Thứ Năm, 16 tháng 4, 2026

Vọng Cổ: Xuân Đất Khách - Soạn Giả; Viễn Châu - Cố Nghệ Sĩ: Hà Bửu Tân


Soạn Giả: Viễn Châu
Cố Nghệ Sĩ: Hà Bửu Tân

 


Ta Nhìn Lại Ta

 

Giờ đây. Ta như nửa tờ giấy rách
Đứng trước lề thóc mách của dân gian
Thấy thiên hạ vui. Lệ nhỏ đôi hàng
Cười nức nở. Những chuyện buồn nhân thế
Cuộc đời của ta. Có gì đáng kể
Mê trăng sao. Ôm dâu bể vào đời
Lấy núi rừng bày trận thế cuộc chơi
Dùng bom đạn làm thời trang quà tặng
Những chuyện buồn vui chìm vào thinh lặng
Ơn núi sông chưa trả. Nặng đôi vai
Cát bụi thời gian biến đổi hình hài
Soi gương cũ. Tìm tai ương trong mộng
Đời chẳng có chi để mà trông ngóng
Ngày sắp tàn theo chiếc bóng thời gian
Ta nhìn lại ta. Nửa cuộc hoang đàng
Còn nửa cuộc. Xin vội vàng sám hối
Ta nhìn lại ta muôn vàn tội lỗi
Xa tắp quê hương. Mù lối quay về
Những áng mây mờ khuất nẻo sơn khê
Ở phía trời nam bốn bề biển động…

Phong Châu
Tết Bính Ngọ

Tháng Tư Nhớ Về Quê Hương

(Trường Nữ TH Gia Long Sàigon.
Trước 1975)
Tuổi học trò, đầy mộng mơ ngày ấy.
Nhìn cuộc đời bằng ánh mắt màu xanh.

*** 
Quê Hương tôi, biển ngàn năm xanh ngát,
Ải Nam Quan cho tới mũi Cà Mau,
Hoàng Liên Sơn núi hùng vĩ xanh màu,
Cửu Long Giang dưỡng nuôi bao thế hệ.

Bắc Trung Nam cùng chung giòng giống Việt,
Bao anh hùng trên quê mẹ Việt Nam,
Chống giặc Tàu, bọn gian ác tham tàn,
Dân bao phen đập tan quân xâm lược.

ĐẤT THĂNG LONG, từ khi xây dựng nước. Trải bao Đời : Đinh, Lê, Lý, Nguyễn,Trần. Hai Bà Trưng đuổi giặc Hán xâm lăng, Rạng vang danh nữ anh hùng Dân Việt.
ĐẤT MIỀN TRUNG tạo anh hùng hào kiệt, Đất nơi đây, sỏi đá ruộng khô cằn! Khi lũ lên, nước tràn khắp thôn trang! Thương miền Trung, vẫn hùng anh bất khuất . ĐẤT PHƯƠNG NAM, gạo thơm vựa lúa thóc, Cây xanh tươi, trái ngọt, đất hiền hòa, Biển, sông hồ, đầy ắp cá tôm cua, Người dân lành sống an vui hạnh phúc.
Bắc Trung Nam cùng chung một Tổ Quốc Cảnh phân ly, ngày đó quá điêu tàn ! Chiến tranh từng dày xéo Bắc-Trung-Nam. Mẹ Việt nam đã bao lần rơi lệ !
Song Thân tôi từ Thăng Long quê mẹ, Tôi được nuôi, khôn lớn tại Saigon. Sống thanh bình, hạnh phúc đất Phương Nam, Khi lớn khôn mang nặng ơn đất nước.

Sau 75, tôi rời xa Cố Quốc, Nhớ quê hương và thân quyến từng ngày! Nhớ SàiGòn, tan học, áo trắng bay. Thương hè sang, ve sầu, phượng thắm đỏ, Thương mùa thu, đường chiều nghiêng nắng đổ, Nhớ Giáo Đường, chuông thánh đổ ngân vang, Nhớ sân Chùa, chuông tỉnh thức nhẹ nhàng, Nhớ anh hùng, Đền Linh Trần Hưng Đạo.
Bao kỷ niệm thương yêu thời thơ ấu, Ơn Song Thân nuôi dưỡng khổ nhọc nhằn, Công ơn Thầy, dạy dỗ trí tuệ sanh, Dư âm của thời vàng son niên thiếu...

Đất Hà Nội, Thăng Long, Chùa, Đền, Miếu, Núi Ngự Bình, Huế đẹp, nón bài thơ, Đà Lạt xinh, Cam Ly, Hồ Than Thở, Nhớ Nha Trang cát trắng biển yên bình. Xa Quê Hương ngàn trùng xa..xa lắm ! Nhìn cuộc đời, như giấc mộng qua mau Thời gian trôi, lặng lẽ sạch nỗi sầu Ngày 30 tháng 4, tạm yên trong ký ức.

Giòng sông êm ái nhẹ ra khơi, Lặng lẽ cuốn theo bụi trần đời, Dạt dào sóng vỗ tan vào biển, Tất cả quay về Đại Dương thôi.

Hoàng Thục Uyên 
9/4/2026

Văn Địch 聞笛 - 趙嘏 Triệu Hỗ (Trung Đường)


Triệu Hỗ 趙嘏 (810-856) tự Thừa Hựu 承祐, sinh quán ở huyện Sơn Dương, thuộc Sơn Ðông ngày nay. Tên ông cũng có khi đọc là Giả. Ngay khi còn bé, ông đã tỏ ra có biệt tài, từng làm khách Nguyên Chẩn lúc bấy giờ đang là Quan sát sứ tỉnh Chiết Ðông, rồi làm Tòng sự cho bạn của Ðỗ Mục là Thẩm Truyền Sư. Ðược Thẩm Truyền Sư mến mộ tài năng, năm mới 17 tuổi ông đã được cử làm Hương cống lên cư ngụ Trường An. Ở đây ông kết du rộng rãi với các văn nhân đương thời, thường chỉ suốt ngày “nghêu ngao vui thú yên hà”. Sau cũng đậu tiến sĩ nhưng đường công danh của Triệu rất lận đận, mãi đến năm 42 tuổi, tức là 10 năm sau khi thi đậu, mới được bổ làm một chức quan nhỏ ở Vị Nam. Ông mất không lâu sau đó.

Thơ Triệu phần lớn có nội dung nhớ nhung quê hương, buồn bã đường công danh, hoặc để thù tiếp với bạn bè. Ðỗ Mục đọc bài Trường An Thu Vọng của ông rất thích hai câu “Tàn tinh kỷ điểm nhạn hoành tái, Trường địch nhất thanh nhân ỷ lâu” cứ ngâm nga mãi và gọi luôn Triệu là Triệu Ỷ Lâu. (Trích Thi Viện)

(Triệu Hỗ)

Nguyên tác          Dịch âm

聞笛                     Văn địch

誰家吹笛畫樓中 Thuỳ gia xuy địch hoạ lâu trung,
斷續聲隨斷續風 Đoạn tục thanh tuỳ đoạn tục phong.
響遏行雲橫碧落 Hưởng át hành vân hoành bích lạc,
清和冷月到簾櫳 Thanh hoà lãnh nguyệt đáo liêm long.
興來三弄有桓子 Hứng lai tam lộng hữu Hoàn Tử,
賦就一篇懷馬融 Phú tựu nhất thiên hoài Mã Dung.
曲罷不知人在否 Khúc bãi bất tri nhân tại phủ,
餘音嘹喨尚飄空 Dư âm liệu lượng thượng phiêu không.

Chú giải

畫樓 họa lâu: lầu họa, lầu để vẽ, lầu lộng lẫy. Dịch là lầu hồng (không phải lầu xanh).
斷續 đoạn, tục: đứt, nối. 斷續聲 đoạn tục thanh: tiếng (sáo) đứt rồi lại nối. 斷續風 đoạn tục phong: gió ngừng rồi lại thổi.
碧落 bích lạc: bầu trời, trời xanh biếc.
Hoàn Tử tên một người thổi sáo hay.
Mã Dung: tên một người làm phú giỏi.

Dịch nghĩa

Nghe sáo

Nhà ai thổi sáo trong lầu vẽ (lầu lộng lẫy),
Tiếng sáo lúc nghe lúc không tuỳ theo có gió hay không có gió.
Âm hưởng theo mây trôi ngang qua bầu trời,
Tiếng sáo hoà vào ánh trăng lạnh bay qua rèm cửa sổ.
Hứng thú nên thổi luôn ba bài như Hoàn Tử,
Nghe sáo (ta) làm được bài phú nhớ Mã Dung.
Khúc nhạc thổi xong, không biết ai đó còn ở trên lầu hay không,
Nhưng dư âm của bài sáo vẫn còn văng vẳng trong không gian.

Dịch thơ

Nghe sáo

Nhà ai chơi sáo tận lầu hồng,
Tiếng sáo tùy theo gió có, không.
Âm hưởng theo mây ngang trời biếc,
Hòa cùng trăng lạnh lọt vô phòng.
Hứng chơi ba khúc như Hoàn Tử,
Tặng phú một thiên tợ Mã Dung.
Khúc dứt chẳng hay người vẫn đó?
Dư âm văng vẳng mãi không trung.

Lời bàn

Một bài thất ngôn bát cú rất phức tạp nhưng rất tuyệt vời, làm lu mờ cái nét khô khan cố hữu của thể thơ này:
- Câu 1 nói: Một mỹ nhân không quen biết đang thổi sáo trên một căn gác màu hồng.
- Câu 2 nói: Tiếng sáo lúc nghe lúc không tùy theo gió lúc thổi lúc ngừng. Câu này gợi ý rằng nhà Triệu ở cách nhà nàng khá xa nên khi có gió mới nghe rõ tiếng sáo.
- Câu 3 & 4: Triệu vẫn cảm nhận được âm hưởng của tiếng sáo luồn trong mây, bay xuyên qua trời xanh rồi hòa với trăng lạnh chui vô rèm cửa của Triệu (mặc dù Triệu chỉ nghe lõm bõm khi có gió).
- Câu 5 & 6: Triệu còn biết cô chơi luôn 3 bài hay như Hoàn Tử từng chơi; để cho Triệu làm được bài phú đáp lễ hay như phú của Mã Dung.
- Câu 7 & 8: Tiếng sáo đã chấm dứt mà Triệu vẫn còn nghe văng vẳng bên tai; chả biết cô em còn ngồi ở lầu hồng hay không!

Triệu không quen nàng (ngay câu đầu ông đã hỏi thùy gia? nhà ai?); Nhưng ông cảm thấy nàng đẹp lắm, đẹp lây sang cả tiếng sáo (người đẹp thì thổi sáo hay, ông tin như vậy). Lối suy nghĩ này thường thấy trong Đường thi: mê tiếng sáo thì mê luôn người thổi sáo; hoặc ngược lại, mê người đẹp thì mê luôn tiếng sáo của người đẹp. Ông đã để tặng nàng một bài phú (mà ông ví với phú của Mã Dung); không phải ông tự khen mình, ông chỉ nghĩ rằng nàng là tiên nữ đã thổi sáo thần vào phú của ông.

Con Cò
***
Nghe Tiếng Sáo.

Nhà ai lầu vẽ sáo vang xa,
Lúc bặt khi nghe quyện gió qua.
Điệu vút mây cao ngang cõi biếc,
Âm hòa trăng lạnh lọt rèm hoa.
Hứng như Hoàn Tử ba tiêu khúc,
Hay tựa Mã Dung một phú ca.
Nhạc dứt, người còn hay đã khuất?
Dư âm khắp chốn vẫn ngân nga.

Lục bát.

Nhà ai sáo vọng lầu son,
Gió đưa tiếng mất tiếng còn theo nhau.
Vút mây ngang cõi trời cao,
Qua song lẫn ánh trăng thâu lạnh lùng.
Hứng như Hoàn Tử ba cung,
Viết hay tựa phú Mã Dung toàn bài.
Nhạc ngưng người ở đâu đây?
Dư âm ngơ ngẩn vẫn đầy không gian.

Mỹ Ngọc.
Apr. 6/2026
***
Nghe Tiếng Địch

Nhà ai tiếng địch chốn lầu hoa,
Tiếng mất tiếng còn, gió thoảng qua,
Âm hưởng ngăn mây ngang trời biếc,
Hoà cùng trăng lạnh tới màn la.
Hứng như Hoàn Tử chơi ba khúc,
Phú được Mã Dung đã giúp ta.
Địch dứt chẳng hay người đâu tá,
Dư âm mãi vẳng giữa trời xa.

Bát Sách.
(Ngày 06/01/2026)
***
Nghe Sáo

Nhà ai sáo thổi tự lầu hồng
Đứt nối tùy theo gió có/không
Mạnh chặn mây trôi về chốn thẳm
Êm hòa trăng lạnh lọt rèm song
Hứng tình ba bản như Hoàn Tử
Phú được một bài nhớ Mã Dung
Khúc hết chẳng hay người vẫn đó?
Dư âm còn vẳng giữa trời không

Song thất lục bát:

Ai thổi sáo lầu hoa đâu đó?
Đứt nối tùy có gió hay không
Mạnh mây chặn, trời biếc trong
Êm hòa trăng lạnh lọt phòng rèm thưa
Như Hoàn Tử hứng hòa ba khúc
Nhớ Mã Dung phú được một bài
Sáo ngưng người vẫn còn đây?
Dư âm vọng đến mãi hoài thiên không!

Lộc Bắc
Avr26
***

Vẳng nghe tiếng sáo

Tiếng sáo véo von lầu vọng sang
Âm thanh đứt quãng gió truyền lan
Mây xanh lơ lửng như ngừng đọng
Trăng chiếu qua rèm cửa bỏ hoang
Hứng thú khúc Hoàn Y réo rắt
Tuyệt vời phú Mã Dung mơ màng
Sáo ngừng người ấy còn lưu lại?
Văng vẳng đâu đây điệu dịu dàng

Thanh Vân
***
Trong cuốn “Thông Dụng Thành Ngữ Cố Sự “của Vương An, do Nguyễn Quốc Hùng dịch, có thành ngữ PHAO CHUYÊN DẪN NGỌC, liên quan đến Triệu Hỗ, nhưng sách in là Triệu Hổ, Bát Sách tưởng là người khác nên bỏ qua. Kỳ này, nhân có thì giờ, bèn tra cứu lại cho chắc, thì đúng là Triệu Hỗ. Hỗ, có sách ghi Giã, tự Thừa Cát, người Hà Bắc, thơ hay, đến nỗi Đỗ Mục cũng thích, nhất là câu “trường địch nhất thành nhân ỷ lâu” trong bài Trường An Thu Vọng, và gọi ông là Triệu Ỷ Lâu. Câu này cho ta thấy Triệu rất mê tiếng địch.

Một người nữa cũng hâm mộ ông là Thường Kiến. Một lần, Triệu sắp tới đất Ngô, Thường Kiến đoán là ông sẽ đến chùa Linh Nham nên tới trước đề 2 câu thơ trên vách. Quả nhiên Triệu tới chùa ngoạn cảnh, thấy 2 câu thơ, bèn thêm 2 câu cho thành bài tứ tuyệt. Tất nhiên thơ của Triệu hay, tựa như Ngọc, thơ của Thường thì kém hơn, chỉ như viên Gạch nên mới có thành ngữ Phao chuyên dẫn ngọc, tức là ném gạch kéo ngọc.

Cuộc đời Triệu Hỗ cũng không may mắn. Dù đã đỗ Tiến Sĩ, nhưng vì bài thơ Đề Tần Hoàng, khen Thuỷ Hoàng anh hùng làm Đường Tuyên Tông bất mãn, không trọng dụng. Bị Tiết Độ Sứ Chiết Tây chiếm mất nàng ca kỹ, người yêu của Triệu, đến khi Triệu đậu Tiến Sĩ mới đem trả, nhưng vừa gặp nhau là nàng chết khiến Triệu tan nát cõi lòng.

- Át là ngăn chặn, đuổi bắt, im bặt.
- Mã Dung là người viết phú rất hay.
- Tam Lộng, Hoàn Y, thì Bát Sách xin bổ túc một chút cho giải thích của anh Giám và anh Tâm. Hoàn Y là võ tướng đời Đông Tấn, từng giúp Hoàn Ôn và Tạ Huyền (cháu Tạ An) lập được nhiều công trận. Giỏi âm nhạc, nhất là thổi địch, được khen là Giang Tả Đệ Nhất, thường dùng cây địch Kha Đinh do Thái Ung chế tác. (Thái Ung là danh sĩ thời Đông Hán, giỏi kinh thuật, từ chương, thiên văn và âm luật, cha của nữ sĩ Thái Diễm, rất nổi tiếng). Vương Huy Chi, (con của Vương Hi Chi, nhà Thư Pháp nổi danh với thiếp Lan Đình,) khi gặp Hoàn Y ở bến Thanh Khê, biết tiếng, sai người nhờ Hoàn thổi địch. Hoàn thổi liền 3 khúc rồi lên xe bỏ đi. Vì vậy trong bài thơ mới có câu tam lộng hữu Hoàn Tử.

Bát Sách

***

Nguyên Tác: Phiên Âm:

聞笛-趙嘏 Văn Địch- Triệu Hỗ

誰家吹笛畫樓中 Thùy gia xuy địch hoạ lâu trung
斷送聲隨斷續風 Đoạn tống thanh tùy đoạn tục phong
響遏行雲橫碧落 Hưởng át hành vân hoành bích lạc
清和冷月到簾櫳 Thanh hòa lãnh nguyệt đáo liêm long
興來三弄有桓子 Hưng lai tam lộng hữu Hoàn Tử
賦就一篇懷馬融 Phú tựu nhất thiên hoài Mã Dung
曲罷不知人在否 Khúc bãi bất tri nhân tại phủ
餘音嘹喨尚飄空 Dư âm liệu lượng thượng phiêu không.


Bài thơ không có trong Toàn Đường Thi. Sách có đăng bài thơ:
Huệ Phong Từ Thoại - Thanh - Huống Chu Di 蕙風詞話-清-況周頤
Thiên Gia Thi 千家诗

Ghi Chú:

Họa lâu: một gian nhà được chạm khắc lộng lẫy, trang hoàng đẹp đẽ
Đoạn tục: không liên tục, bị gián đoạn
Át: dừng lại
Hưởng át hành vân: thanh âm cao ngất sáo to, trong trẻo, vút thẳng lên trời, chắn hết mây trôi.
Hoành: bay qua
Bích lạc: bầu trời. Đạo gia cho rằng ở phương đông cao nhất trên trời có ráng xanh (bích hà 碧霞) bủa khắp. Trong bài Trường hận ca 長恨歌 Bạch Cư Dị 白居易 viết:
Thượng cùng bích lạc hạ hoàng tuyền 上窮碧落下黃泉
Trên cùng đến trời xanh, dưới tận suối vàng,
Lưỡng xứ mang mang giai bất kiến 兩處茫茫皆不見
Cả hai nơi mênh mông, đều không thấy (nàng) đâu cả.
Thanh hòa: yên tĩnh và hòa bình
Lãnh nguyệt: ánh trăng mang lại cho người ta cảm giác trong vắng lạnh lẽo
Liêm long: màn cửa và lưới cửa sổ
Tam Lộng: bài hát cổ Mai Hoa Tam Lộng, là nhạc khúc nằm trong 10 ”đại danh khúc” của Trung Hoa. Bản nhạc được ví như lời tự tình của bậc quân tử, như hoa mai hiên ngang đẹp đẽ tinh khôi, là nhạc khúc mượn vẻ đẹp của hoa mai tinh khiết, thơm ngát và sự bền bỉ kiên cường trong giá lạnh mà ngợi ca cho những người tiết tháo cao thượng, hoa mai thơm như lòng người quân tử.

Hoàn Tử: tên Hoàn Y 桓伊 sống đời nhà Tấn giỏi thổi sáo. Ngày nọ, Hoàn Y cởi ngựa gần sông, một thuyền nhân tên Vương Huy yêu cầu Hoàn Y thổi một bài sáo. Hoàn Y xuống ngựa, thổi bài Mai Hoa Tam Lộng, rồi lên ngựa đi.
Mã Dung: người đời Đông Hán, giỏi về soạn nhạc cho sáo
Nhất thiên: toàn bộ bài viết. Văn tự thời xưa được viết trên thẻ trúc, dùng da trâu xâu chuỗi như sách. Sau đó ngưởi ta gọi văn bản đầu đuôi đầy đủ là một thiên.
Khúc bãi: đoạn cuối của một bài hát.
Liệu lượng: véo von, tiếng trong trẻo mà đi xa

Dịch Nghĩa:

Văn Địch Nghe Thổi Sáo

Thùy gia xuy địch hoạ lâu trung
Ai đang thổi sáo từ trên lầu ngôi nhà xinh đẹp.
Đoạn tống thanh tùy đoạn tục phong
Sáo vi vu tiếng mất tiếng còn theo làn gió đứt quãng truyền đến.
Hưởng át hành vân hoành bích lạc
Âm hưởng vang vọng như ngăn chận áng mây lơ lửng trên bần trời xanh.
Thanh hòa lãnh nguyệt đáo liêm long
Tiếng sáo trong trẻo như ánh trăng lạnh lẽo chiếu vào rèm cửa sổ.
Hưng lai tam lộng hữu Hoàn Tử
Khi hứng thú, tiếng sáo thổi khúc Mai Hoa Tam Lộng của Hoàn Y.
Phú tựu nhất thiên hoài Mã Dung
Mà giai điệu tao nhã làm nhớ tới Mã Dung, người đã làm ra được một ngàn bài phú.
Khúc bãi bất tri nhân tại phủ
Một khúc sáo đã hết, không biết người có còn ở trên lầu hay không?
Dư âm liệu lượng thượng phiêu không
Mà dư âm tiếng sáo vẫn như còn văng vẳng trong không trung.

Dịch Thơ:

Nghe Sáo

Tiếng sáo nhà ai thật véo von
Nương theo nhịp gió tiếng vơi tròn
Thanh vang ngăn chận mây trôi dạt
Lạnh lẽo theo trăng đến cửa son.
Khúc sáo Hoàn Y cao hứng thú
Mã Dung ngàn phú chất đầy non
Sáo ngưng, người thổi có còn đó
Lơ lửng dư âm như vẫn còn.

Translation: Listening to the Flute by Zhao Gu

Who is playing the flute on the upper floor of this family building
The melodious flute sound, clear or diffuse, follows the off and
on of the wind blowing.
When the flute sound is loud it is like holding back the moving clouds that stand horizontally in the blue sky.
When the sound is clear it is like the cold moon that shines into the window curtain.
In a happy mood the flute sound is like the music of "The three teasing of the plum blossoms" which was played by Huan Yi
Then I recall the piece of flute verse composed by Ma Rong
The music has ended, however I wonder if the person playing the flute is still on the floor.
I feel the flute sound still rising and falling in the empty space.

 Phí Minh Tâm
***
Góp ý 

興來三弄有桓子 hứng lai tam lộng hữu Hoàn Tử
Hoàn Tử là Hoàn Y (桓伊) thời Đông Tấn, có tài thổi sáo, có thể là tác giả của ba bài cổ cầm Mai Hoa Tam Lộng, và được gọi là địch thánh (笛聖) nhưng trang zh.Wikipedia chỉ nói về thành quả binh nghiệp.

[Hoàn Y thổi sáo, Tào Hữu Quang vẽ]

賦就一篇懷馬融 phú tựu nhất thiên hoài Mã Dung

Mã Dung (70-166, Đông Hán), cháu chắt của Mã Viện và Mã Nghiêm. Ông sáng tác bài Trường Địch Phú (長笛賦) dài 1717 chữ nói về lịch sử và công dụng, ảnh hưởng của trường địch, đoạn chót đại khái nói sáo do người Khương dùng tre sáng chế, xoi bốn lỗ để thổi rồi Dịch Kinh Quân xoi thêm một lỗ nữa cho hợp với âm luật nhà Thương.

Triệu Hỗ nghe tiếng sáo vọng lại từ một họa lâu (lầu trang trí sặc sỡ) đàng xa, không biết người thổi là ai và liên tưởng tới địch thánh Hoàn Y và học giả Mã Dung, hai người lưu danh trong sử Tàu về binh nghiệp và học thức, ngoài những hoạt động liên hệ tới sáo. Ấn tượng bài thơ tạo ra nơi người đọc cũng mơ hồ như tiếng sáo thoảng trong gió y như thể thi nhân đang nuối tiếc thời còn có cơ hội thành danh.

Viết thêm về sáo (địch):

Sáo căn bản xưa nay chỉ là một ống trúc dài, trên thân sáo có một hàng lỗ. Tôi không biết cách thổi với một lỗ ở gần cuối hay với đầu ống cách nào tới trước nhưng đoán là là lối thổi ngang với lỗ gần đầu thân sáo. Cần phân biệt 笛=địch và 簫=tiêu vì cả hai đều là sáo trong tiếng Việt; địch thổi ngang, tiêu thổi dọc. Thuyết Văn bảo rằng địch là cái ống có bảy lỗ và đó cũng là địch thời Triệu Hỗ, nhưng từ điển này ra đời đầu thế kỷ 2 nên không phản ảnh địch nguyên thủy. Địch của người Khương chỉ có ba lỗ.

Một lý thuyết về nguồn gốc của sáo là thân cây trúc bị côn trùng, kiến hay ong, đục lỗ rồi gió thổi qua các lỗ đó tạo nên âm thanh êm tai rồi người xưa suy ra là có thể tạo ra sáo và nhạc thay vì chờ côn trùng và gió làm.

Theo tôi nghĩ, thơ khởi đầu là lời để hát với nhạc ngũ âm; hát được thì dễ nhớ và được truyền đời thành ca dao, và hát không được thì thành các bài thơ sai vần luật. Các vần điệu trong thơ phải hơp với các nốt ngũ cung trầm bổng và từ đó có các luật bằng trắc của nhạc phủ, từ, tứ tuyệt, bát cú, v.v...

Huỳnh Kim Giám

Đôi Mắt Mùa Xuân



Nếu không nhờ đôi mắt ấy có lẽ tôi không bao giờ nhận ra vợ chồng người bạn trẻ, từng là ân nhân đã giúp tôi giữ được mạng sống của nhiều đồng đội và của cả chính mình, thời tôi còn lăn lộn trên chiến trường, khi lằn ranh sống chết nhiều khi còn mỏng hơn sợi tóc.

Cuối năm 1966, vừa rút quân ra khỏi Mật Khu Lê Hồng Phong, Phan Thiết, tôi dắt đại đội theo toàn bộ tiểu đoàn di chuyển lên Quảng Đức, tham dự một cuộc hành quân dài hạn nhằm truy lùng một đơn vị địch mới xâm nhập từ biên giới Miên-Việt. Cuộc hành quân kết thúc vài ngày trước Tết Nguyên Đán, nhưng tiểu đoàn có lệnh phải tiếp tục ở lại, biệt phái dài hạn cho Tiểu Khu Quảng Đức. Tiểu đoàn (-) về nghỉ quân tại Đạo Nghĩa, một khu dinh điền do Tổng Thống Ngô Đình Diệm sáng lập nhằm định cư di dân từ miền Bắc sau Hiệp Định Genève, và cũng để tạo thành một vòng đai chiến lược. Riêng đại đội tôi được “solo” xuống tăng cường cho Chi Khu Kiến Đức, một quận hầu hết dân cư là người Thượng và tương đối mất an ninh. Quận trưởng lúc ấy là một sĩ quan lớn tuổi gốc Lực Lượng Đặc Biệt, người Kinh, tuy chỉ mang cấp bậc trung úy nhưng khá dày dạn, nhiều kinh nghiệm chiến trường. Các sĩ quan còn lại trong Chi khu phần đông là người Thượng, gốc Bảo An đồng hóa.

Sau một cuộc hành quân tảo thanh chung quanh khu vực, đại đội tôi về đóng quân bên cạnh Chi khu để binh sĩ ăn Tết. Nói vậy thôi, chứ lính đánh giặc thì có cái gì để mà ăn Tết, ngoại trừ được ăn cơm nóng thay vì gạo sấy lương khô. Riêng tôi, được ông quận trưởng biếu cho mấy lon bia và một gói đậu xanh với đường đen để nấu chè đón giao thừa. Tôi cho ban chỉ huy đại đội và trung đội vũ khí nặng đóng quân trên ngọn đồi thấp giữa một vườn cà phê khá lớn, nằm không xa quận lỵ. Ngọn đồi chỉ là một cái chấm rất nhỏ giữa trùng điệp những vòng cao độ trên tấm bản đồ quân sự đang có trên tay tôi, nhưng đây là một vị trí có xạ trường tốt và tầm quan sát bao quát chung quanh. Mặc dù chỉ còn hai ngày nữa là Tết, tôi vẫn lệnh cho đại đội luôn trong tư thế tác chiến. Ban ngày các trung đội tảo thanh chung quanh, tối tổ chức các toán tiền đồn và phục kích theo tin tình báo của Chi Khu.

Phía dưới chân đồi là con đường đất và bên kia đường là ngôi trường tiểu học. Trường chỉ gồm một dãy nhà cũ kỹ, mái tôn gỉ sét phủ đầy bụi đỏ. Đang mùa mưa, cả sân trường và các con đường chung quanh đều đầy bùn đỏ, nhão nhoẹt, nên bọn tôi cũng không muốn bước vào.

Buổi chiều ba mươi Tết, khi đang nằm trên võng mơ màng, hồi tưởng đến những cái Tết ngày xưa, thời còn thơ ấu ở quê nhà, bỗng tôi nghe văng vẳng tiếng đàn và tiếng hát khá hay, đặc biệt giọng hát không có chút âm hưởng gì của một người sắc tộc, tôi tò mò rủ thêm hai chú lính rảo bước xuống chân đồi, đi vào trường, tìm đến nơi phát ra tiếng hát. Khi thấy bọn tôi lấp ló ngoài cửa, một thanh niên cầm đàn bước ra cười chào mừng rỡ, mời vào phòng. Trông anh còn rất trẻ như một thư sinh, nên tôi khá ngạc nhiên khi nghe anh tự giới thiệu mình là hiệu trưởng, và căn phòng lớn nguyên là một lớp học được sửa sang lại làm chỗ ở cho anh. Trong phòng đang có một đám học trò, toàn là người Thượng, cả nam lẫn nữ. Bọn tôi đưa tay chào và mời thầy trò cứ tiếp tục cuộc vui. Anh hiệu trưởng yêu cầu tôi hát tặng thầy trò anh một bài, nêu lý do đám học trò hồi giờ chỉ nghe có mỗi giọng hát của anh nên cũng chán. Tôi khó từ chối, nên gật đầu nhờ anh dạo đàn rồi đứng lên hát bài “ Con Đường Mang Tên Em” , bài ruột của tôi khi ấy, vì cứ mỗi lần nghỉ quân, lính tráng thường năn nỉ “ông thầy hát bài rất tình này cho tụi em nghe để thấy đời còn lên hương một chút.” Trong những ánh mắt của các cô cậu học trò chăm chú nhìn lên, tôi bỗng lưu ý tới một đôi mắt đẹp, mở to, xanh biếc. Cô bé khoảng 14 – 15, có khuôn mặt khá xinh, mái tóc rối, màu nâu đỏ, mang nét hoang dại của núi rừng. Tiếc rằng ngày ấy không có máy ảnh, và tôi lại dốt về vẽ, nên chẳng giữ lại được hình ảnh đặc biệt của đôi mắt này, nhưng rồi nó vẫn ở mãi cùng tôi trong ký ức.

Ông thầy giáo trẻ luôn tỏ ra mừng rỡ, vồn vã. Có lẽ từ khá lâu rồi anh mới gặp lại những người Kinh. Anh ngưng hát, bảo đám học trò phụ anh làm thịt một con gà, nấu cháo đãi bọn tôi. Tôi xin cho bọn tôi được góp phần. Tôi nhờ chú lính chạy về lấy mấy ký gạo, một xâu bia, và gói đậu xanh cùng những thỏi đường đen của ông quận mới cho. Một buổi tiệc dã chiến xem như mừng giao thừa sớm, cũng vui và cảm động. Kể từ hôm ấy, tôi trở thành bạn của anh thầy giáo hiệu trưởng, có tâm hồn nghệ sĩ và rất dễ thương này. Quê anh ở Bảo Lộc, Lâm Đồng. Sau khi đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp anh thi vào một Khóa Sư Phạm Cấp Tốc và chỉ học một năm thì tốt nghiệp. Chờ khá lâu mà chưa tìm được chỗ dạy, hơn nữa nhà nghèo, cần phải phụ giúp mẹ già lo cho hai đứa em nhỏ đang tuổi học hành, anh tình nguyện lên “vùng cao” nhận ngôi trường này, một nơi mà ai cũng chê. Vài người được chỉ định nhưng tìm cách chạy chọt để được ở lại hay chuyển về nơi khác. Nhưng bù lại, trong cùng khóa sư phạm mới ra trường, anh là người đầu tiên được nhận chức danh hiệu trưởng, ngoài ra còn được phụ cấp thêm một số tiền “đắt đỏ, vùng cao”. Anh ở đây đã tròn một năm. Tháng ngày gần như chỉ ở trong trường, làm bạn với đám học trò, hầu hết nói tiếng Việt chưa thông và hoàn toàn khác phong tục, tập quán. Nhưng cũng nhờ cuộc sống hiu quạnh giữa núi rừng này, lương tháng nào anh cũng còn nguyên để gởi về phụ mẹ, giúp các em ăn học. Học sinh không nhiều, có khi hai lớp khác trình độ phải dồn lại học chung. Ngoài công việc hiệu trưởng, anh còn phải dạy thêm lớp Nhì và lớp Nhất, nhưng cũng chỉ gần hai mươi học sinh được gộp lại thành một lớp. Có đứa đi học trễ, nên dù cùng lớp nhưng tuổi tác khá chênh lệch nhau.

Từ khi quen biết anh, lúc nào không bận hành quân, đặc biệt những dịp cuối tuần tôi đều ghé lại trường ca hát, ăn uống với anh. Dù vậy, tôi cũng cẩn trọng, không dám cho anh vào gặp tôi trong khu vực đóng quân.

Điều vui là lần nào ghé lại, tôi cũng gặp vài cô học trò xúm xít bên anh, giúp anh dọn phòng, nấu nướng. Trong số này có cô bé mang nét đẹp hoang dại với đôi mắt to, xanh biếc, từng làm tôi bất ngờ xao xuyến. Nhờ có thầy trò anh mà những ngày sống giữa núi rừng đất đỏ buồn hiu này trở nên thú vị. Tôi còn học được một số tiếng Ê-đê và vài tập quán khá lạ lẫm của họ. Đặc biệt khi sống gần họ, những con người hiền lành chân chất ấy, tôi cảm thấy tâm hồn mình trở nên nhẹ nhàng yên ả, tạm quên phía trước đang có nhiều trận chiến đẫm máu đang chờ.

Một hôm, khi trời sắp tối, anh thầy giáo nhờ một người lính nhắn tôi ra gặp anh gấp. Thấy anh có vẽ bồn chồn, lo lắng, trên môi không còn nụ cười vui vẻ như trước đây, tôi ưu tư, không biết có chuyện gì. Anh kéo tôi vào trong phòng, đóng kín cửa lại, bảo nhỏ cho tôi biết là một đám Thượng cộng sẽ tổ chức pháo kích và tấn công vào khu vực đóng quân của tôi, có thể ngay trong tối hôm nay. Anh bảo chính cô bé học trò có đôi mắt đẹp ấy, vừa chạy vào cho anh biết để báo tin gấp cho tôi. Cô bé cũng tỏ ra lo lắng lắm. Một người bạn của cô có cha mẹ quen biết, dính dáng đến đám Thượng cộng này. Tôi bắt tay cảm ơn rồi vội vàng trở về đại đội, lệnh cho im lặng vô tuyến và âm thầm rời khỏi vị trí, di chuyển đến đóng quân tạm tại một địa điểm khác cách đó không xa, báo cho ông Chi khu trưởng biết, để có kế hoạch đề phòng, và cho Pháo Binh một số tọa độ tiên liệu để yểm trợ khi cần thiết. Và đúng như vậy, vào khoảng một giờ khuya hôm ấy Cộng quân đã pháo kích vào ngay vị trí Ban Chỉ Huy Đại Đội của tôi trên đỉnh đồi trong vườn cà phê, nơi tôi vừa rời khỏi, bằng hai khẩu súng cối 82 ly, bắn đi từ hai hướng.Tôi đã may mắn, kịp thay đổi phòng tuyến để đánh lừa, và có kế hoạch bao vây chúng, nhưng không hiểu vì sao chúng không tổ chức tấn công, nên đại đội tôi đã mất một dịp lập chiến công. Pháo Binh của Chi Khu phản pháo kịp thời, nhưng không hiệu quả, có lẽ không biết chính xác vị trí hai khẩu pháo của địch. Sáng hôm sau, trở lại vị trí, tôi giật mình khi thấy đạn pháo đã cày nát vị trí đóng quân của mình. Ngay chỗ tôi nằm, bây giờ trở thành mấy cái hố sâu, cỏ cây tung tóe.

Tôi kể cho ông quận trưởng biết sự tình. Ông cho mời anh thầy giáo vào quận khen thưởng và đãi anh cùng bọn tôi một chầu. Nhưng anh bảo, công này không phải của anh, mà là của cô học trò người Thượng. Hôm sau, chính tôi đã mang quà của ông Quận đến kín đáo trao cho cô bé, nói nhỏ lời cảm ơn, và cùng ăn uống hát hò với thầy trò suốt ngày hôm ấy.

Khoảng năm tháng sau, đại đội tôi có lệnh rời khỏi Kiến Đức. đến phi trường Nhơn Cơ, sáp nhập với tiểu đoàn, để được không vận về Di Linh tiếp viện cho một đơn vị Biệt Động Quân bị địch quân phục kích và đang tăng cường vây hãm. Tôi chỉ kịp ghé lại trường vài phút để vội vã chia tay anh. Tôi mang tặng anh tấm poncho-light (loại chăn đắp rất mỏng và nhẹ) của một anh Cố vấn Mỹ đã tặng tôi trước khi về nước. Anh bảo sẽ rủ đám học trò ra ngã ba, nơi đoàn xe đang chờ, để tiễn tôi đi, nhưng tôi ngăn lại, không cho, bảo là không còn nhiều thời gian và tôi cũng rất bận với đồng đội của mình.

Tiểu Khu cho biết đã có một đại đội Bảo An mở đường, an ninh lộ trình, nhưng khi đoàn xe đến một ngã ba thì bị Cộng quân phục kích. Chiếc xe phía trước tôi bị giật mìn ngay chỗ đoạn đường đang sửa chữa. Tôi nhảy xuống khỏi xe vừa điều động phản công vừa gọi Pháo Binh yểm trợ và xin L-19 bao vùng. Mặc dù bất ngờ, và khoảng phân nửa một trung đội trên chiếc xe đầu bị giật mìn, bất khiển dụng, nhưng nhờ những người lính thiện chiến, can đảm, giàu kinh nghiệm, nên đại đội tôi kịp làm chủ tình hình. Khi đang đứng liên lạc tìm chiếc L-19 để hướng dẫn đến vị trí, một quả đạn súng cối rơi xuống cách tôi khoảng mấy mét, mảnh đạn đâm vào chân trái làm tôi có cảm giác tê buốt. Sau khi được anh y tá chich thuốc cầm máu, sát trùng và băng bó, tôi giao đại đội lại cho anh đại đội phó, và thay vì đi đến phi trường Nhơn Cơ, tôi được tản thương cùng các thương binh khác về bệnh viện tỉnh Quảng Đức ở Gia Nghĩa. Trưa hôm sau, Ông Chi Khu Trưởng Kiến Đức đến thăm, chở theo anh thầy giáo và cô học trò người Thượng đã từng giúp tôi một lần thoát chết trước đây. Cả hai người đã ôm chầm lấy tôi mà khóc, làm tôi cũng chạnh lòng.

Sau vài ngày, tôi được chuyển tiếp xuống QYV Nguyễn Huệ, Nha Trang, ngay quê tôi, bằng loại máy bay Caribou của Úc Đại Lợi. An ủi phần nào vì được gặp lại cha tôi mỗi ngày và một số bạn bè thường xuyên đến thăm. Cái chân trái của tôi bị thương khá nặng, nhưng may mắn là không bị cưa. Tôi phải điều trị ở đây hơn ba tháng. Những ngày nằm treo cái chân băng bột cứng đơ lên thành giường, nghe những đồng đội thương binh bên cạnh rên xiết, tôi càng nhận ra mình chỉ là một thằng lính mạt hạng, năm tháng chỉ còn biết có đồng đội, súng đạn, chiến trường, lằn ranh sống chết còn mỏng hơn sợi tóc, thì đâu dám mơ gì đến chuyện tương lai hay công hầu khanh tướng! Đôi lúc, nhớ tới tiếng đàn giọng hát của anh thầy giáo trẻ và nhất là đôi mắt của cô bé học trò người Thượng, tôi cũng có chút xao xuyến, chạnh lòng. Đôi mắt hồn nhiên yên ả như mặt nước hồ thu giữa núi rừng tĩnh mịch mà sao cứ làm tôi gợn sóng mãi trong lòng.Tôi viết thư thăm và báo tin về cái chân ngày một phục hồi, nhưng mãi đến khi sắp xuất viện tôi mới nhận được tấm carte-postale, chỉ viết mấy dòng, với nét chữ của hai người. Tôi bỗng nhớ tới lần cuối cùng, khi hai thầy trò đến thăm tôi tại Bệnh viện Gia Nghĩa, và đã nhỏ những giọt nước mắt ân tình xuống giường bệnh của tôi.

Sau khi xuất viện, được nghỉ hai tuần phép, tôi về quê sống bên cạnh cha tôi. Từ ngày đi lính, ngoại trừ lần về phép ra trường, đây là dịp lâu nhất tôi được ở bên cạnh cha tôi, trong gió nội hương đồng nơi tôi đã ra đời và những năm tháng lớn lên không có mẹ. Về trình diện hậu cứ ở Ban Mê Thuột, tôi lại nhận sự vụ lệnh theo học khóa tham mưu đặc biệt một tháng tại Bộ Tổng Tham Mưu. Trở về đơn vị, vì cái chân còn yếu tôi không được về lại đại đội mà sang nắm Ban 3 Tiểu Đoàn (đặc trách hành quân & huấn luyện, một phần vụ có liên quan ít nhiều tới khóa học vừa qua.)

Tháng 6 năm 1970, lúc này tôi đã được điều động về Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn giữ một chức vụ khác , cả trung đoàn di chuyển lên Quảng Đức, để được tăng cường một tiểu đoàn Biệt Động Quân, và một Chi đoàn Thiết Quân Vận, thành lập Chiến Đoàn , mở cuộc hành quân khá qui mô sang địa phận Cam-Bốt. Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn đặt bên cạnh Phi trường Nhơn Cơ. Cuộc hành quân mang tên “ Bình-Tây III” này kết thúc sau hơn một tháng với nhiều thắng lợi. Các đơn vị thống thuộc được về nghỉ quân chung quanh khu vực, chờ phương tiện triệt thoái. Một tiểu đoàn đóng quân tại Kiến Đức, anh tiểu đoàn trưởng lại là ông anh rất thân, trước kia là đại đội trưởng đầu tiên của tôi khi tôi mới ra trường. Lính bắn được con nai, anh gọi máy bảo tôi lên nhậu với anh, nhân anh cố vấn tiểu đoàn mới nhận tiếp tế, biếu lại mấy chai whisky. Tôi mừng thầm, tuy thèm lắm. nhưng nghĩ đến rượu với thịt nai thì ít mà nhớ đến đôi mắt cô bé người Thượng lúc trước thì nhiều, tôi xin phép ông Trung Đoàn Trưởng rồi hú theo mấy chú lính hộ tống chạy lên Kiến Đức. Nhai mấy miếng thịt nai và uống vội mấy hớp rượu, tôi chạy sang ngôi trường tiểu học. Rất vui khi bất ngờ được gặp lại anh thầy giáo và có cả cô học trò thuở trước. Nhưng điều làm tôi bất ngờ hơn là hai người bây giờ đã là vợ chồng. Một tấm ảnh cưới thật đẹp được phóng lớn treo trên vách, Căn phòng ngày xưa giờ đã được nới rộng, sửa sang và trang hoàng khá ấm cúng. Tôi ngạc nhiên reo lên mừng rỡ và ôm lấy hai người. Anh còn cho biết, bây giờ cô cũng đang là cô giáo phụ trách lớp mẫu giáo của trường.

Tôi đùa, bảo “cô học trò cưới ông thầy làm chồng mà không cho tôi biết để có quà mừng”, rồi đưa cái nón sắt tôi đang cầm trên tay bảo cô ôm trước bụng, như một ví von khi chúc cho cô sớm có bầu, “bắt được cái con” để tôi gởi bù quà. Anh chồng đưa tay chỉ cái poncho-light trên giường, bảo “bọn em vẫn đắp chung cái mền quí mà anh cho đấy chứ!” Khi chia tay, tôi ôm vai hai người và nói với anh: “Chắc bây giờ anh đã chịu nhận nơi này làm quê hương rồi phải không?” Hai vợ chồng cười. Khi nói lời chia tay, cô vợ khệ nệ cầm cái nón sắt trả lại, ngước nhìn tôi với nét xúc động, đôi mắt đẹp của ngày xưa lại khuấy động trái tim tôi. Tôi cười mà thấy lòng man mác!

Trong nhiều năm bị tù tội từ Nam ra Bắc, dù cuộc sống tăm tối khốn cùng, nhưng hình ảnh của anh thầy giáo và đặc biệt đôi mắt của cô bé người Thượng thỉnh thoảng vẫn thấp thoáng từ ký ức. Tôi nghĩ chắc chắn sẽ không bao giờ còn gặp lại họ. Hơn nữa lúc ấy, dường như tôi cũng chẳng còn tha thiết tới điều gì.

Ra tù một thời gian ngắn, tôi cùng ông anh và một số bạn bè cùng tù tổ chức vượt biển. Tất cả quá khứ đành bỏ lại phía sau lưng, có còn chăng chỉ thấp thoáng đâu đó ở trong lòng.

Mới đây tôi bất ngờ đọc được bản tin trên Facebook của một người nào đó ở trong nước, có kèm theo một clip ngắn. Bản tin với cái tựa “Người đàn bà khí khái của Đắk-Nông đã vĩnh viễn ra đi”. Đó là người đàn bà từng viết đơn gởi đi các nơi để phản đối việc chính quyền CS cho Trung Cộng khai thác bauxite và thiết lập nhà máy Aluminum ở Đắk-Nông (Tình Quảng Đức cũ). Bà cũng là người kịch liệt phản kháng khi chính quyền cưỡng chế, cướp đất đai canh tác của người Thượng, truy bức xô đuổi họ ra khỏi nương rẫy, bản làng, nơi mà họ đã từng bao đời khai phá và sống chết ở đây. Bà cùng người chồng đã từng bị đàn áp, bắt bớ, tù đày rất nhiều lần. Đặc biệt cái clip đã ghi lại hình ảnh bà cùng chồng tổ chức biểu tình vào tháng 7 năm 2016, khi đường ống từ nhà máy Alumin Nhơn Cơ của nhà thầu Chalieco Trung Quốc bị vỡ khiến 9,63 mét khối chất kiềm chảy ra ngoài, làm nhiễm độc trầm trọng nguồn nước và hủy hoại môi trường sống của dân chúng trong vùng. Đứng trước một rừng công an với đủ loại vũ khí trên tay, ông bà không hề nao núng, dang tay bảo vệ những người dân khốn khổ. Khi một đám công an lên đạn chĩa súng thị uy, bà bước tới, mở to đôi mắt sáng quắc đầy uất hận, thách thức. Tôi bỗng giật mình. Đôi mắt đập mạnh vào tâm não làm tim tôi đau buốt. Tôi vừa nhận ra đó chính là đôi mắt đẹp hiền lành của cô bé học trò người Thượng ngày xưa, sau này là vợ anh thầy giáo mà tôi hằng quí mến. Họ đã từng cứu tôi cùng đồng đội của tôi một lần thoát chết. Và cũng chính từ đôi mắt đẹp này đã nhỏ những giọt nước mắt ân tình xuống giường bệnh tôi nằm, sau một lần tôi bị thương ở Quảng Đức, đúng 55 năm về trước. Zoom lớn cái clip trên màn ảnh computer, tôi xem thật kỹ lại một vài lần nữa để nhận rõ khuôn mặt và nhất là đôi mắt của cô nàng, mặc dù bây giờ ánh mắt ấy đã không còn hồn nhiên như mặt nước hồ thu thuở trước. Sau đó tôi cũng nhận ra người chồng, anh hiệu trưởng trẻ tuổi, dễ thương, đàn và hát rất hay ngày trước. Bây giờ cả hai đều già đi nhiều, tóc đã hoa râm và gầy gò hơn trước. Người viết bản tin cũng cho biết anh chồng đã chết trước đó gần hai năm, sau nhiều ngày bị đày ải, tra tấn trong tù. Giờ thì hai người đã gặp lại nhau ở chốn bình an vĩnh cửu.

Từ nay, tôi sẽ mãi mãi không bao giờ còn nhìn thấy hai người trên thế gian này, nhưng bóng dáng của họ và nhất là đôi mắt của cô bé người Thượng năm nào sẽ không bao giờ rời khỏi ký ức và trái tim tôi. Đôi mắt đã để lại trong tôi biết bao tiếc thương, cùng cả niềm tin yêu và hy vọng. Đôi mắt của mùa Xuân.

Phạm Tín An Ninh

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2026

Khói Thư Tình - Thơ: Sa Chi Lệ - Nhạc: Tuệ Tâm - Tiếng Hát:Hải Yến

Thơ: Sa Chi Lệ
Nhạc: Tuệ Tâm
Tiếng Hát:Hải Yến

Mở Cửa Tiễn Nàng Xuân

 

(Tiep theo Mở Cửa Đón Hai Kỳ Nữ)

Phong toả Nhị Kiều đã khá lâu
Giòng thơ đóng kín dưới chân lầu
Hồn thơ chưa cất cao đôi cánh
Vẫn cứ vùi thân đáy huyệt sâu
Chẳng giữ Nàng Xuân thêm nữa đâu
Lấy ai chia sẻ nỗi u sầu
Cõi mộng riêng mình ta ấp ủ
Mở cửa nhìn theo khuất bóng câu


CN-HNT
Mar.24.26 (100.101b)

Hoa Tím Người Xưa

 

Hoa tím người xưa tuổi học trò
Tình nào ấp ủ những âu lo
Thả hồn theo mộng ngày xưa đó
Giờ biết tìm đâu những hẹn hò.

Hoa tím người xưa một mối tình

Mối tình vụng dại chỉ làm thinh
Mối tình vu vơ qua cửa kính
Để mãi trong tôi một bóng hình.

Hoa tím người xưa tôi vẫn chờ

Chờ người trong mộng tôi làm thơ
Bao nhiêu dĩ vãng nhiều nhung nhớ
Nhớ cánh phượng xưa tuổi dại khờ.

Hoa tím người xưa dưới nắng vàng

Đi tìm lưu bút lật từng trang
Biết bao kỷ niệm nhiều năm tháng
Giờ biết tìm đâu nhớ muôn vàn.

Tạ Quang Tuấn
Ngày 23 tháng 7 năm 2021

Trên Đồng Lúa Vàng - Tri Tôn


Trên đồng lúa vàng, một bầy sơn ca…
“Trên đồng lúa vàng, ngạt ngào hương thơm
Thơm mùi lúa vàng là mùi quê hương…
( Nhạc Hoàng Thi Thơ)


Tôi đi xem để thấy những gì yêu dấu Việt Nam
Trên quê hương ta đó, cố tìm đâu đây chút tình
Tình là đồng ruộng bao la
Tình là đình làng cây đa…
…Chúng ta thích sống đời hòa bình
Chúng ta hãy ca ngợi hòa bình
(Nhạc Thanh Sơn)

Hình Ảnh: Thanh Hà


Fly Me To The Moon(Song by Bart Howard) - Đưa Em Lên Cung Trăng (Dịch: Kim Oanh)

  


Fly Me To The Moon

Let me play among the stars
Let me see what spring is like
On Jupiter and Mars
In other words, hold my hand
In other words, darling, kiss me
Fill my life with song
And let me sing for ever more
You are all I long for
All I worship and adore
In other words, please be true
In other words, I love you

Fly me to the moon
Let me play among the stars
Let me see what spring is like
On Jupiter and Mars
In other words, hold my hand
In other words, darling, kiss me
Fill my life with song
Let me sing for ever more
All I worship and adore
You are all I long for
In other words, please be true
In other words, in other words
In other words, in other words
In other words
I love you

Song by Bart Howard
***
Phỏng Dịch: 

Đưa Em Lên Cung Trăng

Đưa em lên tận cung trăng
Cho em dạo bước giữa hằng sao sa
Xem xuân trên những thiên hà
Hỏa tinh, sao Mộc như là mộng mơ.
Nắm tay em, chớ ơ hờ
Nói cùng em, nụ hôn chờ bấy lâu
Đời em thắm đậm sắc màu
Lời ca tiếng hát dâng trào mãi thôi.
Anh là khao khát trong đời
Là người em mãi suốt thời tôn vinh
Đừng ơ thờ với chân tình
Trọn đời chỉ có yêu mình anh thôi

Đưa em lên tận mây trời
Vui cùng tinh tú, hòa lời hát ca
Cho thấy xuân trên ngân hà
Nơi hành tinh ấy tình ta đẹp ngời
Nắm tay em chặt, anh ơi
Nụ hôn lưu luyến chẳng rời xa nhauắLấp đầy ký ức ngọt ngào
Bằng muôn điệu hát dạt dào yêu thương
Anh là người em vấn vương
Là người duy nhất vẫn thường nhớ mong
Sắt son em hoài ước vọng
Nói chung tất cả...trọn lòng yêu anh.

Kim Oanh
9.4.2026

Doris Day - Fly me to the moon


Những Ngày Ðầu Xuân Ở Thung Lũng Shenandoah


Năm nay, kỳ nghỉ lễ mùa xuân (Spring Break) của gia đình tôi diễn ra theo một cách khác. Không còn những chuyến bay vội vã hay những điểm đến xa xôi được lên kế hoạch từ nhiều tháng trước. Cậu con trai đã bước vào giảng đường của James Madison University, và kỳ nghỉ của cậu lại lệch hẳn so với gia đình, sớm hơn hai tuần. Thế là, thay vì cố gắng sắp xếp một chuyến đi xa, chúng tôi quyết định chọn một hành trình gần hơn, chậm hơn, và có lẽ cũng sâu sắc hơn. Chúng tôi lên đường bằng chiếc xe bán tải quen thuộc, phía sau kéo theo một camper nhỏ, vừa đủ để trở thành một “ngôi nhà di động” trong vài ngày. Điểm đến là Endless Caverns RV Resort, nằm cách trường đại học James Madison chừng 20 phút lái xe, nơi con trai đang theo học. Hành trình bắt đầu vào một buổi sáng thứ Sáu rực nắng, khi chúng tôi rời khỏi Richmond, thành phố cổ kính với những con phố rợp bóng cây. Không có cảm giác vội vàng thường thấy trước mỗi chuyến đi xa. 

Lần này, mọi thứ diễn ra nhẹ nhàng hơn, như thể chúng tôi đang bước vào một khoảng lặng được chờ đợi từ lâu. Trong không gian nhỏ bé của chiếc camper là tất cả những gì cần thiết cho vài ngày sống chậm; những chiếc giường được xếp gọn gàng, một góc bếp đơn sơ với vài vật dụng quen thuộc, và một khung cửa sổ nhỏ, nơi chúng tôi có thể ngắm nhìn thế giới trôi qua từng dặm đường. Không cần nhiều hơn thế. Chính sự đơn giản ấy lại mang đến cảm giác tự do mà hiếm khi tìm thấy trong những chuyến du lịch. Chiếc xe lăn bánh, rời xa thành phố, tiến dần về phía tây. 
Cảnh quan bắt đầu thay đổi một cách rõ rệt. Những tòa nhà thấp dần, nhường chỗ cho những cánh đồng trải rộng, những nông trại yên bình và những con đường uốn lượn dẫn vào vùng núi. Ánh nắng đầu xuân phủ lên mọi thứ một lớp ánh sáng dịu dàng, khiến cả hành trình như được nhuộm trong một gam màu ấm áp. Chúng tôi không vội. 


Không có lịch trình dày đặc, không có áp lực phải “đi cho hết”. Mỗi đoạn đường đều là một phần của chuyến đi, chứ không chỉ là khoảng cách giữa hai điểm “đi/đến”. Có lúc chúng tôi dừng xe chỉ vì một khung cảnh đẹp bất ngờ, một cánh đồng xanh mướt, một hàng cây đang đâm chồi, hay đơn giản là một khoảng trời mở rộng khiến người ta muốn hít thở thật sâu. Sau hai giờ đồng hồ rời Richmond, chúng tôi cũng đặt chân đến Endless Caverns RV Resort, một khu cắm trại rộng lớn nép mình bên sườn núi của thung lũng Shenandoah. 
Ngay từ khi vừa đến nơi, không khí trong lành và khung cảnh xanh mướt đã mang lại cảm giác thư thái khó tả. Sau khi hoàn tất thủ tục check-in, nhân viên khu nghỉ dưỡng tận tình giới thiệu các quy định cần thiết, rồi một người khác lái xe golf dẫn đường đưa chúng tôi đến khu đất trại đã đặt trước. Khu đất trại E-37 hiện ra gọn gàng và tiện nghi, nằm giữa thiên nhiên nhưng vẫn đầy đủ điện, nước và hệ thống xả thải cho camper. Trong khi tôi bắt tay vào việc cân bằng camper, kết nối điện nước và lắp đặt hệ thống xả thải, thì vợ tôi bắt đầu chuẩn bị bữa trưa đơn giản. 


Khi mọi thứ đã đâu vào đấy, chúng tôi trải bữa ăn ngay ngoài trời. Giữa không gian núi rừng yên tĩnh, bữa cơm dường như ngon hơn thường lệ. Trước mắt là những đồi núi trập trùng, xung quanh là cây cỏ và hoa lá đang vào mùa xuân Những tán redbud bung nở sắc hồng tím dịu dàng, xen lẫn những cây táo dại (crabapple) khoe hoa trắng tinh khôi điểm chút đỏ, trải dài khắp lối đi. Dưới chân là những cụm bồ công anh (dandelion) vàng nhỏ xinh và những thảm hoa cải dại rực rỡ phủ kín cánh đồng, tất cả hòa quyện tạo nên một bức tranh mùa xuân tươi sáng và đầy sức sống.… tất cả tạo nên một khung cảnh vừa bình yên, vừa sống động. 

Ăn xong, chúng tôi nghỉ ngơi một chút rồi quyết định bắt đầu chuyến khám phá đầu tiên bằng cách đi bộ lên đỉnh đồi, nơi có bảng chữ “Endless Caverns” nổi tiếng. Con đường dẫn lên đỉnh là một lối mòn dốc thoai thoải, uốn lượn qua những tán rừng rợp bóng mát. Không khí mát lành, tiếng chim ríu rít, và mùi đất ẩm sau mùa đông khiến từng bước chân trở nên nhẹ nhàng hơn. 


Cuối cùng, chúng tôi cũng đến nơi. Những chữ cái lớn “Endless Caverns” sừng sững trên đỉnh đồi, như một dấu ấn đặc trưng của vùng đất này. Chúng tôi dừng lại chụp vài tấm hình lưu niệm, đứng ngắm toàn cảnh thung lũng phía xa trước khi quay trở về khu trại. Trở lại camper, chúng tôi nghỉ ngơi thêm một lúc rồi lấy xe đạp điện, thong thả chạy vòng quanh khu nghỉ dưỡng. Endless Caverns RV Resort thực sự giống như một “thế giới thu nhỏ” giữa thiên nhiên rộng lớn. Trải dài trên hơn 265 mẫu Anh, nơi đây không chỉ mang đến sự yên bình mà còn tràn đầy những hoạt động thú vị cho mọi lứa tuổi. Nơi đây, du khách có thể tản bộ hoặc đạp xe qua những con đường mòn tuyệt đẹp, khám phá hang động đá vôi hàng triệu năm tuổi qua các tour có hướng dẫn, hay đơn giản là thư giãn bên hồ câu cá và hồ bơi nước ấm. 
Trẻ em có thể vui chơi tại khu playground, nhảy trên sân jumping pad, hoặc thử sức với khu arcade trong nhà. Những ai yêu vận động có thể tham gia sân pickleball, chơi disc golf giữa thiên nhiên, hoặc những trò chơi thân thuộc như cornhole. 


Khi chiều xuống, ánh nắng vàng ấm dần lụi sau những dãy núi, khu trại trở nên tĩnh lặng và yên bình đến lạ thường. Đây là thời khắc lý tưởng để nhóm lửa trại, quây quần bên nhau và tận hưởng không gian thanh bình của núi rừng. Chúng tôi bắt đầu chuẩn bị bữa cơm chiều bằng cách nhóm lửa nướng thịt, để than đỏ rực sẵn sàng cho những món ăn ngon. Trong lúc chờ lửa cháy rực, chúng tôi đem nem, chả, mực khô và bánh tráng ra nướng, mùi thơm lan tỏa hòa quyện với không khí núi rừng. Ngồi bên bếp lửa, nhâm nhi ly bia mát lạnh, cảm giác vừa ấm áp vừa thư thái, như thể cả thời gian cũng chậm lại để nhường chỗ cho khoảnh khắc hiện tại. Xa xa, bảng chữ “Endless Caverns” nổi bật trên sườn đồi, như một lời nhắc nhở rằng chúng tôi đang ở một nơi thật đặc biệt, nơi vẻ đẹp thiên nhiên giản dị và những trải nghiệm đời thường hòa quyện làm một. Và có lẽ, chính những khoảnh khắc nhỏ bé ấy, một bữa cơm ngoài trời, một con đường mòn mát rừng, hay một vòng xe đạp thong thả… chính là điều khiến chuyến đi trở nên sâu sắc và đáng nhớ hơn bất cứ trải nghiệm nào khác. 


Sau bữa cơm giữa rừng núi, quây quần bên bếp lửa, trò chuyện và cười đùa rôm rả cho đến hơn 10 giờ mới trở vào camper để nghỉ ngơi. Không khí ấm áp, ánh lửa nhấp nhô soi bóng trên khuôn mặt, mang đến cảm giác gần gũi, bình yên đến lạ thường, một khoảnh khắc giản dị nhưng sâu sắc, khiến chuyến đi trở nên trọn vẹn từ những chi tiết nhỏ bé nhất. Sáng hôm sau, Thứ Bảy, thức dậy từ tờ mờ sáng, chuẩn bị bữa sáng giản dị; bánh mì kẹp trứng ốp la, kèm theo phần thịt nướng còn lại từ tối hôm trước. Bữa ăn xong, chúng tôi lái xe đến James Madison University để đón con trai, khoảnh khắc đoàn tụ nhỏ bé nhưng tràn đầy niềm vui sau vài ngày xa cách. 
Bốn thành viên trong gia đình nhỏ chúng tôi tiếp tục hành trình với điểm đến mới, Seven Bends State Park. Thông thường, khi đi cắm trại, chúng tôi luôn tìm kiếm những công viên lân cận để khám phá cảnh quan thiên nhiên và tận hưởng không khí ngoài trời. Vì vùng này đã quen thuộc với những địa điểm như Luray Caverns, công viên quốc gia Shenandoah National mà trong đó có cung đường mây xanh (Skyline Drive) nỗi tiếng hay Natural Bridge… 


Lần này, chúng tôi quyết định trải nghiệm những điểm chưa từng đặt chân đến, trong đó có Seven Bends State Park. Seven Bends State Park nằm cách thị trấn Woodstock khoảng 2 dặm (3,2 km) về phía đông nam, gần khu vực lịch sử “Seven Bends” của sông North Fork, Shenandoah. Đây là công viên tiểu bang thứ 41 của Virginia, có các hoạt động giải trí ngoài trời, học tập và giáo dục, đồng thời bảo tồn các giá trị thiên nhiên quý giá của sông và cảnh quan xung quanh. Công viên được hình thành từ nhiều mảnh đất dọc theo bờ sông Shenandoah. Tiến sĩ James R. Myers đã hiến tặng 674 mẫu Anh (273 ha) đất bên cạnh hồ chứa; thị trấn Woodstock đóng góp thêm khoảng 85 mẫu Anh (34 ha); và tiểu bang Virginia mua thêm hơn 306 mẫu Anh (124 ha) từ Học viện Quân sự Massanutten. Trước đây, khu vực này từng là trại hè dành cho các cậu bé mang tên “Camp Lupton.” Công viên chính thức mở cửa vào cuối năm 2019 và được Thống đốc Glenn Youngkin khánh thành vào ngày 14 tháng 6 năm 2022, trở thành một điểm đến hấp dẫn, nơi thiên nhiên, lịch sử và các hoạt động ngoài trời hòa quyện hài hòa. Seven Bends State Park có hai cổng vào thuận tiện cho du khách, với mức phí vào cổng chỉ khoảng 5 USD cho mỗi xe, áp dụng cho chỗ đậu xe trong ngày. 


Tại Seven Bends, con gái chúng tôi mê mẩn đạp xe trên các con đường mòn nhỏ, khám phá khung cảnh xanh mướt hai bên bờ sông, trong khi con trai chọn cách yên tĩnh ngồi đọc sách và nghỉ ngơi. 
Chúng tôi, hai vợ chồng, thong thả đi dạo quanh công viên, chụp lại những khung cảnh mùa xuân rực rỡ với những bụi hoa bluebells nở dọc theo dòng sông uốn lượn. Nếu ở Texas có hoa Bluebonnet, thì ở Shenandoah Valley này là những đốm xanh tím dịu dàng của bluebells. Sau khi thưởng ngoạn và chụp ảnh, chúng tôi ghé tiệm cà phê Starbucks mua vài ly cho các con, rồi trở về Endless Caverns để tiếp tục khám phá hang động huyền bí này. Theo Wikipedia, Endless Caverns là một hang động thương mại nằm cách thị trấn New Market, Virginia khoảng 3 dặm (4,8 km) về phía nam. Hang thuộc khu nghỉ dưỡng Endless Caverns Resort, thân thiện với thú cưng, có các khu cắm trại cho RV, những căn nhà nghỉ cho khách thuê và nhiều tiện nghi khác; bể bơi ngoài trời, sân chơi, đường mòn đi bộ, ao câu cá bắt rồi thả (catch-and-release), hầm khai thác khoáng sản và các hoạt động giải trí đa dạng. 


Lịch sử của hang bắt đầu vào tháng 10 năm 1879, khi hai cậu bé đang săn thỏ trên đất của Ruben Zirkle phát hiện ra một hố nhỏ sau tảng đá vôi. Khi di chuyển đá để dọa thỏ, họ nhận ra hang sâu bên dưới, quay về lấy dây thừng và nến để khám phá. Trong hang có nhiều phòng. Không lâu sau, gia đình Zirkle tổ chức các tour khám phá bằng nến. Năm 1919, Đại tá Brown mua lại hang và lắp điện hoàn chỉnh, chuẩn bị cho buổi khai trương vào tháng 8 năm 1920, với thiết kế ánh sáng của Phineas Stephens. Đến năm 1928, hệ thống điện được cải tiến thêm với sự hợp tác của Samuel Hibben và W.A. Oglesby. Khi bước vào lòng hang Endless Caverns, cảm giác chúng tôi như rời khỏi thế giới bên ngoài để bước vào một vũ trụ khác, nơi thời gian dường như chậm lại, tiếng bước chân vang vọng trên đá và hơi mát lạnh của hang khiến da gà nổi lên từng đợt. Người hướng dẫn viên dẫn chúng tôi đi từng ngóc ngách của hang, thỉnh thoảng kể lại câu chuyện phiêu lưu của hai cậu bé đã tình cờ phát hiện hang vào năm 1879. Những chi tiết được kể một cách sống động khiến chúng tôi tưởng như đang sống lại khoảnh khắc lịch sử ấy… 


Ánh nến lập lòe và cảm giác hồi hộp khi phát hiện ra những buồng hang bí ẩn lần đầu tiên. Một trải nghiệm đặc biệt khiến mọi người không thể quên là khi hướng dẫn viên tắt toàn bộ hệ thống điện trong hang, chỉ để lại một ngọn nến nhỏ heo hắt. Ông yêu cầu mọi người nhắm mắt, hít thật sâu, và khi mở mắt ra, cả hang chìm trong bóng tối. Không còn ánh sáng len lỏi, không còn hình ảnh gì ngoài những khoảng đen mênh mông. Trong khoảnh khắc ấy, mọi giác quan như được đánh thức, âm thanh rơi xuống từ trần hang trở nên sống động hơn, hơi thở của từng du khách vang vọng như nhịp trống xa xăm. 


Sự im lặng tuyệt đối và bóng tối bao trùm tạo ra một cảm giác vừa sợ hãi vừa kỳ diệu như đứng giữa một thế giới chưa từng được khám phá, nơi con người trở nên nhỏ bé trước vẻ hùng vĩ của thiên nhiên. Sau hơn một giờ đi dọc các buồng và hành lang ngoằn ngoèo, khám phá những khối thạch nhũ, đá với đủ hình thù kỳ lạ; từ những cột đá trông như cây nến khổng lồ, những thác nước đá đóng băng, cho đến những hình thù tưởng tượng do ánh sáng nến chiếu lên vách hang, chúng tôi dần kết thúc hành trình dưới lòng đất. 
Mỗi bước chân rời hang đều mang theo cảm giác vừa hồi hộp, vừa tràn đầy sự thán phục. Trở lên ánh sáng ban ngày, nhịp tim chúng tôi dường như vẫn còn vang vọng trong từng khoảnh khắc huyền bí của hang động, một trải nghiệm khó quên, vừa thử thách giác quan, vừa chạm đến trí tưởng tượng và sự tò mò vô tận của con người. 


Sau khi rời hang vào khoảng gần 6 giờ chiều, chúng tôi trở về khu cắm trại, nhóm lửa và chuẩn bị bữa tối. Cả gia đình quây quần bên bếp lửa, nướng thịt, trò chuyện rôm rả, tiếng cười vang lên hòa cùng tiếng xào xạc của lá rừng tạo nên một không gian bình yên mà ấm áp. 


Sau một ngày dài khám phá và trải nghiệm. Khoảng hơn chín giờ tối, chúng tôi lấy bánh sinh nhật ra, thắp nến và hát mừng sinh nhật lần thứ 15 của cô con gái. Không khí trở nên rộn rã và đầy niềm vui, tiếng hát vang vọng khắp khu rừng, rồi chúng tôi cùng nhau cắt những miếng bánh ngọt ngào, thưởng thức và trò chuyện thêm chút nữa trước khi chuẩn bị đi ngủ để sáng hôm sau rời khỏi khu đất trại. 

Sáng Chủ Nhật, những hạt mưa lất phất bắt đầu rơi, từng giọt nhỏ vỗ nhẹ trên mái camper, tạo nên một giai điệu dịu dàng cho buổi sáng. Chúng tôi nhanh chóng dọn dẹp mọi thứ, gắn lại camper và lái xe đến James Madison University để đưa con trở lại trường. Cảm giác thật khác lạ, hiếm có gia đình nào lại đưa con đi học mà kéo theo cả một chiếc camper như chúng tôi, nhưng điều đó lại khiến chuyến đi trở nên đặc biệt và đáng nhớ hơn. 


Chỉ vài ngày ngắn ngủi, nhưng cả gia đình đã kịp ghi lại những khoảnh khắc trọn vẹn bên nhau. Những cung đường uốn lượn qua núi rừng, những hang động huyền bí, bữa cơm bên lửa trại ấm áp, và những buổi sáng mưa lất phất nhè nhẹ. 

Mỗi trải nghiệm, dù nhỏ bé, đều thấm đẫm tiếng cười, sự gần gũi và cảm giác tự do hiếm thấy trong cuộc sống thường nhật. Chuyến đi không chỉ là một kỳ nghỉ, mà còn là một câu chuyện gia đình, nơi thiên nhiên, niềm vui giản dị và tình thân hòa quyện, khắc sâu trong ký ức những giá trị giản đơn nhưng vô cùng quý giá. 


Richmond, 04/06/2026
Võ Phú 

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

Em Còn Nhớ Mùa Thu - Sáng Tác: Nguyễn Thanh Cảnh - Hòa Âm: Dương Hoàng Phúc - Ca Sĩ: Xuân Phú


Sáng Tác: Nguyễn Thanh Cảnh
Hòa Âm: Dương Hoàng Phúc
Ca Sĩ: Xuân Phú

Ngược Dòng

 

Hôm nọ có người ghé bến sông
Nói chuyện nhà bên đã gả chồng
Từ độ ngược dòng đi xây mộng
Chả thấy một lần ghé bến sông.

Tôi biết người ta chẳng ngóng trông
Chỉ mình tôi với mộng hư không
Chiều qua lạc bước về Kim Động
Tôi lại trắng đêm hứng gió đồng.

Tôi biết người ta đã gả chồng
Giờ là mệnh phụ giữa phố đông
Tôi buồn tôi giận tôi dại mộng
Say mãi đò ngang khách má hồng.

Đã mấy đông rồi, đã mấy đông
Bếp lửa nàng nhen có đượm hồng
Mỗi bận nàng ra cài then cổng
Có lạnh so người trước gió đông?

Nàng có còn quen nép cạnh chồng
Hững hờ dạo gót giữa phố đông
Lá vàng lả tả khi chiều xuống
Có thấm cô đơn bởi gió cuồng?

Tôi biết người ta chẳng đoái trông
Chỉ mình tôi với mộng hư không
Tôi buồn tôi giận tôi dại mộng
Lỡ cả chuyến đò khách sang sông.

Hà Nội, Ngày 29 tháng 11-2014
Đặng Xuân Xuyến

Chuyện Con Tàu Titanic

 
(Xác con tầu Titanic dưới đáy đại dương)

Xưởng đóng tầu Harland bên Anh Quốc
Hơn một trăm năm trước đã hoàn thành
Con tầu Titanic vĩ đại lừng danh
Dài 270, rộng 30, cao 22 mét
Với mười lăm ngàn tay thợ chuyên nghiệp
Dưới quyền kỹ sư thiết kế Thomas Andrews
Hoạt động hăng say, chẳng kể sớm chiều
Suốt ba năm trời, con tầu hạ thủy

Titanic tám tầng cao hùng vĩ
Có phố shopping, hý viện, hồ bơi
Sân thể thao, vườn hoa, khu trẻ chơi
Vào thưở ấy, thật không gì so sánh!
Kỹ sư Andrews vô cùng kiêu hãnh
Khi Titanic lần thứ nhất ra khơi
Mọi sự diễn tiến, chu đáo tuyệt vời!
Chở theo 2.224 du khách

Một nhà báo nêu câu hỏi duy nhất
Về sự an toàn của cuộc hải hành
Thomas Andrews ngạo mạn trả lời nhanh
“Đến Thượng Đế cũng không nhận chìm nó được!”
Thượng Đế tối cao, không chấp lời hỗn xược!
Nhưng rủi ro, chứng quả lẽ vô thường.
Titanic ra giữa Đại tây dương
Đêm 14/4/1912 chẳng may gặp tai biến

Tầu đâm vào khối băng thạch trên biển
Đáy bị nứt toang , hàn gắn vô phương
Than ôi! Titanic lâm nạn quá bi thương
Tầu chìm, đem theo 1517 người thảm tử!
Chuyện kinh hoàng, ghi vào Thế Giới sử
Để thế hệ sau, chiêm nghiệm chuyện đời
Cái văn minh trí óc của con người
Dù vượt biển băng trời, cũng đừng kiêu ngạo.

Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia

Cánh Chim Sa

 

Bay ngang biển lặng được bao lâu
HỒNG TƯỚC nghiêng thân thả cánh sầu
Bên cửa Tò Vò * tha thiết nhớ
Ngoài trời ca nhạc não nùng đau
Nhịp tim văn nghệ thường thăng giáng
Tiếng hát cộng đồng vẫn trước sau
Bạn học TRƯNG VƯƠNG buồn bã quá
Chưa già, sao vội bỏ đi mau …

Rancho Palos Verdes 9 - 4 - 2026
Cao Mỹ Nhân
* Tò Vò là tiếng lóng vui để chỉ TRƯNG VƯƠNG.