Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

Cánh Nhạn Về Đâu - Thơ: Phương Hoa - Nhạc: Trần Chương Lương - Hòa Âm: Hoàng Đệ - Ca Sĩ: KN Ngọc Thuý


Nhạc: Trần Chương Lương
Hòa Âm: Hoàng Đệ
Ca Sĩ: KN Ngọc Thuý

Cà Phê Dư Âm

 

Ly cà phê dĩ vãng
pha chút vị hôm nào
trên chiếc bàn biển rộng
uống từng ngụm chiều sau...

Về đây mùi hương cũ
cho nhau chút cuộc đời
nhiều năm trời gom lại
cũng đủ một viền môi

Bàn tay dài năm ngón
mấy lần chạm niềm đau
Bàn tay dài nhung nhớ
mấy lần vẫy chào nhau

Quán xưa không còn nữa
dư âm của một thời
ly cà phê đời cạn
hương còn mãi về sau

Người về đâu, về đâu?
Những quán đời không mỏi
giọt cà phê úa màu
vẫn nghiêng bóng hình nhau..!

Durham, North Carolina
Nguyễn Vĩnh Long

Cho Anh

 
(Tranh: Hoạ Sĩ Đặng Can)

Em cho anh… mùa Xuân

Ôi, mùa Xuân…hoa bướm vui mừng

Lan tỏa đâu đây…đầy hương sắc

Tơ trời xao xuyến…phiếm sáo ngân!


Bốn mùa, năm tháng… chóng qua

Sắc hương… tình nghĩa bớt mặn mà!

Xác thân mỏi mòn…rơi rụng…

Thâm tình.. thì khó phôi pha!


Đâu còn hai tiếng… Em ơi!

Cháu con…che mắt…mỉm cười

Gọi nhau “Ông Bà” cho hợp nhé!

Bên ngoài …mây gió chơi vơi!


Nặng nề …lê bước bên nhau

Đường về …ai trước,ai sau…

Cõi ấy…hãy chờ nhau nhé

Đời đời vinh hiển…chẳng phai màu!


Tô Đình Đài

Nghe Đàn Huế


Cuối cùng thì ''Bà Già'' cũng ''đi''! ''Đi'' , một cách rất bình thản, nhẹ nhàng. Một ''lên đường'' mà, tôi nghĩ, tất cả chúng ta đều mong muốn được như thế. 2h khuya (27/1) khi con gái vào phòng thăm, bà vẫn còn tỉnh táo nhưng đến 9h khi cô vào thăm thì bà đã ''đi''. ''Đi'', trong giấc ngủ , trong căn phòng ấm cúng. ''Đi'' ngay ở nhà mình . ''Đi'' theo cái quy luật của tạo hóa : ''sinh lão bệnh tử ''!

Và người ''thọ'' nhất (?) trong giới Y Khoa Việt Nam (corps médical) không còn là bà Henriette Bùi quang Chiêu ( 8-9-1906 _ 29-4-2012), vị nữ Bác-sĩ Việt đầu tiên ( Paris 1934). Mà là ''Bà Già'', "cô đỡ" (sage femme) Nguyễn Thị C. : trên 106 tuổi ( 31-7-1919_27-1-2026) .

Xin gởi lại bài tôi viết năm 2016 . Để bạn cùng tôi hướng lòng về ''Bà-Già''.
Con cầu nguyện hương linh Bà-Già sớm về cõi Phật!

BP
02/02/2026
===================

Thích hay không thích, vui hay buồn , chắc bạn cũng đồng ý với tôi, rằng đêm 31/12/1999 là một trong những đêm giao thừa "đặc biệt"của chúng ta? Bởi vì không phải ai cũng được là nhân chứng cho cái giây phút bàn giao giữa hai thế kỷ! Thế kỷ 20 và 21 .

"Đất nước chúng ta có 4000 năm văn hiến". Không biết ai là người đã viết ra câu đó, nói ra câu đó, trong thế kỷ 20 (cụ Trần trọng Kim chăng?) . Nhưng văn hiến không phải là văn hóa.

Dựa theo định nghĩa của học giả Đỗ Trọng Huề "Văn hiến là trình độ văn hóa của một dân tộc đã thoát khỏi bóng tối của thời tiền sử để bước vào ánh sáng thời kỳ lịch sử ", ký giả Mặc Giao (nguyên dân biểu VNCH ) , cho rằng văn hiến Việt Nam, mà chứng tích là một bài từ của thiền sư Khuông Việt, bắt đầu, trễ nhất , là năm 986 . Có nghĩa là chỉ " mới "1030 năm (986 – 2016). Chính văn hóa (culture) mới được 4000 ( 5000 ? ) năm .

Tuy có một nội lực thượng thừa là 4000 năm nhưng câu văn ta đọc hôm nay, khúc ca ta hát hôm này , bức tranh trong phòng khách, câu thơ mới vừa ngâm vân vân . Nhất nhất những cái "văn hóa" đó, chỉ đều được khai sinh trong thế kỷ vừa qua. Cái thế kỷ mà Vũ hoàng Chương ( sinh 1916 ) đã than thở
"đầu thai lầm" , mà Nguyên Sa  sinh 1932) đã chua chát"dăm bảy nụ cười không xóa hết ưu tư! Tôi muốn nói đến câu văn Đông Dương , Nam Phong của cụ Vĩnh, cụ Quỳnh , đến nốt nhạc « Con thuyền không bến « của cụ Đặng , đến vần điệu « Tình Già « của cụ Phan , đến những nét họa của cụ Vân, cụ Trí.. vv . Những « khai sinh » đó , trừ tờ Đông Dương ( ra đời 1913 ) , đến nay , vẫn chưa được trăm tuổi! Nên thế kỷ 20 , với tôi , là thế kỷ đánh dấu sự hội nhập của văn chương , nghệ thuật Việt nam vào văn chương , nghệ thuật quốc tế . Chưa nói đến thế kỷ 20 là thế kỷ duy nhất trong lịch sử (tôi hy vọng vậy) mà mấy triệu người Việt đã liều chết , bỏ nước ra đi tìm Tự Do. Nên , chào thế kỷ 21 , có lẻ không một người Việt nào , nhất là những người tị nạn CS , mà không lễ mễ mang hy vọng chất đầy"trước thềm năm mới « với mong ước ngày « hẹn một ngày về"(Lê Hữu Mục) sẽ không còn xa lắm.
Bằng những rộn ràng đó, mong mỏi đó , chúng tôi đã tổ chức đêm « Chào đón năm mới. Mừng thế kỷ mới " vừa ăn Tết ( tây ) vừa ăn « tân gia"( sau hơn một năm lao động phờ người!) .

Vui tết thì phải vui với bạn, mới vui! Trong 40 "quan khách" thân tình, có một vị đặc biệt . Đặc biệt là vì dù không được thiệp mời , vẫn khăng khăng đòi tới . Đó là một nữ lưu … 81 tuổi ( sinh 1918 ) , thân mẫu của Nguyễn , ông bạn thân nhất của tôi ngày đó. Theo Nguyễn , tôi gọi bà cụ là " Bà Già" .

Ông già, bà già là người Huế. Ông Cụ có "cabinet" ở Đà lạt. Sang Pháp định cư sau tết Mậu Thân. Thân với Nguyễn, tôi được cả gia đình bạn ta xem như " con cháu trong nhà " Nhất là " bà già". Nhờ Nguyễn , thỉnh thoảng chúng tôi "trúng số", được bà làm các món Huế , gởi cho Nguyễn đãi chúng tôi . Bà vui tánh và rất mê văn nghệ . Lần đầu tôi đệm cho bà "Đoàn Chuẩn Từ Linh", vừa đệm vừa nhắc tuồng , nhờ thế mà được lọt vào mắt xanh bà Cụ . Mỗi lần gặp, bà đều dơ hai tay ôm mặt tôi nựng  "Hổm rày mi đi đâu mà bà già không gặp?".

Năm 1999, hay tin chúng tôi tổ chức "réveillon" với chương trình "50 năm âm nhạc VN", bà đòi tới tham gia . Sau cùng , bị mấy đứa con "bắt" phải ở nhà ăn Tết với " ông già" , nên bà so dây , nắn phiếm cây đàn tranh (từ lâu không đụng tới) dạo vài khúc " tủ " thu băng, gởi chúng tôi . Xem như một đóng góp vào chương trình đêm không ngủ với đám "trẻ". Nhận được băng nhạc sau tết , khi Nguyễn thực hiện cuốn băng kỷ niệm , tôi nhờ anh lấy đó làm nhạc đệm cho bài thơ tôi viết tặng « bà già «!

Cuốn băng vẫn nằm trong thư viện nhà tôi . Thú thật là tôi không còn nhớ các ( đàn ) tranh-khúc nhưng cái cảm giác khi một mình ngồi trong phòng khách đầy bóng tối , nghe réo rắc tiếng đàn , thì vẫn nhớ như in. Đó là cái cảm giác của một người đi xa, 20 năm chưa quay về cố lý, chợt một hôm tình cờ nghe lại tiếng róc rách , nhỏ đều , tiếng ào ào , tuôn chảy. Như suối của Đà lạt . Như mưa ở Huế . Như đêm bão rừng lộng gió năm xưa . Lòng ly hương muốn tru dài những tiếng hú sói hoang

Bây giờ, tôi vẫn gặp "bà già", trong những đêm đón giao thừa ở Phật Đường ( mà bà và các con đã đóng góp rât nhiều trong việc thành lập chùa ) thành phố tôi ở. Mới hôm tết rồi, ở tuổi 98 mà trông bà vẫn tráng kiện , mạnh khỏe , trí nhớ vẫn tốt , da mặt vẫn mịn màng . Gặp mẹ nhưng không gặp con: Nguyễn , đứa con trai út của bà, người bạn thân của tôi . Giản dị là Nguyễn đã đi xa, đi thật xa, trong một ngày hè năm 2008!

Tôi ghi lại bài thơ dưới đây như một tưởng niệm . Về người bạn Huế hiền lành , dễ mến của tôi .
Như một lời cám ơn gởi đến " bà già " của chúng tôi , lần nữa

BP

Nghe "Ðàn Huế "
Kính gởi "Bà già"
"Ðàn buồn, đàn lặng, ôi, đàn chậm
Mỗi giọt rơi, tàn như lệ ngân"

Xuân Diệu

Này là tiếng đàn
Khởi đi từ Huế-mưa-giăng
Bay lên mù-sương-Ðà-Lạt
Tiếng đàn không tiếng hát
Nghe như suối nhỏ trên ngàn!

Ðàn của cung tần kêu Chúa Thượng
Loan phòng: gối lạnh đùa chăn!
Ðàn của đêm nào say ngất ngưỡng
Trầm mình, Lý Bạch ôm trăng
Ðàn của thiếu thời cơn gió cuốn
Mộng tàn theo ánh sao băng!

Này, từng nhịp rời
Ngậm ngùi, xa vắng, chơi vơi
Nhớ đêm mới sóng thuyền xa bãi
Đã thấy thiên thu một góc trời!

Thì thôi, một đời cô độc
(Ðã đành mây trắng lang thang… )
Thì thôi, bắt đầu mái tóc
Sợi dài bạc gốc cưu mang
Ðàn khua tận cùng đáy cốc
Những hình bóng cũ trôi ngang
Người đi dưới trời sao mọc
Ngập hồn cả một Việt Nam!
Chân run, cuối cùng con dốc
Ðứng im, nước mắt hai hàng!

Này là cung Thương
Này là cung Oán
Này là con thuyền neo trên bến vắng
Sóng vỗ về, mê mõi kiếp ly hương

Thấy rồi, đôi tay ngón nhỏ!
Khoan thai nhấn phím tơ chùng
Ðà Lạt, đêm nào bỏ ngỏ
Mắt người, đẫm một màu trăng

Những cành thông và những đồi thông
Những cơn đau còn đó chập chùng
Căn nhà cũ gói lòng thiẽu phụ
Nhạc sầu khơi động cả không trung!

Ðàn ơi, Hương Giang ơi!
Ðàn ơi, Cam Ly ơi!
Quê nhà, mây trắng bay không tới
Kỷ niệm đùn lên một góc đời

Ðàn kéo buồn len theo hớp rượu
Vỡ lòng như sói hú đồng hoang!

10-03-2000
BP

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026

Chuyến Tàu Hoàng Hôn - Minh Kỳ - Hoài Linh - Kim Trúc


Sáng Tác: Minh Kỳ & Hoài Linh
Trình Bày: Kim Trúc

Sớm Bình Yên

 

Song buồn…sương khói mong manh

Lời em…ngọt lịm mây xanh

Ru hồn anh…  ngàn hoa đua nở…

Ong bướm líu lo…nặng trĩu cành!


Dáng em như chiếc thuyền mơ!

Va chạm tim anh…quá bất ngờ…

Đôi vai gầy…đang rung động

Bồng bềnh… dòng suối nhạc thơ!


Tập nhật ký…em vội trao tay

Đây dòng sông…sóng vỗ tháng ngày

Giọt lệ mờ…trang giấy trắng

Hồn anh rung động…cánh cò bay!


Biết nói gì đây…chết lặng người

Sông dài, biển rộng chơi vơi…

Lôi kéo hồn anh lìa bến mộng

Sự thật là đây…hay ảo vời!


Văng vẳng…giọng nói nhủ khuyên

Em ơi…ván đã đóng thuyền

Cám ơn…tình yêu là như thế đó!

Nguyện cầu  sóng gió…sớm bình yên!


Tô Đình Đài

Immorta(SaraTeasdale) - Bất Tử(ChinhNguyen/H.N.T.)

  

Immortal

So soon my body will have gone
Beyond the sound and sight of men,
And tho' it wakes and suffers now,
Its sleep will be unbroken then;
But oh, my frail immortal soul
That will not sleep forevermore,
A leaf borne onward by the blast,
A wave that never finds the shore.

SaraTeasdale (1884-1933)

***

Phỏng dịch  

Bất Tử

Chẳng còn bao lâu nữa, ta sẽ đi xa
Thân xác sẽ vượt ra ngoài biên giới
Vùng sinh hoat của loài người khốn khổ
Dù bây giờ nó được ngủ miên man
Nhưng hỡi linh hồn bất tử yếu đuối của ta
Mi sẽ không được ngủ an bình mãi mãi
Mi là một chiếc lá trôi theo gió tạp
Một con sóng không bao giờ tìm thấy bờ xa

CN/H.N.T. 

Aug.15.25


L’épave (Henry Gréville) - Mảnh Tàu Nổi Trôi (Thái Lan Dịch)

 

L’épave - Henry Gréville

Le vent qui soufflait en tempête depuis la veille au soir s’était calmé un instant; un rayon de soleil, jaune et pâle, traversa les nuages et fit briller comme de l’étain neuf les toits de schiste bleuâtre. Roger ouvrit la fenêtre; la senteur âpre et bien connue du varech poussé sur les plages par les hautes marées le saisit à la gorge, et il l’aspira avec délices en fermant les yeux pendant un instant. 

Les arbres avaient assez bien résisté ; beaucoup de feuilles brunes jonchaient le sol, mais les hêtres perdent leur feuillage de bonne heure, et les ouragans n'effraient pas les troncs serrés en rang épais le long des grandes avenues, sur les haies doubles, ni leurs branches enchevêtrées, courbées dès l’enfance dans la direction la plus fréquente du vent. Quelques rosiers remontants n’avaient plus leurs roses de la veille, quelques tiges grêles avaient cédé dans le parterre, et c’était tout.

***

Bài Dịch: Mảnh Tàu Nổi Trôi

Cơn gió bão từ tối hôm trước đã dịu đi trong giây lát; một tia nắng vàng nhạt xuyên qua mây khiến những mái nhà đá phiến xanh sáng bóng. Roger mở cửa sổ; anh nghe mùi tảo quen thuộc dạt vào bãi biển khi thủy triều dâng cao, và anh nhắm mắt lại hưởng một cách thích thú. 

Cây cối vẫn mạnh mẽ chống chọi lại bão tố ; nhiều chiếc lá nâu vương vãi trên mặt đất, những đám cây sồi rụng lá sớm, bao nhiêu cơn lốc không làm những thân cây dày đặc dọc các con đường rộng chùng lòng, chúng đã uốn cong theo hướng gió ngay từ khi chúng còn bé. Một vài bụi hồng mọc lại đã rụng hoa từ đêm trước, chỉ còn trơ trụi vài cành cây mảnh mai.

Thái Lan Dịch


Thứ Hai, 2 tháng 2, 2026

Chạm Vào Em - Lưu Nguyễn Đạt


Lưu Nguyễn Đạt

Cánh Nhạn Về Đâu



(Viết tặng bạn hiền, nữ dịch giả T. Lan)

Trăng khuya Tháng Bẩy bơ phờ
Nhớ người phương ấy lòng ngơ ngẩn sầu
Ngân Hà Ô Thước giờ đâu
Gió hiu hắt rải hư hao vào rèm
Vườn thanh vò võ mình em
Sao anh đành để nỗi niềm riêng ai
Những mong năm tháng còn dài
Hẹn ngày tái ngộ trúc mai tỏ tường
Chừ răng chia cách đôi đường
Cả câu vĩnh biệt đoạn trường khôn trao
Biết khi mô thấy lại nhau
Em không đành hẹn kiếp sau hỡi người!
Lòng đau biếng nói thôi cười
Gửi bao tâm sự vời vời theo trăng
Kìa kia cánh nhạn băn khoăn
Quẩn quanh thơ thẩn cung Hằng đợi ai?
Gió mơn hôn tiếng thở dài
Giật mình ngỡ gót chân ngoài song thưa
Nghìn trùng phương hướng nắng mưa
Lật bài thơ cũ hương thừa còn vương.

Phương Hoa
July 22, 2024
 

Như Mộng

  

Sách cũ thơm đầy hương tóc em
Ngày xưa hai đứa học chung đèn
Khi anh buồn ngủ em liền đến
Mây trắng mây hồng nâng gót quen

Em đọc anh nghe nhiều sử kinh
Chỉ cho nghe rất ít chuyện tình
Em thường cười bảo anh hư quá
Phải học ngoan rồi mới được xin

Em đến em đi chẳng hẹn hò
Anh buồn muốn chết em chẳng cho
Học hành chi nữa em là mộng
Không có đường qua không có đò

Không ăn không uống thương quá đau
Anh muốn cho mình được chết mau
Để được gặp em trong kiếp khác
Không còn khô héo đợi chiêm bao

Em lại dỗ dành lại viếng thăm
Mắt môi nhóm lửa hẹn nghìn năm
Vòng tay trói buộc thơm chăn gối
Chuyển kiếp đổi đời hết tối tăm

Lại nói lại cười lại học chung
Yêu qua muôn kiếp vẫn thẹn thùng
Sao rơi đầy mắt hoa đầy tóc
Em vẫn thiên đường ngoan gót xuân

Tưởng được cùng vui đọc bảng vàng
Ngờ đâu chỉ có khu vườn hoang
Em đi vội vã không từ biệt
Phím lạnh hương tàn bếp hết than

Dang tay ôm hết cả bụi đường
Mong tìm lại được chút dư hương
Lần theo mạch đất nghìn năm cũ
Còn dấu tích nào để tiếc thương

Suối cạn mất nguồn rong chết khô
Anh như cá nhỏ lạc lên bờ
Em mang huyền diệu nuôi mầm sống
Chỉ dẫn đường đi đến ao hồ

Bây giờ em bỏ anh thực rồi
Bốn biển mịt mờ mây gió trôi
Không hồn không xác không buồn tủi
Đường cũ trăng xưa hết dạo chơi...

MD.03/03/04
LuânTâm

Đà Lạt, Một Thời Để Nhớ



Chiếc xe khách Phương Trang rời thành phố biển Nha Trang vào buổi sáng còn vương hơi sương. Trên xe không đông lắm. Những hàng ghế bọc nệm xanh đã cũ, mùi nhựa pha lẫn mùi cà phê ai đó mang theo từ bến xe. Tịnh ngồi sát cửa sổ, tay đặt lên thành ghế, mắt nhìn ra ngoài. Biển lùi dần phía sau, nhường chỗ cho những dãy nhà thưa thớt, rồi những con đường bắt đầu dốc lên, quanh co, ôm lấy sườn núi.

Đan Hà ngồi bên cạnh anh, dựa nhẹ vào vai, im lặng. Họ mới cưới nhau chưa đầy một tháng. Mọi thứ còn mới, kể cả sự im lặng giữa hai người. Không phải là sự ngượng ngùng khó chịu, mà là thứ im lặng dịu dàng của những người đang học cách ở cạnh nhau mà không cần phải nói quá nhiều.
Đà Lạt được chọn cho tuần trăng mật gần như không cần bàn bạc. Một cái tên bật ra rất tự nhiên, như thể đã nằm sẵn đâu đó trong ý nghĩ của cả hai. Không xa, không ồn ào, một nơi vừa đủ để bắt đầu.
Xe bắt đầu leo đèo. Không khí đổi khác rõ rệt. Gió mát hơn, lạnh hơn, mang theo mùi đất ẩm và cỏ dại. Đan Hà kéo sát áo khoác, quay sang cười khẽ:
- Lạnh rồi đó anh.
Tịnh không trả lời. Anh chỉ nắm lấy tay vợ. Bàn tay ấy mềm, hơi lạnh, nhưng khi nằm trong tay anh thì dần ấm lên. Một cử chỉ rất nhỏ, nhưng khiến anh chợt hiểu: từ nay, có một người mà mình phải để ý đến cả những thay đổi nhỏ nhất của thời tiết.

Buổi xế chiều, xe vào đến Đà Lạt. Thành phố hiện ra không rực rỡ, không choáng ngợp. Những con dốc thoai thoải, những mái nhà thấp, những hàng thông đứng im lìm. Ánh nắng cuối ngày nghiêng nghiêng, rơi xuống mặt đường, loang loáng vàng. Mọi thứ có vẻ như chậm hơn những nơi khác.
Khách sạn họ ở nằm ngay trung tâm. Một khách sạn nhỏ, mặt tiền đơn giản. Nhận phòng xong, họ đặt hành lý xuống, mở cửa sổ. Gió lạnh ùa vào, mang theo mùi hoa dại và sương chiều. Đan Hà đứng bên cửa sổ, nhìn xuống con đường phía dưới, nơi vài chiếc xe máy chạy chậm, người đi bộ khoác áo ấm.
Buổi chiều đầu tiên ở Đà Lạt, họ không vội đi đâu xa. Chỉ đi bộ quanh khách sạn, lên dốc, xuống dốc, nhìn những cửa tiệm nhỏ, những quán nhỏ vỉa hè với những chiếc ghế gỗ sờn màu thấp thoáng sau hàng thông. Trời lạnh dần. Họ ghé một quán ven đường, gọi hai ly sữa đậu xanh nóng và một đĩa bánh su.
Ly sữa bốc khói. Đan Hà ôm ly sữa bằng hai tay, hít hà, rồi cười:
- Ở đây sữa đậu xanh, sữa đậu nành thơm quá anh hả. Chắc là thơm mùi lá dứa...
Tịnh nhìn vợ. Trong cái lạnh man mát của Đà Lạt, gương mặt Đan Hà ửng hồng, đôi mắt sáng. Anh chợt nghĩ, có lẽ hạnh phúc không phải là những điều lớn lao, mà là khoảnh khắc rất nhỏ này: ngồi cạnh nhau, uống một ly sữa nóng, không cần vội vã.
Đêm xuống nhanh. Thành phố lên đèn. Ánh đèn vàng hắt lên những con dốc, tạo thành những vệt sáng mềm. Họ trở về khách sạn sớm. Đêm Đà Lạt yên tĩnh, chỉ nghe tiếng gió thổi qua khe cửa, tiếng xe thưa thớt từ xa. Đan Hà ngủ rất nhanh. Tịnh nằm nhìn trần nhà, nghe nhịp thở đều đều của vợ, lòng yên đến lạ.
Sáng hôm sau, Tịnh dậy sớm. Trời lạnh hơn đêm qua. Anh khoác áo, xuống đại sảnh khách sạn thuê xe máy. Chiếc xe Wave Alpha còn khá mới, chỉ có vài chỗ trầy xước nhẹ, máy êm ru. Đan Hà ngồi sau, tay đặt nhẹ lên lưng anh. Họ bắt đầu một ngày dài, không lịch trình, không hẹn giờ.
Lần đầu tiên đến Đà Lạt, đầu những năm 2000, thành phố còn vắng. Những con đường đất đỏ dẫn vào rừng thông trải dài, im ắng. Gió thổi qua tán lá, tạo thành thứ âm thanh rất riêng, vừa thì thầm, vừa miên man.
Họ đi qua thác Cam Ly buổi sáng. Nước không nhiều, nhưng chảy đều, bọt trắng xóa. Đan Hà đứng nhìn rất lâu, như sợ làm động đến không gian tĩnh lặng ấy. Đồi Mộng Mơ hiện ra xanh mướt, mây lững thững trôi ngang tầm mắt. Thác Prenn ẩn mình sau rừng, hơi nước bám vào tóc, vào áo, mát lạnh.
Xe chạy chậm qua những bìa rừng rợp bóng thông. Con đường đất đỏ bám đầy bánh xe. Mùi nhựa thông ngai ngái. Ánh nắng lọc qua tán lá, rơi xuống thành từng mảng sáng tối đan xen. Đan Hà thỉnh thoảng nghiêng đầu, như muốn ghi nhớ mọi thứ thật kỹ.


Buổi trưa, họ ghé một quán nhỏ bên con suối. Quán Rừng. Bàn ghế gỗ thô, mái lợp tạm, xung quanh là cây và nước xanh, mờ đục. Họ gọi thịt heo rừng nướng trên than hồng, uống nước chanh dây. Cô chủ quán cười, nói:
– Ở đây gọi là nước lạc tiên đó.
Đan Hà cười theo:
– Nghe tên đã thấy mộng mơ rồi.
Ăn xong, họ nghỉ trưa ngay tại quán. Gió rừng thổi qua, mang theo tiếng lá xào xạc. Không ai nói gì. Cả hai đều cảm thấy, nếu nói lúc này, sẽ làm vỡ mất sự yên tĩnh rất mong manh.
Buổi trưa trôi qua một cách thật chậm rãi trong quán Rừng. Không ai hối thúc ai đứng dậy. Gió nhẹ thổi đều, vi vu qua những đồi thông xanh, như một khúc nhạc nền không cần tai nghe chăm chú. Tịnh nằm ngửa trên chiếc ghế gỗ dài, mắt lơ đãng nhìn lên những tán lá đan xen nhau phía trên. Ánh sáng rải rác xuống mặt đất, lúc sáng, lúc tối, nhịp nhàng như hơi thở của cả khu rừng.

Đan Hà nằm nghiêng bên cạnh, một tay gối đầu, tay kia đặt lên bụng. Nàng nhắm mắt, nhưng không ngủ. Trong đầu nàng lúc ấy không có suy nghĩ rõ ràng nào. Chỉ là cảm giác bình yên hiếm hoi, thứ cảm giác mà trước đây không biết gọi tên, nhưng bây giờ, nằm cạnh người đàn ông vừa trở thành chồng mình, nàng nhận ra: đó là cảm giác được ở yên trong đời sống của chính mình.
Họ rời quán Rừng khi nắng đã dịu. Con đường đất đỏ dẫn ra khỏi rừng vẫn vắng. Xe chạy chậm. Tịnh không muốn đi nhanh. Anh sợ rằng nếu chạy nhanh quá, cảnh vật hai bên sẽ vụt qua, và một khi đã vụt qua rồi thì sẽ không bao giờ quay lại đúng như thế nữa.
Họ đến Hồ Than Thở vào đầu giờ chiều. Mặt hồ phẳng lặng, nước sẫm màu, phản chiếu bầu trời cao và những hàng cây ven bờ. Không gian ở đây có gì đó trầm mặc hơn những nơi khác. Đan Hà đứng bên hồ, hai tay đút vào túi áo khoác, nhìn rất lâu. Tịnh không hỏi chị đang nghĩ gì. Anh biết, có những nơi khiến người ta tự nhiên muốn im lặng.
- Ở đây buồn mà đẹp, anh ha?
Tịnh gật đầu. Anh nghĩ, có lẽ cái buồn ấy không phải là nỗi buồn khiến người ta muốn rời đi, mà là nỗi buồn khiến người ta muốn đứng lại lâu hơn một chút.

Từ Hồ Than Thở, họ chạy xe về phía Hồ Xuân Hương. Thành phố hiện ra rõ hơn, đông hơn, nhưng vẫn giữ được nhịp điệu chậm rãi riêng. Những hàng quán ven hồ, những đôi tình nhân ngồi sát bên nhau, những chiếc xe đạp chạy thong thả. Đan Hà quay đầu nhìn xung quanh, ánh mắt như muốn thu hết mọi thứ vào lòng.
- Em thích Đà Lạt.
Tịnh nói:
- Anh cũng vậy.
Buổi chiều, họ ghé Trúc Lâm Thiền Viện. Không gian ở đây khác hẳn những nơi họ đã đi qua. Yên tĩnh, tách biệt, như một thế giới khép kín. Tiếng chuông chùa vang lên, trầm và sâu, lan xa trong không khí lạnh. Đan Hà chắp tay trước ngực, đứng yên. Tịnh đứng bên cạnh, không chắp tay, nhưng cũng im lặng.
Tiếng chuông ấy theo họ rất lâu, ngay cả khi đã rời khỏi thiền viện. Trên con đường dốc xuống, gió thổi mạnh hơn, mang theo mùi nhựa thông và mùi đất ẩm. Đan Hà ngồi sát vào lưng Tịnh. Khoảng cách giữa hai người gần đến mức không còn phân biệt đâu là hơi thở của ai.
Trời bắt đầu sẫm màu khi họ quay xe về trung tâm thành phố. Trên đường về, tiếng chuông chùa lại vang lên. Âm thanh ấy như sợi chỉ vô hình, nối buổi chiều với buổi tối, nối một ngày với những ngày khác trong đời.

Khi thành phố lên đèn, họ ghé một quán bánh xèo nhỏ. Quán đông nghịt người. Bàn ghế chật chội. Bánh xèo nhỏ xíu, chỉ lớn hơn cái chén một chút. Bánh được đổ liên tục, xèo xèo trên chảo nóng. Mùi bột, mùi dầu, mùi hành hòa vào nhau, thơm lừng.
Họ ngồi sát nhau, chờ bánh. Đan Hà ăn chậm, cẩn thận, như sợ làm rơi mất cái ngon rất mong manh ấy. Tịnh nhìn vợ, chợt thấy trong khoảnh khắc này, họ giống như bao đôi vợ chồng khác trên đời, không khác gì, không đặc biệt gì. Và chính điều đó làm anh thấy ấm lòng.
Rời quán, thành phố đã lên đèn, sáng rực những bóng đèn vàng đỏ. Những con đường quen thuộc ban ngày bỗng trở nên xa lạ trong ánh chiều tà. Họ lái xe vòng vèo một hồi mà vẫn không tìm ra lối về khách sạn. Đan Hà nhíu mày, giọng hơi lo lắng:
- Hình như mình đi lạc rồi anh.
Tịnh cũng thấy lòng bối rối. Anh dừng xe bên lề, tiến lại hỏi một người đang bày hàng trong chợ. Người ấy nhìn họ, mỉm cười:
- Khách sạn hả? Bên kia đường kìa.
Chỉ một câu nói rất bình thường, nhưng trong khoảnh khắc ấy, Tịnh chợt nhận ra cả hai thật ngớ ngẩn, như những kẻ lạc vào thành phố đang mộng mơ nhưng vẫn tràn ngập ánh đèn.

Đêm ấy, họ về phòng muộn hơn hôm trước. Cả hai đều mệt. Nhưng là cái mệt dễ chịu, cái mệt của một ngày đã sống trọn. Đan Hà ngồi bên cửa sổ một lúc lâu, nhìn xuống thành phố sáng đèn. Tịnh nằm trên giường, nhìn vợ, không nói gì.
– Anh nè… Sau này, dù mình có đi đâu, em nghĩ em vẫn nhớ chuyến đi này nhất.
Tịnh im lặng một lúc rồi nói:
– Anh cũng vậy.
Anh không biết “sau này” sẽ dài đến đâu. Nhưng anh biết, có những khoảnh khắc, khi nó vừa trôi qua, đã trở thành ký ức không thể thay thế.
Đêm Đà Lạt lạnh. Hai người nằm sát nhau. Ngoài kia, gió vẫn thổi. Thành phố vẫn thở theo nhịp rất riêng của nó. Trong căn phòng nhỏ, một cuộc đời chung đang bắt đầu, không ồn ào, không phô trương, nhưng đủ sâu để đi cùng năm tháng.
Và ở đâu đó, rất sâu trong trí nhớ, Đà Lạt lặng lẽ giữ lại hình ảnh của họ.
Thời gian không đi qua đời sống một cách ồn ào. Nó đi rất khẽ. Nhẹ đến mức người ta chỉ nhận ra khi đã ở khá xa điểm khởi đầu.

Tịnh và Đan Hà sống với nhau qua nhiều năm tháng. Những năm đầu hôn nhân trôi đi trong nhịp điệu đều đều của công việc, trách nhiệm và những bận rộn không tên. Rồi đến những năm tiếp theo, khi mọi thứ không còn mới mẻ, nhưng cũng chưa đủ cũ để trở thành thói quen vô thức. Cuộc sống, suy cho cùng, là một chuỗi những ngày giống nhau, chỉ khác nhau ở cảm xúc của người sống trong đó.
Đà Lạt không còn được nhắc đến thường xuyên. Không phải vì đã quên, mà vì nó đã tìm được một chỗ thật an toàn trong ký ức. Những ký ức an toàn thường không cần lời nhắc; người ta tin rằng chúng sẽ mãi vẹn nguyên, không hề phai.

Cho đến một buổi chiều muộn, Tịnh tình cờ phát hiện một chiếc hộp cũ trong góc tủ, sau khi dọn nhà hơn hai mươi năm. Chiếc hộp giấy đã ngả màu vàng, mép sờn rách, như mang theo hơi thở của thời gian. Bên trong là những tấm ảnh, vài tấm vé xe, vài mảnh giấy ghi chép lặt vặt.
Tịnh nâng từng tấm ảnh lên, lần lượt lướt mắt qua chúng. Một số đã mờ nhòe, ánh sáng in không đều, nhưng những gương mặt trong ảnh thì không thể nhầm lẫn. Anh và Đan Hà, trẻ hơn, gầy hơn, mắt sáng và vô tư.
Một tấm ghi lại con đường đất đỏ, rợp bóng rừng thông phía sau. Tấm khác là Đan Hà đứng bên Hồ Xuân Hương, tay cầm áo khoác, tóc bay trong gió. Tịnh nhìn rất lâu, như thể nếu anh dám nhìn đủ lâu, anh có thể bước ngược vào trong tấm hình, trở về cái buổi chiều ấy, trở về Đà Lạt mộng mơ của hai mươi năm trước.
Đan Hà bước ra từ bếp, thấy chồng ngồi lặng im.
- Anh coi gì vậy?
Tịnh đưa chiếc hộp cho vợ. Đan Hà ngồi xuống, mở ra. Nàng lật từng tấm hình, rất chậm. Có lúc nàng cười, có lúc im lặng. Mỗi tấm hình như mở ra một cánh cửa nhỏ, dẫn về một khoảnh khắc đã xa.
- Lâu quá rồi ha anh…
Hai chữ “lâu quá” rơi xuống rất nhẹ, nhưng đủ để làm không gian giữa họ chùng lại. Không phải nỗi buồn, mà là sự nhận biết rõ ràng về thời gian đã đi qua.


Đêm đó, họ nói chuyện nhiều hơn thường lệ. Không nói về hiện tại, cũng không nói về tương lai. Chỉ nói về những chi tiết rất nhỏ của chuyến đi năm ấy. Quán bánh xèo nhỏ xíu. Ly sữa đậu xanh nóng. Con đường đi lạc rồi được chỉ về “bên kia đường”. Có những chi tiết Tịnh nhớ rất rõ, nhưng Đan Hà thì đã quên. Và cũng có những điều Đan Hà giữ kỹ trong lòng, còn Tịnh thì không nhớ nổi.
Họ nhận ra một điều rất đơn giản: ký ức không bao giờ giống nhau hoàn toàn giữa hai người, ngay cả khi ký ức ấy được tạo ra cùng một lúc.
Những năm sau đó, gia đình và con cái cuốn họ vào guồng quay không ngừng của thời gian. Những câu chuyện về “sẽ quay lại Đà Lạt” dần lắng xuống, không phải vì họ không muốn, mà vì họ đã hiểu ra rằng một số chuyến đi chỉ cần xảy ra một lần, đủ để ghi dấu trong ký ức, nguyên vẹn và trọn vẹn. Lặp lại đôi khi lại là cách nhanh nhất làm phai nhạt cảm xúc, làm mờ đi cái dư vị tinh khiết của lần đầu tiên.

Trong đêm cuối thu, khi họ cắm trại ở công viên tiểu bang Occoneechee trên đất Mỹ, Đan Hà thường pha một ấm trà nóng. Hơi nước bốc lên, lan tỏa mùi thơm dịu dàng, khiến không gian lặng yên hẳn. Trong giây lát ấy, nàng lại thấy mình trở về với những kỷ niệm của hơn hai mươi năm trước. Ly sữa đậu xanh nóng trong cái lạnh man mát của buổi chiều đầu tiên ở thành phố sương, tiếng gió vi vu qua những tán thông, và cả mùi đất đỏ thoang thoảng từ con đường mà họ từng đi qua.
Tịnh ngồi đối diện, im lặng nhấp một ngụm trà, mắt nhìn lên bầu trời đêm đầy sao. Trong lòng anh, hình ảnh Đan Hà đứng giữa Hồ Xuân Hương, tóc bay trong gió, ánh mắt trong trẻo và đầy tò mò, vẫn còn nguyên. Anh thấy cả mình năm đó, ngơ ngác nhưng tràn đầy niềm vui, lái chiếc xe máy băng qua bìa rừng thông, nghe tiếng chim và tiếng thác, cảm nhận từng khoảnh khắc như thể chúng chỉ tồn tại cho riêng mình họ.

Họ đã cùng nhau đi qua rất nhiều mùa. Mùa xuân xanh ngát, mùa hạ rực nắng, mùa thu vàng rực lá, mùa đông lạnh giá với sương mờ bảng lảng. Có lúc hạnh phúc đến nỗi muốn nắm chặt khoảnh khắc, có lúc mệt mỏi đến nỗi tưởng chừng không còn sức để lắng nghe nhau, để hiểu nhau. Nhưng mỗi khi ký ức về chuyến đi đầu tiên ấy lóe lên trong tâm trí, họ đều nhận ra một điều giản dị nhưng quan trọng, tình yêu của họ bắt đầu từ sự chậm rãi.
Chậm rãi trong những bước đi trên con đường đất đỏ, chậm rãi trong từng cử chỉ pha trà, chậm rãi trong từng buổi chiều ngồi bên nhau nhìn mưa bay trên hồ. Chính nhịp sống chậm ấy đã cho họ cơ hội lắng nghe, quan sát, và thấu hiểu. Chính sự chậm rãi ấy đã giúp họ đi xa, không phải về mặt địa lý, mà về mặt cảm xúc, về chiều sâu của trái tim và ký ức.
Và rồi, những khoảnh khắc tưởng chừng rất bình thường, cái nắm tay nhẹ, tiếng cười vụng về, ánh mắt bâng quơ nhìn về phía rừng thông… bỗng trở thành những viên đá lát đường dẫn họ trở lại với nhau. Mỗi chuyến đi, mỗi mùa, mỗi ngày trôi qua đều khéo léo nhắc nhở họ rằng hạnh phúc không phải là điểm đến, mà là hành trình, được xây dựng từ những chi tiết nhỏ bé nhưng vô cùng quý giá.

Đan Hà đặt ly trà xuống bàn, khẽ cười nhìn Tịnh. Nụ cười ấy giống như tia nắng len qua lá thông, rực rỡ nhưng dịu dàng. Tịnh cũng đáp lại bằng một nụ cười mệt mỏi nhưng trọn vẹn, trong giây lát, thời gian dường như ngừng lại. Hai mươi năm trôi qua, nhưng ký ức về chuyến đi đầu tiên vẫn còn nguyên, như một bản nhạc cũ được lưu giữ cẩn thận trong ngăn kéo ký ức, sẵn sàng vang lên bất cứ khi nào họ muốn.
Họ không còn nói về việc sẽ quay lại Đà Lạt, nhưng đôi khi, trong những đêm yên tĩnh, ánh lửa trại bập bùng, họ lại cảm nhận được cái lạnh man mát, tiếng thác róc rách, hương trà, và cả gió vi vu qua những tán thông. Và rồi họ biết rằng: một số chuyến đi chỉ cần xảy ra một lần, để mỗi lần nhớ về, trái tim vẫn nguyên vẹn, vẫn rung động, vẫn biết yêu thương như ngày đầu tiên.


Đà Lạt, đối với họ, không còn là một địa danh. Nó trở thành một mốc thời gian. Một dấu lặng. Một nơi chốn để quay về trong tâm tưởng, mỗi khi đời sống trở nên quá ồn.
Và dù có quay lại hay không, thì chuyến đi ấy vẫn còn nguyên vẹn, không trong hình ảnh, không trong câu chữ, mà trong cách họ đã học được cách ở lại với nhau. Một chuyến đi thật thú vị.
Một chuyến đi để nhớ. Và là chuyến đi không bao giờ cần lặp lại.

Ðà Lạt Và Em

Sáng nay em mặc áo dài
Lên xe anh chở cả hai chúng mình
Xe qua con dốc rất tình
Sương mờ Ðà Lạt lung linh mơ màng

Cam Ly như chốn thiên đàn
Trời xanh, gió mát nắng vàng buông rơi
Tay trong tay, chạm bên đời
Giữ nhau qua hết một trời ngất ngây

Hồ Than Thở thoáng mây bay
Ðôi môi chưa chạm đã say men nồng
Suối Vàng ánh nắng rất trong
In đôi bóng nhỏ xuôi dòng thời gian

Suối Bạc khẽ hát ngút ngàn
Như lời hò hẹn miên man dòng đời
Xe ta chở cả bồi hồi
Chở em đi hết một trời yêu thương

Rừng thông rợp bóng bên đường
Gió ru mái tóc vấn vương vai gầy
Chuông chiều theo tiếng gió bay
Trúc Lâm Thiền Viện hôm nay ngày rằm?

Hồ Xuân Hương, tiếng gọi thầm
Bánh xe lăn chậm trăm năm hẹn thề
Chiều nghiêng xuống phố ta về
Nghe tim khẽ nhịp câu thề chưa phai

Ðèn đường soi bóng đổ dài
Phố trong lấp lánh miệt mài dấu chân
Xe dừng, sương chạm thật gần
Em sau lưng vẫn rất gần bên ta

Một ngày gom hết nắng tà
Chở theo sương sớm, chở qua tháng ngày
Ðà Lạt khép gió đêm nay
Giữ giùm ta chút men say ban đầu

Giữ giùm ta, đến mai sau
Ðể mai có giận nhắc nhau một thời
Thương em thương lắm em ơi
Bên nhau ta mãi một đời không quên.

Kỷ niệm Ðà Lạt 2004
Y Thy Võ Phú

Giải Phẫu Lấy Đầu Đạn M 79 Trước 4/1975 Tại Miền Nam Việt Nam - Bác Sĩ Tống Viết Minh

                
(BS Phạm Ngọc Đức đã thực hiện năm 1973)

Nhiệm vụ của người thầy thuốc trên con đường phục vụ là xoa dịu đi những nổi khổ đau, đem niềm vui đến cho người bệnh. Được trọng vọng, nể vì trong xả hội, thế nhưng mấy ai biết được những hy sinh người thầy thuốc đã phải gánh chịu, nói gì đến bao rủi ro, bất trắc khi phải thực hiện những phương cách điều trị có thể gây nguy hiểm ngay cả đến tính mạng của chính mình.

Không có tham vọng đề cập tất cả những rủi ro, nguy hiểm người thầy thuốc có thể hứng chịu khi thi hành phận sự. Chỉ xin đề cập đến những trường hợp hết sức khó khăn mà người thầy thuốc đã đương đầu, phải giải quyết, đặc biệt những trường hợp mổ lấy đầu đạn M79 chưa nổ trên thân thể người bệnh trong cuộc chiến tại miền Nam trước đây.

M 79 là vũ khí gì?

Lựu đạn, loại vũ khí sát thương mà người chiến binh dùng để vứt về phía quân địch, khi phát nổ sẽ tung ra nhiều mảnh vỡ, gây nhiều thương vong cho đối phương. Dù hình dạng và kích thức có nhỏ và nằm gọn trong bàn tay, người chiến binh cũng không ném đi xa và nhiều lần liên tục được, hơn nữa tư thế của người chiến binh khi vứt, dễ bị đối phương nhận ra và bắn hạ. Vì vậy súng phóng lựu M79 đã được sản xuất và trang bị cho quân đôi Hoa Kỳ những năm đầu của thập niên 60, và cho QLVNCH những năm sau đó. M79 rất tiện lợi, nhẹ nhàng, ngắn gọn, sử dụng rất đơn giản. Chỉ việc gắn viên đạn M79 vào súng, chọn tầm bắn xa hay gần, kê báng súng vào vai, nhắm hướng và bóp cò. Sau một tiếng nổ nhỏ, đầu đạn sẽ được bắn đi về hướng người chiến binh muốn. Khi ra khỏi nòng, đầu đạn M 79 xoay, và phải đạt một số vòng đòi hỏi, mới phát nổ để phân tán khoảng 300 mảnh vỡ bay ra bốn phía, gây thương vong cho những ai chẳng may bị mảnh đạn bay trúng. Nếu chưa đạt số vòng đòi hỏi, viên đạn sẽ không nổ.

Nguy Hiểm có thể xảy ra khi giải phẫu đầu đạn M 79 chưa nổ

Đầu đạn M79, nếu xoay chưa đủ vòng đã chạm vào mục tiêu, sẽ không nổ. Người bị đầu đạn bắn trúng trở thành một quả bom người (human bomb), vì mang trong thân thể một đầu đạn sẽ nổ khi xoay đủ vòng. Trường hợp nầy quả là một vấn đề khá nan giải cho bệnh viện cũng như người bác sĩ giải phẫu. Khi mổ, BS có thể phải di động đầu đạn và nếu chẳng may đạt đủ số vòng, viên đạn sẽ phát nổ, cả người bệnh lẫn người bác sĩ giải phẫu cũng khó mà thoát nạn.

Những trường hợp giải phẫu đầu đạn M 79 chưa nổ ghi lại trong miền Nam trước 30/4/1975


1. Năm 1965, BS Nguyển Văn Chi và BS Đặng Ngọc Cương khi đó là nội trú trực ngoại khoa tại BV Chợ Rẫy, đã khám ông Nguyễn Văn Chinh, một nông dân Việt, 52 tuổi, có vết thương bên phải bụng, Viên đạn bắn xuyên qua thành bụng, theo một đường đạn đạo dài khoảng 7,62 cm, chạy ngoài màng bụng ra phía sau, chui vào nằm gọn trên quả thận phải của ông, làm nổi lên một cục bằng trái kiwi dưới da bên phải lưng (région lombaire droite). Nắm cục đó, cố ý di chuyển qua lại, người bịnh không đau lắm, không có triệu chứng gì khác, và cũng không có viêm màng bụng.

Quang tuyến cho thấy rõ một trái đạn trong có lò xo. Quân cụ QLVNCH không biết là đạn gì. Người đã từng làm việc với quân đội Hoa Kỳ sau đó cho biết là đầu đạn M79. Vì được bắn đi từ quá gần, xoay chưa đủ vòng, nên khi vào trong người bệnh, viên đạn nằm im đó, không nổ. Cuộc giải phẫu sau đó đã được thực hiện vào ngày 5 tháng mười một, năm 1965 do Y sĩ Thiếu tướng James Humphreys cùng một BS giải phẫu khác; cả hai đều thuộc Không Lực Hoa Kỳ và một chuyên viên thuốc mê dân sự.

Toàn cuộc giải phẫu đã được Báo Central California News năm 1965 thu hình. Xem Video Pathé News đăng tải trên mạng, có thể thấy được người bệnh tự mình leo lên chiếc bàn giải phẫu, xung quanh chất đầy bao cát, trong khi BS Humphreys sữa soạn để bắt đầu cuộc giải phẫu. Qua những lỗ nhỏ chừa lại trên bức tường cát, BS Humpreys và người phụ tá đưa con dao mỗ gắn chặt đầu cán cây dài 152.4cm, để mỡ rộng vết thương, thận trọng nới lỏng quả đạn 40 ly khỏi mô xung quanh và lôi quả đạn ra khỏi lưng người bệnh với một cái kẹp dài cở cái kẹp nước đá.

Video clip ghi lại cuộc giải phẫu kéo dài trong 80 giây, nhưng thực sự từ khi rạch da người bệnh cho đến khi gắp đầu đạn ra chỉ kéo dài trong 10 giây. Đầu đạn được chuyên viên chất nổ mang đi phá hủy, người thương binh được nhanh chóng di chuyễn, có lẽ vào phòng mổ, để làm những giai đoạn cần thiết sau khi mổ. Theo tường thuật thì toàn bộ cuộc giải phẫu kéo dài 13 phút:
2. Tháng 4 năm 1968, 
Bs. Mayer Katz đã mổ lấy đầu đạn M79 trên cơ thể một binh sĩ Hoa Kỳ. Ông kể: hai binh sĩ thuộc Sư đoàn Dù 101st Quân Lực Hoa Kỳ, không biết vì say thuốc hay rượu, lên cơn khùng đã quyết định đứng cách nhau khoảng 10. 668 mét (35 feet), rồi dùng súng phóng lựu M79 bắn vào nhau. Ông kể tiếp: đạn nổ, một viên bay đâu mất, nhưng viên kia đã găm vào hàm trên, phía bên phải của một trong hai người; Bs Katz đã mổ, lấy trái đạn chưa nổ đó ra khỏi mặt của người thương binh. Đầu đạn được trao lại cho chuyện viên có nhiệm vụ (EOD) đem đi phá hủy. Không thấy đề cập đến chuyện ông làm gì để bảo vệ mình khi mổ. Chỉ biết hành động can đảm của BS Katz đã được chính phủ Hoa Kỳ trao tặng huy chương.
3. Năm 1971. Thương binh là một người Thượng trẻ, đã bị một quả đạn M79 chưa nổ bắn vào chân. Trực thăng không chịu tản thương, vì sợ đạn nổ trong khi di chuyển, Y Sĩ Trung Úy Biệt Kích Dù Lê Thành Ý, sau 1975 là cư dân Canada, đã quyết định thực hiện cuộc giải phẫu tại một tiền đồn ở Pleime.
Ngày còn học Y Khoa, chính mắt ông có dịp theo dõi cuộc giải phẩu BS Humphreys thực hiện trước đây, bởi vậy ông đã yêu cầu cấp tốc cho xây bức tường bao cát, chừa lại những lỗ cần thiết và cho làm cán dao mổ bằng gỗ hình chữ L, Dao mổ được cột chặt vào nơi cạnh nhỏ mà ông vẽ kiểu. Người thương binh nằm trên bàn mổ, bên kia bức tường bao cát. Hai chân được cột chặt vào chân bàn, toàn thân được phủ áo giáp trừ nơi chân bị thương. BS Ý phải khoác một áo giáp, cổ áo giáp vén cao để bảo vệ cổ. Sau khi thử cán dao qua khung cửa để cho thuần tay. Chân bị thương được khử trùng và người thương binh được gây tê. Một garrot được cột phía trên vết thương.

Cuộc giải phẫu bắt đầu. Bác sĩ Xuân, phụ mổ và y tá trưởng ở bên cạnh, “Bs Ý “lấy hơi và nín thở, cho dao mổ đi một đường nhẹ, một tiếng “cách” nhỏ khi lưỡi dao đụng vào đầu đạn làm anh toát mồ hôi. Ngưng lại một giây chờ đợi, không có gì xẩy ra, BS Ý thêm vững chí, tiếp tục nhấn mạnh lưỡi “scalpel” và rạch vết mổ cho rộng thêm. Quả đạn M79 tròn nằm đây rồi - đầy đe dọa - được từ từ gắp ra với cái kẹp nước đá. Bs Ý thở phào trong tiếng reo mừng của toàn thể anh em có mặt”. Đầu đạn được trao cho chuyên viên tháo gỡ đạn dược mang ra phá hủy. Vết thương được cầm máu, rửa sạch và băng lại. (Trích Pleime, hè 71, Lê Thành Ý - Quân Y Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 2000)
4. BSQY Phạm Ngọc Đức (R.I.P.), sau 1975 là cư dân Canada, thưc hiện năm 1973, tường thuật: Người thương binh 35 tuổi bị một đầu đạn M79 găm vào hốc xương phải hàm trên, được chuyển đến quân y viện. Bs trực từ chối giải phẫu cho người thương binh. Được Bs chỉ huy trưởng yêu cầu, mặc dầu lúc đó mới 33 tuổi, có ba con, và vợ đang mang thai. Dù biết rủi ro rất cao, công việc đòi hỏi một hy sinh quá sức tưỡng tượng, BS Phạm Ngọc Đức đã can đảm nhận cuộc giải phẫu chỉ với lời yêu cầu xin cho người chụp toàn bộ cuộc giải phẫu để làm tài liệu.

Mang áo giáp, đầu đội nón sắt, BS Đức thực hiện cuộc giải phẫu trên người bệnh qua lỗ nhỏ chừa lại trên bức tường cát. Vì đầu đạn kẹt cứng trong xương hàm, nên Bs Đức phải dùng dụng cụ để đục xương mới có thể kéo đầu đạn ra được. Động tác nầy làm tăng thêm rủi ro và nguy hiểm. Nhờ lòng can đảm vượt bực và ý chí cương quyết cứu người thương binh, cuối cùng BS Đức đã thành công mỹ mãn. Đầu đạn được lấy ra, sau đó đã được cho nổ. Những cuộc giải phẫu chỉnh hình lần lượt thực hiện sau đó đã đem lại cho người thương binh một khuôn mặt lành lặn.                                     
5. Y sĩ Trung tá Hoàng Như Tùng, RIP, 
Cựu chỉ huy trưởng QY Viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ đã cùng một quân Y sỹ khác thực hiện cuộc phẫu thuật lấy đầu đạn M79 chưa nổ trong hốc mắt của một thương bệnh binh VNCH. Không có tài liệu nói rõ về cuộc giải phẫu nầy, chỉ biết chính phủ VNCH đã tặng ông Nhân Dũng Bội Tinh. Qua hành động dũng cảm cứu người thương binh trên, Ông đã thực sự chứng minh phương châm của ngành Quân Y QLVNCH: “Quên Mình, Cứu Người”.
6. TYV Duy Tân. 

Theo tài liệu của một facebooker ghi lại, Y sĩ Thiếu tá Phạm Văn Lương, R.I.P., nguyên trưởng khu giải phẫu TYV Duy Tân đã không cho dựng bức tường cát. Cùng với một chuyên viên gây mê và một nữ y tá, ông đã tiến hành cuộc giải phẩu gắp đầu đạn M79 chưa nổ, ghim ở gò má người thương binh thượng, tên là Đinh Né ở Quãng Ngãi vừa mới nhập viện. Không thấy đề cập gì đến diễn tiến cuộc giải phẫu, chỉ biết cả đêm mọi người hồi hộp chờ đợi. Không ai nghe bất cứ một tiếng nổ nào, thế là cả TYV thở phào nhẹ nhõm, vui mừng, tin rằng cuộc giải phẫu BS Phạm Văn Lương thực hiện đã thành công mỹ mãn.
 7. BV. Bình Dân: Theo Bs Thân Trọng An, sau 1975 là cư dân Canada cho biết: Năm 1971 khi còn là sinh viên thực tập tại BV Bình Dân. Ông đã cùng nội trú Trần Thanh Lượng, mổ lấy một đầu đạn M79 găm vào bắp chân một cháu bé gái 12 tuổi, được chở bằng xe lam 3 bánh từ Mỹ Tho lên.

Theo Bs An:” Trước khi mổ, chúng tôi có gọi EOD và có một toán 3 người đến ngay, và lúc đó đã biết là khi lựu đạn quay chưa đủ vòng thì không nổ. Chúng tôi hỏi làm sao chắc chắn không nguy hiểm, thì anh trưởng toán trả lời "quý vị cứ yên tâm, tụi tôi cũng đứng chung tại chỗ mà!” Cuộc mổ tiến hành như bình thường, không áo giáp, không bao cát.

Chờ gây mê xong, NT. Lượng mời tất cả nhân viên y khoa ra ngoài, chỉ còn lại anh với tôi cùng 3 chuyên viên EOD. Anh Lượng đi một đường dao dài uốn cong theo dấu lồi, tôi kéo écarteur cho rộng để thấy rõ trọn quả đạn, anh Lượng gỡ nhẹ nhàng quả đạn đặt vào hộp giấy nửa đầy cát, rồi 3 người EOD mang ra khỏi phòng mổ. Chúng tôi rửa sạch vết thương và may lại. Cuộc giải phẫu kéo dài chưa đầy 20 phút, thành công mỹ mãn, nhưng sau đó, cả hai đều bị GS Đào Đức Hoành khiển trách, vì đã không thông báo cho ông biết trước một cuộc giải phẫu nguy hiểm như vậy!

***
Ngoài những trường hợp mổ lấy đầu đạn M79 ra khỏi người bệnh, tưởng cũng nên ghi lại một cuộc giải phẫu khó ai tin nổi đã được thực hiện trong cuộc chiến. Tháng 10, 1966, Nguyễn Văn Lương, một chiến binh VNCH đã bị nguyên một quả tạc đạn 60 ly xé rách vai trái rồi đi xuống phần trên ngực trái và ngừng lại đó, không nổ, đầy đe dọa. Vì vẫn còn hoàn toàn tỉnh táo, nên mỗi hơi thở, mỗi nhịp tim là bao nổi niềm băn khoăn lo lắng cho người thương binh, vì đầu đạn có thể nổ bất cứ khi nào!

Vinh được cấp tốc chuyển đến bệnh viện hải quân của quân đội Hoa Kỳ ở Đà Nẵng. Nơi đây BS Harry H. Dinsmore cùng với các bác sĩ khác đã phải thực hiện một cuộc giải phẫu hết sức nguy hiểm, vô tiền khoáng hậu: mổ lấy đầu đạn súng cối chưa nổ trên thân thể một thương binh trong cuộc chiến. Chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể làm quả đạn nổ, giết chết hết mọi người có mặt trong phòng mổ. Các Bác sĩ đã cẩn thận đi từng bước một tiến hành cuộc giải phẫu, để cuối cùng lây được đầu đạn ra giao cho chuyện viên đi phá nổ.


Phim chụp quả tạc đạn nằm trong ngực người thương binh sau đó đã được luân lưu khắp hoàn cầu, cho mọi người thấy được đường ranh giữa sự sống và cái chết nhỏ đến chừng nào!
Xin hết lòng cảm phục sự can đảm của quí vị bác sĩ thực hiện những trường hợp giải phãu trên. Họ đã không từ nan đi vào nơi cực kỳ nguy hiểm, nơi mà sự sống chỉ cách với cái chết có một lành ranh quá nhỏ được phân định bằng sự may mắn của số phận hơn là tài giỏi về phẫu thuật .
Cuộc chiến Việt Nam nay đã chấm dứt, thế nhưng bao tai nạn vẫn còn xảy ra cho các trẻ em vô tội, không biết gì về vũ khí đạn được, chơi đùa với những gì luợm được, hoặc những người nghèo, kiếm sống bằng cách đi săn nhặt các phế liệu kim loại vương vải đó đây. Những tưởng kiếm được tiền nuôi sống gia đình, ngờ đâu, chẳng may, đầu đạn phát nổ, gây tai nạn và chết chóc cho không biết bao nhiêu kẻ vô tội.

Viết bài nầy, tôi lại nhớ đến người em họ Tống Quang Nghi, một giáo viên cấp hai. Năm 1973, vào dịp nghỉ cuối tuần, lúc đi canh tác tại mảnh nương bên bờ Nam Sông Hương, Huế, em đã cuốc phải đầu đạn M79. Quả đạn oan nghiệt phát nổ đã cướp đi mạng sống em, lúc tuổi đời mới chưa đầy ba mươi. Ba mẹ em đã mất Em là người duy nhất còn lại trong gia đình.Tội nghiệp em!
Xin cầu cho linh hồn em được an nghỉ giấc bình an.

Bs Tống Viết Minh
YKSG65-72, HD 19 12/23/2025

---------------------
Tài liệu tham khảo:
3. Trích Pleime, hè 71, Lê Thành Ý - QY QLVNCH năm 2000)
5. https://www.facebook.com/groups/theodaugiayso/permalink/1468382151054131/
6. https://www.facebook.com/groups/1010963756558765/user/100014516596122
7. https://www.facebook.com/photo/?fbid=2263530844140780&set=gm.1609461060042362&idorvanity=1010963756558765
8. Một vài hình ảnh và tài liệu lấy từ Wikipedia và Google.

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

Biệt Ca - Thơ: Vi Khuê - Nhạc: Nguyễn Tuấn - Ca Sĩ: Lâm Dung


Thơ: Vi Khuê
Nhạc: Nguyễn Tuấn
Ca Sĩ: Lâm Dung

Cái Thuở…

  

 
Cái Thuở ban đầu mới gặp nhau
Tình thơ vụng dại biết chi sầu
Vô tình chạm mắt lòng vương vấn
Sao nỡ ơ hờ tim nhói đau

Chậm bước người ơi chớ vội mau
Cho đây cùng lối tí đi nào
Sánh đôi chung bóng duyên ngàn dặm
Chăn gối hương nồng giấc mộng sâu…

Vẫn đấy vườn xưa xanh luống rau
Tóc người năm cũ bạc phơ màu
Ôm vùng kỷ niệm nhoà phai sắc
Chờ đợi mỏi mòn đã bấy lâu!


Kim Oanh
Melbourne 7/7/2018