Hiển thị các bài đăng có nhãn Điệp Mỹ Linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Điệp Mỹ Linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 1 tháng 2, 2021

Thương Nhớ Chập Chùng*


Universities - Los Angeles County Economic Development Corporation

Nhìn quanh phòng, nếu không có ảnh của Randy William Rhoads – American heavy metal guitarist – treo trên tường, chắc chắn không ai có thể biết đây là căn phòng của một “tay” chơi nhạc rock có bản lĩnh. Khi dòng chữ “chơi nhạc rock có bản lĩnh” vừa thoáng qua trong trí, Ngọc tự hỏi không hiểu nàng có bị mặc cảm “con hát mẹ vỗ tay” khi nghĩ đến Khiêm – con trai út của nàng – như vậy hay không; nhưng quả thật, lúc nào Khiêm thực tập, Ngọc cũng cảm thấy chóa mắt khi nhìn vào những hàng, khoảng chi chít notes nhạc.

Là một người chơi đàn không chuyên nghiệp, không thể nào Ngọc đọc được “rừng” notes nhạc ấy theo kịp những ngón tay thoăn thoắt của Khiêm trên phím guitar. Những lúc thực tập, mắt Liêm chớp nhanh, đôi mày nhíu lại, cổ thẳng đứng, đầu “gật” nhè nhẹ theo từng temps fort. Ngọc nghĩ, nếu núi lửa bùng nổ sát cạnh nhà có thể Khiêm cũng chẳng biết; vì Khiêm đang tập trung tất cả tư tưởng vào notes nhạc, phím đàn và âm thanh.

Hôm ghé đưa chi phiếu trả học phí của Khiêm cho Jack – giáo sư dạy nhạc riêng cho Khiêm – Ngọc mới được Jack cho biết:

-Hết tháng này, tôi sẽ không thể tiếp tục dạy Khiêm được nữa. 

-Jack dời đi đâu hay là Khiêm làm điều gì phật ý Jack? 

-Không. Khiêm rất giỏi và ngoan. Một thanh niên vừa theo học đại học lại vừa học thêm âm nhạc mà Khiêm học nhanh quá! Những hiểu biết của tôi về nhạc rock tôi đã dạy cho Khiêm hết cả rồi.

-Nếu anh không thể dạy Khiêm được nữa thì, tại thành phố này, anh biết ai dạy về nhạc rock, làm ơn giới thiệu giùm.

Jack đáp rất thật: 

-Những người dạy nhạc rock ở đây rất hiếm; trình độ của họ cũng tương đương với trình độ của tôi thôi. Tôi nghĩ, với năng khiếu và dáng vóc của Khiêm, nếu có điều kiện, bà nên cho Khiêm học tại một trường dạy nhạc có tầm cỡ quốc tế thì Khiêm sẽ thành công rất nhanh trong địa hạc mà Khiêm yêu thích.

-Trường nào vậy, Jack? 

-Trường này, ngày trước, tôi từng mơ ước được vào học, nhưng điều kiện không cho phép. Đó là trường Musicians Institute bên Hollywood.

Ngọc tròn mắt, phát ngôn từng chữ: 

-Hol…ly…wood!

-Vâng! Hollywood! Musicians Institute là một trường âm nhạc có tầm vóc quốc tế, đã đào tạo không biết bao nhiêu Rock Stars cho nhiều quốc gia. Bà đã tin tưởng tôi, giao cho tôi trọng trách dạy nhạc rock cho Khiêm bao lâu nay thì bà cũng nên tin tưởng tôi khi tôi có ý thuyết phục bà để Khiêm được thực hiện giấc mơ của Khiêm.

Thời còn đi học, Ngọc từng ước mơ được trở thành nghệ sĩ trình diễn; nhưng Ba Má của Ngọc không cho phép. Ngọc buồn lắm! Nhưng khi tuổi đời càng tăng, Ngọc càng nhận thấy quyết định của Ba Má nàng ngày xưa là một quyết định sáng suốt. Vì vậy, Ngọc đáp:

-Nhưng Khiêm chưa học xong đại học. Tôi chỉ muốn Khiêm có bằng đại học trước; còn âm nhạc chỉ để giải trí thôi.

-Thưa bà, đại học ở Mỹ thì cỡ tuổi nào cũng có thể theo học; nhưng trong địa hạc văn học nghệ thuật thì tuổi trẻ, sự  đam mê và cơ hội thuận lợi mới tạo nên những nghệ sĩ tài danh.

Ngọc thở dài nhè nhẹ trước câu giải thích rất chính xác của Jack rồi hỏi:

-Chương trình học ở trường Musicians Institute mấy năm, Jack biết không?

-Lúc tôi xin theo học thì chương trình là hai năm; nhưng bà nên liên lạc trực tiếp với họ để biết rõ hơn.

-Tôi phải nói chuyện nhiều với Khiêm và ông nhà tôi. Cảm ơn Jack.

Lúc nói chuyện với Khiêm, biết Khiêm có ý định đi sâu vào nhạc rock, Ngọc hơi buồn; vì thấy hình ảnh những Rock Stars thật tương phản với bản tính hiền, thiệt thà và ít nói của Khiêm. Ngoài đức tính hiền lành và dễ dạy, Khiêm lại được sinh trong hoàn cảnh nghèo nàn, thiếu hụt tại vùng kinh tế mới Long Điền, sau khi Khanh – chồng của Ngọc – được cộng sản Việt Nam thả về sau nhiều năm tù cải tạo ngoài Bắc. Đó là lý do cả nhà ai cũng biết Ngọc cưng chìu Khiêm nhiều hơn các anh chị của Khiêm. Khi Ngọc cho Khiêm biết ý nghĩ của nàng, không ngờ Khiêm trả lời, bằng tiếng Anh pha lẫn vài tiếng Việt dễ hiểu: 

-Măng “nay”! Măng “khon” nên đánh giá con người bằng bề ngoài. 

Nghe câu này, Ngọc biết Khiêm không còn là cậu bé nữa. Khi nhận thức được đứa con út đã lớn, lòng Ngọc thoáng vui và thoáng buồn; buồn vì thấy viễn ảnh rất gần của cánh chim non sắp rời tổ; vui vì thấy khung trời đang rộng mở, chan hòa ánh sáng tươi đẹp và âm thanh tuyệt vời của một thế giới lạ lẫm – mà thế hệ của Ngọc chỉ biết qua báo chí và xi-nê – đang chào đón Khiêm.

Hôm cùng Khanh đưa Khiêm đến ghi tên nhập học, Ngọc bị chóa ngợp vì hệ thống tổ chức và phương pháp giảng dạy tại đây. Musicians Institute (M.I.) là một tòa nhà đồ sộ, nhiều tầng, có sân khấu và hý viện ngoài trời, chiếm cứ một diện tích rộng lớn tại số 6752 Hollywood Blvd, Los Angeles, CA. Trên tường, ngay cửa lớn, thấy hàng chữ lớn: Home of GIT, BIT, PIT, Ngọc thầm hiểu đó là ba nhạc cụ chính trong một ban nhạc rock. GIT: Guitar Institute of Technology; BIT: Bass Institute of Technology; PIT: Percussion Institute of Technology.

Vị giám đốc trường M.I. vừa hướng dẫn Khanh, Ngọc và Khiêm đi xem từng phòng vừa giải thích: Trường gồm nhiều phòng học, phòng thực tập, phòng thâu băng/video, phòng hòa tấu, phòng thực tập trình diễn, phòng ăn, v.v…Mỗi vị giáo sư dạy tại trường này là một thiên tài sống trong địa hạc nhạc rock. Mỗi giáo sư dạy và chịu trách nhiệm cho một sinh viên, trong một phòng riêng, được trang bị video và nhạc cụ cần thiết cho môn học của sinh viên đó. Trường mở cửa suốt 24 tiếng đồng hồ để sinh viên – tùy vào thời khóa biểu riêng – có thể đến thực tập bất cứ lúc nào. Trường M.I. còn đòi hỏi sinh viên phải có trình độ hiểu biết về nhạc lý cũng như xử dụng nhạc cụ ở mức độ thượng thừa trước khi được tuyển vào.

Nhớ lại những lớp nhạc lý, hòa âm và thực tập mà mình đã vượt qua khi theo học với Jack, Khiêm rất tự tin. Trong khi mặt Khiêm hớn hở, môi cứ mỉm cười và mắt ngời sáng vì niềm vui sắp toàn vẹn thì Ngọc lại thầm lo, không biết Khiêm có được nhận vào hay không. Mặc cảm chủng tộc gợn lên trong lòng sau khi Khanh và Ngọc xem qua danh sách sinh viên đã tốt nghiệp – từ ngày trường được thành lập cho đến nay – không thấy tên họ của một sinh viên Việt Nam nào cả!

Lúc ngồi tại phòng ngoài chờ Khiêm thi khảo hạch, Ngọc thấy hầu hết sinh viên đều để tóc dài, ăn mặc luộm thuộm, xóc xếch. Thì ra ở đâu cũng vậy! Nghệ sĩ lúc nào cũng sống tự nhiên, buông thả và dung dị.

Thấy vài sinh viên người Á Đông, Ngọc đến hỏi thăm, mới biết họ đến từ Nhật, Hồng Kông, Phi Luật Tân, v.v…Nhiều người da trắng, tóc màu nhưng nói tiếng Anh rất nặng giọng; vì họ đến từ Pháp, Anh, Bỉ, Úc, Đức, Thụy Sĩ, v.v… Nghĩ đến cảnh Khiêm lạc lõng giữa những người không cùng chủng tộc, bất giác Ngọc thở dài, thương con vô cùng!

***

Nghe tiếng microwave tít tít, báo hiệu tô mì gói đã nấu xong, Khiêm trở ra bếp, mở tủ lạnh, lấy chai nước ngọt và cái nĩa rồi bưng tô mì ra phòng gia đình, nhấn remote control mở TV. 

Vừa trộn tô mì Khiêm vừa nghĩ, ăn uống như thế này mà có Măng ở đây thì thế nào cũng bị “cự nự”. Suốt ngày bận học và thực tập tại M.I., Khiêm không cảm thấy nhớ Mẹ; nhưng mỗi chiều, ăn vội tô mì gói để kịp lái xe đến dạy nhạc cho một nhóm người, Khiêm cứ nhớ lời Măng dặn: 

-Con cố tránh dừng ăn mì gói. Nếu phải ăn mì gói thì con không nên mua loại mì do tụi Tàu làm. Khi nấu mì gói, nhớ cho thêm thịt hoặc nấu xong, con cho thêm hai trứng gà vào thì mới đủ chất bổ dưỡng. 

Khi nào Măng dặn dò, Khiêm cũng “dạ, dạ” cho xong. Bất giác Khiêm thở dài. Lúc ở nhà, có Măng lo cho mọi điều; bây giờ ở tạm nhà chú thiếm Châu để đi học, Khiêm chẳng biết làm thế nào để tự lo cho mình về vấn đề ăn uống!

Trên đường Khiêm lái xe đến lớp dạy nhạc, tự dưng trời nổi cơn giông gió và cơn mưa trái mùa trút xuống tầm tã. Khi lái xe ngang qua một nhà hàng sang trọng của người Ý, Khiêm chợt mỉm cười, nhớ lại, trước khi xin được việc dạy nhạc, Khiêm đã đến nhà hàng Ý này xin việc làm. 

Biết Khiêm đưa đơn xin việc làm tại nhà hàng, Ngọc cản, bảo Khiêm hành động như vậy làm tổn thương đến danh dự của Cha Mẹ; bởi vì có đứa con út mà phải để con đi làm bồi bàn! Khiêm cho rằng lý do Ngọc đưa ra không thực tế. Khiêm nghĩ, không biết trong giới tài tử, ca nhạc sĩ, những nhà khoa bảng cũng như những người nổi tiếng ở Mỹ, đã có được bao nhiêu người không qua giai đoạn làm bồi bàn? Thế thì tại sao Măng không cho Khiêm đi làm? Tiền học mỗi năm trả cho M.I. quá cao, Khanh và Ngọc lại mua cho Khiêm chiếc xe mới toanh, trong khi cả Khanh lẫn Ngọc đều đi xe cũ! Vì thấy rõ sự hy sinh của Cha Mẹ, cho nên, khi nhà hàng Ý điện thoại, bảo Khiêm đến để phỏng vấn, Khiêm rất vui mừng.

Bước vào phòng quản lý, Khiêm tươi cười bắt tay, chào hỏi và hy vọng. Người quản lý nhìn Khiêm, cười, bảo: 
-Không cần phỏng vấn. Tôi nghĩ anh sẽ làm việc tốt. Tôi mướn anh ngay với điều kiện anh phải cắt tóc ngắn. 

Ý da! Điều kiện gì chứ điều kiện đó là không được rồi! Vì nghĩ ngợi miên man và cũng vì mưa xối xả, Khiêm chẳng thấy được đèn vàng chỗ ngã tư…và…rầm!

*** 

Vừa vào nhà, thấy điện thoại có dấu hiệu ai để lại lời nhắn, Ngọc nhấn nút. Giọng Khiêm có vẻ yếu ớt: “Ba Măng! Con bị tai nạn. Xe hư nặng, phải để trong shopping center chỗ ngã tư Paramount và Rosegrant!” 

Sau khi gọi lại cho Khiêm và vợ chồng Châu nhiều lần mà cũng không ai trả lời, Khanh tìm điện thoại của người bạn ở vùng Anaheim, nhờ đến nhà Châu xem tình trạng của Khiêm và đến địa điểm xe hư để xem xét tình trạng của chiếc xe.

Trong khi Khanh gọi điện thoại cho bạn, Ngọc đến trước bàn thờ Phật, quỳ xuống, nước mắt rưng rưng, nhìn lên tượng Phật Quan Thế Âm, khấn nguyện: 

-Nam mô cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát! Nếu những rủi ro trong đời có xảy đến, xin hãy trút hết cho con; xin Ngài che chở cho các con của con!

Điện thoại nhờ bạn xong, Khanh đến thắp nhang, lạy rồi cũng quỳ cạnh Ngọc. Lúc này Ngọc mới nhớ là lúc nãy nàng đã quên thắp nhang. Ngọc vội sụp lạy như tạ tội. Khanh vỗ vai Ngọc, thì thầm:

- Khiêm không sao đâu, em đừng quýnh!
- Nếu Khiêm không bị gì, tại sao nó không trả lời điện thoại hoặc gọi lại cho mình?
- Thì con nó sợ, nó không dám gọi.
- Nhưng em gọi lại hoài cũng không gặp ai là sao? Có phải nó ở nhà thương mà chú thiếm Châu và nó muốn giấu mình hay không?

Khanh cũng hơi lo sau khi Ngọc đưa ra giả thuyết. Vừa khi ấy điện thoại reng. Ngọc chạy xuống nhà bếp. Khanh chạy theo, chụp điện thoại “alo” trong khi Ngọc nhấn speaker. Giọng người bạn nghe rất rõ:

- Tao đến địa chỉ của em mày, không ai ở nhà. Đến xem chiếc xe, tao thấy đầu chiếc xe nát bét!

Ngọc gần như hoảng loạn:

-Em phải qua đó ngay.

Vừa bước đến computer Khanh vừa bảo:

- Từ từ để anh vào Google, tìm số điện thoại, gọi các hãng máy bay.
- Chuyến càng sớm càng tốt, nha, anh!

Trong khi Khanh lo việc vé máy bay, Ngọc xếp quần áo cho vào vali. Một lúc lâu, Khanh bảo:

- Ngọc! Không có hãng máy bay nào còn chỗ cho ngày mai.
- Mình đi xe.
- Đi xe thì đi, em phải bình tĩnh. Em và anh phải gọi vào sở để lại lời nhắn, nếu không là mất việc!

Nhận thấy Khanh trầm tĩnh, giải quyết mọi việc đâu ra đó chứ không bấn loạn như nàng, Ngọc nhìn Khanh bằng ánh mắt biết ơn.

Vừa đem vali ra xe Khanh vừa trấn an Ngọc mà cũng như tự trấn an chàng:

- Mình ăn ở hiền lành, con mình sẽ được Phật Bà che chở. Hiện tại mình không thể  làm gì được, chỉ biết cầu nguyện thôi.

Chiếc xe lướt nhẹ trên xa lộ vắng hơn ban ngày. Ngại sự vắng vẻ làm cho Khanh dễ bị buồn ngủ, Ngọc lấy CD cho vào máy. 

Tiếng đàn và giọng hát làm cho sự lo âu trong lòng Ngọc từ từ lắng xuống. Khi tiếng saxophone “rúc” lên bản Đỗ Quỳnh Hương của Đức Huy, Ngọc nhận ra ban nhạc chơi bài này theo thể điệu gần giống như Reggae của Jamaica. Âm  hưởng nhạc không trọn, nghe xa vắng lạ lùng. Ở đoạn điệp khúc Ngọc cũng bắt gặp những biến âm rất lạ, làm buốt lòng người nghe.

Lắng nghe một lúc, Ngọc nhận ra, những biến âm này dường như nàng đã nghe đâu đó. Phải rồi, trong đoản khúc mà Khiêm thường đàn bằng acoustic guitar, lúc Khiêm học về Kiến Trúc tại University of Houston. Đoạn nhạc của Khiêm tuy êm đềm, tha thiết, nhưng những biến âm cũng bất ngờ/cũng xa vắng/cũng khác lạ. Lần nào đàn xong Khiêm cũng nghênh mặt cười, hỏi bằng tiếng Anh: 

- Măng thấy sao?

Ngọc đáp bằng tiếng Việt, nhưng gặp những chữ khó cho Khiêm hiểu, Ngọc phải xen tiếng Anh: 
- Rất hay và lạ!
Khiêm phải đáp bằng tiếng Anh: 
- Măng biết sau khi nghe con đàn đoạn này, ông Jack nói gì không?

Ngọc lắc đầu. Khiêm tiếp: 

- Ông Jack nói đoạn nhạc này mang âm hưởng dòng nhạc của thế kỷ thứ mười sáu!
- Trời! Măng có biết nhạc của thế kỷ mười sáu như thế nào đâu!

Khiêm rùn vai.

Trong khi Ngọc nghĩ đến Khiêm với tất cả niềm thương nhớ thì Đức Huy đang hát một ca khúc khác mà Ngọc không nhớ tựa. Tiếng hát của Đức Huy khàn khàn làm cho Ngọc liên tưởng đến giọng khàn và đục của Rod Stewart, Kenny Rogers và giọng hơi khàn nhưng cao của Andy Gibb.

Nghĩ đến Andy Gibb tự dưng lòng Ngọc chùng xuống vì nhớ Khiêm và mẫu đối thoại ngắn vào một buổi chiều, sau khi Khiêm đi học về. Bước vào nhà, Khiêm đi thẳng xuống bếp, hỏi bằng tiếng Việt “ba rọi”: 

- Măng! Măng “bét gi hon”? (Măng biết gì không?)
- Gì, con?
- Ca “xi” “cua” Mommy… “chét ròi”! 
- Ai vậy, con? 
- Andy Gibb “đô”! 

Ngọc tròn mắt ngạc nhiên, nhìn Khiêm rồi lặng thinh trong nỗi buồn chợt đến. Thấy Ngọc xúc động, Khiêm bẹo má Ngọc: 

- Ô! “Tọi nghẹp” Mommy “hon”! (Tội nghiệp Mommy hông!)

Nói xong Khiêm choàng tay qua vai Ngọc, mỉm cười.

Từ ngày đứa con út xa nhà, Ngọc không có được những giây phút đầm ấm như vậy nữa. Ngọc thở dài, buồn lặng lẽ. Nhìn xa xa, Ngọc thấy họ hàng nhà Cactus – cây bàn chải, cây xương rồng – như đang vươn mình trong những tia nắng đầu ngày để chào đón Khanh và Ngọc trở lại vùng Arizona thiếu mưa nhưng hực nắng. 

Khanh cho xe rời xa lộ, rẽ vào thành phố Phoenix để dùng điểm tâm.Trong khi ăn sáng, Ngọc đề nghị, trước khi rời Phoenix, Khanh nên chạy ngang nhà cũ xem ngôi nhà thay đổi như thế nào.

Từ lề đường nhìn vào ngôi nhà xưa, lòng Ngọc vươn buồn. Cây Arizona shade ngay giữa sân chính là nơi Khiêm ngồi buồn hiu mong bạn vào chiều sinh nhật đầu tiên của Khiêm, tại Phoenix – sau khi gia đình Khanh Ngọc sang Mỹ theo diện H.O. được vài tháng.

Hôm ấy, sau khi được Khanh và Ngọc cho phép, Khiêm mời ba người bạn Mỹ cùng lớp, tối đến nhà ăn kem, mừng sinh nhật của Khiêm. Với ánh mắt ngời sáng niềm vui, Khiêm trải khăn bàn, lấy bốn ly nhựa, bốn muỗng nhựa và mấy tờ khăn giấy để giữa bàn rồi ra ngồi trên cỏ, dưới gốc cây Arizona shade, chờ bạn. Chờ từ sáu giờ chiều cho đến chín giờ tối, không ai đến, Khiêm lủi thủi dẹp tất cả mọi thứ trên bàn!

Thấy Khiêm buồn, Ngọc xốn xang trong lòng nhưng không biết giúp con bằng cách nào! Cả Khanh và Ngọc phải đi xe bus để đi làm thì xe hơi ở đâu mà đi đón bạn cho con? Nhà cũng không có điện thoại – vì không có tiền đóng thế chân – thì làm thế nào Ngọc có thể tìm hiểu được lý do tại sao cả ba đứa bé đều không đến?

Hôm sau, sau khi tan trường, Dana đưa Khiêm và Kirk – con của Dana – về nhà Ngọc. Ngọc kể lại câu chuyện chiều hôm trước cho Dana và Kirk nghe. Dana giải thích rằng chính Dana đưa Kirk, Jaden và Steve đi tìm nhà Khiêm mà tìm không ra; vì đường Walnut bị cắt nhiều đoạn và nhà Khiêm lại không có điện thoại cho nên Dana không thể điện thoại để hỏi directions! Ngọc hỏi Khiêm tại sao không vẽ lên giấy cho bạn dễ tìm? Khiêm trình bày: 

- Con vẽ trên đất. Nhưng con chỉ biết nói: You go this way, you go that way…!

Ngày nào tiếng Anh của Khiêm như vậy; bây giờ, người Việt nào điện thoại hỏi Khanh hoặc Ngọc, Khiêm đáp: “Dạ, bac ‘wait’, con đi…lái!”(Con đi…lấy)

Nhớ đến đây, Ngọc thở dài. Hồi đó tuy nghèo, nhưng vợ chồng và các con chung một mái nhà, cùng nhìn về một hướng tương lai. Bây giờ cuộc sống đầy đủ nhưng các con tản mác mỗi đứa một nơi và mỗi người nhìn về tương lai bằng một ý niệm riêng – chỉ có Khanh và Ngọc cùng thấy mái tóc của nhau thưa đi và trắng dần!

*** 

Xe ngừng trên driveway. Sau một tuần đi chơi xa, các con của vợ chồng Châu nôn nóng mở cửa xe, chạy vội vào nhà, đập cửa ầm ầm, gọi:

-Anh Khiêm! Anh Khiêm! Mở cửa! Mở cửa!

Châu bảo:

- Nhấn chuông chứ sao lại đập cửa? Anh Khiêm đâu có ở nhà mà các con gọi? Xe anh Khiêm không có ở đây, thấy không?

Bất ngờ, Khiêm mở cửa, khom người, đón ba đứa em chú bác vào vòng tay. Châu cùng vợ xách vali vào. Ngồi nơi xa-lông cởi giày, Châu hỏi:

- Khiêm! Xe của con đâu, sao chú không thấy?

Khiêm ngại ngùng một lúc rồi kể lại sự việc cho Châu nghe. Biết Khiêm không hiểu tiếng Việt nhiều, Châu nghiêm giọng, nói tiếng Việt pha tiếng Anh:

-Con không làm như vậy được! Con phải trực tiếp cho Ba Măng của con hay là con bình yên để Ba Măng khỏi lo.

- Con không dám nói chuyện trực tiếp với Ba Măng của con đâu.
- Tại sao? Con lầm lỡ thì phải nhận lỗi chứ.
- Dạ, con “bét loi cua con”.
- Vậy thì con cứ mạnh dạng cho Ba Măng …

Nói ngang đây, Châu dừng lại, nhíu mày rồi tiếp:

- Con không gọi về nữa nhưng tại sao Ba Măng của con không gọi lại? Lạ vậy?

-Dạ, con có biết Ba Măng của con gọi lại hay không đâu, chú! Từ bữa đó đến nay, phần vì sợ, phần vì không có xe và không có ai ở nhà, con qua ở tạm nhà thằng Scott, trả tiền xăng cho nó, nhờ nó chở con đi học, đi dạy và đón con về.

- Được rồi! Con gọi về giải thích với Ba Măng con đi.

Khiêm ngần ngừ, dáng vẻ rất ngai ngùng:

- Thôi, chú ơi! Hồi đó Ba của con thường kể câu chuyện Ba con làm mất cái xe đạp cho nên con sợ lắm!

- Chuyện hồi trước Ba con làm mất cái xe đạp như thế nào? Có liên hệ gì đến tai nạn của con hay không?

-Da không. Tại vì, hồi đó Ba con thi đậu trung học đệ nhất cấp, ông Nội mua cho Ba con cái xe đạp. Vài tuần sau, Ba con mê đá banh, quên khóa cho nên xe đạp bị mất cắp. Về nhà, Ba con bị ông Nội “đét” cho một trận nên thân! Đó, chú thấy, chỉ mất có cái xe đạp mà Ba của con còn bị đòn như vậy; bây giờ con làm “tiêu” luôn cái xe hơi thì…cái gì sẽ xảy ra cho con?

Vợ chồng Châu cùng cười cho sự ngây thơ của đứa cháu bị “kẹt” giữa hai nền giáo dục Việt Mỹ. Châu khuyên:

- Ba Măng của con sống ở Mỹ cũng khá lâu; Ba Măng của con không hành xử như vậy đâu. Con cứ gọi cho Ba Măng để Ba Măng yên lòng. 

Nói xong, vợ chồng Châu vào phòng. Khiêm lặng yên suy nghĩ.

Vừa xoay người – với ý định lấy điện thoại trên bàn – Khiêm chợt nghe tiếng cửa xe đóng “rầm”. Tò mò nhìn qua cửa sổ, Khiêm thấy Ngọc đang vội vã đi vào và Khanh đang mở thùng xe, lấy va-ly. Nghĩ rằng mình sợ quá rồi bị ám ảnh, Khiêm chớp mắt nhiều lần nhưng vẫn thấy Ngọc đi băng ngang sân cỏ. Tiếng chuông cửa xác định cho Khiêm biết rằng Khiêm sắp phải trực diện với sự thật mà Khiêm đang cố né tránh. Khiêm mở cửa. Nhưng vì sợ quá, Khiêm đứng nép sau cánh cửa. Ngọc bước vào, gọi:

- Chú thím ơi!

Không ai trả lời. Ngọc gọi lần nữa. Tiếng Châu từ bên trong:

- Ai đó? Chờ chút.

Giọng Ngọc trở nên nôn nóng:

- Chú ơi! Cháu Khiêm sao rồi, chú?

Châu chưa kịp đáp, Khiêm rụt rè bước ra từ sau cánh cửa:

-Măng! Con nè, Măng!

Ngọc giật mình, tròn mắt. Nhìn từ đầu xuống chân, thấy Khiêm không thương tích gì cả, Ngọc vui mừng, vói tay lên vai Khiêm – vì Khiêm rất cao và năng tập thể dục:

-Trời! Con không sao hết hả? Cảm ơn Phật Bà. Tại sao con nép sau cánh cửa?

-Dạ, con “xơ”, con… “chón” Măng. (con sợ, con trốn)

Thấy Khanh bước vào, Khiêm vội nói lý nhí tiếng Anh vì ngại Khanh nổi giận:

- Con rất tiếc đã làm “tiêu” cái xe của Ba Măng.
- Măng không lo gì về cái xe; Măng chỉ lo cho con thôi.

Khanh nghiêm giọng:

- Cậu có biết là cậu làm cho Măng của cậu rối tâm rối trí mấy hôm nay hay không?

Khiêm nhìn Ngọc bằng ánh mắt chan chứa tình thương:

- Ô, “tọi nghẹp” Mommy “hon”! I’m sorry!

Ngọc vịn tay Khiêm, cười, lòng quên hết đoạn đường mệt nhọc vừa qua!

*** 

Buổi lễ tốt nghiệp của sinh viên trường M.I. được tổ chức trong hý viện ngoài trời, bên ngọn đồi nhỏ, trong lòng Hollywood. Trong tiếng bass thật ấm, thật rền của ban nhạc rock thời danh, Ngọc thấy khung cảnh quanh nàng rất vui, rất rực rỡ với những chùm bong bóng và giấy màu bay lơ lửng trong không gian.

Sau khi ngỏ lời nhắn nhủ đến các sinh viên tốt nghiệp, vị hiệu trưởng của trường M.I. cũng không quên cổ động và khích lệ tinh thần những sinh viên còn theo học. Tiếng vỗ tay vang dội cả hội trường.

Đến phần trao văn bằng cho từng sinh viên, Ngọc nghe xướng ngôn viên đọc tên sinh viên nào thì người đó bước lên sân khấu – trong tiếng nhạc rộn ràng và tiếng vỗ tay vang dội – để nhận văn bằng. Này Albert, Anh quốc; kia Alain, Pháp; nọ, Charles, New York, v.v… Kia rồi, “Khi…e..m…Wu..y…e…n”. Ngọc ngồi thẳng người để nghe cho rõ hai tiếng Việt Nam theo sau; nhưng lạ chưa, họ dõng dạc đọc Texas! 

Nhận văn bằng xong, Khiêm đến bên Ngọc và Khanh với nụ cười tươi. Ngọc lại vói tay lên vai con, nói nhỏ:

- Chúc mừng con!

- “Cam on” Mommy!

Sau khi lễ ra trường chấm dứt, trên đường ra bãi đậu xe, Ngọc hỏi Khiệm:

- Khiêm! Con nhớ, trước khi Ba Măng đồng ý cho con sang học tại trường M.I., con đã hứa với Măng điều gì không?

Khuôn mặt của Khiêm đang rạng rỡ chợt thoáng buồn, giọng thật nhỏ:

- Da, con “nhó”. (Con nhớ)

- Lúc nào Cha Mẹ cũng nhìn xa và chỉ mong muốn những điều tốt đẹp nhất cho con thôi. Con hiểu không? Hồi xưa ông bà Ngoại không cho Măng trở thành nghệ sĩ trình diễn, Măng buồn. Nhưng, nhìn lại cuộc đời của Măng, Măng thầm cảm ơn ông bà Ngoại đã sáng suốt khi quyết định không cho Măng đi vào con đường nghệ sĩ chuyên nghiệp. 

Im lặng. Ngọc tiếp:

- Con thích được học nhạc từ trường M.I. lừng danh này thì Ba Măng cho con đi học – chỉ với mục đích để con có được môn giải trí thanh cao. Con nhớ là Măng đã cho con biết: Không phải tất cả mọi người xuất thân từ trường M.I. đều trở thành Rock Stars. Dù có trở thành Rock Starts đi nữa thì, con đường của nghệ sĩ trình diễn chỉ “vinh quang” trong những giờ phút trước công chúng, trong tiếng vỗ tay và ánh đèn màu. Khi ánh đèn sân khấu tắt đi thì biết bao nhiêu áp lực ùa đến; do đó, nghệ sĩ trình diễn thường tìm khuây bằng những thói quen độc hại. Con hiểu ý của Măng chứ? Măng đã giải thích với con trước khi Ba Măng đưa con sang đây và con cũng đã hứa với Ba Măng là sau khi tốt nghiệp tại M.I., con sẽ trở lại trường đại học để học cho xong bằng Kiến Trúc. Con nhớ không? 

- Con “biet roi”.
- Con về ghi danh cho kịp học niên khóa này, nha, con!
- Okay.
- Con buồn Măng nhiều  không?
- Da, co, ma it it thoi! (Dạ, có, mà ít ít thôi!)

Ngọc cười, lòng cảm thấy thương con vô vàn!


*Hình của trường M.I. trên internet.

  

Điệp Mỹ Linh
http://www.diepmylinh.com/

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

Jacqueline Kennedy

 
Tổng Thống John F. Kennedy và phu nhân

Suốt thời gian dài, tôi – cũng như mọi người trên thế giới – phải sống trong sự tù quẩn và âu lo vì “Tàu dịch” Covid-19 giết hại không biết bao nhiêu nhân mạng.
Sáng nay, tháng Giêng ngày 7-2021, tựa đề bản tin của Cheri Mossburg và Theresa Waldrop trên CNN lại làm cho tôi hoảng sợ: “Every 8 minutes, someone in Los Angeles County dies from Covid-19.” 
Tôi hoảng sợ vì tôi không hiểu, không nhớ – trong quá khứ xa xăm – nước Mỹ và người dân Hoa Kỳ đã làm gì thất đức mà hiện nay nước Mỹ và người dân Hoa Kỳ phải chịu tai ương Covid-19 và những biến động chính trị kinh hoàng đến như thế?
Là một người không thích, không biết và không theo dõi chính trị, nhưng không hiểu tại sao những xáo trộn chính trị gần đây, tại Hoa Kỳ, lại khơi dậy trong hồn tôi những xáo trộn chính trị của đầu thập niên 60 trên Quê Hương tôi.

Đầu thập niên 60, tôi đã là một thiếu nữ. Nhưng – vì bậc trung học tôi theo ban Anh văn – tôi không hiểu tại sao chỉ với tuần báo Paris Match mà Ba tôi có thể biết gần như mọi biến chuyển trọng đại trên thế giới. Tôi cũng không hiểu tại sao mỗi khi Ba tôi có bạn đến chơi, bàn luận về chính trị, văn chương, thể thao, v.v…thì Ba tôi thường bảo tôi bưng nước trà mời các Bác, các Chú chứ Ba tôi không cho cô giúp việc bưng nước mời; nhờ thế, đôi khi tôi được “nghe lóm” vài đề tài rất hấp dẫn.

Một trong những đề tài hấp dẫn mà tôi được “nhe lóm” khi Ba tôi cùng các bạn của Ba tôi đang bàn luận là ông John F. Kennedy – ứng cử viên Tổng Thống Hoa Kỳ trẻ nhất kể từ thời Hoa Kỳ lập quốc. Từ đó, tôi bắt đầu tò mò và lưu tâm đến phu nhân của những nhân vật quyền lực trên thế giới. Đối với tôi, cạnh một nhân vật đầy uy quyền hoặc một người hùng phải là một phụ nữ xinh đẹp thì bức tranh mới toàn bích.
Vì quan niệm của tôi là như thế, cho nên, khi thấy ảnh của bà Jacqueline Kennedy – phu nhân của Tổng Thống Kennedy – tôi có thiện cảm với Bà ngay.


Vào thời đại tôi mới lớn, một thiếu nữ hoặc phụ nữ được cho là đẹp nghĩa là người nữ đó được Trời ban cho sắc đẹp tự nhiên; không cần phải “chỉnh, sửa, bơm, độn”; răng không được “niền” cho đều đặn, như thời đại sau này. Bà Jacqueline Kennedy là một trong những mệnh phụ được Trời ưu đãi. 
Trước khi lưu tâm đến vài mệnh phụ Âu Mỹ, tôi đã thích nét đẹp và cách phục sức giản dị nhưng rất quý phái và đài các của nữ minh tinh điện ảnh Audrey Hepburn. Không ngờ, khi thấy ảnh của bà Jacqueline Kennedy, tôi nhận ra kiểu và màu sắc trang phục của bà Jacqueline Kennedy cũng rất đơn giản, quý phái và đài các không thua gì y phục của Audrey Hepburn. Tôi rất vui thích khi biết bà Jacqueline Kennedy thường xuất hiện trên nhiều tạp chí – không thua gì các tài tử xi-nê nổi tiếng – và Bà được chọn là một trong 12 phụ nữ mặc trang phục xinh đẹp nhất thế giới.

Những dòng chữ tôi viết về bà Jacqueline Kennedy chỉ là những nhận xét – có thể là chủ quan, hạn hẹp – thuần về cảm tính của một phụ nữ Á Đông đối với một mệnh phụ Hoa Kỳ chứ không thể là những phán xét dựa trên bất cứ căn bản hoặc khía cạnh nào cả. Và tôi chỉ viết giới hạn trong thời gian Bà là đệ nhất phu nhân của Hoa Kỳ mà thôi. Đó là lý do tôi chọn tựa bài là Jacqueline Kennedy. 
Là một phụ nữ rất trẻ – 31 tuổi – bà Jacqueline Kennedy là đệ nhất phu nhân trẻ thứ ba của Hoa Kỳ. Bà Jacqueline Kennedy không những chinh phục được tình cảm của đa số người dân Hoa Kỳ mà Bà còn chinh phục được cảm tình của hầu hết mọi người trên thế giới. 


Dường như Tổng Thống Kennedy cũng đã nhận ra được “lợi thế” của bà Jacqueline Kennedy, cho nên, khi cùng phu nhân thăm viếng nước Pháp, Tổng Thống Hoa Kỳ Kennedy đã nói đùa một câu “để đời”:“I am the man who accompanied Jacqueline Kennedy to Paris – and I have enjoyed it!"

Sau khi rời Pháp, Tổng Thống Kennedy và phu nhân đến Vienna, Austria; tại đây, Thủ Tướng Nga – Nikita Khrushchev – được yêu cầu bắt tay Tổng Thống Kennedy để chụp hình. Thủ Tướng Nikita Khrushchev đáp: “I'd like to shake her hand first."

Với nụ cười rạng rỡ và ánh mắt ngời sáng, cuộc đời của bà Jacqueline Kennedy tưởng chỉ toàn màu hồng; nhưng không! Bà Jacqueline Kennedy đã trải qua những khổ đau mà ít người phụ nữ nào có đủ nghị lực để trực diện.

Một trong những nỗi đau bất tận của Bà là chính Bà đã ở bên cạnh và chứng kiến bằng mắt thật về cái chết làm rúng động thế giới của chồng Bà – John Fitzgerald Kennedy, vị Tổng Thống thứ 35 của Hoa Kỳ – ngày 22 tháng 11 năm 1963! 

Sau khi Tổng Thống Kennedy được đưa đến phòng cấp cứu của bệnh viện Parkland, chính bà Jacqueline Kennedy đã yêu cầu – và được chấp thuận – được có mặt trong phòng giải phẫu khi bác sĩ đang giải phẫu cho Tổng Thống Kennedy.

Sau khi bác sĩ không thể cứu được Tổng Thống Kennedy, Bà Jacqueline Kennedy từ chối thay bộ y phục màu hồng nhạt – do chính Tổng Thống Kennedy chọn cho Bà – thấm máu Tổng Thống Kennedy và Bà tỏ ra ân hận vì Bà đã rửa các vết máu của Tổng Thống Kennedy trên mặt và trên tay của Bà. Bà Jacqueline Kennedy giải thích với phu nhân Phó Tổng Thống Lyndon B. Johnson: “…that she wanted them to see what they have done to Jack" – tên gọi ở nhà của Tổng Thống Kennedy!


Năm 1963, khi thấy những vết máu của Tổng Thống Kennedy vương vãi trên y phục cùng với nét mặt vừa đớn đau vừa uất hận vừa hoang mang của bà Jacqueline Kennedy khi Bà đứng cạnh Phó Tổng Thống Lyndon B. Johnson trong giây phút Phó Tổng Thống Lyndon B. Johnson tuyên thệ để kế nhiệm cố Tổng Thống Kennedy, tôi không cầm được nước mắt!

Từ hình ảnh đau khổ tột cùng của một góa phụ trẻ – bà Jacqueline Kennedy – tôi tự hỏi, không hiểu bà Jacqueline Kennedy nghĩ như thế nào về những lời “đồn đoán lăn nhăn” giữa Tổng Thống Kennedy và nữ minh tinh Marilyn Monroe? Bà có khổ tâm, ghen tương về sự việc nhạy cảm này hay không? Bà có còn tin tưởng và thương yêu ông Kennedy như trước khi “tin đồn” đó loan ra hay không?

Vì tò mò, tôi tìm đọc trên báo Việt Nam – vào thời điểm tin đồn được loan tải. Tôi không nhớ tên tờ nhật báo đó; nhưng tôi nhớ có một tờ báo đăng tin rằng Marilyn Monroe hóa trang, đội tóc giả, đến Tòa Bạch Ốc bằng trực thăng; nhưng tờ báo đó không viết rõ Marilyn Monroe đến Tòa Bạch Ốc để làm gì. 

Sau đó, tôi không hề thấy bất cứ một thông tin nào đề cập đến thái độ của bà Jacqueline Kennedy trong sự “đồn đoán” về sự liên hệ tình cảm giữa Tổng Thống Kennedy và Marilyn Monroe. 
Sự im lặng – trước dư luận và báo chí – của bà Jacqueline Kennedy làm cho tôi cảm phục và có thiện cảm với Bà nhiều hơn.

Dù dành cho bà Jacqueline Kennedy rất nhiều thiện cảm, tôi cũng vẫn nhận ra rằng sự kiện Marilyn Monroe hát mừng sinh nhật Tổng Thống John Fitzgerald Kennedy ngày 19 tháng 05 năm 1962 là một sự kiện rất lãng mạn, rất dễ thương giữa một nữ tài tử nổi tiếng lẫy lừng và một Tổng Thống rất trẻ, đẹp trai, đầy uy quyền, xuất thân là một sĩ quan Hải Quân Hoa Kỳ. Lời cảm ơn của Tổng Thống Kennedy dành cho Marilyn Monroe cũng không kém phần lãng mạn và trang trọng: “I can now retire from politics after having had ‘Happy Birthday’ sung to me in such a sweet, wholesome way.”

Là một phụ nữ, tôi tự hỏi: Không hiểu “vết thương” trong trái tim của bà Jacqueline Kennedy – khi sự kiện Sinh Nhật năm 1962 của Tổng Thống Kennedy xảy ra – có sâu thẳm lắm hay không? Dù “vết thương” của bà Jacqueline Kennedy có sâu thẳm đến đâu đi nữa, tôi cũng nghĩ rằng, đó là “vết thương êm ái” chứ không phải là sự tổn thương. 
Từ ý nghĩ “thi vị hóa vết thương”, tôi rất tôn trọng và quý mến những phụ nữ biết đặt danh dự của chồng con cao hơn tự ái của chính mình. 


Sự quý mến của tôi dành cho bà Jacqueline Kennedy càng sâu đậm hơn khi tôi biết Bà đã được Tổng Thống Lyndon B. Johnson đề cử vào chức vụ đại sứ Hoa Kỳ tại Pháp hoặc tại Mexico hay là tại United Kingdom – nhưng Bà đều từ chối.

Ngược lại, bà Jacqueline Kennedy chỉ yêu cầu Tổng Thống Lyndon B. Johnson đổi tên Trung Tâm Không Gian tại Florida thành Trung Tâm Không Gian John F. Kennedy.

Qua bao nhiêu thập niên cũng như qua không biết bao nhiêu biến động – cả tàn bạo lẫn nhân ái – trên mảnh đất Hoa Kỳ, tôi nhận thấy thế giới và Hoa Kỳ vẫn dành cho bà Jacqueline Kennedy cảm tình nồng hậu nhất. 

Để minh chứng cho nhận xét của tôi, tôi xin trích một câu ngắn từ Wikipedia: “…Even after her death, she ranks as one of the most popular and recognizable First Ladies in American history, and in 1999, she was listed as one of Gallup's Most-Admired Men and Women of the 20th century.”

Điệp Mỹ Linh
https://www.diepmylinh.com

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2021

Trăng Lạnh

t

Chiều nào cũng vậy, sau khi dùng cơm tại phòng Romeo and Juliet, Kiều-Lam thích đợi ánh hoàng hôn về để lên phòng Windjammer Café nơi tầng 9 của du thuyền Legend of the Seas nghe anh chàng người Gia-Nã-Đại độc tấu Tây-Ban-Cầm; dù du thuyền có đến ba khu vực khác nữa để các nghệ sĩ luân phiên trình diễn mỗi đêm.

Tối nay trong phòng Windjammer Café này chỉ còn lác đác vài người và Kiều-Lam; vì đa số du khách đã đi bờ – danh từ của Hải-Quân, có nghĩa là rời tàu, rời đơn vị để đi phố – từ sau khi du thuyền cặp bến. Vậy mà anh chàng Canadian cũng vẫn không để ý, chỉ say sưa đàn, thỉnh thoảng lại tự tạo những biến âm rất lạ, dễ cuốn hút người hiểu nhạc. 
Vì ít người, thừa bàn, Kiều-Lam chọn chiếc bàn nơi góc, gần chỗ người nhạc công tài hoa đang ngồi, để nhìn mái tóc dài màu cát vàng của anh lóng lánh dưới ánh đèn spotlights. Anh vẫn ngồi trên bục gỗ cao. Đầu anh nghiêng nghiêng, mắt nhìn vào phím đàn nơi bàn tay trái và mái tóc anh lay động nhẹ theo từng chuỗi âm thanh. Thỉnh thoảng đôi kính mắt của anh lóe lên vì ánh đèn phản chiếu lúc anh ngẩng lên để hất nhẹ mái tóc ra phía sau. Đôi khi vai anh cũng lắc nhè nhẹ theo những cung đàn vui. Khi dạo những đoản khúc buồn, đầu anh hơi cúi xuống để ánh đèn nhạt nhòa từ trên trần cao tạo nên những nét khắc khổ, rã rời trên khuôn mặt hơi dài của anh. Nếu màu tóc của anh đậm hơn một tý, Kiều-Lam nghĩ, nàng sẽ nhầm anh với John Lennon, một thiên tài về âm nhạc của The Beatles. 

Nhân lúc anh bồi bàn đến mời dùng thức uống, Kiều-Lam nhờ anh yêu cầu anh chàng Canadian độc tấu nhạc khúc La Cumparsita(1). Kiều-Lam lắng nghe, tưởng như tiếng đàn quyện với hồn nàng. Và trong thoáng chốc, nàng cảm thấy hồn nàng vượt cao, cao hơn hẳn mọi phũ phàng và tệ bạc mà đời đã vùi dập nàng bấy lâu nay. Kiều-Lam vui và lòng thanh thản như ngày bé thơ, thường lắng nghe người anh họ – Phạm Đình Phê – đệm đàn tập cho nàng hát. Bây giờ nàng không hát được cho nên nàng chỉ gật gật nhè nhẹ theo điệu Tango rộn rã. 
Khi bản Tango sắp dứt, Kiều-Lam nhìn anh chàng Canadian. Lúc anh ngẩng lên, vô tình hướng về phía nàng, nàng khẽ cúi đầu, mỉm cười và đưa bàn tay hơi cao hơn bình hoa Pansy trên bàn một tí, rồi vẫy nhẹ để tỏ dấu cảm ơn. Anh cũng mỉm cười, nhấp nháy mắt tỏ dấu nhận hiểu. 

Sau đó anh chuyển sang điệu Moderato với tình khúc Second Piano Concerto (2). Từ bản nhạc này anh tiếp luôn bản khác một cách liên tục và tài tình cho đến nổi phải đến vài phân đoạn Kiều-Lam mới nhận ra được đó là đoản khúc Melody In F (3). Anh cứ tiếp tục đàn những tình khúc quen cho nên Kiều-Lam vừa ngân nga theo rất nhỏ, chỉ đủ một mình nàng nghe, vừa lơ đễnh nhìn ngọn núi Mt. Juneau sừng sững ngang tầm mắt. 
Trong thoáng chốc, dáng vẻ hùng vĩ của Mt. Juneau và những ngọn núi xa xa chìm vào màn đêm; chỉ còn những vùng tuyết ẩn hiện lờ mờ trên đỉnh núi cao, từ xa trông như những áng mây không di động. Dưới xa, sát chân núi Mt. Juneau là nhà hàng và cửa hàng bán quà kỷ niệm. 

Du khách nhàn tản bước dọc theo những cửa hàng bán quà kỷ niệm. Kiều-Lam nghĩ, nếu không có ánh đèn từ các cửa hàng và của những trụ đèn đường soi rõ con đường nhựa duy nhất và bãi đậu xe nhỏ nhắn chia cách khu phố và du thuyền thì nàng khó có thể phân biệt được bên nào là biển và bên nào là núi Mt. Juneau.
Từ sau khi rời tảng băng Hubbard Glacier cho đến bây giờ, Kiều-Lam không thể nhớ được du thuyền đã len lõi qua bao nhiêu chân núi. Nhưng không hiểu tại sao nơi chân núi này, với khu phố hẹp mang tên Juneau, nàng lại cảm thấy bồi hồi như nàng vừa đánh mất hoặc là vừa tìm lại được cái gì rất thân thương, rất gần gũi. 

Trong khi Kiều-Lam chưa phân tích được tâm trạng của mình thì nàng chợt nhận ra tiếng Tây-Ban-Cầm của anh chàng Canadian lại chuyển sang một điệu Tango. Nghe quen lắm, nhưng nàng không nhớ được tựa đề của bản nhạc. Mãi đến lúc anh ngẩng lên, mái tóc vàng lay động hơi dồn dập và nét mặt của anh phảng phất niềm vui như nét mặt của một người vừa trở về sau một chuyến viễn du, Kiều-Lam mới nhớ ra đó là nhạc khúc La Paloma (4).

Nhạc khúc này, khu phố hẹp và mặt nước lóng lánh ánh đèn dưới xa như gợi lại trong hồn Kiều-Lam một vùng biển xưa; nơi đó nàng đã để lại những ngày thơ ấu êm đềm, những mối tình một chiều, một mối tình câm – mà sau này vô tình nàng mới hiểu được – và chỉ mang theo được một cuộc tình nhiều đắng cay!
Những ngày thơ ấu nơi vùng biển xưa đó, cuối tuần, nhóm bạn cùng lứa thường rủ Kiều-Lam đạp xe đạp xuống một khu phố hẹp sát chân núi, bên kia con dốc nhỏ, cuối con đường sát bờ biển để ngắm những chú cá âm thầm bơi lội trong tủ kính của Hải Học Viện. Nhiều khi các bạn và nàng đạp xe xuống khu phố đó không phải để ngắm cá trong Hải Học Viện mà chỉ để đi “cà-rơ” dưới mấy cây bàng cằn cỗi dọc theo con đường nhựa duy nhất chia cách dãy phố buồn hiu và những ghềnh đá chơ vơ của một vùng biển nghèo, tên là Cầu-Đá.

Một chiều nọ, tại Cầu-Đá, trong lúc cùng nhóm bạn lựa mua cái kẹp tóc bằng đồi mồi nơi cửa hàng bán quà kỷ niệm, Kiều-Lam nghe một giọng nam rất êm ái: 
- Cô ơi, cô! Xin lỗi, cô làm ơn cho tôi hỏi thăm. 

Cả nhóm vội ngẩng lên, vì không biết ông ấy hỏi đứa nào. Kiều-Lam nhận ra đây là một thanh niên cao, đeo kính cận, dáng vẻ rất chững chạc. Thanh niên nhìn Kiều-Lam, tiếp: 
- Có phải cô là người có tấm ảnh chưng trong tủ kính nơi hiệu ảnh Mai-Ngôn hay không?

Kiều-Lam thoáng bối rối, chưa biết nên nhận hay nên chối; nếu nhận thì hơi mắc cỡ mà chối thì khó quá; vì không quen nói dối. Các bạn đều biết tính Kiều-Lam nhút nhát, bây giờ thấy rõ nàng đang lúng túng cho nên vài đứa đáp hộ: 
- Dạ, nó đó. Nó đó. Nó là... “thủ phạm” đó!

Nói xong nhóm bạn tựa vai nhau, cười một cách thích thú. Thanh niên cũng cười. Kiều-Lam chưa kịp làm mặt giận với các bạn thì bà chủ cửa hàng bán quà kỷ niệm từ ngoài bước vào. Thấy thanh niên đang cười vui với mấy cô học sinh, bà vồn vả: 
- Trời, Vũ! Sao con không mời các cô ấy vào trong nhà mà chuyện trò? Ở ngoài khách khứa ồn ào lắm, con.

Các cô nhìn nhau, không biết thối thoát bằng cách nào. Thanh niên cũng nhìn các cô rồi cười chứ chưa biết phải đáp lời Mẹ như thế nào. Xoay sang các cô, bà tiếp, giọng rất hãnh diện: 
- Con thứ hai của tôi đấy. Anh ấy học ở Saigon, thỉnh thoảng về thăm Mẹ vài hôm rồi lại trở vào Saigon học. Anh ấy hiền, ít nói mà lại chăm học lắm nên chẳng quen biết nhiều; quen được với các cô là quý lắm đó.

Bà quay sang Vũ, tiếp: 
- Con mời các cô ấy vào trong xơi nước đi, con!

Vũ mời nhóm bạn của Kiều-Lam và nàng vào phòng khách, ngay sau bức rèm cửa được làm bằng giấy của những tấm vé số kiến thiết vo tròn và xâu thành chuỗi. Kiều-Lam không hiểu vô tình hay cố ý, Vũ ngồi cạnh nàng. 
Sau khi mọi người tự giới thiệu, Kiều-Lam mới biết Vũ đang theo học Y Khoa, năm thứ tư. Các bạn “láu cá” của nàng hỏi Vũ về sự khác biệt giữa đại học Saigon, Huế và Dalat; về những phân khoa nào thích hợp cho con gái; về một Saigon mà các cô luôn luôn ước mơ sẽ có ngày được đặt chân tới. Vũ giải đáp rất tường tận và từ tốn. Thấy Kiều-Lam không nói gì, Vũ hỏi: 

- Còn Kiều-Lam? Sao không nói gì hết vậy? 

Vũ hỏi hơi bất ngờ khiến nàng mất bình tĩnh. Để che giấu sự mất bình tĩnh và sự nhút nhát của mình, Kiều-Lam chỉ guitar trong bọc vải, treo trên tường và hỏi một câu rất lạc đề: 
- Ai chơi guitar vậy, anh? 

Vũ cười rất hiền hòa: 
-Tôi, nhưng còn non lắm!

Chỉ vậy, rồi Kiều-Lam lại ngồi im để các bạn trổ tài ngoại giao. Một lúc sau Vũ lại nói với Kiều-Lam: 
- Từ khi gặp Kiều-Lam tôi mới biết tôi không phải là người ít nói như bà cụ của tôi thường bảo. 

Trong khi Kiều-Lam chỉ cười một cách e thẹn thì nhóm bạn nhao nhao lên phá: 
- Nó để dành hơi để hát đó. 

Vũ cười, nhìn Kiều-Lam. Nàng nhìn xuống đôi guốc Dakao màu trắng, tay vân vê quai nón màu hồng nhạt. 
Khi tiễn các cô ra chỗ dựng xe đạp, Vũ nói nhỏ với Kiều-Lam trong khi nàng đang loay hoay mở khóa xe: 
- Ước gì tôi được nghe Kiều-Lam hát, dù chỉ một câu thôi.
Kiều-Lam chỉ biết cười và lý nhí cảm ơn.

Trên đường về, nhóm bạn gái chia tay nhau trước Grand Hotel. Kiều-Lam đạp xe chầm chậm dọc con đường sát bờ biển để nhìn những cụm thông im lìm/để thấy lá bàng bay bay/để nghe tiếng sóng thì thầm hoà với tiếng guitar độc tấu phát ra từ những máy khuếch đại âm thanh do đài phát thanh gắn trên mỗi cây bàng. Máy khuếch đại âm thanh này thường bị rè nên đã làm giảm đi rất nhiều giá trị nghệ thuật; nhưng không hề gì. Đối với Kiều-Lam, lúc đó, giá trị nghệ thuật không cần thiết; nàng chỉ muốn, cùng một lúc, được nhìn lá bàng bay, được nghe tiếng sóng rì rào để tiếng Tây-Ban-Cầm-không-đối-thủ của Phạm Đình Phê trong những nhạc khúc ngoại quốc, dẫn dắt hồn nàng đến những bến bờ xa xăm mà khối óc đầy mơ mộng của nàng cứ nghĩ trong đời có lẽ không bao giờ nàng có thể đến được. Không ngờ, sau khi đến được những bến bờ mà ngày xưa nàng từng mơ ước thì Kiều-Lam mới ý thức được rằng chỉ có một nơi không thể nào nàng tìm lại được, đó là bến xưa!

Vì muốn tìm lại bến xưa, Kiều-Lam đã trở về chốn cũ, nhưng không còn gì; có còn chăng là một eo biển vắng với những gốc cây bàng sần sùi cố bám rễ vào con đường nhựa lỡ lói trước một dãy phố lụp xụp, tiêu điều! 
Juneau ơi! Kiều-Lam tự nhủ, nếu Juneau có được vài cây bàng, nếu ngọn núi mà Juneau tựa lưng vào hơi nhỏ hơn một tý và nét kiến trúc của Juneau bớt diêm dúa đi thì nàng sẽ quyến luyến Juneau biết dường nào; vì Jeneau mang được nhiều nét thân thương của một bến xưa mà hồn nàng luôn luôn trân quý!

Dòng ý tưởng của nàng vừa đến đây, Kiều-Lam chợt nghe một giai điệu rất thiết tha/rất dạt dào và rồi tiếng hát hơi khàn và đục của anh chàng Canadian: 

Feelings, 
Nothing more than feelings, 
Trying to forget my feelings of love..
.” (5) 

Đây là tình khúc Kiều-Lam đã yêu cầu anh chàng Canadian độc tấu ngay đêm đầu tiên khi du thuyền vừa rời hải cảng Seward. 

Đêm đó chàng Canadian chỉ đàn. Đêm nay anh vừa đàn vừa hát. Lời ca quyện với tiếng đàn khiến hồn Kiều-Lam chơi vơi trong dòng kỷ niệm ngập ngụa ưu phiền.
Tự dưng Kiều-Lam thảng thốt nhận ra trạng thái tình cảm này dường như cũng đã đến với nàng, nhưng không nhớ vào thời điểm nào. Phải một lúc khá lâu Kiều-Lam mới nhớ được, đó là một buổi chiều chủ nhật, khi nàng đang treo máy sưởi trong nhà ươm lan. Lúc treo xong cái máy sưởi cuối cùng, trong khi nàng đang nhìn khoảng cách từ máy sưởi đến giò Dendrobium gần nhất để lượng định ảnh hưởng của hơi nóng từ máy sưởi đến giò lan thì chợt nghe tiếng hát trong suốt, ngọt ngào văng vẳng trong không gian im vắng: 

“...Đêm nghe tiếng thở dài. 
Đêm nghe những ngậm ngùi...” 

Kiều-Lam đứng lặng, nhìn ra khoảng sân rộng với cõi lòng rưng rức như cõi lòng của người vợ trẻ, ngày xưa, thường lên sân thượng, nhìn về phương trời xa mong chờ bóng dáng một người...Tiếng hát của cô gái vẫn êm ái mượt mà nhưng hồn Kiều-Lam lại giao động từng hồi. Sau này vô tình Kiều-Lam mới biết người hát tình khúc đó là ca sĩ Diễm-Liên, nhưng Kiều-Lam không nhớ tựa đề của bản nhạc. 

Kiều-Lam không nhớ chiều hôm đó nàng có đủ can đảm nghe Diễm-Liên hát hết ca khúc ấy hay là nàng phải đóng cửa vườn lan để khỏi bị tiếng hát khơi lại nỗi đau xưa. Nhưng bây giờ, trong trạng thái tình cảm này, nàng muốn nghe lại tiếng hát ấy để tìm lại chút dư vị đắng cay mà nàng không hiểu nghị lực nào đã giúp nàng chịu đựng được suốt mấy mươi năm dài! 

Trở về phòng, trong khi tìm cassette, earphones và những cuộn băng có Diễm-Liên hát, Kiều-Lam thầm nghĩ đến các con, dâu và rể của nàng – những người đã, không những tặng nàng vé du lịch mỗi năm mà còn sắp sẵn vào va-li những gì nàng cần và những gì nàng thích.

Vừa rời thang máy Kiều-Lam vừa nghĩ, trời lành lạnh, đi lang thang trên vùng đất mang nhiều nét thân thương của một vùng biển xưa và lắng nghe giọng ca tha thiết của Diễm-Liên sẽ là niềm thú vị vô biên. Bằng lòng với niềm vui nhỏ nhoi đó, nàng gắn earphones vào tai, mở nút “on” nơi cassette rồi cho cassette và hai tay vào túi áo lạnh. 

Chưa kịp đặt chân lên tấm thảm đỏ dẫn ra cầu thang, Kiều-Lam nghe ai nói gì đó rồi một cánh tay lực lưỡng, màu nâu sậm, chận nàng lại. Kiều-Lam vội lấy earphones ra, nhìn người đã chận nàng: 
- Xin lỗi, ông nói gì?

Anh chàng Mỹ đen cười vui, chỉ vào cái máy kiểm soát, pha trò: 
- Có lẽ bà đang thưởng thức một đoạn nhạc tuyệt vời cho nên bà quên cho thẻ an ninh của bà vào máy trước khi bà rời du thuyền.

Không bận tâm về tính đãng trí của mình, Kiều-Lam lý nhí lời xin lỗi rồi làm theo lời nhân viên kiểm soát an ninh. 
Xoay người ra cầu thang, bước ngược chiều với những du khách trở về, Kiều-Lam nghe loáng thoáng lời chúc của anh chàng kiểm soát an ninh: “Hãy có một buổi tối tuyệt đẹp” mà không biết anh chúc nàng và những người rời du thuyền hay anh chúc những người vừa đi bờ về.

Trong khi du khách đi dần về hướng phố thì Kiều-Lam đi dọc theo cầu tàu, nơi du thuyền đang cặp, để được thảnh thơi một mình, lắng hồn vào tiếng hát, lời ca. 

Kiều-Lam đến bên chiếc cầu gỗ dẫn xuống bến tàu; nơi đó vài chiếc du thuyền nhỏ và mấy chiếc canoes đang nhấp nhô như đợi thủy triều dâng. Kiều-Lam nhìn lại hướng chiếc Legend of the Seas và thấy cả vùng ánh sáng rực rỡ trên du thuyền phản chiếu trên mặt nước xanh thẫm. Tự dưng nàng cảm thấy nặng nơi lồng ngực và như có điều gì rưng rức trong hồn nàng! Phải một lúc sau Kiều-Lam mới nhận biết được rằng chính vùng ánh sáng trên du thuyền phản chiếu lung linh trên mặt nước đã gợi nơi hồn nàng nỗi cô đơn vô tận của những đêm lang thang một mình trên bến Bạch-Đằng. 

Những đêm đó, ánh đèn từ câu-lạc-bộ-nổi của Hải-Quân, từ những chiến hạm đang cập trước Bộ Tư Lệnh Hải-Quân và từ nhà hàng Mỹ-Cảnh, cũng phản chiếu lung linh trong dòng nước lặng lờ. Trong khi từng cặp, từng cặp sánh bước bên nhau trên bến Bạch-Đằng thì Kiều-Lam lang thang một mình để gặm nhấm nỗi đau riêng! 


Bây giờ, nỗi đau đã rơi vào trạng thái bảo hòa, nhưng tiếng hát thiết tha và giọng ngân êm ái của Diễm-Liên vẫn gợi lại trong lòng Kiều-Lam nhiều nỗi xót xa: 

“...Đêm từng đêm thức trắng 
Nhớ thương cuộc tình 
Chìm trong hoang vắng. 
Ôi! Tình yêu bay xa 
Vẫn chưa phai nhòa ...” (6) 

Kiều-Lam không còn gì để nuối tiếc về một cuộc tình đầy giông bão ấy nữa; nhưng không hiểu tại sao khi nghe đoạn nhạc này nàng cũng vẫn không nén được tiếng thở dài!

Kiều-Lam ngồi lên phiến đá nhỏ cạnh chiếc cầu gỗ. Trong trạng thái vô thức, nàng đưa tay mơn man khóm fireweed màu hồng nhạt mọc quanh phiến đá. Kiều-Lam hơi ngạc nhiên, tại sao nàng có thể nhận ra màu hồng nhạt của fireweed khi mà nàng đã đi xa du thuyền, xa khu phố và mấy ngọn đèn đường. Nhìn quanh, nàng cũng ngạc nhiên khi thấy được, xa xa, vùng nước xanh mà lúc sáng chiếc du thuyền nhỏ đưa du khách đi tìm xem cá voi/hải cẩu và gấu. Khi nhìn lên bầu trời trong vắt Kiều-Lam mới nhận ra là trăng đã lên.

Nhìn ánh trăng tự dưng Kiều-Lam nhớ đến ánh trăng của đêm họp mặt tại nhà Vũ. Tối hôm đó, ánh trăng soi rõ khoảng sân rộng có cây ngọc lan và mấy cây mai tứ quý trong chậu kiểng. Vũ hái mấy đóa ngọc lan và trao tận tay nhóm bạn của Kiều-Lam. Khi Vũ đến cạnh, Kiều-Lam cũng xòe bàn tay sẵn sàng đón nhận đóa ngọc lan, nhưng Vũ không để đóa hoa vào lòng bàn tay của nàng mà Vũ lại gắn lên cái kẹp trên mái tóc của nàng. Nhóm bạn hay phá phách của kiều-Lam “ồ” lên cùng một lúc. Vũ chỉ tủm tỉm cười. Kiều-Lam mắc cỡ quá, chỉ biết ngồi im, cúi mặt, cười. 

Đến phần văn nghệ, nhóm bạn của Vũ đàn và hát rất sôi nổi khiến nhóm bạn của Kiều-Lam buộc nàng phải “đối phó” để khỏi bị...quê! Sau khi Kiều-Lam miễn cưỡng nhận lời, mọi người bảo Vũ thiên vị khi tặng hoa, bây giờ “phạt” Vũ, buộc Vũ phải đàn cho Kiều-Lam hát. Vũ ôm đàn, nhìn nàng, cười cười, chờ đợi. Kiều-Lam nói nhỏ: 
-Dạ, anh dạo cho Do Majeur, slow.

Kiều-Lam hát tình khúc Trăng-Lạnh của Điệp-Linh: 

“Trăng lả lướt, 
Biết bao thu mùa ru lá rụng. 
Chiếc lá vàng 
Rơi trong tối mênh mang. 
Cùng thời gian 
Lắng trong tiếng thu tàn. 
Nhớ lại chăng đêm nào chiếc lá rơi. 
Người ơi! Nhẹ bước. 
Lạnh lùng thân chiếc lá 
Vàng khô rơi không tiếng vang...” 

Khi nghe Vũ đệm cho nàng hát Kiều-Lam mới biết Vũ là người rất thành thật khi xác nhận chàng không có ngón đàn Tây-Ban-Cầm điêu luyện. Và sau đó Kiều-Lam cũng hiểu Vũ rất thành thật khi chàng đột ngột và vụng về tỏ tình với nàng. Kiều-Lam chỉ cúi đầu, câm lặng. 

Mấy mươi năm qua Kiều-Lam vẫn không hiểu nguyên nhân nào nàng câm lặng. Mấy mươi năm qua Kiều-Lam cũng vẫn không thể hiểu được tại sao nàng không yêu Vũ! Và cũng mấy mươi năm qua, không biết bao nhiêu lần Kiều-Lam đã niệm và đã nghe niệm “Gate Gate Paragate, Parasamgate. Bodhi Svaha...” (Hãy qua, hãy qua bên bờ bên kia...) nhưng nàng cũng không hiểu tại sao nàng vẫn mãi hoài ngụp lặn trong vũng sầu! Dù chìm ngập trong vũng sầu, Kiều-Lam cũng không hiểu tại sao chưa bao giờ nàng hối tiếc là nàng đã câm lặng và đã không yêu Vũ – mà nàng chỉ hối tiếc là nàng đã gửi thiệp thành hôn của nàng đến cho Vũ! 

Bây giờ, cả vùng không gian miền Bắc bán cầu này nhuốm lạnh trong ánh trăng mơ thì trong hồn Kiều-Lam niềm hối tiếc về hành động ngây ngô, thiếu suy nghĩ của nàng ngày xưa cũng ngập tràn! Kiều-Lam thở dài ngẩng nhìn những phiến băng trên đỉnh Mt. Juneau lấp lánh ánh trăng. 
Ánh trăng soi rõ những phiến đá dị hình chia cách những khe núi thâm u. Ánh trăng soi rõ những vạt sương mong manh ẩn hiện trong rừng thông bạt ngàn. Ánh trăng soi rõ những tòa buildings nơi vùng thị tứ của Juneau, ở phía xa. Ánh trăng soi rõ mặt nước xanh thẫm của Gastineau Channel. Ánh trăng soi rõ từng lượn sóng nhấp nhô quanh mấy chiếc Canoes và du thuyền nhỏ. Ánh trăng soi rõ bóng Kiều-Lam trải nghiêng trên khóm cỏ fireweed đẫm sương. Ánh trăng cũng soi rõ niềm cô đơn trong hồn Kiều-Lam.

Kiều-Lam thoáng rùng mình, không hiểu vì lạnh hay là vì sợ hãi niềm cô đơn. Khi nàng đứng lên, muốn trở lại du thuyền để bớt lẻ loi thì giọng ca sướt mướt của Diễm-Liên đang nức nở ở đoạn: 

“...Lặng lẽ đi tìm dấu em đêm dài, 
Nhịp nào gõ hồn tôi, 
Cơn mưa dạt dào, vỗ về. 
Nhiều khi, tôi tìm trong ký ức muộn phiền 
Bóng hình ai đã tan vào cõi huyền không...” (7) 

Kiều-Lam lại thở dài, nhìn bóng nàng soải dài trên nền xi-măng lạnh lẻo như nhìn vào quá khứ xa xăm để tìm xem tim nàng đã lỗi nhịp ở phân đoạn nào! 
Kiều-Lam bước đi, chiếc bóng câm lặng của nàng cũng bước theo; từ đó Kiều-Lam hiểu rằng dù tim nàng phải chịu thương tổn đến ngần nào đi nữa thì nàng cũng không thể tách rời cuộc đời còn lại của nàng ra khỏi một dĩ vãng nặng trĩu ưu phiền! 

Kiều-Lam nhìn lên triền núi Mt. Juneau. Trong vùng không gian tĩnh mịch, nàng tưởng như tiếng hát mượt mà, óng chuốt của Diễm-Liên vang xa và trở nên long lanh như những hạt sương bịn rịn trên cành thông dịu dàng…


Điệp Mỹ Linh
http://www.diepmylinh.com

*.- Mượn tựa nhạc phẩm Trăng-Lạnh của Ba tôi – Cụ Điệp-Linh.
1.- Của G.H. Matos Rodriguez.
2.- Của S. Rachmaninoff
3.- Của A. Rubinstein.
4.- Của Sebastian Yradier.
5.- Feelings của Morris Albert
6.- Kỷ Niệm Buồn, cassette không ghi tên tác giả.7.- Vần Tóc Rối của Mai-Anh-Việt.