Một kỷ niệm đặc biệt khó quên 58 năm về trước. Những năm thi Tú Tài là cả một vấn đề đối với học sinh nhất là học sinh Nam. Bởi học sinh Nam rớt kỳ thi Tú Tài Phần Thứ Nhất bắt buộc phải bỏ học nhập ngũ trường Hạ Sĩ Quan, vì không còn giấy hoãn dịch học vấn để tiếp tục lên lớp Đệ Nhất (tức lớp12 sau này).
Năm 1968 (năm Mậu Thân). Năm này, chiến tranh ác liệt CS Miền Bắc phá hiệp ước hưu chiến, nghĩ Tết họ tấn công hầu hết các Tỉnh Thành miền Nam mà nặng nhất là Huế, Họ chiếm Huế và giết đồng bào rất nhiều. Năm này, tôi dự kỳ thi Tú Tài phần thứ nhất, mặc dầu tôi cố gắng học luyện thi suốt cả năm, nhưng trong tâm tôi cứ lo lắng, vì sợ rằng chính quyền tạo sự thi cử khó khăn hơn để đánh rớt học sinh càng nhiều vì cần nhân lực cho cuộc chiến.
Hồi đó, những tỉnh lẻ không có Hội Đồng Thi nên học sinh các tỉnh lẻ phần lớn phải về Thủ Đô Saigon mới được tham dự cuộc thi. Quê tôi Tây Ninh, những năm 1967- 1968 chưa có Hội Đồng Thi nên tôi phải về Thủ Đô Saigon thi. Cái khổ học sinh tỉnh lẻ của chúng tôi là tìm chỗ ở trọ trong mấy ngày thi. Học sinh ngụ ở Thủ Đô Saigon thì quá tốt. Đường xá họ rành rẽ, lại nữa có cha mẹ, bà con lo lắng giúp đở đưa rước trong những ngày thi cử nên tinh thần họ yên ổn hơn. Riêng những học sinh ở tỉnh lẻ như chúng tôi, lo lắng mọi điều. Thứ nhất lo về chỗ ở, từ chỗ ở đến trung tâm thi, phải thức sớm để canh giờ giấc, phải chọn phương tiện di chuyển xem coi loại xe nào đi từ chỗ ở đến trung tâm thi ít bị trở ngại vì phải rước khách.
Tỉnh Tây Ninh là một trong số tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ nên tôi được thi trong những trường thuộc tỉnh Gia định. Dường như tất cả những trường thi trong tỉnh Gia Định trong năm Mậu Thân 1968 đều thuộc Hội Đồng B3. Để tìm chỗ ở trọ cho những ngày thi cử, tôi phải xuống Thủ Đô trước một ngày cùng với một người bạn cùng lớp, vì người bạn có người bà con là Chánh Trị Sự trong Thánh Thất Cao Đài Phú Nhuận. Cả hai chúng tôi đều ngụ tại Thánh Thất Cao Đài này trong suốt thời gian thi cử. Năm 1968, tôi thi Tú Tài Phần Thứ Nhất tại trường trung học Đạt Đức (sau này là Chi Lăng) nằm trên đướng Chi Lăng quận Phú Nhuận. Ở Thánh Thất Phú Nhuận đến trường trung Học Đạt Đức rất gần nên tôi bớt phần lo lắng, nên không suy nghĩ nhiều. Để chuẩn bị cho ngày thi đầu tiên tôi tin vào tâm linh nên cùng người bạn vào đãnh lễ Đức Chí Tôn và các Thần Thánh Tiên Phật thờ nơi chánh điện của Thánh Thất để thêm có sức mạnh vô hình tạo được niềm tin. Ngày thi đầu tiên, chúng tôi đi bộ từ Thánh Thất đến trường thi. Chúng tôi đến sớm để được vào theo luật tìm phòng thi và tìm chỗ ngồi theo phiếu báo danh. Trong thời gian, chưa đầy nửa tiếng đồng hồ tôi đã tìm ra phòng thi và chỗ ngồi theo phiếu báo danh của tôi. Tâm hồn của tôi rất phấn chấn.

Ngày đầu thi văn và các môn phụ. Thi buổi sáng xong,tôi trở về Thánh Thất chuẩn bị cho các môn thi buổi chiều. Sau khi thi các môn ngày đầu xong tôi về Thánh Thất cùng với người bạn. Nghĩ ngơi qua đêm tại đây và chuẩn bị cho ngày thi kế tiếp. Vì là Thánh Thất ít có chỗ cho khách nên chúng tôi ngủ ngoài những hành lang gần trên chánh điện. Chúng tôi ôn bài vở cho các môn thi ngày thứ nhì qua những chiếc đèn neon gắng dọc hành lang.Và cứ như thế suốt trong 3 ngày thi. Tôi chọn ban B cho kỳ thi Tú Tài Phần Thứ Nhất đầu tiên của tôi.
Sau những ngày thi với những đề tài cảm thấy tương đối hóc búa như môn toán và lý hóa và một số môn khác.Tôi trở về Tây Ninh để chờ kết quả. Bạn của tôi còn ở lại Phú Nhuận với người bà con.
Thi đã khó rồi, còn việc dò thi cử xem mình rớt hay đậu cả là một điều khó khăn hơn đối với những học sinh tình lẻ như chúng tôi. Bởi học sinh ở tỉnh lẻ như chúng tôi làm gì mà có báo Trắng Đen, báo Saigon Mới ....đăng danh sách học sinh thi đậu như ở Saigon để mà xem kết quả. Muốn biết kết quả thì học sinh tỉnh lẻ chúng tôi phải lên đường xuống Nha Khảo Thí ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm để biết tin tức sớm. Chứ còn chờ quý Thầy Cô ở trường công bố kết quả thì rất là lâu, những học sinh Nam như chúng tôi rất hồi họp vì giấy hoãn dịch cho một năm đã sắp hết hạn.
Không biết các bạn của tôi xem kết quả bằng cách nào, tôi không thể biết, nhưng theo suy nghĩ của tôi, chắc họ cũng chờ các Thầy Cô lấy danh sách kết quả học sinh thi đậu từ Nha Khảo Thí đem về dán vào trong khung thông báo hàng ngày của trường thì các bạn ấy mới biết được.
Riêng tôi vì không có sự kiên nhẫn nên lại phải ngồi xe đò xuống Nha Khảo Thí để biết kết quả sớm, bởi những ngày thi qua tôi đánh giá sự làm bài của tôi vẫn còn có những môn tôi làm chưa đạt theo mong muốn có khả năng điểm thấp việc thi cử của tôi sẽ không đạt yêu cầu.
Tôi đến Nha Khảo Thí trong một ngày trời nắng tốt. Nhiều học sinh và người thân của họ đã có mặt, đám đông đứng chen chúc trước tấm khung có dán đầy danh sách tên các học sinh của từng Hội Đồng Thi. Tôi cũng cố gắng chen và len lõi đến gần được tấm khung thông báo. Nhìn vào danh sách Hội Đồng B3, tôi thấy ngay tên bạn tôi Nguyễn văn Đông, đậu với hạng Bình Thứ. Tôi tìm tên của tôi mãi hoài không thấy, sau hơn 10 phút tìm không thấy tên của tôi, đầu óc của tôi bổng nhiên tối sầm, mặt mày choáng váng, nhưng tôi kiên nhẫn giữ bình tỉnh và nhờ mấy bạn học sinh xung quanh cùng giúp tìm kiếm tên dùm. Cũng có những người lớn tuổi đi xem kết quả cho con em của họ, tôi cũng nhờ nhóm người này tìm giúp. Thời điểm đó người tôi mệt nhoài, nghĩ lung tung trong đầu. Thi rớt, chắc phải đi lính rồi, chứ còn giấy hoãn dịch đâu mà học tiếp!
Tôi rất buồn và bước lui ra ngoài, bổng tôi gặp thầy Nguyễn Hữu Lương hiệu trưởng trường Đạo Đức Học Đường thời điểm này thầy cũng là Thượng Nghị Sĩ của Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Tôi chào thầy và được biết thầy đến Nha Khảo Thí để lấy kết quả cho người con của thầy. Nhân dịp này, tôi nhờ thầy giúp xem kết quả dùm. Thầy Lương đi thẳng vào trong văn phòng của Nha Khảo Thí, khoảng 10 phút, thầy đi ra trên tay thầy cầm một tấm giấy trong đó có tên các thí sinh đậu. Thầy đến gần tôi hỏi tên của tôi và số báo danh. Tôi nói tên của tôi cho thầy biết. Thầy đưa tờ danh sách cả 2 thầy trò cùng tìm. Tôi thấy tên của tôi nằm theo số tự ở vị trí số 6 sau tên con của Thầy. Tôi mừng tim muốn thoát ra ngoài. Tôi xin thầy một bản copy. Thầy trở vào văn phòng và ra đưa cho tôi bản copy, và chúc mừng tôi đã thi đậu. Tôi đậu hạng Bình Thứ như bạn Nguyễn Văn Đông.
Sỡ dĩ, tôi tìm hoài trong tấm khung ở trước của Nha Khảo Thí không có tên tôi. Theo lời Thầy Nguyễn Hữu Lương nói lại là vì những nhân viên của Nha Khảo Thí niêm yết danh sách còn thiếu sót, nguyên cả tấm danh sách học sinh thi đậu thuộc vần H đến L không có dán lên trên tấm khung. Mà đã không có niêm yết trên khung thì làm sao tôi có thể tìm ra tên của tôi!
Tôi rất mừng và rời Nha Khảo Thí cũng không quên cám ơn thầy Nguyễn Hữu Lương trở về Tây Ninh cho kịp chuyến xe đò trong ngày.
Năm 1969. Tôi thi Tú Tài Toàn Phần. Tôi cũng phải xuống Saigon để thi. Vốn dĩ không có thân nhân hay bà con ở Saigon nên tôi cũng phải ở nhờ vào Thánh Thất Phú Nhuận. Ở đây tôi không còn gặp người Chánh Trị Sự bà con với bạn Nguyễn văn Đông mà tôi gặp vị Đầu Tộc Đạo Lễ Sanh LVV, người gốc Tây Ninh. Ngài giúp đỡ không riêng mình tôi mà còn nhiều học sinh gốc Tây Ninh cùng ngụ trong Thánh Thất để thi cử.Trong số học sinh ngụ trong Thánh Thất Phú Nhuận để chờ ngày thi Tú Tài Toàn Phần, tôi gặp Chị Tuyết cùng đi thi. Dù học cùng lớp với tôi, nhưng chị lớn tuổi hơn tôi nên tôi thường hay gọi Tuyết bằng chị.
Cũng theo cách thức năm 1968 lúc thi Tú tài Phần Thứ Nhất. Chúng tôi ôn bài chuẩn bị cho ngày thi đều dưới ánh đèn neon của hành lang gần Chánh điện Thánh Thất.
Tôi thi Tú tài Phần Hai với Hội Đồng Thi A 3 ở trường Bồ Đề (Nguyễn Khuê) ở Quận Nhì gần Cầu Ông Lãnh và chùa Ông Bổn. Để chuẩn bị cho cuộc thi, một ngày trước ngày thi, chúng tôi đi đến trường trung học Bồ Đề bằng xe lam từ Thành Thất Phú Nhuận.
Sau khi khảo sát xong mọi thứ tôi trở về Thánh Thất Phú Nhuận cũng lại bằng xe lam. Như năm trước, tin vào tâm linh nên tôi và chị Tuyết chiều vào giờ cúng của Thánh Thất đến đãnh lễ Đức Chí Tôn và Thần Thánh Tiên Phật trên chánh điệ.Sau khi đãnh lễ xong tôi trở về hành lang chuẩn bị ôn bài thi cho ngày đầu, bổng nhiên thân thể của tôi mệt lã và cảm thấy nóng ran từ trong cơ thể. Tôi biết mình bị cảm và trong tình huống thế này, tôi không phải giải quyết làm sao để người của tôi khỏe lại ngày mai có thể dự thi.Cơn sốt bắt đầu lan tỏa. Tôi mệt, nhưng tôi cố gắng kêu được chị Tuyết giúp cạo gió cho tôi. Lúc đầu chị Tuyết ngại không muốn giúp tôi.Không biết chị nghĩ điều gì? Nhưng sau đó chị đồng ý cạo gió cho tôi. Theo lời chị nói,tôi bị cảm gió rất nặng, những vết cạo của chị qua đồng tiền,lưng của tôi đã đỏ bầm. Chị cho tôi uống vài viên thuốc cảm chị xin từ văn phòng Lễ Vụ của Thánh Thất. Tôi cám ơn chị. Đêm hôm đó tôi không thể ôn bài thi. Tôi ngủ chập chờn vì cơn cảm sốt.
Sáng hôm sau tôi ráng dậy sớm, mặc dầu người rất mệt, nhưng vì là ngày thi đầu. Tôi bắt xe Lam đến trung tâm thi. Trước cổng trường Bồ Đề tấp nập người đưa con cháu đi thi. Tôi biết chị Tuyết cũng cùng thi chung trung tâm với tôi, nhưng tới giờ thi tôi không thấy chị. Tôi gặp anh Lương Nhị con của thầy Lương Thượng Nghị sĩ thi cùng phòng với tôi. Theo phiếu báo danh anh ngồi trước tôi một dãy bàn.
Phải công nhận các giám thị gác thi rất chuyên nghiệp, chặt chẻ theo dõi từ cử chỉ của các thí sinh, mỏi động tác gì của thí sinh cũng bị theo dõi. Tôi không biết ở trung tâm thi nào khác các giám thị có dễ dãi hay không, chứ ngay trung tâm tôi thi Hội Đồng A 3 ở trường Bồ Đề các giám thị như là một cảnh sát hình sự.
Qua cảm sốt đêm, người của tôi vẫn còn mệt, nhưng phải cố gắng thi ngày đầu. Ngày đầu tiên thi các môn phụ hệ số thấp nên cũng không lo lắng lắm, dù người có mệt. Buổi sáng thi xong một số môn học, các thí sinh là người Saigon đều theo cha mẹ hay thân nhân về nhà nghĩ ngơi để chuẩn bị cho môn thi chiều. Riêng tôi không có chỗ nghĩ trưa để ôn bài. Vì nếu từ trung tâm thi ngồi xe về Thánh Thất Phú Nhuận và rồi trở lại thi sẽ không kịp. Tôi quyết định vào nghĩ trưa ở chùa Ông Bổn. Ở đó tôi được ông sư trụ trì cho ăn cơm trưa, ôn bài cho môn thi buổi chiều.Những ngày thi kế tiếp, trưa tôi cũng lại nghĩ tại chùa ông Bổn, tôi cũng được các sư ở chùa cho ăn và còn cầu chúc cho tôi thi đậu.
Ngày thi cuối cùng xong tôi đến chùa từ giả quý sư và không quên cám ơn đã giúp chỗ nghĩ và ăn trưa.Trở lại Thánh Thất Phú Nhuận bằng chuyến xe lam chiều, nhưng lòng còn vương sự cám ơn các vị sư ở chùa ông Bổn. Song song với sự cám ơn còn vương trong lòng đó là sự cám ơn đối với chị Tuyết. Nếu như đêm hôm đó chị Tuyết không cạo gió cho tôi, chắc gì tôi khỏe để đi thi.Tôi cám ơn chị Tuyết. Tôi đến Thánh Thất để cố tìm gặp chị để có lời cám ơn nghĩa cử của chị đã giúp tôi trong lúc tôi bệnh. Nhưng tôi không tìm thấy chị và người hành đạo ở Thánh Thất nói chị đã về Tây NInh rồi.
Ngày hôm sau, tôi đáp xe đò về Tây Ninh, công việc đầu tiên là tôi đến nơi nhà trọ trước đây chị ngụ trên đường Ngô Tùng Châu thị xã Tây Ninh để theo học lớp Đệ Nhất trường trung học Công Lập Tây Ninh nhưng không gặp chị. Nhà trọ có người khác thuê mướn và người chủ nhà trọ cho biết chị đã về quê. Tuy suốt thời gian học cùng lớp Đệ Nhất với nhau, tôi biết chị là người miền Tây nhưng không biết chị ở tỉnh nào! Tôi và chị bặt tin nhau từ đó. Tôi không rõ chị có thi đậu không. Riêng tôi kỳ thi Tú Tài Toàn Phần tôi cũng đậu hạng Bình Thứ.
Khi vào đại học Sư Phạm và cùng ghi danh vào đại học Luật Khoa Saigon. Người bạn cùng khoa Sư Phạm với tôi là người bà con cùng quê Vĩnh Long với chị Tuyết cho biết chị Tuyết cũng đã đậu Tú Tài Toàn Phần cùng lượt với tôi và hiện chị là theo ngành Y Tá Điều Dưỡng.
Nhân youtube của Người Ngoại Thành nói về kỳ thi Tú Tài Khắc Nghiệt- Bao nhiêu nước mắt đã rơi? Tôi nhớ lại 58 năm trước tôi là người từng đã trải nghiệm về việc thi cử nên phải công nhận trước năm 1975, việc thi cử ở miền nam rất khó khăn. Theo tài liệu hiếm có ghi nhận: mỗi mùa thi Tú Tài Phần Nhất hay Toàn Phần số thí sinh ghi danh thi thật nhiều trên toàn quốc, nhưng tỉ lệ đậu rất ít. Chỉ ước khoảng 40% cho một mùa thi. Vì thế bằng Tú Tài của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa rất có giá trị.
Kỳ thi Tú tài (Tú tài I - Bán phần và Tú tài II - Toàn phần) tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975 được xem là những kỳ thi quốc gia quan trọng, nghiêm túc và tạo nhiều kỷ niệm sâu sắc cho các thế hệ học sinh. Dưới đây là tổng hợp cảm nghĩ và thông tin về các kỳ thi này dựa trên các tài liệu hồi ức và biên khảo:
1. Sự Nghiêm túc và Áp lực "Sinh tử"- Kỳ thi quốc gia: Tú tài là cột mốc lớn, phân loại học sinh sau 12 năm đèn sách. Đậu Tú tài II (toàn phần) là điều kiện bắt buộc để vào đại học.
- Áp lực thi cử: Với nam giới, hỏng Tú tài I (Tú tài bán phần) đồng nghĩa với việc có thể phải nhập ngũ quân dịch hoặc vào trường hạ sĩ quan. Do đó, kỳ thi mang áp lực tâm lý rất lớn, thường được coi là kỳ thi "sinh tử".
- Tỷ lệ đỗ thấp: Đặc biệt với Tú tài Pháp, tỷ lệ đỗ chỉ khoảng 20-25%. Tú tài Việt giai đoạn đầu cũng rất gay go, rạng danh cả làng xã khi đỗ.
- Tổ chức quy củ: Dù trong hoàn cảnh thời chiến, các kỳ thi được tổ chức tại các Thủ Đô Saigon và từ thập niên 70 ở các tỉnh mới có Hội Đồng Thi. Giám khảo chấm thi kỹ lưỡng, được đánh giá là công bằng và minh bạch.
2. Kỷ niệm về các kỳ thi (1960s - 1974)
- Tú tài I (Bán phần): Thi cuối lớp 11, gồm hai phần viết và vấn đáp (vấn đáp bị bãi bỏ từ năm 1968).
Tú tài II (Toàn phần): Thi cuối lớp 12, thi cử rất nghiêm ngặt, đề thi đòi hỏi sự sáng tạo và kiến thức vững chắc
- Kỳ thi "Tú tài IBM" (1974): Năm 1974 đánh dấu sự cải tổ khi lần đầu tiên Bộ Giáo dục sử dụng máy điện toán IBM để chấm bài trắc nghiệm. Kỳ thi này thường được nhắc đến với cảm giác vừa hiện đại vừa lo ngại về phương pháp mới.
- Sự phân ban: Học sinh được chia ban (Ban A - Khoa học thực nghiệm, Ban B - Toán,.) và nội dung thi phù hợp với chương trình học.
3. Nét Văn hóa Thi cử
- Trung tâm luyện thi: Có các trung tâm luyện thi nổi tiếng tại Sài Gòn (đường Cao Bá Nhạ,..) dành cho cả chương trình Việt và Pháp.
- Giám khảo chấm rộng: Nhiều hồi ức cho rằng giám khảo miền Nam chấm thi tương đối "rộng" và có tâm, tạo điều kiện cho học sinh nhưng vẫn giữ sự nghiêm minh.
Sự sàng lọc: Học sinh thi Tú tài 2 thường được sàng lọc từ Tú tài1.Tuy vậy tỷ lệ đỗ cao không hơn (thường trên 40% ở giai đoạn những năm 70).
- Về Kỳ thi Tú Tài của miền Nam trước 1975, hiểu hơn phần nào về chương trình giáo dục, cách dạy của chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
- Môn Triết là 1 môn được coi trọng khi được dạy ngay từ cấp 1, với những ý niệm cơ bản. Nhìn đề thi Triết tú tài 2 mới thấy được đẳng cấp khác biệt khả năng am hiểu Lịch sử triết học thế giới, sự bao quát của Triết học, các phương pháp luận, thế giới quan...tất tần tật. Bài thi gồm có cả 2 phần: Luận 10đ và Trả lời vắn tắt 10đ.
Các môn tự nhiên: Toán, Lý, Hóa, Vạn vật (Sinh) đều là môn trọng yếu...với 2 ban chính (ban A Vạn vật hệ số 5, ban B Toán hệ số 5). Điều quan trọng là nhìn vào đề thi, sẽ thấy thời đó dạy cho học sinh cách hiểu cách tư duy (từ bản chất) của mọi khái niệm, định lý...chứ không phải cách xài công thức-học vẹt. Ví dụ môn Toán: Ý nghĩa, ứng dụng của Đạo hàm, nguyên hàm...đều được hỏi trong đề (cách thống nhất tên gọi khái niệm cũng đã thể hiện 1 đẳng cấp khác . * Sinh ngữ: được chia làm Tiếng Mẹ đẻ (sinh ngữ 1, hệ số 2) và 1 môn sinh ngữ 2, hệ số1 những đoạn trích bình văn kinh điển và sâu sắc của tiền nhân...
Môn thể dục ko là môn chính thức của kì thi tú tài, nhưng khuyến khích để cộng điểm để thấy được quan niệm giáo dục và phát triển con người của chế độ VNCH thế nào.
Kết Luận
Tóm lại kỳ thi Tú Tài ở chế độ VNCH.Tổ chức chặt chẽ, có phương pháp, có nề nếp trong thi cử là yêu tố quyết định trong thi cử. Cá nhân muốn gian lận cũng khó mà gian được. Chẳng hạn chuyển đổi người địa phương đi nơi khác là yếu tố quan trọng hàng đầu. Phân biệt tổ chức Hội đồng giám thị và Hội đồng giám khảo. Không cho phép bất cứ quan chức địa phương nào, từ Tỉnh trưởng đến người quân cảnh dính dáng xa gần tới Hội đồng giám thị giám khảo. Hai hội đồng ấy từ trung ương gửi xuống biệt lập với quan chức địa phương. Địa phương chỉ có bổn phận bắt buộc cung cấp phương tiện. Chánh chủ khảo đến làm việc là mọi chuyện phải được sắp xếp sẵn sàng cho họ như phương tiện di chuyển như máy bay quân sự, xe cộ, lính canh gác thùng đề thi, an ninh tại các trường thi.Chẳng hạn để tiết lộ thùng đề thi do trách nhiệm ông Tỉnh trưởng thì việc trước tiên là ông tỉnh trưởng phải đổi đi chỗ khác.Tổ chức ấy được tiến hành như sau:Nha Khảo Thí. Nha khảo thí là nơi đầu não làm việc suốt quanh năm nhằm mục đích tổ chức hai kỳ thi trung học Phổ thông và 4 lần thi tú tài 1 và 2. Cơ quan này chia ra nhiều bộ phận riêng rẽ, biệt lập như tổ chức các Hội đồng Giám thị và giám khảo, phân phối điều động các giám khảo, giám thị. Sài Gòn vì là trung tâm nên nơi đây còn chia ra nhiều Hội Đồng như Hội Đồng ban B, ban C và D, Hội Đồng ban A. Các tỉnh thì có các Hội Đồng Giám khảo như Huế, NhaTrang, Cần Thơ, v.v… Hội Đồng Giám Thị thì tổ chức tại các địa phương như các tỉnh Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Hội An, Quảng Trị, v.v… Khi các thí sinh thi xong thì bài thi và hồ sơ của Hội Đồng Giám Thị được chuyển tất cả về Huế.Nhưng bộ phận quan trọng của Nha Khảo Thí là hội đồng ra đề thi. Bộ phận này nằm chót lót trên lầu 3 của Nha Khảo Thí.
· Người ta gọi đùa là một vương quốc thi cử. Nội bất xuất, ngoại bất nhập.
Duy Văn Hà Đình Huy