó thác cho tôi. Hai người phụ nữ tiễn tôi đến cửa. Họ không dám nói chuyện với tôi. Đôi tai rất nhạy của ông sẽ nghe được những lời thì thầm nhỏ nhất. Nhưng đôi mắt đẫm lệ của họ biểu lộ lòng biết ơn đối với tôi.

Tôi lảo đảo bước xuống cầu thang như trong mơ. Trong thâm tâm, tôi cảm thấy xấu hổ. Tôi đã đến như một thiên thần của một câu chuyện cổ tích trong ngôi nhà của những người nghèo khó. Tôi đã phục hồi thị lực cho một người mù trong hai giờ, cố ý nói dối và tiếp tay cho một sự lừa dối có lương tâm. Thật ra, tôi muốn đến để có được một vài món quý hiếm bằng mưu mẹo.

Điều mà tôi mang về chính là thứ vô giá này: ký ức về một nhiệt huyết sống động và thuần khiết, về một sự phấn khích tinh thần hoàn toàn tận tâm cho nghệ thuật mà con người dường như đã đánh mất từ lâu.
Lóng tôn kính sâu sắc tràn ngập trong tôi, nhưng tôi cũng cảm thấy có một nỗi nhục nào đó len vào mà không hiểu tại sao. Khi ra tới đường, tôi nghe thấy tiếng cửa sổ mở mạnh ra và có ai gọi tên tôi.
Ông cụ đã kiên quyết nhìn theo tôi với ánh mắt không hồn. Ông nhoài người thật xa ra bên ngoài cửa sổ đến nỗi hai người phụ nữ phải giữ chặt người ông.
Ông vẫy chiếc khăn tay và hét to “Chúc đi đường bằng an!” thật trong trẻo và hân hoan như giọng trẻ thơ.
Tôi sẽ không bao giờ quên niềm vui của người đàn ông ấy.
Trên cao ông đang thanh thản hạnh phúc, còn bên dưới là những người qua đường tất bật và đầy âu lo.

Một ảo ảnh an lành như một đám mây mờ ảo che khuất thế giới thực tại cùng vô vàn hỗn loạn mà ông không bao giờ biết được.
Và tôi nhớ đến câu nói rất thiết thực này – hình như của Goethe:
“Các nhà sưu tập là những kẻ hạnh phúc.»

 Stefan Zweig  – ThaiLan dịch