tiêu đề Nhãn
- BIÊN KHẢO
- CÂU ĐỐI
- CỔ THI
- GIA CHÁNH
- GIẢI TRÍ
- HÌNH ẢNH HỘI NGỘ
- HÌNH ẢNH NAY
- HÌNH ẢNH XƯA
- HỘI HỌA
- KHOA HỌC
- LƯU NIỆM
- LỊCH SỬ
- LỜI HAY Ý ĐẸP
- NHẠC
- SƯU TẦM
- SỨC KHOẺ
- THƠ
- THƠ CẢM TÁC
- THƠ DIỄN NGÂM
- THƠ DỊCH
- THƠ NHẠC
- THƠ PHỔ NHẠC
- THƠ SƯU TẦM
- THƠ TRANH
- THƠ TRANH NGHỆ SĨ
- TIN BUỒN
- TIN VUI
- VĂN
- VŨ HỐI THƯ HỌA
- VƯỜN THƠ VIÊN NGOẠI
- XƯỚNG HỌA
- YOUTUBE
Thứ Tư, 26 tháng 8, 2026
Chín Chữ Cù Lao

Chín Chữ Cù Lao mãi nhớ hoài
Tình thương Phụ Mẫu khó mờ phai.
Sinh thành nghĩa trọng, thời dìu dắt
Dưỡng dục ân sâu, thuở mớm nhai.
Cha dạy trí khôn người hữu dụng
Mẹ truyền đức hạnh kẻ thành tài.
Song thân khuất núi đà siêu thoát
Hồng Trắng, con dâng trước vị bài.
Duy Anh
Vu Lan 27/8/2026
Trăng Thu Nhớ Mẹ
Bốn giờ liền lạnh lẽo dưới nền hoa
Lời thống thiết mẹ kêu gào cứu mạng
Đến tàn hơi thiên hạ chẳng ai qua !
Cửa then gài người ta không vào được
Hay bởi lòng người chẳng có từ tâm
Sợ tai họa làm ngơ không cứu giúp
Mang hình người mà ...tâm địa dã nhân...
Sáu hôm sau mẹ ly biệt cõi trần
Vào giờ Ngọ đúng ngày rằm Phật Đản
Mẹ ra đi chắc lòng không thanh thản
Bao thâm tình còn vương ở thế gian
Suốt một đời khổ cực mẹ đa mang
Cao niên kỷ ..mẹ võ vàng thân xác
Chẳng gấm lụa, chẳng xa hoa đài các
Ngày lẫn đêm một dạ nhất tâm tu
Kiếp con người ôi một kiếp phù du
Thân tằm nhả sợi...kén tơ cho đời !
Nuôi con khôn lớn nên người
Chữ hiếu con trả là vui tất lòng
Nhưng khi con trẻ thành thân
Mẹ còn đâu nữa.!. hiếu phần con lo !!!
Đêm nay, rằm Vu Lan con nhớ Mẹ
Bốn chục năm dài vắng bóng từ thân
Mùa Vu Lan, mùa báo hiếu hiền nhân
Mẹ yêu đã vĩnh biệt cõi trần ...còn đâu ???
nguyễn phan ngọc an
Mẹ Ơi, Vĩnh Biệt

Mẹ ơi, con về không kịp
Giấc dài mẹ đã hôn mê
Đôi mắt thân yêu đã khép
Mẹ đâu hay biết con về!
Con đi đầu non, cuối bể
Mấy mươi năm, mẹ vẫn chờ
Giờ sao lạnh lùng quá thể
Gọi hoài, mẹ vẫn trơ trơ!
Mẹ ơi, lòng đau như cắt
Chuyến phà đêm chở xác về
Có một tinh cầu vừa tắt
Lạnh lùng sông chảy dòng khuya…
Sáng nay, người ta khâm liệm
Áo quan đóng nắp lại rồi
Từ đây muôn đời, vĩnh viễn
Đâu còn thấy nữa, Mẹ ơi!
Thân xác vùi trong lòng đất
Mẹ nằm giữa một đồi hoa
Mẹ ơi, mộ vừa mới lấp
Từ đây đất lạnh là nhà!
Từ đây tuyệt vô hy vọng
Quê hương mất dấu thiên đường
Mẹ mang theo niềm vui sống
Lấp cùng dưới đáy mồ chôn!
Mẹ ơi, xác thân yêu dấu
Vùi trong đất lạnh đời đời
Hồn con không nơi nương náu
Biết tìm đâu nữa, Mẹ ơi!
Lặng nhìn bàn thờ nghi ngút
Di ảnh mờ trong khói hương
Thấm nỗi đau buồn tang tóc
Còn gì mà tiếc, mà thương!
Mẹ ơi, tử sinh chia biệt
Một lần cho đến thiên thu
Nghĩa là muôn đời, muôn kiếp
Hết mong gặp Mẹ nhân từ!
Lãm Thúy
9/10/11
Thương Nhớ Song Thân
Mùa báo hiếu lại về
Thương Cha và nhớ Mẹ,
Ngày buồn dài lê thê.
Vu Lan con đến Chùa
Mang theo cả tình thương
Vào bên trong Chánh điện
Thắp những nén Tâm Hương
Nén Hương dâng Trời Phật
Một nén dâng Song Thân
Không ngăn được xúc động
Nước mắt chảy trong Tâm
Thêm một nén Tâm Hương
Dâng giọt lệ tình thương
Công Cha và Nghĩa Mẹ
Mãi.. mãi đầy yêu thương.
Hoàng Thục Uyên
Trích trong bài thơ:
Vu Lan Lệ Chan Hòa
Sinh thành dưỡng dục nghìn đời
Công ơn cha mẹ biển trời trăng sao
Không còn cha mẹ khổ đau
Ngày đêm cầu nguyện lệ trào nhớ thương...
MD.08/04/26
LuânTâm
Thân cảm tặng "Vu Lan Nhớ Cha Mẹ"
của TVS đa tài hoa thật quý Hoàng Thục Uyên
Tưởng Nhớ Cha(Yên Sơn) - In Memory Of My Father(Thanh Thanh)
Bà Mẹ Nuôi Người Úc
Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026
Người Yêu Cúi Mặt - Sáng Tác: Anh Sơn,Kim Phụng - Tiếng Hát: Lệ Thu - Thực Hiện: Nhạc Xưa Sài Gòn
Sáng Tác: Anh Sơn,Kim Phụng
Tiếng Hát: Lệ Thu
Thực Hiện: Nhạc Xưa Sài Gòn
Thu Từ Phương Ấy Thu Sang
Có buồn cũng đã qua sông lâu rồi
Năm xưa bỏ núi, xa đồi
Mây bay ngàn dặm. Thì thôi...cũng đành!
Tiếc hoài tuổi mộng ngày xanh
Tầm xuân héo úa trên cành hoa niên
Từ cơn bão loạn triền miên
Hoa không còn thắm nơi miền thông reo
Hành trang sương khói mang theo
Trái sầu phiêu lãng còn treo giữa dòng
Hương xưa đọng cánh trong lòng
Nhớ màu hoa nở bên song ngày nào
Lối quỳ còn gió lao xao
Đã xanh chưa, hỡi đường vào Lâm Viên?
Dốc mơ còn nắng chao nghiêng
Đồi xưa còn tím cánh sim hiền hòa?
Ngày đi, tháng lại, năm qua
Trắng mây viễn xứ, lạnh tà dương soi
Người đi ngoài cõi mù khơi
Lạ tình nhân ngãi, lạ đời tha phương
Thả hồn thăm lại cố hương
Tìm trăng mộng ảo, tìm sương núi rừng
Nơi đây bước lặng vô chừng
Nhìn quanh chỉ thấy rưng rưng nắng tàn
Rừng phong xào xạc lá vàng
Mơ hồ như một bản đàn ly tao
Hồn Thu lắng đọng nơi nào ?
Lạnh đầy ngõ vắng, lạnh vào hồn hoang
Thu từ phương ấy thu sang
Cho lòng viễn khách thêm man mác buồn
Chập chùng khói tỏa chiều sương
Mây bay biệt xứ, dặm trường viễn du
Âm thầm dõi bóng chiều thu
Để nghe thăm thẳm kiếp phù sinh trôi
Huy Văn
Em Chờ
nhặt nắng buồn cuối Hạ
Để đêm về,
sưởi ấm cõi lòng quạnh hiu.
Trăng khuya,
Vọng tiếng đàn đơn lẻ
cung thương cung nhớ chắt chiu.
Nghe đêm Cổ Lụy
canh thâu lệ nhòa...
Tuyết Phan
Kỷ Niệm Còn Vương( Hãy Còn Kỷ Niệm)
Hai mươi năm rồi cách biệt nhau
Tuổi xuân ngày ấy vẫn ươm đào?
Quê hương nỗi nhớ xa nghìn thẳm
Em hãy còn yêu kỷ niệm nào?
Mùa nắng đốt đồng thơm khói rơm
Chuột đồng tuôn chạy khắp ruộng nương
Chộp năm ba chú xâu chùm lại
Bửa tiệc mừng cô Tú miệt vườn
Bửa tiệc mừng em đổ tú tài
Đơn sơ, vắng lặng chẳng có ai
Chỉ vài em nhỏ quanh trong xóm
Và một mình anh dự tiệc dài
Sau buổi tiệc tan ta lên đường
Về đơn vị mới lòng vẫn vương
Hình bóng em tôi ngày đãi tiệc
Chiếc áo bà ba – xẻ hở sườn
Miệt mài chinh chiến , tháng ngày quên
Cô Tú ngày xưa nay đã lên
Làm cô giáo dạy trường trung học
Cái thuở bút nghiên được báo đền
Thời gian lẳng lặng đã trôi qua
Biến cố tan thương của nước nhà
Dân Quân Cán Chính đều ly tán
Người chết trong tù , kẻ đi xa
Không còn gặp lại cô giáo xưa
Tình yêu chân chính nói sao vừa
Đời người âu cũng là số kiếp
Giờ chỉ còn ta với đêm mưa
Duy Văn Hà Đình Huy
Một Tấm Hình Rất Đặc Biệt,……
Văn Dạ Châm 聞夜砧 - Bạch Cư Dị (Trung Đường)
Lời phi lộ
Tiếng chày đập áo là một thứ rất đặc biệt trong xã-hội-yêu-tinh-thơ-Đường. Nó thê lương nhẩt, cảm động nhất, dai dẳng nhất trong nhiều thiên kỷ ở Trung quốc. Ẩn trong tiếng chày là nỗi nhớ chồng đi thú lâu năm ở quan ải Hồ - Hán xa xăm (chồng đi đánh trận thì có thể được về sau khi trận giặc kết thúc nhưng chồng đồn trú ở quan ải thì tới già mới được về). Những thi hào danh tiếng thời Đường như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Lý Thương Ẩn… đều có thơ thuộc đề tài này.
Nguyên tác Dịch âm
聞夜砧 Văn Dạ Châm
誰家思婦秋搗帛 Thuỳ gia tư phụ thu đảo bạch,月苦風淒砧杵悲 Nguyệt khổ phong thê châm thử bi.
八月九月正長夜 Bát nguyệt cửu nguyệt chính trường dạ,
千聲萬聲無了時 Thiên thanh vạn thanh vô liễu thì.
應到天明頭盡白 Ưng đáo thiên minh đầu tân bạch,
一聲添得一莖絲 Nhất thanh thiêm đắc nhất hành ty.
Chú giải:
Đảo: đập (giặt).
Bạch: lụa trắng.Châm: bàn đá để đập (giặt) áo.
Bi: buồn.
Chính: chính đáng, chánh, ngay giữa, ngay thẳng.
Thử:chử: xử: cái chày gỗ.
Liễu: xong, hết, rồi.
Dịch thơ
Nghe Chày Đêm
Đêm thu mong chồng ai đập lụa?
Gió thảm trăng sầu chày đập hoài
Tháng tám tháng chín đêm dài lắm
Ngàn âm vạn âm chày chẳng nguôi
Tới sáng e rằng đầu toàn trắng
Mỗi âm thêm một sợi tơ phai
Lời bàn
Bài thơ thất ngôn lục cú không theo Đường luật. Câu 3 có 4 vần trắc liên tiếp ở đầu câu, rất bất thường trong thơ thất ngôn. Toàn bài có 6 câu (không phải bát cú hay tứ tuyệt): cũng rất bất thường trong loại thơ này.
Nói về ý thơ thì bài này trên mức tuyệt vời. Dùng tiếng chày đập lụa của người thiếu phụ mong chồng trong đêm thu để gõ vào tim của nhân gian. Lại dùng những sợi lụa trắng để tượng hình rằng nỗi buồn gây ra bởi mỗi tiếng chày sẽ làm bạc hết đầu trong một đêm.
***
Nghe Tiếng Chày Đêm.
Nhớ chồng ai giặt lụa đêm thâu,
Trăng lạnh chày thu gió thổi sầu.
Tháng tám đêm dài thêm tháng chín,
Muôn nghìn tiếng đập có ngừng đâu.
E rằng sáng tóc toàn mầu trắng,
Từng sợi thành tơ đến bạc đầu.
Mỹ Ngọc.
Aug. 15/2026.
***
Nghe Tiếng Chày Khuya
1-
Nhà ai nhớ chồng thu đập lụa
Trăng sầu gió thảm đá-chầy khơi
Tháng tám, tháng chín đêm dài lắm
Ngàn tiếng, vạn tiếng chẳng hề ngơi
Có lẽ sớm mai đầu bạc trắng
Mỗi tiếng tóc thêm một tơ trời!
2-
Thu nhớ chồng, nhà ai đập vải
Trăng gió sầu, đá bãi chầy bồi
Đêm thu dài lắm người ơi
Ngàn tiếng, vạn tiếng chẳng ngơi lúc nào
Bình minh tóc sẽ trắng phau
Chầy thêm một tiếng, tơ sầu một thêm!
Lộc Bắc
Aug26
***
Tiếng chày trong đêm
Đêm thu nện lụa nhớ chồng xa
Gió rét trăng sầu chày thiết tha
Tháng tám đêm dài nàng thức trắng
Tiếng chày ngàn vạn nối đưa qua
Tinh sương tóc đã thay màu bạc
Mỗi tiếng chày sa một sợi nhoà
Thanh Vân
***
Sau khi đọc bài thơ, thấy quen quen, Bát Sách cứ tưởng là mình đã góp ý rồi, nhưng anh Tâm và Lộc Bắc nói chưa nên phải tin thôi, bèn tra chữ khó và dịch.
Đúng như anh Giám nói, chữ 砧 CHÂM viết với bộ thạch là phiến đá, để quần áo, vải lụa lên đó mà đập.
- Đảo là giặt.
- Bạch là lụa trắng.
- Chử 杵, bộ mộc, là cái chầy để giã gạo hay đập áo.
- Hành là thân cây cỏ, cán hay cọng, như cọng tóc. Nguyễn Tôn Nhan có dẫn câu thơ của Đỗ Phủ : sổ hành bạch phát na phao đắc (mấy sợi tóc trắng sao quăng được). Nhất hành ti là một sợi tơ.
Bài thơ này 7 chữ, có 6 câu, Bát Sách mới thấy, hình như là thất ngôn biến thể. Cái tựa của bài thơ, nếu theo giải thích ở trên, là nghe tiếng chầy đêm thì sai, vì châm không phải là chầy. Vì vậy Bát Sách dịch là:
Nghe Giặt Lụa Đêm
Nhớ chồng, ai giặt lụa đêm thu,
Trăng khổ, đá chầy thoảng gió ru,
Tháng tám, tháng chín, đêm dài lắm,
Ngàn âm, vạn tiếng vẫn liên tu,
Chừng tới bình minh đầu bạc hết,
Mỗi âm, một sợi tóc thành tơ.
Bát Sách.
(Ngày 18/08/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm:
聞夜砧-白居易 Văn Dạ Châm - Bạch Cư Dị]
誰家思婦秋搗帛 Thùy gia tư phụ thu đảo bạch
月苦風淒砧杵悲 Nguyệt khổ phong thê châm xử bi
八月九月正長夜 Bát nguyệt cửu nguyệt chính trường dạ
千聲萬聲無了時 Thiên thanh vạn thanh vô liễu thì
應到天明頭盡白 Ưng đáo thiên minh đầu tận bạch
一聲添得一莖絲 Nhất thanh thiêm đắc nhất hành ty
Dịch thơ:
Thể thất ngôn:
Tiếng Chày Giặt Lụa Ban Đêm
Nhà nhà giặt lụa suốt đêm thâu,
Gió lạnh trăng lu chày thảm sầu.
Đêm dài đằng đẳng tháng tám chín,
Trăm ngàn vạn tiếng có ngưng đâu!
Đến sáng rồi đây tóc bạc hết,
Mỗi tiếng mỗi thêm trắng trên đầu.
Hearing the Washing Bat at Night by Bai Ju Yi
From whose house does the lonely wife beat silk in the autumn night?
The moon looks bitter, the wind pierces cold, and the sound of the pestle is full of grief.
In the eighth and ninth months, the nights grow endlessly long,
Thousands, tens of thousands of thumping sounds echo without pause.
By the time dawn breaks, her hair must have turned completely white,
For every single strike of the pestle adds yet another strand of silver hair.
Poetic Translation:
Whose yearning wife is pounding silk this autumn night?
Under a bitter moon and bleak wind, the anvil cries in plight.
Through August and September, the nights stretch long and cold,
Ten thousand thumping sounds echo, unceasing and untold.
By the time the morning breaks, her hair must be entirely white,
For every single strike adds another silver strand to her sight.
Commentary:
***
聞夜砧 Văn dạ châm
Đảo luyện đồ
Văn dạ châm nghĩa là nghe tiếng nện lụa ban đêm. 砧=châm thường được người Việt dịch thành chày đá nhưng dịch như thế vô lý vì tại sao lại dùng một cái chày bằng đá để nện hay đập lụa (搗帛=đảo bạch)? 砧 viết với bộ thạch 石 và không có nghĩa là cái chày mà là hòn đá làm nền để đặt xấp lụa lên trên trong việc đảo bạch. Nếu ta thắc mắc và muốn tìm hiểu các từ kép "đảo bạch" và "dạ châm" trên internet thì thường được AI đưa đến các trang nói rằng phụ nữ Hoa Lục ngày xưa đập lụa ban đêm mùa thu để sửa soạn áo lạnh cho chinh phu; hình như đa số các bài thơ với các từ kép/điển cố đó đều hàm ý vợ nhớ chồng, và giải thích rằng lụa cần phải nện hay đập để loại bỏ các chất dơ và hóa chất hữu cơ sericin tan trong nước. Nhưng nếu chỉ cần loại bỏ các chất dơ và sericin thì chỉ việc ngâm và rũ trong nước cũng đủ, tại sao lại phải nện/đập cho hư lụa? Và tại sao lụa (帛=bạch) lại được dùng để làm quần áo ấm trong khi ta nghĩ tới các khía cạnh mỏng, nhẹ và mát của lụa?
Có thật dạ châm/đảo bạch chỉ hàm các nghĩa đó? Sử liệu cho biết lụa đã được chế biến từ trước thời Chiến quốc và các từ ngữ liên hệ tới lụa đã hiện diện trong các bài ca dao trong Kinh Thi. Nhưng người ni tìm không ra tài liệu cổ nào nói đến việc đập lụa và chỉ có thể đoán rằng chuyện đâp lụa chỉ trở thành quan trọng để thi nhân biết và nói đến từ sau thời Hiếu Văn Đế của Bắc Ngụy (485) khi việc dùng lụa làm thuế - và việc dùng lụa làm của hối lộ tiến chức - được chính thức thành lập. Kỹ nghệ dệt lụa và chuyện người bình dân cũng có thể mặc lụa bắt đầu phát triển từ đó.
Trong trang 捣练图》Đảo Luyện Đồ này, đảo luyện là môt từ kép khác để chỉ việc nện/đâp lụa. Lụa cần phải nện vì có hai thứ lụa: a) lụa thô (sinh y) dùng may quần áo trong mùa nóng vì mỏng và nhẹ; và b) lụa đã luyện (熟衣=thục y) dày hơn để may quần áo mùa lạnh. Theo trang Đảo Luyện Đồ đó, người ta tạo luyện lụa/bạch bằng cách xoa bột (ngũ cốc) trên hai mặt lụa, ngâm nước một thời gian, tiếp tục xoa thật kỹ hai mặt, xếp lụa lại thành nhiều lớp rồi đặt tấm lụa đó lên trên một mặt đá (砧=châm), rồi dùng một cái chày dài (长杵=trường xứ, và ta có thể để ý rằng 杵 (chày) viết với bộ mộc nên chày đá trong các bản dịch tiếng Việt là dịch ... tào lao) để nện lụa. Đây là một công việc nặng nhọc, lâu dài không tiện làm ban ngày nên phụ nữ trong gia đình họp với phụ nữ lối xóm để làm việc đảo luyện này ban đêm trong mùa thu, có lẽ sau khi việc đồng áng, gặt hái đã chấm dứt.
Và cái ý nghĩa rằng việc dạ châm phản ảnh tâm sự nhớ chồng có lẽ chỉ nằm trong óc tưởng tượng của thi nhân. Bạch Cư Dị làm bài thơ 寄 生衣与微, 因题封上 (Ký sinh y dữ Vi Chi, nhân đề phong thượng) để kể chuyện gửi đồ mặc mát (sinh y) cho bạn Vi Chi (Nguyên Chẩn), rồi viết trong bài 感秋咏意 (Cảm Thu Vịnh Ý) hai câu:
炎涼遷次速如飛 viêm lương thiên thứ tốc như phi
又脫生衣著熟衣 hựu thoát sinh y trứ thục y
Với nghĩa đại khái là vì nóng lạnh thay đổi nhanh như bay, nên (ta) thay y phục thô với thứ đã tao luyện.
Huỳnh Kim Giám
Thứ Hai, 24 tháng 8, 2026
Huế Ơi - Thơ: Trần Quốc Bảo - Phổ Nhạc: Trần Đại Bản - Ca Sĩ: Vân Khánh
Phổ Nhạc: Trần Đại Bản
Ca Sĩ: Vân Khánh
Vàng Thu Huế
Vàng thu Huế giăng mưa thơ mộng
Ướt áo O vọng động lòng ai
Răng gió đi để lại nơi này
Sợi dài ngắn căng da nỗi nhớ
Này O nhé nếu ai có lỡ
Van xin trời mưa mãi đừng ngưng
Ai hoá mưa ôm nhẹ vòng lưng
Mặt O bỗng đỏ hừng hương lửa
Vàng thu Huế gặp O một bữa
Suốt hành trình nghiêng ngửa hồn ai
Răng O đi lòng chừ ngoảnh lại
Để giọt tình vụng dại mưa thu
Kim Oanh


