Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

NGÀN NĂM TÓC NHỚ Ngon Tay - Thơ: Nguyễn An Nam - Nhac: Phạm Anh Dũng -Ca Sĩ: Hồng Nhiên & Minh Đạt

Thơ: Nguyễn An Nam
Nhac: Phạm Anh Dũng
Ca Sĩ: Hồng Nhiên & Minh Đạt

Mẹ Và Xứ Nẫu


Gió biển thổi vào mặt khi chúng tôi đặt chân đến phi trường Punta Cana của Cộng hòa Dominique. Mùi gió muối, làm lòng tôi chùng xuống khi nhớ về quê hương biển mặn của một tỉnh miền Trung, một tỉnh đặc thù khi nghe giọng nói mà nếu bạn là người con xứ đó không thể nào không nhận ra.

Chuyến đi tắm biển này là một chuyến đi định mệnh, chuyến đi làm lòng tôi lắng xuống, nhớ đến Mẹ khi nghe một âm hưởng đã in sâu vào tâm trí tôi từ khi còn nhỏ với bao năm rời xứ đến hôm nay tôi vừa tìm lại được.
Trong không khí ồn ào của 10 cô gái đủ mọi miền đất nước Việt nam đến từ Montreal, giọng nói của mẹ lanh lãnh giữa sóng biến lọt vào tai tôi. Mẹ ơi, bao năm rồi, con không còn nghe giọng của mẹ. Giữa muôn màu bản sắc văn hóa Việt, nhiều âm hưởng của Bắc, Trung Nam, con nghe tiếng nói đầy thân thương của mẹ, giọng nói của một địa phương với niềm tự hào, gắn với lịch sử, ngôn ngữ và phong cách sống đặc trưng, đó là giọng xứ "NẪU". Vậy xứ Nẫu ở đâu?, Vì sao lại gọi là “Nẫu”? Và điều gì khiến xứ Nẫu trở nên đặc biệt trong lòng người Việt?

Cụm từ " xứ Nẫu" là một cách gọi mộc mạc, thân thương dùng để chỉ vùng đất Bình Định và Phú Yên, nơi nổi bật với giọng nói đặc trưng và phong cách sống đậm chất miền Trung. Để hiểu rõ từ “Nẫu” bắt nguồn từ đâu, chúng ta cần ngược dòng lịch sử. Vào năm 1558, chúa Nguyễn Hoàng được vua Lê cử vào trấn nhậm Thuận Quảng (gồm Thuận Hóa – Quảng Nam ngày nay) và bắt đầu mở rộng lãnh thổ về phía Nam. Đến năm 1578, Phù Nghĩa hầu Lương Văn Chánh làm Trấn biên quan, đưa lưu dân nghèo vào khai khẩn vùng đất từ đèo Cù Mông đến đèo Cả (tỉnh Phú Yên ngày nay). Năm 1611, phủ Phú Yên được thành lập. Vào thời kỳ đó, do địa bàn còn hoang sơ và dân cư thưa thớt, hệ thống hành chính tại đây được tổ chức khá linh hoạt. Dưới cấp huyện có các đơn vị như thuộc, phường, nậu, man. Trong đó, “nậu” là đơn vị quản lý nhóm người cùng làm một nghề, và người đứng đầu được gọi là đầu nậu. 

Ví dụ:
- Nậu nguồn: người khai thác rừng,
- Nậu nại: người làm muối,
- Nậu rớ: người đánh cá bằng rớ,
- Nậu cấy: người làm ruộng thuê.

Đến năm 1726, các đơn vị như “nậu” và “thuộc” bị xóa bỏ. Lúc này, từ “nậu” dần thoát khỏi nghĩa hành chính và biến chuyển thành đại từ nhân xưng ngôi thứ ba mang ý nghĩa “người ta”, “họ” trong tiếng địa phương.
Từ “nậu” ban đầu đã trải qua một quá trình biến âm tự nhiên do ảnh hưởng của phương ngữ địa phương. Tại Bình Định và Phú Yên – nơi đặc trưng bởi lối phát âm không phân biệt rõ dấu hỏi và dấu ngã, từ “nậu” đã được nói trại thành “nẫu”.
Người dân xứ này thường dùng những cách nói rất đặc trưng như:
- “Ổng” thay vì “ông ấy”
- “Chỉ” thay vì “chị ấy”
- “Nẫu” thay cho “người ta” hoặc “họ”
Chẳng hạn:
- “Cái nhà đó là của nẫu”
- “Hôm nay nẫu đi đâu mà đông dữ rứa?”

Chính những kiểu nói thân quen ấy đã trở thành dấu hiệu nhận diện rõ nét của người xứ Nẫu, khiến giọng nói nơi đây không thể lẫn với bất kỳ vùng miền nào khác. Dần dần, từ “nẫu” không chỉ dừng lại ở một biểu hiện ngôn ngữ mà đã trở thành một phần trong văn hóa bản địa – đi vào ca dao, tục ngữ, thể hiện rõ nét sự mộc mạc, nghĩa tình của con người miền Trung:

Ai về sông núi Phú yên
Cho nẫu nhắn gởi ni niềm nhớ quê.

Và chính bởi sự độc đáo, gần gũi ấy mà “nẫu” đã trở thành tên gọi đặc trưng của cả vùng đất, để rồi người ta trìu mến gọi nơi này là xứ Nẫu một miền đất vừa bình dị, vừa đậm đà bản sắc. Không chỉ dừng lại ở giọng nói, xứ Nẫu còn nổi bật bởi tính cách con người và phong cách sống mang màu sắc riêng:
- Văn hóa và con người: Người dân Xứ Nẫu nổi tiếng với tính cách chân chất, thẳng thắn và nghĩa tình. Giọng nói “nằng nặng” đặc trưng, với cách phát âm không phân biệt rõ dấu hỏi và dấu ngã, tạo nên nét riêng biệt không lẫn vào đâu được.
- Nghệ thuật truyền thống: Xứ Nẫu là cái nôi của nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống đặc sắc. Nghệ thuật tuồng (hát bội) và bài chòi là hai loại hình tiêu biểu, phản ánh đời sống văn hóa và tinh thần của người dân nơi đây. Đặc biệt, bài chòi đã được UNESCO công nhận là văn hóa Việt Nam.
- Ẩm thực đậm đà: Ẩm thực Xứ Nẫu phong phú và đậm đà hương vị biển cả. Một số món ăn đặc sản nổi tiếng bao gồm: Mắt cá ngừ đại dương, Bánh ít lá gai, Bún chả cá Quy Nhơn, Khô bò một nắng muối kiến vàng.
- Cảnh đẹp thiên nhiên: Xứ Nẫu sở hữu nhiều danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp, thu hút hàng triệu khách du lịch mỗi năm như: Bảo tàng Quang Trung, Kỳ Co, Eo Gió, Gành Đá Đĩa, Mũi Điện, Đầm Ô Loan, Hàn Mạc Từ…

Từ một cách gọi dân dã, “xứ Nẫu” nay đã trở thành biểu tượng của cả một vùng đất với giọng nói đặc trưng, văn hóa và con người. Xứ Nẫu là để cảm, để thương, và để trải nghiệm.

Kỷ niệm một chuyến đi và riêng tặng người con gái xứ Nẫu lần đầu gặp mặt khi nghe giọng nói làm tôi nhớ đến mẹ.

Lệnh Hồ Công Tử, 
Montreal, tháng 5-2026
(Dựa vào tài liệu trên Internet)

Mẹ Như Tiên Nữ Nuôi Con Nên Người


Mẹ như tiên nữ giáng trần
Sinh thành dưỡng dục trong ngần yêu con
Bể dâu cơ cực không mòn
Hy sinh tất cả cho con thành tài...

MD.05/10/26
LuânTâm
Thân cảm tặng"Tình Yêu Má"
của TVS đa tài hoa thật quý Kim Oanh

Di Hoa Chủng Trúc Nguyễn Triều* - 移花種竹-阮朝


Nguyên tác: Hán bản:

Di Hoa Chủng Trúc – Nguyễn Triều* 移花種竹-阮朝

Di hoa chủng trúc cận quan thân 移花種竹近觀身
Lộ nhập thương đài vị hữu trần 路入蒼苔未有塵
Hàn khuyển lệ nhân song hạ thệ 寒犬唳人窗下逝
Thành quân quy thạnh ảnh trì tân 成君歸盛影池津

*Triều đại nhà Nguyễn Việt Nam

Đây là một bài thất ngôn tứ tuyệt hoàn chỉnh, luật bằng, vần bằng, đúng niêm vận, và tiết tấu 2/2/3.

Giải nghĩa các từ khó:

- Di hoa: dời hoa, bứng hoa từ chỗ này sang chỗ khác để thưởng lãm.
- Chủng trúc: trồng trúc (tre), biểu tượng của bậc quân tử, sự kiên cường và thanh khiết.
-Di hoa chủng trúc: dời hoa, trồng trúc. Đây là những thú vui thanh tao của người xưa để tu tâm dưỡng tính.
-Cận quan thân: gần gũi để quan sát chính bản thân mình (tự tỉnh, hướng nội).
-Thương đàit: rêu xanh. Hình ảnh tượng trưng cho sự tĩnh lặng, cũ kỹ hoặc nơi ít người qua lại.
-Vị hữu trần: chưa có bụi bặm (bụi trần). Ý chỉ sự thanh sạch, thoát tục.
-Hàn khuyển: con chó lạnh (trong đêm lạnh).
-Lệ nhân: tiếng sủa/hú gọi người (thường dùng chữ "lệ" cho tiếng chim kêu bi thương, ở đây tả tiếng sủa vang trong đêm vắng).
-Song hạ thệ: chạy lướt qua dưới cửa sổ.
-Thành quân quy thạnh: thường được hiểu là người về trong tư thế ung dung, khiến cả không gian (mặt nước, bờ ao) như bừng sáng theo.
-Trì tân: bến ao, bờ nước.

Dịch nghĩa và bình luận:

Di hoa chủng trúc cận quan thân Dời hoa trồng trúc để được gần gũi mà quán chiếu thân mình, Hình ảnh "hoa" và "trúc" tượng trưng cho lối sống thanh cao, tao nhã. Việc chăm sóc hoa trúc không chỉ là thú vui mà là cách để để người ta sống gần gũi với thiên nhiên và qua đó soi xét nội tâm. tu dưỡng bản thân mình. Nó gợi lên hình ảnh một tâm hồn thư thái, tìm thấy sự an nhiên và bài học đạo lý thông qua việc chăm sóc cây cảnh.

Lộ nhập thương đài vị hữu trần Lối vào đầy rêu xanh, chưa vướng chút bụi trần. Câu này gợi tả một không gian biệt lập, tinh khiết, chưa bị sự xô bồ của thế gian làm ô nhiễm.

Hàn khuyển lệ nhân song hạ thệ Con chó trong đêm lạnh sủa vang rồi chạy vụt qua dưới cửa sổ, Sự xuất hiện của âm thanh (tiếng chó sủa) và chuyển động (chạy vụt qua) phá tan và làm nổi bật cái khung cảnh tĩnh mịch. Đây là một nét chấm phá cực kỳ độc đáo, tạo nên cái "thần" cho bài thơ này. Thông thường, thơ cung đình chuộng những linh vật cao sang như long, lân, quy, phụng, nhưng ở đây tác giả lại đưa vào một hình ảnh rất đời thường, một tư duy nghệ thuật rất cởi mở của các vua triều Nguyễn. Đó là sự giao thoa giữa nghệ thuật bác học và đời sống thực tại, biến cung điện không chỉ là nơi quyền uy mà còn là một "khu vườn tâm hồn" gần gũi, sống động, làm bài thơ trở nên gần gũi và thực tế hơn.

Thành quân quy thạnh ảnh trì tân Khiến bóng dáng người trở về thêm phần rạng rỡ in trên bến nước ao xưa. Đón người trở về trong cảnh rực rỡ, bóng hình in xuống bờ nước, gợi lên sự viên mãn tự tại của một tâm hồn đã tìm thấy sự an nhiên sau những phút giây tĩnh lặng.
  
Dịch thơ:

Thể thất ngôn: 

Dời hoa trồng trúc xét soi thân,
Rêu biếc đường vào chẳng bụi trần.
Chó lạnh sủa vang ngoài cửa sổ,
Người về rạng rỡ bến ao xuân.

Dời hoa trồng trúc cạnh am mây,
Đường lót rêu xanh bụi chẳng bay.
Chó sủa bóng ai ngoài cửa sổ,
Về mang theo giỏ ánh chiều hây.

Dời hoa trồng trúc xét thân mình,
Lối cỏ rêu xanh sạch bụi vinh.
Chó lạnh sủa vang bên cửa sổ,
Bờ ao rực rỡ bóng người in.

Thể lục bát: 

Dời hoa trồng trúc quanh nhà,
Xét soi tâm tánh mới là thanh bai.
Lối rêu sạch bụi trần ai,
Chó lạnh sủa bóng gió bay qua mành.
Người về rạng rỡ hồ xanh,
Bến ao nước biếc vẽ thành tranh thơ.

Thể song thất lục bát: 

Soi tâm tánh chăm hoa dưỡng trúc,
Lối rêu xanh sạch bụi trần ai.
Bên song chó lạnh sủa dài,
Người vể rạng rỡ ao đầy bóng đêm.

Translation:

The Zen like poem emphasize the "unpolluted" nature of a life dedicated to simple pleasures of planting flowers and bamboo.

Di Hoa Chủng Trúc 移花種竹 Moving Flowers To Plant Bamboos

Di hoa chủng trúc cận quan than 移花種竹近觀: Moving flowers, planting bamboo, observing oneself closely, This suggests that gardening is a form of self-reflection and cultivation of character.

Lộ nhập thương đài vị hữu trần 路入蒼苔未有塵: The path is covered in green moss, untouched by the dust of the mundane world. It signifies a place of purity and seclusion.

Hàn khuyển lệ nhân song hạ thệ 寒犬唳人窗下逝: A cold dog barks at people and passes beneath the window. This adds a layer of quiet, rural life.

Thành quân quy thạnh ảnh trì tân 成君歸盛影池津: You return in glory, your shadow reflecting in the pond's. This line often refers to a successful return to one's roots or a peaceful retirement after a career.

Nguồn gốc bài thơ:

Bài thơ -mang phong cách thiền vị thanh tao thoát tục- là một trong khoảng 1500 bài thơ đặc sắc được tuyển chọn từ tác phẩm của các vua nhà Nguyễn trong hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế. Xuất phát từ đặc trưng của hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình, bài thơ có 2 đặc điểm khác biệt với hầu hết các bài thơ khác:

không tựa đề
không tên tác giả.

Bản thân bài thơ không có tựa đề riêng biệt vì:

Tính chất trang trí: Các bài thơ được tuyển chọn từ các tập thơ của các vua triều Nguyễn (như Ngự chế thi) để chạm khắc lên các ô hộc theo lối "nhất thi nhất họa" (một bài thơ, một bức tranh) .

Định danh theo vị trí: Trong các tài liệu nghiên cứu của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, người ta thường gọi tên bài thơ bằng cách dẫn câu đầu tiên hoặc định danh theo vị trí ô hộc cụ thể trên công trình (ví dụ: bài số xxx, liên ba phía Đông, điện Thái Hòa).

Chủ đề chung: Nếu phải xếp vào một nhóm, bài thơ này thuộc chủ đề "Nhàn đàm/Thanh ngã" – ca ngợi lối sống thanh cao, ẩn dật và sự tĩnh lặng của tâm hồn giữa cảnh sắc thiên nhiên.

Bài thơ không có đặc điểm tác giả: trong hệ thống di sản Huế, các bài thơ này thường được coi là "tác phẩm của hoàng đế" nói chung vì:

Sự chuẩn y tối cao: Ngay cả khi có sự tham gia soạn thảo của các đại thần trong Nội các, mỗi chữ khắc lên cung điện đều phải được đích thân nhà vua xem xét và phê duyệt.

Tính biểu tượng: Tác giả không chỉ là một cá nhân mà là đại diện cho vẻ đẹp trí tuệ và đạo đức của một triều đại. Việc nhà vua viết về những điều bình dị như trồng trúc, rêu phong hay tiếng chó sủa chính là để khẳng định thái độ sống hòa hợp với thiên nhiên và sự tự tại trong tâm hồn.

Các vị vua nhà Nguyễn vốn là những tâm hồn thi sĩ, họ trực tiếp sáng tác hoặc chuẩn y các bài thơ tuyển chọn để chạm khắc lên các cung điện, lăng tẩm Cố đô Huế.

Bài Di Hoa Chủng Trúc được trưng bày tại Điện Long An (nay là Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế).

Vị trí: Bài thơ được khảm xà cừ trên các dải liên ba (phần gỗ ngăn cách giữa các hàng cột và mái) của Điện Long An. Đây là ngôi điện được xây dựng năm 1845 dưới thời vua Hiến Tổ (niên hiệu Thiệu Trị).

Chủ đề: Bài thơ thuộc chủ đề "Nhàn đàm/Thanh ngã". Nội dung miêu tả cảnh sắc thanh tĩnh của cung đình với hoa, trúc, rêu xanh và hình ảnh con vật (chó lạnh), qua đó thể hiện tâm thế tự tại, xa rời bụi trần của nhà vua.

Tập thơ: Bài thơ thuộc tập Ngự chế thi của vua Thiệu Trị (Hiến Tổ Chương Hoàng đế). Vua Thiệu Trị là vị hoàng đế nổi tiếng với việc để lại hàng nghìn bài thơ ngự chế được chạm khắc trực tiếp trên các công trình kiến trúc tại cố đô Huế, tạo nên một "bảo tàng thơ" độc đáo.

Hệ thống hình chạm khắc tại Điện Long An kết hợp cùng tập Ngự chế thi của vua Thiệu Trị tạo nên một "bảo tàng thơ" vô giá, được công nhận là Di sản Tư liệu thế giới thuộc chương trình Ký ức Thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

Dưới đây là các đặc trưng nổi bật của nghệ thuật này:

Hình thức "Nhất thi nhất họa": Đây là phong cách trang trí đặc trưng với một ô thơ đi kèm một ô hình vẽ hoặc chạm khắc. Tại Điện Long An, các bài thơ được khảm xà cừ, chạm nổi thếp vàng hoặc chạm trực tiếp lên các dải liên ba, đố bản bằng gỗ lim.

Chất liệu và kỹ thuật: Các nghệ nhân sử dụng kỹ thuật chạm trổ tinh xảo, kết hợp khảm cẩn các loại vật liệu quý như ngà voi, xương, xà cừ và gỗ quý. Hình ảnh chạm khắc thường là các đề tài truyền thống như "bát bửu", "tứ thời" (mai, lan, cúc, trúc), hoa lá uốn lượn và các đồ án hình kỹ hà.


Tập thơ Ngự chế: Vua Thiệu Trị có nhiều tập thơ được khắc lên kiến trúc, tiêu biểu là tập Thần Kinh Nhị Thập Cảnh (ca ngợi 20 cảnh đẹp đất Thần kinh) và các bài thơ trong bộ "Ngự đề đồ hội". Bài thơ Di Hoa Chủng Trúc nằm trong số hàng trăm bài thơ ngự chế được tuyển chọn để trang trí, biến ngôi điện thành một tác phẩm nghệ thuật tổng hòa giữa kiến trúc, hội họa và văn chương.Giá trị nghệ thuật: Điện Long An được đánh giá là công trình có nghệ thuật chạm khắc gỗ đẹp nhất và còn lại gần như nguyên vẹn trong quần thể di tích cố đô Huế. Mỗi tấm bản gỗ không chỉ là vật liệu xây dựng mà còn là một bức tranh, một trang sách ghi lại tâm hồn của vị vua thi sĩ.

Hình chạm khắc trong Điện Long An, tập Ngự chế thi của vua Thiệu Trị

Bài hồi văn: Vũ Trung Sơn Thủy 雨中山水

Trong điện còn có hai bài thơ Vũ Trung Sơn Thủy 雨中山水 (Cảnh sông núi trong mưa) và Phúc Viên Văn Hội Lương Dạ Mạn Ngâm 福園文會良夜漫吟 (Buổi gặp gỡ văn học ỏ Phước Viên - Một đêm ngâm thơ an lành) rất đặc biệt được làm theo kiểu "hồi văn liên hoàn" gồm 56 chữ Hán đủ cho một bài thơ luật thất ngôn bát cú. Theo ghi chú của tác giả, từ các vần chính có thể biến hóa thành các bài thơ thất ngôn hoặc ngũ ngôn, tổng cộng có 64 cách đọc.

Tuy nhiên, người ta khám phá ra rằng thơ có thể đọc xuôi, đọc ngược, đổi chiều, xuyên tâm, nhảy chữ và nhiều cách khác…làm thành 64 bài thơ thất ngôn bát chú khác nhau. Mỗi bài thơ thất ngôn lại có thể làm thành một bài thơ ngũ ngôn, mỗi bài thơ bát cú có thể làm thành 2 bài thơ tứ tuyệt, và với nhiều cách đọc khác, 56 chữ có thể viết thành hàng trăm bài thơ khác nhau. Cho đến nay việc giải mã riêng hai tác phẩm này của vị vua thi sĩ Thiệu Trị vẫn còn chưa tìm ra hết các đáp án.


Bài hồi văn Phúc Viên Văn Hội Lương Dạ Mạn Ngâm
福園文會良夜漫吟

Tham chiếu:

Điện Long An, một tuyệt phẩm kiến trúc Việt thời Nguyễn - ASEAN News
Hai bài thơ có hàng trăm cách đọc của vua Thiệu Trị - Tạp chí Đáng Nhớ

Phí Minh Tâm
21-5-2026

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2026

Còn Lại Em Với Mùa Thu - Thơ: Ngô Huy Khánh Trân - Nhạc: Nguyên Bích - Ca Sĩ: Vân Châu

Thơ: Ngô Huy Khánh Trân
Nhạc: Nguyên Bích
Ca Sĩ: Vân Châu

Đợi Em

 
(Với TTQT)

Thắc thỏm ta chờ em ghé chơi
Để ta được ngắm nụ em cười
Để ta tíu tít kìa em tới
Để giỡn nắng chiều líu ríu rơi.

Ừ, đến đi nào, đến ngắm chơi
Vườn xuân rúc rích gió vui cười
Kìa đôi én liệng, chừng như đợi
Một dáng kiều thơm, mặt sáng ngời

Ừ, đến đi nào, đến ghé chơi
Để đêm thêm đắm mắt em cười
Để vườn xưa đượm hương gió mới
Để rộn tiếng lòng yêu mến ơi.

Hà Nội, 3G30 - 25/03/2023
Đặng Xuân Xuyến
 

Tiết Phụ Kiên Trinh Bà Phan Thị Minh Yến Phu NhânTướng Quân Lê Nguyên Vỹ

 

Mất nhà mất Nước mất người thương
Một Mẹ bốn Con vượt dặm trường
Đất khách con côi trau hạnh - học
Quê người mẹ góa dệt tình thương
Giai nhân cẩm chướng đang xuân sắc
Tiết phụ hải đường tỏa diễm hương
Cắt tóc chuyên tay nuôi dạy trẻ
Thành nhân chi mỹ nguyệt soi gương

Nguyễn Minh Thanh kính bút

Lược truyện: Bà Phan Thị Minh Yến:

Bà Phan Thị Minh Yến người Hải Phòng theo cha mẹ di cư vào Nam năm 1954. Năm 1964, cô Phan Thi Minh Yến 19 tuổi lập gia đình. Tiếp theo là 10 năm làm vợ lính thời chinh chiến. Rồi bắt đầu làm mẹ. Những đứa con lần lượt ra đời.: Quang, Minh, Chính, Đại. Ba đứa con trai đầu đúng tên. Riêng cô gái út được gọi là em Đại ở trong gia đình. Khi ở lớp học là Tường Vi .

Tháng 4 năm 1975, bà Phan Thị Minh Yến khoảng 30 tuổi dẫn 4 con từ 6 tuổi đến 10 tuổi di tản sang Hoa Kỳ. Chồng Bà, Tướng Lê Nguyên Vỹ bận việc quân không tiễn chân vợ con được. Và rồi, vĩnh biệt, tử biệt,.TUẪN TIẾT..!!!. Từ đó Bà Phan Thị Minh Yến trở thành góa phụ và ở vậy nuôi con...!!!.

Tới Hoa Kỳ, mẹ trẻ và 4 con nhỏ long đong...!! Bà Minh Yến bắt đầu bằng nghề cắt tóc. Duy nhứt làm nghề cắt tóc. Cố gắng tự lập nuôi con. Bà vừa làm mẹ, vừa làm cha. Bà Minh Yến thiếu thời là nữ sinh trường đầm Sài Gòn, rồi trở thành vợ lính sống cảnh trại gia binh. Sau cùng trở thành góa phụ truân chuyên...!! Qua bao năm trời Bà đương đầu nghịch cảnh, các con đã trưởng thành, tốt nghiệp đại học, Bà đã có cháu nội cháu ngoại.
Và sau khi ổn định, Bà đã liên lạc được với bà Mẹ Chồng ...



Những Nhạc Sĩ Từng Cống Hiến Cho Nghệ Thuật Ca Nhạc Việt Ở Paris

Xuân Vinh Người Nghệ Sĩ Cô Đơn

Nhạc sĩ Xuân Vinh (1943 - 2009) sinh năm 1943 tại Ninh Bình, di cư vào Nam 1954, theo học tại trường La San Đức Minh và La San Taberd. Ông học nhạc ở dòng Chúa Cứu Thế và các lớp nhạc khác Trường Bach. Trường Suối Nhạc. Ông thuộc gia đình khá giả ở Sài Gòn, đến tuổi quân dịch, nhờ giỏi âm nhạc nên ông đã thi vào ban nhạc nhẹ của Hải Quân Việt Nam. (Espana Cani) và làm tại Cục Tâm Lý Chiến, đài phát thanh quân đội. Ở đây ông được theo học khóa sáng tác 9 tháng và tốt nghiệp sau nhạc sĩ Nhật Trường một năm. Thời gian phục vụ trong quân đội VNCH, ông đã theo ban nhạc trình diễn khắp nơi trong miền Nam, ra tận Đồng Hới và làm cộng tác cứu trợ Tết Mậu Thân. Sau 4 năm thi hành quân dịch ông được giải ngũ và mở khoá học nhạc cấp tốc cho các học sinh sắp đi du học.
Ngày 1 tháng 5 năm 1975 ông cùng với mẹ xuống Rạch Giá vượt biên đến Thái Lan, sau đó định cư tại Pháp. Hành trang mang theo là một áo mưa, một chiếc đồng hồ. Ở Paris ông vào trường Beuscher học thêm nhạc Jazz.

Nhạc sĩ Xuân Vinh tính hiền hòa, khiêm nhường và ít nói nhưng rất khó tính về âm nhạc. Từ ngày ra hải ngoại ông ngừng sáng tác, nhưng vào ngày 22 tháng 5 năm 1999 ông mời tôi ra quán cà phê Paris và trao tặng tôi ca khúc Hạ Buồn mà ông mới phổ thơ tôi. Đây là một tặng phẩm tinh thần quý giá. Ông trao tôi bản viết tay còn dấu sửa chữa. Ông nói:
«Tôi muốn để nguyên bản viết thế này tặng anh mới chân thành, vì đã chăm chú vào từng lời thơ hợp với từng nốt nhạc. Còn chép lại sạch thì dễ đọc hơn, nhưng anh không thấy sự chăm chú đó! »
Tôi xúc động nắm tay ông nói lời cảm ơn. Đó là ca khúc cuối cùng của đời ông.
Những nhạc sĩ đệm dương cầm hàng đầu trong các ban nhạc ở Paris: Nhạc sĩ Jules Tambicannou, nhạc sĩ Xuân Vinh, nhạc sĩ Nguyễn Duy Thiện và nhạc sĩ Nam Anh, Trang Bá Tùng, Xuân Giao... Đó là những người nhạc sĩ chuyên nghiệp.
Trong lãnh vực âm nhạc, hai nhạc sĩ Xuân Vinh và Tambicannou đều khó tính nhất Paris, cả hai đều không chịu đệm nhạc cho ca sĩ hát nếu ca sĩ đó không chịu dợt nhạc trước. Đã nhiều lần hai nhạc sĩ đó bỏ ngang chương trình ca nhạc sách đàn ra về vì không chịu đệm nhạc cho những ca sĩ hát những ca khúc không có ghi trong chương trình. Hai nhạc sĩ đều dành cả đời cho âm nhạc và sống bằng nghề âm nhạc.
Riêng với tôi, nhạc sĩ Xuân Vinh và nhạc sĩ Jules Tambicannou rất quý. Mỗi lần chúng tôi mời hai anh tham gia những sinh hoạt văn học nghệ thuật, những chiều nhạc thính phòng hai anh đều nhận lời. Chúng tôi phụng sự văn hóa nên bỏ tiền túi ra tổ chức mà không bán vé, mục đích giới thiệu những tác phẩm hay trong dòng âm nhạc Việt Nam, và những tác phẩm văn thơ giá trị, do đó tôi nói với nhạc sĩ 

Xuân Vinh:
«Anh là nghệ sĩ, xin đến giúp chúng tôi một tay. Những danh ca góp mặt trong phần văn nghệ đều không có thù lao, các anh chị chỉ muốn anh hoặc anh Jules Tambicannou chơi nhạc. Hôm nay có mặt cả hai anh, tôi mong chương trình được tốt đẹp.»

Nhạc sĩ Xuân Vinh:
« Được anh mời là tôi vui rồi, có anh Jules nữa thì phần nhạc thêm đặc sắc, tôi sẽ chọn một số ít ca khúc để đệm nhạc, phần còn lại là của anh Jules. Tuy nhiên tôi tham dự là phần nghệ sĩ góp mặt, nhưng tiền chuyên chở các dụng cụ nhạc và tiền bảo hiểm dàn âm thanh xin anh chi phí cho».

Tôi hiểu ông, nhưng tôi muốn thương lượng một giá chi phí tượng trưng, nhưng ông lại muốn nâng giá lên cao, cuối cùng chúng tôi chấp nhận cái giá mà ông đề nghị. Cứ mỗi lần như thế nhạc sĩ lại mang theo bốn chai rượu đỏ đắt tiền đến tặng chúng tôi để bù vào khoảng nâng giá.
Ông nói: «Biết anh không uống rượu nhưng tôi tặng cho các bạn uống lúc nghỉ giải lao.»
Dù tài hoa nhưng nhạc sĩ Xuân Vinh vẫn thích sống độc thân, có lẽ vì ông chán ngán cảnh vợ chồng. Thuở còn trẻ ông có yêu một người, nhưng người đó theo lệnh gia đình đi lấy chồng làm ông thất tình để ôm mãi trong lòng mối tình si, nên ông cho ra đời ca khúc Cuộc Tình Đã Mất, có giai điệu buồn, ca từ ray rứt, tiếc nuối. Ca khúc được nhiều ca sĩ trình bày: Khánh Ly, Thiên Trang, Elvis Phương, Cẩm Ly, Ngọc Lan, Dạ hương, Uyên Phương, Ái Vân, Tuấn Anh...

«Một người quen, đã đi lấy chồng. Một người yêu, thôi đã sang sông. Tình ngày xưa, gió cuốn lâng lâng, thương những chiều, nắng đến bâng khuâng. Một hạt sương, thoáng… »

Mang một tâm trạng bị tình phụ nên ông chán ngán những lời yêu đương mật ngọt, dù lòng vẫn lưu luyến mối tình xưa. Thời gian đó, gia đình ông lại muốn ông sớm thành hôn nên đã hỏi cho ông một nữ sinh viên còn đang du học ở Bỉ. Ông nghe lời mẹ nên đã thành hồn với người nữ sinh viên ở trời Tây đó, nhưng duyên nợ của hai người không được lâu, cuộc hôn nhân bị đổ vỡ sau khi có chung một người con trai. Sau năm 1975 ông vượt biên cùng mẹ già, sau khi mẹ qua đời ông sống cô độc một mình. Suốt mấy chục năm ở Paris nhạc sĩ Xuân Vinh không hề nói về người vợ, ông dấu kín trong lòng về nguyên nhân đổ vỡ. Ngày nhạc sĩ Xuân Vinh mất, các bằng hữu văn nghệ sĩ và người ái mộ đến với ông lần cuối rất đông. Họ đồng ca, hát những ca khúc của ông để thương tiếc ông. Ngày đó có cả vợ ông từ Bỉ sang, con trai ông và người em trai ở Paris đến tiễn đưa ông lần cuối.

Những sáng tác của nhạc sĩ Xuân Vinh:

Nhớ Về Em(1965). Bài Ca Thánh Giu Se (1965). Cuộc Tình Đã Mất (69-70).
Huế (thơ Kiều Mộng Thu). Chiều Xuân Này Em Lấy Chồng (Xuân Vinh, Mộng Đạt). Âm Thầm (Xuân Vinh, Triều Dương). Chiến Tranh Và Tuổi Trẻ(Xuân Vinh, Mộng Đạt).
Thương Nhớ Người Xưa (A Time For Us Roméo et Juliette, Lời Việt Xuân Vinh. Người Yêu Tôi Đâu (Some Where My Love) Lời Việt Xuân Vinh. Một Chuyện Tình (Love Story) Lời Việt Xuân Vinh. Ta Belle Rose Lời Việt Xuân Vinh, Tình Thi Ca, Lời Việt Xuân Vinh (1994). Hạ Buồn, thơ Đỗ Bình Nhạc Xuân Vinh 1999. 

Lê Phương Người Nghệ Sĩ Thầm lặng


Viện Pháp Á Paris 197: Nhạc sĩ Lê Phương, nhạc sĩ Trịnh Hưng, nhạc sĩ Đào Tuấn Ngọc, Điêu khắc gia Vương Thu Thủy, nhà thơ Song Thái, nhà thơ Trọng Lễ, GS Quỳnh Hạnh…

Nhạc sĩ Lê Phương sinh năm 1961 tại Sài Gòn và mất tại Paris năm 2017. Ông theo học Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, và trường Nghệ Thuật Sân Khấu 2, tốt nghiệp ngành đạo diễn sân khấu. Sang Pháp định cư năm 1989 và bắt đầu sáng tác nhạc năm 1990. Thuở ấy trong trong các phòng trà ca nhạc thính phòng và các sân khấu cộng đồng có rất ít nhạc sĩ chuyên nghiệp, Lê Phương là một trong số ít nhạc sĩ chơi nhạc cổ điển Tây phương. Trong sáng tác ông dùng bút hiệu Lê Phương, Lê Nguyễn Việt Phương.

Nhạc sĩ Lê Phương tính tình hiền hòa, rất khiêm tốn và ít nói. Trong một vài năm đầu thỉnh thoảng ông tham gia trong những sinh hoạt văn nghệ đệm nhạc cho ca sĩ hát nhạc thính phòng, nhưng sau đó hơn hai mươi năm ông chọn lối sống ẩn dật không còn muốn trình diễn trước đám đông, mặc dù ông vẫn chơi đàn một mình và sáng tác thơ nhạc.

Tôi hỏi ông:
  “Em đánh đàn hay quá, tại sao lại không đem tài năng đó cho công chúng thưởng lãm?“
Lê Phương:
“ Ở Paris rất nhiều người có tài, có những người đã tốt nghiệp nhạc viện môn guitare cổ điển nhưng họ cũng đâu có đến chỗ đám đông trình diễn. Cái gu nhạc của mấy người đến phòng trà là chỉ muốn khiêu vũ. Em không chơi được loại nhạc đó!“

Tôi hỏi: 
“Em không chơi ở các phòng trà thì chơi nhạc ở sinh hoạt cộng đồng, tại sao em cũng không tham dự?“

Lê Phương: 
“Thưa anh, sở dĩ em không chơi nhạc ở chỗ cộng đồng là vì em độc tấu guitare nên rất cần sự im lặng, mà sân khấu cộng đồng thì quá ồn ào, người ta nói chuyện át cả tiếng đàn thì đàn làm gì!“
Tôi hỏi: “Em sáng tác nhạc và phổ thơ được bao nhiêu bài? Đề tài sáng tác là gì? Đã ra CD chưa? Em chọn những bài thơ nào để phổ? “

Lê Phương: 
“ Em sáng tác và phổ thơ khoảng 50 ca khúc và chưa ra CD nào. Những đề tài em sáng tác là Quê Hương Tình Yêu và Mẹ. Còn về thơ phổ nhạc, em chỉ chọn những bài thơ có ngôn ngữ hình tượng giàu tính nhạc, và có ý tưởng sâu sắc Do đó em phổ thơ không nhiều, khoảng 20 ca khúc của một số ít nhà thơ mà em đọc thơ họ thấy cảm hứng nhạc, trong đó có 5 bài thơ của anh.“

Năm 1990 Nhạc sĩ Lê Phương phổ tặng tôi hai bài thơ, bài Tìm Nhau và Bên Em Chiều Mơ với bút danh Lê Phương và Phạm Đăng Thủy. Bài Bên Em Chiều Mơ đổi tựa là Hổ Thẹn, cả hai ca khúc này được tôi in trong tập thơ Buồn Viễn Xứ. Bài thơ Bên Em Chiều Mơ tôi viết để nhớ về một khung trời kỷ niệm của Sài Gòn năm xưa. Sở dĩ tôi bằng lòng cho Lê Phương đổi tựa bài thơ vì ông cho biết khi ra đi đã bỏ lại một cuộc tình, người ấy sau đó đã lấy chồng! Cũng vì lý do đó ông sống độc thân đến cuối đời, và lấy sự cô đơn làm nguồn cảm hứng sáng tác thơ nhạc. Bài thơ sau này được hai nhạc sĩ Minh Sơn và Văn Tấn Phước phổ thành ca khúc.

Bên Em Chiều Mơ

“Ta ngắt hoa cài mái tóc em,
Tìm dư hương cũ thuở êm đềm.
Gọi mùa xuân đến ôi xa quá!
Vạt nắng hanh chiều theo gió lên.
Ta thích xuân về trong mắt em,
Ngăn ngày tháng úa rụng bên thềm,
Cho ta dừng bước chân luân lạc,
Trả gánh phong trần bên dáng em.
Ta muốn tìm quên trong mắt em,
Ru đời say đắm nụ môi mềm,
Buông xuôi dĩ vãng thành mây khói,
Mặc ánh sao trời đua bóng đêm!
Ta cố tìm vui trong ý thơ,
Nhặt sầu quăng xuống đáy mong chờ,
Bỏ rơi ảo mộng vào quên lãng,
Rồi tự ôm tim khóc chiều mơ.”

Về chủ đề tình yêu lứa đôi, trong thơ nhạc của Lê Phương là những lời tiếc nuối những kỷ niệm đẹp của mối tình dang dở nhưng không oán trách. Làm sao lý giải được sự tha thiết trong tình yêu, dù đó là cuộc tình buồn khiến nhạc sĩ vẫn ôm mãi đến cuối đời!
Nhạc sĩ đã rung cảm thơ của những thi nhân nên phổ thành những ca khúc buồn, Phải chăng để diễn tả nỗi lòng mình cho vơi bớt cô đơn trong bước đường tha hương.
. Nhạc sĩ Lê Phương chơi với bạn rất chân thành nên khi ông bị bệnh, rất nhiều bằng hữu vào nhà thương thăm. Vào những giờ cuối cùng của đời ông, tôi hỏi:
“Em có muốn phôn cho cô ấy không?“
Lê Phương trả lời:
“Bây giờ em không còn vấn vương tơ tình, đừng cho cô ấy biết em sắp mất“.
Tình yêu là một đề tài muôn thuở không bao giờ dứt. Từ thuở xa xưa trong văn học Việt Nam truyện Kiều của Đại Thi hào Nguyễn Du đã viết:

“Nợ tình biết trả cho ai,
khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan”

Ngày nhạc sĩ Lê Phương lìa cõi đời, nghe nói người đàn bà đó ở Sài Gòn dù đã có chồng khác nhưng vẫn để tang. Hoàn cảnh đã chia cắt họ ngàn trùng, hay duyên nợ cũng chỉ là hợp rồi tan. Làm sao hiểu thấu được tình yêu? Xin gởi tấm lòng tiễn nhạc sĩ Lê Phương.
Cõi Tạm
“Theo hương khói người về nơi xa lắm
Đời vinh hoa phiền muộn cũng trăm năm.
Rũ sạch bụi trần cho hồn thanh thản
Làm mây bay tỏa như ánh trăng rằm.”
Paris 25.01.2017

Jules Tambicannou nhạc sĩ Jazz


Nhạc sĩ Jules Tambicannou Sinh 15 tháng 10 năm 1942, mất 23 tháng 12 năm 2017. Ông bước vào làng nhạc Sài Gòn vào đầu thập niên 60 và là một cây đàn chính chơi trong các ban nhạc Rock cho Câu Lạc Bộ Mỹ. Sau năm 1975 ông sang Paris học thêm nhạc Jazz, trở thành một nhạc sĩ dương cầm chơi nhạc Jazz xuất sắc ở Paris. Ngày trước nhạc sĩ Jules Tambicannou là trưởng nhóm của một số ban nhạc chuyên nghiệp chơi các phòng trà ở Paris.

Có một lần họp bạn văn nghệ quy tụ những nhạc sĩ có ngón đàn điêu luyện tại tư gia của anh chị nhạc sĩ Phạm Đăng & Minh Châu như nhạc sĩ Jules Tambicannou, Lê Khắc Thanh Hoài, Đào Tuấn Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Linh Chi, Văn Tấn Phước…, tôi được mời đến để thưởng thức các tác phẩm mới Nhạc sĩ Lê Khắc Thanh Hoài trình bày một sáng tác mới soạn theo loại bán cổ điển Tây phương, ca khúc: Đời Em Là Một Dòng Sông, Lê Khắc Thanh Hoài đệm piano, Phạm Đăng trình bày rất hay. Nhạc sĩ Đào Tuấn Ngọc trình bày ca khúc Đồi Mơ, soạn theo loại bán cổ điển Tây phương, Đào Tuấn Ngọc đệm dương cầm và Ngọc Ánh trình bày rất hay, tiếp theo là những sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Minh Châu, nhạc sĩ Phạm Đăng, Văn Tấn Phước..
.
Đến phần nhạc sĩ Jules Tambicannou trình diễn, hôm đó theo lời đề nghị của các bạn ông chơi bản Con Thuyền Không Bến của nhạc sĩ Đặng Thế Phong, là một danh thủ đệm dương cầm ở Paris nhưng nhạc sĩ Tambicannou từ chối và ông trình tấu một bản ngoại quốc khác. Lúc ra về tôi hỏi ông:
“Tại sao Toi không chơi bản Con Thuyền Không Bến? "

Nhạc sĩ Tambicannou trả lời:
“Nhiều năm sau này Moi toàn chơi nhạc Jazz, bản Con Thuyền Không Bến không có soạn hòa âm trước, sợ lúc trình tấu, hứng quá pha nhạc Jazz vào làm hỏng hồn nhạc!"

Lần khác tôi và nhạc sĩ Trịnh Hưng được nhạc sĩ Anh Huy tác giả một số ca khúc nổi tiếng trước năm 1975 và có thời dạy nhạc ở Sài Gòn mời đến nhà dùng cơm. Trong câu chuyện, nhạc sĩ Anh Huy và Trịnh Hưng tranh luận về âm nhạc, nhạc sĩ Anh Huy thách thức nhạc sĩ Trịnh Hưng sáng tác một bản nhạc, xem ai viết nhanh. Nhạc sĩ Trịnh Hưng từ chối. Ra về tôi hỏi ông tại sao không viết. Ông trả lời: “Anh Huy là lớp đàn em còn trẻ nên viết nhanh là lẽ thường, và nếu tôi viết có nhanh hơn Anh Huy thì cũng chẳng sao, nhưng nếu chậm hơn thì bẽ mặt, không viết tức là chịu thua giữ được tình anh em”

Nhạc sĩ Tam Bicannou và nhạc sĩ tiền chiến Trịnh Hưng chỉ muốn phụng sự nghệ thuật mà không màng đến sự tranh đua hơn kém.

Nhạc sĩ Minh Sơn


Nhạc sĩ Minh Sơn tên thật là Nguyễn Tịnh Trí, sinh quán ở Biên Hòa, học và lớn lên ở Sài Gòn đầu thập niên 50, sau đó sang Pháp định cư vào cuối thập niên 60 của thế kỷ trước.

Nhạc sĩ Minh Sơn tính tình rất hiền hòa và khiêm nhường. Ông rất ít nói và thích đời sống ẩn dật vui với gia đình nên ít tham dự những buổi sinh hoạt nghệ thuật tổ chức tại các hội trường lớn; Tuy nhiên thỉnh thoảng ông vẫn họp mặt thân hữu tại tư gia của ông hoặc của vài người bạn. Nhạc sĩ Minh Sơn học nhạc từ lúc còn nhỏ, ông chơi điêu luyện đàn mandoline, và viết nhạc dựa trên cây đàn này. Cách nay ba mươi năm tôi hân hạnh được quen ông trong một buổi họp mặt văn nghệ sĩ tại tư gia ông bà nhà thơ Trọng Lễ & Linh Chi (nghệ sĩ diễn ngâm). Sau đó ông đã phổ cho tôi mấy chục bài thơ thành ca khúc, trong số đó có nhiều ca khúc được đưa vào những CD của ông. Hai ca khúc được phổ biến rộng rãi ở hải ngoại và được đưa vào những CD tuyển của của nhiều nhạc sĩ hải ngoại: ca khúc Tình Muôn Thuở, Cô Đơn. Riêng ca khúc Cô Đơn của Minh Sơn đã đưa vào tập thơ Bóng Quê của tôi, do Nắng Mới, Na Uy xuất bản năm 1989.

Nhạc sĩ Minh Sơn đã chọn những bài thơ của tôi để phổ, mở đầu cho nhiều bài thơ phổ nhạc của ông về sau. Tiếng thơm đồn xa, một số nhà thơ ở Mỹ đã nghe danh ông nên gởi thơ đến nhờ ông phổ. Ông mê thơ hay, và nguồn cảm hứng sáng tác dâng trào vào lúc tuổi đời của ông đã ngoài bảy mươi, nhưng vẫn phổ hàng trăm bài thơ thành ca khúc.

Nhạc sĩ Minh Sơn viết nhạc rất dễ, những ca từ khổ độc rất khó đặt nốt đúng âm, nhưng với ông rất dễ dàng, ông đưa ca từ theo tiết tấu câu nhạc để diễn tả rõ những dấu của chữ. Điểm đặc biệt là ông viết theo lối nhạc hiện đại, câu nhạc dài và tiết tấu nhanh nhưng vẫn diễn tả rõ ý nghĩa câu chữ. Những ca khúc ông viết lời và nhạc rất hay, ca từ được trau chuốt, lời ca tha thiết tình quê hương. Ở tuổi 90 ông vẫn còn cảm hứng viết nhạc nhưng ông ngưng viết vì đã sáng tác hàng trăm ca khúc, và 15 CD. 
Ông tâm sự: “Những ca khúc của tôi là một chút tâm tình với đời, mong rằng sau này vẫn còn có người nhớ một vài ca khúc là vui.

Nhạc sĩ Nguyễn Minh Châu


Sinh quán tỉnh Sóc Trăng, sang Pháp du học vào thập niên 60 của thế kỷ trước, đỗ kỹ sư, có một vị trí trong xã hội.
Nhạc sĩ Nguyễn Minh Châu tính tình rất hiền hòa và khiêm nhường. Chúng tôi thường gặp nhau trong những buổi sinh hoạt văn nghệ ở tư gia, hay những buổi ra mắt sách ở các hội trường.

Trong lãnh vực âm nhạc:

Ngay từ lúc còn trẻ ông đã thích nhạc nhưng lại bắt đầu vào con đường âm nhạc lúc 52 tuổi. Từ một người chưa biết những nốt trên dương cầm, và biết hết những cấu trúc hình nốt trên bản nhạc nhưng bỗng trở thành một người đam mê âm nhạc nên trong nhiều năm đã đi học dương cầm, những lớp dạy hòa âm sau khi hết giờ làm việc, do đó ngón đàn đã tiến vượt bực và trở nên điêu luyện. Ông thành lập nhóm The Siliconband quy tụ nhiều nhạc sĩ và người yêu nhạc. Những năm sau này ông chơi dương cầm điêu luyện, trình tấu được một số bản nhạc cổ điển của Frédéric Chopin, Franz Schubert, Robert Schumann, Ludwig van Beethoven…

Cách nay hơn mười năm nhạc sĩ Minh Châu đã phổ cho tôi bài thơ Màu Mắt thành ca khúc trữ tình, giai điệu đặc sắc. Khi nhận được CD do ca sĩ Quỳnh Dao trình bày tôi rất xúc động vì ông đã đặt tâm hồn của mình vào lời thơ ý nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Minh Châu và người bạn đời là nhà thơ Hoàng Yến đều ăn chay trường nhưng vẫn ngồi chung bàn mặn với các bạn. Hôm cuối năm 2022, ông bà nhạc sĩ Phạm Đăng & Minh Châu có mời một số văn nghệ sĩ đến tư gia họp mặt văn nghệ cuối năm đón năm mới. Sau khi nghe những nhạc sĩ, ca sĩ trình bày tác phẩm, nhân dịp đó tôi hỏi nhạc Nguyễn Minh Châu:
“Anh sáng tác được bao nhiều ca khúc"

Nhạc sĩ Nguyễn Minh Châu:
“Tôi viết rất nhiều, khoảng trên 800 ca khúc"

Tôi hỏi:
“ Trong số những ca khúc đó có bao nhiêu bài anh phổ thơ?"

Nguyễn Minh Châu:
“Khoảng 600 bài"
Tôi hỏi:
“Làm sao anh quen biết hết số nhà thơ mà phổ cho họ?"

Nguyễn Minh Châu:
“ Ồ, tôi quen nhà thơ ở ngoài đời rất ít, nhưng quen biết trong internet thì rất nhiều, họ biết tôi rồi gởi những bài thơ của họ cho tôi, và tôi thấy có thơ là phổ."

Tôi hỏi:
“Thơ là bộ môn nghệ thuật dùng nhiều ẩn dụ ý ẩn sâu trong lời, có khi lời và ý khác nhau rất khó hiểu, có bài nào anh không hiểu mà vẫn phổ không ?"

Nguyễn Minh Châu:
“Rất nhiều, thời gian đầu tôi không hiểu lời thơ nhưng vẫn phổ vì tôi làm theo cảm hứng nhạc để phổ. Nhưng sau này tôi chỉ cảm nhận hết ý thơ của thi sĩ mới phổ".

Tôi hỏi:
“Trong những ca khúc anh viết lời và nhạc cấu trúc nhạc rất nặng tính bán cổ điển Tây phương, trong đó có những bài thật hay và giá trị. Vậy phần lời do anh nghĩ ra hay có sự tiếp tay của người khác?"

Nguyễn Minh Châu:
“Tôi tự viết lời, anh thử nghĩ tôi đọc hàng ngàn bài thơ của hàng trăm nhà thơ với thời gian dài làm sao tôi không rút tỉa được những lời hay trong thơ. Do đó ca từ trong nhạc tự nó rung cảm thoát ra trong tâm hồn tôi".

Tôi hỏi:
“Anh viết nhạc trước, hay viết lời trước, hoặc vừa viết nhạc vừa đặt lời?"

Nguyễn Minh Châu:
“Cái đó còn tùy hứng, nhạc và lời cái nào đến trước thì làm trước, thường thì đến cả lời lẫn nhạc."

Tôi hỏi:
“Anh nay ngoài tuổi thất thập, cảm hứng sáng tác còn nhiều không?"

Nguyễn Minh Châu:
“ Vài năm trở lại đây tôi ít sáng tác, gần như ngưng rồi. Không phải tôi không còn cảm hứng sáng tác, mà tôi dành thì giờ để dạy Khí Công cho học trò, và ít thời gian luyện đàn."

Tôi nói:
“Thể nào anh đánh đàn còn lả lướt lắm! ."

Nhạc sĩ Nguyễn Minh Châu dù xa quê hương hơn 60 năm nhưng ông vẫn giữ chất phù sa nơi Miền Hậu giang trái ngọt trong tâm hồn.

Nhạc sĩ Phạm Đăng


Phạm Đăng Thiện sinh năm 1945 tại Huế, bút danh Phặm Đăng.Trước năm 1975: Học và trưởng thành tại Huế, tốt nghiệp Bác sĩ Y Khoa năm 1969, động viên vào Quân Y Không Quân, tu nghiệp Aerospace Medicine, USA, B.S. Phi Hành đến 30/4/1975. Sau năm 1975 bị ba năm tù cải tạo, 7 năm làm việc tại Bệnh Viện Nhi Đồng, Sài Gòn. Ông sang Pháp cùng gia đình năm 1985 học lại Y khoa, nội trú các bệnh viện ở Pháp, và hành nghề tư từ năm 1994.
Trong lãnh vực âm nhạc, nhờ có năng khiếu và học nhạc từ thuở còn nhỏ nên Phạm Đăng rất đam mê âm nhạc, đeo đuổi âm nhạc không ngừng nghỉ, ngay cả lúc ở tù ông cũng sáng tác, ghi lại giai điệu và lời ca và sau này ở hải ngoại đã viết lại hoàn chỉnh ca khúc. Ở Pháp, trong khi hành nghề bác sĩ Phạm Đăng vẫn dành nhiều năm theo học thêm đàn dương cầm nên sử dụng dương cầm điêu luyện. Ông được những người yêu âm nhạc ở Paris và hải ngoại biết nhiều qua chất giọng thiên phú Ténor, một chất giọng rất hiếm trong giới ca sĩ Việt ở Paris, ngoài hai danh ca lão thành là Cao Thái, và Thanh Hùng từng vang bóng một thời ở Sài Gòn vào đầu thập niên 60 của thế kỷ trước. Phạm Đăng khiêm nhường tâm sự :«Tôi không có may mắn được đào tạo «chính quy» về âm nhạc, nên không có tham vọng trở thành nhạc sĩ sáng tác. Từ thuở niên thiếu, tôi yêu thích đàn hát, và từ niềm say mê đó, tôi tìm tòi học hỏi chút kiến thức âm nhạc và sử dụng đôi nhạc khí. Trong những lúc ngẫu hứng đàn ca, tôi bỗng có ý định ghi lại đôi giai điệu ngẫu hứng đó thành ca khúc, nói lên niềm rung cảm của mình. Với suốt một đời yêu thích âm nhạc và thi ca, tôi chỉ xem sự đóng góp của mình cho nền văn học nghệ thuật nước nhà thật là quá nhỏ bé so với rất nhiều tài danh khác.»

Sinh hoạt Văn học Nghệ thuật:

Năm 1992 tôi ra thi phẩm Buồn Viễn Xứ, và năm 1998 thi phẩm Bóng Quê đều tại Hội trường Quốc Tế Paris, khách tham dự là những người yêu thích văn học nghệ thuật. Ngày đó rất nhiều khuôn mặt văn nghệ sĩ nổi tiếng ở Paris đến giúp tôi thực hiện chương trình thơ nhạc chủ đề: Nhà thơ Phương Du, nhà thơ Hồ trọng Khôi, nhà thơ Hoài Việt, nhà văn Từ Nguyên, nhạc sĩ Xuân Lôi, nhạc sĩ Anh Việt Thanh, nhạc sĩ Xuân Vinh, nhạc sĩ Jules Tambicannou, nhạc sĩ Xuân Giao, nhạc sĩ Đào Tuấn Ngọc, nhạc sĩ Bửu Phôi, nhạc sĩ Lê Khắc Thanh Hoài, nhạc sĩ Lê Phương, nhạc sĩ Nguyễn Đình Tuấn, nhạc sĩ nguyễn Thiện, nhạc sĩ Đoàn Văn Linh, nhạc sĩ Quỳnh Hạnh, nhạc sĩ Minh Nhật, nhạc sĩ Lê Như Quốc Khánh. Danh ca Thanh Hùng, Danh ca Kim Nga, danh ca Họa Mi, danh ca, Mỹ Hòa, danh ca Thiên Nga, ca sĩ Kim Thu, nghệ sĩ Diệu Khánh, nghệ sĩ Thụy Hương, nghệ sĩ Thúy Hằng, nghệ sĩ Trần Tam Nguyên, nghệ sĩ Ngân Đoài, và Phạm Đăng. Những nhạc sĩ đã cảm thơ tôi phổ thành ca khúc: Anh Việt Thanh, Đào Tuấn Ngọc, Lê Phương, Nguyễn Đình Tuấn, Xuân Vinh, Trịnh Hưng, Lê Khắc Thanh Hoài, Nguyễn Minh Mạch, Minh Sơn, Quách Vĩnh Thiện, Trần Văn Toàn, Anh Huy, Bửu Phôi, Nguyễn Minh Châu, Văn Tấn Phước và Phạm Đăng..

Tuyển tập Ca Khúc Phạm Đăng gồm 19 ca khúc hay và đặc sắc. Về mặt cấu trúc nhạc:

Hầu hết những ca khúc Phạm Đăng viết ra đều dựa trên dương cầm nên giai điệu sang, có âm hưởng theo lối bán cổ điển Tây phương. Những ca từ do chính Phạm Đăng viết rất chọn lọc, lời đẹp như thơ. Những ca từ viết lời cho những bản nhạc cổ điển rất hay, như thơ hòa nhạc. Trong số những bài thơ được phổ thành ca khúc đó có hai bài thơ của tôi. bài thơ Khách Quê, Phạm Đăng đã phổ và do tác giả đệm dương cầm, ca sĩ Tuyết Dung trình bày trong buổi họp mặt văn nghệ sĩ tại tư gia của anh. Ca khúc có lời buồn sâu lắng, hòa vào giai điệu buồn làm xao xuyến tâm hồn những người có một thời ghi dấu chân trên miền cao nguyên xứ lạnh Đà Lạt... "Đứng giữa trời quê mà thấy lạ. Phải chăng hồn nước đã bay xa. Người quen lối cũ bao kỷ niệm. Chẳng lẽ thời gian cũng xóa nhòa. Tháng chín bên này hoa tím nụ. Nhụy tàn ta cảm kiếp phù du. Cửu Long bến nhạc màu nhung nhớ. Viễn khách đò xưa bóng khuất mù.". Bài Tuyết Trắng Chiều Đông là bài thơ 5 chữ mang tính kể lể một câu truyện. Thơ năm chữ cũng như thơ lục bát dễ phổ nhưng khó hay và đặc sắc, vì thanh bằng trắc trong thơ sẽ làm giai điệu của ca khúc dễ giống với những bài thơ năm chữ nổi tiếng khác.

Ca khúc Khách Quê làm người nghe bùi ngùi, lưu luyến nhớ quê, thì ca khúc Tuyết Trắng Chiều Đông có giai điệu đặc sắc, trữ tình, dìu dặt êm dịu như một bản dương cầm.
Trong suốt mấy chục năm liên tục, Phạm Đăng là người tích cực tham gia rất nhiều sinh hoạt văn hóa văn nghệ ở Paris, và thường tổ chức những buổi họp mặt văn nghệ sĩ tại tư gia. Phạm Đăng và phu nhân là cựu Luật sư Dương Minh Châu luôn là nhịp cầu thân thiện để đón những tâm hồn nghệ sĩ tìm đến nhau tạo thành một khoảnh không gian nhỏ để hơ ấm tình tha hương. Ngoài những lần sinh hoạt với các hội đoàn phụng sự văn học nghệ thuật. 

Nhạc sĩ Phạm Đăng và tôi còn có những sinh hoạt chung. Chiều 04/10/2015 tại sân khấu Nhạc Kịch Studio Raspail số 216 đường Raspail, Paris quận 14 tổ chức một chương trình văn học nghệ thuật: Chiều Thơ - Nhạc Đỗ Bình & Phạm Đăng với chủ đề Tác Phẩm và Tác Giả.

Đỗ Bình, GS Quỳnh Hạnh, Họa sĩ Nguyễn Đức Tăng, GS Nguyễn Thanh Vân

Hôm đó khán phòng đầy người, khoảng trên 200 người tham dự, khách mời chọn lọc là những khuôn mặt quen thuộc trong giới trí thức văn nghệ sĩ Paris. 
Bên trong khán phòng trang trí rất đẹp, những hàng ghế đỏ, bờ tường với kỹ thuật âm thanh tuyệt hảo của một phòng nghe nhạc, không có tiếng dội. Trên sân khấu cánh màn nhung đỏ thắm với giàn đèn thay màu theo bối cảnh. Âm thanh được chuyên viên phụ trách do đó rất lý tưởng cho một buổi trình tấu nhạc. Điều khiển chương trình là LS Dương Minh Châu, Bà đã quá quen thuộc vai trò MC trong các chương trình liên quan đến văn học nghệ thuật. Chương trình bắt đầu vào lúc 14 giờ. Trưởng ban tổ chức, nhà thơ Đỗ Bình ngỏ lời cám ơn cùng quan khách:"Sự hiện diện của quý vị là một niềm khích lệ lớn lao cho sinh hoạt văn học nghệ thuật của chúng ta", đồng thời nhạc sĩ Phạm Đăng cũng phát biểu:" Chúng tôi xin cám ơn sự hiện diện của CLBVHVN Paris cùng các văn nghệ sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ, bạn bè thân hữu và các chuyên viên kỹ thuật đã vui lòng tham gia, đồng tâm góp sức để cho buổi sinh hoạt hôm nay được hoàn thành. Có những vị đến từ xa như đôi bạn nhạc sĩ Hoàng Hoa đến từ Venise (Ý), và ca sĩ Thụy Uyển đến từ Hannover (Đức).v.v."

Nhạc sĩ đã sáng tác nhiều ca khúc và phổ nhiều thơ. Tiêu biểu là Tuyển tập Ca Khúc Phạm Đăng:

Nhạc & Lời:
Chiếc Lá Cuối Mùa, Cõi Nhớ, Dòng Thời Gian, Một Đời Phiêu Lãng, Một Thoáng Hương Phai, Nhạc Chiều.
Nhạc Phổ Thơ:
Cảm Ơn Đời, thơ Trần Đan Hà - Đò Vọng, thơ Minh Đức Triều Tâm Ảnh - Giục Giã, thơ Xuân Diệu - Khách Quê, thơ Đỗ Bình - Nhòa Vơi, thơ Lưu Nguyễn Đạt - Tuyết Trắng Chiều Đông, thơ Đỗ Bình.
Nhạc: Hồng Anh, Lời: Phạm Đăng:
Dáng Mẹ, Tiếng Hát Trong Chiều.
Nhạc cổ điển Tây phương, Phạm Đăng soạn thành ca khúc và viết lời Việt:
Chiều Mơ (Serenata – Toselli)
Chiều Nhớ (Sérénade Schubert).
Mộng Mơ (Rêverie- Schumann).
Tiếng Đàn Đêm ( Nocturne En Bb - Chopin).
Trăng Đêm ( Clair de Lune-Debussy).
Những Sáng tác mới:
- Hương chiều thu, Nhạc và lời Phạm Đăng
- Gửi nắng cho anh - phổ thơ Hà xuân Tế
-Cung buồn (Tristesse - Chopin ) Lời Việt PĐ
-Đêm nghe đàn Chopin ( Nocturne en C#m - Chopin )
-Ơn mẹ ( Ave Maria - Gounod sur Prélude de Bach ) -Trăng mơ (Moonlight Sonata - Beethoven).

Nhạc sĩ Văn Tấn Phước


Ông là Người Việt nhưng sinh trưởng tại Lào và sang định cư ở Paris trước năm 1975. Ông là anh trưởng trong một gia đình toàn là nghệ sĩ nổi tiếng ở Paris vào thập niên 90 của thế kỷ trước trong đó có Văn Tấn Phát, Văn Tấn Sỹ. Anh em ông được công chúng người Việt Paris và hải ngoại biết đến qua CD nhạc với chất giọng đặc biệt của Văn Tấn Phát, Văn Tấn Phước, nhất là Văn Tấn Phát với ca khúc quê hương thời đó và làm tài tử đóng phim.

Ca nhạc sĩ Văn Tấn Phước tính tình hiền hòa, rất khiêm nhường. Ông rất đa tài ngoài trời phú cho chất giọng đặc biệt, ông còn có khoa tay viết thư họa rất đẹp. Ông sáng tác nhạc rất ít nhưng những ca khúc đều hay và giá trị. Ông rất quý tôi nên vẽ tặng tôi bức thư họa như rồng bay phượng múa. Năm 2000 ông phổ thơ của Hoàng Yến bài Trở về thành ca khúc. Sau đó là bài thơ Bên Em Chiều Mơ của tôi được ông phổ thành ca khúc và trình bày trong CD. Bài thơ đã chứa chất sầu, được ông phổ giai điệu buồn cùng chất giọng Huế âm hưởng thể điệu Nam Ai của ông làm ca khúc càng tăng thêm nỗi niềm xa xứ. Ca khúc Pais Paris điệu Valse mang sắc thái và âm điuệ tây phương đậm chất Paris đã đưa tên tuổi ông đến công chúng. Ca khúc Paris Paris, nhạc và lời của ông còn được phổ biến trên đài phát thanh RFI và đài phát thanh Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Pháp.

Các bài thơ phổ nhạc: Buồn Đêm Mưa, thơ Huy Cận; Tình Quê, thơ Hàn Mặc Tử; Ngập Ngừng, thơ Hồ Dzếnh, Chân Quê, thơ Nguyễn Bính.

 

Nhạc sĩ Đình Đại


Ca Nhạc sĩ Đình Đại thuộc thế hệ trẻ, là khuôn mặt nổi tiếng ở Paris trong lãnh vực ca, nhạc, kịch. Ông sử dụng quen thuộc đàn dương cầm và guitare, tự đàn cho mình hát. Đình Đại là một trong số Nam ca sĩ có chất giọng hay nhất Paris hiện thời. Nhạc sĩ Đình Đại bắt đầu sáng tác nhạc Việt những năm sau này, đã ra được 2 CD nhạc của mình, và một CD nhạc tuyển cùng với các nhạc sĩ ở hải ngoại. Ngoài ra ông còn phổ nhiều bài thơ của các nhà thơ hải ngoại. Những ca khúc sáng tác của Đình Đại rất hay, nặng tình với Quê hương nên mang giai điệu độc đáo, sắc thái riêng. Những năm gần đây ông bước thêm sang lãnh vực nhà tổ chức, báo hình, youtube, làm những phóng sự từ văn hóa, thời cuộc đến xã hội. Dù ở lãnh vực nào chất nghệ sĩ trong con người Đình Đại vẫn tỏa sáng nghệ thuật.

Nhạc Sĩ Trang Bá Tùng


Trang Bá Tùng là một nhạc sĩ có tài nhưng rất khiêm nhường, tính đôn hậu, hay giúp tổ chức những sinh hoạt văn hóa, văn nghệ cộng đồng nhưng không bao giờ phát biểu. Ông có năng khiếu về âm nhạc từ thuở nhỏ nên sử dụng điêu luyện nhiều loại đàn. Thời mới lớn, ông gia nhập vào làng báo Paris, và là một trong Ban biên tập Báo Ngày Mới, một tạp chí chuyên về văn học nghệ thuật, gồm những nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo nổi tiếng ở Paris. Ông cũng là thành viên trong những người chủ trương Báo Ngày Mới, cùng với nhà văn Diễm Thy và nhà báo Lê Trân. Nhạc sĩ Trang Bá Tùng nổi tiếng ở Paris trước năm 2000. Là một nhạc sĩ chuyên nghiệp thường xuyên chơi nhạc trong các phòng trà, những tụ điểm nhạc Việt ở paris. Trên 30 năm sinh hoạt văn học nghệ thuật, Trang Bá Tùng đã góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc ở hải ngoại.

Đỗ Bình

Nhà thơ Đỗ Bình, Thúy Hằng



Ẩn Dật 1

 

Đường vô Lỗ Gáo là đây!
Hai bên hoang vắng, rừng cây ngút ngàn
Đường qua Suối Trầu, Suối Ngang
Hồ xanh, cò trắng hàng hàng phiêu du…
Đường lên Bến Khế, Hòn Dù
Bốn bề mây phủ, đá xây tầng tầng
Ngã ba rừng đứng bâng khuâng
Con chim bói cá ném thân xuống hồ
Khướu vừa cất tiếng líu lo…
Nhạc rừng òa vỡ thơm tho hương rừng
Ngập tràn ánh nắng đương xuân
Mừng ta nhập cuộc vui cùng khói mây
Đất trời, non nước, cỏ cây
Bạn cùng chim chóc tháng ngày ung dung
Sáng vào rừng trúc vẫy vùng
Nâng niu từng búp măng rừng như con
Trưa qua cầu khỉ chon von
Bên kia thác dội, hai hòn núi cao
Chiều ngồi ngắm trận mưa rào
Gõ trên đọt sấu dạt dào ý thơ
Tối về nằm sạp tre ngô
Nực cười thế sự, cuộc cờ ảo hư
Luân hồi, quả báo, chân như
Trần gian ảo mộng thiên thu kiếp người
Đêm từng đêm giữa đất trời
Bốn bề tịch lặng, núi đồi hoang sơ
Một ta trong cõi sương mờ
Một ta giữa mái tranh thơ bần hàn
Một ta giữa chốn hỗn mang
Một ta tĩnh tọa tâm an đạo thường
Mơ hồ từng chiếc lá buông
Cọ nhau xào xạc bên truông tre ngà
Cọp ngồi rình suốt canh ba
Trăn nằm tròn cuộn chờ ta khuya tàn
Gà rừng xao xác gáy ran…
Bình minh ló dạng, sương loang trắng rừng
Đường vô Tà Gộc mịt mùng
Thác Yang Bay, Suối Đá Giăng, còn dài…
Đường ra mờ dấu chân nai
Dưới cây chò, bóng ngã dài, chòi ai?
Theo vần thơ của Ức Trai
‘Tìm mai đạp nguyệt’ xa đời phù hoa
Xa tiếng kẻng, xa ta bà
Một mình, một cõi yên hà tự do
Trồng khoai, cấy cải, gieo ngò…
Sáng đồi dưỡng tánh, trưa hồ tĩnh tâm
Bên tai, suối thế đàn cầm
Sau lưng, vượn hạc tình thâm láng giềng
An bần sống giữa cảnh Tiên
Xưa thân mai cúc, nay quen khướu rùa
Ngâm nga có sẵn vần thơ
Nghêu ngao có cả bốn mùa gió trăng
Tu tâm kìa Bụt là lòng
Lòng không chút bợn như dòng suối chơn
‘Nghèo cho sạch, rách cho thơm’
An nhiên thị hiện lòng nhơn đâm chồi
Thái bình về khắp nơi nơi
Niết Bàn trong cõi luân hồi là đây!

Vinh Hồ
1982
Làm tại Lỗ Gáo, Ninh Hoà, Khánh Hoà, gồm 58 câu.
(Trích trang 113, thi tập Ẩn Dật của Vinh Hồ)
-Tìm mai đạp nguyệt (thơ Nguyễn Trãi)

Mỹ "Chảnh" Và Worldcup


Nhớ hồi đi vượt biên, tàu đến Thailand, được vào trại nhỏ, chưa biết gì về cuộc thanh lọc gắt gao, nhiều lúc rảnh rang, chúng tôi hay hỏi nhau sau này thích đi định cư nước nào. Ngoại trừ những người có thân nhân ruột thịt ở các nước khác, hoặc vài trường hợp có lý do đặc biệt, còn lại hầu hết ai cũng nói như đinh đóng cột: "Tui muốn đi Mỹ!"

Hỏi sao Mỹ hổng "chảnh"?


Có thằng nhóc tì 9-10 tuổi được ba má cho đi theo người hàng xóm vượt biên qua trại, cũng chắc như bắp:
- Em cũng đi Mỹ!
Tôi liếc nó:
- Nhìn cưng là biết sinh sau đẻ muộn, sau ngày mất nước, có ân nghĩa gì với Mỹ, có liên can gì với Mỹ, mà cũng bày đặt tài lanh đòi đi Mỹ ?
- Nhưng em vẫn muốn đi Mỹ cơ!
- Tại sao?
- Lúc má tiễn em xuống ghe, má dặn kỹ lắm, dặn đi dặn lại cả chục lần, bằng mọi giá phải cương quyết đi Mỹ nghen con, đừng đi nước nào khác.
- Má mày ngon dữ đa! Quăng con đi vượt biên rồi ngồi nhà ra lệnh cho nó phải đi Mỹ. Khôn như má mày quê chị đầy!
Thằng nhóc vênh mặt, tự hào:
- Dạ, má em còn biểu, đã tốn công vượt hiểm nguy trên biển, khi tới trại phải đi Mỹ cho đáng "đồng tiền bát gạo".
Hỏi sao Mỹ hổng "chảnh"?

Sau này, tôi đậu thanh lọc, lên trại transit làm việc, tôi không làm post office nữa mà qua làm cho văn phòng Cao Ủy Định Cư Panatnikhom (PNK). Các phái đoàn Canada, Úc, Pháp, các nước Bắc Âu ... vài ba tháng thay phiên nhau vào trại một lần. Họ mượn văn phòng Cao Ủy làm nơi phỏng vấn. Lúc ấy cả phòng chúng tôi ồn ào vui vẻ bận rộn, từ bà Cao Ủy người Thái, rồi nhóm phụ thông dịch, nhóm điền forms, nhóm đọc loa thông báo đồng bào có tên phỏng vấn . Không khí tấp nập một vài bữa hoặc có khi cả tuần, phái đoàn lại ra về, chúng tôi và nhóm phái đoàn bắt tay tạm biệt, hẹn gặp nhau khi họ sẽ quay lại phỏng vấn cho đợt sau.

Nhưng Mỹ "chảnh" thì không hề nhe! Mỹ "chảnh" không thèm mượn văn phòng Cao Ủy, Mỹ "chảnh" không thèm mượn nhân viên Cao Ủy, mà Mỹ "chảnh" mở riêng một văn phòng trong trại, treo cái bảng gỗ bên ngoài với cái tên rất oai phong: " JVA PNK CAMP-US. EMBASSY- REFUGEE SECTION"

JVA mở cửa mỗi ngày, vì số lượng người muốn đi Mỹ rất đông. Hễ có ai phỏng vấn xong, được Mỹ cho "đậu" là ra ngoài cửa la hét, nhảy tưng tưng, sung sướng, rồi mở tiệc đãi bà con chung lô xung quanh.

Hỏi sao Mỹ hổng "chảnh"?

Đó là chuyện ở trại, còn ở Việt Nam thì sao, chắc ai cũng biết. Các cán bộ, các “đảng viên” chửi Mỹ ra rả nhưng các con cháu của họ đều qua Mỹ du học, có thẻ xanh, định cư luôn bên Mỹ. Cho đến ngày nay, Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn mỗi ngày bất kể nắng mưa cũng có một hàng dài xếp hàng để xin Visa qua Mỹ.

Hỏi sao Mỹ hổng “chảnh”?

Còn thế giới? Mặc dù có nhiều cuộc xếp hạng “nước hạnh phúc nhất thế giới”, “nước an bình nhất thế giới”… Mỹ có thể đứng sau vài nước, nhưng sau khi “cộng trừ nhân chia” thì “Giấc Mơ Mỹ” vẫn là giấc mơ của rất nhiều người ở khắp nơi . Đồng dollar của Mỹ là đồng tiền “uy lực” và phổ biến nhất hành tinh, bất cứ ai, dù là ở thành thị hay thôn quê, từ một ông lão cho đến thằng bé con, nhìn thấy đồng tiền Mỹ đều thốt lên: “America!”

Hỏi sao Mỹ hổng “chảnh”?

Đó chỉ là vài ví dụ “mở bài” (tuy hơi dài), để tôi đi vào chủ đề chính: Mỹ “chảnh” và World Cup sau đây.
Chúng ta, nhất là những người hâm mộ bóng đá, đều biết giải FIFA ( Federation Internationale De Football Association) World Cup kỳ này sẽ diễn ra từ ngày June 11 đến July 19/2026 do ba nước Mỹ-Canada-Mexico đồng đăng cai.

Tới đây tôi xin mở ngoặc, tự nhận là “fan” bóng đá, nhưng chỉ là “fan” của hai giải World Cup (thế giới) và Euro (Châu Âu) thôi nhe, còn mấy giải bóng đá lẻ tẻ, như bên Châu Á, bên Việt Nam thì tôi hổng có hứng thú. Nhỏ bạn thân nói tôi chảnh, chỉ toàn xem giải lớn, hổng lẽ tôi lây bệnh của… Mỹ “chảnh”?

Dù sao, tôi cũng phải thú nhận, là giống như nhiều phụ nữ xem World Cup khác, tôi xem bóng đá với cảm tính nhiều hơn, vì cho đến bây giờ tôi chẳng rành rọt luật lệ bóng đá, chẳng biết thế nào là “việt vị”, xin đừng hỏi tôi thế nào là “phạt góc”, khi nào bị “phạt đền”, thế nào là “ném biên”, vì tôi càng… không biết. Nhưng tôi biết một điều cơ bản, là khi banh vào lưới là ghi bàn. Còn nữa, kể từ khi lần đầu tiên biết đến World Cup Tây Ban Nha 1982, tôi đã liên tục là cổ động viên sốt sắng, không thiếu một mùa giải nào cho đến nay, kể cả lúc ở trại tỵ nạn Thailand tôi vẫn xem trọn các trận của World Cup Italy1990, vậy là đủ “tiêu chuẩn” làm “fan” World Cup rồi nhỉ.

Trở lại mùa World Cup năm nay, công bằng mà nói, Mỹ và Canada là hai quốc gia không có thành tích bóng đá nổi bật, hầu như người dân chỉ mê xem Hockey, Football, còn Soccer thì chẳng mấy ai quan tâm. Nhưng nước Mỹ, vốn giàu có và không chịu thua kém ai chuyện gì, cũng đã từng được đăng cai World Cup năm 1994, và bắt đầu bỏ tiền đầu tư cho đội tuyển bóng đá quốc gia. Canada cũng theo đàn anh, cố gắng vực dậy đội bóng (nam) của mình, nhưng thực tế vẫn chỉ nhích lên chút đỉnh, chưa thể được xếp vào hạng cao của làng bóng đá thế giới. Nhưng như đã nói, Mỹ “chảnh” lại muốn đăng cai World Cup lần nữa, nhưng xét thấy khó được FIFA chấp thuận, nên Mỹ đã nhanh ý kéo theo hai “đứa em” cùng xóm là Canada và Mexico đồng đăng cai, và kết quả là có World Cup năm nay, 2026, do xóm Bắc Mỹ chủ trì theo thứ tự vai vế: Mỹ, Cà, và Mễ. (Tôi xin gọi tắt Canada là xứ Cà, giống như dân Việt mình ở Mỹ gọi San Francisco là San Fran, hoặc Philadelphia là Phila).

Chồng tôi tự hào:
- Mỹ phải cám ơn Canada và Mexico, vì nhờ có hai nước này mà Mỹ mới được đồng đăng cai.
Tôi mỉm chi:
- Anh đùa cũng dzui hen. Thôi đừng có mơ cưng ơi. Mà chính chúng ta, xứ Cà và xứ Mễ phải cám ơn Mỹ mới phải đó đa!
- Ừ thì thôi vậy, cả ba nước đều mang ơn nhau, vậy là huề. Mà sao Mỹ khôn quá chừng, tổ chức ở ba nước mà đa số các trận đấu đều diễn ra ở Mỹ, là sao??
- Thì Mỹ giàu, Mỹ giỏi, Mỹ… “chảnh”, nên Mỹ có quyền, còn Canada mình hiền lành, sao cũng được, cho thế giới hòa bình. Anh quên đã từng nói với em rằng, Canada như một nàng xinh đẹp, hiền hoà, đôn hậu, còn Mỹ là cô gái năng động, xông xáo, đáo để, thích bênh vực bảo vệ những kẻ yếu kém, giữ vai trò chủ chốt, dẫn đầu về mọi mặt. Và người đời, ai cũng yêu mến cô gái dịu dàng, đằm thắm, nhưng lại bị lôi cuốn, quyến rũ và thú vị được khám phá cô nàng có cá tính, chút kiêu hãnh, chút thông minh, đúng không? Thôi đừng ganh tị với Mỹ nữa, hàng xóm với nhau cả mà.

Mới khuyên chồng bớt “sân si” với hàng xóm thì vài ngày sau đến lượt tôi… tự ái:
- Ủa Ủa!! Sao kỳ vậy ta! Giải World Cup kỳ này, trận bế mạc sẽ diễn ra tại sân MetLife Stadium ở New Jersey, Mỹ thì em không có ý kiến, nhưng tại sao trận khai mạc lại là ở Mexico City Stadium mà không phải xứ Cà của chúng ta? Mễ nghèo hơn, yếu hơn ta mà! Tại sao và tại sao!?
Bây giờ là lúc chồng tôi đóng vai trò cản cơn nóng của cô vợ chả hiểu gì về bóng đá:
- Em à, đúng là Mễ nghèo hơn ta, nhưng dù sao “nó” có chút thành tích bóng đá hơn hẳn trong cái xóm Bắc Mỹ này đấy. Trận bế mạc, anh Mỹ xứng đáng được hưởng vì ảnh… nổi tiếng, còn trận khai mạc đương nhiên phải thuộc về em Mễ thôi, hiểu chửa?
Tôi rầu rĩ chịu thua:
- Té ra, xứ Cà của tụi mình mãi mãi… khiêm nhường.

Chồng lại tự hào:
- Nhưng Canada lại là nơi bình an nhất trong giải World Cup kỳ này đấy. FIFA vừa có bài viết, phản ánh nỗi lo ngại của cổ động viên khắp nơi, họ đang ngại đến Mỹ khi chiến tranh với Iran vẫn còn lay lất, Mỹ thắt chặt an ninh, thiếu nhân viên TSA phi trường sẽ quá tải lượng du khách, và họ cũng ái ngại đến Mexico vì mới đây có mấy vụ xả súng ở khu du lịch, băng đảng thanh toán lẫn nhau. Chỉ có Canada xứng đáng là sứ giả Hòa Bình, một đất nước xinh đẹp hiền hòa, không gây thù chuốc oán với ai hết á, du khách đến đây tha hồ ăn ngon ngủ kỹ.
- Ừ nhỉ, xứ Cà mình cũng có điều tuyệt vời đấy chớ!

Chị Cả của tôi ở Texas, là một “fan” của World Cup, cũng thuộc loại “fan” chẳng hiểu luật bóng đá nhưng vẫn đam mê, hai chị em sôi nổi bàn chuyện World Cup kỳ này, chị hỏi:
- Trận đầu tiên của đội Mỹ gặp đội nào vậy?
- Mỹ sẽ gặp Paraguay vào ngày 12 tháng 6 đó chị! Chị sẽ xem và ủng hộ Mỹ chớ!?
- Đâu có, chị mong cho Mỹ… thua!
- Ủa, gì mà ngược đời vậy trời? Công dân Mỹ mà hổng ủng hộ đội nhà là sao!
- Dân Mỹ có mấy ai mê bóng đá đâu, vả lại bây giờ họ chỉ quan tâm đến …giá xăng, để đội Mỹ thắng cũng uổng, vì nếu Mỹ thắng chỉ có một số người vui, thà để cho những đội mà cả dân tộc cả đất nước thổn thức, điên cuồng reo hò chiến thắng, vậy mới xứng đáng.
- Chị nói cũng có lý, vậy khi nào Canada thi đấu, em cũng sẽ ủng hộ đội... đối phương. Rồi sau khi Mỹ và Canada bị loại, hai chị em mình thảnh thơi, sẽ bàn tính sẽ ủng hộ đội nào vô địch, hen!?

Hai vợ chồng tôi thì đã hào hứng từ hai năm trước rồi kìa, chồng tôi nổi hứng:
- Chả mấy khi “xóm Bắc Mỹ” góp mặt đăng cai, các trận đấu ở Canada sẽ có vài trận ở Toronto quê hương bên nội và bên Mỹ cũng có vài trận đấu ở AT&T Stadium, Arlington Texas quê hương bên ngoại, chắc tụi mình đi coi cả hai nơi, mỗi nơi một trận, coi “live” cho sướng, cho biết “mùi” với người ta!
- Ối dào, giá cả không hề rẻ đâu, còn phải tranh giành mua nữa, chưa chắc đã có vé.
- Đâu khó khăn đến thế, ngay cả các trận đấu vòng bán kết, tứ kết, chung kết, FIFA cũng có cách sắp xếp cho cổ động viên khắp các vùng miền có thể mua vé, giá cả thì tùy chỗ ngồi, tụi mình cứ mua hạng “cá kèo” ngồi xa chót vót, giá rất phải chăng, vừa túi tiền chúng mình.
- Vậy thì ngồi ở nhà xem, màn hình tivi lớn, các pha ghi bàn được quay lại cận kề, coi vẫn sướng hơn ra ngoải, hạng “cá kèo”, lại tốn tiền.
- Vậy chớ ai, khi Đức Giáo Hoàng Francis qua Edmonton hồi năm 2022, thức cả đêm nôn nao, rồi cố dậy sớm kiên quyết xếp hàng đi xem lễ cho bằng được, dù chỉ là ngồi xa tít mù khơi ở Commonwealth Stadium!?
Tôi quê xệ:
- Thì đến đó tận hưởng cái không khí thiêng liêng, náo nhiệt…
Chồng cướp lời:
- Thì World Cup cũng thế, chúng ta muốn hòa vào đám đông nhộn nhịp trên sân cỏ, sôi nổi kèn trống của cổ động viên trên khán đài, xung quanh trận đấu, những cảm giác đó ngồi ở nhà làm sao có được.

Chúng tôi vẫn còn trong giai đoạn suy nghĩ thì được tin, có đứa cháu bên chồng sẽ làm đám cưới đầu tháng Chín này tại Italy, tha thiết mời gia đình chúng tôi tham dự, kết hợp đi chơi Châu Âu . Coi như “số trời” đã định, chúng tôi phải dành ngày nghỉ đi đám cưới, và đương nhiên, sẽ xem World Cup… tại nhà!

Không sôi động như Châu Âu, không điên cuồng như Nam Mỹ, cũng chẳng cháy bỏng khát vọng như Á Châu, nhưng tôi cảm nhận một số dân Canada cũng thích bóng đá. Ở đây, có cả một kênh thể thao phục vụ mùa World Cup, có phóng viên đến tận nơi để tường thuật, rồi trên ti vi là người anchor ngồi giữa, có hai bình luận viên nhà nghề để hầu chuyện khán giả mọi chuyện trong và ngoài trận đấu. Giữa hai hiệp và kết thúc trận đấu luôn luôn có phần chiếu lại những pha gay cấn, những cú sút ghi bàn đẹp, rồi tiên đoán kết quả trận sắp tới. Tôi xem tivi không lãng phí một giây phút nào, vì ngay cả phần quảng cáo của các nhà sponsors lừng danh như CocaCola, MasterCard, Adidas… đều có những màn quảng cáo đặc biệt xuất sắc cho riêng mùa World Cup.

Ở đâu tôi không biết, chớ ở Edmonton thành phố của tôi, từ đầu tháng Năm đã thấy người hâm mộ mặc những chiếc jerseys của các đội bóng yêu thích, nào áo vàng Brazil, áo cam Holland, đỏ sậm Mexico, xanh ngát France, trắng tươi viền đỏ cam của Germany, xanh dương sọc trắng Argentina, làm lòng người hâm mộ cũng thấy vui.

Có lẽ Canada là xứ sở đón nhận mọi sắc dân trên thế giới nên World Cup cũng có chút không khí xôn xao. Chạy xe một vòng xuống downtown Edmonton, các quán bar treo cờ các đội vào World Cup đễ … dụ dỗ người ta vào uống bia, ăn nachos, chicken wings và xem các trận đấu trên màn hình thật lớn . Các tiệm bán đồ thể thao bán các áo thun các đội tuyển World Cup, giá từ 100 đến 200 đô một cái, ông xã tôi cũng đã bon chen gom góp gần chục áo từ mấy mùa trước, năm nay đem ra mặc tiếp . Còn có cả cờ các quốc gia cỡ nhỏ để gắn trên xe, năm nay Canada tham dự với tư cách đồng chủ nhà World Cup nên tôi sẽ treo cờ Canada, chạy xe khắp nơi, đi làm, đi chợ, để cờ xứ Cà bay phấp phới oai hùng cho đến khi đội Canada bị …loại rồi mới dám treo cờ đội khác, kẻo bị goánh!

Tới đây, tôi lại xin …mở ngoặc lần thứ hai, World Cup kỳ này cũng là lần đầu tiên giải mở rộng cho 48 đội tham gia thay vì 32 đội như trước đây, vậy mà hổng thấy có tên Việt Nam (đã từng “tự hào” đạp cả Châu Á dưới chân) . Thôi vậy cũng may mắn cho các … bà mẹ của các trọng tài, bởi mỗi lần đá thua là cổ động viên chúng nó (cái nhóm biết bố mày là ai không) lại gào lên chửi “ĐM trọng tài”, tội lắm!
Nhưng có lẽ tiếc hùi hụi là các quan chức cán bộ của ngành Thể Dục Thể Thao, lỡ dịp được xách va li đi “công tác” thì ít mà “tranh thủ” đi “tham quan” xứ Bắc Mỹ kết hợp mua sắm quà cho vợ con và cho … bồ nhí ở nhà .

Khi bài viết này được lên báo thì World Cup đang gần kề, tôi nao nức chờ nghe bài hát “Lighter", một trong những ca khúc World Cup 2026 sẽ được vang lên trong mùa giải. Bài hát do ca sĩ nhạc đồng quê Mỹ Jelly Roll, ca sĩ Mexico Carín León thể hiện, nghệ sĩ Canda Circut sản xuất, là sản phẩm chung của “xóm đăng cai”, dễ thương ghê nơi!

Vừa viết tới đây, đến giờ tôi phải xuống dưới nhà dọn bữa cơm chiều, chồng thấy tôi liền hỏi:
- Em ơi, em đã gửi bài Mỹ “chảnh” và World Cup cho báo chưa? Vì có tin mới nhứt, em sẽ vui đấy.
- Chuyện gì, hấp dẫn không anh?
- FIFA vừa thông báo, vì World Cup 2026 do xóm Bắc Mỹ đồng đăng cai, nên Lễ Khai Mạc sẽ diễn ra ở cả ba nước Mỹ, Canada và Mexico.
- Cụ thể là như thế nào?
- Từ từ để anh nói hết! Này nhé, ngày đầu tiên là June 11 sẽ là Lễ Khai Mạc tại Mexico City của Mễ.
- Rồi sao?
- Rồi ngày hôm sau, June 12, Lễ Khai Mạc sẽ tại Los Angeles của Mỹ và tại Toronto, Canada, dĩ nhiên là giờ khác nhau để toàn thế giới sẽ được thưởng thức đầy đủ.
Tôi vui vẻ:
- Có thế chứ! Cùng là đồng đăng cai, cũng phải để cả ba nước được khoe nét đẹp của quê hương mình. Mặc dù Mexico được ưu tiên làm Lễ Khai Mạc ngày đầu tiên, nhưng mà thôi, hổng có ganh ghét sân si nữa, “cả xóm Bắc Mỹ” cùng vui! Vậy tụi mình phải nghỉ làm hai ngày liền để xem đủ các Lễ Khai Mạc ư?

Từ nhiều năm nay, vợ chồng tôi, hễ vào những ngày “quan trọng” như ngày bầu cử… Tổng Thống Mỹ, ngày khai mạc giải World Cup, Euro, Olympic là đều nghỉ làm để ở nhà xem “live” trên tivi . Chồng tôi là “big boss” nên chàng tự động sắp xếp ngày nghỉ rồi nói với staff là chàng “làm việc ở nhà”. Còn tôi, phải báo trước với supervisor ngày nghỉ vì “nhà có việc”, cũng may là “sếp” của tôi không biết tiếng Việt, chớ nếu đọc được bài này, biết “nhà có việc” là gì, thì sẽ mệt với “sếp” đấy .

Trong tình hình thế giới còn nhiều điều lo âu, biến động do tình hình chiến tranh vùng Trung Đông, mong rằng ngày hội World Cup năm nay sẽ mang đến một làn gió mát của hy vọng, đoàn kết, hòa bình, thân ái đến cho nhân loại khắp năm châu.
Và những cổ động viên của bóng đá trên toàn thế giới thân mến, xin cứ vững tin và cùng cầu nguyện “xóm Bắc Mỹ” chúng tôi sẽ cống hiến các bạn một mùa đăng cai tuyệt vời!
Để kết thúc bài viết, tôi xin tặng các “fan cuồng” của World Cup câu chuyện mới sưu tầm:

Hai cha con trên đường đi xem một trận đấu World Cup, gần tới sân thì ông bố chợt nhớ là đã để quên vé ở nhà, nên sai con trai chạy nhanh về nhà lấy.
Cậu bé về tới nhà thì nghe tiếng mẹ và một người đàn ông lạ trong phòng ngủ. Cậu vội cầm tấm vé rồi chạy ra sân bóng thì thầm với bố, vừa thở không ra hơi vừa lắp bắp thông báo với bố rằng mẹ có bồ.
Ông bố thở phào:
- Mày làm bố hết cả hồn, bố cứ tưởng mày không tìm thấy vé cơ chứ!

Edmonton, Tháng 6/2026
KIM LOAN