Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2026

Lòng Cha - Thơ: Chương Hà - Nhạc: Nguyễn Tuấn - Tiếng Hát: Đông Nguyễn

Thơ: Chương Hà
Nhạc: Nguyễn Tuấn
Tiếng Hát: Đông Nguyễn

Our Fathers(Anonymous) - Cha Chúng Tôi(Tâm Minh )

 

Our Fathers

Our fathers toil with hands and heart
To make our lives complete.
They quietly brave the winter cold,
Endure the summer heat.
Our fathers' lives are busy, but
There's always time for us.
They boldly face the ups and downs
And seldom ever fuss.
Our fathers are the greatest dads.
We know you know this, too.
But thank you for the chance to share
Our love for them with you.

Anonymous
***
Cha Chúng Tôi


Cha chúng tôi rất nhọc nhằn
Tay luôn làm lụng, tâm hằng lo toan
Tạo cho cuộc sống chu toàn
Chúng tôi được hưởng bình an vô cùng.
Dù Đông buốt giá lạnh lùng,
Dù Hè nóng nực oi nồng cháy da
Cha làm việc, chẳng nói ra
Âm thầm chịu đựng để mà nuôi con.
Dù đời bận rộn dập dồn
Cha luôn tạo dịp để còn thời gian
Bên con tình cảm chứa chan
Coi thường mọi chuyện chẳng than vãn gì
Vui buồn, sướng khổ sá chi
Cha thường bất chấp, thịnh suy vững lòng.
Cha chúng tôi thật vô song
Quả là vĩ đại ở trong cõi đời
Biết rằng các bạn rõ rồi
Chúng tôi vẫn phải ngỏ lời cám ơn
Tạ lòng bạn vì tình thân
Đã cùng chia xẻ, dự phần ngợi ca
Tình Cha con thật mặn mà
Chúng tôi đều rất yêu Cha nồng nàn.

Tâm Minh (Ngô Tằng Giao)

Dệt Mộng Tôn Vinh Tình Cha

 

Thời gian kết chuỗi thở dài.
Nghe như hoa tuyết trong tay lạnh lùng.
Bao giờ thôi hết mùa Đông?
Bao giờ tìm lại mùa Xuân thắm màu?

Đêm dài thăm thẳm mắt sâu.
Ngày dài chồng chất dạ sầu ly hương.
Bờ môi lấp lánh trùng dương.
Tâm tư cuộn sóng trên đường viễn du.

Khói hương thơm chín vần thơ.
Nhớ Thầy dệt mộng bên bờ âm dương.
Con như say giấc mơ hiền.
Thấy Thầy từ chốn Đào Nguyên trở về.

Cha con đoàn tụ hả hê.
Thơm mùi lúa chín hương quê đậm tình.
Lạy Trời ban phước hiển linh.
Cho con dệt mộng tôn vinh ơn Thầy.

Lâm Hoài Vũ

Hương Cà Chua

 

Một ngày đầu mùa hè. Trong các chợ trái cây bắt đầu có nhiều. Chuối mùa nào cũng có vì nhập cảng từ các xứ nhiệt đới. Những trái dứa xanh xanh vàng vàng xếp hàng ngay ngắn trên quầy bên cạnh những quả dưa hấu đầu mùa. Những hộp dâu to strawberry mọng đỏ xếp xen với các hộp dâu rừng đỏ nhỏ nhỏ xinh xinh raspberry, và những hộp dâu xanh tím blueberry giống như trái sim trong những cánh rừng Blao (Lâm-đồng).

Đang mải nhìn các hàng trái cây tươi mát, chợt đâu đây phảng phất mùi hương hăng hắc của một thứ trái cây khiến tôi dừng lại để tìm xem mùi hương ấy ở đâu. Lâu lắm rồi tôi chưa ngửi thấy mùi trái cây này, một mùi hương của buổi sáng sớm vào hè, trong không khí thanh khiết của ngày mới bắt đầu, với tia nắng đang lên của hừng đông, bụi cây thấp mọc quấn quanh những chậu làm bằng song sắt, lá xanh mơn mởn lay nhẹ đùa theo ngọn gió, những trái cà xanh còn nhỏ lẫn với những trái cà chua chín mọng đỏ…

Lúc ấy tôi khoảng chín, mười tuổi. Mùa hè, ba tôi dẫn mấy chị em tôi theo ba tôi đi làm. Những sáng ba tôi vào trại gia-binh, tôi chạy theo gia đình những người lính vào nơi trồng rau. Trại gia-binh là nơi ở của những gia đình binh lính. Trong khi người lính đi hành quân hay thi hành công vụ, gia đình họ được vào ở trong các trại gia-binh. Ở đây họ có vườn trồng rau để có rau đem bán làm kế mưu sinh.

Là dân thành thị, tôi rất thích thú sống đời sống “nhà quê” trong trại gia-binh. Những căn nhà xây cất tụ tại một khu vực nhất định, còn lại là vườn rau mênh mông. Những luống rau xếp hàng ngăn nắp, nhiều loại rau cải, cà chua, cà pháo, mướp, bí, su su, v.v… Tôi đi theo những người sinh sống trong trại giúp họ hái những trái cà chua đã chín. Những trái cà chua có mùi hương hăng hắc ấy đã vào ngủ trong tiềm thức của tôi.

Năm mươi năm sau… Ba tôi đã qua đời sáu năm nay. Mùi hương cà chua hăng hắc vẫn thoang thoảng đâu đây. Mỗi lần đi chợ vào mùa hè, bao giờ tôi cũng đến hàng cà chua, phải là loại chín cây - “vine ripe” - mới có mùi hương thơm ấy của kỷ niệm. Mỗi lần mua cà chua lại mỗi lần nhớ đến những ngày đi với ba tôi đến trại gia-binh. Có khi mua những trái cà chua chín cây ấy chỉ để nhớ lại một kỷ niệm ngày xưa, để nhớ đến ba tôi.

Ngô Thị Quý Linh
Viết vào ngày giỗ năm giáp-ngọ (Ngày 29 tháng 8 năm 2014)

Demain, Dès L’aube (Victor Hugo)Ngày Mai Lúc Sớm Tinh Sương (Trần Quốc Bảo)

Demain, Dès L’aube

Demain, dès l’aube, à l’heure où blanchit la campagne,
Je partirai. Vois-tu, je sais que tu m’attends.
J’irai par la forêt, j’irai par la montagne.
Je ne puis demeurer loin de toi plus longtemps.

Je marcherai les yeux fixés sur mes pensées,
Sans rien voir au dehors, sans entendre aucun bruit,
Seul, inconnu, le dos courbé, les mains croisées,
Triste, et le jour pour moi sera comme la nuit.

Je ne regarderai ni l’or du soir qui tombe,
Ni les voiles au loin descendant vers Harfleur,
Et, quand j’arriverai, je mettrai sur ta tombe
Un bouquet de houx vert et de bruyère en fleur.

Victor Hugo

 ***

Ngày Mai Lúc Sớm Tinh Sương

Ngày mai lúc sớm tinh sương,
Tức thời, bố sẽ lên đường tới con!
Dù sương trắng phủ làng thôn,
Dù muôn cản trở, núi non chập chùng.
Con ơi, bố sẽ lên đường!
Bởi vì bố biết, con đương mong chờ…
Xa con thương nhớ vô bờ!
Không lòng nào để phút giờ dài thêm.

Ưu tư dằng dặc ngày đêm,
Cúi đầu lầm lũi, đi trên nỗi sầu
Không nghe cũng chẳng nhìn đâu,
Vòng tay cô độc, lòng rầu héo hon!

Lúc chiều vàng xuống đầu non,
Harfleur cập bến những con thuyền buồm,
Là khi bố trọn bước đường,
Thấy con ở giữa nghĩa trang đợi chờ,
Lướt choàng ôm bố, như mơ...
Bố quỳ gục xuống nấm mồ hôn con!
Này hoa thanh-thảo, buy-gon,
Tặng con, để mộ chẳng còn mồ côi.
(… dường như có tiếng… Bố ơi! 
)


Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia

(*) - Chuyện buồn sau đây, đã khiến Victor Hugo viết nên bài Thơ trên:

- Gia đình Victor Hugo & Adèle có 5 con. Trai đầu lòng chết khi còn nhỏ. Con gái thứ hai tên Léopoldine sinh năm 1824 tiếp theo là Charles rồi đến François-Victor và út Adèle - Léopoldine, được cha yêu thương nhất. Năm 19 tuổi (1843) cô kết hôn với Charles Vacquerie, vài ngày sau hôn lễ, hai vợ chồng trẻ dạo thuyền trên sông Seine, chẳng may thuyền bị lật tại Villequier. Léopoldine chìm xuống nước, người chồng cố gắng cứu. Nhưng rốt cuộc, cả hai đều thảm tử. Mất Léopoldine, Victor Hugo đau đớn tột cùng. Lúc ấy. ông đang ở miền Nam nước Pháp, ông chỉ biết cái chết của con gái, từ một tờ báo mà ngẫu nhiên ông đọc trong quán cà phê. - Sau đó, Victor Hugo viết nhiều thơ về con gái. Bài thơ nổi tiếng nhất là "Demain dès l'aube" (Ngày Mai Lúc Sớm Tinh Sương), trong đó ông mô tả việc đi thăm mộ Léopoldine, con gái yêu của ông.    
        

Khi Đàn Ông Rửa Chén

(Ảnh: Tác Giả)

Khi còn ở Việt Nam, hầu hết các ông chồng hiếm khi xắn tay rửa chén giúp vợ. Nhưng qua đến xứ tự do Mỹ, hình như mọi thứ… đảo ngược. Ở đây, cả hai vợ chồng đều bận rộn đi làm, nên việc nhà trở thành “phối hợp bắt buộc”, và các ông bắt đầu… tập tành rửa chén. Ai cũng phải làm quen với bọt xà phòng, với việc cầm chén, cầm bát mà không làm rớt/bể chén, muỗng.

Kể cả những ông tỷ phú Mỹ cũng không ngoại lệ. Hãy tưởng tượng Bill Gates, người từng khiến cả thế giới sửng sốt vì Microsoft, lại có thể xắn tay áo rửa chén sau bữa cơm. Bà Melinda French Gates, vợ cũ của Gates, kể rằng Bill không giỏi nấu ăn, nhưng lại nghiêm túc đến mức… tranh “ưu tiên” rửa chén. Cái hay không phải ở tay nghề, mà ở thái độ. Một vị tỷ phú công nghệ đứng nghiêm túc bên bồn rửa, tôn trọng công việc của người bạn đời. Một bài học nhỏ về khiêm nhường, kể cả đỉnh cao công nghệ cũng phải chịu… nhúng tay trong xà phòng.
Jeff Bezos, ông chủ Amazon, cũng là một ví dụ không kém phần thú vị. Giữa áp lực xây dựng đế chế thương mại điện tử, Bezos vẫn dành thời gian dạy các con lau bát, xếp đĩa, và đôi khi… tự rửa nếu thấy vợ bận. Hình ảnh các tỷ phú xắn tay áo, tay ướt xà phòng, nhìn từ xa chẳng khác gì một người cha bình thường đang vật lộn với bọt biển, vừa hài hước vừa ẩn chứa thông điệp sâu sắc. Trong gia đình, quyền lực không nằm ở tài sản, mà ở sự chia sẻ.
-oOo-

Một lần, hai vợ chồng chúng tôi đưa con đi dự thi bơi lội cho đội tuyển của các trường trung học trong vùng. Các con bận rộn với những vòng bơi, với nước tung tóe, với trọng tài, với bảng điểm, nên chúng tôi ngồi một góc nói chuyện cho qua thời gian. Không khí hồ bơi luôn đầy âm thanh với tiếng còi, tiếng vỗ nước, tiếng la hét cổ vũ, xen lẫn mùi chlorine nồng nặc. Một cảnh tượng hỗn hợp giữa căng thẳng và hài hước, nơi cha mẹ phải tìm cách… sống sót qua những giờ chờ dài.

Chị vợ anh bạn tôi, một người phụ nữ xinh đẹp vui tánh, đang ngồi kế bên vợ tôi, mắt nhìn hồ bơi mà thỉnh thoảng lại nhấp nháy nhìn điện thoại, chắc đang theo dõi “thành tích” con mình. Anh bạn tôi, vốn dễ thương dễ mến và cũng vui tánh (như vợ), mở màn cuộc trò chuyện bằng những câu hỏi bất ngờ. Anh quay sang vợ tôi và hỏi:
– Ở nhà chồng em có phụ em rửa chén không?
Câu hỏi nghe tưởng đơn giản mà khiến vợ tôi phải nhoẻn miệng cười. Chị vợ anh ấy (dường như đoán được ý định) mỉm cười rồi nghiêng người, nói với vợ tôi:
– Ảnh đi tìm đồng minh đó.
Vợ tôi mỉm cười, trả lời rất tự nhiên:
Không những ảnh rửa chén, mà còn nấu ăn cho cả nhà nữa.
Nghe vậy, chị vợ cười, mắt long lanh pha lẫn thích thú:
Thật không đó hả? Vậy mà anh chồng chị… hỏng thể. Khi chị mệt, nhờ anh rửa giùm thôi mà anh ấy mặt mày bí xị, cứ như vừa bị… thiên tai hay mất hết tài sản. Rửa chén nhưng không vui, còn gọi méc mẹ, méc luôn cả mẹ vợ…
Cả bàn vừa nghe vừa cười. Tôi lẩm bẩm trong bụng:
– Ôi, thấy mà thương phận người rửa chén…

Cả nhóm cha mẹ ngồi bên bể bơi cười rần rần. Không khí bỗng vui vẻ hẳn lên. Những câu chuyện về chồng rửa chén bỗng nhiên trở thành “chủ đề nóng” trong hội cha mẹ chờ con thi. Mỗi người đều kể về ông chồng nhà mình; người thì rửa xong lại bỏ quên bát trên bồn, người thì rửa ẩu làm nước văng tung tóe khắp bếp, người thì đứng nhìn bát đĩa mà mặt nhăn như vừa chịu trận. Và ai cũng đồng ý một điều, rửa chén là một nghệ thuật, và đôi khi còn là một “trận chiến nội tâm” cực kỳ hài hước.

Chị vợ anh bạn lại kể tiếp, giọng pha chút kịch tính:
– Mỗi lần nhờ anh rửa, anh ấy còn kêu: “Anh không quen rửa chén và chưa bao giờ biết! Rồi khi úp chén vào máy rửa, anh gọi phone méc . Chị đứng bên cạnh mà cười rũ, vừa thương vừa… tức cười.”
Bây giờ, mỗi lần khi thấy tôi rửa chén là vợ tôi lại trêu:
– Anh rửa chén rồi có gọi phone méc mẹ hay méc má em không đó?
Tôi cười toe, giả bộ giận dỗi:
– Chọc nữa là méc đó…
Nghe xong, hai vợ chồng đều cười.

Trong khoảnh khắc đó, tôi tự nhủ, những ông chồng biết rửa chén, biết làm việc nhà mà vẫn vui vẻ, chẳng phải chỉ giúp vợ, mà còn rửa luôn những định kiến cũ kỹ trong chính mình. Và biết đâu, giữa tiếng nước róc rách, mọi người đều thấy được một phiên bản đời thường nhưng hạnh phúc của Bill Gates hay Jeff Bezos trong chính căn bếp của mình?

Những ông chồng biết rửa chén không phải vì họ “biết điều” hay sợ vợ. Họ rửa vì hiểu rằng yêu thương đôi khi nằm ở những việc cực nhỏ. Một cái chén sạch, một chiếc đĩa gọn gàng, một bàn tay thấm nước mà vẫn dịu dàng. Đó là cách nói: “Anh ở đây với em”, không cần lời hoa mỹ hay to tát.

Nếu Bill Gates hay Jeff Bezos làm được, thì còn bao nhiêu người bình thường, đang bận rộn với cơm áo, lại tự nhủ: “Mình quá lớn để làm chuyện nhỏ”? Thật ra, hạnh phúc gia đình không đo bằng thành tựu, mà bằng những bọt xà phòng lăn tăn trên tay.

Vậy nên, lần tới khi thấy chồng xắn tay áo rửa chén, đừng cười. Biết đâu anh ấy vừa rửa bát, vừa rửa sạch những định kiến cũ kỹ, vừa rèn luyện kiên nhẫn, vừa nhắc nhở cả nhà rằng tình yêu đôi khi… bắt đầu từ bồn rửa chén. Và biết đâu, giữa tiếng nước róc rách, bạn còn nhìn thấy phiên bản đời thường của Bill Gates hay Jeff Bezos đang cười khúc khích sau lưng.

Võ Phú

Tổng Thống Charles De Gaulle - Lược Dịch & Sưu Tầm: Thái Lan

(21/12/1958 :De Gaulle đắc cử Tổng Thống Pháp)

A/- Tổng Thống Charles De Gaulle
 

Khi con gái Anne chào đời, Charles de Gaulle đã viết thư cho người bạn Lucien Nachin bày tỏ hy vọng rằng cô bé sẽ sống đến năm 2000. Ai có thể ngờ rằng đứa trẻ yếu ớt ấy chỉ sống được hai mươi năm ngắn ngủi; và ai có thể ngờ rằng cô bé lại ảnh hưởng sâu sắc đến cha mình, bộc lộ trong vị tướng tương lai một tình cảm dịu dàng bất ngờ và mãnh liệt?

Tháng 1 năm 1928: trong khi Pháp vẫn đang chiếm đóng thành phố Trier của Đức, Tư lệnh Tiểu đoàn Charles de Gaulle hân hoan chào đón sự ra đời của đứa con thứ ba, một bé gái tên Anne. Nhưng vài tháng sau, gia đình de Gaulle phải đối mặt với một chẩn đoán tàn khốc: con gái họ mắc hội chứng Down (trisomy). Đau lòng trước tin này, Charles và Yvonne de Gaulle đã chọn giữ Anne bên mình, trái với phong tục thời bấy giờ. Họ định cư tại Colombey-les-Deux-Églises, trong một ngôi nhà lớn tránh xa tiếng ồn và những ánh mắt tò mò, để mang lại cho con gái sự bình yên và sự bảo vệ rất cần thiết cho cô bé.

Trong những năm tháng đen tối của Thế chiến thứ hai, khi Tướng de Gaulle gánh vác trọng trách của nước Pháp tự do trên vai, sự hiện diện của Anne bên cạnh ông trở thành một chốn bình yên thực sự. Trong mắt ông, cô là hiện thân của điều khiêm nhường và dễ mến nhất: tình yêu thương của một đứa trẻ ngây thơ.

Nhưng số phận của Anne không tránh khỏi bi kịch. Năm 1948, ngay trước sinh nhật lần thứ 20, cô gái trẻ đột ngột qua đời, để lại Charles de Gaulle đau khổ tột cùng. Tuy nhiên, người cha đau lòng này đã tìm thấy sức mạnh từ mất mát đó để vượt qua mọi trở ngại và hướng về tương lai, như thể ân sủng của Anne đã dẫn lối cho ông.



Vượt ra ngoài câu chuyện lịch sử, tập phim này của "Những Hồ Sơ Lịch Sử Vĩ Đại" mời chúng ta khám phá những mối liên hệ mật thiết đã định hình tâm hồn của Tướng de Gaulle, hé lộ cả ánh sáng và bóng tối trong cuộc đời ông.

Hãy cùng đắm mình vào lịch sử của những nhân vật vĩ đại và những sự kiện then chốt đã định hình thế giới của chúng ta! Với lòng nhiệt huyết và tài năng, Franck Ferrand hé lộ những câu chuyện hậu trường của lịch sử vĩ đại, khám phá những bí ẩn, bí mật và những sự kiện ít được biết đến: một món quà dành cho những người yêu thích quá khứ, từ thời tiền sử đến lịch sử đương đại.

Được thực hiện bởi Audiomeans. Truy cập audiomeans.fr/politique-de-confidentialite để biết thêm thông tin.

Lược Dịch: Thái Lan
---0O0---


Sưu Tầm Và Copied

Thay vì giấu giếm cô con gái mắc hội chứng Down, Charles de Gaulle đã nuôi dạy cô một cách tự hào, và cô trở thành trái tim cuộc đời ông.

Khi Charles de Gaulle qua đời năm 1970, ông đã đưa ra một yêu cầu thầm lặng khiến nhiều người ngạc nhiên. Ông không muốn một tang lễ cấp nhà nước long trọng ở Paris. Ông yêu cầu được chôn cất tại ngôi làng nhỏ Colombey les Deux Églises, bên cạnh con gái Anne của mình. Đối với ông, nơi an nghỉ đó quan trọng hơn bất kỳ tượng đài nào.

Anne sinh vào ngày đầu năm 1928, là con út trong ba người con. Cô mắc hội chứng Down, một tình trạng bị bao vây bởi nỗi sợ hãi và những lời đồn đại vào thời điểm đó. Các bác sĩ và xã hội thường đổ lỗi cho cha mẹ và khuyên các gia đình nên giấu những đứa trẻ như cô khỏi tầm nhìn của công chúng. Đối với các gia đình quyền lực và địa vị, việc gửi những đứa trẻ như vậy đi nơi khác được coi là bình thường.



Charles và vợ Yvonne đã từ chối. Họ nuôi dạy Anne ở nhà cùng với anh trai Philippe và chị gái Élisabeth. Không có bí mật, không có xấu hổ, không có sự chia cách. Cô chỉ đơn giản là con gái của họ.

Đối với thế giới, de Gaulle là người xa cách và cứng rắn. Một nhà lãnh đạo được tôi luyện bởi chiến tranh, kỷ luật và mệnh lệnh. Nhưng trong ngôi nhà của mình, ông đã bộc lộ một khía cạnh mà ít người thấy. Bên cạnh cô, ông cười thoải mái. Ông hát những bài hát, kể chuyện và chơi trò chơi. Bạn bè nhận thấy rằng người đàn ông hiếm khi thể hiện cảm xúc nhưng đã hoàn toàn vui vẻ, thoải mái khi ở bên cạnh cô.

Ông gọi cô là niềm vui của tôi. Anne không đòi hỏi gì ở ông ngoài tình yêu, và trong sự giản dị đó, ông tìm thấy sự bình yên. Cô chưa bao giờ bị đối xử như một người yếu đuối hay thấp kém. Cô được trân trọng, luôn được đón nhận và yêu thương vô điều kiện.

Tình yêu đó không chỉ dừng lại trong gia đình. Sau chiến tranh, Charles và Yvonne đã thành lập Quỹ Anne de Gaulle. Họ biến một lâu đài thành một mái ấm cho những phụ nữ trẻ bị khuyết tật trí tuệ, nhiều người trong số họ đã bị bỏ rơi. Vào thời điểm mà sự hỗ trợ gần như không có- họ đã chọn hành động thay vì im lặng.
Cuộc đời của Anne ngắn ngủi. Cô qua đời vì viêm phổi năm 1948, ngay sau khi tròn hai mươi tuổi, trong vòng tay cha mình. Trong nỗi đau buồn, de Gaulle thì thầm rằng giờ đây cô cũng giống như những người khác, cuối cùng đã được giải thoát khỏi những giới hạn mà thế giới đã đặt ra cho cô.
Sau khi cô qua đời, ông luôn mang theo ảnh của cô bên mình. Ông tin rằng sự hiện diện của cô đã bảo vệ ông, ngay cả trong một vụ ám sát nhiều năm sau đó. Dù là do số phận hay do đức tin, ông chưa bao giờ nghi ngờ tầm quan trọng của cô trong cuộc đời mình.
Charles de Gaulle tìm thấy sự bình yên sâu sắc nhất không phải ở khả năng lãnh đạo hay chiến thắng, mà ở tình yêu thương dành cho một đứa con mà thế giới không cảm thông.

Từ đây cho ta thấy phẩm giá không nằm ở trong khả năng. Mà nằm ở việc chúng ta lựa chọn như thế nào?

Phan Thế Nghĩa (Lược dịch từ Historical Fragments) 

Nhớ Đến Phụ Từ



Trên đỉnh yên bình mây trắng bay
Nghiêm đường khuất núi chục năm nay
Gia đình gánh vác Cha ra mặt
Sự nghiệp lo toan Mẹ tiếp tay
Nợ nặng trần đời nhiều khổ nhọc
Bầu đầy thế sự lắm chua cay
Nhân duyên hoàn mãn người lìa thế
Nhớ đến phụ từ, thương tiếc thay!


Duy Anh
Father's Day Every Year


Demain, Dès L’aube (Victor Hugo)Ngày Mai, Ngay Lúc Rạng Đông (Ngô Tằng Giao)

 

Demain, Dès L’aube

Demain, dès l’aube, à l’heure où blanchit la campagne,
Je partirai. Vois-tu, je sais que tu m’attends.
J’irai par la forêt, j’irai par la montagne.
Je ne puis demeurer loin de toi plus longtemps.

Je marcherai les yeux fixés sur mes pensées,
Sans rien voir au dehors, sans entendre aucun bruit,
Seul, inconnu, le dos courbé, les mains croisées,
Triste, et le jour pour moi sera comme la nuit.

Je ne regarderai ni l’or du soir qui tombe,
Ni les voiles au loin descendant vers Harfleur,
Et, quand j’arriverai, je mettrai sur ta tombe
Un bouquet de houx vert et de bruyère en fleur.

Victor Hugo
***
Các Bài Dịch:

Ngày Mai, Ngay Lúc Rạng Đông

Ngày mai ngay lúc rạng đông
Lúc làng quê đã sáng trưng khắp vùng
Thời Cha sẽ bước lên đường
Con ơi, Cha biết con đương mong chờ.
Cha vượt rừng, núi mịt mờ
Nào đâu có thể mãi mà xa con.
Cha đi, chìm lắng nỗi lòng
Chẳng nhìn ngoại cảnh, không buồn nghe chi,
Đơn côi, lầm lũi bước đi
Lưng khòm, tay chắp, buồn thì triền miên,
Với Cha ngày tối như đêm
Thiết đâu ngắm ánh vàng lên chiều tà
Ngắm buồm Harfleur trôi xa.
Bước chân vội tới chính là mộ con
Cha âu yếm đặt đôi vòng
Hoa “ô rô” lá xanh còn thướt tha
Và chùm thạch thảo nở hoa.

Ngô Tằng Giao
(5-2026)

Lan Man Tháng Sáu Father’ Day và World Cup


Tháng sáu có ngày lễ Cha
Tháng năm có ngày lễ Mẹ

Ông William Jackson Smart sinh ngày 19 tháng 6- 1834 gia nhập quân đội lúc còn rất trẻ. Tàn cuộc chiến ông trở về quê sinh sống như một người nông dân lam lủ cần cù. Là một cựu chiến binh thời nội chiến (Civil War, 1861 – 1865), vợ ông mất để lại cho ông sáu đứa con nhỏ trong một nông trại nghèo ở miền đông tiểu bang Washington. Ông ở vậy làm lụng vô cùng cực nhọc để nuôi sáu người con cho đến ngày khôn lớn. Để đền đáp công ơn và tỏ lòng hiếu thảo đối với người cha, cô Sonora Louise Smart Dodd đã tổ chức một bữa tiệc để vinh danh thân phụ đúng vào ngày sinh nhật của ông năm 1909, lúc đó ông đã 75 tuổi. Bữa tiệc này được nhiều người biết đến và họ bắt chước làm theo rồi dần dà lan truyền khắp nơi. Cho đến năm 1924 tổng thống Calvin Coolidge ký sắc lệnh chính thức công nhận ngày này là ngày lễ quốc gia gọi là Father’ Day. Đến năm 1966 tổng thống Lyndon Baines Johnson chính thức lấy ngày chủ nhật của tuần lễ thứ ba trong tháng sáu làm “Ngày Của Cha”.

Năm nay Father’ Day nhằm vào ngày chủ nhật, 21 tháng 6. Nếu tính theo lịch thời tiết thì đây là ngày hạ chí (Summer Solstice) ở vùng tây bán cầu, là thời điểm mặt trời ở vị trí cao nhất vào buổi trưa. Đây cũng là có thời gian ban ngày dài nhất và ban đêm ngắn nhất ở các quốc gia thuộc tây bán cầu như Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Đặc biệt tại thành phố Houston của Texas có đến 14 giờ ánh sáng ban ngày. Như vậy, năm nay “Ngày Của Cha” các ông Cha có thêm thời gian thời gian hương thụ.

Trước Father’ Day, vào ngày chủ nhật của tuần lễ thứ hai là ngày Mother’ Day diễn ra hôm 10 tháng năm. Nếu nói theo lẽ công bằng thì xã hội Mỹ không đến nỗi “nhất bên trọng nhất bên khinh” nghĩa là có “Ngày Mẹ” thì cũng có “Ngày Cha”. Cha mẹ là bậc đã sinh ra ta, đã nuôi nấng dạy dỗ cho ta khôn lớn, ra đời có chồng có vợ, có cả sự nghiệp…và chuyện biết ơn hai đấng sanh thành là điều hợp với đạo lý con người bất kể đông tây như câu ca dao Việt Nam mà chúng ta trải qua nhiều thế hệ đều đã nghe: Công Cha như núi Thái Sơn Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ Mẹ kính Cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Ngày Mẹ tuy đã qua rồi nhưng cũng xin nhắc lại đôi dòng. Ngày này là một ngày được yêu mến nhất tại đất nước Hoa Kỳ. Đây là dịp để con cái bày tỏ lòng biết ơn và tình yêu thương đối với Mẹ. Nguồn gốc của Mother’ Day gắn liền với bà Anna Javis, một phụ nữ sống tại tiểu bang West Virginia. Mẹ của bà là Ann Reeves Javis – một nhà hoạt động xã hội tích cực trong thế kỷ thứ 19. Bà tổ chức các câu lạc bộ chăm sóc sức khỏe cho các bà mẹ và trẻ em đồng thời vận động hòa giải giữa các gia đình sau thời kỳ Nội Chiến (Civil War, 1861-1865). Bà qua đời năm 1905. Anna Javis mong muốn có một ngày đặc biệt để tưởng nhớ công ơn của các bà mẹ nên đã vận động kêu gọi có một ngày lễ dành riêng cho Mẹ.

Năm 1908 Mother’ Day đầu tiên được tổ chức tại thành phố Grafton, West Virginia. Phong trào lan rộng cho đến năm 1914 tổng thống Woodrow Wilson ký quyết định công nhận Chủ Nhật thứ hai của tháng năm là ngày Mother’ Day.

Hai người phụ nữ đã có công trong việc phát động để có được Ngày Mẹ và Ngày Cha là Anna Javis và Sonora Louise Smart. Cô Anna Javis sinh ngày 1 tháng 5 – 1864 và mất năm 1978, thọ 114 tuổi. Còn cô Sonora Louise Smart sinh ngày 18 tháng 2 – 1882, mất năm 1948, thọ 66 tuổi.


Nhân ngày Cha tháng sáu và ngày Mẹ tháng năm tại xứ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, ta thử nhìn vào một khía cạnh khác của vấn đề là trong xã hội Hoa Kỳ có nhiều sự khác biệt và kỳ thị trong đó có một thứ kỳ thị hết sức mâu thuẫn với lề thói mà thiên hạ “Mỹ” vẫn tôn vinh là sự công bằng. Nói đến người phụ nữ Hoa Kỳ thì về mặt luật pháp, họ được bảo vệ tối đa chả bù với đám phụ nữ của các nước như Iran hay Afghanistan hoặc các nước Á Châu phong kiến…phụ nữ bị áp bức và đối xử rất tồi tệ. Thí dụ nhé: Vào một buổi sáng đẹp trời, một chị vợ Mỹ (trắng đen hay nâu vàng) do đêm mất ngủ, sáng cằn nhằn với chồng rồi leo thang nói hỗn, anh chồng nổi nóng tặng cho chị năm ngón tay vào má bên trái…chưa kịp tặng thêm năm ngón vào má bên phải thì chị đã nhanh tay chụp điện thoại gọi 911 khiến cuộc đời anh chồng từ đó đi kèm với hai chữ “vất vả”. Cảnh sát ập vào nhà và tra ngay còng số tám vào hai tay anh. Và rồi cho dù anh ta có bỏ tiền mua bond năm ngàn hay năm chục ngàn để đóng thế chân hầu được tại ngoại hầu tra, chàng ta vẫn có thể trở thành kẻ “tam vô”: vô nhà cửa, vô con cái và vô…tù. Cho nên nhân ngày lễ Cha, quý đấng nam nhi cũng không nên cậy vào ngày này mà xúc phạm các đấng “bề trên” tức là bà vợ nhà đấy.

Ở trên tôi viết “Ở xã hội Mỹ không đến nỗi ‘nhất bên trọng nhất bên khinh’ ‘có ngày Mẹ cũng có ngày Cha’ nhưng trên thực tế nhìn vào hai con số sau đây “có nhất bên trọng nhất bên khinh” hay không? Theo thăm dò của Hiệp Hội Bán Lẻ Quốc Gia (National Retail Federation) gần đây trong hai dịp lễ kể trên các người con đã bỏ ra 62 đô la mua quà tặng mẹ và chỉ bỏ 52.30 đô la mua quà tặng cha. Thế chẳng phải “nhất bên trọng nhất bên kinh” là gì? Còn thuộc phạm trù “tình cảm” thì người Mỹ có khuynh hướng “thân” với mẹ hơn, chả thế mà có hai chữ họ nói nhiều nhất trong đời là “Mommy” và “Money”, còn chữ “Daddy” thì “xanh căng đít cọt bô” (cinq quand dix corbeau) tức là 5 khi 10 quạ (họa) cũng thế.

Lý giải chuyện trên cũng có lý do của nó. Ở xã hội Hoa Kỳ từ tiền bán thế kỷ 20 trở về trước người cha đóng vai trò quan trọng trong gia đình và kể cả ngoài xã hội. Sau cuộc đại suy thoái kinh tế (Great Depression) năm 1929 làm sụp đổ thị tường chứng khoáng Wall Street cùng thế chiến thứ nhì (1939 – 1945) tiếp theo, xã hội Mỹ có nhiều biến đổi trong đó có vai trò của phụ nữ ngoài xã hội lẫn trong nghị trường đã góp phần đè bẹp phần nào tiếng nói của nam giới. Thực tế lịch sử cho thấy trước đó vai trò của người cha trong gia đình không rẻ rúng như ngày nay. Chỉ nhìn hình ảnh của người cha Mỹ và những người cha di dân đến Mỹ từ những năm kinh tế khó khăn họ vẫn còn lẫm liệt cai quản gia đình trong khuôn phép, người vợ đoan chính, người mẹ gương mẫu lo cho chồng con, phụng dưỡng cha mẹ già. Đến giai đoạn hậu chiến thì các phong trào đòi quyền bình đẳng áp lực giới hoạt động chính trị trong nghị trường phải lưu tâm. Chẳng hạn tu chính án Quyền Bình Đẳng (Equal Rights Amendment) được đưa vào quốc hội năm 1923 nhưng bị ngâm tôm những 49 năm, mãi cho đến năm 1972 mới được thông qua. Ngoài ra vào năm 1868 đã có tu chính án số 14 đề cập đến quyền bình đẳng về pháp lý có liên quan đến các vụ kiện dân sự và quyền của phụ nữ trong thực tế đời sống. Nhưng! Nói gì thì nói chứ luật là mớ chữ nghĩa viết trên giấy để cho mấy ông quan tòa tối cao lẫn tối thấp mang ra tranh cãi và lắm khi “ông nói gà bà nói vịt” khiến cho cả hai bên “nam lẫn nữ” vẫn cứ chịu hàm oan được ghi rõ trong một vài án lệ và cả thực tế ngoài đời. Nhớ cách nay hơn ba mươi năm khi tôi vừa đến thành phố Houston làm dân tỵ nạn thì nghe câu chuyện râm rang kể qua nhiều người lẫn trên báo chí Việt Mỹ rằng có một người cha Việt Nam mồ côi vợ nên ngày ngày lo việc tắm rửa cho con. Một buổi sáng đẹp trời cảnh sát đến còng tay ông đưa vào tù. Lý do là người con gái bảy tám tuổi vào lớp học nghe các thầy cô giáo nói về việc lạm dụng tình dục trong đó có cả việc đụng chạm vào cơ thể, cô bé nghe thế bèn tố cáo cha mình đã có hành động như thế nghĩa là khi tắm rửa đều chạm vào cơ thể cô bé. Thế là thầy cô giáo gọi cảnh sát! Nếu tôi không quên thì người cha bị ngồi tù tám năm. Cô bé này nếu còn sống cho đến nay thì cũng đã ngoài bốn mươi tuổi. Không biết cô có khi nào nghe được câu “Công cha như núi Thái Sơn” hay không?

Tháng sáu viết về Ngày Của Cha lẫn Ngày Của Mẹ kể cũng tạm đủ. Hy vọng vào ngày chủ nhật 21 tháng sáu tới đây các Cha ở khắp mọi nơi trên địa cầu được hưởng trọn niềm vui, được các đấng con cái cho ăn ngon (ở nhà hoặc mời ra tiệm), cho mặc đẹp (tặng áo quần giày giép), đặc biệt lì xì cho các bố ít tiền còm để mua vé vào xem các trận World Cup với giá vé từ hai trăm đô đến gần mười ngàn đô hoặc tệ lắm thì cũng đủ tiền mua vài xâu beer để uống lai rai khi ngồi xem các trận tranh tài qua màn ảnh truyền hình.

Đáng lẽ chỉ viết về Ngày Của Cha trong tháng sáu này thôi. Nhưng kẻ già chuyện như tôi đã kéo thêm “Ngày Của Mẹ” vào bài. Rồi cũng tại vì…có cái giải World Cup trong tháng sáu nên tôi không bỏ lỡ cơ hội để nói về chuyện đá banh mà ngày xưa khi còn bé gọi là môn “túc cầu” hoặc “bóng tròn” (soccer) để phân biệt với môn “bóng méo” (football) của Mỹ. Còn phía mấy ông bà chuyên tổ chức “truồng chạy” mỗi khi đá thắng Lào hoặc Campuchia bên kia bờ Thái Bình Dương thì gọi là “bóng đá”. Chữ nghĩa “bờ cờ 75” khó nghe. Truồng chạy có nghĩa là chị em ta liệng hết mọi thứ vải vóc trên người rồi chạy vòng vòng quanh lăng bác hồ để báo công. Thế giới coi đây là một thứ sáng tạo “trên cả tuyệt vời”.

Cả thế gian đều biết là World Cup 2026 được tổ chức tại ba quốc gia là Mexico, Canada và Hoa Kỳ từ ngày 11 tháng sáu đến 19 tháng bảy trên 16 sân banh quốc tế trong đó có ba sân ở Mexico, hai sân ở Canada và mười một sân ở Hoa Kỳ. Tổng cộng có 104 trận đấu của 48 đội (trước là 32 đội) được xếp trong 12 bảng (mỗi bảng 4 đội). Đây là sự kiện thể thao lớn nhất hành tinh sẽ mang về cho FiFa mười một tỷ đô theo ước tính của các nhà business. Có rất nhiều chuyện thú vị quanh World Cup 2026 khó kể hết trong một bài viết “ăn theo” nên để kết thúc “Lan Man Tháng Sáu” xin trở lại thời kỳ cách nay gần tròn thế kỷ, cũng chuyện “bóng tròn”.

Đó là World Cup đầu tiên do FiFa tổ chức vào mùa hè năm 1930 tại thành phố Motevideo của nước Uraguay với 13 đội tuyển. Uruguay giành chức vô địch và nhận chiếc cúp Jules Rimet Trophy là tên của vị chủ tịch FiFa có công thành lập giải World Cup. Chiếc cúp được mạ vàng trên nền bằng bạc, cao 35 cm. Cúp mang hình tượng nữ thần chiến thắng Nike của Hy Lạp cổ đại nâng chiếc cốc có hình bát giác. Cúp này được trao cho các đội vô địch kể từ năm 1930 cho đến năm 1970. Sau khi ba lần vô địch 1952 – 1962 - 1970 Brazil được giữ cúp vĩnh viễn. Sau đó Brazil lại giành chức vô địch năm 1994 và 2002. Vào năm 1983 chiếc cúp Jules Rimet bị đánh cắp đến nay vẫn chưa tìm lại được.
Chiếc cúp Jules Rimet đã được thay thế bằng chiếc cúp “FiFa World Cup” vào năm 1974 khi giải World Cup được tổ chức tại Hoa Kỳ. Đội vô địch không được giữ vĩnh viễn chiếc cúp thật mà chỉ nhận được một bản sao để giữ. Chiếc cúp “FiFa World Cup” được designed bởi nghệ sĩ người Ý tên Silvo Gazzaniga, cao 37 cm, nặng 6.1 kg. Cúp được làm bằng vàng 18 karat, phần đế làm bằng đá Malachite. Cấu trúc của chiếc cúp là hình ảnh hai người đang nâng quả địa cầu. Trong giải World Cup 2026 chiếc cúp này được đưa đi trưng bày tại nhiều thành phố của nhiều quốc gia trong đó có thành phố Houston và Dallas của Texas. Tại Houston cúp được trưng bày tại Helix Park ngày 2 và 3 tháng 5 vừa rồi. Rất tiếc kẻ viết bài này nhận tin trễ nên không có cơ hội để được nhìn tận mắt chiếc cúp vàng quý già này.

Cũng chuyện bên lề nhân nói đến đội Brazil ba lần vô địch được nhận vĩnh viễn chiếc cúp Jules Rimet vào những năm 1958 – 1962 – 1970. Trong ba lần chiếm vô địch đều có mặt có cầu thủ nổi danh như một huyền thoại môn túc cầu là Pelé đã mang lại vinh quang cho Brazil khiến cả thế giới hâm mộ. Cho đến nay Pelé vẫn được coi là một trong những cẩu thủ vĩ đại (không phải người vĩ đại ngồi trong hang PB) trong lịch sử môn túc cầu thế giới. Pelé sinh quán tại Brazil sớm bộc lộ tài năng đá banh thiên bẩm khi còn rất nhỏ. Pelé gây ấn tượng mạnh với kỹ thuật điêu luyện, tốc độ và khả năng đá vào lưới xuất sắc. Ông từng đá cho Câu Lạc Bộ Santos từ 1956 – 1974 và phá lưới 569 lần. Sau đó ông chơi cho đội New York Cosmos (1975 – 1977) và phá lưới 37 lần. Tổng cộng đôi bàn chân “thần sầu quỷ khóc” của ông đã đẩy banh vào lưới 606 lần.


Chuyện đá banh còn dài. Giờ thì tất cả 48 đội tuyển quốc gia đã và đang lần lượt đấu vòng loại để tìm đường vào vòng 32 và những vòng kế tiếp với hy vọng ôm được chiếc cúp vàng để hôn và khui Champagne để tưới vào đầu. Đây là cuộc so tài lớn nhất hành tinh không phân biệt nước lớn nước bé. Qua hơn mười trận đấu vừa qua, một số nước “đàn anh” trong làng bóng tròn cũng khá vất vả với các đội “đàn em” chẳng hạn như đội nhà Mexico chỉ thắng đội Nam Phi với tỷ số 2-1. Đội Brazil và Ma Rốc 1 - 1. Đội Scotland và Haiti 1- 0. Đội Tây Ban Nha và đội Cape Verde 0 - 0. Đội Bỉ và Ai Cập 1 - 1. Chỉ riêng đội Đức giũa đội quốc đảo tí hon tỷ số 7 -1, không nương chân. Hào hứng nhất có lẽ là trận đấu giữa hai đội Paraguay và Hoa Kỳ mà Hoa Kỳ được đánh giá là dưới chân đội Paraguay. Thế mà suốt trận đấu đội Hoa Kỳ đã đá tung lưới Paraguay đến 4 lần trong khi Paraguay chỉ đá vào lưới chỉ một quả. Tỷ số này nằm ngoài ước mơ của dân Fan Hoa Kỳ. Cầu thủ mang số 10 là Christian Pulisic và số 20 Folarin Balogun là hai ngôi sao mới của sân cỏ Hoa Kỳ cũng sẽ làm cho đối thủ Úc Đại Lợi và Thổ Nhỉ Kỳ phải gờm trong hai lần đá sắp tới.


Tháng sáu đã là mùa hè và tại Houston mùa hè vốn rất nóng, nay có thêm sự hiện diện của World Cup chắc chắn nhiệt độ sẽ lên trên con số 100. Nhưng năm nay có điều lạ. Có lẽ ông trời hiểu được lòng các fan hâm mộ nên liên tục trong những ngày trung tuần tháng sáu nhiều cơn mưa nặng hạt đổ xuống thành phố, có nơi bị lụt. Một điều là chưa bao giờ xảy ra.

Các ông Cha nếu không lặn lội và các sân vận động xem trực tiếp các trận đấu nẩy lửa thì ít nhất cũng ngồi nhà để vừa xơi được thức ăn ngon, vừa uống bia vừa dán mắt vào các màn ảnh nhỏ. Như thế không phải “Happy Father’ Day” thì gọi là gì?


Phong Châu

Bố Vẫn Là Của Con


Năm ấy chị Vân từ Mỹ gọi điện thoại cho tôi:
- Loan ơi, còn nhớ anh “Hùng Từ” không?
- Nhớ chứ, anh Hùng Từ… lừ đừ như ông Từ vào đền chứ gì. Chính nhóm tụi em đặt tên “Hùng Từ” cho anh ấy mà. Ủa, sao bỗng dưng chị lại nhắc đến anh Hùng? Lúc em lên đường đi Canada, chưa kịp viết thư về trại thì vài tuần sau anh ấy cũng đi Mỹ, nên mất liên lạc luôn từ đó.
- Chị và anh Hùng ở cùng tiểu bang Florida mà hồi nào giờ có biết đâu. Tuần trước chị tình cờ gặp một người bạn trại tị nạn Thailand, được biết anh Hùng đang buồn lắm, trầm cảm sắp… tâm thần rồi kìa.

Tôi hốt hoảng:
- Trời ơi, chuyện gì vậy? Bao lâu nay mới nghe tin anh Hùng lại là tin không vui.
- Bé Ngân con gái anh bị chết đuối khi đi tắm biển. Anh tự trách tự giày vò, vì cái chết của con ngay trước mắt mà không cứu được nó và vì anh mang con đi tắm biển mới ra nông nỗi. Bạn bè thân quen đã an ủi khuyên nhủ mà anh vẫn sầu u không nguôi và rồi anh cắt liên lạc, tự cô lập, không tiếp chuyện với ai. Chị cố gọi mấy lần anh vẫn không bắt máy dù đã để lại lời nhắn là bạn chung phòng Cao Ủy Thailand với anh.

Chị Vân thúc giục tôi:
- Loan gọi anh ấy đi, hồi đó Loan và anh Hùng thân nhau, Loan còn là “đồng minh” giúp anh ấy mà, chị tin là anh Hùng sẽ tiếp chuyện và nghe lời khuyên của Loan.
..............

Anh Hùng mà chúng tôi gọi anh là “Hùng Từ” vì anh hiền hòa như ông Từ trông đền, sống ở trại anh thân thiện với mọi người xung quanh, chẳng kiêu căng dù anh là thông dịch viên giỏi nhất nhì phòng Cao Ủy, cũng chẳng xích mích với ai, nên được nhiều người quý mến.

Anh vượt biên đến Thailand cùng đứa con gái 6 tuổi, để lại vợ và đứa con trai ở quê nhà. Bé Ngân thông minh lanh lợi luôn quấn quýt bố. Ngân lớn thêm 3 tuổi nữa theo thời gian ở trại vì đợi chờ thanh lọc. Tôi thân với cả hai bố con, vì ở phòng Cao Ủy tôi và anh Hùng là đồng nghiệp, ở trường Việt Ngữ tôi là cô giáo của bé Ngân, và tôi ở chung nhà với 3 cô bạn gái là thành viên ca đoàn Nhà Thờ, phụ trách các em Thiếu Nhi Thánh Thể mà bé Ngân cũng là một bé ngoan của Thiếu Nhi Thánh Thể.

Rồi bỗng một ngày, anh Hùng có… người yêu, là chị Hương y tá bệnh viện trại. Anh Hùng tâm sự với tôi, em biết rồi đấy, chuyện tình yêu khó nói lắm, cả anh chị đều có gia đình ở Việt Nam, cuộc tình này là sai trái, nhưng lý trí phải chịu thua lý lẽ của con tim rung động, dù biết trước không lối thoát, không có đoạn kết trọn vẹn.

Cuộc tình này đã bị bé Ngân phản đối quyết liệt. Anh Hùng mỗi sáng đi làm, gặp tôi rầu rĩ:
- Hễ mỗi lần Hương đến chơi nhà, là bé Ngân sưng sỉa ra mặt, hỏi gì cũng chẳng trả lời, cứ kè kè kế bên anh, ôm cổ ôm vai anh trước mặt Hương, tụi anh có nói chuyện được gì đâu.
Có lần anh đưa tôi lá thư:
- Chút xong việc, em chuyển thư này cho Hương giùm anh nhe!
- Trời, trại tỵ nạn bé tí, có ngăn sông cách núi gì đâu, mà phải thư với từ?
- Em không biết đấy thôi, bé Ngân không cho anh một phút rảnh rỗi một mình, lúc sáng nó đi học Việt Ngữ lớp em dạy thì anh cũng đến mở cửa văn phòng sớm, trưa anh về lo cơm nước hai bố con, rồi lại đi làm, chiều về ăn cơm xong, hai bố con đi lễ, cứ thế nó bám anh cả ngày lẫn đêm. Chưa hết, từ ngày anh quen Hương, thỉnh thoảng nó chạy qua văn phòng để… chơi với bố mà thực ra là để canh chừng, nếu không thấy bố trong phòng Cao Ủy là về nhà nói hạch hỏi đủ điều …
- Vụ này căng quá anh nhỉ! À, em có tin vui nè, Cha mới thông báo thành lập phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể, mỗi tuần hai lần, sau giờ Lễ, các em ở lại sinh hoạt một tiếng, anh đưa Ngân đến ghi danh nhe, coi như anh có hai lần trong tuần tự do hẹn hò.

Nói xong, tôi thấy mình thật vô duyên, đã ngầm “vẽ đường cho hươu chạy”, ủng hộ mối quan hệ sai trái này, mà thực tình là tôi chỉ nghĩ đến bé Ngân, muốn cho Ngân có dịp vui chơi với các bạn . Cũng có lúc tôi từng nghĩ đến việc góp ý khuyên anh Hùng dừng chuyện “con tim”, nhưng tôi có tư cách gì? Anh lớn tuổi hơn tôi cả hơn một con giáp, khi Sài Gòn sụp đổ năm 75 anh cũng mới ra trường Quốc Gia Hành Chánh, tài giỏi khôn ngoan như thế, đâu cần tôi khuyên với bảo.

Dù sao Ngân cũng chỉ là đứa bé 9 tuổi, ham vui, nên mau chóng gật đầu tham gia nhóm Thiếu Nhi Thánh Thể của Nhà Thờ, nhưng đến ngày sinh hoạt là nó dặn, bố không được đi đâu đấy nhé, con mà biết bố đi gặp cô Hương là con giận bố luôn đấy.

Được vài tuần, anh Hùng lại than thở:
- Mệt quá Loan ơi, những lần hẹn hò chỉ được một tiếng, đi dạo, vào quán cafe là đã gần hết giờ, anh lại sợ bé Ngân kiểm tra đột xuất nên anh luôn về nhà sớm 15 phút, thật đúng là “vội vàng thay những phút yêu người”, thì Hương lại giận hờn, bảo anh sợ con hơn là yêu cô ấy, rồi có hôm Hương không thèm ra chỗ hẹn, anh ở giữa hai bên, khổ thiệt.
Tôi được dịp cười chọc quê anh:
- Thì tự anh đâm đầu vào “thú đau thương” thì ráng mà chịu, có ai ép uổng gì đâu nà!
Rồi một ngày, anh Hùng qua bàn làm việc của tôi, thỏ thẻ:
- Loan à, ngày mai cuối tuần, anh được mời đi dự tiệc tiễn người bạn chuyển trại đi định cư, Hương cũng được mời, anh sợ bé Ngân đòi đi theo, nên anh nhờ Loan cầm số tiền này, chiều mai hai cô cháu đi ăn hủ tíu, đi chơi vòng vòng trong trại để anh thoải mái đi tiệc, sau đó sẽ đi chơi riêng với Hương, tổng cộng khoảng …ba tiếng, được không em?
Tôi trố mắt nhìn, anh vội giải thích:
- Anh biết Ngân thương và nể em lắm, anh muốn em lựa lời nói chuyện với nó, cho nó bớt… căng thẳng, bớt ngăn cấm bố.
- Trời đất! Anh sai rành rành mà biểu em nói gì với Ngân, hơn nữa, anh đang đưa em vào tội “đồng lõa” đấy!
- Anh năn nỉ em đó Loan, anh hứa chỉ một lần này thôi, vì Hương sắp có kết quả thanh lọc rồi.

Cuối cùng, anh Hùng và tôi cũng tìm được lý do để anh được đi tiệc một mình, và tôi dẫn bé Ngân đi ăn hủ tíu. Trong lúc ngồi ăn, trời tối gió mát rượi, tôi thấy Ngân vui nên hỏi nó nghĩ sao về chuyện bố quen cô Hương, nó nói:
- Con thương bố, con thương mẹ, không muốn mẹ buồn.
Tôi bào chữa:
- Ở trại, đôi khi có những tình cảm đồng nghiệp thân thiết, rủ nhau đi uống cafe, đến nhà nhau ăn cơm là chuyện bình thường.
- Nhưng nếu bố đi với nhiều người thì không sao, mà đi riêng với cô Hương thì con không chịu.

Ăn xong hủ tíu, tôi ráng “câu giờ” ngồi lại, kêu thêm hai ly chè đậu xanh, hai cô cháu nhâm nhi chè, ngắm thiên hạ đi qua đi lại, vẫn chưa đủ ba tiếng như giao hẹn với anh Hùng. Tôi đưa bé Ngân đi dạo vòng quanh trại để… tập thể dục, nó than mỏi chân, tôi rủ nó về nhà, nơi tôi ở với mấy cô bạn thân đi chung chuyến tàu vượt biên. Nhóm bạn này chẳng lạ gì bé Ngân vì họ là các “Trưởng” trong Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể. Vì đã được tôi báo trước sự tình nên họ rủ thêm vài em nhỏ khác, tôi mua một ít bánh kẹo, chúng tôi bày ra trò chơi ca hát, đố vui đủ kiểu, khiến Ngân thích thú, quên cả chuyện canh chừng bố.

Anh Hùng đã nói đúng, sau đó ít lâu, Hương nhận kết quả rớt thanh lọc, rồi đăng ký hồi hương, chị ấy không muốn tái thanh lọc, kéo dài thời gian vô ích ở trại. Buổi sáng tiễn đoàn xe hồi hương ra phi trường Bangkok xong, tôi và anh Hùng đi dạo ngoài bãi đá, tôi nói:
- Thôi duyên phận anh và chị Hương đến đây là hết, cũng như nhiều cuộc tình nơi trại tạm dung này, coi như là kỷ niệm “người đi qua đời tôi!”.
Anh Hùng cười buồn:
- Tụi anh đã biết trước ngày này, nhưng vẫn thấy buồn và thật buồn.
Tôi phá tan bầu khí nặng nề:
- Từ nay bé Ngân yên tâm rồi nhé.
Anh thú tội:
- Anh chưa kể em nghe, tuần trước Hương bị cảm, anh không biết tìm cách nào đến thăm Hương, chả lẽ lại nhờ vả em nữa, nên anh chờ buổi tối Ngân ngủ say, anh lén chạy qua nhà Hương, ai dè lúc gần sáng quay về không thấy Ngân trong mùng, thì ra nó tỉnh giấc không thấy anh nên chạy đi tìm. Nó khóc quá chừng, từ đó đến nay tối nào ngủ cũng ôm bố thật chặt.
- Anh hư thật đấy!
- Sáng nay anh nói với nó, chút bố tiễn cô Hương về Việt Nam, con không cần ôm bố ngủ nữa nha, em biết nó nói sao không?
- Sao hả anh?
- Nó ngúng nguẩy bảo, con vẫn cứ ôm bố ngủ, vì sợ bố lại có… cô khác, con chỉ muốn bố là của con thôi.
- Ôi dào cái con bé này, cứ làm như bố nó là vàng bạc châu báu không bằng á!

Vậy đó, bao nhiêu kỷ ức với anh Hùng và bé Ngân lần lượt quay về làm tay tôi run run khi cầm tờ giấy ghi số phone anh Hùng mà chị Vân vừa đọc cho tôi. Tôi bấm số, tim đập nhanh vì hồi hộp, bởi chị Vân nói, Ngân mới mất một hai tháng, anh ấy vẫn còn đớn đau day dứt, không tiếp chuyện bất cứ ai nhất là những người chung trại tị nạn cũ . Bỗng có tiếng “A lô, ai đó?” làm tôi giật mình:
- Anh Hùng ơi, Loan đây, Loan Bưu Điện Loan Cao Ủy ở trại đây!
- Ồ…Loan! Có gì không em?
Tôi nói nhanh:
- Anh ơi, đừng cúp phone em nhé, em biết hết rồi, em đau lòng và thương Ngân lắm, nên muốn chia sẻ nỗi đau này cùng anh …
Anh vẫn im lặng, tôi vội nói tiếp:
- Mong anh đừng quá đau khổ, cầu xin Chúa thương linh hồn bé Ngân, và thời gian sẽ chữa lành vết thương lòng của anh.
Anh bất ngờ bật khóc:
- Loan ơi, anh đã giết con anh!
- Sao anh lại nói thế?
- Bố con anh vừa bảo lãnh vợ và con trai anh qua một thời gian, anh sắp xếp chuyến đi biển cho cả nhà, đến gần ngày đi, Ngân bảo bận chút việc học muốn dời ngày khác, nhưng anh bảo bố đã chuẩn bị hết rồi, đã xin nghỉ phép mấy ngày, thế là Ngân vâng lời đi theo. Có ngờ đâu, Ngân đang tắm biển bị sóng đánh ra xa, đưa tay cầu cứu anh nhưng đã không kịp, anh đã giết con anh rồi Loan ơi!!

Tôi chỉ biết im lặng, thổn thức cùng anh, anh vẫn khóc:
- Ngân không những là con gái, mà còn là người bạn, nó hiểu anh nhiều lắm. Chúa đã trừng phạt anh phải không em, vì tội lỗi của anh ở trại, nên Chúa lấy đi đứa con yêu quý của anh.
- Chuyện đã lỡ rồi, chẳng ai có tội lỗi gì cả, số phận đã thế, anh đừng tự dằn vặt mình nữa.
Anh còn nói thêm vài câu buồn bã, rồi bảo tôi từ nay đừng gọi, anh sẽ đổi số phone, tôi cố vớt vát:
- Anh Hùng, xin anh đừng nghĩ quẩn và em tin rằng anh sẽ vượt qua nỗi đau này.
……..........

Thế rồi một hôm, sau mười lăm năm kể từ lần gọi phone ấy, tôi bỗng nhận được một cú phone lạ, lẽ ra tôi đã không trả lời vì ngại gặp quảng cáo hoặc bẫy lừa tiền, nhưng như có điều gì thúc đẩy, tôi đã nghe phone:
- Có phải Loan không, anh Hùng Từ đây!
Tôi vui sướng reo lên:
- Anh Hùng Từ! Anh Hùng Từ… Sao bây giờ anh mới gọi cho em?
- Anh tìm kiếm số phone của em mãi mới được đấy, đừng giận anh nhe!

Thế là, anh vẫn là anh Hùng Từ của ngày xưa, giọng nói từ tốn ấm áp, kể cho tôi nghe về khoảng thời gian đã qua. Anh vật lộn, chữa bệnh trầm cảm suốt 6 năm trời, bên cạnh bác sĩ tâm lý, uống thuốc theo toa, là sự chăm sóc đầy kiên nhẫn yêu thương của vợ hiền và con trai, cũng như sự khuyến khích từ các đồng nghiệp thân thiết nơi công ty anh làm việc. Có khi, nhớ lại lỗi lầm ở trại tị nạn, anh muốn tâm sự với vợ, nhưng nghĩ đến bé Ngân, anh lại thôi.

Khi hai bố con qua Mỹ định cư, bé Ngân vừa đi học vừa phụ giúp anh chuyện cơm nước, nhà cửa để anh yên tâm đi làm, hai bố con gắn bó như hai người bạn. Khi vợ và con trai đến Mỹ đoàn tụ là lúc bé Ngân ở tuổi 15, con rất khéo léo, không bao giờ nhắc lại chuyện ở trại, luôn chuyển qua đề tài khác, để anh đỡ áy náy bối rối trước mặt vợ. Dù anh không dặn dò, bé Ngân vẫn không kể tội của anh cho vợ anh biết. Những lúc có riêng hai bố con, Ngân còn ngầm nhắn nhủ anh, bố hãy quên đi dĩ vãng ấy, để gia đình chúng ta bình yên hạnh phúc.

Sau khi vượt qua căn bệnh trầm cảm, anh trở lại đi làm full-time cho đến khi anh và vợ nghỉ hưu, sống gần nhà vợ chồng con trai để phụ trông chừng đứa cháu nội, niềm vui đơn giản của tuổi xế chiều.

Chúng tôi cùng hồi tưởng về thời gian ở trại với nhiều kỷ niệm của bé Ngân. Anh vui vẻ khoe:
- Anh rất thích tấm hình hai bố con anh chụp trước văn phòng Cao Ủy bên giàn hoa giấy đỏ trong một bữa tiệc, anh không nhớ hôm ấy là tiệc gì, nhưng anh nhớ bữa đó bà trưởng Cao Ủy người Thái nhờ tụi em nấu nồi bò kho ăn với bánh mì.
- Ôi, em nhớ rồi, đó là tiệc nhân dịp Sinh Nhật Đức Vua Thái. Hôm ấy Ngân mặc áo đầm màu xanh, tụi em chải tóc và thắt nơ cho bé Ngân chớ ai!
- Đúng rồi! Anh đã phóng to tấm hình ấy, treo ở ngoài phòng khách nhà anh nè. Ngân cười rất xinh đẹp.

Rồi chúng tôi lại lan man, nhớ đến những bạn bè chung phòng Cao Ủy, những kỷ niệm của mấy năm dài nơi trại tạm dung thật khó quên, và anh Hùng nhắc đến chị Hương:
- Khi Hương về Việt Nam tụi anh cắt đứt liên lạc từ ngày ấy, nhưng anh có nghe nói, cuộc sống của Hương bên quê nhà cũng khấm khá. Hai vợ chồng Hương có một xưởng gỗ ở Thủ Đức, vợ chồng, con, cháu sum vầy bình yên.
- Vậy em mừng cho chị ấy.

Cuộc nói chuyện dài hơn hai tiếng. Cúp phone xong, lòng tôi lâng lâng niềm vui rộn ràng, khi nhớ lại câu kết của anh Hùng:
- Loan biết không, thỉnh thoảng nhìn lên tấm hình hai bố con treo trên tường, anh vẫn thì thầm với Ngân: “Con gái bé bỏng của bố ơi! Cám ơn con đã đến với cuộc đời bố, để yêu thương, cảm thông và tha thứ những sai lầm của bố. Hồi ấy con sợ mất bố, nhưng rồi bố lại mất con. Hãy giữ nụ cười tươi xinh như thế trên nước Thiên Đàng con nhé, và đừng quên rằng, bố vẫn mãi là của con!”

Edmonton, Fathers Day 2026
Kim Loan


Khi Cha Gìà Đi


Chiều hôm ấy, sau Thánh lễ Chúa nhật, tôi nhìn thấy một người cha già ngồi một mình trên chiếc ghế dài trước sân nhà thờ. Nắng tháng Sáu đang nghiêng dần về phía tây. Những tia nắng cuối ngày len qua kẽ lá, rơi lốm đốm trên mái tóc bạc của ông. Ông ngồi đó rất lâu, không nói chuyện với ai, cũng không làm gì cả, chỉ lặng lẽ nhìn những đứa trẻ đang chạy nhảy trên bãi cỏ phía trước. Thỉnh thoảng ông mỉm cười, một nụ cười rất nhẹ. Nhưng trong nụ cười ấy, tôi chợt đọc được cả một trời dấu xưa.

Có lẽ ngày xưa ông cũng từng trẻ, từng chạy thật nhanh, từng mang trong lòng những ước mơ lớn, từng yêu, từng lập gia đình, từng bồng trên tay đứa con đầu lòng. Ông cũng đã từng thức trắng những đêm con sốt, từng đạp xe hàng cây số đưa con đến trường, từng cặm cụi làm việc từ sáng đến tối để gia đình có một bữa cơm đủ đầy. Rồi thời gian đi qua : lặng lẽ, âm thầm, không tiếng động, không báo trước. Cho đến một ngày, người đàn ông năm nào trở thành một ông già tóc bạc, ngồi dưới bóng cây, nhìn con cháu lớn lên, nhìn cuộc đời chậm rãi trôi qua trước mắt mình.

Và tôi chợt nghĩ đến cha của mình, nghĩ đến tất cả những người cha trên thế giới này. Những người đã dành gần trọn cuộc đời để yêu thương mà không đòi được yêu thương lại. Những người đã hy sinh rất nhiều nhưng nói rất ít. Những người đã cho đi tất cả nhưng chưa bao giờ kể công.

Có một điều thật lạ. Khi còn nhỏ, chúng ta thường sợ cha, nhưng khi lớn lên, chúng ta lại nhớ cha. Ngày thơ ấu, cha là người nghiêm khắc nhất trong nhà. Cha dạy chúng ta lễ phép, dạy chúng ta trách nhiệm, dạy chúng ta phải biết đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã. Có những lời cha nói lúc ấy nghe thật khó chịu, có những nguyên tắc của cha khiến ta cảm thấy ngột ngạt. Ta từng nghĩ cha không hiểu mình, không thương mình, không đứng về phía mình. Nhưng rồi cuộc đời từ từ mở mắt ta. Sau những lần thất bại, sau những lần bị phản bội, sau những lần phải trả giá cho những quyết định non nớt, ta bắt đầu nhớ lại lời cha và ngạc nhiên nhận ra rằng phần lớn những điều cha từng nói đều đúng.

Không phải vì cha tài giỏi hơn tất cả, mà vì cha đã đi trước chúng ta một đoạn đường rất dài. Cha đã nếm trải những cay đắng mà ta chưa từng biết, đã mang những vết thương mà ta chưa từng thấy, đã đi qua những mùa giông bão mà ta chưa từng trải qua. Thế nên mỗi lời khuyên của cha không đến từ sách vở. Nó được viết bằng chính cuộc đời.

Khi còn trẻ, chúng ta thường nghĩ cha rất mạnh. Mạnh đến mức không biết mệt, mạnh đến mức không biết đau, mạnh đến mức không bao giờ khóc. Nhưng đó chỉ là điều con trẻ nhìn thấy. Thực ra cha cũng có những nỗi sợ, cũng có những đêm thao thức, cũng có những lần muốn buông xuôi, cũng có những lúc cảm thấy bất lực trước cuộc đời. Chỉ khác là cha không cho phép mình gục ngã. Bởi phía sau cha là cả một gia đình, nơi đó người vợ đang chờ, có những đứa con đang lớn, có những trách nhiệm không thể trốn chạy.

Người đàn ông khi trở thành cha thường không còn sống cho riêng mình nữa. Từ ngày ấy, mọi quyết định đều mang tên người khác, mọi lo lắng đều hướng về người khác, mọi hy sinh đều dành cho người khác. Có những người cha từ bỏ giấc mơ của mình để con được thực hiện giấc mơ của chúng. Có những người cha bỏ lỡ tuổi trẻ để đổi lấy tương lai cho con. Có những người cha đánh đổi sức khỏe để gia đình được bình an. Và điều đặc biệt là họ làm tất cả những điều ấy như một bổn phận tự nhiên, không cần ai ghi nhận, không cần ai biết ơn, không cần ai khen ngợi.

Tôi nghĩ rằng tình yêu của cha như ánh mặt trời. Khi còn nhỏ, ta không để ý vì nó luôn hiện diện. Nhưng đến khi trời tối, ta mới nhận ra ánh sáng ấy quý giá biết bao. Người cha thường không nói nhiều. Cha không giỏi diễn đạt cảm xúc, không quen những lời hoa mỹ. Nhiều người cha thuộc thế hệ cũ chưa từng nói với con : “Cha yêu con.” Nhưng họ yêu bằng một ngôn ngữ khác, ngôn ngữ của những chuyến xe đưa đón, ngôn ngữ của những giờ làm thêm, ngôn ngữ của những đồng tiền dành dụm, ngôn ngữ của những đêm mất ngủ, ngôn ngữ của trách nhiệm, và gôn ngữ của sự hiện diện.

Có những người cha suốt đời không ôm con một lần, nhưng cả đời lại luôn dang tay đỡ lấy con mỗi khi con ngã. Đó là thứ tình yêu âm thầm nhất, và cũng là thứ tình yêu bền bỉ nhất.

Năm tháng trôi qua, rồi cũng đến một ngày, cha già đi. Đó là điều mà không người con nào muốn nghĩ tới. Nhưng thời gian không bao giờ hỏi ý kiến chúng ta. Ngày nào đó, đôi mắt cha không còn tinh anh như trước. Cha phải đeo kính để đọc báo, phải hỏi lại khi nghe không rõ. Ngày nào đó, đôi chân cha chậm hơn. Những bậc thang từng bước rất nhanh giờ trở nên khó khăn. Ngày nào đó, đôi tay từng bế bổng chúng ta không còn đủ sức nâng những vật nặng. Ngày nào đó, người cha từng che chở cho chúng ta sẽ cần một bàn tay dìu bước.

Đó là lúc cuộc đời đổi chiều. Ngày xưa cha cầm tay con, bây giờ con cầm tay cha. Ngày xưa cha dạy con tập đi, bây giờ con bước chậm để đi cùng cha. Ngày xưa cha thức khuya vì con, bây giờ con thức khuya vì cha. Đó không chỉ là bổn phận, mà lòng biết ơn được diễn tả bằng hành động.

Có lẽ một trong những bi kịch lớn nhất của đời người là nhận ra giá trị của cha khi cha không còn nữa. Chiếc ghế vẫn còn đó nhưng người ngồi đã đi xa. Chiếc áo vẫn còn đó nhưng người mặc đã không trở lại. Tiếng cười vẫn còn vang trong miền thương nhớ nhưng không còn nghe được ngoài đời. Lúc ấy, người ta mới hiểu rằng điều quý giá nhất không phải những gì cha để lại, mà là chính cha. Không phải căn nhà, không phải đất đai, không phải tài sản, mà là những bữa cơm gia đình, những câu chuyện buổi tối, những lần cha chờ trước cổng trường, những chuyến đi xa, những lời khuyên, những kỷ niệm bình thường mà ngày xưa ta từng cho là hiển nhiên.

Thật ra, hạnh phúc lớn nhất của đời người không phải là sở hữu thật nhiều, mà là còn có người để yêu thương và còn có cơ hội để yêu thương.

Trong đức tin Kitô giáo, khi muốn dạy nhân loại hiểu về Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã chọn một danh xưng thật gần gũi : “Cha”. Ngài không dạy chúng ta cầu nguyện : “Lạy Đấng Toàn Năng”, “Lạy Đấng Tạo Hóa” hay “Lạy Đức Vua”. Ngài dạy: “Lạy Cha chúng con ở trên trời.” Hai tiếng “Cha” ấy chứa đựng cả Tin Mừng. Một Thiên Chúa không xa cách, một Thiên Chúa biết yêu thương, một Thiên Chúa biết tha thứ, một Thiên Chúa luôn đợi chờ.

Khi suy ngắm dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu, tôi luôn cảm động. Người cha ấy đứng trước con đường dài, ngày này qua ngày khác đợi đứa con hoang đàng trở về. Ông không biết ngày nào nó sẽ về, không biết nó còn sống hay đã chết, không biết nó có còn nhớ đến gia đình hay không. Nhưng ông vẫn chờ. Đó là tình yêu. Tình yêu thật sự luôn biết chờ đợi và biết tha thứ.

Có lẽ mỗi người cha trên trần gian đều mang trong mình một phần rất nhỏ của trái tim Thiên Chúa. Bởi người cha nào cũng biết hy sinh, biết nhẫn nại, biết tha thứ, biết yêu thương ngay cả khi bị tổn thương.

Ngày Father's Day năm nay, tôi nghĩ đến những người cha còn sống và những người cha đã ra đi. Nghĩ đến những người cha đang ngồi đâu đó trong viện dưỡng lão, lặng lẽ chờ một cuộc điện thoại, một lời thăm hỏi hay một chuyến viếng thăm. Nghĩ đến những người cha đang làm việc nơi công trường, ngoài đồng ruộng, trong nhà máy hay trên những chuyến xe đường dài. Nghĩ đến những người cha tha hương nơi đất khách quê người, đánh đổi tuổi trẻ để con cái có tương lai. Nghĩ đến những người cha đã nằm xuống, để lại sau lưng những khoảng trống không gì lấp đầy được.

Và tôi tự hỏi: Liệu có bao nhiêu người cha đã sống cả đời mà chưa từng được nghe con mình nói một lời cảm ơn ? Liệu có bao nhiêu người cha đã âm thầm yêu thương mà chưa từng được ôm một lần ? Liệu có bao nhiêu người cha đã ra đi khi những điều cần nói vẫn còn dang dở ?

Nếu cha bạn còn sống, xin đừng chờ đến năm sau. Đừng chờ đến lúc rảnh hơn, đừng chờ đến khi công việc bớt bận, đừng chờ đến khi thuận tiện. Hãy gọi cho cha hôm nay, hãy về thăm cha hôm nay, hãy ngồi cạnh cha hôm nay, hãy nắm lấy bàn tay đã nhăn nheo vì năm tháng ấy. Hãy nói : “Con cảm ơn cha.” Bởi rồi sẽ đến một ngày, điều bạn mong nhất có thể chỉ là được nhìn thấy cha thêm một lần, được nghe cha gọi tên mình thêm một lần, được ngồi ăn với cha thêm một bữa cơm. Nhưng ngày ấy có thể sẽ không bao giờ đến.

Chiều đã xuống, người cha già trước sân nhà thờ đã đứng dậy. Ông bước đi chậm rãi, bóng ông đổ dài trên nền xi măng ngập nắng. Tôi nhìn theo cho đến khi bóng dáng ấy khuất dần sau hàng cây. Và bất chợt tôi hiểu rằng : cha cũng giống như hoàng hôn. Khi còn hiện diện, ta nghĩ đó là điều bình thường. Nhưng khi ánh chiều tắt hẳn, ta mới biết mình đã mất đi một bầu trời.

Xin cảm tạ Thiên Chúa vì những người cha. Những người đàn ông bình thường nhưng đã sống một cuộc đời phi thường, những người đã yêu thương không bằng lời nói mà bằng cả cuộc đời mình, những người đã âm thầm trở thành bóng mát cho gia đình dưới nắng gắt của cuộc đời. Và dưới bóng mát ấy, chúng ta đã lớn lên, đã trưởng thành, đã học biết yêu thương, đã học biết hy sinh, đã học biết thế nào là gia đình.

Để rồi một ngày nào đó, khi tóc mình cũng bạc đi theo năm tháng, ta mới hiểu hết ý nghĩa của hai tiếng giản dị mà thiêng liêng nhất: Cha ơi !

TẠ ƠN CHA

Văn Duy Tùng


Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2026

Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà - Sáng Tác: Phạm Duy & Hữu Loan - Tiếng Hát: Phạm Cao Tùng

Phạm Duy & Hữu Loan
Tiếng Hát: Phạm Cao Tùng

Chiều Tao Ngộ


 
Em đã xuân qua, hạ cũng tàn,
Thu vàng chờ mãn, gió đông sang.
Em đi tuyết trắng, vương màu tóc,
Trăng nước hương xưa lắm lỡ làng.
Em vui nhịp trống, tiếng đàn vang,
Như gió đưa mây bước nhẹ nhàng.
Qua lại vần xoay, nhanh dáng đẹp.
Dìu em quên hẵn lụy trần gian.
Ta đến thăm em, thấy ảnh xưa,
Hồng, lan tươi thắm sánh sao vừa,
Hồ thu dìu dịu, tình dâng mắt.
Khiến dậy trong lòng, nổi gió mưa.
Quê cũ một thời trong lửa đạn,
Đâu người tri kỷ với hồng nhan?
Nỗi trôi trong chốn bùn, than, bụi,
Thoát cảnh tàn hung, tuổi đã vàng.
Ta bước cùng em điệu nhạc buồn,
Gặp nhau đất khách, ánh đèn buông.
Sắc tài mộng ước đâu còn nữa,
Riêng mãi xuân tình, ý vẫn luôn.
Ta cũng như em, ngã bóng chiều,
Giai nhân, hiền sĩ biết còn yêu?
Còn chi ước hẹn mai ngày nữa?
Đôi ngã riêng đường, giữa tịch liêu.

Nhật Quang Phi Hồ.


Cụ Trần Văn Hương

 
 
Xuất thân nhà giáo dạy văn chương
Kháng Pháp chân in những nẻo đường
Hợp tác Việt Minh vai Chủ Tịch
Giã từ Cộng Sản sống thuần lương
Tân triều lận đận làm Đô Trưởng
Thủ Tướng lao đao giữ chính trường
Tổ Quốc bềnh bồng... ngôi Tổng Thống
Quyết theo mệnh nước rũ tàn xương...!!

Xương tàn Tổng Thống chẳng nhà riêng
Khí tiết xưa nay rất khó tìm
Dòng suối gương trong đời giản dị
Đỉnh non tuyết trắng tiếng thanh liêm
Martin tới rước: - không rời xứ
Việt Cộng mời trao: - hứa nhận quyền:
(" Cải Tạo" chừng nào về hết cả
Bấy giờ sẽ nhận cái phần riêng...?!)

Riêng dạ ưu phiền trước nhố nhăng
Kiêu binh mặt sắt sát đằng đằng
Cường quyền cỡi cổ: - nhà vào chiếm
Bạo lực đè đầu: - của giựt ăn
Cả xứ ùn ùn đang vượt biển
Nhiều nơi rục rịch định rừng băng
Thân già đỏ mắt ngồi khô... khóc
Nước Việt mênh mông... sóng nhục nhằn...!!

Nhục nhằn chung chiụ..., sử lưu phương
Tư thái ung dung giữa bạo cường
Thuở trước trung thành Văn Tống Thụy
Thời nay tiết tháo Trần Văn Hương
Chẳng màng đất khách tìm an hưởng
Thà sống quê nhà nhận tổn thương
Vẫn biết chim lồng ngàn khổ nạn
Dân Nam sĩ khí dễ xem thường...??!

Nhằm Tết tinh anh thăng về cõi
Tịnh Độ tiêu dao vợi... nỗi sầu...!!
Kính cẩn cúi đầu Hương tỏa khói...
Bao người thổn thức... nén dòng châu...!!

Tùng xanh hạc trắng non cao
Gương trăng lồng lộng chiếu vào... thiên thu...!!

Nguyễn Minh Thanh kính bút