Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2026

Kỷ Niệm - Thơ: Quý Linh - Nhạc: Phạm Anh Dũng - Tiếng Hát: Minh Đạt - Hòa Âm: Đỗ Hải

Thơ: Quý Linh
Nhạc: Phạm Anh Dũng
Hòa Âm: Đỗ Hải
Tiếng Hát: Minh Đạt


Mưa Hạ

 

Mưa về rỉ rả lạnh buồn hơn
Từng giọt vấn vương tựa trách hờn
Nắng hạ khó thiêu đời trống vắng
Mưa đêm càng xót cảnh cô đơn
Ta về trường cũ tình luôn giữ
Em đến trời xa nghĩa vội sờn
Lay cánh phượng yêu còn ướt đẫm
Ngỡ mình đang vuốt má ai trơn !... 

 Quên Đi

Gọi Tên Em

 

Áo trắng vu qui em thướt tha
Bạn đời từ thuở em gặp ta
Nay em đã về bên Chúa gọi
Nghẹn ngào ta nhớ tháng ngày qua

Em là ánh sáng ngày tăm tối
Rọi đường đưa lối bước ta đi
Em là mãnh lực ngày mòn mỏi
Bên em ta dựa cánh chim bàng

Em là nguồn sống nơi buồn tẻ
Ban nụ cười tới những thờ ơ
Em là sức mạnh nguồn lưu động
Em truyển hơi ấm sưởi lòng ta

Ta cần em như bướm cần hoa
Như đêm cần sáng bình minh hóng
Như sông cần nước quanh năm chảy
Như thuở thơ ngây cần mẹ cha

Vắng em đời như thôi ý nghĩa
Lòng héo sầu tuy ngát hương hoa
Trước kia khoảng trống em vùi đắp
Nay sống lạc loài trong thế gian

Buổi chiều ta ngồi mơ cảnh cũ
Vẫn ngỡ em về dưới hiên hoa
Bóng em vẫn thoáng trong mộng tưởng
Quay cuồng ta khóc gọi tên em

Diệm Trân
Tháng 6, 2015

Nắng Nhạt Chiều Bâng Khuâng



từng giọt thầm rất nhẹ
nhỏ xuống đời long đong
em một mình gọi khẽ
tên người cách núi sông
người về mang theo gió
thổi mát bờ bãi xa
trưa hạ nồng oi ả
cơn gió nào bay qua
người về mang theo nắng
nắng nhạt chiều bâng khuâng
em ngẩn ngơ ngồi lại
nghe lòng mưa rưng rưng

Thủy-Trang


Lời Của Gió - Thơ: Quý Linh - Đệm Dương Cầm: Hoàng Cường

Thơ: Quý Linh
Đệm Dương Cầm: Hoàng Cường

Những Kỳ Thi Tú Tài Khắc Nghiệt Bao Nhiêu Nước Mắt Đã Rơi - Duy Văn Hà Đình Huy


Một kỷ niệm đặc biệt khó quên 58 năm về trước. Những năm thi Tú Tài là cả một vấn đề đối với học sinh nhất là học sinh Nam. Bởi học sinh Nam rớt kỳ thi Tú Tài Phần Thứ Nhất bắt buộc phải bỏ học nhập ngũ trường Hạ Sĩ Quan, vì không còn giấy hoãn dịch học vấn để tiếp tục lên lớp Đệ Nhất (tức lớp12 sau này).

Năm 1968 (năm Mậu Thân). Năm này, chiến tranh ác liệt CS Miền Bắc phá hiệp ước hưu chiến, nghĩ Tết họ tấn công hầu hết các Tỉnh Thành miền Nam mà nặng nhất là Huế, Họ chiếm Huế và giết đồng bào rất nhiều. Năm này, tôi dự kỳ thi Tú Tài phần thứ nhất, mặc dầu tôi cố gắng học luyện thi suốt cả năm, nhưng trong tâm tôi cứ lo lắng, vì sợ rằng chính quyền tạo sự thi cử khó khăn hơn để đánh rớt học sinh càng nhiều vì cần nhân lực cho cuộc chiến.

Hồi đó, những tỉnh lẻ không có Hội Đồng Thi nên học sinh các tỉnh lẻ phần lớn phải về Thủ Đô Saigon mới được tham dự cuộc thi. Quê tôi Tây Ninh, những năm 1967- 1968 chưa có Hội Đồng Thi nên tôi phải về Thủ Đô Saigon thi. Cái khổ học sinh tỉnh lẻ của chúng tôi là tìm chỗ ở trọ trong mấy ngày thi. Học sinh ngụ ở Thủ Đô Saigon thì quá tốt. Đường xá họ rành rẽ, lại nữa có cha mẹ, bà con lo lắng giúp đở đưa rước trong những ngày thi cử nên tinh thần họ yên ổn hơn. Riêng những học sinh ở tỉnh lẻ như chúng tôi, lo lắng mọi điều. Thứ nhất lo về chỗ ở, từ chỗ ở đến trung tâm thi, phải thức sớm để canh giờ giấc, phải chọn phương tiện di chuyển xem coi loại xe nào đi từ chỗ ở đến trung tâm thi ít bị trở ngại vì phải rước khách.
Tỉnh Tây Ninh là một trong số tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ nên tôi được thi trong những trường thuộc tỉnh Gia định. Dường như tất cả những trường thi trong tỉnh Gia Định trong năm Mậu Thân 1968 đều thuộc Hội Đồng B3. Để tìm chỗ ở trọ cho những ngày thi cử, tôi phải xuống Thủ Đô trước một ngày cùng với một người bạn cùng lớp, vì người bạn có người bà con là Chánh Trị Sự trong Thánh Thất Cao Đài Phú Nhuận. Cả hai chúng tôi đều ngụ tại Thánh Thất Cao Đài này trong suốt thời gian thi cử. Năm 1968, tôi thi Tú Tài Phần Thứ Nhất tại trường trung học Đạt Đức (sau này là Chi Lăng) nằm trên đướng Chi Lăng quận Phú Nhuận. Ở Thánh Thất Phú Nhuận đến trường trung Học Đạt Đức rất gần nên tôi bớt phần lo lắng, nên không suy nghĩ nhiều. Để chuẩn bị cho ngày thi đầu tiên tôi tin vào tâm linh nên cùng người bạn vào đãnh lễ Đức Chí Tôn và các Thần Thánh Tiên Phật thờ nơi chánh điện của Thánh Thất để thêm có sức mạnh vô hình tạo được niềm tin. Ngày thi đầu tiên, chúng tôi đi bộ từ Thánh Thất đến trường thi. Chúng tôi đến sớm để được vào theo luật tìm phòng thi và tìm chỗ ngồi theo phiếu báo danh. Trong thời gian, chưa đầy nửa tiếng đồng hồ tôi đã tìm ra phòng thi và chỗ ngồi theo phiếu báo danh của tôi. Tâm hồn của tôi rất phấn chấn.

Ngày đầu thi văn và các môn phụ. Thi buổi sáng xong,tôi trở về Thánh Thất chuẩn bị cho các môn thi buổi chiều. Sau khi thi các môn ngày đầu xong tôi về Thánh Thất cùng với người bạn. Nghĩ ngơi qua đêm tại đây và chuẩn bị cho ngày thi kế tiếp. Vì là Thánh Thất ít có chỗ cho khách nên chúng tôi ngủ ngoài những hành lang gần trên chánh điện. Chúng tôi ôn bài vở cho các môn thi ngày thứ nhì qua những chiếc đèn neon gắng dọc hành lang.Và cứ như thế suốt trong 3 ngày thi. Tôi chọn ban B cho kỳ thi Tú Tài Phần Thứ Nhất đầu tiên của tôi.
Sau những ngày thi với những đề tài cảm thấy tương đối hóc búa như môn toán và lý hóa và một số môn khác.Tôi trở về Tây Ninh để chờ kết quả. Bạn của tôi còn ở lại Phú Nhuận với người bà con.
Thi đã khó rồi, còn việc dò thi cử xem mình rớt hay đậu cả là một điều khó khăn hơn đối với những học sinh tình lẻ như chúng tôi. Bởi học sinh ở tỉnh lẻ như chúng tôi làm gì mà có báo Trắng Đen, báo Saigon Mới ....đăng danh sách học sinh thi đậu như ở Saigon để mà xem kết quả. Muốn biết kết quả thì học sinh tỉnh lẻ chúng tôi phải lên đường xuống Nha Khảo Thí ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm để biết tin tức sớm. Chứ còn chờ quý Thầy Cô ở trường công bố kết quả thì rất là lâu, những học sinh Nam như chúng tôi rất hồi họp vì giấy hoãn dịch cho một năm đã sắp hết hạn.

Không biết các bạn của tôi xem kết quả bằng cách nào, tôi không thể biết, nhưng theo suy nghĩ của tôi, chắc họ cũng chờ các Thầy Cô lấy danh sách kết quả học sinh thi đậu từ Nha Khảo Thí đem về dán vào trong khung thông báo hàng ngày của trường thì các bạn ấy mới biết được.
Riêng tôi vì không có sự kiên nhẫn nên lại phải ngồi xe đò xuống Nha Khảo Thí để biết kết quả sớm, bởi những ngày thi qua tôi đánh giá sự làm bài của tôi vẫn còn có những môn tôi làm chưa đạt theo mong muốn có khả năng điểm thấp việc thi cử của tôi sẽ không đạt yêu cầu.
Tôi đến Nha Khảo Thí trong một ngày trời nắng tốt. Nhiều học sinh và người thân của họ đã có mặt, đám đông đứng chen chúc trước tấm khung có dán đầy danh sách tên các học sinh của từng Hội Đồng Thi. Tôi cũng cố gắng chen và len lõi đến gần được tấm khung thông báo. Nhìn vào danh sách Hội Đồng B3, tôi thấy ngay tên bạn tôi Nguyễn văn Đông, đậu với hạng Bình Thứ. Tôi tìm tên của tôi mãi hoài không thấy, sau hơn 10 phút tìm không thấy tên của tôi, đầu óc của tôi bổng nhiên tối sầm, mặt mày choáng váng, nhưng tôi kiên nhẫn giữ bình tỉnh và nhờ mấy bạn học sinh xung quanh cùng giúp tìm kiếm tên dùm. Cũng có những người lớn tuổi đi xem kết quả cho con em của họ, tôi cũng nhờ nhóm người này tìm giúp. Thời điểm đó người tôi mệt nhoài, nghĩ lung tung trong đầu. Thi rớt, chắc phải đi lính rồi, chứ còn giấy hoãn dịch đâu mà học tiếp!


Tôi rất buồn và bước lui ra ngoài, bổng tôi gặp thầy Nguyễn Hữu Lương hiệu trưởng trường Đạo Đức Học Đường thời điểm này thầy cũng là Thượng Nghị Sĩ của Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Tôi chào thầy và được biết thầy đến Nha Khảo Thí để lấy kết quả cho người con của thầy. Nhân dịp này, tôi nhờ thầy giúp xem kết quả dùm. Thầy Lương đi thẳng vào trong văn phòng của Nha Khảo Thí, khoảng 10 phút, thầy đi ra trên tay thầy cầm một tấm giấy trong đó có tên các thí sinh đậu. Thầy đến gần tôi hỏi tên của tôi và số báo danh. Tôi nói tên của tôi cho thầy biết. Thầy đưa tờ danh sách cả 2 thầy trò cùng tìm. Tôi thấy tên của tôi nằm theo số tự ở vị trí số 6 sau tên con của Thầy. Tôi mừng tim muốn thoát ra ngoài. Tôi xin thầy một bản copy. Thầy trở vào văn phòng và ra đưa cho tôi bản copy, và chúc mừng tôi đã thi đậu. Tôi đậu hạng Bình Thứ như bạn Nguyễn Văn Đông.

Sỡ dĩ, tôi tìm hoài trong tấm khung ở trước của Nha Khảo Thí không có tên tôi. Theo lời Thầy Nguyễn Hữu Lương nói lại là vì những nhân viên của Nha Khảo Thí niêm yết danh sách còn thiếu sót, nguyên cả tấm danh sách học sinh thi đậu thuộc vần H đến L không có dán lên trên tấm khung. Mà đã không có niêm yết trên khung thì làm sao tôi có thể tìm ra tên của tôi!

Tôi rất mừng và rời Nha Khảo Thí cũng không quên cám ơn thầy Nguyễn Hữu Lương trở về Tây Ninh cho kịp chuyến xe đò trong ngày.
Năm 1969. Tôi thi Tú Tài Toàn Phần. Tôi cũng phải xuống Saigon để thi. Vốn dĩ không có thân nhân hay bà con ở Saigon nên tôi cũng phải ở nhờ vào Thánh Thất Phú Nhuận. Ở đây tôi không còn gặp người Chánh Trị Sự bà con với bạn Nguyễn văn Đông mà tôi gặp vị Đầu Tộc Đạo Lễ Sanh LVV, người gốc Tây Ninh. Ngài giúp đỡ không riêng mình tôi mà còn nhiều học sinh gốc Tây Ninh cùng ngụ trong Thánh Thất để thi cử.Trong số học sinh ngụ trong Thánh Thất Phú Nhuận để chờ ngày thi Tú Tài Toàn Phần, tôi gặp Chị Tuyết cùng đi thi. Dù học cùng lớp với tôi, nhưng chị lớn tuổi hơn tôi nên tôi thường hay gọi Tuyết bằng chị.
Cũng theo cách thức năm 1968 lúc thi Tú tài Phần Thứ Nhất. Chúng tôi ôn bài chuẩn bị cho ngày thi đều dưới ánh đèn neon của hành lang gần Chánh điện Thánh Thất.


Tôi thi Tú tài Phần Hai với Hội Đồng Thi A 3 ở trường Bồ Đề (Nguyễn Khuê) ở Quận Nhì gần Cầu Ông Lãnh và chùa Ông Bổn. Để chuẩn bị cho cuộc thi, một ngày trước ngày thi, chúng tôi đi đến trường trung học Bồ Đề bằng xe lam từ Thành Thất Phú Nhuận.
Sau khi khảo sát xong mọi thứ tôi trở về Thánh Thất Phú Nhuận cũng lại bằng xe lam. Như năm trước, tin vào tâm linh nên tôi và chị Tuyết chiều vào giờ cúng của Thánh Thất đến đãnh lễ Đức Chí Tôn và Thần Thánh Tiên Phật trên chánh điệ.Sau khi đãnh lễ xong tôi trở về hành lang chuẩn bị ôn bài thi cho ngày đầu, bổng nhiên thân thể của tôi mệt lã và cảm thấy nóng ran từ trong cơ thể. Tôi biết mình bị cảm và trong tình huống thế này, tôi không phải giải quyết làm sao để người của tôi khỏe lại ngày mai có thể dự thi.Cơn sốt bắt đầu lan tỏa. Tôi mệt, nhưng tôi cố gắng kêu được chị Tuyết giúp cạo gió cho tôi. Lúc đầu chị Tuyết ngại không muốn giúp tôi.Không biết chị nghĩ điều gì? Nhưng sau đó chị đồng ý cạo gió cho tôi. Theo lời chị nói,tôi bị cảm gió rất nặng, những vết cạo của chị qua đồng tiền,lưng của tôi đã đỏ bầm. Chị cho tôi uống vài viên thuốc cảm chị xin từ văn phòng Lễ Vụ của Thánh Thất. Tôi cám ơn chị. Đêm hôm đó tôi không thể ôn bài thi. Tôi ngủ chập chờn vì cơn cảm sốt.


Sáng hôm sau tôi ráng dậy sớm, mặc dầu người rất mệt, nhưng vì là ngày thi đầu. Tôi bắt xe Lam đến trung tâm thi. Trước cổng trường Bồ Đề tấp nập người đưa con cháu đi thi. Tôi biết chị Tuyết cũng cùng thi chung trung tâm với tôi, nhưng tới giờ thi tôi không thấy chị. Tôi gặp anh Lương Nhị con của thầy Lương Thượng Nghị sĩ thi cùng phòng với tôi. Theo phiếu báo danh anh ngồi trước tôi một dãy bàn.
Phải công nhận các giám thị gác thi rất chuyên nghiệp, chặt chẻ theo dõi từ cử chỉ của các thí sinh, mỏi động tác gì của thí sinh cũng bị theo dõi. Tôi không biết ở trung tâm thi nào khác các giám thị có dễ dãi hay không, chứ ngay trung tâm tôi thi Hội Đồng A 3 ở trường Bồ Đề các giám thị như là một cảnh sát hình sự.

Qua cảm sốt đêm, người của tôi vẫn còn mệt, nhưng phải cố gắng thi ngày đầu. Ngày đầu tiên thi các môn phụ hệ số thấp nên cũng không lo lắng lắm, dù người có mệt. Buổi sáng thi xong một số môn học, các thí sinh là người Saigon đều theo cha mẹ hay thân nhân về nhà nghĩ ngơi để chuẩn bị cho môn thi chiều. Riêng tôi không có chỗ nghĩ trưa để ôn bài. Vì nếu từ trung tâm thi ngồi xe về Thánh Thất Phú Nhuận và rồi trở lại thi sẽ không kịp. Tôi quyết định vào nghĩ trưa ở chùa Ông Bổn. Ở đó tôi được ông sư trụ trì cho ăn cơm trưa, ôn bài cho môn thi buổi chiều.Những ngày thi kế tiếp, trưa tôi cũng lại nghĩ tại chùa ông Bổn, tôi cũng được các sư ở chùa cho ăn và còn cầu chúc cho tôi thi đậu.


Ngày thi cuối cùng xong tôi đến chùa từ giả quý sư và không quên cám ơn đã giúp chỗ nghĩ và ăn trưa.Trở lại Thánh Thất Phú Nhuận bằng chuyến xe lam chiều, nhưng lòng còn vương sự cám ơn các vị sư ở chùa ông Bổn. Song song với sự cám ơn còn vương trong lòng đó là sự cám ơn đối với chị Tuyết. Nếu như đêm hôm đó chị Tuyết không cạo gió cho tôi, chắc gì tôi khỏe để đi thi.Tôi cám ơn chị Tuyết. Tôi đến Thánh Thất để cố tìm gặp chị để có lời cám ơn nghĩa cử của chị đã giúp tôi trong lúc tôi bệnh. Nhưng tôi không tìm thấy chị và người hành đạo ở Thánh Thất nói chị đã về Tây NInh rồi.

Ngày hôm sau, tôi đáp xe đò về Tây Ninh, công việc đầu tiên là tôi đến nơi nhà trọ trước đây chị ngụ trên đường Ngô Tùng Châu thị xã Tây Ninh để theo học lớp Đệ Nhất trường trung học Công Lập Tây Ninh nhưng không gặp chị. Nhà trọ có người khác thuê mướn và người chủ nhà trọ cho biết chị đã về quê. Tuy suốt thời gian học cùng lớp Đệ Nhất với nhau, tôi biết chị là người miền Tây nhưng không biết chị ở tỉnh nào! Tôi và chị bặt tin nhau từ đó. Tôi không rõ chị có thi đậu không. Riêng tôi kỳ thi Tú Tài Toàn Phần tôi cũng đậu hạng Bình Thứ.

Khi vào đại học Sư Phạm và cùng ghi danh vào đại học Luật Khoa Saigon. Người bạn cùng khoa Sư Phạm với tôi là người bà con cùng quê Vĩnh Long với chị Tuyết cho biết chị Tuyết cũng đã đậu Tú Tài Toàn Phần cùng lượt với tôi và hiện chị là theo ngành Y Tá Điều Dưỡng.



Nhân youtube của Người Ngoại Thành nói về kỳ thi Tú Tài Khắc Nghiệt- Bao nhiêu nước mắt đã rơi? Tôi nhớ lại 58 năm trước tôi là người từng đã trải nghiệm về việc thi cử nên phải công nhận trước năm 1975, việc thi cử ở miền nam rất khó khăn. Theo tài liệu hiếm có ghi nhận: mỗi mùa thi Tú Tài Phần Nhất hay Toàn Phần số thí sinh ghi danh thi thật nhiều trên toàn quốc, nhưng tỉ lệ đậu rất ít. Chỉ ước khoảng 40% cho một mùa thi. Vì thế bằng Tú Tài của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa rất có giá trị.

Kỳ thi Tú tài (Tú tài I - Bán phần và Tú tài II - Toàn phần) tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975 được xem là những kỳ thi quốc gia quan trọng, nghiêm túc và tạo nhiều kỷ niệm sâu sắc cho các thế hệ học sinh. Dưới đây là tổng hợp cảm nghĩ và thông tin về các kỳ thi này dựa trên các tài liệu hồi ức và biên khảo:

1. Sự Nghiêm túc và Áp lực "Sinh tử"

- Kỳ thi quốc gia: Tú tài là cột mốc lớn, phân loại học sinh sau 12 năm đèn sách. Đậu Tú tài II (toàn phần) là điều kiện bắt buộc để vào đại học.

- Áp lực thi cử: Với nam giới, hỏng Tú tài I (Tú tài bán phần) đồng nghĩa với việc có thể phải nhập ngũ quân dịch hoặc vào trường hạ sĩ quan. Do đó, kỳ thi mang áp lực tâm lý rất lớn, thường được coi là kỳ thi "sinh tử".

- Tỷ lệ đỗ thấp: Đặc biệt với Tú tài Pháp, tỷ lệ đỗ chỉ khoảng 20-25%. Tú tài Việt giai đoạn đầu cũng rất gay go, rạng danh cả làng xã khi đỗ.

- Tổ chức quy củ: Dù trong hoàn cảnh thời chiến, các kỳ thi được tổ chức tại các Thủ Đô Saigon và từ thập niên 70 ở các tỉnh mới có Hội Đồng Thi. Giám khảo chấm thi kỹ lưỡng, được đánh giá là công bằng và minh bạch.

2. Kỷ niệm về các kỳ thi (1960s - 1974)

- Tú tài I (Bán phần): Thi cuối lớp 11, gồm hai phần viết và vấn đáp (vấn đáp bị bãi bỏ từ năm 1968).
Tú tài II (Toàn phần): Thi cuối lớp 12, thi cử rất nghiêm ngặt, đề thi đòi hỏi sự sáng tạo và kiến thức vững chắc

- Kỳ thi "Tú tài IBM" (1974): Năm 1974 đánh dấu sự cải tổ khi lần đầu tiên Bộ Giáo dục sử dụng máy điện toán IBM để chấm bài trắc nghiệm. Kỳ thi này thường được nhắc đến với cảm giác vừa hiện đại vừa lo ngại về phương pháp mới.

- Sự phân ban: Học sinh được chia ban (Ban A - Khoa học thực nghiệm, Ban B - Toán,.) và nội dung thi phù hợp với chương trình học.

3. Nét Văn hóa Thi cử 

- Trung tâm luyện thi: Có các trung tâm luyện thi nổi tiếng tại Sài Gòn (đường Cao Bá Nhạ,..) dành cho cả chương trình Việt và Pháp.

- Giám khảo chấm rộng: Nhiều hồi ức cho rằng giám khảo miền Nam chấm thi tương đối "rộng" và có tâm, tạo điều kiện cho học sinh nhưng vẫn giữ sự nghiêm minh.

Sự sàng lọc: Học sinh thi Tú tài 2 thường được sàng lọc từ Tú tài1.Tuy vậy tỷ lệ đỗ cao không hơn (thường trên 40% ở giai đoạn những năm 70).

- Về Kỳ thi Tú Tài của miền Nam trước 1975, hiểu hơn phần nào về chương trình giáo dục, cách dạy của chế độ Việt Nam Cộng Hòa.

- Môn Triết là 1 môn được coi trọng khi được dạy ngay từ cấp 1, với những ý niệm cơ bản. Nhìn đề thi Triết tú tài 2 mới thấy được đẳng cấp khác biệt khả năng am hiểu Lịch sử triết học thế giới, sự bao quát của Triết học, các phương pháp luận, thế giới quan...tất tần tật. Bài thi gồm có cả 2 phần: Luận 10đ và Trả lời vắn tắt 10đ.

Các môn tự nhiên: Toán, Lý, Hóa, Vạn vật (Sinh) đều là môn trọng yếu...với 2 ban chính (ban A Vạn vật hệ số 5, ban B Toán hệ số 5). Điều quan trọng là nhìn vào đề thi, sẽ thấy thời đó dạy cho học sinh cách hiểu cách tư duy (từ bản chất) của mọi khái niệm, định lý...chứ không phải cách xài công thức-học vẹt. Ví dụ môn Toán: Ý nghĩa, ứng dụng của Đạo hàm, nguyên hàm...đều được hỏi trong đề (cách thống nhất tên gọi khái niệm cũng đã thể hiện 1 đẳng cấp khác . * Sinh ngữ: được chia làm Tiếng Mẹ đẻ (sinh ngữ 1, hệ số 2) và 1 môn sinh ngữ 2, hệ số1 những đoạn trích bình văn kinh điển và sâu sắc của tiền nhân...

Môn thể dục ko là môn chính thức của kì thi tú tài, nhưng khuyến khích để cộng điểm để thấy được quan niệm giáo dục và phát triển con người của chế độ VNCH thế nào.

Kết Luận

Tóm lại kỳ thi Tú Tài ở chế độ VNCH.Tổ chức chặt chẽ, có phương pháp, có nề nếp trong thi cử là yêu tố quyết định trong thi cử. Cá nhân muốn gian lận cũng khó mà gian được. Chẳng hạn chuyển đổi người địa phương đi nơi khác là yếu tố quan trọng hàng đầu. Phân biệt tổ chức Hội đồng giám thị và Hội đồng giám khảo. Không cho phép bất cứ quan chức địa phương nào, từ Tỉnh trưởng đến người quân cảnh dính dáng xa gần tới Hội đồng giám thị giám khảo. Hai hội đồng ấy từ trung ương gửi xuống biệt lập với quan chức địa phương. Địa phương chỉ có bổn phận bắt buộc cung cấp phương tiện. Chánh chủ khảo đến làm việc là mọi chuyện phải được sắp xếp sẵn sàng cho họ như phương tiện di chuyển như máy bay quân sự, xe cộ, lính canh gác thùng đề thi, an ninh tại các trường thi.Chẳng hạn để tiết lộ thùng đề thi do trách nhiệm ông Tỉnh trưởng thì việc trước tiên là ông tỉnh trưởng phải đổi đi chỗ khác.Tổ chức ấy được tiến hành như sau:Nha Khảo Thí. Nha khảo thí là nơi đầu não làm việc suốt quanh năm nhằm mục đích tổ chức hai kỳ thi trung học Phổ thông và 4 lần thi tú tài 1 và 2. Cơ quan này chia ra nhiều bộ phận riêng rẽ, biệt lập như tổ chức các Hội đồng Giám thị và giám khảo, phân phối điều động các giám khảo, giám thị. Sài Gòn vì là trung tâm nên nơi đây còn chia ra nhiều Hội Đồng như Hội Đồng ban B, ban C và D, Hội Đồng ban A. Các tỉnh thì có các Hội Đồng Giám khảo như Huế, NhaTrang, Cần Thơ, v.v… Hội Đồng Giám Thị thì tổ chức tại các địa phương như các tỉnh Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Hội An, Quảng Trị, v.v… Khi các thí sinh thi xong thì bài thi và hồ sơ của Hội Đồng Giám Thị được chuyển tất cả về Huế.Nhưng bộ phận quan trọng của Nha Khảo Thí là hội đồng ra đề thi. Bộ phận này nằm chót lót trên lầu 3 của Nha Khảo Thí.

· Người ta gọi đùa là một vương quốc thi cử. Nội bất xuất, ngoại bất nhập.

 

Duy Văn Hà Đình Huy

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

Bình Minh Xuân

 
Mưa trút nước trôi buồn viễn xứ
Góc trời xuân rạn ánh bình minh
Sau đông dài… tuyết rơi sương rụng
Ngày buốt lòng đêm buốt lạnh tim!


Thơ & Hình Ảnh: Yên Dạ Thảo

Không Thể Nào Quên

  

Không thể nào quên những ngọn đồi
Đã từng ghi dấu bước chân tôi
Mùa Hè rực lửa mùa chinh chiến
Đồi Gió,Tân Khai tiếng để đời.

Không thể nào quên bao chiến sĩ
Hy sinh vì nước máu xương phơi
Bình Long Hè đỏ, Xuân Xuân Lộc
Nghĩa địa hoang tàn bao lệ rơi.

Không thể nào quên những chiến công
Đã từng vang dội khắp non sông
Anh hùng tuẫn tiết đầy bi hận
Lịch sử phương Nam mãi ngậm ngùi.

Không thể nào quên người vượt biển
Biển Đông vùi xác mất tăm hơi
Sóng cuồng lớp lớp buồn tang chế
Tưởng nhớ linh hồn lạnh biển khơi.

Memorial Day, 2026
Đăng Nguyên

Mưa Tháng Năm

 

Trăng bây giờ vẫn giống trăng xưa
Bóng ngả liêu xiêu dưới gió mưa
Có người lữ thứ buồn viễn xứ
Dõi bóng thời gian lùa song thưa.

Ngắm ánh trăng tà thầm ước mơ
Quê hương vời vợi vẫn mong chờ
Cõi lòng chất chứa bao hoài bão
Trăn trở canh thâu lạc bến bờ.

Tháng năm mưa dầm ngỡ mưa ngâu
Thương quá ngày xưa giấc mộng đầu
Còn lại những gì trong ký ức
Tro tàn dĩ vãng bay về đâu.

Đêm trải hồn thơ thương nguyệt lạnh
Mưa dưới trăng hay trăng dưới mưa
Nhớ câu vọng cổ vùng quê ngoại
Đã mất hết rồi tiếng võng đưa.

25/5/26
Đỗ Minh Giang

Mừng Thi Tập Quê Hương,Tình Yêu & Kỷ Niệm


(Gửi tặng nhạc sĩ Trần Đại Bản)

Quê cũ còn vang tiếng mõ chiều
Hồn thơ còn đượm khói cô liêu
Huế xưa tím nhẹ dòng sông vắng
Kỷ niệm theo người suốt quãng yêu.

Trang sách mở ra tình cố xứ
Lời thơ chở nặng bóng quê nghèo
Xin mừng thi tập đầy tâm cảm
Một tấm lòng son với nước non.

Tế Luân

Tình Xưa

  

Anh đang về lại Phương Đông…
Hương xưa thuở ấy…đã bềnh bồng!
Hồn em vấn vương…trong mây gió
Tơ buồn…mờ ảo khắp núi sông!

Biết tìm đâu…giây phút ấm êm
Đèo cao, thác lủ…gập ghềnh!
Vì tình đời… đang phản bội…
Núi gào, biển thét…não nùng thêm!


Dáng cũ…giờ đây đã đổi thay!
Sơn son, trét phấn…dấu mặt mày…
Trao đổi những con tim rớm máu!
Dối gian, xảo quyệt…lắm chua cay!!

Tình riêng…ngập giữa gió mùa!
Màng đen phương Bắc… đã đong đưa
Chung vun xới…vườn hoa Dân Chủ
Ngọn đuốc Cam Ranh…sẽ khơi ngòi…

Nguyện cầu Thế Giới Bình an
Chân lý… phải thắng bạo tàn…
Xây lại Tình Chung…dang dở…
Lệ mừng…lật sổ…sang trang…

Tô Đình Đài

Ngày Xưa Hà Nội


 
Tôi là Bắc-kỳ chính cống nhưng lại mở mắt chào đời ở miền Trung khi bố tôi đổi ra làm việc ở Bến Thủy thuộc tỉnh Vinh. Nơi có núi Hồng Lĩnh thật đẹp và nổi tiếng, mà người ta thường gọi tắt là núi Hồng. Bố mẹ tôi đã lấy tên núi Hồng với Bến Thủy ghép lại để đặt tên cho tôi là Hồng Thủy. Tên tôi có nghĩa thật mơ mộng, hiền hòa, chứ không phải ghê gớm, hãi hùng như nạn lụt lội hồng thủy. Sau đó ít lâu, bố tôi đổi về làm việc ở Thanh Hóa. Do đó tôi lớn lên ở Thanh Hóa, nơi có hòn Vọng Phu, có hang Từ Thức, có chợ Rừng Thông, có Cầu Bố, Quán Mật nổi tiếng.

Gia đình tôi hồi cư về Hà Nội năm tôi 10 tuổi.Cảm giác đầu tiên khi đặt chân lên đất Hà Nội là tất cả đều mới lạ, huy hoàng, tráng lệ. Khác hẳn với Thanh Hóa đổ nát, xơ xác, hoang tàn vì bom đạn, vì chiến tranh tàn phá.
Hồi ở Thanh Hóa, tôi phải tản cư về làng Sơn Lương. Một làng nhỏ thật thơ mộng, với những dẫy núi đá xanh, những đồi hoa sim tím, nhưng cũng thật nghèo nàn, đơn sơ. Quanh năm chỉ thắp đèn dầu, không hề có điện, nên tôi chẳng bao giờ được nhìn thấy cục nước đá hay những que kem.
Ngày đầu tiên vừa đặt chân đến Hà Nội, tôi được ông anh họ dẫn ra tiệm kem Cát Thành, mua cho một cây kem dâu màu hồng.Tôi cầm cây kem, sung sướng ngắm nghía mãi, rồi mới thận trọng mút thật nhẹ. Tôi chậm rãi nhâm nhi để thưởng thức cái mát lạnh, thơm thật thơm của cây kem, cho đến khi ông anh phải nhắc:
- Em không ăn nhanh nó chảy ra hết bây gìờ.
Với tôi, đó là cây kem đầu tiên và cũng là cây kem ngon nhất trên đời.

Thời gian này, mẹ gửi anh em tôi ở với ông Nội để Mẹ vào Huế lo bán nhà. Ông bà ngoại tôi có một ngôi nhà rất lớn ở số 5 Đường Saigneau Huế, sau này đổi là đường Lý Thường Kiệt. Bây giờ họ đã phá ngôi nhà đầy kỷ niệm của gia đình tôi để xây thành HOTEL thật lớn, sang và thật đẹp.
Ông nội tôi là Thầy Lang Thuốc Bắc rất giỏi và mát tay. Ông mở tiệm thuốc bắc Tiền Vàng ở phố Hàng Bột, Hà Nội, gần Văn Miếu (Quốc Tử Giám) và Bích Câu Kỳ Ngộ.
Về Hà Nội tôi ghi tên đi học lại ngay ở trường Trần Hưng Đạo do GS Nguyễn Văn Toại (là thân phụ giáo sư Nguyễn Ðông Ngạc của trường Trưng Vương sau này). làm Hiêu Trưởng
Trường đối diện với Văn Miếu nên giờ ra chơi tôi thường cùng các bạn chạy sang Văn Miếu chơi đi trốn đi tìm.


Ngày nghỉ anh em tôi cùng vài người bạn hay thuê xe đạp nhỏ , đạp xe chạy lòng vòng chơi ở đường Cổ Ngư. Ðường Cổ Ngư là con đường rất thơ mộng ngăn giữa Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch , quanh năm suốt tháng rợp bóng mát vì những cây phượng vĩ và những cây bàng lớn trồng dọc suốt hai bên đường.
Chúng tôi hay vào chùa Trấn Quốc lấy cục đá to hơn nắm tay, cố đập dập những hột bàng, lấy nhân ở trong ra ăn thật là bùi. Tôi thích lòng vòng quanh quẩn ở hồ Trúc Bạch hơn là ra phía Hồ Tây, vì Hồ Tây lúc đó dưới mắt tôi nó rộng mênh mông như biển cả,làm tôi rất sợ bị chết đuối.
Trên đường về, chúng tôi thường ghé vào "Bích Câu Kỳ Ngộ "chơi. Ở đây phong cảnh rất đẹp. Không hiểu sao sau này nhân dịp về Hà Nội lo phần mộ cho bố tôi. Tôi không sao tìm được 'Bích Câu kỳ ngộ ' nữa. Hỏi rất nhiều tài xế Taxi cũng không ai biết tại sao một di tích thần thoại nổi tiếng như vậy mà có thể biến mất luôn.

Một kỷ niệm thời thơ ấu không thể quên là một hôm đi chơi ở đường Cổ Ngư. Tôi bị vạt áo dài quấn vào dây xích xe đạp làm tôi xém ngã, và bị rách nát cả vạt áo dài mới may. Tôi ngồi khóc
thút thít suốt cả buổi, vừa sợ bị mắng, vừa tiếc chiếc áo dài lụa màu vàng mơ Mẹ mới may cho
Nhắc tới kỷ niệm ở phố Hàng Bột khiến tôi nhớ đến cô bạn hàng xóm Dương Thị Nhị sau này định cư ở San Jose đã cùng tôi chơi nhảy dây, đánh chuyền. Cô bạn thời thơ ấu đó sau này cũng là
bạn đồng môn với tôi ở trường Trưng Vương. Nhưng rất buồn là bạn tôi qua đời đã mấy năm rồi.
Hồi đó, bọn trẻ tụi tôi mê nhất là món nước gạo màu trắng đục bán ở góc vườn hoa, gần chợ Con Bò của phố Hàng Bột. Nước gạo uống ngon và thơm thật là thơm. Tôi biết họ làm bằng gạo rang xay, thường gạo rang có mầu nâu nhưng không biết họ làm cách nào mà nước gạo lại có màu trắng đục như sữa loãng


Từ ngày rời Hà Nội, tôi không bao giờ còn được thưởng thức món nước gạo thật ngon đó nữa. Cuối tuần, tôi luôn luôn được Ông Nội cho đi ăn cơm thịt bò xào cải làn ở tiệm Ðông Hưng Viên
món ăn mà cho tới bây giờ ở tuổi già tôi vẫn còn rất thích. Có hôm còn được ăn bánh tôm ở quán Mụ Béo rất nổi tiếng gần bờ hồ Hoàn Kiếm. Ngoài ra còn được ăn Cơm tám giò chả và nem cua rán (chả giò) ở phố Hàng Bông cũng ngon tuyệt. Chủ Nhật tan lễ, Ông Nội còn dắt tôi đi Ăn phở Giảng ở phố Cầu Gỗ. Sau đó hay đi ăn kem dừa ở tiệm Hồng Vân gần Hồ Hoàn Kiếm. Nhưng Món quà rẻ tiền mà hấp dẫn trẻ con chúng tôi nhất lại là những quả sấu cắt khoanh tròn ngâm trong nước đường và gừng với cam thảo, sấu dầm ăn hoài không bao giờ chán, ăn đến phát đau bụng mới thôi. Buổi tối trời hơi lạnh mà được ăn lạc rang húng lìu của ông già người Tầu đi bán rong với tiếng rao khàn đục kéo dài "phàn xôi phá xa ..." thì không còn gì thích thú hơn.
Những món ăn đăc biệt của Hà Nội còn có cốm Vòng. Những hạt cốm dẹp màu xanh được bọc bởi những chiếc lá Sen xanh mướt. Cốm vòng ăn dẻo và thơm ngon vô cùng. Quà Hà Nội còn rất nhiều, tôi không sao nhớ hết được.
Tôi hay theo thím Diễn (vợ giáo sư Nguyễn Duy Diễn chuyên dạy Việt văn ở Hà Nội là chú ruột tôi) đi chợ Cửa Nam ở phố Sinh Từ gần nhà. Thỉnh thoảng Thím cũng dẫn tôi đi chợ Ðồng Xuân.
Luôn tiên dạo phố Hàng đào xem tơ lụa vải vóc.
Bố tôi chết sớm, tôi lại mới ở vùng Việt Minh trở về. Mẹ tôi phải đi Huế lo bán nhà để lấy tiền mua nhà ở Hà Nội. Không có mẹ ở gần, nên tôi được cả họ nội cưng chiều, dẫn đi đây đó.
Chủ Nhật nào ông nội cũng dẫn tôi đi lễ nhà thờ Ðức Bà ở gần Ngõ Huyện. Ði lễ xong là được đi ăn cơm Tầu hoặc ăn phở, ăn kem và đi dạo xung quanh hồ Hoàn Kiếm. Tôi thích đi bộ dán mắt vào tủ kính nhà hàng Godard để ngắm những bộ quần áo và nữ trang đắt tiền. Lạ một điều, tôi chỉ thích ngắm, nhưng không bao giờ mơ ước những bộ quần áo kiểu cọ đó.


Hình ảnh tôi mê nhất vẫn là những cô gái Hà Nội mặc áo dài, được trang điểm thêm bằng những chiếc khăn quàng mỏng đủ màu, nhẹ nhàng, phất phơ trong gió.
Những phim tôi thích nhất thời đó, không phải là phim ngoại quốc mà là hai phim Việt Nam rất người lớn. Phim“Bến Cũ” và “Giá Hạnh Phúc” do Liên Hương, Bích Ngà và Hoàng Vĩnh Lộc (nếu tôi không nhớ nhầm) thủ vai chính.
Dù còn bé, tôi đã biết thưởng thức nhạc và rất thích bài hát “Bến Cũ” có trong phim.
Tầu điện cũng là một hình ảnh của Hà Nội rất quen thuộc với tôi, vì tầu điện chạy qua lại nhà ông nội tôi mỗi ngày. Thỉnh thoảng tôi cũng được đi tầu điện. Tôi không thể quên ông già chuyên môn quảng cáo bán thuốc ho Bà Lang Trọc và thuốc Hồng Nhi tán Ông Tiên trên tầu điện. Tiếng rao hàng đặc biệt của ông ấy luôn làm tôi cười ngặt nghẽo.

Tôi vừa thi đỗ tiểu học xong, thì hiệp định Genève chia đôi đất nước. Gia đình tôi dọn xuống Hải Phòng trong lúc CS sắp tiếp thu Hà Nội. Mẹ tôi có một ngôi nhà ở Đường Bonnal HẢI PHÒNG nhìn ra con sông trước mặt với hàng cây phượng vĩ đầy hoa đỏ thắm và có cây cầu đưa mọi người trong khu phố tôi ở đi chợ SẮT ở phía bên kia sông.
Ở Hải Phòng một thời gian ngắn, thì chúng tôi phải giã từ đất Bắc, di cư vào Nam, làm quen với miền mưa nắng hai mùa.


Thời gian đầu ở Sài Gòn, tôi nhớ Hà Nội da diết. Nhớ hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, Hồ Trúc Bạch. Nhớ những hàng cây đầy hoa Phượng đỏ thật đẹp và con đường Cổ ngư với bao kỷ niệm. Nhớ trường Trần Hưng Đạo với những tình cảm thơ ngây không thể nào quên . Nhớ những giờ ra chơi quanh quẩn bên những con rùa khổng lồ làm bằng đá xanh xám ở Văn Miếu mang bảng tên các Tiến sĩ , ông nghè, ông cống thuở xưa . Buồn cười là không nhớ ai xúi mà trước khi đi thi Tiểu học chúng tôi đã rủ nhau vào Văn Miếu xoa vào các đầu rùa để lấy hên. Nhớ cả khu "Bích Câu Kỳ Ngộ "mà bây giờ bỗng dưng bị biến mất thật lạ kỳ. Hai món quà đặc biệt tôi nhớ nhất và chẳng bao giờ được thấy ở miền Nam là nuớc gạo và sấu dầm. Hai món tủ của thời thơ ấu.

Tôi ở Hà Nội có hơn hai năm, nhưng tình với Hà Nội thì lại quá tràn đầy. Bởi Hà Nội cho tôi toàn những kỷ niệm thật đẹp. Hà Nội chào đón tôi với đầy tình thương, với tất cả sự nuông chiều. Với những ngày tháng thật vô tư sung sướng. Hà Nội Và tôi như một cặp tình nhân mới yêu nhau. Tình đang nồng thắm đã phải chia lìa. Hỏi sao tôi không nhớ, hỏi sao tôi không thương, dù Hà Nội đã nghìn trùng xa cách.

Hồng Thủy


Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài 早寒江上有懷 - Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然 (Thịnh Đường)


Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然 (689-740) tên Hạo, tự Hạo Nhiên, hiệu Mạnh sơn nhân 孟山人, người Tương Dương (nay là huyện Tương Dương tỉnh Hồ Bắc), cùng thời với Trần Tử Ngang.

Ông từng làm quan, nhưng ông không thích hợp với đám quý tộc lạm quyền, nên rất thích nơi nhàn cư. Ông lui về ở ẩn, tìm lấy đời sống tao nhã ở Long Môn quê nhà và trong cuộc du ngoạn ở những nơi xa, khắp vùng đất. Ông đi nhiều, thấy nhiều, mạch thơ đầy ắp những khí chất hồn hậu của thiên nhiên núi sông diễm lệ, hợp với tâm hồn trong sáng của mình.

Ông để lại 260 bài thơ. Có thể gọi thơ ông là thơ sơn thuỷ được. Thơ năm chữ của ông luật lệ nghiêm cách, phóng khoáng, hùng tráng, rất nổi tiếng.

Hôm nay thuyền ta đậu trên sông Tương. Quê đất Sở của ta quá xa vời, chim bay mỏi cánh cũng chưa tới. Thuyền thì đơn độc. Người cũng đơn côi. Sông hồ thì mênh mông như biển. Sóng lại nhăn mặt. Tuy đã thoát tục nhưng vẫn nhớ nhà. Đó là tâm trạng của Mạnh Hạo Nhiên, đi hoang trong một đêm trời trở lạnh sớm trên sông Tương (con sông buồn).

Nguyên tác      Dịch âm

早寒江上有懷 Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài

木落雁南渡 Mộc lạc nhạn nam độ,
北風江上寒 Bắc phong giang thượng hàn
我家襄水曲 Ngã gia Tương thủy khúc,
遙隔楚雲端 Dao cách Sở vân đoan.
鄉淚客中盡 Hương lệ khách trung tận,
孤帆天際看 Cô phàm thiên tế khan.
迷津欲有問 Mê tân dục hữu vấn,
平海夕漫漫 Bình hải tịch man man.

Dịch nghĩa

Lá cây rụng, nhạn bay về nam
Gió bắc trên sông gây lạnh
Nhà ta ở cách đây một khúc sông Tương
Cách xa nước Sở cả một đường mây bay
Nước mắt nhớ quê khô cạn trên đất khách
Nhìn cánh buồm cô đơn ở chân trời
Mịt mùng (không biết đâu là bờ bến); muốn hỏi lối về
(mà) Chỉ thấy biển chập chùng mênh mông

Dịch thơ

Hoài Cảm Lạnh Sớm Trên Sông


Nhạn xuôi Nam lá đổ,
Sông lạnh bởi heo may.
Khúc sông Tương ta ở,
Cách Sở đường chim bay.
Nhớ quê khô mắt lệ,*
Buồm đơn côi chân mây,
Hỏi đâu là bờ bến,
Biển mênh mông chau mày.

*Người già rất ít lệ, chỉ khóc một lát là khô nước mắt. Ngày xưa Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê cũng giống như vậy: ….Tuổi già hạt lệ như sương, Hơi (sức) đâu ép lấy hai hàng chứa chan.

- Câu 1:

Lá rụng nhiều. Nhạn bay về Nam trốn lạnh,
- Câu 2:
Gió heo may lạnh thổi trên sông.
- Câu 3:
Nhà ta ở cách chỗ ta đang đậu thuyền một khúc sông Tương,
- Câu 4:
(có nghĩa là ta còn) Cách Sở một đường chim bay mỏi.
- Câu 5:
Nhớ quê khóc khô nước mắt,
- Câu 6:
(cảm nỗi cô đơn) với cánh buồm đơn côi nơi chân trời,
- Câu 7:
(Ta muốn) Hỏi đâu là bờ bến?
- Câu 8:
Câu cuối cần dịch theo nghĩa của toàn bài hơn là theo nghĩa của từng chữ trong câu: Biển mênh mông chau mày.

Con Cò

***
Đi Trên Sông Cảm Thấy Lạnh.

Nhạn về nam lá rơi,
Sông lạnh bấc tơi bời,
Nhà cách sông Tương nổi,
Sở xa đường mây trôi.
Nhớ quê hương cạn lệ,
Nhìn cánh buồm chân trời.
Muốn hỏi đâu bờ bến,
Chiều tà lặng biển khơi.

Song Thất Lục Bát.

Chim trốn rét xuôi nam lá trút,
Bấc lạnh sông hun hút thê lương.
Cách nhà cả khúc sông Tương,
Sở xa biền biệt một đường mây trôi.
Người đất khách lệ rơi khô mắt,
Nhìn buồm côi hiu hắt chân trời.
Bến bờ muốn hỏi đâu nơi?
Mênh mông biển lặng trùng khơi chiều tà.

Mỹ Ngọc.
May 16/2026.
***
***
Lạnh lẽo trên sông

Lá rơi chim nhạn bay về
Trên sông gió bấc não nề lạnh thay
Nhà ta cuối khúc Tương này
Cách xa nước Sở đường mây rã rời
Lệ sầu cạn kiệt quê người
Buồm cô trông ngóng cuối trời xa xăm
Bến mê những muốn hỏi thăm
Mênh mông như biển, lặng câm chiều tà!

Thanh Vân
***

Rét sớm trên sông nỗi nhớ

Nhạn xuôi nam lá rụng
Gió bấc lạnh trên sông
Ta ở bến Tương khúc
Sở mây cách vạn trùng
Lệ sầu khô đất khách
Cuối đất buồm cô trông
Muốn hỏi bến mê đó
Biển êm tối mịt mùng!

Lộc Bắc
***

Mộc lạc anh Giám đã giải thích, và hỏi tại sao không dùng chữ Diệp cho dễ hiểu. Anh Tâm và anh Giám còn tìm hiểu xem bài thơ làm năm nào, lúc đó Mạnh ở đâu… đọc cũng vui, nhưng dịch thì cứ dịch, tôi chắc đại đa số không thắc mắc về những vấn đề đó.
Tác giả dùng MÊ TÂN là chữ nhà Phật, là BẾN MÊ, để chỉ cuộc đời, nhờ Phật dẫn dắt mà mình tới bến thật..

Bài thơ tả cảnh mùa thu, lá rụng, nhạn thiên di bay về nam, và gió bắc đã lạnh… Tác giả ở cạnh sông Tương, nhìn về quê không thấy vì mấy đám mây che, tình hoài hương làm ông khóc tới cạn nước mắt, trên sông chỉ có cánh buồm cô đơn ở cuối chân trời. Tác giả muốn hỏi về mê tân, có lòng tìm Phật, nhưng chỉ thấy biển chiều êm ả và mênh mông, không sao tìm thấy bến.

Cảm Xúc Khi Lạnh Sớm Trên Sông  

Lá rụng, nhạn xuôi nam,
Trên sông gió lạnh lùng,
Nhà ta nơi Tương khúc,
Mây vần Sở khó trông,
Nhớ quê dòng lệ cạn,
Buồm lẻ cuối trời dong,
Bến mê lòng muốn hỏi,
Chiều biển lặng mênh mông.

Bát Sách.
(Ngày 19/05/2026)
***

Nguyên tác: Phiên âm: Dịch thơ:

早寒江上有懷 Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài

-孟浩然 - Mạnh Hạo Nhiên Cảm Xúc Trên Sông
木落雁南渡 Mộc lạc nhạn nam độ Lá rụng nam nhạn bay,
北風江上寒 Bắc phong giang thượng hàn Gió bấc sông lạnh thay.
我家襄水曲 Ngã gia Tương thủy khúc Nhà ta trên sông Hán*,
遙隔楚雲端 Dao cách Sở vân đoan Đất Sở cách ngàn mây.
鄉淚客中盡 Hương lệ khách trung tận Khách sầu tuôn cạn lệ,
歸帆天際看 Quy phàm thiên tế khan Thuyền về ghé bờ đây.
迷津欲有問 Mê tân dục hữu vấn Lạc bến mong hỏi lối,
平海夕漫漫 Bình hải tịch man man Chiều xế biển khói đầy.

*Núi Lộc Môn, Tương Dương, Hồ Bắc quê hương của Mạnh Hạo Nhiên nằm trên sông Hán.

Bài thơ có mộc bản trong các sách:

Mạnh Hạo Nhiên Tập - Đường - Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然集-唐-孟浩 然
Quốc Tú Tập - Đường - Nhuế Đĩnh Chương 国秀集-唐-芮挺章
Đường Thi Kỷ Sự - Tống - Kế Hữu Công 唐诗纪事-宋-计有功
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石仓历 代诗选-明-曹学佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 诗-清-圣祖玄烨

Giải nghĩa các chữ khó:

Tảo hàn: đầu mùa lạnh, chớm lạnh.
Mộc lạc: lá cây rụng.
Tương Thủy khúc: Khúc quanh của sông Tương
Sở vân đoan: nơi tận cùng của đám mây trên đất Sở (vùng Tương Dương xưa thuộc nước Sở).
Hương lệ: nước mắt nhớ quê hương.
Khách trung: trong cảnh sống nơi đất khách quê người.
Quy phàm: cánh buồm trở về.
Thiên tế: chân trời.

Mê tân: lạc bến đò, bến nước mê mờ, bến sông lạc lối, không tìm được đường qua sông. Điển tích xuất phát từ sách Luận Ngữ. Khi Tử Lộ hỏi đường qua sông, hai nhà ẩn sĩ Trường Thư và Kiệt Nặc đã trả lời đầy ngụ ý rằng thiên hạ đều đang trong cảnh loạn lạc, ai cũng đang lạc lối, cần gì phải hỏi bến sông làm gì. Nghĩa bóng chỉ sự lạc lối, hoang mang trên đường đời, trạng thái u mê, chưa giác ngộ về tâm linh.

Bình hải: mặt biển phẳng lặng, ở đây chỉ mặt sông rộng mênh mông như biển.
Tịch man man: cảnh chiều tà mờ mịt, bao la vô tận.

Dịch nghĩa bài thơ:

Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài

Cảm Xúc Trên Sông Vào Đầu Mùa Lạnh

Mộc lạc nhạn nam độ
Lá cây rụng, chim nhạn bay về phương nam,
Bắc phong giang thượng hàn
Gió bấc thổi trên sông lạnh buốt.
Ngã gia Tương thủy khúc
Nhà của tôi ở cách đây một khúc sông Tương,
Dao cách Sở vân đoan
Cách xa nơi tận cùng của đám mây trên đất Sở.
Hương lệ khách trung tận
Nước mắt nhớ quê đã cạn trong cảnh tha hương,
Quy phàm thiên tế khan
Nơi chân trời xa, chỉ thấy những cánh buồm đang quay về.
Mê tân dục hữu vấn
Muốn hỏi thăm tìm lối đi trong cuộc sống,
Bình hải tịch man man
Nhưng trời chiều đã buông xuống, mặt biển/sông mênh mông mờ mịt.

Bình luận:

Mạnh Hạo Nhiên nửa đời đầu sống ẩn dật tại Lộc Môn Sơn, quê nhà Tương Dương. Năm 40 tuổi, ông lên kinh đô Trường An thi tiến sĩ nhưng không đậu. Sau đó, ông chu du khắp vùng Giang Nam, sống cuộc đời của một vị khách tha hương. Theo trang Sưu Vân, bài thơ Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài được sáng tác năm 726 khi Mạnh Hạo Nhiên đang ở Vũ Hán vùng sông nước Giang Nam, xa cách quê hương Tương Dương hơn 300km về hướng đông nam. Nếu thật sự bài thơ được làm sau khi ông thi rớt, lúc đó ông đã 40 tuổi, thì niên đại bài thơ có thể phải là 728.

Bài thơ ra đời vào một buổi xế chiều đầu mùa đông (tảo hàn). Cảnh tượng thiên nhiên tiêu điều (lá rụng, gió bấc, nhạn bay về nam) đã khơi dậy nỗi cô đơn và sự bế tắc của nhà thơ sau những thất bại trên con đường công danh.

Bài thơ mượn cảnh sắc mùa thu muộn, đông chớm để bày tỏ nỗi lòng cô đơn, nhớ quê hương da diết của kẻ tha hương. Bài thơ là một bức tranh phong cảnh nhuốm màu tâm trạng, thể hiện sâu sắc hai nỗi niềm: tình yêu quê hương và sự bế tắc trước cuộc đời. Hai câu cuối thể hiện tâm trạng hoang mang, bế tắc của tác giả trước cuộc đời khi chưa/không tìm được hướng đi cho sự nghiệp.

On the River in Early Cold, Harboring My Feelings by Meng Haoran

Leaves are falling, and the wild geese are flying south.
The north wind blows over the river, bringing a bitter cold.
My home is located at a bend of the Xiang River,
Far away, separated by the distant clouds of the old Chu land.
Tears of homesickness have run dry during my time as a traveler,
I watch the returning sails on the horizon.
I want to ask for directions at this lost ferry crossing,
But the river is vast like a flat sea, and the evening mist stretches endlessly

Phí Minh Tâm
***.
"Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài 早寒江上有懷 " của Mạnh Hạo Nhiên còn có một tựa nữa là "Tảo Hàn Hữu Hoài 早寒有懷". Bài thơ "Ngũ Ngôn Luật Thi" nầy được Mạnh Hạo Nhiên sử dụng những từ rất độc đáo và rất đặc biệt. Ta hãy tìm hiểu lại các từ nầy xem sao....

早寒江上有懷 Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài

木落雁南渡, Mộc lạc nhạn nam độ,
北風江上寒。 Bắc phong giang thượng hàn.
我家襄水曲, Ngã gia Tương thuỷ khúc,
遙隔楚雲 端。 Dao cách Sở vân đoan
鄉淚客中盡 , Hương lệ khách trung tận,
孤帆天際看。 Cô phàm thiên tế khan.
迷津欲有問, Mê tân dục hữu vấn,
平海夕漫漫。 Bình hải tịch man man.
孟浩然 Mạnh Hạo Nhiên

* Chú Thích :
Cảm xúc trên sông khi trời lạnh sớm.

1. Mộc Lạc : là CÂY RỤNG, ta biết là Cây không thể rụng được, vì trong tiếng Hoa và tiếng Việt ta không có Thể Thụ Động (Passive voice) , nên ở đây phải hiểu là : Cây bị rụng hết lá vì trời đã cuối thu. Ở đây chỉ những loại cây thuộc "Lạc diệp kiều mộc 落葉喬木" là loại cây có thân cao to và lá sẽ vàng rụng vào mùa thu.

2. Nhạn Nam Độ : Sao không nói là Nhạn Nam PHI 飛 mà nói là Nhạn Nam ĐỘ.渡, Thì ra ĐỘ ở đây có ba chấm thủy chỉ đi ngang qua sông hồ ao biển. Vì tác giả đang ở trên sông, nên nhìn thấy chim Nhạn bay ngang qua sông đi về hướng Nam. 3. Giang Thượng : là Trên sông, xác định lại một lần nữa là Tác giả đang đi thuyền trên sông.

4. Tương Thủy : 襄水 Tương Thủy nầy khác với Tương Giang 湘江 mà ta thường hay nhắc tới là : Quân tại Tương giang đầu, Thiếp tại Tương giang vĩ... Tương Thủy nầy chảy ngang qua phía Nam thành Tương Dương nên nay được đổi tên thành Nam Cừ. Nhà của Mạnh Hạo Nhiên ở Lộc Hành Sơn, mao lư của ông nằm ở chỗ uốn khúc (voi hay vịnh) của dòng Tương thủy. Nhập giang tùy KHÚC là chữ KHÚC nầy đây.
5. Vân Đoan : Đoan là ngay ngắn( Đoan chính ), là đầu, là đầu mối (chấp kỳ lưỡng đoan 執其兩端 : Giữ lấy 2 đầu), là Bưng, là Lý do... Ở đây VÂN ĐOAN là Trong đám mây, ngay cái đám mây đó đó...
6. Hương Lệ : Không phải là giọt lệ của quê hương , mà là giọt lệ rơi vì thương nhớ quê hương.
7. Thiên Tế : là đường chân trời (Horizon). Ta có thể hiểu là Góc trời, Bên trời gì cũng được.
8. Mê Tân : Tân là Bờ, là Bến. Mê Tân ta quen gọi là Bến Mê (Bọt trong bể khổ bèo đầu Bến Mê). Nhưng ở đây chỉ Bến bờ mờ mịt không biết nơi đâu.
9. Bình Hải : là Mặt biển bằng phẳng ?. À, thì ra ngày xưa phương tiên giao thông thô sơ, trên chiếc thuyền nhỏ nhìn ra sông lớn, cũng chỉ thấy trời nước mênh mông, nên gọi là Bình Hải, chớ không có biển gì ở đây cả !
10. Tịch : là Đêm (Thất tịch, Trừ tịch ). là Buổi chiều, là Hoàng hôn : Tịch Dương là Nắng Chiều. TỊCH MANG MANG là Chiều xuống mênh mông, là Hoàng hôn phủ đầy bầu trời.
Ta thấy Mạnh Hạo Nhiên toàn dùng những từ rất lắc léo, rất đặc biệt và sử dụng cả những biện pháp Tu Từ, Mỹ từ Pháp rất mới đối với lúc bấy giờ.

* Dịch Nghĩa :
Cảm xúc trên sông khi trời lạnh sớm.

Ngồi trên thuyền nhìn lên hai bên bờ, thấy cây đều đã rụng hết lá, nhìn lên bầu trời lại thấy đàn chim nhạn bay ngang sông để về Nam. Gió bấc về làm lạnh cả dòng sông, nhà ta ở mãi tận khúc quanh của dòng Tương Thủy, cách trở xa xôi như đám mây Sở xa xa kia. Giọt lệ nhớ quê nơi đất khách đã hầu cạn rồi, nhưng chỉ thấy được có cánh buồm đơn lẻ ở phía chân trời. Nếu có muốn hỏi nơi đâu là bờ bến thì cũng không biết nơi đâu trước cảnh mịt mù của buổi hoàng hôn đang phủ trùm trong sóng nước mênh mông nầy.

* Diễn nôm:

Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài

Lá rụng nhạn xuôi nam,
Trên sông gió lạnh tràn.
Nhà ta bên Tương Thủy,
Cách trở Sở mây ngàn.
Nhớ quê dòng lệ cạn,
Buồm nhỏ trôi mênh mang.
Bến mê như có hỏi,
Sông nước chiều thênh thang !

Lục bát:

Lá rơi nhạn hướng về nam,
Ù ù gió bấc lạnh tràn trên sông.
Tương Giang quê cũ vời trông,
Ngẩn ngơ mây Sở cách ngăn mấy lần.
Nhớ quê dòng lệ cạn dần,
Buồm côi đơn lẻ chiếc thân u hoài.
Bến mê như muốn hỏi ai,
Mênh mông sông nước cho dài hoàng hôn!

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức
***
Góp ý của Huỳnh Kim Giám

..cần dịch theo nghĩa của toàn bài hơn là theo nghĩa của từng chữ trong câu
Đã đành dịch thì phải làm sao cho hợp ý toàn bài nhưng nếu ý trong câu cuối này phản với ý toàn bài thì nên dịch thế nào nhỉ?

Người viễn khách lạc vào bến mê, có thể vì đã chọn lầm đường hay đi lạc hướng. Rất tiếc rằng ta chẳng biết gì nhiều về cuộc đời của Mạnh Hạo Nhiên để có thể biết hoàn cảnh nào đưa đẩy một người sống hầu như suốt đời ở Hồ Bắc lại có vẻ đang lâm vào tình cảnh của những bạn bè đang sống kiếp lưu đày ở sông Tương xứ Hồ Nam, đứng bên sông nhìn lá rụng và nhạn xuôi Nam lúc cuối thu, và nhớ quê hương. Nhưng quê hương này là ở đâu? Trong câu 遙隔楚雲端 (Dao cách Sở vân đoan): Sở là tên của nước Sở, và Vân là một tên cổ của ... Sở; 楚雲端 (Sở vân đoan) có thể hiểu là biên giới của nước Sở. Địa phận của Sở ngày xưa gồm cả Hồ Bắc lẫn Hồ Nam thì ngoài lúc họ Mạnh đi Tràng An và gặp Vương Duy thì hình như rằng ông ta chưa hề ra khỏi đất Sở, tại sao lại có chuyện đứng trên bờ sông Tương hay gần biển mà nhớ nhà!

平海夕漫漫 (Bình hải tịch mang mang): Biển phẳng lờ mênh mông cho người đọc cái cảm tưởng rằng tâm tình của thi sĩ không tạo ảnh hưởng gì đến biển, hay không được phản ảnh trên biển thế thì làm sao mà biển chau mày, trừ khi biển muốn nói rằng nhà ngươi đặt câu hỏi vô ... duyên. Đang ở trên bến mê sao còn mê muội hỏi chuyện ... bến bờ thay vì hỏi làm sao mà tìm lối thoát. Đây chưa kể sự kiện rằng sông Tương chỉ là một phụ lưu bên hữu ngạn của Trường Giang và cách xa biển hàng trăm cây số, không có cách gì mà thấy được biển!

Bài thơ này làm tôi nhớ đến thân phụ tôi. Ông cũng thích làm thơ, và làm bạn với vài thi sĩ, nam lẫn nữ có tiếng tăm một thời nhưng thằng con út đọc thơ của ông không rung cảm được, và có thể đó là một lý do tại sao nó không thích làm thơ. Cho dù cha tôi chưa hề ra Bắc, chưa hề thấy tuyết, thơ của ông cũng có tuyết băng trong đó. Tôi có cảm giác rằng đôi khi Mạnh Hạo Nhiên cũng làm thơ như thế vì tôi không làm sao hình dung được một người ở trên quê cha đất tổ của ta, không bị lưu đày mà lại làm thơ nhớ quê hương và tả một cảnh biển cách nơi ta ở hàng trăm cây số!

@ ý kiến của Phí Minh Tâm:

Bài thơ Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài được sáng tác năm 726 khi Mạnh Hạo Nhiên đang ở Vũ Hán vùng sông nước Giang Nam, xa cách quê hương Tương Dương hơn 300km về hướng đông nam. Câu 5 - Hương lệ khách trung tận: Nước mắt nhớ quê đã cạn trong cảnh tha hương – không phải vì không còn đau buồn, mà vì đã khóc quá nhiều trong những ngày dài lưu lạc.

Bài thơ thường là một sáng tác văn chương, nên thường không sát với thực tế. Hai câu thực: Ngã gia Tương thủy khúc: Nhà của ta ở khúc quanh sông Tương, Dao cách Sở vân đoan: Cách xa nơi tận cùng của đám mây trên đất Sở, trên phương diện văn chương không có gì sai vì thời Đường, người ta đôi khi nhắc chung trong thi phú vùng Sở–Giang Nam. Trong thực tế, Tương Dương nằm trong vùng sông Hán ở Hồ Bắc trong khi sông Tương chảy qua Hồ Nam vào Động Đình Hồ ở phía nam cách nhau gần 500km. Tương thủy khúc không thể là nơi có nhà của Mạnh ở Tương Dương được!

Câu kết Mê tân dục hữu vấn: Muốn hỏi thăm tìm bến đò bị lạc. Dịch theo nghĩa đen như thế cũng xong. Nhưng liệu có phải là ý của thi nhân hay không? Hiểu ý và suy nghĩ của thi nhân ngày nay thật khó. Ta có thể làm ngược lại là hiểu ý nghĩa câu thơ để suy diễn hoàn cảnh của thi nhân. Mê tân là một điển tích, một ẩn dụ nói lên tâm trạng cô đơn lạc lõng và hoàn cảnh bế tắc của thi nhân khi thi rớt phải rời Trường An.

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2026

Nhớ Về Hà Nội - Thơ: Trần Nhất Lang - Nhạc: Nguyễn Tuấn - Trình Bày: Duy Linh

Thơ: Trần Nhất Lang
Nhạc: Nguyễn Tuấn
Trình Bày: Duy Linh

Thiên Đường Mùa Thu

 

Rất yêu mùa thu nhưng dường chưa đủ
Thiếu người bên cạnh mất quyến rũ riêng
Lá vàng lên! Thắp sáng khoảng trời êm
Là giây phút thu chuyền thêm nhựa sống

Gom lá rơi đan nền yêu nhung mộng
Gọi mây hồng lừng nhạc giữa trời mơ
Người sẽ tới mang hương ngào ngạt
Dẫn hồn đi lạc tận cõi đâu đâu

Yêu mùa cánh nâu nhưng dường chưa đủ
Dài mong chờ biết nếm thú thương đau
Là đìu hiu ngập hết những con đường
Người sẽ đến hay vẫn hoài công đợi

Ngàn lá hỡi phải thu mùa bối rối
Ửng sắc màu thay mới những tàng cây
Trong quạnh vắng âm đầy lời tình tự
Từng bước thầm gọi nhỏ đến tìm nhau

Rất yêu thu biết dường nào cho đủ
Nắng nồng nàn ấp ủ gốc trời riêng
Giá có người một chút để làm duyên
Người bên cạnh thiên đường thu rộng mở

Chờ!

Kim Phượng

Úc Châu Những Ngày Cuối Thu