Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Văn Sâm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Văn Sâm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 16 tháng 10, 2024

Buổi Sinh Hoạt Văn Học Nghệ Thuật - Sự Trong Sáng Tiếng Việt

 

Thưa Qúy Anh Chị

Xin gởi đến các anh chị bài tường thuật về buổi sinh hoạt nhệ thuật vừa qua ở Paris của nhà thơ Nguyễn Mây Thu. Nhờ các anh chị phổ biến giúp. Xin cảm ơn. Ngay sau buổi sinh hoạt tôi nhận được đuợc bản vidéo của nhạc sĩ Đình Đại, quay trực tiếp phần II Tác Phẩm và Tác giả phổ biến trên youtube Mạn Đàm Paris. Cũng thời gian đó tôi nhận được bài viết Bản Tin của BS Lê Thị Khánh Vân đăng trong Nội San Y SĨ. Riêng KS Trần Đình Quốc đã quay phim làm tài liệu lưu trữ, và sẽ tuyển ra những đoạn thước phim để làm youtube sau này. Xin cảm ơn họa sĩ Nguyễn Đức Tăng và Trần Đình Quốc đã chụp nhiều photo kỷ niệm gởi cho các bạn.
Chúc các Anh Chị nhiều sức khỏe.

thân mến
Đỗ Bình
 

SINH HOẠT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT

SỰ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT


Chủ nhật ngày 29-09-2024, một buổi sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật (VHNT) với chủ đề: Sự Trong Sáng của Tiếng Việt, do Nhóm Văn Nghệ Sĩ Paris tổ chức, tại nhà hàng Brasserie de Saigon, số 97 avenue du Maine, Paris quận 14. Khách tham dự là những nhân sĩ đại diện các hội đoàn: Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Pháp, Hội Y Sĩ Tự Do tại Pháp, Hội Dược Sĩ, Hội Văn Hóa Thuần Việt, Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam Paris, và những khuôn mặt trí thức, văn nghệ sĩ nổi tiếng trong cộng đồng người Việt ở Paris. Ngoài ra còn có một số người ở thật xa như Giáo sư Nguyễn Văn Sâm, nhà văn Trần Ngọc Ánh đến từ Nam Cali, nhà báo Hoài Thanh đến từ Virginia, nhà biên khảo Mỹ Phước Nguyễn Thanh, nhà thơ Nguyễn Mây Thu đến từ Montpellier. Thành phần Ban tổ chức: Nhà thơ Đỗ Bình, Họa sĩ Nguyễn Đức Tăng, BS Nguyễn Bá Linh, Luật gia Đoàn Trần Thiều, KS Lê Minh Triết, MC Nguyễn Quang Huy, Nhạc sĩ Trần Tấn Long, Nhạc sĩ Bùi Đình Đại, Chuyên viên âm thanh Vũ Thành, Nhạc sĩ Nguyễn Duy Thiện, KS Trần Đình Quốc, GS Nguyễn Minh Cầm, Nha sĩ Thẩm Thái Hà, Ca sĩ Thu Sương, Giáo viên Vũ Thúy Hằng, Nghệ sĩ Thái Văn, Nghệ sĩ Trần Huệ.


Mở đầu chương trình là Nghi Lễ Quốc Kỳ và một phút Mặc Niệm do KS Lê Minh Triết Chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Pháp và nhóm văn nghệ sĩ Paris đảm trách.


Mở đầu phần văn học nghệ thuật, trưởng ban tổ chức nhà văn, nhà thơ Đỗ Bình đã nói mục đích và ý nghĩa của buổi sinh hoạt chủ đề về «Sự trong sáng của tiếng Việt», nhà thơ Đỗ Bình đã phát biểu:


"Tiếng nói là linh hồn của một dân tộc. Ở thế kỷ trước Học giả Phạm Quỳnh đã nói «Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn…". Trước năm 1954 chúng ta đã có một ngôn ngữ thanh lịch, một phong cách tao nhã, văn chương đãi lọc mà điển hình là những tiểu thuyết của Nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Sau năm 1954 ở miền Nam ngôn ngữ trở nên phong phú, sự trong sáng của tiếng Việt được gìn giữ cho đến tháng tư năm 1975 thì bị tha hóa! Tiếng Việt hôm nay không còn như xưa. Phải chăng do sự du nhập quá nhiều nền văn hóa trong thời kỳ đất nước mở cửa mà chưa kịp chuẩn bị ứng phó với chất đa dạng đó, nên câu nói hàng ngày bị pha trộn thành một ngôn ngữ Tây Tàu Mỹ Nhật nghe rất lạ?! 
Thưa quý Anh Chị
Trong mỗi chúng ta khi rời xa quê hương đều mang trong tim một tâm hồn Việt. Có người đến Pháp trên dưới 60 năm, quả là một chặng đường dài của đời người, nhưng vẫn không quên Tiếng mẹ. Đặc biệt có những em sau năm 1975 khi qua đây còn rất bé, ngôn ngữ hàng ngày là tiếng bản xứ để đi học, và đã đỗ đạt, học vị cao, nhưng vẫn nói thông, viết thạo, không những thế còn trở thành nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ để lưu truyền văn hóa Việt trên xứ người.
Các vị là những khuôn mặt trí thức tiêu biểu trong cộng đồng người Việt ở Paris. Hôm nay chúng ta đến mục đích để đóng góp, trao đổi về Sự Trong Sáng của Tiếng Việt, mà không mang tính tranh luận, và cũng không đi tìm cái đúng sai trong những câu nói. Chúng ta chỉ góp ý và thưởng thức những tác phẩm của những văn nghệ sĩ tiếp nối qua những sáng tác, và đang gìn giữ bản sắc Việt ở xứ người.
Xin chân thành cảm ơn các anh chị đã lắng nghe."

Tiếp theo MC Nguyễn Quang Huy và Thẩm Thái Hà lần lượt mời những văn nghệ sĩ ở xa  phát biểu:
Nhà văn, giáo sư Nguyễn Văn Sâm ở Cali: Trước năm 1975 là GS Hán Nôm trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn, và sau năm 1975 giảng dạy ở Đại học Hoa Kỳ. Ông là một trong những nhà nghiên cứu Hán Nôm còn sống ở hải ngoại. Ông được vinh danh trong bộ sách Những Khuôn Mặt văn Hóa VN Hải Ngoại. Ngoài ra ông còn là tác giả nhiều tác phẩm văn chương, tiểu thuyết, truyện dài…
Giáo sư Nguyễn Văn Sâm phát biểu: 

"Thật là hân hạnh cho tôi có mặt hôm nay ở đây và phát biểu đầu tiên sau lời của anh Đỗ Bình, chúng tôi rất là ngạc nhiên và hãnh diện khi thấy rằng chúng ta ở xứ người còn có những buổi sinh hoạt VHNT như thế này, đưa ra những vấn đề này nọ để cho những thế hệ sau họ biết là chúng ta ưu tư về những vấn đề gì. Hai năm trước chúng tôi qua, tình cờ gặp bửa tuyên danh những nhà văn, nhà thơ ở hải ngoại, đó là một vinh dự. Kỳ này chúng tôi qua, ngẫu nhiên đều có mặt trong buổi này, đặt vấn đề về sự trong sáng của tiếng Việt, chuyện đó rất là dài, rất nhiêu khê và có thể là thảo luận, chúng ta không có đặt vấn đề, đưa ra những nguyên tắc gì. Xin cảm ơn ban tổ chức. Nói về tiếng Việt trong sáng là viết làm sao cho dễ hiểu, chứ không phải là viết như các ông ở bên nước nhà, viết một quyết nghị gì đó, viết một câu rất dài không có chấm câu gì hết. Viết làm sao cho dễ hiểu, không có lộn từ chỗ này sang chỗ khác." 

Người phát biểu kế tiếp là Nhà báo Hoài Thanh, trước năm 1975 ông là một nhà báo chuyên nghiệp. Sau năm 1975, ông tiếp tục viết báo từng cộng tác với những tờ báo Việt ngữ ở Hoa Kỳ. Ông còn là cựu chủ nhiệm tuần báo Đại Chúng, một tờ báo được nhiều văn sĩ, học giả, giáo sư nổi tiếng ở Paris và khắp nơi cộng tác. Ông được vinh danh trong quyển «NKMVHVNHN». Nhận thấy bộ sách rất có giá trị, ông tự nguyện bỏ tiền ra in lại và có bổ túc thêm của nhiều tác giả. Bây giờ quyển sách gồm 1500 trang, sách được in để gửi tặng cho các tác giả được vinh danh ở Mỹ và Canada. Ông phát biểu:
"Thưa quý Ông Bà Nhân sĩ, quý Anh Chị Em Văn Nghệ Sĩ.

Thật là vinh dự cho tôi từ miền Virginia xa xôi đến Paris, thủ đô của ánh sáng, của Nhân quyền, nơi có một nền văn minh văn hóa lâu đời để được nghe quý vị trao đổi về đề tài: Sự Trong Sáng Tiếng Việt. Hơn hai mươi lăm năm trước chúng tôi được hân hạnh biết những giáo sư, học giả, văn nghệ sĩ Paris như GS Lê Mộng Nguyên, GS Nguyễn văn Ái, GS Phạm Thị Nhung, BS Nguyễn Bá Hậu, BS Nguyễn Văn Bá, Học giả TS Thái Văn Kiểm, nhà văn Bình Huyên, nhà văn Đỗ Bình, nhà văn Nguyễn Thùy, nhạc sĩ Trịnh Hưng, nhạc sĩ Lê Trạch Lựu, nhạc sĩ Anh Việt Thanh… Vì ngưỡng mộ họ nên chúng tôi đã dành nhiều số báo đặc biệt của Đại Chúng viết về họ, cũng như những sinh hoạt văn học nghệ thuật Paris. Hôm nay dù tuổi đời đã cao, sức khỏe kém, nhưng nhận được Thư Mời của nhà văn Đỗ Bình tôi đã nhận lời tham dự, mong được gặp quý Ông Bà và Các Anh Chị Em Văn Nghệ Sĩ mà tôi được nghe danh nhưng chưa có hân hạnh diện kiến. Xin chân thành cảm ơn Ban Tổ Chức đã cho tôi cơ hội được thổ lộ tâm tình. Mấy lời bọc bạch, nếu có điều gì sơ suất mong các quý vị niệm tình lượng thứ. Kính chào."

Nhà nghiên cứu, biên khảo Mỹ Phước Nguyễn Thanh ở Montpellier: Trước năm 1975 ông là nghiệm chế viên ở Đại học Khoa học Sài gòn. Sau năm 1975 ông là cây bút biên khảo về văn học sử trong nhiều tạp chí văn học nổi tiếng ở hải ngoại. Ông được vinh danh trong bộ sách Những Khuôn Mặt Văn Hóa VN hải Ngoại. Ông phát biểu:

"Thật là một hân hạnh cho Thanh được tham dự buổi hội thảo hôm nay, được gặp lại những người bạn cũ và quen biết thêm những người bạn mới. Bảy tám năm về trước khi Thanh còn ở trong vùng ngoại ô Paris hầu như không có một buổi hội thảo, sinh hoạt nào của Câu Lạc Bộ Văn Hóa tổ chức mà Thanh bỏ qua, nó bổ ích cho cá nhân Thanh được học hỏi ở CLBVH Paris rất nhiều, chỉ rất tiếc là khi dọn nhà về tỉnh một phần vì bận việc, đôi khi vì lý do sức khỏe nên không được cơ hội trở lại Paris để gặp gỡ những người thân quen cũ và tham dự các buổi sinh hoạt. Mong rằng trong tương lai Thanh sẽ có cơ hội để trở lại tham dự nếu có tổ chức. Trước khi dứt lời xin kính chúc sức khỏe các bác, các anh chị và nhiều may mắn thành công tốt đẹp trong đời."

Nhà thơ Nguyễn Mây Thu, sáng tác văn thơ trước 1975, có thơ và truyện ngắn đăng trên một số báo của Saigon thuở ấy. Sau 1975, bà cộng tác với nhiều tạp chí văn học ở hải ngoại. Hiện đang là đại diện cho tập san văn học nghệ thuật Cỏ Thơm nơi vùng Virginia. Thơ văn của bà được in trong nhiều sách, tuyển tập thi văn ở hải ngoại. Bà cũng có đôi lời ngõ:

"Mây Thu rất hân hạnh được dịp tham dự buổi sinh hoạt VHNT hôm nay, được dịp hội ngộ cùng quý bác, quý anh chị mà từ nhiều năm qua vì ở xa Paris nên không thể đến được. Hôm nay Mây Thu cũng có may mắn được gặp gỡ quen biết những người bạn mới, bạn trẻ tham dự trong Câu Lạc Bộ. Thật là một điều vui mừng hạnh phúc cho Mây Thu. Mong rằng trong tương lai Mây Thu sẽ có dịp được họp mặt thường xuyên hơn, đó là cơ hội để Mây Thu được học hỏi, trao đổi cùng quý bác, quý anh chị. Xin cảm ơn ban tổ chức, cảm ơn anh chị Đỗ Bình-Thúy Hằng đã khuyến khích Mây Thu tham dự buổi sinh hoạt hôm nay. Xin kính chúc quý bác, quý anh chị được nhiều sức khỏe, vạn sự an lành trong đời sống thường ngày."



Tiếp theo những lời phát biểu của các văn thi sĩ, ký giả ở xa, là phần minh họa cho Sự Trong Sáng Tiếng Việt được thể hiện trong Thi ca, Văn chương, Âm nhạc của thời tiền chiến, và nền văn học nghệ thuật trước năm 1975 ở miền Nam.


Mở đầu phần văn nghệ: Những sáng tác văn thơ tiêu biểu xưa và nay.

MC Thái Hà giới thiệu ca khúc mở đầu Tình Ca của nhạc sĩ Phạm Duy nói về tình quê hương, với sự trình bày của Thu Sương.
Để thưởng thức lại áng văn xưa, MC Quang Huy mời Nhà biên khảo, họa sĩ Nguyễn Đức Tăng và Nha sĩ Thẩm Thái Hà lên đọc một bài văn, bài thơ tiêu biểu về sự trong sáng tiếng Việt ngày xưa. Họa sĩ Nguyễn Đức Tăng, 94 tuổi, diễn ngâm bài thơ Ông Đồ của thi sĩ Vũ Đình Liên, một bài thơ nổi tiếng vào năm 1936 tiêu biểu cho dòng thơ Mới, khởi đầu cho sự thay đổi từ cấu trúc đến suy tưởng trong dòng thi ca Việt Nam.
MC Thái Hà đọc đoạn văn Tôi Đi Học của nhà văn Thanh Tịnh, bài văn nổi tiếng của thập niên 30 của thế kỷ trước được đưa vào sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư cho học sinh học.
MC Thái Hà:

Mùa Thu Cho Em của Ngô Thụy Miên, Hòa tấu Piano : Nguyễn Duy Thiện, Violon : Vũ Công Minh, Guitare: Trần Tấn Long.

Áo Lụa Hà Đông, thơ Nguyên Sa, nhạc: Ngô Thụy Miên, trình bày: Trần Tấn Long.

Phần Tác phẩm và Tác giả hôm nay:

MC Quang Huy mời những tác giả và nghệ sĩ lên máy ghi âm để được giới thiệu vài nét về quá trình sinh hoạt văn học nghệ thuật. Sau đó MC Thẩm Thái Hà giới thiệu vài nét về tiểu sử Thi, văn, nhạc sĩ Đỗ Bình, và mời ông lên nói qua về sinh hoạt văn hóa ở Paris, và giới thiệu các văn nghệ sĩ Paris hôm nay. Nhà thơ Đỗ Bình:

"Ở Paris kể từ 1975 đến 2010, những sinh hoạt văn hóa, văn học nghệ thuật, đó là thời kỳ huy hoàng rực rỡ nhất, vì thời gian này còn rất nhiều người trong ban tổ chức, cũng như những người đi tham dự. Ngày đó có sự sinh hoạt của nhóm văn bút quốc tế, cùng với sinh hoạt của hội nhà thơ Ba Lê Thi Xã. Hai hội này quy tụ toàn là những khuôn mặt nổi tiếng của Việt Nam ở hải ngoại. Ngoài ra còn có một hội thứ ba nữa là Hội Nhạc Sĩ, quy tụ những người đã có tác phẩm, hoặc là mới nổi tiếng ở Việt Nam trước năm 1975, mới qua Pháp. Vì muốn mở rộng thành một sinh hoạt chung, chúng tôi kết hợp ba nhóm đó lại để thành một Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam Paris. Họ là những giáo sư, bác sĩ, những nhà nghiên cứu, dịch giả, những nhà sáng tác. Vì tôi ở trong hội Văn bút, và hội Thơ Ba Lê Thi Xã, lại tham gia trong nhóm chủ trương của một số tạp chí thuần túy về mặt văn học, do đó mỗi lần Paris tổ chức văn học, chúng tôi đã mời được các văn nghệ sĩ ở khắp nơi về Paris tham dự.
Trong sinh hoạt văn học nghệ thuật hôm nay, tôi hân hạnh được các anh chị văn nghệ sĩ Paris mời để giới thiệu tác phẩm. Đây là những nghệ sĩ sáng tác rất đa tài, đã bước vào con đường văn nghệ từ thuở thiếu thời. Các văn nghệ sĩ có tác phẩm hôm nay đã sinh hoạt trong lãnh vực văn học nghệ thuật ở Paris trên dưới ba mươi năm, và đã thành danh. Trong số nghệ sĩ có người nhiều tuổi như BS Phạm Đăng Thiện, GS Vũ Công Minh, TS Phạm Trọng Chánh, Nhà thơ Nguyễn Mây Thu, Nhạc sĩ Cát Tưởng, còn lại là những văn nghệ sĩ trẻ, họ có học vị rất cao, sáng tác thơ văn và nhạc Việt rất đặc sắc. Điểm đặc biệt là mỗi người đều tìm được cho mình lối sáng tác riêng. Các anh chị cũng như các anh chị trẻ khác ở hải ngoại là thế hệ tiếp nối, đã đóng góp sáng tác trong việc bảo tồn và gìn giữ văn hóa Việt ở hải ngoại.
Trong chủ đề hội luận chiều nay, những sáng tác của các văn nghệ sĩ Paris sẽ minh chứng qua tác phẩm về Sự Trong Sáng Tiếng Việt… Bây giờ tôi xin phép giới thiệu từng tác giả và tác phẩm: Nhà thơ, nhà biên khảo Nhất Uyên TS Phạm Trọng Chánh. Ca, nhạc sĩ Phạm Đăng BS Phạm Đăng Thiện. GS, họa sĩ, nhạc sĩ Vũ Công Minh. Nhà văn, nhạc sĩ Vũ Hạ. Nhà văn, nhà thơ Nguyễn Mây Thu. Nhạc sĩ Cát Tưởng. Nhạc sĩ, KTS Mộng Trang. Nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ Dương Phương Linh. Ca, nhạc sĩ Đình Đại. Nhạc sĩ Trần Tấn Long. Nhạc sĩ, KS Lê Hoài Anh. Ca sĩ, KS Đỗ Siêu. Nhạc sĩ, nha sĩ Thẩm Thái Hà. Ca sĩ, nhà văn, nhà thơ Nguyễn Thu Sương. Nhà văn hóa, xã hội, ca sĩ Tuyết Dung. Nhà biên kịch, họa sĩ, nghệ sĩ Trúc Tiên.
Thế giới của nghệ thuật rất bao la, trong mỗi tâm hồn nghệ sĩ tôi vừa giới thiệu trên đều chất chứa những nguồn cảm hứng bất tận, đầy sáng tạo của văn, thơ, âm nhạc. Trong sáng tác họ đã khai phá những điều mới lạ làm phong phú thêm cho nghệ thuật, vì họ đã được hấp thụ và đào tạo từ nền văn hóa Tây Phương. Từ cách suy tưởng, văn phong trong thơ văn, đến ca từ, giai điệu trong âm nhạc đều không rập theo lối cũ, nhưng vẫn giữ được chất hồn Việt Nam, nên dẫn tâm hồn người thưởng thức vào một cõi riêng sâu thẳm đầy màu sắc.
 Xin cảm ơn các anh chị văn nghệ sĩ đã cho tôi được giới thiệu vài nét về tác giả và tác phẩm, một việc làm đầy khó khăn và tế nhị, vì tự các anh chị đó từ lâu đã định hình thành một nghệ sĩ, và đã bay bằng đôi cánh mình trên vòm trời nghệ thuật."

Tiếp theo MC Thái Hà mời nhà thơ Nhất Uyên lên đọc bài thơ: Tình Ca Quê Hương của tác giả.
Lời Thầm Thì Của Đá, thơ Nguyễn Mây Thu, tác giả trình bày.
Nhạc Chiều, nhạc & lời: Phạm Đăng, tác giả trình bày.
Sẽ Còn Lại Những Gì ? Nhạc & lời: Mộng Trang, tác giả trình bày.
Đàn Chim Trắng, nhạc & lời: Đình Đại, tác giả trình bày.
Thu Và Nỗi Nhớ, nhạc & lời: Cát Tưởng, tác giả trình bày.
Rồi Cũng Quen Thôi, nhạc & lời: Dương Phương Linh, tác giả trình bày.
Viện Cớ? thơ Du Tử Lê, nhạc Lê Hoài Anh, trình bày Đăng Siêu.
Tôi Yêu, nhạc & lời Vũ Công Minh, trình bày Tuyết Dung.

Gió Ơi Cùng Ta Chết Một Đêm, nhạc & lời ThẩmThái Hà, trình bày Tuyết Dung.
Trần Tình, nhạc & lời Vũ Hạ, trình bày Trúc Tiên.

Phần Hội Luận: Sự Trong Sáng của Tiếng Việt


Nhà biên khảo Nguyễn Đức Tăng:"Cách dùng từ ngữ chính xác trong Tiếng Việt."
Bác sĩ Nguyễn Tối Thiện nêu ra một vài ý kiến:

"Chúng ta thử đặt ra những tiêu chuẩn về tiếng Việt trong sáng, 1- Sử dụng danh từ một cách chính xác, một chữ diễn tả đúng ý nghĩa những gì mình muốn nói, chữ đó phải có trong tự điển tiếng Việt, chữ đó có thể được dịch bằng một chữ ngoại quốc đồng nghĩa, nhưng mà chúng ta cũng khó tìm được. Có những chữ trong tiếng Việt mà những chữ khác không dịch được, chẳng hạn như: «Sè sè nắm đất bên đường».

2- Về văn phạm Việt ngữ, một tĩnh từ phải đặt sau tiếng nó bổ nghĩa. Tiếng Việt khác với tiếng Tàu. Tiếng Tàu thì tiếng bổ nghĩa đứng phía trước của tiếng được bổ nghĩa, còn tiếng Việt thì tiếng bổ nghĩa đứng phía sau. Trừ khi trong thi ca thì khác, thi sĩ nhiều khi người ta ngẫu hứng viết ra khác đi thì không nói được.

3- Tiếng Việt trong sáng có mục đích diễn tả cho người khác hiểu chứ không phải mục đích diễn tả cho người muốn nói. Muốn nói hay viết ra, người ta không hiểu được mình muốn nói gì thì không thể nào gọi là trong sáng được

4- Không sử dụng quá nhiều những chữ Hán-Việt. Có người sử dụng vì muốn biết thêm chữ, người khác hình như không cố gắng tìm những chữ giản dị để diễn tả. Có lẽ vì khó khăn khi viết lách hoặc vì quá thông thái. Chẳng hạn như có một giáo sư trường Đại học Văn khoa là một vị mà tôi rất kính phục và quý mến, khi tôi đọc tác phẩm của Ngài viết khoảng 1949, có nhiều chữ Hán, tôi nói thật với quý vị, tôi tìm trong ba cuốn tự điển Hán Việt mà tôi không tìm ra ba chữ đó. Tôi không biết cụ lấy từ đâu và thật là khó hiểu. Thành ra nên cố tìm những chữ Việt nôm để diễn tả hơn là dùng chữ Hán-Việt.

5- Vấn đề phát âm. Tiếng Việt có ba cách phát âm thuộc về ba miền Bắc, Trung, Nam. Mỗi một miền có những cái tôi gọi là “nói ngọng», tức nhiên là phát âm không đúng. Tôi xin lỗi. Chẳng hạn như ở miền Bắc thì giữa danh từ L và N: «Dân đừng có No, để cho chánh phủ No». Chẳng hạn ở miền Nam: «Bắt con cá gô bỏ trong gỗ, nó nhảy gồ gồ»- «Bắt con cá rô bỏ trong rổ, nó nhảy rồ rồ». Còn miền Trung thì sao?"


Bác sĩ Nguyễn Tối Thiện phát biểu tiếp:

"Người ca sĩ mà tôi phục nhất là ca sĩ Ánh Tuyết, người Đà Nẵng, khi cô nói thì phải vận não lắm mới hiểu nhưng lúc cô hát thì rất là hay. Vấn đề phát âm rất quan trọng. Tôi xin nêu ý kiến theo nguyên tắc của tôi, trong trào lưu thanh lọc hóa tiếng Việt, có hai việc là làm sao nhấn mạnh sự giảng dạy cách phát âm đúng cho con trẻ, chuyện đó nó phải bắt đầu từ cha mẹ, thầy cô ở nhà trường. Thống nhất và hợp lý hóa chính tả nghĩa là cố gắng dung hòa giữa những hình thức thông dụng trong ngôn ngữ và sự chính xác về ý nghĩa, diễn tả đúng ý mình muốn phát biểu."

Nhà thơ Thu Sương đặt câu hỏi:
"Tiếng Việt là tiếng độc âm, xin cho biết thế nào là Bội vận, cũng như Vần và Thanh trong tiếng Việt ?»

Giáo sư Hoàng Đức Phương, 94 tuổi, một tiến sĩ ngành vật lý ở Pháp, với 40 năm nghiên cứu Lịch Sử Văn Hóa Việt, ông đã mở ra một lớp học Ngôn Ngữ Thuần Việt để giảng dạy, phát hành nhiều bộ sách về Lịch Sử Văn Minh Cổ Việt. Những cuốn sách Quy Luật Chữ Quốc Ngữ và Cẩm Nang Chính Tả giúp cho những người trẻ ở xa quê hương có cơ hội thông hiểu tường tận, biết đọc và viết tiếng Việt chuẩn mực, đúng quy luật. Ông giải thích:


"Tiếng Việt Trong Sáng là chữ viết phải đáp ứng ít nhất 3 nhu cầu:
1- Dùng ngôn từ sao cho đúng với ý nghĩa đương thời.

2- Văn phong phải ở trình độ ngang với thời đại thám hiểm vũ trụ.

3- Chữ viết phải đúng với quy luật của tiếng nói để ghi được không những âm thanh mà còn cả cái hồn của bản văn nữa.

Bội-vận là sự tập hợp của các phụ-âm tính từ trái qua phải. Chính vận bắt đầu từ nguyên-âm đến hết chữ."


Giáo sư Nguyễn Bảo Hưng góp lời:
"Về vấn đề làm sao viết được tiếng Việt trong sáng qua phần trình bày của Giáo sư Hoàng Đức Phương, trước hết tôi muốn nói về sự tinh hoa đặc biệt của tiếng Việt, là một ngôn ngữ đơn âm, nói có một tiếng thôi nhưng diễn tả được nhiều từ. Thí dụ: chữ Tâm ta có: tâm tư, tâm tình, tâm sự, tâm trạng… nhờ đó khả năng sáng tác được ghi rộng ra, lấy thí dụ bài Chiều Hôm Nhớ Nhà của Bà Huyện Thanh Quan: «Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn. Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn. Gác mái, ngư ông về viễn phố. Gõ sừng, mục tử lại cô thôn». Nếu nói về bài thơ, là để diễn tả tâm trạng của tác giả vào buổi chiều hôm đó. Còn bài Trâu Cày: «Trâu ơi ta bảo trâu này, trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta…» là nói về tâm tình của bác nông phu coi con trâu như một người bạn cùng làm việc với mình, đó là về sáng tác. Chính vì có khả năng sáng tác đó mà theo tôi, muốn giữ cho Tiếng Việt Trong Sáng chúng ta cần phải cân nhắc cách sử dụng rõ ràng, tìm hiểu đến nơi đến chốn. Cũng như một viên đá quý phải biết cách sử dụng. Người ta nói: «Ngọc kia chẳng dũa chẳng mài. Cũng thành vô dụng, cũng hoài ngọc đi». Thí dụ nói về: mân mê, vuốt ve, mò mẫm, sờ soạng… Sáng mùng một nhận được tiền mừng tuổi, cậu bé mân mê vuốt ve tờ giấy mới, tờ giấy bạc trắng tinh... Nửa đêm thức giấc ông lão sờ soạng lần mò ra bức tường, tới cái trạm, mò mẫm để kiếm một thức ăn… Tức là Tiếng Việt Trong Sáng, không có chữ nào dung tục cả, mà sờ soạng chữ dùng đúng, là tiếng Việt của mình rất trong sáng."

Nhà thơ Thu Sương lại đặt câu hỏi:
"Làm cách nào gìn giữ Tiếng Việt Trong Sáng nhất là khi chúng ta đang ở bối cảnh sống ở nước ngoài và chúng ta không thể gìn giữ ngôn ngữ ở bên nhà vì họ độc quyền trong nền giáo dục?"

MC Nguyễn Quang Huy trả lời:

"Khi Huy đã ở Việt Nam 10 năm sau 1975 đang ở và học dưới mái nhà trường, gọi đơn giản hơn là dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, xin lỗi quý vị với tất cả mọi người, không phải là vấn đề chính trị, đó là điều đầu tiên mình được học tiếng lạ. Qua đến đây, nếu những người không ở trong nước sau 1975 thì quý vị chỉ nghe được qua cái đó, xin thưa với quý vị, nói chung chúng ta ở đây là những người trí thức có học hành, ngay như ở Việt Nam thiểu số thành phần người trí thức không có nhiều, thành phần nông dân rất là nhiều. Như trên xứ của người Bắc ở Hố Nai, người ta nói: Nà (Là), lúc bé mình cũng nói Nà Nà vậy. Tôi Nà Nguyễn Quang Huy. Đọc kinh sách nhà thờ: Đó Nà Nời Chúa. Không phải. Nhưng khi mình được đi học một chút thì mình biết đây là chữ Nà phải đọc Là. Chữ S, X,TR, phải phát âm như thế nào... Ngày hôm nay giống như chị Thu Sương nói mình làm sao để diễn tả được, ngày xưa khi đi học người ta nhận mình là văn chương bác học hoặc văn chương bình dân nếu tôi không lầm. Đó là có hai cách, nếu mình diễn tả theo văn chương bác học thì những người nông dân không hiểu được, anh vào cái chỗ toàn có những người nông dân thôi mà anh phát biểu toàn những chữ trên trời dưới đất thì không ai hiểu được. Thành thử cái khó là làm sao mình có thể dung hòa để cho tiếng Việt của mình dễ hiểu, dễ nghe và trong sáng. Những quý vị nào có thể biết tiếng Việt được sử dụng trong nước hôm nay là chữ Hán, chữ Nôm? Ví dụ: hoành tráng, tác nghiệp, ấn tượng, lắm luôn (người Bắc bảo là nắm nuôn), liên hệ, thông đạt, sự cố, trung tâm nghe nhìn, bức xúc, khống chế, mặt bằng, quỹ thời gian… Nếu như vậy thì trong này có ai giải thích cho Huy biết được những chữ đó là ghép chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc Ngữ hay chữ mới?"

Giáo sư Hoàng Đức Phương trả lời:
"Chúng ta đi xa. Ở đây ta không tranh luận về dùng từ ngữ. Mỗi bản văn được truyền đạt cho hậu thế thì bản văn phải có hồn. Muốn có hồn thì phải viết đúng quy luật. Tiếng Việt trong sáng là phải có quy luật, thứ nhất phải dùng ngôn từ cho đúng với một con người có học chứ không phải với một con người thất học. Thứ hai là văn phong phù hợp với con người thượng lưu chứ không phải văn phong phù hợp với con người bình dân."

MC Thẩm Thái Hà đặt câu hỏi:
"Trước 1954 ở miền Bắc và trước 1975 ở miền Nam, tiếng Việt được sử dụng rất trong sáng, xin cho biết những điểm nào để nhận biết ?"

Giáo sư Hoàng Đức Phương trả lời:
"Ngày xưa chúng ta vẫn nói dân Hà Nội ăn nói chuẩn. Trong Nam không có người ăn nói chuẩn, chính chúng ta không biết được vì lý do toàn là những sĩ phu người ta viết văn, qua phương tiện truyền thông chúng ta có những bản văn như của nhóm Tự Lực Văn Đoàn toàn là những người có học thức cao thì chúng ta nhầm với dân Hà Nội. Năm 1945, Việt-Cộng vào, chính lúc họ đi vào đấy bắt buộc giai cấp trí thức phải đi vào trong Nam và hội tụ ở Saigon thì nói là dân Saigon ăn nói văn hóa. Bây giờ Việt-Cộng vào Nam năm 1975, thì chính chúng ta là người có bổn phận phải bảo vệ tiếng Việt, chúng ta phải nói theo tiếng Việt, không phải chúng ta ở đây, ở Paris là phủ nhận. Có anh em bên Mỹ, bên Úc là những người có phương tiện phổ biến, còn ở Paris người ta không có phương tiện phổ biến. Đó là góp ý và cách nhìn tổng quát của tôi."

MC Nguyễn Quang Huy nêu ra câu hỏi:
 "Ngôn ngữ của  người trí thức là sách vở, khuôn mẫu, thích hợp với người trí thức. Nhưng ngôn ngữ đời thường, thích hợp với đại chúng. Ngoài ra còn một thứ ngôn ngữ nữa rất dung tục, của một số người. Nếu nói như Gs Hoàng Đức Phương thì thành phần trí thức chúng ta không nhiều, làm thế nào để phân biệt ngôn ngữ trong sáng khi xưa, và làm bớt ngôn ngữ dung tục?"

Nhà thơ Đỗ Bình góp ý:
"Việt Nam gồm có 54 sắc dân, sử dụng nhiều ngôn ngữ, chữ viết khác nhau, mà sắc dân của chúng ta là một số đông. Còn những sắc dân khác sống ở miền thượng du Bắc phần, và miền cao nguyên Trung phần, khu vực ven biển tỉnh Phan Rang, Phan Rí, cũng như các miền phía Nam : Sóc Trăng, Bạc Liêu, An Giang, Châu Đốc… thì họ có một ngôn ngữ riêng. Để có sự nhận biết giữa Tiếng Việt Trong Sáng của miền Bắc trước 1954 và sau 1954 ở miền Nam, người ta căn cứ vào những người có học, được ghi chép trong sách để giảng dạy trong các trường học. Vì vậy mới có những nhóm như Tự Lực Văn Đoàn, tiếp theo là nhóm Sáng Tạo, họ viết những văn chương đãi lọc chuyên chở những ngôn ngữ mang chất đạo đức. Tính chất Đạo đức có từ lâu, trước năm 1954 ở ngoài Bắc và sau 1954 được tiếp nối ở trong Nam. Ở miền Nam sau năm 1954 đến 30 tháng tư năm 1975 mới chấm dứt. Ở miền Nam thuở đó có môn học là Công Dân Giáo Dục để dạy đạo đức con người, vậy ai mà nói những câu dung tục quá, ngoài khuôn khổ những điều dạy trong nhà trường thì gia đình đó bị lối xóm, thôn làng bảo là gia đình mất dạy! Họ sẽ bị mang tiếng, cho nên họ cố dạy con, dạy cháu của họ ăn nói một cách tử tế. Để cho ngôn ngữ đó đi vào trong văn chương, ngay từ lớp tiểu học, học trò đã xem đó là mẫu mực, là tiêu chuẩn để nhận biết ngôn ngữ nói và chữ viết khác nhau. Nếu một người chỉ sống ở ngoài đường thì họ sẽ phải dùng những ngôn ngữ thực dụng bừa bãi để họ tiếp xúc với những người khác để mưu sinh. Đương nhiên những người trẻ đó khi bước vào trong trường học thì ông thầy bắt chúng phải bỏ những cái gì vô giáo dục đi để có thể hòa nhập với tất cả các học sinh, bởi vì tất cả mọi người đến trường để mà học. Ngày xưa có câu: «Tiên học lễ hậu học văn."

Buổi hội thảo đôi khi trở nên rất sôi nổi, mỗi người một ý kiến khác nhau và nhiều người muốn nói cùng một lúc, vấn đề nêu ra thật nhiêu khê. Cuộc bàn luận kéo dài, nhưng thời gian có hạn nên cùng nhau chia tay trong tình thân mến.

Nguyễn Mây Thu

Thứ Hai, 10 tháng 7, 2023

Nhà Văn Nguyễn Văn Sâm

 

Theo Bách Khoa Toàn Thư mở (Wikipédia):

Chữ Nôm (𡨸喃), còn được gọi là Chữ Hán Nôm (𡨸漢喃), Quốc âm (國音)[a] hay Quốc ngữ (國語)[b] là loại văn tự ngữ tố - âm tiết dùng để viết tiếng Việt. Đây là bộ chữ được người Việt tạo ra dựa trên chữ Hán, các bộ thủ, âm đọc và nghĩa từ vựng trong tiếng Việt.

Chữ Nôm bắt đầu hình thành và phát triển từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 20. Sơ khởi, chữ Nôm thường dùng ghi chép tên người, địa danh, sau đó được dần dần phổ cập, tiến vào sinh hoạt văn hóa của quốc gia. Vào thời Nhà Hồ ở thế kỷ 14 và Nhà Tây Sơn ở thế kỷ 18, xuất hiện khuynh hướng dùng chữ Nôm trong văn thư hành chính. Đối với văn học Việt Nam, chữ Nôm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi là công cụ xây dựng nền văn học cổ truyền kéo dài nhiều thế kỷ.

Giáo sư Nguyễn văn Sâm một người đa tài, nhất là lãnh vực nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm. Muốn viết về một khuôn mặt văn hóa nổi tiếng, tôi phải bỏ một thời gian dài để có thể viết thành cuốn sách hàng trăm trang mới nói hết được con người và tác phẩm của ông. Trong vài trang giấy này chỉ là chút tình của chúng tôi về một người bạn văn chương.

Trong lãnh vực nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm của giáo sư Nguyễn văn Sâm, Tiến sĩ Nguyễn Văn Trần đã nhận định:
“… Cũng như chữ Hán, chữ Nôm là kho tàng gìn giữ một phần quan trọng văn hóa dân tộc. Muốn tiếp xúc với văn hóa dân tộc, phải biết chữ Hán và chữ Nôm. Muốn học chữ Nôm, phải biết chữ Hán. Nhưng chưa đủ, mà còn phải biết lịch sử, đời sống xã hội, cách cấu tạo chữ Nôm qua các thời kỳ… Người nghiên cứu, phiên âm, chú giải chữ Nôm ra quốc ngữ để phổ biến là người giữ hồn dân tộc. Giữ Hồn Nước!

Giáo sư Nguyễn Văn Sâm là người trong số rất hiếm quí làm công việc không còn mấy người làm này. Nhưng trong hoàn cảnh hiện nay tre đã già đang chờ măng mọc!”

Trong một bài viết khác, GS Trần Huy Bích ở Hoa Kỳ đã nhận định:

“GS Nguyễn Văn Sâm đã rất công phu khi phiên âm và chú giải bản Quan Âm Diệu Thiện (Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Kinh). Dựa theo bản khắc năm Mậu Thân 1908 năm thứ 34 niên hiệu Quang Tự (nhà Thanh). Phiên âm từ chữ Nôm ra quốc ngữ là: Nguyễn Văn Sâm và Nguyễn Hiền Tâm… GS Nguyễn Văn Sâm đã có những chú giải rất cần thiết. Bởi vì, nếu, không có chú giải, chúng ta không hiểu được chữ của tiền nhân.”
Ở Paris những người giỏi Hán Nôm, hiện nay còn rất ít. Cuối thế kỷ 20.

Những người giỏi Hán Nôm ở Paris:

Học giả Đào Trọng Đủ bút hiệu Cô Đầu, một nhà thơ uyên bác trong Ba lê thi Xã. GS Đoàn Đức Nhân, có thời là thư ký của nhà cách mạng, Cụ Nguyễn Hải Thần ở Trung Quốc vào thập niên 40, và là giáo sư dạy Hoa Ngữ ở đại học Đài Loan. GS Học giả Hoàng Xuân Hãn. GS, BS Trần Văn Bảng, bút danh Bằng Vân tác giả nhiều thi tập. Dịch giả Phạm Xuân Hy, bút danh Bạch Phát Tú Tài, tác giả chuyên dịch những tác phẩm Liêu Trai Chí Dị, Trung Hoa. Linh mục Đinh Đồng Thượng Sách, bút danh Cung Chi, tác giả bộ thi tập Thương Ngàn Thương. Nhà thơ Lãng Nhân Phùng Tất Đắc (Anh Quốc).

Những người giỏi Chữ Hán:
Nhà chiêm tinh Phan Quốc Uy cựu sinh viên Đài Loan trước năm 1975. Nhà văn Trần Đại Sỹ, tác giả những bộ sách Dã Sử Việt Nam. BS Nguyễn Đương Tịnh, bút danh Trúc Cư, tác giả cuốn Tống Tự. BS, học giả Trần Văn Tích (Đức Quốc), tác giả nhiều bộ sách biên khảo. Nhà báo Nguyễn Ang Ca một cây bút nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975 gốc là người Minh Hương.

Năm 2018 Câu Lạc Bộ Văn Hóa VN Paris đã tổ chức Chiều Văn Học đề tài Hán Nôm do giáo sư Nguyễn Văn Sâm từ Hoa kỳ sang Paris thuyết trình. Buổi nói chuyện quy tụ rất nhiều trí thức ở Paris đến tham dự.

Vài Nét Về Nhà Văn Hóa Nguyễn Văn Sâm:

Sinh ngày 21 tháng 3 năm 1940 tại Sài Gòn. Quê ngoại Chợ Đệm, Tân An. Quê nội Thanh Lương, Thừa Thiên. Ông là người đa tài: nhà giáo, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa, nhà dịch thuật. Ông tốt nghiệp Cử Nhân Giáo Khoa Triết học Tây Phương (1965), Cao Học Văn Chương Việt Nam (1972), và Năm Thứ Nhứt Tiến sĩ Văn Chương Việt Nam (Khóa độc nhất trước 1975).
Từng dạy ở trường Nguyễn Ðình Chiểu, Mỹ Tho, Pétrus Ký, Ðại Học Văn Khoa (Sài gòn), và các trường Ðại Học Vạn Hạnh, Cao Ðài, Hòa Hảo, Cần Thơ. Ông vượt biên bằng đường biển sang Mỹ từ năm 1979, tiếp tục sống bằng nghề dạy học cho tới khi về hưu năm 2006.

Tác Phẩm: Trước 1975 chuyên viết về biên khảo văn học, đặc biệt là văn học Miền Nam như:

Văn Học Nam Hà (1971, 1973)
Văn Chương Tranh Ðấu Miền Nam (1969)
Văn Chương Nam Bộ và Cuộc Kháng Pháp (1972).
Ông hiện định cư ở California, từ khi ở quê người, hằng ngày đối diện với cuộc sống nên ông hiểu được nỗi buồn tha hương và chân giá trị của sự tự do, tất cả những vui buồn đó đã thôi thúc ông muốn viết về tâm tình những người Việt tha hương. Do đó nhà văn tiếp tục viết mấy tập truyện ngắn và đã xuất bản:
Miền Thượng Uyển Xưa (1981, in chung với Đặng Phùng Quân)
Câu Hò Vân Tiên (1984)
Ngày Tháng Bồng Bềnh (1987)
Khói Sóng Trên Sông (2000)
Quê Hương Vụn Vỡ (2012).

Những năm gần đây, ông trở về gia tài cổ của dân tộc bằng cách phiên âm các tuồng hát bội, truyện thơ viết bằng chữ Nôm chưa từng được phiên âm mà nguyên bản hiện còn đang nằm trong các thư viện lớn ở Âu Châu:
Tam Quốc Diễn Nghĩa, Lôi Phong Tháp, Sơn Hậu Diễn Truyện, Trương Ngáo Tây Du Diễn Truyện, Tội Vợ Vợ Chịu. Chàng Lía Truông Mây, Tỉnh Mê Một Cõi.

Ông là thành viên Ban Biên Tập Tự Điển Chữ Nôm. Trích Dẫn một tự điển chữ Nôm rất đầy đủ. Giáo sư Viện Việt Học, California, Hoa Kỳ.

GS Nguyễn Văn Sâm là Thành viên Câu Lạc Bộ văn Hóa VN Paris. Ông trong Ban biên tập chủ trương cuốn Những Khuôn Mặt văn Hóa VN Hải Ngoại, được xuất bản và ra mắt ở Paris tháng 10 năm 2022.

Nhận định về Tác phẩm Truyện ngắn:

Nhà văn Nguyễn Văn Sâm có lối văn miệt vườn Nam Kỳ Lục Tỉnh năm xưa, nhưng diễn tả đời sống, con người và các thành phố Miền Lục Tỉnh một cách hiện đại. GS Đàm Trung Pháp là đồng nghiệp dạy học ở các đại học Sài Gòn trước 1975 với giáo sư Nguyễn văn Sâm, và sau này cùng hoạt động trong Viện Việt học ở Cali. GS Đàm Trung Pháp trong bài viết nhan đề “Giới thiệu tập truyện Quê Hương Vụn Vỡ của Nguyễn Văn Sâm” đã nhận đnh:

“Quý bạn đọc đang cầm trong tay một tuyển tập truyện ngắn đặc sắc qua ngòi bút Nguyễn Văn Sâm. Tôi có cảm tưởng mỗi truyện anh viết là một kỷ niệm đậm sâu trong đời anh, hoặc trong đời một người rất thân của anh, mà khi đọc xong, dù vui hay buồn, tôi còn lưu luyến mãi trong lòng như một nhắc nhở ray rứt. Anh là một nhà văn gốc nhà giáo có một tâm hồn hướng thượng, một trái tim nhân ái, một ước vọng chấn hưng đạo đức trong một quê hương đang băng hoại về lối sống; do đó, mỗi truyện của anh là một bài ngụ ngôn thấm thía. “Văn dĩ tải đạo” là sứ mệnh văn chương của anh mà anh đã thực hiện một cách ngoạn mục trong tập truyện. Phương tiện để anh đạt mục tiêu vừa kể là một văn phong truyền cảm, thành tâm, sâu sắc, quan sát tận tường…”

Hai nhà văn Nguyễn Văn Sâm& Trần Ngọc Ánh với bằng hữu Paris:

Con Người:

Giáo sư Nguyễn Văn Sâm bản tính hiền hòa đôn hậu và rất giản dị nên ông được bằng hữu ở Paris rất quý trọng. Những lần ông và phu nhân là nhà văn Trần Ngọc Ánh sang Paris đều được các bằng hữu Paris từ người cao tuổi đến những người trẻ đã tổ chức đón tiếp nồng hậu, họp mặt trong các nhà hàng, hay những tư gia. Do đó chúng tôi phải lập một danh sách hẹn.
Trong lần sang Paris vào tháng 10 vừa qua, BS Trần Văn Tích từ Đức sang Paris thuyết trình trong buổi ra mắt cuốn Những Khuôn Mặt Văn Hoá Việt Nam Hải Ngoại, ông liền đến thăm nhà văn hóa Hán Nôm Phạm Xuân Hy. Trước ngày ra mắt sách, chúng tôi: BS Nguyễn Bá Linh, GS Nguyễn Văn Sâm, Nhà biên khảo Nguyễn Đức Tăng và tôi đến thăm Dịch giả Phạm Xuân Hy. Dù sức khỏe của ông rất yếu nhưng ông vẫn chống gậy ra tận đường đón chúng tôi. Lần đầu tiên GS Nguyễn Văn Sâm đến nhà dịch giả Phạm Xuân Hy nên rất thích vì thấy những bộ sách quý chữ Hán, chữ Nôm lên đến hàng trăm cuốn, có cuốn đã vài trăm năm. Chiều hôm đó nghe giáo sư Nguyễn Văn Sâm và học giả Phạm Xuân Hy đàm luận về Chữ Nôm khiến bác sĩ Nguyễn Bá Linh, Nhà biên khảo Nguyễn Đức Tăng và tôi mở rộng thêm kiến thức.

Trong suốt 4 năm soạn thảo cuốn Những Khuôn Mặt Văn Hóa Việt Nam Paris, giáo sư Nguyễn Văn Sâm đã qua Paris nhiều lần để nghiên cứu, tìm tài liệu Hán Nôm trong Viện Viễn Đông Bác Cổ và các Thư viện Paris, nhân dịp đó cùng chúng tôi làm việc. Trong hội thảo ông tích cực góp ý, không câu nệ hình thức mà chỉ nhìn vào trọng tâm vấn đề.

Ngày ra mắt sách ông cùng một số nhân sĩ trong ban chủ trương ở xa được mời phát biểu: GS TS Ngyễn ĐăngTrúc (Strasbourg), BS Trần Văn Tích (Đức quốc), DS Nguyễn Hiền (Hòa Lan). Những người ở Paris lên diễn đàn: Nhà thơ Đỗ Bình, GSTS Trần Văn Cảnh, TS Nguyễn Thị Phượng Anh, BS Nguyễn Tối Thiện, Luật gia Đoàn Trần Thiều, BS Nguyễn Bá Linh lên đọc lời cảm tưởng của nhà báo Hoài Thanh ở Mỹ. Nha sĩ Thẩm Thái Hà đọc lời cảm tưởng của GS Nguyễn Thùy ở Marseille.
Lời phát biểu của giáo sư Nguyễn văn Sâm: “Qua Paris lần này, tôi có cơ hội tham dự buổi sinh hoạt văn hóa, mà theo tôi là rất thú vị và đáng giá. Buổi ra mắt cuốn sách " Những khuôn mặt văn hóa hải ngoại do nhóm anh Đỗ Bình tổ chức vào giữa tháng 10/2022. Là người tham dự tôi nhìn thấy mấy vấn đề sau:
Đây là cuốn sách dầy hơn 800 trang, đẹp cả về nội dung lẫn hình thức, được Ban Biên Tập sưu tầm và biên soạn rất công phu và sắp xếp thứ tự rất khoa học theo từng thể loại như văn thơ họa... cho người xem dễ dàng tìm hiểu.

Những người có tên trong cuốn sách này đã được Ban Biên tập chọn lựa và cân nhắc thận trọng, nói lên sự công tâm của người làm công việc văn hóa, không phe phái hay thiên vị, tuy nhiên vẫn có những sai sót khi danh sách không đầy đủ tất cả mọi khuôn mặt văn hóa ở hải ngoại vì lý do tế nhị nào đó, hay không cập nhật kịp thời thông tin cá nhân đã bị thay đổi theo thời gian hiện tại. Nhưng không vì những thiếu sót đó mà mất đi giá trị đáng tôn vinh của cuốn sách, nhưng đây là cuốn sách mở, vài năm sau biết đâu lại có thêm những tên tuổi văn hóa được lưu danh vào đây, cuốn sách được tiếp nối để chúng ta luôn có nhiều khuôn mặt mới trong văn đàn hải ngoại.

Điều cần khen ngợi ở đây là tấm lòng của các anh chị trong Ban Biên Tập, họ đã cần cù kiên nhẫn như con ong thợ chăm chút cho cái tổ Văn Hóa đồ sộ của mình, công trình chọn lựa và biên soạn hơn 4 năm trời để hoàn thiện một cuốn sách có giá trị để đời, quả thật không phải là công việc dễ dàng gì nếu không có tấm lòng thiết tha đối với quê hương đất nước, bảo vệ và phát triển nền văn hóa ở hải ngoại dưới bất cứ hình thức nào cũng đều là thể hiện lập trường yêu nước của mình khi nghĩ về quê cha đất tổ, với sự nỗ lực và tâm huyết hết lòng dành cho công trình biên tập của mình, các anh chị trong nhóm chủ biên đã thành công khi nhận được nhiều sự khen ngợi , khuyến khích từ các bạn bè thân hữu gần xa ở hải ngoại khi cuốn sách được phát hành.

Điều tôi muốn nói thêm ở đây là nền văn học như dòng chảy liên tục trong quá khứ cũng như hướng tới tương lai "mai sau dù có bao giờ", tuy nhiên vì phải trải qua nhiều biến động lịch sử của đất nước, văn học có thể cảm xúc theo từng thời điểm khác nhau, nhưng nhìn chung vẫn không lệch ra ngoài mục đích duy trì và phát triển nền văn hóa có nhiều nét độc đáo của dân tộc mình.
"Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch, duy hữu ẩm dạ lưu kỳ danh" của ông Lý Bạch có nghĩa là từ xưa đến nay những bậc Thánh Nhân đều bị người đời lãng quên, chỉ có người uống rượu là được để tiếng lại, dĩ nhiên đây là sự ngông nghênh của một ma men như ông ta, nhưng trong giai đoạn hiện tại thì phải thay đổi cho phù hợp.
"Duy hữu văn hóa giả lưu kỳ danh" có nghĩa là những người góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa đều rất đáng được trân trọng tôn vinh.

Nên những cuốn sách như thế này là bằng chứng của "lưu kỳ danh" và trong tương lai , các thế hệ sau muốn tìm hiểu về những hoạt động văn hóa của lớp người đi trước, thì những loại sách như thế này rất thiết thực cho ai muốn nghiên cứu về một nền văn hóa Việt Nam đã qua.”
Nguyễn Văn Sâm
Paris tháng 10/2022

Kết

Duyên Nợ

Từ thuở còn đi học Trần Ngọc Ánh đã thích văn chương và đã viết bích báo, những trang lưu bút học trò. Từ khi gặp nhà văn Nguyễn Văn Sâm một tâm hồn đồng điệu, một người thầy miệt mài vì văn chương chữ nghĩa đã khơi dậy chất văn chương trong tâm hồn Ngọc Ánh. Nhà văn Nguyễn Văn Sâm khuyến khích Ngọc Ánh cầm bút viết lại ký ức, giải bày những nỗi niềm liên quan đến dân sinh và một giai đoạn đen tối của lịch sử hiện đại còn ẩn sâu trong tâm hồn Ngọc Ánh. Như ngọn sóng lòng, con chữ đã tuôn trào trên những trang giấy với lối văn thuở Sài Gòn năm xưa thuần tâm hồn Việt, rất nhẹ nhàng trong sáng và đượm chất buồn, nhưng chưa bị ảnh hưởng những cuốn sách văn chương, tiểu thuyết Âu Mỹ. Từ đó bà trở thành nhà văn và đã cùng phu quân là nhà văn Nguyễn Văn Sâm sang Paris ra mắt sách do Câu lạc bộ Văn Hóa VN Paris tổ chức, được rất đông người đồng hương đến tham dự.
Có Phải đây là duyên nợ từ kiếp trước nên hợp ý hợp tình. Giáo sư Nguyễn Văn Sâm là người yêu văn hóa dân tộc, tận tụy với văn chương chữ nghĩa, còn nhà văn Trần Ngọc Ánh yêu sự tự do nên tranh đấu cho nhân quyền, đòi lại những quyền căn bản của con người. Hai người nương nhau trong cuộc sống để cùng hướng về dân tộc, cũng như sinh hoạt cộng đồng. Thời gian thấm thoát đã trôi nhanh, hai nhà văn đã vào tuổi xế chiều vẫn an vui bên nhau bước trên con đường văn hóa dân tộc.

Đỗ Bình
Paris 28.02.2023

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2020

Giới Thiệu Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ!


Học giới để ý tới truyện Kiều đều biết tác phẩm nầy có nhiều phó phẩm, nào là tuồng hát bội Kiều, tuồng chèo Kiều, thơ Vịnh Kiều, thơ Xử Án Kiều, Kim Vân Kiều Ca, Kim Vân Kiều Diễn Ca, Túy Kiều Phú… và hàng trăm bài thơ lẫy Kiều nhiều cách ngắn dài, kể cả có người viết lại toàn thể truyện Kiều và thay những chữ ông ta cho là khó hiểu để tạo nên một bản văn Kiều mới mà ông cho rằng có tánh cách dân tộc hơn. Đặc biệt phó phẩm viết theo toàn bộ các sự kiện trong truyện Kiều bằng một thể loại văn học khác hẵn để phú hợp với sự thưởng thức của một vùng miền mới phải kể đến nhiều tuồng Kiều. 

Trong số các tuồng do Thư Viện Hoàng Gia Anh Quốc tặng Phủ Quốc Vụ Khanh Việt Nam Cộng Hòa dưới thời cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền có hai (02) tuồng Nôm Kim Vân Kiều: 

1. Tuồng hát bội có tựa là Phong Tình Lục Thúy Kiều Thực Sự, gồm ba hồi dài 116 trang đôi. Mỗi hồi bắt đầu bằng hai câu thơ tóm lược chung cả hồi. 

Hồi thứ nhứt thì là:
Tảo mộ Thúy Kiều mộng Đạm Tiên, tự tình oan trái,
Thám hoa Vương thị phùng Kim Trọng, đính ước lương duyên.

Hồi thứ hai thì là:
Thúy Kiều mãi thân thục phụ tội, Lâm Truy quận đệ nhất thanh lâu.
Hoạn Thư đố kỵ xuất gia vọng, Thai Châu địa ngộ mưu Bạc Hạnh.

Hồi Thứ ba là:
Thai Châu Thúy Kiều phùng Từ Hải, oán nghĩa báo minh.
Tiền Đường Kim Trọng kiến Giác Duyên, ân tình tái hợp.

2. Cũng là tuồng hát bội nhưng có khuynh hướng lai hát chèo, ít tiểu đối, ít những cách nói đặc trưng của tuồng như thán, loạn, tán, vãn, bài…, tựa đề là Thù Thế Tân Thanh, gồm 6 tiết, cũng theo đúng tình tự sự kiện xảy ra trong truyện Kiều. Tuồng nầy có thêm nhiều đoạn bình luận, và nhứt là dùng rất nhiều câu Kiều nguyên văn, không thay đổi gì. Giá trị văn chương không nhiều như quyển trên nhưng cùng có tính chất mang sắc thái vùng miền từ những từ ngữ được dùng. 

Đây là hai tuồng chắc chắn do nho sĩ Miền Bắc viết. Ta chỉ gặp các từ ngữ riêng của Miền Bắc mà không gặp từ ngữ đặc biệt của Nam Bộ. Cả hai tuồng đều thuộc về tuồng văn, nhiều lời, khó ăn khách và hình như chưa bao giờ được trình diễn. Đó là loại tuồng để đọc hơn là tuồng để diễn vì sẽ không ăn khách.

Hai tuồng Kiều Nam Bộ chắc chắn do người Miền Nam viết ra, chưa từng được giới thiệu với học giới, còn ở dạng chữ Nôm đã có số phận lạc loài lâu nay.

Tuồng Kim Vân Kiều Tập, bản Phi Long, khắc ván năm Ất Hợi (1875).

Hồi 1: Thanh Minh tiết, Kim Lang phùng thục nữ.
Hoạn nạn thời Vương thị ngộ ma đầu.

Hồi 2: Thúc thủ bất tài không lụy giai nhân ma chiết,
Thúy vô ý hạnh ngộ sử khách châu di.

Hồi 3: Hàng Châu phủ tiến binh Từ Hải dư hàng nguy kế,
Tiền Đường giang tiên đảo túy hỷ sự trùng viên. 

Đặc biệt bản nầy hiện một thư viện ở Paris còn giữ được một bản giấy (ký hiệu Q. 80167) có con dấu chữ 張明記 (Trương Minh Ký) thiệt to, cho biết trước đây ông Trương Minh Ký là sở hữu chủ. Chắc chắn là ông dùng nó trong việc giới thiệu bản quốc ngữ in năm 1896 của mình.
Tuồng Kiều do Cao Đĩnh Hưng, chép tay, 1942.

Nguyên bản Nôm còn tồn tại đến ngày nay do một gia đình cố cựu ở An Giang tặng Viện Đại Học An Giang thập niên đầu thế kỷ 21. Bút tích trên trang bìa tập sách cho biết người viết bản chữ Nôm là ông là Cao Đĩnh Hưng, năm 1942. Không có chữ nào cho biết đây có phải là tên tác giả hay tên người sao chép. Tôi thiên về giả thiết cho rằng ông Cao Đĩnh Hưng là người sao chép hoặc là người phiên âm ngược từ bản quốc ngữ của Trương Minh Ký với những sửa đổi nho nhỏ thành một bản Nôm mà chúng tôi nghĩ rằng đây là tuồng Kiều Nam Bộ có giá trị nhứt và dùng bản nầy để giới thiệu, phiên âm.

Tuồng gồm 3 hồi nhưng không có hai câu thơ tóm tắt như bình thường ở tuồng hát bội hay tiểu thuyết chương hồi.

Nhìn chung hai tuồng Kiều Nam Bộ nầy văn chương lưu loát, đi theo đúng diễn biến sự kiện trong tác phẩm của Nguyễn Du. Đọc thầm cũng rất thích thú, giúp hiểu thêm điển tích trong nguyên tác Đoạn Trường Tân Thanh, trong khi đọc chúng ta hồi ức về những câu thơ tương đồng trong truyện Kiều thì sự thưởng thức tăng thêm bội phần thú vị.

Ngoài 4 tuồng Kiều Nôm nói trên, chúng ta còn có một tuồng Kiều bằng Quốc ngữ do Trương Minh Ký sao lục, nhà in Rey et Curiol ở Sàigòn in năm 1896. Bản nầy cũng gồm 3 hồi, nội dung tương tợ như hai bản Nôm Nam nói trên, được in theo lối liên tục lời của từng nhơn vật, không xuống dòng ở chỗ tiểu đối, không xuống dòng ở những nhóm từ chuyển câu, chuyển ý, nhấn mạnh nên chỉ có 72 trang. 

Hồi 1: Thanh minh tiết Kim lang phùng thục nữ. 
Hoạn nạn thì, Vương thị ngộ ma đầu.

Hồi 2: Thúc Sanh bất tài, không lụy giai nhân ma chiết.
Thúy Kiều vô ý hạnh ngộ quý khách châu triền.

Hồi 3: Hàng Châu phủ tấn binh, Từ Hải ngộ tao ngụy kế,
Tiền Đường giang tiêu kiếp, Thúy Kiều hỷ đắc đoàn viên.

Cũng nên biết thêm rằng ngày xưa sự in khắc khó khăn nên người yêu văn chương chữ nghĩa thường chép lại tác phẩm của người khác mà mình thấy ưa thích với mục đích để sau nầy đọc lại hay lưu truyền cho con cháu. Sự chép qua lại nhiều tầng khiến tên tác giả bị mất - ngoài lý do rất thường là ngay trên bản chánh cũng không có tên tác giả vì tác giả không muốn để tên mình trên tác phẩm do nhiều nguyên nhân. Người chép dầu có đề tên mình trên bản văn chăng nữa thì cũng chỉ có công sao chép. Qua thời gian, hay qua nhiều lần sao qua chép lại, tên tác giả bị mất đi, cái tên của người chép, tên người có công giới thiệu bản văn tới độc giả gần như được coi là tên người sáng tác, người sanh thành tác phẩm đó.

Ngay cả việc phiên chuyển từ bản Nôm ra quốc ngữ cũng vậy, có quá nhiều nhà nghiên cứu liệt kê những quyển mà ông Trương Vĩnh Ký chép ra quốc ngữ dưới thể loại tác phẩm của Trương Vĩnh Ký, coi như Trương Vĩnh Ký là tác giả. Đặc biệt toàn bộ thơ bình dân do ba nhà xuất bản ở Chợ Lớn khoảng tròm trèm một thế kỷ trước (2020) là Phạm Văn Thình, Phạm Đình Khương, và Thuận Hòa những người chép ra quốc ngữ các bản Nôm xưa - với những chữ đọc, sửa tùy tiện- thường không đề tên người sáng tác nguyên thủy mà đề tên của mình, dầu là tên thật hay là tên hiệu. Chuyện đã trở thành xưa cũ, kẻ hậu học nầy chỉ nhắc lại sự kiện, không có ý trách cứ ai, mỗi thời có những quan niệm khác nhau về nhiều vấn đề của thời đại mình và cách thế họ ứng xử rất lạ lùng đối với cái nhìn của người thời đại khác. Mà chuyện văn chương thì quan niệm đổi thay ngày càng nhiều!

Thời nay làm chuyện kỳ khôi nầy – phiên chuyển từ bản văn quốc ngữ sang chữ Nôm - mới đáng trách. 

Cất công đi tìm hiểu rằng: (1) ông Cao Đĩnh Hưng chép lại một bản Nôm của người khác, (2) ông phiên chuyển từ một bản quốc ngữ sang chữ Nôm hoặc là (3) ông tự sáng tác ra bản tuồng Kim Vân Kiều bằng chữ Nôm mà chúng ta đang có trong tay sẽ không còn quan trọng và cũng chẳng cần thiết chút nào nếu chúng ta nhìn tất cả những tác phẩm văn chương bằng cái nhìn tổng thể nền văn học của một thời kỳ tại một vùng đất đặc biệt nào đó thay vì nhìn đó là công trình của một cá nhân rồi cố gắng đi tìm để vinh danh người A người B nào đó rồi sa đà vào những tranh luận về tiểu sử một vài người thay vì đi vào sự khảo sát chính tác phẩm mà cuối cùng cũng chỉ đi tới được sự đồng tình theo nhóm với nhiều tính chất chủ quan và cảm tính chứ không đến được chân lý. (Như trường hợp ai là dịch giả ra Nôm của bản Hán văn Chinh Phụ Ngâm). 

Do đó chúng tôi quan niệm rằng đối với tình trạng đặc biệt của văn học nước ta, do sự thiếu thốn tài liệu giá trị, những tác phẩm khó định chính xác tác giả thì nên đặt vào nhóm tác phẩm của toàn dân vì nó thể hiện nhiều mặt trong chính tác phẩm, như tư tưởng, ngôn ngữ, tình trạng dân trí, tình trạng thể loại tác phẩm… (1) của dân chúng, (2) của một thời nào đó, (3) của một địa phương nào đó hơn là mất công đi tìm về một cá nhân là chuyện bên ngoài tác phẩm, hơn nữa lý thuyết về ảnh hưởng của dòng dõi, về hoàn cảnh thời đại của người sáng tác ngày nay đã bị coi là lỗi thời., người ta thiên về tư tưởng của thời đại nhiều hơn.

Bản Nôm tuồng Kiều Bắc chép vào cuối thế kỷ 19.

Từ những nhận định căn bản trên, tôi phiên âm mà không đi tìm tác giả, cũng không bận tâm chứng minh có phải ông Cao Đĩnh Hưng là người viết bản Tuồng Kiều mà chúng ta đương đọc hay không. 

Dân ta từ lâu chấp nhận ca dao, tục ngữ, chuyện kể, chuyện khôi hài, ca trù, nhạc chế, lời châm chọc phê phán (kiểu Nam Kỳ khởi nghĩa tiêu công lý, Đồng Khởi ra đời mất tự do…) là những tác phẩm thuộc về toàn dân, là tiếng nói chung của thời đại thì tại sao lại bận tâm đi tìm tác giả trong những trường hợp quá khó khăn trong việc minh chứng?

Cũng ông Cao Đĩnh Hưng chép tay, còn lại tới ngày nay là Tuồng Ghen, một tuồng hài kiểu tuồng Trần Bồ (Lão Bạng Sanh Châu), đã được người Pháp, ông Landes, dịch ra tiếng Pháp ngay từ những năm đầu khi họ mới tới Việt Nam. Trong tuồng Ghen ta thấy những địa danh, những chức danh trong làng xã, điều nầy đa phần là có sau khi người Pháp đã đặt vững nền cai trị trên đất Nam Kỳ nên ta dễ dàng chấp nhận ít nhứt tác giả nếu không phải là ông Cao Đĩnh Hưng thì cũng là người đồng thời với ông và sống trong một địa phương không xa,

Để dễ dàng theo dõi câu chuyện, bản in Tuồng Kiều Nam Bộ nầy tôi tạm chia ra nhiều lớp, dầu trong bản chép không có sự chia lớp như vậy. Bắt đầu là tâm trạng của Chàng Kim về tin đồn rằng gần miền có hai cô con gái đẹp nhà họ Vương, kế đó là Kiều du Thanh minh, Kiều than khóc lân ái trước mả Đạm Tiên… cứ như vậy cho đến hết hồi 3 với lớp đoàn viên hưởng phước.

Từ những nhận định căn bản trên, tôi phiên âm mà không đi tìm tác giả, cũng không bận tâm chứng minh có phải ông Cao Đĩnh Hưng là người viết bản Tuồng Kiều mà chúng ta đương đọc hay không.
Dân ta từ lâu chấp nhận ca dao, tục ngữ, chuyện kể, chuyện khôi hài, ca trù, nhạc chế, lời châm chọc phê phán (kiểu Nam Kỳ khởi nghĩa tiêu công lý, Đồng Khởi ra đời mất tự do…) là những tác phẩm thuộc về toàn dân, là tiếng nói chung của thời đại thì tại sao lại bận tâm đi tìm tác giả trong những trường hợp quá khó khăn trong việc minh chứng?

Cũng ông Cao Đĩnh Hưng chép tay, còn lại tới ngày nay là Tuồng Ghen, một tuồng hài kiểu tuồng Trần Bồ (Lão Bạng Sanh Châu), đã được người Pháp, ông Landes, dịch ra tiếng Pháp ngay từ những năm đầu khi họ mới tới Việt Nam. Trong tuồng Ghen ta thấy những địa danh, những chức danh trong làng xã, điều nầy đa phần là có sau khi người Pháp đã đặt vững nền cai trị trên đất Nam Kỳ nên ta dễ dàng chấp nhận ít nhứt tác giả nếu không phải là ông Cao Đĩnh Hưng thì cũng là người đồng thời với ông và sống trong một địa phương không xa,
Để dễ dàng theo dõi câu chuyện, bản in Tuồng Kiều Nam Bộ nầy tôi tạm chia ra nhiều lớp, dầu trong bản chép không có sự chia lớp như vậy. Bắt đầu là tâm trạng của Chàng Kim về tin đồn rằng gần miền có hai cô con gái đẹp nhà họ Vương, kế đó là Kiều du Thanh minh, Kiều than khóc lân ái trước mả Đạm Tiên… cứ như vậy cho đến hết hồi 3 với lớp đoàn viên hưởng phước.

So sánh bản quốc ngữ với hai bản Nôm Nam, tạm thời tôi đi đến giả thuyết sau, theo thứ tự thời gian và liên hệ: 
1- Ban đầu bản Long Phi của một tác giả vô danh - có thể là từ nhóm người Minh Hương ở Xóm Dầu Gia Định (vùng Q5 Sàigòn ngày nay) mà nổi tiếng nhứt là Duy Minh Thị - xuất hiện trước, năm 1875. 
2- Kế đến nhà văn Trương Minh Ký từ bản trên, sửa lại chút đỉnh và thêm thắt những từ đưa đẩy ở cuối câu cũng như những tiếng có tính chất nối tiếp giữa hai vế đối của một câu, giới hát bội thường gọi là hường, từ đó ông cho in thành bản quốc ngữ Kiều mà chúng ta gọi là bản Quốc ngữ Trương Minh Ký. 
3- Trong tủ sách của ông Cao Đĩnh Hưng, An Giang có một bản Nôm Tuồng Kiều đề năm 1942 do ông viết tay. Sau khi đọc và so sánh với bản Long Phi và bản Trương Minh Ký tôi ngờ là ông Hưng, hoặc một người nào đó trong địa phương và sống đồng thời, đã rà soát, chỉnh sửa lại từ bản quốc ngữ Trương Minh Ký rồi phiên chuyển ra bản Nôm mà chúng ta đương có đây. 

Bản Cao Đĩnh Hưng chữ rõ ràng, dễ đọc. Điều nầy có thể là do sự viết tay - Thường bản viết tay nếu người viết đừng bay bướm lả lướt quá mà chú trong đến sự chính xác của âm vận thì phần nhiều là chính xác hơn bản khắc, nhứt là bản khắc ở bên Phật Trấn, Quảng Đông vốn dĩ sai do người khắc không hiểu chữ Nôm và làm việc chẳng mấy cẩn trọng. Đọc bản viết tay Lục Vân Tiên Truyện Diễn Ca do Hòa Thương Pháp Quang viết gần đây ta thấy rõ điều nầy vì những sai sót trong bản khắc ván do nhóm Duy Minh Thị thực hiện đã gần như biến mất. 

Gần đây GS Đoàn Lê Giang ở Sàigòn có giới thiệu mấy bài viết rất có giá trị về truyện Kiều ở Nhật Bản, đã cho người đọc đi tới sự suy nghĩ rằng người viết truyện Kiều ở Nhật đã chỉnh sửa lại cốt chuyện để phù hợp với đời sống xã hội và văn hóa người Nhật, bằng những hoạt động của kiếm sĩ võ sĩ đạo, bằng những cuộc đánh nhau nho nhỏ của nhân vật nầy kia, bằng cách bỏ bớt vài ba nhân vật không cần thiết... Sự thay đổi đó đã khiến cho truyện Kiều ở Nhật được dân chúng Nhật Bản biết đến nhiều hơn so với việc người Tàu biết về truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. 

Cũng vậy ở Miền Nam nước Việt, cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, truyện Kiều đã được thay đổi để dễ đi đến quần chúng miền xa xôi nầy, nhưng không phải thay đổi theo lối Nhật Bản mà thay đổi thể loại từ truyện thơ là thứ chỉ được thưởng thức bởi một người đọc hoặc là chừng mươi người nghe đọc trong một căn phòng, sang tuồng hát bội là thứ được thưởng thức một lúc cả mấy trăm người, từ văn chương cao sang bác học ít người hiểu thấu chuyển qua thể loại nhiều đối thoại là thứ văn chương dồi dào tánh cách đời thường với việc sử dụng nhiều thành ngữ, nhiều nhóm chữ của vùng, phù hợp với hoàn cảnh của lưu dân chưa ổn cư còn phải đối phó với thiên nhiên và cư dân bản địa. 

Đọc một đoạn nào ta cũng thấy thành ngữ phương ngữ, chúng hiện diện không phải để làm hoa hòe hoa sói cho bản văn mà có mặt để người xem tuồng đọc tuồng thấy thân thiết. 

Lượm lặt ngẫu nhiên: 

- Mối mang còn ghe chốn dập dìu, Keo sơn chửa một lời gắn vó. 
- Phận bạc thà nương dấu Di đà, Thân tàn ngõ qua đời khổ não thôi! 
- Cớ sao vắng vẻ lửa hương. Mà lại rậm rầu hoa cỏ! 
- Hoa thơm xưa đấng hữu danh. Cỏ rậm nay mồ vô chủ. 
- Chật nhà dễ chật lòng, Rậm người hơn rậm cỏ. 
- Khi nảy giận làm đẫy đẫy, Bây giờ chết lại trân trân. Nó hung hăng, chẳng dám lại gần. Mày nhặm lẹ vào coi cho chắc 
- Kiếp trâu ngựa, ơn người chưa báo, Thân liễu bồ, phận thiếp còn chi. Nhơ nhuốc nầy bạc cũng ra chì, Danh giá ấy, vàng đâu lộn sắt. 

Vậy có thể nói mà không sợ sai lầm rằng Tuồng Kiều Nam Bộ hình thành trong suốt sáu mươi năm (1875-1942) qua nhiều cải tiến. Nguyên nhân hình thành là để phù hợp với sự thưởng thức của người lưu dân mới vừa định cư ở vùng đất mới mọi thứ đều thiếu thốn nhứt là trình độ văn chương thơ phú ở mức độ không thể thưởng thức được loại văn chương quá cầu kỳ kiêu sa của nguyên tác. 

Cũng nên nói thêm là tuồng mang nhiều tính chất miền Nam ở lời nói, ở vài chi tiết sinh hoạt của dân chúng… như cờ bạc , rượu chè, hát xướng, quán ăn, cai ngục, vốn dĩ ăn khách ở đây nên chúng ta thấy rất nhiều tuồng hát bội ở trong trường hợp nầy. Ta có thể kể vài tuồng nhiều người biết: 

Tuồng Tứ Mỹ Đồ, Tuồng Gia Trường, Tuồng Tứ Linh, Tuồng Lâm Sanh Xuân Nương, Tuồng Hỏa Diệm Trận, Tuồng Gia Trường… bằng quốc ngữ. 

Tuồng Trương Ngáo, Tuồng Trần Bồ, Tuồng Trương Ngố, Tuồng Lê Ngụy Khôi, Tuồng Lôi Phong Tháp, Tuồng Văn Doan… bằng chữ Nôm. 

Trích hai đoạn giới thiệu tuồng Kiều Nam Bộ để thấy nghệ thuật của người tạo nên phó phầm nầy.


1. Kim Trọng nghe kể chuyện đời Kiều:

Dân chúng:

Nghe lịnh đòi lật đật,
Tới ứng hậu vội vàng.
Bẩm ông!
Gái lỡ thời phải ở trong làng
Thưa, 
Xin ông (52) xuất trát đòi ngay vào huyện thôi mơ!

Kim Trọng:

Không phả!

Số là:

Ta đòi vô hỏi chuyện,
Ngươi nói lại rõ tình.
Nghe tiền niên có gã Mã Sinh,
Kiếm tiểu thiếp cưới nàng Kiều nữ.
Người nên lịch sự,
Số mắc gian nan.
Sau đem về không tỏ sự duyên,
Rày hỏi lại cho tường dạ mỗ đó mà!

Lại mục:

Dạ!
Tưởng việc chi rằng khó,
Hay chuyện ấy xin bày.
Số là xứ nầy có:
Tú bà thiệt đứa đĩ thầy,
Mã thị là thằng bợm bãi,
Mượn vốn dạo mua con gái.
Giả danh đi cưới hầu non,

Thương hại:

Người mang tai nên phải gả con.
Nó gia hại bắt đi làm đĩ.
Nàng khi ấy, mới:
Trâu bẻ ách chẳng cam thá ví,

Đến sau:

Chim túng lồng khó nỗi cao bay,
Sau lại:
Gặp Thúc Sinh, làm bé cũng may,
Ai ngờ là:
Mắc Hoạn thị ghen già lại rủi,
Hành hà đà đến tội,
Cực khổ phải lánh thân.

Sau lại:

Mắc Bạc bà lại chịu phong trần,

Ăi ngờ lại may:

Gặp Từ Hải vầy duyên kháng lệ.

Từ Hải nầy là:

Binh giáp đã mở mang một phía,
Cơn rứa chừ:
Ân oán cho [đáp] trả vẹn đường. (53)
Đã nên mặt khôn ngoan,
Lại đủ điều nhân nghĩa.
Thành Vô Tích muôn binh đóng lại,
Phủ Hàng châu ngàn đội ruổi vào.
Đến lúc sau, chưa biết làm sao
Chuyện ngày trước, tôi hay chừng ấy.
Kim Trọng, gia quyến:
Lưu lê ngọc, lưu lệ ngọc!
Cát can tràng, cát can tràng!
Yểu mang nhân vạn lý,
Tố hồi thủy nhứt phương.

Thán:

Tài văn tiêu tức bất thăng sầu,
Minh nhạn cô phi vị cảm thâu.
Hải giác bình tung vô xứ mịch,
Ngọc nhân hà nhựt xướng giao đầu.

Kim Trọng:

Bóng hoa tàn mấy cuộc biển dâu
Vóc liễu yếu ghe phen lưu lạc. hè
Một ngày chịu quê người bèo nước

Còn ta thời:

Cả nhà đều cửa tía hiển vinh
Ôi em ôi Vàng trao ngọc dặn dễ ngui tình
Cát lấp sóng dồi khôn thấy mặt ôi em ôi!

2.Cả nhà khuyên Kiều kết nối tơ duyên.

Thúy Vân:

Thế mặt xưa đà nát ruột,
Tỏ lòng nay phải cạn lời.
Biến nhà từ dâu biển đổi dời,
Duyên em phải tóc tơ chấp nối.
Lá rụng nay đà về cội,
Cầm lành, tính phải xe dây,
Trống chỗ đà chờ đợi những ngày,

Chừ phải:

Tới ngôi ắt chủ trương kịp thuở thôi mơ!

Vương ông:

Ối a!
Nhứt văn thử ngữ,
Thập hiệp kỳ tình.
Tam kỳ nay gặp ngày lành,
Vậy thôi thời:
Lưỡng mỹ rày vầy duyên cũ.

Thúy Kiều: (63)

Nói ra càng hổ,
Chịu vậy sao an.
Xét phận đà nhị rữa hoa tàn,
Ghe phen lại ong rời bướm rả.
Đã mượn, mượn nào trông trả,
Chẳng tu, tu trót cho rồi.

Cớ sự nầy là:

Đã đành cho dòng nước chảy xuôi,
Ai còn tưởng đạo nhà bận lại.

Kim Trọng:

Sao khiến buông lời nói,
Mà chẳng nghĩ tấm lòng.
Hẹn trước đà gá tiếng vợ chồng,
Thề xưa cũng thấu lòng trời đất.
Phận rủi mối chỉ săng hóa đứt,
Duyên may đà gương bể lại lành.
Dấu nước bèo đó những ngại tình,

Chớ như:

Lời vàng đá đây không ngơ mặt.

Thúy Kiều:

Đàn bà phải giữ bề trinh bạch,
Biến nhà xui gặp bước gian nan.
Từ gặp cơn nước chảy sóng tan,
Đã nhiều lúc mưa sa gió giật.
Nhơ nhuốc đã liều thân băng ngọc,
Bụi lầm khôn dựa phận bố kinh.
Nhớ lời xưa, chàng dẫu nghĩ tình,

Nói vậy chớ: 

Trông người cũ, thiếp không mở mắt cho đặng mà!
Có em đó đã vầy duyên cầm sắt,
Lọ chị đây mới an phận thất gia hay mần răng? 
Phận bạc thà nương dấu Di đà,
Thân tàn ngõ qua đời khổ não thôi!

Kim Trọng:

Tiết cả là trung là hiếu,
Người đời có biến có thường.
Trinh kia cũng có ba giường,
Ta há chấp nê một lẽ sao đặng?

Như nàng: 

Xử biến phải đền ơn cha mẹ,
Tùng quyền nên lỗi đạo vợ chồng
Nhưng rứa mà:
Đức cả toàn, đức nhỏ ở trong
Chữ hiếu vẹn, chữ trinh chẳng mất.
Danh ấy (64) ai không vị mặt,
Lòng nầy xin chớ hổ ngươi. 
Có phải a!
Hoa tuy tàn, sắc hỡi còn tươi,
Ngọc có vết, lẽ nào mất sáng cho đặng!

Vương ông:

Con đừng tính cạn,
Chàng thiệt tình sâu.
Mười lăm năm biết mấy thảm sầu,
Đến nay mần răng:
Một sợi chỉ nỡ nào cắt đứt cho đành hả con?

Thúy Vân:

Thưa chị: 

Chị xin hỡi an bề gia thất,
Em cũng nguyền đẹp phận Hoàng, Anh.
Công bấy lâu chàng cũng nặng tình,
Lòng thiệt vậy chị đừng thẹn mặt nào!

Kim Trọng:

Vốn thiệt nặng lòng đinh sắt,
Phải rằng vui thói gió trăng.
Nói thiệt:
Tiêu lang dầu khỏi thấy người vàng,
Vĩ sinh cũng đánh liều mạng bạc thôi mờ!

Thúy Kiều:

Thời! 
Trên cha đã cạn lời giác đát,
Dưới em thời tính cuộc vuông tròn.
Cũng đánh liều mặt thẹn mày thuồng,
Cho rồi chút ơn đền nghĩa trả thôi mờ!

Lại nói:

Cúi đầu lạy tạ,
Nhờ lượng bao dung.
Ơn chàng đã lọc đục ra trong,
Phận thiếp đặng khỏa nhơ làm sạch.
Nhờ lượng cả chẳng thổi lông tìm vết.
Khác tình thường nên trải chiếu lấp dơ.
Ngoài mười năm mới có bây giờ,
Trong một buổi gọi là duyên trước.

Nhân đây tôi xin gởi lời cám ơn tới người đã trao đổi với tôi bản tuồng nầy mà tôi sẽ nói tên khi được chấp thuận. Những sự trao đổi tư liệu văn học nào cũng có mặt tích cực của nó. Ở xa đất nước, nếu không nhờ sự trao đổi tôi sẽ khó lòng có được những bản tuồng quí, và hôm nay quí vị đã không có quyển sách lạ đang cầm trên tay: Quyển Tuồng Kiều Nam Bộ hay tuồng Kim Vân Kiều ở Đồng Bằng Cửu Long, hay tuồng Kiều ở Miền Nam. (Tôi muốn gọi nhiều cách để nhấn mạnh trên tính cách Miền Nam của bản tuồng.) 

Nguyễn Văn Sâm
 (Mỹ Quốc, 40 năm xa xứ, Victorville, CA, 04-30-2020)

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2020

Bạn Thời Chơi Nhà Chòi


Khi em đưa cái Thẻ Kiểm Tra, mình chưa đọc tên đã biết ngay là em. Nhưng mình cứ làm tỉnh ngồi ôn lại những kỷ niệm ngày xưa. Em thì tình thiệt không biết mình. Nhớ hồi nhỏ hai đứa cũng quyến luyến nhau, dầu chưa tới mười tuổi. Em hay giận hờn khi thấy mình thân thiện với con Bình khi cả bọn chơi nhảy cò cò. Mình cũng thấy ghét thằng Bé sứt môi khi thằng nầy tỏ ra săn sóc hay nhường nhịn em. Thường thì mình xô đẩy thằng Bé, nhiều khi còn cười ngạo cái bất hạnh của anh ta nữa. Nghĩ cũng kỳ cho tuổi trẻ ác tâm và không biết suy nghĩ. Mình không ưa má em. Thím hổn hào với chồng, Thím khinh khi mọi người, tối ngày chỉ nằm dài ca hát nghêu ngao. Đàn ông thì kêu bằng thằng cha tuốt: Thằng cha thầy giáo, thằng cha thầy chùa, thằng cha y tá, thằng cha góp tiền đất. Đàn bà thì con hết thảy: Con mẹ Ba cho vay tiền ngày, con mẹ Bảy Mập bán bánh mì, con mẹ vợ thằng cha Hiệu Trưởng, con mẹ Tư gánh nước mướn. Chỉ có cậu Út là được thím nể nang và thân thiện một điều cậu Út, hai điều cậu Út mà thôi.

Mình thích nhứt là được Chú Ba Huê chở vợ con với lại mình đi ra An Lạc ăn cháo đầu cá lóc với rau đắng. Xe chật, ngồi dựa hông vô nhau nghe hơi nóng của em truyền qua mình chắc đâu còn nhớ tới giờ. Nhưng mà rau đắng họ trồng cả đám lớn bên hè, người ta đi đái vô đó tỉnh queo... Ghê quá! Biết họ có rửa rau sạch không nữa! Mình cũng thích bữa nào chú Ba rủ đánh cờ tướng với chú, khoái là được khen mình cao cờ. Khoái là em bị chú sai lấy nước cho anh, khoái là em bận áo quần xích xác lòi cái ngực chưa nẩy nở mà mình con nít quỷ ưa dòm vô đó kiếm kiếm điều gì mà mình tưởng tượng là rất lạ lẫm. Hình như mình mê em sau cái lần cùng nhau chơi nhà chòi khi con Bình giận bỏ về ngang mình phải thế chỗ. Em bắt mình làm con em làm má. Mình đòi làm chồng em làm vợ. Em lưỡng lự cuối cùng rồi cũng đồng ý. Mình nói chồng thì nắm tay vợ đi chợ. Em đỏ mặt rồi cũng rụt rè đưa tay cho nắm…

Sau khi thi đậu vô Đệ Thất mình bị bắt ở trọ không gặp em nữa. Có về nhà vài ba lần nhưng đều mất tích biệt tăm. 
Trời hơi chạng vạng. Xóm nhà lá khu Bà chủ Phát đã lốm đốm lên đèn. Mùi cơm sôi, mùi cá kho hòa với mùi củi cành cây cao su chưa khô cháy tươm dầu quyện lên trong không khí thành nét đặc trưng buổi trời sắp tối của xóm. Chú ba Huê bẻ mạnh tay lái lách tránh mấy đứa nhỏ đương mảy mê chơi trò Thiên Đàng Địa Ngục Hai Bên rồi quanh cua từ từ chạy xe vô con đường nhỏ đầy bông bụp của sân nhà. Khi tiếng nổ lịch bịch phát ra từ chiếc cần câu cơm của chú còn vang dội ở xóm nhà thằng Bé sứt môi thì thằng Dần từ nhà dưới đã đi chậm chậm ra tới cửa buồng. Tay nó níu tấm ri-đô để vạch ra một lổ nhỏ nhìn coi chuyện gì sẽ xảy ra. Nó ngó lấm lét chú Huê trong khi chú sửa lại cách đậu chiếc xe cho ngay ngắn. Trong nhà, vợ chú, má con Én, trở mình trên cái giường tre nhưng cũng chưa chịu ngừng bài hát còn đương dang dở. Thím tay cầm cuốn bài ca đưa thẳng trước mặt, cố lấy hơi hát lớn hơn bản Vọng cổ trong tuồng Hạnh Nguyên Cống Hồ của thời xa xưa:

Nhìn dòng sông đen hắc,
Nhớ xứ thể cắt can trường.
Thầm suy trách thay vua Đường.
Xui nên dở dang chỉ hường.

Rồi thím chuyển giọng của con a hoàn, cũng Vọng cổ lối thời năm nẳm gì đâu mà thím học theo trong dĩa hát Pathé:

Ghen ghét chi ông Tạo,
Để người phòng khuê phải hòa giặc Phiên.

Chú Ba Huê lòn tay xuống cái hộc dưới đệm xe rút ra một gói giấy lấm tấm ướt mỡ thấm từ bên trong ra, thủng thẳng đi vô nhà. Chú hỏi vợ liền như đã ôm trong lòng từ lâu lắm, sau khi ngó lướt qua vợ, nhíu mày tỏ ý không bằng lòng chuyện gì đó:

‘Má con Én có nghe chuyện gì lạ trong xóm sáng nay không vậy?’

Chị vợ lỏ mắt ếch ngó chồng không trả lời, một phút sau đủng đỉnh lồm cồm ngồi dậy. Cái áo cánh màu hồng điểm bông tấm li ti gợi cảm của thím rộng cổ trễ tràng xệ rộng trước ngực. Chú nói mau:

‘Hồi sáng sớm, xe ra tới đầu ngõ tôi thấy hai ông bị bắn đâu chừng hồi hai ba giờ khuya gì đó, máu miệng trào ra, còn ri rỉ chảy chưa đông lại hết. Cả hai tướng tá coi nho nhã, trẻ măng, áo quần cũng tươm tất lắm. Không biết phe nào. Tay bị trói thúc ké sau lưng. Tôi vái họ phò hộ được đắc mối. Bây giờ giữ lời hứa, mua con gà quay về cúng.’

Mình cúng họ cũng phải. Có thể họ là người của phe mình trước kia. Cũng có thể họ là những người bị phe mình trước kia giết oan như bao nhiêu trường hợp mình từng chứng kiến. Bên nào thì cũng là đồng bào. Bên nào thì họ cũng đã chết quá sớm, cuộc đời hưởng có bao nhiêu lâu đâu. Tội nghiệp thì thôi!

Chị vợ phán thẳng băng làm cụt ý chồng:
‘Tưởng chuyện gì, chuyện bị xử bắn lén xảy ra hà rầm. Thời buổi chiến tranh mà. Mình dân làm ăn thì đừng để ý tới chuyện ai giết, ai bị giết cho mệt thân. Cúng kiếng gì cho hao tiền. Họ có bà con gì mình đâu nè!’

Chú Ba chống chế: 
‘Thì cúng chút híu có tốn bao nhiêu đâu! Bữa nay chạy được nhiều mối ngon. Được giá!’

Chị vợ xốc lại cái vai áo xệ, lầm bầm:
‘Muốn nhậu thì nói mẹ nó đi. Đừng qua mặt con nầy. Bày đặt nầy nọ như là người tin thần tưởng thánh lắm. Hồi xưa ông quả quyết là chẳng có linh hồn, không có thần thánh, cũng không có Địa Ngục Thiên Đàng gì hết mà!’

Tuy không vừa ý với lời dè bỉu của vợ, Chú Tư Huê cũng làm thinh không thèm trả lời trả vốn gì hết. Chú đặt gói gà lên bàn nước, đi ra nhà sau lui cui soạn đem lên hai cái dĩa bàn thang, bày biện cúng kiếng. Vợ chú bây giờ mới đủng đỉnh bước xuống giường, miệng vẫn ỷ ê ỷ a mấy câu ca một bài Tứ Đại Oán thảm sầu.

Bực mình chú Tư phê bình nhẹ nhàng:
‘Má con Én ca bản xưa không à! Đời bây giờ người ta ca Vọng cổ tân thời sáu câu 32 nhịp theo cách của Bảy Cao, Thanh Tao, Năm Phồi không ai còn ca kiểu xưa như kép Từ Anh, Tám Thưa hay cô Ba Soạn nữa đâu.’

Chị vợ nổi hứng cất giọng thân mật:
‘Nghe chị ca Máu Nhuộm Phụng Hoàng Cung nè em! Em mà phán là chị ca dỡ tối nay chị nhịn cơm cho em biết.’

Chú Tư ngó vợ bằng cặp mắt của người tình.
Và Má con Yến nói lối dài trước khi vô giọng cổ xuống xề nghe ngọt lịm kiểu tài tử đẹp trai Năm Phồi.
Người chồng đưa tay bẹo má vợ. Thưởng.
Con Én, ở đâu chạy vô xem giửa hai người, nó thở hào hển mà vẫn liếng thoắng:
‘Ba ơi, ba mét cho thằng Dần bị đòn nứt đít đi ba. Đi đi ba, ông Huế về rồi đó!’
‘Chuyện gì mà dữ vậy?’ Tay chú xoa mạnh đầu con, làm rối tóc con nhỏ, khiến nó xụ mặt.
‘Nó là con nít quỷ đó ba. Nó dòm nách má rồi ra ngoài nói tùm lum tà la là má có lông nách dài.’ Con nhỏ vừa nói vừa chu mỏ dài sọc.
Thím Tư bịt miệng con không kịp, thím đưa mắt lừ con gái. Chú Tư lừ lại vợ mình:
‘Cũng không nên bận quần áo lôi thôi quá. Nhà cửa trống hếch trước sau. Nít nhỏ chạy vô chạy ra hà rầm. Thằng Dần nói vậy còn đỡ. Cậu Út nói vậy thì…’
Chú ngưng ngang vì thấy mình không nên khơi sâu điều vợ không muốn nghe.
Con Én nắm tay ba nó giựt giựt:

‘Ba mét ông Huế để thằng Dần bị đòn nghe Ba! Hôm bữa nó ăn hiếp con. Nó còn nói nữa lớn nó cưới con làm vợ rồi đánh nhừ tử cho bỏ ghét. Đánh như ba thằng Bé sứt môi đánh vợ. Đánh như ba thằng Dần đánh má nó đó.’

Cách vách, thằng Dần nghe hết mấy câu trao đổi của người bên kia, nó nuốt nước miếng cái ựt như nuốt cơn giận lớn cành hông.
Nhang được thắp lên. Chú Tư cắm ba cây lên mình con gà. Chú rót nước vô mấy cái chén chun. Tự tay chú ra khạp gạo lấy một nắm gạo bỏ lên cái dĩa nhỏ rồi trút muối lên kế bên. Chú nói với vợ:
‘Chết như vậy oan ức sẽ thành cô hồn, mình phải rãi muối gạo để vong linh họ đỡ tủi.’

Mình không chết là may! Đi theo họ có hai năm mà xuýt chết mấy lần do Tây phục kích hay là xung phong công đồn mà phá không thủng phải chém vè. Còn cái thằng Đại Đội Trưởng nữa, nhiều khi nó ngó mình bằng cặp mắt quỷ như muốn ăn tươi nuốt sống vì mình can thiệp thả mấy người dân biết rõ ràng là bị bắt oan. Cũng may mình rút kịp ra ngoài nầy. Ở lại thì thấy ông bà ông vãi lâu rồi. Bởi vậy tội nghiệp hai người nầy quá chừng.
Chú thành kính rót rượu vô ba cái ly nhỏ đặt ngang hàng trước con gà. Chú lâm râm vái.
Vợ chú vô buồng lấy áo bà ba bận tề chỉnh. Thím cũng đốt ba cây nhang, xá xá rồi đem ra trước cửa xá trời. Thằng Dần ở trong nhà dòm ra thấy hết cử chỉ của thím. Nó vái thầm trong bụng là ưng ai thím nổi từ tâm bỏ qua chuyện đó, không cho chồng mét ba nó. Nó cũng tự hứa là nếu được như vậy thì từ rày sẽ tử tế với con Én hơn, không ăn hiếp nó nữa. Và nó đứng dựa cửa buồng, lim dim ngủ gà ngủ gục…

***

Bốn năm chiếc xe cảnh sát ngừng ở con đường độc đạo trải đá, dựa bờ sông. Mỗi chiếc cách nhau chừng trăm thước, đủ để trấn giữ cả khu yên hoa nổi tiếng bình dân hoạt động mấy năm nay. Khi máy xe vừa tắt, khi những người cảnh sát nhảy xuống xếp hàng dài bắt đầu làm phận sự thì hầu hết những ngọn đèn lờ mờ trong dãi nhà lụp xụp bên kia đường dựa bàu nước đồng loạt tắt. Tiếng la ơi ới, tiếng kêu nhau ầm ỉ, tiếng chạy thình thịch và tiếng ùm ọc, bì bõm của vài người nhảy xuống nước, lội trốn vang dội trong đêm. Đàn ông từ những căn nhà tắt đèn đổ ra đường giả bộ thanh nhàn thơ thẩn như người đi hóng gió sông. Đàn bà thì chẳng thấy ai. Mấy ghe thương hồ bật đèn lên sáng một khúc sông, người trên ghe ra trước mũi ngồi hút thuốc bàn tán…

Sau một hồi bao vây và lục lọi, lính bắt được vài chục gái, một số chịu trận trốn trong buồng, trong nhà tắm, trong cầu tiêu bị lôi ra. Một số ôm cột xi măng dưới nước bị rọi đèn pin vô mắt, ngoắc lên. Ướt loi ngoi, chậm chậm bước lên bờ cỏ. 
Tiếng một mụ chủ chứa than với người lính quen mặt:
‘Trời ơi, bộ mấy ông ghét dân Cầu Hàn lắm sao mà suốt ba tuần liền tuần nào cũng bố. Điệu nầy tụi em chắc dọn đi chỗ khác làm ăn chớ ở đây đói hết sao sống?’
Người lính trẻ cười hiền:
‘Thì kiếm nghề khác mà sống. Nghề nầy dơ quá! Rồi mấy cổ lây bịnh tùm lum…’

Một má nuôi chỏ mỏ vô:
‘Nói thì dễ thầy ơi. Bỏ nghề rồi biết làm gì ăn đây. Với lại còn nhà cửa nữa. Sang lại cho ai rồi mua nhà mới ở đâu? Dính ăn dính thua ráo nạo rồi. Thôi thì lỡ đâm lao phải theo lao thôi. Mấy thầy thương thì nhờ ghét thì chịu.’ 

Người lính không muốn nghe tiếp, đưa cây ba-trắc dang ra thẳng tay lùa từng tốp vô một căn nhà được lấy làm Đại Bản Doanh tạm thời. Ai vô tới cửa cũng để lại Thẻ Kiểm Tra trên bàn. Ai không có thì là giấy cớ mất kiểm tra, không có gì hết thì vô ngồi một góc chờ tính sau.

Các cô gái, áy ngại ngó qua ngó lại những người đồng cảnh rồi chiếu tướng người lính để đoán coi anh ta hiền hay dữ. Cô nào mặc quần áo phong phanh thì quơ quào gì đó của bạn che chắn đỡ. Cô nào ướt thì mượn nhờ khăn của bạn lau được chút nào hay chút nấy. Áo ướt, dính vô da thịt, phơi bày khiến nhiều cô mắc cở co ro hay lấy tay che ngực, mặt bí xị như giẻ rách.

Có tiếng cười diễu, hơi lớn:
‘Tới nước nầy mà còn e lệ gì nữa! Bộ chưa từng cho ai coi sao mà che.’ Cả bọn cười ồ, không khí buồn bã sợ sệt hình như đã bớt chút đỉnh.

Người lính trẻ ngồi trước bàn để đống Thẻ Kiểm Tra buồn tình giở ra coi từng thẻ. Bỗng anh sửa lại thế ngồi, chăm chỉ ngó vô tấm thẻ cầm trên tay nảy giờ, đọc lại lần nữa rồi ngước mặt lên với đám đông. Anh đọc tên người mang thẻ và kêu lên ngồi trước mặt để hỏi chuyện:
‘Cô tên nầy? Hay là mượn thẻ của ai? Sao không giống hình trong thẻ?’
‘Dạ thẻ của em. Em là Hồng thị Én! Ai ở đây cũng đều biết là thẻ của em.’
‘Cô lúc nhỏ ở khu Vườn Lài?’
‘Sao thầy biết?’
‘Nghiệp vụ mà. Chúng tôi có cách riêng.’
‘Đâu cô nói về thời gian lúc nhỏ của cô ở đó rồi tại sao cô đi khỏi xóm. Làm gì để sống. Có vô Khu không mà bỏ đi bí mật vậy?’

Cô gái lấm lét ngó vô mặt người đối thoại:
‘Thầy đừng nói vậy tội nghiệp em. Làm gái ở đây đã khổ lắm rồi. Mắc vô cái tội đi Khu có mà chết.’
‘Cô nói đi! Tại sao ba cô bị bắt!’
‘Ba em nói sao thì em nói lại với thầy. Bữa đó có người mang một gói gì đó, ông ta nói là trái cây người bà con ở Cai Lậy biếu khi đi thăm. Ổng đi xe ba em. Sợ trái cây dập, mà ôm thì mỏi tay, ông ta kêu ba em mở thùng xe dưới chỗ ngồi, bỏ vô, ông ta ngồi trên cho dễ dàng thoải mái. Chạy gần tới một chốt xét xe vừa mới được dựng lên, ông ta nhảy xuống băng qua đường lẻn vô hẻm, xe ba em bị chận lại xét. Có chứa lựu đạn. Ông bị giam mấy tháng, sau họ thấy tình ngay lý gian nên thả ra.’
‘Chuyện nầy thì chúng tôi biết rồi.’ Người lính mặt lạnh như tiền trả lời rồi lơ đảng ngó ra ngoài sân. Lính tráng vẫn láo nháo với một số người vừa bị bắt thêm khi trốn trong những nhà có cửa bí mật. Khách thương hồ trên ghe được dịp đứng lên chỉ chỏ, cười nói.
‘…Má em lúc ba em bị tù có lùm xùm sao đó với Cậu Út cháu nội bà chủ Phát nên bị bà ấy chưởi mắng thậm tệ. Má mắc cở bỏ nhà đi. Em ở đó vài ba ngày thì bà Ngoại lên đem về Trà Ôn sống với ngoại… Khi ba được thả về và mướn được nhà kha khá thì xuống dưới đó đem em lên Sàigòn. Em chưa bao giờ gặp lại má. Bả đi biệt từ đó. Có thể là đi theo gánh hát cải lương như đã tuyên bố nhiều lần khi còn ở với ba em.’
‘Xin lỗi. Cô đưa bóp cho tôi xét giấy tờ. Coi có gì khả nghi không.’

Cô gái rụt rè đưa cái bóp cầm tay cho người lính. Coi đẹp mà chẳng có bao nhiêu tiền trong đó. Cô gái chăm chăm ngó từng cử chỉ của người cảnh sát. Coi bộ hơi mắc cở vì mình nghèo. Người lính lục từng ngăn một hồi rồi rút ra một tấm hình. Một người đàn ông ốm yếu, mình trần môi sứt lòi răng dưới lổ mũi bên trái, tay anh ẵm đứa con gái chừng ba tuổi coi bộ cũng tong teo. Cả hai chụp hình mà không vui.
Cô gái nhìn cử chỉ của người lính. Cô nhín mày suy nghĩ.
‘Anh chàng sứt môi nầy là chồng cô?’
‘Dạ ảnh tên Bé! Mà bây giờ ảnh hết sứt môi rồi. Năm ngoái có tàu Bịnh Viện Hoa Kỳ ghé Bến Tàu vá môi cho ảnh. Lúc nhỏ em và bạn em ăn hiếp ảnh hoài. Nhưng bạn em lên học trường Petrus Ký rồi ở trọ gần đó luôn em không bao giờ gặp nữa.’ Cô vừa nói vừa quan sát sự biến đổi sắc mặt người đối thoại. Người lính cảnh sát vẫn lạnh lùng, nghiêm trang như từ trước tới giờ.
‘…Em về thăm chỗ cũ vài ba lần, không gặp người quen nào ngoài anh Bé rồi hai đứa nghèo khổ dựa nhau mà sống. Thầy coi, có còn quen ai đâu?’

Người trước mặt bây giờ mới nhếch mép cười:
‘Chú ba Huê lúc nầy còn chạy xích lô máy không?’
Người con gái trả lời như máy:
‘Dạ còn! Nghề nghiệp bao nhiêu năm biết làm gì ăn?’
‘Anh Bé có đánh vợ như ba ảnh không?’

Người con gái hai mắt sáng lên. Cô đưa tay lấy lại tấm hình, tự tiện bỏ vô bóp, không trả lời thẳng câu hỏi mà tuông ra tràng tâm sự dài.
‘Lúc nhỏ em có người bạn cùng lứa, chơi với nhau thân mật lắm. Lớn lên cũng mong gặp ảnh để được làm vợ ảnh, để được ảnh đánh mà không bao giờ gặp. Tới bây giờ nếu có gặp lại nhau thì cũng lỡ làng rồi. Chẳng có duyên số với nhau thì dành chịu. Chịu thua ông Trời chơi ác!’

Người lính trả Thẻ Kiểm Tra cho đương sự, nói lớn với người bạn lính khác mới vừa bước vô:
‘Anh coi giùm mấy cô nầy, tôi phải hướng dẫn cái cô nầy đi cầu, cổ đau bụng máu mà không dám đi một mình.’ Anh nheo mắt với bạn.
Cô gái năn nỉ nho nhỏ nhưng giọng đã có hơi dạn dĩ:
‘Cho con bạn em theo với. Nó mới có 17 tuổi thôi, bị gạt bán vô động cả tháng rồi. Hồi vô nó còn gin. Tiếc thân nó khóc hoài.’
Cả ba bước ra cữa, đi về vùng bóng tối phía xa xa.

Một lúc sau anh lính một mình về lại căn nhà làm Tổng Hành Dinh cuộc ruồng bố. Người bạn ngó anh gật đầu. Anh nheo mắt và mỉm cười nói nhỏ: ‘Bạn thời chơi nhà chòi.’

Nguyễn Văn Sâm
Victorville, CA, 20 April 2019.