Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2026

Chân Nguyên Vũ Trụ - Thơ: Hoàng Thục Uyên - Nhạc: Nguyễn Tuấn

Thơ: Hoàng Thục Uyên
Nhạc: Nguyễn Tuấn

Giao Thức



Tưởng nhớ Thiếu Tướng Lê Minh Đảo
(5/3/1933 - 19/3/2020)
 
Như vừa mới ngã mũ chào
mà phơ phất bóng chiến bào tầm xa
ngựa giòn gõ vó bôn qua
bụi hồng sương quyện khói nhòa mắt cay
Người đi buồn rạn chân mây
nhạc tình giao phối Chương Đài phù vân
nghiệp duyên quá cuộc hồng trần
kiếm cung biệt diện tần ngần sử thi
Rượu còn sóng sánh ngang ly
mà Người đã khuất hương nghi ngút mờ
vọng tình rót rượu vào thơ
mở đêm giao thức ngồi chờ đối âm!

Cao Nguyên


Ân Tình Thiên Thu...

 

Hai mùa mưa nắng quê mình
Đi thương về nhớ ân tình mênh mông
Đường trần ai biết tâm đồng
Cội nguồn sữa mẹ tiên rồng còn nguyên

Đào hoa mai mối thiên duyên
Hờn mưa giận nắng sầu riêng sao chờ
Đơm hoa mộng kết trái mơ
Chung dòng giao cảm động thơ ngây hoài

Hương nguyền bốc lửa liêu trai
Trăng non gội tóc gió bay áo nhìn
Mưa thương nắng nhớ chân kinh
Vòng hoa chúc tết cùng mình thăng hoa

Nõn nà ngà ngọc tình ca
Đồng tâm giao cảm ao nhà hóa thơ
Vô cùng vô tận vô bờ
Nghìn xưa thề hứa bây giờ thiên thu...

MD.10/28/16
LuânTâm

Tà Áo Ngày Xưa

 

 

Tà áo ngày xưa trong gió chiều
Làm người thổn thức nhớ bao nhiêu
Hoàng hôn gió nhẹ chân trời tím
Bóng dáng ai kia thật mỹ miều.

Tà áo ngày xưa tuổi học trò

Nhớ mùa hè cũ chẳng sầu lo
Nụ hôn vụng trộm ngày xưa đó
Nhớ lắm sao quên những hẹn hò

Tà áo ngày xưa đã nhạt màu

Từ ngày chinh chiến phải xa nhau
Người đi biền biệt người trông ngóng
Để tóc em tôi cũng điểm màu.

Tà áo ngày xưa vẫn nhớ hoài

Vô tình đánh mất, ngã chia hai
Hôm nay xứ lạ nhìn bông tuyết
Nhớ đến người xưa tà áo dài.

Tạ Quang Tuấn
Ngày 14 tháng 12 năm 2021

Danh Sách Schindler- Steven Spielberg - Thái Lan Sưu Tầm & Dich

Người Do Thái đến Auschwitz II ở Ba Lan bị Đức chiếm đóng, tháng 5 năm 1944. Hầu hết được chọn để hành quyết trong các phòng hơi ngạt.

(theo wiki) Quỹ USC Shoah – Viện Lịch sử Hình ảnh và Giáo dục, trước đây là Quỹ Lịch sử Hình ảnh Những người sống sót của Shoah, là một tổ chức phi lợi nhuận chuyên thực hiện các cuộc phỏng vấn nghe nhìn với những người sống sót và nhân chứng của Holocaust (trong tiếng Do Thái được gọi là Shoah). Tổ chức này được thành lập bởi Steven Spielberg vào năm 1994, một năm sau khi hoàn thành bộ phim đoạt giải Oscar của ông, Schindler's List. Vào tháng 1 năm 2006, quỹ đã hợp tác với và chuyển đến Đại học Nam California (USC) và được đổi tên thành Quỹ USC Shoah – Viện Lịch sử Hình ảnh và Giáo dục. Vào tháng 3 năm 2019, viện đã khai trương trụ sở toàn cầu mới[2] tại khuôn viên của USC.

Holocaust,được biết đến trong tiếng Do Thái là Shoah, là cuộc diệt chủng người Do Thái ở châu Âu trong Thế chiến II. Từ năm 1941 đến năm 1945, Đức Quốc xã và các đồng minh của họ đã sát hại có hệ thống khoảng sáu triệu người Do Thái trên khắp châu Âu bị Đức chiếm đóng, chiếm khoảng hai phần ba dân số Do Thái của châu Âu. Các vụ giết người chủ yếu được thực hiện thông qua các vụ hành quyết hàng loạt trên khắp Đông Âu và các phòng hơi độc trong các trại hủy diệt, chủ yếu là các trại tử thần Auschwitz-Birkenau, Treblinka, Belzec, Sobibor, Chełmno và Majdanek ở Ba Lan bị chiếm đóng. Các cuộc đàn áp đồng thời của Đức Quốc xã đã giết chết hàng triệu thường dân và tù binh chiến tranh (POW) không phải người Do Thái khác; thuật ngữ Holocaust đôi khi được sử dụng để bao gồm việc giết hại và đàn áp các nhóm không phải người Do Thái, chẳng hạn như người Romani và tù binh chiến tranh Liên Xô.

Một tác phẩm táo bạo và một tác động văn hóa mạnh mẽ

Việc quay phim ‘ Danh sách Schindler bắt đầu ở Krakow, Ba Lan, và đòi hỏi một nỗ lực khổng lồ, huy động 30.000 diễn viên quần chúng và 18.000 bộ trang phục. Bối cảnh được tái tạo tỉ mỉ để phản ánh sự tàn bạo của các trại tập trung. Những lựa chọn đạo diễn của Spielberg, cả về mặt thẩm mỹ và cốt truyện, đã cho phép ông tạo ra một tác động cảm xúc mạnh mẽ, đối mặt với khán giả với thực tế của nạn diệt chủng.

Một di sản và ảnh hưởng lâu dài

Bộ phim không chỉ để lại dấu ấn không thể xóa nhòa trong lịch sử điện ảnh mà còn ảnh hưởng đến nhiều thế hệ nhà làm phim trong việc xem xét cách tốt nhất để giải quyết các sự kiện bi thảm. ‘ Danh sách Schindler đã truyền cảm hứng cho nhiều đạo diễn và giúp mở ra cuộc đối thoại về nghĩa vụ ghi nhớ, trách nhiệm lịch sử và sức mạnh của hình ảnh trong điện ảnh.

Một tác phẩm kinh điển.

Bằng cách xem lại "Danh sách Schindler", chúng ta sống lại một thời kỳ đen tối qua lăng kính nhân văn. Bộ phim này, với phiên bản được phục chế, vẫn là một tác phẩm không thể bỏ qua, dù là vì cách kể lại lịch sử đầy xúc động hay vì những cuộc thảo luận quan trọng mà nó khơi gợi. Để tìm hiểu thêm về tác phẩm xuất sắc này, hãy truy cập Télérama, hoặc khám phá các phân tích chuyên sâu khác trên Allée des curieux.www.cineserie.com › news › cinema

Ra mắt cách đây gần ba mươi năm, bộ phim " Danh sách Schindler " của Steven Spielberg gần như hoàn toàn được quay toàn đen trắng. Tại sao lại chọn như thế? Và tại sao cảnh quay duy nhất có chút màu sắc lại ảnh hưởng mạnh đến vậy?


Danh sách Schindler : Từ Câu Chuyện Có Thật Đến Phim

Năm 1994, Steven Spielberg đã đạo diễn một trong những kiệt tác của điện ảnh: Danh sách Schindler  Với sự tham gia của Liam Neeson, bộ phim được chuyển thể từ tiểu thuyết của Thomas Keneally và kể về câu chuyện có thật của Oskar Schindler. Ban đầu là một thành viên của đảng Quốc xã và có nguồn gốc Công giáo, Schindler đã mạo hiểm sự nghiệp và tính mạng của mình bằng cách thuê 1.100 người Do Thái vào công ty của mình trong thời kỳ Holocaust. Một kế toán người Do Thái trở thành "quan niệm về đạo đức" của ông khi ông điều hành công việc kinh doanh cùng với một viên chỉ huy Đức Quốc xã tàn nhẫn và ngoan cố (do Ralph Fiennes thủ vai), từ ban công của mình- người này chịu trách nhiệm về cái chết của các tù nhân Do Thái.

Phần lớn được quay màu đen trắng ở Ba Lan, bộ phim không nhằm mục đích giảm thiểu những khuyết điểm hay tôn vinh người anh hùng bất đắc dĩ này, mà để làm nổi bật sự chiến thắng của trí lực con người giữa thảm kịch nhân loại. Danh sách Schindler vẫn là một lời nhắc nhở mạnh mẽ về sự kinh hoàng của Holocaust và chủ nghĩa anh hùng đã xuất hiện ngay cả trong những hoàn cảnh đen tối nhất của lịch sử.

Việc lựa chọn quay Danh sách Schindler bằng phim đen trắng là một quyết định quan trọng đối với Steven Spielberg. Đạo diễn và nhà quay phim Janusz Kaminski đã chọn định dạng đen trắng, nhằm tạo ra một bầu không khí chân thực, gần như giống phim tài liệu. Điều này đã làm cho bộ phim trở nên ấn tượng hơn và tăng thêm tính xác thực lịch sử của phim. .

cô bé mặc áo khoác đỏ.- La Liste de Schindler © Universal Pictures

Spielberg giải thích sự lựa chọn của mình nhu sau:

Thảm họa Holocaust là cuộc sống không có ánh sáng. Đối với tôi, biểu tượng của sự sống là màu sắc. Đó là lý do tại sao một bộ phim về Holocaust phải được làm đen trắng.

Tuy nhiên, Spielberg đã đưa một yếu tố màu sắc vào thế giới đen trắng này: cô bé mặc áo khoác đỏ. Điểm nhấn màu sắc này tượng trưng cho dấu vết duy nhất của nhân tính và sự ngây thơ còn sót lại giữa nỗi kinh hoàng. Cô bé đại diện cho một nạn nhân vô tội của cuộc thanh trừng khu ghetto Krakow, một đứa trẻ có cuộc sống bị tàn phá bởi sự tàn bạo của Holocaust.

Sự tương phản nổi bật giữa màu đỏ tươi của chiếc áo khoác và màu đen trắng xung quanh khiến nạn nhân trở nên khác biệt, làm nổi bật sự tàn bạo của thế giới xung quanh. Sự hiện diện của bé trong phim là một lời nhắc nhở mạnh mẽ về thực tế của sự đau khổ và bất công đã ảnh hưởng đến rất nhiều cuộc đời trong thời kỳ đen tối này.

Một câu chuyện nhân văn ngay giữa những sự tàn bạo.

Bộ phim theo dõi hành trình phức tạp của Oskar Schindler, một thành viên của đảng Quốc xã, người mà bất chấp tham vọng và chủ nghĩa cơ hội của mình, đã sử dụng ảnh hưởng và nguồn của cải của mình để cứu sống nhiều người. Spielberg khắc họa nhân vật đáng ngưỡng mộ nhưng đầy mâu thuẫn này, khiến chúng ta phải suy ngẫm về bản chất con người. Câu chuyện cảm động này cho thấy rằng, ngay cả trong những khoảnh khắc đen tối nhất của Lịch sử, những hành động nhân ái và dũng cảm vẫn có thể xuất hiện.

Danh sách Schindler: Câu chuyện có thật phiá sau bộ phim

Năm 1993, Danh sách Schindler là một trong những thành công lớn nhất của Steven Spielberg, đã được trình chiếu. Được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Thomas Keneally, bộ phim đen trắng với những điểm nhấn màu sắc (điểm xuyết) nổi tiếng đã gặt hái thành công lớn cả về mặt phê bình lẫn thương mại. Phim đã giành được bảy giải Oscar, bao gồm cả Phim hay nhất.

Như bạn đã biết, bộ phim được lấy cảm hứng từ cuộc đời của Oskar Schindler và những hành động anh hùng của ông. Hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau khám phá câu chuyện có thật phiá sau Danh sách Schindler.

Bối cảnh của phim Danh sách Schindler

Trước khi bàn về câu chuyện của phim Danh sách Schindler, điều cần thiết là phải xác định bối cảnh. Năm 1941, tại Krakow, Ba Lan. Hơn 15.000 người Do Thái bị nhồi nhét vào Podgorze, một vùng ngoại ô của thành phố sau này trở thành khu ghetto(khu biệt cư) Krakow. Bị giam cầm, họ buộc phải sống chen chúc nhau, hoàn toàn bị cô lập với thế giới bên ngoài.

Ngay bên trong chính khu ghetto, hoặc vùng lân cận, có một số nhà máy và xưởng sử dụng lao động giá rẻ là những người Do Thái bị giam cầm này, như nhà máy Siemens và nhà máy sản xuất đồ (tráng) men của Oskar Schindler.

Từ cuối năm 1942, diện tích khu ghetto liên tục thu hẹp trong khi dân số tiếp tục tăng. Công nhân bị tách biệt khỏi phần còn lại của dân cư, và mỗi lần giảm dân số, lại có những cuộc trục xuất, hoặc đến trại hủy diệt Belzec hoặc trại tập trung Plaszow.

Năm 1942, việc giải tán khu ghetto được thực hiện. Hàng ngàn người Do Thái bị di dời và sát hại. Làn sóng trục xuất đầu tiên diễn ra vào tháng 6, tiếp theo là làn sóng thứ hai vào tháng 10. Cuộc trục xuất cuối cùng diễn ra vào tháng 3 năm 1943: tất cả những người Do Thái được coi là đủ sức lao động đều bị đưa đến các trại tập trung. Gần 2.000 người còn lại bị chính quyền giết hại trên đường phố.

Giờ đây khi bối cảnh đã được thiết lập, hãy cùng khám phá câu chuyện có thật đằng sau bộ phim Danh sách Schindler.

Câu chuyện có thật về Danh sách Schindler

Năm 1941, khi khu ghetto Krakow đang hình thành, Oskar Schindler là một nhà công nghiệp người Đức sở hữu một nhà máy, Deutsche Emailwarenfabrik, gần thành phố. Ông cũng sở hữu một nhà máy sản xuất vũ khí và đạn dược cách đó vài cây số. Ông đã là thành viên của đảng Quốc xã từ năm 1938.

Từ năm 1941 trở đi, ông đã lợi dụng sự hình thành của khu ghetto và mối quan hệ của mình với Amon Göth, người đứng đầu trại tập trung Plaszow, để thuê người Do Thái với mức lương rất thấp và ép buộc họ làm việc. Do đó, những ngày đầu trong câu chuyện của Oskar Schindler không hề anh hùng: ông hành động hoàn toàn vì lợi ích tài chính cá nhân.

Nhưng điều kiện sống ngày càng tồi tệ của người Do Thái trong các trại tập trung và khu ghetto cuối cùng đã thúc đẩy ông hành động. Dần dần, nhà máy của ông trở thành nơi trú ẩn cho những người bị bức hại. Đầu tiên, ông sử dụng ảnh hưởng của mình trong đảng Quốc xã địa phương để cố gắng hết sức cải thiện điều kiện sống trong khu ghetto. Ông cũng đảm bảo rằng công nhân của mình không bị trục xuất đến các trại tập trung và sắp xếp để tuyển dụng thêm nhiều người trong số họ.

Năm 1943, khi chính quyền ra lệnh thanh trừng toàn bộ khu ghetto bằng cách giết hại tất cả cư dân trên đường phố, Oskar Schindler đã cho tất cả nhân viên của mình ngủ hẳn trong nhà máy để tránh cho họ khỏi cuộc thảm sát.

Mặc dù nhà máy của ông chỉ sử dụng khoảng một trăm người Do Thái vào đầu những năm 1940, nhưng đến khi khu ghetto bị giải tán, con số này đã lên đến hơn một nghìn người.


Cũng trong năm 1943, ông đã đăng ký nhà máy của mình như là một phần của trại tập trung Plaszow: điều này cho phép các nhân viên của ông sống trong nhà máy và được bảo vệ khỏi sự ngược đãi mà những người Do Thái khác phải chịu đựng ở những nơi khác trong trại. Ông đã dùng tài sản của mình để nuôi sống và cung cấp chỗ ở cho họ, mang đến cho họ điều kiện sống tốt hơn.

Năm 1944, Schindler đã di dời nhà máy của mình cách vị trí ban đầu khoảng mười lăm ki-lô-mét, biến nó thành một nhà máy sản xuất vũ khí với quy chế đặc biệt. Vì nhà máy đóng góp vào nỗ lực chiến tranh, Schindler được phép đưa tất cả nhân viên của mình đi cùng và thậm chí còn được tuyển thêm người. Chính trong quá trình di dời này, một trong những nhân viên của ông đã lập ra Danh sách Schindler nổi tiếng, ghi chép lại hơn 1.200 tù nhân Do Thái được chuyển đến. Trong vài tháng nhà máy hoạt động, trong thực tế Schindler chỉ sản xuất rất ít vũ khí để không hỗ trợ Đức Quốc xã.

Nhưng vào cuối năm đó, sự tiến quân của Liên Xô đã khiến chính quyền Đức lo ngại, và họ ra lệnh sơ tán trại Plaszow. Khoảng 20.000 người Do Thái còn lại đã bị trục xuất đến các trại hủy diệt. Schindler cũng nhận được lệnh sơ tán. Một lần nữa, ông lại tìm cách xoay sở và lên kế hoạch để được phép thành lập nhà máy của mình ở Brünnlitz, quê hương của ông, đồng thời đưa các nhân viên người Do Thái của mình đi cùng. Tuy nhiên, trên đường đi, bi kịch đã xảy ra: các nhân viên nam của ông bị đưa đến trại tập trung Gross-Rosen và các nhân viên nữ bị đưa đến Auschwitz, nơi họ bị sát hại.

Schindler sau đó đã dùng tài sản cá nhân của mình để hối lộ ban quản lý trại và đảm bảo việc thả cả nam và nữ nhân viên đến nhà máy mới của ông.

Tháng 1 năm 1945, Oskar và vợ, Emilie Schindler, đã tìm cách chuyển hướng một đoàn tàu chở hơn 100 người bằng cách thuyết phục các binh sĩ rằng họ cần sức lao động của những người này để duy trì hoạt động nhà máy của ông.

Khi chiến tranh kết thúc, Oskar Schindler bị phá sản. Ông sống phần đời còn lại giữa Israel và Đức, duy trì liên lạc với những người sống sót của nhà máy và nhận được sự hỗ trợ tài chính từ các tổ chức Do Thái. Năm 1967, ông được Đài tưởng niệm Yad Vashem trao tặng danh hiệu “Người công minh chính trực giữa các Quốc gia ” .

Những điểm khác biệt giữa phim của Spielberg và câu chuyện có thật về Danh sách Schindler

Trong bộ phim tái hiện câu chuyện có thật về Danh sách Schindler, Spielberg đã cố gắng theo thật sát câu chuyện thật . Trong số các diễn viên quần chúng đóng vai phụ của phim có Jan Liban, một người sống sót sau vụ tại nhà máy của Oskar Schindler. Theo lời con trai ông, bộ phim của Spielberg theo sát từ 80% đến 90% sự thật lịch sử. Tuy nhiên, có một số điểm khác biệt đáng chú ý.

Ví dụ, trong phim, Schindler ngay lập tức bắt đầu tuyển dụng người Do Thái vào nhà máy của mình. Trên thực tế, ban đầu ông tuyển dụng người Ba Lan và chỉ bắt đầu thuê người Do Thái khi nhận ra điều đó sẽ có lợi cho công việc kinh doanh của mình.

Va một trong những điểm khác biệt nổi bật nhất giữa bộ phim Danh sách Schindler và câu chuyện có thật liên quan đến chính danh sách đó. Trong phim, danh sách được lập theo yêu cầu của Oskar. Trên thực tế, Oskar có lẽ đang ở trong tù khi danh sách được lập ra.

Do đó, có những điểm khác biệt, bởi vì, như đã nhắc lại, bộ phim không phải là phim tài liệu. Nhưng nó cung cấp một điểm khởi đầu tuyệt vời để khám phá câu chuyện phi thường khó tin và giàu tính nhân văn này.

Để tìm hiểu thêm về câu chuyện của Danh sách Schindler

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về câu chuyện có thật đằng sau bộ phim Danh sách Schindler, đây là một số nguồn tài liệu có thể bạn quan tâm.
Xem phim Danh sách Schindler trực tuyến
Đáng tiếc là phim Danh sách Schindler không có trên Netflix tại Pháp. Bạn có thể mua hoặc thuê phim này trên Amazon Prime.

Danh sách Schindler trên YouTube
Bạn cũng có thể thuê phim trên YouTube để xem trực tuyến. Tất cả nhạc phim trong Danh sách Schindler đều có sẵn miễn phí.

Có rất nhiều nguồn tài liệu khác về câu chuyện có thật trong danh sách này, chẳng hạn như cuốn tiểu sử về Oskar Schindler (bằng tiếng Anh).

Bạn cũng có thể tìm mua DVD và Blu-ray của Danh sách Schindler trên Amazon để xem hoặc xem lại kiệt tác điện ảnh này.
========
(Theo wiki):

Schindler's List là một bộ phim điện ảnh chính kịch cổ trang sử thi của Hoa Kỳ sản xuất và phát hành năm 1993 do Steven Spielberg làm đạo diễn kiêm đồng sản xuất và Steven Zaillian viết kịch bản. Phim dựa theo cuốn tiểu thuyết Schindler's Ark của Thomas Keneal ly, một tiểu thuyết gia người Úc. Bộ phim dựa trên cuộc đời của Oskar Schindler, một doanh nhân người Đức đã cứu sống hơn một 1000 người Do Thái gốc Ba Lan tị nạn trong thời kỳ Đức Quốc Xã tàn sát người Do Thái bằng cách tuyển họ vào làm trong các nhà máy của mình. Phim có sự tham gia của Liam Neeson trong vai Schindler, Ralph Fiennes trong vai sĩ quan Schutzstaffel (SS) Amon Goeth, và Ben Kingsley trong vai kế toán người Do Thái của Schindler, Itzhak Stern.

Ý tưởng sản xuất một bộ phim nói về Schindlerjuden (những người Do Thái của Schindler) được đề xuất lần đầu tiên vào năm 1963. Poldek Pfefferberg, một trong số những người Schindlerjuden, xác định rằng sứ mệnh của cuộc đời mình là phải kể lại câu chuyện của Schindler cho hậu thế. Spielberg tỏ ra hứng thú với kịch bản này sau khi nhà điều hành Sid Sheinberg gửi cho ông một bản nhận xét cuốn sách Schindler's Ark. Universal Studios mua bản quyền chuyển thể điện ảnh của cuốn tiểu thuyết, tuy nhiên Spielberg, ban đầu còn lo ngại ông chưa đủ tự tin để làm một bộ phim về thời kỳ tàn sát người Do Thái, tìm cách đẩy dự án sang cho một số đạo diễn khác trước khi quyết định tự tay đạo diễn bộ phim này.

Quá trình quay phim chính diễn ra tại Kraków, Ba Lan trong vòng 72 ngày. Spielberg quay bộ phim dưới định dạng đen trắng và coi đó là một bộ phim tài liệu. Nhà quay phim Janusz Kamiński muốn mang lại cho tác phẩm điện ảnh này một cảm giác vượt thời gian. John Williams soạn nhạc cho bộ phim, và nghệ sĩ vĩ cầm Itzhak Perlman biểu diễn bản nhạc chủ đề của bộ phim.

Schindler's List ra mắt vào ngày 30 tháng 11 năm 1993 tại Washington, D.C. và được phát hành rộng rãi trên toàn nước Mỹ vào ngày 15 tháng 12 năm 1993. Thường được coi là một trong những bộ phim hay nhất mọi thời đại từng được sản xuất,[4][5][6] phim cũng thu được thành công thương mại, mang về 322 triệu USD trên toàn cầu so với 22 triệu USD kinh phí. Phim giành được bảy giải Oscar (trong tổng số mười hai đề cử), trong đó có giải Phim hay nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất, Kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất và Nhạc phim hay nhất, cùng nhiều giải thưởng khác (trong đó có bảy giải BAFTA và ba giải Quả cầu vàng). Năm 2007, Viện phim Mỹ xếp bộ phim này đứng thứ 8 trong danh sách 100 phim Mỹ hay nhất mọi thời đại. Thư viện Quốc hội Mỹ đã lựa chọn bộ phim này để bảo tồn tại Viện lưu trữ phim Quốc gia Hoa Kỳ vào năm 2004.

 

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2026

Gặp Mẹ Trong Mơ - Thơ: Sa Chi Lệ - Diễn Ngâm: Thuyền Thu

Thơ: Sa Chi Lệ
Diễn Ngâm: Thuyền Thu

Đóng Cửa Tiếp Nàng Thơ

 
 

(Tiep theo Mở Cửa Tiễn Nàng Xuân)

Hân hạnh Nàng Thơ viếng Lão-gia
Mời an ngôi vị tiền sảnh nhà
Phân chia chủ khách cùng trao đổi
Ngọn bút thiên thần Xướng Hoạ ca
Mong ước Nàng Thơ sống với ta
Giúp cho vần điệu mãi thăng hoa
Tình yêu trong trắng và cao thựơng
Trăm năm sẽ trẻ mãi không già

CN-HNT , Mar.24.26 (100.101c)

Về Thăm Đà Nẵng - Chốn Cũ ...



Về Thăm Đà Nẵng

Ta về thăm lại dáng xưa
Dáng xưa không thấy-thấy mưa rơi nhiều
Ta về góc phố buồn hiu
Người thân không gặp -thấy người không quen-
Ta về đường cũ mất tên
Trường Phan* mất dạng-bạn hiền biệt tăm-
Ta về thăm lại dòng sông
Bến phà năm trước -bây chừ còn đâu?-
Ta về dừng lại bên cầu
Nhớ người em gái qua cầu năm nao
Em ơi em ở phương nào?
Còn trên dương thế hay vào hư vô?
Ta về thăm lại hàng sao
Trên đường Thống Nhất -dẫn sang cầu vồng
Cầu vồng nay đã hết vồng
Thành đường thẳng tăp -đi vào ngoại ô-
Ta về như giấc chiêm bao
Như chuyện Từ Thức ngày xưa về trần

Hoàng Long
*trường Phan Châu Trinh
***
Cảm Tác:

Chốn Cũ ...

Đà Thành xưa đã phai màu
Còn chăng ký ức con tàu năm xưa
Cầu Đỏ , kẻ tiễn người đưa
Uốn dòng Cẩm Lệ đò trưa khua chèo
Về đây anh , xóm mình nghèo
Đọt lang chấm mắm lèo tèo dăm con
\ Tay dằm miếng ớt xanh non
Vẫn mong đưa được miếng ngon vào lòng
Năm cách năm lúa đòng đòng
Có ai chăm chút thỏa công Mẹ trồng
Quê mình heo hút - Miếu Bông
Lơ thơ Thanh Quýt , đất nồng Cẩm Sa
Đôi lần về lại trường ta
Đưa chân khẽ bước lòng sa giọt ....buồn !

Thiên Phương


Trạng Nguyên Mạc Đỉnh Chi (1280 - 1346)


Mạc Đỉnh Chi

Đời Trần có Mạc Đỉnh Chi
Vóc người nhỏ bé dị kỳ hơn ai
Xấu tướng mà có biệt tài
Nói năng hoạt bát biện bài càng hay
Mấy phen đi sứ cõi ngoài
Lưỡng Trạng nổi tiếng danh bay nước Tàu
Ngài còn liêm khiết thanh cao
Của tiền phi nghĩa khôn xao lòng vàng
Gương trong ngọc trắng huy hòang
Làu làu kinh sử vẻ vang giống nòi...
(Khuyết Danh)

Trên đây là bài thơ mà người viết học trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư từ hồi còn để chỏm. Do đó không nhớ tên tác giả. Tuy nhiên, qua nội dung bài thơ, tg rất mực ngợi ca ông Mạc Đỉnh Chi.
Và cũng chính bài thơ trên đã gợi cảm hứng cho người viết biên soạn Danh Nhân tiểu truyện này.

Tiểu sử: Mạc Đỉnh Chi ( M Đ C )Tự là Tiết Phu, người tỉnh Hải Dương, giòng dõi Mạc Hiển Tích đời Nhà Lý, mồ côi cha từ nhỏ, nhân dạng tuy xấu, nhưng cực kỳ thông minh. Ông theo học với Hoàng đệ Trần Ích Tắc, và đỗ Tiến sĩ năm 1304 đời vua Trần Anh Tông. Đỗ đầu khoa, nên gọi: Trạng Nguyên.

Nhưng nhà vua không trọng dụng do ngoại hình . Biết bụng vua, Ô. làm bài phú "Ngọc Tỉnh Liên" dâng lên vua. Nội dung ví mình như hoa Sen quí trong Giếng Ngọc. Nhà vua xem xong, cả đẹp, phong chức dần lên tới Tả Bộc Xạ (Thượng Thư), hai lần đi sứ sang Nhà Nguyên, và ứng đối rất tài tình.
Ông đã cùng vua Nguyên xướng hoạ thơ văn rất tương đắc, được vua Nguyên chính tay chấp bút phong tặng"Lưỡng quốc Trạng Nguyên".

Mạc Đỉnh Chi người cương trực, thanh liêm, hết lòng vì dân vì nước. Ông làm quan qua ba đời vua: Anh Tôn, Minh Tôn, Hiến Tôn. Đời vua Trần Minh Tôn được phong Hành Khiển Nhập Nội (Thủ tướng)

Những giai thoại nói về MĐC:

1 - Ứng Đối: Khi vào bệ kiến vua Nguyên, nhà vua có câu đối:

NHẬT HỎA, VÂN YÊN BẠCH ĐÁN THIÊU TÀN NGỌC THỐ ( Mặt trời là lửa, mây là khói ban ngày đốt cháy vầng trăng )

Hiểu ý kiêu ngạo trịch thượng của vua Nguyên, để tỏ rõ khí phách của dân Việt, MĐC đối lại:
NGUYỆT CUNG, TINH ĐẠN HOÀNG HÔN XẠ LẠC KIM Ô ( Trăng là cung, sao là tên chiều tối bắn rơi mặt trời )
Rất là tuyệt, nói theo Kim Dung rất là độc chiêu, ăn miếng trả miếng, vua Nguyên nghe qua hậm hực nhưng cũng rất kiêng dè..!!

Cũng qua câu đối của MĐC, người Tàu " Mao Tôn Cương" rằng: theo ý câu đối, về sau cháu Ô. ắt có người làm việc thoán đoạt. Và đã ứng vào Mạc đăng Dung cháu 7 đời, đã soán ngôi nhà Hậu Lê (Lê Lợi....) đồng thời truy tôn Ô. MĐC là KIẾN THUỶ KHÂM NINH VĂN HOÀNG ĐẾ. Hiện nay nơi quê hương Lũng Động, Chí Linh, Hải Dương có đền thờ Ô. MĐC rất trọng thể..!!

2 - Văn Tế Công Chúa Nguyên

Thời gian đi Sứ ở Yên Kinh ( Bắc Kinh ), có một công chúa nhà Nguyên chết, Mạc Đĩnh Chi được cử đọc văn tế. Để thử tài Sứ Thần nước Nam, quan Lễ Bộ trao cho Ông tờ giấy chỉ có 4 chữ " Nhất ". Bình tĩnh, tài trí MĐC ứng khẩu đọc:

Thanh thiên nhất đóa vân,
Hồng lô nhất điểm tuyết,
Thượng uyển nhất chi hoa,
Dao trì nhất phiến nguyệt.
Y hi! Vân tán, tuyết tan, hoa tàn, nguyệt khuyết !

Dịch nghĩa:

Một đám mây trên trời
Một bông tuyết trong bầu trời
Một nhành hoa trong vườn Thượng
Một mặt trăng trong ao tiên
Ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!

Ý rằng: trên trời có một đám mây, trong bầu trời có một bông tuyết, nơi Thượng uyển có một nhành hoa, trong ao tiên có một mặt trăng!
Nhưng than ôi! mây tan tác, tuyết tiêu tan, hoa tàn tạ, trăng mờ khuyết!
Đại ý là tiếc thương Công Chuá lá ngọc cành vàng đã mệnh chung, thương thay tiếc thay!!

3 - Liêm Chính: 

Vua nghe nói MĐC người rất liêm chính, ngay thẳng. Để thử lòng Ông, vua cho người đem vàng bỏ rơi trước nhà. MĐC lượm được vào chầu tâu với Vua. Vua bảo, nếu không có ai nhận, thì khanh hãy lấy mà chi dụng...

Hậu duệ ở Triều Tiên

Thời gian đi sứ Tàu, sứ thần nước Nam và Cao Ly giao tình rất trọng. Do hoàn cảnh của hai nước trước cường quốc Trung Hoa, với lại tài ba của M Đ C làm sứ thần Cao Ly rất mến mộ. Vị sứ đã mời MĐC sang Cao Ly chơi và gả cháu gái cho ông. Người thiếp này sinh được 1 nữ, và 1 nam, do đó có một dòng họ Mạc ở Cao Ly.

Câu chuyện dân gian: tương truyền, gia đình Mạc Đỉnh Chi ở gần bìa rừng. Nhà nghèo. Mẹ Ông thường vô rừng kíếm củi. Một hôm, Bà bị con vượn hiếp... Về, Bà kể lại với Cha Ông. Cha Ông bèn hoá trang phụ nữ, trong lưng lận theo cái mác thật bén nhọn, vào rừng. Ăn quen, con vượn xáp lại đè Cha Ông. Cha Ông luị cho nó một mác. Xong vất xác bên lùm cây.

Mấy hôm sau có dịp đi ngang, Cha Ông thấy chỗ vất xác con vượn, nay do mối đã đụn thành gò. Cha Ông cho đây là cuộc đất tốt, theo phong thủy. Bèn dặn Bà, khi nào ông ấy mất, hãy chôn ngay nơi gò mộ của con vượn. Bà y lời.
Nhờ cuộc đất kết, sau nầy, lớn lên, Mạc Đinh Chi thông minh xuất chúng, học hành thành đạt. và phát đạt gần tới tột đỉnh vinh quang...

Phần kết: Qua truyện Mạc Đỉnh Chi, người viết liên tưởng đến Án Anh đời Xuân Thu bên Tàu, tác giả chuyện cây quít trồng ở phía Bắc sông Hoài thì ngọt. Và ngược lại thì chua. Án Anh sống trước quan Trạng MĐC cả ngàn năm. Vóc dáng cũng nhỏ nhắn, nhưng cái đầu rất to, đối ứng bén nhạy, chính xác, tài cao đức trọng giúp vua Tề làm nên nghiệp Bá.
Vớ́i lòng ngưỡng vọng tiền nhân tài đức cao vợi như Thiên Cẩm sơn của Quan Trạng Mạc Đỉnh Chi, hậu sinh có bài thơ nhỏ để trân trọng người xưa:

Ông Mạc Đỉnh Chi
(1280 - 1346)

Biện thuyết tài tình Mạc Đỉnh Chi
Dáng người nhỏ bé thật là kỳ 
Tay buông lỏng thỏng trông như vượn
Lưng uốn lom khom ngó tợ qui
Đi sứ bao phen tiền hậu khoáng
Làm quan hai nước cổ lai hi
Văn chương uyên bác thông kinh sử
Liêm khiết trăng cao mấy kẻ bì..!!
                                    
Cảm Thán

Đọc Cổ Sử người xưa ngời lẫm liệt
Ngẫm lại mình chi xiết nỗi than ôi
Sông núi đó đang từng hồi... vong diệt
Mà anh hùng hào kiệt vẫn xa xôi...!!

Nguyễn Minh Thanh biên soạn - hiệu chỉnh
(GA 14 - 4 - 2026)

Tham khảo: trang web Mạc Đỉnh Chi
Danh Nhân Từ Điển cuả Nguyễn Huyền Anh
Thành Ngữ Điển Tích của Trịnh Vân Thanh
* Rất tiếc đã tìm nhiều nơi,nhưng không thấy tên cha, mẹ của quan Trạng Mạc Đỉnh Chi!!

Bềnh Bồng Như Mây


Tiếng chuông đồng hồ báo thức reo vang. Sáu giờ sáng, trời mùa đông Cali tối đen. Hôm nay tôi phải có mặt tại nhà thương Stanford trước tám giờ để làm thử nghiệm. Bác sĩ sẽ luồn một ống thật nhỏ qua tĩnh mạch chính ở chân, ống sẽ theo dòng máu dẫn lên để thông tim, khám phổi. Trời thật lạnh, mặc áo len, khoác áo ngoài mà vẫn không đủ ấm. Hai vợ chồng tôi ra xe, im lặng, không nói một lời và hình như cả hai cùng trĩu nặng âu lo. Trong lòng xe được sưởi ấm, tiếng hát Ý Lan vang lên nhẹ nhàng tha thiết: “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên…”

Đầu óc tôi bềnh bồng trở về những ngày tháng cũ xám xịt, thê lương. Những nhục nhằn, khổ đau của những người đàn bà còn ở lại, phải đối phó với những kẻ đang vênh vang thắng thế, phải đương đầu với những hoàn cảnh khắt khe.

Căn nhà mẹ tôi mua ở Long Thành để có nơi chốn hồi hương cho khỏi bị lùa đi kinh tế mới. Ao rau muống nước đục ngầu mà thằng bé con rơi tòm xuống tưởng chết. Những luống khoai mì ốm yếu xiêu vẹo vì không người bón tưới thường xuyên. Căn nhà thấp lè tè, tối om chỉ nhỏ như một cái buồng, mái tranh, vách lá, nền đất nện… Mẹ tôi ở đó một mình, như bị đầy đọa, ra vào im lìm như cái bóng.
– Mẹ ơi, Mẹ lấy sẵn cho Bố tiền qua cầu!
Tiếng nói của nhà tôi lôi tôi về thực tại. Bầu trời đã loãng ra, trắng nhờ nhờ và mưa lất phất.
– Mẹ đừng lo, chỉ mấy tiếng đồng hồ là xong ngay mà. (Chúng tôi quen xưng hô với nhau như thế sau khi sanh thằng bé út).
Thấy tôi ngồi yên lặng, chắc lòng anh cũng đang hoang mang, lo lắng. Anh nói trấn an vợ hay để tự làm yên lòng mình.
Sau thủ tục nhập viện, đường đến nơi thử nghiệm hơi xa nên nhà tôi lấy xe lăn cho tôi. Mọi khi ngồi trên chiếc “wheelchair” cho chồng đẩy tôi luôn miệng đùa cợt, trêu chọc bác phu xe:
– Thiên bất dung gian nhé! Lấy vợ trẻ để mong về già được hầu, bây giờ phải đẩy xe cho vợ… hihihi…
– Hà hà…có anh giáo gian tưởng được vợ đấm lưng ai dè phải đấm lưng cho vợ!

Hôm nay tôi cười không nổi. Nhìn bóng in vào những cửa kính khi đi ngang, anh đã mang nét lụ khụ, lưng hơi còng xuống chứ không phưỡn ngực như thời trai trẻ, như những ngày chúng tôi mới quen nhau.

Ngày ấy cô nữ sinh mười tám tuổi cắp sách đi thi Tú Tài hai. Ông bố đã sửa soạn sẵn cho con gái chiếc áo dài trắng nội hóa sạch sẽ, thơm tho, phẳng phiu và buổi sáng đã hò hét bảo con em sửa soạn xe sẵn để đưa chị. Cô thí sinh cả đêm không ngủ, đọc nguyên cuốn Luận Lý Học dày cộm như đọc tiểu thuyết, không dám nói một lời, chỉ sợ những chữ mới nhét vào đầu sẽ rớt ra. Đến trường Gia Long, lần theo bản đồ chỉ dẫn, lần theo số báo danh, cô thí sinh đi tìm chỗ. Giờ đầu tiên là giờ thi Triết. Chỗ ngồi thi ngay đầu bàn nhất, phía bàn giáo sư, y như chỗ ngồi của cô trong lớp nhất A1 ở Trưng Vương. Đề thi vừa được viết trên bảng, con nhỏ thiếu điều rú lên vì… trúng tủ. Giở gói ô mai để ngay trước mặt và con nhỏ bắt đầu phóng bút.
– Thưa Thầy cho con xin thêm tờ giấy!

Con nhỏ đã viết lấp đầy tờ giấy thứ nhất. Thầy giáo coi thi đưa thêm tờ thứ hai, vuốt thẳng và trịnh trọng để trên bàn. Thỉnh thoảng con nhỏ nhón cục ô mai cắn một miếng rồi lại cắm cúi viết, đâu biết rằng người thầy giáo coi thi ấy đang chăm chú nhìn và cứ tủm tỉm cười.
Cái thuở ban đầu, cái buổi gặp gỡ đầu tiên chỉ giản dị như thế.
– Bà Nguyễn, mời bà theo tôi vào đây! Người y tá trẻ vui vẻ ra đón.

Sau khi thay y phục nhà thương, tôi lên giường nằm, bịch thuốc treo trên cao nhỏ từng giọt vào mạch máu, mũi được cắm ống Oxygen. Từng đợt y tá đến, đo máu, lấy máu, gắn máy đo nhịp tim. Nhà tôi vẫn được phép ngồi cạnh tôi, chưa phải ly cách.

Bác sĩ Z, người vẫn săn sóc tôi đến cùng hai bác sĩ trẻ, một nam một nữ. Cả hai đều chưa đến ba mươi. Cô gái xinh xắn, người tầm thước, tóc vàng, da trắng nõn, cặp mắt mở to trong veo màu hạt dẻ. Cô ta tự giới thiệu tên M, giải thích tiến trình và cho biết cô sẽ là người trực tiếp thực hiện cuộc thử nghiệm này. Một thoáng ngần ngừ, tôi nhớ lời dặn dò của một người bạn: “Mổ xẻ hay thử nghiệm quan trọng mi phải yêu cầu bác sĩ chính làm, mi đừng để sinh viên thực tập. Có chuyện gì là hối không kịp đó”. Bác sĩ Z người Ấn Độ, trưởng phân khoa phổi. Mặt ông thật tươi, hai tai dài, đẹp. Mỗi lần đến khám bệnh tôi thường gọi đùa ông là Ông Phật, ông chỉ mỉm cười. Nếu tôi từ chối, cô bác sĩ trẻ này sẽ buồn và nếu ai cũng từ chối thì làm sao sinh viên có cơ hội thực tập. Ý nghĩ lướt nhanh trong đầu và tôi vui vẻ trả lời là tôi rất hân hạnh được cô lo cho tôi. Như đọc được tư tưởng tôi bác sĩ Z nói:
– Bà Nguyễn, tôi sẽ có mặt trong suốt tiến trình này. Bà sẵn sàng chưa?
– Dạ sẵn sàng, thưa bác sĩ.
Nhà tôi nắm nhẹ tay tôi, cúi xuống nói nhỏ, giọng bùi ngùi:
– Bố ngồi ở phòng đợi, họ đưa Mẹ ra là Bố vào ngay.
Khẽ gật đầu, mắt tôi cũng cay cay.

Người y tá đẩy tôi qua một hành lang dài hun hút. Tôi thật sự cô đơn. Như mấy lần thử nghiệm trước, tôi sẽ được chích thuốc mê, tôi sẽ được đưa vào cơn chết tạm và khi tôi tỉnh dậy thì mọi sự đã xong. Nếu lần này tôi không dậy nữa… hình ảnh các người thân của tôi hiện ra, mặt mẹ tôi rõ nét, rồi đến chồng tôi, mấy đứa con, mấy đứa cháu bé bỏng, chị em, bạn bè… Tự nhiên nước mắt tôi ứa ra. Và như phản xạ từ tiềm thức, tôi niệm Phật.

Hai người y tá nhẹ nhàng chuyển tôi sang chiếc bàn dài phủ giấy trắng dưới chụp đèn trắng sáng, màu trắng sáng chói lòa. Căn phòng trắng lạnh lẽo. Mấy người xúm lại làm những sửa soạn cuối cùng, lại đo máu, đo nhiệt độ, đo Oxygen, lại lằng nhằng những dây cùng nhợ. Bác sĩ Z và hai bác sĩ trẻ đến, họ đã đội mũ và mang khẩu trang, chỉ còn hở cặp mắt. Tiếng dụng cụ khua chạm lanh canh. Tôi yên lặng tập trung tinh thần niệm Quan Thế Âm Bồ Tát.

Một y tá đưa tôi ly nước và viên thuốc:
– Bà Nguyễn, thuốc này sẽ làm bà thanh thản, thuốc làm bà thoải mái thôi, không phải thuốc mê.
– Tôi không bị mê, tôi vẫn tỉnh à?
– Đây là loại thuốc an thần, bà sẽ cảm thấy êm dịu, nhẹ nhàng, không phải thuốc mê. Nào, bà sẵn sàng chưa, chúng ta bắt đầu nhé!
Tiếng bác sĩ Z dịu dàng giải thích.
Bác sĩ M đến bên nói tiếp:
– Chúng tôi sẽ làm tê ngay chỗ đưa ống thử vào người, bà sẽ không cảm thấy đau đớn gì đâu.
Bấy giờ tôi mới quan sát quanh phòng, ngoài chiếc màn hình ghi nhịp tim và nồng độ oxygen trong máu ngay đầu giường còn một màn hình to bằng chiếc TV 52 inches treo trên tường.
Uống viên thuốc được một lát người tôi lâng lâng, chơi vơi như những cụm mây trắng và tôi chìm dần trong vùng mây trắng bềnh bồng trôi.

Mây bay, mây cứ bay… một thảm cỏ xanh hiện ra rồi đến khu vườn đầy hoa trước biệt thự nằm trên đường Cộng Hòa Đà Lạt. Một đám trẻ nô đùa, hái hoa, bắt bướm, chạy đuổi nhau, những tiếng cười khanh khách, giòn tan. Bồn hoa Quỳ, Hướng Dương đầy hoa vàng tươi đang chào nắng, những cánh Pensée mỏng manh rung rinh và những vạt hoa cúc vàng, cúc trắng nở rộ như reo cười. Hàng rào song sắt bao quanh biệt thự như được bọc bằng những khóm hoa hồng đủ màu sắc… Hình ảnh chị em tôi thời thơ ấu, mỗi năm được lên nhà bác ở Đà lạt nghỉ hè. Rồi như khúc phim được chuyển cảnh, tôi như đang nhìn thấy tôi với chàng tay trong tay trong khu rừng thông ven Hồ Than Thở, những cội thông già vươn cao, thẳng tắp. Tiếng lá reo vi vu. Khung cảnh thật tịch lặng. Nắng hanh hanh, gió se lạnh, tôi như đắm chìm trong hạnh phúc êm đềm và như quyện mình trong hơi ấm mới quen của người chồng mới cưới.
Chợt đau nhói, tôi vùng mình ú ớ.
– Bà Nguyễn, bà có sao không?
Tiếng bác sĩ Z.
Tôi nhẹ lắc đầu trở về thực tại. Tôi đang nằm trên chiếc bàn trắng trong bệnh viện, đang ở trong trạng thái chập choạng mơ màng, nửa mê, nửa tỉnh và tôi đã được trở về một quá khứ đẹp đẽ xa xưa.

Ngước nhìn lên màn hình, quả tim tôi đang đập phập phồng và hai lá phổi hiện ra với những đường chằng chịt như rễ cây. Tôi không phải soi vào nội tâm mà tôi đang nhìn vào bên trong thân xác và tôi thấy thật rõ một đường nhỏ giống như sợi chỉ đang luồn lách.

Tôi lại chìm đắm… tôi nhìn thấy người thiếu phụ trẻ trong bộ đồ đen bế thằng bé con chưa đầy một tuổi. Tôi lại nhìn thấy tôi trong Sài Gòn sau ngày mất nước. Tôi bế thằng bé đến một căn nhà ở đường Gia Long, căn nhà được tiếp thu để làm văn phòng ban cải tạo phường thuộc quận một. Tầng dưới kê một bàn giấy, mấy người ngồi làm việc. Tôi được chỉ lên tầng trên. Một căn phòng trống trơn, mắc độc một chiếc võng. Một người đàn ông khoảng năm mươi, cởi trần mặc chiếc quần dài bộ đội đang nằm toòng teng, một chân trên võng, một chân thả xuống đất để đu đưa. Tôi dợm mình quay xuống cầu thang.
– Chị kia, phải chị tới khiếu nại không? Chị vào đây!

Nhận ra ông ta là người đã lên lớp giảng chính sách của nhà nước về kinh doanh bữa trước tại thương xá Tam Đa, tôi bồng con quay lại, rón rén ngồi xuống ngay ngạch cửa. Cũng may khi được gọi đi, mẹ tôi đã cẩn thận dặn bế thằng bé theo để nếu có bề gì người ta phải trả thằng bé về nhà và mẹ tôi biết đường mà đi kiếm.
– Đâu, có chuyện gì chị nói đi!
– Thưa ông…
– Khỏi, chị khỏi gọi tôi bằng ông.
Tôi ngập ngừng:
– Thưa bác… Thưa chú…
Thấy ông ta yên lặng tôi nói tiếp:
– Thưa chú, cháu làm thợ may ở thương xá Tam Đa.
– Chị là chủ hay chị làm công?
– Dạ, cháu mướn tiệm, nhận may gia công.
– Rồi sao?
– Cán bộ đến nhà kiểm kê tịch thu của cháu cái máy may, máy vắt sổ và mấy xấp vải của khách đưa may.
– Chị là chủ tiệm, họ tịch thu là đúng rồi, mai mốt các cửa tiệm vào quốc doanh hết, các chị sẽ vào tập thể, nếu làm thợ may chị có máy của cơ quan, chị đâu cần máy riêng.
Nỗi uất dâng lên tới đỉnh đầu, tôi ráng dằn lòng nhỏ nhẹ:
– Thưa chú, nhà nước nói rõ là chỉ tịch thu những tư liệu kinh doanh, không tịch thu tư liệu sản xuất. Máy để cháu may mướn. Cháu đâu có bán máy may!
Ông ta gườm gườm nhìn tôi:
– Ai nói chị điều đó?
Tôi điềm tĩnh trả lời:
– Chú! Chính chú đã giảng điều đó. Cháu nhớ rất rõ. Cháu đã chăm chú nghe vì chú giảng hay lắm. Chú nói hay lắm.
Ông ta châm một điếu thuốc và rít một hơi dài nhìn tôi đăm đăm. Tôi lạnh cả gáy đợi phán quyết.
– Được rồi, chị để giấy tờ đây, chị về đi tôi sẽ cứu xét trường hợp của chị.
Đặt thằng bé vào chiếc ghế con gắn sau ghi đông chiếc xe đạp mini. Tôi đạp xe đi mà muốn òa lên khóc. Khóc cho vơi đi những ấm ức, những tủi nhục phẫn uất. Những con đường Sài Gòn che phủ bởi những hàng cây sao cao vời vợi, tiếp đến những con đường ngợp lá me xanh… Tôi chẳng còn thấy gì thơ mộng, nghĩ đến chồng đang trong trại tù cải tạo, tôi nhớ quay quắt và cùng cực trong nỗi cô đơn.

(Galang)

Màu trắng của mây lại bềnh bồng và tôi lại thấy tôi đang ngụp lặn trong màu xanh bát ngát của biển, từng đợt sóng nhấp nhô, nhấp nhô tung bọt trắng xóa vào bờ. Tôi đang ở bãi biển Galang. Tôi đang thở hít không khí tự do. Đầu óc thật thanh thản và hân hoan nghĩ đến tương lai tốt đẹp ở vùng đất hứa. Tôi dẫm chân lên cát ấm và chạy tung tăng trong gió. Gió quấn quít quanh tôi. Tôi ưỡn ngực hít một hơi thật dài.
Choàng tỉnh giấc, tôi mở mắt ra, chạm vào khuôn mặt bác sĩ M đang cúi xuống:
– Bà Nguyễn, bà tỉnh dậy nào. Mọi việc xong rồi. Bà là bệnh nhân thật tốt. Chúc bà mau bình phục.
Mấy người y tá xúm lại tháo dây, lau chùi và mặc áo lại cho tôi. Ba bác sĩ chào tôi và hẹn sẽ cho biết kết quả vào kỳ khám bệnh tới.

Họ lại chuyển tôi sang chiếc giường khi nãy và đẩy tôi về phòng hồi sức. Tôi phải nằm yên trong một tư thế, cứ một lát lại có người đến khám vết thương và ấn thật mạnh để khỏi tụ máu bầm. Sau ba giờ, chiếc nệm cứng dưới lưng khiến tôi mỏi mệt rã rời, người anh ách nước, miệng khô đắng và bụng thì đói meo.

Hai người khán hộ đến giúp tôi làm những vệ sinh cá nhân, nâng đầu tôi dậy cho uống nước, bón tôi từng thìa canh, tôi cảm thấy yếu đuối như trẻ con. Tôi mệt mỏi ngủ thiếp một giấc dài không mộng mị. Thức dậy, cô y tá đẩy tôi sang phòng cũ nơi tôi nằm chờ khi sáng và tôi lại nhìn thấy khuôn mặt thật thân quen.

Đỗ Dung

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2026

Nếu Mai Anh Về - Ý Thơ: Vô Danh - Nhạc Phạm Anh Dũng - Hòa Âm: Quốc Dũng - Tiếng Hát: Mỹ Lệ

 

Ý Thơ: Vô Danh
Nhạc Phạm Anh Dũng
Hòa Âm: Quốc Dũng
Tiếng Hát: Mỹ Lệ

Trên Đồng Lúa Vàng

 
(Ảnh: Thanh Hà)

Lúa vàng trải khắp cánh đồng
Năm cô thôn nữ má hồng cười tươi
Áo bà ba đẹp rạng ngời
Đủ màu duyên dáng rụng rời tim ai
Cầu khỉ cô bước khoang thai
Nghiêng nghiêng nón lá nhẹ tay cầm hờ
Lúa vàng còn thấy ngẩn ngơ
Lả lơi theo gió nh​ã thơ rộn ràng
Hôm nay trên cánh đồng vàng
Hình như sáng rực bởi (mấy ) nàng về thăm
Hương thơm lúa trổ đòng đòng
Ngọt nghào sữa dưỡng từ dòng phù sa

Kim Trúc

Một Thuở Sài Gòn


(Đường Duy Tân )

Bây giờ sống nơi xứ sở thanh bình
Có ai nhớ về Saigon ngày cũ
Đường Duy Tân với hàng me xanh quyến rũ
Đôi lứa lượn lờ trên chiếc vespa trắng chiều cuối tuần

Bây giờ sống hơn nửa kiếp phù vân
Có ai nhớ buổi sáng cúp cua vào Rex xem Love Story
Ngồi Brodard ngắm phố phường, ăn kem chung một ly
Ghé Thư Viện Quốc Gia ôn bài dưới tàng cây che mát

Đêm sáng trăng, tiếng đàn guitar hòa cùng giọng trầm ai hát
Giữa lặng im triệu giấc ngủ say mềm
“Mặc áo the đi guốc mộc, Về Đây Nghe Em*
Câu mời gọi luồn cơn rung da thịt

Bây giờ–Ngày ấy–Hai bờ sông cách biệt
Một đoạn đời sang trang đã từ lâu
Nhìn cánh lan rơi nhắc nhớ dấu yêu đầu
Đâu ai tắm hai lần trong cùng dòng nước**

*Về đây mặc áo the đi guốc mộc , nhạc Trần Quang Lộc
**Triết gia Heraclite: ”Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”

Thanh Hà
 

Thăn Anh Lần Cuối



Em đến thăm Anh một chiều cấm trại
Tháng Tư đen, Trời mưa gió sụt sùi
Đôi môi Em đã tắt mất nụ cười
Buồn dâng khoé mắt, bờ mi đẫm ướt.
Em thương Anh và buồn cho vận nước

Ngoài ven biên, giặc tiến sát Đô thành
Em đang lo cho số phận của Anh
Sài Gòn mất, Anh sẽ còn hay mất?
Cầm lấy tay nhau, lệ trào khoé mắt
Anh nhìn Em, mà tan nát cõi lòng.
Cơn mưa chiều còn lác đác ngoài song

Chào tạm biệt , Em ân cần căn dặn:
“Bảo trọng lấy thân, chúc Anh may mắn”.
Tiễn chân Em, tâm hồn Anh hoang vắng
Tan nát lòng, theo từng bước Em đi
Gặp hôm nay, Em Thăm Anh Lần Cuối..
Nhìn bóng Em khuất dần trong mưa bụi
Anh khó cầm hai giòng lệ tuôn rơi

Kể từ nay, Ta đã mất nhau rồi
Cái cảnh chia tay buổi chiều hôm ấy
Theo bước chân anh suốt cả cuộc đời.
Anh mong Em sớm quên người năm cũ
Đừng nhớ nhau chi, buồn lắm Em ơi !

Hoa Đô ( Lockwood House-116)
Trần Công/ Tiền Giang Tử
 

Chuyện Ngày Xưa



Lớp tôi, Quân Y Hiện Dịch 10, có anh Bác Sĩ Nguyễn Đức Liên học Tú Tài trường Chu Văn An chương trình Việt, đậu PCB khóa đầu với Mention, bạn bè ai cũng phục (niên khóa PCB 1956-1957). Hồi đó đậu xong Tú Tài, chúng tôi đều phải thi vào Quân Y. Tôi nhớ kỳ chúng tôi đi thi có Bác Sĩ Trần Anh, đeo lon Thiếu Tá làm Chánh Chủ Khảo. Khoảng thời gian ấy Bác Sĩ  Trần Quang Diệu là Đại Tá Giám Đốc Nha Quân Y (nhiều năm sau này mởi đổi tên thành Cục Quân Y). Năm đầu, học PCB, chúng tôi được phát quân trang, đeo lon Thượng Sĩ trên cổ áo là cái nút tròn trắng, nhẵn bóng, mạ kền. Lãnh lương hơn 2300 đồng một tháng, ăn tiêu rất rộng rãi vì một tô phở Hiền Vương chỉ khoảng 5 đồng. 
Chỉ mỗi sáng thứ Hai đi chào cờ hay cuối tháng đi lãnh lương mới phải mang quân phục. Nghỉ Hè, ai đậu khóa đầu thì phải đi thực tâp một tháng tại một Quân Y Viện như tại Mỹ Tho, Cần Thơ, Đà Nẵng... Và khóa lớp tôi đi học Quân Sự một tháng tại trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang. Hè 1957. Anh Liên và chúng tôi còn mang lon Thượng sĩ, đi học Quân sự tại Đồng Đế Nha Trang có các đàn anh cùng học quân sự như các anh Nguyễn Khắc Minh, Đào Hữu Anh... đã là Trung Úy Nội Trú các Bệnh Viện, đã học xong năm thư tư Y Khoa. Chúng tôi nhìn lên, ngưỡng mộ vô cùng.

Cám ơn anh Bác Sĩ Nguyễn Thanh Bình kể chuyện Sinh viên Y Khoa chơi bài, đánh bạc. Hồi tôi làm Nội Trú thí cái Building ngay gần cổng ra vào Bệnh Viện Chợ Rẫy tầng lầu là phòng của các Nội Trú như Trần Tín Cơ, Trịnh Nghĩa Trinh, Lê Thanh Cảnh, chúng tôi và vài Nội Trú khác. Tầng dưới là phòng nhận bệnh, cấp cứu, và một phòng lớn dành cho sinh viện trực. Chúng tôi lúc đó là Nội Trú Khu Giải Phẫu A, có sự chỉ dạy của các anh chị Nội Trú lâu năm như Đinh Viết Hằng, Bội Ngọc, Lê Thái... Một hôm trong phiên trực sau nhiều cuộc giải phẫu ban đêm, mệt nhoài, đang được nghĩ ít phút, thì một Y Tá lên mời "ông thầy" xuống nhận bệnh, vì các sinh viên trực đang mải mê đánh bài, không ai ra nhận bệnh. Trên nguyên tắc, thủ tục khám và làm hồ sơ nhận bệnh là trách nhiệm của các sinh viên trực hay sinh viên ngoại trú. Chúng tôi đành xuống nhận bệnh và sáng hôm sau than phiền với ông Thầy trực tiếp là Bác Sĩ  Đặng Văn Chiếu, lúc đó còn là Giảng Sư, và chúng tôi được phép kêu bằng "Anh" và xưng "em".Bác Sĩ  Chiếu nói "Em cứ làm một báo cáo đi". Quả thật cần có báo cáo bằng giấy tờ thì cấp trên mới giải quyết được. Chúng tôi suy nghĩ, không báo cáo, và nhẫn nhịn, vì sợ bị mang oán và có khi sẽ bị đánh đòn "bề hội đồng". Nay nghĩ lại thấy may, "một sự nhịn là chín sự lành", tránh được việc bị một số các bạn khinh ghét.

Thưa quý anh, có người nói càng về già càng nhớ tiếc "chuyện ngày xưa". Quá khứ nhiều khi có khó khăn, vất vả mà sao nghĩ lại vẫn thấy những kỷ niệm đẹp. Nghĩ về Tương lai thì đôi khi lo lắng vì không biết "ngày sau sẽ ra sao". Ít khi biết hưởng thụ giây phút "Hiện tại". Cửa hàng âm nhạc của chúng tôi đang ế hàng, xin phép mời quý thân hữu thưởng thức hay nghe / xem lại ca khúc Bây Giờ và Ở Đây. Đa tạ anh Nhạc Sĩ Nguyễn Minh Châu đã giúp thực hiện Music Video ca khúc này.

Trần Văn Khang