(Những năm 1963-1964 ,lúc này tôi là S.V Y-khoa Huế) Và cùng lúc Phong trào Phật giáo đấu tranh )
Chào dòng đời, đây bến bờ xứ Huế, Kinh –thành cổ-kính, gái lịch trai thanh! Núi Ngự mơ mộng dưới ánh trời xanh, Sông Hương xõa tóc nối lòng Đại-dương!
Thành phố Nho-giáo ngát tỏa phấn hương, Sóng người chen chúc, Trường-tiền gió bay! Thành-nội chìm trong giấc ngủ say, Đàn Nam-giao thổn thức, mây bay bụi mờ!
Tình người xứ Huế đẹp như thơ, Sân trường phượng đỏ, bảng mờ phấn bay. Chim non chẳng mỏi cánh bay, Dòng đời vun xới, trời mây nương nhờ.
Cõi đời nghiệt ngã, tạo mọi thời cơ, Trở thành rối loạn, bến bờ rối toan ! Nhờ ơn Trên dìu dắt dẫn đường, Chăm lo học tập lãng quên mọi điều.
Khung trời ảm đạm, cảnh vật buồn thiu, Được Cha soi sáng cuộc đời hư-không ! Nhìn trời cao mây trắng bình bồng, Tình thương lai láng, ngập tràn không trung!
Năm 1203, THÀNH CÁT TƯ HẢN (Genghis Khan), tăng cường quân đội, ra lệnh cho một cuộc cải cách nhằm tái tổ chức cấu trúc của quân đội , sau khi phá vỡ các sư đoàn truyền thống và gia đình, trước đây đã phân chia xã hội và quân đội. Ông đã sắp xếp quân đội của mình thành: mười người lính được gọi là một Arban, và các thành viên của một arban đã được chỉ thị trung thành với nhau bất kể nguồn gốc dân tộc. Mười Arbans đã làm một Zuun, hoặc một toán; Mười Zuuns làm một Myangan, hoặc một đoàn; Và mười Myangan hình thành một quân đoàn, hoặc một đội quân 10.000 người. Tổ chức hệ thống này của quân đội hùng mạnh của Thành Cát Tư Hãn đã chứng minh là rất hiệu quả trong việc chinh phục, bằng thuyết phục hay ép buộc, nhiều bộ lạc của thảo nguyên Trung Á, nhưng nó cũng sẽ củng cố toàn bộ xã hội Mông cổ. Vào năm 1206, sự phát triển quân sự của Thành Cát Tư Hãn đã thống nhất các bộ lạc Mông Cổ, và trong cùng năm đó, ông được bầu và được hoan nghênh như là người lãnh đạo Mông Cổ.
Sau đó, Mông Cổ mới nhanh chóng chuyển sang tấn công các lãnh thổ khác. Các cuộc chinh phục Mông Cổ đầu tiên là các chiến dịch chống lại Tây Hạ ở Tây Bắc Trung Quốc.
Sau khi thống nhất các bộ tộc Mông cỗ ở Thảo nguyên lên ngôi Đại Hãn, xưng là Thành Các Tư Hãn bắt đầu chinh phục những vùng đất xa xôi hiểm trở như:
Năm 1209, người Mông Cổ chinh phục miền Tây Hạ.
Giữa năm 1213 và 1214 người Mông Cổ chinh phục nước Kim, phía Bắc Trung Hoa
Năm 1214 người Mông Cổ đã chiếm hầu hết vùng đất phía bắc sông Hoàng Hà.
Năm 1221, các tướng của Mông Cổ Jebe và Subodei bắt đầu cuộc thám hiểm của họ xung quanh Biển Caspi và vào Rus Kiev; Thành Cát Tư Hãn đã đánh bại Turkalic Jalal-Din Mingburnu tại Trận Indus và cuộc chiến tranh với đế chế Khwarezmian đã kết thúc cùng năm đó.
Năm 1235 người Mông Cổ xâm chiếm Triều Tiên.
Năm 1237 Batu Khan và Subodei bắt đầu cuộc chinh phục Russia. Họ xâm chiếm Ba Lan và Hungary vào năm 1241.
Năm 1252 người Mông Cổ bắt đầu cuộc xâm lăng miền Nam Trung Quốc; Họ chiếm thủ đô Hàng Châu vào năm 1276.
Năm 1258 Hulagu Khan chiếm Baghdad.
“Đế chế Mông Cổ” nói chung ấy, khi Thành Cát Tư Hãn qua đời năm 1227, đã trải dài từ bán đảo Triều Tiên ở phía Đông đến tận Ba Lan tại châu Âu, từ miền bắc nước Nga đến tận Afghanistan hiện đại, phủ lên một phần lớn lãnh thổ của cả đế quốc Ba Tư lẫn đế quốc Trung Hoa. Mà sau cái chết của ông, các con cháu ông cũng vẫn còn chưa dừng vó ngựa chinh phạt.
Mỗi chiến thắng mới cho người Mông Cổ cơ hội kết hợp các dân tộc mới, đặc biệt là kỹ sư và lao động nước ngoài, vào xã hội của họ. Mỗi cuộc chinh phục mới cũng có được các tuyến thương mại mới và cơ hội để kiểm soát thuế và các cảng biển. Do đó, thông qua việc mở rộng lãnh thổ, quốc gia Mông Cổ không chỉ trở thành một đế quốc mà còn trở nên tiến bộ về công nghệ và kinh tế.
Người xưa có câu" Chiếm đất nước rất khó, mà giữ đất nước yên binh càng khó hơn"
Hôm này ..xin anh chị nhìn đế quốc Mông cổ về một khía cạnh khác: Thời Hòa Bình Kiểu Mông cổ
CON ĐƯỜNG TƠ LỤA.
Vào thời Hòa Bình Kiểu Mông Cổ (Pax Mongolica)
Bản đồ Con Đường Tơ Lụa đã có từ 300 trước Công Nguyên đến 100 năm sau Công Nguyên
Trung Quốc là nước đầu tiên tìm ra cách trồng dâu nuôi tằm, lấy kén ươm tơ, dệt lụa sớm nhất trên thế giới, xuất hiện ít nhất là khoảng 5.300 năm trước. Tơ lụa thời đó được dành riêng cho vua chúa và hàng quý tộc, sau này lụa tơ tằm được đưa đi các vùng. Con đường tơ lụa dần dần được hình thành từ đó. Như vậy Con Đương Tơ Lụa khám phá từ thế kỷ thứ 2 trước Công Nguyên
Thế kỷ 2 trước Công Nguyên (200 BC), Trương Khiên nhận lệnh từ Hán Vũ Đế đi về phía Tây tìm người Nguyệt Chi nhằm kết đồng minh chống lại quân Hung Nô. Trải qua nhiều gian khổ, Trương Khiên đã tìm được người Nguyệt Chi ở nơi là miền Bắc Ấn Độ ngày nay. Trên đường về ông cùng tùy tùng đã mang theo nhiều sản vật mà triều đình rất quan tâm. Nhờ đó những tuyến đường nhỏ trước đây đã được kết nối lại với nhau, nhiều tuyến mới được khai phá và an toàn hơn do được sự bảo vệ của triều đình. Tuyến đường mà Trương Khiên đã khai phá được người đời sau gọi là Con đường tơ lụa.
Con đường tơ lụa to lớn bắt đầu từ Phúc Châu, Hàng Châu, Bắc Kinh, Trường An (Trung Quốc) qua Mông Cổ, Ấn Độ, Afghanistan, Kazakhstan, Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, xung quanh vùng Địa Trung Hải và đến tận toàn châu Âu. Con đường cũng đi đến cả Triều Tiên và Nhật Bản (Và thậm chí là ở 2 miền Bắc-Nam Việt Nam). Nó có chiều dài khoảng 4.000 dặm, hay là 6.437 km.
Trước thời Mông Cổ, Con Đường Tơ Lụa có từ lâu hằng trăm năm trước Công Nguyên. Nó nối kết với các nước Trung Á, tận Đế quốc La Mã. Phía Bắc qua Nga, Nam tới tận Ấn Độ về phía Tây từ Đế Quốc La Ma vượt sa mạc Golbi đến Trung Hoa và sau này tận Triều Tiên hay Cao ly..Từng đoàn lạc đà đi xuôi ngược, mang đủ loại hàng hóa, bán buôn ở những trạm trung chuyển tại các khu chợ (bazaar), hay tại các quốc gia cần trao đổi. Tình trạng an ninh lỏng lẽo dễ bị cướp bóc, các quốc gia chỉ đủ sức bảo vệ con buôn khi họ buôn bán trong lãnh thổ của mình và không thể bảo vệ đoàn buôn ỡ vùng lãnh thổ khác, nên luôn luôn có cướp bóc, tàn sát ngay cả ở vùng sa mạc không người ở.
Bối cảnh này dẫn đến một thực trạng: Đây là lần đầu tiên, cũng là lần cuối cùng, cả “Con đường tơ lụa” dài 4.350 dặm (khoảng 7.000 km) hoàn toàn nằm trong tay một thế lực duy nhất : Đế Quốc Mông Cổ.
Luật lệ Mông cổ khắc khe bảo đảm an toàn cho những đoàn buôn, và làm cho nền kinh tế đế quốc phồn thịnh, đủ tài vật để mỡ rộng địa bàn thôn tính các quốc gia xa xăm như đã trình bài bên trên. Hành quân xa cũng cần tiền, lương thực,quân nhu và chiến cụ
Giao lưu văn hóa
Con đường tơ lụa là một con đường huyền thoại nối liền Trung Hoa rộng lớn với vùng Tây Á, gắn liền với hàng ngàn câu chuyện truyền thuyết xa xưa. Không đơn thuần chỉ là huyết mạch thông thương buôn bán của những "thương nhân lạc đà", Con đường tơ lụa còn là một hành trình văn hóa, tôn giáo đa dạng được hòa trộn.
Trường An (nay là Tây An) là nơi các thương gia Trung Hoa tập kết hàng hóa, tơ lụa để chuẩn bị cho những chuyến buôn bán lớn qua Con đường tơ lụa. Lạc đà là phương tiện vận chuyển chủ yếu trên con đường thương mại này.
Con đường tơ lụa được coi là một hệ thống những con đường thương mại lớn nhất thế giới thời cổ đại và được coi như cầu nối giữa hai nền văn minh Đông và Tây.
Sơ lược lịch sử Đế Quốc Mông Cổ
1206 Thành Cát Tư Hản; thống nhất các bộ lạc Mông Cổ Thành lâp Đế quôc Mông Cổ
1227 Thành Cát Tư Hản băng hà
1210-1350: Hòa Bình Kiểu Mông Cổ ( Pax Mongolica)
1267-1264: Đế Quốc Phân Chia
1368: Đế quốc Sụp Đổ ( Nhà Nguyên bị xóa sổ)
Giai đoạn Pax Mongolica (Hòa bình Mông Cổ) vào thế kỷ 13 và 14 là một trong những thời kỳ đặc biệt nhất trong lịch sử nhân loại, khi đế chế Mông Cổ thiết lập một hệ thống thương mại và an ninh xuyên lục địa Á-Âu Phát triễn lại Con Đường Tơ Lụa có từ Đời Hán Vũ đế 200 năm trước Công Nguyên
Dưới đây là chi tiết về cách vận hành và tầm quan trọng của hệ thống này:
1. Cách vận hành của Con đường Tơ lụa thời Pax Mongolica
Sự vận hành của Con đường Tơ lụa dưới thời Mông Cổ không dựa trên sự tự phát mà thông qua một hệ thống quản lý chặt chẽ:
Hệ thống Trạm ngựa (Yam): Đây là "xương sống" của đế chế. Người Mông Cổ thiết lập các trạm dừng chân cách nhau khoảng 25-30 dặm. Mỗi trạm luôn có sẵn thức ăn, ngựa tươi và chỗ nghỉ ngơi. Hệ thống này cho phép các sứ giả và thương nhân di chuyển với tốc độ cực nhanh (lên tới 200 dặm/ngày).
Thẻ bài thông hành (Paiza): Thương nhân và sứ giả quan trọng được cấp một tấm thẻ bằng vàng, bạc hoặc đồng (gọi là Paiza). Đây là "hộ chiếu" quyền lực nhất thời bấy giờ, cho phép người sở hữu nhận được sự bảo vệ, thực phẩm và ngựa tại bất kỳ đâu trên lãnh thổ Mông Cổ.
Hệ thống bảo hiểm sơ khai (Ortogh): Nhà nước Mông Cổ tài trợ hoặc bảo trợ cho các nhóm thương nhân (Ortogh). Nếu một đoàn buôn gặp rủi ro bất khả kháng, họ sẽ được hỗ trợ để tiếp tục kinh doanh, giúp giảm bớt gánh nặng tài chính cho các chuyến đi xa.
Lưu hành tiền giấy
Vì con đường tơ lụa được bảo đảm an ninh bởi một đế quốc Mông Cổ duy nhất không như bị chia phối bởi nhiều quốc gia như trước . Nhờ phát minh giấy và bản in, nên Tiền Giấy được lưu hành và là đơn vị trao đổi thương mại. họ đặt trạm đổi tiền tại trạm ngựa Yam.
Hệ quả: Việc buôn bán rất phồn thịnh trong thời Pax Momgolica
2. Mức độ quan trọng đối với triều đại và cổ máy chiến tranh Mông Cổ
Con đường Tơ lụa không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa mà còn là nguồn sống của đế chế:
Nguồn thu thuế khổng lồ: Mông Cổ không trực tiếp sản xuất nhiều hàng hóa, nhưng họ kiểm soát các điểm nút giao thương. Việc thu thuế từ các đoàn buôn mang lại nguồn tài chính khổng lồ để duy trì quân đội và bộ máy cai trị.
Là Nguồn thu thập Tình báo chính sác về tình trạng quân đội, chính trị, xã hội của Đối Phương để thiết lập yếu tố thắng trận sau này
Trao đổi công nghệ và văn hóa: Thuốc súng, giấy, in ấn từ Trung Hoa truyền sang phương Tây; ngược lại, kiến thức y học, thiên văn và toán học từ Ba Tư chảy vào Đông Á. Điều này giúp triều đại Mông Cổ trở thành trung tâm trí tuệ của thế giới.
Sự ổn định chính trị: Việc đảm bảo giao thương thông suốt giúp gắn kết các vùng đất xa xôi (từ Trung Hoa, Trung Á đến Đông Âu) thành một thực thể kinh tế thống nhất.
3. Ai là người bảo đảm an ninh giữa lòng sa mạc?
Việc bảo đảm an ninh cho hàng ngàn dặm đường băng qua sa mạc và thảo nguyên khắc nghiệt được thực hiện bởi:
Kỷ luật quân đội Mông Cổ: Các Đại Hãn (đặc biệt là Thành Cát Tư Hãn và sau này là Hốt Tất Liệt) đã áp đặt bộ luật Yassa. Hình phạt cho tội trộm cắp hoặc tấn công đoàn buôn trên con đường này thường là cái chết. An Ninh tuyệt đối trên tuyến lộ đến đổi người ta nói rằng trong thời Pax Mongolica, "một cô gái có thể đội một mâm vàng trên đầu đi từ đầu này sang đầu kia đế chế mà không sợ bị xâm hại".
Các đơn vị đồn trú địa phương: Tại các vùng sa mạc hiểm trở, người Mông Cổ đặt các trạm gác và đội tuần tra liên tục. Họ tiêu diệt triệt để các băng nhóm cướp đường vốn là nỗi khiếp sợ trong các thế kỷ trước.
Ai là ngươi điều hành, quản trị con đường Tơ lụa này:
Vai trò của phụ nữ chính trị gia sau bức màn: Đáng chú ý, những người phụ nữ quyền lực như Sorghaghtani Beki (mẹ của Hốt Tất Liệt và Húc Liệt Ngột) đóng vai trò then chốt trong việc bảo trợ các tôn giáo và các khu chợ (bazaar), tạo ra một môi trường khoan dung giúp thương nhân thuộc mọi sắc tộc và tôn giáo (Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Phật giáo) cảm thấy an toàn khi kinh doanh.
Bên cạnh Con đường Tơ lụa truyền thống qua lục địa, thời kỳ này cũng chứng kiến sự trỗi dậy của "Con đường Tơ lụa trên biển" khi Hốt Tất Liệt đẩy mạnh giao thương đường thủy từ các cảng miền Nam Trung Hoa đến Đông Nam Á và Ấn Độ.
Cách thức vận hành bộ máy an ninh và kinh tế của đế chế Mông Cổ, có hai nhân vật (Sorghaghtani Beki và Hốt Tất Liệt (Kublai Khan) phối hợp với một hệ thống luật pháp cực kỳ đặc biệt đã biến những vùng sa mạc khô cằn thành "cao tốc" an toàn nhất lịch sử:
1. Bộ luật Yassa: "Bàn tay sắt" bảo vệ thương nhân
Thành Cát Tư Hãn đã ban hành bộ luật Yassa. Đây không chỉ là luật quân đội mà còn là luật dân sự nghiêm khắc.
An ninh tuyệt đối: Bất kỳ bộ tộc nào để xảy ra vụ cướp trong lãnh thổ mình quản lý mà không bắt được thủ phạm, bộ tộc đó phải bồi thường gấp nhiều lần giá trị hàng hóa bị mất.
Sự trừng phạt: Việc tấn công đoàn buôn được coi là hành động chiến tranh chống lại Đại Hản. Chính nỗi sợ hãi này đã khiến các băng cướp sa mạc biến mất hoàn toàn trong gần một thế kỷ.
2. Tầm ảnh hưởng của Sorghaghtani Beki (Toa La Cốt Mục Ni)
Trong lòng sa mạc, an ninh không chỉ đến từ gươm giáo mà còn từ sự hòa hợp. Bà Sorghaghtani Beki (mẹ của Hốt Tất Liệt) là người có tầm nhìn rất hiện đại:
Bà hiểu rằng để Con đường Tơ lụa phát triển, cần sự tham gia của các thương nhân Hồi giáo (những người nắm giữ kỹ thuật tính toán và mạng lưới buôn bán Trung Á).
Bà đã bảo trợ cho các nhà thờ, trường học và tạo ra chính sách tự do tôn giáo. Khi thương nhân cảm thấy niềm tin của họ được tôn trọng, họ sẵn sàng đổ vốn và hàng hóa vào các trạm dừng chân giữa sa mạc.
3. Hệ thống "Hộ chiếu" Paiza
Đây là một chi tiết kỹ thuật rất thú vị trong cách vận hành Pax Mongolica:
Thương nhân quan trọng được cấp một tấm thẻ bằng kim loại có khắc chữ của Đại Hản.
Khi đi qua những vùng sa mạc hẻo lánh, tấm thẻ này quyền lực hơn bất kỳ đội quân nào. Nó buộc các thống đốc địa phương phải cung cấp lương thực, nước uống và lính hộ tống cho người cầm thẻ.
Nó tạo ra một mạng lưới liên lạc thông suốt từ biển Thái Bình Dương đến tận Biển Đen.
Hốt Tất Liệt
4. Vai trò của Hốt Tất Liệt (Kublai Khan)
Nếu Thành Cát Tư Hãn là người đặt nền móng bằng chinh phạt, thì cháu nội ông - Hốt Tất Liệt - là người "thương mại hóa" con đường này:
Ông cho trồng cây dọc theo các tuyến đường ở những vùng có thể canh tác để tạo bóng mát và đánh dấu đường đi cho thương nhân vào mùa bão cát.
Ông thiết lập hệ thống tiền giấy (Chao), giúp các thương nhân không phải mang vác quá nhiều vàng bạc nặng nề và dễ bị cướp trên đường dài.
Sự kết hợp giữa kỷ luật sắt của quân đội và chính sách cởi mở về tôn giáo, tiền tệ đã khiến Pax Mongolica trở thành thời kỳ hoàng kim của giao lưu văn hóa Á - Âu.
Tiếp nối câu chuyện về sự vận hành của Con đường Tơ lụa thời Pax Mongolica, dưới đây là những chi tiết sâu hơn về các mặt hàng chiến lược, những trận đánh bảo vệ cửa ngõ và vai trò đặc biệt của phụ nữ trong việc duy trì huyết mạch này:
1. Những mặt hàng "thay đổi thế giới" trao đổi trên con đường này
Không chỉ có tơ lụa và gia vị, Pax Mongolica là cầu nối cho những thứ quan trọng hơn nhiều:
Công nghệ in ấn và Giấy: Kỹ thuật làm giấy và in ấn từ Trung Hoa truyền sang Ba Tư và châu Âu, đặt nền móng cho cuộc cách mạng tri thức sau này.
Thuốc súng: Người Mông Cổ đã mang công nghệ này sang phía Tây, làm thay đổi hoàn toàn cách thức chiến tranh của thế giới.
Y học và Thiên văn: Những bác sĩ Ba Tư đã mang kiến thức về dược liệu và phẫu thuật đến cung đình Mông Cổ tại Trung Hoa, trong khi các nhà thiên văn Trung Hoa lại sang giúp xây dựng đài quan sát tại Maragheh (Iran).
Vàng và Bạc: Một dòng chảy kim loại quý khổng lồ lưu thông để phục vụ hệ thống tiền tệ và trang sức cao cấp cho tầng lớp quý tộc Mông Cổ.
2. Các trận đánh bảo vệ "Yết hầu" của Con đường Tơ lụa
Để giữ an ninh, quân đội Mông Cổ phải kiểm soát được các cửa ngõ chiến lược (Choke points):
Hành lang Hà Tây (Hexi Corridor): Đây là đoạn đường hẹp kẹp giữa cao nguyên Tây Tạng và sa mạc Gobi. Thành Cát Tư Hãn đã phải tiêu diệt hoàn toàn vương quốc Tây Hạ để làm chủ đoạn đường độc đạo này, vì nếu không chiếm được nó, Con đường Tơ lụa sẽ bị cắt đứt ngay từ cửa ngõ Trung Hoa.
Trận đánh tại Trung Á (Khwarazmian): Khi các đoàn buôn của Mông Cổ bị sát hại tại Otrar, Thành Cát Tư Hãn đã tung quân hủy diệt đế quốc Khwarazm. Mục đích thực sự không chỉ là trả thù mà là để kiểm soát các thành phố thương mại trung chuyển sầm uất như Samarkand và Bukhara — những "trạm xăng" quan trọng giữa sa mạc.
Vùng Caucasus và Biển Đen: Các hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn tại hãn quốc Kim Chướng (Golden Horde) đã chiến đấu để kiểm soát các cảng biển ở Crimea (Ukraina bây giờ), nơi hàng hóa từ đường bộ chuyển sang tàu của các thương nhân Venice và Genoa để đi vào châu Âu.
3. Vai trò của những người phụ nữ "Thép"
Như đã nhắc tới bà Sorghaghtani Beki, phụ nữ Mông Cổ có vai trò cực kỳ lớn trong việc bảo đảm an ninh:
Quản lý hậu phương: Khi các ông chồng đi chinh chiến, các bà vợ (Khatun tạm gọi là Kha Hậu) là người quản lý các "Ordu" (các trại di động khổng lồ). Họ điều hành kinh tế, thu thuế và đảm bảo các đoàn buôn đi qua lãnh thổ của mình được tiếp đón tử tế.
Khutulun (Công chúa đô vật): Cháu gái của Thành Cát Tư Hãn, bà không chỉ là một chiến binh huyền thoại mà còn giúp cha mình Hải đô (Kaidu) kiểm soát vùng Trung Á, đảm bảo rằng các tuyến đường đi qua thảo nguyên không bị các thế lực nổi loạn làm gián đoạn.
4. Kết thúc của một kỷ nguyên: con dường tơ lụa suy tàn
Pax Mongolica bắt đầu suy yếu khi:
Cái chết đen (Dịch hạch): Chính sự thông suốt của Con đường Tơ lụa đã vô tình khiến mầm bệnh lây lan nhanh chóng từ Á sang Âu vào thế kỷ 14, làm sụp đổ dân số và hệ thống giao thương.
Sự chia rẽ nội bộ: Các hãn quốc Mông Cổ bắt đầu đánh lẫn nhau, khiến tấm thẻ bài Paiza không còn giá trị xuyên quốc gia như trước.
Hệ thống này dù chỉ kéo dài khoảng hơn 100 năm nhưng đã làm thay đổi bản đồ văn minh nhân loại, biến thế giới từ các quốc gia biệt lập thành một mạng lưới kết nối chặt chẽ lần đầu tiên trong lịch sử một hình thức Toàn cầu hóa
Trao đổi Giao Thương
Về hai khía cạnh này, người Mông Cổ đã đi trước thời đại rất xa, biến những ý tưởng sơ khai thành một hệ thống quản lý mang tầm quốc tế:
1. Cách mạng Tiền giấy (Chao) – "Tờ giấy thay đổi thương mại"
Trước thời Mông Cổ, thương nhân phải thồ hàng tấn đồng, bạc hoặc vàng trên lưng lạc đà. Điều này không chỉ nặng nề, làm chậm tốc độ di chuyển mà còn là mục tiêu béo bở cho quân cướp đường.
Sự ra đời: Dưới thời Hốt Tất Liệt, tiền giấy (gọi là Chao) được phát hành rộng rãi và có giá trị bắt buộc trên toàn lãnh thổ nhà Nguyên.
Giá trị bảo chứng: Để người dân và thương nhân tin tưởng, triều đình tuyên bố tiền giấy có thể đổi lại thành bạc hoặc vàng tại các kho bạc nhà nước.
Tính nghiêm khắc: Trên mỗi tờ tiền đều in dòng chữ cảnh báo: "Kẻ nào làm giả sẽ bị chém đầu". Sự kỷ luật sắt đá của người Mông Cổ khiến việc làm giả tiền gần như không tồn tại, tạo niềm tin tuyệt đối cho các thương nhân quốc tế như Marco Polo.
Lợi ích cho thương mại: Thương nhân chỉ cần mang theo một túi nhỏ đựng tiền giấy là có thể mua được cả một đoàn xe hàng hóa. Điều này giúp dòng vốn lưu thông cực nhanh trên Con đường Tơ lụa.
2. Hệ thống bảo vệ đoàn buôn – "An ninh đa lớp"
Người Mông Cổ không chỉ dùng lính gác để bảo vệ, họ dùng một hệ thống quản trị thông minh:
Trách nhiệm liên đới (Collective Responsibility): Đây là điểm độc đáo nhất. Nếu một đoàn buôn bị cướp tại một địa phương, chính quyền và người dân ở vùng đó phải có trách nhiệm truy tìm thủ phạm. Nếu không tìm được, họ phải đền bù toàn bộ thiệt hại cho thương nhân. Điều này khiến mỗi người dân bản địa trở thành một "vệ sĩ" tự nguyện cho khách du lịch và thương gia.
Hệ thống Trạm Yam (Trạm Thiên lý): Cứ khoảng 40-50km lại có một trạm dừng chân. Các trạm này không chỉ là nơi đổi ngựa mà còn là các đồn cảnh sát thu nhỏ. Lính tuần tra từ các trạm này di chuyển liên tục trên đường để đảm bảo không có kẻ lạ mặt nào lảng vảng quanh các trục lộ chính.
Hộ tống vũ trang: Với những đoàn buôn mang hàng hóa đặc biệt quý giá (như đá quý, vàng, hoặc cống phẩm cho Đại Hãn), triều đình sẽ cử các đơn vị quân đội chính quy đi kèm hộ tống qua những vùng biên giới bất ổn.
Quyền ưu tiên tại giếng nước: Giữa sa mạc, nước là sự sống. Luật pháp Mông Cổ quy định các đoàn buôn có thẻ Paiza được ưu tiên sử dụng giếng nước và bãi cỏ cho lạc đà trước bất kỳ ai khác, giúp họ bảo toàn sinh lực cho cả người và vật nuôi để vượt qua những chặng đường khắc nghiệt nhất.
3. Sự kết hợp hoàn hảo
Hãy tưởng tượng ông Marco Polo là một thương nhân thế kỷ 13: Ông cầm tiền giấy nhẹ nhàng trong túi, đeo tấm thẻ Paiza trước ngực, di chuyển qua sa mạc mà không cần mang theo vũ khí vì biết rằng nếu có ai chạm vào một sợi tóc của ông, cả vùng đó sẽ bị quân đội Đại Hãn trừng phạt. Đó chính là đỉnh cao của Pax Mongolica.
Chính nhờ sự an toàn tuyệt đối này mà các tôn giáo, tư tưởng và hàng hóa mới có thể giao thoa mạnh mẽ như vậy.
Các đoàn Caravan di chuyển trên một quảng đường dài gần 4000 dậm sẽ có những bảo đảm để cuộc buôn bán đường dài được an toàn và thông suốt:
Câu hỏi khác: các thương nhân thời đó đã nghỉ ngơi và ăn uống như thế nào tại các trạm dừng chân (Caravanserai) giữa sa mạc không?
Cuộc sống của các thương nhân tại các điểm dừng chân giữa sa mạc là một khía cạnh đầy thú vị, cho thấy sự tinh tế trong việc tổ chức hậu cần của đế chế Mông Cổ.
Dưới đây là cách họ nghỉ ngơi, ăn uống và vận hành các "trạm dịch" (Caravanserai) – những ốc đảo văn minh giữa lòng cát bỏng:
1. Kiến trúc của các "Caravanserai" (Khách sạn sa mạc)
Các trạm dừng chân này thường được xây dựng như một pháo đài nhỏ để đảm bảo an toàn tuyệt đối:
Cấu trúc: Hình vuông hoặc chữ nhật với tường cao bao quanh, chỉ có một cổng duy nhất được khóa chặt vào ban đêm.
Bên trong: Có sân rộng ở giữa cho lạc đà và ngựa đậu. Xung quanh sân là các dãy phòng nghỉ cho thương nhân và các kho hàng hóa kiên cố để tránh hỏa hoạn hoặc trộm cắp.
Tiện nghi: Tại đây có khu vực tắm rửa (Hamman), nơi cầu nguyện và cả các xưởng rèn để sửa chữa móng ngựa hoặc xe kéo bị hỏng sau chặng đường dài.
2. Chế độ ăn uống và tiếp tế
Giữa sa mạc, việc ăn uống không chỉ là để no mà còn để duy trì sinh lực:
Thực phẩm khô: Thương nhân thường mang theo thịt khô (thường là thịt bò hoặc thịt ngựa được giã nhỏ - tiền thân của món "ruốc" hay "chà bông" ngày nay) để dễ bảo quản.
Tại trạm dừng: Họ được phục vụ các món nóng như súp cừu, bánh mì nướng (Naan) và các loại hạt. Trà là thức uống quý giá nhất giúp giải nhiệt và tiêu hóa thức ăn nhiều dầu mỡ.
Sữa ngựa lên men (Kumis): Đây là thức uống đặc trưng của người Mông Cổ, giúp cung cấp vitamin và năng lượng cho những người phải ngồi trên lưng ngựa cả ngày dài.
3. "Truyền Thông" của thế kỷ 13
Các trạm dừng chân này chính là nơi thông tin thế giới được cập nhật:
Trao đổi tin tức: Thương nhân từ phương Tây gặp thương nhân phương Đông. Họ ngồi bên đống lửa vào buổi tối để kể cho nhau nghe về tình hình chính trị ở châu Âu, giá vàng ở Ấn Độ, hay những phát minh mới ở Trung Hoa.
Đa dạng ngôn ngữ: Tại đây, người ta có thể nghe thấy tiếng Ba Tư, tiếng Hán, tiếng Mông Cổ và tiếng Ý hòa lẫn vào nhau. Sự khoan dung của Pax Mongolica cho phép một linh mục Công giáo ngồi ăn cùng bàn với một giáo sĩ Hồi giáo mà không có sự xung đột.
4. Hệ thống Trạm ngựa "Yam" – Internet của thời đại đó
Như đã đề cập, hệ thống này cực kỳ quan trọng đối với triều đại Mông Cổ:
Tốc độ: Nhờ các trạm nghỉ cách quãng đều đặn, thông tin từ biên giới có thể truyền về kinh đô nhanh hơn bất kỳ phương tiện nào trước khi có điện báo.
Sự ưu tiên: Khi nghe tiếng chuông của sứ giả đang phi ngựa đến gần trạm, mọi người phải dẹp đường. Người coi trạm phải chuẩn bị sẵn một con ngựa khỏe nhất đã đóng yên cương để sứ giả chỉ cần nhảy từ ngựa cũ sang ngựa mới và tiếp tục lao đi.
Các trạm nối kết trên con đường Tơ Lụa
5. Ý nghĩa đối với sự hưng thịnh của Mông Cổ
Nếu quân đội là "thanh kiếm" thì hệ thống trạm dịch và các con đường này chính là "mạch máu" nuôi dưỡng đế chế. Việc bảo đảm cho thương nhân được ăn ngon, ngủ yên và di chuyển nhanh đã khiến dòng tiền và trí tuệ luôn đổ về phía các Đại Hãn.
Chính nhờ những trải nghiệm thực tế tại các trạm dừng này mà những nhà du hành như Marco Polo mới có thể sống sót và viết lại những hồi ký làm kinh ngạc cả thế giới về sự giàu có và tổ chức chặt chẽ của phương Đông dưới thời Mông Cổ.
Đến đây, chúng ta đã đi qua từ luật pháp, tiền tệ cho đến đời sống thường nhật trên Con đường Tơ lụa.Chúng ta thử tìm hiểu thêm về một vùng đất cụ thể nào mà con đường này đi qua, ví dụ như vùng Trung Á huyền bí hay kinh đô Khanbaliq (Bắc Kinh ngày nay) sầm uất không?
Trạm Trung chuyển:Chợ Trời vĩ đại: Samarkand và Đai Đô- Bắc Kinh (Khanbaliq)
Chúng ta hãy tiến sâu vào hai điểm đến rực rỡ nhất trên Con đường Tơ lụa thời bấy giờ: Samarkand (vùng Trung Á huyền bí) ,kinh đô Đại Đô - Bắc Kinh ngày nay. Đây chính là hai "trái tim" cung cấp năng lượng cho toàn bộ hệ thống Pax Mongolica. Ngoài ra còn có trung tâm điều phối khổng lồ khác Bukhara, Tabrize kết nối các thương nhân từ Venice, Genoe, Ba Tư, Ấn độ và Trung Hoa gặp gở nhau
1. Samarkand: "Viên ngọc của phương Đông"
Nằm tại Uzbekistan ngày nay, Samarkand là điểm giao thoa bắt buộc giữa Đông và Tây. Dưới thời Mông Cổ, thành phố này có vai trò cực kỳ đặc biệt:
Chợ trời khổng lồ: Đây là nơi các đoàn buôn từ Trung Hoa mang tơ lụa, trà và đồ sứ đến để đổi lấy ngựa chiến, đá quý và vũ khí của vùng Trung Đông.
Vườn địa đàng giữa sa mạc: Nhờ hệ thống kênh mương và thủy lợi tinh vi do các kỹ sư Ba Tư thiết kế (vốn được người Mông Cổ bảo vệ nghiêm ngặt), Samarkand nổi tiếng với những vườn trái cây trĩu quả, đặc biệt là dưa gang và nho, thứ mà các Đại Hãn cực kỳ ưa thích.
Trung tâm trí tuệ: Đây không chỉ là nơi bán hàng mà còn là nơi các nhà khoa học, bác sĩ và thợ thủ công tụ họp. Những kỹ thuật dệt thảm và làm gốm xanh lam nổi tiếng của vùng này đã theo chân các thương nhân lan tỏa ra khắp thế giới.
2. Khanbaliq (Đại Đô): Trung tâm quyền lực tuyệt đối
Nếu Samarkand là trạm trung chuyển, thì Khanbaliq (Bắc Kinh) chính là điểm đến cuối cùng, nơi giàu sang nhất thế giới thời đó dưới sự cai trị của Hốt Tất Liệt.
Sự quy hoạch hoàn hảo: Thành phố được xây dựng theo hình vuông bàn cờ với các đại lộ rộng lớn 6 lằn xe. Marco Polo đã mô tả rằng các đường phố ở đây rộng đến mức các đoàn xe buôn có thể đi lại dễ dàng mà không bao giờ bị tắc nghẽn. Chợ Tây là nơi buôn bán sầm uất nhất Đai đô nơi quy tụ các thương nhân và sản phẩm quốc tế.
Cửa ngõ của biển và đất liền: Khanbaliq kết nối trực tiếp với kênh đào khổng lồ để đưa hàng hóa từ miền Nam Trung Hoa lên, đồng thời là điểm kết thúc của các tuyến đường bộ từ châu Âu sang.
Kho tàng thế giới: Tại các khu chợ của Khanbaliq, người ta có thể tìm thấy mọi thứ: từ ngà voi Ấn Độ, hạt tiêu của Java cho đến lông thú từ vùng Siberia lạnh giá.
3. Những "Công xưởng" di động giữa sa mạc
Một chi tiết rất thú vị mà ít người để ý: Người Mông Cổ thường di chuyển các nghệ nhân giỏi từ vùng này sang vùng khác để "chuyển giao công nghệ".
Họ mang thợ dệt vải kim tuyến từ Trung Á sang Trung Hoa.
Họ mang thợ rèn vũ khí từ Nga về phục vụ tại kinh đô. Chính sự di chuyển nhân lực quy mô lớn này đã tạo ra một nền văn hóa "lai" rực rỡ, nơi các sản phẩm nghệ thuật mang phong cách của nhiều quốc gia hòa quyện làm một.
4. Hệ thống giám sát "Chìm"
Để duy trì sự thịnh vượng này, bên cạnh quân đội công khai, các Đại Hãn còn có một mạng lưới tình báo thương nhân:
Nhiều thương nhân thực chất là những người thu thập tin tức cho triều đình.
Khi đi qua các vùng đất khác nhau, họ báo cáo về tình hình mùa màng, lòng dân và sự trung thành của các quan lại địa phương.
Đổi lại, họ được triều đình ưu tiên về thuế và bảo vệ đặc biệt. Đây là mối quan hệ "cùng có lợi" giúp đế chế kiểm soát được những vùng đất xa xôi mà không cần tốn quá nhiều quân đội đồn trú.
Có một You tube bàn Về Con Đường Tơ Lụa và sự đóng góp của nó trong nền Văn Minh Nhân Loại
Mời xem youtube sẽ giãi thích những thắc mắc của anh chị về CON ĐƯƠNG TƠ LỤA
CON ĐƯỜNG TƠ LỤA: 7.000km Máu Và Vàng Kiến Tạo Thế Giới
Mùa Thu có hàng triệu lá vàng, lá đỏ, Nhưng em chỉ thương một chiếc lá của anh, Anh đã trao em lần tình cờ gặp gỡ, Em sẽ giữ hoài làm kỷ niệm trăm năm.
Tôi thức dậy, trời đã sáng từ lâu. Ðêm, trước khi ngủ, tôi thích cuốn blind lên khung cửa, vì phòng ngủ trên lầu, để khi thức dậy tôi có thể nhìn ra thấy núi và mây xa xa.
Tôi vẫn còn cảm giác mệt, đầu hơi choáng váng dù cả ngày hôm qua đã uống mấy lần thuốc cảm. Thời tiết xứ núi lạ lùng, mỗi lần chuyển mùa hay đổi gió tôi hay bị cảm. Mẹ tôi bảo con gái 17 tuổi bẻ gãy sừng trâu, mà tôi thì yếu đuối nhỏ nhoi.
Ngày xưa, hồi còn ở Việt Nam nhà có nuôi một con mèo cái, nó đã sinh ra ba con mèo con. Một buổi sáng thức dậy mẹ thấy ba con mèo nhỏ non nớt, nằm trong đống tro bếp, ba khuôn mặt xinh xinh và sáu con mắt long lanh như sáu viên bi. Tôi giống như một trong ba con mèo ấy.
Mùa Thu đã về, gió hiu hiu lạnh, bầu trời nhiều khi xanh vời vợi không một bóng mây, lá đã bắt đầu chuyển màu và lác đác rơi. Tôi thích một mảnh rừng nhỏ nơi đầu đường nhà tôi trước khi đi ra đường lớn để lên highway, ở đấy có một cái ao nhỏ, mùa hè nước trong xanh mát rượi, mùa Thu mặt ao phủ kín bằng những cánh bèo nhỏ lấm tấm tròn trịa, đến nỗi nếu ai đó vô tình hay không biết, tưởng đó là đất liền, có thể bước xuống ao, cái ao âm u dưới bóng cây ấy. Bên cạnh ao bèo mùa Thu là một cây lê già, không biết ai trồng từ bao giờ? Trái chín vàng, to bằng nắm tay, rơi rụng đầy trên thảm cỏ xanh.
Những buổi sáng cuối tuần nếu dậy sớm tôi hay chạy bộ qua đây để nhìn những hình ảnh nên thơ này.
Tôi chợt ngồi nhổm dậy, không nghĩ ngợi lan man nữa khi nhớ ra hôm nay là? Thứ bảy của anh ấy, một ám hiệu tôi tự đặt cho một người đàn ông mà tôi không quen, không biết tên. Cứ mỗi hai tuần là có một ngày thứ bảy anh đến chợ để mua sắm. Bây giờ là 10 giờ sáng, mẹ tôi đã đến chợ từ trước 9 giờ để mở cửa và sắp xếp những công việc, cũng như để các bà, các cô bỏ mối bánh trái, xôi, chè, những thức ăn nhanh, và bày bán trong chợ của mẹ.
Mỗi cuối tuần tôi ra chợ phụ với mẹ, vì cuối tuần bao giờ khách cũng đông hơn ngày thường. Giá như không vì anh ấy thì hôm nay tôi đã ở nhà và gọi chị Duyên đến phụ, chị tôi đã lập gia đình và ở cùng thành phố. Người đang mệt mà được nằm nhà trùm mền nhìn mùa Thu ngoài khung cửa thì ai chẳng thích?
Tôi đi thay quần áo và ngắm mình trong gương, không biết anh có để ý đến tôi như tôi đã để ý đến anh? Chỉ biết rằng lần đầu tiên nhìn thấy anh vào chợ, cái dáng cao gầy và khuôn mặt hiền lành sau cặp kính cận, tôi đã mến anh, và bỗng dưng tôi cứ mong chờ anh vào mỗi cuối tuần.
Nhưng đều đặn mỗi hai tuần anh mới đến và mua những món đồ bao giờ cũng giống nhau, hầu như không thay đổi như mấy bó rau, miếng thịt, hộp đậu hũ?.Nhìn số lượng và các món đơn giản anh đã mua, tôi đoán anh là người độc thân.
Từ ngày gặp anh, tôi yêu thích công việc ra chợ đứng trong quầy tính tiền phụ mẹ. Cha tôi mất năm tôi lên 10 tuổi, để kiếm sống mẹ tôi đã sang ngôi chợ này và đảm đang nuôi hai chị em tôi. Chị Duyên vẫn hay đùa ngôi chợ sẽ là của hồi môn cho tôi mai sau khi lấy chồng, tha hồ ấm thân, và chị khuyên tôi đừng có lười biếng mà không ra chợ phụ mẹ mỗi khi rảnh rỗi.
Ngẫu nhiên một lần tôi đã biết thêm chút ít về anh, khi anh đang đứng xếp hàng chờ đến lượt tính tiền thì một phụ nữ đã nhận ra anh. Họ vui vẻ chuyện trò, tôi vừa tính tiền cho những người khác vừa lắng tai nghe, dù biết nghe chuyện của người khác chẳng hay ho gì, nhưng tôi tò mò muốn biết về anh. Thì ra chị này từng làm chung một department với anh trước kia ở Hill Base, thuộc thành phố Ogden, họ đều là kỹ sư gì đó.
Tôi bước ra hành lang trước hiên nhà và đi xuống những bậc thang gỗ, cả dãy phố này nhà nào cũng có basement và có lầu. Những loài hoa mùa Thu nở đầy sân, bên cạnh cầu thang tôi vừa đi xuống. Hoa đủ loại, đủ màu, vàng, xanh, tím, đỏ? mọc chen bên những tảng đá, được sắp xếp hờ hững một cách nghệ thuật. Tôi lãng mạn và phung phí thì giờ như thế đấy, không thích lấy xe từ trong garage đi thẳng ra ngoài sân, mà ngược lại đi từ ngoài sân mở cửa garage, vì tôi muốn được hít thở không khí mùa Thu êm dịu trong lành, muốn được nhìn những cánh hoa mỏng manh kia khoe sắc trước khi bị mùa Ðông dập vùi trong gió lạnh và tuyết rơi.
Lái xe ra tới đầu đường, trước khi quẹo về hướng West để lên highway tôi lại được nhìn khu rừng nhỏ với ao bèo phẳng lặng như còn đang say ngủ, có một chú sóc đang chạy trên bãi cỏ, chắc chú vừa ăn một bữa trái chín no nê trên cành cây lê kia rồi?
Ngôi chợ Việt Nam của mẹ tôi nằm ở thành phố West Valley, chỉ nhìn xe đậu bên ngoài, tôi biết chợ đã đông người. Chợ khá rộng rãi, hàng hóa tươi ngon, giá cả lại phải chăng hơn các chợ khác nên càng ngày càng có uy tín và thêm khách. Mẹ tôi nói buôn bán là kiếm lời, nhưng trên hết buôn bán phải thật thà, tôn trọng khách hàng, thì công việc mới bền lâu.
Vừa thấy tôi, mẹ đã ái ngại:
- Con đang cảm mà ra đây làm gì! mẹ vừa gọi chị Duyên ra phụ rồi.
- Thôi, đừng làm phiền chị ấy, có ngày cuối tuần ở nhà với chồng con. Chỉ khi nào thật cần thôi mẹ ạ, bây giờ con đã khỏe rồi.
Tôi gọi phone nói chị Duyên khỏi cần đến chợ nữa, xong tôi vào chỗ tính tiền để mẹ lăng xăng chạy vòng ngoài, kiểm tra quầy thịt cá, quầy rau, hay trò chuyện với những khách hàng quen biết.
Còn tôi, lòng đang phơi phới chờ đợi anh, mỗi khi cánh cửa mở ra có người khách bước vào tôi lại quay ra nhìn và mong là anh với cái dáng cao cao gầy và ánh mắt hiền hòa sau kính cận.
Tôi đã chóng mặt vì nhìn ra cửa nhiều lần. Buổi sáng qua đi, buổi trưa rồi đến buổi chiều, lòng tôi đã mỏi mòn thất vọng. Tôi hoang mang và băn khoăn, anh không đến chợ vì bận rộn hay ốm đau?. Cách đây ba hôm trời bỗng dưng đổ tuyết suốt cả ngày, mùa Ðông nhanh nhẩu vô duyên phủ tuyết trắng trên cỏ, thổi gió lạnh qua phố phường. Nhưng hôm sau gió đã thôi không lạnh nữa, tuyết đã tan đi, để trả lại cho mùa Thu không gian của nó. Thế đấy, nên tôi mới bị cảm, và biết đâu anh cũng bị cảm và đang nằm ở nhà quên cả đi chợ như thường lệ?
Nhìn gương mặt thẫn thờ của tôi, mẹ tôi ngạc nhiên:
- Con làm sao thế? nếu thấy mệt thì về nghỉ sớm đi.
Tôi gượng cười:
- Vâng, con sẽ về bây giờ đây.
Chiều nay tôi phải về sớm vì cần đến nhà một đứa bạn. Ðúng lúc tôi sắp sửa ra về thì anh đến, bóng dáng quen thuộc của anh lướt qua cửa đã làm tôi đứng khựng lại, không bước ra về ngay được, trái tim tôi rộn rã lên, tôi tiếp tục tính tiền và đợi chờ anh. Anh mua nhanh, hình như cũng đang vội? chỉ một lát sau đã ra chỗ tôi, nghiêm trang và lịch sự trả tiền, bước ra khỏi chợ.
Chỉ nhìn thấy anh chốc lát tôi như đã được hồi sinh, lòng nhẹ nhõm tôi cũng ra về cho kịp giờ hẹn với bạn.
Khi tôi ra tới chỗ đậu xe, vô tình mà xe tôi và xe anh nằm cạnh nhau, anh đã xếp xong những món hàng vào trunk xe. Tôi nhìn thấy vài chiếc lá vàng tươi đang vướng mắc nơi hai cái gạt nước trên mặt kính xe anh. Tôi buộc miệng nói đùa:
- Anh đi chợ mà mang theo cả mùa Thu nữa kìa.
Anh hơi ngạc nhiên khi thấy tôi lên tiếng trước, nhưng anh mau chóng vui vẻ đùa lại:
- Mùa Thu đi theo tôi, chứ tôi không mang theo mùa Thu đâu. Cái xe này đậu ở khu apartment của tôi, dưới những hàng cây, nên lá mùa Thu tha hồ rơi lên xe, có hôm tôi quên không quay đóng cửa kính xe, lá vàng bay cả vào trong ghế ngồi cùng với tôi nữa đấy.
- Những chiếc lá vàng màu thật đẹp anh ạ. Chắc mới vừa rơi rụng sáng nay?
- Có lẽ, vì thành phố Ogden của tôi nổi tiếng là có những con đường mùa Thu lá vàng tuyệt đẹp cho du khách thưởng ngoạn mà. Nào, cô bé xòe bàn tay ra.
Vẻ trang nghiêm thường lệ của anh đã biến mất, khi tôi ngỡ ngàng xòe bàn tay ra thì anh đã gỡ từ trên mặt kính xe một chiếc lá vàng nguyên vẹn nhất, tươi nhất, đặt vào bàn tay tôi. Tôi run người lên vì sự đụng chạm ấy. Anh giơ tay thay cho lời chào rồi lên xe ra về mà tôi vẫn còn ngẩn ngơ với chiếc lá kỳ diệu trong tay, kỳ diệu vì chiếc lá đến từ thành phố Ogden của anh, vì nằm trên mặt kính xe anh, vượt đường xa gió lộng đến đây, và vì từ tay anh trao cho tôi trong một tình cờ như an bài sẵn của định mệnh.
Về đến nhà tôi để chiếc lá vàng Thu ấy vào một trang sách, điều bí mật tuyệt vời này chỉ một mình tôi biết, nhìn chiếc lá vàng tôi như nhìn thấy anh. Anh đang sống bên cạnh tôi trong căn phòng, trong từng giấc ngủ.
Thì ra anh ở thành phố Ogden đúng như tôi đã dự đoán, vì anh làm ở Hill Base. Từ đấy xuống chợ tôi cũng mất 45 phút hay một tiếng, những người Việt Nam ở Ogden nói rằng ở đó chỉ có một ngôi chợ Việt Nam nhỏ, hàng hóa ít và đắt, nên họ vẫn thích cuối tuần đi chợ xa, xuống thành phố West Valley để mua sắm, và ai đó cũng có thân nhân hay bè bạn ở Salt Lake City nên một công đôi ba chuyện vừa đi chợ vừa đi thăm thân nhân. Chắc anh cũng có lý do tương tự, nên dù độc thân anh vẫn thường xuyên đi chợ xa như thế?
Tôi có đến căn cứ Hill Base một lần, cách đây 2 năm, theo một đứa bạn. Chị nó chở chúng tôi đến Salt Lake tắm hồ, coi như tắm biển vì hồ rộng và nước hồ mặn như nước biển. Dân xứ núi Utah vẫn tự hào Hồ Muối là biển. Hồ Salt Lake dài thăm thẳm, dường như đứng ở nơi đâu quanh những thành phố lân cận hồ, đều có thể nhìn thấy hồ là một dải dài xanh mờ chân mây, chân núi.
Tắm xong chúng tôi vào gặp bố mẹ nó trong Hill Base rộng mênh mông, ngoài cửa có lính gác, trong base đường xá xe cộ như ngoài phố, làm con bé 15 tuổi là tôi hoa mắt ngơ ngác, cứ tưởng công sở là một building cao ngất là đủ to lớn lắm rồi.
Không biết anh làm khu nào trong Hill? Trong cái thành phố quân sự riêng tư ấy? nếu tôi được vào đấy lần nữa chắc gì đã tìm thấy anh? Những đêm chưa ngủ tôi nằm mơ ước một tương lai, sau này sẽ học kỹ sư và xin vào làm ở Hill Base, chắc tôi sẽ có nhiều cơ hội và thời gian gặp anh, ước mơ ấy không có gì cao xa. Anh ơi hãy đợi!
Bây giờ mùa Thu đã chín, mùa Thu rực rỡ khắp Utah. Thành phố nào chả có những con đường lá vàng lá đỏ, nhưng những con đường của thành phố Ogden chắc đẹp hơn? huyền bí hơn? vì hàng cây cao hai bên đường giao nhau, đan kín nhau, rợp trời lá vàng, rợp đất lá vàng, thành một màu u uẩn, đẹp đến rưng rưng. Những người yêu nhau thích hẹn hò vào mùa Thu để cùng đi trên con đường đầy lá vàng. Nếu một ngày nào tôi đi trên con đường đó, thì người hẹn hò đi bên tôi sẽ chỉ là anh.
Từ hôm anh tình cờ trao cho tôi chiếc lá vàng, tôi không gặp anh nữa, anh biến mất thật lạ lùng suốt mấy tuần nay. Người ta vẫn từ thành phố Ogden về đây mua sắm nhưng không có anh. Anh đâu rồi? Tôi ra chợ làm việc mà như kẻ không hồn.
Tôi, con mèo nhỏ yếu đuối lại ốm nữa rồi, nhưng tôi không thích nằm ở tro bếp như những con mèo nhỏ tội nghiệp ấy. Tôi không thích nằm nhà quấn mình trong chăn gối ấm êm đợi chờ bình phục. Tôi vẫn ra chợ, mang tiếng là phụ giúp mẹ, nhưng trong lòng tôi chỉ mục đích duy nhất là chờ đợi anh, nếu quả thật anh bận rộn hay ốm đau rồi anh sẽ khỏi, và anh sẽ đến, như hôm nào đó anh đã đến trễ, trừ khi anh đã đổi đi nơi khác. Tim tôi đau nhói khi nghĩ sẽ không bao giờ gặp anh nữa, nhưng đồng thời tim tôi vẫn kêu lên:? Không, anh ấy vẫn sống ở Ogden, vẫn đi làm ở Hill Base, mình sẽ gặp anh ấy và sau này mình sẽ vào Hill làm cùng với anh ấỷ.
Hôm nay tôi sụt sùi mặc chiếc áo len màu tím, đứng trong quầy tính tiền. Mùa Thu phố núi có những ngày lạnh như sắp vào Ðông. Sáng nay cái ao bèo nơi khu rừng nhỏ đã phủ đầy lá vàng. Cả khu rừng rũ lá, gió mang lá tới mặt ao, hình ảnh buồn hiu hắt ấy theo tôi trên suốt highway đến ngôi chợ.
Cuối cùng anh đã đến sau hơn một tháng trời bặt tăm. Trời ơi, nét mặt anh vui tươi thế kia. Hay anh cũng đang mừng vì đã gặp lại tôi?. Hôm nay anh đẩy xe, chứ không xách cái giỏ gọn nhẹ như mọi khi, chắc anh cần mua nhiều thứ sau những tuần lễ không đến chợ?.
Người tôi nóng bừng lên, chắc chắn không phải vì cơn sốt trong người đang trở mình vì gió. Ôi, chốc nữa anh ra tính tiền, tôi sẽ có lý do để hỏi thăm anh, dù gì chúng tôi cũng đã quen nhau ở bãi đậu xe hôm ấy, và anh đã tặng tôi chiếc lá vàng mùa Thu của thành phố anh. Nhất định tôi sẽ không quên hỏi anh con đường nào đẹp nhất vào mùa Thu của thành phố Ogden, để trong giấc mơ kế tiếp tôi sẽ thấy anh và tôi cùng đi trên con đường đó.
Tôi luống cuống tính tiền, chỉ mong mọi người ra về cho nhanh, trả khoảng không gian và thời gian này cho tôi và anh.
Khi rảnh tay được đôi chút tôi mới dáo dác tìm anh, dễ dàng nhận ra dáng anh giữa bộn bề hàng hóa và kẻ qua người lại. Nhưng tôi không tin vào mắt mình nữa khi thấy bên cạnh anh là một phụ nữ trẻ đẹp, anh đẩy xe đi theo cô ấy, hoặc cùng đứng lại chọn hàng, cả hai nói cười vui vẻ, có vẻ như là đôi vợ chồng mới cưới.
Tôi tuyệt vọng não nề, chỉ muốn bỏ chạy ra ngoài, ngay lúc này nếu được nằm trong phòng riêng mà khóc chắc sẽ đỡ đau khổ hơn, nhưng tôi cố ngăn cho nước mắt mình đừng rơi ra vì vợ chồng anh đã đến bên tôi. Cô gái móc bóp trả tiền, đúng là tính cách của một người vợ, quán xuyến gia đình. Anh và cô tươi cười quấn quýt, đứng đối diện tôi, anh nhìn tôi thản nhiên, bình thường. Trong ánh mắt anh tôi biết là anh chẳng cần nhớ làm gì cái hôm đã trao tôi chiếc lá vàng tươi ấy, có lẽ anh chỉ coi tôi như một con bé chưa trưởng thành, hay chỉ là sự trao đổi chuyện trò xã giao giữa cô bé bán hàng và người mua, trong lúc tình cờ gặp gỡ. Vậy mà tôi đã coi đó là một kỷ niệm nên thơ đẹp đẽ, tôi đã giữ gìn chiếc lá như một ân tình, một kỷ vật.
Trận ốm này cả tuần lễ sau tôi mới khỏi, có lẽ vì tâm bệnh nên mới lâu như thế. Tôi không hi vọng chờ mong gì ở anh nữa, và cho tới bây giờ tôi cũng chưa biết tên anh.
Mùa Thu có hàng ngàn, hàng triệu chiếc lá vàng, nhưng chiếc lá vàng của anh cho tôi, là mối tình đầu mong manh của tôi, sẽ mãi mãi là chiếc lá mùa Thu đẹp nhất.