Thứ Tư, 27 tháng 5, 2026

Nhớ Về Hà Nội - Thơ: Trần Nhất Lang - Nhạc: Nguyễn Tuấn - Trình Bày: Duy Linh

Thơ: Trần Nhất Lang
Nhạc: Nguyễn Tuấn
Trình Bày: Duy Linh

Thiên Đường Mùa Thu

 

Rất yêu mùa thu nhưng dường chưa đủ
Thiếu người bên cạnh mất quyến rũ riêng
Lá vàng lên! Thắp sáng khoảng trời êm
Là giây phút thu chuyền thêm nhựa sống

Gom lá rơi đan nền yêu nhung mộng
Gọi mây hồng lừng nhạc giữa trời mơ
Người sẽ tới mang hương ngào ngạt
Dẫn hồn đi lạc tận cõi đâu đâu

Yêu mùa cánh nâu nhưng dường chưa đủ
Dài mong chờ biết nếm thú thương đau
Là đìu hiu ngập hết những con đường
Người sẽ đến hay vẫn hoài công đợi

Ngàn lá hỡi phải thu mùa bối rối
Ửng sắc màu thay mới những tàng cây
Trong quạnh vắng âm đầy lời tình tự
Từng bước thầm gọi nhỏ đến tìm nhau

Rất yêu thu biết dường nào cho đủ
Nắng nồng nàn ấp ủ gốc trời riêng
Giá có người một chút để làm duyên
Người bên cạnh thiên đường thu rộng mở

Chờ!

Kim Phượng

Úc Châu Những Ngày Cuối Thu

Tình Trăng - Mình Trăng


1/ 
Xướng:

Tình Trăng

Trăng ai căng nhựa tình tơ
Cho tôi dệt võng gối mơ mộng chờ
Âu lo cửa sổ khép hờ
Lỡ đêm qua vội trăng vờ đừng đi​

Kim Oanh
***
Họa: 
 
Mình Trăng

Trăng ơi! se mấy sợi tơ
Để ta dệt áo lụa thơ mong chờ
Ấu ơ... sao cứ hững hờ?
Đế đêm Trăng Lạnh u mờ lối đi...

2/
Xướng:

Hỏi Người

Có những đêm Trăng một mình
Dòng suy nghĩ ừ cái tình không nợ
Lấn cấn hoài ôi cắc cớ
Buông nhẹ lòng hay trăn trở đời nhau?

Kim Oanh
***
Họa: 

Có Những Đêm Trăng

Có những đêm Trăng một mình
Nằm nuối tiếc mối Duyên tình không Nợ
Lẩm cẩm chia tay vô cớ
Hàn gắn lại hay ơ hờ xa nhau?

Vô Nhiễm

Mai Mốt

 

Mai mốt em về thăm anh không
Hay là mãi mãi lệ đá đông
Nghìn sau điên đảo đời xa lạ
Mây hết cao xanh nắng hết hồng

Tuyết sẽ phủ đầy những lối rêu
Chỗ ngồi chỗ đứng hết hương yêu
Những lời tình tứ thành mưa gió
Trời đất giận lây đến nắng chiều

Dấu cỏ hơi sương cũng hững hờ
Còn ai đọc sách ai quay tơ
Nhà không còn dấu vườn đâu mất
Bến vắng sông khô khói mịt mờ

Ai sẽ lang thang qua lối nầy
Lẽo đẽo theo hoài nhặt hương bay
Bao nhiêu hương sắc thành hư ảo
Để bước si tình thêm đắng cay

Ngày đêm lẫn lộn chân ngược xuôi
Nửa tỉnh nửa mê khóc lẫn cười
Đi ở không xong về không được
Thân xác hình như chẳng giống người

Anh sẽ đi trong mắt em buồn
Tìm em đếm kỹ lại ngàn thương
Bao nhiêu duyên nợ còn mang nặng
Sao chẳng chờ nhau chẳng chỉ đường

Anh cũng không còn anh nữa đâu
Nếu em không kịp trở về mau
Hôn anh một chút yêu một chút
Tha thiết tuyệt vời trong chiêm bao…

MD 04/04/04
LuânTâm
(Trích trong Tuyển Tập Thơ Quốc Gia Hành Chánh ,
Cơ Sở Hoài Bão Quê Hương xb,CA,USA.2005,tr.143-144)

Một Thoáng Hà Nội


(Thân mến tặng: Hồng Thuỷ, chị Tuệ Nga
Lê thị Ý, và Nguyễn thị Ngọc Dung )

Hà Nội xa xôi giờ thức, ngủ
Em đang nhung nhớ một người đây
Cửa Ô ai đóng, chờ ai mở
Không có ai ngoài gió với mây

Anh đứng đợi em, hay thả mộng
Mộng là thơ chắp cánh tung bay
Em thường thả mộng, nên em đứng
Ngóng gió đưa mây tới chốn này

Em không về nữa, không về nữa
Lá “ cây cơm nguội “ đã bay xa
Đầy trời “ hoa sữa “ đang buồn bã
Nước mắt vừa rơi trước cửa ga

Mặc niệm tuổi thơ trong chốc lát
Rời Ô Quan Chưởng đi tha phương
Ngày xưa Hà Nội giờ tan nát
Làm tuổi thơ em nhuốm đoạn trường …

Cao Mỵ Nhân
Chú thích : Hanoi vẫn còn cây cơm nguội và hoa sữa ngày xưa - Mã Số của Mỵ .


Tháng Năm, Nhớ Tuổi Hoa Niên


Anh Thọ với tôi ở cùng xóm với nhau, nhà cách nhau vài căn. Trên anh có hai người anh và một người chị, dưới thì có hai cô em gái cùng trang lứa với Hương, em của tôi. Hương thường chạy qua chạy lại chơi với em gái của anh rất thân tình.

Quen nhau từ nhỏ tới lớn, tôi coi anh như người bạn, hay gần hơn nữa là một người anh. Mỗi khi đụng mặt nhau ở nhà anh hay ngoài đường, chúng tôi nói chuyện rất tự nhiên như người nhà, không ngượng ngùng e lệ gì cả. Nhưng lúc sau này, không biết anh nghĩ sao về tôi mà một ngày gần cuối tháng năm, Hương qua nhà anh chơi về thì Hương đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ xíu xếp làm tư như cái phiếu bắt thăm, nói anh Thọ gởi cho chị. Tôi lấy làm lạ nghĩ anh này bữa nay sao lạ vậy, chuyện bí mật gì đây chớ thường chỉ nói miệng thôi mà, đâu có cái chuyện viết giấy nhắn tin như vầy. Tôi mở ra xem thấy mảnh giấy chỉ vừa vặn một câu "nghe Hương nói Kim mê đọc sách lắm hả, vài bữa nữa bãi trường, anh Thọ đi thư viện mượn sách cho Kim đọc mệt nghỉ, chịu hông?".

Nghe nói có sách đọc, tôi mừng húm trả lời liền "chịu chớ sao hông. Mà sao anh không nhắn Hương về nói lại, viết chi cho hao mực tốn giấy của anh? Bộ nhà anh hết giấy, không tìm ra miếng nào lớn hơn nữa hả, chơi gì như con nít, làm Kim mắc cười quá đi" .

Ngày kế tiếp, cũng lại mạnh giấy nhỏ xíu xìu xiu, nhưng hôm nay anh se tròn lại như vấn thuốc hút hỏi tôi "thích đọc thể loại gì, tình cảm xã hội, trinh thám, lịch sử hay kiếm hiệp?". Tôi nói "có cái gì đọc cái đó, nhưng đừng mượn truyện ma nha, Kim sợ ma lắm đó."
Hai ngày sau, anh viết "Trong đạo Thiên Chúa, không có ma đâu, đó là chuyện nhãm nhí, hoang đường, đừng có sợ"
Những mảnh giấy nho nhỏ gởi tin nhắn của anh Thọ, tôi thấy ngồ ngộ vui vui nên không vứt bỏ mà gom lại cất trong cái hộp đựng xà bông thơm Bois de Santal 4 cuc đã xài hết, định để lâu lâu lấy ra đọc lại cho vui, và cũng để làm kỷ niệm, kỷ niệm của một thời niên thiếu hồn nhiên vô tư lự.



Rồi "thư" đi "thư" lại vài lần thì hết tháng năm qua tháng sáu tới ngày bãi trường. Anh Thọ giữ lời gởi "tối hậu thư" cho tôi "Ngày mai anh Thọ đi mượn sách rồi đem qua nhà Kim ngồi đọc với Kim cho có bạn nha"

Tôi nghĩ thầm trong bụng, sao kỳ vậy ta, sao ảnh không về nhà ảnh đọc mà ngồi ở nhà tôi chi vậy. Rủi má tôi la rầy biết nói làm sao. Tưởng là anh nói chơi thôi, vậy mà anh làm thiệt, đem mấy quyển sách về cho tôi rồi kéo chiếc ghế ngồi dựa cột, còn tôi thì nằm võng đong đưa. Mỗi đứa một cuốn chăm chú đọc, không ai nói với ai câu nào. Anh mượn cho tôi quyển "18 thôn vườn trầu của tác giả Trần Ngọc Vy", "Vàng và Máu của tác giả Thế Lữ". Đọc qua cái tựa thôi là đã thấy lôi cuốn phấn khích lắm rồi. Tôi ước gì mình có thể "nuốt" chữ đọc thật nhanh cho thỏa lòng.

Thời gian đó, má tôi có người giúp việc, tôi không cần phụ má chuyện trong nhà nên rảnh rang tha hồ mà thả hồn vào trang sách, mơ màng theo mây gió trăng sao, buồn vui theo từng diễn biến của câu chuyện. Càng đọc càng mê mẩn tới nổi má tôi phải nhắc chừng hai đứa phải cho con mắt nghỉ ngơi một chút, bắt nó làm việc liên tục coi chừng nó đui luôn cho coi. Riêng phần tôi thì má bảo lát lát phải ngồi dậy đi tới đi lui chớ nằm võng riết mai mốt cái lưng cong vòng.

Tới giờ ăn trưa, tôi tưởng anh sẽ về ăn rồi ở nhà luôn nhưng ai dè anh nói anh về ăn ba hột rồi trở qua nữa. Lạ thiệt, về thì về luôn đi, mỗi đứa đọc riêng một cuốn chớ có đọc chung đâu mà phải trở lại ngồi chôn chân một chỗ không thoải mái chút nào.
Qua mấy ngày sau, má tôi thấy vậy mới bảo anh Thọ ăn trưa với tôi luôn nhưng anh từ chối xin phép về. Và vẫn y như cũ về rồi chút xíu lại trở qua. Chị giúp việc nhà nói với má tôi, cậu này lạ đời thiệt, sao không xách cuốn sách về nhà đọc mà cứ qua đây ngồi tối ngày, hàng xóm dị nghị chết. Má tôi bảo thôi kệ, tụi nó ngồi nhà đọc sách giải trí lành mạnh chớ phải chi đi xi nê hay dẫn nhau đi chỗ nào mình không biết thì mới lo.

Cũng may, trường tôi nghỉ hè chỉ có một tháng, không như những trường khác tới chín mươi ngày. Suốt một tháng hè, mỗi khi tôi đọc xong quyển nào thì anh mang trả quyển đó rồi mượn tiếp truyện mới cho tôi. Trước ngày tôi nhập học lại, hôm cuối ngồi đọc sách bên nhau, anh Thọ tặng tôi một bức ảnh Đức Mẹ Từ Bi bảo tôi hãy giữ kỹ và siêng năng cầu nguyện để được Đức Mẹ cứu giúp, ban ơn chở che qua những tai ương hoạn nạn trong đời.

Ba má tôi ngoại đạo nhưng cho tôi học trường bà phước, sáng nào vô lớp, bài đầu tiên các soeurs dạy là giáo lý rồi mới tới các môn học khác. Vì vậy tôi cũng thuộc nhiều bài kinh trong đạo Thiên Chúa. Nay anh Thọ tặng tôi bức ảnh này, tôi cảm thấy như nhận được sự kết nối tâm linh giữa Mẹ thiêng liêng trên trời và tôi, đứa con trần thế để từ đó tôi thấy vững mạnh một niềm tin rằng có Mẹ hằng theo dõi mỗi bước tôi đi ở cuộc đời này.
Anh Thọ còn nói với tôi rằng nếu bãi trường năm sau anh không bận gì thì đến hẹn lại lên, anh sẽ mượn sách cho tôi và cũng sẽ ngồi đọc với tôi như hiện tại.


Bức ảnh Đức Mẹ Sầu Bi 63 năm về trước

Nhưng mùa bãi trường năm sau, ba má tôi cho tôi đi Sài Gòn chơi, còn anh Thọ thì phải học thi ôn bài vở cho tú tài một. Chúng tôi không còn cơ hội lập lại thú vui đọc sách bên nhau thêm lần nào nữa. Từ đó chia đôi đường, mỗi người một lối rẻ.

Phần tôi, hết năm đệ tứ, tôi và nhóm bạn chuyển sang trường Lasan, nơi anh Thọ đang theo học vì trường cũ của tôi không có lớp tú tài. Lần đầu tiên trường dòng nam thu nhận nữ học sinh nên các cô là tâm điểm cho các bạn nam sinh xì xào bàn tán, chấm điểm. Số nữ sinh hai lớp đệ tam và đệ nhị cộng lại chỉ khoảng ba chục bóng hồng Eve chớ mấy nhưng với những suối tóc mây mượt mà gợi cảm, những tà áo trắng dịu dàng thướt tha trong gió sớm nắng mai, ngôi trường như được thổi vào ngọn gió mát, làm dịu đi sự khô khan cằn cỗi nhàm chán cố hữu xưa nay vốn chỉ có toàn là những Adam mà thôi.

Năm nay anh Thọ lên lớp đệ nhứt còn tôi mới vào đệ tam. Ngày ngày đi học cũng thường gặp nhau nhưng tôi cảm thấy anh có vẻ gì khác lạ, anh làm như không hề quen biết tôi, không như hai năm trước vồn vã thân thiện ân cần. Tôi không hiểu vì sao nhưng cũng không cần tìm hiểu vì trong lòng tôi, anh chỉ là người bạn hàng xóm, khi vui thì đậu, khi buồn thì bay, muốn đậu muốn bay gì thì tùy, cứ để xuôi theo tự nhiên, tôi không bận lòng.


Môn Pháp văn là môn tôi đứng đầu trong lớp vì tôi đã học chương trình Pháp lúc tiểu học ở trường các soeurs. Có lẽ vì vậy mà ông sư huynh dạy Pháp văn chú ý đến tôi và tỏ ra trìu mến đặc biệt hơn những học sinh khác khiến dư luận bắt đầu xôn xao lời ra tiếng vào. Tôi chợt thấy lo trong đầu, có thể nào vì lý do này mà anh Thọ không vui?? Nhưng ảnh không vui thì kệ ảnh, muốn nghỉ chơi với tôi thì cho nghỉ luôn. Đâu phải tại tôi, tại anh làm mặt lạ với tôi trước mà.

Hai năm sau anh Thọ lên đường nhập ngũ. Anh không từ giã nên tôi không hay biết để tiễn đưa anh và trao lại anh bức ảnh Đức Mẹ Từ Bi để anh được bình an trên con đường binh nghiệp vào sinh ra tử nhiều rủi ít may. Tôi chỉ còn biết cầu xin ơn trên che chở phù hộ cho anh trong lửa đạn sa trường trùng trùng nguy hiểm, lúc nào cái chết cũng lăm le chực chờ.

Lúc đó tôi đã có người yêu, mải mê với hạnh phúc nên dần dà quên mất anh Thọ cho đến một ngày Hương qua nhà chơi với em gái anh trở về báo tin anh Thọ đã tử trận. Một chút bàng hoàng thương xót anh thoáng qua trong lòng rồi nhanh chóng biến tan ngay. Bây giờ nhớ lại tôi vẫn tự trách mình không biết sao lúc đó tôi vô tình quá đổi. Không một giọt nước mắt, cũng không một lời cầu nguyện, cứ như người không quen biết chưa từng có kỷ niệm gì với nhau trong đời.

Sau ngày mất nước gia đình tôi không cam lòng sống dưới chế độ cộng sản phi nhân quyền nên tìm cách bỏ xứ ra đi. Khi vượt biên, ông xã tôi gói kín bức ảnh Đức Mẹ trong bao nylon mang theo bên mình. Và như có phép lạ, chuyến đi của chúng tôi rất bình yên, không ai chết khát chết đói, cũng không bị cướp biển. Bão tố, phong ba cấp tám cũng rút lui sau một hồi gầm thét đe dọa hãi hùng. Khi sóng yên gió lặng, đàn cá dolphin lội theo hai bên tàu như hộ tống đưa chúng tôi cặp bến thủy quân lục chiến Mã Lai, nơi mà bao con tàu tắp vào trước đó đều bị kéo ra không thương xót nhưng đến lượt chúng tôi thì lại được ông thiếu tá chỉ huy trưởng căn cứ đó chấp thuận cho lên bờ và cung cấp thức ăn trong lúc chờ hội trăng lưỡi liềm đỏ (Malaysian red crescent society MRCS) tới đưa đến trại tị nạn Pulau Bidong.

Khi qua tới nước Úc, bức ảnh Đức Mẹ bị trầy sướt và rách một góc trên đầu, chúng tôi đem ép plastic mới giữ được cho đến ngày hôm nay đã 63 năm từ ngày anh Thọ trao tặng cho tôi. Tôi luôn để dưới gối nằm, đêm đêm cầu nguyện như ngày nào anh Thọ đã ân cần căn dặn. Đức Mẹ là nơi nượng tựa tinh thần vững mạnh của tôi, là nguồn hy vọng, cậy trông an ủi để tôi có thể đi đến chặng đời hôm nay mà không quá vất vả gian lao. Tôi biết rằng mình đã may mắn hơn biết bao nhiêu người trên thế gian này, nên chẳng dám tham lam cầu xin gì hơn nữa ngoài hai chữ bình an cho gia đình.

Tuy anh Thọ đã rời khỏi thế gian hơn nửa thế kỷ nhưng qua bức ảnh Đức Mẹ Từ Bi, tôi có cảm tưởng như anh vẫn đồng hành với tôi ở cuộc đời này và luôn mãi cho tới ngày tôi từ biệt cõi trần. Và nếu sau khi chết sẽ được sống lại đời đời theo lời Chúa thì một ngày nào đó tôi cũng sẽ gặp lại anh trên nước trời và lại cùng đọc sách bên nhau...

Cám ơn người anh hàng xóm đã một thời hoa niên gắn bó, đối đãi với nhau bằng cả chân tình.

Người Phương Nam

Thứ Ba, 26 tháng 5, 2026

Vũ Điệu Của Loài Chim - Nhiếp Ảnh Gia: Vũ Ngọc Hiến

 


Nhiếp Ảnh Gia: Vũ Ngọc Hiến

Dõi Mắt Trông Theo

(Chân dung Tác giả)

người mặc thong dong áo lụa dài
tóc mây hờ hững chảy trên vai
mắt người ngơ ngác như trong mộng
đâu biết lòng tôi đang ngất ngây
người đi bước nhẹ mang theo gió
thổi mát lòng tôi giữa nắng hè
môi người phơn phớt màu phượng đỏ
rộn rã hồn tôi những tiếng ve
người đi, đi khuất, tôi còn ngóng
dõi mắt trông theo... chút bụi hồng

Thủy-Trang

Ngẫu Nhiên


Cảm ơn Đời những tình cờ
Cảm ơn Trang Web Long Hồ-Vĩnh-Long
Xuống thuyền chọn kiếp long đong
Cũng may còn có vô cùng ngẫu nhiên!


Nguyễn Bá Dĩnh

Hoài Niệm: Một Thời Sài Gòn Ôi Nhớ Ôi Là Nhớ

 
( Hồ Trúc Giang trước 1975- Bến Tre)

Không biết các anh chị ghé duyên về sống ở vùng đất Saigon vào lúc nào?
Để tôi kể lại:
- Quê tôi ở Bến Tre từ trước năm 1954, Ba tôi làm sở Bưu Điện mà hồi xưa hay gọi là nhà dây thép. Ba tôi nhận nhiệm sở ở Vũng Tàu không có đem gia đình theo cùng. Má tôi và gia đình nhỏ tá túc ông nội tôi ở Bến Tre, cách nhà ông ngoại cô bạn cùng lớp Phương Khanh có vài ba căn phố trên đường từ sở thú ra đến bến sông Bến Tre. Muốn tới bến sông, phải băng qua ngã tư. Đến ngã tư, rẽ trái sang Cầu Cá Lóc về Giồng Trôm, rẻ phải ra chợ Bến Tre và Tòa Bố (tên gọi Văn Phòng tỉnh lỵ thời xưa). Từ đầu ngã tư này đến cổng vườn thú (sau này xây trường trung học Bến Tre) là nhà ông nội tôi, đi xa hơn nữa là hồ Trúc Bạch, sau này có tên khác là hồ Chung Thủy. Ở châu thành Bến Tre, ai cũng đi qua nơi này. Sau khi Nhật đảo chánh Tây, ba tôi thất nghiệp cho tới Tây trở lại Đông Dương sau thế chiến. Lúc đó, nhà nước mới triệu hồi ra làm việc.

Lần này, Ba tôi lên Saigon nhận nhiệm sở ở Bưu Điện Trung Ương vào năm nào tôi không rõ và từ đó tôi trở thành dân Sài Gòn.
Ba tôi làm công chức tuy là có đồng vào, đồng ra, nhưng chạy tiền mua nhà rất vất vả, đành ở thuê.
Tôi theo gia đình di chuyển từ Nancy qua Khánh Hội (xưa có tên là Xóm Chiếu), nằm trong quận Tư, thành phố Saigon.
Sau đó, từ Khánh Hội, đổi chỗ cư ngụ qua Lê Lai gần nhà thờ Huyện Sĩ, rồi quay trở lại Khánh Hội.
Năm 1963, một lần nữa tôi lại dời nhà về Gò Vấp, Gia Định, và ở tại đó cho đến năm 1975.
Cư ngụ từ nhà sàn, sang nhà gạch, đến nhà phố, đời tôi đã gởi gắm nhiều về Saigon.
Khi trí nhớ tôi bắt đầu lúc tôi 8 tuổi, hình ảnh Saigon càng ngày càng ghi đậm trong lòng tôi. Theo thời gian, từ lúc đón nhận người Bắc di cư năm 1954, truất phế Vua Bảo Đại, đến giặc Bình Xuyên, rồi Đệ Nhất Cộng Hòa qua với 2 lần đảo chánh, một lần ném bom tại dinh Tổng Thống.

(Bưu Điện Trung Ương Sài Gòn)

Từ sau năm 1963, tiếp theo nền đệ nhất Cộng Hòa sụp đổ.
Từ đó, Saigon trầm luân trong cuộc chiến, thay đổi chính phủ, không lúc nào yên, nổi bật nhất vào những năm 1968, 1972. Saigon liên tục thay đổi theo sự nhọc nhằn với chiến tranh.
Sài gòn trở mình vì biến đổi xã hội nhanh chóng. Người Mỹ mang một nền văn minh mới lạ đôi khi va chạm với nền đạo lý truyền thống của người Việt. Đời sống giao động theo chiến tranh và kinh tế lạm phát mãi tận đến ngày không bao giờ quên là ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Lúc đó, tôi mới đành từ giả Saigon lưu lạc xứ người. Nay đã hơn 40 năm trên xứ người, Saigon không phai mờ trong trí óc. Saigon một thời là nhịp thở của tôi.
Có lẽ thời gian sau năm 1954 là thời gian mà Sài gòn chuyển mình mạnh nhất về xã hội, kinh tế, giáo dục và văn hóa. Con người và nếp sống tự do ngắn ngủi trong chừng 20 năm, mang rất nhiều vương vấn, thương nhớ Sài gòn.

Sài gòn có từ hơn 300 năm, Sài gòn trãi qua nhiều giai đoạn thăng trầm, trở mình lớn dậy từ buổi sơ khai do di dân từ đời chúa Nguyễn, tiếp nối Triều Nguyễn qua nhiều triều đại cho đến khi trở thành thuộc địa của Pháp.
Dầu sống dưới hình thức thể chế nào đi nữa, người dân Saigon chưa bao giờ phủ nhận là mình không phải là người Việt Nam mặc dầu về kinh tế, giáo dục, văn hóa tiếp cận Âu Tây sớm hơn người dân ở ngoài Trung, ngoài Bắc.


Trong lịch sử, có nhiều cơ hội để miền Nam tách ra thành một quốc gia độc lập, nhưng người Miền Nam và dân Saigon vẫn một lòng với chúa, với vua, giữ trọn đạo cương thường.
Saigon từ xưa vốn không phải là nơi đặc biệt dành cho người Nam Kỳ mà là nơi có nhiều sắc dân từ lâu sinh sống chung đụng hài hòa: người miền Nam, miền Bắc, miền Trung, người Hoa, người Miên, Chàm, Ấn Độ, Pháp.
Ai muốn giữ ngôn ngữ, tiếng nói của mình thì giữ, không có sự đồng hóa.
Người Tàu, người Việt (Bắc, Trung), người Pháp ngay cả người Miên, Ấn Độ vẫn có trường học dạy tiếng của họ.
Tại Saigon có đủ chùa, đình, miếu, nhà thờ, mosque hồi giáo. Họ sống hòa đồng, quý mến nhau, không gây gắt kỳ thị.

Ai đã từng ở Saigon, thở không khí Saigon, sống giữa những trưa hè oi ả. Nghe tiếng ve sầu kêu vang suốt mùa, hay lặng nhìn những cơn mưa rào nặng hạt trên mái hiên, những con đường lầy lội, phập phồng chiếc bong bóng nước. Những buổi tan trường khi cơn mưa ập đến, đành đội mưa mà đi, tuy quần áo ướt sũng mà lòng phơi phới hân hoan không cần ô dù, cứ để mặc nước tuông vào người. Nhớ hoài cái cảm giác lâng lâng, cái cảm nhận sâu sắc về cơn mưa rào trong lòng người Saigon.

Có những lúc, cả nhà ngồi quây quần bên chiếc Radio nghe tuồng cải lương với tình tiết ly kỳ, những màn thoại kịch bi hài: Vũ Đức Duy, Dân Nam, Kim Cương, Túy Hồng, tay phe phẩy quạt muỗi giữa khí trời nóng nực, tha hồ mà ngậm ngùi rơi lệ với tuồng Lá Sầu Riêng hay Đời Cô Lựu.
Lại có bữa khác, hồi hộp nghe Huyền Vũ truyền thanh trận banh quốc tế, sao mà mê tơi , thấy mình như là cầu thủ đang vẻ vời những đường banh ngoạn mục trên sân cỏ. Trên những con đường phố xưa, sau buổi cơm chiều, bắt ghế bố, ngồi hóng mát trước sân, cùng hàng xóm chia sẻ nỗi buồn vui cuộc đời. Sống ở Saigon là thế.
Lòng rộn ràng được cô chú dẫn đi xem một tuồng cải lương, một buổi đại nhạc hội, say sưa thả hồn theo màn trình diễn nghe ca sĩ Anh Ngọc với bài " Em đến thăm anh một chiều mưa"!!!
Nghe Ban Thăng Long với" Ngựa Phi Đường Xa", ngậm ngùi nghe Trần văn Trạch với "Chuyến xe lửa mùng Năm", rơi lệ với Kim Cương trong thoại kịch Trà Hoa Nữ...

Saigon ôi nhớ ơi là nhớ.

Có đôi khi trốn học ghé vào những rạp xi-nê tình tứ trong góc hẻm Lê thánh Tôn chéo chợ Bến Thành (rạp Lê Lợi thì phải - rạp Vĩnh Lợi)
rạp Eden trong hẻm Eden, rạp hát Catinat trong ngõ hẻm vắt ngang đường Charner (Nguyễn Huệ) và đường Catinat (Tự Do).


Lạ lùng, đó là những rạp ciné nhỏ trang trí khá sang trọng chứa ít người. Người xem ăn mặc chỉnh tề như vào những rạp có tiếng là sang: Rex, Majestic, Casino.
Tuy vậy, không có gì vui bằng vào rạp Cathay gần Ngân Hàng Quốc Gia, mặc quần tiều (xà lỏn) ướt sũng vì mưa, ngồi chồm hổm trên ghế cho khô quần, say mê xem phim “Canon de Navarone” " Gunfight at the O.K.Corral".

Thời đó thiếu gì rạp hát chiếu với giá 5 đồng 2 phim, đặt biệt là phim hay đứt nửa chừng. Mình ngồi ngáp dài chờ nối phim. Xem chớp bóng (Xi cờ la ma) với cung cách đó chỉ thấy ở những rạp bình dân ở Saigon.
Người Saigon tìm giải trí về những tuồng Cải Lương trên sân khấu, ngày càng nở rộ, những buổi Đại nhạc Hội đầy kịch tính và những bài hát đa dạng về đồng quê, tình yêu nước, tinh duyên ngang trái. Nghe Radio và sau này trên truyền Hình (TV) là lối giải trí rẻ tiền của người dân Saigon.

Tuổi thơ Saigon có gì vui? nhiều lối chơi lắm: trong nhà, nhất là khi trời mưa: Bắn thun, bắn bì, diễn tuồng. Ngoài sân: tụm ba tụ bảy với hàng xóm, trời không mưa: đá banh, táng trống, đánh đáo, chơi bông vụ, đá cầu lông, bắn bi chai, đá dế, đá cá lia thia, tạc hình, nút phén đập dẹp, bao thuốc lá, ném đá trên lưng người cổng. Trời mưa: tắm mưa ngoài phố, trượt xi măng láng, bắt cá bằng lồng bẫy chuột trong cống dẫn nước từ sông Saigon chảy ngược vào.v.v.


Còn nữa chưa hết: trèo lên nóc nhà thả diều, bẫy chim khoen, bắt dế cơm ở Ngân Hàng Quốc gia bên kia cầu Mống lúc trời tối. Đánh lộn với trẻ con của khu phố khác. Cờ bạc: Hốt lú, đánh bài, tạc hay khẻ tường, đổ xí ngầu ăn bò vò viên, ăn bò bía. Ban đêm: u mọi, bỏ khăn, chờ xe taxi qua cộng số xe theo bài cào để định hơn thua mà thay phiên nhau cổng. Tuổi thơ của tôi ở Khánh Hội, Saigon” là vậy đó.

Ăn hàng vặt ở Saigon thì muôn hình vạn trạng: Trẻ con được vài đồng mỗi buổi sáng cha mẹ cho là vui rồi, số tiền đó vừa ăn vừa dè sẻn mới có được những trò chơi ở trên (nhất là trò chơi cờ bạc). Vài đồng thì ăn được cái gì hở? một tô cháo huyết, cháo đậu xanh với đường thẻ, cháo lòng. Một gói xôi đậu xanh và dừa nạo, bọc bánh phồng, xôi bắp kiểu Nam, kiểu Bắc, cốm dẹp trộn dừa, bánh mì chang sốt cà, một đỉa cơm tấm bì nhỏ, bánh ướt với một nửa bánh đậu chan nước mắm cay vừa cay vừa hít hà, bánh cuốn thanh trì chờ lâu vì tráng bánh, một tô bánh hoành thánh nước lèo, một đĩa ốc gạo với nước mắm chanh, một đĩa ốc len xào dừa, một tô bánh canh nhỏ, một đĩa bánh tằm bì, bánh bèo bì.


Chắc tạm đủ, thêm những lặt vặt khác: như kẹo kéo, kẹo đậu phộng kẹp bánh tráng, một chiếc chuối nướng bọc nếp, một chiếc chuối nướng trên lò than, đập dẹp chan nước dừa. Một miếng khô mực nướng, khô cá đuối nướng, khô mực nướng tráng mỏng chấm tương ớt. Một trái cóc chẻ ngâm cam thảo, một trái ổi, một miếng xoài tượng ăn với mắm ruốc hay muối ớt, một miếng khóm ngọt.v.v. Còn chè thì đủ loại: táo soạn, chè thưng, chè trôi nước, chí mà phù, chè đậu xanh, chè đậu xanh bột bán, chè đậu đỏ, sương sa hạt lựu nước dừa, đá nhận chan nước siro, cà rem cây đậu xanh đậu đỏ…v.v.. anh chị nhớ mệt nghỉ.

Ở Saigon, hàng sách báo tự do mở khắp nơi, nhật báo, tuần báo, nguyệt san, báo Xuân. Nhà sách lớn nhỏ, cho đến những quán sách vỉa hè đông đúc người đọc. Chờ báo Hồng Kông với truyện kiếm hiệp của Kim Dung, tiểu thuyết mới xuất bản của Quỳnh Dao là một trong món ăn tinh thần đầy lôi cuốn của người dân Saigon.Người Saigon có cách đọc báo thú vị: ăn sáng trong quán cà phê, tiệm nước, hay ngồi vắt vẻo trên xích lô khi không có khách, hay ngồi chồm hổm, hay trên chiếc ghế đẩu thấp tè tè, miệng phì phèo điếu thuốc, đọc ngấu nghiến từng trang báo. Hình ảnh này, có từ hồi nhà văn Phú Đức cho ra tiểu thuyết trinh thám từng kỳ: Châu Về Hiệp Phố . Món ăn tinh thần phong phú đến đổi sau này mỗi một góc phố Saigon, đều có hiệu sách thuê. Cứ thuê mà đọc khỏi phải mua.


Sau năm 1954, phong trào văn nghệ phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết, từ báo chí, đến sách vở, tiểu thuyết, truyện dịch. Số nhà văn, nhà thơ tăng lên gấp bội. Nhạc sĩ, ca sĩ cũng vậy, ta có nhiều nhạc phẩm tuyệt vời còn lưu lại đến bây giờ. Phòng trà, quán cà phê ca nhạc bỏ túi, phong trào nhạc trẻ và những danh ca ngoại quốc len lỏi vào tâm hồn giới trẻ: Sylvie Vartan, Francoise Hardy, Christophe, the Beatle, the Animal, Elvis Presley, Pat Boone v.v.


Chỉ có Saigon mới có những ngày Giáng Sinh thật tưng bừng. Nó đến như ngày vui quốc lễ, không phân biệt tôn giáo, ai cũng vui vẻ đón mừng. Những hang đá làm bằng giấy bồi, những ngôi sao có ren tua thấp sáng báo tin Chúa ra đời, những chiếc thiệp với lời chúc nồng ấm. Phố xá đông nhiều hơn, mua bán nhiều hơn. nhộn nhịp hơn . Dân bát phố đổ ra đường nhiều hơn, chen chân mà đi. Hàng quán lung linh ánh đèn chớp, đóng cửa trễ. Đúng là rộn ràng một nỗi vui. Đêm Giáng Sinh, con đường dẫn đến nhà thờ Đức Bà đông hơn bao giờ hết. Tan lễ rồi, ai vội vã về nhà ăn reveillon thì về, ai muốn thưởng thức phố khuya thì lang thang trên những con đường đang vào cơn ngủ muộn.


Nhớ nhiều những rộn ràng cả tuần lễ trước Tết, khí hậu êm dịu, mát lạnh. Hàng hóa tuông về thành phố. Những quầy hàng dưa hấu lớn có, nhỏ có. Gian hàng treo những ngọn đèn khí đá. Cây cảnh, quất tắc, mai, đào đươm nụ chờ đến ngày tết. Hàng quán bánh mứt, pháo đỏ, rượu hồng chưng bày làm tăng nét yêu kiều chào đón mùa xuân mới. Những bài hát Xuân lập đi lập lại trên đài phát thanh không ngừng nghỉ, những phong pháo, hàng vải lụa là mới tinh. Những cánh thiệp xuân treo dài trong sạp báo nhỏ.
Đi chợ hoa Nguyễn Huệ là một thú vị, xem người và hoa lấp lánh ánh xuân nồng. Mùa Xuân và Tết làm cho lòng người Saigon, háo hức, chộn rộn chờ đón Tết đến từ rằm tháng chạp, giao thừa, đến mùng 3, đi du xuân khoe áo mới khắp nẻo đường Saigon, đùa vui với tiếng pháo rộn rã liên tục, từ khu phố này đến khu phố khác. Đâu đâu cũng chan hòa niềm vui..


Sài gòn trong tâm tư của tôi không bao giờ xóa hết cho đến khi tôi rời xa Sài gòn năm 28 tuổi và lưu lạc đất khách hơn 40 năm. Tôi nghĩ, anh chị dầu là người Bắc, người Trung, người Hoa đã sống ở Saigon, tâm hồn anh chị thế nào cũng chất chứa nỗi nhớ nhung Saigon.

Không phải chỉ tổng quát Saigon, mà từng con đường, từng khu phố, ngõ hẻm, từng công viên, từng chiếc lá me, lá chuồn chuồn tung bay trước gió, từng khu chợ, từng món ăn chơi trên vỉa hè, món chè món cháo không nơi nào mà không lưu dấu chân kỷ niệm của các anh chị về những địa danh quen thuộc: Đa Kao, Phú Nhuận, Tân Định, Chợ Cũ, Bàn Cờ, Xóm Chiếu, Khánh hội, Vĩnh Hội, Tân Thuận, Bình Tây, Chợ lớn, Phú Lâm, Cầu kho, Đồn Đất, Ba son, Bến Bạch Đằng, Bến đò Thủ Thiêm, Chợ Đũi, Chợ Quán, Ngã Sáu, Ngã bảy, Ngã tư Bảy Hiền, Phú Thọ, Phú Nhuận, Hàng Xanh, Ngã ba Chú Ía.v.v.

Làm sao quên được tiếng rao hàng lanh lảnh giữa đêm. Tiếng mì gõ ở cuối ngõ.


Tiếng súc sắc tẩm quất. Tiếng gánh hàng kẽo kẹt giữa đêm về sáng. Tiếng chân ngựa thồ gõ từng nhịp bước trên đường phố. Rất thú vị bước lang thang độc hành dưới ánh đèn đường héo hắt khi thành phố Saigon đang yên giấc, ngủ vùi trong đêm. Nhớ câu hát: Nửa đêm lạnh qua tim, phố đã vắng thưa rồi, có người mãi đi tìm một người không hẹn đến, mà tiếng bước buồn thêm...thấm thía và nhớ nhiều về Saigon nếu ai đó đã từng lang thang giữa đêm khuya

Ngày xưa, anh chị còn nhớ, khi tan trường về, nhìn những tà áo dài trắng và chiếc nón lá của nữ sinh phất phơ trước gió. Từng nhóm nhỏ, họ đi bộ hay xe đạp về hướng trung tâm thành phố như những cánh bướm trắng yêu kiều bay từng đàn nhỏ trên cánh đồng xanh và chỉ một thoáng sau đó, có vài giờ, những tà áo trắng ấy tan biến đi trong ngày nắng vội.

Sài Gòn ôi đẹp làm sao những giờ phút ngắn ngủi đó. Lúc xưa nó ở quanh ta, mà giờ chỉ còn là hoài niệm.
Sài gòn nay vắng bóng những tà áo dài trắng yêu kiều phất phơ ngoài Phố. Saigon vĩnh viễn mất đi hình tượng ấy rồi .


Sài Gòn ngày ấy vẫn còn vương vấn mãi không biết cho đến bao giờ.
Bây giờ đã ngoài 70, mà ký ức xa xưa vẫn còn lãng vãng đâu đây.
Tất cả tâm tình như đã gửi gắm ở phần trên kích động trong tâm tôi.
Tôi phải làm gì đây để khơi lại những gì liên hệ đến Thành Phố Saigon này?

Có những ngày trong căn phòng vắng, ngoài trời mưa lê thê không buồn trôi, ngồi thả hồn nhớ lại một Saigon xa xưa mà giờ đây chỉ còn là hồn thu thảo, bóng tịch dương và tôi viết bài này từ những gì tồn đọng trong ký ức của tôi với hy vọng gợi lại những lưu dấu về Saigon trong anh chị, cùng để lòng tràn dâng một niềm nhớ Sài Gòn dấu yêu.
Ôi Saigon của tôi!


Xin anh chị dành một phút suy tư về một nơi chốn đã chìm dần vào một bóng tối thăm thẳm của niềm nhớ. Phải chăng Saigon xưa chỉ còn hư ảo ?

Mà thật, Saigon bây giờ khác, khác hơn Saigon xưa nhiều.. nhiều lắm.

Thân thương
Lê Minh Đức (YK67-74)

Sáng Tác & Trình Bày; Nhạc Sĩ Nam Lộc

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2026

Kỷ Niệm - Thơ: Quý Linh - Nhạc: Nguyễn Ngọc Tài - Trình Bày: Khổng Thanh Hoài

 

Thơ: Quý Linh
Nhạc: Nguyễn Ngọc Tài
Trình Bày: Khổng Thanh Hoài

Họa Sĩ Vũ Hối Họp Mặt ở Montréal, Canada

 

Khi anh Vũ Hối lên Montreal, anh có làm một buổi họp mặt để vui chơi.
(Anh VH đứng giữa, tay bỏ vào túi quần). Trong dịp nầy, có anh chị Trần Hoài Thư và chị Ngô Minh Hằng từ NJ lên, có anh Lê Dinh (Montreal).
Bây giờ thì các anh Vũ Hối, Trần Hoài Thư, Lê Dinh đều đã ra đi. Bây giờ nhớ các anh chị chỉ biết xem hình mà thôi.
Anh mới xem sơ trang Web cá nhân của Kim Oanh,

Bá Dĩnh

Giá Chi..

  

Giá chi anh hóa làm mưa
Tóc mây hứng giọt hương chưa phai tàn
Giá chi anh đổi thu sang
Vườn xưa thay sắc lá vàng nhuộm xanh
Giá chi anh giấc mộng lành
Đong đưa tơ võng chòng chành vẫn yên
Giá chi anh suối tinh tuyền
Một đời mơ được làm tiên giáng trần
Giá chi anh quạt gió xuân
Hạ vàng phượng thắm chẳng ngừng van mưa
Bâng khuâng tắm mát bốn mùa
Hạt yêu hạt nhớ hạt lùa… tự dưng….

Kim Oanh
25/6/2016

Phố Cổ

 

Những con đường lát gạch
người. như cây. chụm đầu
quán cà phê. và gió
cô hàng tranh. tóc nâu

em đưa anh đến đây
chiều nghiêng. chiều. phố cổ
những bước chân reo vui
nắng. trên bờ tường lở

a. cuộc đời rất điên

người xưa trên phố cổ
trôi. như mây. như mây

dòng sông. dòng sông. trôi
cánh buồm dong ra biển
dưới gốc thông. ta ngồi
lặng yên nghe. sóng gọi

kìa. bóng ngày. đang qua

phố lên đèn. góc tối
mắt. là hoa pensée
anh hôn em. rất vội
starbucks. la madeleine
hay tùng xưa. chiều tím
ly café latté
môi. miệng. tình. ngọt lịm

thời gian. ơi. thời gian

phố còn đây. phố cổ
còn đà lạt. sài gòn
và washington. nỗi nhớ
nhưng ta rồi đi qua
có bao giờ trở lại
như mây trên phố kia
tan thành mưa. ướt xối
xuống mái tình. hư vô

tháng 8. 2005
Nguyễn Xuân Thiệp


Hai Chiếc Đũa Lẻ

Tiếng điện thoại reo vang. Gần 12 giờ đêm. Ai lại gọi vào giờ này, Hoàng nhấc điện thoại:
Hello!
Bác Hoàng! Bác Hoàng... (tiếng nói trong phone như nghẹn lại) Bác ơi... Bố con... mất rồi!
Hả!! Con nói gì!?
Tiếng Đảm, con trai lớn của Thạc như khóc nấc qua phone kể về sự ra đi của bố nó. Như tiếng sét đánh bên tai, Hoàng ngồi phịch xuống ghế ôm đầu:
Thạc ơi... Thạc ơi!

Hân vợ của Hoàng mới qua đời chưa đầy một năm. Hoàng được tin Thạc mới khám phá là vướng bịnh ung thư phổi mới vài tháng nay, chưa kịp sang thăm bạn thì nghe tin dữ! Hai năm liên tiếp, hai sự mất mát đớn đau. Người vợ đầu gối tay ấp, trải qua với nhau bao sóng gió, bao yêu thương gắn bó đã bỏ chàng. Niềm đau chưa dứt bây giờ người bạn chí cốt thân thương từ thời thơ ấu cũng bỏ chàng mà đi. Thạc ơi, sao cậu vội đi thế! Nghe tin cậu bịnh tôi đã hẹn sau giỗ đầu của Hân tôi sẽ sang thăm cậu mà... Tưởng cậu cũng cầm cự được vài năm chứ. Cậu không đợi tôi sang chơi với cậu sao...
Hai giọt lệ lặng lẽ ứa ra khóe mắt!
Quá khứ như một cuốn phim quay chậm, thật chậm:

1- Hoàng và Thạc là đôi bạn chí thân, trước hiệp định Genève, ở thành phố Hải Phòng, hai gia đình là hàng xóm, cả hai học chung lớp, chung trường từ tiểu học. Cùng nhau đi hướng đạo từ khi còn là hai chú sói con cho đến khi trở thành hai thiếu sinh.

Đến năm 1954 chia đôi đất nước, cả hai gia đình đều có những lý do riêng quyết định ở lại. Hai chàng trai trẻ cương quyết ra đi. Mới 16 tuổi đầu, mỗi người chỉ có một tay nải bằng vải gói ghém vài bộ quần áo, giấy tờ cần thiết và một ít tiền lẻ, theo dòng người di cư vào nam. Thời gian mới đến vùng đất lạ “hai chú dế mèn phiêu lưu” bơ vơ, không cha mẹ, anh em, không họ hàng thân thích. Những ngày đầu ở Sài Gòn thật cơ cực. Hai chàng trai làm đủ nghề để tồn tại: bỏ báo, dạy kèm, khuân vác... việc gì có tiền là làm.

Đêm đêm, cả hai chen chúc trong căn phòng trọ nhỏ, chia nhau từng ổ bánh mì, từng miếng bánh ngọt và những giấc mơ tuổi trẻ.
Có những hôm mưa lớn, quần áo ướt sũng, hai đứa vẫn ngồi cười.
Ráng lên cậu! Sau này tụi mình sẽ khá.
Tình bạn ấy theo họ suốt cả cuộc đời.

2-Thạc gặp Nga trong một lớp học đêm luyện thi Tú Tài.

Nga vốn là nữ sinh trường Marie Curie. Nhưng biến cố gia đình khiến nàng phải nghỉ học sớm để đi dạy học phụ giúp mẹ nuôi các em.
Ngay lần đầu gặp, Hoàng đã quý Nga như một cô em gái.
Một cô em gái dịu dàng, hiền lành nhưng cương quyết.
Ngày Thạc cưới Nga, Hoàng xin nghỉ phép để phụ bạn lo đám cưới. Chàng còn mang hết số tiền dành dụm được để giúp bạn.
Hai năm sau, Hoàng gặp Hân, cô gái Bến Tre có nước da trắng như trứng gà bóc, mái tóc dài đen óng và nụ cười hiền hậu.
Rồi hai đôi bạn trẻ cùng bước vào đời sống hôn nhân.
Những năm tháng ấy, họ sống nghèo nhưng hạnh phúc.
Thạc có ba đứa con, hai trai một gái. Hoàng cho ra đời bốn đứa, một gái ba trai. Hai nhà như một. Đám con trẻ cũng rất thân thiết, vui đùa với nhau.
Cho đến biến cố tháng Tư 1975.
Gia đình Thạc may mắn di tản sang Mỹ trước ngày Sài Gòn thất thủ.
Còn Hoàng bị kẹt lại.
Chàng bị đưa đi học tập cải tạo hơn bảy năm chỉ vì từng làm cho hãng Mỹ.
Những năm ấy, Hân một mình tần tảo nuôi bốn đứa con thơ.
Ngày Hoàng trở về, nhìn vợ gầy guộc, tiều tụy, chàng đã bật khóc.
Tưởng rằng gian khổ rồi sẽ qua.
Nhưng Hân lại mắc ung thư.
Cả gia đình chạy chữa suốt nhiều năm.

Năm 1992 Gia đình Hoàng may mắn được định cư tại Mỹ theo diện HO. Hoàng ở Texas, Thạc ở California.
Đến năm 2001 Hân trút hơi thở cuối cùng. Hoàng như mất đi một phần đời mình.

3 - Hoàng thu xếp sang Cali tiễn đưa Thạc lần cuối. Nhìn bạn nằm trong chiếc quan tài Hoàng thật xót xa. Vô thường đến vậy sao! Cuộc đời ngắn ngủi vậy sao! Thạc ơi... Hai đứa mình từng hẹn khi nghỉ hưu, con cái yên bề thì hai vợ chồng già sẽ rủ nhau đi du lịch, đi chơi cho bõ cả đời khổ cực mà. Sao cậu bỏ cuộc chơi sớm vậy! Nhìn Nga buồn ủ rũ, ẻo lả trong bộ áo tang, Hoàng thật thương cảm! Liệu Nga có chịu nổi sự đau khổ, cô đơn, hụt hẫng khi mất đi người chồng yêu qúy!

Trong dịp này Hoàng gặp lại hai cặp vợ chồng Khải – Liên và Tú – Hoa. Khải và Tú cùng ở Hải Phòng, cùng đi sinh hoạt hướng đạo với Hoàng và Thạc ngày đó. Bây giờ cả hai cặp đang sinh sống tại thành phố Hayward, gần San Jose.

Ngày giỗ đầu của Thạc các bạn rủ Hoàng về dự, sau đó rủ ở lại chơi thêm cho biết miền bắc Cali. Thời tiết Cali, con người Cali đã quyến rũ chàng. Năm 2006 Hoàng lo đám cưới cho hai đứa con nhỏ xong. Tất cả bốn đứa đều có công việc làm ổn định, đều yên bề gia thất và Hoàng cũng đã chính thức nghỉ hưu nên chàng yên tâm chuyển về sống tại Cali

Sau khi Thạc mất, Nga sống lặng lẽ hơn hẳn.
Nga vẫn còn đi làm. Con gái sợ mẹ cô đơn nên đón mẹ về ở cùng nhưng Nga vẫn nhớ căn nhà cũ — nơi chứa đầy kỷ niệm với chồng.
Nhóm bạn cũ ai cũng thương hai người cô quạnh nên thường nửa đùa nửa thật ghép đôi.
Mỗi lần như vậy, Nga đều bật cười:
Anh Hoàng là anh của tôi mà.
Hoàng cũng cười theo:
Ừ, anh của Nga.
Nhưng trong ánh mắt họ, đôi khi vẫn có những điều không nói thành lời.

Rồi một ngày, Thi con gái Nga đề nghị:

Bác Hoàng ơi, đằng nào bác cũng phải thuê nhà. Mẹ con muốn về lại nhà cũ, bác thuê nhà mẹ con đi. Có bác ở cùng thì chúng con mới yên tâm để mẹ con về. Mẹ ở một mình chúng con lo lắm. Chúng con không giám để mẹ ở một mình đâu.
Con phải hỏi xem mẹ có bằng lòng cho bác thuê nhà hay không đã chứ!
Nga mỉm cười:
_Giá bác Hoàng là anh ruột của mẹ!
Hoàng đáp ngay:
Ơ kià cô này! Thì lúc nào anh chẳng là anh của Nga, kể từ khi còn Thạc anh vẫn coi Nga như em gái của anh mà!
Thi nói:
Đúng rồi! Từ xưa đến nay bác luôn là bác của chúng con! Hồi tụi con còn bé bác cưng chiều tụi con hết xẩy luôn! Bác chịu về ở chung nhà với mẹ thì tụi con mới cho mẹ về. Vậy nhé mẹ?
Nga im lặng rất lâu rồi khẽ nói:
Nếu anh chịu coi em như em gái thì em mời anh về.
Hoàng nhìn Nga. Chàng hiểu. Cả hai đều đã đi qua gần hết cuộc đời.

Khi biết ý định Nga muốn trở về ngôi nhà cũ và nghe ý kiến của cô con gái thì Khải Liên, Tú Hoa rất ủng hộ. Thế là do sự đốc thúc cuả các bạn, sự nài nỉ của mấy người con, năm 2008 Hoàng đồng ý dọn vào nhà Nga như một người thân của gia đình. Một người bác của các cháu. Nga vẫn có giang sơn riêng trên lầu. Hoàng trú ngụ trong một phòng ở nhà dưới, cạnh một phòng sắp xếp giường tủ sẵn sàng để dành những lúc con cháu hoặc bạn bè đến chơi. Hoàng chọn đóng khung một số hình đẹp của gia đình Nga treo một cách mỹ thuật trên bức tường dọc theo cầu thang và rải rác trên tường của các phòng khiến căn nhà như ấm cúng hẳn lên. Bàn thờ của Thạc đặt trang trọng trong phòng gia đình (family room).

Nhớ ngay ngày đầu tiên Hoàng đã hỏi Nga:
Này bà “landlord”, bà cho “tenant” ăn cơm chung hay phải nấu riêng đây?
Hì hì... Ông anh ơi! Anh em thì phải ăn cơm chung chứ! EM GÁI sẽ lo việc bếp núc, ANH TRAI phải lo dọn dẹp, hút bụi, lau sàn, chăm sóc vườn tược. Được chưa?
Tiếp theo Nga còn nói thêm hợp đồng sống chung “NHẤT ĐỊNH CHỈ LÀ ANH EM!”
Cả hai cùng phì cười và vui lòng chấp nhận theo “nội quy” và “hợp đồng” do bà chủ nhà mới soạn thảo.
Cả hai đều biết rằng tình yêu ở tuổi này không còn là những rung động cháy bỏng nữa.
Mà là sự có mặt. Là tiếng hỏi han. Là một mái nhà có người chờ mình trở về.
Họ ăn cơm chung. Đi tập thể dục cùng nhóm bạn. Chăm sóc khu vườn. Uống trà. Nghe nhạc xưa.
Một đời người tưởng như đã khép lại bỗng dịu dàng mở ra thêm một đoạn bình yên.

Những lúc ngả lưng trên chiếc ghế sofa trong phòng family room, ngước mắt nhìn lên bàn thờ Thạc, Hoàng nhớ những lời sau đó Nga đã nói với riêng anh. Nga rất cám ơn anh đã tôn trọng và coi Nga như em. Em chưa quên được Thạc. Em biết anh vẫn còn nhớ Hân. Chúng mình cần thêm thời gian phải không anh? Hoàng rất thương Nga và cũng thông cảm vì chính chàng những lúc nghĩ về Hân chàng vẫn thấy xót xa, bùi ngùi thương nhớ người vợ hiền vắn số. Không dễ quên được người mình đã từng yêu thương gắn bó. Nga là vợ của Thạc. Thạc và Hoàng thân nhau như anh em. Hoàng chấp nhận sống với Nga như một người anh rồi từ từ theo thời gian nếu hai người tự nhiên đổi sang vai trò khác tốt đẹp hơn thì Hoàng cũng sẵn sàng còn nếu tình cảm chỉ dừng lại tại mức là tình gia đình thì chàng cũng vui lòng chấp nhận.

Hoàng cũng không khỏi buồn cười khi Liên hay Hoa buột miệng:
Này ông bà Hoàng!
Nga vội vàng đính chính ngay:
Không phải ông bà Hoàng! Hoàng và Nga!
Buổi tối dưới ngọn đèn chùm ấm áp từ trên trần tỏa xuống hai người ngồi đối diện nhau, ngày nào cũng có cơm canh nóng sốt. Vừa ăn vừa chuyện trò, Hoàng cảm thấy thật hạnh phúc.

Năm 2011 Nga vừa tròn bẩy mươi thì chính thức nghỉ hưu. “Nhóm bạn không còn trẻ” lập nhóm TTCK (Thể Thao Cho Khỏe) thay vì nhóm ACCC (Ăn Chơi Chờ Chết)! Buổi sáng thay vì chỉ có các ông đi thể thao nay các bà cũng đi theo luôn. Khi các ông đi chơi tennis thì các bà vào gym trước, theo khoá Aqua Fitness để tập Aerobic dưới nước với tiếng nhạc và sự hướng dẫn của một huấn luyện viên. Khi các ông đến gym thì các bà đã xong khóa tập, đang ngồi trong hot tub để vòi nước đấm lưng. Các ông bơi lội một lúc thì sang hot tub. Các bà đổi chỗ vào phòng thay quần áo sửa soạn, chờ các ông xong thì cùng về. Cứ thế thời gian êm đềm trôi, Xuân qua, Hạ tới, Thu tàn, Đông sang... vèo... Hết một năm! Đời sống đẹp như mơ!

Sau bốn năm chung sống hai người vẫn giữ hợp đồng, vẫn theo nội quy đã đặt ra nhưng tình cảm của cả hai hình như thay đổi, không có tình yêu cháy bỏng như thời trẻ dại nhưng ở gần nhau, săn sóc nhau từ những chuyện nhỏ nhặt nên cũng thêm tình quyến luyến. Cả hai đã sống thân thiết như một đôi vợ chồng, chỉ thiếu tình chăn gối.

Có lần Hoàng nhẹ nhàng hỏi:
Nga này... nếu tụi mình chính thức sống với nhau thì sao?
Nga lặng người.
Một lúc sau, nàng khẽ đáp:
Em thương anh.
Rồi đôi mắt nàng đỏ hoe.
Nhưng em không quên được Thạc.
Nga kể về người chồng đã yêu thương và hy sinh cho mình suốt cả đời.
Với em, chuyện vợ chồng là điều thiêng liêng. Em chỉ có một người chồng thôi.
Hoàng im lặng.
Và chàng chấp nhận.
Từ đó về sau, họ vẫn sống bên nhau như tri kỷ.
Không ràng buộc. Không hứa hẹn.
Chỉ âm thầm chăm sóc nhau qua từng ngày.
Chàng hiểu.

Nga vẫn theo những tập tục xưa, văn hoá cũ, với Nga chuyện gối chăn là chuyện thiêng liêng, mầu nhiệm của vợ chồng. Gái chính chuyên thì chỉ có một chồng. Bà ngoại của nàng cũng góa chồng rất sớm, mẹ nàng cũng mất chồng khi mới 38 tuổi. Các cụ đã ở vậy thờ chồng nuôi dậy con thơ, không bao giờ nghĩ đến việc bước đi bước nữa. Riêng Sơn, bạn thân của nàng cũng lẻ loi cô quạnh, đứng vững một mình khi chưa đầy bốn mươi.

Thật tình nếu tái hôn thì không ai tốt hơn Hoàng nhưng khi nghĩ đến Thạc Nga như chùng lại và vẫn muốn giữ tấm lòng thuỷ chung. Nghĩ đến Hoàng Nga cũng không khỏi bâng khuâng. Anh không đòi hỏi, ép buộc nhưng Nga cũng cảm thấy thiệt thòi cho anh, bất công cho anh, nhưng biết làm sao khi những nền nếp cổ xưa vẫn bám chặt lấy nàng, vả lại nay nàng đã hơn 70. Xa chồng đã hơn 10 năm, nằm một mình đã quen. Nga khó chấp nhận nằm cạnh một người đàn ông khác. Nằm cạnh người ta mà lòng mình vẫn nghĩ đến người cũ thì... Tội nghiệp cho cả hai. Vả lại mình tự nhìn mình, bà già còn gì hấp dẫn?

Chẳng thà cứ như vậy lại đẹp hơn. Hoàng ơi... Em biết là em cũng yêu Hoàng nhưng anh hãy thông cảm với em và xin tha thứ cái tính lẩm cẩm, ương ương của em nhé.

4 -Rồi tuổi già cũng đến.

Nga bắt đầu quên trước quên sau.
Ban đầu chỉ là những chuyện nhỏ.
Sau đó nàng quên cả đường về nhà. Quên tên cháu. Quên hôm nay là ngày nào.
Bác sĩ chẩn đoán nàng bị Alzheimer.
Căn bệnh ấy như một cơn mưa mù lặng lẽ cuốn dần ký ức con người đi mất.
Có những lúc Nga bật khóc vì không nhớ nổi mình vừa nói gì.
Hoàng ngồi bên cạnh nắm tay nàng:
Không sao đâu Nga.
Rồi một ngày, gia đình buộc phải đưa Nga vào Memory Care Center.
Ngày đầu tiên rời khỏi căn nhà cũ, Nga ngồi lặng trên xe lăn, mắt nhìn mãi khu vườn sau nhà.
Hoàng đứng phía sau, cảm giác như tim mình bị ai bóp nghẹt.

Đã gần ba năm nay, cứ 11 giờ trưa là Hoàng vào thăm Nga ở Memory Care Center, chăm sóc cho Nga ăn bữa trưa, ngồi chơi khoảng hai tiếng mới về. Chỉ hai ngày cuối tuần là Hoàng ở nhà để các con của Nga chia nhau vào thăm mẹ. Nga bị Alzheimer đã hơn sáu năm, khi bịnh trở nặng gia đình phải đưa vào nơi này để được săn sóc chu đáo hơn.

Hôm nay Thứ Hai ngày đầu tuần, Hoàng vào thăm Nga sau hai ngày vắng mặt. Như thường lệ Hoàng chăm chút, bón cho Nga ăn, chàng chịu khó vỗ về, đút từng muỗng súp, ít khoai tây nghiền và từng chút rau xào thịt rất nhừ. Một lúc sau Nga cũng ăn được gần hết phần cơm trưa. Nhìn qua khung cửa sổ, trời đã vào xuân khu vườn đẹp quá! Hoàng nhẹ nhàng đẩy chiếc xe lăn đưa Nga ra ngoài hưởng chút nắng ấm cho thoải mái và có thể cây cối xanh tươi, hoa nở tưng bừng, cảnh thiên nhiên thoáng mát khiến sức khỏe Nga sẽ tốt hơn. Đến chiếc băng đá dưới bóng mát của một cây cao, Hoàng dừng lại kéo chiếc xe lăn sát cạnh băng ghế. Vẫn để Nga ngồi trên xe. Hoàng ngồi xuống mở chiếc túi nhỏ mang theo, lấy quả quýt ra bóc vỏ, bón từng múi quýt cho Nga rồi chỉ vào ngực mình hỏi:
Nga biết ai đây không?
Mắt Nga ngơ ngác nhìn quanh như lạc thần rồi lẩm bẩm:
Cây me, lá me. Đi học về, lá me bay, lá me bay...
Anh Hoàng đây mà, Nga ăn ngoan, bao giờ khỏe rồi anh sẽ đưa đi xem lá me bay nhé.

Bây giờ đến giai đoạn trí óc nàng như bao phủ bởi những đám mây mù, gần như nàng đã xa rời thế giới hiện tại này mà chỉ nhớ về những chuyện xưa cũ. Ăn quýt xong Hoàng lấy chiếc máy ghi âm mở những bản nhạc xưa êm đềm rồi đeo chiếc “earphone”vào tai cho nàng.

Ngước mắt nhìn lên trời cao, mấy cụm mây trắng lững lờ trôi. Gốc cổ thụ nơi chàng ngồi, không biết là cây gì mà thân mầu nâu sậm, cành cũng mầu nâu sậm in lên nền trời, đám lá mới nhú ra mầu xanh non y hệt những cây me cổ thụ của những con đường Sài Gòn vào mùa me thay lá. À thì ra cây cao to này khiến Nga nhớ về những kỷ niệm khi còn bé đi học về trên những con đường Sài gòn ngập lá me bay!
Lá me bay... lá me bay...
Hoàng khẽ cười.
Nhưng mắt chàng đỏ hoe.
Chàng hiểu.
Trong trí nhớ rời rạc của Nga bây giờ, có lẽ chỉ còn sót lại tuổi thơ, những con đường Sài Gòn đầy lá me và bóng dáng người chồng đã khuất.
Còn Hoàng...
Có khi Nga đã quên mất từ lâu.
Hoàng ngồi lặng dưới gốc cây già.
Gió xuân thổi nhè nhẹ. Mây trắng vẫn lững lờ trôi như năm tháng.
Hai chiếc đũa lẻ. Cuối cùng vẫn nương tựa bên nhau đi qua quãng đời còn lại.
Chỉ tiếc rằng...
Một người còn nhớ. Một người đã dần quên.

Đỗ Dung