Thứ Năm, 15 tháng 10, 2026

Về Thăm Mộ Chàng --Thơ: Tâm Tiễn - Phổ Nhạc: Liên Bình Định - Hòa Âm: Quang Đạt - Tiếng Hát: Diệu Hiền

Thơ: Tâm Tiễn
Phổ Nhạc: Liên Bình Định
Hòa Âm: Quang Đạt
Tiếng Hát: Diệu Hiền

Thu Sớm



Em hỡi! Mùa thu đã đến chưa?
Có nghe se lạnh gió chuyển mùa?
Có nghe thoang thoảng thơm cốm mới?
Có thấy nhà bên rúc rích cười?

Em nhỉ. Mùa thu đến thật rồi
Sương chiều bảng lảng rắc muôn nơi
Diều ai dìu dặt chòng chành nắng
Vắt vẻo em cười. Ơ ... đã thu.

Làng Đá, Hưng Yên 18.09.2015
Đặng Xuân Xuyến
 

Giấc Mộng Mùa Thu

 

( Tặng Lan Trương& Noah Nguyễn.)

Em không là cả rừng cây mùa Thu
Nhưng tình em là mùa Thu bát ngát
Chỉ một chiếc lá vàng rơi e ấp
Trên vai anh là em đấy. Được không?

Anh sẽ nhặt chiếc lá ấy bâng khuâng
Giữ trong tay tình em làm kỷ niệm
Giữa hàng triệu lá vàng không đếm được
Tình của em đáp số cũng vô bờ.

Em không là cả bầu trời mộng mơ
Chỉ là áng mây chiều Thu hoang tím
Vài phút giây làm lòng anh cảm mến
Mây chiều Thu sẽ đẹp đến cuối ngày.

Anh không thể giữ mây trong bàn tay
Anh không thể bảo mây đừng trôi nữa
Nhưng tình em vẫn chờ anh ở đó
Không là bầu trời tình vẫn bao la.

Em không là một cánh diều bay xa
Ai thả ước mơ trời cao đất rộng
Em chỉ muốn là cánh diều bay thấp
Trong tầm tay anh giấc mộng an lành.

Giấc mộng mùa Thu này sẽ huy hoàng
Lá đỏ lá vàng lá nâu khoác áo
Nhưng không anh lá sẽ buồn khô héo
Mùa Thu đìu hiu cho đến cuối mùa.

Nguyễn Thị Thanh Dương
( September 30, 2026)

 

Góc Đường Thi: Năm Mươi Bài Thất Ngôn Tứ Tuyệt Bất Hủ (1)


THẤT NGÔN TỨ TUYỆT 七言四絕 còn được gọi là "Thất ngôn Tuyệt cú 七言絕句" và gọi cho gọn lại là THẤT TUYỆT 七絕; là một thể tài, một loại hình thi ca đặc sắc của Trung Hoa, thuộc phạm trù của lối thơ cận thể; Có xuất xứ sâu xa từ đời Tây Tấn, Nhạc phủ của Nam Triều và Dân ca của Bắc Triều trong thời Nam Bắc Triều, diễn tiến và phát triển đến đời Đường thì hoàn chỉnh và toàn thịnh.
THẤT NGÔN TỨ TUYỆT mỗi bài gồm có bốn(4) câu. Mỗi câu gồm có bảy(7) chữ. Mỗi bài gồm có hai mươi tám chữ(28), có Niêm, Luật nghiêm cẩn, Đối thì không bắt buộc; Được gieo ít nhất là hai(2) Vần : Ở cuối câu 2 và câu 4; Thường thì được gieo ba(3) Vần ở cuối câu 1, câu 2 và câu 4; Như cụ Nguyễn Du đã nói trong Truyện Kiều khi chị em Thúy Kiều du Thanh Minh và tảo mộ Đạm Tiên vậy. Thúy Kiều đã:

Rút trâm sẵn giắt mái đầu,
Vạch da cây vịnh BỐN CÂU BA VẦN.

Chỉ BỐN CÂU BA VẦN nên lời lẽ rất xúc tích, chắt lọc, tinh luyện để diễn hết ý muốn nói, thường hàm xúc gợi tình với ý tại ngôn ngoại... Dễ ngâm vịnh để biểu ý biểu tình, hay ca ngâm để diễn tình diễn ý... Từ đời Đường đến nay có rất nhiều giai tác với đủ cả các đề tài, như Hoài cổ, Vịnh sử, Tình Bạn, Tình yêu, Hoài bão, Du sơn, Ngoạn thủy... Bây giờ là mùa THU, ta sẽ bắt đầu với các bài "TUYỆT CÚ" có liên quan đến mùa thu nhé !

1. THU TỪ 秋詞 của Lưu Vũ Tích 劉禹錫:

LƯU VŨ TÍCH 劉禹錫(772-842)tự là Mộng Đắc 夢得, người đất Lạc Dương, là thi nhân và là một triết gia đời Đường. Ông đậu Tiến sĩ năm Trinh nguyên thứ 9, lại trúng tuyển vào Bác Học Hoằng Từ Khoa. Năm Trinh nguyên thứ 11 lại được tuyển vào Sĩ Khoa Lại Bộ, quan phong đến chức Thái Tử Hiệu Thư. Năm Vĩnh Trinh nguyên niên (805) Bị vua Đường Thuận Tông biếm khỏi Trường An đày làm Lang Châu Tư Mã. Tuy quan trường thất ý, chìm nổi trong nghịch cảnh ở dân gian, Lưu vẫn giữ cho mình một tâm lý lạc quan và làm những bài thơ tràn đầy thi ý của một thi nhân. Sau đây là bài Thất ngôn Tuyệt cú THU TỪ của ông làm trong khoảng thời gian đi đày nầy :

秋詞                        THU TỪ

自古逢秋悲寂寥, Tự cổ phùng thu bi tịch liêu,
我言秋日勝春朝。 Ngã ngôn thu nhật thắng xuân triêu.
晴空一鶴排雲上, Tình không nhất hạc bài vân thượng,
便引詩情到碧霄。 Tiện dẫn thi tình đáo bích tiêu !

* Chú thích:
- THU TỪ 秋詞 : là "Bài TỪ về mùa THU". TỪ 詞 là tên của một thể loại THƠ, nhưng có thể có câu dài ngắn khác nhau, có thể gieo cả Vần Bằng và Vần Trắc; dễ ngâm vịnh và dễ phổ nhạc, thường thấy trong Nhạc Phủ với các thể loại khác như : Dẫn 引, Khúc 曲, Hành 行...
- 寂寥 Tịch Liêu : TỊCH MỊCH 寂寞 Vắng vẻ và LIÊU LẠC 寥落 Lưa thưa. BI TỊCH LIÊU 悲寂寥 : Buồn vì cảnh thu vắng vẻ và cây lá lưa thưa.
- Xuân Triêu 春朝 : là Sáng xuân; Ở đây chỉ chung "Những ngày mùa xuân".
- Tình Không 晴空 : TÌNH 晴 là Nắng ráo; KHÔNG 空 là Bầu trời. TÌNH KHÔNG 晴空 là Bầu trời nắng ráo, chỉ "Trời quang mây tạnh" chỉ "Bầu trời thu xanh ngắt".
- Nhất Hạc Bài Vân Thượng 一鶴排雲上 : là "Một con hạc rẻ mây bay vút lên".
- Thi Tình 詩情 : là Tình thơ; Ta nói là "Hồn thơ", "Tâm hồn thơ thẩn".
- Bích Tiêu 碧霄 : BÍCH 碧 là Xanh biếc; TIÊU 霄 là Bầu trời. BÍCH TIÊU 碧霄 là "Bầu trời thu xanh biếc". TIÊU còn có ý chỉ CỬU TIÊU 九霄 là Chín tầng trời.

* Nghĩa bài thơ:
Bài Từ Mùa Thu

Từ xưa hễ đến mùa thu là mọi người sẽ buồn vì cảnh hắt hiu lơ thơ vắng vẻ.
Riêng ta thì bảo rằng "Những ngày mùa Thu hơn hẵn những ngày mùa Xuân".
(Chỉ cần có) Một con hạc rẻ mây vút lên trên bầu trời xanh nắng ráo" Sẽ...
Khiến cho hồn thơ cũng sẽ bay bổng lên tận chín tầng mây xanh biếc !

Với thân phận của một kẻ đi đày, lại nhằm lúc vào thu lạnh lùng với heo may hiu hắt, mà hồn thơ lại lai láng như thế nầy, thì cũng quả thật là hiếm thấy!


*Diễn Nôm:
THU TỪ

Ngàn xưa THU đến gợi buồn tanh,
Ta bảo THU hơn xuân thắm xanh.
Cánh hạc vút trời mây bát ngát...
Hồn thơ cũng vút tận mây xanh!
Lục bát:
Ngàn xưa THU gợi niềm sầu,
Riêng ta THU vẫn hơn màu xuân sang.
Trời xanh cánh hạc ngút ngàn,
Hồn thơ cũng ngút tận ngàn mây xanh!

2.THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG 十五夜望月寄杜郎中 của Vương Kiến 王建:


VƯƠNG KIẾN (768—835)tự Trọng Sơ 仲初, người đất Dĩnh Xuyên (tỉnh Hà Nam hiện nay). Xuất thân hàn vi, cả đời bất đắc chí, từng đầu quân một thời gian; Mãi đến 46 tuổi mới xuất sĩ làm Huyện Thừa, sau thăng lên chức Thiểm Châu Tư Mã, nên người đời thường gọi là Vương Tư Mã. Năm Đường Đại Hòa thứ 5 mới thăng lên chức Thứ Sử Quang Châu. Ông và Trương Tịch rất thân nhau và cùng nổi tiếng về thơ Nhạc Phủ. Được người đời xưng tụng là "Trương Vương Nhạc Phủ 張王樂府". Thơ ông thường phản ảnh đời sống cơ cực của dân nghèo, lưu lại hậu thế với "Vương Tư Mã Tập 王司馬集". Sau đây là một bài Tứ Tuyệt tả một đêm thu rất nên thơ và tràn đầy thi vị của ông :

十五夜望月寄杜郎中 THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG

中庭地白樹棲鴉, Trung đình địa bạch thụ thê nha,
冷露無聲濕桂花. Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa.
今夜月明人盡望, Kim dạ nguyệt minh nhân tẫn vọng,
不知秋思落誰家? Bất tri thu tứ lạc thuỳ gia ?

* Chú thích:
- THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG 十五夜望月寄杜郎中: 
Đêm rằm ngắm trăng gởi ông Lang Trung họ Đỗ. ĐỖ LANG TRUNG là Đỗ Nguyên Dĩnh 杜元颖, bạn của Vương Kiến, Lang Trung chỉ là chức quan mà thôi.
- Địa Bạch 地白 : là Đất trắng lên vì sương xuống và vì ánh trăng soi.
- Vô Thanh 無聲 : là "Không có tiếng động"; Trong câu có nghĩa là "Âm thầm, lặng lẽ".
- Tận Vọng 盡望 : có nghĩa là "Đều ngắm. đều thấy".
- Thu Tứ 秋思 : là Tứ Thu, là Ý thu, là Cảm nhận về mùa thu.
- Lạc 落 : là Rơi, là Rụng, là Rớt vào...


* Nghĩa bài thơ:
ĐÊM RẰM NGẮM TRĂNG GỞI ÔNG LANG TRUNG HỌ ĐỖ

Đất trong sân nhà trắng lên vì sương xuống và vì ánh trăng rằm soi rọi, có những con qụa đậu trên cây trong sân nhà.
Sương lạnh âm thầm tạo nên những hạt móc làm ướt những cành hoa quế.
Đêm nay trăng sáng chắc mọi người mọi nhà đều trông thấy và ngắm nhìn.
Không biết là "ý thu" đêm nay sẽ rơi vào nhà của ai đây ?!

THU TỨ là tình thu, là ý thu, là tâm tình của những người đồng điệu cùng nghĩ và cùng nhớ đến nhau trong đêm thu trăng sáng. Chữ LẠC đã rất mơ hồ và nên thơ : Có được bao nhiều người cùng cảm nhận được cái đẹp, của đêm thu như tôi và bạn trong đêm nay ? Thật vô cùng nên thơ và ý vị !

* Diễn Nôm:
THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG

Trong sân sáng trắng qụa nương cây,
Lặng lẽ sương sa hoa quế lay.
Trăng sáng đêm nay ai chẳng ngắm,
"Ý thu" ai biết... lạc nhà ai ?!

Lục bát:
Sân sáng trắng, quạ nương cây,
Quế hoa thấm ướt sương đầy trời cao.
Đêm nay cùng ngắm trăng sao,
Ý thu... ai biết lạc vào nhà ai ?!

3.THU OÁN 秋怨 của La Nghiệp 羅鄴:


LA NGHIỆP 羅鄴 (825-900?) người đất Dư Hàng (thuộc tỉnh Chiết Giang ngày nay). Ông là thi nhân ở cuối đời Đường, có tiếng là THI HỔ 詩虎 (Con Cọp trong thơ), xuất thân trong một gia đình Viêm Thiết Lại 鹽鐵吏 (quan trông coi về muối), cùng với La Ẩn, La Cầu 羅隱、羅虬 trong họ tộc, được người đời xưng tụng là "Giang Đông Tam La 江東三羅". Ông lúc trẻ số phần lận đận, thi mãi mà không đậu được Tiến sĩ. Những năm từ Hàm thông đến Càn phù ông nổi tiếng về thơ thất ngôn luật thi và tứ tuyệt. Cuối đời sống lưu lạc ngoài vùng biên tái, làm Mạc phủ lại cho Thiền Vu Đô hộ Phủ, được nhà thơ Vi Trang là Lại Bộ Thị Lang lúc bấy giờ tấu trình lên nhà vua và được vua ban hàm Tiến Sĩ Cập Đệ. Còn để lại một "La Nghiệp Thi Tập 羅鄴詩集" nổi tiếng với các câu như :

年年点檢人間事, Niên niên điểm kiểm nhân gian sự,
唯有春風不世情。 Duy hữu xuân phong bất thế tình.

Có nghĩa:
Năm năm kiểm điểm chuyện đời,
Chỉ gió xuân chẳng khiến người bâng khuâng!

Thật cảm khái! Mỗi năm kiểm điểm lại chuyện của người đời, thì chỉ có gió xuân là vô tư nhất, thoải mái nhất, mang ấm áp dễ chịu đến với tất cả mọi người không phân biệt sang hèn qúy tiện gì cả ! Nhân còn trong mùa thu, mời đọc thêm một bài thất ngôn tứ tuyệt THU OÁN 秋怨 cũng rất nổi tiếng của ông sau đây:

秋怨                        THU OÁN


夢斷南窗啼曉烏, Mộng đọan nam song đề hiểu ô,
新霜昨夜下庭梧。 Tân sương tạc dạ há đình ngô.
不知簾外如珪月, Bất tri liêm ngoại như khuê nguyệt,
還照邊城到曉無。 Hoàn chiếu biên thành đáo hiểu vô?!

* Chú thích:
- ĐOẠN 斷 : là Đứt, Dứt, Gãy; nên Mộng Đoạn 夢斷 là Mơ nửa chừng bị dứt ngang, là Giật mình tỉnh mộng.
- HIỂU 曉 : là Buổi sáng sớm; Hiểu Phong 曉風 là Gió sớm; Hiểu Ô 曉烏 là Tiếng quạ kêu buổi sáng khi sương xuống.
- ĐÌNH NGÔ 庭梧 : là Cây ngô đồng trồng trong sân nhà.
- KHUÊ 珪 : là một loại ngọc, đá qúy; Ta thường gọi là Cẩm Thạch, có màu xanh có màu trắng. Khuê Nguyệt 珪月 chỉ Vầng trăng sáng như ngọc Khuê màu trắng.
- ĐÁO HIỂU 到曉 là Tới Sáng. HOÀN...ĐÁO HIỂU VÔ 還...到曉無? Là câu Nghi vấn có nghĩa : "Còn... tới sáng không ?"

* Nghĩa bài thơ:
Nỗi Oán Hờn Trong Mùa Thu

Giật mình tỉnh mộng vì nghe tiếng quạ ban sáng đang kêu oang oác bên song cửa sổ phía nam; Nhìn ra thấy sương thu mới của đêm qua còn phủ đầy trên cây ngô đồng trong sân nhà. Không biết rằng ở ngoài bức rèm châu cái vầng trăng tròn vành vạnh như miếng ngọc Khuê kia, cũng soi rọi thâu đêm suốt sáng ở tận mãi xứ biên thành xa xôi đó hay chăng ?!

Trong cảnh nệm ấm chăn êm, chỉ giật mình tỉnh mộng khi nghe tiếng qụa kêu, rồi thấy sương thu mới đang rơi đây trên cây ngô đồng mà xúc cảnh sinh tình rồi ưu tư lo lắng cho người ở tận biên thành xa xôi, không biết cái vầng trăng tròn tỏa ánh sáng ấm áp kia cũng đem cái ánh sáng ấm áp đó mà soi rọi suốt đêm cho người lính thú đang trực canh gác giặc ở tiền đồn hiu hắt đó hay không ?! Khéo là lo lắng ngẩn ngơ, vầng trăng cũng như là gió xuân vậy đến với tất cả mọi người chớ chẳng vị riêng ai cả ! Nhưng đây cũng là tấm lòng của người cô phụ vọng phu, luôn luôn khắc khoải nhớ mong đến kẻ chinh phu ở ngoài biên ải xa xăm vạn dặm.

* Diễn Nôm:
THU OÁN

Tỉnh mộng quạ kêu ngóng cửa song,
Đêm qua sương mới ướt ngô đồng.
Ngoài rèm trăng tỏ như khuê ngọc,
Có chiếu biên thành suốt sáng không ?!

Lục bát:
Qua kêu chợt tỉnh giấc nồng,
Ngoài sân sương phủ ngô đồng đêm qua.
bên rèm lặng ngắm bóng nga,
Suốt đêm có chiếu người xa biên thành ?!

KHÔNG OÁN MÀ OÁN, OÁN MÀ KHÔNG OÁN!

4. THIÊN TÂN KIỀU XUÂN VỌNG 天津橋春望 của UNG ĐÀO 雍陶:


UNG ĐÀO 雍陶(805—?) tự là Quốc Quân 國钧, người đất Bì Đô, đậu Tiến Sĩ năm Đại Hòa. Ông từng giữ các chức vụ Thị Ngự Sử, Quốc Tử Mao Thi Bác Sĩ, Giản Châu Thứ Sử... Ông là bạn thơ của Trương Tịch, Vương Kiến, Giả Đảo ... thuộc phái Giang Hồ Quái Đản. Sống dưới đời Vãn Đường khi vận nước đã suy vi, xã hội ngày một xuống dốc, khi đi dạo đến bên cầu Thiên Tân, nhìn thấy cảnh hoang tàn đổ nát của cung điện ngày xưa, xúc cảnh sanh tình, nên ông đã rất cảm khái mà làm bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt bất hủ nầy.

天津橋春望            THIÊN TÂN KIỀU XUÂN VỌNG

津橋春水浸紅霞, Tân kiều xuân thuỷ tẩm hồng hà,
煙柳風絲拂岸斜。 Yên liễu phong ty phất ngạn tà.
翠輦不來金殿閉, Thuý liễn bất lai kim điện bế,
宮鶯銜出上陽花。 Cung oanh hàm xuất Thượng Dương hoa.
雍陶                         Ung Đào

* Chú thích:
- THIÊN TÂN KIỀU 天津橋 : Cây cầu bắt ngang dòng Lạc Thuỷ từ đời Tuỳ Dương Đế, ở phía nam của thành Lạc Dương, kinh đô trước đây của nhà Đường, thường được gọi là Đông Đô.
- TẨM 浸 : là Ngâm nước, là Chìm trong nước.
- HỒNG HÀ 紅霞 : là Ráng màu đỏ. Ở đây chỉ Ráng Chiều.
- PHẤT 拂 : Có bộ Thủ 扌là Tay bên trái. Nên có nghĩa là PHỦI, như Phất Trần là Phủi bụi, nghĩa phát sinh là Phe Phẩy, Đung Đưa...
- THUÝ LIỄN 翠輦 : là Xe của Vua đi lại trong cung do dê kéo.
- HÀM 銜 : là Ngậm, ở đây nghĩa là THA.
- THƯỢNG DƯƠNG CUNG 上陽宮 : Là một trong những hành cung lớn đời Đường, nằm ở tây nam thành Lạc Dương, do Đường Cao Tôn Lý Trị xây dựng vào năm Càn Phong thứ 2 (667). Lúc bấy giờ Lạc Dương là Đông Đô, vua ngự và nghe việc triều chính ở đây. Năm 705, khi bị Đường Trung Tôn ép phải thoái vị, Võ Tắc Thiên cũng ở cung này cho đến chết. Đường Huyền Tôn cũng từng làm yến tiệc lớn ở trong cung nầy. Nhưng sau loạn An Lộc Sơn (755-763), Thượng Dương Cung bị tàn phá nghiêm trọng, về sau dần dà hoang phế, đến đời Đường Đức Tôn (702-805) thì bỏ phế hẵn. UNG ĐÀO sanh năm 805, nên khi đi dạo đến đây thì Thượng Dương Cung đã bị bỏ phế lâu rồi !

* Nghĩa bài thơ:
NGẮM VẺ XUÂN TRÊN CẦU THIÊN TÂN


Khi ta lên cầu Thiên Tân để ngắm vẻ xuân thì thấy ráng chiều đỏ thắm như in ở dưới nước. Tơ liễu như mây như khói theo gió đung đưa bên bờ sông trong ánh nắng chiều. (Thiên nhiên của mùa xuân thì vẫn đẹp như thuở nào) Nhưng... xe của Vua đã không còn ngự đến nữa, và điện vàng thì đóng kín im ỉm, những con chim oanh cũng bỏ cung mà tha cả những cánh hoa của Thượng Dương Cung bay ra bên ngoài!

Thật cảm khái! Mùa xuân thì cảnh vật mỗi năm vẫn thế, nhưng thời thịnh trị phồn vinh của nhà Đường thì một đi không trở lại! Chẳng những hành cung bị bỏ phế mà chim én, chim oanh cũng đã bỏ đi rồi, lại còn tha cả những đóa hoa của cung Thượng Dương để bay ra ngoài nữa chớ!

Một điều thật thú vị là... Bài thơ nầy thường "bị" hiểu lầm là một bài thơ CUNG OÁN với cách giải thích như sau :
Cảnh xuân đẹp bên cầu Thiên Tân với ráng chiều đỏ thắm, với liễu rũ như tơ ở hai bên bờ, làm cho nàng cung nữ chợt động tình xuân, nhưng xe vua không tới và điện vàng thì luôn khóa kín, khiến nàng càng tủi phận mình hơn khi thấy chim oanh tha một cánh hoa ra khỏi Thượng Dương Cung. Hoa còn được chim tha ra ngoài chớ thân phận của mình biết ngày nào mới được giải thoát cho đây ?!
Qủa là một sự hiểu lầm đầy thi vị !!!...

* Diễn Nôm:
NGẮM XUÂN BÊN CẦU THIÊN TÂN

Thiên Tân bóng nước ráng in hồng,
Tơ liễu mơ màng bên bến sông.
Chẳng thấy xe vua cung khóa kín,
Ngậm hoa oanh nọ vượt tường đông!

Lục bát:
Nước xuân in bóng ráng chiều,
Bên cầu tơ liễu hiu hiu gió lùa!
Điện vàng khóa, vắng xe vua,
Thượng Dương hoa được oanh vừa tha ra!

Ta vừa đọc qua bài Thiên Tân Kiều Xuân Vọng của Ung Đào, một bài thơ hoài cổ cảm khái trước tang thương biến đổi, do vật đổi sao vời mà làm nên, nhưng lại "bị" hiểu lầm là một bài thơ CUNG OÁN, còn bài thơ Thu Tịch của Đỗ Mục là một bài thơ CUNG OÁN thì lại rất ít người phát hiện ra cái OÁN của nó. Nên tôi mới đề tựa cho 2 bài nầy là :"KHÔNG OÁN MÀ OÁN, OÁN MÀ KHÔNG OÁN !" Chuyện văn chương lắm lúc oái oăm, lắt léo mà lại thú vị vô cùng !
Mời tất cả cùng đọc lại bài thơ sau, so sánh nghiền ngẫm để cảm nhận cái hay ho sâu sắc mà lại rất nhẹ nhàng, thi vị của văn thơ !....

5. THU TỊCH 秋夕 của Đỗ Mục 杜牧:


秋夕                           THU TỊCH

銀燭秋光冷畫屏, Ngân chúc thu quang lãnh họa bình
輕羅小扇撲流螢。 Khinh la tiểu phiến phốc lưu huỳnh
天街夜色涼如水, Thiên giai dạ sắc lương như thủy
臥看牽牛織女星。 Ngọa khán Khiên ngưu Chức nữ tinh .

* Chú thích:
- Ngân Chúc 銀燭 : Ngân là Bạc, ở đây là màu Bạc, màu trắng bạc. Chúc là đuốc. Hoa Chúc là Đuốc hoa, ở đây Chúc là cây Đèn Cầy, Cây Nến. Ngân chúc : là Cây Đèn sáp màu trắng bạc.
- Họa Bình 畫屏 : là Bức bình phong có vẽ tranh của các nhà quyền quý thời xưa.
- Khinh La 輕羅 : Khinh là nhẹ, La là Là, Lụa là, là Vải The. Khinh La : là loại vải the nhẹ để làm quạt. Trong bài " Khinh La Tiểu Phiến " : Là chiếc quạt con làm bằng lụa là của các tiểu thơ xưa thường cầm trên tay.
- Phốc 撲 : Là chụp bắt.
- Lưu Huỳnh 流螢 : LƯU 流 là Lưu động, là xẹt. Lưu Tinh : là Sao xẹt. HUỲNH 螢 : là con Đom đóm. Nên LƯU HUỲNH là "Đom đóm đang bay lượn".
- Thiên Giai 天街 : GIAI 街 là đường phố. THIÊN GIAI : không phải là đường phố ở trên trời, mà là đường trong kinh thành, trong cung vua.
- Lương Như Thủy 涼如水 : là Mát như nước.


* Nghĩa bài thơ:
ĐÊM THẤT TỊCH

Ánh sáng lung linh từ ngọn bạch lạp tỏa ra hòa với hơi thu làm cho tấm bình phong đẹp rực rỡ cũng nhuốm hơi lạnh lẽo, nàng phe phẩy chiếc quạt the để chụp bắt những con đom đóm đang lặp lòe bay lượn trong đêm. Đêm đang xuống trong những con đường của Kinh thành, hơi thu mát lạnh như nước trong đêm thanh vắng lặng, nàng ngữa nhìn sao trời để tìm ngắm hai sao Chức Nữ và Ngưu Lang.

* Diễn Nôm:
THU TỊCH

Lung linh nến trắng bình phong lạnh,
Quạt lụa vờn theo đóm lượn thu.
Lấp lánh sao trời trong như nước,
Nằm xem sao Chức gặp sao Ngưu .

Lục bát:
Bình phong thu lạnh se se,
Quạt là nến trắng lặp lòe đóm bay
Trời thu như nước mát thay,
Ngưu Lang Chức Nữ đêm nay tương phùng !


Đêm thu với khí trời trong mát, với đom đóm bay lượn lặp lòe, rồi nằm mà ngắm sao Ngưu Lang Chức Nữ... Rất bình dị và rất nên thơ ! Có ai ngờ được đây lại là một bài thơ Cung Oán!... Này nhé
... Ngọn bạch lạp đặt trên giá bằng bạc, bình phong có tranh họa rực rỡ, rõ ràng là cuộc sống của các vương hầu vua chúa, ta càng xác định hơn với từ Thiên Giai : là đường trong Kinh thành, trong Cung Vua, và ai mới rảnh rổi mà nằm ngắm sao trời ?. Chỉ có những nàng cung nữ nhàn nhã, tội nghiệp trong lãnh cung mới rảnh rổi như thế mà thôi, và... một điểm tâm lý rất quan trọng nữa là, chỉ có những nàng cung nữ với tình xuân phơi phới, với nhựa sống tràn trề, mà phải giam mình trong chốn lãnh cung cô thân chiếc bóng, mới hâm mộ và ước ao được như Ngưu Lang Chức Nữ, mặc dù mỗi năm chỉ hội ngộ có một lần. Một lần, có còn hơn không ! Một số cung nhân may mắn... suốt đời mới gặp được vua một lần ! Lắm cô suôt cả cuộc đời, hết cả thanh xuân, cũng chưa được nhà vua một lần triều kiến... So với Ngưu Lang Chức Nữ thì còn đắng cay chua xót hơn nhiều ! Nên chi, mới ngưỡng mộ và ước ao được như Ả Chức và Chàng Ngưu, chớ còn đối với cuộc sống bình thường, thì có ai lại hâm mộ chuyện tình của Ngưu Lang Chức Nữ bao giờ ? ! Duy chỉ có nàng cung nữ trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều mới ...

Mượn điều Thất Tịch mà thề bách niên.... mà thôi!
"Bách niên" mà chỉ gặp nhau vào đêm "Thất Tịch" hằng năm, thì có ai ao ước mà làm gì!!!

Phải tinh ý lắm, ta mới cảm nhận được cái "Oán" trong bài thơ nầy, vì nó quá nhẹ nhàng và bình dị. Phải chăng cái oán đeo đẳng miên man lâu dần nên đã hòa vào cuộc sống và được chấp nhận như một sự tự nhiên tội nghiệp ! Không như nàng cung nữ của Ôn Như Hầu :

... Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra!...
Khi...
Cái OÁN đã lên đến cực điểm và trở thành bạo động!

Bản thư pháp của Đỗ Chiêu Đức

Hẹn bài dịch tới!
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

Hoài niệm Về Quốc Học Nhân Kỷ Niệm 130 Năm Thành Lập (23-10-1896 --- 23-10-2026)


Các trường trung học thường mang tên một danh nhân như Taberd, Pellerin, Puginier, Pétrus Ký, Chu Văn An, Trưng Vương, Gia Long… nhưng đặc biệt một ngôi trường tọa lạc tại đất thần kinh, biểu tượng cho nền giáo dục quốc gia mệnh danh là Pháp Tự Quốc Học Đường. Trường Quốc Học sánh với danh xưng “Quốc Học Viện” vào đời nhà Trần.

Quốc học, trường trung học đầu tiên của Việt Nam, được thành lập ngày 23 tháng 10 năm 1896 năm Vua Thành Thái thứ 8. Tên trường “Quốc Học” cũng thăng trầm theo vận nước nổi trôi. Năm 1907, chính phủ bảo hộ Pháp đã ép Vua Thành Thái thoái vị và phong Vua Duy Tân lên kế vị. Năm 1916 Vua Duy Tân bỏ kinh thành theo nghĩa quân kháng chiến chống Pháp. Người Pháp phong Vua Khải Định kế vị Vua Duy Tân. Vua Khải Định băng hà năm 1925. Vua Bảo Đại nối ngôi và muốn vinh danh tiên đế nên đổi tên trường Quốc học thành trường Khải Định. Sau năm 1954 trường được đổi tên là Trường Ngô Đình Diệm, nhưng đến năm 1956, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, châu lại về hiệp phố, danh xưng Quốc Học lại trở về với mái trường xưa.

Quốc Học đã đào tạo biết bao nhiêu nam thanh nữ tú phục vụ trong mọi ngành sinh hoạt của quốc gia. Năm nay, lễ kỷ niệm 130 năm (1896-2026) Quốc Học không những sẽ diễn ra tại miền sông Hương núi Ngự, chốn cố đô nghiêm mật mơ màng mà sẽ được cử hành khắp năm châu bốn bể vì ngày nay đâu đâu cũng in hình dấu vết của cựu học sinh Quốc Học.
Nếu quan niệm gặp nhau là một cơ duyên, vào chung trường, ngồi chung lớp là một sự tiến bộ và cùng tốt nghiệp ra trường là một sự thành công thì những cựu học sinh tốt nghiệp Quốc Học đều đã công thành danh toại.

Tôi còn nhớ vào năm 1958, khoảng cuối hè và đầu thu, tôi nạp đơn vào lớp Đệ Tam Quốc Học. Như truyền thống đã định tất cả ứng viên phải trải qua một kỳ thi nhập học. Tôi không nhớ đã thi những môn gì nhưng đây là một loại "contest/concours” đã loại một số học sinh không được nhận vào ngôi trường nổi tiếng nầy.

Năm Đệ Tam là năm học tà tà, dưỡng sức cho năm đệ nhị chuẩn bị xông pha trường thi trận bút. Năm Đệ nhị “tình hình chiến sự” có vẻ gây cấn hơn, chẳng những phải “gạo” bài cho đệ nhất và đệ nhị lục cá nguyệt mà còn phải học kỳ cho kỳ thi Tú tài I cuối năm. Thường thường tôi dùng 2/3 thì giờ để học bài thầy giảng trong chương trình và 1/3 đọc thêm những gì không được giảng dạy nhưng có liên quan đến chương trình như thế sẽ khỏi bỡ ngỡ khi đề thi liên hệ đến kiến thức tổng quát. Cũng theo cách học nầy mà tôi trúng tuyển dễ dàng hai kỳ Tú tài I và II.

Đã khá lâu nên không nhớ rõ hết các đề thi, duy chỉ có hai đề thi có phần lý thú nên khó quên. Đó là đề thi Tú Tài I-1960 về văn chương VN “Con người do ba (3) yếu tố tạo thành: “Địa phương, giống tộc và thời đại, bạn hãy căn cứ vào văn chương thế kỷ thứ XIX để chứng minh câu nói trên”. Đề thi nầy phỏng theo đề thi “Dissertation littéraire “, kỳ thi BAC I tại Paris, thập niên 1950, về văn chương Pháp, thế kỷ thứ XIX mà tôi đã có dịp đọc qua luận văn bằng Pháp ngữ, chỉ khác là thay vì luận về văn chương Pháp thì luận về văn chương Việt Nam thế kỷ thứ XIX. Nền giáo dục Tây phương có ưu điểm là thường in lại các đề thi và bài giải về văn học, triết học cũng như toán học... khoa học của các kỳ thi trong quá khứ để giúp học sinh tự luyện thi. Nền giáo dục Việt Nam thời bấy giờ chưa đạt đến trình độ đó.

Khi còn học lớp Đệ Tứ, tôi và vài người bạn khác như thường mở các đề toán Géométrie và Algèbre trong sách hoc trò (Livre de L’Élève) ra làm thử. Bài nào không giải được thì mở sách của thầy (Livre du Maître) ra xem bài giải. Cứ như thế mà giải hết các bài trong sách của Gs Bossé thì rất dễ dàng giải quyết các nan đề trong phòng thi.

Đề thi triết Tú tài 2-1961 cũng rất gọn gàng và dễ nhớ “Vai trò của trí tuệ trong tri giác ngoại giới”. Trong cả hai trường hợp, đọc qua đề thi thì hình như dàn bài đã có sẵn trong trí, tôi viết một mạch 3 giờ liền, đọc lại và nạp bài, ra khỏi phòng thi, thấy rất thoải mái vì chẳng những không “bí” mà còn viết thao thao bất tuyệt, tự biết thế nào cũng “dính”.

Tuy vậy, những lần đi nghe xướng danh cũng rất hồi hộp. Cái hồi hộp lý thú của tuổi học trò. Những năm học ở trung học thi cử liên miên khiến cho học sinh phải lo âu thường trực. Càng lo âu thì càng dễ trở nên thất vọng. Có người không chịu nổi cái “đệ nhất buồn là cái hỏng thi” nên phải quyên sinh. Học chế của mình kể ra cũng khắc khe. Cô, thầy thì nghiêm khắc vì “Giáo bất nghiêm thì sư chi đọa”. Bài vở phần lớn học thuộc lòng, vận dụng trí nhớ nhiều hơn suy luận. Chúng ta thường nghe nói: “gạo như gạo vạn vật…”

Bây giờ thì tất cả đều quá vãng, có còn lại chăng chỉ dư âm thôi!

“Thôi đã xa rồi vạn gót hương
Của người đẹp đến từ muôn phương
Xa rồi những bước không hò hẹn
Đã bước trùng nhau một nẻo đường”

Nẻo đường Quốc Học của thời niên thiếu vẫn luôn luôn chập chờn trong trí tưởng với hình ảnh của con sông xưa, thành phố cũ.

“Áo em lụa trắng sông Hương
Qua đò Thừa Phủ nhớ thương rạt rào”

Nỗi nhớ, niềm thương đó vẫn canh cánh bên lòng như bản nhạc vàng ru trọn đời mình. Dù vì quốc biến nên ”Có những người đi không về. Xa xôi rồi quên ước thề”!

Cụ Ngô Đình Khả (1857–1923)

Hoài niệm về trường xưa, bạn cũ không chỉ là hoài niệm đơn thuần tình cảm mà còn tiềm ẩn tinh túy của Quốc học là những gì lưu lại sau khi đã quên hết “La culture (de QH) c’est ce qui reste après on a tout oublié”. Xuất thân từ Quốc Học cũng như xuất thân từ cửa Khổng sân Trình. Con người hấp thụ được tinh hoa của cổ và tân học. Nếu con người do ba yếu tố tạo thành: Hoàn cảnh, Thời đại và Giống tộc thì Quốc học đã là hoàn cảnh, là môi trường tốt cho cựu học sinh triển nở, khiến cho nam thanh, nữ tú hàng hàng lớp lớp từ thế hệ này sang thế hệ khác xuất thân từ ngôi trường thân thương nầy và đã trở thành biết bao anh tài cho Tổ quốc. Cái tinh hoa của nền Quốc Học là ngoài khả năng, kiến thức tổng quát, cựu học sinh được bồi dưỡng tinh thần bằng niềm hãnh diện về trường xưa, bạn cũ và quan niệm về giáo dục qua phong cách giảng dạy, lối sống và triết lý giáo dục của nền quốc học Việt mà một vị Nho sĩ, Cụ cố Ngô Đình Khả, đã được bổ nhiệm nhậm chức Chưởng Giáo đầu tiên của Quốc Học.

Triết lý giáo dục nhân bản nhằm chủ đích không những làm cho con người giỏi giang hơn (trí dục) mà còn làm cho con người sống cao thượng hơn (đức dục). Ngày nay học tập để ngày mai giúp đời. Giúp đời chứ không chỉ biết vinh thân phì gia. Nguyễn Du Tiên sinh rất hữu lý khi nói lên triết lý hành động qua lời Từ Hải:

“Phong trần mài một lưỡi gươm.
Những loài giá áo túi cơm sá gì”.

Lưỡi gươm đây còn mang ý nghĩa là đem sở học và sự hiểu biết để phụng sự nhân quần xã hội, sửa trị những sự việc trong xã hội cho chính trực như tinh thần Nguyễn Công Trứ

“Trong lăng miếu ra tài lương đống.
Ngoài biên thùy rạch mũi can tương”.

Lợi ích của sự giáo dục là để phát triển kiến thức về luân thường đạo lý (đức dục) và kiến thức chuyên môn (trí dục). Nền quốc học chủ trương “Tiên học lễ hậu học văn” chú trọng đến sự phát triển con người toàn diện về cả ba khía cạnh đức dục, trí dục và thể dục, cốt đào tạo những người có đức hạnh, trí óc sáng suốt, có liêm sỉ, để cải taọ xã hội chính trị, hơn là chỉ chú trọng đào tạo những người có kiến thức chuyên môn như nền giáo dục Tây phương.

Nhận chân được khuyết điểm là có khoa học mà vô lương tâm chỉ đem lại phiền não, bại hoại tâm hồn. “Science sans conscience n’est que ruine de l’âme”, ngày nay nhiều đại học ở Tây phương tìm cách nhân văn hóa các chương trình khoa học bằng cách đưa các môn triết học, nhân chủng, xã hội, đạo đức, tâm lý… vào khóa học để giúp sinh viên tốt nghiệp sẽ trở nên con người toàn diện, có thêm kiến thức tổng quát (general education) hiểu người, biết mình hơn chỉ là con người kỹ thuật, máy móc (robot).

Sự học tô điểm cuộc đời, giúp chúng ta khám phá những kỳ hoa dị thảo trong vườn hoa kiến thức của nhân loại. Càng hiểu biết con người càng trầm tĩnh, ít lo âu, ít hoảng hốt, tâm bớt động và nhờ đó thái độ được trầm tĩnh và tránh được lầm lẫn hay sợ sệt:

(1) Ít lo âu vì nhận diện được vấn đề và biết cách ứng phó đúng với câu “Khi vui đến thì hãy vui mà chớ kiêu căng, tự phụ, khi tai họa đến thì phải suy nghĩ mà chớ buồn phiền” Chính nhờ sự suy nghĩ mới có thể mưu sinh thoát hiểm thay vì buồn phiền sẽ sinh ra nản chí và thất bại.

(2) Tránh được lầm lẫn là nhờ khả năng nhận biết phải trái, phân rõ trắng đen qua kinh nghiệm giải quyết sự việc của tiền nhân và của người đương thời. Ngày nay khoa quản trị học (management science) đào tạo những chuyên viên quản trị biết kỹ thuật tổ chức, điều hành và phương pháp giải quyết vấn đề. Tiêu chuẩn phán xét phải, trái, không hẳn do ý kiến của một cá nhân, vì ý kiến cá nhân có khi lầm lẫn. Do đó ý kiến đúng hay sai phải là ý kiến của đa số trong một hoàn cảnh và thời gian nào đó. Tiêu chuẩn đúng sai do đa số quyết định “What is right or wrong being determined by the will of the majority” (John Locke, Treatises on Civil Government – 1679). Ý kiến của đa số hay là ý chí chung có thể được tham khảo qua nhiều phương thức hoặc do phong tục tập quán lấy ý kiến chung ở chốn đình trung, hoặc do biểu quyết, hay trưng cầu dân ý qua lá phiếu.

(3) Ít sợ sệt vì hiểu được vấn đề, không lo ngại và chấp nhận dấn thân mà không e dè sợ sệt, hùng tâm dũng chí. Nho giáo giúp con người trưởng thành về trí tuệ bằng kiến thức xuyên thế hệ (transgenerational), kinh nghiệm cổ nhân lưu lại qua sử sách.

Với ba đặc điểm ít lo âu, tránh lầm lẫn, ít sợ sệt; người khôn ngoan thường nhận xét sự việc một cách khách quan, theo lẽ phải hơn là thiên kiến. Để đạt đến tính cách khách quan, sự nhận xét phải có tính cách vô ý, vô tất, vô cố và vô ngã:

(1) Vô ý: không khư khư theo ý riêng của mình mà phải chấp nhận bàn bạc để tìm ra lẽ phải và làm theo lẽ phải để tạo sự đồng thuận trước khi thi hành công tác. “Discussion is the anvil upon which the spark of the truth is struck”. Tiếp xúc cá nhân, chia sẻ và đối thoại là phương thức để tìm ra lẽ phải.
(2) Vô tất: Đừng vội quyết đoán là công việc làm được hay không làm được mà phải tạo cơ hội để thực hiện mới biết dễ hay khó. Không nên chủ quan bác bỏ ý kiến của người khác theo nhãn quan thiển cận của mình mà phải biết chấp nhận thử thách.
(3) Vô cố:Không nên cố chấp, nệ cổ mà phải biết chấp nhận sáng kiến.
(4) Vô ngã:Cái tôi là đáng ghét (le moi est haissable) đừng vì quyền lợi cá nhân hay phe phái mà sinh ra mù quáng, nhìn bạn thành thù, nhìn thù thành bạn, lộng chân thành giả, lộng giả thành chân.

Bốn phương cách xét định công việc nêu trên giúp chúng ta đạt được sự chánh ý trong vấn đề suy luận và phát biểu nhằm giảm sự xung khắc về tư tưởng và hành động. Dụng đích của sự học không những để gia tăng sự hiểu biết mà còn giúp phát triển các đức tính khác như Đức Khổng Tử đã giáng cho Tử Lộ sáu điều tai hại của sự thất học:

(1) Người ham điều nhân mà không học thì bị cái hại là ngu muội
(2) Người ham đức trí mà không học bị cái hại là phóng đãng.
(3) Người trọng chữ tín mà không học thì có hại là dễ bị lừa gạt.
(4) Người thích sự ngay thẳng mà không học thì hóa ra nóng nảy.
(5) Người dũng cảm mà không học thì hoá ra phản loạn.
(6) Người cương quyết mà không học thì hóa ra cường bạo.

Giáo dục không chỉ là học từ chương trích cú để lãnh được mảnh bằng theo sách vở mà phải biết suy luận, áp dụng kiến thức vào những hoàn cảnh khác nhau vì mỗi hoàn cảnh đòi hỏi một phương cách riêng để giải quyết vấn đề. Do đó” tri và hành phải hợp nhất”. Học mà không biết đem sự hiểu biết áp dụng vào đời sống thì kiến thức đó hoàn toàn vô dụng, cho nên Luận Ngữ có câu:

“Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ”.

Học mà đem ra áp dụng được thì chẳng phải vui lắm sao! Tham gia chiến trận khi quôc gia lâm nguy, thực hiện các công tác sinh hoạt xã hội, chính trị, văn hoá, kinh tế, y tế, giáo dục khi thái bình….đều là những cơ hội học hỏi chứ không phải chỉ đến nhà trường mới gọi là học. Theo thầy Tử Lộ thì “Cai trị nhân dân, cúng tế thần đất đai, mùa màng, thì cũng là học, hà tất phải đọc sách rồi mới gọi là học”. Quan niệm này rất hữu lý và tiến bộ vì ngoài lối học sách vở, còn phương pháp huấn luyện OJT (On the job training) ngày nay rất thịnh hành tại các nước tân tiến.

Muốn học hỏi trước tiên phải:

(1) Khiêm nhường và phục thiện Những người kiêu căng, chỉ biết nói và không biết nghe thì không học hỏi gì được. Khiêm nhường tức là hỏi người dưới không lấy làm thẹn “Bất sỉ hạ vấn”.
(2) Có thiện chí tìm hiểu hỏi han. Đức Khổng Tử nói: “Người nào không hỏi phải làm sao? phải làm sao? thì ta cũng chẳng có cách nào chỉ bảo cho được. Kẻ nào không hăng hái muốn hiểu thì ta không thể giúp cho hiểu được, kẻ nào không tỏ ý kiến thì ta không thể giúp cho phát biểu ý kiến được. Ta vén lên cho một góc mà chẳng tự tìm được ba góc kia thì ta không giảng cho thêm nữa”.

Thế thì giáo huấn cũng còn tùy người, tùy tánh nết, tùy trí tuệ, tư cách của mỗi người, cũng như may áo, tùy kích thước của mỗi người." Cưỡng bách giáo dục tại một số quốc gia tân tiến thường đến lớp 9 (đệ tứ) hoặc lớp 12 (đệ nhất) phần học còn lại là do thiện chí muốn tiếp tục sự học. Phương pháp giáo huấn tùy người có từ trên 2000 năm về trước, ngày nay nhiều đại học đang áp dụng các chương trình giáo dục “University without wall” và các chương trình “Non-traditional” tức là cá nhân hóa chương trình cho phù hợp với sở trường thực dụng của mỗi cá nhân. Con người được thọ tạo như những viên ngọc quý. Nhưng ngọc bất trác thì bất thành khí, hay như những cây gỗ qúy, nhưng nếu không biết trau dồi học hỏi thì gỗ quý sẽ biến thành gỗ mục, mà “Gỗ mục thì không chạm khắc gì được, cũng như vách bằng đất bùn thì không tô vẽ gì lên được”.

Phương pháp học hỏi hữu hiệu là vận dụng tri giác (thu nhận kiến thức qua giác quan – perception) mà nghe và thấy là hai giác năng quan trọng nhất giúp con người thu nhận ngoại giới. Do đó, cổ nhân khuyên là “Nên nghe cho nhiều, điều gì còn nghi ngờ thì để đó, tìm hiểu thêm. Điều gì biết rõ ràng, chắc chắn thì nên nói, nhưng nên nói một cách ôn tồn.” và “Nên thấy cho nhiều, những gì chưa được rõ thì để đó đừng làm, còn những gì biết rõ thì cũng phải làm một cách cẩn thận như vậy sẽ ít phải ăn năn”.

Trong thiên hạ thường có 4 hạng người:

(1) Không ai dạy mà biết được đạo lý là hạng ưu tú – Sinh nhi tri chi giả, thượng dã – Đó là hạng người thông minh vốn sẵn tính trời, là hạng ưu việt.
(2) Học rồi mới biết là hạng trung – Học nhi tri chi giả, thứ dã – gồm đa số khoa bảng, chuyên viên.
(3) Dốt mà chịu học là bậc thấp – Khốn nhi học chi, hữu kỳ thứ dã – là những thành phần hiếu học để thăng tiến.
(4) Dốt mà không chịu học là hạng cuối cùng của xã hội – Khốn nhi bất học, dân tư vĩ hạ hỉ – Hạng thứ tư nầy đa số bất cần đời, sinh lộn kiếp. “Cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu?”

Tại Hoa Kỳ người ta cũng thường đề cập đến ba hạng chuyên viên:

(1)-Hạng chuyên viên ưu tú thường nêu ra sáng kiến, phát minh. “Professionals with great minds talk about ideas”
(2)- Hạng chuyên viên trung bình thường bàn về những chuyện đang xảy ra “Professionals with average minds talk about current events”; và
(3)- Hạng chuyên viên thường hay bàn chuyện người khác.” Professionals with small minds talk about people”.

Dù thuộc loại chuyên viên nào chăng nữa, trong một ngày mình nên xét ba điều:

(1) Mình giúp ai việc gì, có giúp hết lòng không?
(2) Mình giao du với bạn bè có giữ được chữ tín không?
(3) Mình có học hỏi thêm điều gì mới mẻ trong ngày không?

“Mỗi ngày biết thêm điều mình chưa biết, mỗi tháng không quên những điều mình đã biết như vậy là biết học rồi đó”. Nhưng cũng nên biết rằng ”Biết học không bằng ham học và ham học không bằng vui mà học”. “Nếu mình yêu thích công việc mình làm, thi xem như cả đời không làm gì hết “!

Diễn trình giáo dục là diễn trình thu nhận kiến thức, tinh luyện suy luận và phát triển sáng tạo. Tuy vậy, đó chỉ mới là giai đoạn đầu hay nói khác đi là giai đoạn “cách vật chí tri”, hiểu biết sự việc ngoại giới mà chứng chỉ, bằng cấp là biểu tượng cho giai đoạn này. Nếu đến giai đoạn này rồi tự thỏa mãn và ngưng học hỏi, tu thân, thì chỉ là hiểu biết vòng ngoài, nghĩa là mới thu nhận được kiến thức ngoại giới nhưng chưa đạt đến trình độ “Thành tâm, chánh ý, tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ”.

Kiến thức thu nhận được ở nhà trường từ tiểu học đến đại học chỉ là kiến thức căn bản ai cũng có thể học được miễn có thì giờ và phương tiện để trở thành chuyên viên. Đó là sự thực, vì nhìn vào xã hội chúng ta thấy sinh đồ càng ngày càng đông và trường học càng ngày càng nhiều.

Học để hiểu biết và hiểu biết hơn về một ngành chuyên môn để trở thành “chuyên viên” (professional) là điều tốt, nhưng nếu chỉ để “mong an nhàn, sống lâu giàu bền’, còn việc nước việc cộng đồng, xã hội, aí hữu, không thèm nghĩ đến thì chưa đạt đến trình độ “Trí thức”.
Để đào luyện (formation) trí thức, triết lý giáo dục nhân bản của nền Quốc Học không ngưng lại ở mức độ thu nhận kiến thức chỉ để trở thành chuyên viên mà còn tiến đến chủ đích làm cho con người trở nên cao thượng hơn:

“Thương vị đức, hạ vị dân”.

Phối hợp đạo lý làm người và kiến thức để giúp đời, là dấu chỉ của người trí thức, của kẻ sĩ. Cụ Nguyễn Công Trứ đã từng quan niệm:

“Kinh luân khởi tâm thượng,
Binh giáp tàng hung trung.
Vũ trụ chi giai ngô phận sự.
Nam nhi đáo thử thị hào hùng”.

Khi quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Kẻ sĩ không phải là hạng người ngồi khoanh tay khi sơn hà nguy biến!

Phải chăng Quốc Học là trường xây dựng nền tảng cho nền Việt học, phối trí giữa kiến thức và tâm đạo. Kiến thức có thể diễn tả qua tư tưởng, kỹ thuật, phương trình, công thức… còn tâm đạo được thể hiện qua tinh thần đạo đức, lương tâm chức nghiệp của quý Thầy, quý Cô.

“Kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành”. Với lương tâm chính trực, tận tụy của quý Thầy, quý Cô, học sinh đương nhiên vì mến Thầy, thương Cô mà học không phải vì Thầy la, Cô mắng.

Một khi xuất thân từ Quốc Học, học sinh đều thành danh phụng sự xã hội với tinh thần Nhân, Trí, Dũng: Phối hợp được lòng nhân ái, tâm đạo, kiến thức và nghị lực, quả cảm để xây dựng cộng đồng xã hội, quốc gia dân tộc.
Dù tha hương, sống nơi góc bể chân trời, nhưng đến ngày kỷ niệm Quốc học năm thứ 130 (1896- 2026) chúng ta vẫn hướng về mái trường thân thương nơi con sông xưa thành phố cũ, ngâm khúc hoan ca:

“Trường xưa lưu mãi bóng hình.
Trăm năm Quốc Học hiển vinh muôn đời”.

Trần Xuân Thời

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2026

Thục Nữ - Thơ: Nguyễn Tất Nhiên - Phổ Nhạc Nguyễn Tuấn - Trình Bày: Duy Linh


Thơ: Nguyễn Tất Nhiên
Phổ Nhạc: Nguyễn Tuấn
Trình Bày: Duy Linh

Chiều


Chiều nghiêng nửa chiếc lá vàng
Mắt đêm chìm lặng sau hoàng hôn buông
Nhìn lên ngó xuống chặng đường
Thấp cao trôi ngược bình thường trôi xuôi

30.9.2026
Phong Tâm
(Ảnh chụp trước nhà mình)

Gọi Gió Quạt Mây

   

Ta ngồi gọi gió quạt mây
Lay ngày tháng rụng cuốn bay muộn phiền…
Từ xuân xanh mộng lá duyên
Hạ sang phượng đỏ trải miền tâm tư
Từ yêu hoa nắng vàng thu
Bâng khuâng nhặt lá sầu dư lối buồn
Hồn nhiên hồng phấn dịu hương
Ngày khoe nhan sắc, đêm buông lệ lòng
Song thưa len gió sớm đông
Thu chưa ra ngõ… tình hồng nhạt phai
Tiếng thơ canh vắng thở dài
Tiếng ai trở giấc đợi ngày mai sang.

Thơ & Hình Ảnh: Yên Dạ Thảo
27.09.2026

Hãy Đón Pháp Đi

 

Này người ơi
Sao còn sống trong mơ hồ
Kìa nhân gian
Danh lợi chỉ hư vô.
Được và mất thoáng sớm chiều
Mà sao ta vẫn cứ khổ nhiều
Còn sân si, và luôn ghét ganh đố kỵ mãi thôi.
Kìa hào quang Pháp Luân
Đã chiếu sáng ngời giữa trời
Độ nhân thế, thoát bao trầm luân tử sinh.
Cứu độ mình,
cứu độ người
Hãy đừng lỡ cơ duyên - hỡi bạn ơi
Người cùng đến với tôi
Hãy đón Pháp đi thôi
Một đời mãi vui bình yên.

Nguyễn Gia Khanh

Qua Cầu Đánh Rơi!



Trong những thể điệu dân ca Việt Nam, tôi thích nhất dân ca quan-họ!
Theo Wikipedia, cùng với “ cung đình Huế “, “ chiêng trống cồng “ Cao nguyên, ca trù, dân ca quan-họ đã được Unesco công nhận là di sản văn hóa (2009) .

Điệu dân ca này, tuy khai sinh và phát triển ở vùng Kinh Bắc ( ắc Giang, Bắc Ninh) nhưng khi nói đến quan – họ là người ta nghĩ ngay đến Bắc Ninh. Vì quan-họ là thơ, thơ phổ nhạc. Cho nên không lạ gì khi vua “ thơ mới “(1932 ..) Thế Lữ và hoàng đế kịch thơ Hoàng Cầm đều là người Bắc Ninh.

Có hai loại dân ca quan-họ :truyền thống ( gọi là chơi quan-họ ) , trong đó , liền anh và liền chị đối đáp nhau , không nhạc đệm và chỉ thu hẹp giữa một số “ khán giả “
« cách tân « / chữ của tôi / ( gọi là hát quan họ ) , trong đó có đơn ca, song ca, hợp ca … với sự phụ họa của các nhạc sĩ .

Bài hát quan - họ phổ biến nhất ở miền Nam, trước 7 , là “Qua cầu gió bay “ mà tôi nghĩ là ai ở thế hệ chúng ta cũng đều nghe qua:

“ Yêu nhau / cởi áo / ối à cho nhau
Về nhà / dối rằng cha dối mẹ a à a á a
Rằng a ối a qua cầu / Rằng a ối a qua cầu
tình tình tình gió bay / tình tình tình gió bay

Yêu nhau / cởi nhẫn / ối à cho nhau
Về nhà / dối rằng cha dối mẹ a à a á a
Rằng a ối a qua cầu / Rằng a ối a qua cầu
tình tình tình đánh rơi / tình tình tình đánh rơi

Yêu nhau / cởi nón / ối à cho nhau
Về nhà / dối rằng là cha dối mẹ a à a á a
Rằng a ối a qua cầu / Rằng a ối a qua cầu
tình tình tình gió bay / tình tình tình gió bay “

Tôi không hiểu bài hát , nguyên văn là thế , hay “ sau này “ người ta thêm lời vào ? Nói “ sau này “ là tôi muốn nói thời Pháp thuộc . Trước đó , người Viêt ta không đeo nhẫn .

Nếu gọi là ca-dao thì chắc chỉ có 2 câu đầu (?): “ Yêu nhau cởi áo cho nhau / Về nhà mẹ hỏi : - “ qua cầu gió bay “. Bởi , nếu là 6 câu ( cởi áo / cởi nhẫn / cởi nón ) thì chúng không vần nhau , không phải lục-bát . Mà chỉ là ..'' chùm ''(!): chùm “ lục bát  , theo cách gọi của mấy “ bố “ ưu -diệt

Bài hát quan-họ này , theo tôi , là bài hát của các nàng . Do cái câu “ về nhà mẹ hỏi “ . Chứ đàn ông mà “ về nhà má hỏi “ thì … quê cui quá!

Không biết ai là tác giả 6 câu hát nhưng cái thứ tự xuất hiện của chúng trong bài thơ , không “ logique “ gì mấy !

Cái nhập đề “ yêu nhau “ thì không chê vào đâu. Có yêu nhau trước thì mới có màn hứa hẹn, thề thốt với nhau  ''anh hứa yêu em trọn một đời'' / Trần thiện Thanh) . Có tin nhau rồi ( đúng hơn là nàng tin chàng ) thì mới “ cởi áo cho nhau “ (cởi một mình lâu quá!?) . Mà đã cởi áo cho nhau rồi thì cởi đến cái gì mà chả được? Hà cứ gì phải cái nón mà không là cái … khác? Bởi nón thì (dường như) , ngày xưa (trước khi Tây vào) ngoài Bắc , chỉ có người phụ nữ  thôn nữ) đội (nón quai thao, … ) chứ cánh đàn ông nông dân thì (dường như) không (?)

Nói đến cởi, người ta nghĩ ngay đến ..vải vóc, mặc dầu có nhiều thứ để cởi ra. Người miền Nam nói “cởi áo” nhưng “ tháo nhẫn” và “ dỡ (lột ,cất .. ) nón “, tôi chưa nghe ai nói “cởi nón” bao giờ.

Như thế, cởi nhẫn, cởi nón, có thể, được thêm vào để bài hát dài hơn tí. Thời đại này , nếu muốn “ câu giờ “ , ta có thể thêm “ cởi lắc “ , “cởi xắc “ hay, chắc ăn nhất, : “ lột ..ví ối a cho nhau “ thì đó mới là " yêu nhau " chân thật!
…………………….
Cô Jenna Evan , 29 tuổi, cư dân San Diego, và hôn phu Bobby Howell, thì, dù đã đính hôn, không biết có “cởi áo cho nhau “ chưa ('' anh chưa thi đỗ thì chưa động phòng''?) nhưng cởi nhẫn thì có. Có điều Jenna không cởi nhẫn mình cho Bobby, mà cô cởi nhẫn cho vào … miệng, nuốt luôn. Chẳng phải vì Bobby, sau khi cãi nhau, đòi lại chiếc nhẫn 122 ly?, mà Jenna, bắt chước theo một câu thơ Xuân Diệu (nhẫn … cho đi không lấy lại bao giờ ), “ chơi “ vào miệng cho chắc ...''ăn''

Bản tin trên tờ Hoa Thịnh Đốn thời báo (ngày 16/9/2019) cho biết (*): chả là Jenna nằm mơ, thấy mình và Bobby đang chạy trốn một bọn cướp trên một chuyến xe lửa. Vì sợ bọn côn đồ cướp nhẫn, Bobby bảo Jenna “ em nuốt đi cho chắc ăn “. Và cô … nuốt! Đến đây thì cô giật mình tỉnh giấc, nhìn lại trên tay thì chiếc nhẫn đã không cánh mà bay!

Sáng hôm sau, 2 đứa “ cởi nhẫn cho nhau “ mang nhau ngay vào một trung tâm cấp cứu. Rọi quang tuyến X thì thấy chiếc nhẫn kim cương “ như con mèo ngáy ngủ trong “ .. bao tử chủ nhân!
Thay vì để chiếc nhẫn tự động thoát ra theo ngõ.. bài tiết, vị Bác sĩ khám, đã lấy nó ra bằng đường miệng . Có thể chứ, nhẫn đính hôn chứ phải nhẫn cầm đồ đâu, vào cửa chánh thì phải ra cửa chánh, ai lại cửa hậu (?) “ đi .. cầu đánh rơi “ bao giờ?!

Không biết chàng Bobby thì sao chứ tôi mà là chàng, tôi không an tâm tí nào cả. Tưởng tượng đêm đêm nằm ngủ kế bên môt người mà nằm mơ thấy nuốt nhẫn thì tháo nhẫn ra nuốt thật, mà lạnh cả người.

Kiểu đó, rủi mai mốt nằm mơ, thấy đi bắt ghen rồi “ cắt … người trong mộng “ thật, thì có phải là chết cả cuộc đời một cách vô duyên, lãng nhách không?!

Chả nhẻ "em vô giường em , tôi giường tôi"?!

BP
20190925
(*)

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2026

Lễ Tạ Ơn - Oratoire St Joshep Montreal - Nhiếp Ảnh Gia Vũ Ngọc Hiến


Nhân Lễ Tạ Ơn
Em xin thân tặng anh chị Vĩnh Chánh cùng quý anh chị em là Con của Chúa.

Kính

Nhiếp Ảnh Gia Vũ Ngọc Hiến

Thu Đã Về Đây

 

Thơ & Thơ Tranh: Tạ Quang Tuấn


Kiếp Thu

  

Ta ví ta như ngọn gió thu
Đêm se se lạnh thổi sương mù
Nửa khuya trở giấc cơn mơ tỉnh
Mơ dáng sông hồ trong mộng du...

Lòng Thu xao xuyến buồn chi lạ
Lơ lững cành đào giữa bão giông
Gom nhặt tro tàn vùng kỷ niệm
Bao nhiêu niên kỷ lạnh trong lòng !

Nàng Thu ve vuốt những đài hoa
Tô thắm môi em sắc mặn mà
Bởi nắng hạ vàng oi bức quá
Thiêu mòn thân xác tháng ngày qua...

Thu trải niềm riêng với thế gian
Trăng thu vằng vặc giữa mây ngàn
Cho Thu hò hẹn cùng trăng gió
Mai mối đem Thu đến gặp chàng

Thu đang hạnh ngộ với chàng đây
Mái tóc bồng bềnh tựa khói bay
Dáng dấp phong trần đời nghệ sĩ
Ưu tư trăn trở ...dáng hao gầy

Thu ôm ấp mãi bóng hình ai
Sầu lắng từng canh, giọt vắn dài
Cho sắc Thu buồn theo nỗi nhớ
Bởi Thu nào phải liễu trang đài !

Hồn bướm mơ tiên...ôi ảo vọng
Ước mơ, mơ ước chỉ hoài công
Vì Thu như kiếp sương rơi rụng
Là ánh chiều tàn...giữa nắng đông...

nguyễn phan ngọc an 
thu 2026

Hữu Nhân Dạ Phỏng 友人夜訪 - Bạch Cư Dị (Trung Đường)



Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, 9 tuổi đã hiểu âm vận, mười lăm tuổi đã bắt đầu làm thơ. Ông chủ trương thơ phải gắn bó với đời sống, phản ánh được hiện thực xã hội, chống lại thứ văn chương hình thức. Ông thường nói: "Làm văn phải vì thời thế mà làm... Làm thơ phải vì thực tại mà viết, mục đích của văn chương là phải diễn đạt tình cảm của nhân dân”. Thơ ông mang đậm tính hiện thực, lại hàm ý châm biếm nhẹ nhàng kín đáo. Họ Bạch chủ trương thơ ca phải giản dị để dân chúng đều hiểu được; tình cảm, tư tưởng phải giàu tính nhân dân, nói được nỗi lòng của mọi người trước thế sự. Thơ ông rất trữ tình. Khi ông bị đi đày từ Tràng An đến Tây Giang, ba bốn ngàn dặm, dọc đường thấy trường học, chùa chiền, quán trọ, hồ sen… đều có đề thơ của mình.


Lời phi lộ

Mời các bạn giao hoan với một con yêu tinh, tuy chỉ được cấu tạo bởi 20 chữ, nhưng có đầy đủ các yếu tố hấp dẫn để thu hút khách làng chơi:
— Có thềm cao, chiếu đẹp, gió mát.
— Có thông vi vu, rượu nồng ấm, trăng sáng soi.
— Chưa đù hấp dẫn ư?
— Vậy thì cộng thêm cố nhân cho vui vẻ mọi bề!
Hay vô cùng! Thoạt nhìn cứ tưởng tục; nhưng nó thanh hơn cả một thiếu nữ “thanh” nhất:

Nguyên tác     Dịch âm

友人夜訪         Hữu Nhân Dạ Phỏng

簷間清風簟 Thiềm gian thanh phong điệm
松下明月盃 Tùng hạ minh nguyệt bôi.
幽意正如此 U ý chính như thử,
況乃故人來 Huống nãi cố nhân lai.

Dịch thơ

Người Bạn Đến Thăm Đêm

Chiếu, thềm cao, gió mát.
Thông, rượu, trăng sáng soi.
Thâm ý rõ như thế,
Huống cố nhân đến chơi./.

Lời bàn

Đây là nét súc tích điển hình của ngũ ngôn tứ tuyệt, súc tích đến độ cô đọng. Bài dịch phải sử dụng 5 dấu phẩy (,) 2 dấu chấm (.) và một dấu chấm hết (./.) để diễn đạt gẫy gọn ý của nguyên bản. Nói cách khác, đây là một bài thơ Đường dịch ra chữ Quốc-ngữ chứ không phải dịch ra chữ Nôm (chữ Nôm không có dấu).

Con Cò
***

Bạn Đến Thăm Đêm.

Trên thềm gió chiếu manh,
Chén rượu trăng thông xanh.
Nhàn nhã nào hơn được.
Còn thêm bạn suốt canh.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Oct. 3/2026.
***
Có bạn đến thăm trong đêm

Gió mát hiên nhà với chiếu manh
Bóng tùng chén rượu ánh trăng thanh
Lòng vui thanh thản nơi yên tịnh
Tri kỷ đến chơi bạn chí thành.

Thanh Vân
***

Tri kỷ thăm đêm

Hiên cao, chiếu, gió mát.
Tùng hạ, rượu, trăng rằm
Thế đó thanh nhàn thú
Huống chi bạn cũ thăm

SongThất Lục Bát :

Trên thềm cao chiếu tre gió mát
Dưới tàn thông rượu bát trăng rằm
Như thế đó, thanh nhàn tâm
Huống chi bạn cũ tới thăm rỡ ràng!

Lộc Bắc
Oct26
***
Có Bạn Đến Thăm

Thềm nhà gió mát hiu hiu,
Bóng tùng soi chén trăng khêu rạng ngời
Nhẹ nhàng lòng cảm thảnh thơi
Bạn cũ ghé đến niềm vui dâng trào.

Kim Oanh
***
Chữ Thiềm, cũng có âm Diêm, là cái vành, như vành nón, hay mái hiên nhà.
Chữ cuối câu đầu là chữ Điệm, cái chiếu, không phải Đạm. Nhờ Lộc Bắc sửa giùm.(đã sửa.tk)
U là tối tăm, cõi âm, sâu kín. U Ý là ý ở trong lòng.
Huống nãi là huống chi, huống hồ. Hai chữ này làm tăng thêm ý của câu trên: trước hiên nhà, gió mát, trải chiếu ngồi, dưới cây tùng, trăng sáng, có ly rượu. Thâm ý của ta là hưởng nhàn nhã, nhưng cô đơn, huống chi có bạn cũ tới (thì vui hơn nhiều)
Bài thơ ngũ ngôn quá cô đọng, Bát Sách dịch không nổi theo nguyên tác, đành dùng thất ngôn :

Đêm Bạn Đến Thăm

Hiên nhà trải chiếu, gió nhẹ qua,
Trăng sáng dưới tùng, rượu rót ra,
Thâm ý trong lòng đà như vậy,
Huống hồ bạn cũ tới thăm ta.

Bát Sách.
(Ngày 04/10/2026)
***
Bạch Cư Dị -白居易

Nguyên tác: Phiên âm: Dịch thơ:

友人夜訪       Hữu Nhân Dạ Phỏng Có       Bạn Đến Thăm

簷間清風簟* Thiềm gian thanh phong điệm Hiên mát trải chiếu ngồi,
松下明月盃 Tùng hạ minh nguyệt bôi           Dưới tùng trăng sáng ngời.
幽意正如此 U ý chính như thử                       Nhàn hạ bên chung rượu,
況乃故人來 Huống nãi cố nhân lai                 Lại có bạn đến chơi.


Ghi chú: 江夏黃海書 Giang Hạ Hoàng Hải thư

Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁 cho dị bản trong câu 1 với chữ tiền前 thay vì chữ gian間.

Các sách khác cổ hơn, nhưng không cho dị bản:

Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石倉歷 代詩選-明-曹學佺
Bạch Thị Trường Khánh Tập - Bạch Cư Dịch 白氏長慶集-唐-白居易
Bạch Hương San Thi Tập - Bạch Cư Dịch 白香山詩集-唐-白居易

Giải nghĩa chữ khó:

Dạ phỏng: Đến thăm vào ban đêm.
Thiềm gian: Giữa hiên nhà, dưới mái hiên.
Điệm: Chiếc chiếu trúc, chiếu manh (tạo cảm giác mát mẻ, giản dị).
Tùng hạ: Dưới bóng cây tùng (biểu tượng của bậc quân tử, sự kiên định và thanh cao).
U ý: Ý niệm sâu lắng, thanh tĩnh, không màng thế sự; cõi lòng tĩnh lặng.
Chính như thử: Chính là như thế này, đang lúc như thế này.
Huống nãi: Huống chi là, huống hồ lại có thêm.
Cố nhân: Người bạn cũ, tri kỷ lâu năm.

Dịch nghĩa bài thơ:

Hữu Nhân Dạ Phỏng 
Thiềm gian thanh phong điệm
Tùng hạ minh nguyệt bôi
U ý chính như thử
Huống nãi cố nhân lai

 Bạn Cũ Đến Thăm Ban Đêm

Gió mát thổi qua hiên nhà, trải sẵn chiếc chiếu trúc,
Dưới bóng tùng, ánh trăng sáng chiếu rọi vào chén rượu.
Cõi lòng thanh tĩnh, ý vị uyên thâm chính là đang ở cảnh này,
Huống chi lại có thêm người bạn tri kỷ thuở xưa tìm đến chơi.

Với sự đồng tình của gió mát trăng thanh, sự u tĩnh trở thành thoải mái. Uống rượu một mình cũng là một thú tiêu khiển thanh tao. Tuy nhiên, vui một mình không giống cùng vui với bạn bè. Niềm vui dường như tăng gấp đôi khi chia sẻ với bạn bè.

Dịch thơ:

Có Bạn Đến Chơi

Thể lục bát:

Giữa hiên gió mát chiếu manh,
Dưới thông trăng sáng, rượu thanh đầy vò.
Tĩnh lòng bỗng thấy hết lo,
Huống chi bạn quý lại mò sang chơi.

Thể song thất lục bát:

Gió hiên mát, trải manh chiếu trúc,
Bóng tùng cao, trăng trút đầy bôi.
Thanh nhàn chính lúc đây rồi,
Huống chi bạn cũ bao đời lại qua.

Literal translation:
Have a Friend Visit At Night by Bai Ju Yi

A mat was set in the porch and the wind was cool.
Under the pine tree the moon was bright, wine was bought.
That was the main idea of leisure behind this deep thought,
Specially when a friend would be visiting soon.

Poetic translation:
A Friend’s Night Visit

Cool breeze through the eaves, a bamboo mat laid bare,
Beneath the pines, bright moonlight fills the wine cup fair.
The serene essence of solitude is exactly found right here,
How much more blessed it is, now that an old friend arrives to share.

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

Ngũ ngôn tứ tuyệt là loại thơ khó sáng tác vì tư tưởng thi nhân muốn diễn tả được cô đọng trong 20 chữ và các câu thơ phải theo đúng luật âm vận; chuyện không dễ làm khi nghĩa của từ được chọn phải hợp với ý. Bài thơ bắt đầu bằng ba từ vần bằng nên luật cho thơ là thế này:

第二种:平起不入韵式 (đệ nhị chủng: bình khởi bất nhập vận thức)
平平平仄仄 ,Thiềm gian thanh phong đạm
仄仄仄平平 。Tùng hạ minh nguyệt bôi
仄仄平平仄 ,U ý chính như thử
平平仄仄平 Huống nãi cố nhân lai

Bài này đã được Cò đưa ra từ hơn 7 năm trước.
Người có phương tiện thường lên lầu để uống rượu, ngắm trăng nhưng thi nhân họ Bạch lại trải chiếu dưới hiên nhà, dưới cây thông nên có lẽ bài thơ được làm khi Bạch đang đi đày và hoàn cảnh không sang cả cho lắm. Từ kép 幽意=u ý có hai nghĩa, hoặc để diễn tả sự ưu tư, suy nghĩ thâm trầm, đơn côi; hoặc để diễn tả cảnh nhàn dật. Từ 此=thử cuối câu nhì không thể hiểu là bên ấy, mà có nghĩa là như thế, hay bây giờ, hàm ý thi nhân đang đơn côi.
Từ kép 況乃=huống nãi có thể hiểu là huống chi, cho dù, vả lại và người đọc dĩ nhiên phải phân vân sự viếng thăm của cố nhân nào đó tạo kết quả gì trên tâm thần thi nhân. Vì tứ thơ quá cô đọng, người đọc chỉ có thể đoán mò cuối cùng thi nhân vui hay buồn!

Viết thêm:

友人=hữu nhân
Tôi tưởng là các bạn biết nên không viết đến vì người Việt thường dùng cụm từ bằng hữu (朋友) để gọi bạn bè, hay thân hữu (親友) để gọi bạn thân. Các link xanh đưa tới các trang Wiktionary cho các từ kép đó.
Tiếng Tàu có nhiều từ đồng âm /hữu/ và phải dùng bộ để phân biệt chúng. Hữu (有) nghĩa 'có' viết với bộ nguyệt (月) , hữu (右) nghĩa bên 'phải' viết với bộ khẩu (口), hữu 友 nghĩa 'bạn' dùng bộ hựu (又) , và hữu (囿) nghĩa 'vườn' dùng bộ vi (囗). Phần chung ở trên của các chữ đó 𠂇 là chữ 左 (tả, tá).

Huỳnh Kim Giám