Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2026

Huyền - Nhạc & Lời: Thanh Trang - Hòa Âm Phối Khí : Đức Thịnh & Vĩnh Quốc - Tiếng Hát: Thu Vàng

Nhạc & Lời: Thanh Trang
Hòa Âm Phối Khí: Đức Thịnh & Vĩnh Quốc
Tiếng Hát: Thu Vàng


 
 
Thành Kính Tiễn Đưa Ca Sĩ Đèo Văn Sách

Kính tiễn Danh ca biệt thế trần
Đời người sinh tử tựa phù vân
Mới đây chốn chốn yêu tài nghệ
Giờ đã nơi nơi khóc mãn phần
Con cháu lòng đau, đau phụ tử
Bạn bè dạ xót, xót hiền nhân
Vô thường khó tránh mong dừng thảm
Cực Lạc người về hưởng phước ân.

Phương Hoa
 JUN 25, 2026
***
Kính chia buồn đến tang gia . Xin góp lời nguyện cầu đến hương hồn ca sĩ Đèo Văn Sách sớm về miền Tịnh Độ 

Tiễn Đưa  Ca Sĩ Đèo Văn Sách


Người đi bỏ lại cõi hồng trần
Cánh Nhạn xa lìa ẩn bóng vân
Thủa ấy cung đàn vui số phận
Mùa đây tiếng hát bặt yên phần
Chiều buông quạnh quẽ đưa từ phụ
Gió buộc im lìm tiễn quý nhân
Tử biệt phân ly đời nhạc sĩ
Âu sầu bạn hữu nặng tình ân
 
Minh Thúy TN
Tháng 6/26/2026

Ân Tình Thiên Thu



Hai mùa mưa nắng quê mình
Đi thương về nhớ ân tình mênh mông
Đường trần ai biết tâm đồng
Cội nguồn sữa mẹ tiên rồng còn nguyên

Đào hoa mai mối thiên duyên
Hờn mưa giận nắng sầu riêng sao chờ
Đơm hoa mộng kết trái mơ
Chung dòng giao cảm động thơ ngây hoài

Hương nguyền bốc lửa liêu trai
Trăng non gội tóc gió bay áo nhìn
Mưa thương nắng nhớ chân kinh
Vòng hoa chúc tết cùng mình thăng hoa

Nõn nà ngà ngọc tình ca
Đồng tâm giao cảm ao nhà hóa thơ
Vô cùng vô tận vô bờ
Nghìn xưa thề hứa bây giờ thiên thu...


MD.10/28/16
LuânTâm
 

Người Có Hai Quê Hương



1/-

Mỗi cuối năm tôi thường đi Việt Nam để hưởng không khí Tết âm lịch cùng với đại gia đình: các anh chị em, cháu và thân quyến, bạn hữu.
Để tả về chuyến đi Việt Nam thì có nhiều từ ngữ để sử dụng.
*a) Nếu là người ngoại quốc thì họ sẽ nói:
–Chúng tôi Đi Việt Nam vào thời gian nầy, và sẽ Trở-về nhà (hay Quay-về) vào thời gian này...
*b) Phần tôi, có ai hỏi thì tôi trả lời một cách vô thức:
– Tôi “Về VN” vào ngày…, và “Về Thuỵ Sĩ” vào ngày…

Tôi dùng từ ngữ Về cho cả hai lượt nhập cảnh và xuất cảnh Việt Nam.
Bởi tôi có hai quê hương.
Việt Nam là gốc rễ cội nguồn, là nơi chôn nhau cắt rốn, là nơi tôi mở mắt chào đời và lớn lên cùng gia đình bao gồm ông bà ngoại, ba má, các chị em. Là nơi tôi để lại rất nhiều kỷ niệm tươi đẹp nhất lẫn những kỷ niệm buồn đau của đời người.

Còn Thuỵ Sĩ là quốc gia từ năm 15,16 tuổi tôi đã mơ ước được sinh sống. Là nơi có phong cảnh thơ mộng lãng mạn đẹp như tranh vẽ. Không gian êm đềm thanh tịnh, quyền tự chủ tự quyết của người dân là ưu tiên hàng đầu (mỗi năm chúng tôi được trưng cầu dân ý không ngớt cho nhiều đạo luật. Hiện có một phong bì chứa 3 lá phiếu bầu đang nằm trên bàn chờ tôi biểu quyết OUI hay NON). Là quốc gia ít có xáo trộn xã hội lẫn chính trị, dân hiếm khi xuống đường biểu tình đòi quyền lợi nầy kia, chứng tỏ họ hài lòng với cuộc sống*

*Tôi phải dài dòng cắt nghĩa vậy để hiểu vì sao tôi nhận đây là quê hương của mình.

Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi…
(Quê Hương, thơ Đỗ Trung Quân)

Nhà thơ Đỗ Trung Quân nói quê hương chỉ có một, nhưng tôi không “thấy” như ông thấy.
Tôi biết rõ–bằng trái tim, tâm hồn, bằng lý trí–rằng mình có Hai Quê Hương.
Một quê hương Việt Nam là của phần-đầu-đời. Và một quê hương Thuỵ Sĩ là của phần-đời-còn-lại.
Nơi nào tôi cũng gắn bó thân thiết y như nhau. Đặt lên bàn cân thì ngang đều.
Không phải vì trên giấy tờ tôi mang quốc tịch Thuỵ Sĩ thì tôi Là-người Thuỵ Sĩ nếu như bản thân không chấp nhận, không hoà nhập vào xã hội mới.
Tôi không cắt nghĩa được tại sao tôi đã đem lòng yêu mến Thuỵ Sĩ lúc còn là cô gái 15,16 tuổi chứ không là quốc gia nào khác. Mặc dù tôi vô cùng may mắn hưởng một tuổi thơ an lành hạnh phúc bên ông bà ba má các chị em của mình.

Cô em gái kế thường đùa rằng chắc từ tiền kiếp tôi là công dân Thuỵ Sĩ lưu lạc sang Việt Nam. Em còn tưởng tượng có thể tôi là anh lính viễn chinh cho Pháp, chết trận. Sau đầu thai trở lại làm người bị mắc kẹt ở V N, nhưng lòng vẫn mang nặng tình hoài hương, lúc nào cũng mơ về cố quốc. Hơn nữa, từ nhỏ tôi rất thích ăn bánh mì, uống sữa mỗi sáng. Bây giờ vẫn thế, từ mấy chục năm không thay đổi. Ngoại trừ khi về thăm nhà thì tôi ăn uống theo kiểu Việt. Nhớ lúc chuẩn bị rời Việt Nam đi định cư, ba má nói tôi vốn có nhiều thói quen như dân Tây thì sống bên Tây là hợp lý rồi.

Sống hơn nửa đời người ở quê hương thứ hai, tôi vẫn giữ một tình cảm nồng nàn nguyên vẹn không hề sứt mẻ hay thất vọng. Với tôi, đây đích thực là nơi đáng sống.
Tôi vốn thích du lịch– để nhìn ngắm khám phá nhiều điều thú vị ở phương trời mới. Ý thích này cũng manh nha từ hồi con nít, được ươm mầm qua các Tạp Chí Thế Giới Tự Do in ảnh màu trên nền giấy trắng dày mà ba tôi mang về cho gia đình đọc. Cho hay những gì thuở nhỏ ta được hấp thụ từ gia đình, học đường, môi trường xung quanh sẽ ảnh hưởng đến nhân sinh quan, đến con đường mà ta sẽ đi khi lớn lên là vậy.

2/-

Trên quê hương thứ hai, cùng chồng đồng hành, ước mơ du lịch thế giới của tôi biến thành sự thật. Anh đã dẫn dắt tôi khám phá nhiều miền đất thú vị trên địa cầu.
Rồi hạnh phúc lứa đôi bị đứt đoạn. Chồng bỏ tôi mà đi về cõi vĩnh hằng. Thời gian thừa thãi tôi càng thực hiện các chuyến vân du nhiều hơn.

Tuỳ thời kỳ. Có những ngày tôi thích được yên tĩnh một mình một cõi, ngồi nhà đừng ai quấy rầy. Vây quanh là đống sách báo, và cái ipad, và hoa, và cây xanh, và các bức tượng do chồng điêu khắc. Những điều nhỏ nhoi đơn giản khiến tôi hạnh phúc, không cần tìm kiếm đâu xa.

Có những ngày hè nắng ấm tôi thích ra phố gặp gỡ chào hỏi nhân gian. Đi thêm “vài bước chân” là có thể nhìn ngắm phong cảnh rừng thông, cánh đồng hoa bồ công anh, hoa thuỷ tiên vàng rực, hoa cúc dại tim tím, hoa uất kim hương nhẹ nhàng rung rinh. Chọn một băng ghế ngồi dưới tàng cây che bóng mát, lắng nghe tiếng gió thổi qua chùm lá rì rào.

Lên non, xuống biển, vô rừng
Lặng nghe gió hát, mịt mùng cõi riêng
Ngồi đối bóng, dựa dốc triền
Lục lạo tâm thức, truy tìm bình yên

(Giọt Thiền, thơ Th.H)

Ở nhà đâu còn ai chờ đợi cho những bữa ăn, những cuộc chuyện trò, những chăm sóc lúc đau yếu nên ít khi tôi “ngự” một chỗ quá vài tháng. Nhịp sống mỗi ngày lập đi lập lại sáo mòn khiến lòng bồn chồn, chân chộn rộn như người lính chỉ chực chờ tiếng pháo lệnh để hăng hái xung trận. Thế là lập kế hoạch xách valise lên đường. Một tuần, vài tuần nơi này, hai tháng nơi kia, ba bốn tháng nơi nọ. Tự ví mình như phiến mây trời lãng du:

Còn bay mãi, còn bay hoài
Bởi em là phiến mây trời lãng du
Trôi lang thang trôi lững lờ
Tìm trong sương khói mịt mờ bóng ai…
…Bởi em là phiến mây trời
Hợp tan gió cuốn một đời mong manh (Th.H)

Nhìn vẻ ngoài tươi cười của tôi, ai cũng phán đoán rằng tôi là người may mắn trời ban, sống hồn nhiên vô tư lự. Hẳn trong đời chưa từng bị đau thương khốn khó dằn vặt, nếu có thì chỉ như một vết xước nhẹ ngoài da. Lầm hết. Chẳng qua là tôi giỏi giấu diếm mọi cảm xúc sầu bi, biết cách chế ngự không để cho nó quật ngã mình. Chỉ trưng ra phiến diện phù phiếm thường tình nhi nữ: rong chơi, làm dáng…

Chứ đâu biết tôi cũng:
 Nỗi đau chìm lặng đáy hồn/ Tim đem cất giữ vào trong ngăn sầu…
Tôi cũng: Đêm về khóc nụ hoa phai/ Nến tàn trăng lặn hình hài chơ vơ.
Tôi cũng: Bóng in vách hắt đèn vàng/ Tương tư đếm giọt thời gian một mình
Tôi cũng: Nghe tiếng lá rơi sầu lay lắt/ Khóc đến trăm năm lệ vẫn thừa
Tôi là: Ta tươi cười như kẻ đang yêu/ Dẫu thu phong lá rụng tiêu điều/ Ai hay lòng ta rừng hoang lạnh/ Cười cho đời bớt nỗi quạnh hiu (Th.H)

Tâm trạng trên, chỉ ai cùng hoàn cảnh– đang ngập tràn trong hạnh phúc–bỗng dưng nửa kia đột ngột rời bỏ ta đi không một lời trăn trối, mới thấu hiểu hết.

3/-
Tôi dành ưu tiên cho các chuyến về Việt Nam nhiều hơn các quốc gia khác. Nơi ấy tôi có một đại gia đình, có thân quyến họ hàng, có bạn hữu cũ và mới…

Đã quen sống trong sự tĩnh lặng an lành mát mẻ của thiên nhiên Thuỵ Sĩ, môi trường sống thân thiện, trật tự, tôn trọng tự do cá nhân. Nên thú thật lúc đầu về Việt Nam tôi khó chịu đựng âm thanh ồn ào của xe cộ lưu thông, loa phát hết công suất tiếng đàn nhạc giọng ca karaoke bất kể ngày đêm cộng vào sự nóng nực không khí ẩm khiến có cảm tưởng làn da nhớp nhúa dơ bẩn, thật muốn phát điên lên được.

Đi-về nhiều bận, tôi dần thích nghi. Tập gạt bỏ những bất như ý, những bất tiện, chỉ gạn lọc lấy những mặt tốt đẹp thì tôi thấy mình chịu đựng (hay chấp nhận) được. Mặc kệ những lưng áo bị thấm ướt, tóc dính bết, mặt mồ hôi tươm đổ chảy cả vào mắt. Mặc kệ những tiếng ồn như búa bổ điếc tai nhức óc, những giọng ca theo karaoke sai nhịp rổn rảng giữa trưa nắng 39, 40 độ C hay đêm khuya 11giờ, bất chấp giấc ngủ của người hàng xóm lân cận.

Tôi thấy tôi vui vẻ hạnh phúc giữa người thân: các anh chị em, cháu–hiển nhiên–;các họ hàng quyến thuộc; các bằng hữu cũ và mới. Có sợi dây luyến ái buộc kết tôi vào họ. Tôi cùng đùa vui, ăn uống, chuyện trò… sử dụng cùng một ngôn ngữ mẹ đẻ. Cùng ôn lại chuyện ngày xưa, cùng ngắm nhìn vật đổi sao dời hôm nay, cùng bàn luận về cuộc sống sắp tới, rồi kết luận:

“Sắc bất dị không, không bất dị sắc
“Sắc tức thị không, không tức thị sắc”
(Bát Nhã Tâm Kinh)

Để ta buông bỏ mọi cám dỗ trần gian, mọi chấp niệm sân si cho tâm bình yên tự tại. Làm sao để được như câu “Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến”*

*Nói thì hay mà thực hành thì quá khó. Làm sao mà “tâm bất biến” bàng quan cho được, chẳng hạn chứng kiến sự mất mát người thân. Lần về vừa qua, ngoài niềm vui hội ngộ, tôi còn phúng viếng 4 cái tang của người em họ, của bạn hữu mà họ bỏ thế gian ra đi đột ngột không hề báo trước, đa số tuổi đời vẫn còn trẻ trung còn khoẻ mạnh!

4/-

Trên đường đưa tôi từ Rạch Sỏi lên Saigon, chúng tôi cố tình đi ngang Lấp Vò để ngắm hàng trăm cây hoa phượng trồng ven quốc lộ 80 dài khoảng 4 km, cạnh dòng kênh Xáng. Dù đi nhiều lần, mà bảng hướng dẫn chỉ đường nay thay mai đổi không biết đâu lần nên em rể rẽ qua ngã khác. Chạy một đoạn lên cầu, nhìn xa xa ẩn hiện những tàng hoa phượng đỏ thắm tít tắp bên dưới, mới biết chạy lạc. Trước khi đi, đã dự tính sẽ dừng lại để ngắm hoa, thế mà bị lỡ. Chúng tôi tiếc hùi hụi, nếu tìm được lối rời khỏi xa lộ để vòng lại chắc phải mất 40,50 cây số. Cứ ngồi chắc lưỡi than tiếc quá, tiếc quá.

Chắc ông Trời thấu hiểu nỗi lòng chị em tôi hay sao ấy. Như phép lạ, xe đi hơn 10km bỗng thấy bên vệ đường có treo bảng báo phía trước có trạm xăng, mừng vui như trẻ được quà. Con đường bị ngăn ở giữa bởi các khối bê tông dầy nặng được mở lối để xe cả hai chiều đều ra vào trạm đổ xăng. Chúng tôi mượn lối ra (exit) đó quày đầu xe trở lại, chứ không thì đã chạy thẳng lên Saigon luôn.

Đầu tháng năm, thời kỳ hoa nở tròn đầy nhất, đẹp nhất. Chúng tôi hớn hở chọn góc cảnh ưng ý như có thể để thu hình các kiểu. Hơi tiếc là cây mọc cao, các cành hoa cách xa so với người đứng dưới gốc.

Lời các bài hát về hoa phượng văng vẳng bên tai:

*Nếu ai đã từng nhặt hoa thấy buồn
Cảm thông được nỗi vắng xa người thương
Màu hoa phượng thắm như máu con tim
Mỗi lần hè sang kỷ niệm
Người xưa biết đâu mà tìm…
(Nỗi Buồn Hoa Phượng, nhạc Thanh Sơn)

*Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng
Em chở mùa hè của tôi đi đâu
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi 18
Thuở chẳng ai hay thầm lặng mối tình đầu…
(Phượng Hồng, thơ Đỗ Trung Quân, nhạc Vũ Hoàng)

Sẽ thiếu sót nếu không kể về đoạn đường hoa bằng lăng tím từ cầu Lấp Vò đến cầu Phú Diệp B, hình như cũng kéo dài 4 km. Rồi nối tiếp mới đến đường hoa phượng từ cầu Phú Diệp B đến xã Vĩnh Thạnh. Lúc chúng tôi đi hình như hết mùa hoa bằng lăng nở (cuối tháng 4), chỉ còn lác đác vài nhánh hoa tim tím sót lại trên cành, thật tiếc. Không thì chúng tôi đã có bộ sưu tập hai loài hoa gợi thương gợi nhớ của thuở học trò, của mối tình đầu non dại ngây thơ.

Thanh Hà
La Chaux-de-Fonds, 27/05/2026

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2026

Nhớ Người Viễn Xứ - Sáng Tác: Nguyễn Văn Đông (1932-2018)& Lâm Tuyền (1922-1997) Phối Âm: Việt Hùng - Song Ca: Trần Đại Phước & Nguyễn Thành Vân

Sáng Tác: Nguyễn Văn Đông (1932-2018) & Lâm Tuyền (1922-1997)
Phối Âm: Việt Hùng
Song Ca: Trần Đại Phước & Nguyễn Thành Vân

Màng Chi Thế Sự


 
Mưa trên mui rạ, tiếng rào rào
Bỗng tạnh, bóng cò trắng vút cao
Dưới nước lăn tăn làn sóng gợn
Chân trời lững thững đám mây chao
Trăng lên đĩa bạc treo đầu núi
Thuyền đậu cầu dừa bắc cạnh ao
Ông lái buồn tình ca vọng cổ
Màng chi thế sự, chốn lao xao!

Duy Anh

23/6/2026


Thứ Năm, 25 tháng 6, 2026

Biển Cả (The Great Ocean) Thơ: Nga Thị Le - Nhạc: Magnolia Cao Tran Epics

Thơ: Nga Thị Le
Nhạc& Dịch: Magnolia Cao Tran

Nên Sầu Khổ Dịu Dàng - Nguyễn Tất Nhiên



Những kỷ niệm đời xin hãy còn xanh
(Có một ngày mình bỏ trường bỏ lớp
Anh cũng đi như luật định trời dành
Em cũng đi như luật định trời dành)

Nắng bờ sông như màu trang vở cũ
Thuở học trò em làm khổ ai chưa?
Anh muốn khóc trong buổi đầu niên học
Bàn tay xương cầm hờ hẫng văn bằng

Em hãy đứng trước gương làm dáng
Tự khen mình đẹp quá đi em
(Lỡ mai kia mốt nọ theo chồng
Còn đôi chút luyến lưu thời con gái)

Em hãy ra bờ sông nhìn nắng trải
Nhớ cho mình dáng dấp người yêu
(Lỡ dòng đời tóc điểm muối tiêu
Còn giây phút chạnh lòng như ... mới lớn)

Mình hãy trách đời nhau nhiều hư hỏng
Rồi giận hờn cho kỷ niệm đầu tay
Thu miên man không thấy lá vàng bay
Anh phải nói: buồn chúng ta màu trắng

Tình cứ đuổi theo người như chiếc bóng
Người thì không bắt bóng được bao giờ
Anh muốn khóc trong buổi đầu niên học
Bởi yêu em nên sầu khổ dịu dàng

Nguyễn Tất Nhiên
(1970 - Trích tập Thiên Tai)

Trời Vào Đông

 

Hè qua rồi, mang theo bao Tâm sự
Nỗi cô đơn, khi gió chuyển cuối mùa
Ngoài hiên nhà, lá vàng đỏ sang Thu.
Không gian lạnh, hòa thêm bao nỗi nhớ

Quên sao được, một mối tình dang dở
Kỷ niệm xưa quanh quẩn mãi bên lòng
Nhớ vô cùng, khi trời chuyển sang Đông
Ta muốn gửi, một tâm tư theo gió.

Mùa Đông ơi ! Mùa Đông đừng đến nữa!
Đến rồi đi, ta sầu vướng trong lòng
Mối tình đẹp, sao cứ mãi trong Tâm
Ta cố quên, nhưng vẫn còn lưu luyến!

Trời vào Đông, Tâm ta còn xao xuyến!
Cảnh thiên nhiên, trời mây nước tuyệt vời
Lá rụng rơi, cây trơ trụi trên đồi
Tâm tĩnh lặng, mong vơi đi sầu nhớ.


Hoàng Thục Uyên

Cảm xúc từ Tùy Bút của Kim Oanh:  Mùa Đông Chạm Cửa

Happy Time With Hand Made Gifts From Granddaughter


250 years, grandpa was very happy with hand made gifts from his granddaughter
Happy 250 th anniversary America
250 years more to come
God bless America

Ngô Trọng Vĩnh QYHD
Florida

Songkhla Dậy Sóng


Tại Quán Biển Xanh của Thị Trấn Songkhla, Thi Thi một mình đứng dựa vào lan can, mắt dõi nhìn ra phía biển xa xa. Bán Ðảo Malay nhô dài ra phía biển, xanh rợp những hàng dừa trông tựa như mũi của một con cá sấu. Buổi chiều, từng đoàn ghe, tàu ra vô làm cho cửa biển thật chộn rộn nhưng Thi Thi thì cứ vẫn đứng yên như thể tâm hồn phiêu bạt nơi đâu. Với kiến thức và suy tính của nàng, nàng nghĩ rằng việc tìm kiếm tông tích mẹ dù khó khăn nhưng không phải không hy vọng. Nhưng đến nay thì nàng cảm thấy tình thế hầu như tuyệt vọng cho nên hai giọt lệ tự nhiên lăn dài trên khóe mắt. Xót xa nghĩ đến mẹ, nàng nhắm nghiền đôi mắt và… ký ức kinh hoàng của chín năm về trước một lần nữa lại hiện về.

…..Năm 1978, Thi Thi còn là một cô bé mười hai tuổi theo cha mẹ vượt biên ở cửa biển Vũng Tàu – Bà Rịa. Sau ba ngày lênh đênh trên biển, tàu của Thi Thi gặp hải tặc Thái Lan và một màn cướp bóc dã man diễn ra. Mẹ Thi Thi bị hải tặc dẫn đi cùng với mấy cô gái khác. Sau khi ăn hàng xong, bọn hải tặc bỏ đi và thuyền của Thi Thi mấy ngày sau may mắn tắp vào được Đảo Bi Ðông. Vì quá nhớ thương vợ, hơn thế nữa ông bị kiệt lực vì chuyến vượt biển đầy gian nan, sóng gió, hãi hùng, ba của Thi Thi lâm bệnh và qua đời trên đảo. Ông được đồng bào chôn ông ở trên một mỏm núi đá nhìn xuống bãi biển. Thi Thi trơ trọi một mình, hằng tuần đều đến thăm mộ ba. Thi Thi lượm lặt những hòn sỏi, những vỏ ốc nằm chơ vơ trên cát về dát lên trên mộ thành hình những đóa hoa rồi thì thầm nói chuyện với ba như những lúc ba còn sống. Thi Thi không bao giờ nghĩ rằng ba đã chết… mà ông chỉ nằm yên nghỉ ở đây để chờ một ngày gặp lại mẹ Thi Thi – người yêu quý nhất đời ông.

Trong thời gian Thi Thi còn tá túc ở trại chuyển tiếp Sungei Besi – Mã Lai thì tại một khu ngoại ô của thành phố Los Angeles – California, ông bà Brown đang chăm chú đọc một bản tin của cơ quan USCC kêu gọi các nhà hảo tâm Hoa Kỳ đứng ra bảo trợ các gia đình tị nạn Ðông Dương mệnh danh là Boat People. Ông Brown là kỹ sư trưởng của một hãng điện tử, còn bà Brown là giáo sư tại một Ðại Học Cộng Ðồng. Năm ấy ông bà khoảng bốn mươi tuổi. Ông bà rất chú ý đến trường hợp của Thi Thi bởi hai lý do: Ông bà lấy nhau đã mười năm nay mà không có con cái gì. Ngoài ra ông còn là một cựu chiến binh trước phục vụ tại Việt Nam. Năm 1967 phi cơ của ông bị bắn rớt ở Bình Long nhưng ông được một bé gái trạc tuổi Thi Thi chỉ đường cho ông chạy trốn ra quốc lộ cho nên ông còn sống sót tới ngày nay. Nhìn hình ảnh Thi Thi trong bản tin của cơ quan USCC, ông nhớ lại kỷ niệm xưa và có ý muốn nhận nuôi Thi Thi để đền ơn một cô bé Việt Nam nào đó mà ông không bao giờ biết tên tuổi.

Vừa nhận bảo trợ, vừa nhận làm cha mẹ nuôi Thi Thi, hai ông bà lại có hai quan niệm khác nhau về cách xây dựng cuộc đời cho Thi Thi. Bà Brown thì muốn Thi Thi sớm quên đi quá khứ đau buồn để hội nhập vào xã hội mới và dĩ nhiên tạo lập cuộc đời mới trên quê hương mới cho nên bà muốn Thi Thi trở thành một bác sĩ. Còn ông, ông lại có quan niệm và một chủ đích khác. Ông muốn Thi Thi đừng đánh mất bản sắc của mình vì Việt Nam cũng là mảnh đời khó quên của ông. Vả lại, mẹ Thi Thi dù bị hải tặc bắt đi nhưng chưa chắc đã chết… may đâu? Cho nên khi Thi Thi tốt nghiệp trung học ông đã thuyết phục bà cho Thi Thi học ngành báo chí tại U.C.LA. Khi Thi Thi được hai mươi mốt tuổi và cũng là lúc nàng tốt nghiệp bằng Cử Nhân, do sự quen biết ông xin cho Thi Thi làm phóng viên của tờ Los Angeles Tribune. Năm sau, đích thân hai ông bà đến gặp ông tổng biên tập, trình bày về trường hợp của Thi Thi, cái gì xảy đến cách đây chín năm và xin tờ Los Angeles Tribune đứng ra bảo trợ cho một cuộc tìm kiếm người đàn bà xấu số… tức mẹ của Thi Thi. Sự việc được trình lên Hội Ðồng Quản Trị và Ban Quản Trị nhận thấy đây vừa là vấn đề nhân đạo vừa là dịp điều tra sâu rộng về những hành vi tàn bạo của cướp biển Thái Lan nên đã đồng ý bảo trợ.

Tuy nhiên sắp xếp cho chuyến đi không phải chuyện dễ dàng. Nếu sơ hở, sinh mạng người đi điều tra lâm nguy đã đành mà cướp biển có thể thủ tiêu người đàn bà để phi tang. Cuối cùng thì người ta đã đồng ý với nhau về một kế hoạch. Tờ Los Angeles Tribune loan tin bảo trợ cho một cuộc khảo cứu sinh vật học dưới biển ở Thái Lan và cần tuyển một người cho công tác này. Bài báo loan đi được nửa tháng thì một thanh niên tới trình diện. Chàng tên Peter, tốt nghiệp Hải Dương Học và đang phục vụ tại Ðại Học Stanford. Năm nay chàng hai mươi bốn tuổi, đẹp trai, thông minh, khoẻ mạnh, hoạt bát, thích phiêu lưu mạo hiểm nhưng chưa có dịp. Sau cuộc phỏng vấn, Peter được gặp Thi Thi để nghe nàng nhớ lại, kể lại tất cả những gì đã xảy ra cho gia đình mình cách đây chín năm. Sau hơn một tháng tập lái tàu, nghiên cứu phong tục tập quán, bờ biển các khu vực đánh cá trong Vịnh Thái Lan nhất là khu vực Songkhla. Ðể an toàn cho chuyến đi, Peter và Thi Thi được đưa qua Sydney rồi mới đáp máy bay đi Bangkok như thể một cặp tình nhân đến từ Úc Châu.

Tại Bangkok, Peter có người cậu làm tùy viên văn hóa của Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan. Peter đến thăm cậu và nói rõ mục tiêu của chuyến đi. Nghe xong câu chuyện ông cậu rất xúc động nhưng cũng khuyên cháu nên hết sức cẩn thận vì hành tung của cướp biển Thái Lan lúc ẩn lúc hiện và khi bọn chúng đã ra tay thì hết sức tàn bạo. Ông giới thiệu cho Peter một một thám tử tư người Thái Lan tên Surat trước đây vốn sinh trưởng ở vùng Songkhla cho nên không một ngõ ngách nào của Songkhla mà Surat không biết. Sau khi nghe trình bày sự thể, Surat vui vẻ nhận lời cộng tác vì theo anh bản tính dân Thái Lan vốn hiền hòa, cướp biển chỉ là thiểu số đi ngược lại bản tính đó và làm hoen ố danh dự của dân tộc Thái Lan. Surat năm nay ngoài ba mươi tuổi nói tiếng Anh rất lưu loát. Surat da nâu nâu, thân hình khỏe mạnh có bộ râu mép giống Clark Gable và lúc nào cũng vậy – do méo mó nghề nghiệp anh ta luôn luôn mang kính đen và khẩu súng lục trong người. Do tính chất nguy hiểm của chuyến đi, Surat khuyên Peter nên đem theo súng và anh ta đã dùng giấy phép của hãng thám tử tư của chính anh để cấp giấy đeo súng cho Peter.
Là người kinh nghiệm, tế nhị và cũng để thử tài Peter trong chuyến “hành hiệp”, trước tiên Surat để Peter quyết định về kế hoạch hành động. Peter bàn với Thi Thi và Surat là nên đến Hội Ngư Phủ Songkhla để dò la tin tức. Qua sự thông dịch, Surat giới thiệu với ông Chủ Tịch Hội Ngư Phủ, Peter và Thi Thi là hai nhà nghiên cứu Hải Dương Học muốn tìm hiểu về tiềm năng đánh cá của vùng Songkhla, nhất là những con tầu thường đánh cá ở Vịnh Thái Lan. Peter lý luận rằng theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc thì các con tàu tham dự vào các chuyến cướp biển đều là tàu gỗ, có khả năng đánh cá xa bờ khoảng 100 hải lý, làm ăn theo lối gia đình, ít mướn nhân công bên ngoài. Nếu nắm được danh sách này thì ít ra cũng có tài liệu để lần ra manh mối. Còn Surat thì giới thiệu mình là thông dịch viên trước có du học ở Úc Châu. Là người hiếu khách, ngay tình, ông chủ tịch đưa ra một danh sách dài dằng dặc bao gồm tên chủ tàu và các con tàu hiện gia nhập hội của ông. Cầm bảng danh sách này trên tay Peter hỏi làm sao phân biệt được tàu gỗ hay tàu sắt? Ông chủ tịch nói cái đó cũng dễ thôi vì mỗi loại tàu đều có số mã riêng. Ðêm đó Peter ngồi một mình với bản danh sách trong phòng riêng.

Sáng hôm sau chàng thú nhận với Thi Thi rằng cái danh sách này tựa như một đám rừng chỉ làm chàng đau đầu thêm cho nên chàng đề nghị một kế hoạch khác. Theo Peter thì khi hải tặc bắt được đàn bà, con gái nếu không bán đi để làm gái điếm thì chúng cũng dấu trên các hoang đảo để làm “áp trại phu nhân”. Do đó nếu dò thám các hoang đảo may đâu chẳng tìm ra manh mối? Theo đúng đề nghị của Peter, cả ba đến gặp ông Giám Ðốc Hàng Hải Songkhla để hỏi thăm tin tức, sưu tập bản đồ của những hòn đảo nằm quanh khu vực. Ba người có lúc đi chung, có lúc đi riêng để dò la các hòn đảo, mệt nhoài cả người nhưng cũng chẳng thêm chút ánh sáng nào.

Thấy hai kế hoạch của Peter không đem lại kết quả – cảm thấy đã đến lúc trổ tài, Surat lý luận: Mục tiêu của đám cướp biển là cướp vàng bạc vì chúng biết rằng người tỵ nạn Việt Nam khi vượt biên đều mang theo tài sản vì họ cho rằng không bao giờ họ còn có cơ hội quay lại Tổ Quốc nữa. Một khi tóm được vàng bạc, có khi là vàng lá, kim cương, nhẫn vàng, khuyên vàng… bọn chúng có thể đem bán cho các tiệm vàng ở Thị Trấn Songkhla để lấy tiền chi dùng, ăn nhậu hoặc để bao gái nhất là để đánh bạc. Do đó Surat đề nghị hai người tạm nghỉ ở nhà để Surat đi xuống khu Trung Tâm của Songkhla. Tại đây Surat tìm đến một người bạn tên Sok, sau khi cha về hưu, anh ta hiện nối nghiệp cha làm chủ một tiệm vàng. Sau khi tốt nghiệp trung học tính ra có đến mười mấy năm hai người không gặp nhau. Tối đó Sok rủ Surat đi nhà hàng để hai bên ăn nhậu, hàn huyên cho thỏa thích. Trong lúc rượu đã ngà ngà, Surat hỏi Sok xem cách đây khoảng chín, mười năm Sok còn nhớ tên chủ tàu nào đến đổi chác vàng bạc ở tiệm không? Sok cho biết đám dân chài lưới mỗi lần trúng mùa họ thường mua sắm vàng bạc, nữ trang, ăn nhậu dữ lắm còn chuyện đem vàng bạc đi bán là chuyện bất thường, chỉ khi nào họ liên tiếp thất bại một, hai mùa cá. Tuy nhiên, theo Sok thì có một trường hợp mà anh ta nhớ mãi là cách đây khoảng chín, mười năm, chủ tàu Lươn Biển đã bán cho cha anh một mớ nữ trang rất lớn mà theo anh không phải là loại làm ở Thái Lan. Bắt được tin này, Surat hí hửng về thông báo cho Peter và Thi Thi hay. Sau đó Surat quyết định để ra một tuần lễ liền, dùng ống nhòm quan sát cùng la cà khắp bến cảng nhưng chẳng thấy bóng dáng con tàu Lươn Biển đâu cả. Như thế là sau hai tuần lễ vất vả, cả ba vẫn chưa phăng ra một chút manh mối nào về hải tặc và dĩ nhiên sự việc đó đã gieo vào lòng Thi Thi nỗi niềm chua xót, hoang mang lẫn thất vọng.
* * *
Trong khi Thi Thi đang thả hồn mình về với quá khứ bi thương như thế thì Peter từ trong quán bước ra. Nhìn thấy Thi Thi, chàng dừng lại. Chàng không muốn làm kinh động, vừa để tôn trọng những giây phút riêng tư của nàng… mà cũng để ngắm nhìn. Sau gần một tháng đi chung, ăn uống chung và làm việc chung chưa bao giờ Peter thấy Thi Thi đẹp như vậy. Chưa bao giờ hình ảnh của Thi Thi lại thu hút tâm hồn chàng đến như vậy. Nắng và gió biển làm da Thi Thi đậm hơn một chút. Chiếc áo sơ-mi tay dài và chiếc quần Jean càng làm tăng thêm vẻ đẹp khỏe mạnh của nàng. Mái tóc dài bay lòa xòa trước gió bao phủ lấy khuôn mặt Ðông Phương nhưng thanh thoát làm Peter liên tưởng đến sự thủy chung – nền tảng của hạnh phúc gia đình mà chàng đọc được nơi sách vở. Chính sự ngưỡng mộ và khát khao đó lại là động cơ thúc dục chàng nhích chân đi tới. Nghe tiếng động ở sau lưng, Thi Thi giật mình ra khỏi vùng hồi ức. Nàng quay lại và không ngạc nhiên khi thấy Peter. Tuy nhiên nàng vẫn đứng bất động và mắt như nhìn vào cõi xa xăm. Peter chầm chậm tiến đến gần, đứng yên một hồi lâu rồi mạnh dạn nắm lấy tay Thi Thi. Chàng nói:
- Anh hiểu nỗi khổ đau của em. Nhưng anh linh cảm rằng chúng ta sẽ thành công. Em sẽ gặp lại mẹ em trong chuyến đi này. Ðừng để tình cảm làm suy yếu nghị lực của chúng ta. Nói xong chàng kéo tay Thi Thi và hai bước tản bộ dọc theo bến cá.

Trong khi hai người đang sánh bước bên nhau thì Surat ngồi rầu rĩ bên ly bia đã cạn. Anh toan lên tiếng gọi thêm chai nữa thì từ ngoài cửa hai thanh niên bước vào. Nhìn vóc dáng, cách ăn mặc, cách nói năng ai cũng phải nhận ra họ là dân chài lưới. Sau khi lớn tiếng gọi rượu và đồ nhậu, họ ăn uống rất dữ tợn. Phút chốc họ đã ngà ngà và đúng là… rượu vào lời ra. Một gã trong bọn nói:
- Mày có biết không trên đời này nhiều khi bố con giết nhau cũng chỉ vì một con đàn bà! Một con đàn bà… Việt Nam mới tức cười chứ!
Gã kia, sau khi dằn ly bia xuống bàn, lè nhè hỏi:
- Mày nói lại tao nghe. Cha con giết nhau hả? Ðứa nào ngu vậy cà? Ð.M. có nói dóc không mày?
Sau khi cầm ly bia uống ực một hơi, gã lên tiếng đầu tiên nói tiếp:
- Thì cha con thằng cha chủ tàu… chủ tàu Lươn Biển chứ ai!
Nghe đến đây thì Surat như bị điện giật. Anh ta vội vã kêu thêm một chai bia nữa uống để câu giờ và vểnh tai nghe. Khi hai gã đã dứt tiệc nhậu, lảo đảo bước ra ngoài và chia tay ở trước quán thì Surat theo bén gót gã lên tiếng đầu tiên mà sau này y xưng tên là Thom. Surat theo chân Thom đến tận nhà và mua chuộc Thom bằng hai lạng vàng để được biết tung tích con trai lão chủ tàu Lươn Biển.

Theo tin tức của Thom thì Uthai – con lão chủ tàu Lươn Biển, hiện y đang chỉ huy con tàu Sóng Thần. Tàu của y thường lênh đênh nửa tháng trời ngoài biển và có lẽ vài ngày nữa sẽ trở lại bến Songkhla để xuống cá. Sau khi xuống cá y có thói quen ăn nhậu và kiếm gái ở Quán Giang Hồ. Sau khi thu lượm được tin tức bằng vàng này, Surat hối hả quay trở lại khách sạn để cùng Peter và Thi Thi lập kế hoạch bắt cóc Uthai vào lúc chạng vạng tối.
Theo đúng dự trù. Thi Thi ăn mặc giả làm “cô gái bán hoa” quanh quẩn ở quán Giang Hồ. Khi Uthai mặt đỏ gay, lảo đảo bước ra ngoài thì Thi Thi bước tới… liếc mắt đưa tình. Chính Uthai cũng hết sức ngạc nhiên không hiểu tại sao bến Songkhla hôm nay lại có một đóa hoa tươi đẹp như vậy cho nên y mê mẩn cả tâm thần và đưa tay ôm đại lấy Thi Thi. Mặc dù giận căm gan và nhiều lúc muốn nôn oẹ vì mùi rượu nồng nặc từ miệng Uthai thở ra. Thi Thi cũng phải cắn răng chịu đựng cho gã ôm ấp rồi dìu gã vào một ngõ tối là nơi mà Peter và Surat đã phục sẵn. Khi gã còn đang lảm nhảm mấy tiếng Thái có lẽ là “Anh anh…, em em” thì bằng quả đấm thôi sơn ngay cằm, Peter quất gã quay lơ trong khi đó Surat nhanh tay chụp lên mặt gã một chiếc khăn tẩm thuốc mê rồi hai người dìu nách gã xuống tàu như thể hai người đang đưa một người bạn ăn nhậu say về nhà.

Dưới con tàu sắt mà ba người đã thuê, có trang bị đầy đủ Radar lẫn hệ thống thông tin với Sở Cảnh Sát và Lực Lượng Duyên Phòng Songkhla, Uthai bị trói gô vào một chiếc ghế sắt. Y khoảng ngoài ba mươi tuổi có khuôn mặt vều lên như cái mâm, da mặt sần sùi như vỏ quýt. Uthai mặc một bộ đồ jean, cánh tay xâm trổ. Cả con người y tỏa ra một cái gì đó hết sức thô lỗ, hiếu sắc và tục tằn. Khi tỉnh dậy, Uthai ngạc nhiên khi thấy y bị trói thúc ké. Vài giây sau, có lẽ đã nhớ lại những gì xảy ra tại Quán Giang Hồ, y trở nên vô cùng tức giận. Y quắc mắt hỏi:
- Các người là ai? Tại sao lại bắt ta?
Nói xong y gầm gầm, gừ gừ khiến bộ mặt sần sùi đen đủi của y càng thêm hung dữ. Như một tay thẩm vấn nhà nghề cần ra tay trước để thị uy, Surat xáng cho y một quả đấm ngay sống mũi khiến phải mất vài giây sau mới có thể hoàn hồn. Ðợi cho y đã tỉnh táo, Surat chìa ra trước mặt y một tấm hình bán thân cỡ 8×10 rồi gằn giọng hỏi:
- Mày có biết người này là ai không?
Uthai rõ ràng sửng sốt khi nhìn thấy tấm hình nhưng vẫn lắc đầu:
- Tôi không biết!
Tấm hình mà Surat đưa ra trước mắt Uthai không gì khác hơn là tấm ảnh bán thân được rọi lớn của mẹ Thi Thi – một kỷ vật mà Thi Thi lưu giữ chín năm qua. Trước cử chỉ ngang bướng của Uthai, Surat đưa mắt nhìn Peter như để xin chỉ thị. Peter khẽ gật đầu. Một chiếc thùng nước được lôi ra và Surat nhanh tay nắm lấy tóc Uthai nhận xuống. Chỉ ít giây sau thì cái đầu của Uthai quậy lên dữ dội nhưng bàn tay cứng như sắt của Surat vẫn cứ ấn xuống cho đến khi Uthai gần ngất xỉu thì Surat giật ngược đầu của y lên, quắc mắt hỏi lần nữa:
- Bây giờ mày có biết người này là ai không?
Tới mức này thì bộ mặt thiểu não của Uthai khẽ gật gật. Thấy vậy Peter hỏi và Surat thông dịch ra tiếng Thái:
- Mày có biết cha mày hiện giờ ở đâu không?
Uthai dư sức thông minh để hiểu rằng nếu y nói “không” thì chắc chắn y sẽ được cho “đi tàu thủy” một lần nữa cho nên lặng lẽ gật đầu. Thấy vậy Peter liền nói:
- Bọn tao kỳ hẹn cho mày trong hai ngày. Nếu không tìm thấy tàu của cha mày thì mày sẽ được gửi đi “thăm Hà Bá” biết chưa?

Nói xong Peter chỉ vào quả tạ bằng sắt thật lớn có sợi dây xích nằm ở một góc. Sau đó con tàu được nổ máy tiến ra cửa. Khi tàu đã ra khỏi cửa biển thì Uthai được điệu lên boong và bị trói chặt vào cột tàu. Theo lời khai của Uthai thì cha y hiện đang đánh cá tại toạ độ X. Ðánh cá xong tàu của cha y mới quay trở về bến Songkhla cho nên đó cũng là lý do tại sao Surat dò xét khắp nơi mà cũng chẳng thấy con tàu Lươn Biển đâu cả.
Kể từ khi nhúng tay vào những vụ cướp biển và bắt được mẹ Thi Thi thì Kamphaeng – cha của y đổi kế hoạch với mục đích giữ kín tung tích mẹ Thi Thi. Thay vì cùng đánh cá chung rồi cùng về, Kamphaeng đổi sang lối đánh cá xen kẽ. Khi con tàu của y sắp vào cửa thì con tàu của Uthai được lệnh ra khơi. Khi hai tàu gặp nhau ở ngoài cửa thì mẹ của Thi Thi được chuyển qua tàu của Uthai. Do đó khi tàu cặp bến với số người đông đảo lên xuống cá, hoặc nếu có thanh tra kiểm tra tàu thì cũng chẳng có ai nhìn thấy bóng dáng người đàn bà Việt Nam ấy cả. Do đó mà Kamphaeng đã sống an toàn với mẹ Thi Thi suốt chín năm qua. Kamphaeng năm nay khoảng ngoài năm mươi tuổi. Mặt mày y đen đủi, tóc quăn cháy, thân hình to lớn và tỏa ra một cái gì rất man rợ. Y thường xuyên cửi trần, quấn chiếc xà-rông màu đỏ và đeo lủng lẳng bên mình dao quắm cho nên trông y dữ tợn như một hung thần.

Nhưng cũng chính vì cách dấu người như thế cho nên Uthai đã có cơ hội gần gũi người đàn bà và dần dần trở nên say mê bà vì tính ra tới năm nay bà mới khoảng bốn mươi lăm tuổi và bà trở nên một vương hậu giữa đám thổ dân đánh cá đen đúa, xấu xí. Mới đầu thì lão hải tặc không biết. Nhưng sau thì người của lão báo cáo là “đứa con bất hiếu” đã gian díu với “phu nhân” của lão cho nên lão giận điên người và đã có lần rút dao chém Uthai đúng như câu chuyện mà Surat đã nghe lén được ở Quán Giang Hồ. Kể từ đó đến nay hai cha con trở thành hai kẻ tử thù và đều muốn tránh mặt nhau.
Cũng theo lời khai của Uthai thì đã nhiều lần mẹ Thi Thi tìm cánh trốn lên boong để lao mình xuống biển tự tử để sớm dứt cuộc sống nhục nhã nhưng đều bất thành. Kể từ đó lão già hải tặc cấm không cho bà rời khoang tàu. Và cứ như thế cuộc sống khổ đau của bà – khi thì phải “làm vợ” lão hải tặc, khi thì phải “làm vợ” Uthai kéo dài đã chín năm trời qua. Nghe Uthai kể đến đây thì Thi Thi khóc như mưa gió vì thương mẹ. Còn Peter và Surat thì nghiến răng trèo trẹo vì căm giận loài cướp biển.
Theo đúng lời khai của Uthai, con tàu ra khơi đã được một ngày và một đêm nhưng không thấy bóng dáng của con tàu đánh cá nào lảng vảng chung quanh. Ðã có lúc Surat nóng nảy đề nghị quăng tên quỷ sứ này xuống biển cho rồi nhưng Peter khuyên Surat nên kiên nhẫn thêm chút nữa.

Bây giờ thì trời đã hừng đông và mặt biển đẹp tuyệt trần. Tàu chạy khoảng hai tiếng đồng hồ nữa thì một chấm đen xuất hiện ở hướng Ðông Bắc. Uthai nói:
- Có thể đó là con tàu của cha tôi. Nếu đúng thì nó sơn màu đỏ đen và trên có lá cờ hình con lươn biển.
Nghe nói vậy tất cả đều nai nịt và ở tư thế sẵn sàng. Thi Thi trao ống nhòm cho Peter. Duới sự điều khiển của Peter, Surat gia tăng tốc độ hướng mũi tàu về phía con tàu Lươn Biển. Trong đầu Peter lúc này nảy ra một kế hoạch thật táo bạo: Uthai được chụp lên đầu một tấm vải do đó khi hai con tàu tiến đến gần nhau thì phía bên kia sẽ không nghi ngờ gì cả. Khi hai con tàu đã áp sát vào nhau thì Thi Thi có bổn phận giữ tay lái, còn Surat lanh lẹ giật giây trói và đẩy Uthai qua phía bên kia. Kế hoạch diễn ra đúng như dự liệu. Trong khi đám người trên con tàu Lươn Biển còn đang reo hò, vẫy gọi vì tưởng đó là con tàu thân thiện thì tàu của Peter áp nhanh vào cạnh sườn. Sau khi giật dây trói cho Uthai, Surat quát lớn:
- Nếu mày không chạy qua tao bắn nát óc ngay!

Trước tình thế nguy nan đó Uthai nghĩ nhảy qua con tàu Lươn Biển may đâu y còn có cơ hội sống sót vì cha y có thể không nỡ xuống tay cho nên y phóng mình qua như một con chim. Khi thấy một bóng người bất thần nhảy qua, định thần nhìn kỹ lại thì lão hải tặc nhận ra đây là “đứa con quý tử” của lão. Vả lại trong lúc sự việc xảy ra quá nhanh, lão nghĩ rằng thằng con phản phúc đã rước cảnh sát đến đây bắt lão cho nên lão gầm lên một tiếng:
- Ðồ thằng con bất hiếu!
Và lão vung con dao quắm chém xuống. Từ bên thành tàu nhảy qua, chưa kịp giữ thăng bằng thì Uthai lãnh đủ nhát dao chém vào bả vai và y gục xuống trên vũng máu.
Trong khi đó thì Peter và Surat đã phóng qua với hai khẩu súng lăm lăm trên tay và một khung cảnh hỗn loạn diễn ra trên boong. Thấy tình thế nguy cấp lão hải tặc tháo chạy xuống khoang và Peter bám sát theo lão. Vì không quen đường lối xuống khoang tàu cho nên khi Peter xuống tới bậc thang cuối cùng thì lão hải tặc đã biến mất ở cuối buồng cho nên chàng phải dừng lại, dò từng bước, súng chĩa thẳng phía trước. Nhưng khi Peter vừa mới tiến được vài bước thì một tiếng quát dữ dội vang lên:
- Bỏ súng xuống nếu không tao cắt cổ con mụ này!

Cùng với tiếng quát lão hung thần xuất hiện, một tay ôm ghì lấy người đàn bà để làm khiên che đạn, còn tay kia lăm lăm chiếc dao quắm kề sát cổ. Người đàn bà đang bị kiềm chế đó không ai khác hơn là mẹ Thi Thi. Khi Peter còn đang lưỡng lự thì một tiếng quát thứ hai vang lên. Peter hiểu rằng nếu còn chần chừ thì sinh mạng của người đàn bà có thể lâm nguy cho nên chàng đành làm theo lời lão hải tặc. Khi thấy chàng đã quăng khẩu súng, lão hải tặc kéo sền sệt người đàn bà tiến về phía đó. Nhưng vì lão chỉ có hai tay, một tay đã cầm dao quắm, một tay bận níu chặt người đàn bà cho nên khi cúi xuống nhặt khẩu súng lão buộc lòng phải chuyển con dao qua cánh tay kia. Giữa giây phút tử sinh quyết định này – có lẽ mẹ Thi Thi quyết liều thân với tên cướp biển cho nên bà bật tung cánh tay của y ra để chạy về phía Peter. Do bản năng, lão già nhoài người ra để túm lấy mẹ Thi Thi. Quả đây là cơ hội bằng vàng cho nên Peter nhào tới đá văng khẩu súng sang một bên. Thấy tình thế bất lợi, lão già chém đại một nhát rồi phóng vội lên boong tàu. Khi Peter lượm lại được khẩu súng, leo được lên boong thì Surat đang vật lộn với một tên cướp biển còn Thi Thi cũng đã leo qua được thành tàu bên này. Nhưng khi nàng vừa đứng yên trên hai chân thì lão hải tặc đã từ xa phóng tới. Thấy lão, nàng kinh hãi rú lên một tiếng rồi lao mình phóng chạy. Nhưng khi chạy tới đuôi con tàu thì nàng hoàn toàn tuyệt lộ. Thi Thi không còn đường nào khác hơn là hai tay ôm lấy mặt để chờ đợi lưỡi dao chém xuống. Nhưng khi lưỡi dao vừa dơ lên thì Peter đã xuất hiện ở sau lưng lão hải tặc. Chàng đưa súng lên và bóp cò. Người ta chỉ thấy lão kêu rú lên một tiếng, quăng con dao quắm lên trời rồi lảo đảo ôm lấy bả vai nhưng vẫn hung hãn lao về phía Thi Thi đang ngồi co rúm, lưng dựa vào thành tàu. Rồi do đà hụt hẫng và cũng do tình cờ một con sóng mạnh ào tới làm đuôi tàu hơi tròng trành cho nên lão già té nhào xuống biển. Khi Peter chạy tới thì Thi Thi như người chết đi sống lại, nàng ôm chầm lấy Peter. Giây phút sau nàng vừa thở hổn hển vừa hỏi:
- Có gặp mẹ em không? Mẹ em có sao không?

Peter gật đầu và lấy tay chỉ về phía cầu thang. Khi hai người chạy tới thì Surat cũng đã hàng phục được tên cướp biển và từ dưới khoang tàu một người đàn bà nhô lên. Ðó là một khuôn mặt Việt Nam nhưng lại quấn một chiếc xà-rông và mái tóc đã phai màu sương khói. Vừa đặt chân lên tới boong tàu bà hít một hơi dài rồi quỳ xuống, ôm mặt kêu rống lên:
- Trời Phật ôi! Bao năm qua con mới được nhìn thấy ánh mặt trời!
Trong khi người đàn bà còn đang quỳ lạy như thế thì Thi Thi nhào tới ôm chặt lấy bà rồi nghẹn ngào thốt lên:
- Mẹ ơi! Con là Thi Thi! Thi Thi là con đây!
Dường như hai tiếng Thi Thi là hai tiếng quá thân thương với bà cho nên sau vài giây ngơ ngác bà ôm chầm lấy Thi Thi rồi khóc nức nở như một đứa trẻ. Rồi bà vừa khóc vừa nói:
- Con là Thi Thi của mẹ đó hả? Tôi mơ hay tôi tỉnh đây? Thi Thi! Mẹ là mẹ của con đây! Ba của con đâu rồi Thi Thi?
Nói vừa dứt câu đó, vì quá xúc động bà ngã ra bất tỉnh.
* * *
Sau khi Surat liên lạc vô tuyến với Sở Cảnh Sát và Duyên Phòng Songkhla đến để nhận con tàu Lươn Biển và còng tay đám cướp biển đã bị hai người hàng phục, con tàu sắt trên đó có chở theo mẹ của Thi Thi rẽ sóng quay trở lại bến cảng Songkhla. Ngày hôm sau bốn người đáp máy bay trở về Bangkok và được xe của Tòa Ðại Sứ Mỹ đón tận phi trường. Ðêm đó Peter và Thi Thi gọi điện thoại báo cho ông Tổng Biên Tập tờ Los Angeles Tribune là chuyến công tác đã thành công.
Tuần lễ sau, do lời yêu cầu của mẹ Thi Thi, dưới sự giúp đỡ của Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ, ba người giã từ Surat rồi đáp máy bay đi Kuala Lumpur. Rồi từ Kuala Lumpur ba người lại đáp máy bay đi thị trấn Terengganu nằm ở đông bộ Mã Lai. Chờ đợi ở đây một ngày, ba người được một giới chức Mã Lai hướng dẫn xuống con tàu Blue Dart là con tàu duy nhất chở thực phẩm, tiếp tế cho đồng bào tỵ nạn trên Đảo Bi Ðong.

Trên đường trở về đảo cũ, Thi Thi không nén được xúc động. Nàng luôn miệng kể cho mẹ và Peter nghe đoạn đường luân lạc mà nàng đã trải qua. Khi ba người đặt chân lên đảo thì trời đã về chiều, cơn nóng nhiệt đới đã giảm dần và bầu không khí dìu dịu. Nhìn những em bé gái mười một, mười hai tuổi tức tuổi của Thi Thi cách đây chín năm đang xếp hàng lấy nước, đang đứng ngơ ngác hoặc lấy tay vẫy khi có phái đoàn lạ viếng thăm đảo, Thi Thi không cầm được nước mắt vì biết đâu trong số này chẳng có những em mà cha mẹ đã bị hải tặc bắt đi. Cứ từng chặng, nàng lại chạy tới ôm hôn mấy em bé và cho các em kẹo. Sau chín năm nhà cửa trên đảo Bi Ðông đã tiều tụy đi nhiều nhưng Thi Thi vẫn còn nhớ con đường dẫn ra nghĩa trang nằm trên một mỏm núi nhìn xuống bãi biển. Khi tiến tới trước một nấm mồ, sau khi quan sát kỹ Thi Thi nói với mẹ:
- Ðây là mộ ba!
Khi Thi Thi vừa nói dứt câu thì Peter lanh lẹ đặt lên đó một bó hoa mà ba người đã mua ở chợ Terengganu, còn mẹ của Thi Thi thì quỳ xuống và bà gục mặt khóc trước nấm mồ. Không sao kiềm chế được xúc động, Thi Thi cũng vừa ôm chặt lấy mẹ vừa bật khóc. Trước giờ phút linh thiêng này Peter cũng lặng lẽ quỳ xuống bên cạnh hai người.

Không hiểu thời gian qua đi đã bao lâu. Khi cơn xúc động đã dịu dần, Thi Thi dìu mẹ đứng dậy. Giờ đây đảo Bi Ðông đã về chiều và những cơn gió mát rượi từ ngoài khơi lồng lộng thổi về. Trong khi mẹ Thi Thi đang lo nhổ mấy ngọn cỏ dại và đắp lại mấy vỏ ốc đắp trên nấm mồ đã bị mưa gió làm trôi đi, Thi Thi sau một ít phút tư lự, nàng nhìn vào đôi mắt Peter nói:
- Giờ đây bao nhiêu hiểm nguy đã qua. Anh có muốn cùng em về để phụng dưỡng mẹ già không?
Trước đề nghị quá bất ngờ của Thi Thi, mặt Peter từ từ sáng rỡ lên như một đứa trẻ rồi chàng nắm chặt lấy tay Thi Thi nói:
- Ðó là niềm khao khát, là giấc mơ của anh. Em đã làm tròn bổn phận với cha mẹ. Anh rất sung sướng được sống suốt đời bên người con gái hiếu thảo như em!
Nói xong chàng ôm chặt lấy Thi Thi. Giây lát sau chàng xoay người Thi Thi ra mé biển rồi xúc động nói tiếp:
- Anh xin cám ơn em! Qua chuyến đi này anh đã học được một bài học mà không một sách vở nào có thể nói hết đó là: chính khổ đau chứ không phải hạnh phúc đã làm cho tình cảm con người lớn lên. Chính thảm kịch Biển Ðông kia đã là một thử thách về nhân cách của con người. Cuối cùng thì nhân cách của con người đã thắng Thi Thi ạ!
* * *
Trên con đường từ khu nghĩa trang quay trở về, mẹ Thi Thi đi trước rồi Thi Thi và Peter theo sau. Gió chiều vẫn thổi lồng lộng và mặt biển lấp lánh như một hồ nước đẹp tuyệt trần. Nó trông tựa như một vòm sân khấu diễm lệ mà tất cả mọi vở kịch vui buồn có thể trình diễn trên đó. Xa xa một vài con thuyền nhỏ nổi bật trên mặt nước xanh thẳm. Có thể đó là chiếc du thuyền chở một cặp tình nhân trong thời kỳ trăng mật. Ðó cũng có thể là một con tàu đang chộn rộn đánh cá để mưu sinh. Và sau hết nó cũng có thể là con tàu tỵ nạn đang liều chết tiến vào đây để tìm nơi nương náu, để tìm chút tình thương nơi hòn đảo nhỏ bé này.

Đào Văn Bình
(Trích trong tuyển tập truyện ngắn Hương Xót Xa xb năm 1998)

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2026

Tháng 6 Trời Mưa -Sáng Tác: Hoàng Thanh Tâm - Ca Sĩ: Y Phương

Sáng Tác: Hoàng Thanh Tâm
Ca Sĩ: Y Phương

Tháng Sáu

 

Tháng Sáu lòng ngẩn ngơ
Nhớ cơn mưa mùa hạ
Cành hoa ép trong vở
Ngày chúng mình cách xa

Người chung trường khác lớp
Cho tôi biết mộng mơ
Buổi học cuối man mác
Giã từ tuổi ngây thơ

Nhìn nhau một lần nữa
Ve sầu kêu bơ vơ
Sân trường buồn nức nở
Giờ biệt ly, ai ngờ!

Màu phượng đỏ tươi thắm
Mênh mông một góc trời
Cành rung rinh trong nắng
Để tim ai rối bời

Cô bé tôi đang khóc
Thương nhớ tuổi học trò
Bạn bè và sách vở
Những khuôn mặt Thầy, Cô

Và ánh mắt người nữa
Nụ cười hiền chơi vơi
Những buổi chiều tan học
Theo bước tôi, lá rơi

Hạt mưa bay nhè nhẹ
Vương vấn cả con đường
Lòng tôi thầm van khẽ
Đừng ướt áo người thương

Xin đường về dài mãi
Xao xuyến với bâng khuâng
Có ai mong hè đến
Có ai buồn lắm không?

Phút chia tay lưu luyến
Kỷ niệm bao ngày qua
Mây lưng trời giăng kín
Che mắt buồn thiết tha

Mình xa nhau từ đấy
Trách chi thuở dại khờ
Nghìn trùng xa biết mấy
Thời gian trôi hững hờ

Để hôm nay tôi nhớ
Tháng Sáu về trời mưa
Hoa phượng xưa rực rỡ
Tôi chép vội bài Thơ!

Kim Loan
(Trời không mưa, anh có lạy trời mưa??)