Thứ Ba, 21 tháng 4, 2026

Thăm Lúa Lần Thứ Nhất - Tri Tôn

 
1/ Thăm Lúa Lần Thứ Nhất 

 2/ Lúa Sắp Gặt


Ba tuần sau trở lại cùng các em, các bạn thì lúa đã chín vài hôm sẽ gặt. Gió lớn nên cây lúa bị ngã rạp, tiếc ghê.Các cánh đồng chung quanh đã thu hoạch.

Hình Ảnh: Thanh Hà

Có Hôm Chợt Nhớ Sài Gòn

 

Có hôm chợt nhớ Sài Gòn
nhớ hàng me dọc con đường lá bay
nhớ môi ngon nhớ quán đầy
nhớ bàn ghế thấp nhớ tay ngón mềm

Nhớ Sài Gòn còi giới nghiêm
tiếng rao khuya vọng nỗi niềm của đêm
nhớ bên gối mỏng hương tìm
nhớ bờ tóc xõa nằm nghiêng dáng trần

Nhớ Sài Gòn sau chiến tranh
cuộc phân ly nối những đành đoạn xưa
chia nhau điếu thuốc chiều mưa
nhớ người ở lại lòng chưa lắng lòng

Nhớ Sài Gòn nắng mong manh
qua con phố nhỏ tìm quanh dáng người
như mây trôi giữa dòng đời
nhớ mùa mưa cũ còn rơi mắt buồn

Nhớ Sài Gòn bóng người thương
đành như con nước mười phương cúi đầu
nhớ Sài Gòn cuộc bể dâu
ngàn năm treo sợi tóc màu hư không...


Nguyễn Vĩnh Long

Đợi! - Chờ! - Mong!



ĐỢI...!

ĐỢI.. tuyết thôi rơi lạnh cõi lòng
ĐỢI...chờ chim én lượn tầng không
ĐỢI...hoa nở nụ chào xuân đến
ĐỢI...bướm vàng bay thỏa ước mong
ĐỢI...nắng hồng ươm cây trổ lá
ĐỢI...cành trổ ngọn trái đơm bông
ĐỢI...Xuân mang đến niềm vui mới
ĐỢI...góp nụ cười bạn đợi trông…!

CHỜ...!

CHỜ tuyết thôi rơi... hé mặt trời
CHỜ ngày sáng tỏ....áng mây trôi
CHỜ xuân hạt nắng hồng đôi má
CHỜ gió reo vui thắm nụ cười
CHỜ chị tin vui tràn sức khỏe
CHỜ anh hào khí vượt tám mươi
CHỜ ngày hội ngộ tình thân hữu
CHỜ đón tin vui chén rượu mời...!

MONG....!

MONG đợi mùa Xuân đến khắp nơi
MONG tan giá lạnh cuối chân trời
MONG hoa nở rộ khoe hương sắc
MONG cánh chim bay lượn núi đồi
MONG nghĩa thâm giao bền vững mãi
MONG tình tri kỷ chẳng hề vơi...
MONG bền sức khỏe CÂN KINH DỊCH
MONG nghĩa đệ huynh chẳng đổi dời....!

Ngư Sĩ


Cẩn Thận Về Đường Hóa Học

Nguồn tin và chi tiết: https://www.foxnews.com/food-drink/zero-calorie-sweeteners-could-alter-genes-later-generations-new-study-warns?utm_source=flipboard&utm_content=user%2FFoxNews

 

HCD : Máy tóm tắt nội dung bài báo (có thể còn sót những « tiếng mới » khó hiểu khó nghe)

Nghiên Cứu Về Chất Làm Ngọt Nhân Tạo


Một cuộc khảo sát mới đây từ các nhà khoa học tại Đại Học Chile (vừa được công bố trên tạp chí Frontiers in Nutrition) đã đưa ra lời cảnh báo: các chất làm ngọt không chứa calorie có thể gây ảnh hưởng đến bộ gene và hệ chuyển hóa của các thế hệ con cháu về sau.

 

1. Diễn tiến cuộc thí nghiệm


Các nhà nghiên cứu đã thực hiện thí nghiệm trên 47 con chuột (cả đực và cái), chia làm ba nhóm:

- Nhóm 1: Chỉ uống nước lã.

- Nhóm 2: Uống nước có pha Sucralose (một loại đường nhân tạo phổ biến).

- Nhóm 3: Uống nước có pha Stevia (đường chiết xuất từ cây cỏ ngọt).

Sau 16 tuần, những con chuột này được cho sinh sản đến đời cháu (tổng cộng hai thế hệ sau). Điều quan trọng là các đời con và cháu hoàn toàn không tiếp xúc với chất làm ngọt, chỉ uống nước thuần túy.

 

2. Những kết quả đáng lo ngại


Dù không trực tiếp tiêu thụ chất làm ngọt, đời con và đời cháu của nhóm chuột có dùng đường nhân tạo vẫn xuất hiện những biến đổi sinh học:

- Thay đổi hệ vi khuẩn đường ruột: Các vi khuẩn có lợi sụt giảm đáng kể.

- Biến đổi gene: Các gene liên quan đến chứng viêm và khả năng điều tiết lượng đường trong máu bị thay đổi.

- Suy giảm sức khỏe: Xuất hiện dấu hiệu rối loạn khả năng hấp thụ glucose, đặc biệt rõ rệt ở chuột đực.

 

3. Sự khác biệt giữa các loại đường


- Sucralose: Gây ra những tác động mạnh mẽ và kéo dài hơn qua các thế hệ. Loại đường này không bị cơ thể tiêu hóa mà đi thẳng qua ruột, gây ảnh hưởng trực tiếp đến hệ vi sinh tại đây.

- Stevia: Tác động nhẹ hơn và có xu hướng giảm dần nhanh hơn qua các đời sau.

 

4. Nhận định của các chuyên gia


Tuy cuộc thí nghiệm mới chỉ thực hiện trên loài vật và chưa có bằng chứng tương đương trên cơ thể người, các chuyên gia y tế vẫn đưa ra những lời khuyên thận trọng:

- Nguyên tắc phòng ngừa: Mặc dù các cơ quan an toàn thực phẩm vẫn cho phép sử dụng, nhưng chúng ta không nên lạm dụng. Việc tiêu thụ quá nhiều đường nhân tạo trong nhiều năm qua không hề giúp tỉ lệ béo phì giảm xuống.

- Đối với phụ nữ mang thai: Những người đang mang thai hoặc có dự định sinh con cần đặc biệt lưu ý, vì các thay đổi về gene (epigenetic) có khả năng di truyền cho thế hệ sau.

 

Lời khuyên: Nên ưu tiên sử dụng các nguồn ngọt tự nhiên từ thực phẩm nguyên bản và giữ mức độ trung dung trong việc ăn uống hàng ngày.

Các nhà khoa học nhấn mạnh rằng mục đích của cuộc nghiên cứu không phải để gây hoang mang, mà để thúc đẩy thêm những khảo sát kỹ lưỡng hơn về tác động sinh học lâu dài của các phụ gia thực phẩm đối với con người.


Huỳnh Chiêu Đẳng


Một Ngày Tháng Tư

(Tranh: Danh Họa Mai Trung Thứ)

Buổi tối trời mưa rả rích, thỉnh thoảng ánh hỏa châu lóe lên trên nền trời cao ở phiá xa, Trang chui vào màn ru hai con ngủ, nàng vừa xoa lưng con vừa hát khe khẽ:
_ À ạ ơi…cái ngủ mày ngủ cho lâu, mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về …ạ ơi…

Thằng cu Bi đã gần ba tuổi, con bé Na mới hơn sáu tháng. Thường thì hai đứa ngủ phòng riêng nhưng dạo này chúng nó phải ngủ chung với bố mẹ để nhường phòng cho gia đình chị Nhã, chị của Tâm. Bốn mẹ con chị cùng bà nội của mấy đứa trẻ mới bay vào Sài Gòn hồi đầu Tháng Ba. Anh Thịnh, chồng chị thấy tình hình không yên đã lo cho mẹ và vợ con anh đi trước, anh phải ở lại với đơn vị không bỏ đi được. Cô Hồng, em của Tâm mới lập gia đình với Hoan, một sĩ quan hải quân, anh đang bận hải hành ở miền tây nên khi thời cuộc lộn xộn cụ gọi cô về nhà mẹ, không dám để cô ở một mình trong cư xá. Tâm còn chị Nhung, bà chị cả lấy chồng người miền nam có cơ sở làm ăn ở gần chợ Vĩnh Long, chưa nghe tin tức gì.
Một lúc sau hai đứa bé đã ngủ say, thằng anh vẫn còn mút ngón tay cái, con bé em dẩu mỏ, chu môi, thỉnh thoảng lại toét miệng ra cười. Hai khuôn mặt bé thơ thật hồn nhiên, vô tư, trong sáng. Trang nhìn con bất giác thở dài. Trang thấy ruột nóng như cào, sắp tới giờ giới nghiêm mà sao vẫn chưa thấy Tâm về. Chàng nói với vợ là đến nhà bạn để thăm dò tin tức. Qua khung cửa sổ, ánh hỏa châu chiếu sáng trên nền trời, thỉnh thoảng có tiếng súng ì ầm vọng đến. Chắc lại có đụng độ ở ven đô.

Buổi chiều hôm đó Trang mới vừa về thăm mẹ, gặp chị Trâm, chị đưa cho Trang hai cái địu may bằng vải dày.
_Trang này, chị nhớ đến hai đứa nhỏ nhà em nên chị sang nhà bà Tàu hàng xóm mượn cái địu của bà ấy về lấy mẫu may cho em. Hai đứa bé nhà chị lớn rồi, cu Tý đã mười ba, bé MiMi lên tám, hai con của em còn nhỏ quá, nếu phải chạy thì địu chúng nó ở sau lưng, vừa khỏe con mà vừa tiện cho bố mẹ.

Mẹ cho Trâm, Trang, mỗi người hai cái hầu bao mà mẹ và bà nội cất giữ từ hồi chạy loạn bảo đem về, có gì cần thiết, quý hóa thì khâu chặt vào đấy mà quấn vào lưng. Trang thấy không khí bên nhà bố mẹ nàng thật là căng thẳng, mấy gia đình dì và cậu của Trang không may mắn như gia đình chị Nhã, từ Đà Nẵng họ phải bám theo tàu hải quân ghé Nha Trang rồi mới chuyển vào Sài Gòn. Chuyến đi thật kinh hoàng, vừa đói, vừa khát lại chen chúc giành chỗ nhau tưởng chết. Vì vậy mọi người sợ quá khi nghe có thể phải di tản tiếp bằng tàu. Anh Trung làm cho cơ quan quân sự Mỹ nên gia đình anh đã được đi ngay từ Tháng Ba. Gia đình anh Trực còn ở Kiến Hòa vì anh đóng quân ở đấy. Mẹ Trang quýnh quáng dặn hai cô con gái phải lo thu dọn, sửa soạn sẵn sàng, cố kiếm đường mà đi chứ không thể nào ở lại sống với cộng sản được. Tâm và anh Hòa vẫn phải đi làm, ngoài giờ làm việc chạy như con thoi để nghe ngóng.

Tâm về nhà vừa đúng lúc còi hụ giới nghiêm, ghé vào màn khẽ hỏi vợ:
_Trang ngủ chưa?
Trang nhẹ gỡ tay con ngồi dậy, nói qua màn:
_Em còn thức. Sao có tin gì mới không?
_Gay go lắm, bạn anh đã mấy người lo được đi chính thức rồi. Thằng Hưng rủ mấy đứa xuống Trà Vinh tìm đường, gia đình nó có tàu đánh cá, làm sao ra được hải phận quốc tế là có tàu lớn vớt.
_Sao anh Hưng biết có tàu vớt?
_Đệ thất hạm đội của Mỹ còn ở ngoài khơi mà.
_ Anh tính sao?
_Mình còn đường nào nữa không? Qua tòa đại sứ Mỹ thì không được rồi, những gia đình liên hệ họ đã âm thầm bốc đi, còn cả hàng dài người bám trụ xung quanh. Con mình còn bé quá, liệu mình có chầu trực như người ta được không? Đường ra bến Bạch Đằng thì mấy hôm nay anh đảo qua, đảo lại chỉ thấy có 1 chiếc tàu buôn đậu ở đó, người đông nhung nhúc lên xuống, chẳng biết bao giờ tàu mới đi và họ có cho mình đi không!

Trang nhìn chiếc bàn con kê sát đầu giường, mấy bình sữa, bình thủy, chai nước lọc, hộp sữa bột Nido, hộp Cerelac. Con bé đã cai sữa mẹ, đang ăn bột và vẫn phải bú sữa bình. Chẳng lẽ mình lại lâm vào cảnh chạy loạn như mẹ ngày xưa, như bà vẫn kể Chị Trâm và anh Trung ngồi trong thúng ở hai đầu quang gánh. Nhìn cái địu vải chị Trâm mới cho, Trang tưởng tượng cảnh Tâm địu thằng cu Bi, con bé Na bám trên lưng mẹ, tay xách nách mang…Trời ơi, không lẽ cả nước lâm vào cảnh tang thương!

Nhớ mấy hôm Trang sang nhà Bích Ngọc, Ông cụ và anh Khương khẳng định là đất nước có đỏ cũng phải hồng hồng rồi mới đỏ, mọi người cứ nhắng nhít. Còn thế lực quốc tế phải can thiệp, có gì cũng phải cho thời gian để người dân được quyền chọn lựa đi hay ở. Tuy nói thế nhưng cụ vẫn thúc anh Quân và chị Nga lo thủ tục đón gia đình sang Pháp. Cụ không thể ở lại với cộng sản. Thằng cu Chou, con của Bích Ngọc chưa đầy năm, không biết cô nàng sẽ tính sao đây.

Cùng một lúc cả Vi, Trang, Ngọc nhận được điện tín tới tấp của Linh và Thư: Phải đi bằng mọi giá!
Đi, đi…Biết là phải đi, nhưng đi thế nào, đi làm sao đây! Trang đau quặn ruột, mắt nàng nhòa đi, hai giọt nước mắt chảy dài.

Đỗ Dung

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

Em Ra Đi - Nhạc Và Lời Chu Tất Tiến

Nhạc Và Lời Chu Tất Tiến

Hạo Khí Trường Tồn - ( Trần Cẩm Hương Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa)

 

Trường Nữ Quân Nhân: - Trưởng Chỉ Huy
Gương trăng vằng vặc mấy ai bì
Sa cơ đày đọa không e ngại
Thất thế đương đầu chẳng quản chi
Khí Hạo kiên trung ngời Hạo Khí
Mi thanh bất khuất rạng thanh mi
Cần Thơ thổn thức... trang trung dũng
Hậu Nghĩa ngậm ngùi... bậc nữ nhi....!!!

Nguyễn Minh Thanh
 

Paris Chiêm Bao

 

Tôi kể em nghe chuyện Paris
và lòng tôi đau đớn.
Paris, thành phố giấc mơ tôi.
Tôi kể em nghe chuyện Paris
và lòng tôi khắc khoải
Paris, thành phố xa từ xưa huyền thoại
Tôi sống tôi vui tôi buồn rũ rượi
khi nghe tin thu về nước ngập bờ sông Seine

Tôi kể em nghe chuyện Paris
và lòng tôi tan vở.
Paris, thành phố sách vở phim ảnh triết lý thơ văn
Tôi la cà tôi đàn đúm tôi lang thang
Tôi ca tôi hát tôi vẽ tôi đàn
Tôi bay nhảy trên tuổi tôi mới lớn

Paris Paris chảy đùa trong huyết quản
và em. Và em, tiếp máu vào tim tôi
Sao tôi đưa em đi dạo dưới chân đồi
em lại khóc và tim tôi vỡ rạn

Ờ, em khóc và tim tôi tan nát
vì tôi đưa em đi giữa Paris
khi mùa thu mới chớm đã buồn
và lá thu chưa vàng đã vội bay ngang

Vì em ơi, tôi chỉ đưa em đi
trong chiêm bao
Khi từng đêm
tôi và em
xa nhau như hai vì sao
thất lạc.

Cao Vị Khanh

Quốc Học - Trần Xuân Thời


Các trường trung học thường mang tên một danh nhân như Pellerin, Taberd, Puginier, Pétrus Ký, Chu Văn An, Trưng Vương, Gia Long… nhưng đặc biệt một ngôi trường tọa lạc tại đất thần kinh, biểu tượng cho nền giáo dục quốc gia mệnh danh là “Trường Quốc Học” (Collège National) sánh với danh xưng “Quốc Học Viện” vào đời nhà Trần…

Quốc học, trường trung học đầu tiên của Việt Nam, được thành lập năm 1896 năm Vua Thành Thái thứ 8. Tên trường “Quốc Học” cũng thăng trầm theo vận nước nổi trôi. Năm 1907, chính phủ bảo hộ Pháp đã ép Vua Thành Thái thoái vị và phong Vua Duy Tân lên kế vị. Năm 1916 Vua Duy Tân bỏ kinh thành theo nghĩa quân kháng chiến chống Pháp. Người Pháp phong Vua Khải Định kế vị Vua Duy Tân. Vua Khải Định băng hà năm 1925. Vua Bảo Đại nối ngôi và muốn vinh danh tiên đế nên đổi tên trường Quốc học thành trường Khải Định. Sau năm 1954 trường được đổi tên là Trường Ngô Đình Diệm, nhưng đến năm 1956, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, châu lại về hiệp phố, danh xưng Quốc Học lại trở về với mái trường xưa.

Quốc Học đã đào tạo biết bao nhiêu nam thanh nữ tú phục vụ trong mọi ngành sinh hoạt của quốc gia. Năm nay, lễ kỷ niệm 128 năm (1896-2024) Quốc Học không những sẽ diễn ra tại miền sông Hương núi Ngự, chốn cố đô nghiêm mật mơ màng mà sẽ được cử hành khắp năm châu bốn bể vì ngày nay đâu đâu cũng in hình dấu vết của cựu học sinh Quốc Học.
Nếu quan niệm gặp nhau là một cơ duyên, vào chung trường, ngồi chung lớp là một sự tiến bộ và cùng tốt nghiệp ra trường là một sự thành công thì những cựu học sinh tốt nghiệp Quốc Học đều đã công thành danh toại.


Tôi còn nhớ vào năm 1958, khoảng cuối hè và đầu thu, tôi nạp đơn vào lớp Đệ Tam Quốc Học. Như truyền thống đã định tất cả ứng viên phải trải qua một kỳ thi nhập học. Tôi không nhớ đã thi những môn gì nhưng đây là một loại "contest” đã loại một số học sinh không được nhận vào ngôi trường nổi tiếng nầy.

Năm Đệ Tam là năm học tà tà, dưỡng sức cho năm đệ nhị chuẩn bị xông pha trường thi trận bút. Năm Đệ nhị “tình hình chiến sự” có vẻ gây cấn hơn, chẳng những phải “gạo” bài cho đệ nhất và đệ nhị lục cá nguyệt mà còn phải học kỳ cho kỳ thi Tú tài I cuối năm. Thường thường tôi dùng 2/3 thì giờ để học bài thầy giảng trong chương trình và 1/3 đọc thêm những gì không được giảng dạy nhưng có liên quan đến chương trình như thế sẽ khỏi bỡ ngỡ khi đề thi liên hệ đến kiến thức tổng quát. Cũng theo cách học nầy mà tôi trúng tuyển dễ dàng hai kỳ Tú tài I và II.

Đã khá lâu nên không nhớ rõ hết các đề thi, duy chỉ có hai đề thi có phần lý thú nên khó quên. Đó là đề thi Tú Tài I-1960 về văn chương VN “Con người do 3 yếu tố tạo thành: Địa phương, giống tộc và thời đại, bạn hãy căn cứ vào văn chương thế kỷ thứ XIX để chứng minh câu nói trên”. Đề thi nầy phỏng theo đề thi “Dissertation littéraire “, kỳ thi BAC I tại Paris, thập niên 1950, về văn chương Pháp, thế kỷ thứ XIX mà tôi đã có dịp đọc qua luận văn bằng Pháp ngữ, chỉ khác là thay vì luận về văn chương Pháp thì luận về văn chương Việt Nam thế kỷ thứ XIX. Nền giáo dục Tậy phương có ưu điểm là thường in lại các đề thi và bài giải về văn học, triết học cũng như toán học... khoa học của các kỳ thi trong quá khứ để giúp học sinh tự luyện thi. Nền giáo dục Việt Nam thời bấy giờ chưa đạt đến trình độ đó.

Khi còn học lớp Đệ Tứ, tôi và vài người bạn khác như thường mở các đề toán Géométrie và Algèbre trong sách hoc trò (Livre de L’Élève) ra làm thử. Bài nào không giải được thì mở sách của thầy (Livre du Maitre) ra xem bài giải. Cứ như thế mà giải hết các bài trong sách của Gs Bossé thì rất dễ dàng giải quyết các nan đề trong phòng thi.

Đề thi triết Tú tài 2-1961 cũng rất gọn gàng và dễ nhớ “Vai trò của trí tuệ trong tri giác ngoại giới”. Trong cả hai trường hợp, đọc qua đề thi thì hình như dàn bài đã có sẵn trong trí, tôi viết một mạch 3 giờ liền, đọc lại và nạp bài, ra khỏi phòng thi, thấy rất thoải mái vì chẳng những không “bí” mà còn viết thao thao bất tuyệt, tự biết thế nào cũng “dính”.

Tuy vậy, những lần đi nghe xướng danh cũng rất hồi hộp. Cái hồi hộp lý thú của tuổi học trò. Những năm học ở trung học thi cử liên miên khiến cho học sinh phải lo âu thường trực. Càng lo âu thì càng dễ trở nên thất vọng. Có người không chịu nổi cái “đệ nhất buồn là cái hỏng thi” nên phải quyên sinh. Học chế của mình kể ra cũng khắc khe. Cô, thầy thì nghiêm khắc vì “Giáo bất nghiêm thì sư chi đọa”. Bài vở phần lớn học thuộc lòng, vận dụng trí nhớ nhiều hơn suy luận. Chúng ta thường nghe nói: “gạo như gạo vạn vật…”

Bây giờ thì tất cả đều quá vãng, có còn lại chăng chỉ dư âm thôi!

“Thôi đã xa rồi vạn gót hương
Của người đẹp đến từ muôn phương
Xa rồi những bước không hò hẹn
Đã bước trùng nhau một nẻo đường”

Nẻo đường Quốc Học của thời niên thiếu vẫn luôn luôn chập chờn trong trí tưởng với hình ảnh của con sông xưa, thành phố cũ.

“Áo em lụa trắng sông Hương
Qua đò Thừa Phủ nhớ thương rạt rào”

Nỗi nhớ, niềm thương đó vẫn canh cánh bên lòng như bản nhạc vàng ru trọn đời mình. Dù vì quốc biến nên

”Có những người đi không về.
Xa xôi rồi quên ước thề”!

Hoài niệm về trường xưa, bạn cũ không chỉ là hoài niệm đơn thuần tình cảm mà còn tiềm ẩn tinh túy của Quốc học là những gì lưu lại sau khi đã quên hết “La culture (de QH) c’est ce qui reste après on a tout oublié”.

Xuất thân từ Quốc Học cũng như xuất thân từ cửa Khổng sân Trình. Con người hấp thụ được tinh hoa của cổ và tân học. Nếu con người do ba yếu tố tạo thành: Hoàn cảnh, thời đại và giống tộc thì Quốc học đã là hoàn cảnh, là môi trường tốt cho cựu học sinh triển nở, khiến cho nam thanh, nữ tú hàng hàng lớp lớp từ thế hệ này sang thế hệ khác xuất thân từ ngôi trường thân thương nầy và đã trở thành biết bao anh tài cho Tổ quốc.

Cái tinh hoa của nền Quốc Học là ngoài khả năng, kiến thức tổng quát, cựu học sinh được bồi dưỡng tinh thần bằng niềm hãnh diện về trường xưa, bạn cũ và quan niệm về giáo dục qua phong cách giảng dạy, lối sống và triết lý giáo dục của nền quốc học Việt mà một vị Nho sĩ, Cụ cố Ngô Đình Khả, đã được bổ nhiệm nhậm chức Chưởng Giáo của Quốc Học.

Triết lý giáo dục nhân bản nhằm chủ đích không những làm cho con người giỏi giang hơn (trí dục) mà chính là làm cho con người sống cao thượng hơn (đức dục). Ngày nay học tập để ngày mai giúp đời. Giúp đời chứ không chỉ biết vinh thân phì gia. Nguyễn Du Tiên sinh rất hữu lý khi nói lên triết lý hành động qua lời Từ Hải:

“Phong trần mài một lưỡi gươm.
Những loài giá áo túi cơm sá gì”.

Lưỡi gươm đây còn mang ý nghĩa là đem sở học và sự hiểu biết để phụng sự nhân quần xã hội, sửa trị những sự việc trong xã hội cho chính trực như tinh thần Nguyễn Công Trứ

“Trong lăng miếu ra tài lương đống.
Ngoài biên thùy rạch mũi can tương”.

Lợi ích của sự giáo dục là để phát triển kiến thức về luân thường đạo lý (đức dục) và kiến thức chuyên môn (trí dục). Nền quốc học chủ trương “Tiên học lễ hậu học văn” chú trọng đến sự phát triển con người toàn diện về cả ba khía cạnh đức dục, trí dục và thể dục, cốt đào tạo những người có đức hạnh, trí óc sáng suốt, có liêm sỉ, để cải tạo xã hội chính trị, hơn là chỉ chú trọng đào tạo những người có kiến thức chuyên môn như nền giáo dục Tây phương.

Nhận chân được khuyết điểm là có khoa học mà vô lương tâm chỉ đem lại phiền não, bại hoại tâm hồn. “Science sans conscience n’est que ruine de l’âme”, ngày nay nhiều đại học ở Tây phương tìm cách nhân văn hóa các chương trình khoa học bằng cách đưa các môn triết học, nhân chủng, xã hội, đạo đức, tâm lý… vào khóa học để giúp sinh viên tốt nghiệp sẽ trở nên con người toàn diện, hiểu người, biết mình hơn là con người kỹ thuật, máy móc (robot).

Sự học tô điểm cuộc đời, giúp chúng ta khám phá những kỳ hoa dị thảo trong vườn hoa kiến thức của nhân loại. Càng hiểu biết con người càng trầm tĩnh, ít lo âu, ít hoảng hốt, tâm bớt động và nhờ đó thái độ được trầm tĩnh và tránh được lầm lẫn hay sợ sệt:

(1) Ít lo âu vì nhận diện được vấn đề và biết cách ứng phó đúng với câu “Khi vui đến thì hãy vui mà chớ kiêu căng, tự phụ, khi tai họa đến thì phải suy nghĩ mà chớ buồn phiền” Chính nhờ sự suy nghĩ mới có thể mưu sinh thoát hiểm thay vì buồn phiền sẽ sinh ra nản chí và thất bại.

(2) Tránh được lầm lẫn là nhờ khả năng nhận biết phải trái, phân rõ trắng đen qua kinh nghiệm giải quyết sự việc của tiền nhân và của người đương thời. Ngày nay khoa quản trị học (management science) đào tạo những chuyên viên quản trị biết kỹ thuật tổ chức, điều hành và phương pháp giải quyết vấn đề. Tiêu chuẩn phán xét phải, trái, không hẳn do ý kiến của một cá nhân, vì ý kiến cá nhân có khi lầm lẫn. Do đó ý kiến đúng hay sai phải là ý kiến của đa số trong một hoàn cảnh và thời gian nào đó. Tiêu chuẩn đúng sai do đa số quyết định “What is right or wrong being determined by the will of the majority” (John Locke, Treatises on Civil Government – 1679). Ý kiến của đa số hay là ý chí chung có thể được tham khảo qua nhiều phương thức hoặc do phong tục tập quán lấy ý kiến chung ở chốn đình trung, hoặc do biểu quyết, hay trưng cầu dân ý qua lá phiếu.

(3) Ít sợ sệt vì hiểu được vấn đề, không lo ngại và chấp nhận dấn thân mà không e dè sợ sệt, hùng tâm dũng chí. Nho giáo giúp con người trưởng thành về trí tuệ bằng kiến thức xuyên thế hệ (transgenerational), kinh nghiệm cổ nhân lưu lại qua sử sách.

Với ba đặc điểm ít lo âu, tránh lầm lẫn, ít sợ sệt; người khôn ngoan thường nhận xét sự việc một cách khách quan, theo lẽ phải hơn là thiên kiến. Để đạt đến tính cách khách quan, sự nhận xét phải có tính cách vô ý, vô tất, vô cố và vô ngã:

(1) Vô ý: không khư khư theo ý riêng của mình mà phải chấp nhận bàn bạc để tìm ra lẽ phải và làm theo lẽ phải để tạo sự đồng thuận trước khi thi hành công tác. “Discussion is the anvil upon which the spark of the truth is struck”. Tiếp xúc cá nhân, chia sẻ và đối thoại là phương thức để tìm ra lẽ phải.

(2) Vô tất: Đừng vội quyết đoán là công việc làm được hay không làm được mà phải tạo cơ hội để thực hiện mới biết dễ hay khó. Không nên chủ quan bác bỏ ý kiến của người khác theo nhãn quan thiển cận của mình mà phải biết chấp nhận thử thách.

(3) Vô cố: Không nên cố chấp, nệ cổ mà phải biết chấp nhận sáng kiến.

(4) Vô ngã: Cái tôi là đáng ghét (le moi est haissable) đừng vì quyền lợi cá nhân hay phe phái mà sinh ra mù quáng, nhìn bạn thành thù, nhìn thù thành bạn, lộng chân thành giả, lộng giả thành chân.

Bốn phương cách xét định công việc nêu trên giúp chúng ta đạt được sự chánh ý trong vấn đề suy luận và phát biểu nhằm giảm sự xung khắc về tư tưởng và hành động. Dụng đích của sự học không những để gia tăng sự hiểu biết mà còn giúp phát triển các đức tính khác như Đức Khổng Tử đã giáng cho Tử Lộ sáu điều tai hại của sự thất học:

(1) Người ham điều nhân mà không học thì bị cái hại là ngu muội.
(2) Người ham đức trí mà không học bị cái hại là phóng đãng.
(3) Người trọng chữ tín mà không học thì có hại là dễ bị lừa gạt.
(4) Người thích sự ngay thẳng mà không học thì hóa ra nóng nảy.
(5) Người dũng cảm mà không học thì hoá ra phản loạn.
(6) Người cương quyết mà không học thì hóa ra cường bạo.

Giáo dục không chỉ là học từ chương trích cú để lãnh được mảnh bằng theo sách vở mà phải biết suy luận, áp dụng kiến thức vào những hoàn cảnh khác nhau vì mỗi hoàn cảnh đòi hỏi một phương cách riêng để giải quyết vấn đề. Do đó ”tri và hành phải hợp nhất”. Học mà không biết đem sự hiểu biết áp dụng vào đời sống thì kiến thức đó hoàn toàn vô dụng, cho nên Luận Ngữ có câu:

“Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ”.

Học mà đem ra áp dụng được thì chẳng phải vui lắm sao! Tham gia chiến trận khi quôc gia lâm nguy, thực hiện các công tác sinh hoạt xã hội, chính trị, văn hoá, kinh tế, y tế, giáo dục khi thái bình, đều là những cơ hội học hỏi chứ không phải chỉ đến nhà trường mới gọi là học.

Theo thầy Tử Lộ thì “Cai trị nhân dân, cúng tế thần đất đai, mùa màng, thì cũng là học, hà tất phải đọc sách rồi mới gọi là học”. Quan niệm này rất hữu lý và tiến bộ vì ngoài lối học sách vở, còn phương pháp huấn luyện OJT (On the job training) ngày nay rất thịnh hành tại các nước tân tiến.

Muốn học hỏi trước tiên phải:

(1) Khiêm nhường và phục thiện Những người kiêu căng, chỉ biết nói và không biết nghe thì không học hỏi gì được. Khiêm nhường tức là hỏi người dưới không lấy làm thẹn “Bất sỉ hạ vấn”.

(2) Có thiện chí tìm hiểu hỏi han. Đức Khổng Tử nói: “Người nào không hỏi phải làm sao? phải làm sao? thì ta cũng chẳng có cách nào chỉ bảo cho được. Kẻ nào không hăng hái muốn hiểu thì ta không thể giúp cho hiểu được, kẻ nào không tỏ ý kiến thì ta không thể giúp cho phát biểu ý kiến được. Ta vén lên cho một góc mà chẳng tự tìm được ba góc kia thì ta không giảng cho thêm nữa”.

Thế thì giáo huấn cũng còn tùy người, tùy tánh nết, tùy trí tuệ, tư cách của mỗi nguời, cũng như may áo, tùy kích thước của mỗi người." Cưỡng bách giáo dục tại một số quốc gia tân tiến thường đến lớp 9 (đệ tứ) hoặc lớp 12 (đệ nhất) phần học còn lại là do thiện chí muốn tiếp tục sự học. Phương pháp giáo huấn tùy người có từ trên 2000 năm về trước, ngày nay nhiều đại học đang áp dụng các chương trình giáo dục “University without wall” và các chương trình “Non-traditional” tức là cá nhân hóa chương trình cho phù hợp với sở trường thực dụng của mỗi cá nhân.
Con nguời được thọ tạo như những viên ngọc quý. Nhưng ngọc bất trác thì bất thành khí, hay như những cây gỗ qúy, nhưng nếu không biết trau dồi học hỏi thì gỗ quý sẽ biến thành gỗ mục, mà “Gỗ mục thì không chạm khắc gì được, cũng như vách bằng đất bùn thì không tô vẽ gì lên được”.

Phương pháp học hỏi hữu hiệu là vận dụng tri giác (thu nhận kiến thức qua giác quan – perception) mà nghe và thấy là hai giác năng quan trọng nhất giúp con người thu nhận ngoại giới. Do đó, cổ nhân khuyên là “Nên nghe cho nhiều, điều gì còn nghi ngờ thì để đó, tìm hiểu thêm. Điều gì biết rõ ràng, chắc chắn thì nên nói, nhưng nên nói một cách ôn tồn.” và “Nên thấy cho nhiều, những gì chưa được rõ thì để đó đừng làm, còn những gì biết rõ thì cũng phải làm một cách cẩn thận như vậy sẽ ít phải ăn năn”.

Trong thiên hạ thường có 4 hạng người:

(1) Không ai dạy mà biết được đạo lý là hạng ưu tú – Sinh nhi tri chi giả, thượng dã – Đó là hạng người thông minh vốn sẵn tính trời, là hạng ưu việt.
(2) Học rồi mới biết là hạng trung – Học nhi tri chi giả, thứ dã – gồm đa số khoa bảng, chuyên viên.
(3) Dốt mà chịu học là bậc thấp – Khốn nhi học chi, hữu kỳ thứ dã – là những thành phần hiếu học để thăng tiến.
(4) Dốt mà không chịu học là hạng cuối cùng của xã hội – Khốn nhi bất học, dân tư vĩ hạ hỉ – Hạng thứ tư nầy đa số bất cần đời, sinh lộn kiếp. “Cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu?”

Tại Hoa Kỳ người ta cũng thường đề cập đến ba hạng chuyên viên:

(1)-Hạng chuyên viên ưu tú thường nêu ra sáng kiến, phát minh. “Professionals with great minds talk about ideas”
(2)- Hạng chuyên viên trung bình thường bàn về những chuyện đang xảy ra “Professionals with average minds talk about current events”; và
(3)- Hạng chuyên viên thường hay bàn chuyện người khác.” Professionals with small minds talk about people”.

Dù thuộc loại chuyên viên nào chăng nữa, trong một ngày mình nên xét ba điều:

(1) Mình giúp ai việc gì, có giúp hết lòng không?
(2) Mình giao du với bạn bè có giữ được chữ tín không?
(3) Mình có học hỏi thêm điều gì mới mẻ trong ngày không?

“Mỗi ngày biết thêm điều mình chưa biết, mỗi tháng không quên những điều mình đã biết như vậy là biết học rồi đó”. Nhưng cũng nên biết rằng: ”Biết học không bằng ham học và ham học không bằng vui mà học”. “Nếu mình yêu thích công việc mình làm, thi xem như cả đời không làm gì hết “!

Diễn trình giáo dục là diễn trình thu nhận kiến thức, tinh luyện suy luận và phát triển sáng tạo. Tuy vậy, đó chỉ mới là giai đoạn đầu hay nói khác đi là giai đoạn “cách vật chí tri”, hiểu biết sự việc ngoại giới mà chứng chỉ, bằng cấp là biểu tượng cho giai đoạn này. Nếu đến giai đoạn này rồi tự thỏa mãn và ngưng học hỏi, tu thân, thì chỉ là hiểu biết vòng ngoài, nghĩa là mới thu nhận được kiến thức ngoại giới nhưng chưa đạt đến trình độ “Thành tâm, chánh ý, tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ”.

Kiến thức thu nhận được ở nhà trường từ tiểu học đến đại học chỉ là kiến thức căn bản ai cũng có thể học được miễn có thì giờ và phương tiện để trở thành chuyên viên. Đó là sự thực, vì nhìn vào xã hội chúng ta thấy sinh đồ càng ngày càng đông và trường học càng ngày càng nhiều.

Học để hiểu biết và hiểu biết hơn về một ngành chuyên môn để trở thành “chuyên viên” (professional) là điều tốt, nhưng nếu chỉ để “mong an nhàn, sống lâu giàu bền’, còn việc nước việc cộng đồng, xã hội, aí hữu, không thèm nghĩ đến thì chưa đạt đến trình độ “Trí thức”.
Để đào luyện (formation) trí thức, triết lý giáo dục nhân bản của nền Quốc Học không ngưng lại ở mức độ thu nhận kiến thức chỉ để trở thành chuyên viên mà còn tiến đến chủ đích làm cho con người trở nên cao thượng hơn:

“Thương vị đức, hạ vị dân”.

Phối hợp đạo lý làm người và kiến thức để giúp đời, là dấu chỉ của người trí thức, của kẻ sĩ. Cụ Nguyễn Công Trứ đã từng quan niệm:

Từ trái: ( đứng) Mai, Mễ, Cai, Thời, Huy, Hưng, 
(ngồi) Cẩm, Thống
“The Untouchables” Đại hội 60 năm gặp lại, San Jose, USA”

“Kinh luân khởi tâm thượng,
Binh giáp tàng hung trung.
Vũ trụ chi giai ngô phận sự.
Nam nhi đáo thử thị hào hùng”.

Khi quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Kẻ sĩ không phải là hạng người ngồi khoanh tay khi sơn hà nguy biến!
Phải chăng Quốc Học là trường xây dựng nền tảng cho nền Việt học, phối trí giữa kiến thức và tâm đạo. Kiến thức có thể diễn tả qua tư tưởng, kỹ thuật, phương trình, công thức… còn tâm đạo được thể hiện qua tinh thần đạo đức, lương tâm chức nghiệp của quý Thầy, quý Cô.
“Kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành”. Với lương tâm chính trực, tận tụy của quý Thầy, quý Cô, học sinh đương nhiên vì mến Thầy, thương Cô mà học không phải vì Thầy la, Cô mắng.

Một khi xuất thân từ Quốc Học, học sinh đều thành danh phụng sự xã hội với tinh thần Nhân, Trí, Dũng: Phối hợp được lòng nhân ái, tâm đạo, kiến thức và nghị lực, quả cảm để xây dựng cộng đồng xã hội, quốc gia dân tộc.

Dù tha hương, sống nơi góc bể chân trời, nhưng đến ngày kỷ niệm Quốc học năm thứ 130 (1896- 2026) chúng ta vẫn hướng về mái trường thân thương nơi con sông xưa thành phố cũ, ngâm khúc hoan ca:

“Trường xưa lưu mãi bóng hình.
Trăm năm Quốc Học hiển vinh muôn đời.

Trấn Xuân Thời
QH 1958-1961

Tân Niên Bính Ngọ Tư Mã Phụng Cầu

“Khúc đâu Tư Mã phụng cầu. Nghe ra như oán như sầu phải chăng” (Kiều).
Khúc ca này do tích Tư Mã Tương Như - Trác Văn Quân vốn là khúc nhạc tỏ tình, nhưng qua tay Kiều trở thành âm thanh "oán sầu", báo trước cuộc đời "Đoạn trường" (đau đứt ruột) của nàng.
‘Tư mã phụng cầu’ hoặc chính xác ‘Phượng cầu hoàng, là điển tích chim Phụng (Phượng trống) tìm chim Hoàng (là Loan, Phượng mái). (Cầu 求 = Tìm kiếm / xin xỏ).

Nguyên tác: “Hữu nhất mỹ nhân hề, kiến chi bất vong. Nhất nhật bất kiến hề, tư chi như cuồng…”
____

Người Việt biết nay năm Ngọ song lớp trẻ ít kẻ biết về thứ tự các năm trong lịch chu kỳ 12 năm (1 giáp) dùng ở các nước Đông Á, kết hợp với 10 Can (Giáp, Ất,...) tạo thành chu kỳ 60 năm (Hoa giáp).

Ngọ là tên con giáp của ngựa (mã). Ngưa có nhiều đức tính: - trung thực (thẳng như ruột ngựa), - đoàn kết, chia sẻ hoạn nạn (một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ), - kết bạn (ngưu tầm ngưu, mã tầm mã), - thân thiện với mọi đối tượng nhưng không hề đánh mất tinh thần tranh đua (ngựa về ngược), - lòng biết ơn sâu sắc, chung thủy (làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai. Kiều) - nhanh nhẹn, tận tụy với công việc (chiến mã, dịch trạm/nhà trạm thời xưa).
Ngựa còn là biểu tượng của sự giàu sang (lên xe xuống ngựa), quyết tâm giành thắng lợi cuối cùng, làm nên sự nghiệp (công lao hãn mã, mã đáo thành công). .

+ Trong kho tàng ca dao, thành ngữ, tục ngữ... hình ảnh con ngựa được thấy khắp nơi.

Một số hình ảnh ít gặp, có ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc:
– Tứ mã phanh thây (hình phạt man rợ, lỗi ở người). – Ngựa Hồ hí gió bắc (lòng nhớ quê cũ). - Da ngựa bọc thây (tử trận). – Dừng ngựa trước vách đá (biết ngừng đúng lúc). – Tâm viên ý mã (tâm trí bất định). Thanh mai trúc mã (bạn tình thuở thơ ấu). - Chỉ lộc vi mã (cưỡng bức ngôn từ).
- Và không phải ngựa: hà mã (河馬) ở sông, hải mã, sea horse (海馬) ở biển, bọ ngựa trên lá cây. Vật dụng: bộ (ván) ngựa. Sinh vật: mã nghị (馬蚁) con kiến. Thực vật: mã đậu. Linh tinh: mật mã, đồ mã.

Mỗi lần năm Ngọ đến, như năm nay Bính Ngọ.là một dịp để các chuyện xưa về ngựa được nhắc lại.
Những điển tích liên quan đến ngựa có thể trực tiếp hoặc gián tiếp.

+ Điển tích trực tiếp về ngựa (mã 馬).

+ Chiến mã Mông Cổ là giống ngựa bền bỉ di chuyển nhanh của Thanh Cát Tư Hãn ở thế kỷ XIII.
+ Các trường hợp cá thể: Bucephalus, con ngựa huyền thoại của Alexander Đại đế. + Marengo: chú ngựa Ả Rập của Napoleon Bonaparte + Ngựa Đích Lư của Lưu Bị. + Tuyệt Ảnh của Tào Tháo. + Xích Thố của Lã Bố, Quan Vũ. + Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử của Triệu Vân. + Ô Vân Đạp Tuyết (Trương Phi).
+ Câu chuyện "Mua xương ngựa” kể về việc một vị vua muốn dùng 1.000 lạng vàng để tìm mua một con thiên lý mã, đã bỏ ra 500 lạng vàng mua xương ngựa chết. Hành động này khiến thiên hạ tin vua thực sự cầu hiền tài, nhờ đó, trong chưa đầy một năm, vua đã mua được 3 con thiên lý mã, vừa có hiền tài..

Bàn: Năm 1971: 1.000 USD mua được 20 lạng vàng. Năm 2008 chỉ mua được một lạng, 1000 lạng là một triệu USD để mua một con thiên lý mã. Bằng giá một xe hơi siêu sang cũng vào thời đó.
+ Chuyện Tái ông thất mã (mất ngựa) ngụ ý thâm thúy cụ thể: Trong họa có phúc, trong phúc có họa.
Sự đời khó lường: May mắn hay rủi ro chỉ là tạm thời, không ai biết trước được tương lai.

+ Điển tích gián tiếp về ngựa (mã 馬)..

+ Thánh Gióng Phù Đổng Thiên Vương, đời vua Hùng vương thứ sáu. Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt,, mang giáp sắt, đội nón sắt, cầm gươm sắt, đánh tan giặc Ân xâm lăng, cướp bóc rồi bay về trời. Ngựa Thánh cưỡi là ngựa sắt, không phải ngựa thật.
+ Trong thần thoại Hy Lạp, con ngựa gỗ thành Troy chứa binh sĩ Hy Lạp đánh chiếm thành Troy.
+ Điển tích chức vụ, liên quan đến ngựa (mã).
- Phò mã: 駙馬, là chức vị người chồng của Công chúa, tức là con rể của Hoàng đế trong văn hóa của Trung Quốc, Việt Nam và Hàn Quốc. Từ này ban đầu chỉ chức quan trông coi xe ngựa hoàng gia.

- Bật mã ôn 弼馬溫: chức vụ giữ ngựa thiên đình. Bật mã ôn Tôn Ngộ Không, Tề thiên Đại thánh.

+ Điển tích danh tính, dính dấp đến ngựa (mã). Họ tên ngựa nhưng là người. Trong lịch sử Trung Quốc, họ (馬=ngựa) và họ kép có chữ Mã như Tư Mã (司馬) gắn liền với nhiều nhân vật kiệt xuất từ quân sự, sử học đến văn hóa- Theo thứ tự thời gian: Tư Mã Thiên, đầu thời nhà Hán viết bộ Sử ký Tư Mã Thiên. - Tư mã Tương Như, danh sĩ đời Tây Hán, các sáng tác nổi danh gần 9 thế kỷ trước Lý Bạch, Đổ Phủ đời Thịnh Đường. - Mã Viện 馬援 Phục Ba tướng quân, danh tướng đời Đông Hán và các tướng lĩnh họ Mã khác. - Tư Mã Ý: 司馬懿 đoạt ngôi nhà Tào Ngụy, chấm dứt thời Tam Quốc.
Chữ nho, (馬) là ngựa. (司) là chỉ huy, cai quản. Vd Tư lệnh (司令) các sư đoàn, quân đoàn...

Tư mã là một chức quan cao cấp trong thời phong kiến Trung Quốc, từ đờì nhà Chu, thống lĩnh binh mã, nắm giữ quốc phòng. Chức danh này thường đứng dưới Tể tướng.
Thời Tây Hán trong lịch sử Trung Quốc được gọi là Đại tư mã.
Trong lịch sử Trung Quốc, Tư mã là nhân vật thường nắm quyền lực thực tế của triều đình. Tư Mã Ý đoạt cơ nghiệp của Tào Tháo, lập nhà Tây Tấn .
Vào thời trung kỳ nhà Đường (618-907), chức vụ Tư mã chỉ là trợ thủ của các quan Thứ sử Bạch Cư Di, tác giả bài Tỳ Bà Hành là Giang Châu tư mã (Tỳ bà hành: Giang châu tư mã đẫm màu áo xanh).

Họ Tư Mã: Theo lịch sử, đời Chu Tuyên Vương, người giữ chức Tư Mã có công lớn nên vua cho phép lấy chức danh làm họ, từ đó hình thành họ Tư Mã.
Cùng với tư mã coi về binh, các chức vị: tư đồ, tư không, tư khấu tương tự bộ lại, bộ công, bộ hình.
Truyện về ngựa là nhiều. Chọn năm ngựa để kể về Tư Mã Tương Như ‘phụng cầu’ là thích hợp..

+ Tư Mã Tương Như司馬相如 (179 TCN - 117 TCN), tự Trường Khanh, người ở Thành Đô đời nhà Tây Hán,TCN. Người rất đa tài, văn hay, đàn giỏi.Trong khi đến đất Lâm Cùng, Tương Như vốn sẵn quen với Vương Cát là quan lệnh ở huyện, nên đến chơi. Cát lại mời Tương Như cùng đi dự tiệc ở nhà Trác Vương Tôn, vốn là viên ngoại đại phú gia trong huyện.
Nghe tiếng Tương Như đàn hay nên quan huyện cùng Trác Vương Tôn yêu cầu đánh cho một bài.

Họ Trác vốn có một người con gái rất đẹp tên Văn Quân, còn nhỏ tuổi mà sớm góa chồng, lại thích nghe đàn. Tương Như được biết, định ghẹo nàng, nên vừa gảy đàn vừa hát khúc “Phượng cầu hoàng”.
Trác Văn Quân nghe được tiếng đàn, lấy làm say mê, đương đêm bỏ nhà đi theo chàng. Trác ông tức giận, quyết định từ con. Đôi trai gái đó mở một quán nấu rượu. Vợ chồng cùng cặm cụi làm.ăn.
Về sau Trác ông hồi tâm, trở lại giúp đỡ các con.

Khúc “Phượng cầu hoàng” như sau: (Bản dịch của Trương Việt Linh - 15/7/2025).

Có người con gái đẹp xinh, Mới trông lòng đã nảy tình yêu thương.
Một ngày không gặp được nàng, Trong lòng rạo rực như đang phát cuồng.
Phượng bay lượn chốn tầng không, Bốn phương tám hướng cốt mong tìm hoàng.
Buồn thay chẳng gặp giai nhân, Tường đông lạnh lẽo tìm không thấy nàng.
Lòng ta đành mượn tiếng đàn, Khúc tơ bày tỏ can tràng cùng ai.
Bao giờ mới được kết đôi, Bao giờ mới tỏ được lời trăm năm?
Lòng ta yêu trộm thương thầm, Sợ thay chẳng được xứng tầm cùng ai!
Với nàng không thể lượn bay, Mối sầu quằn quại thân này héo khô”. (1).

Bài thơ khúc đàn này biểu tượng cho tình yêu say đắm, chủ động và sự đồng điệu tâm hồn, kể về hình ảnh chim phượng hoàng đi tìm bạn. Tư Mã Tương Như được ví như chim phụng cầu hoàng.

Trác Văn Quân thời Tây Hán xa xưa cũng không chỉ nổi tiếng với vẻ đẹp "chim sa cá lặn" mà còn giỏi đàn cầm và làm thơ (là tác giả bài “Bạch đầu ngâm” nổi tiếng, lưu truyền đời này qua đời khác). .
Mối tình đẹp, dám bỏ trốn theo tài tử nghèo Tư Mã Tương Như qua điển tích khúc “Phượng cầu hoàng" khiến nàng trở thành biểu tượng cho sự tự do yêu đương. Trác Văn Quân được coi là hình mẫu phụ nữ vừa có sắc, vừa có tài, vừa có cá tính mạnh mẽ trong xã hội phong kiến.
Chuyện tình này giữa hai thi nhân bậc nhất đời Tây Hán nổi tiếng đến nỗi nó đã trở thành là một điển cố danh tiếng được nhắc đến nhiều trong thơ ca cổ điển và hiện đại..

Trong các tình sử của vua chúa Trung Hoa cổ xưa các tuyệt đại mỹ nhân Đát Kỷ, Tây Thi, Ngu Cơ, Điêu Thuyền, Dương Quý Phi rốt cuộc đều thọ thảm tử. Trong dân gian các truyện tình Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài đời Đông Tấn, Thôi Hộ (Đào hoa y cựu tiếu đông phong), đời Đường Thôi Oanh Oanh (Tây Sương ký), đời Nguyên thì sự tình éo le, kéo dài năm, tháng. Riêng truyện Tư Mã Phụng Cầu là thơ, là nhạc, là giọng ca, tiếng đàn trầm bổng tuyệt vời, là tiếng sét ái tình, kết thúc nội nhật, và điều quan trọng là các mối liên quan kết nối, tô điểm cho năm Ngọ. Thật tuyệt vời và cảm xúc, các năm “ngựa, mã” đã góp lời trên văn đàn thi ca với khúc thơ nhạc bất hủ Tư Mã Phụng Cầu.

Lê Bá Vận

(1) Nguyên Tác.
鳳求凰 Phượng Cầu Hoàng


有一美人兮,見之不忘。 Hữu nhất mỹ nhân hề, kiến chi bất vong.
一日不見兮,思之如狂。 Nhất nhật bất kiến hề, tư chi như cuồng.
鳳飛翱翔兮,四海求凰。 Phượng phi cao tường hề, tứ hải cầu hoàng.
無奈佳人兮,不在東牆。 Vô nại giai nhân hề, bất tại đông tường.
將琴代語兮,聊寫衷腸。 Tương cầm đại ngữ hề, liêu tả trung tràng.
何時見許兮,慰我彷徨。 Hà thời kiến hứa hề, uý ngã bàng hoàng.
願言配德兮,攜手相將。 Nguyện ngôn phối đức hề, huề thủ tương tương.
不得於飛兮,使我淪亡。 Bất đắc ô phi hề, sử ngã luân vong.

Ý nghĩa văn hóa "Phụng Cầu Hoàng" là một tác phẩm quan trọng trong văn hóa âm nhạc Trung Quốc, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa âm nhạc và tình yêu. Tác phẩm này không chỉ là một bản nhạc tuyệt đẹp mà còn là một biểu tượng của tình yêu lãng mạn và sâu đậm

Nguồn gốc của nó gắn liền với lịch sử và văn hóa Trung Quốc, và nó vẫn tiếp tục được biểu diễn và trân trọng trong âm nhạc truyền thống ngày nay.

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2026

Chân Nguyên Vũ Trụ - Thơ: Hoàng Thục Uyên - Nhạc: Nguyễn Tuấn

Thơ: Hoàng Thục Uyên
Nhạc: Nguyễn Tuấn

Giao Thức



Tưởng nhớ Thiếu Tướng Lê Minh Đảo
(5/3/1933 - 19/3/2020)
 
Như vừa mới ngã mũ chào
mà phơ phất bóng chiến bào tầm xa
ngựa giòn gõ vó bôn qua
bụi hồng sương quyện khói nhòa mắt cay
Người đi buồn rạn chân mây
nhạc tình giao phối Chương Đài phù vân
nghiệp duyên quá cuộc hồng trần
kiếm cung biệt diện tần ngần sử thi
Rượu còn sóng sánh ngang ly
mà Người đã khuất hương nghi ngút mờ
vọng tình rót rượu vào thơ
mở đêm giao thức ngồi chờ đối âm!

Cao Nguyên


Ân Tình Thiên Thu...

 

Hai mùa mưa nắng quê mình
Đi thương về nhớ ân tình mênh mông
Đường trần ai biết tâm đồng
Cội nguồn sữa mẹ tiên rồng còn nguyên

Đào hoa mai mối thiên duyên
Hờn mưa giận nắng sầu riêng sao chờ
Đơm hoa mộng kết trái mơ
Chung dòng giao cảm động thơ ngây hoài

Hương nguyền bốc lửa liêu trai
Trăng non gội tóc gió bay áo nhìn
Mưa thương nắng nhớ chân kinh
Vòng hoa chúc tết cùng mình thăng hoa

Nõn nà ngà ngọc tình ca
Đồng tâm giao cảm ao nhà hóa thơ
Vô cùng vô tận vô bờ
Nghìn xưa thề hứa bây giờ thiên thu...

MD.10/28/16
LuânTâm

Tà Áo Ngày Xưa

 

 

Tà áo ngày xưa trong gió chiều
Làm người thổn thức nhớ bao nhiêu
Hoàng hôn gió nhẹ chân trời tím
Bóng dáng ai kia thật mỹ miều.

Tà áo ngày xưa tuổi học trò

Nhớ mùa hè cũ chẳng sầu lo
Nụ hôn vụng trộm ngày xưa đó
Nhớ lắm sao quên những hẹn hò

Tà áo ngày xưa đã nhạt màu

Từ ngày chinh chiến phải xa nhau
Người đi biền biệt người trông ngóng
Để tóc em tôi cũng điểm màu.

Tà áo ngày xưa vẫn nhớ hoài

Vô tình đánh mất, ngã chia hai
Hôm nay xứ lạ nhìn bông tuyết
Nhớ đến người xưa tà áo dài.

Tạ Quang Tuấn
Ngày 14 tháng 12 năm 2021

Danh Sách Schindler- Steven Spielberg - Thái Lan Sưu Tầm & Dich

Người Do Thái đến Auschwitz II ở Ba Lan bị Đức chiếm đóng, tháng 5 năm 1944. Hầu hết được chọn để hành quyết trong các phòng hơi ngạt.

(theo wiki) Quỹ USC Shoah – Viện Lịch sử Hình ảnh và Giáo dục, trước đây là Quỹ Lịch sử Hình ảnh Những người sống sót của Shoah, là một tổ chức phi lợi nhuận chuyên thực hiện các cuộc phỏng vấn nghe nhìn với những người sống sót và nhân chứng của Holocaust (trong tiếng Do Thái được gọi là Shoah). Tổ chức này được thành lập bởi Steven Spielberg vào năm 1994, một năm sau khi hoàn thành bộ phim đoạt giải Oscar của ông, Schindler's List. Vào tháng 1 năm 2006, quỹ đã hợp tác với và chuyển đến Đại học Nam California (USC) và được đổi tên thành Quỹ USC Shoah – Viện Lịch sử Hình ảnh và Giáo dục. Vào tháng 3 năm 2019, viện đã khai trương trụ sở toàn cầu mới[2] tại khuôn viên của USC.

Holocaust,được biết đến trong tiếng Do Thái là Shoah, là cuộc diệt chủng người Do Thái ở châu Âu trong Thế chiến II. Từ năm 1941 đến năm 1945, Đức Quốc xã và các đồng minh của họ đã sát hại có hệ thống khoảng sáu triệu người Do Thái trên khắp châu Âu bị Đức chiếm đóng, chiếm khoảng hai phần ba dân số Do Thái của châu Âu. Các vụ giết người chủ yếu được thực hiện thông qua các vụ hành quyết hàng loạt trên khắp Đông Âu và các phòng hơi độc trong các trại hủy diệt, chủ yếu là các trại tử thần Auschwitz-Birkenau, Treblinka, Belzec, Sobibor, Chełmno và Majdanek ở Ba Lan bị chiếm đóng. Các cuộc đàn áp đồng thời của Đức Quốc xã đã giết chết hàng triệu thường dân và tù binh chiến tranh (POW) không phải người Do Thái khác; thuật ngữ Holocaust đôi khi được sử dụng để bao gồm việc giết hại và đàn áp các nhóm không phải người Do Thái, chẳng hạn như người Romani và tù binh chiến tranh Liên Xô.

Một tác phẩm táo bạo và một tác động văn hóa mạnh mẽ

Việc quay phim ‘ Danh sách Schindler bắt đầu ở Krakow, Ba Lan, và đòi hỏi một nỗ lực khổng lồ, huy động 30.000 diễn viên quần chúng và 18.000 bộ trang phục. Bối cảnh được tái tạo tỉ mỉ để phản ánh sự tàn bạo của các trại tập trung. Những lựa chọn đạo diễn của Spielberg, cả về mặt thẩm mỹ và cốt truyện, đã cho phép ông tạo ra một tác động cảm xúc mạnh mẽ, đối mặt với khán giả với thực tế của nạn diệt chủng.

Một di sản và ảnh hưởng lâu dài

Bộ phim không chỉ để lại dấu ấn không thể xóa nhòa trong lịch sử điện ảnh mà còn ảnh hưởng đến nhiều thế hệ nhà làm phim trong việc xem xét cách tốt nhất để giải quyết các sự kiện bi thảm. ‘ Danh sách Schindler đã truyền cảm hứng cho nhiều đạo diễn và giúp mở ra cuộc đối thoại về nghĩa vụ ghi nhớ, trách nhiệm lịch sử và sức mạnh của hình ảnh trong điện ảnh.

Một tác phẩm kinh điển.

Bằng cách xem lại "Danh sách Schindler", chúng ta sống lại một thời kỳ đen tối qua lăng kính nhân văn. Bộ phim này, với phiên bản được phục chế, vẫn là một tác phẩm không thể bỏ qua, dù là vì cách kể lại lịch sử đầy xúc động hay vì những cuộc thảo luận quan trọng mà nó khơi gợi. Để tìm hiểu thêm về tác phẩm xuất sắc này, hãy truy cập Télérama, hoặc khám phá các phân tích chuyên sâu khác trên Allée des curieux.www.cineserie.com › news › cinema

Ra mắt cách đây gần ba mươi năm, bộ phim " Danh sách Schindler " của Steven Spielberg gần như hoàn toàn được quay toàn đen trắng. Tại sao lại chọn như thế? Và tại sao cảnh quay duy nhất có chút màu sắc lại ảnh hưởng mạnh đến vậy?


Danh sách Schindler : Từ Câu Chuyện Có Thật Đến Phim

Năm 1994, Steven Spielberg đã đạo diễn một trong những kiệt tác của điện ảnh: Danh sách Schindler  Với sự tham gia của Liam Neeson, bộ phim được chuyển thể từ tiểu thuyết của Thomas Keneally và kể về câu chuyện có thật của Oskar Schindler. Ban đầu là một thành viên của đảng Quốc xã và có nguồn gốc Công giáo, Schindler đã mạo hiểm sự nghiệp và tính mạng của mình bằng cách thuê 1.100 người Do Thái vào công ty của mình trong thời kỳ Holocaust. Một kế toán người Do Thái trở thành "quan niệm về đạo đức" của ông khi ông điều hành công việc kinh doanh cùng với một viên chỉ huy Đức Quốc xã tàn nhẫn và ngoan cố (do Ralph Fiennes thủ vai), từ ban công của mình- người này chịu trách nhiệm về cái chết của các tù nhân Do Thái.

Phần lớn được quay màu đen trắng ở Ba Lan, bộ phim không nhằm mục đích giảm thiểu những khuyết điểm hay tôn vinh người anh hùng bất đắc dĩ này, mà để làm nổi bật sự chiến thắng của trí lực con người giữa thảm kịch nhân loại. Danh sách Schindler vẫn là một lời nhắc nhở mạnh mẽ về sự kinh hoàng của Holocaust và chủ nghĩa anh hùng đã xuất hiện ngay cả trong những hoàn cảnh đen tối nhất của lịch sử.

Việc lựa chọn quay Danh sách Schindler bằng phim đen trắng là một quyết định quan trọng đối với Steven Spielberg. Đạo diễn và nhà quay phim Janusz Kaminski đã chọn định dạng đen trắng, nhằm tạo ra một bầu không khí chân thực, gần như giống phim tài liệu. Điều này đã làm cho bộ phim trở nên ấn tượng hơn và tăng thêm tính xác thực lịch sử của phim. .

cô bé mặc áo khoác đỏ.- La Liste de Schindler © Universal Pictures

Spielberg giải thích sự lựa chọn của mình nhu sau:

Thảm họa Holocaust là cuộc sống không có ánh sáng. Đối với tôi, biểu tượng của sự sống là màu sắc. Đó là lý do tại sao một bộ phim về Holocaust phải được làm đen trắng.

Tuy nhiên, Spielberg đã đưa một yếu tố màu sắc vào thế giới đen trắng này: cô bé mặc áo khoác đỏ. Điểm nhấn màu sắc này tượng trưng cho dấu vết duy nhất của nhân tính và sự ngây thơ còn sót lại giữa nỗi kinh hoàng. Cô bé đại diện cho một nạn nhân vô tội của cuộc thanh trừng khu ghetto Krakow, một đứa trẻ có cuộc sống bị tàn phá bởi sự tàn bạo của Holocaust.

Sự tương phản nổi bật giữa màu đỏ tươi của chiếc áo khoác và màu đen trắng xung quanh khiến nạn nhân trở nên khác biệt, làm nổi bật sự tàn bạo của thế giới xung quanh. Sự hiện diện của bé trong phim là một lời nhắc nhở mạnh mẽ về thực tế của sự đau khổ và bất công đã ảnh hưởng đến rất nhiều cuộc đời trong thời kỳ đen tối này.

Một câu chuyện nhân văn ngay giữa những sự tàn bạo.

Bộ phim theo dõi hành trình phức tạp của Oskar Schindler, một thành viên của đảng Quốc xã, người mà bất chấp tham vọng và chủ nghĩa cơ hội của mình, đã sử dụng ảnh hưởng và nguồn của cải của mình để cứu sống nhiều người. Spielberg khắc họa nhân vật đáng ngưỡng mộ nhưng đầy mâu thuẫn này, khiến chúng ta phải suy ngẫm về bản chất con người. Câu chuyện cảm động này cho thấy rằng, ngay cả trong những khoảnh khắc đen tối nhất của Lịch sử, những hành động nhân ái và dũng cảm vẫn có thể xuất hiện.

Danh sách Schindler: Câu chuyện có thật phiá sau bộ phim

Năm 1993, Danh sách Schindler là một trong những thành công lớn nhất của Steven Spielberg, đã được trình chiếu. Được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Thomas Keneally, bộ phim đen trắng với những điểm nhấn màu sắc (điểm xuyết) nổi tiếng đã gặt hái thành công lớn cả về mặt phê bình lẫn thương mại. Phim đã giành được bảy giải Oscar, bao gồm cả Phim hay nhất.

Như bạn đã biết, bộ phim được lấy cảm hứng từ cuộc đời của Oskar Schindler và những hành động anh hùng của ông. Hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau khám phá câu chuyện có thật phiá sau Danh sách Schindler.

Bối cảnh của phim Danh sách Schindler

Trước khi bàn về câu chuyện của phim Danh sách Schindler, điều cần thiết là phải xác định bối cảnh. Năm 1941, tại Krakow, Ba Lan. Hơn 15.000 người Do Thái bị nhồi nhét vào Podgorze, một vùng ngoại ô của thành phố sau này trở thành khu ghetto(khu biệt cư) Krakow. Bị giam cầm, họ buộc phải sống chen chúc nhau, hoàn toàn bị cô lập với thế giới bên ngoài.

Ngay bên trong chính khu ghetto, hoặc vùng lân cận, có một số nhà máy và xưởng sử dụng lao động giá rẻ là những người Do Thái bị giam cầm này, như nhà máy Siemens và nhà máy sản xuất đồ (tráng) men của Oskar Schindler.

Từ cuối năm 1942, diện tích khu ghetto liên tục thu hẹp trong khi dân số tiếp tục tăng. Công nhân bị tách biệt khỏi phần còn lại của dân cư, và mỗi lần giảm dân số, lại có những cuộc trục xuất, hoặc đến trại hủy diệt Belzec hoặc trại tập trung Plaszow.

Năm 1942, việc giải tán khu ghetto được thực hiện. Hàng ngàn người Do Thái bị di dời và sát hại. Làn sóng trục xuất đầu tiên diễn ra vào tháng 6, tiếp theo là làn sóng thứ hai vào tháng 10. Cuộc trục xuất cuối cùng diễn ra vào tháng 3 năm 1943: tất cả những người Do Thái được coi là đủ sức lao động đều bị đưa đến các trại tập trung. Gần 2.000 người còn lại bị chính quyền giết hại trên đường phố.

Giờ đây khi bối cảnh đã được thiết lập, hãy cùng khám phá câu chuyện có thật đằng sau bộ phim Danh sách Schindler.

Câu chuyện có thật về Danh sách Schindler

Năm 1941, khi khu ghetto Krakow đang hình thành, Oskar Schindler là một nhà công nghiệp người Đức sở hữu một nhà máy, Deutsche Emailwarenfabrik, gần thành phố. Ông cũng sở hữu một nhà máy sản xuất vũ khí và đạn dược cách đó vài cây số. Ông đã là thành viên của đảng Quốc xã từ năm 1938.

Từ năm 1941 trở đi, ông đã lợi dụng sự hình thành của khu ghetto và mối quan hệ của mình với Amon Göth, người đứng đầu trại tập trung Plaszow, để thuê người Do Thái với mức lương rất thấp và ép buộc họ làm việc. Do đó, những ngày đầu trong câu chuyện của Oskar Schindler không hề anh hùng: ông hành động hoàn toàn vì lợi ích tài chính cá nhân.

Nhưng điều kiện sống ngày càng tồi tệ của người Do Thái trong các trại tập trung và khu ghetto cuối cùng đã thúc đẩy ông hành động. Dần dần, nhà máy của ông trở thành nơi trú ẩn cho những người bị bức hại. Đầu tiên, ông sử dụng ảnh hưởng của mình trong đảng Quốc xã địa phương để cố gắng hết sức cải thiện điều kiện sống trong khu ghetto. Ông cũng đảm bảo rằng công nhân của mình không bị trục xuất đến các trại tập trung và sắp xếp để tuyển dụng thêm nhiều người trong số họ.

Năm 1943, khi chính quyền ra lệnh thanh trừng toàn bộ khu ghetto bằng cách giết hại tất cả cư dân trên đường phố, Oskar Schindler đã cho tất cả nhân viên của mình ngủ hẳn trong nhà máy để tránh cho họ khỏi cuộc thảm sát.

Mặc dù nhà máy của ông chỉ sử dụng khoảng một trăm người Do Thái vào đầu những năm 1940, nhưng đến khi khu ghetto bị giải tán, con số này đã lên đến hơn một nghìn người.


Cũng trong năm 1943, ông đã đăng ký nhà máy của mình như là một phần của trại tập trung Plaszow: điều này cho phép các nhân viên của ông sống trong nhà máy và được bảo vệ khỏi sự ngược đãi mà những người Do Thái khác phải chịu đựng ở những nơi khác trong trại. Ông đã dùng tài sản của mình để nuôi sống và cung cấp chỗ ở cho họ, mang đến cho họ điều kiện sống tốt hơn.

Năm 1944, Schindler đã di dời nhà máy của mình cách vị trí ban đầu khoảng mười lăm ki-lô-mét, biến nó thành một nhà máy sản xuất vũ khí với quy chế đặc biệt. Vì nhà máy đóng góp vào nỗ lực chiến tranh, Schindler được phép đưa tất cả nhân viên của mình đi cùng và thậm chí còn được tuyển thêm người. Chính trong quá trình di dời này, một trong những nhân viên của ông đã lập ra Danh sách Schindler nổi tiếng, ghi chép lại hơn 1.200 tù nhân Do Thái được chuyển đến. Trong vài tháng nhà máy hoạt động, trong thực tế Schindler chỉ sản xuất rất ít vũ khí để không hỗ trợ Đức Quốc xã.

Nhưng vào cuối năm đó, sự tiến quân của Liên Xô đã khiến chính quyền Đức lo ngại, và họ ra lệnh sơ tán trại Plaszow. Khoảng 20.000 người Do Thái còn lại đã bị trục xuất đến các trại hủy diệt. Schindler cũng nhận được lệnh sơ tán. Một lần nữa, ông lại tìm cách xoay sở và lên kế hoạch để được phép thành lập nhà máy của mình ở Brünnlitz, quê hương của ông, đồng thời đưa các nhân viên người Do Thái của mình đi cùng. Tuy nhiên, trên đường đi, bi kịch đã xảy ra: các nhân viên nam của ông bị đưa đến trại tập trung Gross-Rosen và các nhân viên nữ bị đưa đến Auschwitz, nơi họ bị sát hại.

Schindler sau đó đã dùng tài sản cá nhân của mình để hối lộ ban quản lý trại và đảm bảo việc thả cả nam và nữ nhân viên đến nhà máy mới của ông.

Tháng 1 năm 1945, Oskar và vợ, Emilie Schindler, đã tìm cách chuyển hướng một đoàn tàu chở hơn 100 người bằng cách thuyết phục các binh sĩ rằng họ cần sức lao động của những người này để duy trì hoạt động nhà máy của ông.

Khi chiến tranh kết thúc, Oskar Schindler bị phá sản. Ông sống phần đời còn lại giữa Israel và Đức, duy trì liên lạc với những người sống sót của nhà máy và nhận được sự hỗ trợ tài chính từ các tổ chức Do Thái. Năm 1967, ông được Đài tưởng niệm Yad Vashem trao tặng danh hiệu “Người công minh chính trực giữa các Quốc gia ” .

Những điểm khác biệt giữa phim của Spielberg và câu chuyện có thật về Danh sách Schindler

Trong bộ phim tái hiện câu chuyện có thật về Danh sách Schindler, Spielberg đã cố gắng theo thật sát câu chuyện thật . Trong số các diễn viên quần chúng đóng vai phụ của phim có Jan Liban, một người sống sót sau vụ tại nhà máy của Oskar Schindler. Theo lời con trai ông, bộ phim của Spielberg theo sát từ 80% đến 90% sự thật lịch sử. Tuy nhiên, có một số điểm khác biệt đáng chú ý.

Ví dụ, trong phim, Schindler ngay lập tức bắt đầu tuyển dụng người Do Thái vào nhà máy của mình. Trên thực tế, ban đầu ông tuyển dụng người Ba Lan và chỉ bắt đầu thuê người Do Thái khi nhận ra điều đó sẽ có lợi cho công việc kinh doanh của mình.

Va một trong những điểm khác biệt nổi bật nhất giữa bộ phim Danh sách Schindler và câu chuyện có thật liên quan đến chính danh sách đó. Trong phim, danh sách được lập theo yêu cầu của Oskar. Trên thực tế, Oskar có lẽ đang ở trong tù khi danh sách được lập ra.

Do đó, có những điểm khác biệt, bởi vì, như đã nhắc lại, bộ phim không phải là phim tài liệu. Nhưng nó cung cấp một điểm khởi đầu tuyệt vời để khám phá câu chuyện phi thường khó tin và giàu tính nhân văn này.

Để tìm hiểu thêm về câu chuyện của Danh sách Schindler

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về câu chuyện có thật đằng sau bộ phim Danh sách Schindler, đây là một số nguồn tài liệu có thể bạn quan tâm.
Xem phim Danh sách Schindler trực tuyến
Đáng tiếc là phim Danh sách Schindler không có trên Netflix tại Pháp. Bạn có thể mua hoặc thuê phim này trên Amazon Prime.

Danh sách Schindler trên YouTube
Bạn cũng có thể thuê phim trên YouTube để xem trực tuyến. Tất cả nhạc phim trong Danh sách Schindler đều có sẵn miễn phí.

Có rất nhiều nguồn tài liệu khác về câu chuyện có thật trong danh sách này, chẳng hạn như cuốn tiểu sử về Oskar Schindler (bằng tiếng Anh).

Bạn cũng có thể tìm mua DVD và Blu-ray của Danh sách Schindler trên Amazon để xem hoặc xem lại kiệt tác điện ảnh này.
========
(Theo wiki):

Schindler's List là một bộ phim điện ảnh chính kịch cổ trang sử thi của Hoa Kỳ sản xuất và phát hành năm 1993 do Steven Spielberg làm đạo diễn kiêm đồng sản xuất và Steven Zaillian viết kịch bản. Phim dựa theo cuốn tiểu thuyết Schindler's Ark của Thomas Keneal ly, một tiểu thuyết gia người Úc. Bộ phim dựa trên cuộc đời của Oskar Schindler, một doanh nhân người Đức đã cứu sống hơn một 1000 người Do Thái gốc Ba Lan tị nạn trong thời kỳ Đức Quốc Xã tàn sát người Do Thái bằng cách tuyển họ vào làm trong các nhà máy của mình. Phim có sự tham gia của Liam Neeson trong vai Schindler, Ralph Fiennes trong vai sĩ quan Schutzstaffel (SS) Amon Goeth, và Ben Kingsley trong vai kế toán người Do Thái của Schindler, Itzhak Stern.

Ý tưởng sản xuất một bộ phim nói về Schindlerjuden (những người Do Thái của Schindler) được đề xuất lần đầu tiên vào năm 1963. Poldek Pfefferberg, một trong số những người Schindlerjuden, xác định rằng sứ mệnh của cuộc đời mình là phải kể lại câu chuyện của Schindler cho hậu thế. Spielberg tỏ ra hứng thú với kịch bản này sau khi nhà điều hành Sid Sheinberg gửi cho ông một bản nhận xét cuốn sách Schindler's Ark. Universal Studios mua bản quyền chuyển thể điện ảnh của cuốn tiểu thuyết, tuy nhiên Spielberg, ban đầu còn lo ngại ông chưa đủ tự tin để làm một bộ phim về thời kỳ tàn sát người Do Thái, tìm cách đẩy dự án sang cho một số đạo diễn khác trước khi quyết định tự tay đạo diễn bộ phim này.

Quá trình quay phim chính diễn ra tại Kraków, Ba Lan trong vòng 72 ngày. Spielberg quay bộ phim dưới định dạng đen trắng và coi đó là một bộ phim tài liệu. Nhà quay phim Janusz Kamiński muốn mang lại cho tác phẩm điện ảnh này một cảm giác vượt thời gian. John Williams soạn nhạc cho bộ phim, và nghệ sĩ vĩ cầm Itzhak Perlman biểu diễn bản nhạc chủ đề của bộ phim.

Schindler's List ra mắt vào ngày 30 tháng 11 năm 1993 tại Washington, D.C. và được phát hành rộng rãi trên toàn nước Mỹ vào ngày 15 tháng 12 năm 1993. Thường được coi là một trong những bộ phim hay nhất mọi thời đại từng được sản xuất,[4][5][6] phim cũng thu được thành công thương mại, mang về 322 triệu USD trên toàn cầu so với 22 triệu USD kinh phí. Phim giành được bảy giải Oscar (trong tổng số mười hai đề cử), trong đó có giải Phim hay nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất, Kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất và Nhạc phim hay nhất, cùng nhiều giải thưởng khác (trong đó có bảy giải BAFTA và ba giải Quả cầu vàng). Năm 2007, Viện phim Mỹ xếp bộ phim này đứng thứ 8 trong danh sách 100 phim Mỹ hay nhất mọi thời đại. Thư viện Quốc hội Mỹ đã lựa chọn bộ phim này để bảo tồn tại Viện lưu trữ phim Quốc gia Hoa Kỳ vào năm 2004.