Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2026

Nếu Mai Tôi Đi - Lời: Như Ngọc Hoa - Nhạc & "Chỉ Thị" (prompt): Phạm Anh Dũng - AI Trình Bày

Lời: Như Ngọc Hoa
Nhạc &"Chỉ Thị" (prompt): Phạm Anh Dũng
AI Trình Bày

"Nhân Hồi"



Hoang lạnh trải mây vào thung lũng
Sương chiều nghiêng dốc mịt mờ treo
Khoác áo giang hồ trên vai mỏi
Nhìn mây viễn xứ nhớ quê nghèo.

Có phải ta vừa mơ hạnh phúc
khi nhìn hoa dại nở trong mưa?!
Chợt nhớ nhà ai vàng hiên cúc
Hỏi thầm Đà Lạt đã Thu chưa?

Một gánh tang thương đời phiêu bạt
Tuổi thơ bỏ lại phía sau lưng
Hoa niên cũng lắm phen trôi dạt
Tóc trắng đường mây, bước vô chừng.

Ký ức hành hương về dĩ vãng
theo trang nhật ký thả ngược dòng
Níu lại thời gian, dù khoảnh khắc
để thoáng hương xưa quyện hoài mong.

Không phải sa trường sao "Túy Ngọa"
khi thân ly khách chẻ lòng đôi!?
Đã quá nửa đời trên xứ lạ
mà chẳng nôn nao bước "Nhân Hồi"!

Chờ một ngày kia khi sao rụng
nhìn Thu qua ánh mắt môi cười
Lệ nhòa nhân ảnh mừng sum họp
ước mơ rồi sẽ hiện thực thôi!

Huy Văn

Áo Rêu Xanh

 
 
Bỏ cuộc đời rồi người đi đâu
Nghìn năm đất lạnh có chiêm bao
Hay còn vất vưởng theo mây gió
Mưa nắng xương tàn thôi hết đau

Đã lỡ sinh vào cõi phù sinh
Biết đâu đêm tối đâu bình minh
Biết đâu chân thật đâu gian dối
Lủi thủi đường khuya bóng giận hình

Dốc núi bơ vơ gốc thông già
Bốn mùa ấm lạnh cũng phôi pha
Chỉ còn chút bụi hồng lưu luyến
Trăng lặn sao mờ chẳng nỡ xa

Tay ngủ trong tay nắng ngọt ngào
Phút giây hạnh phúc tựa chiêm bao
Trăm năm ai hẹn ai lỗi hẹn
Còn nhắc làm chi chuyện kiếp nào

Ai bảo hoàng hôn lắm mộng mơ
Chiều thêm tình tứ dệt thành thơ
Áo bay tóc rối chân chim sẻ
Rồi cũng xa vời cũng hư vô

Nói chi trăm nhớ với nghìn thương
Vườn xưa hoa cũ có còn hương
Hay đã xác xơ mầm khô héo
Như lòng vắng lạnh gửi gió sương

Bên kia cuộc sống thực mơ hồ
Có nghĩa gì đâu chuyện đợi chờ
Mây vẫn vô tình mưa vẫn ướt
Đường con quen thuộc vẫn bơ vơ

Có muốn tìm nhau cũng trễ rồi
Bao nhiêu hờn tủi nước đá trôi
Hoang vu từ độ từ độ vừa quen biết
Ngăn cách từ trong tiếng gọi mời

Nghìn xưa đã có bao biệt ly
Người già đưa tiễn người trẻ đi
Đoạn trường không thể so hơn kém
Kỷ niệm gấm hoa có nghĩa gì

Còn đâu hơi sức để khóc than
Lá thu chết ngộp lối thu vàng
Trời quen đất lạ lòng sương khói
Một chút hương xưa cũng lỡ làng

Bụi mờ sách cũ áo rêu xanh
Còn màu kỷ niệm xin để dành
Cho bướm thơ ngây bay vào mộng
Khóc thương duyên nợ đã không thành

Dấu chân người cũ đã xa xăm
Gió núi mưa rừng chẳng viếng thăm
Sao rơi đêm lạnh thuyền không bến
Tăm cá còn đau bóng chim nằm

Tuổi thơ có mộng có ngọt ngào
Thì xin trả sách cho nghìn sau
Bao nhiêu vinh nhục bao cay đắng
Đã đủ kinh hoàng lạc mất nhau

Trước cũng không mà sau cũng không
Nhẹ nhàng dạo bước vào mênh mông
Sen vàng huệ trắng lòng mây trắng
Vô tận bềnh bồng như biển sông...

MD.08/10/02
LuânTâm
 

Mùa Thu Trên Đồi Solon


Đầu thu, Virginia bắt đầu thay áo. Những hàng cây ven đường chuyển màu, trong sắc xanh thẫm của lá, thấp thoáng vài đốm đỏ, đốm nâu như dấu hiệu âm thầm báo trước một mùa thu đang tới. Trời buổi sáng se lạnh. Sương mù còn vương trên triền đồi, khiến mọi thứ trở nên xa xăm, dịu dàng và có chút buồn bã.

Một gia đình nhỏ kéo chiếc lều di động trên đường, dự định dành ba ngày cuối tuần để nghỉ ngơi ở Mt. Solon, một vùng đồi núi, rừng cây và nông trại thuộc miền quê Virginia.
Người chồng lái xe. Người vợ ngồi bên cạnh, thỉnh thoảng nhìn qua cửa kính, ngắm những cánh đồng xanh trải dài đến tận chân trời. Phía xa, những ngọn đồi nối tiếp nhau, nhấp nhô như những đợt sóng đang nằm yên giữa đất, trời. Con đường nhỏ uốn lượn qua những trang trại thưa thớt, lúc ẩn lúc hiện sau hàng cây. Thỉnh thoảng, một đàn bò thong thả cúi đầu gặm cỏ. Khung cảnh bình yên đến lạ. Người chồng đưa mắt nhìn quanh, rồi vui vẻ hỏi:
- Em có thấy cảnh ở đây thanh bình lắm không?
Người vợ mỉm cười, nhưng nụ cười chỉ thoáng qua.
- Yên tĩnh thì có. Đến chơi vài ngày thì được, chứ kêu em sống luôn ở đây thì không. Buồn quá!
Anh bật cười.
- Có gì đâu mà buồn? Nhà cửa rộng rãi, không khí trong lành, đất đai bao la, không phải chen chúc, không phải nghe tiếng xe cộ ồn ào suốt ngày. Người ta sống ở đây chẳng phải sướng hơn sao?

Chị vợ quay nhìn ra ngoài cửa kính. Một con đường nhỏ vừa khuất sau sườn đồi. Xa xa, mái nhà đỏ của một nông trại nằm đơn độc giữa đồng cỏ mênh mông.
Chị vợ nói:
- Anh thử tưởng tượng mùa đông coi. Bốn bề phủ đầy tuyết trắng, cây cối trơ cành, đường xá vắng tanh. Nếu phải sống ở đây quanh năm, em nghĩ mình sẽ buồn đến thê lương. Không biết người ta sống ra sao!
Anh không trả lời ngay. Chiếc xe tiếp tục lăn bánh qua một khúc quanh. Những con bò vẫn bình thản gặm cỏ. Một con bê nhỏ nép sát bên mẹ, thỉnh thoảng ngẩng đầu nhìn theo chiếc xe lạ.
Anh chợt nói:
- Em biết không, thịt bò bây giờ lên giá lắm. Những người ở đây chắc họ không sợ đói.
Chị vợ quay sang nhìn anh, bật cười.
- Trời đất! Ðang nói chuyện buồn vui của con người, anh lại nghĩ đến chuyện thịt bò!
Anh cười theo, nhưng rồi nét mặt trở nên trầm ngâm.
- Thì anh nghĩ, mỗi người có một cách nhìn cuộc sống. Em thấy nơi này buồn. Còn người ở đây có thể nhìn thành phố của mình mà ước ao được sống một ngày thanh thản như họ.
Chị vợ im lặng.

Câu nói của anh nhẹ nhàng, vậy mà không hiểu sao lại khiến chị suy nghĩ. Quả thật, mỗi người thường nhìn cuộc đời từ nơi mình đang đứng. Người sống giữa phố phường đông đúc mong một ngày được rời xa tiếng còi xe, khói bụi. Người sống nơi thôn dã có khi lại mong được bước chân vào một con đường sáng đèn, được nghe tiếng người qua lại, được ngồi trong một quán cà phê đông vui mà chẳng phải lái xe hàng chục phút mới tìm thấy.

Người có nhà rộng vẫn có thể thèm một căn phòng nhỏ đầy tiếng cười. Người sống giữa đám đông vẫn có thể cảm thấy cô đơn. Và người đứng giữa cánh đồng bao la chưa chắc đã thấy mình tự do hơn người đang sống trong một căn apartment chật hẹp giữa thành phố. Có lẽ, cái thiếu của con người không chỉ nằm ở những gì họ không có, mà còn nằm trong thói quen nhìn sang phía bên kia để tưởng tượng rằng hạnh phúc đang chờ đợi mình ở đó.
Chiếc xe rẽ vào một con đường nhỏ dẫn đến khu cắm trại, Natural Chimneys Park. Hai bên đường, những cây óc chó đen (black walnut) đứng im lìm. Thỉnh thoảng một vài trái rơi xuống cỏ, xuống mặt đường, khiến lũ sóc giật mình phóng đi...

Ánh nắng bắt đầu xuyên qua màn sương, rắc những vệt vàng mỏng xuống mặt đường. Một vài chiếc lá khô rơi xuống, xoay tròn trong gió rồi nằm yên bên đám cỏ.
Gia đình nọ check-in vào khoảng đất A-15, gần rìa rừng, nơi có thể nhìn thấy những ngọn đồi trải dài phía trước. Người chồng loay hoay dựng xe lều, nối ống nước và cắm điện vào camper. Người vợ giúp anh sắp xếp đồ đạc, chuẩn bị thức ăn và trải tấm khăn nhỏ trên chiếc bàn.
Mọi việc diễn ra chậm rãi. Không điện thoại reo, không ai hối thúc, cũng chẳng có công việc nào buộc họ phải hoàn thành, nhất định.

Buổi chiều, họ đi bộ theo con đường mòn quanh khu cắm trại. Gió từ cánh đồng thổi qua, mang theo mùi cỏ mới cắt, mùi phân bò và mùi đất ẩm. Thỉnh thoảng, tiếng chim vang lên từ những bụi cây rồi vụt tắt. Chị bỗng vợ nhớ đến quê nhà.

Ngày còn nhỏ, chị cũng từng sống giữa một vùng đất có những con đường nhỏ, những khu vườn xanh và những buổi chiều nghe tiếng gà gọi nhau về chuồng. Ngày ấy, chị chẳng bao giờ nghĩ khung cảnh bình dị đó sẽ có lúc trở thành một miền ký ức xa xôi. Chị chỉ mong lớn thật nhanh để được đi đây đi đó, được sống giữa những phố phường náo nhiệt, được nhìn thấy một thế giới rộng lớn hơn những gì mắt mình có thể trông thấy mỗi ngày.

Cuộc đời đưa chị đi qua nhiều thành phố, nhiều vùng đất, nhiều cuộc gặp gỡ và chia ly. Những con đường mới dần thay thế những con đường cũ. Những khuôn mặt xa lạ trở thành quen thuộc, rồi lại xa lạ theo năm tháng. Có những nơi chị từng nghĩ sẽ gắn bó suốt đời, cuối cùng cũng chỉ là một chặng dừng chân.


Quê hương, hóa ra, không chỉ là một địa danh trên bản đồ. Đó còn là tiếng gọi của người thân, là mái nhà có ngọn đèn chờ cửa, là mùi thức ăn quen thuộc từ căn bếp cũ, là một buổi chiều bình thường mà ngày ấy mình chẳng hề biết rằng sẽ có lúc phải nhớ đến suốt đời.

Chị nhìn những ngọn đồi phía trước. Bỗng dưng, sự vắng vẻ của miền quê không còn khiến chị khó chịu như buổi sáng. Trong khoảng không gian rộng lớn ấy, chị nghe được tiếng lòng mình rõ hơn. Những lo toan thường nhật dường như lùi lại phía sau, nhường chỗ cho những ký ức đã lâu không được gọi tên.
Chị hỏi chồng:
- Anh có bao giờ nhớ một nơi nào đó đến mức chỉ muốn quay về?
Anh nhìn chị, rồi khẽ gật đầu.
- Có chứ. Nhưng anh nghĩ, có khi mình nhớ không phải vì nơi ấy đẹp hơn bây giờ, mà vì ngày ấy mình còn có những người khiến nơi ấy trở thành nhà.
Chị cúi đầu, không nói gì.
Một cơn gió nhẹ thổi qua. Trên sườn đồi, những ngọn cỏ nghiêng mình rồi lại đứng thẳng. Cảnh vật vẫn bình thản như chưa từng biết đến những nỗi buồn của con người.

Sau bữa tối đơn giản bên trong chiếc xe lều, hai vợ chồng ngồi ngoài trời, quấn thêm áo ấm. Bầu trời miền quê không bị ánh đèn thành phố che khuất. Những ngôi sao hiện ra rõ ràng, lặng lẽ rải khắp khoảng không đen thẳm. Chị ngẩng nhìn bầu trời, chợt nghĩ đến những mùa đông đã qua.
Có những mùa đông chị từng trải qua trong căn nhà đầy đủ tiện nghi, cửa đóng kín, lò sưởi tỏa hơi ấm, thức ăn luôn có sẵn trong tủ lạnh. Thế mà đôi khi, giữa cái ấm áp ấy, chị vẫn cảm thấy lạnh. Không phải cái lạnh của thời tiết, mà là cái lạnh của những cuộc điện thoại không còn người bắt máy, những chiếc ghế trống trong bữa cơm gia đình, những cái tên chỉ còn có thể nhắc lại bằng giọng nghẹn ngào.

Rồi chị nhớ đến những người đang sống trong những căn nhà nhỏ giữa vùng đồi núi này. Có thể họ đang quây quần bên nhau trong căn bếp sáng đèn. Có thể một người mẹ đang chờ con trở về từ thị trấn. Có thể một ông già đang ngồi bên cửa sổ, nhìn ra cánh đồng nơi ông đã làm việc suốt nửa đời người. Cũng có thể, trong một ngôi nhà nào đó, một người đang ngồi lặng lẽ như chị, nhớ về một người đã đi xa.
Chị quay sang nhìn chồng. Anh đang ngồi bên cạnh, đôi tay đặt trên đầu gối, mắt hướng về những ngọn đồi tối sẫm phía xa.

Bao năm qua, anh vẫn lặng lẽ đi bên chị qua những đổi thay của cuộc đời. Có những lúc chị buồn mà không nói, có những khi anh mệt mà chẳng than. Họ cùng nhau lo toan, cùng nhau vượt qua những ngày khó khăn, rồi dần quen với việc xem sự hiện diện của nhau là điều đương nhiên. Phải chăng con người thường chỉ nhận ra giá trị của một điều gì đó khi nghĩ đến khả năng một ngày mình sẽ mất nó? Chị nhẹ nhàng nắm lấy tay anh.
Anh quay sang, hơi ngạc nhiên.
- Sao vậy em?
Chị mỉm cười.
- Không có gì. Chỉ là em thấy mình may mắn.
Anh không hỏi thêm. Anh siết nhẹ bàn tay chị, như thể đã hiểu.

Trong khoảnh khắc ấy, chị không còn nghĩ đến chuyện nơi này buồn hay vui, đáng sống hay không đáng sống. Chị chỉ thấy mình đang ở một nơi xa lạ nhưng không cô độc, giữa một vùng đồi núi mênh mông nhưng vẫn có một bàn tay thân thuộc để nắm lấy.
Có lẽ, bình yên không nhất thiết phải là nơi ta muốn sống mãi mãi. Đôi khi, bình yên chỉ là được tạm dừng chân, nhìn lại cuộc đời mình và biết rằng bên cạnh vẫn còn một người cùng ta đi tiếp.


Sáng hôm sau, sương lại phủ kín những triền đồi. Người chồng thức dậy sớm, bước ra khỏi lều, hít một hơi thật sâu. Phía xa, đàn bò gặm cỏ. Anh quay vào gọi vợ:
- Em ra đây xem.
Chị khoác áo, bước ra ngoài. Một lớp sương mỏng lững lờ trôi qua sườn đồi. Ánh nắng đầu ngày đang từ từ xua tan màu xám nhạt của bầu trời. Chị đứng bên anh, nhìn cảnh vật trước mặt. Rồi bất giác, chị mỉm cười.
- Anh biết không, hôm qua em cứ nghĩ người sống ở đây chắc buồn lắm. Nhưng bây giờ em lại nghĩ, có lẽ họ cũng chẳng buồn hơn những người sống ở thành phố đâu.
Anh nhìn chị, chờ đợi.
- Chỉ là mỗi người có một nỗi buồn khác nhau. Người ở đây có thể nhớ những điều họ chưa từng có. Còn mình, đôi khi lại buồn vì những điều đã có mà không thể giữ được.
- Vậy nên người ta mới cứ đi tìm hạnh phúc ở những nơi xa xôi, trong khi đôi khi điều mình cần nhất lại đang ở ngay bên cạnh.

Ba ngày cuối tuần rồi cũng kết thúc. Họ sẽ thu dọn lều, xếp hành lý lên xe, trở về với công việc, những cuộc hẹn và nhịp sống quen thuộc. Những ngọn đồi sẽ tiếp tục nằm đó, những đàn bò vẫn thong thả gặm cỏ, mùa thu sẽ chuyển sang mùa đông, rồi tuyết sẽ phủ trắng những cánh đồng...

Mùa Thu Trên Đồi Solon

Em bảo nơi này buồn quá đỗi,
Anh cười, phố thị cũng lao xao.
Người mong yên tĩnh nơi thôn dã,
Kẻ nhớ đèn khuya, chốn ồn ào.

Chiều xuống, lá vàng rơi khe khẽ,
Gió gọi quê nhà giữa mênh mông.
Em nghe ký ức về theo gió,
Thương những ngày xưa, những ruộng đồng.

Đêm lạnh, sao trời giăng kín lối,
Bên anh, em bỗng thấy yên lòng.
Bàn tay nắm lấy một bàn tay
Ấm hơn ngọn lửa giữa đêm đông.

Mai về, ngọn đồi nằm im đó,
Ðàn bò ung dung gặm cỏ non.
Mới hiểu hạnh phúc không nơi chốn,
Mà ở bên nhau, một tấm lòng.

Bởi người đi khắp phương trời rộng,
Đôi lúc chỉ mong một chốn về.
Thu trên đồi vắng cho ta hiểu
Nhà chính là nơi có người thương.

Mt. Solon, Virginia
Võ Phú

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2026

Trích Đoạn Cuối Lan Và Điệp - Nguyễn Công Hoan - Kim Trúc

Tác Giả: Nguyễn Công Hoan
Trình Bày: Kim Trúc

Thu Xanh


Vàng xanh lá mộng chen cành
Đường mây hun hút đêm lành lạnh đêm
Tiếng thu len gió xuyên rèm
Ru ai yên giấc êm đềm vào mơ
Lối vàng mơ lá vàng thơ
Gió lay sương rụng giăng mờ phố sương
Người tìm hoa nắng ven đường
Ta gom hương nhớ mùa thương một chiều
Bờ xanh vạt nắng nghiêng xiêu
Sông thương sóng bạc dập dìu xô đưa
Chiều thu rơi giọt mưa thừa
Tình xanh êm ả cho vừa nhớ nhau!

01.09.2026
Thơ:Yên Dạ Thào
Hình Ảnh: Khúc Giang:


Mùa Thu Và Thi Nhân

 

Xác lá chiều thu tơi tả bay
Bên trời gió nhẹ thổi heo may
Thi nhân ngắm cảnh buồn chi lạ 
Xót kiếp con tằm...tựa khói mây

Đời sinh ta trót làm thi sĩ
Nghiệp dĩ mang vào có ích chi
Sống mãi trong mơ ôm hệ lụy
Mấy ai hiểu được chút tình si ?

Cũng muốn vá trời thêm lấp biển
Lên cung trăng hát với Hằng Nga
Vượt trùng dương về thăm quê Mẹ
Ôm bóng hoàng hôn...giữa nắng tà

Để buồn trằn trọc suốt thâu canh
Sợi tóc sầu rơi...phận mỏng manh
Hoài bão chôn vùi theo nỗi khổ
Thời gian sao nỡ quá vô tình !

Tâm sự thi nhân với lá vàng
Hồn thơ dào dạt lúc thu sang
Nhìn mây lãng đãng sương rơi rụng
Nghe ước mơ trôi...giấc muộn màng

Chiều đứng bên hiên nhìn lá đổ
Bỗng lòng xao động giữa hư vô
Thi nhân là kiếp tằm dâng hiến
Gửi chút tình...lên những áng thơ

nguyễn phan ngọc an 
thu 2026

Amsterdam


Những bồn hoa tulip đầy trong sảnh hotel để đón khách

Sống và tự hào như người Hòa Lan

Khi máy bay hạ cánh xuống phi trường Amsterdam vào 10:00 sáng, chúng tôi làm thủ tục vào đất nước Hòa Lan, một đất nước với nhiều biểu tượng: những cối xay gió mà cánh quạt có thể quay 360 độ, là số xe đạp đông hơn dân số của chính họ, là những giỏ hoa tulip nhiều màu sắc xinh đẹp, như những cô gái thanh xuân với nụ cười hàm tiếu.

Trong đầu tôi hiện ra những Lễ hội hoa Tulip Canada (Canadian Tulip Festival) tổ chức vào tháng 5 hàng năm tại Ottawa, lớn nhất thế giới, thu hút hàng triệu du khách đến chiêm ngưỡng, tượng trưng của tình hữu nghị, hòa bình và bao dung quốc tế của hai dân tộc.

Canada với Hòa Lan có những ân nghĩa mà người dân của hai nước thật khó quên, câu chuyện nổi tiếng Công chúa Juliana đã gửi tặng thủ đô Ottawa 100.000 củ hoa tulip, là món quà tri ân đất nước Canada đã bảo vệ gia đình mình và giải phóng quê hương.

Kể từ năm lịch sử 1940 đến nay, mỗi năm Hoà Lan đều đặn gửi tặng Canada thêm 20.000 củ hoa tulip (trong đó có 10.000 củ từ Hoàng gia và 10.000 củ từ Hiệp hội những người trồng hoa Hoà Lan).
Tại sao có món quà ân tình này của Amsterdam với Canada, có hai lý do sau:

Lý do thứ nhất:

Khi Đức Quốc Xã chiếm đóng Hoà Lan vào năm 1940, Công chúa Juliana (người sau này trở thành Nữ hoàng) đã đưa các con sang lánh nạn tại thủ đô Ottawa của Canada.
Năm 1943, Công chúa Juliana chuyển dạ sinh hạ Công chúa Margriet tại Bệnh viện công Ottawa. Theo luật Hoà Lan, một người thừa kế ngai vàng phải được sinh ra trên lãnh thổ Hoà Lan mới giữ được quyền công dân, chính phủ Canada với tấm lòng cởi mở, khoan dung, đã ban hành một đạo luật đặc biệt, tuyên bố khu phòng sinh của bệnh viện tạm thời thuộc quyền quản lý quốc tế (không thuộc chủ quyền Canada). Nhờ vậy, Công chúa Margriet sinh ra có quốc tịch Hoà Lan hoàn toàn hợp pháp.

Lý do thứ hai:

Quân đội Canada giải phóng đất nước Hoà Lan.
Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến (1944 - 1945), quân đội Canada đóng vai trò chủ lực trong việc đánh đuổi phát xít Đức, giải phóng đất nước Hoà Lan và tiếp tế lương thực cho người dân nước này đang trong nạn đói trầm trọng.

Kỳ này trong chuyến đi của chúng tôi có cả chục người đến từ Montreal, Toronto, Vancouver- Canada, cô Sam, tour guide của Exotica vừa nói vừa cười:
-Chính phủ Amsterdam muốn chiêu đãi các bạn người Canada, bằng những phòng ngủ tốt nhất trong hotel!

Lời nói nửa đùa nửa thật của Sam làm cả đoàn ai cũng cười vang và tình thân ái như kết chặt thêm.

Tiếng nói thao thao bất tuyệt của người dẫn đoàn đầy kinh nghiệm tiếp tục giải thích về người dân Amsterdam có một niềm tin sâu sắc vào quyền tự do cá nhân:
-Miễn là hành vi của bạn không gây hại đến người khác, bạn có quyền lập dị, có quyền sống khác biệt, mọi người chấp nhận sự đa dạng như một phần tất yếu của xã hội.
Những người đi bộ trên đường phần lớn với đôi tay xăm trổ, tai đeo liền một lúc mấy cái khoen, mũi cũng đeo khoen, tóc cắt kiểu punk dựng lên, người thì để dài búi tó, với những màu xanh đỏ, ngay cả khi họ là những người có chức sắc trong chính quyền.

 
Số lượng xe đạp nhiều hơn dân số Amsterdam-Hòa Lan

Khi chúng tôi vừa bước xuống đường để băng qua, thì được Sam chận lại ngay:
- Coi chừng xe đạp!
Tiếng cô ta vừa dứt thì một chiếc xe đạp điện lao thật nhanh, phóng qua mặt chúng tôi cái vù, nếu không thụt lùi kịp thời thì chắc bị đâm và té ngay. Sam giải thích:
-Vào thập niên 1950 - 1960, giống như Mỹ và phần còn lại của châu Âu, số lượng xe hơi tăng vọt kéo theo tai nạn giao thông thảm khốc. Riêng năm 1971, có hơn 3.300 người chết vì tai nạn giao thông tại Hoà Lan, trong đó có hơn 400 trẻ em, người dân đã xuống đường biểu tình rầm rộ với khẩu hiệu áp đảo: "Stop de Kindermoord" (Hãy dừng việc giết chóc trẻ em)

Họ chặn các con phố, tổ chức các ngày đạp xe an toàn và ép chính phủ phải thay đổi quy hoạch lại đô thị: Trả lại đường phố cho người đi bộ, gìn giữ cây xanh, công viên, bỏ bớt xe hơi, ô nhiễm vì khói bụi.
Thêm vào cuộc khủng hoảng dầu mỏ thế giới năm 1973 nổ ra. Các nước Ả Rập cấm vận dầu mỏ đối với Hoà Lan, khiến giá xăng dầu tăng phi mã và khan hiếm trầm trọng.

Thủ tướng Hoà Lan lúc bấy giờ đã tuyên bố những ngày "Chủ nhật không xe hơi" (Car-free Sundays) để tiết kiệm năng lượng. Cả đất nước bỗng nhiên vắng bóng tiếng động cơ, người dân tràn ra đường đi bộ, trượt patin và đặc biệt là đạp xe. Trải nghiệm đó giúp người Hoà Lan nhận ra: Cuộc sống không có xe hơi không những tốt hơn, mà còn vô cùng yên bình và hạnh phúc.

Địa hình Hoà Lan hoàn toàn bằng phẳng, không có đồi dốc, lại có khí hậu ôn hòa (dù hay có mưa). Điều này biến xe đạp trở thành phương tiện lý tưởng, không tốn sức lực. đường phố trung tâm được đổi thành đường một chiều cho xe hơi nhưng hai chiều cho xe đạp, chi phí đậu xe rất đắt đỏ, và tốc độ tối đa của xe hơi trong phố bị giới hạn nghiêm ngặt ở mức 30km/h.

Đi xe đạp lúc này trở nên nhanh hơn, rẻ hơn và tiện lợi hơn xe hơi rất nhiều.

Việt Nam mình xem việc đi xe đạp là nhà nghèo qua bài hát dễ thương Xe đạp ơi của Ngọc Lễ:

Quay đều quay đều quay đều,
Mối tình ngày xưa yêu dấu.
Quay đều quay đều quay đều,
Nhớ hoài những vòng xe.
Quay đều quay đều quay đều,
Mối tình nghèo đơn sơ quá.
Quay đều quay đều quay đều,
Thương hoài những vòng xe.

Nhưng ở Hòa Lan từ người dân lao động, sinh viên, cho đến các CEO doanh nghiệp và thậm chí là Thủ tướng hay Bộ trưởng đạp xe đi làm trở thành điều quen thuộc trong nhiều thập kỷ qua.

Đoàn bộ hành chúng tôi đi đến khu phố cổ ven kênh Oudezijds Voorburgwal của Amsterdam, nơi có nhà thờ Ons' Lieve Heer op Solder thuộc khu vực De Wallen.

-Vào thế kỷ 17, khi Công giáo bị cấm tại Hòa Lan, những người sùng đạo đã bí mật cải tạo tầng áp mái của ba ngôi nhà liền kề thành một nhà thờ lộng lẫy. Nhìn từ bên ngoài, đây chỉ là một ngôi nhà bình thường, nhưng khi bước lên những bậc thang hẹp, sẽ choáng ngợp trước một giáo đường hoàn chỉnh được bảo tồn nguyên vẹn.

Amsterdam giấu những góc nhỏ bí ẩn lạ lùng, chỉ đến đây mới khám phá những điều này, chúng tôi trôi nổi trên dòng kênh Singel, một căn nhà đỏ lềnh bềnh trên dòng sông, đây là trạm cứu hộ mèo nổi duy nhất trên thế giới, họ chăm sóc hàng chục chú mèo hoang và mèo bị bỏ rơi, có thể lên thuyền tham quan, và đóng góp quỹ hỗ trợ động vật.
Amsterdam giống như một chiếc kính vạn hoa — mỗi góc nhìn, mỗi thời điểm trong ngày lại mở ra một lăng kính hoàn toàn khác biệt, khiến người ta không thể nào đoán định hay nhàm chán.

Ban ngày, nó mang vẻ trầm mặc, cổ kính với những ngôi nhà gạch nghiêng nghiêng soi bóng xuống dòng kênh tĩnh lặng như một bức tranh sơn dầu thế kỷ 17. Nhưng khi màn đêm buông xuống, những ánh đèn neon màu sắc lập lòe, những quán coffee shop khói sương mờ ảo lại biến nơi đây thành một thế giới hiện đại, phóng túng và đầy kích thích thị giác.
Những vấn đề đáng lưu tâm trong xã hội, như Hoà Lan là quốc gia đầu tiên trên thế giới hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới vào năm 2001, và Amsterdam chính là tâm điểm của sự kiện lịch sử này.

Điểm nổi bật khó bỏ qua là khu phố Đèn Đỏ (De Wallen) nổi tiếng hoạt động dưới sự bảo hộ của luật pháp, nơi những cô gái ăn sương “làm việc” và đóng thuế, được bảo vệ y tế và có công đoàn riêng. Nhìn lên một building cao tầng, nơi những tấm màn voan đỏ vén lên là phòng đang chờ khách, những mẫu hình quảng cáo kích thích có quyền trưng bày một cách công khai.

Còn táo bạo hơn, Chính sách Gedoogbeleid (chính sách khoan dung) của Amsterdam cho phép các Coffee Shop bán một lượng nhỏ cần sa cho khách hàng từ hàng chục năm trước, khi phần lớn thế giới vẫn coi đây là tội hình sự nghiêm trọng. Thay vì đẩy nó vào bóng tối của tội phạm, họ chọn cách đưa ra ánh sáng để kiểm soát chất lượng và tách biệt nó khỏi các loại ma túy nguy hiểm. Chúng tôi thường cảm thấy mùi “khét” của cần sa bay xộc vào mũi, hay vướng vào tóc mỗi khi đi ngang qua những coffee shop này.
Thăm những bảo tàng độc nhất vô nhị tôn vinh các khía cạnh nhạy cảm hoặc kỳ quặc của con người: từ Bảo tàng Tra tấn, Bảo tàng Ganja (Cần sa), Bảo tàng Tình dục (Sexmuseum) lâu đời nhất thế giới, cho đến bộ sưu tập dị tật giải phẫu học tại Museum Vrolik.

Trong khi phần lớn châu Âu thời bấy giờ chìm trong các cuộc chiến tranh tôn giáo tàn khốc và sự kiểm duyệt gắt gao của Giáo hội hay Quân chủ, Hòa Lan với tư tưởng mở rộng, chào đón người tị nạn: Nơi đây trở thành mảnh đất lành cho những bộ óc vĩ đại nhưng bị trục xuất ở quê nhà, như triết gia René Descartes hay Baruch Spinoza.
Không sợ bị bắt bớ hay công kích, bất kỳ cuốn sách nào bị cấm ở Pháp, Đức hay Anh đều có thể được in ấn và xuất bản tự do tại Amsterdam. Quyền tự do ngôn luận và tự do tư tưởng đã bén rễ tại đây từ hàng trăm năm trước.
Những căn phòng với mái trần cao, tủ sách vĩ đại của thế giới mà ta có thể tìm bất kỳ một tác phẩm nào cũng có.



Tủ sách vĩ đại ở Amsterdam


Đến Kinderdijk: Quần thể 19 cối xay gió cổ từ thế kỷ 18 được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới, nơi thể hiện rõ nhất cách vận động nước theo kiểu truyền thống.


Từ thế kỷ 15–17, hàng ngàn cối xay gió hoạt động như những chiếc máy bơm khổng lồ, rút nước từ các vùng đầm lầy và hồ nước ra sông kênh, biến vùng đất nằm dưới mực nước thành những đồng cỏ phì nhiêu (polder). Người dân Hòa Lan tự hào cho là: "Chúa tạo ra thế giới, nhưng người Hoà Lan tạo ra nước Hoà Lan" nhờ một phần lớn vào cối xay gió.

Cối xay gió với cánh quạt xoay 360 độ đón gió từ mọi hướng

Cối xay gió Hoà Lan được thiết kế cho rất nhiều ngành công nghiệp:

Cưa gỗ (Houtzaagmolen): Giúp xẻ gỗ nhanh gấp nhiều lần làm thủ công, đưa Hoà Lan trở thành đế chế hàng hải bá chủ thời bấy giờ.

Sản xuất khác như dùng để ép dầu từ hạt, nghiền vỏ cây làm thuốc nhuộm, làm giấy, và sản xuất sơn.

Họ trưng bày trong viện bảo tàng những thiết kế kiến trúc thông minh: Khả năng xoay mái (Bovenkruier): Phần đỉnh mái chứa cánh quạt có thể xoay 360 độ để đón bất kỳ hướng gió nào mà không cần xoay cả thân tòa nhà. 

Và Hệ thống tín hiệu bằng cánh quạt: đây là điểm son của hệ thống này, vị trí dừng của các cánh quạt (đứng thẳng, nghiêng sang trái, nghiêng sang phải, hay hình chữ X) từng được người dân dùng như một thứ ngôn ngữ ngầm để thông báo tin vui (đám cưới), tin buồn (tang lễ), hay cảnh báo nguy hiểm trong Thế chiến II.

Người ta nói đi một đàng học một sàng khôn là thế, ở Hòa Lan (The Netherlands) có rất nhiều thứ đáng học hỏi, từng con đường nhỏ khuất chật hẹp bé xíu cũng có những sự tích riêng, con kênh dài Grachtengordel lại có một câu chuyện thú vị khác mà chỉ khi du lịch trên sông nghe mới đã tai! Họ muốn giữ lại tất cả một cách trân trọng như một kỷ niệm, một di sản của những người đi trước để lại cho đời sau, truyền đến những du khách như một món quà trân quý không mua ở đâu được.

Tuy mật độ dân số khoảng 18 triệu người, không đông lắm so với thế giới nhưng đứng trong top 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (GDP +- 1.100 tỷ USD); đứng thứ 2 thế giới về giá trị xuất khẩu nông sản; cảng biển lớn Rotterdam và sầm uất nhất toàn Châu Âu.

Một chuyến đi thăm Amsterdam -The Netherlands, một kỷ niệm khắc sâu đẹp và ngọt ngào như những giỏ hoa Tulip của những người dân Hòa Lan gởi tặng đến Canada vậy!

Sỏi Ngọc

Montreal, Oct’26


Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2026

Cùng Em - Thơ: Cung Lan - Nhạc: Nguyễn Tuấn - Siliconband AI

Thơ: Cung Lan
Nhạc: Nguyễn Tuấn
Siliconband AI

Tự Sự



Em sẽ thấy một điều rất lạ
mỗi dòng xuôi ố một nét ngang
nét ngang ngờ ngợ như là lá
rụng buổi đầu thu ở cuối đường


Nguyễn Xuân Thiệp
 

Bể Sầu Hư Không

 

Áo cơm che khuất mặt người
Bao phen dở khóc dở cười tủi thân
Thuyền xuôi nước ngược xoay vần
Trông mưa chờ nắng mòn chân dã tràng

Tình đời ấm lạnh xốn xang
Tình người điên đảo lỡ làng sớm trưa
Nghĩ thương ngọn cỏ gió đùa
Lang thang nóng lạnh bốn mùa đơn côi

Dòng đời hờ hững nổi trôi
Chân chim dấu thỏ rã rời vườn xuân
Người quen kẻ lạ người dưng
Quê hương mất dấu núi rừng khóc ma

Còng lưng đâu phải quá già
Mắt mờ đâu phải xót xa kiếp người
Chào nhau thêm tội nụ cười
Môi khô nghi hoặc má tươi giả đò

Mơ vùng nắng ấm thơm tho
Suối trong nước mát tự do vẫy vùng
Đêm tàn bến vắng rưng rưng
Tưởng đò ngang vẫn ân cần se duyên

Ngờ đâu oan trái lụy phiền
Trễ đò lỗi hẹn ai điên ai khùng
Biết đâu hoa cỏ sầu chung
Nhắc chi áo gấm ngại ngùng vinh qui

Không đành cũng phải ra đi
Không chừa dấu tích không ghi chuyện lòng
Sầu thu đuổi bắt sầu đông
Bao nhiêu mộng ảo qua sông qua cầu

Bóng chim tăm cá về đâu
Tóc rơi tuyết nhuộm bể sầu hư không …

MD.06/14/05
LuânTâm

Thu Năm Xưa


THU PARIS HỘI THẢO VĂN HỌC & NGHỆ THUẬT

Vào ngày 10 tháng 10 năm 2017 tại phòng hội số 18 rue Martin Bernard Paris 13, một buổi hội thảo văn học nghệ thuật với chủ đề: Sự Bảo Tồn Văn Hóa Việt Nam tại Hải Ngoại do CLB Văn Hóa VN Paris tổ chức với sự tham dự của nhiều khuôn mặt quen thuộc trong giới trí thức người Việt ở Paris. Mở đầu BS Nguyễn Bá Linh đọc chương trình hội thảo, đồng thời mời nhà thơ Đỗ Bình chủ tịch Câu lạc Bộ VHVN Paris lên ngỏ lời, ông đã phát biểu rất ngắn về ý nghĩa quan trọng của buổi sinh hoạt, sau đó đã giới thiệu từng khuôn mặt những người tham dự, trong đó có những người đến từ Đức Quốc. Điều hợp chương trình là BS Nguyễn Bá Linh và TS Võ Hùng Anh. Tiếp theo chương trình là GSTS Trần Văn Cảnh , ông đã trình bày khái quát về cuốn Những Khuôn Mặt Văn Hóa Việt Nam Hải Ngoại đang tiến hành, hiện nay danh sách được đề nghị đã 200 vị ở khắp nơi hải ngoại. Ông và nhà thơ Đỗ Bình vẫn còn đang liên lạc với nhiều người ở hải ngoại dể thành lập một ban thực hiện chung.
Tiếp theo GS TS Trần Văn Thu giới thiệu cuốn sách bằng tiếng Pháp 8000 Năm Lịch Sử Việt Nam. Ông nói ai cần sách đó ông sẽ tặng. Vào tháng 10 năm 2016 ông đã nói chuyện về đề tài này do CLB VH VN Paris tổ chức. Trong sách có rất nhiều tư liệu ông đã nghiên cứu nhiều năm ở các sách Pháp, Mỹ mà người Việt không biết. Những gì người Việt biết về lịch sử Việt Nam đã bị người Tàu xuyên tạc rất nhiều!

Kế tiếp BS Nguyễn Bá Hậu là người cao niên tuổi đã 94 phát biểu:«Muốn giữ gìn văn hóa thì Sự Tam Sao Thất Bổn trong văn học nghệ thuật cũng cần được thảo luận».

GS Trịnh Khải phát biểu:

«Sau khi CS cưỡng chiếm VN, chữ khoa học Việt hoàn toàn ngưng trệ. Chúng ta nên giữ lại gốc «latin» các chữ khoa học (toán học, vật lý...... triết học ….xã hội học ...) như các nước văn minh : Mỹ, Pháp, Đức, Anh …..vv. vì nếu muốn dịch thì phải thành lập một ban chuyên môn, chứ không thể chỉ dùng chữ Hán làm căn bản.
Ví dụ : Ở ĐH Văn Khoa Saigon, có ông đã dịch : hữu thể = être thì không đúng theo Phật Đạo vì:
** hữu = có và thể = sắc (forme) ==> hữu thể = tất cả mọi vật nhìn thấy được
** Theo philosophie occidentale : être = người và động vật (les humains et les êtres vivants) và les humains = étants (Heidegger)

Vì lý do trên nếu tự mình chuyển ngữ bằng gốc Hán (ít ai hiểu) thì chỉ đem lại sự hiểu lầm mà thôi nhất là V/Đ tôn giáo (Ví dụ : xin xem lại 02 chữ :la réincarnation et la résurrection). »

Tiếp theo GSTS Âm nhạc Trương Quỳnh Hạnh trình bày và hát trích đoạn những thể loại dân gian khắp ba miền: Quan Họ Bắc Ninh, Châu Văn, Sẩm , Ca Trù, Sa mạc, Nam Ai, Hò Mái Nhị, Hát Bài Chòi, Hát Bội, Lục Vân Tiên, Dạ Cổ Hoài Lang,Tứ Đại Oán, Vọng Cổ.

Bà phát biểu:

«Về phương diện Nhạc Cổ Truyền Việt Nam chúng tôi nhận xét: Những ngón đàn độc đáo của Đàn Đáy trong Ca Trù và Đàn Bầu cần phải được bảo vệ và truyền lại cho các em học sinh, sinh viên ở các Nhạc Viện, những người yêu thích âm nhạc cổ truyền Việt Nam kể cả người ngoại quốc». GS Quỳnh Hạnh giải thích về Ngón Chùn và Thang Âm Sa Mạc, bà nói : «Đó là Ngón Chùn tạo nên đặc tính của Ca Trù và tạo nguồn cảm hứng vô tận cho nghệ sĩ ca cổ truyền, ngâm thơ, đọc thơ ».
Bà nói tiếp:«Về phương diện kỹ thuật, trong âm nhạc quốc tế nói chung, nhạc cổ truyền Việt Nam nói riêng, thông thường các Ngón Nhấn có khuynh hướng đi lên, không bao giờ một Ngón Nhấn mà có cao độ bị chùng xuống. Thí dụ: Nốt Sol nhấn lên nốt La, nốt Do nhấn lên nốt Ré nhưng trong kỹ thuật Đàn Bầu và Đàn Đáy: Tạo ra một nốt Fa dùng điểm của nốt Sol. Đối với kỹ thuật Đặc Biệt của Tính Năng Nhạc Cổ Truyền: Khi Nhấn Chùn xuống là tạo được Ngón Chùn. Đặc Điểm của Ngón Chùn bắt chước ra được giọng người hát tuyệt vời, có sức quyến rũ khá mạnh mẽ thu hút được trái tim người nghe và tạo được nguồn cảm hứng vô tận cho người nghệ sĩ qua ngón đàn tài hoa của người nhạc sĩ.» GS Quỳnh Hạnh nói thêm về Quảng Ba Trung Bình trong Ngâm Thơ Sa Mạc, trong Ca trù, và Các Cung Giọng Đọc Kinh Công Giáo. »

BS Nguyễn Bá Linh đặt câu hỏi:

« Đất nước Việt Nam chúng ta không có Sa Mạc thế sao Thư Mục Ca Nhạc Cổ Truyền lại có ngân thơ Sa mạc?»

GS Quỳnh Hạnh:

«Đó là do Việt Nam giao lưu với các nước Trung Cận Đông từ nhiều thế kỷ trước. Khi tôi trình bày và minh họa qua tiếng hát trong các conférences có rất nhiều người trong giới âm nhạc thuộc các quốc gia Trung Cận Đông, họ phát biểu:
«Tôi nghe Bà trình bày làn điệu này sao giống làn điệu thang âm ở nước chúng tôi!»
Tôi trả lời: «Đặc Tính của Âm Nhạc: Quảng Ba Trung Bình tạo nên sự Nhớ Nhà,Tình Hoài Hương, nỗi Nhớ da diết cô đọng trong tim không nói ra cùng ai. Có thể làn điệu này ở các nước Trung Cận Đông đã có sự giao lưu văn hóa với Việt Nam từ nhiều thế kỷ trước, những làn điệu âm nhạc nào phù hợp với khiếu thẩm mỹ của dân tộc chúng tôi thì nó sẽ ở lại với chúng tôi mãi mãi.»

Nhà báo Hoài Châu Nguyễn Kim Long phát biểu:

«TS Quỳnh Hạnh đã khẳng định là ngâm thơ điệu SA MẠC ở Việt Nam chịu ảnh hưởng từ những giao lưu người Ả Rập đến từ vùng sa mạc Trang - Á, tôi không đồng ý với quan niệm này! Theo thiển ý của tôi: từ "sa mạc" chỉ là cách nói, không liên quan đến những cuộc giao dịch trong sa mạc của người Touaregs hay Berberes ở vùng Sahel châu Phi (Sahel hay Sahara = sa mạc) hay người Ả Rập Hồi giáo ở thế kỷ thứ VII cho đến thế kỷ XIII vùng bán đảo Saudite ; còn vùng Trung Á chỉ có sa mạc Gobi không có người qua lại! Thật ra chỉ có đoàn quân kỵ mã của Thành Cát Tư Hãn và Hốt Tất Liệt người Mông Cổ là qua lại. Đó là thời kỳ nhà Nguyên cai trị Trung Hoa và thua trận ở VN khi họ tính thôn tính Đại Việt nước ta. Đây cũng là thời kỳ mà đoàn quân Mông Cổ đã theo con đường Tơ Lụa trong cuộc viễn chinh ở thế kỷ XIII. Như vậy, lời ngâm "sa mạc" chỉ là lối phân loại trong ngôn ngữ ở Bắc, cũng như điệu "Bồng mạc", tức lối "lẩy Kiều", cộng với hai lối ngắm khác là Ru Hát và Ru Nói. Như vậy, tôi xin thưa theo kiến thức thường tình-- như một người không rành âm nhạc cổ truyền VN -- là điệu sa mạc không có ảnh hưởng Ả Rập. Nhạc là một ngôn ngữ đại đồng. Có khi tôi nghe người Hung Gia Lợi, Basques, Lapons, hay Celtiques thối kèn tù và thì tôi tưởng giống nhạc trỗi lên trong đám tang cha tôi ở miền Nam Trung Việt thuở nào».

Nhà thơ Đỗ Bình góp ý:

«Trong Tự Điển Hán Việt định nghĩa từ Sa Mạc mà qúy bác và anh chị đã biết, riêng Tự Điển Việt Nam còn ghi thêm: Làn điệu Sa Mạc. Theo như tôi biết, muốn ngâm theo điệu Sa mạc phải theo luật. Tất cả chữ cuối của câu thơ bằng dấu huyền thì phải ngâm ở nốt Do. Còn chữ cuối của câu thơ bằng không dấu thì ngâm ở nốt Mi trung( tierce neutre), có nghĩa là quãng ba ở chính giữa hai quãng ba thứ (tierce mineure) và quãng ba trưởng (tierce majeure
Ở Paris mấy chục năm về trước những nghệ sĩ ngâm thơ rất hiếm, nhất làn làn điệu Ca Trù, Ngâm Sa Mạc.
Về ngâm Ca Trù chỉ có GS TS Trần Văn Khê, GS nghệ sĩ Bích Thuận, nghệ sĩ Diệu Khánh. Còn ngâm Sa Mạc Khá nhiều : GS Trần văn Khê, KS Đặng Trần Vận, GS Bích Thuận,Nghệ Sĩ Diệu Khánh, điêu khắc gia Anh Trần, Nghệ Sĩ Linh Chi, Ca sĩ Mỹ Hòa, Nhà thơ Thụy Khanh, Nghệ Sĩ Thúy Hằng, Nghệ Sĩ Thụy Hương, GS Phương Oanh, GS Trần Quang Hải, Nhà thơ Đỗ Bình, Nghệ sĩ Ngân Đoài. Những nghệ sĩ đến Paris sau :, GS Quỳnh Hạnh ,GS Nguyễn Thanh Vân.).»

TS Võ Hùng Anh phát biểu:

«Tôi xin góp thêm chi tiết về Làn Điệu Sa Mạc. Trong cuốn Hồi Ký của GS Trần Văn Khê có ghi về Làn điệu sa mạc, tôi xin kể trích đoạn » :
Trong cuốn Hồi Ký Trần Văn Khê, tôi xin trích đoạn kể:
« Điệu sa mạc của Việt Nam gần với điệu Sêgah của Ba Tư và Sikah của Á Rập. Lần bắt đầu nghiên cứu nhạc Ba Tư trên thực địa tôi mang theo cây đờn tranh và đã xin gặp ông Hormozi, một nghệ nhân chuyên đàn sêtar, loại đàn nhỏ bốn dây của Ba Tư. Tôi đờn cho ông ấy nghe, khi đàn sang hơi Sa mạc, ông ngạc nhiên nhận xét: «Hơi này tôi nghe giống điệu Sêgah của chúng tôi quá! » Sau đó ông lấy đàn ra biểu diễn điệu Sêgah. Ðàn xong ông hỏi:
- «Anh có thấy hai điệu giống nhau không? »

- Tôi trả lời: Đúng, đặc biệt trong đoạn kết có chỗ giống nhau là cùng có một quãng ba trung bình giữa thứ và trưởng mà chữ kết nhấn vào bực trên của quãng ba đó.

Ông nói :
- Phải rồi, trong truyền thống nhạc Ba Tư chúng tôi gọi là quãng ba Zalzal, vì từ thế kỷ thứ 8 Zalzal là người dùng quãng ba đó trước nhứt. Vì vậy khi nghe Sa mạc tôi xúc động quá vì trong đó có nhiều quãng ba Zalzal mà trong nhạc Ba Tư vẫn được dùng để diễn tả nỗi day dứt, mong chờ.»

BS Nguyễn Bá Hậu phát biểu:

« Nghệ thuật thì vô tận, còn Văn chương Việt Nam có nhiều tam sao thất bản nói ra hàng ngày không hết cho nên hôm nay tôi chỉ chú trọng đề cập đến vài ba khía cạnh sau đây:Tam sao thất bản trong tục ngữ ca dao, loại văn chương này được phổ biến bằng lời truyền tụng cho nhau, nhất là dưới hình thức ca hát làm cho dân chúng quá say mê về điệu hát nên ít để ý đến ý nghĩa của lời ca. Vì thế mà có sự nhớ sai một vài danh từ nên ý nghĩa vô tình bị thay đổi:

Về ca dao bài người đi cấy:
«Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.
Trông trời trông đất trông mây,
Trông mưa trông gió trông ngày trông đêm.
Trông cho chân cứng đá mềm,
Trời trong biển lặng mới yên tấm lòng.»

Bài này được in ở trong sách giáo khoa Việt Nam Văn Học Sử Yếu, quyển một của Dương Quảng Hàm.

Về vần điệu cước vận ở câu hai (bề) không vần với cước vận của câu ba (mây). Sự lạc vận này làm mất giá trị nhạc tính của bài thơ. Ta có thể dùng danh từ (bầy) thay thế cho chữ (bề) vì ở nước ta cũng có nơi gọi bề tôi là bầy tôi cho nên tác giả bài thơ này có thể là người địa phương dùng danh từ bầy tôi.
Về ý nghĩa chân cứng đá mềm không biết ý tác giả nói về người đi cấy hay là cây lúa. Nói về cây lúa có lẽ đúng hơn, thân cây lúa có cứng có mạnh thì mới mang được phần trên là lá lúa mà cây lúa có tươi đẹp thì lá mới mềm, nếu thân cây lúa yếu thì lá sẽ rủ xuống đi đến thối nát.

Nhà biên khảo Nguyễn Đức Tăng phát biểu:

« Theo tôi chữ Bề và Bầy trong bài ca dao Người Cây Lúa ý nghĩa khác nhau: Bề: khoảng cách giữa hai mặt đối nhau của một hình.Thí dụ : Bề mặt, Bề dầy. Còn có ý nghĩa khc diễn tả khía cạnh phương diện của sự vật. Người ta thường bảo: Khổ cực trăm bề. Bốn bề lạnh ngắt. Trong khi đó Bầy : có nghĩa là đám đông động vật cùng loài sống với nhau. Thí dụ: Bầy Chim, bầy gia súc. Từ Bầy khi nói về Người chỉ đám đông, đôi khi hàm ý khinh bỉ: Thí dụ :Một bầy tham nhũng. Từ Bầy tôi và Bề tôi đồng nghĩa: Chỉ người ở cương vị thấp, làm tôi thời quân chủ.
Còn hai cữ Sa mạc thì tôi hiểu theo nghĩa là làn điệu ca du dương, êm đềm, lời theo thể Lục Bát, như ca Huế có điệu Nam Ai, Nam Bình..và trong kinh của Cao Đài giáo thường tụng theo giọng điệu Nam Xuân, Nam Ai,hay Đảo ngũ cung.»

Nhà thơ nữ Từ Thạch góp ý:

« Tôi xin góp ý: Tư tưởng trong bài nầy là nói lên ý chí của con người. Bài ca dao có hai nhân vật: Người Ta và Tôi. ‘Tôi’ trong bài là chủ điền có ruộng nên phải chú tâm đến việc này qua nhiều khía cạnh để đem tới sự thành công.

Câu:«Trông...Trông… » dùng điệp ngữ chín lần để chỉ sự kiên nhẫn nhưng vẫn phải cảnh giác trong mọi trường hợp của thời tiết. Bài Câu Chân cứng đá mềm: nói lên nghị lực. Bài Ca dao gồm nhiều hình ảnh trong đó có: trời đất, con người (người cấy lúa), đá(núi), gió, mây, mưa. Cảnh, vật và người hòa nhau nhịp nhàng thành một bức tranh sơn thủy linh động. Bài Ca dao như một lời nhắc nhở, muốn nung đúc cho mọi người Việt Nam phải có lòng tin ở chính mình, cố gắng sẽ nên việc.»

GSTS Trần Văn Cảnh góp ý »:

« Tiếp lời Bs Nguyễn Bá Hậu liên quan đến vấn đề « Tam sao thất bản trong tục ngữ ca dao », tôi xin góp vài ý tưởng vừa nhìn thấy. Tôi đồng ý với Bs Nguyễn Bá Hậu rằng « Về vần điệu cước vận ở câu hai (bề) không vần với cước vận của câu ba (mây) ». Nhưng bảo rằng « Sự lạc vận này làm mất giá trị nhạc tính của bài thơ. Ta có thể dùng danh từ (bầy) thay thế cho chữ (bề) vì ở nước ta cũng có nơi gọi bề tôi là bầy tôi », thì tôi e rằng Bs Hậu hơi quá khắt khe và vội vã ; Vì rằng, theo mạch văn, thì dường như chữ « bề » đã được tác giả ý thức và chủ ý chọn dùng, dẫu lạc vận, để tạo một hòa âm nghịch, làm đổi nhạc điệu, làm tăng nhạc tính và thu hút người nghe và người đọc hơn. Chữ Bề là một chữ thuần túy việt nam. Chữ Bề có nhiều nghĩa, như chiều hướng, chiều kích, như bề cao, bề sâu, bề dài, bề rộng, .. thứ bậc, như bề trên, bề ngang, bề dưới,..

Trong bài ca dao này, chữ Bề có ý nghĩa là khía cạnh, lãnh vực, như câu Kiều « So bề tài sắc lại là phần hơn », hay câu Kiều khác « Công tư vẹn cả hai bề ».

Ngoài ra, cũng trong bài ca dao này, với « chữ trông » vừa có nghĩa « trông thấy », vừa có nghĩa « trông mong », chữ « nhiều bề » trong câu « tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề » còn có một ý nghĩa hành văn, giới thiệu những chiều hướng, những khía cạnh, những lãnh vực nhận thức trông thấy được, từ khung cảnh trời đất, qua những biến cố mây mưa gió, đến các sự kiện thời gian ngày đêm ; và những chiều hướng ý chí hành động đạt được, từ ước nguyện tin tưởng đến quyết chí rèn « cho chân mềm thành cứng », và biến « đá cứng thành mềm ».

Nếu vì hình thức máy móc muốn tránh lạc vận mà lấy chữ « bầy », (theo ý nghĩa « bầy tôi ») thay vào, thì ý nghĩa của bài ca dao chẳng những thành lủng củng, mà thâm chí còn sai lạc. Trong ba yếu tố mỹ học của thơ, hai yếu tố chữ và vận là quan trọng. Nhưng yếu tố ý là quan trọng hơn cả.

BS Nguyễn Bá Hậu:

« Về khía cạnh thơ đường luật thất ngôn bát cú ta lấy mẫu bài thơ Làm Lẽ của Hồ Xuân Hương in trong tập thơ của nhà biên khảo Phạm Trọng Chánh:

« Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Năm khi mười họa nên chăng chớ
Một tháng đôi lần có cũng không.
Muốn đấm ăn xôi, xôi lại hỏng,
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Thân này nếu biết đường này nhỉ,
Thà trước thôi đành ở vậy xong. »

Bài thứ nhì khóc ông phủ Vĩnh Tường của Hồ Xuân Hương:

«Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ơi
Cái nợ ba sinh đã trả rồi.
Chôn chặt văn chương ba thước đất,
Tung hê hồ thỉ bốn phương trời.
Hạt sương dưới chiếu chau mày khóc,
Giọt máu trên tay mỉm miệng cười.
Hăm bảy tháng trời là mấy chốc
Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ơi.»

Về ý nghĩa bài thơ chính của tác giả là than khóc nhớ thương vị hôn phu lại bị thay thế ở hai câu năm sáu bằng hai câu thơ sau đây:

« Cán cân tạo hóa rơi đâu mất,
Miệng túi càn khôn khép lại rồi.»

Với hai câu thơ này ý nghĩa trang trọng không còn nữa. Vả lại theo ông Phạm Trọng Chánh thời Hồ Xuân Hương làm bài thơ này ta chưa có cái cân có cán.

Về khía cạnh thơ lục bát số câu thơ tam sao thất bản quá nhiều nên tôi chỉ xét đến hai câu thơ sau đây của Nguyễn Du trong truyện Kim Vân Kiều mới được người ta cố ý thay đổi:

«Trời còn để có hôm nay
Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời »

Chữ trời ở đầu câu được đổi bằng chữ đời làm cho ý nghĩa câu thơ của Nguyễn Du bị sai hẳn vì Nguyễn Du trong truyện Kiều là một nhà thơ duy linh tin có đạo trời. Nếu đem chữ đời vào câu thơ thì người ta cố ý biến Nguyễn Du thành nhà thơ duy vật chủ nghĩa. Thiết tưởng nếu Nguyễn Du sống lại mà thấy hai câu thơ này thì cụ sẽ tự than vãn cho số mình chẳng cần phải đợi “tam bách dư niên hậu” nữa và dân chúng Việt Nam sau này sẽ đổi câu ca dao Lạy đời mưa xuống lấy nước tôi uống… Đời sinh đời dưỡng. Nhà thơ Nguyễn Bính cũng vậy trong bài Tương Tư ông viết:

Gió mưa là bệnh của Trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Nay nếu người ta cũng đổi chữ trời ra chữ đời thì hai câu thơ đó sẽ đọc như sau:

Gió mưa là bệnh của đời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Chắc nhà thơ Nguyễn Bính sẽ an ủi Nguyễn Du vì ở trong cùng một hoàn cảnh. »

Nhà thơ Nhất Uyên TS Phạm Trọng Chánh kể

Cuộc Tình Nguyễn Du Hồ Xuân Hương:
«…Sau khi GS Hoàng Xuân Hãn mất năm 1996, tôi đã dựa theo văn bản ông Bùi Hạnh Cẩn là người được ông Trần Thanh Mại giao chép Lưu Hương Ký thành 5 bản, ông đã chép một bản cho mình, chỉ sót một bài, tôi đã tiếp nối công trình còn dang dở của Gs Hoàng Xuân Hãn.

Trong Lưu Hương Ký có bài thơ Hồ Xuân Hương tặng Cần Chánh Học Sĩ Nguyễn Hầu, hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân. Bài thơ cho biết : Chữ tình chốc đã ba năm vẹn. Hai người yêu nhau trong ba năm, đó là thời gian từ năm 1790 đến 1793, sau khi Nguyễn Du thành nhà sư Chí Hiên đi giang hồ ở Trung Quốc về sống với anh Nguyễn Nể đang làm quan nhà Tây Sơn tại Thăng Long, nhưng Nguyễn Du lại thường ở nơi Gác Tía, nơi nhà câu cá cũ của anh Nguyễn Khản cạnh đền Khán Xuân và Cổ Nguyệt Đường.gần đình làng Nghi Tàm ngày nay. Hai người hàng xóm yêu nhau thường cùng đi hái sen với nhau. Năm 1793 sau khi vua Quang Trung mất, Nguyễn Nể được cử vào dạy học cho vua Cảnh Thịnh mới lên mười. Nguyễn Du và em là Nguyễn Ức được anh giao phó trọng trách về xây dựng lại từ đường và làng Tiên Điền bị phá hủy năm 1790 sau cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh. 

Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du có tiễn đưa nhau tại đình đá sông Vị Hoàng, làm thơ đối đáp nhau trong thời gian này. Năm 1796, Nguyễn Du toan tính vượt biên vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh đã đánh tới thành Diên Khánh, Nha Trang, Nguyễn Du toan vượt biên vào Nam thì bị trấn thủ Nguyễn Văn Thận bắt giam 3 tháng, ra tù Nguyễn Du trốn ra Thăng Long. đến Hồ Tây thì hay tin Hồ Xuân Hương bị mẹ gả cho Thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm, Nguyễn Du viết hai bài thơ ký tên Chí Hiên oán trách nàng tệ bạc. Năm đó Nguyễn Nể đi sứ về, mai mối cùng Đoàn Nguyễn Tuấn cưới cô em gái út Đoàn Nguyễn Thị Huệ cho Nguyễn Du. Nguyễn Du về Quỳnh Hải dạy học cho đến khi vua Gia Long lên ngôi đem quân ra Bắc truy đuổi vua Cảnh Thịnh. Nguyễn Du chiêu tập học trò, đem bò ngựa lương thực ra tiếp rước vua Gia Long, gặp tại huyện Phù Dung trấn Sơn Nam, vua phong ngay làm Tri huyện nơi này, sự kiện giống như Phi Tử thời Chiến Quốc dâng ngựa cho vua Chu Hiếu Vương được phong chức Phụ Dung, nên Nguyễn Du có danh hiệu là Phi Tử, Nguyễn Hành bài Đi Săn có nhắc danh hiệu này.

Năm 1804 Nguyễn Du làm tri phủ Thường Tín, vợ mất, ông tìm về Cổ Nguyệt Đường gần đó mong nối lại duyên xưa, thi Hồ Xuân Hương đang làm lẽ Tổng Cóc Nguyễn Công Hòa, nàng đau ốm như nàng Tiểu Thành, xót thương Nguyễn Du viết bài Độc Tiểu Thanh Ký gửi nàng. Hai chữ Tố Như hiểu là Nguyễn Du là vô nghĩa, vì 6 câu đầu viết về nàng Tiểu Thanh, tự nhiên hai câu cuối tự hỏi ai khóc mình là lạc đề, vô nghĩa, nếu Nguyễn Du muốn ai khóc mình thì sẽ nói : Ngàn năm sau ai nhắc đến ta ? : Bách Tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp tố như. Tra tự điển Thiều Chửu : tố là tơ trắng là người ( phụ nữ) phẩm hạnh cao quý, như là như thế như vậy. Hiểu : Không biết rồi đây ba trăm năm nữa , Ai khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh thì hoàn toàn phù hợp với ý sáu câu đầu bài thơ. Hai chữ Tố Như chỉ xuất hiện duy nhất trên bài Độc Tiểu Thanh Ký, do đó tôi cho rằng con cháu đời sau khi viết gia phả không hiểu mối tình Nguyễn Du Hồ Xuân Hương nên đoán bừa Tố Như là bút hiệu. Các người được thuê chép văn bản cho Trường Viễn Đông Bác Cổ chỗ nào nghi là Nguyễn Du cứ chép vào hai chữ Tố Như. Ví dụ thơ viết cho anh Nguyễn Du đề Ức Gia Huynh, viết cho em Ngô Gia Đệ cựu ca cơ. Thơ Nguyễn Nể viết cho em lại đề Hoài Thanh Hiên Tố Như Đệ, không ai viết cùng một lúc hai danh hiệu. Hồ Xuân Hương sau khi nhận được bài Độc Tiểu Thanh ký đã bỏ Tổng Cóc trở về làng Nghi Tàm, nàng có viết bài Chơi Tây Hồ Nhớ Bạn trả lời bài Độc Tiểu Thanh Ký.

Năm 1813 Nguyễn Du làm Chánh Sứ đi sứ sang nhà Thanh, Hồ Xuân Hương gửi thơ mừng và ra đón tại Thạch Đình sông Vị Hoàng nơi tiễn biệt ngày xưa, nhưng chàng đường đường là vị quan Chánh Sứ, muôn cặp mắt trông vào, nàng chỉ dám nhìn từ xa, Hồ Xuân Hương viết hai bài thơ Mừng gặp bạn trên sông Hoàng Giang, và Hoài Cựu chép trong Lưu Hương Ký.

Thơ truyền khẩu Hồ Xuân Hương chép theo văn bản Antony Landes, Giám Đốc Trường Thông Ngôn, trước khi có Trường Viễn Đông Bác Cổ năm 1892 ông thuê Lê Quý và Nguyễn Văn Đại chép thơ Hồ Xuân Hương. Hai ông này có đến làng Nghi Tàm gặp hai người con trai Tử Minh là người « không ruột nhưng mà thương quá ruột » nên chép được ba bài thơ Khóc Tử Minh của Hồ Xuân Hương. và toàn bộ các bài thơ truyền khẩu của Hồ Xuân Hương, các người con Tử Minh lúc này khoảng 70 tuổi. So văn bản này với các bài thơ Truyền Khẩu về sau tôi chú ý có nhiều chữ thay đổi ví dụ :

Trong bài Khóc ông Phủ Vĩnh Tường ( chức cũ của Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển) chồng Hồ Xuân Hương bị tử hình bị phe Lê Văn Duyệt, Lê Chất, Án Thủ Dung vu cáo nhận hối lộ 700 quan tiền vì ép dân trở lại cày ruộng thay vì làm nghề biển. Cùng thời gian sự kiện này là Trung Quân chỉ huy toàn quân đội nhà Nguyễn, Nguyễn Văn Thành phải tự tử, con là Nguyễn Văn Thuyên bị án chém. Binh Bộ Thượng Thư Đặng Trần Thường bị xử thắt cổ, Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán tự tử. Hai câu : ‘ Cán cân tạo hóa rơi đâu mất. Miệng túi càn khôn thắt lại rồi.’Cán cân là hình ảnh nữ thần Công lý cầm cán cân trước các toà án thời Pháp thuộc, thời Hồ Xuân Hương dùng chữ : đồng cân, ‘ mượn tay thi tướng nhắc đồng cân. HXH. ‘ ‘âm công nhắc một đồng cân cũng vừa ;’ ND.

Hai câu nguyên tác trong bản Landes: ‘Hạt sương dưới chiếu chau mày khóc, Giọt máu trên tay mỉm miệng cười’. Khi chồng bị tử hình, Hồ Xuân Hương ôm thây chồng khóc cười điên dại.
Điều oan nghiệt người thi hành bản án tử hình là quan Tào Binh Bắc Thành Trần Quang Tỉnh, trước là Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ, từng là người đã yêu và làm thơ xướng họa với Hồ Xuân Hương. Khi chồng bị bắt Hồ Xuân Hương có đến cầu cứu ông, ông lánh mặt và sai lính đuổi nàng đi. Hồ Xuân Hương cay đắng viết trong bài Bán Chầm thư hoài, (Nỗi niềm gối lẻ)

‘Ngâm khách thế thần đâu sắc tướng, Tình ma không sức đuổi sầu binh’. Đem chữ sắc tướng nhà Phật, sắc tức thị không, không tức thị sắc, đối với chữ sầu binh tài nghệ đối đáp Hồ Xuân Hương thật là tuyệt vời. »


Ngoài trời những chiếc lá vàng rơi trong nắng thu rất đẹp. Trong phòng hội nững mái đầu bạc đang đắm hồn vào thảo luận. Không khí buổi hội thảo thật hào hứng và sôi nổi vì nhiều ý kiến khc nhau. Cuộc tranh luận lan qua vấn đề tâm linh, triết học rồi quay trở lại phần nghệ thuật.

Trong dòng lịch sử tân nhạc Việt Nam đã gần thế kỷ khởi từ những nhạc sĩ đầu tiên như Nguyễn Văn Tuyên (Kiếp Hoa, Bông Cúc Vàng), Nguyễn Xuân Khoát(Bình Minh, phổ thơ Thế Lữ), Lê Yên (Bẽ Bàng,Nghệ Sĩ Hành Khúc, Ngựa Phi Đường Xa), Thẩm Oánh (Khúc Yêu Đương, Đôi Oanh Vàng, Xuân Về), Nguyễn Thiện Tơ (Giáo Đường In Bóng, Trên ường Về, Nhắn Gió Chiều), Dương Thiệu Tước (Vầng Trăng Sáng, Áng Mây Chiều, Ngọc Lan, Tiếng Xưa, Đêm Tàn Bến Ngự …), Lê Thương (Bản Đàn Xuân, Hòn Vọng Phu 1,2,3, Tiếng Thu, phổ thơ Lưu Trọng Lư), Văn Chung (Bóng Ai Qua Thềm), Doãn Mẫn (Biệt Ly, Gío Xa Khơi, Hương Cố Nhân),Đan Trường (Trách Người Đi),Văn Cao (Thu Cô Liêu, Buồn Tàn Thu, Thiên Thai, Trương Chi, Suối Mơ), Hoàng Qúy (Cô Láng Giềng, Chiều Quê), Nguyễn Đình Phúc (Lời Người Lãng Tử, Cô Lái Đò, phổ thơ Nguyễn Bính), Tử Phác (Tiếng Hát Quay Tơ),Lương Ngọc Châu &Tử Phác (Tiếng Hát Lênh Đênh), Phan Huỳnh Điểu (Tràu Cau), Đặng Thế Phong(Đêm Thu, Con Thuyền Không Bến, Giọt Mưa Thu), Nguyễn Văn Thương (Đêm Đông, Bướm Hoa), Hoàng Giác (Lỡ Cung Đàn, Khúc Hát Thương Binh), Trần Hoàn (Sơn Nữ Ca), Tô Hải (Nụ Cười Sơn Cước), Việt Lang (Tình quê hương), Nguyễn Mỹ Ca (Dạ Khúc), Phạm Duy (Cô Hái Mơ, phổ thơ Nguyễn Bính, Cây Đàn Bỏ Quên, Chinh Phụ Ca),Tô Vũ (Anh Đến Thăm Em Một Chiều Mưa, Tạ Từ), Nguyễn Văn Tý (Dư Âm), Nguyễn Văn Khánh (Nỗi Lòng), Hoàng Trọng (Đêm Trăng, Một Thuở Yêu Đàn, Chiều Tha Hương, Dừng Bước Giang Hồ), Nguyễn Hiền (Người Em Nhỏ, phổ thơ Thiệu Giang, Anh Cho Em Mùa Xuân, phổ thơ Kim Tuấn, Ngàn năm mây bay), Thông Đạt (Ai Về Sông Tương), Tu My (Tan Tác), Anh Việt ( Bến Cũ), Lê Mông Nguyên (Trăng Mờ Bên Suối, Quê Tôi, Bài Thơ Huế), Lê Trạch Lựu (Em Tôi), Đoàn Chuẩn &Từ Linh (Ánh Trăng Mùa Thu, Lá Thư, Tà Áo Tím, Thu Quyến Rũ, Chuyển Bến, Lá Đổ Muôn Chiều),...vv…

Dòng nhạc tiền chiến với những giai điệu mang tính lãng mạn trữ tình ảnh hưởng của dòng nhạc bán cổ điển Tây Phương, nhất là nhạc Pháp do các danh ca, trong đó có danh ca: Josephine Becker, Tino Rossi với những giai điệu trữ tình Foxtrott, Valse,Tango:C’est À Capri (1934), Il Pleut Sur La Route (1935), Marinella (1936) thể điệu rộn rã vui tươi, J'attendrai(1937), Ave Maria (1938) giai điệu dìu dặt khoan thai, Ecis Moi (1945), J’ai deux Amours, Mon Pays et Paris …Thời đó có một số ít nhạc sĩ đã từng học nhạc Tây Phương nên đã đem những dòng nhạc ấy vào hòa với dòng Dân Nhạc của Việt Nam thành cổ kim hòa điệu. Tính chất nhạc Việt Nam dựa trên nền âm giai ngũ cung chỉ có 5 nốt, lấy chất liệu từ các thể điệu dân ca như Ca Dao, Hát Nói, Hát Quan Họ… trong khi nhạc Tây Phương âm giai 7 nốt lại giàu giai điệu, do đó càng về sau, hướng sáng tác ca khúc càng chịu nhiều ảnh hưởng dòng nhạc Tây Phương.
Tiếp theo Nhạc Sĩ Minh Nhật đàn và hát một số ca khúc tiền chiến của nhạc sĩ Phạm Đại. Tuy lớn tuổi nhưng chất giọng của ông vẫn truyền cảm đã lôi cuốn người nghe khiến không khí khán phòng trở nên lãng mạn của một chiều thu Paris.

BS Nguyễn Bá Linh hỏi:
« Xin Nhà nghiên cứu Phật giáo & Nhạc sĩ Minh Nhật cho biết thời gian trước năm 1945 gia đình anh sinh hoạt văn nghệ như thế nào ? »

Minh Nhật:
«Trong khoảng 1930 đến 1944 tại Hà Nội là thời gian phát triển âm nhạc nghệ thuật, các bộ môn đó đều ảnh hưởng văn hóa và nếp sống Phương Tây từ những mốt quần áo cho đến những kiểu tóc đều rập khuôn những tài tử điện ảnh ca nhạc sĩ Âu Mỹ điển hình như Tino Rossi, Ediff Piaf, Rina Ketty, Rosita Serrano, Charles Trenet, Victor Marthur,... đồng thời những bài ca Pháp được phổ biến khắp nơi. Thời đó hai anh trai đầu và chị lớn của Minh Nhật là Phạm Thọ, Phạm Đại và chị Kim Nga tham gia vào hoạt động âm nhạc rất sớm nên gia đình vào những buổi chiều cuối tuần thường có các nhạc sĩ, ca sĩ, văn sĩ, đến tham gia rất đông và rất vui như: Văn Cao, Thẩm Oánh, Phạm Duy, William Chấn, Nguyễn Văn Khánh, Đặng Thế Phong, Dương Thiệu Tước, Hoàng Trọng, Hoàng Giác, vv... »

BS Nguyễn Bá Linh hỏi tiếp:

« Anh có thể cho biết sinh hoạt và những sáng tác của nhạc sĩ Phạm Đại »:

Nhạc sĩ Minh Nhật:

« Năm 1946 Hà Nội tác chiến tất cả dân chúng phải rời bỏ Thủ Đô di tản ra các tỉnh miền Trung Du Bắc Việt, hai anh lớn và chị Kim Nga theo kháng chiến chống Pháp, từ đó vào Liên Khu 3 thành lập ban văn nghệ Trung Đoàn Thủ Đô, do đó có những sáng tác kháng chiến ra đời như bài " Năm Xưa, Quê Hương người chiến sĩ, Một năm qua, Chàng về ngày chiến thắng,..."cộng với những tác phẩm của các nhạc sĩ khác như: "Thu chiến trường, Nợ xương máu, Nhớ thương binh, Mùa đông chiến sĩ, Tiếng hát sông Lô, Uất hận, Lời người ra đi,..." nói lên hình ảnh tàn phá của quê hương trong chiến tranh, gợi lên lòng ái quốc trước sự tàn ác của thực dân, kêu gọi thanh niên tham gia kháng chiến, ca ngợi chiến thắng cũng như sự gian khổ của kháng chiến...Cuối năm 1949 nhạc sĩ Phạm Đại vào một đêm mưa gió đã đem ban văn nghệ bỏ về Thành. Sau đó anh hoạt động cho đài phát thanh Hà Nội và mở lớp dạy đàn guitare, hạ uy cầm, saxophone, ca nhạc và sáng tác cùng với các anh Lâm Tuyền, Hùng Lân,... Trong thời gian này biết bao nhiêu tuyệt phẩm đã được sáng tác qua các nhạc sĩ nổi tiếng như Dương Thiệu Tước, Nguyễn Văn Khánh, Phạm Duy, Thẩm Oánh, Hoàng Trọng, Hoàng Giác, Tô Vũ, Nguyễn Thiện Tơ, Đoàn Chuẩn, Từ Linh, Nhật Bằng, Ngọc Bích, Châu Kỳ, vv… Năm 1953 anh Phạm Đại thành lập ban văn nghệ Vì Dân cho ngành cảnh sát công an đến tháng 7 năm 1954 thì di cư vào miền Nam (Sài Gòn) tiếp tục điều hành ban văn nghệ này. Một số các nhạc sĩ do anh Phạm Đại đào tạo trong đó có Hoàng Dương, Vũ Huyến, Hoài Thanh, Trần Thiện Thanh, Nguyễn Văn Đông, Thanh Sơn, vv... Còn chị Kim Nga khi vào miền Nam hoạt động cho đài phát thanh Pháp Á, đài Quân Đội, cho các ban: Hoàng Trọng, Văn Phụng, Trần Văn Trạch, Nghiêm Phú Phi, Lê Thương,... và phòng trà Văn Cảnh đến cuối năm 1956 thì chị nghỉ hát vì lập gia định. »

Ca sĩ Opéra Đỗ Quyên:

« Những nữ ca sĩ đi hát cùng Chị Kim Nga thuở đó là ai ? »

Minh Nhật:
«Chị Kim Nga thì cùng các ca sĩ Minh Đỗ, Tâm Vấn, Thanh Hằng, Thanh Hiếu,... đều tham dự trình bày cho đài phát thanh Hà Nội và các ban nhạc tại các rạp hát trong những chương trình đại hội ca nhac. Khi vào miền Nam chị Kim Nga hát cho đài phát thanh Pháp Á, đài Quân Đội, cho các ban: Hoàng Trọng, Văn Phụng, Trần Văn Trạch, Nghiêm Phú Phi, Lê Thương,... và phòng trà Văn Cảnh đến cuối năm 1956 thì chị nghỉ hát vì lập gia định. »

Đỗ Bình:
«Cách nay gần 30 năm ở Paris tôi có dịp đệm đàn cho chị Kim Nga hát bài Hướng Về Hà Nội của nhạc sĩ Hoàng Dương, chị ấy rất xúc động khi hát nhạc phẩm này.»

Minh Nhật:
« Riêng Đỗ Bình là chị Kim Nga qúy nên bằng lòng hát vì thuần túy về văn học nghệ thuật, không thương mại, chứ anh Phạm Duy qua đã nhờ chị ấy hát nhưng chị từ chối!»

BS Nguyễn Bá Linh:
«Anh Minh Nhật có thể cho biết sự quan hệ giữa chị Kim Nga và nhạc sĩ Hoàng Dương ?»

Minh Nhật:
« Riêng anh Hoàng Dương và chị Kim Nga đều là bạn học từ thuở thiếu thời -sau đó từ năm 1947 cùng tham gia vào hoạt động kháng chiến cho Trung Đoàn Văn Nghệ Thủ Đô đo anh Phạm Đại phụ trách cho đến năm 1949 cùng bỏ về Thành ( Hà Nội ) và cùng nhau cộng tác cho Đài Phát Thanh cũng như những buổi trình diễn - do đó tình cảm của hai người càng gắn bó .Đến tháng 7 / 1954 thi đại uý Đặng Văn Quang ( sau này là Trung Tướng )và anh Phạm Thọ ( trung úy )bất chợt đã đem quân xa về đón gấp gia đình chúng tôi rời Hà Nội đến cảng Hải Phòng để đi chuyến bằng tàu Saint Michel của Hải Quân Pháp vào Sài Gòn . Trước sự ra đi bất ngờ đó anh Hoàng Dương chỉ kịp gửi chị Kim Nga cây đàn guitare ,mấy tấm hình và một số bản nhạc do ánh sáng tác ( đã được trình diễn nhưng chưa xuất bản ) và hẹn rằng trễ nhất là đến tháng 12 / 1954 anh sẽ có mặt tại Sài Gòn để đoàn tụ nhưng lời hẹn ước đó đã không xảy ra (vì anh đã bị giữ lại?).Vào dịp Tết 1955 anh Lê Mộng Bảo ghé thăm anh Phạm Đại- thì chị Kim Nga có đưa anh xem xấp nhạc của anh Hoàng Duong - sau đó anh chấp nhận cho Nhà Xuất Bản Tinh Hoa in ấn và phổ biến trên đài Phát Thanh Pháp Á gồm 3 bài :Hướng Về Hà Nội , Tiếc Thu và Luyến Thương »

Đề tài thảo luận thì rộng lớn, một ngày cho hội thảo không đủ. Tất cả những người tham dự hẹn lần tới sẽ bàn tiếp. Buổi sinh hoạt chấm dứt lúc 18h00.

Paris Chiều Thu.
Đỗ Bình

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2026

Về Thăm Mộ Chàng --Thơ: Tâm Tiễn - Phổ Nhạc: Liên Bình Định - Hòa Âm: Quang Đạt - Tiếng Hát: Diệu Hiền

Thơ: Tâm Tiễn
Phổ Nhạc: Liên Bình Định
Hòa Âm: Quang Đạt
Tiếng Hát: Diệu Hiền

Thu Sớm



Em hỡi! Mùa thu đã đến chưa?
Có nghe se lạnh gió chuyển mùa?
Có nghe thoang thoảng thơm cốm mới?
Có thấy nhà bên rúc rích cười?

Em nhỉ. Mùa thu đến thật rồi
Sương chiều bảng lảng rắc muôn nơi
Diều ai dìu dặt chòng chành nắng
Vắt vẻo em cười. Ơ ... đã thu.

Làng Đá, Hưng Yên 18.09.2015
Đặng Xuân Xuyến
 

Giấc Mộng Mùa Thu

 

( Tặng Lan Trương& Noah Nguyễn.)

Em không là cả rừng cây mùa Thu
Nhưng tình em là mùa Thu bát ngát
Chỉ một chiếc lá vàng rơi e ấp
Trên vai anh là em đấy. Được không?

Anh sẽ nhặt chiếc lá ấy bâng khuâng
Giữ trong tay tình em làm kỷ niệm
Giữa hàng triệu lá vàng không đếm được
Tình của em đáp số cũng vô bờ.

Em không là cả bầu trời mộng mơ
Chỉ là áng mây chiều Thu hoang tím
Vài phút giây làm lòng anh cảm mến
Mây chiều Thu sẽ đẹp đến cuối ngày.

Anh không thể giữ mây trong bàn tay
Anh không thể bảo mây đừng trôi nữa
Nhưng tình em vẫn chờ anh ở đó
Không là bầu trời tình vẫn bao la.

Em không là một cánh diều bay xa
Ai thả ước mơ trời cao đất rộng
Em chỉ muốn là cánh diều bay thấp
Trong tầm tay anh giấc mộng an lành.

Giấc mộng mùa Thu này sẽ huy hoàng
Lá đỏ lá vàng lá nâu khoác áo
Nhưng không anh lá sẽ buồn khô héo
Mùa Thu đìu hiu cho đến cuối mùa.

Nguyễn Thị Thanh Dương
( September 30, 2026)