tiêu đề Nhãn
- BIÊN KHẢO
- CÂU ĐỐI
- CỔ THI
- GIA CHÁNH
- GIẢI TRÍ
- HÌNH ẢNH HỘI NGỘ
- HÌNH ẢNH NAY
- HÌNH ẢNH XƯA
- HỘI HỌA
- KHOA HỌC
- LƯU NIỆM
- LỊCH SỬ
- LỜI HAY Ý ĐẸP
- NHẠC
- SƯU TẦM
- SỨC KHOẺ
- THƠ
- THƠ CẢM TÁC
- THƠ DIỄN NGÂM
- THƠ DỊCH
- THƠ NHẠC
- THƠ PHỔ NHẠC
- THƠ SƯU TẦM
- THƠ TRANH
- THƠ TRANH NGHỆ SĨ
- TIN BUỒN
- TIN VUI
- VĂN
- VŨ HỐI THƯ HỌA
- VƯỜN THƠ VIÊN NGOẠI
- XƯỚNG HỌA
- YOUTUBE
Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2020
Một Cõi Tình Phai - Nhạc Ngô Thụy Miên Tiếng Hát Đình Lộc
Bài Học Thiên Nhiên
Hãy như
Những giọt MƯA sa
Gieo duyên chuyển hạt
thành hoa đúng mùa
Hãy như
Làn GIÓ nhẹ đùa
Thổi tan nóng bức
lại vừa đưa hương
Hãy như NƯỚC
từ trên nguồn
Sá chi rác rến
lách luồn tuôn theo
Hãy như ĐẤT
Mặc rong rêu
Thản nhiên đón nhận
lòng nhiều thứ tha
Hãy như MÂY
Bay la đà
Vốn “vô sở trú”
Cười khà lạc quan
Hãy như LỬA
Chứa củi than
mang bao ấm áp
Đâu màng bụi tro
Thiên nhiên
Bài học Tự Do
Khi Tâm “vô ngã”
quẳng lo ưu phiền...
Kiều Mộng Hà
Nov 14th2020
Tình Yêu Thiên Nhiên
Với tình yêu ta gởi thiên nhiên
Thiên nhiên hỡi ! Vì mi ta đã
Sống yêu đời , yêu mãi thiên nhiên...
Em , thiên nhiên không hề phân biệt
Kẻ giàu nghèo sang trọng đến thăm
Em ... quyến rũ tâm hồn tha thiết
Ta , vì yêu ...tình mãi thăng hoa...
Những khi buồn, tìm đến thiên nhiên
Một nguồn vui, không cần điều kiện
Nghe bình an , không chút trách hờn
Em và ta - Sống thực ... tự nhiên!
Ta đã yêu và ta mãi yêu...
Biển , hồ , sông , núi của thiên nhiên
Em giận hờn đôi khi không hiểu
Tạo cuồng phong , bão tố vô biên!
Em thủy chung, nắng trời gió ấm
Ta tha nhân gởi gấm niềm mơ
Em thủy chung, đời không sóng gió
Ta lãng tử... thả bước dừng chân....
Thu Hương
June 29 2020.
Nhớ Sư Huynh Hồ Hữu Hậu - Đôi Mắt Bất Tử

Nhớ Sư Huynh Hồ Hữu Hậu
(1936 - 10/10/2020)
Thăm nhau lần cuối ngày 04/08/2020
Nửa đêm chợt nhớ Sư huynh
Họ Hồ hữu Hậu chúng mình mến nhau
Tánh thầy đủng đỉnh ngọt ngào
Nụ cười nửa miệng xiết bao nghĩa tình.
Đời người nghĩ lạị giật mình
Tối nay lại nhớ sư huynh vô cùng
Đúng tên hiền hậu quá chừng
Bổng đâu nước mắt rưng rưng lưng tròng.
Đêm nay tiểu đệ bâng khuâng
Thương người bạn cũ cố nhân mà buồn
Thú hoang mê núi nhớ rừng
Riêng tôi nhớ mãi tiếng cười của huynh.
Trăng mờ vằng vặc lung linh
Ngoài trời mưa rớt vô tình lạnh thêm
Chúc huynh ấm áp áo xiêm
Hồng ân thiên chúa từng đêm cậy nhờ.
Tiểu dệ Dương hồng Thủy
(đêm 13 âl/9 – Oct29/2020)
***
Hồ Nguyễn tiếc thương người chồng bạc phước (10/10/2020)
Nhớ thương đôi mắt của huynh
Nhìn tôi lần cuối khi mình rời nhau
Bao nhiêu tha thiết ngọt ngào
Anh đem trao hết với bao ân tình
Trời sao chia cắt chúng mình
Bắt em ở lại nhớ huynh tột cùng
Đêm nay mưa gió quá chừng
Mưa hay nước mắt rưng rưng lưng tròng
Thôi rồi đã hết bâng khuâng
Năm mươi năm chẵn cố nhân đừng buồn
Mắt nai ngơ ngác nhớ rừng
Nhớ về quá khứ đã từng cùng huynh
Thiên đàng vĩnh phúc lung linh
Đôi mắt bất tử vô tình sâu thêm
Cõi trời rực rỡ áo xiêm
Anh vui cùng Chúa ngày đêm kính nhờ./
Đêm 30.10.2020
Hồ Nguyễn
Dã Tràng
Xướng:
Kiếp Dã Tràng
Xe cát biển ơi kiếp dã tràng
Cả đời duyên nợ chốn trần gian
Giận hờn phút đó còn lưu luyến
Thương nhớ giờ đây đã xóa tan
Chân yếu sóng xô nào ngại khó
Lưng còng nước cuốn chẳng từ nan
Mãi hoài suốt tháng ngày như thế
Theo bóng thời gian cứ vội vàng
***
Các Bài Họa:
Chuỗi Ngọc Tràng
Cổ tự trăng treo chuỗi ngọc tràng
Sáng ngời đạo hạnh giữa không gian
U tình kiếp trước thôi bôi vẽ
Chân lý đời nay lại hợp, tan
Hỉ xã bởi hoài mong tĩnh lặng
Suy tư thành cứ phải gian nan
Mười phương Chư Phật an nhiên, hỏi
Sóng gió sao tâm vẫn vững vàng.
***
Tiếng Quốc Não Lòng
Tiếng quốc bi thương khiến đoạn tràng
Duyên lành sống với cõi nhân gian
Vì chưng kẻ ác gây nhà hoại
Tại bởi loài hung phá nước tan
Xây tổ nghìn năm nghìn vất vả
Chăm người vạn kiếp vạn gian nan
Đâu rồi chốn cũ đêm gào khóc
Lòng mãi xót xa tủi đá vàng
Phương Hoa
Dec 8th 2020
Tiếng Hát "Nhỏ Ơi", Đã Ra Đi...
Cho Chí Tài,Cho Tôi
Tôi khóc cho Chí Tài
-- Nghệ sĩ dễ thương quá,
Không biết đi mãi mãi.
Nếu ngày mai tôi chết:
Đừng khóc lóc, thở than;
Mừng cho tôi đã hết
Nợ một kiếp trần gian.
Đời người như giấc mộng:
Hãy hưởng ngày đang sống!
Quá khứ là dĩ vãng,
Tương lai khó hy vọng.
Vương Đằng
Chiều tối 12/12/2020
Thứ Sáu, 11 tháng 12, 2020
Người TìnhTrong Thơ - Thơ Hoa Văn - Nhạc Nguyễn Thiện Lý - Hoà Âm Quang...
Tuổi Thơ

Má em màu hây hây
Tóc bay đùa trong gió
Bâng khuâng nhìn đắm say
Trời hôm nay âm u
Gió từng cơn vi vu
Lòng ta nghe man mác
Chợt như tiếng ai ru
Đường ta đi thênh thang
Gió chiều nay dịu dàng
Trong tim nghe rộn rã
Từng bước đi mơ màng
Kìa em hái cánh hồng
Nâng niu em ngắm nhìn
Mơ màng lim dim mắt
Len lén nhìn thật xinh
Từ đó lòng xôn xao
Bỗng dưng thích hoa Hồng
Thóang nhìn sao thấy nhớ
Nhớ em hay nụ Hồng?
Muôn tơ Trời mong manh
Mắt em màu trong xanh
Áo em bay trong gió
Thời gian sao trôi nhanh!
Về Đâu Em

Em đi mưa nắng bồi hồi nhớ thương
Hàng cây ngả bóng bên đường
Nhớ nhung khép mở một phương trời chờ
Giọt rơi cuối phố thẫn thờ ngóng trông
Buổi chiều chớp nhẹ mi cong
Ánh đèn hiu hắt phải lòng sương đêm
Về đâu em gió lạnh thềm
Lá vàng rơi rụng gieo mềm bóng thu
Bước chân xào xạc lá khô
Nghe hồ mắt biếc giam tù tình tôi
Về đâu em nắng ngậm ngùi
Nắng bay từ phía xa xôi tìm về?
Cõi lòng ngan ngát hương mê
Câu thơ thương nhớ ôm ghì tình xa
Về đâu em giọt mưa nhòa
Ai lau tóc ướt xít xoa nỗi lòng
Ai ngồi gọi nắng về hong
Tim thầm lặng nở đóa hồng thương yêu?
Về đâu em giọt mưa xiêu
Biết em còn nhớ bao chiều đón đưa?
Lòng ta mở cửa giao thừa
Xuân trong lòng ấm cũng vừa nghiêng qua
Vầng trăng lẻ bóng bên nhà
Trăng mơ màng vẫn chưa già em ơi
Tiếng chim thắc thỏm nghẹn lời
Con đường khắc khoải nhớ người xa xăm
Trầm Vân
Paris Đêm Buồn

Sấm chớp đùa nhau đời thoáng hiện,
Kiếp nghèo rách toạc phố thần tiên!
Gót khuya, vết gậy hằn lên tuyết
Bóng hạc gợi ta nhớ mẹ hiền.
Năm ngoái lũ tràn qua xóm vắng
Lạnh đầy con ngõ mấy mùa trăng?
Gió đông vi vút luồn khe vách,
Chắc buốt lưng còng nỗi giá băng!
Mưa đêm hay tiếng ho ngàn dặm?
Ta bỗng hình dung dáng mẹ nằm
Hiu hắt nét gìa thêm rũ rượi
Quặn lòng! muốn chấp cánh về thăm
Bến quê sóng đỏ dâng mù lối,
Thân phận con người tựa lá trôi!
Một thuở ngục tù nào sợ hãi
Mà ta sợ mẹ khóc trên đồi!
Cắn môi bật máu còn thơm sữa
Lạy mẹ con nào khác thuở xưa
Ngày tháng ngút sầu nên bạc tóc!
Bao xuân quên mất phút giao thừa!
Đỗ Bình
Chiều Thu Tàn

Lòng ta buồn như lá vàng khô
Thôi Hộ ngày xưa thương mỹ nữ
Ta đây,giờ nầy nhớ hiền thê
Sân trước sớm sớm ta chăm hoa
Vườn sau chiều chiều người hái quả
Gio đây sau trước một mình ta
Quạnh quẽ làm sao! Ôi tuổi già!
Cuối Thu 2006
Qua Đèo Ngang (Bà Huyện Thanh Quan) - Một Bóng Bên Trời
Qua Đèo Ngang
Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Bà Huyện Thanh Quan
Kính Họa:
Một Bóng Bên Trời
Nghe lòng trĩu nặng giữa phồn hoa
Một tuồng tang hải đau hồn nước
Muôn dặm quan san chạnh nỗi nhà
Xót cảnh tha hương, sầu biệt xứ
Thương đời viễn khách, hận ly gia
Mười nặm tị nạn còn xuôi ngược
Quạnh quẽ bên trời một bóng ta!
Philadelphia 2004
Thứ Năm, 10 tháng 12, 2020
Hoài Niệm
Tiếng em hát ta nhớ trời quê cũ
Chiều hoàng hôn nắng vàng thắm sắc thu.
Những chiếc lá rơi bên thềm lặng lẽ
Lời ru buồn theo nhịp võng trưa hè.
Những buổi sương mù mưa phùn Hà Nội
Mưa Sài Gòn đường ngập bong bóng trôi.
Kỷ niệm êm đềm theo ta năm tháng
Bữa cơm chiều chuyện mẹ kể cười vang.
Ta luân lạc bước từ miền vô vọng
Chim trời bay màu phố cổ rêu phong.
Ta rất sợ những hương đời phù phiếm
Em hồn nhiên làm sao hiểu nỗi niềm!
Ngày tháng cũ nỗi buồn xưa âm ỉ
Nơi tha hương mùa xuân đến vội đi.
Nghe dạ khúc ta bỗng sầu biển cả
Sóng biển đông gió bão cuốn quê nhà!
Chiều ngả bóng sao em còn đứng đó,
Đèn đã lên đường về dốc quanh co
Mùa lá đổ gió cuối thu se lạnh
Dáng em gầy mặc chiếc áo phong phanh.
Gió vi vu nhớ lời ru năm cũ
Bữa cơm chiều vắng bóng mẹ ngàn thu!
Đỗ Bình
Tiết Đông
Cái rét luồn vào tuyết trổ bông
Lặng lẽ đồi mây treo bến đậu
Đìu hiu sương khói bóng mù không
Mưa phùn lất phất tình ngàn dặm
Băng giá gieo theo mộng chất chồng
Ngõ vắng bơ phờ thêm gợi nhớ
Hương xưa mờ nhạt bóng qua song
Dã Điền Hoàng Tước Hành 野田黃雀行 Tào Thực 曹植
Biển khơi lắm sóng to
Trong tay không kiếm bén
Kết chi lắm bạn bè
Chim chẳng đậu rào tre
Trốn diều sa phải lưới
Người giăng bẩy mỉm cười
Cậu trẻ buồn cho chim
Cắt lưới vung tay kiếm
Chim vàng mừng bay vội
Hướng trời xanh thênh thang
Rồi đến cảm ơn chàng.
Quên Đi
Đêm Đông - Đông Buồn
Thềm vắng ngập ngừng tuyết trắng rơi
Ngỏ trước hoa tàn...trôi quạnh quẽ
Vườn sau lá rụng cuốn tơi bời
Mây bay hờ hững... cơn phong vũ
Nước đổ lạnh lùng, lớp sóng khơi
Tí tách mưa buồn lòng... não nuột
Thâm trầm lắng đọng...dạ chơi vơi ..!
Bạc Liêu/5/11/2020
Đông Buồn
Tâm Sự
Quê ngoại tôi ở Ninh Bình,một tỉnh nhỏ phía nam Hà Nội.Ông ngoại tôi mất sớm lúc bà tôi trên dưới 30,cụ ở vậy,tần tảo nuôi ba người con.Người con gái lớn, chúng tôi gọi là bá,lập gia đình sớm,rồi theo chồng vào Nam.Bà mất trước đợt di cư 1954 nên tôi không biết mặt, chỉ thấy ảnh,bà đẹp và rất giống mẹ tôi.
Người con thứ hai là bác Sử, bạn học của cha tôi, do đó mới có mối nhân duyên 63 năm, đúng như người ta chúc”sắt cầm hoà hợp,đầu bạc răng long “.Mẹ tôi là con út.Nghe nói, ngày hai người gặp nhau lần đầu, mẹ tôi không dám nhìn cha tôi, chỉ bưng nước,bánh trái ra rồi lủi mất,mà cha tôi cũng không dám nhìn thẳng,chờ mẹ tôi quay vào rồi mới lén nhìn theo,c hỉ mê vì cái gáy trắng và mấy sợi tóc mai loà xoà...
Cha mẹ tôi thành hôn năm 1933. Sau khi sanh hai chị tôi, năm 1934 và 1936, mẹ tôi bị tắc ống dẫn trứng không mang thai được nữa. Cha tôi lo lắm, vì chưa có con trai nối dõi, tìm thầy chạy thuốc lung tung trong nhiều năm, may sao gặp được một bác sĩ già người Pháp là ông Paterson chữa khỏi nên mới có tôi.Khi ra đời, tôi bị “tràng hoa quấn cổ", tức là cuống rốn quấn quanh cổ một vòng, nên khi lọt lòng, kéo theo lá nhau, làm mẹ tôi bị băng huyết,gần chết. Tôi sinh ra trong mùa khói lửa, năm 1942, lúc đệ nhị thế chiến đang mãnh liệt, vì vậy cha tôi mới đặt tên là Thanh Bình và ra đền Quan Thánh cho làm nghĩa tử của Quan Vân Trường để nhờ ông bảo vệ...Lúc đó, người Pháp tuy vẫn giữ các cơ quan hành chánh nhưng bị Nhật cai quản, chỉ huy kinh tế suýt sụp dân chúng bắt đầu kiệt quệ.
Cha tôi, nhờ làm công chức, lại có ít ruộng ở quê cho thuê, nên còn phong lưu, có khả năng giúp đỡ họ hàng,người nghèo,nuôi nấng chúng tôi đầy đủ và thoát khỏi nạn đói năm Ất Dậu 1945. Qua năm 1946,hoà bình trở lại, mẹ tôi sanh thêm một em trai, nhưng tôi lại bị bệnh nặng, viêm màng óc. Theo lời cha mẹ tôi, trong vòng mấy ngày tôi sốt liên miên,rồi mê man tay bắt chuồn chuồn, cả nhà đều tuyệt vọng. Tôi nằm ở bệnh viện tư do bác sĩ Quát làm giám đốc, sau này ông làm đến Thủ Tướng VNCH.Y sĩ điều trị của tôi là bác sĩ Chất.Lúc đó Penicilline mới có trên thị trường,tôi nhờ thứ trụ sinh mới này mà thoát chết.
Khoảng cuối năm 1946, phong trào kháng chiến chống Pháp giành độc lập đang lên mạnh, cha tôi,cũng như bao người cùng lứa tuổi, vì lòng yêu nước,hăng hái tham gia: ông bỏ sở, vào chiến khu,theo đơn vị di chuyển lung tung, Nghĩa Lộ, Nho Quan, Hoà Bình...
Mẹ tôi dẫn chúng tôi về quê nội, một làng nhỏ,cách tỉnh lỵ Bắc Giang khoảng 2 cây số.(làng Phúc Tằng,bên cạnh là làng Phúc Long,huyện Việt Yên,mà dân cư đại đa số đều thuộc họ nội).Nhà tôi tọa lạc trên một khu đất rộng,có tường bao quanh.Từ cổng vào, bên trái là giếng nước, bên phải là nhà bếp. Căn nhà 3 gian 2 chái nằm ở phía trái, cuối sân là vườn mà mẹ tôi để một phần trồng dâu nuôi tằm, một phần,nuôi gà,vịt. Góc sân, xế cửa nhà là một cây soan cổ thụ.Cây soan ở trong Nam không có, miền Trung gọi là sầu đông. Khoảng tháng giêng,tháng hai, hoa soan nở đầy, những cánh hoa mầu tím nhạt theo gió bay tơi tả, rồi phủ kín cả một góc sân.Tôi chưa tới tuổi đi học, cả ngày chỉ lò mò đi bắt mấy con sâu dâu, hoặc mê mải ngồi cạnh mấy nong tằm,nhìn chúng ăn lá,nghe rào rào như tiếng mưa.
Lũ tằm mau lớn lắm,mới đầu nhỏ xíu,mầu xanh,chỉ ít lâu sau là lớn bằng đầu đũa, đổi mầu vàng rồi kéo kén.Khi kén đã chín,mẹ tôi kéo tơ đem bán,còn lại mấy con nhộng, bà biến chế thành những món ăn rất hấp dẫn.Những con nhộng vừa thơm vừa bùi này,đã gần 50 năm nay,tôi chưa có dịp thưởng thức lại.Trong thời gian này,cô Tổng ở chung với chúng tôi.Cô là chị ruột của cha tôi (ở ngoài Bắc, chị hay em gái của cha đều được gọi là cô), hoá chồng sớm, không có con, nên rất thân với gia đình chúng tôi cô chiều tôi còn hơn mẹ tôi nữa. Chúng tôi sống an lành được khoảng một năm thì tang tóc xẩy ra:em trai tôi bất hạnh bị đậu mùa và qua đời.(Nếu không tản cư, ở Hà Nội, được chủng ngừa, thì đâu ra cớ sự).Mẹ tôi buồn bã,mất ăn,mất ngủ,người gầy xọm.
Nhưng ở đây cũng không yên,vì Pháp tấn công liên miên,thả bom,hoặc nhảy dù càn quét,chúng tôi quay về Nhã Nam, tá túc ở nhà cụ Chánh Cán,thân phụ một người bạn của cha tôi.Lúc đó,tôi học gần nhà,hai chị tôi học trường Ngô Sĩ Liên,bên Luộc Hạ. Ngày ngày,hai chị đi bộ 8,9 cây số đến trường,chiều về lo cơm nước. Mẹ tôi buôn hàng sáo, nghĩa là đi chợ mua vải và đủ thứ đồ lặt vặt, rồi gánh đi bán rong ở các làng lân cận. Ngày nào bà cũng đi từ sớm,đến khuya mới về. Đôi khi,bà về trễ, chị em chúng tôi lo sợ cuống cuồng, ra tận cổng lành đứng ngóng, đến khi thấy bóng dáng gầy gò, quen thuộc của bà từ xa,chúng tôi ùa ra đón. Các chị gánh hàng,tôi níu tay mẹ đòi quà.! Lúc nào tôi cũng có vài cái kẹo lạc, kẹo vừng, hay bánh đa.Đến nhà, mẹ tôi lấy cơm nguội ra ăn, thường chỉ toàn là rau muống luộc ,cà chua xanh, chấm nước muối. Mẹ tôi vẫn tươi cười hỏi về sinh hoạt của các con trong ngày, hỏi về sự học hành, về giao tình với thầy, với bạn.Nhưng một đôi khi, bên ánh đèn dầu vàng vọt, tôi thoáng nghe tiếng mẹ thở dài, bóng bà cô đơn, chập chờn trên vách.
Nước mắt tôi trào ra, tôi thương mẹ, nhớ cha, chỉ mong cha tôi bỏ kháng chiến, bỏ cơ quan để về xum họp với gia đình.Ước vọng của tôi chỉ là ảo vọng: Mẹ tôi vẫn âm thầm tần tảo nuôi con,cha tôi vẫn miệt mài theo kháng chiến. Ông leo lên tới chức Chủ tịch huyện Quốc Oai! Đó là thời tiểu tư sản trí thức còn được cộng sản o bế để lợi dụng. Chúng theo đúng chiến thuật vắt chanh bỏ vỏ nên những người đầy công trạng này dần dần bị thanh trừng,khai trừ hoặc hạ tầng công tác.
Đến năm 1952, cha tôi hiểu được bộ mặt gian manh của cộng sản,viện cớ mẹ tôi bị bệnh nặng để xin nghỉ phép nhiều lần, rồi sau cùng,xin từ nhiệm.Khi cha tôi trở về với gia đình thì cũng là lúc tôi bị sốt rét nặng,phải nằm nhà thương, hai mông chích đầy quinine nên bị thọt, đi cà nhắc, phải chống gậy.
Phi cơ Pháp oanh tạc hàng ngày, chúng tôi phải học đêm .Con nít 9,10 tuổi,đi học xa 2,3 cây số, đêm chỉ có cây đèn ló đốt bằng dầu hỏa, ánh sáng leo lét, mà phải qua vùng cây cối rậm rạp hoặc bãi tha ma thì đứa nào chẳng sợ. Tôi có mấy đưa bạn đi cùng đường, nhưng chúng ác lắm, thấy tôi chân yếu không đi nhanh được, nên khi qua chỗ nguy hiểm là chúng hè nhau bỏ chạy, để tôi khóc sướt mướt vì sợ, nhưng vẫn cố gắng lết về tới nhà. Khi cha tôi biết chuyện do tụi bạn nói lộ, đêm nào ông cũng chống ba-toong đến đón tận trường. Đó là chưa kể những đêm phải đi đánh trống cà rùng, hô khẩu hiệu để cổ động quần chúng.
Đến cuối năm 1952,gia đình tôi dọn về Trị Cụ, xây một căn nhà nhỏ vách đất, mái rơm, để khỏi phải ở nhờ.Thời gian đó, tôi sống rất hạnh phúc vì có nhà riêng, được gần cả cha lẫn mẹ,lại có đứa em trai mới sinh đầu năm 1953 để bồng bế, nâng niu.Hai chị tôi vẫn học ở trường Ngô Sĩ Liên, tôi thì học gần nhà mới.
Sau khi chị cả tôi lập gia đình, em tôi được 6 tháng, đang bụ sữa thì mẹ,và em của tôi “dinh tê”tức là về vùng tề,d o Pháp kiểm soát. Mẹ tôi mở cửa hàng bán gạo và tạp hoá ở tỉnh lỵ Bắc Giang,hai chị tôi vẫn học ở Luộc Hạ, cha con tôi ở lại Trị Cụ,cha tôi dậy học làm kế sinh nhai, được trả lương bằng gạo. Ông cũng trồng rau đậu, nuôi gà vịt để có thức ăn.Thời gian khổ sở nhất trong tuổi ấu thơ của tôi bắt đầu, vì tôi xa cha đã nhiều lần, đây là lần đầu tiên tôi xa mẹ.Đối với cha, tôi vừa yêu vừa sợ, vì cha tôi vốn nghiêm khắc.Đối với mẹ, tôi chỉ yêu mà không sợ, bà là người che chở và bênh vực cho tôi mỗi khi cha tôi nổi trận lôi đình.Cha tôi vẫn đi dậy học, buổi tối lại phải họp hành,học tập,do đó lúc nào tôi
cũng lủi thủi một mình, cơm nước nhiều khi phải tự lực.Tôi thèm bàn tay dịu dàng,vuốt ve của mẹ, nhớ những món ăn hấp dẫn mẹ làm, áo ước những món quà nho nhỏ mỗi khi mẹ về chợ. Đêm đêm tôi thường gặp mẹ trong mơ.Một lần tôi mơ thấy mẹ bồng em đi trên con đường làng,tôi vừa chạy theo,vừa gọi, muốn hụt hơi mà mẹ không thưa,đến khi tôi mệt xỉu thì mẹ mới quay lại,ôm tôi và đưa tay vuốt má.Tôi giật mình tỉnh dậy, thấy cha đương vuốt má tôi, đôi mắt ông long lạnh ngấn lệ. Ông dò tôi:”Thôi, nín đi con, ít lâu nữa, mình sẽ về với mợ và em.”
Có hôm nắng ráo, đẹp trời,cha tôi đem phơi quần áo cũ.Khi đi học về,tôi thấy chiếc áo bông của mẹ để lại.Lúc đó, trời đã hoàng hôn, chim chóc xào xạc về tổ, gà mái cục cục gọi con...lòng tôi buồn tê tái.Tôi ôm chiếc áo bông của mẹ vào mặt, nghe mùi hơi quen thuộc mà đầm đìa nước mắt....
Lúc đó tôi học lớp 4 theo chương trình cộng sản ,tương đương với lớp nhất của quốc gia. Sau khi thi đậu vào lớp 5 trường Ngô Sĩ Liên, tôi lên Luộc Hạ, ở cùng hai chị và anh rể để theo học, anh rể tôi là Vũ Văn Tiên,giáo sư của trường này. (Anh Tiên sau là giáo sư dạy vật lý tại trường Chu Văn An, các cựu học sinh chắc nhiều người biết).Được mấy tháng thì xẩy ra trận Điện Biên Phủ, rồi hiệp định Geneve chia đôi đất nước. Phe cộng sản lúc đó say men chiến thắng, dương dương tự đắc, việc kiểm soát lơ là ,chúng tôi mới có cơ hội trốn thoát về quê.
Mới thấy thấp thoáng cây đa đầu làng là lòng tôi đã rộn lên một cảm giác xao xuyến khó tả.Làng cũ, nhà xưa không có gì thay đổi. Em tôi lớn hơn nhiều, đã bập bẹ biết nói, nó nhìn chúng tôi rồi khóc oà lên vì lạ.Mẹ tôi có vẻ gầy, tóc điểm vài sợi bạc.Bà ôm tôi vuốt ve, nước mắt rưng rưng..
Gia đình chúng tôi quyết định di cư vào Nam, dù các bác và cô tôi ngăn cản. Cha tôi và tôi đi trước để lo nơi ăn, chốn ở, mẹ,chị và em tôi sẽ đi sau.Thế là tô lại phải xa mẹ. Chúng tôi ra Hà Nội để chạy giấy tờ, ở nhờ một người bạn của cha tôi là bác Hưng, có căn nhà rất lớn, 2 từng,cạnh hồ Trúc Bạch.(Bác Hưng là anh em đồng hao với thầy Nguyễn Văn Ái, dậy vi trùng học, YKDH Sàigon, bác lấy người chị là cô Thi,thầy Ái lấy cô em út là Tuyết Lan)
Ngoài hậu phương không có gì đọc,ở Hà Nội,báo chí, sách, truyện tràn đầy..tôi đọc say mê, quên ăn,quên ngủ, đến nỗi trong mấy tuần lễ, tôi không bước ra khỏi cửa nên chẳng biết mặt mũi Hà Nội nó ra sao.Ngày lên đường,chiếc Dakota chở chúng tôi cất cánh từ phi trường Gia Lâm.Nhìn qua cửa kính, tôi thấy Hà Nội nhỏ dần và xa dần, dòng sông Hồng như một sợi chỉ đỏ, uốn khúc giữa những thửa ruộng xanh bát ngát...Tôi hớn hở, chạy lăng xăng, nào đã biết buồn viễn xứ, nhưng khi quay lại phía cha tôi,thấy ông ngồi bất động, mắt nhìn vào khoảng không,buồn vời vợi...tôi sợ hãi ngồi yên.Sau này,tôi mới hiểu tâm trạng của ông lúc đó, chắc cũng giống như tâm trạng của tôi, 21 năm sau, đêm 30/04/1975, khi tôi ngồi trên chiếc tầu há mồm, suôi dòng Tiền Giang di tản.
Đêm đêm, bà thức tới 2,3 giờ sáng, lịch kịch bên bàn máy may, dưới ánh điện câu vàng vọt. Cha tôi đi làm công nhân ở sở Ba Xoong, lúc đó còn Tây. Bọn họ ăn uống sang trọng lắm,thịt cá ê hề,cha tôi lúc nào cũng dở món trường kỳ là cơm nắm,muối vừng ra ăn, nhưng với nét mặt hãnh diện, ngạo nghễ.Tụi Tây thích cha tôi lắm, vì tiếng Pháp trường Bưởi của ông rất ngọt,nên họ thường mời cha tôi ăn cùng, nhưng bao giờ ông cũng từ chối, nói rằng muốn ăn những thứ do chính tay mẹ tôi làm..Có lần, họ mời ông một trái táo, ông nhận nhưng không ăn,gói ghém cẩn thận, mang về cho con. Ôi trái táo thủa hàn vi của cha, tôi vẫn nhớ suốt đời..
Khi được hồi ngạch, cha tôi bị đổi đi làm mấy năm ở Long Xuyên,Long An ,rồi về làm Đầu phòng Biện lý toà án Sàigon. Mẹ tôi đỡ vất vả,để hết thì giờ lo cho con cái,và sanh thêm được một bé trai,là đứa em út của tôi bây giờ.Thời gian qua mau, chị em chúng tôi lần lượt trường thành.Các chị tôi xong Đại Học Sư Phạm, dậy học ít năm rồi chuyển qua Luật,làm Luật Sư,tôi học Y khoa,ra trường năm 1967. Trong 2 năm theo đơn vị tác chiến, cha mẹ tôi vô cùng lo lắng, chỉ sợ rủi ro xẩy đến cho tôi. Biết bao nhiêu đồng nghiệp đàn anh của tôi như Đỗ Vinh,Trần Ngọc Minh, Nghiêm Sĩ Tuấn, Nguyễn Văn Nhứt....đã gục ngã nơi chiến trường.
Khoảng đầu thập niên 70, phong trào du học lên đến cực điểm, nên cha mẹ tôi, dù nghèo, cũng giồng mình cho 2 đứa em của tôi xuất ngoại.
Tôi vốn tính hoang đàng, ham chơi, nên tiền lương, tiền phòng mạch còm cứ theo nhau mà vào bàn bài, quán nhậu và xóm yên hoa, không giúp gia đình được một xu nhỏ. Mỗi khi về phép, tôi thường báo trước ,nên lúc nào đến nhà cũng thấy cơm gà, cá gỏi. Ăn cơm nhà được một, hai bữa là tôi lại biến đi du hí. Khi nào thấy tôi nằm nhà, là mẹ biết quý tử yếu địa ,lại dúi cho mấy trăm...Tôi ngây thơ, cứ tưởng cha mẹ tôi còn phong lưu! Một lần đi công tác, về bất chợt, gặp bữa cơm, tôi thấy trên mâm chỉ có cá khô và rau muống luộc. Tôi hối hận lắm, tự hứa với lòng là sẽ để dành tiền, giúp đỡ cha mẹ, nhưng rồi, chứng nào tật nấy,tiền giúp gia đình chẳng được bao nhiêu, khi có, khi không. Cha mẹ cũng muốn tôi lập gia để có người cột chân, để ông bà sớm có cháu bế ,nhưng tôi như còn ngựa chứng, đám nào cũng lắc nên cha mẹ tôi rất buồn lòng.
Rồi tháng Tư đen năm 1975 ập tới,tôi chạy thoát một mình từ Cần Thơ. Cha tôi xuống hỏi thăm, người thì nói tôi đã di tản, người thì nói tôi đã chết,vì chiếc xe Jeep tôi thường đi bị bắn cháy nát trên đường Trà Nóc- Cần Thơ. Lúc đó, cha tôi ngất xỉu. Khi tỉnh lại, ông thất thểu trở về, yên trí đã mất đứa con..Mãi 8 tháng sau, cha mẹ tôi mới biết là tôi còn sống.(Chuyện chạy loạn của tôi, đã được kể trong bài Phú San, cũng đăng trên Tập San Y Sĩ).Sau mấy lần vượt biên thất bại,vốn liếng đã cạn, cha mẹ tôi đành cam phận sống dưới gông cùm. Ở Canada, tôi cũng trần ai để trở lại nghề. Khi có bằng năm 1978, tôi lập gia đình và hai vợ chồng tôi làm giấy bảo lãnh nhưng vì biết tôi học thêm 4 năm chuyên môn, sợ tôi không đủ sức, nên mãi đến tháng 5 năm 1982, khi tôi học xong, cha mẹ và chị tôi mới qua đoàn tụ.
Nhờ ơn Trời,cha mẹ tôi còn khỏe mạnh và tôi đã sống với ông bà, tới giờ này, được 14 năm.(1982-1996). Bây giờ, tôi đã lớn tuổi, tình thương của ông bà dồn xuống các cháu .Nhìn ông bà săn sóc mấy đứa con tôi, dĩ vãng lại hiện về, những hình ảnh của hơn 40 năm xưa còn đậm nét. Nước mắt vốn chảy xuôi...và đứa con hư, cho đến bây giờ, có lẽ vẫn chưa làm được điều gì để báo đáp lại lòng cha mẹ.
Mùa hè,năm 1996.
Nguyễn Thanh Bình( Bút Hiệu Bát Sách)
Thứ Tư, 9 tháng 12, 2020
Kính Thắp Nén Tâm Hương Tiễn Biệt Văn Sĩ Hoàng Hải Thủy
Công Tử Rừng Phong…vĩnh biệt rồi!
Ta bà dứt bỏ cuộc rong chơi
Đời ông may có người tri kỷ
Xứng bậc hiền thê thật rạng ngời
Từng người mỗi cảnh khổ trên đời
Vẫn phước phần ông hạnh phúc vui
Phóng tác văn phong lưu dấu ấn
Kiều Giang, Đỉnh Gió Hú cao vời
Vụ Án Họ Trình, ông vẩy bút
Phiên Toà cứ ngỡ nhạt như vôi
Bao nhiêu tác phẩm, từng câu chuyện
Đọc đã nhiều lần vẫn thích thôi
Mấy bận tù đày phận nổi trôi
Cơ trời mệnh số đẹp duyên đôi
Văn chương ế ẩm nơi trần thế
Chỉ có ông thường được đón mời
Và rồi cũng đến lúc an ngơi
Bỏ lại sau lưng mọi khóc cười
Vợ đảm tào khang lòng quặn thắt
Hàng ngàn độc giả tiếc khôn nguôi
Tâm Hương kính thắp Lễ Tang Người
Một ánh sao băng phía cuối trời
Khấn Nguyện An Bình nơi Vĩnh Cửu
Tây Phương Cực Lạc Mãi Rong chơi
Thanh Song Kim Phú
KÍNH BÁI
Cali Dec/07/2020
Tiễn Biệt Hoàng Hải Thủy
Bây Giờ Tháng Mấy rồi em
Mà sao Lời Hứa qua thềm gió bay
Lưới Tình - Mang Xuống Tuyền Đài
Giữa Hai Dòng Nước tàn phai duyên mình
Kiều Giang - Vòng Tay Yêu Tinh
Dữ Hơn Rắn Độc một mình anh đau
Mùa Hạ Hai Mươi xanh xao
Tình Đầu anh hết ngọt ngào vấn vương
Anh nay Ngoài Cửa Thiên Đường
Nhớ Đêm Vĩnh Biệt đoạn trường đắng cay
Thôi! Định Mệnh Đã An Bài
Em đành Môi Thắm Nửa Đời sao em?
Anh ôm Tình Mộng bên thềm
Giang Hồ Nửa Kiếp ngàn đêm tiêu điều
Cả đời Đi Tìm Người Yêu
Ngùi trông Đỉnh Gió Hú chiều bâng khuâng.
Toronto 8/12/2020
Nguyên Trần
Viết trong niềm thương tiếc nhà văn Hoàng Hải Thủy
Những chữ in đậm là tên các tác phẩm của nhà văn Hoàng Hải Thủy
Một Vì Sao Rơi
Một Vì Sao Rơi
Những người tôi yêu mến
Họ đã bỏ đi xa
Nhà văn tôi thích đọc
Cũng về nơi nhạt nhòa
Sáu sáu năm rực rỡ
Lóng lánh Hội Phù hoa
Cõi văn đàn nay vắng
Trầm trầm khúc ly ca
Ôi, Hà Đông Công Tử
Con Bà Cả...một thời
Ngòi bút Hoàng Hải Thủy
Ai xứng đáng thay ngôi!
Ta buồn nhiều bữa trước
Lại buồn quá hôm nay
Nghe người đi thảng thốt
Như tiếng thét chua cay
Thôi người đi vui nhé
Rừng Phong khuất nơi này
Gặp bạn Alice cũ
Đang đợi chờ đâu đây!
Chung Văn
Tiễn Biệt Nhà Văn Hoàng Hải Thụy
“Chiếc Hôn Từ Biệt” tắt còn gì!
“Định Mệnh An Bài” lãnh tử quy
Đàn gẫy cung sầu mây áo não
Dây chùng nốt lịm gió ai bi
Nén hương đưa tiển người rời bến
Tưởng Nhớ Nhà Văn Hoàng Hải Thủy
Hoàng Hải Thuỷ tài dịch Pháp , Anh
“Kiều Giang, Đỉnh gió Hú “nên thành
“ Thầy Nô “ phóng tác “ Tay vàng sắc “
Dịch thuật “ James Bond “ giỏi nổi danh
Hãnh diện nhà văn lớn Việt Nam
Là cây cổ thụ kể bao hàm
Khôi hài phiếm luận tràn duyên dáng
Trí nhớ đưa hồi ký vẻ vang
Sáu sáu năm liên tục miệt mài
Công lao sự nghiệp chuỗi ngày dài
Đam mê nghệ thuật hoà thi phú
Kỷ lục lưu truyền đẹp nắng mai
Vĩnh biệt... ông nằm xuống nghỉ ngơi
Màu thu quyến luyến phủ giăng trời
Người về đất lạnh vùng sương khói
Hậu thế ghi ơn tiếng để đời
Minh Thuý Thành Nội
Tháng 12/7/2020
Anh Chỉ Sống Để Chờ Em Đến - Thơ: Hoàng Hải Thủy - Nhạc: Nguyễn Tuấn
Tiễn Đưa Nhà Văn Hoàng Hải Thủy

Mùa Thu vừa mới qua đây
Mang theo lá rụng rơi đầy rừng phong
Thắp lên một nén hương lòng
Tiễn người văn sĩ nổi danh một thời
Phiêu lưu bao cuộc đổi dời
Về đây cư ngụ tiếp đời viết văn
Tìm nơi ẩn kín rừng phong
Cất lên ngòi bút tấm lòng đầy vơi
Tình người tô mãi cho đời
Kiều Giang câu chuyện bao người luyến lưu
Mê say Vụ Án Họ Trình
Bao nhiêu tác phẩm chuyện tình vang danh
Còn lưu lại cõi gian trần
Người đi để lại muôn phần tiếc thương
Tiễn Đưa

Nước mắt chưa khô vĩnh biệt rồi
Cảnh giới Thiên Đường anh tận hưởng
Ta Bà cõi thật bạc như vôi ...
Thương người vẫy bút truyện "Kiều Giang "
"Định Mệnh An Bài" đến ngỡ ngàng
"Mang Xuống Tuyền Đài" ôm giữ mãi
Xin Người đón nhận nén tâm nhang ...
Tuyết Phan
Nhà Văn Điệp Mỹ Linh & Hải Quân VNCH Ra Khơi, 1975
Hầu hết các tác phẩm viết về Quân Binh Chủng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QL/VNCH) xưa nay đều do những tác giả đã từng phục vụ trong đơn vị mới am tường để ghi vào trang Quân Sử… Tác phẩm Hải Quân VNCH Ra Khơi, 1975 của nhà văn nữ Điệp Mỹ Linh được coi là tài liệu lịch sử rất đáng quý.
Những tác phẩm khác của nhà văn Điệp Mỹ Linh đã ấn hành: Dáng Xưa, Chỉ Còn Là Kỷ Niệm, Trăng Lạnh, Tìm Vết Chân Xưa, Sau Cuộc Chiến, Một Đoạn Đường, Đưa Tiễn, Cuồng Lưu, Bước Chân Non, … Còn nhiều bài viết chưa in thành sách trong thời gian qua.
Nhà văn Điệp Mỹ Linh ở Nha Trang là phu nhân của cố Hải Quân Trung Tá Hồ Quang Minh, khóa 8 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang. Cựu Trung Tá Minh qua đời năm 2014 tại Texas.
Cuộc tình của nhà văn Điệp Mỹ Linh với HQ Trung Úy Hồ Quang Minh vào đầu thập niên 60 khi Trung Úy Minh phục vụ tại Duyên Đoàn 26, đóng tại Bình Ba, trong vịnh Cam Ranh. Thời điểm nầy, theo lời chia sẻ của Điệp Mỹ Linh: “Mỗi ngày, ngoại trừ Thứ Bảy, Chủ Nhật, tôi đi bộ xuống làng Bình Ba để dạy các em học sinh – miễn phí. Hè và những ngày Lễ, tôi theo đoàn ghe đi kích hoặc hành quân”. Và, từ đó bà theo chồng phục vụ Giang Đoàn 23 Xung Phong tại Vĩnh Long, Giang Đoàn 30 Xung Phong, hậu cứ trong Trại Cửu Long, Thị Nghè. Giang Đoàn 30XP trở thành một trong những đơn vị tác chiến Hải Quân tham gia những cuộc hành quân hỗn hợp, tham dự các cuộc hành quân Tam Giác Sắt tạo được nhiều chiến công hiển hách…
Khi theo chồng thuyên chuyển về Giang Đoàn 26 Xung Phong, hậu cứ tại Long Xuyên, theo lời ĐML: “Chính tại Vùng IV Sông Ngòi tôi mới thấy rõ lòng quý mến và tin tưởng của quân nhân Địa Phương Quân đồn trú trong các đồn rải rác dọc những bờ sông hoang vắng dành cho quân nhân thuộc các đơn vị tác chiến Hải Quân. Tình cảm của Địa Phương Quân cộng với tinh thần ‘huynh đệ chi binh’ và lòng quả cảm đã thúc đẩy Minh – đôi khi – bất chấp cả lệnh của Tỉnh Trưởng, tự động đưa đoàn giang đỉnh đến giải cứu các đồn Nghĩa Quân khi nghe lời kêu cứu của họ!...
Thời gian Giang Đoàn 26 Xung Phong được lệnh chuyển vùng hành quân về quận Gò Quau, Chương Thiện, tôi phải trở về Sài Gòn lo việc gia đình. Minh điện thoại cho tôi hay rằng Minh đã gặp Thiếu Tá Phép, Quận Trưởng quận Gò Quau và Phó Quận Hành Chánh mà tôi không nhớ tên. Khi nói chuyện, ông Phó Quận Hành Chánh hỏi Minh rằng có phải tên thật của Điệp Mỹ Linh là Thanh Điệp hay không? Nếu đúng thì ngày trước ông Phó Quận Hành Chánh cùng học với tôi tại trường trung học Võ Tánh Nha Trang và ông Phó Quận Hành Chánh biết tôi chơi đàn Accordion. Vậy là hai ông yêu cầu Minh bảo tôi đem Accordion theo khi tôi trở lại vùng hành quân để chung vui với dân làng và mọi người trong dịp Tết… Khi dân làng tề tựu trong sân Quận thì Việt cộng pháo kích. Mọi người chạy tán loạn. Minh ra lệnh đoàn chiến đỉnh phân tán mỏng, tìm địa điểm của Việt cộng để phản pháo. Bị Hải Quân phản pháo, VC ngưng pháo kích. Trên giang hành trở lại Quận, Minh gọi các chiến đỉnh xem ‘Thủy Thủ không số quân” đang ở trên chiếc nào? Không ai thấy tôi cả! Thấy Minh có vẻ lo, anh truyền tin pha trò để Minh cười cho vui: ‘Chắc Thủy Thủ của Chỉ Huy Trưởng…đào ngũ rồi!’ Minh cười gượng: ‘Mẹ, Bả mà đào ngũ, ai nuôi con tao, mày!’ Rồi Minh liên lạc vô tuyến với Thiếu Tá Phép để hỏi về tổn thất nhân mạng và cũng để tìm tôi. Thiếu Tá Phép cho biết “tụi nó pháo trật lất” và “Thủy Thủ không số quân” bình yên, đang ngồi trên nền xi măng vì không nỡ bỏ cây đàn Accordion!...
… Những kỷ niệm về sự ‘trình diện’ của ‘Thủy Thủ không số quân’ tưởng đã chìm sâu trong quá khứ; vì tôi hoàn toàn không nhớ được. Nhưng, trong tang lễ của Minh, khi các cựu quân nhân thuộc Hội Hải Quân Houston, mặc quân phục đại lễ, đến chào tiễn biệt Minh và trao lá cờ VNCH cho tôi thì những kỷ niệm xưa cuồn cuộn dâng trào trong hồn tôi! Tôi khóc nhiều và nhận ra những kỷ niệm đó tươi đẹp, trắng xóa và sôi nổi không khác chi những lượn sóng do những chiếc fom hoặc PBR rẻ nước, lướt “vèo vèo” trên những dòng sông xưa, tạo nên…”
Trích dẫn những dòng trên với lời tâm tình, chia sẻ của nhà văn Điệp Mỹ Linh để cảm nhận bà đã hơn nửa thế kỷ gần gũi với chồng và “gắn bó” với Quân Chủng Hải Quân từ những tháng ngày chiến tranh cho đến thời gian ở hải ngoại.
Trở lại với tác phẩm Hải Quân VNCH Ra Khơi, 1975. Trong Lời Ngỏ, tác giả cho biết:
“Trong Hải Quân không hề thiếu những cây bút thừa khả năng để ghi lại những đoạn đường đầy chông gai mà tập thể ấy đã vượt qua. Nhưng sở dĩ tôi được hân hạnh làm công việc này là vì tấm lòng tha thiết của tôi đối với quân chủng này từ khi tôi trở thành ‘dâu’ của Đại Gia Đình Hải Quân.
Vì yêu thích thiên nhiên và cũng vì muốn thấy tận mắt những khía cạnh gai góc nhất của quân chủng Hải Quân để viết bài, tôi xin tháp tùng những đơn vị chiến đấu Hải Quân.
… Nhờ thời gian dài sống cạnh những đơn vị tác chiến này tôi mới cảm nhận được tất cả nỗi đau thương của Người Lính VNCH. Và cũng nhờ thời gian này tôi mới ý thức được rằng Người Lính Hải Quân cũng chiến đấu can cường, liều lĩnh và dũng cảm không thua bất cứ một đại đơn vị tác chiến nào của Quân Lực VNCH.
… Tâm nguyện của tôi tưởng chỉ quẩn quanh trong những dòng sông nhuộm máu ở U Minh. Nhưng, đến đầu năm 1975, Người Lính Áo Trắng không những chỉ giải cứu đồn Nghĩa Quân mà Người Lính Áo Trắng còn đón cả mấy Sư Đoàn thiện chiến và cả vạn vạn đồng bào từ Vùng I và Vùng II Chiến Thuật đưa về Sài Gòn và Phú Quốc thì tâm nguyện của tôi trở nên to lớn hơn và khó khăn hơn.
Tôi muốn ghi lại những đóng góp vĩ đại của quân chủng Hải Quân như là một tài liệu lịch sử…
… Tôi nghĩ lịch sử là những sự kiện có thật, hãy để những sự việc đó tự nói lên từng trạng huống của mỗi giai đoạn. Muốn thực hiện được điều đó và cũng để giữ mức độ khách quan và vô tư của ngòi bút, tôi tránh xen vào cuốn tài liệu này những suy luận, những nhận định, những bình phẩm của bất cứ một cá nhân nào – và ngay cả của chính tôi.
… Cuốn tài liệu này là sự đóng góp tích cực và lớn lao của Đại Gia Đình Hải Quân. Tôi có ý nghĩ để tên tác giả là ‘Nhóm Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa’. Nhưng nghĩ lại, tôi nhận thấy, dù sao đi nữa, cuốn tài liệu này cũng còn nhiều khiếm khuyết; nếu ‘Nhóm Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa’ viết, có thể không có những khiếm khuyết đó. Vậy, tôi là người trực tiếp thực hiện những cuộc phỏng vấn, tham khảo tài liệu và đúc kết mọi chi tiết, xin để cá nhân tôi chịu trách nhiệm…”
Trong những bài viết của nhà văn ĐML ghi lại rất chân tình về gia đình, bạn bè ở Nha Trang và tấm lòng với những chiến sĩ QL/VNCH, nhất là Hải Quân. Một thời và một đời bên nhau với biển khơi, sông lạch… Hình ảnh đó nói lên Điệp Mỹ Linh, người con của quê hương, của Hải Quân VNCH từ lúc làm dâu của quân chủng nầy cho đến cuối đời.
Tác phẩm Hải Quân VNCH Ra Khơi, 1975 dày 370 trang, gồm 12 Chương. Trình bày đẹp, trang nhã, nhiều hình ảnh đính kèm.
Chương I: Sơ Lược Lịch Sử Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa (Trang (1-11)
Chương II: Các Vị Tư Lệnh Hải Quân (13-19)
Chương III: Sự Tổ Chức Của Hải Quân – Về Hành Quân (21-70)
Trong Chương nầy đề cập đến Bộ Tư Lệnh Hải Quân, Những Đại Đơn Vị Chiến Đấu, các Vùng Sông Ngòi, các Vùng Duyên Hải… ghi lại tổng quát để độc giả biết tổng quát về Hải Quân VNCH.
Chương IV: Cuộc Đàm Thoại Bất Ngờ (71-72). Tuy chỉ 2 trang nhưng “báo động” trang sử đau thương của dân tộc.
Chương V: Những Biến Chuyển Quân Sự Và Các Cuộc Rút Quân (73-143).
Trong Chương nầy tác giả ghi lại Những Cuộc Rút Quân từ Vùng I đến Vùng V Duyên Hải… Nói lên sự dũng cảm, hy sinh, tinh thần quân dân, bao nỗi uất hận, tang thương, ngậm ngùi của thời điểm ngày tàn cuộc chiến!
Chương VI: Những Đột Biến Tại Các Vùng Sông Ngòi (145-171)
Chương VII: Kế Hoạch Phòng Thủ (173-176)
Chương VIII: Chuyến Ra Khơi Bi Hùng (177-199)
Chương IX: Phỏng Vấn Những Nhân Vật Liên Hệ Đến Chuyến Ra Khơi (200-229)
Chương X: Những Vị Anh Hùng Hải Quân VNCH (231-242)
Chương XI: Lời Chân Tình của “Thủy Thủ Không Số Quân (243-300). Danh sách sĩ quan Hải Quân VNCH Lập Nhiều Chiến Công trong cuộc chiến 1954-1975 (243-300)
Chương XII: Những Dòng Ký Ức (301-354) Bài viết của các vị Hải Quân. Phần Phụ Lục (355-359): Danh Sách Chiến Hạm & Chiến Đĩnh Hải Quân VNCH.
Năm 2003, anh Trần Trọng An Sơn tặng tôi quyển Hải Sử Tuyển Tập, khổ magazine, dày 592 trang được biên soạn rất công phu, đóng góp cho Bộ Quân Sử VNCH. Quân Chủng Hải Quân VNCH có nhiều văn tài đã đóng góp cho nền văn học Việt Nam từ trong nước, trước năm 1975 và sau nầy ở hải ngoại. Anh cũng là nhà thơ, năm 2017 ra mắt tập thơ thứ hai Tâm Tư Người Lính Biển. Tài liệu nầy hữu ích cho tôi để sưu tầm.
Nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa trong 11 năm qua được vinh dự đăng tải các bài viết, tác phẩm, thi ca của quý vị.
Tác phẩm Hải Quân VNCH Ra Khơi, 1975 của nhà văn nữ Điệp Mỹ Linh tuy là Tài Liệu Lịch Sử nhưng qua ngòi bút linh động của tác giả lôi cuốn người đọc như “tự truyện” qua cuốn Một Cơn Gió Bụi của cụ Trần Trọng Kim, Bên Giòng Lịch Sử của Linh Mục Viện Trưởng Đại Học Huế Cao Văn Luận… Điều đặc biệt ở đây là nữ giới, “người không có số quân” đã viết lại trang sử.
Được biết cô nữ sinh Thanh Điệp là một trong những thành viên của ban ca nhạc Bình Minh, được thành lập vào giữa thập niên 50, để phụ trách phần ca nhạc cho Đài Phát Thanh Nha Trang. Trưởng Ban Bình Minh – Cụ Điệp Linh Nguyễn Văn Ngữ – là thân Phụ của Thanh Điệp. Thanh Điệp cũng được thân phụ dạy viết văn, dùng bút hiệu Điệp Mỹ Linh để tưởng nhớ công ơn của bậc sinh thành.
Kể từ khi khởi viết vào năm 1961, có bài đăng trên Đuốc Thiêng, Tin Sáng và Tia Sáng… cho đến nay tròn 6 thập niên. Thời chinh chiến, anh Hồ Quang Minh thích và đồng tình với tinh thần văn nghệ của chị. Nhưng, trong những lần trò chuyện qua email với chị, chị cho biết, anh không thích chị viết, hát và đàn… tôi cũng hơi ngạc nhiên nhưng tế nhị không hỏi vì sao? Qua tìm hiểu, tôi nghĩ anh cũng như nhiều vị tướng lãnh, sĩ quan khác, cho rằng mất nước là mất tất cả! Anh HQM là chiến sĩ can cường, lập được nhiều chiến công (Bảo Quốc Huân Chương) và (theo chị), anh “ba gai”, nhiều lần cãi với thượng cấp; nhưng anh rất thương và bảo vệ thuốc cấp… nên đường binh nghiệp của anh không may mắn.
Tôi gọi chị Điệp Mỹ Linh “Nhà văn không có số quân” nữ giới đã viết nhiều về người Lính VNCH.
Little Saigon, Dec 2020
Vương Trùng Dương