Thứ Tư, 26 tháng 8, 2026

Thảo Kính Cha Mẹ "Song Ngữ" - Nhac: Alpha Linh - AI Phục Hồi

 Nhac: Alpha Linh - AI Phục Hồi 

Chín Chữ Cù Lao


 
Chín Chữ Cù Lao mãi nhớ hoài
Tình thương Phụ Mẫu khó mờ phai.
Sinh thành nghĩa trọng, thời dìu dắt
Dưỡng dục ân sâu, thuở mớm nhai.
Cha dạy trí khôn người hữu dụng
Mẹ truyền đức hạnh kẻ thành tài.
Song thân khuất núi đà siêu thoát
Hồng Trắng, con dâng trước vị bài.



Duy Anh
Vu Lan 27/8/2026


Trăng Thu Nhớ Mẹ

 

Tuần Phật Đản mẹ thân yêu ngã té
Bốn giờ liền lạnh lẽo dưới nền hoa
Lời thống thiết mẹ kêu gào cứu mạng
Đến tàn hơi thiên hạ chẳng ai qua !

Cửa then gài người ta không vào được
Hay bởi lòng người chẳng có từ tâm
Sợ tai họa làm ngơ không cứu giúp
Mang hình người mà ...tâm địa dã nhân...

Sáu hôm sau mẹ ly biệt cõi trần
Vào giờ Ngọ đúng ngày rằm Phật Đản
Mẹ ra đi chắc lòng không thanh thản
Bao thâm tình còn vương ở thế gian

Suốt một đời khổ cực mẹ đa mang
Cao niên kỷ ..mẹ võ vàng thân xác
Chẳng gấm lụa, chẳng xa hoa đài các
Ngày lẫn đêm một dạ nhất tâm tu

Kiếp con người ôi một kiếp phù du
Thân tằm nhả sợi...kén tơ cho đời !
Nuôi con khôn lớn nên người
Chữ hiếu con trả là vui tất lòng

Nhưng khi con trẻ thành thân
Mẹ còn đâu nữa.!. hiếu phần con lo !!!
Đêm nay, rằm Vu Lan con nhớ Mẹ
Bốn chục năm dài vắng bóng từ thân

Mùa Vu Lan, mùa báo hiếu hiền nhân

Mẹ yêu đã vĩnh biệt cõi trần ...còn đâu ???

nguyễn phan ngọc an
 Vu Lan 2025

Mẹ Ơi, Vĩnh Biệt



Mẹ ơi, con về không kịp
Giấc dài mẹ đã hôn mê
Đôi mắt thân yêu đã khép
Mẹ đâu hay biết con về!

Con đi đầu non, cuối bể
Mấy mươi năm, mẹ vẫn chờ
Giờ sao lạnh lùng quá thể
Gọi hoài, mẹ vẫn trơ trơ!

Mẹ ơi, lòng đau như cắt
Chuyến phà đêm chở xác về
Có một tinh cầu vừa tắt
Lạnh lùng sông chảy dòng khuya…

Sáng nay, người ta khâm liệm
Áo quan đóng nắp lại rồi
Từ đây muôn đời, vĩnh viễn
Đâu còn thấy nữa, Mẹ ơi!

Thân xác vùi trong lòng đất
Mẹ nằm giữa một đồi hoa
Mẹ ơi, mộ vừa mới lấp
Từ đây đất lạnh là nhà!

Từ đây tuyệt vô hy vọng
Quê hương mất dấu thiên đường
Mẹ mang theo niềm vui sống
Lấp cùng dưới đáy mồ chôn!

Mẹ ơi, xác thân yêu dấu
Vùi trong đất lạnh đời đời
Hồn con không nơi nương náu
Biết tìm đâu nữa, Mẹ ơi!

Lặng nhìn bàn thờ nghi ngút
Di ảnh mờ trong khói hương
Thấm nỗi đau buồn tang tóc
Còn gì mà tiếc, mà thương!

Mẹ ơi, tử sinh chia biệt
Một lần cho đến thiên thu
Nghĩa là muôn đời, muôn kiếp
Hết mong gặp Mẹ nhân từ!

Lãm Thúy
9/10/11


Thương Nhớ Song Thân

 

Thương Nhớ Song Thân

Mùa Vu Lan sắp đến
Mùa báo hiếu lại về
Thương Cha và nhớ Mẹ,
Ngày buồn dài lê thê.

Vu Lan con đến Chùa
Mang theo cả tình thương
Vào bên trong Chánh điện
Thắp những nén Tâm Hương

Nén Hương dâng Trời Phật
Một nén dâng Song Thân
Không ngăn được xúc động
Nước mắt chảy trong Tâm

Thêm một nén Tâm Hương
Dâng giọt lệ tình thương
Công Cha và Nghĩa Mẹ
Mãi.. mãi đầy yêu thương.


Hoàng Thục Uyên
Trích trong bài thơ:
Vu Lan Lệ Chan Hòa
***
Thơ Cảm Tác:
Sinh Thành Dưỡng Dục Nghìn Đời Nhớ Thương

Sinh thành dưỡng dục nghìn đời
Công ơn cha mẹ biển trời trăng sao
Không còn cha mẹ khổ đau
Ngày đêm cầu nguyện lệ trào nhớ thương...


MD.08/04/26
LuânTâm
Thân cảm tặng "Vu Lan Nhớ Cha Mẹ"
của TVS đa tài hoa thật quý Hoàng Thục Uyên


Tưởng Nhớ Cha(Yên Sơn) - In Memory Of My Father(Thanh Thanh)

 

(Thành kính dâng hương hồn Cha yêu quý)

Con lên phi cơ bay về vùng biển
Bỗng nhớ thương cha nước mắt tuôn tràn
Tháng Tư nào khi quốc biến gia tan
Con bỏ xứ lái tàu bay về biển

Con xa mẹ lìa cha vì cuộc chiến
Bao nhiêu năm sương gió dạn dày
Ðể đau thương tràn khắp một ngày
Con đâu biết đó là lần vĩnh biệt

Con nào biết! Cha ơi con nào biết
Cha soát từng giọt máu trở về tim
Bao nhiêu năm qua mòn mỏi trông tìm
Vẫn thấp thỏm “con đã đền nợ nước”

Cha ơi cha! Một ngày không quên được
Nhận hung tin cha lìa bỏ cõi đời
Con chết lịm trong lòng mà lệ không rơi
Con muốn khóc sao bật cười hoang dại

Mười tám năm sau không lần trở lại
Nợ quê hương chưa trả nổi đến bây giờ
Ðất khách quê người lạc lõng bơ vơ
Ngày tiếp nối ngày chỉ vì cơm áo

Cha ơi cha! Lòng con giông bão
Những lời cha khuyên bện lại thành vòng
Quấn chặt tim con, tỳ vết trong lòng
Ðể nhiều lúc bặm môi rướm máu

“Ðất nước điêu tàn làm trai phấn đấu
Cố trở nên người hữu dụng cho đời
Ngẩng cao đầu làm trai Việt con ơi
Gương đảm lược của tiền nhân còn đó”

Cha ơi cha con vẫn hằng trăn trở
Sống lưu vong nuôi hy vọng quay về
Nhưng năm qua tháng lại ê chề
Tóc đã bạc mà trùng dương vạn lý

Cây bật gốc một phần tư thế kỷ
Thân cây héo khô trồng ở xứ người
Có quê hương mà chẳng có một nơi
Không có lối cho con trở về trú ẩn

Con lên phi cơ bay về biển
Về Atlanta mà ngỡ xuống Vũng Tàu
Con bàng hoàng nén chặt cơn đau
Sợ bật khóc máu sẽ trào theo lệ thảm

Yên Sơn
***

In Memory Of My Father

(Reverently dedicated to my dear Dad's spirit)

Whilst boarding the aircraft to fly towards the ocean
I suddenly pitied my father, tears flowing out of emotion.
When that April national calamity forced me to flee
I left our country piloting my plane to the sea.

Parted from parents because of the bloodshed,
So many years in high wind and heavy rain overhead
And finally came flooded with distress one day
I did not know it was the last goodbye for ever to say!

Oh, dear Dad, how could I know, on your part
You wished each drop of blood to return to your heart.
So many years you had desperately inquired after me
Anxiously fearing a "killed in action" notice to see.

Oh, dear Dad! I shall never forget that bad day
I learned the sad news that you had passed away:
I became numb with grief, tears unable to stream;
I wanted to cry but burst into mad laugh and scream.

For eighteen years afterwards, I have not once returned
And have neither fulfilled citizen obligations so yearned.
In this foreign land how I feel an unsuitable location:
Days after days only to think of means of sustentation.

Oh, dear Dad! innermostly a tempest arises; it boils;
Your precious admonition has since spinned into coils
To tie tightly around my heart, imprint in my mind,
So that times I compress my lips blood to ooze to bind.

"The country is in ruins! To strive to be a worthy man
You must try to become useful through your life's span!
Hold your head up, my son! to be a Viet youth, an heir
To our ancestors' heroic examples that are still there!"

Oh, dear Dad! I have always pondered on my concern
About living in exile but nurturing the hope of return.
However days passed and months elapsed, shamefast,
My hair has turned grey but the ocean is still vast.

Like a tree for a quarter of a century uprooted already
Now replanted in a foreign region, how hard to steady!
Having a homeland but not having a space
For me to get back to find a sheltering place!

I boarded the plane to head towards the waves
To go to Altlanta but felt as to Vung Tau that craves...
I was staggered and tried to restrain my pain
For fear of bursting into tears mixed with blood stain.

Thanh Thanh
                     

Bà Mẹ Nuôi Người Úc

(Tác giả chụp hình này năm 1964 khi đi thực tập tại Wyangala Dam)

Khi tôi ngồi viết những dòng chữ này, bầu trời Toronto đang xám xịt, hơi lành lạnh mặc dù đang tháng 8 mùa hè.
Lòng tôi trùng xuống, bèn lấy bút chì ra mà ngồi viết để ghi lại những gì mà người viết đang cảm nhận được.

Hồi đầu năm 1962, nhóm 15 anh chị em Việt Nam chúng tôi trong nhóm Học bổng COLOMBO PLAN Australia tới Sydney, Úc Đại Lợi để chuẩn bị đi học Anh ngữ.
Người viết lúc đó 19 tuổi đầu, rất năng nổ khi học tiếng Anh và đi bộ trong vùng “Circular Quay” tại Sydney để biết thêm về vùng này.

Một hôm, vừa mới bước ra khỏi “Commonwealth Office of Education” tại đường Hunter Street, Sydney, một bà già người Úc tóc bạc phơ đang vẫy tay gọi tôi lại để tôi chỉ đường cho bà đi đến cái thư viện gần đó. May mắn thay cho tôi cũng vừa mới biết đường đường đi đến cái thư viện đó cho nên tôi mới có thể chỉ cho bà đường đi một cách dễ dàng.

Không biết bây giờ xã Hội bên Úc ra sao; khi tôi đang ở bên Úc thì mọi người thường có phong trào “Morning tea break” và “Afernoon tea break”, giống như dân Bắc Mỹ mình có cái vụ “Morning Coffee break” và “Ầternoon Coffee breaka” vâyj.

Người viết đã đến “Have a cup of tea” một hôm thứ bảy tại nhà bà. Căn nhà của bà rất khang trang. Ở trong phòng khách có một cái piano rất to. Bà cho tôi biết: bà đã từng là một “pianist” trong một “orchestra” đi biểu diễn tại nhiều thành phố ở bên Úc cũng như bên Anh và châu Âu.
Hiện tại, bà đang sống một mình sau khi ông chồng đã mất và các con bà đã khôn lớn “xổng chuồng chim bay”…

Lúc đó tôi mới biết danh tính của bà: Madame Hanakein, gốc Hà Lan. Bà hỏi thăm tôi về gia đình tôi ở Việt Nam. Tôi có cảm giác như mình đang gặp một cụ bà ngoại quốc mà nói chuyện với mình như hai mẹ con với nhau vậy: mẹ là người Úc da trắng, nói tiếng Anh với đứa con trai da vàng gốc Việt Nam.
Trước khi tôi về, bà nắm chặt tay tôi và nhắc tôi nên đến thăm bà thường xuyên.

Là một đứa con trai mất mẹ khi tôi mới 13 tuổi, tôi cảm nhận được sự ân cần, dặn dò của một bà mẹ tuy khác màu da nhưng phần tình cảm của hai mẹ con với nhau, tôi cảm nhận ra ngay điều đó.
Lúc đó, ở Việt Nam, cha tôi đã 65 tuổi, suốt ngày chờ thư của anh tôi (cố giáo sư Đàm Trung Pháp) viết thư từ Mỹ và tôi mới chân ướt, chân ráo tới đất ÚC.

Định mệnh đã an bầy: sinh viên ngoại quốc khi đến bên Úc hay bên Mỹ muốn được vào học tại một đại học nào đều phải nộp đầy đủ các hồ sơ và nhất là phải chuẩn bị cho kỳ thi tuyển chọn bằng tiếng Anh! Có nghĩa là tôi phải học và thi kỳ “Entrance exam” này: phải đậu thì mới được nhập học tại Đại học New South Wales! Lo muốn chết…

Mỗi tuần, tôi phải cố gắng viết một lá thư về thăm cha già. Vì lẽ đó, tôi không thể có đủ thì giờ để đến thăm Madame Hanakein như đã hứa. Bà biết điều đó, cho nên bà thường hay gọi điện thoại cho tôi qua điện thoại của bà chủ nhà trọ.

Sau khi tôi đã vào được đại học, tôi phải dọn vào nội trú cho đỡ mất thì giờ và tôi mất liên lạc với bà Hanekein vì tôi phải học suốt ngày, đêm.
Hè năm thứ nhất, tôi kiếm được một việc làm trong một xưởng máy làm cái “Sunbeam blender”. Đi làm để có thêm tiền tiêu vì ở trong “ký túc xá” khá tốn kém so với số tiền nhận được từ học bổng.

Lúc này tôi vẫn còn phải viết thư đều đều cho cha tôi. Bận thì vẫn bận, nhưng thật là may mắn: Minh và tôi là 2 “roommates” cùng đậu năm thứ nhất (nhiều năm sau khi ra trường, đọc tin tức của ĐH New South Wales, mới biết là 50% sinh viên Phân Khoa Kỹ sư đã trượt năm thứ nhất)! ĐH không có đủ chỗ cho sinh viên và chương trình quá “nặng ký”!

Mùa hè năm Thứ Hai, khi tôi đang đi thực tập ngành công chánh tại nhà đèn “Munmorah Power Station” trong nội địa Úc, tôi nhận được một lá thư và thiệp cưới do bà Hanakein gửi cho tôi. Bà mời tôi đến dự đám cưới của đứa cháu trai của bà mà tôi đã có dịp gặp ở nhà bà.
Sau khi nhận được thư mời đi dự đám cưới, tôi trả lời bà ngay lập tức và hỏi bà làm sao mẹ biết địa chỉ của con. Bà cho biết: mẹ gửi đến Đại học New South Wales, ngành Civil Engineering, nhờ họ chuyển đến cho con để mẹ con mình có thể liên lạc được với nhau. Ướt mi!

Chẳng lẽ mẹ tôi đã “dàn dựng” những cuộc gặp gỡ này để bà mẹ nuôi Hanekein và cá nhân người viết đỡ cảm thấy trống vắng khi phải sống một mình và bà Hanekein đã là một “đại sứ” thay mặt mẹ tôi mỗi khi chúng tôi có dịp trò chuyện với nhau?

Tôi đang chờ một chuyến bay một chiều và cũng đang mong mỏi được gặp lại cha tôi, mẹ tôi và bà mẹ tóc bạch kim, da trắng người Úc dịu dàng như một bà mẹ Viêt Nam…Lòng tôi ấm lại, ấm áp vô cung!

Đàm Trung Phán
Aug.15, 2026
Toronto, Canada

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

Người Yêu Cúi Mặt - Sáng Tác: Anh Sơn,Kim Phụng - Tiếng Hát: Lệ Thu - Thực Hiện: Nhạc Xưa Sài Gòn


Sáng Tác: Anh Sơn,Kim Phụng
Tiếng Hát: Lệ Thu
Thực Hiện: Nhạc Xưa Sài Gòn

Thu Từ Phương Ấy Thu Sang

 

Đời như nước lớn, nước ròng
Có buồn cũng đã qua sông lâu rồi
Năm xưa bỏ núi, xa đồi
Mây bay ngàn dặm. Thì thôi...cũng đành!
Tiếc hoài tuổi mộng ngày xanh
Tầm xuân héo úa trên cành hoa niên
Từ cơn bão loạn triền miên
Hoa không còn thắm nơi miền thông reo
Hành trang sương khói mang theo
Trái sầu phiêu lãng còn treo giữa dòng
Hương xưa đọng cánh trong lòng
Nhớ màu hoa nở bên song ngày nào
Lối quỳ còn gió lao xao
Đã xanh chưa, hỡi đường vào Lâm Viên?
Dốc mơ còn nắng chao nghiêng
Đồi xưa còn tím cánh sim hiền hòa?
Ngày đi, tháng lại, năm qua
Trắng mây viễn xứ, lạnh tà dương soi
Người đi ngoài cõi mù khơi
Lạ tình nhân ngãi, lạ đời tha phương
Thả hồn thăm lại cố hương
Tìm trăng mộng ảo, tìm sương núi rừng
Nơi đây bước lặng vô chừng
Nhìn quanh chỉ thấy rưng rưng nắng tàn
Rừng phong xào xạc lá vàng
Mơ hồ như một bản đàn ly tao
Hồn Thu lắng đọng nơi nào ?
Lạnh đầy ngõ vắng, lạnh vào hồn hoang
Thu từ phương ấy thu sang
Cho lòng viễn khách thêm man mác buồn
Chập chùng khói tỏa chiều sương
Mây bay biệt xứ, dặm trường viễn du
Âm thầm dõi bóng chiều thu
Để nghe thăm thẳm kiếp phù sinh trôi

Huy V
ăn

Em Chờ

 

Em chờ,
nhặt nắng buồn cuối Hạ
Để đêm về,
sưởi ấm cõi lòng quạnh hiu.
Trăng khuya,
Vọng tiếng đàn đơn lẻ
cung thương cung nhớ chắt chiu.
Nghe đêm Cổ Lụy
canh thâu lệ nhòa...


Tuyết Phan 
08-2026


Kỷ Niệm Còn Vương( Hãy Còn Kỷ Niệm)

 

Hai mươi năm rồi cách biệt nhau
Tuổi xuân ngày ấy vẫn ươm đào?
Quê hương nỗi nhớ xa nghìn thẳm
Em hãy còn yêu kỷ niệm nào?

Mùa nắng đốt đồng thơm khói rơm
Chuột đồng tuôn chạy khắp ruộng nương
Chộp năm ba chú xâu chùm lại
Bửa tiệc mừng cô Tú miệt vườn

Bửa tiệc mừng em đổ tú tài
Đơn sơ, vắng lặng chẳng có ai
Chỉ vài em nhỏ quanh trong xóm
Và một mình anh dự tiệc dài

Sau buổi tiệc tan ta lên đường
Về đơn vị mới lòng vẫn vương
Hình bóng em tôi ngày đãi tiệc
Chiếc áo bà ba – xẻ hở sườn

Miệt mài chinh chiến , tháng ngày quên
Cô Tú ngày xưa nay đã lên
Làm cô giáo dạy trường trung học
Cái thuở bút nghiên được báo đền

Thời gian lẳng lặng đã trôi qua
Biến cố tan thương của nước nhà
Dân Quân Cán Chính đều ly tán
Người chết trong tù , kẻ đi xa

Không còn gặp lại cô giáo xưa
Tình yêu chân chính nói sao vừa
Đời người âu cũng là số kiếp
Giờ chỉ còn ta với đêm mưa

 
Duy Văn Hà Đình Huy


Một Tấm Hình Rất Đặc Biệt,…… 


Đây là một tấm hình rất đặc biệt, vì nó chưa bao giờ xuất hiện với công chúng. Tấm hình này rất quý giá, và hiếm có, vì chỉ có một mà không bao giờ có hai về Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu.

Tấm hình này được chụp lúc Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu đang trò chuyện với Minh Tinh Điện Ảnh Kim Vui, trong buổi Lễ Trao Giải Thưởng Văn Học Nghệ Thuật cho năm 1970 vào chiều ngày 19 tháng 1 năm 1971 tại Dinh Độc Lập ở Thủ Đô Sàigòn của nước Việt Nam Cộng Hòa.

Cô Kim Vui có sắc đẹp khiêu gợi như cô đào Sophia Loren của Ý, pha lẫn với nét duyên dáng của người phụ nữ Á Đông. Cô là một trong những nữ Minh tinh nổi tiếng của nền Điện Ảnh Việt Nam Cộng Hòa thập niên 1970. Kim Vui là một nữ Minh tinh có đủ tài sắc vẹn toàn nên cô được rất nhiều khán thính giả mến mộ.

Ngày 19 tháng 1 năm 1971 là ngày phát giải Văn Học Nghệ Thuật cho năm 1970 được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, và Đệ Nhất Phu Nhân khai mạc lúc 16h30 tại Dinh Độc Lập ở Thủ Đô Sàigòn. Nữ Minh tinh Kim Vui đoạt giải Nữ Minh tinh đóng vai chính Xuất sắc nhất đã được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đích thân trao giải Tượng Vàng 1970 cho cuốn phim Chân Trời Tím. Phim Chân Trời Tím được quay thành phim dựa vào cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Văn Quang.

Giải Văn học Nghệ thuật Quốc gia, hay Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc là giải thưởng của Việt Nam Cộng Hòa do đích thân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trao tặng, nên còn được gọi là Giải Tổng Thống. Giải được chia thành ba phần chính: Văn học, Nghệ thuật, và Mỹ thuật.

Bắt đầu kể từ năm 1970 thì giải thưởng có nhiều thể loại khác nhau. Về khảo cứu có các đề tài về văn hóa, văn học, triết học, ca kịch, hội họa, điêu khắc, âm nhạc, nhiếp ảnh, điện ảnh…

Hội đồng giám khảo bao gồm nhiều Văn Nghệ Sĩ của nhiều nghành khác nhau như: điêu khắc gia Lê Văn Mậu, nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi, nhà văn Võ Phiến, nhà văn Nguyễn Thị Vinh, Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn, nhà thơ Vũ Hoàng Chương, Hà Thượng Nhân, soạn giả Nguyễn Thành Châu (Năm Châu)…Khách mời ngoại quốc gồm nhiều phái đoàn của các nước trên thế giới như các phái đoàn của Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Ý, Đại Hàn, Đài Loan, Hồng Kông...

Hiện tại, Minh Tinh Kim Vui đang sinh sống cùng chồng là Frank Scotton tại Hoa Kỳ. Frank Scotton đã từng làm việc cho Cơ quan Thông Tin Hoa Kỳ (USAID) vào đầu những năm 1960 tại nước Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 12 tháng 5 năm 2026, Minh Tinh Kim Vui đã ăn mừng Sinh Nhật lần thứ 87 của mình bên cạnh những người thân tại Hoa Kỳ.

Chú thích: Quý Vị có thể lấy 2 ngón tay phóng hình lớn ra, nhưng nếu Quý Vị xoay hình nằm ngang cái phone thì Quý Vị có thể phóng hình lớn hơn nữa nên nhìn rất rõ, và đẹp.

San Jose, ngày 17 tháng 8 năm 2026.

David Tran
(lượm trên FB.TN)
Tài tử ngày xưa trước 75 có nét đẹp tự nhiên quý phái sang trọng

Văn Dạ Châm 聞夜砧 - Bạch Cư Dị (Trung Đường)


Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, 9 tuổi đã hiểu âm vận, mười lăm tuổi đã bắt đầu làm thơ. Ông chủ trương thơ phải gắn bó với đời sống, phản ánh được hiện thực xã hội, chống lại thứ văn chương hình thức. Ông thường nói: "Làm văn phải vì thời thế mà làm... Làm thơ phải vì thực tại mà viết, mục đích của văn chương là phải diễn đạt tình cảm của nhân dân”. Thơ ông mang đậm tính hiện thực, lại hàm ý châm biếm nhẹ nhàng kín đáo. Họ Bạch chủ trương thơ ca phải giản dị để dân chúng đều hiểu được; tình cảm, tư tưởng phải giàu tính nhân dân, nói được nỗi lòng của mọi người trước thế sự. Thơ ông rất trữ tình. Khi ông bị đi đày từ Tràng An đến Tây Giang, ba bốn ngàn dặm, dọc đường thấy trường học, chùa chiền, quán trọ, hồ sen… đều có đề thơ của mình.

Lời phi lộ

Tiếng chày đập áo là một thứ rất đặc biệt trong xã-hội-yêu-tinh-thơ-Đường. Nó thê lương nhẩt, cảm động nhất, dai dẳng nhất trong nhiều thiên kỷ ở Trung quốc. Ẩn trong tiếng chày là nỗi nhớ chồng đi thú lâu năm ở quan ải Hồ - Hán xa xăm (chồng đi đánh trận thì có thể được về sau khi trận giặc kết thúc nhưng chồng đồn trú ở quan ải thì tới già mới được về). Những thi hào danh tiếng thời Đường như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Lý Thương Ẩn… đều có thơ thuộc đề tài này.

Nguyên tác          Dịch âm

聞夜砧                 Văn Dạ Châm

誰家思婦秋搗帛 Thuỳ gia tư phụ thu đảo bạch,
月苦風淒砧杵悲 Nguyệt khổ phong thê châm thử bi.
八月九月正長夜 Bát nguyệt cửu nguyệt chính trường dạ,
千聲萬聲無了時 Thiên thanh vạn thanh vô liễu thì.
應到天明頭盡白 Ưng đáo thiên minh đầu tân bạch,
一聲添得一莖絲 Nhất thanh thiêm đắc nhất hành ty.

Chú giải:

Đảo: đập (giặt).

Bạch: lụa trắng.
Châm: bàn đá để đập (giặt) áo.
Bi: buồn.
Chính: chính đáng, chánh, ngay giữa, ngay thẳng.
Thử:chử: xử: cái chày gỗ.
Liễu: xong, hết, rồi.

Dịch thơ

Nghe Chày Đêm


Đêm thu mong chồng ai đập lụa?
Gió thảm trăng sầu chày đập hoài
Tháng tám tháng chín đêm dài lắm
Ngàn âm vạn âm chày chẳng nguôi
Tới sáng e rằng đầu toàn trắng
Mỗi âm thêm một sợi tơ phai


Lời bàn 

Bài thơ thất ngôn lục cú không theo Đường luật. Câu 3 có 4 vần trắc liên tiếp ở đầu câu, rất bất thường trong thơ thất ngôn. Toàn bài có 6 câu (không phải bát cú hay tứ tuyệt): cũng rất bất thường trong loại thơ này.

Nói về ý thơ thì bài này trên mức tuyệt vời. Dùng tiếng chày đập lụa của người thiếu phụ mong chồng trong đêm thu để gõ vào tim của nhân gian. Lại dùng những sợi lụa trắng để tượng hình rằng nỗi buồn gây ra bởi mỗi tiếng chày sẽ làm bạc hết đầu trong một đêm.

Con Cò
***

Nghe Tiếng Chày Đêm.

Nhớ chồng ai giặt lụa đêm thâu,
Trăng lạnh chày thu gió thổi sầu.
Tháng tám đêm dài thêm tháng chín,
Muôn nghìn tiếng đập có ngừng đâu.
E rằng sáng tóc toàn mầu trắng,
Từng sợi thành tơ đến bạc đầu.


Mỹ Ngọc.
Aug. 15/2026.
***
Nghe Tiếng Chày Khuya


1-
Nhà ai nhớ chồng thu đập lụa
Trăng sầu gió thảm đá-chầy khơi
Tháng tám, tháng chín đêm dài lắm
Ngàn tiếng, vạn tiếng chẳng hề ngơi
Có lẽ sớm mai đầu bạc trắng
Mỗi tiếng tóc thêm một tơ trời!


2-
Thu nhớ chồng, nhà ai đập vải
Trăng gió sầu, đá bãi chầy bồi
Đêm thu dài lắm người ơi
Ngàn tiếng, vạn tiếng chẳng ngơi lúc nào
Bình minh tóc sẽ trắng phau
Chầy thêm một tiếng, tơ sầu một thêm!


Lộc Bắc
Aug26
***
Tiếng chày trong đêm

Đêm thu nện lụa nhớ chồng xa
Gió rét trăng sầu chày thiết tha
Tháng tám đêm dài nàng thức trắng
Tiếng chày ngàn vạn nối đưa qua
Tinh sương tóc đã thay màu bạc
Mỗi tiếng chày sa một sợi nhoà


Thanh Vân
***

Sau khi đọc bài thơ, thấy quen quen, Bát Sách cứ tưởng là mình đã góp ý rồi, nhưng anh Tâm và Lộc Bắc nói chưa nên phải tin thôi, bèn tra chữ khó và dịch.
Đúng như anh Giám nói, chữ 砧 CHÂM viết với bộ thạch là phiến đá, để quần áo, vải lụa lên đó mà đập.

- Đảo là giặt.
- Bạch là lụa trắng.
- Chử 杵, bộ mộc, là cái chầy để giã gạo hay đập áo.
- Hành là thân cây cỏ, cán hay cọng, như cọng tóc. Nguyễn Tôn Nhan có dẫn câu thơ của Đỗ Phủ : sổ hành bạch phát na phao đắc (mấy sợi tóc trắng sao quăng được). Nhất hành ti là một sợi tơ.

Bài thơ này 7 chữ, có 6 câu, Bát Sách mới thấy, hình như là thất ngôn biến thể. Cái tựa của bài thơ, nếu theo giải thích ở trên, là nghe tiếng chầy đêm thì sai, vì châm không phải là chầy. Vì vậy Bát Sách dịch là:

Nghe Giặt Lụa Đêm

Nhớ chồng, ai giặt lụa đêm thu,
Trăng khổ, đá chầy thoảng gió ru,
Tháng tám, tháng chín, đêm dài lắm,
Ngàn âm, vạn tiếng vẫn liên tu,
Chừng tới bình minh đầu bạc hết,
Mỗi âm, một sợi tóc thành tơ.


Bát Sách.
(Ngày 18/08/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm:

聞夜砧-白居易 Văn Dạ Châm - Bạch Cư Dị]

誰家思婦秋搗帛 Thùy gia tư phụ thu đảo bạch
月苦風淒砧杵悲 Nguyệt khổ phong thê châm xử bi
八月九月正長夜 Bát nguyệt cửu nguyệt chính trường dạ
千聲萬聲無了時 Thiên thanh vạn thanh vô liễu thì
應到天明頭盡白 Ưng đáo thiên minh đầu tận bạch
聲添得一莖絲 Nhất thanh thiêm đắc nhất hành ty

Bài thơ thất ngôn cổ phong có đăng trong các sách:

Bạch Hương San Thi Tập - Đường - Bạch Cư Dị 白香山诗集-唐-白居易
Bạch Thị Trường Khánh Tập - Đường - Bạch Cư Dị 白氏长庆集-唐-白居易
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石仓历 代诗选-明-曹学佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 诗-清-圣祖玄烨

Giải nghĩa chữ khó:

Thùy gia: ở đâu, nhà ai
Châm: thớt cắt thực phẩm, phiến đá giặt áo quần, nhiều tự điển Hán Việt dịch là chày đá để đập áo quần/vải vóc.
Tư phụ: Người vợ nhớ chồng, ở đây chỉ người chinh phụ có chồng đi lính, trấn thủ nơi biên ải xa xôi.
Thu đảo bạch: Thu là mùa thu; Đảo là đập, giã; Bạch là lụa trắng. Thu đảo bạch là đập lụa, đập vải vào mùa thu để chuẩn bị may áo rét gửi ra tiền tuyến.
Nguyệt khổ phong thê: Ánh mặt trăng bộc lộ sự đau khổ, gió lạnh buốt thê lương. Đây là phương pháp tả cảnh ngụ tình, gán cảm xúc đau thương của con người vào thiên nhiên.
Châm xử: Cái phiến đá và cái chày gỗ. Tiếng "châm xử" là tiếng chày nện vào phiến đá. Thời xưa, phụ nữ giặt vải hoặc đập vải để may áo rét cho chồng đi lính xa thường dùng một khúc gỗ (Xử - chày) đập lên phiến đá (Châm).
Trường dạ: Đêm dài. Tháng 8, tháng 9 âm lịch là lúc trời chuyển sang thu đông, đêm mỗi lúc một dài hơn.
Vô liễu thì: Không có lúc nào dứt, không bao giờ nguôi, kéo dài vô tận.
Đầu tận bạch: Đầu tóc bạc trắng hết.
Nhất hành ty: Một sợi tơ bạc, ở đây ám chỉ một sợi tóc bạc.

Dịch nghĩa:

Văn Dạ Châm Nghe Tiếng Chày Giặt Ban Đêm

Thùy gia tư phụ thu đảo bạch
Nhà ai có người vợ nhớ chồng đang giặt lụa trong đêm thu,
Nguyệt khổ phong thê châm xử bi
Trăng não nề, gió lạnh lùng, tiếng chày sầu thảm.
Bát nguyệt cửu nguyệt chính trường dạ
Tháng tám tháng chín đúng lúc đêm dài,
Thiên thanh vạn thanh vô liễu thì
Ngàn vạn tiếng chày nối nhau không lúc nào ngừng.
Ưng đáo thiên minh đầu tận bạch
Có lẽ đến sáng sớm thì đầu tóc người phụ nữ ấy đã bạc hết,
Nhất thanh thiêm đắc nhất hành ty
Vì cứ mỗi tiếng chày nện xuống thì thêm một sợi tóc bạc (thành tơ trắng).

Hoàn cảnh sáng tác:

Nước Trung Hoa ngày xưa từ thời Hán đến Đường, chiến tranh biên giới triền miên. Cứ đến mùa thu thời nhà nào, đàn bà cũng giặt vải lụa để may áo lạnh hoặc giặt quần áo lạnh để kịp gởi cho chồng con ngoài chiến trường kịp mùa đông. Vì thế trong thơ văn, người ta hay nói về tiếng chày đập giặt áo báo hiệu mùa thu. Tiếng chày đêm thu vốn là điển cố trong văn học Trung Hoa: âm thanh buồn, gợi nhớ quê nhà, gợi cảnh phòng khuê cô quạnh, nỗi sầu ly biệt. Bạch Cư Dị sáng tác bài này khi đang tuổi trung niên, trong giai đoạn ưu thời mẫn thế, một người có tấm lòng với đất nước và xã hội, nhìn thấy những rối ren, khổ đau của thời đại mà sinh lòng trăn trở. Thơ của ông thường dùng cảnh vật đời thường để gợi nỗi thương cảm đối với dân chúng, đặc biệt là tầng lớp phụ nữ lao động.

Tiếng chày trong thi ca:

Trong thi ca Trung Hoa (đặc biệt là thời Đường), tiếng chày đêm thu (dạ châm) thường gắn liền với những cuộc chiến tranh mở mang bờ cõi của vương triều ra vùng biên viễn xa xôi (Tây Vực, Nhạn Môn Quan, sông Hoàng Hà).

Đại diện cho cả một hậu phương đang hướng về tiền tuyến. Ví dụ trong bài Thu Hứng Kỳ 1 của Đỗ Phủ:

Hàn y xứ xứ thôi đao xích 寒夜處處催刀尺
Nơi nơi kéo thước giục giã may áo ấm,
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm 白帝城高急暮砧
Vào chiều tối tiếng chày dồn dập trên thành Bạch Đế.

Thi ca Việt Nam cũng bị ảnh hưởng không ít với tiếng chày ước lệ của phương Bắc. Bài Thu Dạ Kỳ 2 秋夜 của Nguyễn Du có 2 câu thơ:

Tảo hàn dĩ giác vô y khổ 早寒已覺無衣苦
Mới bắt đầu lạnh mà đã thấy khổ vì thiếu áo,
Hà xứ không khuê thôi mộ châm 何處空閨催暮砧
Nơi đâu tiếng chày đập vải của người phòng không rộn bóng chiều.

Tuy nhiên tiếng chày giặt lụa không có chút bản sắc nào trong văn hóa Việt Nam. Một tiếng chày khác mới là đặc thù biệt lập của văn hóa và thi ca Việt Nam. Tiếng chày này đã kéo thi ca Việt Nam ra khỏi những khuôn mẫu ước lệ của phương Bắc để bén rễ sâu sắc vào lòng đất và đời sống tâm hồn thực tế của người Việt. Tiếng chày này đưa người đọc về thẳng với làng quê Việt Nam. Đó là không gian của đống rơm, giếng nước, sân đình, của những đêm trăng rằm thôn dã. Tiếng chày này là nhịp sống, là mồ hôi và là hơi thở của người nông dân Việt Nam. Nó vừa là không gian giao duyên, tình tứ của đôi lứa (trong ca dao).

Các câu ca dao:

Sáng trăng giã gạo ngoài trời / Cám bay phảng phất nhớ người đàng xa
Tới đây chẳng lẽ ngồi không / Cầm chày giã gạo cho đông tiếng hò
Tới đây cối gạo đã đầy / Trước là giã gạo, sau gầy lương duyên

Đến đây chắc các bạn đã biết tôi nói đến tiếng chày gì rồi. Và là người Việt Nam, ai cũng nhớ bài hát Gạo Trắng Trăng Thanh của Hoàng Thi Thơ:
“Trong đêm trăng, tiếng chày khua, ta hát vang trong đêm trường mênh mang…”
Gạo Trắng Trăng Thanh | ca sỹ Trung Hậu | Music Video

Dịch thơ:

Thể thất ngôn:

Tiếng Chày Giặt Lụa Ban Đêm


Nhà nhà giặt lụa suốt đêm thâu,
Gió lạnh trăng lu chày thảm sầu.
Đêm dài đằng đẳng tháng tám chín,
Trăm ngàn vạn tiếng có ngưng đâu!
Đến sáng rồi đây tóc bạc hết,
Mỗi tiếng mỗi thêm trắng trên đầu.


Hearing the Washing Bat at Night by Bai Ju Yi

From whose house does the lonely wife beat silk in the autumn night?
The moon looks bitter, the wind pierces cold, and the sound of the pestle is full of grief.
In the eighth and ninth months, the nights grow endlessly long,
Thousands, tens of thousands of thumping sounds echo without pause.
By the time dawn breaks, her hair must have turned completely white,
For every single strike of the pestle adds yet another strand of silver hair.

Poetic Translation:

Whose yearning wife is pounding silk this autumn night?

Under a bitter moon and bleak wind, the anvil cries in plight.
Through August and September, the nights stretch long and cold,
Ten thousand thumping sounds echo, unceasing and untold.
By the time the morning breaks, her hair must be entirely white,
For every single strike adds another silver strand to her sight.

Commentary:

Symphony of Sorrow: In classical East Asian poetry, the sound of beating clothes on a stone slab in autumn is a haunting metaphor for a soldier's wife. She prepares warm garments for her husband stationed at the freezing northern frontiers. The poem captures a poignant moment where nature and human emotion intertwine perfectly. By personifying the moon as "bitter" (khổ) and the wind as "bleak" (thê), Bai Juyi sets a mournful stage. The traditional act of ”pounding silk” (đảo bạch) was an autumn chore for wives preparing winter clothes for their conscripted husbands at the frontiers. Here, the auditory imagery of the pestle hitting the anvil becomes the very voice of the woman's aching heart.

Weight of Time and Solitude: In lines 3 and 4, the transition into the deep autumn months of August and September and the infinite repetition of the beating sound (thousands, tens of thousands of times) skillfully stretches the passage and perception of time. The autumn nights are physically long, but they are emotionally eternal for the lady. The continuous, unceasing thumping sound represents her endless anxiety—wondering if her husband is safe, shivering in the cold, or dead on the battlefield. Bai Ju Yi masterfully transforms an auditory experience into a visual, psychological tragedy.

Hyperbole of Aging: The climax of the poem, lying in the final couplet, is a masterpiece of Tang Dynasty poetic exaggeration. Bai Juyi links the physical action to its psychological toll: "Each strike adds another strand of silver hair." This cause-and-effect relationship between a sound and the physical manifestation of grief creates a striking visual of a woman aging an entire lifetime in a single night. Through this, the poem subtly yet powerfully delivers a humanitarian, anti-war message, highlighting the domestic collateral damage of imperial expansion.

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

聞夜砧 Văn dạ châm


Đảo luyện đồ

Văn dạ châm nghĩa là nghe tiếng nện lụa ban đêm. 砧=châm thường được người Việt dịch thành chày đá nhưng dịch như thế vô lý vì tại sao lại dùng một cái chày bằng đá để nện hay đập lụa (搗帛=đảo bạch)? 砧 viết với bộ thạch 石 và không có nghĩa là cái chày mà là hòn đá làm nền để đặt xấp lụa lên trên trong việc đảo bạch. Nếu ta thắc mắc và muốn tìm hiểu các từ kép "đảo bạch" và "dạ châm" trên internet thì thường được AI đưa đến các trang nói rằng phụ nữ Hoa Lục ngày xưa đập lụa ban đêm mùa thu để sửa soạn áo lạnh cho chinh phu; hình như đa số các bài thơ với các từ kép/điển cố đó đều hàm ý vợ nhớ chồng, và giải thích rằng lụa cần phải nện hay đập để loại bỏ các chất dơ và hóa chất hữu cơ sericin tan trong nước. Nhưng nếu chỉ cần loại bỏ các chất dơ và sericin thì chỉ việc ngâm và rũ trong nước cũng đủ, tại sao lại phải nện/đập cho hư lụa? Và tại sao lụa (帛=bạch) lại được dùng để làm quần áo ấm trong khi ta nghĩ tới các khía cạnh mỏng, nhẹ và mát của lụa?

Có thật dạ châm/đảo bạch chỉ hàm các nghĩa đó? Sử liệu cho biết lụa đã được chế biến từ trước thời Chiến quốc và các từ ngữ liên hệ tới lụa đã hiện diện trong các bài ca dao trong Kinh Thi. Nhưng người ni tìm không ra tài liệu cổ nào nói đến việc đập lụa và chỉ có thể đoán rằng chuyện đâp lụa chỉ trở thành quan trọng để thi nhân biết và nói đến từ sau thời Hiếu Văn Đế của Bắc Ngụy (485) khi việc dùng lụa làm thuế - và việc dùng lụa làm của hối lộ tiến chức - được chính thức thành lập. Kỹ nghệ dệt lụa và chuyện người bình dân cũng có thể mặc lụa bắt đầu phát triển từ đó.

Trong trang 捣练图》Đảo Luyện Đồ này, đảo luyện là môt từ kép khác để chỉ việc nện/đâp lụa. Lụa cần phải nện vì có hai thứ lụa: a) lụa thô (sinh y) dùng may quần áo trong mùa nóng vì mỏng và nhẹ; và b) lụa đã luyện (熟衣=thục y) dày hơn để may quần áo mùa lạnh. Theo trang Đảo Luyện Đồ đó, người ta tạo luyện lụa/bạch bằng cách xoa bột (ngũ cốc) trên hai mặt lụa, ngâm nước một thời gian, tiếp tục xoa thật kỹ hai mặt, xếp lụa lại thành nhiều lớp rồi đặt tấm lụa đó lên trên một mặt đá (砧=châm), rồi dùng một cái chày dài (长杵=trường xứ, và ta có thể để ý rằng 杵 (chày) viết với bộ mộc nên chày đá trong các bản dịch tiếng Việt là dịch ... tào lao) để nện lụa. Đây là một công việc nặng nhọc, lâu dài không tiện làm ban ngày nên phụ nữ trong gia đình họp với phụ nữ lối xóm để làm việc đảo luyện này ban đêm trong mùa thu, có lẽ sau khi việc đồng áng, gặt hái đã chấm dứt.

Và cái ý nghĩa rằng việc dạ châm phản ảnh tâm sự nhớ chồng có lẽ chỉ nằm trong óc tưởng tượng của thi nhân. Bạch Cư Dị làm bài thơ 寄 生衣与微, 因题封上 (Ký sinh y dữ Vi Chi, nhân đề phong thượng) để kể chuyện gửi đồ mặc mát (sinh y) cho bạn Vi Chi (Nguyên Chẩn), rồi viết trong bài 感秋咏意 (Cảm Thu Vịnh Ý) hai câu:

炎涼遷次速如飛 viêm lương thiên thứ tốc như phi

又脫生衣著熟衣 hựu thoát sinh y trứ thục y

Với nghĩa đại khái là vì nóng lạnh thay đổi nhanh như bay, nên (ta) thay y phục thô với thứ đã tao luyện.

 Huỳnh Kim Giám

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2026

Huế Ơi - Thơ: Trần Quốc Bảo - Phổ Nhạc: Trần Đại Bản - Ca Sĩ: Vân Khánh

Thơ: Trần Quốc Bảo
Phổ Nhạc: Trần Đại Bản
Ca Sĩ: Vân Khánh

Vàng Thu Huế


Thơ cảm tác từ ảnh:

Vàng thu Huế giăng mưa thơ mộng
Ướt áo O vọng động lòng ai
Răng gió đi để lại nơi này
Sợi dài ngắn căng da nỗi nhớ

Này O nhé nếu ai có lỡ
Van xin trời mưa mãi đừng ngưng
Ai hoá mưa ôm nhẹ vòng lưng
Mặt O bỗng đỏ hừng hương lửa

Vàng thu Huế gặp O một bữa
Suốt hành trình nghiêng ngửa hồn ai
Răng O đi lòng chừ ngoảnh lại
Để giọt tình vụng dại mưa thu

Kim Oanh