Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Kim Thành. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Kim Thành. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2019

Thương Người Như Thể Thương Thân


Rồi một ngày, ba đưa về nhà con bé, trạc tuổi cậu em út của tôi và rằng “Đây là con gái út của ba, không đứa nào được ăn hiếp nghe.” Câu giáo đầu có ý nhắc khéo, nhưng có trời mới tin được, cô bé tên Lòng kia là con gái út của ba. 

Lòng có làn da bánh mật, tóc bum bê ôm lấy khuôn mặt bầu bĩnh, đôi mắt nhỏ, có duyên ở nụ cười, để lộ hàm răng trắng ngần. Con bé với bọc đồ nhỏ trong tay, đứng nép sát vào ba, vẻ ngơ ngác, đôi chút rụt rè, nhìn chúng tôi. Ba cho biết Lòng đến giúp má, phụ việc trong nhà. Trong bỡ ngỡ lẫn xót xa, tôi thầm nghĩ, tuổi đời còn quá nhỏ nhưng bé phải rời gia đình đi giúp việc cho nhà người. 

Ba, lúc ấy là chủ một nhà máy xay lúa, sống xa gia đình ở cùng với gia đình Cậu Tư tôi, đôi ba ngày hay cả tuần lễ mới về thăm nhà. Có việc cần, má bảo tôi xuống nhà máy gọi ba về. Với khoảng thời gian đợi chờ ba không lâu, nhưng là một khúc phim dài, đầy ý nghĩa, mãi đeo đẳng theo tôi.

Dù là chủ nhà máy, nhưng nếu không tận mắt nhìn thấy nơi ăn, chốn ở và việc ba làm, khó tưởng nổi ba là chủ nhân ông, chỉ biết ngồi yên trước bàn để thu tiền công xay lúa từ khách hàng như những ông chủ khác. Tiếng ồn ào của máy xay lúa lẫn động tác của đôi tay không ngừng nghỉ, ba phụ người này nâng cái thúng gạo lên, giúp người kia mở bao bố để đổ cám vào. Mái tóc ba trắng phơ bởi bám đầy bụi cám. Trên con đường trở về Vĩnh Long, đầy “ổ gà”, tôi ngồi ôm chặt lấy ba, trên chiếc xe gắn máy Yamaha. Lưng ba còn vương vương mùi bụi cám. Trái tim tôi như có lời vọng ra...”sao thấy thương ba quá đổi”.

Qua lời của ba, con của ba được cho ăn học, đứa con nào muốn học đến đâu, ba lo cho tới đó. Nhưng, có những đứa trẻ khác không được như vậy. Công việc ba làm, dù cực nhọc, nhưng có những người khác đã cực nhọc và kém may mắn hơn ba rất nhiều. Ba kể rằng, mỗi lần một bà mang lúa đến xay, luôn có một con bé lẽo đẽo bên cạnh phụ giúp. Thấy sự vất vã của bà và tương lai mờ mịt của Lòng, ba thương cảm cảnh đời của con bé. Con bé được sinh ra trong một gia đình nghèo, lam lũ với miếng cơm manh áo. Và xót xa hơn mà ba nhận ra, là qua đôi mắt trong sáng đó, con bé không may lại mù...mù chữ.

Sau những lần đắn đo, ba ngỏ ý và bà đã bằng lòng cho con bé về với gia đình chúng tôi, giúp má làm việc lặt vặt trong nhà. Ở tuổi này, bé làm gì có thể quán xuyến nổi một bữa ăn, Lòng chỉ phụ hợ, má sai đâu làm đó, bảo gì nghe nấy. Lòng suốt ngày lẽo đẽo bên má, được má may quần áo mới cho mặc, học cách sử dụng bếp núc, giặt giũ, học cách ăn, cách nói và cả học chữ. Phần giặt giũ, con bé chỉ lo cho ba má tôi, còn áo quần của chúng tôi thì mỗi đứa phải tự liệu. Đến giờ cơm, Lòng được ngồi cùng bàn, ăn chung mâm. Khi má nghỉ trưa, Lòng cũng được ngủ trưa. Tối đến má xem tivi, Lòng cũng được xem cải lương, thưởng thức nhạc. Lúc các em tôi ngồi vào bàn học, Lòng được má tôi dạy tập viết ngoài ra dạy thêm tiếng Pháp nữa.

Khi cô bé lớn thêm một chút, Lòng được tập chạy xe đạp. Con bé ham học và thích thú lắm. Ngồi chưa tới yên xe, một chân thọt bên này, một chân với bên kia, thế mà con bé cũng chạy được. Suốt ngày, bé luôn mong mỏi má tôi sai bảo đi mua đồ lặt vặt. Con bé còn đạp xe đến trường, bé chờ, bé đợi, đến giờ tan học của hai em gái tôi, để chở một trong hai cô chủ nhỏ về nhà.

Thời gian lặng lẽ trôi, cô bé từ giả để về quê lập gia đình. Ngày Lòng rời nhà, má tôi đã cho bé một ít tư trang. Lòng không còn sống chung dưới mái gia đình của tôi nữa. Thật đáng tiếc cho gia đình tôi và cả Lòng!

Hôm nay ngày giỗ thứ 22 của ba. Nhớ ba, hình bóng con bé Lòng lại thấp thoáng, từ ngày đầu đến lúc rời xa chúng tôi. Cái tình của con bé cho đi là kỷ niệm đẹp, khó quên. Đó là lần, sau giấc ngủ trưa, con bé chìa ra hai củ khoai lang luộc và thỏ thẻ với má tôi, “con cất riêng hai củ khoai, để dành cho ông mười bà mười”. Tình ba má tôi cho đi, tình con bé đáp lại, đơn giản qua hai củ khoai lang luộc, nhưng đậm tình người. Một bài học gián tiếp, không lời, nhưng rất thực tế. Ba đã dạy chúng tôi biết thế nào là tình thương giữa người và người. 

Ba không còn, nhưng tôi vẫn nhớ ba mà thương, thương ba mà nhớ, nhớ những gì ba đã trải qua lúc thiếu thời, nhớ những gì ba đã nói khi ba sắp sửa lìa khỏi cuộc đời… Ba đã dạy chúng tôi biết thế nào là tình thương giữa người và người qua Lòng, một nhân vật có thật. Đó là hành trang ba đã trao truyền lại cho các con, sự rắn rỏi chống chỏi với đời và từ tâm của một con người.

Kim Phượng
30.10.2019


Lời Cuối Cho Cụ Ông Lê Văn Sang (Điếu Văn 30/10/1997)


Ba thương yêu ơi! 
Thời gian thật nhanh, mới đó mà đã 22 năm ba rời xa chúng con.
Với chừng thời gian ấy con chưa thể nào quên được. Hôm nay lục lại những kỷ niệm của ba má, con đọc lại những lời của Ông Trần Văn Quản, Thành Viên của Hội Nghi Lễ Liên Bang Úc Châu, viết và đọc Điếu Văn trong ngày tiễn đưa ba. Ngậm ngùi lắm ba ơi.

Úc đang xuân, hoa đua sắc thắm, con lại nhớ ba nhiều hơn. Nhất là ngày con cất được căn nhà đầu tiên, một tay ba trồng trọt, chăm chút vườn tược được đơm hoa kết trái xinh tươi. Hình ảnh ấy mãi mãi trong tâm trí con và các cháu của ba. Con nguyện cầu nơi Thiên Đàng ba an hưởng thanh nhàn, hạnh phúc đời đời cùng má nha ba.

Muôn hoa sắc thắm rộn ràng
Mùa Xuân năm cũ lòng chan chứa về
Nguyện cầu nơi chốn Trời Quê
Ba Má an hưởng tràn trề ân Thiên
Làm con Ba Má là duyên
Mong thêm kiếp nữa con nguyền khắc tâm!

Con gái Chín của Ba.
Lê Thị Kim Oanh
Melb.30-10-2010
***
Điếu Văn của Ông Trần Văn Quản

Cuộc Đời và Sự Nghiệp



Trước khi bắt đầu phần nghi lễ, tôi xin chuyển lời cảm ơn chân thành của tang gia đến toàn thể quí vị, trước cảm tình ưu ái nồng nàn, đến phân ưu và chia sẻ những mất mát lớn lao nhất và tiễn đưa người quá cố đến nơi an nghĩ cuối cùng. 
Trong lúc tang gia bối rối có điều chi sơ sót mong quí vị vui lòng lượng thứ và bỏ qua cho.

Sự ra đi vĩnh viễn của Ông Lê Văn Sang đã khiến chúng ta tạm gác lại các sinh hoạt hàng ngày để cùng nhau đến đây bày tỏ niềm mến tiếc luyến thương người quá cố. Một điểm chung của tất cả chúng ta hiện diện nơi đây cùng có với ông Sang một tấm chân tình yêu thương và quý trọng.

Cuộc sống ở đời này, là mạch sống nối tiếp liên tục với người xưa. Chúng ta là di sản, là thọ hưởng các công trình và ân huệ của người xưa để lại. Hôm nay nhân lúc chúng ta thành tâm đưa tiễn thêm một người nữa ra đi. Sau khi đã hoàn thành trách nhiệm của cõi đời. Cũng là lúc tốt nhất để chúng ta gác lại những bận rộn của cuộc sống để tâm tư mình lắng đọng, bình tâm suy gẫm về cuộc đời. Một cuộc đời đã sống cùng phấn đấu dài, đã hoàn tất nhiều công trình còn để lại cho người sau thừa hưởng, những người thừa hưởng đó có thể có ảnh hưởng đến cho cả chính chúng ta.

Ông Lê Văn Sang sinh ngày 16-12-1914 tại Xã Trung Ngãi, Quận Vũng Liêm, Tỉnh Vĩnh Long trong một gia đình khá giả. Cha của ông là Bang Biện thời trước, nhưng gia đình rất đổi thanh liêm, Mẹ ông ở nhà cũng phải tảo tần nuôi dạy bảy người con, 5 gái, hai trai.
Khi còn trẻ ông Sang rất chăm chỉ học hành nên được gia đình gởi lên Sài Gòn đi học theo chương trình Pháp. Nhưng đến thời kỳ khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam. Ông phải trở lại quê nhà sinh sống. Ông sớm ý thức được rằng, nông nghiệp là căn bản của nền kinh tế Việt Nam, ông say mê trồng trọt. Đỡ đần công việc cho Cha mẹ.

Đến năm 1939, ông được 25 tuổi, sự nghiệp vững vàng nên ông vâng lời cha mẹ cưới vợ. Bà Võ Thị Thoại khi đó là người thiếu nữ đẹp nổi tiếng tại địa phương. Đôi uyên uơng lúc ấy là cặp trai tài gái sắc, xứng đôi vừa lứa.

Đến năm 1945 chiến tranh xảy ra, Ông là nhà nông nên không bị lôi cuốn nhiều về cuộc chiến. Nhờ đó ông có cơ hội và thời giờ phụng dưỡng mẹ cha trong lúc tuổi già cùng nuôi dạy các con.

Gần đến 1954 cuộc chiến sôi động. Theo luật pháp thời đó ai có trên 5 người con không phải đi lính. Nhờ vào cơ duyên này ông cảm thấy mình may mắn nên ông phát tâm làm việc thiện. Ông thường khuyên răn con cái làm lành lánh dữ, thường xuyên giúp đỡ mọi người.

Theo quan niệm xưa của người Việt, gia đình đông con là biểu tượng gia đình có phước đức. Ông tự hảnh diện, cám ơn Trời Phật về điều này. Rồi tự đặt cho mình một trách nhiệm lớn lao là sẽ nuôi dạy con cái trở thành người hữu dụng. Rút kinh nghiện bản thân qua những gian khó vì chiến tranh cho nên ông cố gắng tránh cho con mình bị lôi vào vòng quỹ đạo đó, bằng cách khuyến khích các con tích cực làm các công việc xã hội, đồng thời khích lệ con chuyên cần học tập.

Đến năm 1975, ông 61 tuổi được 10 người con đều khôn lớn và thành đạt. Tưởng đâu ước nguyện đã trọn vẹn. Ngờ đâu một biến cố xảy ra làm cho gia đình ông nhiều ly tán.  Một lần nữa khiến ông bà hết lòng lèo lái đàn con để sớm gồm chung về một nơi đoàn tụ. Không có một thành công nào mà tự nó đến mà không có chông gai, công lao, mồ hôi, tim óc và nước mắt.  Hơn nữa dù ai có tài giỏi, cố gắng đến đâu cũng không bao giờ đạt được một thành công tuyệt đối.

Năm 1984 ông bà được con bão lãnh đoàn tụ gia đình theo diện di dân sang Úc.

Cuối cùng sau hơn 84 năm cuộc đời, 68 năm chung sống cùng vợ lăn lóc với đàn con, ông đã để lại cho đời 10 đứa con thành đạt, 6 ở Úc, 1 ở Mỹ, 1 ở Canada, và 2 ở Việt Nam, tổng cộng 29 cháu nội ngoại. Ông rất sung sướng và  hãnh diện về con cháu ông.

Ba năm gần đây bệnh tim ông trở nặng, các con đồng lòng chăm sóc chạy chữa tận tình, có lẽ định mệnh an bài, ông đã êm ái ra đi lúc 3g30 sáng ngày 30-10-1979. Nguyện ước của ông là các con phải hiếu thảo với mẹ cha và anh em hòa thuận cùng nhau. Ông ra đi trong niềm tiếc thương to lớn của tất cả chúng ta.

Đặc điểm của ông Sang là người thích hoạt động, thích thể thao, thời niên thiếu ông chuyên cần luyện tập võ thuật. Có lẽ nhờ võ thuật ông tập tánh hiền lành, biết nhường nhịn, thương người, sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khó.

Về âm nhạc ông thích nghe nhạc buồn như phản ảnh một tâm sự thầm kín riêng tư với chí trai hồ hãi nhưng phải bó gối cầm chân. Ông thích nhất giọng hát của nữ  ca sĩ Thanh Thúy. 

Xuất thân từ nông nghiệp, ông yêu thích thiên nhiên và du lịch. Việt Nam đối với ông là một hình ảnh tuyệt vời, mãi mãi ghi sâu trong tiềm thức. Ông tỏ ra vô cùng ưa thích những gì liên quan đến Việt Nam, ông thích nghe Đài phát thanh Việt Ngữ SBS Melbourne, ông tham gia những buổi sinh hoạt của Cộng Đồng  Việt Nam.

Tóm lại ông Sang đã sống một cuộc đời dài hữu dụng, đã đóng góp, xây dựng biết bao là công nghiệp, yêu thương nhân hậu. giúp đỡ tận tình, cụ thể nhất là cho vợ cho con trong tinh thần tích cực. Một cống hiến lớn lao cho thế hệ con cháu mai sau.

Một vài phút ngắn ngủi không làm sao kể hết công lao của một đời người, nhất là một người như ông Sang.
Trước nhất nét nổi bậc của ông là chứng nhân vô tư của lịch sử xã hội Việt Nam, trải qua biết bao biến cố 1945, 1954, 1975, biết bao vật đổi sao dời, vậy mà ông vẫn lèo lái con thuyền gia đình vượt qua muôn trùng sóng gió.

Kế đến, ông xứng đáng là một người chồng mẫu mực, một người chồng dành trọn vẹn yêu thương cho vợ trong suốt 68 năm trường. Một biểu tượng văn hóa chứa đựng giá trị cao quý của Việt Nam, xứng đáng được đề cao, tôn trọng không phải chỉ là gương mẫu cho tây phương mà cả đông phương. 

Thêm nữa ông là người cha gương mẫu cho các con cháu noi theo. Và sau cùng ông là một người con  hiếu thảo của gia đình, ông sống quá xứng đáng không uổng phí,  đã để lại cho đời nhiều hơn những gì ông hưởng được, nhiều hơn cả những gì ông mang đi.

Kính thưa bà Sang cùng tang quyến, những người có mặt tại đây xin thành kính phân ưu. Chúng tôi vô cùng chia sẻ những ray rứt khổ đau mà gia đình gánh chịu. Khi chúng ta đau khổ vì thương người quá cố, xin hãy vì người mà suy gẫm về công trình gầy dựng, những tâm tư và gương sáng của người để lại, vì yêu ông chúng ta cùng nhau làm sáng tỏ thêm gương sáng của ông.

Cuộc đời là vô thường, họp tan, biến đổi. Đó là định luật của thiên nhiên và vũ trụ, là một sự hiển nhiên không sao tránh khỏi. Cái buồn vui thật sự của mỗi người phải là cái lý do của chính đời sống của mình, xem có ý nghĩa không có làm được gì hữu ích để cho đời sau không. Trong ý nghĩa đó ông Sang chắc chắn vui vì đã hoàn thành nhiệm vụ và êm ái ra đi. Vì vậy chúng ta hãy cùng hãnh diện và chia sẻ niềm vui đó với ông Sang.

Sau đây tôi xin mạn phép đọc một đoạn thơ ngắn gọn mô tả tâm tình của ông Sang, được trích trong tập Gia Huấn Ca của Nguyễn Trãi:

Ở phải có nhân có nghì,
Thơm danh vã lại làm bia miệng người.

Hiền lành lấy tiếng với đời,
Lòng người yêu dấu, là trời hộ ta.
Tai ương hoạn nạn đều qua,
Bụi trần giũ sạch thực là từ đây.
Vàng trời tuy chẳng trao tay,
Bình an hai chữ xem tày mấy mươi.
Mai sau bạc chín tài mười,
Sống lâu ăn mãi của đời về sau.


Kính thưa quí vị, trong chốc lát nữa đây, ông Sang thân yêu của chúng ta sẽ được đưa về nghĩa trang hỏa táng theo di chúc của người, chúng ta thân ái chuẩn bị tiễn đưa người thân yêu vào miền miên viễn.

Trong tinh thần ca ngợi, một công nghiệp hoàn thành, một cuộc đời đáng sống. Chúng ta kính cẩn cầu chúc Hương Hồn người quá cố nghe Thanh Thúy ca bản nhạc cuối cùng để kỷ niệm với ông Sang ngày chia tay vĩnh biệt.

(Melbourne City 1992)

Melbourne 3--10-1997
Trần Văn Quản
(Kim Oanh Lưu Niệm)

Chủ Nhật, 24 tháng 9, 2017

Lời Cuối Cho Cụ Bà Võ Thị Thoại (Điếu Văn)

(Võ Thị Thoại năm 2001)
Thời gian quá nhanh!
Mới đó mà đã 15 năm trôi qua. Ngày 24 tháng 9 năm 2002, Má đã vĩnh viễn rời khỏi cuộc đời. 
Từ lúc còn là một cô bé, đến khi về làm dâu và sau đó trở thành là mẹ của những đứa con, là chủ của một gia đình, việc thờ cúng ông bà, Má lấy đó làm niềm tin.

Nhưng, trong những ngày cuối đời, Má đã nhờ Vị Linh Mục, cho Má một câu kinh để "Má học". Một câu kinh dù ngắn, gọn, chỉ có 11 chữ, so ra rất khó khăn cho một người mà theo lời bác sĩ cho biết, chỉ còn một tuần lễ trên dương thế mà thôi. 
Cuối cùng rồi Má cũng thuộc lời kinh thứ nhất. Má tiếp tục, xin học thêm câu kinh thứ hai. Rất tiếc, chỉ được nửa câu...Má không còn cơ hội nữa rồi.

Lúc sinh thời, Má rất hâm mộ Vị Linh Mục, và phải chăng có sự gặp gỡ trong tâm hồn, chính Ngài là Người đọc điếu văn...đưa Má rời khỏi cuộc đời...
***
Điếu Văn của Linh Mục Đinh Thanh Bình

(Võ Thị Thoại Năm 15 tuổi)

Kính thưa quí ông bà anh chị em,

Trong những ngày tháng cuối đời của cụ bà Võ thị Thoại, tôi được may mắn gặp cụ hai lần. Lần thứ nhất, 45 phút, lần thứ hai khoảng 80 phút. Tổng cộng chỉ được hơn hai tiếng đồng hồ. Vậy mà đối với tôi sau hai lần gặp gỡ ngắn ngủi ấy, tôi biết chắc rằng hình ảnh và phong thái của cụ sẽ vĩnh viễn lưu lại trong tâm hồn tôi. Nghe tin cụ mất, tôi đã bàng hoàng thương tiếc, gần như một người con vừa mất mẹ. Ngay cả đứa cháu của tôi, đã theo tôi hai lần đi gặp cụ, cũng vùi khóc ròng như một người cháu ruột vừa mất bà.

Cụ bà Võ Thi Thoại là một người như thế nào mà chỉ trong vài lần tiếp xúc với cụ, tôi đã bị cụ cuốn hút mãnh liệt nhanh chóng như vậy? Cụ là ai mà chỉ trong hai tiếng đồng hồ chuyện trò, tôi đã nuối tiếc ngẩn ngơ vì không còn cơ hội gặp lại cụ nữa? Quí ông bà anh chị em, chúng ta hãy cùng nhau lần giở lại trang sử đời cụ để tìm cách trả lời cho câu hỏi này.
Như một sự tình cờ ngẫu nhiên nhưng mang đầy ý nghĩa, cụ là một món quà đầu năm mới cho cuộc đời, vì cô bé Võ Thi Thoại sinh vào đúng ngày Mùng Một tháng Giêng năm 1924. Quê cô ở Vĩnh Long, vùng đất ngọt ngào tình tự quê hương. Cô thôn nữ Thoại chất phác thật thà như bản tính cố hữu của người miền nam. Chắc chắn lúc đó cô rất đẹp, vì lần đầu tôi gặp cụ, khi cụ đã hơn 78 tuổi, cụ vẫn còn nhiều nét thanh xuân mặn mà của thời con gái, mặc dù bây giờ người ta chỉ có thể khen cụ đẹp lão mà thôi.

Không có gì đáng ngạc nhiên, khi cô Thoại vừa đến tuổi trăng tròn, 15, 16, thì cụ ông, Lê Văn Sang, trước kia là một chàng công tử con nhà giàu, đã say mê cô thôn nữ. Lúc đầu, cụ ông còn bày đặt giả đò đi kiếm bạn cho cô, kiếm hoài không được. Dĩ nhiên là không được vì cụ ông đã có chủ ý rõ rệt “Em ơi! Kiếm hoài hổng được, thôi thì, em chịu đại anh cho rồi”. Sau lời cầu hôn ấy, hình như, cô thôn nữ đã gật đầu ưng thuận. Chàng công tử biết tỏng câu ca dao: “Cưới vợ thì cưới liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha”. Bị dèm pha chưa chắc đã sợ nhưng chỉ sợ có thằng nào nhanh chân dớt trước thì lại tiếc ngẩn tiếc ngơ.

Nếu hỏi rằng cụ Bà Võ thị Thoại là một người như thế nào mà đã cuốn hút tôi mãnh liệt. Xin thưa rằng bởi vì cụ vừa đẹp, vừa dịu hiền lại vừa chất phác thật thà. Về nhà chồng năm 16, cô thôn nữ bây giờ đã là vợ, còn nhiều nét ngây ngô dại khờ. Cô nấu canh cho gia đình, bố chồng ăn xong chép miệng nói: “Con ơi! Canh hơi bị cứng”. Cô nhanh nhẹn trả lời: “thưa Tía, con hầm canh lâu lắm mà! Cứng sao nổi mà cứng, hả Tía?” Bố chồng mỉm cười đáp lại: “Tía nói cứng nghĩa là canh bị mặn, nhưng không sao đâu, con còn nhỏ, từ từ rồi tía má sẽ chỉ dạy thêm.” Câu nói dịu dàng ấy của Bố chồng, đã in sâu vào tâm khảm của nàng con dâu. Ở đời, người ta thường mỉa mai sự khắc nghiệt của bố mẹ chồng đối với nàng dâu. Trong gia đình chồng của cô Thoại, không hề có chuyện đó. Chính nhờ sự dịu dàng của Bố chồng, con dâu Thoại đã cảm nhận được những bài học về sự nhân ái trong cuộc đời Nhờ cảm nhận được bài học độ lượng này, nàng con dâu đã đem áp dụng lại để đối xử với mọi người, và đặc biệt nhất, để chỉ dạy giáo dục cho các con về sau.

Nếu hỏi rằng Cụ Bà Võ Thị Thoại là ai mà đã cuốn hút tôi mãnh liệt. Xin thưa rằng vì cụ hiếu thảo với bố mẹ, biết chấp nhận lầm lỗi, biết cảm kích trước lòng độ lượng của bố mẹ và biết học hỏi để truyền dạy lại cho con cái, cũng như chính cụ biết sống thực hành lòng độ lượng đó khi đối xử với mọi người chung quanh.

Thập niên 1940, chiến tranh tiếp tục leo thang khốc liệt tại quê hương. Dân chúng khốn khổ trăm chiều ngược xuôi lánh nạn, giặc Tây rồi lại Việt Minh. Mỗi lần Tây đi càn, tất cả con trai, đàn ông trong làng đều phải đi trốn, nếu không muốn bị chém đầu xử tử. Một mình cô Thoại ở lại nuôi con. Cô học tới lớp cao nhất bậc tiểu học, đối với thời bấy giờ, phải kể là một người có học thức cao. Nhờ thầy giáo Phụng hết lòng dạy dỗ, cô biết tiếng Pháp. Và chính nhờ số vốn ngoại ngữ này, cô đã cứu giúp được nhiều người bà con hàng xóm vì khả năng đối đáp trôi chảy nhuần nhuyễn của cô với giặc Tây.

Năm 1968, tết Mậu Thân, một lần nữa, gia đình ông bà Sang Thoại, lại bồng bế nhau trốn chạy rời Làng Giống Ké, Quận Vũng Liêm. Những sạp buôn trong chợ lại bị đốt sạch, cuối cùng, cả gia đình đành kéo nhau trở về quê nội. Sự giàu có của gia đình nội, tới thời gian này, vì chiến tranh loạn lạc, đã bị khánh kiệt gần như hoàn toàn. Nếu chúng ta từng đọc truyện của Hồ Biểu Chánh, một nhà văn nổi tiếng người miền nam, chúng ta không thể quên được cái Lộ ông Bang, ông Bang đắp đường lộ, ông Bang chính là bố chồng của Bà Thoại. Gia đình giàu sang nhưng không tự cao hách dịch, ông bà đối xử rất tử tế với những người làm công và tá điền, sẵn sàng trợ giúp bằng mọi cách cho những người nghèo khổ khốn cùng. Các con cháu bây giờ, vẫn nhớ ơn ông bà, vì phước đức của ông bà để lại.

Nếu hỏi rằng cụ Bà Võ Thị Thoại là một người như thế nào mà đã cuốn hút tôi mãnh liệt. Xin thưa rằng vì cụ rất nhân từ, rất can đảm và rất cương quyết, sẵn sàng đối phó với mọi gian nan thử thách, mọi tình huống nghiệt ngã trong cuộc đời để tận tụy phục vụ cho bố mẹ, cho chồng con và cho mọi người.

Năm 1975, quốc nạn bất ngờ ập đến, cuộc sống càng ngày càng cơ cực. Ông phải lặn lội đi xa coi sóc nhà máy xay lúa, một mình bà ở nhà nuôi dạy con cái. Mười đứa con, cả trai lẫn gái đều được khuyến khích theo học. Học hỏi không chỉ trong kiến thức, nhưng còn học cách làm người, như cha mẹ như ông bà. Bà Thoại khi rỗi rảnh kể lể chuyện ông Sang cho con cháu nghe, bà vẫn còn bùi ngùi lúc nhớ đến kỷ niệm ngày xưa. Ngày xưa, mà ông đã biết viết thơ về cảm ơn bà đã thay ông chăm sóc dạy dỗ các con nên người. Ngày xưa, mà khi bà bị bệnh nằm trên thường 28 ngày, dù đầy người giúp việc trong nhà nhưng ông cũng nhất định nghỉ làm trọn tháng để tự tay cơm bưng nước rót hầu hạ bà. Chúng ta sẽ vô cùng lầm lẫn, nếu cho rằng ngày xưa tình nghĩa vợ chồng không biết cách biểu lộ sự tình tứ lãng mạn và âu yếm mặn nồng. Một người con đã kể lại, chưa bao giờ thấy ba má to tiếng cãi nhau dù chỉ là một lần. Không phải là hai ông bà giấu giếm sự thật hay tránh né xung đột nhưng chỉ bởi vì hai ông bà biết cảm thông, biết chấp nhận, biết tôn trọng lẫn nhau và biết chân thành yêu thương nhau.Nếu hỏi rằng cụ Bà Võ Thị Thoại là một người như thế nào mà đã cuốn hút tôi mãnh liệt. Xin thưa rằng vì cụ hết lòng chung thủy với chồng con, hết lòng hết sức để nuôi dạy các con nên người, vì cụ không chỉ dạy dỗ các con bằng miệng lưỡi ngon ngọt, nhưng bằng chính đời sống như một tấm gương về lòng độ lượng của cụ.

Như rất nhiều các gia đình khác, sau biến cố 1975, ông bà tìm cách cho các con vượt biên, dù có phải vay mượn nợ nần. Đến năm 1984, ông bà được các con cháu bảo lãnh sang Úc. Tuổi đời đã chồng chất, nhưng cụ ông cụ bà không xuôi tay đầu hàng với tuổi đời. Năm 1984, bà đã 60 ngoài, ông đã gần đến thất thập cổ lai hi, nhưng cụ ông cụ bà vẫn chăm chỉ học tiếng Anh. Các thầy cô người Úc đến nhà dạy đều phải cúi đầu khâm phục sự nhẫn nại kiên trì và cương quyết của hai người học trò đáng tuổi cha mẹ họ, nhưng vẫn khiêm tốn tập đọc tập nói từng câu từng chữ. Quí thầy cô vụt trở thành bạn hữu thân thiết, vì khi học xong, ông bà thường mời họ ở lại dùng cơm, đối xử với họ đúng theo tinh thần hiếu khách và kính trọng của văn hóa Việt Nam Nhất tự vi sư, bán tự vi sư. Hai ông bà cụ không chỉ tôn trọng thầy cô, nhưng còn trân trọng tình bằng hữu đối với mọi người. Không biết thì thôi, nhưng ai đã từng gặp cụ ông cụ bà thì không thể nào cưỡng lại sự cuốn hút mãnh liệt của cả hai người. Sự cuốn hút của một tấm lòng nhân từ hiếu khách chân thành. 

Rất tiếc, cụ ông qua đời trước cụ bà bốn năm. Tình nghĩa vợ chồng sau hơn nửa thế kỷ sống chung đành đứt đoạn chia lìa. âu cũng là định mênh, âu cũng là lẽ đương nhiên của thân phận làm người. Bốn năm chờ đợi, cụ bà vẫn cương quyết ở lại ngôi nhà cũ, vì ngôi nhà là kỷ niệm của một thuở yêu thương gắn bó vợ chồng. Trước khi ra đi, cụ bà đã trối trăn lại cho các con Ba ở đâu thì Má ở đó. Nếu có chôn thì để ba với má chung một nấm mồ, nằm bên cạnh bờ tre, nơi ba má gặp gỡ nhau lần đầu. Cô thôn nữ Vĩnh Long về nhà chồng năm 16 tuổi, đến khi nhắm mắt, cũng vẫn một lòng chung thủy theo chồng, khi còn sống cũng như lúc qua đời.

Trong những ngày tháng cuối đời, niềm tin của cụ vẫn gói trọn vào sự biết ơn thờ cúng tổ tiên ông bà. Tuy nhiên, cụ Võ Thị Thoại còn mở rộng tâm hồn để đón nhận thêm niềm tin vào Trời Phật, Thượng Đế và Thiên Chúa Cụ thường xuyên suy niệm đọc kinh, chăm chú nhìn vào di ảnh của ông bà, của chồng và nhìn lên thánh giá. Đã có lần một người con hỏi mẹ: Má có sợ chết hay không? Cụ bảo: Má không sợ, nhưng chỉ sợ không có ai chăm sóc cho cháu Ngân, đứa cháu đi du học đang ở chung với bà. Đến giây phút gần đất xa trời như thế mà cụ vẫn một lòng hiền mẫu lo lắng cho các con các cháu. Sau cùng, cụ đã thanh thản, bình an nhắm mắt ra đi vào lúc 8 giờ 30 tối ngày 24 tháng 9 năm 2002. Vào đời vào đầu mùa Xuân, cụ từ giã cõi đời cũng vào một mùa Xuân. Phải chăng đời cụ mãi mãi là một mùa xuân cho mọi người?

Kính thưa quí ông bà anh chị em,

Xin chân thành cảm ơn quí vị đã kiên nhẫn lắng nghe câu chuyện của gia đình cụ bà Võ Thị Thoại. Có lẽ bây giờ, chúng ta đã đủ dữ kiện và chi tiết để trả lời cho câu hỏi của tôi: Cụ là một người như thế nào, cụ là ai mà chỉ sau hai lần gặp gỡ, tôi đã bị cụ cuốn hút mãnh liệt cho đến nỗi sự ngậm ngùi nuối tiếc của tôi rất gần với sự than khóc của một đứa con mất mẹ.

Nếu có thể tóm gọn lại, thì cụ bà Võ Thị Thoại đã cuốn hút mọi người bởi vì cụ có một tấm lòng độ lượng chân thành: Tấm lòng hiếu thảo của một người con đối với bố mẹ, tấm lòng chung thủy sắt son của một người vợ đối với chồng, tấm lòng mẫu tử dạt dào thiết tha của một người mẹ đối với các con, tấm lòng khoan dung nhân hậu của một người bà đối với các cháu, tấm lòng tử tế thân thiên của một người bạn đối với bằng hữu hàng xóm láng giềng và ngay cả tấm lòng hiếu khách cởi mở chân thành đối với người dưng nước lã. Nếu tính theo số thời gian được gặp cụ, thì tôi chỉ là một người dưng, nhưng người dưng hay người thân không tùy thuộc vào số lần gặp gỡ bên ngoài, mà tùy thuộc vào sự gặp gỡ của hai tâm hồn. Đối với tôi, mặc dù chỉ trong hai lần gặp gỡ nhưng tôi đã là một người thân của cụ, và cụ đã là một người thân của tôi, vì tôi và cụ đã gặp gỡ nhau ở sự sâu thẳm cảm thông của hai tấm lòng.

Cảm ơn cuộc đời đã ban tặng cho chúng ta món quà cụ bà Võ Thị Thoại.

Cảm ơn cụ bà đã ban tặng cho chúng ta món quà của một tấm lòng độ lượng. Cảm ơn cụ bà đã để lại cho cuộc đời những người con, dâu, rể, cháu chắt. Họ sẽ là những chứng nhân đích thực của cách sống độ lượng Võ Thị Thoại, để người khác khi nhìn vào hoa trái đời sau sẽ biết giá tri của cội nguồn đời trước. 

Dưới nhãn quan của một cuộc đời bình thường, với niềm thương tiếc vô hạn và trong niềm cảm thông chia sẻ nỗi buồn với gia đình con cháu, chúng ta xin vĩnh biệt cụ Võ Thị Thoại. Nhưng dưới nhãn quan của một niềm tin tôn giáo, với niềm hy vọng vào một hội ngộ ở cõi vĩnh hằng, chúng ta chỉ xin tạm biệt cụ. Như đã có lần cụ kể lại cho các con: Cụ bà mơ thấy cụ ông đang xây nhà mới để đón cụ về. Như thế, cụ bà phải lên đường ra đi để được trở về đoàn tụ với cụ ông. Như di ngôn sau cùng của cụ để lại cho các con: Các con hãy biết đoàn kết, biết chăm sóc đùm bọc và yêu thương nhau. Hẹn ngày gặp lại các con trong một thế giới khác, thế giới của sự bình an và hạnh phúc đời đời. Riêng cá nhân tôi, tôi rất cần gặp lại cụ, vì cụ còn một câu chuyện leo cây lý thú mà cụ định kể cho tôi nghe nhưng chưa có cơ hội. Xin tạm biệt cụ, hẹn ngày được vinh dự gặp lại cụ trên thiên đường của niềm hạnh phúc và bình an.

Đã có nhiều tiếng khóc tiếc thương vô vàn cụ bà Võ Thị Thoại, nhưng trong những giọt lệ đó, hy vọng sẽ tiềm ẩn một nụ cười biết ơn cuộc đời trần thế của cụ, giống như nụ cười thật tươi của cụ trong di ảnh để lại cho chúng ta ngày tiễn đưa cụ hôm nay.


Melbourne 24 - 9 - 2002 
Linh Mục Đinh Thanh Bình
(Kim Phượng lưu niệm)

Thơ Tranh: Đời Mẹ Đẹp Bức Tranh Thêu

Tưởng nhớ về Má lần Giỗ thứ 15 Ngày 24/9
Con nguyện cầu Má Hạnh phúc cùng Ba nơi Thiên Đàng


Thơ: Kim Phượng
Thơ Tranh: Kim Oanh

Thơ Tranh: Đượm Tình Cha Mẹ

Tưởng nhớ Ngày Giỗ lần thứ 15 của Má 24/9 
Nguyện cầu Ba Má cùng anh Bảy Hiệp được hạnh Phúc nơi Nhà Chúa!


Thơ: Lê Kim Hiệp
Thơ Tranh: Kim Oanh


Thơ Tranh: Chim Thiên Đường

Ba Má ra đi khi Úc bước vào Xuân. 
24/9 là đúng Giỗ lần thứ 15 của Má.
Thương yêu gửi về Má Ba và nguyện cầu Ba Má hạnh phúc nơi Nước Trời!
(Con Kim Oanh)


Thơ &Thơ Tranh: Kim Oanh


Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2016

Giỗ Cụ Lê


Dịp Cup Melbourne giỗ cụ Lê
Tâm hương Linh Tử khấu đầu đê
Cậy nhờ cô chín cùng van vái
Kính gởi tiền nhân chứng chiếu về
Khẩn nguyện Ơn Trời vui cõi thọ
Phò trì con cháu giữ hồn quê
Truyền nhân nội ngoại trong ngoài nước
Hậu bối Lê Kim rạng rỡ hề!

Cao Linh Tử kính bái
31/10/2016

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2016

Khóc Tiễn Nhà Thơ Lê Kim Hiệp *




Đêm Vĩnh Long chừng như buồn ảm đạm
Trăng thượng tuần sầu thảm nép trời tây
Ánh sao nào đang rơi rụng đâu đây
Lê Kim Hiệp vầng thơ vừa đứt vận
Được tin báo anh thẩn thờ ngơ ngác
Anh em mình mấy tháng chẳng gặp nhau
Nay đôi câu anh viết với nghẹn ngào
Để tiễn biệt đứa em về với Chúa...


Huỳnh Hữu Đức


* Lê Kim Hiệp là bào đệ của Kim Phượng, bào huynh của Kim Oanh vừa từ giã cõi đời vào rạng sáng ngày 11/8/2016

Chia Buồn Cùng Các Em Kim Phượng, Kim Oanh Và Tang Quyến




Thành kính phân ưu với các em,
Gia đình mất mát lớn, Song Kim.
Chia buồn, bối rối, tình huynh đệ,
Tiễn biệt, đau lòng lệ thấm thêm!
Sét đánh bên tai nghe xót dạ,
Gió mưa tối mắt rụng rơi thềm!
Vườn Thơ Thẩn biết bao thương tiếc

Nguyện hiệp về Thiên Chúa ấm êm

Mai Xuân Thanh
11-8-2016 
 (Lê Kim Hiệp là em trai của Kim Phượng và anh của Kim Oanh đã ra đi ngày 11-8-2016)

Thứ Hai, 29 tháng 2, 2016

Vẫn Xuân

Anh Tư ơi, 
Thêm một câu của anh đề " Xuân đi xuân đến vẫn còn xuân".
Em 9Oanh  lại cảm xúc cùng hoa và lòng anh Tư qua những cây Bonsai đính kèm


(Bonsai - Lê Kim Thành)
Vẫn Xuân...

Xuân đi xuân đến vẫn còn xuân
Giấu kín lòng chi chớ ngại ngần
Tình trong hoa đã tim yêu thấu
Sắc thắm ẩn màu dạ thủy chung

Kim Oanh

Thứ Hai, 14 tháng 12, 2015

Người Có Đôi Mắt Vua Hàm Nghi


Amandine là cháu gái 5 đời của Vua Hàm Nghi 

Mái tóc bồng bềnh, cặp mắt đẹp, cái nhìn thẳng thắn, sôi nổi, Amandine Dabat mang đến cảm giác ấm áp, dễ chịu trong đối thoại.

Tôi tìm gặp Amandine ở Paris vào một buổi chiều ngày 13 tháng 11/2015 vì luận án tiến sĩ của cô đề cập đến chủ đề dễ gây sóng gió.
Đó là hai vấn đề gai góc: thẩm định lại chỗ đứng của vua Hàm Nghi (1871-1943) trong lịch sử mà còn đặt một câu hỏi về vị trí của ông trong hội hoạ Việt Nam tương lai sẽ ra sao.

Cách đây 5 năm, vào ngày nhận bằng tiến sĩ về khảo cổ Amandine được mẹ tặng cho một kỷ vật của gia đình.
Đó là một bài thơ nhan đề "Tử Xuân".
Những vần thơ ấm áp, trữ tình của bài này do nữ văn sĩ đầu tiên bước vào Hàn lâm viện Goncourt Pháp là bà Judid Gautier làm tặng cho cụ năm đời của em.
Tử Xuân đồng thời cũng chính là nghệ danh của vua Hàm Nghi.
Người mẹ đã không nghĩ rằng bà đã vô tình đặt lên đôi vai gầy gò của con gái mình một gánh nặng lớn.
Một câu hỏi nhức nhối bật ra, vì sao một người phụ nữ quý tộc Pháp chót vót trên tháp ngà văn bút cũng như địa vị xã hội lại nặng tình như thế với thân phận một người tù?
Thế là hết những chuyến phiêu lưu trên biển Egee xanh biếc, hết những cuộc tìm kiếm những vần thơ Hy Lạp trên đá hoa cương trắng ở Acropol.
Những chuyến đi đến đảo Santorini đen như than với hoàng hôn diễm lệ nhỏ máu bị bỏ qua một bên. Amandine ghi tên học tiếng Việt tại Viện Đông Dương bác cổ và cắp sách đến đây trong ba năm.
Một trong những chiếc chìa khoá để tìm lại gốc rễ của mình theo cô chính là ngôn ngữ.
Kiến thức nhận được giúp Amandine đọc rành rẽ những tài liệu và tự giao tiếp trong những lần thoi đưa với mảnh đất suốt 55 năm lưu đầy vua Hàm Nghi đã không một lần được nhìn lại.
Từ sử thành xử
Vị Hoàng đế Đại Nam bị đi đày ở Algerie tới khi qua đời 

Giáo sư Dân tộc học Đinh Trọng Hiếu vui vẻ chở tôi với đến gặp cô cháu đời thứ năm của Hoàng Đế An Nam xong lại cứ nằng nằng đòi về.
Ông biết nhiều, chắc chắn, song ít bộc lộ. Điều đó chinh phục tôi nên đề nghị ông ở lại cùng chuyện trò với Amandine.
Tôi đùa: "Ít ra cũng được nghe một vài nhận xét khách quan, không chi phối bởi tình cảm".
Song tôi lo lắng thừa. Bởi tình cảm viển vông không có chỗ trong luận án dầy hơn 600 trang của Amandine. Tất cả đều rành mạch, chính xác như những nét dao mổ.
Amandine nghĩ rằng lịch sử là viết lại từ những sự việc thật và không chệch hướng trong phân tích, sàng lọc dữ kiện.
Cô không để cho những áp lực, những đường lối tuyên truyền vớ vẩn, những cái tên lóng lánh và ngay cả sự không đồng ý, chấp thuận ngay trong gia đình làm chệnh hướng công trình nghiên cứu.
Chuyện trò với cô, tôi nhìn thấy một vua Hàm Nghi hoàn toàn khác. Một ông vua rất đời, rất thật, như chạm vào được.
Song le lói trong ngỡ ngàng thú vị một chút đắng cay về những ngộ nhận của bản thân đã dễ bị những trang lịch sử xuyên tạc tác động.
Câu nói nhỏ nhẹ trong phiên bảo vệ luận án của cô trước ban giám khảo đọng lại trong trí nhớ của tôi sự cay đắng:
"Sử liệu ở Việt Nam không chắc chắn."
Amandine đã chứng minh ngày tháng năm sinh của vua Hàm Nghi theo giả phả dòng họ Nguyễn Phước Tộc không chính xác, những ghi chép của Đại Nội Huế cũng không chuẩn.
Việc Tự Đức nhận Hàm Nghi làm con nuôi cũng không phải nốt. Nghĩa là Hàm Nghi lúc đó còn là hoàng tử Ưng Lịch không có trong danh sách ứng cử lên ngôi vua.

Trong thời gian lưu đày, vua Hàm Nghi trở thành một nghệ sỹ 

Những sách báo và cách nghi chép tư liệu phía Việt Nam đặc biệt từ năm 2000 phản ánh đậm xu hướng chính trị. 
Có cả những quyển truyện tranh cho thiếu nhi từ góc nhìn sử học của Amandine là khiên cưỡng và lên gân lộ liễu. 
Những người viết sử không dùng đúng chữ sử mà họ đã xử các nhân vật.
Hàm Nghi một nghệ sĩ
Luận án của Amandine Dabat đã trả lại cho lịch sử hội hoạ Việt Nam chân dung một người nghệ sĩ lớn. Đi kèm gần 600 trang viết là hai phụ lục minh hoạ những tác phẩm tranh sơn dầu và điêu khắc của Hoàng đế Hàm Nghi.
Việc bỏ từ 'hoàng đế' cũng được phân tích vì sao. Đó là dụng ý của phía Pháp hạ thấp vai trò của triều đình Huế sau hoà ước Patenotre 1884 và chỉ coi các hoàng đế là 'vua' (roi).
Khối lượng đồ sộ cả về chất lượng và số lượng được chị phân tích từng bức một bút pháp của một hoạ sĩ về mầu sắc và ánh sáng.
Thời điểm ra đời của những bức hoạ này trước những tác phẩm của các hoạ sĩ trường Mỹ thuật Đông Dương sẽ chỉnh đốn lại trật tự vốn định hình lịch sử mỹ thuật hội hoạ, điêu khắc Việt Nam cuối thế kỷ 19.
Một duyên kỳ ngộ đã đưa đẩy Hàm Nghi gặp gỡ và trở thành học trò của nhà điêu khắc thiên tài Pháp Auguste Rodin.
Amandine đã chỉ cho tôi xem bức phác hoạ ông gửi cho nghệ sĩ này đang được bảo quản trong bảo tàng Rodin tại Paris có chữ ký 'Hoàng tử An Nam' của vua Hàm Nghi.
Với 5034 trang tài liệu cá nhân của gia đình, Amandine dẫn chúng ta đến những bí ẩn hoàn toàn chìm trong bóng tối giai đoạn lưu đầy tại Alger của ông hoàng An Nam như tên chính thức của vua trên chiếc hộ chiếu số 7426.

Một tranh sơn dầu của Vua Hàm Nghi trong sưu tập gia đình cô Amandine Dabat 

Cô cũng phác hoạ rõ nét những nhân vật cả Pháp lẫn Việt trong vòng xoáy đan chéo những bước ngoặt quyết định những năm tháng tại Algerie của ông. 
Hàm Nghi không phải là ông vua duy nhất bị người Pháp bắt đi lưu đày.
Có thể kể đến vua Béhanzin (1845-1906) của nước Bénin, Nữ hoàng Ravanalona III (1861-1917) của Madagascar,
hay Duy Tân, Thành Thái của Việt Nam đều bị biệt xa cố quốc.
Song có lẽ chúng ta đã may mắn vì tiếng gọi xa thẳm của vua Hàm Nghi đã được người cháu gái nghe thấy và thuật lại. Một trường hợp duy nhất.
Tôi như nhìn thấy trên kè đá của cầu cảng Alger, chàng Vialar choàng chiếc áo khoác sĩ quan của mình lên vai chàng thanh niên Việt Nam 18 tuổi Hàm Nghi.
Họ cười với nhau và tình bạn nẩy nở sánh vai đến tận những ngày cuối cùng. Vialar đã cùng với toàn quyền Algerie bảo vệ Hàm Nghi, cự lại những hằn học của Toàn quyền Đông Dương và cả tại chính quốc.

Điều gì đằng sau vậy? Thắc mắc của tôi được giáo sư Đinh Trọng Hiếu giải đáp.
"Vua có một sức hút đặc biệt, gần như ông chinh phục được những người xung quanh rất tự nhiên. Ngay cả người vừa làm phiên dịch, vừa làm mật thám như Trần Bình Thanh cũng thay đổi thái độ sau một thời gian ở với vua. Đáng tiếc chúng ta không có may mắn được những ông vua anh minh như thế."
Amandine lấy cho tôi chụp lại một bức chân dung vua Hàm Nghi vẽ bằng sơn dầu.
Đây là quà của Hoàng tử Minh Đức, con trai chính thức của vua Hàm Nghi. Tôi chợt rùng mình. Ánh mắt Amandine hệt như cái nhìn đầy ắp tiếng vọng xa thẳm ánh mắt của vua Hàm Nghi.
Tôi chụp một vài bức ảnh và nói sẽ dùng cho bài viết này. Amandine vùng vằng:
"Xin đừng, vì em không đẹp trong đó."
Tôi nói vì sau chọn góc độ này và nụ cười của Amandine. Tôi muốn tiếng cười lanh lảnh của cô xoá đi nỗi buồn day dứt quá của những bức tranh để lại.
Tôi muốn ánh mặt và nụ cười rạng rỡ mang đến những sắc màu u uẩn kia cái nắng vàng đang tràn qua của sổ Amandine sưởi ấm lại những nét cọ dữ dội, trầm mặc.
Không Amandine ạ, Amandine rất đẹp. Cám ơn Amandine!

Bài viết thể hiện cách nhìn của nhà báo tự do Phạm Cao Phong từ Paris, Pháp.
Phạm Cao Phong Gửi tới BBC - Ngày 11 tháng 12 2015
(Lê Kim Thành sưu tầm)

Thứ Năm, 12 tháng 11, 2015

Riêng Một Góc Thành


Riêng Một Góc Thành  (*)

Vì em duyên-dáng hơn hoa
Cho nên hoa đã cùng ta nặng lòng
Nồng-nàn, thắm-thiết hơn bông
Mấy mươi năm , vẫn đèo-bồng hương xưa

Lê Kim Thành
(*) Góc thành là Thành Lê chớ không phải thành quách.
***
Anh Tư ơi, góc Thành nhà anh quá đẹp...

Trong Hoa


Nhà ai rực rỡ những hoa
Hương bay ngào ngạt khiến ta phải lòng
Tìm trong nhan sắc của bông
Ẩn tiềm mây trắng bềnh bồng thuở xưa

Kim Phượng
***
Đời Hoa

Em không nhan sắc bằng hoa
Nửa đường đứt gánh người ta phụ lòng
Trước gió tơi tả những bông
Lênh đênh trôi dạt bềnh bồng xứ xa

Kim Oanh

***
Hoa Chờ Đợi

Hồi tưởng về quảng đời son trẻ
Ham đua đòi dáng vẽ mông lung
Kỳ hoa dị sắc múa chập chùng
Đeo đẳng mãi... khung xưa còn đó!

Vò võ chờ....vang tiếng " Tự Do "!

Lê Kim Hiệp
***
Đời Hoa

(Từ bài Đời Hoa của Kim Oanh)

Dù em không đẹp bằng hoa
Nửa đường đứt gánh chớ nên đau lòng.
Cuộc tình nhẹ tựa như bông
Một cơn gió thoảng bềnh bồng bay xa.

Mặc Thái Thủy
Az Feb. 22, 2016
***
Em Hơn Cả Hương Hoa

(Họa qua 2 bài thơ "Trong Hoa" và "Đời hoa" của KP&KO)

Dù em chẳng phải là hoa
Nhưng hương đằm thắm làm ta phải lòng
Nhìn vào hơn hẳn màu bông
Ẩn tàng trong ấy nét bồng bềnh tươi

Song Quang

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

Học Làm Người

Nhạc nền là bài Nhất thanh Phật hiệu nhất thanh tâm, một khúc nhạc thiền thật sâu lắng.
Hy vọng clip sẽ mang lại cho các bạn những phút giây thật sự thoải mái trong tâm, xoá tan được những muộn phiền đời thường hằng ngày bạn phải đối đầu...
- Phần các câu thoại đầu là của Sư Tịnh Vân răn đời.
- Phần sau là của Đức Đạt Lai Lạt Ma
GLN


Thực Hiện: Gia Lộc Nguyễn
Sưu Tầm: Lê Kim Thành

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

Cây Phong - Cô Ba *


(Bonsai của Lê Kim Thành)
Cây Phong - Cô Ba(*)

Mới vừa ra ngõ gặp Cô Ba,
Chẳng lẽ là cô ghé lộn nhà
Tà áo phập phòng hương xứ lạ
Gió nào đưa đẩy khách đường xa?

Lê Kim Thành

(*)2 cây phong này là giống của Nhật.Cây trong chậu lớn thì chỉ biết mặt mà chưa biết tên,cây trong chậu nhỏ là Sango Kaku - Coral Bark Maple .Chữ Cô Ba được gợi ý từ chữ Coral.
***
Anh Tư ơi,

Hôm nào anh Tư rảnh, viết về cách Bonsai cây cho em nối gót anh. Hồi còn đi học em thần tượng anh quá trời, nên ảnh hưởng ít nhiều.
Bây giờ cho em ảnh hưởng về cây cảnh để em điền viên tuổi già.
Hôm nay anh vừa gặp Cô Ba, em sẽ họa Chị Ba cho anh xem thử nghe.

Chị Ba

Sắc nước hương trời ấy Chị Ba
Như hoa mỹ quyến điểm tô nhà
Nâng niu chăm sóc người quân tử
Lụy khách đa tình nức tiếng xa

Kim Phượng
***
Anh Tư ơi, em thì lí lắc hạng nhì sau cậu em Út nhà mình. Em thích chọc cười trong gia đình lắm. 
Ngày xưa bên cạnh nhà mình có Bà Ba. Để nhớ về ngày xửa cho em làm vài câu thơ vui nha anh Tư.

Bà Ba

Hôm xưa ra ngõ gặp Bà Ba  

Nức tiếng nhỏng nhẻo cạnh bên nhà

Mỗi lần ông Sáu mời sang quán (*)  
" Dạ có em " vang vọng tự đàng xa

Hi...hi...hi....Nhớ Bà Ba thiệt nhe.....
Kim Oanh
(*) Quán càfé của Bác Tám đối diện nhà mình



Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2015

Đượm Tình Cha Mẹ -Thơ Lê Kim Hiệp-NPTịnh Hiếu Phổ Nhạc-Hòa Nhạc NPĐăng Khoa


Tưởng Nhớ Ngày Giỗ  của Ba 30-10-2015
Mười anh em chúng con kính gửi về Ba Má thương yêu. 
Nguyện cầu Ba Má mãi hạnh phúc Nơi Thiên Đường,từ khi gặp nhau cho đến lúc qua đời, vẫn vui hưởng chung một nấm mồ như mong ước.


Thơ: Lê Kim Hiệp (Con trai thứ 7 của Ba Má)
Phổ Nhạc: NP Tịnh Hiếu
Hòa Nhạc: NP Đăng Khoa
Hình ảnh: Gia đình 
- Từ năm 1945 - 1957 ở Phú Hữu - Xã Trung Ngãi - Vĩnh Long - Việt Nam
- Từ năm 1984 - 2002 ở Melbourne - Australia
- Từ năm 2002 - 2010 Hài cốt đưa về Đường Văn Thánh - Vĩnh Long
- Từ 2010 An táng hài cốt tại mộ phần Giòng Họ Lê - Tại Phú Hữu, Xã Trung Ngãi , Vĩnh Long Việt Nam

Gia đình chân thành cảm ơn NP Tịnh Hiếu và NP Đăng Khoa ở Cali - Hoa Kỳ rất nhiều, đã cảm xúc phổ thơ thành ca khúc rất cảm động.

Thực Hiện : Kim Oanh (Con gái thứ 9 của Ba Má)

Bình Yên


   (Mộ Phần Gia Tộc Họ Lê - Phú Hữu - Xã Trung Ngãi - Tỉnh Vĩnh Long)

Nắng lệch đầu non mây vút cao
Vườn sau cành lá gọi lao xao
Ba rủ bụi trần qua bể khổ
Cành lan khóm trúc một niềm đau

Vượt thác qua ghềnh đá cheo leo
Mưa tuôn sóng cả vững tay chèo
Gia đình nặng gánh đời tần tảo
Tình sâu nghĩa nặng ánh trăng treo

Sông Rạch Bàng, bên bồi bên lở
Đường quê xưa nắng đổ mưa tràn
Về với nội sum vầy Cố Tổ
Ruộng vườn vươn dậy khúc tình tang

Kiếp phù sinh lắm nỗi ưu phiền
Qua vòng tục lụy xóa truân chuyên
Chắp tay con khấn lời giã biệt
Đời đời Ba sống cõi bình yên

Lê Kim Thành

Thứ Tư, 21 tháng 10, 2015

Bông Giấy

Trưa hè, trời nắng chang chang,
Một bông giấy rụng,bay sang nhà nàng.
Ra sân,nhặt cánh hoa tàn,
Em mang hoa để trước hàng-ba tôi.
(Lê Kim Thành)


Thơ & Bonsai: Lê Kim Thành


Thứ Ba, 29 tháng 9, 2015

Hỏi Elm*


Hỏi Elm*(Em)

Hỏi Elm*,em có thuận tình
Anh về nổi trận trống đình báo tin
Trống rền, tre trúc rung-rinh
Bà con lối xóm nói mình xứng đôi!

Lê Kim Thành
*Cây Elm này giống của Mỹ và Nhật
***
Elm Thưa!

Hỏi Elm em chửa đồng tình
Mà anh chiên trồng linh đình loan tin
Nhưng lòng ước võng đến rinh
Quay quần hai họ ta mình sánh đôi!

Lê Thị Kim Oanh 
***
Một thân đứng giữa cõi đời
Cội già lá vẫn như thời xuân xanh
Bao năm tỉa ngọn uốn cành
Vẽ Elm thành một bức tranh tuyệt vời

Khánh Hà
***
Duyên Elm

Niềm đau chẳng nói nên lời
Chim lồng cây chậu một đời dỡ dang
Đành thôi ý thiếp tình chàng
Đành thôi phận bạc lỡ làng duyên Elm

Lê Thị Kim Phượng 
***
Duyên Phận Không Thành

Không trỗ hoa lấy gì khoe sắc
Dẫu xuân thời nhặt gió lá lay
Uốn mình! Elm chăm chút men say
Mới hay lạt lẽo...suốt đêm dài....!!!

Lê Kim Hiệp




Bonsai: Lê Kim Thành
Thơ Cảm Tác Từ Ảnh: Lê Kim Thành, Khánh Hà, Kim Phượng, Lê Kim Hiệp, Kim Oanh