Nhạc Và Lời: Phạm Anh Dũng
Hòa Âm:Duy Cường
Tiếng Hát: Quỳnh Giao
Thực Hiện:Hoàng Khai Nhan
tiêu đề Nhãn
- BIÊN KHẢO
- CÂU ĐỐI
- CỔ THI
- GIA CHÁNH
- GIẢI TRÍ
- HÌNH ẢNH HỘI NGỘ
- HÌNH ẢNH NAY
- HÌNH ẢNH XƯA
- HỘI HỌA
- KHOA HỌC
- LƯU NIỆM
- LỊCH SỬ
- LỜI HAY Ý ĐẸP
- NHẠC
- SƯU TẦM
- SỨC KHOẺ
- THƠ
- THƠ CẢM TÁC
- THƠ DIỄN NGÂM
- THƠ DỊCH
- THƠ NHẠC
- THƠ PHỔ NHẠC
- THƠ SƯU TẦM
- THƠ TRANH
- THƠ TRANH NGHỆ SĨ
- TIN BUỒN
- TIN VUI
- VĂN
- VŨ HỐI THƯ HỌA
- VƯỜN THƠ VIÊN NGOẠI
- XƯỚNG HỌA
- YOUTUBE
Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026
Mai Vàng Tháng Tư

Ảnh: Kim Phượng
Tháng Tư, đang là mùa Hạ, trên cành còn sót lại cánh Mai vàng nho nhỏ... hoa XuânBây giờ là tháng Tư
Em mai vàng cánh mỏng
Còn sót lại trên cành
Mong manh đời bơ vơ
Phải chăng em thầm ý
Mang chờ xuân trở lại
Rồi sẽ là mùa xuân
Một xuân xưa trở lại
Trên trang đầu mùa hạ
Phượng màu áo đơn sơ
Những dư âm ngày cũ
Ước nguyện ngỡ hồ quên
Em mai vàng cánh nhỏ
Còn sót lại trên cành
Trên trang đầu mùa hạ
Vòng tay ai nhẹ khép
Hồn xưa mãi ngậm ngùi
Nghe trời mưa mưa rơi
Khép ngủ trong tay người
Mai vàng...mai vàng ơi!
Kim Phượng
9.4.2026
Kiếp Tạm

Đã biết rồi đây cũng sẽ đi
Vậy còn lo lắng nữa làm gì
An vui suốt tháng ngày tương ngộ
Thanh thản trọn giờ khắc biệt ly
Danh lợi rồi tàn theo ảo ảnh
Đời người thoáng tựa vó câu phi
Tranh giành ganh ghét nay bừng tỉnh
Rong ruổi một đời một kiếp si
Quên Đi
Tôi Đã Khóc (Dư Thị Diễm Buồn) - I Have Cried (Thanh Thanh)
Tôi đã khóc từ khi rời lòng mẹ
Sợ hay mừng đời đã tiếp nhận tôi
Và từ đó một hình hài nhỏ bé
Lớn khôn dần ngọt sữa mẹ thơm môi
Tôi đã khóc mẹ dãi dầu cơ cực
Vì cha còn nặng nợ bước chinh nhân
Nghĩa hy sinh trong tim người thắm rực
Dưỡng dục con còn lận đận nuôi chồng
Tôi đã khóc mẹ ra đi vĩnh viễn
Bởi giặc về cày nát xóm thôn
Những đạn pháo vô tình gây tai biến
Người đớn đau quằn quại trút linh hồn
Tôi đã khóc tối ba mươi hôm đó
Tháng tư buồn vụn vỡ bảy mươi lăm
Những con tàu vượt trùng dương sóng gió
Chở bao người mang thống khổ hờn căm
Tôi đã khóc được tin anh ngã gục
Trong trại giam cải tạo tận Miền Trung
Muời mấy năm, niềm tin không rã mục
Chí kiên cường khó lay động chuyển rung
Tôi đã khóc cảnh quê nhà điêu đứng
Mỗi địa danh mang chiến sử oai hùng
Đã bao đời ông cha ta gầy dựng
Nay còn chăng những hoang phế tàn vong
Tôi đã khóc suốt quãng đời lưu lạc
Khóc cho người và khóc cả cho tôi
Bao tang tóc, bao lầm than dân tộc
Đoạn trường này còn khóc mãi khôn nguôi
Dư Thị Diễm Buồn
***
Dịch Thơ:
I Have Cried
I began to cry on coming into this world here,
When life received me, anyhow for joy or for fear;
And thenceforth a small shape, this, has through skips
Grown up out of Mom’s sweet milk and scented lips.
I wept witnessing my Mom so poor and miserable
While my Dad was doing his soldier’s duty venerable.
Her sense of sacrifice she kept her heart warm to arouse,
Bringing up their kids and also catering to her spouse.
I then had to moan when my Mom passed away
As the enemy came to hamlets destroy and people slay,
The insensible bullets and shells to human bodies sever:
How she writhed in agony to part from us for ever.
I also sobbed that night, defeated by the hostile drive,
Of the broken April thirtieth, nineteen seventy five.
The frail boats crossed the windy and wavy ocean
To carry those souls with resentment-filled emotion.
I again mourned for my brother who deceased
In the Central Region’s prison, ill-treated like a beast;
Over ten odd years his belief had become perpetuation,
Thus had not been shaken by the adverse situation.
I have lamented seeing our homeland distressed,
Each place-name a majestic feat – They are so blessed.
Thru many generations our ancestors’ proud display
Now remains, alas! if not decline, mere decay!
I have bewailed all my adrift life – For them, for you,
I have cried for my compatriots and for myself too.
Deaths and grief aim at our people’s heart to rend,
In this poor plight I might continue to cry without end.
Translation by ,Thanh Thanh
Giữ Giùm Tôi Tuổi Thơ -Thơ Võ Thị Trúc Giang Lúa 9 - Phổ Nhạc:Hoàng Hoa
Bến phà Rạch Miễu (Ferry) Bến Tre,Jan 1969
Nhân dịp tưởng niệm 51 năm Biến cố 30 tháng 4 năm 1975, Lúa 9 xin đóng góp vài lời.
...Có lần về thăm quê hương, cô bạn thân than vản:
-Cái số tao vất vả, mầy thì sướng thấy mồ, được ra ngoại quốc, vật chất đầy đủ…
Ra-xứ-người-có-được-vật-chất-đầy-đủ? Khi vật chất đầy đủ có phải “đủ?” Mình có thấy “thiếu” gì không? Có! Tình thấy sung sướng, nhất là thoải mái về tinh thần không bị kiềm kẹp, không bị bắt viết khai lý lịch, bị kiểm thảo, nhưng ngược lại nàng “thiếu” tình quê hương, thiếu tình gia đình, thiếu bạn bè, ôm nỗi nhớ nhà , nhớ quê hương, nhớ cha mẹ, nhớ bạn bè triền miên, bỏ nước ra đi tức là cuộc đổi chác lớn. Như một đứa con bị tách rời xa cha mẹ thành những đứa con mồ côi, vất vả nơi xứ người, gửi tiền về giúp gia đình như mọi người tỵ nạn khác.
Anh lính Thủy Quân Lục Chiến trẻ oai hùng năm xưa cầm súng giữ quê hương, ngày nay làm người thua cuộc, như trăm ngàn người chiến sĩ của quân lực VNCH có lẽ trải qua trại học tập cãi tạo, nay anh rã rời kiếm sống lây lất bên lề cuộc đời, bán vé số hoặc đạp xe xích lô, nhưng với Tình, anh vẫn là một mối tình đẹp trong sáng ngây thơ tuổi nhỏ. Văng vẳng đâu đây câu hát của Trần Thiện Thanh “Đời không như là mơ, nên người đời thường giết chết mộng mơ”.
Một văn hào người Đức Nitsch đã nói “Denken Sie daran, zu vergessen!” Hãy nhớ là quên đi. Quên đi tức là buông bỏ đi những phiền muộn, nhưng mỗi lần về thăm quê hương và mỗi lần lại ra đi, Tình thấy như mình mất dần một phần đời còn lại của mình, tuổi đời càng thu ngắn lại. Niềm đau phải bỏ nước ra đi Lưu Vong, là đánh đổi tất cả. Bước lên con phà Rạch Miễu theo làn sóng người, phà chầm chậm rời Bến Tre sang Mỹ Tho, làn gió mát rượi từ mé sông lùa vào tóc, chợt ký ức hiện về mỗi lần sang sông đi học sư phạm, nhớ ơi là nhớ cô bạn có nốt ruồi dễ thương tên Phương, nàng không biết là chúng nó có nhớ là hãy-nhớ-là-quên-đi, hay là những kỹ niệm nằm hoài trong ký ức tuổi học trò, không bao giờ quên được nếu trái tim còn thở, còn nhớ về quê hương thân yêu.
Kỷ niệm 51 năm kể từ Biến cố 30 Tháng 4 năm 1975, hồi tưởng lại kỷ niệm xưa, chúng mình hãy buông bỏ đi những muộn phiền nhé An Tịnh, nhé Trinh, nhé Huỳnh, Bích, Phương, Quang, Ánh…
Quên đây tức là buông bỏ cho tâm hồn mình thanh thản, chứ tao biết những kỷ niệm thời tuổi thơ là báu vật, không bao giờ quên. Hãy ôm lấy nó để tìm chút ấm áp cho tâm hồn mỗi khi cảm thấy cô đơn như tao đêm nay tại Âu châu.
Còn phe thắng cuộc, họ có nợ chúng ta một lời xin lỗi không? Tình mang ý tưởng đó đi vào cuộc đời, như một lời trách cứ. Chờ đợi.
Võ Thị Trúc Giang Lúa 9
**Trích truyện „Cho Tao Một Lời Xin Lỗi“
Mời thưởng thức bài hát Giữ Giùm Tôi Tuổi Thơ“ Thơ Võ Thị Trúc Giang Lúa 9 -Nhạc: Hoàng Hoa
Niềm Đau Trên Đất Nước Tôi
Đọc vài bài nước mắt đã đọng mi
Niềm xót xa thương nhớ cảnh biệt ly
Xin hỏi nhỏ...phải chăng là sự thật ?
Thuở sơ sinh đã chịu nhiều mất mát
Mở mắt chào đời trong biển chiến tranh
Cùng một màu da sao mãi giựt giành
Biến đất Mẹ thành mồ chôn tử sĩ
Mở mắt chào đời trong biển chiến tranh
Cùng một màu da sao mãi giựt giành
Biến đất Mẹ thành mồ chôn tử sĩ
Rồi bão tố triền miên không ngưng nghỉ
Lụt lội, thiên tai tật bệnh hoành hành
Giết mòn đi bao nhuệ khí đấu tranh
Cả vận nước, cả cơ đồ điên đảo...
Tìm lẽ sống tìm chén cơm manh áo
Giết mòn đi bao nhuệ khí đấu tranh
Cả vận nước, cả cơ đồ điên đảo...
Tìm lẽ sống tìm chén cơm manh áo
Mua tự do...đánh đổi cả cuộc đời
Mơ thiên đàng thành tử biệt đôi nơi
Thêm lần nữa ...xác người trôi biển cả...
Hàng vạn linh hồn chết không mồ mã
Mơ thiên đàng thành tử biệt đôi nơi
Thêm lần nữa ...xác người trôi biển cả...
Hàng vạn linh hồn chết không mồ mã
Đêm từng đêm réo gọi dậy trùng dương
Sóng bạc đầu vùi lấp xác người thương
Hồn sông núi gục đầu ... đau tiễn biệt !!!
Một dân tộc bốn nghìn năm văn hiến
Sóng bạc đầu vùi lấp xác người thương
Hồn sông núi gục đầu ... đau tiễn biệt !!!
Một dân tộc bốn nghìn năm văn hiến
Chống bạo cường cho mãi đến ngày nay
Kiếp nhân sinh nếm mọi thứ tù đày
Thương dân Việt nay sức mòn lực kiệt
Những tưởng được bình yên trên nước Việt
Thương dân Việt nay sức mòn lực kiệt
Những tưởng được bình yên trên nước Việt
Cho an lòng bao kẻ mất quê hương
Nào ngờ đâu ...con tạo quá nhiễu nhương
Đất bằng dậy sóng biển ôm xác người
Bao nhiêu cơn bão chôn vùi
Mấy nghìn dân Việt chẳng lời trối trăn
Giọt sầu biển khóc ăn năn
Lệ rơi trên đá ngàn năm đá buồn
Tha nhân mất cội mất nguồn
Muôn năm vương mãi ...sợi buồn...trong thơ !!!
nguyễn phan ngọc an
2025
Nào ngờ đâu ...con tạo quá nhiễu nhương
Đất bằng dậy sóng biển ôm xác người
Bao nhiêu cơn bão chôn vùi
Mấy nghìn dân Việt chẳng lời trối trăn
Giọt sầu biển khóc ăn năn
Lệ rơi trên đá ngàn năm đá buồn
Tha nhân mất cội mất nguồn
Muôn năm vương mãi ...sợi buồn...trong thơ !!!
nguyễn phan ngọc an
2025
Đêm Nhạc Hoài Niệm Tháng Tư (Phần II)
.jpeg)
Anh Phạm Gia Nghị bước lên sân khấu, không cần giới thiệu dài dòng, không cần tạo dáng hay lấy đà. Chỉ cần thấy anh cầm micro, cả khán phòng đã biết điều gì sắp đến. Anh là một trong những giọng ca kỳ cựu của cộng đồng: ấm, dày, truyền cảm, và nhất là hát bằng trái tim của một người đã đi qua nhiều năm tháng mang tiếng hát đến cho các cụ ông cụ bà trong những viện dưỡng lão.
Khi anh cất tiếng hát “Em Gắng Chờ”, cả khán phòng như trở lại với những bến bờ năm cũ — nơi biết bao người vợ đã tiễn chồng ra trận trong nghẹn ngào, nơi những lời hứa đoàn tụ được gửi gắm vào một tương lai không ai dám chắc. Bài hát không chỉ là chuyện của đôi lứa, mà là câu chuyện của cả một thế hệ đã sống bằng niềm tin, chờ đợi và thủy chung: Trên bến năm xưa ngày nào, em tiễn đưa anh nghẹn ngào, nhìn nhau bâng khuâng nao nao, ôi buồn sao. Em gắng mong anh ngày về. Khi ánh vinh quang tràn về. Là khi quê hương thân yêu thôi lầm than.
Trong không gian của Hoài Niệm Tháng Tư, ca khúc ấy vang lên như một lời nhắc: tháng Tư không chỉ cướp đi một quốc gia, mà còn cướp đi những cuộc đời dang dở, những mái ấm chưa kịp xây lại, những lời hẹn “ngày vinh quang trở về” mãi mãi không thành. Và chính vì thế, tiếng hát của anh - ấm, dày, chân thành — đã chạm vào nỗi đau chung của tất cả chúng ta: nỗi đau của những người đã mất quê hương và mất cả những người mình yêu thương nhất.
Nhưng trong nỗi buồn ấy vẫn có một vẻ đẹp: vẻ đẹp của sự thủy chung, của lòng son sắt, của những người đã yêu nhau bằng tất cả trái tim, ngay cả khi chiến tranh và lịch sử không cho họ một cái kết trọn vẹn.
Khi bài hát kết thúc, cả phòng vỗ tay rất lâu. Không phải chỉ vì anh hát hay, mà vì anh đã chạm đúng vào điều mà tháng Tư nào cũng nhắc lại: chúng ta là những người đã phải rời xa, nhưng chưa bao giờ thôi chờ đợi — chờ một ngày được trở về, chờ một ngày quê hương thật sự bình yên: Quên tháng năm qua đợi chớ . Tay nắm tay nhau hẹn hò. Chung đắp xây lại cuộc đời thái hòa.
Cặp Thu Hằng Thiện Triệu hát tiếp tour 2 với bản nhạc “Trả Lại Em Yêu”. Các bạn ơi, tháng Tư không chỉ là ngày mất nước. Tháng Tư còn là ngày mất tuổi trẻ, mất giảng đường, mất những mối tình đầu chưa kịp lớn.
Khi đôi song ca cất tiếng hát “Trả Lại Em Yêu”, bạn và tôi bỗng thấy chính mình trong từng câu hát. Những hình ảnh khung trời Đại Học, con đường Duy Tân, cư xá, công viên… không còn là lời ca nữa, mà là tuổi trẻ của chúng ta, một tuổi trẻ chưa kịp sống cho trọn đã phải gấp lại vì tiếng gọi của thời cuộc.
Ngày ấy, bạn và tôi như bao sinh viên khác: tuần này còn ngồi trong giảng đường, tuần sau, tháng sau đã cầm giấy nhập ngũ. Tình yêu, bạn bè, mái trường, tất cả đều dang dở. Vì chiến tranh không cho phép chúng mình chọn lựa. Một ly chanh đường, một nụ cười, một cái nắm tay… rồi lại chia xa.
Trong không gian Hoài Niệm Tháng Tư hôm nay, bài hát ấy vang lên như một nhát cắt vào ký ức. Nó nhắc bạn và tôi nhớ rằng tháng Tư không chỉ là ngày mất nước, mà còn là ngày chúng mình mất tuổi trẻ, mất những giấc mơ còn chưa kịp gọi tên. Nỗi đau ấy cao vời, và đúng như lời ca, nó kéo dài suốt cả đời người.
Nhưng giữa nỗi buồn, vẫn có một điều đẹp: chúng mình đã sống, đã yêu, đã giữ trọn lời hứa của một thế hệ biết hy sinh, làm tròn trách nhiệm của người trai trong thời loạn, chống giặc xâm lăng. Và khi nghe “Trả Lại Em Yêu”, chúng mình như nghe nỗi đau của chính mình - nỗi đau cao vời, nỗi đau còn dài - nỗi đau của một thế hệ bị đánh cắp tuổi trẻ vào tháng Tư năm ấy.
Đến phiên chị Thu Oanh bước lên sân khấu với bản “Lính Mà Anh”. Một bản nhạc vui nhộn, dí dỏm và đầy sức sống. Điệu Paso làm cho cả khán phòng òa vui lên, còn tôi thì thích thú mỉm cười, vừa nhịp nhân vừa nhúc nhích thân người. Ai từng là lính mà không thích bài này mà bất cứ người lính của binh chủng nào cũng thích không riêng gì của Hải Quân. Vì người quân nhân nào lại không muốn có vài ba ngày phép về thăm người mình yêu thương. Dù bài hát nói về người lính Hải Quân với những câu chuyện rất riêng — tàu lắc lư, trăng đại dương, thư tình viết muộn, nhưng thật ra, lính nào nghe cũng thấy mình trong đó.
Bởi cái tinh thần của bài hát không phải chỉ là chuyện biển khơi, mà là chuyện của mọi người lính: đi xa, nhớ nhà, nhớ người yêu, mong một ngày được về phép để gặp lại nhau. “Ngày nào về bến bên nhau, chúng ta thương thật nhiều” – Rất đơn giản. Câu ấy đâu chỉ dành cho Hải Quân; nó là lời hẹn của tất cả những người lính trẻ ngày ấy, bất kể thuộc quân chủng nào.
Vì thế, khi chị cất tiếng hát, khán phòng như sáng lên. Điệu Paso vui nhộn làm người nghe muốn kéo nhau ra sàn nhảy, nhưng đằng sau sự vui ấy vẫn thấp thoáng một nỗi nhớ rất lính: nhớ những ngày hành quân dài, nhớ những lá thư viết vội, nhớ những lần về phép hiếm hoi mà ai cũng mong đợi như một món quà hiếm quý.
Trong không gian Hoài Niệm Tháng Tư, bài hát ấy trở thành một khoảnh khắc nhẹ nhàng, như một làn hơi tươi mát giữa những ký ức nặng trĩu. Nó nhắc chúng ta rằng, dù chiến tranh có khắc nghiệt đến đâu, người lính vẫn giữ được sự hồn nhiên, lạc quan, và nhất là trái tim luôn hướng về người mình thương. Và chính điều đó làm cho “Lính Mà Em” trở thành bài hát của mọi quân chủng: vì lính thì giống nhau ở một điểm: yêu chân thành, nhớ da diết, và sống hết mình cho cả nhiệm vụ lẫn tình yêu.
Lúc này chị Phương Lan lên sân khấu, cùng chồng Nguyễn Hòa đứng bên cạnh, song ca bản “Đêm Chôn Dầu Vượt Biển”của NS. Châu Đình An, cả hai ăn mặc lam lũ, như thể vừa bước ra từ một đêm vượt biên năm nào. Chỉ nhìn họ thôi, cả khán phòng cũng lặng đi. Vì ai trong chúng ta, những người từng sống qua thời ấy, mà không nhớ lại cảnh vợ chồng, con cái dắt díu nhau lầm lũi rời quê hương trong bóng tối, chỉ với một hy vọng mong manh là tìm được bến bờ tự do.
Khi họ cất tiếng hát, từng câu từng chữ như mở lại một cánh cửa ký ức mà nhiều người tưởng đã khóa chặt. Đó là tiếng lòng của những người đàn ông phải bỏ lại sau lưng cả một đời, cả một quê hương. Đó là tiếng nức nở của những người vợ không ngờ có ngày phải chia tay chồng trong một đêm mịt mù, không biết rồi đây ai còn ai mất. Đó là tiếng khóc nghẹn của những đứa trẻ chưa hiểu gì, chỉ biết nắm chặt tay cha mẹ để không bị sóng cuốn đi.
Trong không gian Hoài Niệm Tháng Tư, bài hát ấy không chỉ là một tiết mục văn nghệ. Nó là một lời chứng. Một lời chứng cho những đêm biển động, cho những chiếc ghe nhỏ bé giữa trùng dương, cho những người đã đi mà không bao giờ đến được bến bờ tự do. Và cũng là lời chứng cho những người đã đến được - nhưng mang theo trong tim cả một đại dương nước mắt.
Tôi ngồi đó, bất động, nghe mà thấy lòng mình rưng rưng. Vì tôi biết, và mọi chúng ta đều biết: con số đến được bến bờ chỉ là một phần nhỏ. Còn biết bao nhiêu người đã nằm lại giữa biển khơi, không một nấm mồ, không một lời tiễn biệt. Tháng Tư vì thế không chỉ là ngày mất nước, mà còn là ngày chúng ta mất đi quá nhiều người thân yêu, mất đi cả một phần linh hồn của dân tộc.
Kế đến là chị Tuyết Trang bước lên sân khấu, giản dị đến mức tưởng như chị chỉ đang đứng trong phòng khách của nhà mình. Không chải chuốt, không phô diễn, không cố lấy lòng ai. Chị chỉ hát, như một người đang kể lại nỗi lòng của mình cho những người bạn cũ sau bao năm xa xứ.
“Có thấy bơ vơ ngày tháng đợi chờ…” - chị hát không tròn trịa, đôi chỗ hụt hơi, đôi chỗ không lên được cao độ. Một chút gì không mấy tự tin. Nhưng lạ thay, chính sự không hoàn hảo ấy lại làm cho bài hát trở nên chân thật đến nao lòng. Vì đây không phải là sân khấu để thi thố tài năng. Đây là nơi mỗi người mang đến một bài hát, như chia sẻ một phần đời của mình, để cùng nhau nhớ lại tháng Tư năm ấy.
“Em Còn Nhớ Mùa Xuân” của Ngô Thụy Miên vốn đã là một bài hát đẹp, lời đẹp, giai điệu đẹp, nỗi buồn cũng đẹp. Nhưng khi chị hát, cái đẹp ấy trở thành một nỗi bâng khuâng rất thật: nỗi nhớ những mùa xuân đã mất, nỗi nhớ một quê hương không còn như xưa, nỗi nhớ những tháng ngày bơ vơ giữa cuộc đời mới.
Cả khán phòng lặng đi, rồi vỗ tay thật lâu. Không phải vì chị hát hay, mà vì chị hát bằng trái tim. Và trong không gian Hoài Niệm Tháng Tư, điều đó quý hơn mọi kỹ thuật, mọi hoàn hảo. Bởi chúng ta đến đây không phải để nghe những giọng ca chuyên nghiệp, mà để nghe lại chính mình, nghe lại những mùa xuân đã trôi qua, nghe lại những nỗi bơ vơ mà mỗi người đều từng mang theo khi rời quê hương.
Đến phiên anh Quốc Quang trình bày bản “Sài Gòn Bây Giờ Buồn Không Em”, giọng trầm và ấm, là một trong những người được xem là hát hay trong chúng bạn. Anh chọn một bài mà nhiều người trong khán phòng có lẽ chưa thật quen thuộc, nhưng chỉ cần vài câu đầu, ai cũng cảm nhận được nỗi buồn trong đó: nỗi buồn của một người xa Sài Gòn quá lâu, nhớ quá nhiều, mà không biết quê nhà bây giờ ra sao.
Những câu hát như “Sài Gòn bây giờ buồn không em… em còn hong tóc bên thềm… em còn đợi chờ ngoài hiên vắng…” không chỉ là lời hỏi một người con gái. Đó là lời hỏi cho một thành phố. Một thành phố từng là tuổi trẻ, là tình yêu, là hơi thở của biết bao người trong chúng ta. Hơn một lần anh hứa sẽ quay về - nhưng mười năm, hai mươi năm, rồi cả đời… ngày ấy vẫn xa xôi.
Bản nhạc, theo cảm nhận của tôi, không phải là một tác phẩm xuất sắc. Nó chỉ xoay quanh thương nhớ, chia ly, nuối tiếc. Nhưng chính vì vậy mà nó lại hợp với không gian Hoài Niệm Tháng Tư. Vì tháng Tư nào mà không có những nỗi buồn như thế. Người đi thì thương nhớ đã nhiều, nhưng người ở lại mới là người mang nỗi buồn dài nhất, nỗi buồn nhìn thành phố đổi thay, nhìn những gì thân yêu dần mất đi trong cái tên mới vô cảm.
Anh hát không cố phô diễn, chỉ để cho giọng trầm ấm của mình chảy theo từng câu chữ. Và chính sự chân thật ấy làm người nghe lặng đi. Không phải vì bài hát hay, mà vì nó gợi lại một câu hỏi mà mỗi người Việt xa xứ đều từng tự hỏi trong lòng: “Sài Gòn bây giờ… buồn không?”
Một cặp bạn cùng một lứa trong ĐHYK, anh Lê Hồng Sơn và anh Phạm Quang Tố, bước lên sân khấu. Họ không ăn mặc cầu kỳ, không diễn, không cố làm cho hay. Họ chỉ đứng cạnh nhau - như hai người lính đứng cạnh nhau trong một ngày định mệnh. Trước khi hát “Giã Từ Vũ Khí”, anh Quang Tố thay mặt bạn mình và các bạn đồng khóa gởi lời chúc sớm bình phục đến một người bạn chung là anh Vũ Quốc Phong. Bài hát ấy vốn đã đẹp, đã buồn, đã mang theo cả một trời tâm sự của người lính. Nhưng khi được hát bởi hai người bạn từng cùng tuổi trẻ, cùng giảng đường, cùng khoác áo lính… nó trở thành một lời tiễn biệt không chỉ dành cho vũ khí, mà dành cho cả một thời thanh xuân.
Theo tinh thần của bài hát, người lính trong câu chuyện được cho về nhà vì đất nước đã thanh bình. Một giấc mơ giản dị mà bất cứ người lính nào cũng từng mang trong tim: “Rồi anh sẽ dựng căn nhà xưa - Rồi anh sẽ đón cha mẹ về - Rồi anh sẽ sang thăm nhà em – Với miếng cau, với miếng trầu- Ta làm lại từ đầu…”. Nhưng chúng ta, những người đã sống qua tháng Tư 1975, đều biết rằng giấc mơ ấy chưa bao giờ thành sự thật
Thay vì hòa bình, là những trại tù cải tạo. Thay vì đoàn tụ, là chia ly. Thay vì ấm no hạnh phúc, là nghèo đói phân chia ngụy quân ngụy quyền, là hộ khẩu, phiếu thực phẩm, hợp tác xã, là kinh tế mới, đổi tiền, là chiến dịch đánh tư sản mại bản. Để xuống hồ cả nước…
Thay vì được trở về trong danh dự, là những năm tháng nhục nhã, đói khát, bị đối xử như kẻ thù ngay trên chính quê hương mình. Làm gì có “Còn vòng tay mở rộng thương mến bao la” - làm gì có “Bếp ai lên khói ấm tình người – Bát cơm rau thắm mối tình quê…”
Vì thế, khi hai người bạn hát “Giã Từ Vũ Khí”, cả khán phòng lặng đi. Không ai nghe bài hát ấy như một bản nhạc nữa. Người ta nghe nó như nghe lại chính cuộc đời của mình - cuộc đổi đời của những người lính đã chiến đấu trong danh dự, nhưng lại bị lịch sử đối xử quá tàn nhẫn.
Trong không gian Hoài Niệm Tháng Tư, bài hát ấy trở thành một lời tưởng niệm cho cả một thế hệ quân nhân Miền Nam. Một thế hệ đã hy sinh tuổi trẻ, hy sinh tương lai, hy sinh cả cuộc đời… để rồi phải giã từ vũ khí trong một hoàn cảnh mà không một ai trong họ từng tưởng tượng. Và khi hai người bạn đứng cạnh nhau hát, tôi thấy trong mắt họ, và trong mắt nhiều người, một nỗi buồn khó gọi thành tên: nỗi buồn của những người đã mất nước, mất bạn bè, mất cả một phần linh hồn của mình vào tháng Tư năm ấy.
Đến lượt Phan Minh Châu, người chung nhà, chung phòng với tôi bước lên sân khấu. Không phô diễn, không tìm cách gây ấn tượng, chỉ muốn góp một phần nhỏ của mình vào Hoài Niệm Tháng Tư, như bao người khác trong buổi tối hôm nay. Nàng hát với sự bình tĩnh, thận trọng, như thể mỗi câu hát là một kỷ niệm được nâng niu, sợ làm rơi vỡ.
“Đã Một Lần” của bác sĩ Nhảy Dù Phạm Gia Cổn vốn là một bài hát sâu sắc, viết về một cuộc tình biết trước sẽ đau đớn, biết trước sẽ mất nhau vì chiến tranh. Người lính trong bài hát không hứa hẹn điều gì, không trách móc điều gì — chỉ xin người mình thương đừng buồn, đừng trách, vì không ai có lỗi. Chiến tranh mới là kẻ cướp đi tất cả.
Khi nàng hát những câu “trách chi người ai lỗi ai… trách chi người thôi đã xa nhau kiếp này”, cả khán phòng lặng đi phần nào. Không phải vì giọng hát hoàn hảo, mà vì lời ca ấy chạm đúng vào nỗi đau của một thế hệ đã yêu trong bất trắc, đã sống trong chia ly, và đã mất nhau không phải vì hết thương, mà vì thời cuộc quá nghiệt ngã.
Đến câu cuối “để mùi thơm khăn áo đi vào cổ tích tôi”, tôi thấy trong mắt nhiều người ánh lên một nỗi buồn rất cũ - nỗi buồn của những cuộc tình đã hóa thành kỷ niệm, của những người đã ra đi mà không bao giờ trở lại, của những người ở lại chỉ còn biết giữ mùi hương trong ký ức như một thứ cổ tích riêng của đời mình.
Trong không gian Hoài Niệm Tháng Tư, tiết mục ấy không chỉ là một bài hát. Nó là cảm thông và tri ân những mối tình đã tan vỡ vì chiến tranh. Là một lời nhắc rằng tháng Tư không chỉ cướp đi một đất nước - mà còn cướp đi biết bao cuộc đời, biết bao tình yêu, biết bao hạnh phúc lẽ ra đã có thể trọn vẹn.
Đến phiên anh Nguyễn Dậu trong ca khúc “Chiều Mưa Biên Giới”của NS Đại Tá Nguyễn Văn Đông. Tóc anh bạc nhiều hơn tóc đen, có dáng hơi khom của người đã đi qua trên ba phần tư của thế kỷ, trình diễn bài “Chiều Mưa Biên Giới”. Khi anh cầm micro, cả khán phòng bỗng im lặng. Vì ai cũng biết: có những bài hát chỉ thật sự đúng khi được hát bởi một người đã nếm đủ vị đời - ngọt, đắng, vui buồn, mất mát, và cả những điều không bao giờ nói thành lời, chỉ âm ỷ trong lòng.
Anh hát về người lính nơi biên giới, hát bằng giọng của một người đã từng đứng giữa mưa rừng, đã từng nhìn bạn bè đi mà không trở về. Khi anh cất cao “người đi khu chiến thương người hậu phương”, giọng anh như nghẹn lại. Không phải vì kỹ thuật, mà vì sự thật: cả một thế hệ đã sống như thế, thương nhau mà không dám thề nguyền, nhớ nhau mà chỉ nhìn trăng thầm nguyện ước.
Đến đoạn “màu áo gởi ra sa trường”, giọng anh khẽ run. Không biết là vì tuổi tác hay vì ký ức. Nhưng chính cái run ấy mới làm người ta rưng rưng. Vì ai cũng hiểu: màu áo ấy không chỉ là quân phục. Nó là tuổi trẻ, là lời hứa, là hy vọng mong manh rằng rồi sẽ có ngày trở về.
Đến câu “lòng trần còn tơ vương khanh tướng”, anh như là hình ảnh một quân nhân trẻ năm nào - đứng giữa mưa, giữa gió, giữa tiếng đại bác, lòng sắc son với lời thề sông núi, nhưng vẫn hướng về một mái nhà, một người thương, một buổi chiều bình yên ngắn ngủi – nhưng chính anh đang ở đây, giữ vững cho một hậu phương bình an. Để rồi “đường trần mưa bay gió cuốn”… tất cả bị cuốn đi, mất hết. Như chính cuộc đời của biết bao người lính sau Tháng Tư thăng trầm ấy.
Anh hát xong, cúi đầu, và cám ơn 2 nhạc sĩ giúp anh. Không ai vỗ tay ngay, mọi người đang đăm chiêu trong một nỗi nghẹn. Trong khoảnh khắc ấy, Hoài Niệm Tháng Tư đúng là một buổi tưởng niệm. Một lời tri ân. Một lời xin lỗi muộn màng gửi đến những người đã đi qua chiến tranh với quá nhiều điều dang dở.
Trong hành trình của Hoài Niệm Tháng Tư, nơi những câu chuyện chia ly, mất mát và hành trình vượt biển thường phủ lên không gian một lớp sương trầm, anh chị Thanh Mai & Ngọc Quí bước lên sân khấu, song ca “Ghé Bến Sài Gòn” trong điệu Paso rộn ràng. Giai điệu tươi sáng, nhịp điệu vui nhộn, nụ cười tự nhiên của hai người làm cả hội trường bừng lên sắc màu của một Sài Gòn trước biến cố, từng rộn ràng, trẻ trung, cuộc sống tràn đầy tiếng cười, những buổi thanh bình ngày cũ.
Họ hát như để chia sẻ niềm vui ấy với mọi người. Chính sự giản dị đó lại khiến khán giả thích thú, cảm thấy thư giãn, như được ghé lại một bến xưa, Trong dòng chảy của Hoài Niệm Tháng Tư, tiết mục này giống như một nhịp sáng, một khoảng nghỉ nhẹ để mọi người nhớ rằng bên cạnh mất mát và chia lìa, Sài Gòn của chúng ta từng là thành phố của niềm vui, của những buổi chiều hẹn hò, của những bước chân Paso trên sàn nhảy, của tình yêu đôi lứa rất đỗi bình thường và đẹp. Một Sai Gòn mà chúng ta giữ trong tim, để không quên mình đã từng có một thành phố đẹp, một quê hương đáng sống như thế.
Trong chương trình Hoài Niệm Tháng Tư, tôi có sẵn bài “Sài Gòn Thuở Đó Làm Sao Quên” chuẩn bị khá kỹ để cùng nhau chia sẻ. Tiếc rằng chỉ vài ngày trước chương trình, tôi bị cảm nặng, mất giọng và không thể trình bày bài hát như dự định. Nhưng tôi vẫn muốn nhắc đến nó, như một lời cám ơn dành cho nhạc sĩ Lê Khắc Bình, một y sĩ Không Quân, và bạn cùng lứa trong Quân Y với tôi, sáng tác một bản nhạc rất tuyệt vời.
Bản nhạc này, không chỉ hay vì giai điệu, mà đáng được nêu lên vì nó là một phần ký ức của người cùng một thế hệ, những người đã đi qua chiến tranh với trái tim xót xa thân phận trong nỗi nhớ Sài Gòn không bao giờ nguôi.
Sài Gòn là đây sao em? Lạ sao giọng nói người không quen!
Sài Gòn ngày xưa đâu em? Mộng mơ ngày tháng tuổi hoa niên
Sài Gòn ngày xưa đâu em? Từng con đường phố mình thân quen
Người trở về ngỡ ngàng trên quê cũ - Bước cô đơn giữa lòng phố đầy người
Gửi tình về bạn bè bao năm cũ - Nắng Sài Gòn Mưa Sài Gòn
Sài Gòn Thuở đó - làm sao quên.
Sài Gòn ngày xưa ấy không còn nữa. Người trở về đứng giữa phố đông mà thấy mình lạc lõng. Những kỷ niệm xôn xao bỗng trở thành điều khó tìm. Câu hỏi “Sài Gòn là đây sao em?” không chỉ là nỗi ngỡ ngàng - mà là nỗi đau của một người mất quê, mất tất cả. Ngay trên chính quê hương mình. Đây là những lời hát với tất cả lòng thương nhớ, hoài niệm của một đời người lưu vong: Sài Gòn thuở đó - với nắng, với mưa, những con đường thân quen, với tuổi trẻ và những điều đẹp đẽ nhất - làm sao mà quên được.
Xin mời các bạn mình cùng vào link này nghe bản nhạc Sài Gòn Thuở Đó Làm Sao Quên – do chính tác giả bài nhạc Lê Khắc Bình trình bày.
Các bạn đọc thân mến,
Sau hơn ba mươi ca khúc được cất lên trong chương trình Hoài Niệm Tháng Tư, mỗi bài là một cánh cửa mở đưa chúng ta vào một hành trình của ký ức - những ký ức không chỉ thuộc về riêng ai, mà thuộc về cả một thế hệ đã sống, đã mất, đã vượt thoát, và đã dựng lại cuộc đời từ những đổ nát của lịch sử. Mỗi bài hát là một chứng tích. Một lời kể. Một nén hương. Một lời tri ân. Một nhịp thở của những năm tháng không hề quên.
Chúng ta đã nghe những khúc hát của chia ly đoàn tụ, của biển đêm và trại tù, của những con đường Sài Gòn xưa còn in dấu chân tuổi trẻ. Chúng ta cũng đã nghe những giai điệu trong sáng, những Paso rộn ràng, những tiếng hát bình dị của bạn bè, của những người đã đi qua chiến tranh với trái tim còn nguyên vẹn tình người. Tất cả hòa lại thành một dòng chảy, vừa bi thương, vừa kiêu hãnh, của những người biết đứng dậy, biết giữ lấy phẩm giá, và biết trân trọng những gì đã mất. Dù đều trắng tay lúc ra đi.
Hoài Niệm Tháng Tư không phải chỉ để khơi lại nỗi buồn. Cũng không phải để nuôi hận thù. Hoài Niệm Tháng Tư là để chúng ta nhìn lại mình, nhìn lại những gì đã nâng đỡ chúng ta suốt nửa đời người: tình gia đình, tình đồng đội, tình bạn, lòng biết ơn với nước sở tại đã cưu mang chúng mình, tình tha nhân…và tình quê hương. Để biết, dù trải qua bao mất mát chúng ta vẫn có một sức sống bền bỉ, biết thương yêu nhau, tha thứ nhau, biết giữ phẩm giá, biết trân trọng những gì đã mất và biết giá trị của Tư Do. Và cũng để khẳng định, dù lịch sử có bị đổi thay, dù Sài Gòn hôm nay không là Sài Gòn của ngày xưa, thì Sài Gòn thuở đó - với nắng, với mưa, với tuổi trẻ, với tình người chân thật và những điều đẹp đẽ nhất - vẫn luôn nằm sâu đậm trong lòng chúng ta.
Chúng ta đã hát để nói lên chúng ta từng có một quê hương đẹp đến thế.
Và chúng ta đã hát để những người đã nằm xuống, những người đã đi xa, những người còn ở lại — đều được gọi tên bằng sự trân trọng.
Hoài Niệm Tháng Tư tạm khép lại ở đây, như một trang ký ức - nhưng không bao giờ vĩnh viễn đóng lại trong tim. Của từng chúng ta. Dù những câu chuyện, những giai điệu, và những ký ức, vẫn sẽ tiếp tục sống trong mỗi chúng ta, như một lời nhắc nhở: Có những điều, dù thời gian có trôi bao lâu, vẫn không thể nào quên.
Cho phần kết được thêm chút hương hoa, tôi xin chia sẻ bài thơ sau đây:
THÁNG TƯ HOÀI NIỆM
Tháng Tư gợi bóng quê nhà,
Mưa xưa giọt nhỏ nhạt nhòa nỗi riêng.
Sài Gòn thuở ấy dịu hiền,
Nắng soi mái tóc, gió nghiêng phận người.
Sài Gòn thuở ấy còn nguyên
Tình xưa còn đó…nằm yên trong lòng
Bạn bè một thuở xa xôi,
Tên ai gọi lại giữa trời lưu vong.
Hát lên giữ chút hương lòng,
Giữ câu thương ái giữa dòng tháng Tư.
Hát lên để nhớ một thời,
Để thương những kẻ rã rời biển đêm.
Dẫu qua mấy bận nắng mưa,
Vẫn nghe quê cũ như vừa hôm qua.
Khép trang hoài niệm mặn mà,
Mà câu thương nhớ… vẫn nằm trong tim.
Vĩnh Chánh tường Thuật
Chương trình HOÀI NIỆM THÁNG TƯ - ngày 19 tháng Tư 2026
Tổ chức tại phòng nhạc CAFE PHƯợNG TÍM
Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026
Tạc Dạ Nghìn Sau...
Nơi non cao hun hút bóng trăng gầy
Tôi em gái nhỏ của ngày xưa ấy
Nợ một tiếng chào theo gió xa bay
Lời chưa ngỏ đã hóa thành hương nhẹ
Gửi tâm tình vào thăm thẳm ngàn sao
Dẫu bụi đời có nhuốm bạc mái đầu
Ký ức cũ vẫn dạt dào như mới
Mảnh áo chinh nhân sờn vai bạc lối
Màu gió sương in dấu vết thời gian
Nhưng tình em giữa thế sự ngổn ngang
Vẫn son sắt chưa một lần phai nhạt
Khoảng cách xa xôi trùng dương bát ngát
Chẳng ngăn được lòng hướng phía non cao
Mãi mãi là người yêu lính năm nào
Vẫn trọn một đời ...tạc dạ nghìn sau...!
Kim Oanh
28.4.2026
Ngàn Dặm Ra Đi
Quê hương đâu nỗi biệt ly mấy bờ
Giang sơn dải núi mịt mờ
Dòng thơ suối nhạc lặng lờ nơi nao
Một mùa âm hưởng lên cao
Xa đưa tiếng quốc gọi vào đêm sương
Tình nào tấu khúc ly hương
Hồn hoa chia biệt còn vương cõi lòng
Bên đèn nỗi nhớ mông lung
Chông gai sờn gấu áo hường tiểu thơ
Gót son rạn nứt niềm mơ
Bôn ba lệ nhỏ xót bờ bến xưa.
Lê Mỹ Hoàn
10/05/1989
Tháng Tư
Người đi tháng tư nắng buồn theo
Gió cũng quên một lời hỏi chào
Mắt em đọng giữa nhành huệ trắng
Hơi thở biên thùy vương tóc, đau!
Tháng Tư mùa hạ chừng sắp chết
Biển chập chùng vết tích uyên ương
Sao không ở lại chờ rằm xuống
Đêm sáng quê hương mấy nẻo đường
Tháng Tư mẹ ngồi lần chuỗi hạt
Dáng gầy kính niệm Chú Đại Bi
Từng cánh sen hồng nơi ao cạn
Chừng khoe nhem nhuốt áo xuân thì
Tháng Tư gặm nổi buồn hoa phượng
Thương người di tản cuối hoàng hôn
Con chim chờ học trên mái ngói
Nước vẫn trôi đi dạ chẳng mòn
Tháng Tư ngừng lại trong trí nhớ
Đường xá xôn xao những đổi đời
Qua trường nhớ xe mini cũ,
Áo lụa trăm năm rối tuổi người
Tháng Tư trời mưa đầy bong bóng
Mơ ước bay theo bụi gió Lào
Em vén tình xưa qua song cửa
Níu lại bao chiều tay có nhau.
b c d
Từ Phượng Mười Năm
Quê hương tôi có một loài hoa phượng
Cứ hè về hoa nhuộm đỏ hàng cây
Gợi trong ai những kỷ niệm tháng ngày
Thời thơ ấu đã cùng ai sánh bước
Nắng Chiều
***
Cảm Tác
Hồng trên một cõi bao lời kỳ bí
Nức nở tiếng ve trong ánh nắng chiều
Linh hồn sắc sảo trải cánh phượng yêu
Lắng lòng tìm giấc mơ thời thơ ấu
Kim Phượng
Tháng Tư Nhớ Người Khôn Nguôi

Ta nhớ Người tràn tháng năm chứ nào có mỗi tháng Tư, tuy nhiên mỗi tháng Tư lại về thì nỗi nhớ cồn lên, vỡ tung ra như sóng biển. Nỗi nhớ không tên tuổi, chẳng hình tướng, không sao nắm bắt được ấy vậy mà cứ da diết trong lòng.
Ta với Người vốn không ân oán gì nhau, chưa từng chung đụng, không tác động qua lại nhau. Ấy vậy mà bóng dáng Người mãi thấp thoáng trong ta. Ta vẫn mơ về Người, một dĩ vãng vàng son, một thời lãng mạn và cả khói lửa điêu linh.
Người đã hiện diện ở phương Nam nước Việt trong hai mươi mốt năm, quãng thời gian ngắn ngủi nhưng để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người, chí ít là những người đã từng chịu ơn huệ Người, từng ăn ơn vua lộc nước. Riêng ta, một kẻ hậu sanh, khi ta chào đời cũng là lúc Người đã sắp mệnh chung. Người đã chiến đấu cho tự do một thuở. Thiên hạ vẫn bảo không đem chuyện thắng thua để luận anh hùng, điều ấy tuyệt đối đúng với Người. Người có thua nhưng “anh hùng tử khí hùng bất tử”, chuyện này dường như là sự lập lại của lịch sử. Ba trăm năm trước, nhà Tây Sơn bị diệt, bị miệt thị là “ngụy” nhưng lòng người vẫn tưởng nhớ nhà Tây Sơn. Sau khi nhà Tây Sơn bị diệt, trong dân chúng xuất hiện câu ca dao:
Ai cho miếu lớn hơn đình?
Bậu có chồng mặc bậu bậu vẫn gọi mình bằng anh
Em có chồng vì ép gả, vì thời thế chẳng đặng đừng chứ không phải vì em yêu. Em sống với chồng nhưng em vẫn kêu ta bằng anh, vẫn nhớ về ta. Câu ca dao tha thiết, thật thà, bình dị, kín đáo thể hiện tấc lòng không lay chuyển. Dù bị kêu là “ngụy” nhưng lòng người vẫn hướng về “anh”, thắng làm vua thua làm giặc là chuyện thường tình. Sài Gòn sụp đổ nhưng lòng người vẫn hướng về Người. Mọi người vẫn hát nhạc Sài Gòn, văn hóa Sài Gòn vẫn đẹp lung linh trong tâm tưởng mọi người, ngay cả người của phe chiến thắng cũng mê và hát nhạc Sài Gòn. Những dòng nhạc bolero, nhạc trữ tình, nhạc vàng…vẫn ngự trị trong lòng dân chúng, giả sử không có nhạc Sài Gòn thì biết hát nhạc gì đây? Người đã xa rồi nhưng dư ảnh và dư hương của Người vẫn còn đó, và “em” vẫn trìu mến kêu Người bằng “anh”, chỉ có “anh” trong tâm “em” mà thôi!
Tháng Tư oan nghiệt, tháng Tư khói lửa, tháng Tư tang thương nát bấy lòng người. Ông Võ Văn Kiệt cũng từng thừa nhận: “Triệu người vui cũng có triệu người buồn”. Phe thắng trận dĩ nhiên là vui, phe bại không chỉ buồn mà đau thương chết chóc, chia lìa…Cái giá chiến thắng quá lớn mà không đáng vì chẳng đem lại tốt đẹp gì cho dân, chỉ đem lại quyền lực và quyền lợi cho phe chiến thắng.
Người đã bại, phải chịu ngục tù đày đọa. Người đã di tản, vượt biên, vượt biển bằng mọi giá, lao vào cái chết để tìm sự sống. Hàng chục ngàn người chết trong tù ngục, hàng trăm ngàn người bỏ mạng ngoài biển Đông. Số người chết vì hải tặc, bão tố, hết lương thực… có thể lên đến 500.000 người. Sử thế giới hiện đại gọi là Boat People, đây là sự kiện bi thảm của một dân tộc sau chiến tranh. Điều đáng nói là phe thắng trận vẫn bác bỏ, phủ nhận, lấm liếm và tìm mọi cách xóa đi sự kiện “thuyền nhân”.
Ta nhớ Người, Người đã một thuở làm nên phong cách Sài Gòn. Một thuở của Người đẹp làm sao, sách báo như muôn hoa đua nở, người cầm bút thỏa sức tung hoành, chỉ sợ mình không có năng lực chứ không sợ bị kiểm duyệt. Thuở của Người chữ nghĩa đạt đỉnh cao với những thành tựu rực rỡ cả về văn, thơ, nhạc, họa…Những tên tuổi lừng danh thuở ấy đến giờ vẫn lung linh: Tuệ Sỹ, Trí Hải, Phạm Công Thiện, Phạm Thiên Thư, Võ Phiến, Trịnh Công Sơn, Mai Thảo, Phạm Duy…
Một thuở của Người các đảng phái được tự do hoạt động, mọi người dân ai cũng có được những quyền căn bản của con người: Tự do – dân chủ - nhân quyền. Thuở ấy ta chưa tượng hình nhưng sau này lớn lên mới biết về Người, ấy vậy mà hình ảnh Người mãi lung linh trong tâm tưởng ta. Thuở của Người, những tà áo dài duyên dáng khắp thành đô cho đến thôn quê. Con người thân thiện dễ thương, tiếng nói thanh tao, ngôn ngữ trong sáng, lời ăn tiếng nói thanh lịch. Mọi người sống tương thân tương ái với nhau. Người dân và chính quyền gần gũi nhau rất thân tình.
Người đã bại vì nhiều lý do, vì sự định đoạt cuộc chơi của những thế lực quốc tế. Từ đó, tất cả những thành tựu về văn hóa, kinh tế, kỹ thuật, nhân văn… của Người bị hủy bỏ, đập phá, thiêu đốt sạch sành sanh, một cuộc hủy diệt nhằm xóa đi bóng dáng và sức ảnh hưởng của Người. Vật chất có thể phá hủy nhưng hình bóng và dư hương làm sao phá được? bởi vậy mà Người vẫn sống trong tâm tưởng của những người yêu Người. Sách có thể đốt nhưng tư tưởng làm sao đốt được? phim ảnh có thể xóa nhưng hình bóng trong tim không thể xóa! Âm nhạc có thể cấm nhưng không thể cấm được tiếng hát mỗi ngày của người dân. Thực tế cho thấy cho dù cấm biểu diễn trên sân khấu nhưng người dân vẫn hát, ngay cả người của phe chiến thắng cũng hát nhạc của Người.
Tháng Tư lại về, “quốc phá sơn hà tại”, sơn hà còn đó nhưng loang lổ đã nhiều, hao hụt không ít, thiên nhiên bị tàn phá, xã hội nhiễu nhương, văn hóa suy đồi…Thời gian xóa nhòa đi nhiều ký ức, vùi lấp nhiều dĩ vãng, vô thường vốn thế mà! Từng lớp sóng phế hưng cuồn cuộn chập chùng. Sóng ngoài biển Đông vẫn ngày đêm rì rào. Sóng Thái Bình Dương vẫn vỗ rì rầm những đêm trăng. Oan hồn uổng tử vật vờ theo sóng gió Thái Bình Dương. Những oan hồn trong các trại tù, nơi rừng sâu núi thẳm, nơi ngục thất tối đen… giờ vất vưởng nơi nào? Chiến tranh qua đã lâu mà lòng người vẫn thù hận và đày đọa nhau, đày đọa cả những vong hồn. Sao không thực hiện một ngày chúc sinh cho người sống, chúc siêu cho người chết, chúc an cho toàn dân? Lời đề nghị thống thiết, chí tình, chí nghĩa mà đức đệ tứ tăng thống Thích Huyền Quang đã nêu năm nào. Có gì để sợ chứ? cớ sao phải sợ? chiến tranh qua đã lâu, hòa bình đã có nhưng lòng người vẫn bất bình, bất an, sống trong cam chịu và tìm mọi cách để ra đi. Ngay cả những người có chức, có quyền, giàu có… cũng tìm mọi cách ra đi, tìm mọi cách mua thẻ xanh hay quốc tịch nước khác.
Một thuở của Người đã qua, đã mất, đã bị hủy diệt… nhưng “thác là thể phách còn là tinh anh” cụ Nguyễn Du đã nói thế kia mà! Mỗi độ tháng Tư về, lòng người lại nao nao, biển Động lại dậy sóng, ta lại suy tưởng “nếu thuở ấy người không bị bại thì ngày nay dân ta đâu phải bôn ba lưu vong bốn phương trời, chẳng phải đi làm cu li bên Hàn, Đài, Nhật, Du Bai…Giới trẻ cũng chẳng phải thần tượng đến độ hôn cái ghế mà một diễn viên Hàn vừa ngồi và quan trọng hơn hết là không bị lệ thuộc Tàu, nhất nhất rập khuôn Tàu”
Tháng Tư oan nghiệt “thế là tàn một giấc mơ/thế là cả một bài thơ não nùng”- Nguyễn Bính. Tháng Tư về ta nhớ người khôn nguôi dù Người với ta chẳng có gì với nhau cả. Đành vậy thôi, ta ngồi đây “Thắp đèn lên ngồi kể chuyện trăng tàn”- Tuệ Sỹ. Biết tỏ cùng ai nỗi lòng? Ta vốn thích sự lặng lẽ một mình. Ta vốn sợ sự ồn ào hay những cơn lên đồng của đám đông, sợ sự cực đoan dù là cực đoan hướng nào cũng rất mê muội, một khi đã cực đoan thì chẳng còn lý trí để nhìn nhận vấn đề và càng chẳng còn tình cảm để dung hòa hay hiểu nhau.
Tháng Tư mỗi năm mỗi xa mờ, nửa thế kỷ đã qua, rồi đây Người sẽ nhạt nhòa hơn nữa, sẽ bị lãng quên hơn nữa. Những thế hệ về sau chẳng còn biết nhiều về Người. Biết làm sao được? quy luật vô thường là thế, thời gian xây nên rồi cũng chính thời gian bào mòn chôn vùi. Riêng ta, ta vẫn nhớ Người “Chỉ nhớ Người thôi đã hết đời” – Tô Thùy Yên. Ta thương Người như ta thương ta, một kẻ lạc loài ở thế gian này, mơ màng trong một trời hoài niệm, lững thững chẳng biết đi đâu về đâu.
Tiểu Lục Thần Phong
Ất Lăng thành, 0426
Má Hồng Đổi Ngựa Truy Phong (Hồng Phấn Hoán Truy Phong 紅粉換追風)
Tô Đông Pha và Vương Phất qua điện ảnh
Năm Hi Ninh thứ 8 đời Tống Thần Tông (1075) Tô Đông Pha 蘇東坡 đã 40 tuổi, đang là Tri huyện Mật Châu (Sơn Đông). Ngày 20 tháng giêng năm đó, ông nằm mơ thấy người vợ đã mất 10 năm trước của mình. Khi tỉnh giấc ông đã làm một bài "điếu vong từ" nổi tiếng thiên cổ với tên từ khúc là : Giang Thành Tử 江城子 như sau:
十年生死两茫茫, Thập niên sinh tử lưỡng mang mang,
不思量,自難忘。 Bất tư lương, nan tự vương.
千里孤墳,無處話凄凉。Thiên lý cô phần, vô xứ thoại thê lương.
縱使相逢應不識, Túng sử tương phùng ưng bất thức,
塵满面,鬓如霜。 Trần mãn diện, Mấn như sương !
夜来幽梦忽還鄉, Dạ lai u mộng hốt hoàn hương,
小軒窗,正梳妆。 Tiểu hiên song, chính sơ trang.
相顧無言,惟有泪千行。Tương cố vô ngôn, duy hữu lệ thiên hàng.
料得年年腸斷處, Liệu đắc niên niên trường đoạn xứ,
明月夜,短松崗。 Minh nguyệt dạ, Đoản tùng cương.
Có nghĩa:
Mười năm sống chết hai nơi,
Không cần nghĩ ngợi khó thời khó quên.
Dặm ngàn nấm mộ chênh vênh,
Thê lương biết nói sao nên lòng nầy.
Gặp nhau biết có nhận ngay,
Phong trần đầy mặt tóc dài như sương!
Đêm qua chợt mộng hoàn hương,
bên hiên song nhỏ nàng đương chải đầu.
Nhìn nhau luống những nghẹn ngào,
Muôn hàng lệ nhỏ thêm sầu lòng đây.
Năm năm ruột đứt nơi nầy,
Dưới vầng trăng sáng thông gầy đồi xa!
Vương Nhuận Chi qua điện ảnh
Bài từ nhớ vợ bi thương là thế, xót xa là thế; Mỗi hàng mỗi chữ đều như là những dòng lệ nhớ thương vô tận. Đó chính là nàng Vương Phất 王弗 ái nữ của Tiến sĩ Vương Phương là thầy dạy học của Tô Đông Pha từ vỡ lòng cho đến lớn; Nàng là người con gái nết na, tri thư đạt lễ, kết hôn với Tô năm nàng 17 tuổi và Tô 19 tuổi. Vợ chồng trẻ yêu thương rất mực, ân ái mặn nồng. Nhưng chỉ 11 năm sau nàng nhuốm bệnh và qua đời ở tuổi 27. Tô đau lòng đứt ruột, thơ thẩn vào ra chỉ nhớ tới bóng dáng của vợ hiền. Ba năm sau, Tô lại cưới cô em họ của vợ là Vương Nhuận Chi 王閏之, cô nầy tánh tình hiền thục, sống yên phận nên ít có dấu ấn trong văn thơ của Tô. Nhưng đến năm 46 tuổi thì cũng lại nhuốm bệnh qua đời khi Tô đã 58 tuổi rồi. Ngoài hai chị em họ Vương ra, năm 38 tuổi Tô Đông Pha đã từ lầu xanh chuộc về một cô bé 12 tuổi cũng họ Vương tên là Triêu Vân 王朝雲, giỏi cả cầm kỳ thi họa, khi lớn lên đã được Tô nạp làm ái thiếp và theo hầu cận Tô suốt con đường hoạn lộ. Nhưng hồng nhan bạc mệnh, năm 34 tuổi Vương Triêu Vân cũng nhuốm bệnh mà qua đời. Tô rất bi thương, soạn mộ chí và điếu từ, làm bài thơ "Điếu Triêu Vân 悼朝雲" và bài từ "Tây Giang Nguyệt. Mai Hoa 西江月·梅花" ví Triêu Vân như là Mai Hoa cao khiết đã về với cỏi tiên:
玉骨那愁瘴霧, Ngọc cốt nả sầu chướng vụ,
冰姿自有仙風。 Băng tư tự hữu tiên phong.
海仙時遣探芳叢。 Hải tiên thì khiển thám phương tùng.
倒掛綠毛幺鳳。 Đảo quải lục mao yêu phụng.
素面翻嫌粉涴, Tố diện phiên hiềm phấn uyển,
洗妝不褪脣紅。 Tẩy trang bất thối thần hồng.
高情已逐曉雲空。 Cao tình dĩ trục hiểu vân không.
不與梨花同夢。 Bất dữ lê hoa đồng mộng!
Có nghĩa:
Cành ngọc nào ngại mù sương,
Phong tư yểu điệu tợ dường tiên nga.
Cỏi tiên sứ gỉa lân la,
Chim xanh phụng biếc hộ hoa bao ngày.
Mặt ngọc chê phấn son phai,
Môi son vẫn đỏ hơn dày điểm trang.
Tình nồng mây sớm mênh mang,
Lê hoa cũng chịu mơ màng nhớ nhung!
Vương Triêu Vân qua điện ảnh
Ngoài ba người phu nhân họ Vương ra, trong đời của Tô Đông Pha còn có rất nhiều thê thiếp mà ông từng sủng ái; Trong số đó có một người ái thiếp tên là Xuân Nương 春娘. Xuân Nương là người nơi nào, sanh năm nào, gia cảnh ra sao thì không ai biết được, vì chỉ theo lời kể của văn học gia Phùng Mộng Long 馮夢龍 đời nhà Minh kể lại trong tác phẩm 《Tình Sử Loại Liệt 情史類略》truyện "Hồng Phấn Hoán Truy Phong 紅粉換追風" như sau :
Năm Nguyên Phong thứ 3 đời Tống Thần Tông (1080), vì vụ "Ô Đài Thi Án" Tô Đông Pha bị biếm đi làm Đoàn luyện phó sứ ở Hoàng Châu. Khi sắp lên đường, có công tử họ Tưởng đến để tiễn hành. Tô vô cùng cảm động bèn cho người thiếp trẻ đẹp là Xuân Nương ra chuốc rượu mời khách. Thấy Xuân Nương trẻ đẹp lại giỏi văn thơ ứng đối, Tưởng công tử mới động lòng bèn hỏi Tô rằng : Ngài đi đến xứ Hoàng Châu xa xôi, định an trí người đẹp như thế nào đây ? Tô đáp : Đưa nàng về quê với cha mẹ ruột. Nghe thế Tưởng công tử bèn đưa ra một đề nghị thật hoang đường là : Ta có thể dùng một con bạch mã truy phong giúp cho Ngài ngày đi ngàn dặm để đổi lấy Xuân Nương hay không ? Tô Đông Pha nghe thế bèn nghĩ rằng, từ đây đến Hoàng Châu xa xôi ngàn dặm lại núi non cách trở, có được con ngựa đỡ chân cũng là điều rất tốt, bèn không kịp nghĩ gì đến cảm nhận của Xuân Nương mà vui vẻ ưng thuận "Đổi Người lấy Ngựa". Họ Tưởng có được người đẹp, bèn rất đắc ý mà ngâm 4 câu thơ như sau:
不惜霜毛雨雪蹄, Bất tích sương mao vũ tuyết đề,
等閒分付贖娥眉。 Đẳng nhàn phân phó thục nga mi.
雖無金勒嘶明月, Tuy vô kim lặc tê minh nguyệt,
却有佳人捧玉卮。 Khước hữu giai nhân phủng ngọc chi !
Có nghĩa :
Truy phong bạch mã chi mà tiếc,
Đổi được nga mi cũng thỏa tâm.
Tuy chẳng cương vàng phi dưới nguyệt,
Lại vui chén ngọc với giai nhân.
Cùng là giới bút mực với nhau, nên Tô Đông Pha cũng đáp lễ lại bằng 4 câu thơ rằng :
春娘此去太匆匆, Xuân Nương thử khứ thái thông thông,
不敢啼聲在恨中。 Bất cảm đề thanh tại hận trung.
只為山行多險阻, Chỉ vị sơn hành đa hiểm trở,
故將紅粉換追風。 Cố tương hồng phấn hoán truy phong.
Có nghĩa:
Xuân Nương đem đổi qủa là ngông,
Chẳng dám than van oán ngập lòng.
Chỉ tại núi non đường hiểm trở,
Mới đem má phấn đổi truy phong!
"Chỉ tại núi non đường hiểm trở, Mới đem má phấn đổi truy phong!" Qủa là một cái cớ vụng về tàn nhẫn của kẻ bạc tình, nên vừa nghe xong Xuân Nương đã lòng lạnh như tiền, bước đến che mặt nói rằng :"Thiếp nghe nói khi xưa Tề Cảnh Công muốn chém người giữ chuồng ngựa khi để chuồng ngựa bị cháy. Án Tử mới can rằng : Khi chuồng ngựa cháy, Khổng Tử chỉ hỏi "Người có sao không, mà không hỏi Ngựa có sao không" Ấy là qúy người hơn là súc vật. Nay Học sĩ lại đem người để đổi ngựa, là qúy súc vật hơn là qúy người". Nói xong bèn đọc 4 câu thơ rằng :
為人莫作婦人身, Vị nhân mạc tác phụ nhân thân,
百般苦樂在他人。 Bách ban khổ lạc tại tha nhân.
今日始知人賤畜, Kim nhật thủy tri nhân tiện súc,
此生苟活怨誰嗔? Thử sinh cẩu hoạt oán thùy sân ?
Có nghĩa:
Làm người chớ chọn làm thân gái,
Cay đắng sướng vui chỉ tại ai.
Nay biết người không bằng súc vật,
Sống thừa một kiếp oán ai đây ?!
Hồng Phấn Hoán Truy Phong
Đọc thơ xong, che mặt khóc lớn, rồi chạy xuống dưới thềm, va đầu vào cây hòe mà chết. Tô Đông Pha đã tỏ ra vô cùng hối hận về sự việc nầy. Ông chỉ muốn tìm cho Xuân Nương một chốn yên thân, không ngờ nàng lại qúa chung tình với ông mà tìm đến cái chết. Có thuyết còn cho rằng vì Xuân Nương đang mang thai con của ông nên nàng càng uất ức... làm cho câu truyện càng trở nên bạc bẽo và nhẫn tâm hơn đối với Tô Đông Pha. Nhưng...
Câu truyện trên đây có phải là một câu truyện có thực hay không thì còn đang tranh cải; Vì truyện được kể bởi một nhà biên kịch, một kịch tác gia đời nhà Minh là Phùng Mộng Long 馮夢龍 chớ không phải của một nhà chuyên viết sử chân chính. Phùng Mộng Long là nhà chuyên viết về Tiểu thuyết, Kịch bản của các Hí khúc, Dân Ca và Truyện cười dân gian... thường kết hợp những thực tế của cuộc sống mà hư cấu sáng tác nên những tác phẩm như Dụ Thế Minh Ngôn《喻世明言》、Cảnh Thế Thông Ngôn《警世通言》、Tỉnh Thế Hằng Ngôn《醒世恒言》Hợp xưng là TAM NGÔN ... Vả lại...
Phùng Mộng Long qua điện ảnh
Trong chính sử ghi chép, không tìm đâu ra lý lịch của nàng Xuân Nương, cũng như không tìm thấy Tưởng Công Tử là nhân vật như thế nào, thân thế ra làm sao... Nên, câu truyện "Hồng Phấn Hoán Truy Phong 紅粉換追風" đa phần là do Phùng Mộng Long hư cấu gán ghép mà nên. Nhưng...
Trong cái xã hội phong kiến đời Đường Tống, việc trọng nam khinh nữ là việc thường tình ở trong cuộc sống. Trai năm thê bảy thiếp là chuyện bình thường; Qua bài viết nầy ta cũng đã biết Tô Đông Pha cũng chẳng đã tam thê tứ thiếp hay sao. Hơn nữa, việc tặng một người tì thiếp cho một người bạn thơ tri kỷ cũng là môt chuyện thường tình, như truyện của ông Tư Không Lý Thân 司空李紳 đời Đường chỉ vì hai câu thơ của Lưu Vũ Tích là "Tư Không kiến quán hồn nhàn sự, Đoạn tận Tô Châu Thứ Sử trường 司空見慣渾閒事,斷盡蘇州刺史腸!"Có nghĩa:"Tư Không quen mắt không cho lạ, Thứ Sử Tô Châu ruột đứt rồi !" mà tặng luôn nàng ca kỹ "cung dạng trang (ăn mặc như cung nữ trong cung vua)" cho Lưu Vũ Tích để cho ông ta đừng có "đứt ruột" nữa !(Xem "Bài Thơ Mẫn Nông Thứ Ba ?" của ĐCĐ).
Tô Đông Pha qua Điện Ảnh
Khi quan trường bất đắc chí, bị đàn hạch và bị biếm đến Hoàng Châu xa xôi, Tô Đông Pha đang lúc tâm thần bấn loạn, gia đạo rối ren, khí tiết của kẻ sĩ đang đi xuống, nên cũng khó mà giữ được cái phong độ và tiết tháo của một bậc đại phu, mà có những quyết định sai lầm, hồ đồ đến nổi đem người tì thiếp yêu dấu đang có mang của mình để đổi lấy con bạch mã truy phong...
Thầy Mạnh Tử dạy rằng:“Phú qúy bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, thử chi vị Đại Trượng Phu 富贵不能淫,贫贱不能移,威武不能屈,此之谓大丈夫”. Nhưng ở đời, có mấy ai đã làm được "Đại Trượng Phu" như lời thầy Mạnh Tử đã dạy đâu, nhất là ở vào các hoàn cảnh khó khăn, éo le, nghèo nàn, thất bại và bất đắc chí về mọi mặt !
Hẹn bài viết tới!
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức
Đêm Trăng Ở San Francisco
Chợt tỉnh giấc, Linh vội nhìn đồng hồ, sáu giờ sáng. Linh quay sang lay vai chồng:
-Anh, dậy lẹ lên sửa soạn ra phi trường không thôi trễ giờ đó.
Hữu hỏi giọng ngái ngủ:
-Mấy giờ rồi em?
-Sáu giờ.
-Dậy sửa soạn còn uống cà phê, ăn sáng. Đi sớm cho khỏi kẹt đường, anh mà ngủ thêm nữa trễ máy bay cho mà xem.
-Không trễ đâu mà, đây ra phi trường có ba mươi phút làm sao mà trễ được.
-Anh mà ngủ thêm là thế nào cũng trễ, em nói không sai đâu, dậy lẹ đi.
Hữu hơi bực nhưng cố nhỏ nhẹ:
-Đêm qua thức khuya anh mệt quá, cho anh ngủ thêm một chút nữa.
Linh khó chịu nói hơi lớn tiếng:
-Anh như trẻ con ấy, dậy sớm một chút thì chết chóc gì. Ngủ thêm lại ngủ quên luôn, lát nữa lại quýnh lên cho mà xem.
Lần này Hữu không dằn được nữa, chàng cũng lớn tiếng lại:
-Khổ quá! Anh 50 tuổi đầu rồi, anh là chồng em chứ có phải là con em đâu. Anh biết lo công việc của anh mà, sao em thích chỉ huy anh quá vậy? Anh đã để đồng hồ báo thức rồi.
Nói xong, Hữu kéo chăn trùm kín đầu, tiếp tục ngủ. Linh bực mình vùng vằng bỏ đi xuống dưới nhà.
Nửa giờ sau đồng hồ reo, Hữu vội nhỏm ngay dậy chạy vào buồng tắm vặn nước nóng tắm thật nhanh cho tỉnh ngủ.
Linh đang ngồi đọc báo và uống cà phê ở bàn ăn trong nhà bếp, nghe tiếng giầy của Hữu bước tới sau lưng, Linh vẫn lờ đi ngồi chăm chú đọc báo.
-Ủa em chưa sửa soạn để đưa anh ra phi trường à?
-Đây ra phi trường có gì đâu mà phải sửa soạn.
Giọng Linh lạnh và nhạt nhẽo một cách cố ý. Nói xong Linh đứng dậy đi lên lầu lấy cái bóp và cái áo len mỏng khoác vội vào người. Nàng xuống nhà lấy xâu chìa khóa rồi mở cửa đi thẳng ra garage, rồ máy xe ngồi chờ. Hữu nhìn theo vợ, lắc đầu chán nản;
-Lại chiến tranh lạnh rồi.
Trên đường ra phi trường, nhìn khuôn mặt lạnh lùng của vợ, Hữu xuống giọng làm lành:
-Anh xin lỗi em, sáng nay anh thèm ngủ quá mà em cứ bắt dậy nên anh hơi bực.
Giọng Linh như tảng nước đá:
-Có gì đâu mà lỗi với phải. Anh nói đúng, việc của anh để anh lo, mắc mớ gì tới em mà em xía vào để mang tiếng là thích chỉ huy.
Hữu cố năn nỉ:
-Thôi mà, anh xin lỗi rồi mà. Anh sắp xa em một tuần lễ, đừng giận anh tội nghiệp.
Linh quay lườm chống:
-Ai bảo la người ta cho cố, rồi bây giờ làm bộ xuống nước.
Linh lượn xe đậu sát cửa ra vào của hãng hàng không American Airlines rồi dặn dò chồng:
-Anh nhớ đừng uống rượu nhiều, đừng thấy vắng mặt vợ rồi hút thuốc xả ga, đừng thức khuya, đến nơi nhớ gọi điện thoại về.
-Ủa em không vào tiễn anh à?
-Em mặc bê bối thế này đi vào coi kỳ lắm. Thôi anh đi lẹ lên không có xe đằng sau họ có vẻ sốt ruột lắm rồi đó, chỗ này không đậu lâu được.
Hữu nghiêng đầu sang hôn nhẹ vào má vợ rồi bước xuống xe, chạy vội ra đàng sau lấy hành lý. Nhìn theo chiếc Jaguar của vợ chạy khuất đi, Hữu mới thong thả xách hành lý đi vào phi trường. Vừa đi, Hữu vừa suy nghĩ “không biết mình đi cả một tuần Linh có nhớ không mà có vẻ tỉnh bơ như vậy.”
Đến Gate 21, nhìn đúng Flight # 58 đi San Francisco khởi hành 9 giờ sáng. Hữu nhìn đồng hồ, còn 20 phút nữa mới tới giờ lên máy bay. Chàng kiếm một ghế trống ngồi chờ. Trước mặt Hữu là hai người đang bịn rịn chia tay. Người vợ âu yếm nắm chặt tay người chồng, thỉnh thoảng họ lại nhìn nhau thật tình tứ. Trước khi người chồng lên máy bay, hai người hôn nhau quấn quít như không muốn rời xa. Hữu ngạc nhiên thấy mình thầm mơ ước, sao Linh không vào đây tiễn mình và bịn rịn như người vợ kia có phải Hữu sung sướng biết mấy không. Hữu biết họ là vợ chồng vì bàn tay trái của hai người đều đeo nhẫn cưới.
Lên máy bay, Hữu vẫn còn vương vấn mãi về cảnh chia tay tình tứ tha thiết của cặp vợ chồng kia. Có lẽ mình “hồi xuân,” Hữu nghĩ thầm, cho nên mới nghĩ ngợi vẩn vơ như vậy.
Thực ra Hữu là người rất mơ mộng ướt át. Chả vậy mà hồi còn đi học, Hữu mê thơ Xuân Diệu, Quang Dũng, Nguyên Sa, Tô Thùy Yên vô cùng. Chàng thuộc lòng không biết bao nhiêu bài thơ. Từ ngày lấy Linh, tính nàng thực tế, khô khan, lâu dần Hữu cũng thay đổi theo. Hữu nghĩ tình cảm phải có qua có lại. Mình cho phải có người biết nhận, biết giá trị của sự cho đó thì mình mới còn có hứng thú để cho. Cho mà người ta không biết nhận, hoặc hững hờ, tự nhiên mình cụt hứng và không còn muốn cho nữa. Hữu lấy Linh do một sự tình cờ. Linh là sinh viên du học, nàng rời Việt Nam từ năm 1970. Sau 1975, Hữu còn kẹt lại Việt Nam. Mãi tới năm 1978, Hữu mới vượt biên qua được Thái Lan. Trong thời gian ở trại tị nạn, Hữu đã gặp Linh, lúc đó Linh vừa tốt nghiệp y khoa và đang thực tập ở nhà thương. Vào dịp Hè, Linh và một số bạn đã tình nguyện qua Thái Lan để săn sóc sức khỏe cho đồng bào tị nạn và Hữu là bệnh nhân đầu tiên của Linh. Sau chuyến vượt biên, sức khỏe của Hữu bị giảm sút đi nhiều. Nhờ sự săn sóc tận tình của Linh, Hữu đã bình phục nhanh chóng.
Hai người đã bị tiếng sét ái tình ngay từ giây phút đầu gặp gỡ. Sau đó Linh đã nhờ người bảo lãnh cho Hữu được định cư ở Mỹ. Ít lâu sau hai người quyết định kết hôn, dù rằng cả hai chưa được biết rõ tính tình của nhau lắm, nhưng cả hai đều tin vào tình yêu thắm thiết họ dành cho nhau chắc chắn sẽ san bằng được mọi khác biệt. Thuở ban đầu thì quả thật là như vậy: “Yêu nhau trái ấu cũng tròn.”
Một năm sau, trái ấu đã trở thành nguyên hình, chứ không tròn như trước nữa. Bởi những làn sóng đam mê cuồng điên của thuở mới cưới đã lắng dần xuống, đến lúc chỉ còn là mặt hồ phẳng lặng hai người mới thấy rõ những khác biệt của nhau. Cũng may, đời sống bận rộn của một Y sĩ và một viên chức cao cấp của ngân hàng đã làm cho hai vợ chồng không có nhiều thì giờ cho cuộc sống riêng tư, để mà thấy sự khác biệt về tính tình là trở ngại lớn cho cuộc sống chung của hai người. Đứa con ra đời đúng lúc đã làm cho cuộc sống đang lạnh lẽo bỗng rộn ràng ấm cúng hẳn lên.
Thời gian trôi thật nhanh, mới đó mà con gái cưng của hai người, Bảo Châu, đã học lớp chín của một trường trung học tư thục Công giáo. Nghĩ tới con, Hữu thấy lòng ấm lại. Con bé thông minh xinh đẹp như mẹ. Nhưng tâm hồn lại ướt át giống bố. Ngay từ bé, Bảo Châu đã được bố dạy thuộc lòng những vần thơ. Những ca dao, nói về tình tự quê hương, nơi đã hun đúc tâm hồn lãng mạn mơ mộng của Hữu, khi chàng còn là sinh viên của trường Đại Học Chính trị Kinh doanh Đà Lạt. Ở Việt Nam, Hữu đã tốt nghiệp ưu hạng bằng cao học CTKD. Do đó, sang tới Mỹ, học để lấy bằng MBA là một chuuyện dễ dàng đối với Hữu. Học xong, Hữu được một ngân hàng nổi tiếng ở New York mượn, và chỉ sau một thời gian ngắn Hữu đã được đề cử một chức vụ quan trọng. Với chức vụ này, Hữu thường phải đi hội họp ở các nơi xa.
Vừa từ máy bay bước xuống, Hữu đã thấy tên mình được viết trên một tấm bìa lớn đang được giơ cao bởi hai tay của một người đàn ông đứng chờ sẵn ở cửa ra vào. Hữu bước tới tự giới thiệu tên mình. Chiếc Limousine mầu đen bóng, dài thậm thượt đưa Hữu về một khách sạn sang trọng của thành phố San Francisco. Từ cửa sổ phòng của khách sạn, Hữu có thể nhìn thấy cả một vùng biển mênh mông với cây cầu Golden Gate mờ sương ở đằng xa. Điện thoại reo, cô thư ký của khách sạn nhắc Hữu chiều nay ở Ballroom của khách sạn, có buổi tiếp tân chào mừng các nhân viên của ngân hàng từ các nơi tới dự đại hội.
Thay quần áo xong, Hữu định ngả lưng xuống giường ngủ một giấc cho khỏe vì mấy đêm nay Hữu phải thức khuya làm cho xong mấy bài thuyết trình. Chợt nhớ tới vợ, Hữu vội nhỏm dậy bấm điện thoại, Hữu mỉm cười với ý nghĩ sẽ kể cho Linh nghe cảm giác của chàng sáng nay, khi thấy cặp vợ chồng bịn rịn tình tứ chia tay nhau ở phi trường. Chàng đã thầm mơ ước cặp vợ chồng đó là Linh và chàng. Tiếng trả lời của cô thư ký ở bệnh viện làm Hữu cụt hứng. Cô cho biết, Linh đang bận trong phòng đỡ đẻ. Chàng nhắn lại mấy câu vắn tắt và không quên dặn Linh gọi lại cho chàng. Nghĩ tới công việc bận rộn của vợ, Hữu phục nàng vô cùng. Linh là một bác sĩ rất giỏi và can đảm. Nàng luôn luôn bình tĩnh trong mọi trường hợp khẩn cấp nguy hiểm. Nàng có cái cứng cỏi của một người đàn ông trước mọi vấn đề. Đôi khi cả những chuyện khúc mắc của tình cảm, nàng cũng dùng lý trí để giải quyết. Với Linh không có gì đáng để chảy nước mắt. Sau bao nhiêu năm chung sống, chưa một lúc nào Hữu thấy sự mềm yếu hay xúc động quá đáng ở Linh.
Ngược lại Hữu rất dễ bị xúc động và mềm lòng. Ngay cả việc giáo dục Bảo Châu, Linh luôn luôn cứng cỏi và Hữu thường mềm yếu với con. Do đó Bảo Châu gần gũi với bố hơn là với mẹ. Vả lại công việc của Linh cũng quá bận rộn, nên nàng cũng không có nhiều thì giờ dành cho con gái.
Cho tới chiều , lúc Hữu sửa soạn xuống nhà để dự tiếp tân, Linh cũng chưa gọi lại cho chàng. Trước khi rời phòng, Hữu gọi cho vợ một lần nữa. Giọng Linh trả lời ở đầu dây có vẻ mệt mỏi:
-Nhận được “message” của anh, nhưng bận và mệt quá, nên em định tối về nhà sẽ gọi anh.
-Anh sắp phải đi dự tiếp tân ở dưới nhà.
-Vậy à, tới giờ đi chưa, coi chừng trễ. Anh nhớ đừng uống rượu và hút thuốc nhiều nhé.
Hữu trêu vợ:
-Thưa bác sĩ, em xin nghe lời.
-Tốt, “Have fun.”
-Chỉ có thế thôi à, em không có gì nói thêm sao?
-Nói thêm gì à? Giọng Linh có vẻ hơi ngạc nhiên.
-Anh muốn em nói chẳng hạn như “tối nay ngủ một mình em sẽ nhớ anh lắm.”
-Linh cười thành tiếng. “Cải lương quá đi, không có anh em sẽ ngủ ngon hơn vì không có ai dành đắp hết phần chăn của em.”
-Em vô tình như một tên đàn ông khô khan.
-Anh lẩm cẩm giống như con gái mới lớn.
Muốn nói một câu thật tình tứ với vợ, nhưng bị nàng chặn họng như vậy nên Hữu cụt hứng luôn.
-Thôi, bye em!
-Bye anh!
Bỏ điện thoại xuống, Hữu còn đứng tần ngần một lát, Hữu thấy mình hơi lẩm cẩm thật. Không hiểu sao, bỗng dưng hôm nay tự nhiên Hữu thèm một chút âu yếm, một chút tình tứ của vợ. Có lẽ vì thấy cặp vợ chồng âu yếm nhau ở phi trường, mà những tình cảm vẫn ẩn kín trong lòng chàng bỗng dưng sống lại.
Đời sống vợ chồng Hữu mấy năm sau này, ngoài những liên hệ gối chăn, Linh đối với chàng như một người bạn, ít có khi nào như một người tình. Những phút du dương hầu như không bao giờ có nữa. Đôi khi Hữu tự hỏi lấy nhau vì tình mà chán thế này sao.
Mải nghĩ ngợi lan man, Hữu quên mất cả thời gian. Nhìn đồng hồ, Hữu giật mình, đã trễ gần nửa tiếng. Chàng lật đật rời phòng xuống dưới nhà.
Bước vào cửa ballroom, một hình ảnh đập ngay vào mắt Hữu. Mái tóc đen được bới cao, để lộ cái gáy trắng ngần của người đàn bà đang đứng quay lưng lại phía chàng. Nàng có cái dáng thật đẹïp, thật sang. Mái tóc đen và thân hình mảnh mai đó, chắc chắn phải là người Á đông. Không biết tại sao Hữu lại nghĩ như vậy.
Một vài người quen nhận ra Hữu, chạy lại vồn vã bắt tay. Mải nói chuyện, Hữu quên luôn hình ảnh đặc biệt vừa qua. Lúc được mời vào bàn để ăn cơm tối, tình cờ Hữu lại được xếp ngồi đối diện với nàng. Nhìn cái bảng tên, Quyên Lệ Trần dán trên áo, Hữu mới biết nàng là người đồng hương.
Chàng hỏi ngay một câu bằng tiếng Việt.
-Bà ở vùng nào đến?
Nàng khoảng ngoài bốn mươi tuổi, khuôn mặt thật dễ thương. Không đẹp lắm nhưng rất có duyên.
Nàng cười để lộ hàm răng trắng bóng:
-Tôi là dân địa phương. Ông không có bảng tên, nên tôi không biết ông là người Việt Nam.
-Tôi đến hơi trễ, thành không kịp lấy bảng tên. Tôi là Phạm Nguyên Hữu, đến từ New York.
-Hân hạnh được gặp ông, một người tôi đã nghe tiếng từ lâu, bây giờ mới được gặp mặt. Ông xếp lớn của tôi ca tụng ông lắm.
Hữu đỏ mặt sung sướng vì lời khen của nàng. Tuy vậy chàng vẫn khiêm tốn:
-Thiếu gì người tài giỏi hơn tôi, nhưng chắc họ muốn khuyến khích dân da mầu, nên mới nhắc tới tôi như vậy.
-Ông đừng nhún mình, ông không giỏi làm sao họ gửi ông đến đây thuyết trình và huấn luyện chúng tôi.
Sau bữa cơm, mọi người được mời lên lầu bảy để uống rượu và nghe nhạc. Phải công nhận người Mỹ họ uống rượu kinh thật. Họ uống như hũ chìm mà vẫn chưa say, trong khi chỉ uống có một ly mà Hữu đã thấy người lâng lâng rồi. Ban nhạc chơi thật điêu luyện. Họ trình bày toàn những bản nhạc nổi tiếng của thập niên năm mươi như “Smoke Gets in Your Eyes”, “Love is a Splendored Thing”, “When I Fall in Love” v. v… Những bài hát xưa cũ đưa Hữu trở về những ngày tháng mộng mơ của Đà Lạt mù sương. Cầm ly rượu trong tay Hữu lại gần cửa sổ. Qua khung cửa kính, cây cầu Golden Gate rực rỡ đằng xa với hàng vạn ngọn đèn sáng lấp lánh giống như hội hoa đăng
-Ông thấy thành phố San Francisco ban đêm có đẹp không?
Hữu giật mình quay lại, Quyên đứng ngay sau lưng chàng, gần đến độ chàng ngửi thấy mùi nước hoa thoang thoảng thơm như mùi phấn của nàng.
Dưới ánh đèn mờ ảo, trông Quyên đẹp hẳn lên. Chàng trả lời, giọng thoáng xúc động:
-Đẹp, đẹp vô cùng.
Hữu không biết mình khen thành phố ban đêm đẹp hay khen Quyên đẹp. Một lúc sau, lấy lại bình tĩnh, Hữu nói tiếp:
-Tôi mê San Francisco từ hồi học tiểu học Ngày đó theo bà chị đi xem ciné có một phim tả một chuyện tình thật đẹp lồng trong khung cảnh động đất ở San Francisco năm 1906. Tôi nhớ mãi hai câu quảng cáo trên báo về cuốn phim đó:
“San Francisco lửa cháy ngợp trời
Trong cơn nguy biến chẳng quên lời ước xưa.”
Bây giờ nghe nó hơi cải lương, nhưng sao hồi đó tôi thích hai câu thơ này quá. Mê từ ngày nhỏ mà bây giờ mới được đặt chân tới.
-Lần đầu tiên ông tới đây à? Như vậy tôi xin tình nguyện làm ‘’tour guide’’ đưa ông đi thăm thành phố.
-Ngay bây giờ có được không?
Quyên ngạc nhiên:
-Ngay bây giờ à? Cũng được, nếu ông không ngại thức khuya. Tôi sẽ đưa ông đi một vòng coi thành phố ban đêm.
Hữu nghe náo nức một cách kỳ lạ.
-Vậy mình đi ngay nhé.
Vừa lái xe, Quyên vừa giới thiệu các nơi chốn đi qua như một ‘’tour guide ‘’ chính hiệu:
-Đây là Union Square, trung tâm của Downtown, gồm những tiệm bách hóa thật sang. Ở đây có một tiệm ăn rất nổi tiếng về đồ biển từ mấy chục năm qua, tên là tiệm Tadich Grill. Bữa nào tôi sẽ mời ông đi ăn cho biết. Bây giờ tôi đưa ông sang Marin County, đến một khu phố ngoài ven biển. Chắc ông sẽ thích lắm, đó là khu Sausalito.
Nói rồi, Quyên vòng xe lại và phóng vút đi qua những con phố lên dốc xuống đèo giống như Đà Lạt. Quyên lái xe hơi nhanh khiến Hữu phải lên tiếng:
-Trông Quyên tưởng hiền lắm, không ngờ lái xe liều ghê quá! Tôi xin phép gọi bằng tên giống như người Mỹ cho thân mật.
-Không sao, ông cứ tự nhiên, ông nhìn bề ngoài mà xét đoán người là lầm chết đó
-Cho tôi xin chữ ‘’ông” được không?
-Cũng được, với điều kiện ông mời tôi một chầu cà phê. Quyên trả lời với giọng hơi diễu cợt.
-Đó là điều tôi mong ước, tôi cũng đang thèm một ly cà phê thật ngon.
-Để tôi đưa anh đến tiệm Casa Madrona trên đường Bridge Way ở Sausalito. Đó là một nơi nổi tiếng nhất của thành phố này vì có cái ‘’view’’ rất đẹp.
Xe đã bắt đầu đi vào cầu Golden Gate, Quyên bấm nút cho cái ‘’Sun roof’’ mở ra, gió biển thật mát ùa vào trong xe. Hữu ngả đầu ra phía sau, ngước nhìn lên cao, bầu trời trong vắt đầy sao lấp lánh.
Tự nhiên Hữu nhớ tới lá thư tình đầu tiên chàng viết cho cô hàng xóm thuở còn ở trung học. Chàng đã cóp một câu của một nhà văn nào đó chàng không nhớ.
“Em hãy đếm trên trời có bao nhiêu vì sao, thì anh yêu em nhiều hơn thế nữa.”
Lãng mạn làm sao cái thuở học trò. Tiếng Quyên đưa Hữu về thực tại:
-Anh có biết năm 1987 nhân ngày kỷ niệm 50 năm thành lập cây cầu này có 800 ngàn người chen chúc đi bộ qua cầu mà cây cầu vẫn chịu đựng được không?
-Tôi có đọc tin ấy ở trên báo, tôi còn nghe nói có nhiều người thích đến đây để tự tử lắm có phải không?
-Năm nào cũng có vài người từ xa đến đây để tự tử.
-Tôi không hiểu tại sao đã chán đời đến độ muốn chết mà còn phải kén chọn cây cầu đẹp nhất nước Mỹ để đứng nhẩy xuống mà tìm cái chết.
-Có lẽ những người đó họ có kỷ niệm với cây cầu này chăng.
Xe đã qua khỏi cầu và bắt đầu đi vào Marin County. Chẳng mấy chốc Sausalito đã hiện ra thrước mặt. Khu phố này dựa vào sườn núi và chạy dọc theo ven biển đẹp và thơ mộng vô cùng.
Hai người ngồi uống cà phê ở nhà hàng trên sườn núi. Họ ngồi ở cái bàn sát cửa sổ, nhìn ra biển. Ánh trăng vàng đổ tràn xuống mặt nước lung linh làm Hữu nhớ tới hai câu:
“Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.”
Chàng hỏi Quyên:
– Quyên có bao giờ được nhìn thấy các cô gái quê tát nước bằng gầu dây những đêm sáng trăng ở Việt Nam chưa?
– Có chứ, hồi nhỏ về quê nghỉ hè tôi đã được nhìn thấy hết những hình ảnh đẹp của thôn quê Việt Nam. Câu hỏi của anh làm tôi nhớ lại hai câu ca dao tôi rất thích:
“Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.”
Hồi còn là sinh viên hai câu này đã cho tôi nguồn cảm hứng viết một bài phiếm vui nói về những nét đẹp gợi cảm của ngưới con gái Việt Nam ở thôn quê.
Hữu cười thích thú:
-Chẳng hạn như?
-Chẳng hạn như hình ảnh một đêm trăng, hai người con gái mặc yếm để lộ nguyên hai cánh tay, vai và cái lưng trần, mặc váy quá đầu gối, người đu đưa làm những động tác ngả người ra sau để tát nước, anh không thấy hình ảnh đó rất đẹp và gợi cảm hay sao?
-Nghe nhà văn Lệ Quyên tả, tôi muốn bay về Việt Nam ngay để ngắm cảnh tát nước dưới ánh trăng.
Câu nói đùa của Hữu làm hai người cùng cười vui vẻ. Chàng nói tiếp:
-Quyên có biết thoạt nhìn ánh trăng chan hòa trên mặt biển, tôi đã nhớ ngay đến hai câu ca dao đó nên mới hỏi Quyên đã được nhìn cảnh tát nước đêm trăng ở quê nhà chưa đấy chứ.
Quyên đùa:
-Vậy là “tư tưởng lớn gặp nhau,” và nàng tiếp, tôi mê thơ lắm, mê từ ngày còn đi học.
Một làn gió lạnh từ ngoài biển thổi vào làm bay tung chiếc khăn quàng mỏng vắt hờ hững quanh vai Quyên, nàng hơi rùng mình. Hữu vội hỏi:
-Quyên lạnh phải không?
Không chờ nàng trả lời, chàng đứng ngay dậy cởi áo vest ngoài khoác nhẹ lên vai nàng. Nàng đưa tay đỡ cái áo, vô tình tay hai người chạm nhẹ vào nhau làm nàng bối rối:
-Cảm ơn anh, thường nếu đi chơi tối ở đây thế nào tôi cũng mang theo áo lạnh, hôm nay bất ngờ quá nên không chuẩn bị gì cả.
-Quyên có thường ra đây chơi không?
-Thỉnh thoảng khi nào có bạn ở xa tới. Với tôi, đây là nơi đẹp nhất và tôi thích nhất. Hồi còn nhà tôi, cuối tuần nào tụi tôi cũng lang thang ở đây. Từ ngày anh ấy mất, tôi không còn ra đây chơi thường nữa.
-Anh nhà mất lâu chưa?
Nét mặt đang vui của Quyên bỗng thay đổi hẳn, nàng nói giọng đầy xúc động:
-Ba năm rồi anh ạ. Nhà tôi chết vì tai nạn xe hơi, thật bất ngờ. Cho tới bây giờ tôi vẫn không thể tưởng tượng được là chuyện đó có thể xảy ra. Buốn lắm anh ơi!
Nói xong nàng đứng dậy:
-Khuya rồi, mình nên về đi ngủ. Ngày mai sau giờ họp tôi lại tiếp tục làm “tour guide” đưa anh đi thăm thành phố.
Trên đường về, ngồi lái xe Quyên không nói năng gì cả. Hữu phải lên tiếng trước:
-Xin lỗi Quyên, tự nhiên tôi lại hỏi thăm chuyện anh nhà làm Quyên buồn.
-Không phải tại anh đâu, anh không hỏi tới, tôi cũng không tài nào quên được. Chuyện nhà tôi mất, không những tôi chỉ đau khổ mà còn ân hận nữa. Vợ chồng tôi rất thương nhau nhưng hay khắc khẩu. Nhiều khi chuyện thiên hạ mà hai vợ chồng cũng bất đồng ý kiến rồi cãi nhau. Tính nhà tôi lại nóng, cơn lên hay nói nặng và nói dai. Một hôm, hai vợ chồng cãi nhau, tôi giận xách gối sang phòng khác ngủ. Sáng hôm sau, trước khi đi làm, nhà tôi xin lỗi, tôi vẫn làm ngơ không trả lời. Trên đường đến sở, anh ấy bị tai nạn xe hơi, chở vào nhà thương mấy tiếng đồng hồ sau thì anh ấy chết. Lúc bị thương anh ấy hôn mê nên tôi không nói được lời nào với anh ấy cả.
Kể tới đây, giọng Quyên nghẹn lại:
-Bây giờ tôi có muốn nói một ngàn lời tha thứ cho anh ấy vui, cũng không nói được nữa. Đó là điều làm tôi cảm thấy ân hận vô cùng.
-Quyên không nên tự trách mình như vậy. Vợ chồng giận nhau là chuyện quá thường, sống chết là do số mệnh hết, không ai biết trước được.
Xe đã về đến khách sạn. Trước khi xuống xe, Hữu dặn Quyên:
-Lát nữa về nhà, Quyên nhớ gọi cho tôi biết để tôi yên tâm là Quyên về tới nhà bình yên. Đàn bà lái xe một mình về khuya tôi ngại quá. Đây là số điện thoại ở phòng tôi.
-Cảm ơn anh đã quá lo cho tôi. Bây giờ tôi chả biết sợ là gì cả. Sống một mình quen rồi anh ạ. Nhiều khi tôi có cảm tưởng tôi giống như đàn ông.
Hữu quay sang Quyên, dí dỏm:
-Thưa bà, dù bà có can đảm cỡ nào, dù bà có lái xe phóng như bay nhưng với dáng dấp thừa nữ tính của bà, tôi cũng không thể nào chấp nhận coi bà như một người đàn ông được.
Quyên nhìn Hữu cười rồi lắc đầu thật nhẹ.
Ra khỏi xe, Hữu đi vòng sang phía Quyên ngồi, cúi xuống nhìn nàng:
-Cảm ơn Quyên đã cho tôi một buổi tối thật vui.
Xe Quyên đi rồi Hữu còn đứng nhìn theo. Về phòng, Hữu không sao ngủ được. Chàng nghĩ tới Quyên và thấy nàng tội nghiệp vô cùng. Khổ nhất là con người phải sống với niềm ân hận, nhất là người đó lại nhiều tình cảm như Quyên. Qua cách nói chuyện, Hữu biết Quyên là người đa sầu đa cảm, mơ mộng và sống nhiều về nội tâm. Tự nhiên Hữu so sánh Quyên với Linh. Linh hoàn toàn trái ngược. Nàng thích đọc sách về khoa học hơn là thơ văn. Tính nàng cứng cỏi, thích thể thao, khiêu vũ và những chỗ ồn ào vui vẻ. Chẳng bao giờ Linh có cái thú ngồi uống cà phê, ngắm trời, trăng, mây, nước như chàng và Quyên buổi tối hôm nay. Nói chuyện với Quyên thật thích thú. Nàng duyên dáng, thông minh và có nhiều ý tưởng thật giống chàng. Nghĩ tới đây Hữu giật mình, “chết thật, sao mình nghĩ về Quyên nhiều như vậy.” Chàng như người sắp đi ra biển, sợ chết đuối nên cố gắng đi kiếm chiếc phao để đề phòng.
Chàng gọi điện thoại cho vợ.
Chuông reo một lúc lâu Linh mới nhấc máy, giọng nàng có vẻ ngái ngủ:
-Anh hả? Sao gọi khuya vậy.
-Nhớ em quá nên muốn gọi em. Mọi khi giờ này em còn thức đọc sách mà.
-Hôm nay bệnh nhân nhiều, mệt quá` nên đọc sách không nổi thành đi ngủ sớm.
-Ngủ dễ vậy, không nhớ anh à?
-Anh mới đi từ sáng đến giờ, lâu lắc gì mà nhớ.
-Vậy mà ngồi trên máy bay, anh đã nghĩ và nhớ em rồi đó. Anh hỏi thật nhé, có bao giờ em sợ mất anh không?
Giọng Linh diễu cợt
-Sao tự nhiên hỏi lẩm cẩm vậy. Nếu có, thì anh là người phải sợ mất em, chứ sao em lại phải sợ mất anh? Có một người vợ như em là phúc cho anh rồi mà anh còn lang bang nữa thì em cho anh đi luôn, chứ có gì mà phải sợ mất? Thôi để em ngủ, đừng nói chuyện vớ vẩn nữa, good night anh.
Bỏ điện thoại xuống, Hữõu nghe nản một cách lạ lùng. Cái phao Hữu muốn bám vào cho khỏi bị chết đuối lại là cái phao xì hơi đã bẹp dí. Bám vào, nó lại càng nặng và làm cho chàng dễ bị chết đuối hơn. Chàng nói thầm với Linh trong ý nghĩ:
‘’Em cứ tưởng em có nhiều điều kiện lắm. Sắc đẹp, tiền bạc, bằng cấp, thằng nào lấy được em là phúc tổ. Em có biết đâu, những điều đó đối với anh thật vô nghĩa. Những điều kiện anh cần ở người vợ là sự tế nhị, thông cảm và yêu thương. Cái khổ là tâm hồn chúng mình lại quá khác biệt. Cần gì em phải cho anh đi luôn là em mới mất anh. Có lẽ chúng mình sẽ vẫn phải sống bên nhau vì Bảo Châu nhưng hồn anh thì đã không còn là của em nữa. Mình đã mất nhau từ lâu rồi, em có biết không? Ở với nhau bao nhiêu lâu mà em không hề hiểu anh một chút nào hết.’’
Điện thoại reo, giọng Quyên ở đầu giây thật dịu dàng:
-A lô! anh Hữu phải không ạ?
Hữu nghe giọng mình reo vui khác thường:
-Vâng, tôi đây, đang mong thì Quyên gọi.
-Hồi nãy tôi có gọi nhưng điện thoại bận. Tôi phải cố thức để gọi lại kẻo anh lo.
-Xin lỗi Quyên, tại tôi gọi về NewYork nên đường dây bị bận. Cám ơn Quyên đã cố thức để gọi lại. Nếu không chắc chắn tôi sẽ mất ngủ vì lo đấy.
Quyên cảm động:
-Tôi phải cám ơn anh chứ. Sự lo lắng của anh cho tôi cái cảm giác tôi vẫn là người đàn bà yếu đuối thuở nào. Đã lâu rồi có ai thắc mắc lo lắng gì cho tôi đâu, dù đôi khi tôi vẫn phải lái xe về khuya một mình.
Như biết mình vô ý lộ ra quá rõ tình cảm đặc biệt dành cho Hữu, Quyên vội đổi giọng vui vẻ tự nhiên:
-Khuya rồi để anh ngủ kẻo mệt, tôi cũng buồn ngủ quá. Chúc anh ngủ ngon, hẹn mai gặp anh.
Quyên đã gác máy rồi, Hữu vẫn bần thần cầm cái điện thoại. Cuối cùng, chàng cũng phải bỏ máy xuống. Hữu mở Radio ở đầu giường để vặn đồng hồ báo thức vì ngày mai chàng phải dậy sớm đi họp. Giọng ca sĩ Tony Bennett thật ấm vang lên…
I left my heart in San Francisco….
Hồng Thủy
------------
Tiếc Cho Một Cuộc Tình - Thơ: Hồng Thủy - Nhạc: Văn Sơn Trường - Tiếng Hát: Đèo Văn Sách
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)








