Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

Phượng Buồn Tháng Tư

  

Thơ: Kim Phượng
Thơ Tranh: Kim Oanh


Tháng Tư Sầu Nghẹn Đong Đầy


Việt Nam từ thuở lìa xa
Cháu con Hồng Lạc bôn ba xứ người
Năm mốt năm, lắm đổi dời
Lòng người tị nạn bời bời nhớ thương

Làm thân tằm gửi ly hương
Từng đêm khắc khoải hồn vương khổ sầu
Ai làm bể cả ruộng dâu
Hải âu phi xứ còn đâu lối về

Tháng Tư trời đất ủ ê
Thương về quê Mẹ muôn bề xót xa
Đàn nâng phím trải cung ngà
Tơ ươm nốt ngọc hương xa tìm về

Quắt quay tìm ánh trăng thề
Nhớ xưa bóng phượng đam mê tình nồng
Trưa nào bước dạo đồi thông
Đò ngang tách bến ánh hồng lung linh

Vườn xưa chung bóng đôi mình
Giờ đây lạc bước đăng trình lãng du
Vật vờ ai oán Tháng Tư
Hồn ai như thể sa mù phủ vây

Tháng Tư sầu nghẹn đong đầy
Nhìn mưa giăng lối buồn vây ngập hồn
Thơ gào lời trải vô ngôn
Bình minh rồi đến hoàng hôn não nùng

Đêm sang nghe tiếng côn trùng
Nỉ non từ chốn mịt mùng nơi nao
Rèm hoa vương vất ánh sao
Lòng đau tâm nhói phận nào tha phương

Chờ ngày trở lại quê hương
Cùng nhau xây dựng bốn phương thanh bình
Nhà Nam đất Việt dân mình
Châu về hiệp phố thỏa tình hoan ca.

Phương Hoa
Tháng Tư, 2026




Tháng Tư Và Tự Do

 

Tháng Tư than thở phận
Phù du một kiếp người
Đời bao lần lở vận
Nên dở khóc dở cười

Nước tan rồi nhà mất
Vì bỏ nhà ra đi
Cũng chỉ vì vật chất
Giờ đây được những gì?

Tự do là hay nhất
Ai cũng thích tự do
Với cái giá đắt nhất
Mà xứ Mỹ ban cho

Tự do giờ đã có
Chịu khó thì có ăn
Có việc làm đầy đủ
Không còn phải lo âu

Làm việc gì mình thích
Đó chính là tự do
Mà bao người mong muốn
Xin cám ơn Hoa Kỳ

Hồng Vân

Khiển Bi Hoài Kỳ 1 遣悲懷其一 - Nguyên Chẩn (Trung Đường)


Nguyên Chẩn 元稹 (779-831) tự Vi Chi 微之, người Lạc Dương, Hà Nam, gia đình quan lại, làm Thượng thư Tả thừa, có quan điểm chính trị và văn học gần gũi với Bạch Cư Dị, chủ trương tác phẩm phải giàu tính hiện thực, nên người đương thời gọi là Nguyên-Bạch. Tác phẩm có Nguyên thị Trường Khánh tập. Ông còn là tác giả của truyện Hội chân ký về sau được Vương Thực Phủ đời Nguyên dựa vào để viết vở kịch Tây sương (14 bài).

Nguyên Chẩn

Đây là một trong những bài thơ của Nguyên Chẩn điếu tang vợ.
Nguyên tác Dịch âm

遣悲懷其一 Khiển Bi Hoài kỳ 1

謝公最小偏憐女 Tạ công tối tiểu thiên liên nữ,
自嫁黔婁百事乖 Tự giá Kiềm Lâu bách sự quai.
顧我無衣搜藎篋 Cố ngã vô y sưu tẫn khiếp,
泥他沽酒拔金釵 Nê tha cô tửu bạt kim thoa.
野蔬充膳甘長藿 Dã sơ sung thiện cam trường hoắc,
落葉添薪仰古槐 Lạc diệp thiêm tân ngưỡng cổ hoè.
今日俸錢過十萬 Kim nhật bổng tiền quá thập vạn,
與君營奠復營齋 Dữ quân doanh điện phục doanh trai.

Dịch nghĩa
Giải nỗi sầu nhớ kỳ 1

Con gái yêu bé bỏng nhà ông họ Tạ,
Gả cho chàng Kiềm Lâu trăm sự đều khó khăn!
Nhìn ta không áo, nàng mở rương lục tìm,
Biết ta thèm rượu nàng gỡ thoa bán đổi.
Sẵn rau đồng, bữa ăn thêm vị hoắc ngọt ngào,
Lá rụng thay củi, ngửa trông cây hòe cằn cỗi.
Ngày nay, tiền lương có hơn mười vạn,
Chỉ còn vì nàng bày cỗ chay cúng tế!

Chú giải:
*Tạ công: Tức Tạ An đời Tấn. Ở đời Đường họ Tạ là một trong những họ quý phái, nhiều người muốn làm rể nhà họ Tạ nên thường dùng từ "Tạ công" để chỉ nhạc phụ, dùng từ Tạ gia để chỉ gia đình và nhà ở của ý trung nhân hoặc của vợ.
**Kiềm Lâu: Cao sĩ nước Tề thời Xuân Thu, nhà nghèo. Đây, Nguyên Chẩn tự ví.

Dịch thơ
Giải Nỗi Sầu Nhớ kỳ 1

Gái yêu bé bỏng nhà ông Tạ*,
Lấy gã Kiềm Lâu** gặp khó khăn.
Thấy hắn không quần tìm mọi chỗ...
Nghe chồng thèm rượu bán thoa vàng.
Rau đồng đến bữa hăng thành ngọt,
Lá úa đun cơm ngó củi hoang.
Lương bổng ngày nay hơn chục vạn,
Cúng em cũng chỉ bát cơm xoàng.


Lời bàn

Đây là một bài thơ điệu vong (điếu người chết). Vợ Nguyên Chẩn là Vi Tùng, con cưng của nhà quan, lấy Nguyên Chẩn khi ông còn hàn vi. Vi Tùng mất khi Nguyên Chẩn mới 30 tuổi và còn làm chức quan nhỏ; mười mấy năm sau ông làm đến chức tể tướng, nhớ người vợ tao khang đã mất sớm mà làm bài thơ này, cùng với nhiều bài thơ điệu vong khác. .
2 câu mở đề:
Nàng là con quan mà lấy nhầm anh trò kiết nên khổ.
2 câu 3, 4:
Thấy chồng mặc quần áo rách thì lục rương kiếm đồ lành để thay cho chồng. Thấy chồng thèm rượu thi bán thoa vàng để có tiền mua rượu.
2 câu 5, 6:
(bữa ăn cho riêng mình thì) rau mọc hoang ngoài đồng cũng lấy hăng làm ngọt. Đun bếp không có củi phải dùng lá úa lượm ngoài đường.
2 câu cuối:
Cực kỳ thấm thía: Em vất vả thiếu thốn suốt cả tuổi thanh xuân, lúc ta vinh hiển thì em chết. Bây giờ cúng em sang trọng nhất cũng chỉ là bát cơm chay.

Con Cò
***

Khiển Bi Hoài Kỳ 1

Thấy đầu đề quen, tưởng đã post rồi, nhưng đọc phớt qua thì lạ hoắc. Bên dưới lại thấy góp ý của mình mà không nhớ ở bài nào, đọc cũng vui, chắc lúc đó đã tra cứu lung tung … Bài có lý luận nhiều về năm chết của Vi Tùng, và những liên hệ của Nguyên Chẩn với Tiết Đào và Lưu Thái Xuân cũng liên quan nên xin giữ lại. Nhờ LB gắn đâu đó giùm.

Đọc bài kỳ này thì thấy nhiều chữ khó, và thơ không có vần, lấy làm lạ. Lại có 2 điển tích, BS rất thích nên tra cứu thêm để anh chị em đọc chơi.
Chữ áp chót trong câu đầu, viết với bộ tâm, có thể phiên âm là liên hoặc lân, là buồn thương, yêu thương.
Hai chữ chót của câu 3, bản của ÔC phiên âm là MẪN HIỆP. Bản của Thi Viện phiên âm đúng là TẪN KHIẾP. Tẫn là một loại cỏ, Khiếp là cái rương. Chắc LB phải sửa lại bản của ÔC. (thư ký đã sửa)
Tạ công, là Tạ An, gọi công để tỏ lòng kính trọng. Tạ An là một danh gia đời Tấn, giầu sang rất mực, có 2 người cháu nổi tiếng là Tạ Huyền, võ tướng, đánh tan quân của Phù Kiên (nước Tần trong Ngũ Hồ) và Tạ Đạo Uẩn, là người có văn tài (nàng Ban ả Tạ trong Kiều), vợ của Vương Ngưng Chi, thường phải gà ý tứ cho em chồng là Vương Hiến Chi để đối đáp với các danh sĩ. Họ Vương này là con cháu của Vương Hi Chi với thiếp Lan Đình, chuyên về thư pháp và văn chương. Họ Vương có quyền thế và gia sản vạn hộ là Vương Đạo.
Họ Tạ và họ Vương này, để phân biệt với thiên hạ, toàn mặc quần áo đen, ở gần nhau, gọi là Ô Y Hạng, mà Lưu Vũ Tích có làm bài thơ cùng tên.
Kiềm Lâu, theo “ Thành Ngữ, Điển Tích, Danh Nhân Tự Điển của Trịnh Vân Thanh thì có 2 người:
- Du Kiềm Lâu, một trong Nhị Thập Tứ Hiếu, nếm phân của cha để đoán bệnh: phân đắng thì sống, phân ngọt thì chết. Người cha có phân ngọt nên qua đời, nhưng Kiềm Lâu được ghi trong 24 người con hiếu, cùng Lão Lai, Mẫn Tử Khiên, Lục Tích...
- Kiềm Lâu, người nước Tề, nghèo tới nỗi, khi chết chỉ có cái mền nhỏ, che không kín thân, che đầu hở chân, che chân hở đầu. Đây chính là Kiềm Lâu trong bài thơ, mà Nguyên Chẩn dùng để ví với mình, và họ Tạ để ví với gia đình vợ.
Một số chữ khó khác:

- Nê : bùn, mềm yếu, cố ép.

- Cô tửu là mua rượu.

- Bạt là nhổ ra, lấy ra, dời chuyển, cầm, nắm, giữ.

Câu 4, nê tha cô tửu bạt kim thoa, tự điển của Nguyễn Tôn Nhan đã dùng làm thí dụ, và dịch là ép người mua rượu rút thoa vàng.

- Dã : cánh đồng, chốn quê mùa, hoang dại.
- Sơ là rau cỏ. Dã Sơ là rau dại, cỏ hoang.
-Sung: đầy đủ, chuẩn bị.
- Thiện là bữa ăn
- Hoắc: mau, tên nước. Với bộ thảo, là một loại rau tầm thường.
- Tân : cỏ, củi, lương
- Điện là tế lễ.
- Trai : Ăn chay.

Giải Sầu Nhớ

Gái xinh bé út nhà ông Tạ,
Lấy Kiềm Lâu trăm sự trái ngang,
Thấy thiếu áo quần, nàng lục tủ,
Ép ta mua rượu rút thoa vàng,
Rau đồng lo bữa thêm hoắc ngọt,
Lá khô thay củi, ngóng hoè sang,
Lương bổng ngày nay hơn chục vạn,
Nhớ em trong trại cúng cơm xoàng.

Bát Sách.(Ngày 13/04/2026)

Góp ý cũ của Bát Sách:

Ngày xưa, Mai Thảo mê Thái Thanh, viết truyện Giàn Bông Giấy Trước Nhà, rất thơ mộng, lãng mạn. Hồi trẻ, BS thích lắm, mà sau này, không sao tìm lại được….

A- Trích từ bài 215 Nỗi Nhớ:
1/… Ở đây (Montréal), Bát Sách biết ít nhất là 3 người, khi vợ mất, khóc lóc rất thảm, có người đi đâu, kể cả đi ăn, cũng vác theo hũ tro của vợ, nhưng chỉ một thời gian sau, cả 3 đều vui duyên mới... Có người còn tuyên bố "bây giờ mới thật sự tìm được tình yêu" làm mấy đứa con thấy chướng tai, phải quyết liệt phản đối. Nhưng mà đời là vậy, Bát Sách chỉ mô tả mà không dám bình luận……
2/… Về Nguyên Chẩn:
Nguyên Hoà năm thứ 6, đời Đường Hiến Tông là năm 814 tây lịch.
Theo sử sách, thì Nguyên Chẩn sinh năm 779, mất năm 831, được 52 tuổi.
Nguyên Chẩn mồ côi cha, học giỏi, thi đậu sớm, và lấy vợ sớm. Vợ chàng tên Vi Tùng, mất khi Nguyên 30 tuổi, khi nhà còn nghèo, tức là vào năm 809. Nguyên đã làm 3 bài thơ khóc vợ, như bài Khiển Bi Hoài, kỳ hai, có mấy câu:
Y thường dĩ thí hành khan tận,
Châm tuyến do tồn vị nhẫn khai.
Quần áo đem cho dần đã hết,
Kim chỉ hãy còn không nỡ mở ra..

Đó là năm 809. Bài thơ anh Bảo dẫn là năm Nguyên Hoà thứ 6, tức năm 814, như vậy Bát Sách nghi rằng Nguyên Chẩn khóc bà vợ khác, lẽ đâu chàng thi sĩ chung tình tới mức, 5 năm sau mà khi ngủ còn mơ thấy vợ, nói lời yêu đương trong giấc mơ. Tuy nhiên, hai câu kết thật cảm động, những lời nói trong mơ mà làm cho bạn khóc thì đáng cảm phục lắm chứ. Anh Bảo nói rằng, Nguyên Chẩn thương vợ hồn nhiên, nồng nàn, dai dẳng, chỉ đúng khi nhà thơ khóc bà vợ tên Vi Tùng….

B- Lần này, vì BS có viết một bài về Tiết Đào và mối tình của nàng với Nguyên Chẩn 
1) Theo sử thì Nguyên Chẩn sinh năm 779. Nhà nghèo, mồ côi cha, nhưng học giỏi lại có chí nên thi đậu sớm.
- Năm 807, bị giáng chức, nên khổ lắm, nhờ vợ là Vi Tùng tần tảo giúp đỡ nên mới qua cơn hoạn nạn..
- Năm 809, Vi Tùng qua đời, lúc 27 tuổi, và Nguyên 30.
- Hai năm sau, Nguyên Hoà thứ 6, là năm 811, Nguyên làm bài Lục Niên Xuân Truy Hoài Kỳ 5. (Hồi đó BS có đoán rằng cái tựa có lẽ thiếu hai chữ Nguyên Hoà, và BS nghi nhầm là năm 814, thay vì 811.)
- Nguyên Chẩn cũng làm mấy bài thơ khóc vợ, có tựa là Khiển Bi Hoài. Bài kỳ nhị có câu chót là "Bần tiện phu thê bách sự ai" nghe rất thảm, chắc nhớ lại thời Nguyên Chẩn bị cách chức, gia cảnh quá bần hàn.
- Bài Ly Tư kỳ tứ, cũng nói đến lòng yêu vợ của Nguyên:

Tằng kinh thương hải nan vi thủy
Trừ khước Vu Sơn bất thị vân,
Thủ thứ hoa tùng lãn hồi cố,
Bán duyên tu đạo, bán duyên quân.
(Từng ngắm biển xanh, khó còn gì đáng gọi là nước.
Trừ phi đã tới Vu Sơn thì coi như chưa thấy mây,
Gặp người đẹp, cũng lười quay lại nhìn,
Nửa phần vì tu đạo, nửa phần vì đã kết duyên với nàng)

2) Tuy yêu vợ và làm nhiều thơ khóc vợ, nhưng bản chất của Nguyên là nghệ sĩ, lãng mạn, nên có thơ gửi Lưu Thái Xuân, Tiết Đào.

Theo sử thì Tiết Đào hơn Nguyên Chẩn 11 tuổi (Tiết sinh năm 768, Nguyên sinh năm 779). Khi Nguyên được vua sai vào Thục là năm Nguyên Hoà thứ 4, tức năm 809, thì Vi Tùng vừa qua đời, vậy mà gặp Tiết Đào, Nguyên đã rơi vào lưới tình mấy năm, khi trở về kinh còn làm bài thơ tặng Tiết Đào, hai câu chót cũng tình tứ lắm:

Biệt hậu tương tư cách yên thuỷ,
Xương Bồ hoa phát ngũ vân cao.
Tương tư khói nước xa nhau,
Hoa Xương Bồ nở năm mầu như mây.

(Bát Sách dịch)

3) Đọc bài Lục Niên Xuân Truy Hoài kỳ 5 thì thật hay và cảm động, nhưng nếu đem đối chiếu với thời gian thì BS thấy hơi kỳ, vì bài thơ làm năm 811, 2 năm sau khi Vi Tùng mất, mà ngay năm vợ qua đời, 809, Nguyên đã chung sống với Tiết Đào ở Thục rồi... Vậy ta có nên tin thi nhân đa tình này không?

Bát Sách

***

Giải Nỗi Sầu Nhớ kỳ 1.

Gái nhỏ Tạ Công rất mến yêu,
Chồng nghèo nên phải thiệt trăm điều.
Ta không áo mở rương tìm kiếm,
Rượu cạn bình thoa bán vẫn chiều.
Rau hoắc ngon cơm mùi đạm bạc,
Lá hòe làm củi đợi rơi nhiều.
Bây giờ lương bổng trên mười vạn,
Đáp lại tình nàng thiết điện siêu.


Song Thất Lục Bát:

Con gái nhỏ Tạ công yêu mến,
Lấy chồng nghèo trăm chuyện đáng thương.
Ta không áo, nàng lục rương,
Chiều chồng mua rượu bán luôn trâm cài.
Cơm rau hoắc sơ sài đạm bạc,
Củi lá hòe rơi lạc lượm đun.
Nay mười vạn lộc ung dung,
Chay đàn cúng tế tình chung cùng nàng.


Mỹ Ngọc.
Apr. 11/2026.
***
Giải Nỗi Nhớ Thương (Kỳ 1)

Con gái nhà giàu được quý yêu
Lấy ta nàng khổ đủ trăm chiều
Lục rương tìm vải may cho áo
Cầm cố trâm vàng mua rượu tiêu
Rau dại đỡ lòng trong đạm bạc
Đun cơm nhặt lá lửa thiêu đều
Ngày nay lương bổng ta mười vạn
Nàng đã qua đời lễ cúng chiêu


Thanh Vân

***

Giải Sầu Nhớ Kỳ 1 


Út cưng bé bỏng nhà ông Tạ
Lấy gã nghèo sơ thảy đổi thay
Nhìn mỗ áo sờn rương lục kiếm
Chiều ta mua rượu rút trâm cài
Rau đồng thêm bữa càng thanh đạm
Hòe lá củi thay khô khốc cây
Bổng lộc bây giờ hơn chục vạn
Vì nàng cúng tế một đàn chay


Song thất lục bát:

Cô Út rượu xinh xinh nhà Tạ
Mọi đổi thay lấy gã tầm thường
Chồng không áo, lục tìm rương
Chiều ta mua rượu, khiêm nhường rút trâm
Cơm rau đồng nhủ thầm ngon miệng
Lá hòe rơi quét giếng, củi đun
Nay bổng lộc, đã chục muôn
Đàn chay cúng tế vong hồn dấu yêu!

Lộc Bắc
Avr26
***

Nguyên tác: Phiên âm:

遣悲懷三首其一-元稹 Khiển Bi Hoài Tam Thủ Kỳ 1 - Nguyên Chẩn

謝公最小偏憐女 Tạ công tối tiểu thiên liên nữ
自嫁黔婁百事乖 Tự giá Kiềm Lâu bách sự quai
顧我無衣搜藎篋 Cố ngã vô y sưu tẫn khiếp
泥他沽酒拔金釵 Nê tha cô tửu bạt kim sai
野蔬充膳甘長藿 Dã sơ sung thiện cam trường hoắc
落葉添薪仰古槐 Lạc diệp thiêm tân ngưỡng cổ hoè
今日俸錢過十萬 Kim nhật bổng tiền quá thập vạn
與君營奠復營齋 Dữ quân doanh điện phục doanh trai

Nguyên tác được chép từ sách của Nguyên Chẩn:
Nguyên Thị Trường Khánh Tập - Đường - Nguyên Chẩn 元氏长庆集-唐-元禛
Cổ Thi Kính - Minh - Lục Thì Ung 古诗镜-明-陆时雍
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 诗-清-圣祖玄烨

Đây là bài thơ số 1 trong 3 bài Khiển Bi Hoài 遣悲懷 của nhà thơ Nguyên Chẩn thời Đường, sáng tác để tưởng nhớ người vợ quá cố là Vi Huệ Tùng.

Giải nghĩa điển cố:

Tạ Công 謝公: Tức Tạ An tể tướng đời Đông Tấn, Tạ An rất tâm đắc và yêu quý cô con gái tài hoa Tạ Đạo Uẩn. Một lần trời tuyết, Tạ An hỏi con tuyết rơi giống cái gì, Tạ Đạo Uẩn đáp: Vị nhược liễu nhứ nhân phong khởi (Chẳng bằng như bông liễu bay theo gió).

Ở đây Nguyên Chẩn dùng điển tích Tạ An để chỉ nhạc phụ của mình và gọi vợ Vi Huệ Tùng là Tạ công tiểu nữ để ví nàng như Tạ Đạo Uẩn, một tiểu thư khuê các, vừa có xuất thân quyền quý, vừa có tài năng và đức hạnh.

Kiềm Lâu 黔婁: Một hiền sĩ thời Chiến Quốc, nhà rất nghèo nhưng thanh cao. Theo Đào Tiềm đời Tấn, Kiềm Lâu thời cổ đại là người sống trong thanh bần, nghèo mà không tham lam. Khi ông mất, tấm chăn đắp xác ngắn đến mức hễ che kín đầu thì hở chân, che kín chân thì hở đầu. Có người bảo đắp chéo chăn lại cho vừa, nhưng vợ ông khóc mà rằng: Thà ngay mà ngắn, còn hơn xéo mà dài.

Nguyên Chẩn tự ví mình như Kiềm Lâu để nói về cảnh ngộ nghèo túng của mình khi mới lấy vợ. Câu thơ Tự giá Kiềm Lâu bách sự quai ý nói: Từ khi nàng lấy kẻ nghèo hèn, mọi chuyện trong đời nàng đều trở nên khó khăn, vất vả, chẳng được hưởng chút phú quý vinh hoa nào.

Dịch nghĩa:
Khiển Bi Hoài Kỳ 1 Giải Nỗi Nhớ Thương Kỳ 1

Tạ công tối tiểu thiên liên nữ
Nàng là con gái nhỏ được cha yêu quý nhất,
Tự giá Kiềm Lâu bách sự quai
Kể từ khi lấy kẻ nghèo hèn như ta, trăm việc đều gian nan vất vả.
Cố ngã vô y sưu tẫn khiếp
Thấy ta thiếu áo mặc, nàng lục lọi trong rương cũ tìm vải may,
Nê tha cô tửu bạt kim sai
Ta nài nỉ mua rượu, nàng không ngần ngại rút chiếc trâm vàng đi cầm cố.
Dã sơ sung thiện cam trường hoắc
Thức ăn chỉ có rau dại, nàng cũng vui lòng ăn lá đậu già cho qua bữa,
Lạc diệp thiêm tân ngưỡng cổ hoè
Đốt lửa nấu cơm, nàng phải nhặt lá rụng dưới gốc hòe già làm củi.
Kim nhật bổng tiền quá thập vạn
Ngày nay lương bổng của ta đã hơn mười vạn tiền,
Dữ quân doanh điện phục doanh trai
Mà nàng không còn nữa, ta chỉ biết cúng lễ trai tăng để tưởng nhớ nàng.

Bình luận:

Bài thơ được đánh giá là một trong những tác phẩm cảm động nhất trong dòng thơ khóc vợ của văn học Trung Hoa nhờ sự chân thực và giản dị.
Bài thơ được làm sau khi Vi Huệ Tùng qua đời vài năm. Lúc này, Nguyên Chẩn đã thăng tiến, có địa vị trong triều đình và bổng lộc dư dả. Chính sự tương phản giữa quá khứ nghèo khổ có nhau và hiện tại giàu sang lẻ bóng đã thúc giục ông viết nên những dòng thơ buồn khổ này.
Vi Huệ Tùng là con gái út của Vi Hạ Khanh, một quan đại thần quyền quý. Dù xuất thân từ gia đình danh giá, nàng vẫn chấp nhận lấy Nguyên Chẩn khi ông còn là một người nghèo khó, chưa có sự nghiệp.

Thay vì dùng những từ ngữ hoa mỹ, tác giả chọn liệt kê những chi tiết rất đời thường: vợ lục hòm cũ tìm vải may áo cho chồng, rút trâm vàng đi cầm để chồng có tiền mua rượu, hay nhặt lá hòe rụng làm củi. Những hình ảnh này khắc họa sâu sắc đức hy sinh và lòng tận tụy của người vợ.

Hai câu kết là bi kịch của sự thành đạt muộn màng. Khi ông có thập vạn tiền bổng lộc, người vợ từng cùng ông ăn rau dại, lá đậu đã không còn để chia sẻ. Tiền bạc giờ đây chỉ có thể dùng để làm lễ cúng tế, càng nhấn mạnh nỗi ân hận và xót xa của người ở lại.

Dịch Thơ:

Nỗi Nhớ Thương Kỳ 1

Gái út Tạ ông dễ mến thương,
Lấy Kiềm Lâu khốn khó trăm đường.
Biết chồng thèm rượu cởi thoa bán,
Kiếm áo cho chồng lục đáy rương.
Cam khổ cơm rau ngào ngạt vị,
Lá khô thay củi hòe vô phương.
Nay lương bổng lộc hơn mười vạn,
Trai cỗ cúng nàng với nén hương.


An Elegy for Wei Cong Part 1 by Yuan Zhen

You were like the youngest daughter, the one Lord Xie loved best,
Since marrying this poor Qian Lou, everything has gone awry.
Seeing me without clothes, you searched through old hampers,
I coaxed you for wine, and you pulled out your gold hairpin to pay.
Wild greens filled our meals; you were content with bitter bean leaves,
To add fuel to the fire, you looked to the fallen leaves of the old scholar tree.
Today, my official salary exceeds a hundred thousand coins,
But I can only prepare vegetarian offerings and hold fasting rituals for you.

Phí Minh Tâm

***

Góp ý:

Kiềm Lâu (黔婁) là một đạo sĩ ở ẩn thời Xuân Thu Chiến Quốc, người nước Lỗ (hay Tề?) tương truyền sống cùng vợ trong động Kiềm Lâu (黔婁) ở Thiên Phật Sơn (千 佛山, Tế Nam, Sơn Đông) [dĩ nhiên đây chỉ là huyền thoại vì Phật chưa được biết ở Hoa Lục cho tới thời Hán]. Truyền thuyết cũng nói rằng Lỗ Cung Công (魯共公, hậu bán tk 4 TCN) và Tề Uy Vương (齊威王) mời Kiềm giữ chức khanh, tướng nhưng Kiềm từ chối. Đa số giai thoại về tính khí của Kiềm đến từ miệng vợ, kể cả chuyện ông chết không có đủ áo quần để che thân và thụy của ông là Khang (康) vì lý do ông sống bình an trong cảnh nghèo hèn, không màng làm quan. Về sau, thành ngữ Kiềm Lâu được dùng để chỉ bần sĩ (贫士). Các người dựng những giai thoại về Kiềm Lâu không hề phân vân tại sao một người hình như được các vương công biết vì tài tề gia trị quốc lại không thể tạo một cuộc sống đầy đủ hơn cho chính mình và cho vợ; nếu không hề trổ tài thì làm sao người khác biết ta có tài? Kiềm Lâu có thể là nhân vật tương đối tân thời tạo nên huyền thoại Hứa Do (许由, thời Nghiêu, 25 thế kỷ trước) xuống suối rửa tai. Người ni được một bạn đồng môn gọi là quái nhân cũng vì y đã thắc mắc về điển tích Hứa Do từ thuở còn bé tí tẹo.

Hiểu điển tích Kiềm Lâu như thế thì người ni phân vân làm sao Nguyên Chẩn có thể ví mình với Kiềm Lâu. Nguyên sống trong cảnh nghèo thuở thiếu thời vì cha mất sớm nhưng có thật nghèo đến độ vợ phải lục rương tìm áo cũ cho chồng mặc? Gia đình nào chịu cho ông làm rể? Vợ chính của họ Nguyên là Vi Tùng (妻妾), con gái út của tả phó xạ Vi Hạ Khanh (仆射韋夏卿), và ta cũng cần biết rằng họ Nguyên thành công trong đường hoạn lộ tương đối sớm, đậu minh kinh (明經) năm 14 tuổi và được giữ chức giáo thư lang (校书郎) sau đó. Đời hoạn lộ của Nguyên nhiều trắc trở vì ông ta đụng độ hoài với triều thần và hoạn quan khi giữ những chức tương đương với ngự sử và chuyên vạch lá tìm sâu, trong khi chính ông ta cũng đã được biết là không hoàn toàn thanh liêm. Những dữ kiện từ sử liệu này cho ta thấy rằng họ Nguyên, cho dù có tính chuyện đi ở ẩn với Bạch Cư Dị, ông chỉ muốn làm thế sau khi đã có tài sản và đó không phải là mối hành xử của huyền thoại Kiềm Lâu!

Nếu bài điệu vong đầu không tin được về dữ kiện và làm người đọc thắc mắc về thành ý của thi nhân thì giá trị của hai điệu vong tiếp sẽ như thế nào? Câu chót của Khiển Bi Hoài kỳ ba đọc: 報答平生未展眉=Báo đáp bình sanh vị triển mi có thể để lộ rằng hiền thê Vi Tùng đã không có hạnh phúc hôn nhân nhưng không phải vì chồng nghèo.

Huỳnh Kim Giám



Cuối Bờ Tình Ca

 

Một ngày sông bể cạn khô
Em ru anh ngủ cuối bờ tình ca
Anh ru em ngủ khô hoa
Hết đau hết khổ hết ta hết mình

Hết hát rong hết ăn xin
Hết bồng hết ẵm hết nhìn hết cưng
Hết thương hết nhớ hết mừng
Hết mơ hết mộng trăng gần gió xa

Hết hương hết thịt hết da
Hết hồn hết xác hết nhà hết quê
Hết ăn uống hết hôn mê
Hết khen ngon ngọt hết chê bóng đè

Hết mưa xuân hết nắng hè
Hết hờn hết giận hết khoe trắng hồng
Hết môi thu hết mắt đông
Hết cười hết khóc hết sông hết đò

Hết sống đói hết chết no
Hết trăng hết mật hết cho hết đòi
Hết đỉa đói hết chung đôi
Hết cam hết bưởi hết xôi hết chè

Hết bông gòn hết lá me
Hết chim hồng gió cây mê giật mình
Hết sôi nổi hết lặng thinh
Hết bùa yêu hết chân tình tay tiên

Hết lời lạ hết hơi quen
Hết hằng nga tắm hoa sen không bằng
Hết cong môi hứng thơ văn
Hết chờ hết đợi hết căng hết chào

Hết rừng trầm hết núi sao
Hết hương hết lửa hết đau hết hồn
Hết bình minh hết hoàng hôn
Hết ru hết dỗ hết nôn nóng lòng....

MD.12/14/07
LuânTâm

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

Tinh Thần Văn Bút Miền Đông (VBVNHN VĐBHK)


Thơ: Dương Việt Chỉnh
ThơTranh: Kim Oanh

Giỗ Tổ Hùng Vương



Ngày Giỗ Hùng Vương Việt tộc ta
Hàm ân Ngài đã dựng sơn hà.
Chinh Nam ngạo nghễ, hưng bờ cõi
Chiến Bắc oai hùng, vững nước nhà.
Bảo quốc, tiền nhân gìn trọn vẹn
Thương dân, hậu thế giữ an hòa.
Vì đâu nội chiến đau lòng Tổ?
Ý thức hệ nào...lệ máu pha!


Duy Anh
Tháng Ba Mùng Mười Âm Lịch
26/4/2026


Về Cõi Hư Không

 

"Xin biển và rừng hãy lặng tiếng
Cho môi tôi chạm khẽ hư không"

(Chạm Vào Hư Không / DP-hn)

Rồi ta phiêu dạt cõi hư không
Luyến tiếc làm chi chốn bụi hồng
Bỏ lại trần gian kho của cải
Mang lên thiên giới mảnh linh hồn
Xác thân tan nát như tro bụi
Trí tuệ tơi bời tựa pháo bông
Hy vọng nơi về sau cái chết
Thiên-đàng, Cực-lạc với Non Bồng.

CN-HNT,
Mùa Vu-Lan 2020(423)


Chiều Tháng Tư Trên Sông Sài Gòn

 

Chiều trên sông Sài Gòn gió thổi ngang trời
Tiếng sóng vỗ nghe như lời chưa kịp nói
Anh đứng lặng giữa hai bờ ký ức
Một bờ em… một bờ chiến tranh.

Ngày đó
Cư xá còn đẹp như giấc mơ
chúng mình còn hẹn nhau đầu ngõ
chỉ một buổi chiều thôi
mà tưởng như đời chưa hề rạn vỡ.

Giờ này
gió vẫn thổi
nhưng không còn ai đứng đợi
bóng tối phủ xuống
che mất nửa đời người.

Cây tre vẫn nghiêng mình trong gió
như chuyện xưa chưa chịu rời đi
còn giọng em
đã tan vào khoảng lặng
chỉ còn vang
trong một chiều không có lối quay về.


Tế Luân
Túy bút viết cho thàng Tư
04-23-26

Tôi Lại Thở Dài, Ngó Xa Xăm...

 

Tôi xa làng Đá đã nhiều năm 

Từ độ người ta tuổi chớm Rằm 

Cái tuổi xúi người say má thắm 

Thả hồn mơ mộng mãi xa xăm 


Tôi nhớ, người ta một cuối năm

Giữa chiều mưa ấy rét căm căm

Mặc tôi thảng thốt chặt tay nắm

Vẫn nhẹ lắc đầu ngó xa xăm.


Tôi biết người ta với làng Chằm

Ân tình riêng nặng đã nhiều năm 

Người ta lại giỏi cam chịu lắm 

Mặc kẻ làng Chằm biệt biệt tăm.


Tôi về làng Đá mỗi cuối năm

Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm

Tuổi xuân tự lấp sâu vạn dặm

Tôi lại thở dài, ngó xa xăm...


Hà Nội, 26 tháng 01 năm 2026

Đặng Xuân Xuyến


Tranh Dệt Bằng Len Của Tuyết Phan Được Chọn Triển Lãm


Tuyết Phan thân mến chào quý ACE/ VB ...
Sáng bay bỗng nhớ về chút niềm vui thân thương trong cuộc sống xa xứ, xin chia sẻ cùng ACE và rất mong được ACE cùng vui vớiTuyết Phan nha.

Hôm qua 19-04 là ngày khai mạc tranh dệt bằng len (tapisserie ) của Thành phố nơi Tuyết Phan sinh hoạt ...Tuyết Phan tham dự và được chọn 3 tranh để triển lãm.

Tranh 1 :AFFRES DE LA VIE
(NHỮNG NỖI ĐAU CỦA CUỘC ĐỜI)


Cuộc sống có nhiều thăng trầm nhưng hãy:
* Vươn vai mà sống cho dù mưa lũ có kéo qua dưới chân nhưng mặt trời vẫn tỏa sáng ở trên đầu ...


Tranh 2: NOSTAGIE...
(NỖI NHỚ...)


Dù xa quê hương ...nhưng lúc nào hình ảnh quê nhà luôn rõ mồn một trong tâm trí của Tôi ...
Nỗi nhớ thương chất đầy cõi tâm ...
Tôi đã chất đầy những hương thơm gói ghém trong những bông hoa vào chiếc thuyền thúng và đẩy thuyền ra khơi nhờ thuyền chuyên chở tâm tình của Tôi ... mang về tặng quê hương Yêu Dấu của mình

Tranh 3: RÊVERIE...
(MƠ ƯỚC...)

Khi mùa Xuân trở về trên xứ người,
lòng người xa xứ luôn khắc khoải nhớ về quê Mẹ ...
Và rồi qua khung cửa nhỏ,
khi mùa Hoa Đào rộ nở
Gió Xuân nhẹ bước hát khúc tình ca
đánh thức tiếng chuông gió leng keng làm thức tỉnh...
hối thúc những ước mơ của tôi thêm chao đảo ...
Ước mơ thật nhiều
Reo ca thật tuyệt ...
Nhưng đời người có mấy ai tròn nguyện ước ...
ƯỚC MƠ VẪN LÀ MƠ ƯỚC ...


Tuyết Phan

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2026

Thêm Một Tháng Tư Qua - Thơ: Huy Văn - Nhạc Nguyễn Tuấn - AI cover Siliconband

Thơ: Huy Văn
Nhạc Nguyễn Tuấn
AI cover Siliconband
Thực Hiện: Minh Châu Nguyễn

Thầm Ước Nguyện

Có một ngày nào…

Đón bình minh lên lặng ngắm hoàng hôn
Anh Túc lay lay động sắc chiêu hồn
Cánh đồng chim sơn ca vang tiếng hót
Lửa bừng lên thắp ngọn tiếng vô ngôn

Người nằm xuống bên kia bờ biển lạnh
Máu lệ bi thương đẫm xác thân bia
Khốc liệt thay trận chiến nỗi chia lìa
Sẽ trỗi dậy vào tinh cầu bất tử

Họ sống mãi trong tim cầu khấn nguyện
Hàng nối hàng ngọn đuốc dâng cao
Vong linh người lấp lánh tợ ngàn sao
Trên cánh đồng Flanders sơn ca cất tiếng

Rồi một ngày nào…

Kim Phượng

Anzac 25.4.2026

Tâm Sự Với Anh



Em vẫn mãi yêu dẫu anh là lính
Dẫu có cách xa mãi không tình phai
Chiến tuyến gian nan những người lính trẻ
Xa quê trong thời binh lữa
Quên thân giữ gìn san hà

Em vẫn khắc ghi đêm nào từ giả
Lệ ước hoen mi phút giây từ ly
Mơ ước khi nao thanh bình yên ả
Anh về thỏa lòng mong nhớ
Đôi tim hoà nhịp hoan ca

Thư xanh gởi ngàn lời yêu dấu
Thương anh nhọc nhằn dãi dầu
Anh giữ nước non, Em vẫn sắc son
Nhớ hôm trăng tròn anh ơi!
Khắc ghi lời mình hẹn ước ba sinh

Em hứa mãi yêu dẫu anh là lính
Muôn kiếp vẫn yêu dẫu xa nghìn xa
Má thắm môi son để dành anh đó
Chờ ngày đất lành hoa nở
Đôi ta nối lại tình mơ

Kim Trúc



Tưởng Đâu Đó Thân Bồng Bềnh Phiêu Lãng



Nửa cuộc đời tôi đi tìm mộng mị
Đem tuổi xuân xanh treo giữa lưng trời
Tung cánh chim bay lướt sóng trùng khơi
Nơi hải đảo, nơi cù lao phong thủy ...

Tưởng nơi đó là thiên đường tri kỷ
Thêm sắc hương tô vẻ đẹp Hằng Nga
Mơ với trăng và mộng với ngàn hoa
Say với bướm dập dìu muôn cánh lượn

Tôi nào hay đặt niềm tin lạc hướng
Cho phù dung mau chớm nở vội tàn
Để thuyền tình tôi lỡ chuyến đò ngang
Tôi tiếc nuối, muôn vạn lần tiếc nuối !

Sóng lòng tôi đang ngổn ngang trăm mối
Đường tơ nào con nhện đã giăng giây
Bao nhiêu năm hồn chịu cảnh lưu đày
Cho ngả rẽ tình yêu vào tăm tối

Tôi nào biết đường tình muôn vạn lối
Bước lạc loài trong vũng tối bình yên
Hãy quên đi những giây phút lụy phiền
Gom nhặt lại chuyện thần tiên mơ ước...

Giữa đại dương ta bắc cầu Ô Thước
Tay đan tay ngây ngất dáng kiêu sa
Em thơ ngây trong tha thướt lụa là
Trời tháng bảy hồng thêm vầng nhật nguyệt

Cho nhau đi những ân tình tha thiết
Đêm trũng sâu trong hoang vắng dị thường
Đợi chờ ai...hỡi thiếu phụ Nam Xương
Lòng trăm mối như thủy triều thác đổ...

Tượng đá kia nghìn năm trong bể khổ
Âm thanh nào nức nở chín tầng mây
Cội nguồn xưa muôn thuở vẫn còn đây
Biển vẫn mãi ngàn năm con sóng dữ

Bờ đá cao xoáy mòn thân lữ thứ
Hạt cát buồn thao thức đợi hoàng hôn
Nửa cuộc đời còn lại giữa càn khôn
Như lá úa cuối thu buồn rơi rụng

Mưa rả rích từng cơn, kinh nhật tụng
Tiếng dương cầm cao vút giữa hư không
Nghe bơ vơ lạc lỏng chốn bụi hồng
Tưởng đâu đó...thân bồng bềnh...phiêu lãng !!!

nguyễn phan ngọc an
2026