Thứ Tư, 15 tháng 7, 2026

Phiên Khúc Chiều Mưa - SángTác: Nhạc Sĩ Song Ngọc -Trình Bày: Kim Trúc

SángTác: Song Ngọc
Trình Bày: Kim Trúc


Hỏi Đường

 

Từ tôi trở lại phố xưa
bước chân đã lạc đã thừa tang thương.
Gặp em, tôi mượn chỉ đường.
Nhìn tôi , em chỉ qua ... đường ... tim em.


Cao Vị Khanh

Hững Hờ Đêm

(Thuận - nghịch độc)
Đêm hờ hững bởi vắng tình thân
Bóng lẻ dìu trăng dỗ mộng trần
Thềm lạnh thấm sương vàng võ gác
Dạ sầu khơi vết mịt mờ sân
Êm nào gối cũ hương nhòa nhạt
Xót mãi hồn xưa dấu ngại ngần
Mềm lả giấc mơ hòa rượu chuốc
Thêm buồn nỗi ấy nghĩa cùng ân.
Đọc ngược:
Ân cùng nghĩa ấy nỗi buồn thêm
Chuốc rượu hòa mơ giấc lả mềm
Ngần ngại dấu xưa hồn mãi xót
Nhạt nhòa hương cũ gối nào êm
Sân mờ mịt vết khơi sầu dạ
Gác võ vàng sương thấm lạnh thềm
Trần mộng dỗ trăng dìu lẻ bóng
Thân tình vắng bởi hững hờ đêm.

Nguyễn Gia Khanh

Quán Âm Thầm


(Xưa ở Huế , có quán cơm Âm Phủ, mơi chiều lúc nào cũng tấp nập. 

Rồi lại có đường Âm Hồn vắng vẻ buồn thiu, nhất là những đêm mưa Huế thì chao ôi, ở trong nhà ngó ra đường,  có thể … chết được .

Nay ở giữa đường Bắc Nam Kali  có Quán ÂM THẦM, khá buồn lâm ly  vì khách  tới quán đa phần cao niên, cũng khá sầu mẻ hoảng, viết tặng chiến hữu HO ngoại Cửu thập, luôn giữ nụ cười trầm mặc, mênh mông …) 


Tại sao quá vãng nhiều như thế

Những bạn quen xưa thoắt cổ nhân

Đọc trang cáo phó, chia buồn lẻ

Lặng lẽ phân ưu hoặc viếng thăm 


Thời khắc mơ hồ cùng tuổi tác

Cũng không mới mẻ với xa xưa 

Tiếng cười, giọng nói nghe ngơ ngác

Ta vẫn ngồi đây ngó nắng mưa


Nhắp chén hoang hôn, sầu quá đỗi

Người ngang quán hẹn khách mông lung

Nhún vai , nào biết ai  thăm hỏi 

Rời chỗ, ta về, nuối tiếc suông


Bạn thiết hay là vừa mới biết

Tới khi thân, lạ cũng không còn 

Tại sao vắng mặt, quên dần hết

Bất chợt trông vời nhớ nước non …


Rancho Palos Verdes.  26 - 6 - 2026 

Cao Mỵ Nhân


Quy Tín Ngâm 歸信吟 - Mạnh Giao (Thịnh Đường)


Mạnh Giao 孟郊 (751-814) tự Đông Dã 東野, người Vũ Khang, Hồ Châu (nay là huyện Vũ Khang, tỉnh Chiết Giang) thời Trung Đường, cùng thời với Bạch Cư Dị, Hàn Dũ, Giả Đảo, Thường Kiến, Thôi Hộ... Ông công danh khá lận đận, đi thi nhiều lần không đỗ, mãi đến năm 46 tuổi mới đỗ tiến sĩ và năm 50 tuổi mới được bổ làm huyện uý Lật Dương (tỉnh Giang Tô), một chức quan nhỏ mà ông không màng tha thiết. Cảnh nhà nghèo túng quẫn, cuộc đời không lấy gì vui, nên thơ của ông thường châm biếm chê bai giới quý tộc quan liêu, lột tả nỗi niềm ta oán của giới trí thức không gặp thời như cảnh ngộ của ông, hoặc nỗi bất công của những người dân nghèo lao động tay lấm chân bùn.


Thơ ông chứa đựng nhiều nước mắt khi nói về tử mẫu và hiền phụ

Nguyên tác Dịch âm

歸信吟 Quy Tín Ngâm

淚墨灑為書 Lệ mặc sái vi thư
將寄萬里親 Tương ký vạn lý thân
書去魂亦去 Thư khứ hồn diệc khứ
兀然空一身 Ngột nhiên không nhất thân.

Dịch nghĩa

Khúc ngâm gửi thư về

Mực hoà nước mắt viết thành thư*
Gửi đến người thân xa vạn dặm
Thư đi hồn cũng đi theo
Bỗng chốc chỉ còn trơ lại thân này.

Dịch thơ
Khúc ngâm gửi thư về


Mài mực bằng nước mắt
Ngàn dặm gởi người thương.
Thư gởi hồn cũng gởi,
Còn lại xác vô thường.


Quản Mỹ Lan & Con Cò


Lời bàn thêm của Con Cò

*Người Tàu mài cục mực đen với nước trong cái nghiên. Vai chính trong bài thơ này là người nữ, đã dùng lệ thế nước để mài mực viết thư (lệ của người nam ít lắm, không đủ để mài mực). Yếu tố này không thực mấy cho nên không hợp với thơ Đường; có lẽ vì vậy mà có vài thi sĩ đương thời cho rằng thơ của Mạnh nhạt nhẽo).

Gửi Thư Về Ngâm Khúc.

Mục hòa lệ viết thơ,
Gửi tới người xa mờ.
Hồn cũng theo đi mất,
Còn thân ta thẫn thờ.

Lục Bát.

Lệ hòa mực viết thành thơ,
Gởi người yêu dấu xa mờ dậm muôn.
Hồn theo cánh gió đi luôn,
Thân ta bỗng chốc u buồn ngẩn ngơ.

Mỹ Ngọc.
May 28/2026.
***
Gởi Thơ Cho Người

Viết thư nước mắt mực hòa
Gửi người yêu dấu cách xa vạn đèo
Thư đi hồn cũng đi theo
Bỗng nhiên cảm thấy đìu hiu phận mình!

Thanh Vân
***
Khúc Ngâm Gửi Thư Về

Mực hòa nước mắt, viết tờ thư,
Gửi người muôn dặm, chốn xa mờ,
Thư đi, hồn cũng đi theo mất,
Còn lại một mình, dạ ngẩn ngơ.

Bát Sách.
(Ngày 03/06/2026)
***
Khúc Ngâm Thư Về

Lệ tưới mực thành thư
Vạn dặm gởi người thân
Thư gởi hồn cũng gởi
Ngẩn ngơ trống rỗng thân.

Song thất lục bát

Cánh thư viết, lệ rơi hòa mực
Gởi người thân xa ngút dặm ngàn
Thư đi hồn cũng đi hoang
Ngẩn ngơ cảm thấy thân tàn rỗng không!

Lộc Bắc
***
Khúc Ngâm Thư Về

Mực hoà mắt đẵm viết lời thư
Gởi đến người xa chốn mịt mờ
Thư đi hồn phách thẫn thờ
Xác thân trống rỗng ngẩn ngơ một mình

Kim Oanh
***
Mực Hoà Nước Mắt 

Nguyên tác: Phiên âm: Dịch thơ:

歸信吟-孟郊 Quy Tín Ngâm – Mạnh Giao

淚墨灑為書 Lệ mặc sái vi thư                  Nước mắt đẫm mực nhoà,
將寄萬里親 Tương ký vạn lý thân           Gởi người vạn dặm xa.
書去魂亦去 Thư khứ hồn diệc khứ          Thơ đi hồn nối gót,
兀然空一身 Ngột nhiên không nhất thân Trơ trọi một thân ta.

Nguyên tác chép từ sách của thi nhân: 诗词 孟郊 归信吟
Mạnh Đông Dã Thi Tập - Đường - Mạnh Giao 孟东野诗集-唐-孟郊
Đường Thi Phẩm Hối - Minh - Cao Bính 唐诗品汇-明-高柄
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全 唐诗-清-圣祖玄烨

Giải nghĩa các từ khó:

Quy tín: thư gửi về nhà, thư báo tin quay về.
Ngâm: một thể thơ cổ, thường dùng để ngâm nga, bộc lộ tình cảm, nỗi lòng.
Lệ mặc: nước mắt làm ướt thỏi mực, hòa lẫn với mực.
Sái: vẩy, rảy, nhỏ xuống, thấm đẫm.
Tương ký: đem gửi, chuẩn bị gửi đi.
Vạn lý thân: người thân ở nơi xa cách vạn dặm.
Ngột nhiên: ngơ ngác, thẫn thờ, bất động như khúc gỗ.
Không nhất thân: thân xác trống rỗng, trơ trọi một mình.

Dịch nghĩa:

Quy Tín Ngâm Khúc Ngâm Khi Gởi Thơ Về Nhà

Lệ mặc sái vi thư Hòa nước mắt vào mực viết thành bức thư,
Tương ký vạn lý thân Để gửi cho người thân đang ở xa vạn dặm.
Thư khứ hồn diệc khứ Thư gởi đi rồi thì hồn cũng đi theo luôn,
Ngột nhiên không nhất thân Chỉ còn lại thân trơ trọi, thẫn thờ một mình.

Dịch thơ:

Gởi Thơ Về Nhà

Thể ngũ ngôn:

Mực lệ viết thành thơ,
Gởi người muôn dặm chờ.
Thơ đi hồn cũng mất,
Thờ thẩn thân bơ vơ.

Thể lục bát:

Lệ hòa vào mực viết thơ,
Gởi người muôn dặm mong chờ tin ta.
Thư đi hồn cũng bay xa,
Thẫn thờ trơ trọi thân già cô đơn.


詩囚:孟郊、賈島 。Thi tù: Mạnh Giao, Giả Đảo.
元好问《放言》称 “长沙一湘累,郊岛两诗囚”. 诗作多写世态炎凉, 民间苦难, 反映了唐朝从鼎盛时期走向衰落的士人心态.

Nguyên Hảo Vấn "phóng ngôn" xưng “ Trường Sa nhất Tương lũy, Giao Đảo lưỡng thi tù ”. Thi tác đa tả thế thái viêm lương, dân gian khổ nan, phản ánh liễu đường triêu tòng đỉnh thịnh thì kì tẩu hướng suy lạc đích sĩ nhân tâm thái.

Trong bài thơ Phóng Ngôn (Nói thẳng), Nguyên Hạo Vấn đã nhận định: "Trường Sa chỉ có một Tương lũy; còn Giao và Đảo là hai kẻ tù thi ca." Thơ ca acủa hai ông thường khắc họa những thăng trầm của thế sự cùng nỗi thống khổ của tầng lớp dân thường, qua đó phản ánh tâm thế của giới sĩ phu thời Đường trong giai đoạn chuyển giao từ đỉnh cao thịnh trị sang thời kỳ suy thoái.

Bình luận:

Bài thơ ngắn, vỏn vẹn 4 câu 20 chữ nhưng dồn nén cảm xúc nhớ thương quê hương và gia đình, đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật biểu cảm nhờ những điểm đặc sắc sau đây:

Câu đầu tiên mở ra một hình ảnh đầy ám ảnh. Tác giả không chỉ khóc, mà nước mắt rơi lã chã hòa cùng dòng mực trên giấy. Bức thư không viết bằng mực thường, nó được viết bằng nỗi đau và sự nhớ thương đọng lại thành giọt lệ. Thực tế không ai lấy nước mắt mài mực viết thơ, mà ta cần xem như một ẩn dụ của sự đau khổ chia ly trong nhiều tháng năm và cả cuộc đời.

Hai câu cuối là sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Thông thường, thư đi là đã xong. Nhưng với Mạnh Giao, toàn bộ tâm can, linh hồn, tình yêu thương của ông đã đặt hết vào phong thư đó để gởi về người thân. Khi bức thư rời tay, ông cảm thấy phần "hồn" của mình như đã đi theo thư, vượt vạn dặm đường dài.

Thư khứ hồn diệc khứ đối xứng và tương phản mạnh mẽ với Ngột nhiên không nhất thân. Sự trống rỗng của thân xác (như một khúc gỗ vô hồn) nhấn mạnh cái giá của nỗi nhớ. Người viết thư đã rút cạn kiệt năng lượng sống và tinh thần của mình để gửi vào trang giấy.

Bài thơ không dùng từ ngữ hoa mỹ nhưng có sức nặng ngàn cân. Nó lột tả một cách trần trụi và đau đớn tình cảm gia đình, nỗi cô đơn của những người con ly hương trong xã hội ngày xưa.

Hoàn cảnh sáng tác:

Bài thơ ra đời trong thời gian xa gia đình, ông dồn toàn bộ tâm trí và tình cảm để viết một lá thư gửi về. Hàn Dũ từng nhận xét về Mạnh Giao: Trời đất dường như cố tình làm cho ông ấy nghèo khổ, bế tắc để ông ấy dồn hết tinh huyết vào thơ ca.

Tô Thức trong bài "Đọc thơ Mạnh Giao" từng nhận xét về thơ Mạnh Giao như sau: Thơ từ phế phủ ra, ra liền sầu phế phủ. (Thơ từ ruột gan viết ra, viết ra lại làm sầu muộn ruột gan).

A Song of the Home-Bound Letter by Meng Jiao

Tears and ink blend, splashing onto the page to make a letter,
To be sent to my loved ones ten thousand miles away.
As the letter departs, my soul departs with it too,
Leaving behind only a dazed, hollow frame of a man.

Phi Minh Tâm
***
@ Ý kiến của Huỳnh Kim Giám:

...rằng thơ của Mạnh nhạt nhẽo.

Chỉ một bài từ tuyệt 20 chữ thôi mà mỗi người có một ý kiến!

書去魂亦去 thư khứ hồn diệc khứ
兀然空一身 ngột nhiên không nhất thân.

Hồn đi theo lá thư rồi thì chỉ còn lại xác không hồn, nghĩa là người viết chết theo thơ. Đây không phải là khái niệm vô thường trong Phật học mà phản ảnh tâm tình của người kể chuyện.

Tô Thức viết thế này về thơ Mạnh Giao trong 《讀孟郊詩》"Độc Mạnh Giao thi"; “詩從肺腑出,出輒 愁肺腑” “ thi tòng phế phủ xuất, xuất triếp sầu phế phủ", có thể hiểu là lời thơ xuất phát từ cõi lòng, nỗi buồn cũng đi theo ngay lúc đó.

肺腑=phế phủ (phổi, bộ đồ lòng) là một khái niệm người Tàu dùng để nói đến tình cảm sâu đậm, chân thật từ đáy lòng. Nếu Tô Đông Pha hiểu thơ họ Mạnh như thế thì làm sao mà nghĩ nhạt nhẽo? Nhưng thôi, người đọc không phải là Tô Thức thì hiểu bài thơ như thế nào?

歸信吟=Quy tín ngâm nghĩa là gì? Tín là thư, quy là trở về và quy tín có nghĩa là thư viết về nhà. Viết cho ai? Từ 親=thân cuối câu nhì cho người đọc hiểu rằng đây không phải là thư tình mà là thư cho thân nhân, gia dình. Nếu người đọc tò mò hỏi AI " 歸信" là gì thì sẽ bị đưa đến một khái niệm tôn giáo có lẽ chưa có thời Đường! Thi nhân đi đâu, làm gì mà phải buồn đến độ mực hòa với nước mắt? Mạnh Giao chưa hề bị đi đày nên người ni chỉ có thể đoán là nhà nho lại thi rớt lần nữa! Nếu bối cảnh của bài thơ là như thế thì có nên nói rằng tâm lý của một nhà nho thất chí nhạt nhẽo ?!

@ ý kiến của Phí Minh Tâm:

Bài thơ nhạt nhẽo với ngay hai chữ đầu tiên của câu 1. lệ mặc nghĩa đen là lấy nước mắt mài mực hoặc nước mắt hòa vào mực. Do đó cần nhiều nước mắt mà phải người nữ mới có đủ. Thực tế thì có ai mà làm thế bao giờ! Lấy nước mắt hòa mực phải có đồ hứng. Đây là một bài thơ nặng ký dù chỉ có 20 chữ, nên ta phải có cách hiểu khác cho hợp lý hơn.

Lệ mặc là một ẩn dụ có thể hiểu theo hai cách khác nhau. hoặc là những giọt nước mắt làm ướt thỏi mực, hoặc chính những giọt nước mắt ấy đóng vai trò như mực viết. Động từ vãi diễn tả dòng lệ tuôn trào vô tận. Ở đây thi nhân đã dùng phép cường điệu lấy nước mắt thay thế cho tình cảm của mình. Tình cảm dâng trào khi bắt đầu viết và không sao kìm hãm được trong lúc viết nên như hóa thành nước mắt hoà vào mực trôi vài chữ.

Trong hai câu kết thi nhân, cho biết đã để hết tâm tình vào thơ. Thơ đi rồi chỉ còn lại thân xác không hồn. Để hiểu vì sao tình cảm của thi nhân với gia đình lại nhiều đau khổ như thế. Ta nên biết qua về cuộc đời lận đận của ông. Thi đậu lúc đã già, chức vụ nhỏ việc nhàm chán, nghèo không phụng dưỡng được mẹ già, 3 con chết yểu vì thiếu thốn, chết trên đường đi nhậm chức mới vợ không có tiền làm đám ma, phải nhờ bạn bè (trong đó có Hàn Dũ người quý mến và giúp đỡ ông) cho tiền chôn cất…pmt

Về Lại Ngôi Trường Thời Thơ Ấu - Trường Văn Lang


Về Lại Ngôi Trường Thời Thơ Ấu
Trung Học Tư Thục Văn Lang Mến Yêu

Điều này chỉ là câu chuyện Huyền Thoại. Nhưng thực tế, tôi là cựu học sinh được may mắn làm Thầy Giáo nơi trường cũ mà tôi đã từng theo học thời thơ ấu.

vào khoảng năm 1979 và năm 1980. Sở Giáo Dục TP/HCM rất cần giáo viên dạy các môn Toán, Anh Văn và Pháp Văn. Vì ba môn này đang thiếu giáo viên trầm trọng. Do đó, Sở Giáo Dục tổ chức khoá Bồi Dưỡng Trí Thức Chế Độ cũ để trở thành Giáo Viên. Điều kiện theo học phải là cựu giáo chức của Sài Gòn, tốt nghiệp Đại Học. Đa số các học viên là Sĩ Quan học tập cải tạo được cho về làm đơn tham dự khoá học này.

Khoá học được tổ chức tại trường Sư Phạm Bồi Dưỡng (tên cũ là Saint-Exupéry), số 20 Ngô Thời Nhiệm, Quận 3, góc Trương Định. Ngôi trường có màu sơn đỏ rất xinh xắn được xây cất đã hơn nửa thế kỷ.

Khoá học bắt đầu từ ngày 08 tháng 10, năm 1979 và kết thúc ngày 08 tháng 05, năm 1980. Khoá gồm tất cả 3 ban: Toán, Pháp Văn và Anh Văn. Có khoảng gần 400 học viên. Đông nhất là ban Toán.

Trường hợp tôi, hoàn toàn không dính dáng đến việc dạy học.Tôi chưa từng học qua các trường lớp về Sư Phạm, chưa từng đứng trên bục giảng, hay làm bạn với phấn trắng, bảng đen và nhìn những gương mặt thơ ngây, hồn nhiên của học trò đang chăm chú lắng nghe thầy giảng bài. Nếu có chăng là chỉ đi dạy kèm để có tiền đóng học phí phụ với cha mẹ, hay là trong vai trò của một Huynh Trưởng Hướng Đạo huấn luyện các hướng đạo sinh về chuyên môn và dạy cho các em hát những bài ca hướng đạo ngắn.

Trước 30 tháng 04, năm 1975, tôi là Sĩ Quan hiện dịch Không Quân VNCH. Tôi không bao giờ nghĩ mình có lúc sẽ trở thành Thầy Giáo. Thời gian nảy, tôi đang đi đào kinh làm thủy lợi ở Xã Bình Thành, Huyện Đức Huệ, thuộc tỉnh Long An, nằm giáp với biên giới Việt Nam & Kampuchia.

Phương tiện duy nhất vào đây là bằng đò. Mỗi ngày chỉ hai chuyến. Buổi sáng đò đưa khách vào, buổi chiều đò chở khách ra. Tôi từ nhà đi xe Lam ba bánh ra bến xe Chợ Lớn Mới. Từ đây, đón xe đò đi Hậu Nghĩa. Sau đó đi bộ khoảng mười lăm phút tới bến đò. Nếu chẳng may bị trễ đò thì phải đợi đến ngày hôm sau.

Mấy anh bạn cùng nhóm đào kinh với tôi hội đủ điều kiện. Nên họ cùng rủ nhau bỏ đào kinh về Sài Gòn nộp đơn, nên tôi đành phải đi theo. Vì công việc đào kinh là công việc phải làm theo lối dây chuyền, cần phải có nhiều người làm chung, thao tác cùng một lúc như: đào đất, tát nước, chuyển đất, đắp bờ. Một hay hai người không thể nào làm được,

Khi đến Sở Giáo Dục TP/HCM, số 66-68 Lê Thánh Tôn. Tôi đã thấy có nhiều người đang chen chúc nhau nộp đơn vì họ hy vọng sẽ được đi dạy trở lại, có hộ khẩu ở Thành Phố, chờ xuất cảnh, có thời gian để chuẩn bị vượt biên…Riêng tôi, đứng phía ngoài đợi các anh bạn đào kinh nộp đơn xong, sẽ cùng về lại nông trường ngay ngày hôm đó. Vả lại! tôi nghĩ, tôi không hội đủ điều kiện theo yêu cầu của Sở Giáo Dục.

Khoảng 12 giờ trưa, gần hết giờ nhận đơn. Một thanh niên trẻ phụ trách nhận đơn thấy tôi vẫn còn đứng lảng vảng. Có lẽ thấy tôi tội nghiệp. Nên anh đến bên chỗ tôi đứng, hỏi tôi có cần gì không? Nếu giúp được trong khả năng thì anh sẽ sẵn sàng.Tôi nói với anh, tôi muốn nộp đơn xin học khoá Bồi Dưỡng. Nhưng thấy người ta chen lấn, ồn ào làm mất trật tự quá! Nên tôi đành đứng chờ.

Anh nói tôi đưa đơn và các giấy tờ cần thiết cho anh xem để anh có thể giúp được gì không? Tôi đưa cho anh: tờ đơn, chứng chỉ đã học xong một khoá American Language Course ở English Language School, Defense Language Institute tại Lackland AFB (TX), chứng chỉ ngành chuyên môn theo học về Weapons Controller (Manual) Course tại Tyndall AFB (Florida) có đóng dấu tròn màu vàng mà tôi còn giữ được.



Sau khi xem xong. Anh cho biết, tôi có đủ điều kiện nộp đơn để theo học lớp bồi dưỡng này. Thế là! Anh mời tôi vào văn phòng và viết ngay biên nhận tôi được Sở Giáo Dục chấp thuận cho tham dự khoá học để trở thành Giáo Viên. Sau đó, anh trao cho tôi và cầu chúc tôi gặp được mọi thuận lợi. Trước khi chào từ giã anh.Tôi cảm ơn anh đã giúp đỡ tôi. Anh cho biết tên anh là Vương Công Trực. Anh nói khi nào tôi có dịp về Sài Gòn cứ ghé thăm anh. Tôi trả lời. Đó là điều chắc chắn. Làm sao tôi có thể quên được tấm lòng tốt mà anh đã dành cho tôi.

Mừng quá! Thay vì, về nhà thăm Ba Má tôi và các em như đã dự định lúc ban đầu. Tôi tức tốc về ngay Nông Trường để báo cho Ban Chỉ Huy Nông Trường biết là Sở Giáo Dục đã cấp biên nhận đồng ý cho tôi theo học khoá bồi dưỡng thành giáo viên, để họ làm thủ tục trả tôi về lại thành phố.

Tôi được xếp theo học lớp giảng dạy Anh Văn. Lớp học có khoảng 100 học viên: có người tốt nghiệp MA, BS, BA từ Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, Đại Học Sư Phạm, Cử nhân Anh văn Đại Học Văn Khoa, Giảng viên Trường Sinh Ngữ Quân Đội, Giảng Viên Anh Ngữ tại Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân, Hải Quân ở Nha Trang, Giảng Viên Trường Võ Bị Đà Lạt, Cao Học Quốc Gia Hành Chánh, Cao Học Luật, Cựu Giáo Sư Anh Văn các trường Công Lập và Tư Thục Sài Gòn và các tình trước kia. Còn tôi, hoàn toàn khác hẳn. Không giống ai vì tôi không hề dính dáng gì đến việc dạy học gì hết!

Chương trình giảng dạy Anh Văn do ba Giáo Sư phụ trách: GS Hồ Liên Biện, GS Đoàn Viết Bửu và GS Đinh Quang Kim. Thật ra, họ dạy cho lấy có, vì trong lớp có người là bạn, là đồng nghiệp dạy chung với ba Giáo Sư, nhưng vì ba Giáo Sư không bị đi học tập, nên bây giờ là giảng viên của lớp học này.

Trong thời gian học. Các học viên được hưởng lương, nhận tiêu chuẩn về lương thực, nhu yếu phẩm và mọi quyền lợi như công nhân viên đang làm việc cho nhà nước. Sau khi mãn khoá, nếu ai đi dạy sẽ được chánh quyền chấp thuận cho nhập hộ khẩu thành phố.

Đây cũng là cơ hội ngàn vàng cho một số học viên có nhiều thời giờ tìm đường vượt biên, kiếm được công ăn, việc làm tốt hơn, hoặc chờ thân nhân ở nước ngoài bảo lãnh, nên họ bỏ ngang khoá học cũng gần phân nửa. Phần tôi, không có bất cứ cơ hội nào khác. Nên, tôi phải tiếp tục theo học cho đến cuối khoá. Tôi mừng vì được Sở Giáo Dục chấp thuận cho theo học là một điều quá may mắn mà tôi không thể tưởng tượng xảy ra trong trường hợp của tôi.

Sau bảy tháng học bồi dưỡng. Lớp Anh Văn mãn khoá còn lại khoảng 50 học viên. Một số được cho dạy Cấp 3 (Trung Học Đệ Nhị Cấp). Đa số dạy Cấp 2 (Trung Học Đệ Nhất Cấp), cũng có một vài trường hợp đặc biệt được cho dạy Đại Học.

Tôi được bổ nhiệm về Phòng Giáo Dục Quận 10 và được cho dạy tại Trường Phổ Thông Cơ Sở Cách mạng Tháng 8 (trước kia là trường Tinh Thần, nằm sát bên Quân Vụ Thị Trấn Sài Gòn và trại gia binh Truyền Tin) trên đường Lê Văn Duyệt (cũ). Địa chỉ số 289 đường CMT8.

Trường cuối cùng là Trường Phổ Thông Cơ Sở Văn Lang, số 51 Trần Quí Khoách, Quận 1. Tôi dạy ở đây hai niên khoá 1990 - 1991 và 1991-1992. Trường Văn Lang, trước 30 tháng 04, năm 1975 của Thầy Ngô Duy Cẩu.Thầy vừa là chủ trường,vừa là Hiệu Trưởng.

Khi chính quyền mới tiếp thu thì trường không bị đổi tên như nhiều trường khác trong thành phố, hoặc biến thành chung cư, nhà hàng, khách sạn, cơ quan làm việc của chính quyền hay nhà riêng dành cho cán bộ cao cấp. May mắn! trường vẫn giữ tên Văn Lang cho đến ngày hôm nay.

Có thể nói. Đây là khoảng thời gian hạnh phúc và sung sướng nhất đời tôi, sau những tháng năm nhọc nhằn, nghiệt ngã của một cuộc đổi đời.

Hôm nào thời khoá biểu có lớp dạy. Tôi thường đến trường thật sớm. Đi dạo quanh các lớp học ngày xưa. Nhiều nhất là hai lớp Đệ Nhị A, niên khoá 1967-1968 và Đệ Nhất A, niên khoá 1968-1969.

Tôi vẫn còn nhớ như in tên của các Giáo Sư giảng dạy hai lớp này. Các Thầy hầu hết đều là Giáo Sư chính thức của các trường Công lập nổi tiếng của Sài Gòn như Chu Văn An, Pétrus Ký, Trưng Vương, Gia Long:

Giáo Sư lớp Đệ Nhị A (Sinh Ngữ 1 Pháp Văn):

Văn: Trần Huy Bích, Pháp: Vũ Đình Mẫn, Anh (Sinh Ngữ 2): Tạ Văn Chắt, Sử và Địa: Vũ Huy Chấn, Công Dân: Nguyễn Thanh Luân, Toán: Hoàng Mai & Phùng Mạnh Hoàng (tên khai sanh là Chữ), Lý: Đinh Công Hoạt, Hoá: Lê Trọng Lập, Vạn Vật: Trần Phụng Đình hay Trần Đình.

Giáo Sư lớp Đệ Nhất A (Sinh Ngữ 1 Pháp Văn)

Triết: Trần Đức An, Sinh Ngữ 1(Pháp Văn): Vũ Đình Mẫn, Sinh Ngữ 2 (Anh Văn) Bùi Đình Mạc, Sử & Địa: Vũ Huy Chấn,Toán: Hoàng Văn Mai và Ngô Tử Vọng, Lý: Vũ Văn Tiên, Hoá: Trương Đình Ngữ, Vạn Vật:Nguyễn Văn Đỉnh.

Các Thầy đã truyền dạy cho tôi những kiến thức về văn hoá, về đạo đức và về cách học làm người tử tế để tôi làm hành trang bước vào đời.

Tôi cũng có dịp tìm lại những kỷ niệm thuở học trò, nhớ lại giờ ra chơi vui đùa cùng các bạn, cũng như ăn quà vặt bán trong sân trường, nhớ lại các gương mặt hồn nhiên của các bạn thân như: Trương Tấn Hưng, Nguyễn Văn Hợp, Bùi Phương Việt, Nguyễn Phú Tuấn…Các bạn tôi đã ra đi, khi tuổi đời vừa mới chớm đôi mươi và mang theo nhiều ước vọng.

Và gần đây nhất, trưởng nam của Thầy Hiệu Trưởng Ngô Duy Cầu là Ngô Quốc Thắng cũng vừa mới mất. NQT đi du học Hoa Kỳ sau khi thi đậu Tú tài 2. Tôi cũng không hiểu sao giữa Thắng và tôi có mối giao tình bạn bè tốt đẹp lúc cùng đi học, ngồi kế bên nhau, và cả hai ở hai hoàn cảnh hoàn toàn khác biệt. Thỉnh thoảng, Thắng mời tôi đến nhà chơi. Ông Bà Hiệu Trưởng rất thương quý tôi. Khi biết hoàn cảnh gia đình tôi khó khăn, nhưng hiếu học. Ngoài ra, ông bà biết tôi đang tham gia Hướng Đạo Việt Nam và đang là một trưởng phụ tá cho Thiếu Đoàn Đống Đa, Đạo Phiên An, sinh hoạt ở Lăng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt, Bà Chiểu, Gia định vào mỗi Chúa Nhật. Ông Bà lại càng quý mến tôi hơn. Ông Bà tin tưởng tôi là người bạn tốt với Ngô Quốc Thắng. Nhờ đó, năm học Đệ Nhất A. Thầy Tập là Tổng Giám Thị và Cô Bích phụ trách thu ngân cho trường Văn Lang nói với tôi “Thầy Hiệu Trưởng Ngô Duy Cầu dặn cô cho tôi được học hoàn toàn miễn phí. Nếu tôi có cần sự giúp đỡ gì thì nói lại cho hai người biết.”

Chỉ một lần trước khi Thắng sắp rời Việt Nam. Thắng muốn biết nhà tôi và tôi đồng ý cho Thắng đến. Hôm đó, Thắng lái chiếc Fiat 1500 của Thầy Hiệu Trưởng đến nhà mời tôi đi ăn tối và chở tôi đi vòng khắp Sài Gòn coi như từ giã. Thắng tâm sự với tôi rất nhìều về cuộc sống gia đình, bạn bè chung quanh và đặc biệt là cảm tình mà Thắng dành cho tôi, xem tôi như một người anh vì tôi lớn hơn Thắng ba tuổi.Tôi vì hoàn cảnh phải đi học trễ. Chưa kể, có năm đến trường, có năm phải ở nhà để phụ giúp gia đình. Năm nay học truờng này, năm sau nhảy sang trường khác. Đôi lúc tưởng chừng bỏ học vĩnh viễn. Cuối cùng, tôi cũng thi đậu Tú Tài 2. Điều này làm ba má tôi rất vui và hãnh diện với bà con lối xóm. Sau đó, tôi tình nguyện vào khoá 7/68 Không Quân VNCH.

Thắng nói với tôi “Biết đến khi nào Thắng mới gặp lại bạn bè thân yêu và Sài Gòn mến thương.”

Trong thời gian du học ở University of Michigan.Thắng và tôi thỉnh thoảng trao đổi thư từ. Lâu lâu, Thắng cũng gửi về tặng tôi một món quà nhỏ, trong đó chất chứa đầy ắp ân tình.


Khi đến được Hoa Kỳ, tôi chỉ gọi thăm Thắng vài lần, chưa một lần gặp mặt. Và tôi bàng hoàng khi nhận được tin Thắng mất ở Florida qua em trai của Thắng báo cho biết.

Tôi xin cầu nguyện cho các Thầy và bạn bè đã mất được bình an nơi cõi vĩnh hằng.

Giờ đây, bạn học ngày xưa đã tan tác đi khắp muôn nơi. Kẻ ở chân mây, người ở cuối trời. Có một số đã đi về miền miền viễn, một số đang đối phó với những lo toan, khó khăn hàng ngày về chuyện cơm, áo, gạo, tiền, con, cháu và bệnh hoạn ở tuổi Thất Thập Cổ Lai Hy nơi quê nhà hay xứ người.

Khi làm đơn xin xuất cảnh đi Mỹ theo diện HO. Tôi xin nghỉ dạy để có thời giờ chuẩn bị cho việc ra đi đến vùng đất mới mà nhiều người hằng mơ ước.

Tôi rất buồn phải giã từ phấn trắng, bảng đen, các học sinh thân yêu. Nhất là các em con nhà lao động có hoàn cảnh khó khăn, nhưng siêng năng và hiếu học ở các xóm lao động gần trường như: Xóm Chùa, Xóm Cầu Mới, Xóm Vạn Chài, Xóm Cầu Sắt. Đối với các em này, tôi thường xuyên nhắc nhở, an ủi, động viên tinh thần và giúp đỡ hết lòng. Mở lớp dạy thêm cho các em học kém hoàn toàn không nhận bất cứ một thù lao từ phụ huynh.

Tôi rất vui khi nghe tin các em ngày xưa đó đã thành công trên đường học vấn và tạo dựng được sự nghiệp tốt đẹp. Ngoài ra, ngôi trường này đã mang đến cho tôi biết bao nhiêu kỷ niệm đẹp của một thời hoa mộng mà tôi khó có thể nào quên.

Ngày 27 tháng 10, năm 1992. Gia đình tôi gồm 3 người: Vợ chồng tôi và con trai bảy tuổi rời Việt Nam theo chương trình HO để bắt đầu làm lại cuộc đời mới nơi phương trời xa lạ.

Có lẽ tôi là một cựu học sinh Văn Lang duy nhất được trở về lại ngôi trường yêu dấu sau ngày 30 tháng 04, năm 1975? Điều này, như là một câu chuyện huyền thoại. Nhưng thực tế, tôi là cựu học sinh được may mắn làm Thầy Giáo nơi trường cũ mà tôi đã từng theo học thời thơ ấu.
Đó là Trường Trung Học Văn Lang thân yêu.

Trần Đình Phước
 San José, California
(Cựu Học Sinh Văn Lang)

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2026

Mùa Đông Chia Xa - Thơ Kim Phượng - Nhạc Nguyễn Tuấn - AI Siliconband

 

Thơ: Kim Phượng
Nhạc: Nguyễn Tuấn


Thầy Cô

 

Thầy Trần Viết Sáu


Triết học văn chương hợp dáng tao
Mấy điều kinh điển nhớ làu làu
Diễn sao cho đúng người xưa cũ
"Sáu"

***
Thầy Trần Hữu Đức

Thầy không sơ suất tròn thiên chức
Người dáng thanh tao tánh bộc trực
Hồng đào xứ mận vùng đất ấm
"Đức"

***

Thầy Ngô Quang Vỹ

Tay vẽ vòng tròn tròn kỳ bí
Miệng thì luôn tiếng "tụi đồ quỉ"
Trời Tây giải nhứt, người thật kỹ
"Vỹ"

***

Thầy Trương Văn Hoạch

Thầy thương đám trẻ lòng trong sạch
Không phạt chẳng rầy đều minh bạch
Vóc dáng thong dong luôn kiếng mát
"Hoạch"

***

Cô Phạm Thị Kim Chi

Ai có ngờ đâu liễu nhị chi
Thông minh tính nhẫm quá là chì
Ai mà muốn giỡn chọn giờ khác
"Chi"

Nguyễn Cao Khải
(* Thầy Cô: Cựu Giáo Sư trường Nguyễn Thông
Tiền thân trường Tống Phước Hiệp)

Một Mùa Trăng

 

Mở cửa tìm ánh trăng xuân
Đón lấy hương gió bâng khuâng giao mùa
Khơi lại vương vấn thời xưa
Ấp yêu choàng lấy chợt vừa đâu đây

Cạn chén hương vị nồng say
Luyến lưu chưa kịp môi cay đắng lòng
Buông dòng tư tưởng hư không
Cài then đóng cửa tim hồng vì ai

Xót xa hạnh phúc an bày
Căn nhà k​ý​ ức chia hai ngăn đời
Ngậm ngùi bắt bóng mù khơi
Trăng tàn canh vắng tình vời vợi xa....

Trăng xuân lặng lẽ rời ta
Tình trầm ngậm ngải trăng già vẫn son


Kim Oanh
Đêm trăng 2026

Đà Lạt

  

XUÂN:
Nắng thay áo mới trên cây lá
Cỏ mướt sương mai trỗi mầm xanh
Mây cũng tựa mình quanh dốc đá
nhìn anh đào chớm nụ trên cành.

Nhịp thở hồi sinh nối đất trời
Núi rừng hòa lắng với trùng khơi
Mở lòng ra đón hương gió mới
Một bức tranh thơ... Ôi tuyệt vời!

HẠ
Dường như Xuân vẫn tràn đầy
cho lòng du khách thêm ngây ngất tình
Bích Câu hoa ngắm bình minh
Xuân Hương trải tấm gương in mây trời
Suối nguồn chờ đón mưa rơi
Trắng dòng thác đổ, thơm hơi sương mành
Lâm Viên trảỉ dáng thông xanh
nhìn Đà Lạt thắm mộng lành liêu trai.

THU
Lạnh về qua thung lũng
Thông đứng lặng cuối trời
Lối mòn vàng lá rụng
Thẫn thờ hạt sương rơi.

Bên đường hoa quỳ nở
Vàng thêm bóng chiều tà
Bằng điệu buồn muôn thuở
Đà Lạt đón Thu qua.

ĐÔNG
Người co ro, phố buồn im lặng tiếng
Chưa hoàng hôn, nắng đã lịm sau đồi
Chim xa rừng theo cánh gió buồn trôi
Mờ thung lũng, vực trầm sương khói quyện .

Là sâu lắng giữa chập chùng, ẩn hiện
Đêm buông dài, thêm lạnh ánh trăng hoang
Là hồn thơ Người thả xuống trần gian
Thành nhan sắc ngàn đời...Ôi diễm tuyệt!

Huy Văn

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2026

Đường Về Dĩ Vãng - Sáng Tác: Hoàng Trọng - Phối Nhạc: Mark Knox - Soạn Cho Tam Ca: Nguyễn Thành Vân - Tam Ca: Ngọc Hà, Văn Quân & Nguyễn Thành Vân

Sáng Tác: Hoàng Trọng (1922-1998)
Phối Nhạc: Mark Knox
Soạn Cho Tam Ca: Nguyễn Thành Vân
Tam Ca: Ngọc Hà, Văn Quân & Nguyễn Thành Vân

Những Con Tàu Mang Sứ Mệnh Thiên Thần - Cap Anamur Ile De Lumière


Vào giờ tuyệt vọng giữa mênh mông
Bỗng có con tàu lướt bão giông
Cứu kẻ thuyền chìm đang chới với
Vớt người ghe bể lúc long đong
Lòng Từ cao cả tày non Thái
Tâm Thiện vời vời sánh biển Đông
Cap Anamur ân thâm khắc cốt
Ile De Lumière nghĩa trọng ghi lòng…

Nguyễn Minh Thanh

Ngoài ra còn có nhiều, nhiều… Con Tàu nữa, đã từ tâm cứu biết bao người Việt Nam Vượt Biển:
Mỹ, Singapore, Malaysia, Philippines, Hồng Kông….
Ôi ! Lịch Sử Việt Nam thời kỳ thậm tối tâm:
- Đồng Bào mà tàn sát Đồng Bào lòng không ngần ngại xót xa…, lắm kẻ khổ đến đổi phải đem thân liều vượt biển…!!
- Dị Chủng lại cứu sinh Dị Chủng dạ chẳng mảy may tính toán…, nhiều người lo vội vàng cho tàu lớn liệu ra khơi…!!
Ôi ! Thời kỳ thiên ám địa hôn:
- Nữ lưu bị hiếp hãm giữa biển khơi hồn tan phách tán, sóng nỉ non u uẩn… xót nòi Trưng Triệu chịu cảnh gớm ghê...!!
- Nam nhân phải lao lý nơi núi thẳm sức mỏi lực mòn, suối róc rách thở than… thương giống Lạc Long đang cơn đày đọa…!!

Nguyễn Minh Thanh bái bút
( GA 15 - 6 - 2026 )


Gặp Lại

 

Lâu quá giờ đây mình gặp lại
Mái tóc anh sầu trắng như mây
Mắt nhìn nhau cõi lòng khoắc khoải
Muốn nói nhiều nói được gì đây?!

Cuộc biển dâu đời mình tang hải
Vì phong ba cách biệt phương trời
Anh có biết bao lần em khóc:
Biết anh còn sống,… chết?... xa xôi!

Từng bước đi đường xa ngõ quạnh
Chỉ mong tìm dấu vết người xưa
Đêm đêm nhìn vì sao lấp lánh
Hồn em mòn mỏi biết bao mùa!

Chiều nay ai xuôi mình gặp lại
Dáng ngập ngừng không nói nên câu
Trong cõi lòng em buồn muốn khóc
Mi mắt anh đọng giọt lệ sầu!

Mình đã lỡ đò về bến mộng
Trên ngõ đời khuất bóng mùa xuân!
Đâu dám cạn chén tình tương ngộ
Đành rưng buồn trân trọng cố nhân!

Hàn Thiên Lương


Ăn Cắp Nụ Hôn - Thơ: PhamPhanLang - Nhạc: Cung Đàn


Phan Lang xin kính mời quý anh chị và các bạn đọc lại một bài thơ cũ của PL: Ăn Cắp Nụ Hôn. Đây là một trong những "sản phẩm cóc" đầu tiên của PL khi mới tập tễnh theo quý anh chị văn thi nhạc sĩ thành danh trong diễn đàn Ngồi Quán Trọ (NQT) vào đầu năm 2013.

Thật may mắn, bài thơ đã được quý anh chị trong NQT đón nhận với những lời khích lệ thật ấm áp dành cho một "mầm non" mới chập chững làm thơ. 
Riêng anh Nguyễn Văn Sanh (NS Cung Đàn) đã ưu ái phổ nhạc bài thơ này. Không những thế, anh còn tự bỏ tiền túi nhờ NS Đặng Vương Quân hòa âm và ca sĩ Ngọc Hiếu trình bày.

Ngày được anh Sanh trao tặng ca khúc phổ từ bài thơ đầu đời của mình, PL đã vô cùng bất ngờ và lặng người vì xúc động. Niềm vui, lòng biết ơn và sự cảm động ấy vẫn luôn còn nguyên vẹn trong PL cho đến hôm nay, mỗi lần nhớ lại.

Xin kính mời quý vị đọc lại những dòng tâm tình của anh Sanh khi phổ nhạc bài thơ Ăn Cắp Nụ Hôn.

Ăn Cắp Nụ Hôn

.... Cái tựa đề ngồ ngộ của bài thơ đã đập vào mắt tôi một ý tò mò. Ăn cắp gì? Sao nụ hôn lại bị ăn cắp? Vào bên trong mới thấy bài thơ ngũ ngôn dễ thương "Anh ăn cắp nụ hôn, trên chiếc mũi của nàng... Nàng thẹn thùng đỏ mặt, anh thích thú cười vang...".

À! Hoá ra đây là khung cảnh nên thơ của một cuộc tình đẹp thời tuổi mộng, hoa niên mà chàng có vẻ làm chủ tình thế. Không ăn cắp ở đâu, lại ăn cắp nụ hôn trên chiếc mũi... Có lẽ trên khuôn mặt nàng, chiếc mũi là đỉnh núi, là chỗ cao nhất để chàng "đánh cắp" một nụ hôn, một cuộc tình vụng dại, tươi tắn quá đẹp, mũi trao mũi, hơi thở trao hơi thở... Chàng xin lỗi chăng? Không! Chàng "thích thú cười vang" để mặc nàng giận...

Mà thật, "Cô bé giận anh rồi, anh bắt đền đi thôi, không thèm chơi anh nữa, vì làm tim bồi hồi...". Giận thì giận, không thèm chơi anh nữa cũng chẳng sao. Một khi nàng đã chịu "bắt đền", cánh cửa tình yêu đã hé mở. Chàng thật thông minh khi nghĩ ra cách bắt đền bằng một chiếc lá...

Mà lạ! Anh chàng thật thông minh và kỳ khôi. "Anh bắt đền chiếc lá, bảo nắm chặt trong tay, rồi nhắm đôi mắt lại, đừng để gió thổi bay...". Lá thì nhiều, đâu có gì quý. Tay và mắt đâu có dính dáng gì nhau. Trò chơi ú tim ấy khiến cô bé chẳng hề biết ý định của chàng, ngoan ngoãn nhắm mắt... để được đền!

"Em nghe anh nhắm mắt, giữ chặt lá trong tay, anh lừa em hôn mắt, làm tim ngất ngây say..."

À! Hóa ra là thế! Bây giờ chàng lại "lừa" được cô bé, ý chừng mới mười ba tuổi, còn rất hồn nhiên và dễ tin người, để tiếp tục "ăn cắp" thêm một nụ hôn trên mắt. Tim cô bé không chỉ còn "bồi hồi" như lúc chàng "trộm" nụ hôn trên chiếc mũi, mà giờ đây đã "ngất ngây say", như đang lạc vào một cơn mộng đẹp không lối thoát.

Rồi sao nữa???
"Em vẫn còn nhắm mắt, lá vẫn giữ trong tay, bỗng dưng tay trống rỗng, Ồ hóa ra giấc mộng!"

Ôi! Một cuộc tình đẹp mà cuối cùng chỉ là giấc mộng sao? Hai câu kết như cánh diều tuổi thơ bỗng vụt bay vào khoảng không, để lại người đọc khựng lại giữa bao tiếc nuối. Đang say mê theo dõi một mối tình trong trẻo tưởng sẽ mãi mãi bên nhau, bỗng chốc người đọc cảm thấy nhói lòng như chính cô bé trong bài thơ.

Không thể ngờ tất cả chỉ là một giấc mộng!
Nhưng người thật, chuyện thật vẫn còn đây. Chàng "ra đi" không phải vì quay lưng với tình yêu sau khi đã "đánh cắp" một nụ hôn, mà đã vun đắp bằng muôn vàn nụ hôn của hạnh phúc gia đình nơi xứ người. Để rồi Thượng Đế lại gọi chàng về, trao cho chàng một sứ mạng cao cả hơn tình yêu đôi lứa — đó là Tình Người, điều mà nàng vẫn mãi khắc ghi trong tim suốt cuộc đời.

Người đọc thật sự xúc động trước tình tự của bài thơ. Lời thơ giản dị, trong sáng, không cầu kỳ chải chuốt mà vẫn chạm đến lòng người. Đặc biệt, hai câu kết:

"Bỗng dưng tay trống rỗng,
Ồ hóa ra giấc mộng!"

đã để lại một nỗi buồn đẹp và rất sâu trong lòng người đọc.
Từ niềm xúc động ấy, bản nhạc phổ từ bài thơ Ăn Cắp Nụ Hôn của chị phamphanlang đã ra đời.

Cung Đàn
_______

Ăn Cắp Nụ Hôn

Anh ăn cắp nụ hôn,
Trên chóp mũi của nàng
Nàng thẹn thùng đỏ mặt
Anh thích thú cười vang

Cô bé giận anh rồi
Anh bắt đền đi thôi
Không thèm chơi anh nữa
Vì làm tim bồi hồi

Anh bắt đền chiếc lá,
Bảo nắm chặt trong tay
Rồi nhắm đôi mắt lại
Đừng để gió thổi bay


Em nghe anh nhắm mắt
Giữ chặt lá trong tay
Anh lừa em hôn mắt
Làm tim ngất ngây say

Em vẫn còn nhắm mắt
Lá vẫn giữ trong tay
Bỗng dưng tay trống rỗng
Ồ, hóa ra giấc mộng!

phamphanlang
8/1/2013

Kính chúc quý anh chị và các bạn luôn được dồi dào sức khỏe, an vui và hạnh phúc.
Kính mến,
Phạm Phan Lang