Thứ Năm, 5 tháng 3, 2026

Chúc Xuân - Thơ: Nguyễn Trọng - Nhạc: Phan Đình Minh - Hòa Âm: Văn Hòa - Ca Sĩ: Trường Hải

Thơ: Nguyễn Trọng
Nhạc: Phan Đình Minh
Hòa Âm: Văn Hòa
Ca Sĩ: Trường Hải

Khai Bút Mồng Hai Tết..


 
Mồng Hai khai bút đón Xuân sang. 
Nhớ quá năm xưa Tết rộn ràng. 
Sắm sửa nhang đèn cùng pháo đỏ, 
Chưng bày bánh mứt với mai vàng. 
Bao ngày hạnh phúc thơ ngâm vịnh, 
Một thuở thanh bình nhạc hát vang. 
Biết đến khi nào ta có lại, 
Quê hương gấm vóc đẹp an khang. .

Hoàng Dũng


Những Nỗi Buồn



“ Có những nỗi buồn không nói được “
Là khi em vẫn ở bên anh
Tình cờ bắt gặp anh mong ước
Thân ái với người … rất thích anh

Có những nỗi buồn không tránh được
Là khi em biết chuyện riêng tư
Khi nghe thiên hạ đồn sau, trước
Anh muốn một người anh vẫn mơ

Có những nỗi buồn càng giấu kín
Càng thêm khốn khổ, tủi thân mình
Bao nhiêu bi lụy mà câm nín
Để khiến người đời ngó rẻ khinh

Có những nỗi buồn đành giữ chặt
Sống thì cất kỹ, chết mang đi
Đúng rồi anh ạ, đừng mê hoặc
Nào thấy chi đâu, có nghĩa gì …

Hawthorne 27 - 2 - 2026
Cao Mỵ Nhân


Huế Ơi, Kỷ Niệm Ơi...

 

( Cảm tác theo bài “Hương Trà, bạn cũ” 
của Bảo Trâm Minnesota)

Anh đã về đây, bao năm xa Huế,
Vì nhớ Huế, nhớ em. Em biết không?
Dù đời bể dâu chia mấy nhánh sông,
Nhánh sông nào cũng tìm về nguồn cội.

Anh tìm thấy anh một thời trẻ tuổi,
Tuổi mộng mơ cùng với Huế mộng mơ,
Tình yêu của anh, em đã quên chưa?
Những nơi chốn tìm nhau khi hò hẹn.

Những lần đi bộ hay đi xe đạp,
Hai đứa sánh vai nhau từ Kim Long,
Chẳng cần nói nhiều, chẳng vội bước nhanh,
Chỉ nhìn nhau, bên nhau là thấy đủ.

Qua cầu Phú Xuân, rồi cầu Bạch Hổ,
Đi chậm thế mà hết mấy cây cầu,
Mấy con đường cũng chẳng được bao lâu,
Tình thì nhiều mà gần nhau ít qúa.

Anh tìm thấy anh một chiều lộng gío,
Trên đồi thông Lăng Tự Đức cùng em,
Thảm lá khô rụng sẵn để anh nằm,
Tay che nắng nhìn trời qua kẽ lá.

Em gối đầu trên tay anh lặng lẽ
Nhìn khỏang trời xanh mộng đời bao la,
Tiếng lá thông reo, lòng mình hoan ca
Tiếng mình thì thầm, chiều tà êm ả

Đứng trên bực cấp của chùa Thiên Mụ,
Mùi tóc em hay mùi hoa Sứ thơm
Anh và em nhìn xuống dòng sông Hương,
Đôi mắt em đẹp. Dòng sông lờ lững.

Bên kia Thọ Xương những đêm canh vắng,
Tiếng mõ nào sẽ thao thức đời nhau
Tiếng kinh nào sẽ rũ bỏ bể sầu
Còn hai ta một tình yêu tục lụy.

Nào Hổ Quyền, làng Nguyệt Biều, Long Thọ…
Thành Lồi, Văn Thánh, Võ Thánh, Long Hồ,
Điện Hòn Chén, Lăng Gia Long mình qua…
Những di tích gắn liền bao kỷ niệm.

Qua trường Đồng Khánh qua trường Quốc Học,
Bờ sông Hương soi bóng tình học trò,
Huế ở trong lòng người Huế đi xa,
Ăn món Huế làm sao quên Huế được.

Anh tìm thấy anh lối về ngõ hẹp,
Những cây Sầu Đông đầu ngõ đâu rồi?
Ngõ vào nhà anh thiếu vắng bóng người
Thiếu cây Sầu Đông quen từ thuở nhỏ.

Cũng may trong vườn vẫn còn cây khế,
Anh leo trèo tìm bóng mát trưa Hè,
Vị khế ngọt của một thời ấu thơ,
Đời ngang dọc anh chưa hề gặp lại.

Anh đã về Huế như lòng mong đợi,
Nhưng mất em giữa dòng đời mênh mông,
Sông về cội nguồn, chúng mình thì không,
Hai nhánh chảy ngược dòng, không hội ngộ.

Nguyễn Thị Thanh Dương.

Khung Trời Lỗi Hẹn

Khung trời lỗi hẹn dặm trùng dương
Năm tháng phôi pha khắp nẽo đường
Tuyết đổ chạnh lòng thân viễn xứ
Đời trôi giá lạnh nẽo tha phương
Bao giờ trở lại khung trời cũ..?
Năm tháng soi mòn nỗi vấn vương
Từ buỗi ra đi ngàn cách biệt
Đường về hun hút dặm mù sương....!


Ngư Sĩ

Bài Thơ " Con Cóc"

* Xin gởi anh Chín và quý thân quyến bài này đọc chơi. Đọc để suy ngẫm cho khỏi nặng cái đầu (Ngạn ngữ Đại Hàn)!

Bài thơ “Con Cóc” từ ông Petrus Trương Vĩnh Ký rất phổ thông trong văn học sử. Từ ngụ ý của nó, Nhất Linh và Thượng Tân Thị cũng có Thơ “Con Cóc”. Tuy nhiên Thơ “Con Cóc” đầu tiên là từ vua Lê Thánh Tông.

a) Thơ “Con Cóc” từ Petrus Ký

Câu chuyện về bài thơ Con Cóc nổi danh được đăng trong sách của Petrus Ký và của Thọ An Phạm Duy Tốn.

BA ANH DỐT LÀM THƠ (*)
(Petrus Ký)

Có ba anh học trò dốt ngồi nói chuyện với nhau. Mới nói: Mình tiếng con nhà học trò mà không có làm thơ làm phú với người ta thì té ra mình dở lắm. Mấy người kia mới nói phải. Hè nhau làm ít câu chơi.

Anh thứ nhất thấy con cóc ở trong hang nhảy ra, mới làm câu mở như vầy: Con cóc trong hang con cóc nhảy ra.

Người thứ hai tiếp lấy: Con cóc nhảy ra con cóc ngồi đó.
Người thứ ba: Con cóc ngồi đó con cóc nhảy đi

Lấy làm hay lắm. Rồi nghĩ lại giựt mình, vì trong sách nói: Hễ học hành giỏi thì sau cũng phải chết. Cho nên tin như vậy mới biểu thằng tiểu đồng ra đi mua ba cái hàng đất để dành cho sẵn đó.

Tiểu đồng lăng căng đi mua, ghé ra quán uống nước ngồi xớ rớ đó. Có anh kia hỏi nó đi đâu? Mua giống gì? Thì nó nói: Ba thầy tôi thông minh trí huệ, làm thơ hay lắm, sợ lời sách quở, có khi không sống, nên sai tôi đi mua ba cái hòm.

- Mầy có nghe họ đọc thơ ấy không?
- Có
- Mà có nhớ nói lại nghe chơi, coi thử sức nó hay làm sao ?

Thằng tiểu đồng mới nói: Tôi nghe đọc một người một câu như vầy:

Con cóc trong hang con cóc nhảy ra
Con cóc nhảy ra con cóc ngồi đó
Con cóc ngồi đó con cóc nhảy đi

Anh kia nghe tức cười nôn ruột, mới nói với tiểu đồng:
- Mầy chịu khó mua giùm cho tao một cái hòm cho luôn trót thể

Tiểu đồng hỏi: Mua làm chi?
Lão nọ mới nói: Tao mua hờ để đó, vì tao sợ tao cười lắm, có khi cũng chết theo ba thầy làm thơ đó nữa.

(*) Chú thích: Chuyện nầy được viết lại đúng nguyên văn trong quyển "Chuyện Xưa Tích Cũ" của Sơn Nam.

THƠ CÓC
(Thọ An Phạm Duy Tốn)

Có ba ông vẫn tự đắc là mình hay thơ nôm. Một hôm, rủ nhau đi chơi chùa, để cùng họa thơ tức cảnh. Nhưng mà đến chùa, không biết làm thơ gì; mới bảo nhau hãy đưa tiền cho ông Tự đi mua rượu và đồ nhắm về đánh chén đã: - Hễ rượu vào thì tự khắc thơ ra tuồn tuột! Mua về, ba ông ngồi bắt chân chữ ngũ, gật gù uống rượu, rung đùi nghĩ thơ. Chợt thấy con cóc ở trong xó, nhảy ra.

Một ông mới ngâm rằng:
Con cóc trong hang,
Con cóc nhảy ra.
Ông thứ hai họa theo rằng:
Con cóc nhảy ra,
Con cóc ngồi đấy.

Ông thứ ba:

Con cóc ngồi đấy,
Con cóc nhảy đi.

Ba ông cùng vỗ đùi, cười ồ cả lên khen rằng: - Hay! hay! hay thật?

Cười chán rồi, một ông bảo rằng: - Thơ ta tuyệt cú! mà ta xuất khẩu thành chương như thế thì tôi e lắm, hai tiên sinh ạ. E rằng Thánh nhân người đã dạy: Ai mà linh khẩu lắm thì kẻo chết non. Vậy ta phải nên liệu trước.

Hai ông kia lấy làm phải lắm, bèn mời ông Tự ra, nói hết đầu đuôi; rồi đưa tiền nhờ mua hộ ngay cho ba cổ ván.
Ông Tự cầm tiền đi mua. Một chốc đem về bốn cái áo quan.

Ba ông hay thơ mới hỏi: - Sao mua những bốn cái thế? - Thưa các ngài, tôi mua thêm một cái để cho tôi, bởi vì tôi buồn cười quá, cũng đến chết mất.

*
Chuyện của Thọ An nói về ba người đi chùa làm thơ như trên cũng giống ý một chuyện về làm thơ khác của ông Petrus Ký.

BỐN ANH HỌC TRÒ ĐẶT THƠ TRONG CHÙA
(Petrus Ký)

Bốn anh học trò đi đường, ghé qua chùa chơi. Ngồi coi bạ bàn thấy tượng đồ treo thờ đó, mới rủ nhau làm ít câu thơ chơi.
Anh thứ nhứt, thấy tượng Quan Đế, thì mở rằng:
Hớn vương ăn ớt mặt đỏ gay

Anh thứ hai thấy tượng Quan Bình, thì đặt:
Bên kia Thái tử đứng khoanh tay

Người thứ ba ngó quanh quất, thấy tượng Châu Thương thì đặt:

Thằng mọi râu rìa cầm cái mác
Còn anh thứ bốn ngó ra, thấy con hạc đạp lưng qui, thì thêm:
Ngoài nầy cò quắm đạp cầy thay. (*)

(*) Chú thích:
Cò quắm = cò có mỏ dài.
Cầy thay = cần thay: đều là tiếng Miên nói trại, chỉ loại rùa lớn con.
*
Ông Petrus Trương Vĩnh Ký và ông Thọ An Phạm Duy Tốn là những văn sĩ đầu tiên viết Chuyện Khôi Hài trong Văn học Quốc ngữ.

Ở Nam Kỳ, ông Petrus Trương Vĩnh Ký xuất bản "Chuyện Khôi Hài" vào năm 1882. Chuyện khôi hài là chuyện có tác dụng gây cười, có thể trong dân gian hoặc trong lịch sử chính trị hay văn học.

Trước đó trong "Chuyện Đời Xưa" của mình, xuất bản lần thứ nhất vào năm 1866, ông Petrus Ký cũng có một số chuyện khôi hài như chuyện "Bốn anh học trò đặt thơ trong chùa" và chuyện "Ba anh dốt làm thơ". "Chuyện Đời Xưa" là tên rút ngắn của “Chuyện đời xưa lựa nhón lấy những chuyện hay và có ích”, tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ (năm 1866).

Từ ông Petrus Ký, ở Nam Kỳ có ông Phụng Hoàng San xuất bản "Chuyện Tiếu Lâm" (1912) và ông lại cùng ông Dương Diếp, cũng ở Mõ Cày, xuất bản "Truyện Tiếu Đàm" (1914). Chuyện tiếu lâm là chuyện cười trong dân gian.

Cuối thập niên 1910s, ở Bắc Trung Kỳ có 3 Tập "Tiếu Lâm An Nam" của tác giả là Thọ An. Thọ An chính là Học giả Phạm Duy Tốn (thân phụ của Nhạc sĩ Phạm Duy). Ông Phạm Duy Tốn thuộc Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí, nổi danh trong nhóm “Quỳnh, Vĩnh, Tố, Tốn” cùng với các ông Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và Nguyễn Văn Tố.

“Tiếu Lâm An Nam” của Thọ An Phạm Duy Tốn có những chuyện mang nội dung giống với chuyện của Petrus Ký và của Phụng Hoàng San và Dương Diếp ở Nam Kỳ.

b) Thơ “Con Cóc” của Nhất Linh

- Trong báo Phong Hóa (Dec, 1932), với đề tài “Thơ Con Cóc”, ông Nhất Linh viết (nguyên văn):
Văn suôi thì bắt chước, mà thơ thì mới lắm. Ông Phương Lan viết:

SAI CON

Mặt bẩn sao không lau?
Con ra lấy cái thau
Đổ nước, mang khăn mặt
Mau!

Nhất Linh xin nối theo một bài:

Ông viết văn trôi chảy
Như con cóc nó nhảy
Nó nhảy trong hang ra
Xong rồi nó ngồi đấy
Ngồi đấy lại nhảy đi
Nhảy đi lại ngồi đấy
Nhảy xong nó lại ngồi
Ngồi chán nó lại nhảy
Cứ thế mãi không thôi
Văn ông nó cũng vậy.

- Trong báo Phong Hóa (số 31 March, 1933), Nhất Linh viết tiếp (nguyên văn):

Ông Công luận trong báo Thực Nghiệp có nói đến bài thơ “con cóc” của tôi. Ông nói là ông không hiểu, ông lại bảo: trên đàn ngôn luận không nhất là nơi đóng hài kịch.

Ông Phan Khôi trong bài “địa vị khôi hài trên đàn văn” có viết:

“Có thông minh mới ra được câu bông lơn có thú vị, mà cũng duy thông minh lắm mới biết ngửi thấy cái thú vị của câu bông lơn hay, chớ còn nói chơi không biết, nói thiệt không hay, thì duy có ngu đần mới như vậy, dân ấy là dân xỏ lá!”.

Câu này xin đem tặng ông Công luận – mà cũng vì thế nên không muốn nói ông Công luận làm gì nữa.
Vậy tôi chỉ nói đến bài thơ của ông Phương Lan, và xin chép lại bài thơ ấy ra đây lần nữa:

Mặt bẩn sao không lau?
Con ra lấy cái thau
Đổ nước, mang khăn mặt
Mau!

Thơ như thế sao gọi là thơ được. Đó chỉ là mấy câu sai con mà có vần. Nó cũng chỉ như thơ con cócmà thôi.

Trên đàn ngôn luận, không phải là nơi đóng hài kịch nhưng chính ông Phương Lang cứ đọc bài thơ đó cho các bạn thân của ông nghe, Nhất Linh lại xin bắt chước ông Phương Lang làm bài thơ như thế nữa:

LẠC QUAN

Trông vào nồi, cơm hết
May còn miếng cháy ròn
Ăn với cá kho mặn
Ngon.

MỪNG KHỎI BỆNH

Tay tôi mụn ghẻ đầy
May sao gập thuốc hay
Bôi được một tuần lễ
Khỏi ngay.

Chắc ông Công Luận phục hai bài thơ này lắm, vì theo ý ông tôi đã tránh được những tiếng cao nhã (mots nobles) mà toàn dùng cái giọng thông thường (langue vulgaire) đi thẳng một hơi trôi chảy vô cùng.

Lạy theo ý ông, Nhất Linh này làm được hai “bài thơ” đó thì nên cứ làm thơ như thế mãi, dù chân lỡ dẫm phải gai thì cũng chớ trùn gan trên con “đường thi bá văn hào”.

c) Thơ “Con Cóc” của Thượng Tân Thị

Thi nhân Tiền Chiến chuyên làm Thơ Mới chống lại Thơ Cũ nhất là thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú. Thơ Lục Bát và Song Thất Lục Bát được nhiều Thi nhân Tiền Chiến áp dụng như Nguyễn Bính và Tương Phố. Các Bài Thơ Mới cũng áp dụng Đường Luật Thất Ngôn Tứ Tuyệt! Do đó theo hiểu biết của các Thi nhân Tiền Chiến chuộng Thơ Mới, Thơ Cũ là Thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú!

Lưu Trọng Lư là người cổ động cho Thơ Mới và đã kích Thơ Cũ (Thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú):

THƠ THÁCH HỌA CÁC CỤ ĐỒ

Đôi lời nhắn nhủ bạn làng Nho
Thơ thẩn thẩn thơ khéo thẫn thờ
Con cóc Nghè Huỳnh đuôi cọc lóc (*)
Nàng thơ Ấm Hiếu mũi thò lò (*)
Chai to chai nhỏ con cầy béo
Câu thánh câu thần đĩa mực khô
Nắn nót miễn sao nên bốn vế
Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ.

(Lưu Trọng Lư)

(*) Chú thích: Nghè Huỳnh = Huỳnh Thúc Kháng. Ấm Hiếu = Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.

Thượng Tân Thị, Phạm Đình Bách và nhất là Quách Tấn ở Trung Kỳ là những Thi nhân Tiền chiến chuyên làm Thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú.

Đây là Thơ trả lời của Thượng Tân Thị.

CON CÓC

Đã mang cái tiếng cậu ông trời
Phải có danh chi để với đời
Le lưỡi loài sâu đều khiếp vía
Nghiến răng giống chấu thảy im hơi
Dông mưa dầm chảy càng hăng hái
Gió bụi xông pha vẫn thảnh thơi
Nghĩ lại nực cười cho những kẻ
Ngâm thơ liên cú chẳng nên lời.

(Thượng Tân Thị)

d) Thơ "Con Cóc" của vua Lê Thánh Tông

Năm 1460, các ông Nguyễn Xí (1396-1465), Đinh Liệt (?-1471), Lý Lăng (con ông Lý Triện) và Lê Niệm (cháu nội Lê Lai) (?-1485) giết vua Lê Nghi Dân và đồng đảng. Ông Lý Lăng muốn lập Cung Vương Khắc Xương nhưng các quần thần đều muốn lập Gia Vương Lê Tư Thành lên làm vua. Cung Vương Lê Khắc Xương từ chối (làm vua). Để thử tài vị Hoàng tử Tư Thành trẻ tuổi nầy (18 tuổi), quần thần xin ông làm một bài thơ. Hoàng tử Tư Thành liền ứng khẩu bài thơ:

CON CÓC

Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi
Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi
Chép miệng nuốt ba con kiến gió
Nghiến răng chuyển động bốn phương trời.

(Vua Lê Thánh Tông)

Thấy được khẩu khí trong bài thơ nên quần thần đồng ý tôn ông làm vua, là vua Lê Thánh Tông.
Những năm sau đó, vua Lê Thánh Tông có viết lại bài thơ Con Cóc:

CON CÓC

Chừ thuở nên thân tấm áo sồi
Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi
Nâng tay mấy phút, oai hùm nép
Tắc lưỡi đôi lần, chúng kiến lui
Mừng thấy đàn con ra chịu ấm
Dễ còn ả Tố kết làm đôi
Miếu đường có thuở vang lừng tiếng
Giúp được dân làng kẻo nắng nôi.

(Vua Lê Thánh Tông)

e) Kết luận

Nhân đọc tất cả Thơ Con Cóc trong văn học sử, thi sĩ ngày nay có cảm nghĩ về Thơ Con Cóc qua bài thơ:

THƠ CON CÓC (Nguyên bản)

Thơ như con cóc cũng là thơ
Tiến bộ tung cao chẳng bá vơ
Đúng luật thi văn gìn cẩn thận
Thẳng đường thi vận tránh ơ thờ
Cóc cần vị lợi, hòa tình ý
Cóc muốn thành danh, thỏa ước mơ
Linh động thi nhân cùng nhảy nhót
Thơ như con cóc dậy hồn thơ.

(Phan Thượng Hải)
2/20/26

Từ Thơ Con Cóc, cũng có Thơ Con Nhái:

THƠ CON NHÁI (Tự họa)

Thơ như con nhái cũng nên thơ
Khỏi phải suy tư nghĩ vẩn vơ
Nhái tựa danh nhân, người kính nể
Nhái theo sáo ngữ, chúng tôn thờ
Từ chương ước lệ sầu thương nhớ
Lãng mạn văn hoa thú mộng mơ
Nối nghiệp thi hào đường chính thống
Thơ như con nhái, nhái thành thơ.

(Phan Thượng Hải)

2/20/26

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn
Bài này là trích đoạn của bài “Giải Luận Thi Văn - Thơ Việt Ngữ” (Bs Phan Thượng Hải) đăng trong phanthuonghai.com

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2026

Sài Gòn Xuân Bính Ngọ 2026 - Bạn Hiền Sài Gòn

Hình Ảnh: Bạn Hiền Sài Gòn


"Có Chở Trăng Về Kịp Tối Nay"


Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay *
(Hàn Mặc Tử)
-----------
(Tung Hoành Trục Khoán)

THUYỀN lướt ven bờ, sóng nhẹ lay
AI người bậu bạn rượu nồng say.
ĐẬU kề "bãi hẹn" buông lơi nhịp
BẾN cận "cầu thề" nắm chặt tay.
SÔNG nước giao tình, loang loáng gợn
TRĂNG mây hiệp ý, lững lờ bay.
ĐÓ ngời vọng ái Mơ Loan Phụng
CÓ CHỞ TRĂNG VỀ KỊP TỐI NAY.

Duy Anh
Nguyên Tiêu 2026

Ngày Mình Quen

 

Áo đùa nắng, thướt tha xuyên khe lá
Anh đùa em: -Tha thướt như hoa xuân!
Nên cả tuần, má hồng phấn giai nhân
Anh lẩn quẩn làm giọt sương quấn quýt.

Ngày kỷ niệm, hoa khoe thêm một đóa
Hương ngọc ngà, thơm quá tình đôi ta
Ngày Mồng Ba! Anh nhớ thương hoài nha!
Thương chi lạ ngày mượt mà, êm ả!

Á Nghi
29-1-2014


Xuân Học Trò

 

(Đà-Nẵng 1956)

Mộng yêu đương tuổi học trò,
Bờ mi ôm ấp bóng hình ai!
Đôi môi mọng đỏ, hoa lòng nở,
Mãi mãi thương nhau mộng ban đầu.

Vườn xuân em ráng trồng mai cúc,
Phượng vĩ đỏ đường nhớ đợi anh.
Vần thơ thu ấy ôi sầu mộng,
Để rồi giá buốt một chiều đông!

Đã biết rằng, thôi tình đã chết,
Quán trọ lang thang kẻ độc hành.
Gieo chi màu thắm buồn chan chứa,
Nghiêng bóng thời gian trăng ngậm vành!

Chiều nay hồi họp, bờ mi đọng,
Dệt bóng hình ai, má ửng hồng.
Bên đèn thỏ thẻ, tình muôn thuở..
Mãi mãi thương nhau mộng ban đầu!


Tô Đình Đài

( Tập thơ Tình-yêu )


Ngày Xuân Thơ Thẩn



Xướng (Ngũ Thủ)

1
Tết đến ngồi trông áo Mẹ khâu
Đường kim loáng bạc ánh đèn dầu
Ân cần vuốt mũi, chờ thêm chút
Từ tốn xoa đầu, đợi ít lâu
Cảnh khiến non xanh thành bãi đá
Đời xui biển thẳm hóa cồn dâu
Ngùi thương mộ Mẹ giờ hoang vắng
Mắt nhạt nhòa dâng giọt tủi sầu
2
Người xưa đã đến chốn thiên đường
Em lại đang dầu dãi gió sương
Tết đến khuôn vàng phai bóng nguyệt
Xuân về nét ngọc úa vầng dương
Xa bầy yến vẫn hằng lưu luyến
Lẻ bạn oanh còn mãi nhớ thương
Đất khách thân côi ngùi viễn xứ
Phòng đơn giá lạnh buốt canh trường
3
Tết ngóng ai về nắm chặt tay
Xuân trao tâm sự thiết tha nầy
Niềm thương nén lại người đâu biết
Nỗi nhớ dâng trào bậu có hay
Mãi sợ thay mùa đông úa lá
Hằng e đổi tiết hạ tàn cây
Ngờ đâu hạnh phúc như bào ảnh
Một thoáng anh đà khuất nẻo tây
4
Dạ nhớ người thương nhớ ngút ngàn
Đầu xuân khách địa đón mùa sang
Quần nhung áo đỏ lười trau chuốt
Má phấn môi hồng biếng điểm trang
Bến Giác ai về vui rẽ lối
Sông mê kẻ ở tủi chia đàng
Anh đi hạc tiễn miền tiên cảnh
Em vẫn trông phà để quá giang
5
Xuân nầy chẳng biết đã bao xuân
Trừ Tịch khoan thai đến thật gần
Làn khói vờn quanh hình phụ mẫu
Mùi hương tỏa khắp ảnh thân nhân
Đêm ngày chuyển vận đời phai úa
Thời tiết vần xoay tóc rụng dần
Thành bại công danh hư thực đó
Tiền nong sản nghiệp chỉ phù vân!

ThanhSong ntkp

Chiều 30 Tết (Âm Lịch)

 
 

 Hôm nay ngày cuối năm
Ngoài trời mưa tối tăm
Mưa càng tuôn xối xả
Không thể ngồi chống cằm

Đơm bàn Phật bông hoa
Đặt lên bánh trái quà
Hình tứ thân phụ mẫu
Mắt cay dường muốn nhòa

Nấu đầy các món chay
Vội vã chạy theo ngày
Nén nhang thành kính khấn
Năm Bính Ngọ vui vầy

Chè xôi đợi giao thừa
Hiên thềm lạnh và mưa
Lên tàu về quá khứ
Nỗi nhớ kể sao vừa

Gần xong một đời người
Xuân nào cũng đẹp tươi
Không che màu tóc bạc
Khiêm tốn giảm nụ cười

Chúc Tết những lời quen
Trí tuệ sáng soi đèn
Trời ban Phước, Lộc, Thọ
Tâm lành ngát hương sen

Minh Thúy Thành Nội
Chiều cuối năm (Âm Lịch)
Tháng 2/ 16/2026

Tết Và Mẹ

  

Sau những ngày đông rét mướt kéo dài, Tết lại sắp về theo luật tuần hoàn của đất trời. Trước sự hồi sinh của vạn vật và sự lặp lại vô tận của thời gian, tôi cảm thấy nhớ mẹ vô cùng. Khi rời xa anh chị em chúng tôi về bên kia thế giới, người đã để lại trong tôi một khoảng trống vô hình, để rồi mùa xuân không còn tồn tại trong cảm nhận của riêng tôi. Mẹ ra đi là mùa xuân không về nữa.

Mùa xuân như là một nguyên cớ để tôi nhớ mẹ thêm, và những hình ảnh êm đềm nhất lại trở về như vẫn còn đây hơi ấm thân yêu của mẹ. Những ngày Tết khi còn mẹ rộn rã và nao nức biết bao. Những ngày cuối năm thuở ấy, mẹ lúi húi suốt ngày lo lau chùi nhà cửa, lo hương khói trên bàn thờ Phật. Sáng sớm cuối tháng chạp mẹ đi mua hoa quả để đặt trên bàn thờ, làm cả gian thờ trong ngày giáp Tết đẹp trang trọng, uy nghi và ấm cúng. Mẹ lại ngâm nếp, ngâm đậu để nấu bánh. Đêm ba mươi mọi người quay quần bên nhau nói cười rộn rã, người chẻ lạt, người lau lá gói bánh. Tôi nhớ bếp lửa nấu bánh chưng làm ấm cả ngôi nhà, hạnh phúc thắp lên trên gương mặt những người thân yêu. Nhớ những đêm ba mươi Tết, bao giờ mẹ cũng dặn dò các con kiêng cữ mọi điều để cầu an lành cho cả năm. Cả trong những năm tháng chiến tranh tàn khốc hay những lúc cuộc sống gia đình trở nên khó khăn chật vật khi cha vắng nhà, mẹ vẫn cố gắng hết sức để tạo ra niềm hạnh phúc ấm êm trong gia đình nhỏ của chúng tôi. Dù vất vả thế nào, Tết về mẹ vẫn may cho chúng tôi những chiếc áo mới, khi mặc vào còn thơm mùi vải. Lúc đó, chúng tôi hạnh phúc biết bao trong tình yêu thương chăm chút của mẹ. Sáng mồng 1, bao giờ mẹ cũng ngồi với cả đàn con vây quanh, rồi mẹ bắt đầu phát phong bao lì xì đầu năm cùng lời chúc may mắn và một cái xoa đầu đầy yêu thương. Khi đó, trong mắt mẹ ánh lên sự trìu mến vô bờ của tình mẫu tử sâu đậm và bao la. Chúng tôi sống ngập tràn trong tình yêu thương của mẹ và không bao giờ nghĩ rằng rồi một ngày người sẽ ra đi, bỏ lại chúng tôi bơ vơ nơi thế gian.

Sau nầy dù sống xa cả hơn nửa vòng trái đất, nhưng hàng năm mỗi khi Tết đến, tôi thường trở về quê cha, nơi mà cha mẹ và các em tôi đang nương náu, để cùng các em sống lại nếp xưa bên mẹ. Trở về để tận hưởng mùi thơm của nồi bánh chưng xanh, để vẫn được nghe lời chúc ấm áp yêu thương từ mẹ. Bởi vì dù cuộc sống hiện đại đầy náo động và đáp ứng đầy đủ những nhu cầu của con người về tiện nghi lẫn vật chất, nhưng không gì có thể thay thế được không khí ấm cúng của gia đình đoàn tụ trong ngày Tết. Chị em chúng tôi lại đắm chìm trong mùi hương trầm của phương Đông níu giữ cõi tâm linh, hướng đến chân thiện mỹ của Phật tánh. Ngày Tết bao giờ cũng là cuộc hành hương lớn nhất của những người con xa xứ. Chúng tôi trở về tổ ấm yêu thương mà không nơi đâu khác trên trái đất này có được, bởi nơi đó có mẹ tôi mong ngóng sớm chiều. Với tôi, mẹ là vốn liếng yêu thương, là biển trời lai láng.

Khi các con vẫn còn chung sống, mỗi lúc Tết về tôi cũng bày biện mâm ngũ quả, cũng bánh chưng xanh, cũng những lời dặn dò con cái kiêng cữ y như cách mẹ đã dạy chúng tôi. Tuy nhiên có một điều không bao giờ trở lại, đó là mẹ và tuổi thơ tôi với những ngày sống ở Việt Nam xa xưa. Phải chăng khi người ta trưởng thành, những ưu tư của đời sống và sự cô đơn đã làm cho ta thêm muộn phiền. Sự hồn nhiên đã ra đi, mang theo những tiếng cười vô tư, mùi hương áo mới, những bao lì xì đỏ từng nhuộm thắm giấc mơ của tuổi ngây thơ.

Nhưng theo quy luật của trời đất, Tết lại trở về!

Mỹ trí tử


Thứ Ba, 3 tháng 3, 2026

Dấu Chân Trên Cát - Thơ: Hồ Triều Lam - Nhạc: Vĩnh Điện - Trình Bày: Phạm Cao Tùng

Thơ: Hồ Triều Lam
Nhạc: Vĩnh Điện
Trình Bày: Phạm Cao Tùng

Áo Không Màu

 

Tết đến rồi sao, buồn hay vui?
Ta chọn áo màu, xanh mây trời
Màu thời gian, chất chồng ký vãng
Màu nhan sắc phai tàn, lứa đôi?

Anh thích màu gì, tình thủy chung?
Hay màu ngất ngây, màu trăng rừng?
Màu mực tím buồn như lệ đắng
Màu mắt em ngàu cùng gió đông?

Hay để em mặc áo màu vàng
Điểm tươi màu thục nữ hiền ngoan
Cho anh ngắm mãi màu mê đắm
Nét em, khờ khạo, mà đài trang

Tết xưa em mặc áo không màu
Cùng theo năm tháng trốn mùa đau
Gởi anh tình muộn trong màu nhớ
Và những ngày xa, sầu thêm sầu.

Mỹ trí tử